Đề Xuất 12/2022 # Sử Dụng Phương Pháp Graph Trong Dạy Học Kiến Thức Lịch Sử Học Phần Cơ Sở Tự Nhiên – Xã Hội Ở Trường Cao Đẳng Sư Phạm Lạng Sơn / 2023 # Top 19 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Sử Dụng Phương Pháp Graph Trong Dạy Học Kiến Thức Lịch Sử Học Phần Cơ Sở Tự Nhiên – Xã Hội Ở Trường Cao Đẳng Sư Phạm Lạng Sơn / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sử Dụng Phương Pháp Graph Trong Dạy Học Kiến Thức Lịch Sử Học Phần Cơ Sở Tự Nhiên – Xã Hội Ở Trường Cao Đẳng Sư Phạm Lạng Sơn / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Mông Thị Vân Anh

Trường CĐSP Lạng Sơn

1. Mở đầu Bản chất của đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới cách tiến hành các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của người học. Để thực hiện đổi mới phương pháp dạy học bên cạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học,  vận dụng phương pháp graph trong dạy học được rất nhiều người quan tâm. Sử dụng phương pháp graph trong dạy học lịch sử nhằm tích cực hóa hoạt động của người học, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học cũng nằm trong xu thế của đổi mới phương pháp dạy học.  Lịch sử là một môn học được giảng dạy ở tất cả các bậc học. Lịch sử giống như sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người nói chung, bề dày của một dân tộc, một quốc gia nói riêng. Kiến thức lịch sử trong Học phần Cơ sở tự nhiên- xã hội được trình bày một cách tương đối khái quát, nhằm giúp sinh viên hệ thống hóa các sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu của lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương từ buổi đầu dựng nước và giữ nước và giữ nước đến nay. Do vậy, trong dạy học học phần Cơ sở tự nhiên – xã hội có thể sử dụng graph để khái quát hóa kiến thức lịch sử Việt Nam từ buổi đầu nước cho đến nay. 2. Nội dung 2.1. Cơ sở lý luận về phương pháp graph trong dạy học 2.1.1. Khái niệm graph           Thuật ngữ Graph trong tiếng Anh có nghĩa là đồ thị, biểu đồ. Lý thuyết Graph là một trong những phân môn quan trọng của toán học. “Graph là tập hợp số lượng hữu hạn các đỉnh và các cung tại điểm mút tại các đỉnh đó”. Theo chúng tôi Nguyễn Quang Ninh “để vẽ được nó (graph) chúng ta phải dùng kí hiệu nào đó để thay thế cho đối tượng cần xem xét. Những lúc ấy ta thường dùng các điểm (hoặc các ô vuông, các đường tròn hay hình chữ nhật để biểu thị cho đối tượng). Trong đó mỗi điểm ứng với một đối tượng hoặc một yếu tố. Muốn thể hiện mối quan hệ giữa các đối tượng đó ta phải gắn, phải nối các yếu tố quan hệ với nhau. Khi thể hiện mối quan hệ như vậy chúng ta có thể dùng đoạn thẳng, đoạn cong hay một đoạn gấp khúc bất kì nào đó (điều quan trọng là khi ta sử dụng kí hiệu nào đó thì cần dùng thống nhất một loại cho sơ đồ)”. Như vậy, cấu trúc của graph bao gồm các đỉnh được mô hình hóa bằng những vòng tròn hoặc hình vuông, hình chữ nhật thể hiện những kiến thức cơ bản và cung là những đường định hướng như mũi tên thẳng, cong hoặc gấp khúc thể hiện mối quan hệ logic giữa các đỉnh. Việc vận dụng lý thuyết graph vào dạy học đã sáng tạo ra một phương pháp dạy học – Phương pháp graph. Phương pháp graph chỉ ra cách thiết kế sử dụng sơ đồ vào dạy học nhằm tái hiện, tổng kết và khái quát hóa kiến thức. 2.1.2. Sử dụng graph trong dạy học           Graph cho nội dung bài học là lập sơ đồ phản ánh trực quan, đưa ra các tập hợp những kiến thức cơ bản của nội dung bài học và thể hiện được logic phát triển bên trong của nội dung bài học. Do vậy, nội dung bài học là tập hợp của kiến thức cơ bản. Các đỉnh của graph tương ứng với một đơn vị kiến thức, mỗi lời ghi chú ở đỉnh là lời thuyết minh ngắn gọn cho nội dung bài học. Nhìn vào graph, người dạy và người học có thể biết được các đơn vị kiến thức và những điều cơ bản nhất về những nội dung đó.           Graph trong dạy học có một số đặc điểm:           Thứ nhất, là sơ đồ thể hiện nội dung cơ bản của một bài học, một chương hay một mục. Graph cho thấy tổng thể nội dung kiến thức một cách chọn lọc cơ bản, quan trọng nhất của một bài lên lớp.           Thứ hai, graph trong dạy học thường có hình cây được sắp xếp theo thứ tự, từng bậc, nêu lên trình tự kiến thức của bài học. Sắp xếp hệ thống kiến thức là điều kiện quan trọng nhằm giúp người học nắm bắt và ghi nhớ kiến thức được tốt hơn.           Thứ ba, graph trong dạy học mang tính lôgic cao. Lôgic của graph thể hiện ở sự rõ ràng, rành mạch trong các mối quan hệ ngang, dọc, rẽ nhánh… giữa các đơn vị kiến thức. Qua graph, người học có thể thấy lôgic sự phát triển của các nội dung.           Thứ tư, graph trong dạy học có tính trực quan cao, tác động trực tiếp đến giác quan của người học. Tính lôgic và tính trực quan của graph làm cho người học có thể tiếp thu kiến thức dễ ràng. 2.2. Sử dụng phương pháp graph trong dạy học kiến thức lịch sử của Học phần cơ sở tự nhiên – xã hội           Nội dung kiến thức lịch sử của học phần Cơ sở tự nhiên – xã hội bao gồm những kiến thức của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước và giữ nước cho đến nay. Những kiến thức lịch sử đó được trình bày một cách khái quát. Như vậy để sinh viên nắm được nội dung kiến thức lịch sử cần có một phương pháp dạy học phù hợp, có thể sử dụng Graph ở tất cả các khâu của quá trình dạy học từ thiết kê, tổ chức các hoạt động trên lớp. Tùy theo nội dung có thể lập Graph cho phù hợp. Có thể chia ra nhiều loại Graph khác nhau theo tiêu chí nhất định. Dựa vào mục đích dạy- học có thể  kế các graph: sơ đồ hình cây, chuỗi sự kiện, đường trục thời gian. 2.2.1. Graph hình cây    Là loại sơ đồ được thiết kế có một đỉnh gốc  và các mũi tên định hướng kết nối với các đỉnh nhóm (tất cả các đỉnh được mô hình hóa). Với cấu trúc như vậy, đối với kiến thức lịch sử về chính trị – xã hội của nhà nước Văn Lang và nhà nước Âu Lạc yêu cầu sinh viên xây dựng sơ đồ về Nhà nước thời Hùng Vương như sau:             Khi giới thiệu đến triều đại nhà Lê, sử dụng graph để mô tả việc xây dựng bộ máy nhà nước phong kiến dưới thời Lê Thánh Tông. Lê Thánh Tông có nhiều công lao trong việc xây dựng củng cố chính quyền nhà Lê, Ông cho xây dựng bộ máy nhà nước gồm 5 cấp chính quyền (triều đình, đạo, phủ, huyện, xã), qua sơ đồ trên sinh viên có thể hình dung được bộ máy nhà nước phong kiến thời Lê Thánh Tông, một thời kì được coi là thời kì phát triển rực rỡ của chế độ phong kiến Việt Nam.           Là loại sơ đồ mà cung được thiết kế bằng một mũi tên định hướng còn các đỉnh là hình chữ nhật qui ước thể hiện các sự kiện và các mốc thời gian tương ứng.                  Khi hướng dẫn sinh viên tìm hiểu về thời kì Bắc thuộc và chống Bắc thuộc yêu cầu sinh viên khái quát một số sự kiện đáng ghi nhớ bằng Graph đường trục thời gian : 2.3. Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng phương pháp graph trong dạy học Để áp dụng graph vào quá trình dạy học như một phương pháp graph, giáo viên cần nắm vững bản chất của graph, phương pháp graph chi phối mục đích, nội dung dạy học. Do vậy, Trong dạy học kiến thức lịch sử của học phần Cơ sở tự nhiên – xã hội có thể sử dụng phương pháp graph. Đây là một phương pháp hướng dẫn sinh viên nắm bắt kiến thức lịch sử một cách khái quát. Sử dụng graph để khái quát kiến thức đồng thời rèn cho sinh viên khả năng phân tích, tổng hợp, trình bày các vấn đề một cách lôgic và rèn kĩ năng sử dụng sơ đồ graph trong việc dạy học lịch sử ở trường tiểu học. Tuy nhiên để đạt được mục đích trên cần lưu ý:           Thứ nhất, chọn nội dung cần sử dụng sơ đồ graph.           Thứ hai, thiết kế, hoặc hướng dẫn sinh viên thiết kế sơ đồ graph phù hợp trong quá trình dạy – học.           Thứ ba, kết hợp sử dụng phương pháp graph với các phương pháp, phương tiện dạy học khác một cách linh hoạt, đặc biệt là công nghệ thông tin. 3. Kết luận           Trong quá trình giảng dạy, nếu giáo viên lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp với nội dung và đối tượng học tập,  phát huy các ưu điểm của từng phương pháp dạy học và khắc phục những hạn chế của nó sẽ gây được hứng thú học tập, kích thích được tính tích cực hoạt động của sinh viên, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học.           Sử dụng phương pháp graph trong dạy học là một trong những phương pháp dạy học tác động đến tính tích cực học tập của sinh viên. Sử dụng phương pháp graph hướng dẫn sinh viên khái quát kiến thức một cách hiệu quả, sinh viên không chỉ nắm được mối liên hệ bản chất giữa các sự kiện mà còn rèn luyện cho sinh viên tư duy lôgic, vận dụng kiến thức đã học vào thực tế giảng dạy sau này.  

Sử Dụng Phương Pháp Quan Sát Trong Dạy Học Môn Tự Nhiên Xã Hội Giúp Học Sinh Lớp 3 Trường Tiểu Học Thái Niên Số 2 Lĩnh Hội Kiến Thức Tốt Hơn / 2023

TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM LÀO CAI KHOA TIỂU HỌC - MẦM NON SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP QUAN SÁT TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI GIÚP HỌC SINH LỚP 3 TRƯỜNG TIỂU HỌC THÁI NIÊN SỐ 2 LĨNH HỘI KIẾN THỨC TỐT HƠN (Nghiên cứu khoa học ứng dụng) Lào Cai, tháng 4 năm 2012 TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM LÀO CAI KHOA TIỂU HỌC - MẦM NON SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP QUAN SÁT TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI GIÚP HỌC SINH LỚP 3 TRƯỜNG TIỂU HỌC THÁI NIÊN SỐ 2 LĨNH HỘI KIẾN THỨC TỐT HƠN (Nghiên cứu khoa học ứng dụng) Họ và tên : Trần Thị Hồng Phấn Lớp : Tiểu học 3A GV hướng dẫn: Đặng Thị Thanh Thúy Lào Cai, tháng 4 năm 2012 MỤC LỤC 1. Tóm tắt 3 2. Giới thiệu 4 3. Phương pháp 5 3.1 Khách thể nghiên cứu 5 3.2 Thiết kế nghiên cứu 5 4. Quy trình nghiên cứu 6 5. Tiến hành thực nghiệm 6 6. Đo lường 6 7. Phân tích dữ liệu và bàn luận 6 7.1 Phân tích dữ liệu 6 7.2 Bàn luận 7 8.Kết luận và khuyến nghị 8 8.1 Kết luận 8 8.2 Khuyến nghị 8 9.Tài liệu tham khảo 8 10.Kế hoạch bài dạy lớp thực nghiệm 9 11. Các bảng điểm 16 11.1 Bảng điểm trước tác động và sau tác động lớp thực nghiệm 16 11.2 Bảng điểm trước tác động và sau tác động của lớp đối chứng 16 11.3 Bảng điểm so sánh kết quả giữa hai lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 18 11.4 Bảng đo độ tin cậy. 19 1. TÓM TẮT: Môn TNXH ở tiểu học cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản ban đầu về các sự vật, hiện tượng TN - XH và mối quan hệ của con người xảy ra xung quanh các em. Bên cạnh các môn chính như: Toán, Tiếng Việt, TNXH trang bị cho các em những kiến thức cơ bản của bậc học, góp phần bồi dưỡng nhân cách toàn diện cho các em. Tác giả nghiên cứu đã sử dụng phương pháp quan sát giúp học sinh lớp 3A lĩnh hội kiến thức phần tự nhiên trong TNXH tốt hơn. 2. GIỚI THIỆU: Hòa cùng công cuộc đổi mới mạnh mẽ về phương pháp,hình thức tổ chức dạy học trên toàn ngành,môn TNXH cũng có những bước chuyển mình,từng bước vận dụng linh hoạt các PPDH nhằm tích cực hóa hoạt động của HS,phát huy sự chủ động,sáng tạo của HS trong quá trình lĩnh hội kiến thức. PP quan sát là PP đặc trưng,từng được sử dụng khi dạy môn TNXH và đặc biệt là HS tiểu học. PP quan sát dễ dàng giúp HS nhận biết hình dạng,đặc điểm bên ngoài của sự vật,hện tượng đang diễn ra trong môi trường tự nhiên và trong cuộc sống. Đặc biệt,PPQS phù hợp với tâm lí nhận thức của HS tiểu học là tư duy bằng hình thức và bản tính tò mò,thích khám phá. Vì vậy,khi sử dụng các giác quan để tiếp cận với các sự vật hiện tượng(sờ,ngửi,nếm,mổ xẻ,nghe,nhìn...) để lĩnh hội tri thức. HS sẽ hứng thú hơn,từ đó nâng cao chất lượng học tập. Tuy nhiên việc sử dụng PPQS trong môn TNXH còn chưa đúng mực và hiệu quả còn chưa như mong muốn. Tác giả đã xác định được nguyên nhân HS lớp 3 có sự lĩnh hội kiến thức phần TN trong TNXH là chưa cao vì: Cách sử dụng PPQS của GV còn khô khan,cứng nhắc,chưa triệt để. Vì vậy HS còn chưa húng thú với môn học. HS tiếp thu kiến thức chưa sâu chủ yếu là thụ động,QS qua sách,tranh ảnh. Mặt khác GV còn làm việc quá nhiều,tập trung vào giảng giải mà không tổ chức được các hình thức để phát huy được sự chủ động tích cực khám phá của HS,vì thế các em không nắm sâu được kiến thức. Với việc sử dụng PPQS chưa triệt để như vậy HS thấy nhàm chán kiến thức không gắn với thực tiễn,hoạt động của các em quá ít,nên sự lĩnh hội kiến thức của các em chưa cao. Để thay đổi hiện trạng: "kết quả kĩnh hội kiến thức phần tự nhiên trong TNXH của HS lớp 3 chưa cao" Để giải quyết được nguyên nhân trên tác giả đã tiến hành tìm hiểu về thông tin cách sử dụng PPQS. PPQS là PP dạy HS cách sử dụng các giác quan để tri thức trực tiếp,có mục đích các sự vật hiện tượng diễn ra trong tự nhiên và cuộc sống. Thông qua việc QS trực tiếp ấy,HS tự mình tìm tòi ,khám phá kiến thức của bào học một cách sâu sắc hơn. HS được tự mình làm việc thông qua sự hướng dẫn của GV. - Giải pháp thay thế: Trong bài học,tác giả đã sử dụng triệt để PPQS để HS phân biệt được hình dạng,kích thước,màu sắc,cấu tạo... từ đó lĩnh hôi tri thức sâu hơn. - Vấn đề nghiên cứu: Sử dụng tốt PPQS có giúp HS lớp 3 trường TH THÁI NIÊN số 2 lĩnh hội kiến thức bài "quả" tốt hơn không? - Giả thuyết: Có,sử dụng tốt PPQS sẽ giúp HS lớp 3 trường TH THÁI NIÊN số 2 lĩnh hội kiến thức bài "quả" tốt hơn. 3. PHƯƠNG PHÁP: 3.1 Khách thể nghiên cứu. - HS 2 lớp 3A và 3B của trường TH THÁI NIÊN số 2. Bảng 1: Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu. Lớp Thành tích học tập kì I Giới tính Giỏi Khá Trung bình Yếu kém Nữ Nam SL % SL % SL % SL % SL % SL % 3A (n=20) 7 35 8 40 5 25 0 0 10 50 10 50 3B (n=21) 7 33,3 9 42,9 5 23,8 0 0 10 47,6 11 52,4 * Bảng số liệu cho thấy: - Thành tích học tập của 2 lớp khá đồng đều: + Tỉ lệ HS đạt loại giỏi lớp 3A là 35%, lớp 3B là 33,3% + Tỷ lệ HS đạt loại khá lớp 3A là 40%, lớp 3B là 42,9% + Tỷ lệ HS đạt loại TB lớp 3A là 25%, lớp 3B là 23,8% Cả 2 lớp đều không có HS yếu, kém. - Tỷ lệ HS nam và HS nữ được chia tương đối đều. + Tỷ lệ nữ của lớp 3A là 50%, tỷ lệ nữ của lớp 3B là 47,6% + Tỷ lệ nam của lớp 3A là 50%, tỷ lệ nam của lớp 3B là 52,4% Từ các số liệu trên cho thấy 2 lớp có sự tương đương về nhiều mặt. - HS cả 2 lớp có điều kiện học tập như nhau, đều được gia đình quan tâm, tạo điều kiện cho học tập. Với những số liệu trên tất cả đã lựa chọn lớp 3A là lớp thực nghiệm và lớp 3B là lớp đối chứng. 3.2 Thiết kế nghiên cứu: - Sử dụng thiết kế 2 kiểm tra trước và sau tác động với 2 nhóm tương đương . - Chọn 2 lớp với nguyên sĩ số: Lớp 3A là lớp thực nghiệm và lớp 3B là lớp đối chứng. Tác giả sử dụng bài kiểm tra học kì I môn TNXH của 2 lớp là bài kiểm tra trước tác động. Kết quả cho thấy điểm trung bình của 2 lớp có sự khác nhau,vì thế tác giả đã dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số của 2 lớp trước khi tác động. Bảng 2: Sử dụng thiết kế 2 kiểm tra trước tác động và sau tác động với 2 nhóm tương đương. Lớp Tác động Sau tác động Lớp thực nghiệm 3A (n=20) 1 tiết dạy sử dụng phương pháp quan sát 01 Lớp đối chứng 3B (n=21) Không tác động 02 - Sử dụng phép kiểm trứng T-Test độc lập để so sánh, xác định giá trị của dữ liệu. 4. QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU: - Lớp đối chứng HS học theo phương pháp thường như: giảng giải, minh họa, gợi mở, vấn đáp,... 5. TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM: Bảng 3: Thời gian tiến hành thực nghiệm Thời gian Địa điểm (Trường TH Thái niên số 2) Tiết học theo ngày Nội dung Sáng Tại lớp 3A Tiết 2 Sử dụng tác động Sáng Tại lớp 3B Tiết 3 Không tác động Sau khi kết thúc tiết học, cả 2 lớp đồng thời được thực hiện bài kiểm tra 10 phút với đề giống nhau (đề và đáp án trang 9.) 6. ĐO LƯỜNG: - Nội dung đo: + Đo mức độ lĩnh hội kiến thức của HS ở lớp sau tác động - Công cụ đo: + Đo kiến thức: Một bài kiểm tra 10 phút (phụ lục trang 9) + Hình thức kiểm tra: Kiểm tra trắc nghiệm khách quan có nhiều lựa chọn + Thời gian kiểm tra: 10 phút + Số lượng câu hỏi: 10 câu + Thang đo sử dụng điểm số từ 1 - 10. - Cách chấm điểm: + Sau khi kiểm tra tác động, tác giả đã cùng cô giáo chủ nhiệm của 2 lớp 3A, 3B chấm bài theo đáp án đã xây dựng. + Độ tin cậy của kết quả được kiểm chứng bằng cách chia đôi dữ liệu. + Kiểm chứng độ giá trị bằng cách nhờ cô giáo đánh giá bài kiểm tra sau tác động hoàn toàn phản ánh kiến thức cần đo trong đề tài nghiên cứu. 7. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN: 7.1 Phân tích dữ liệu: - Mô tả dữ liệu và kết quả so sánh dữ liệu về kiến thức của 2 lớp trước tác động và sau tác động. Bảng 4.1: Kết quả học tập môn TNXH kỳ I của học sinh. Lớp Điểm trung bình Điểm trung bình chênh lệch Lớp thực nghiệm (3A) 6,45 0,02 Lớp đối chứng (3B) 6,43 Bảng 4.2: Kết quả lĩnh hội kiến thức của học sinh sau tác động. Lớp KTSTĐ Thực nghiệm Đối chứng Điểm TB chênh lệch Điểm TB 8,1 7,38 0,72 Độ chênh lệch chuẩn SD 0,640723 0,804748 Hệ số ảnh hưởng ES 0,9 Giá trị của T-Test 0,001498 Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra biểu thức sau thực nghiệm: Bảng số liệu 4.1 cho thấy kết quả học tập của 2 lớp là tương đương. Sau tác động của thực nghiệm kiểm chứng chênh lệch điểm trung bình bằng T-test cho thấy kết quả p = 0,001498 (<0,05) cho thấy sự chênh lệch trung bình giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng có ý nghĩa. Tức là chệnh lệch kết quả trung bình nhóm thực nghiệm cao hơn điểm trung bình nhóm đối chứng là không ngẫu nhiên mà là do kết quả tác động của tác giả. Kết quả của bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm là điểm TB=8,1, kết quả kiểm tra tương ứng của lớp đối chứng là điểm TB=7,38. Độ chênh lệch điểm số giữa 2 nhóm là 0,72, điều đó đã xho thấy điểm TB của 2 lớp thực nghiệm và đối chứng đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp thực nghiệm có điểm TB cao hơn lớp đối chứng. Quy mô ảnh hưởng của sự tác động theo tiêu chuẩn Cohen là lớn SMD=0,9, điều này có ý nghĩa là việc tổ chức dạy có sử dụng PPQS tích cực có ảnh hưởng lớn đến kết quả lĩnh hội kiến thúc của HS. 7.2 Bàn luận. - Đề tài của tác giả hoàn toàn tập trung vào nghiên cứu, tìm câu trả lời cho các vấn đề nghiên cứu đặt ra trong đề tài: "Sử dụng hiệu quả PPQS có giúp HS lớp 3 lĩnh hội kiến thức bài "Qủa" tốt hơn không? - Dựa vào số liệu đầu vào (bảng 4.1) cho thấy trình độ nhận thức của hai nhóm HS là tương đương nhau. - Kết quả dữ liệu đầu ra (bảng 4.2) cho thấy kiểm tra 10 phút. - Thực hiện phép kiểm chứng T-Test độc lập với điểm TB cho thấy giá trị P đều <0,05. Điều đó sự khác biệt kết quả giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng là hoàn toàn có ý nghĩa. - Kết quả nghiên cứu đã khẳng định: HS lớp thực nghiệm có kết quả cao hơn HS lớp đối chứng vì thế chúng ta chấp nhận kết quả nghiên cứu. - Tuy nhiên sau quá trình nghiên cứu, tác giả của đề tài này thấy rằng: Đề tài cần phải tiếp tục phát triển theo hướng: Tổ chức dạy học có sử dụng hiệu quả của PPQS trong các tiết học TNXH ở TH, nhằm tăng sự hứng thú trong giờ học, từ đó nâng cao kết quả học tập cho HS. - Vì điều kiện thời gian có hạn nên đề tài không tránh khỏi những hạn chế: Việc sử dụng PPQS trong dạy học TNXH ở TH là rất tốt, song với đề tài này tác giả mới chỉ tác động tiến hành dạy một tiết nên chưa bao quát được tất cả kiến thức TNXH phần tự nhiên của lớp 3: Kết quả học tập còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như tâm lí của HS. Đầu tư vào tiết học còn nhiều hạn chế. 8. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ. 8.1 Kết luận - Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là đánh giá chính xác mức độ lĩnh hội kiến thức bài "Qủa" môn TNXH lớp 3 học có PPQS tích cực của lớp thực nghiệm 3A. - Sau khi tác giả tiến hành thực nghiệm và phân tích dữ liệu đã thu được những kết quả nhất định, việc lĩnh hội kiến thức và hứng thú học tập của HS lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng. Tổ chức dạy có PPQS giúp HS lớp 3A học bài "Qủa"- phần TN của TNXH tốt hơn. Kết quả nghiên cứu tác động đã chứng minh cho giả thuyết khoa học đặt ra trong đề tài. 8.2 Khuyến nghị. 9. TÀI LIỆU THAM KHẢO a) SOH, KC, CHNS, T(2008) Tài liệu tập huấn nghiên cứu khoa học ứng dụng của dự án Việt-Bỉ. b) Tài liệu tập huấn PP dạy học dự án Việt-Bỉ. c) Sách giáo khoa, sachsgiaos viên TNXH lớp 3. d) Trang web: htpp://w.w.w.google.com.vn. PHỤ LỤC 10. KẾ HOẠCH BÀI DẠY LỚP THỰC NGHIỆM BÀI 48: QUẢ I) Mục tiêu: Sau bài học - Quan sát,so sánh và tìm ra sự khác nhau về màu sắc, độ lớn của một số loại quả. - Kể tên các bộ phận thường có của một quả. - Nêu được chức năng của hạt và ích lợi của quả. II) Các hoạt động dạy - học. Tiến trình Hoạt động của giáo viên Hoạt động của HS I) Khởi động(5 phút) II) Bài mới III) Trò chơi. IV) Củng cố, dặn dò. * KTBC, giới thiệu bài mới. KTBC: Bài "Hoa" + Nêu sự khác nhau của các loài hoa và kể tên các bộ phận của một bông hoa ? + Nêu chức năng và lợi ích của hoa ? + GV nhận xét cho điểm. - Giới thiệu bài mới. + Cả lớp hát bài "quả" + Em thấy những loại quả nào trong bài hát vừa rồi ? + Trong đó, quả nào ăn được ? + Giới thiệu bài "quả" - Ghi đầu bài. HĐ1: Quan sát. - Y/c: Thực hiện cá nhân + Quan sát hình SGK trang 92.93 và trả lời các câu hỏi: + Kể tên các loại quả trong hình? + Trong đó, em đã được ăn những loại quả nào? + Em hãy nhớ và nêu quả đó có hình dạng, màu sắc, mùi vị của quả đó ? - Y/c: Hoạt động cả lớp + Trả lời các câu hỏi trên - Sau đó, GV minh họa về một số loại quả thật. + Nói chung về các loại quả. + Nói cụ thể về quả măng cụt, đào, đậu. * HĐ2: Làm việc với vật thật - KT quả mà HS mang tới lớp. - Y/c: Nhóm trưởng điều khiển, quan sát các loại quả - Chọn 1 loại quả: Qs độ lớn, màu sắc, mùi vị, bóc hoặc gọt vỏ để nhận xét vỏ quqr có gì đặc biệt? Qủa đó có hạt không? - Đại diện nhóm trình bày - GV bổ sung một loại chuối có hạt: chuối Tây - GV hỏi: + Quả khi chín thường có màu gì? + Các hình dạng của quả? + Mùi vị của quả ? HĐ3: Thực hành. - Y/c: Thực hiện nhóm 4. - Y/c: Thực hành bổ quả và quan sát. + C1: Quả gồm các bộ phận nào ? + C2: Phần nào của quả khi gặp điều kiện thích hợp sẽ mọc thành cây? + C3: Hạt có chức năng gì? + C4: Nêu ích lợi của quả ? - Y/c: Đại diện nhóm trả lời. - Y/c: Nhóm khác nhận xét. - Bổ sung + Có quả chỉ có vỏ và hạt (đậu nành) có quả chỉ có vỏ và thịt (chuối), coa quả hạt rất to(xoài.không ăn được), có quả có hạt lại nhỏ như Thanh long, ổi (ăn được hạt) + Quả còn được dùng làm mứt hoặc chữa bệnh. * Đố quả - Hướng dẫn luật chơi. - Đố HS - Nhận xét, tuyên dương. - Y/c HS đọc mục "Bóng đèn tỏa sáng" - Nhắc lại nôi dung bài. - Nhận xét tiết học. - Dặn bài sau: "Động vật" - 2HS trả lời. - Hát Trả lời Trả lời HS thực hiện Nghe - Thực hiện - 1 HS trả lời - Nghe - Đỏ, xanh, vàng, tím thẫm... - Thon dài, bầu dục, ình cầu, to, nhỏ... - Ngọt, chua, cay, đắng... - Nghe - Thực hiện - Vỏ, thịt, hạt - Hạt - Mọc thành cây nếu gặp điều kiện thích hợp. - Trả lời Thực hiện Nghe - HS đọc - 2-3 HS thực hiện PHIẾU BÀI TẬP CỦA HOẠT ĐỘNG 3 Nhiệm vụ: Sau khi bổ quả và quan sát, nhóm 4 (5 phút) Câu 1: Quả gồm các bộ phận nào? A. Vỏ, thị, hạt. C. Thịt, hạt. B. Hạt, vỏ. D. Thịt, vỏ. Câu 2: Phần nào của quả khi gặp điều kiện thích hợp sẽ mọc thành cây? A. Vỏ C. Hạt B. Thịt D. Cả quả Câu 3: Hạt có chức năng gì? A. Ăn C. Mọc thành cây B. Làm mứt D. Trang trí Câu 4: Nêu lợi ích của quả ? A. Ăn C. Chế biến món ăn C. Trang trí D. Cả 3 đáp án trên đều đúng ĐỀ VÀ ĐÁP ÁN SAU TÁC ĐỘNG (Thời gian 10 phút) Đề gồm 11 câu trắc nghiệm Câu 1: Trong các loại quả sau quả nào ăn được? A. Quả bóng C. Quả nhãn B. Quả đất D. Quả bóng bay Câu 2: Quả khi chín thường có màu gì? A. Trắng C. Đen, trắng, xanh B. Đỏ, xanh, vàng D. Vàng xanh Câu 3: Quả chuối có dạng hình gì? A. Hình cầu C. Hình thon dài B. Hình bầu dục D. Hình dẹt Câu 4: Quả chôm chôn khi chín có vị gì? A. Chua C. Ngọt B. Chát D. Đắng Câu 5: Các bộ phận thường có của quả? A. Vỏ, hạt C. Thịt vỏ B. Thịt hạt D. Vỏ, thịt, hạt Câu 6: Trong các loại hạt sau, hạt nào ăn được? A. Hạt xoài C. Hạt thanh long B. Hạt lạc D. Cả B và C đều đúng Câu 7: Quả đu đủ khi chín có màu gì? A. Xanh C. Vàng B. Tím D. Đỏ Câu 8: Trong các loại quả trên quả nào dùng để nấu canh? A. Quả nhãn C. Quả me chua B. Quả chôm chôm D. Quả dưa hấu Câu 9: Quả chanh có dạng hình gì? A. Hình cầu C. Hình thon dài B. Hình bầu dục D. Hình dẹt Câu 10: "Quả gì ở tận trên cao, không phải giếng đào mà có nước trong"? A. Quả đu đủ C. Quả dừa B. Quả khế D. Quả táo. ĐÁP ÁN PHIẾU BÀI TẬP CỦA HOẠT ĐỘNG 3 Nhiệm vụ: Sau khi bổ quả và quan sát, nhóm 4 (5 phút) Câu 1: Quả gồm các bộ phận nào? A. Vỏ, thị, hạt. C. Thịt, hạt. B. Hạt, vỏ. D. Thịt, vỏ. Câu 2: Phần nào của quả khi gặp điều kiện thích hợp sẽ mọc thành cây? A. Vỏ C. Hạt B. Thịt D. Cả quả Câu 3: Hạt có chức năng gì? A. Ăn C. Mọc thành cây B. Làm mứt D. Trang trí Câu 4: Nêu lợi ích của quả ? A. Ăn C. Chế biến món ăn C. Trang trí D. Cả 3 đáp án trên đều đúng ĐỀ VÀ ĐÁP ÁN SAU TÁC ĐỘNG (Thời gian 10 phút) Đề gồm 11 câu trắc nghiệm Câu 1: Trong các loại quả sau quả nào ăn được? A. Quả bóng C. Quả nhãn B. Quả đất D. Quả bóng bay Câu 2: Quả khi chín thường có màu gì? A. Trắng C. Đen, trắng, xanh B. Đỏ, xanh, vàng D. Vàng xanh Câu 3: Quả chuối có dạng hình gì? A. Hình cầu C. Hình thon dài B. Hình bầu dục D. Hình dẹt Câu 4: Quả chôm chôn khi chín có vị gì? A. Chua C. Ngọt B. Chát D. Đắng Câu 5: Các bộ phận thường có của quả? A. Vỏ, hạt C. Thịt vỏ B. Thịt hạt D. Vỏ, thịt, hạt Câu 6: Trong các loại hạt sau, hạt nào ăn được? A. Hạt xoài C. Hạt thanh long B. Hạt lạc D. Cả B và C đều đúng Câu 7: Quả đu đủ khi chín có màu gì? A. Xanh C. Vàng B. Tím D. Đỏ Câu 8: Trong các loại quả trên quả nào dùng để nấu canh? A. Quả nhãn C. Quả me chua B. Quả chôm chôm D. Quả dưa hấu Câu 19: Quả chanh có dạng hình gì? A. Hình cầu C. Hình thon dài B. Hình bầu dục D. Hình dẹt Câu 10 "Quả gì ở tận trên cao, không phải giếng đào mà có nước trong"? A. Quả đu đủ C. Quả dừa B. Quả khế D. Quả táo. 11. CÁC BẢNG ĐIỂM 11.1 Bảng điểm trước tác động và sau tác động lớp thực nghiệm: (3A) STT Học sinh Điểm trước tác động Điểm sau tác động 7 9 6 8 7 8 6 8 7 9 6 8 6 7 7 8 6 7 6 8 6 8 7 9 6 8 7 9 5 8 6 8 7 9 6 7 7 8 8 8 Điểm trung bình 6,45 8,1 11.2 Bảng điểm trước tác động và sau tác động lớp đối chứng: (3B) STT Học sinh Điểm trước tác động Điểm sau tác động 1 7 8 2 6 7 3 7 8 4 7 8 5 6 7 6 6 7 7 5 6 8 7 8 9 6 7 10 5 6 11 7 8 12 8 8 13 7 8 14 6 6 15 6 6 16 8 8 17 7 8 18 6 8 19 6 8 20 5 7 21 7 8 Điểm trung bình 6,43 7,38 11.3 Bảng điểm so sánh kết quả giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng sau tác động. STT Học sinh Điểm lớp thực nghiệm Điểm lớp đối chứng 1 9 8 2 8 7 3 8 8 4 8 8 5 9 7 6 8 7 7 7 6 8 8 8 9 7 7 10 8 6 11 8 8 12 9 8 13 8 8 14 9 6 15 8 6 16 8 8 17 9 8 18 7 8 19 8 8 20 8 7 21 8 Điểm trung bình 8,1 7,38 Độ lệch chuẩn 0,640723 0,804748 Chênh lệch 0,72 Giá trị T-Test 0,001498 Hệ số ảnh hưởng(ES) 0,9 11.4 Bảng đo dộ tin cậy. Độ tin cậy Spearman-Brown được tính trên phần mềm excel. Kết quả đo kiến thức của lớp thực nghiệm thể hiện ở bảng sau: Học sinh Q1 Q2 Q3 Q4 Q5 Q6 Q7 Q8 Q9 Q10 Tổng Lẻ Chẵn 1 1 1 0 1 1 1 1 1 1 1 9 4 5 2 1 1 1 0 1 1 1 0 1 1 8 5 3 3 1 0 1 1 1 1 0 1 1 1 8 4 4 4 1 1 1 1 1 1 1 0 1 0 8 5 3 5 1 1 1 1 1 1 1 0 1 0 9 5 4 6 1 1 1 1 1 0 1 0 1 0 8 5 3 7 1 0 1 1 0 1 1 1 1 0 7 4 3 8 0 1 1 1 1 1 1 0 1 1 8 4 4 9 0 1 1 1 0 0 1 1 1 0 7 4 3 10 1 1 1 0 1 1 1 1 0 1 8 4 4 11 1 1 1 0 1 1 0 1 1 1 8 4 4 12 1 1 1 1 1 0 1 1 1 1 9 5 4 13 1 1 1 1 1 1 1 0 1 0 8 5 3 14 1 1 1 1 1 1 1 1 0 1 9 4 5 15 1 1 0 1 1 1 1 0 1 0 8 5 3 16 1 1 1 1 1 0 1 1 1 0 8 5 3 17 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 9 5 4 18 1 1 1 0 1 1 0 1 0 1 7 3 4 19 1 0 1 1 1 1 1 1 1 0 8 5 3 20 1 1 1 0 1 1 1 1 1 0 8 5 3 Tương quan chẵn lẻ 0,61113 Độ tin cậy Spearman-Brown 0,759

Phương Pháp Dạy Học Trong Trường Sư Phạm / 2023

Trong quá trình tiến hành đổi mới phương pháp dạy học, thiết nghĩ khâu đột phá phải bắt đầu từ các trường sư phạm. Vai trò của các trường sư phạm phải là: máy cái cho sự đổi mới phương pháp dạy học, tiên phong về đổi mới phương pháp dạy học… Phương pháp dạy học ở các trường sư phạm có ảnh hưởng rất lớn, nếu không nói là quyết định đến phương pháp dạy học ở trường phổ thông. Nếu ở trường sư phạm, sinh viên có điều kiện tiếp cận với phương pháp dạy học thích hợp thì đến lượt họ, khi là giáo viên phổ thông mới có thể sử dụng được các phương pháp đó vào trong công tác giảng dạy của mình.

Vậy các trường sư phạm cần sử dụng phương pháp dạy học như thế nào để vừa đáp ứng nguyên tắc chung, vừa đảm bảo phù hợp với đặc thù của trường đào tạo giáo viên trong giai đoạn hiện nay?

Ở góc độ đổi mới phương pháp dạy học, phải nhìn nhận rằng, việc đổi mới phương pháp dạy học ở đại học không nên chỉ nghĩ đến khâu giảng bài trên lớp, cũng không nên nghĩ rằng việc độc thoại một chiều là không đổi mới. Không phải trong từng bài học người dạy đều phải theo phương pháp gợi mở, trao đổi hai chiều với người học, dẫn dắt người học để họ tìm kiếm kiến thức. Nếu từng bài đều làm như vậy thì không thể hoàn thành chương trình vốn dĩ rất eo hẹp về thời gian, và không phải phải bài nào người dạy cũng có khả năng và thời gian để làm được như vậy. Đó là chưa kể nếu cứ làm như vậy thì người học ít có điều kiện được nghe một bài giảng có hệ thống, theo lối thuyết trình vốn có ở đại học. Cái chính không phải là đổi mới bằng phương pháp gì, mà là dạy như thế nào để khơi gợi hứng thú, tò mò, ham muốn đào sâu, suy nghĩ độc lập, phát triển óc phê phán, khắc phục lối dạy học thuần túy chỉ là thông tin – tiếp thu từ “mồm đến tai” hay hiện nay là từ ” mồm đến mắt, tai ” qua việc quá lạm dụng phương tiện dạy học hiện đại như over head, powerpoint….

1. Phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, độc lập của sinh viên.

Tức là lấy hoạt động nhận thức của học sinh làm trung tâm của quá trình dạy học. Thực ra không có phương pháp dạy học nào được coi là vạn năng, phù hợp với mọi bài dạy, vì vậy khó có thể nói phương pháp nào thể hiện được đầy đủ yêu cầu trên. Người dạy cần phối hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học trên cơ sở tính đến nội dung bài dạy, điều kiện dạy học…và đặc biệt là tính đến khả năng thực hiện hoạt động nhận thức của học sinh. Hiện nay, tuy không còn phổ biến nhưng trong các trường sư phạm vẫn đang tồn tại các phương pháp dạy học có tính truyền thụ một chiều, cần phải thay đổi để tiến tới giúp người học tự phát hiện và giải quyết vấn đề, chủ động trong qúa trình chiếm lĩnh tri thức mới và cách thức hoạt động mới. Điều này rất quan trọng và cần thiết cho sinh viên trong các trường sư phạm, giúp sinh viên khi ra trường có phương pháp giảng dạy thích hợp và biết tổ chức các hoạt động cho học sinh (ngoại khoá, xêmina… ).

2. Tăng cường bồi dưỡng cho người học ý thức, thói quen và phương pháp tự học.

Tự học là một phần có ý nghĩa rất quan trọng để sinh viên trong các trường sư phạm hoàn thiện vốn kiến thức khoa học và kỹ năng nghề nghiệp. Kiến thức mà người thầy cần truyền thụ phải được hoàn thiện trong hoạt động tự học, tự nghiên cứu, tự rèn luyện của trò.

Tự học yêu cầu người học có tính độc lập, tự giác cao. Khi tự học người học không có thầy trực tiếp dạy, không có mẫu trực tiếp để bắt chước, không bị áp đặt từ bên ngoài…người học hầu như hoàn toàn chủ động trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp hoạt động, tự kiểm tra, tự đánh giá… Trong xu thế “học suốt đời” hiện nay, hoạt động tự học trở thành một phần cơ bản của hoạt động học tập.

Ở trường sư phạm cần bồi dưỡng cho sinh viên ý thức, thói quen, phương pháp tự học, tự làm giàu vốn hiểu biết của mình vì người thầy giáo không chỉ giỏi chuyên môn mà còn cần phông kiến thức rộng. Khi được trang bị đầy đủ về khả năng tự học, sinh viên khi ra trường sẽ tự tin hơn khi hướng dẫn cho học sinh tự học.

3. Tăng cường rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên

Trong đào tạo giáo viên, thực hành, thực tế, thực tập là những hoạt động hết sức quan trọng nhằm hình thành kỷ năng sư phạm, cách thức tổ chức hoạt động cho người học. Thực hành, thực tế, thực tập ở trường sư phạm có thể bao gồm các nội dung, mức độ sau:

– Vận dụng kiến thức đã học vào việc tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của học sinh phổ thông.

– Thông qua thực tiễn để củng cố, kiểm chứng kiến thức lý thuyết.

– Tập phân tích nội dung, chương trình môn học mà sau này sinh viên sẽ đảm nhận ở trường phổ thông, tập xây dựng kế hoạch giáo dục học sinh.

– Soạn giáo án, lên lớp và tổ chức các hoạt động cho học sinh.

Hoạt động thực hành ở trường sư phạm trước hết phải được hướng dẫn và thực hiện giả định tại trường. Trong quá trình đào tạo, trường sư phạm cần quan tâm đúng mức đến công tác rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên, đặc biệt là rèn luyện các kỹ năng sư phạm. Bắt đầu từ các kỹ năng đơn giản nhất (đọc, viết bảng…) đến các kỹ năng phức tạp nhất (tổ chức các hoạt động học tập, các mối quan hệ trong giờ học, giải quyết các tình huống sư phạm, nghiên cứu khoa học giáo dục…).

Để việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm đem lại hiệu quả cao, trường sư phạm cần xác định rõ các hoạt động rèn luyện cho các học kỳ, các năm học tương ứng với nội dung học tập của sinh viên và đảm bảo logic của quá trình rèn luyện từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp… Ngoài ra cần đa dạng các hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm như: tổ chức các hoạt động ngoại khóa, tổ chức các câu lạc bộ kỹ năng sư phạm, tổ chức hội thi nghiệp vụ sư phạm…

Một hoạt động quan trọng khác đối với sinh viên sư phạm là hoạt động thực hành một cách thường xuyên, liên tục ở trường phổ thông trên đối tượng thực là học sinh. Vì thế, việc xây dựng trường thực hành đang trở thành vấn đề cấp thiết đối với các trường sư phạm. Cùng với nó, nội dung thực hành cũng cần được xây dựng thành một qui trình thuận tiện cho giáo viên phổ thông hướng dẫn và việc thực tập của giáo sinh.

4. Môđun hóa nội dung dạy học

Việc hình thành các môđun dạy học là một trong các hướng nhằm thực hiện đổi mới phương pháp dạy học ở đại học hiện nay, đặc biệt là trong đào tạo theo học chế tín chỉ.

Với chương trình các môn học hiện hành, người dạy có thể thiết kế nội dung môn học với hình thức của các môđun dạy học. Nó vừa đảm bảo cho quá trình dạy học tuân thủ đúng chương trình, theo thời lượng qui định, vừa cho phép người dạy tham gia tích cực vào quá trình phát triển chương trình dạy học. Các mô đun dạy học tồn tại với tư cách là tài liệu tự học có hướng dẫn. Nếu sử dụng các mô đun dạy học, thì phương pháp dạy của người dạy và phương pháp học của người học phải thay đổi tương ứng. Do vậy, với việc định hướng về cách thức thiết kế các môđun dạy học, người dạy sẽ có khả năng tự tạo ra những điều kiện để hoàn thiện cả phương pháp dạy và phương pháp học của cả thầy và trò.

Khi sinh viên sư phạm được tiếp cận với hình thức dạy học theo môđun, đến lượt mình họ cũng sẽ có khả năng môđun hóa nội dung dạy học khi họ là giáo viên phổ thông.

5. Ứng dụng công nghệ thông tin và các phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình đào tạo

Việc hoàn thiện phương pháp đào tạo ở các trường sư phạm đòi hỏi phải từng bước ứng dụng công nghệ thông tin và các phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình đào tạo như: hệ thống nghe nhìn, công cụ tin học đa phương tiện, Internet…Nhờ các phương tiện này mà có thể tăng nhịp dộ giờ dạy, gây hứng thú học tập cho sinh viên, và điều quan trọng hơn là có thể hình thành ở sinh viên kỹ năng sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại.

Kết luận:

Trong xu thế đổi mới quá trình đào tạo hiện nay, mỗi trường sư phạm đều có các giải pháp nhằm đổi mới phương pháp giảng dạy, tùy vào đặc trưng của từng trường mà thực hiện theo cách không giống nhau nhưng cùng hướng tới mục đích chung là nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu xã hội và yêu cầu đổi mới của giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, có thể đánh giá rằng, phương pháp dạy học ở các trường sư phạm vẫn chưa bám sát với thực tiễn dạy học ở bậc phổ thông, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu thực tế đặt ra… Hy vọng rằng trong tương lai thật gần, mỗi một giảng viên trường sư phạm đều có ý thức và không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, áp dụng những phương pháp dạy học tiên tiến, nâng cao chất lượng đào tạo và từ đó góp phần nâng cao chất lượng

ThS. Nguyễn Thị Hương Giang, Trưởng Bộ môn Tâm lý – Giáo dục

Phương Pháp Dạy Học Môn Tự Nhiên Xã Hội / 2023

Sách giáo khoa môn học Tự nhiên và xã hội

Chủ đề Xã hội là kết quả của việc tích hợp các bài học về gia đình, trường học và quê hương của chương trình cũ với nội dung giáo dục sức khoẻ. Nội dung giáo dục sức khoẻ được tích hợp ở đây bao gồm sức khoẻ tinh thần khi học về các nội dung về mối quan hệ họ hàng, cuộc sống an toàn và vệ sinh môi trường.

Nội dung về gia đình bao gồm: các thành viên và công việc của các thành viên trong gia đình; vệ sinh nhà ở; an toàn khi ở nhà.

Nội dung về trường học bao gồm: các thành viên trong lớp học, trường học và công việc của họ trong lớp và trong trường học; vệ sinh trường, lớp học; an toàn khi ở trường.

Nội dung về quê hương bao gồm: nơi học sinh đang sống ở làng quê hay đô thị: phong cảnh và hoạt động sinh sống, nghề nghiệp, đường xá và các phương tiện giao thông, một số cơ sở hành chính, giáo dục, y tế, kinh tế; vệ sinh nơi công cộng; an toàn khi tham gia giao thông.

Lưu ý về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học

Phương pháp đóng vai có thể được sử dụng ở nhiều bài. Học sinh tham gia các hoạt động đóng vai như: Hoạt động tại nhà bưu điện để viết các ghi địa chỉ, gửi thư và sử dụng các dịch vụ khác tại bưu điện; Bán hàng để làm quen với các hoạt động mua bán…

Trò chơi:

Ví dụ thiết kế bài học

Bài 32: LÀNG QUÊ VÀ ĐÔ THỊ (Lớp 3)

I – MỤC TIÊU

Sau bài học HS có thể:

Về kiến thức:

– Nắm được đặc điểm chính của làng quê và đô thị: phong cảnh, nhà cửa, đường sá và các nghề nghiệp chính của người dân địa phương.

Về kỹ năng:

– Kể được sự khác biệt giữa làng quê và đô thị

Về thái độ:

– Yêu quý quê hương mình đang sống.

– Có thái độ bảo vệ môi trường địa phương.

II – ĐỒ DÙNG DẠY HỌC

– Các hình trong SGK trang 62,63.

– Sưu tầm tranh ảnh về phong cảnh, nhà cửa, đường sá ở làng quê và đô thị nói chung và của địa phương HS nói riêng.

– Tranh ảnh, hiện vật về các nghề nghiệp của địa phương.

III – CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

Mục tiêu:

HS tìm hiểu và nắm được những đặc trưng của làng quê và đô thị.

Cách tiến hành:

Bước 1: Làm việc theo nhóm

Hình 1

Hình 2

Bước 2: Làm việc chung toàn lớp

Trong khi các nhóm trình bày, GV tóm tắt nội dung chính của từng nhóm và bổ sung thêm các ý kiến bổ sung của các nhóm tiếp theo lên bảng vào hình 3.

Hình 3

Kết luận: GV tóm tắt lại kết quả trình bài của HS: ở làng quê nhà ở ít và thấp, xung quanh nhà thường có vườn cây, chuồng trại, ao chuôm … đường sá nhỏ bé ít người và xe cộ đi lại, không khí thường trong lành. Ở đô thị, nhà ở tập trung san sát, dân cư đông đúc, đường phố có nhiều người qua lại, không khí hay bị ô nhiễm.

Mục tiêu:

– Kể được tên các nghề nghiệp mà người dân ở làng quê và đô thị thường làm.

– Liên hệ được các nghề nghiệp và hoạt động chủ yếu của nhân dân địa phương.

Bước 1: Làm việc theo nhóm

Bước 2: Làm việc chung toàn lớp

Trong khi các nhóm trình bày, GV tóm tắt nội dung trình bày của từng nhóm và bổ sung thêm các ý kiến bổ sung của các nhóm tiếp theo lên bảng thành 2 cột như hình 4.

Hình 4

Kết luận: GV tóm tắt lại kết quả trình bày của HS: ở làng quê người dân thường sống bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi, chài lưới và các nghề thủ công,… ở đô thị, người dân thường đi làm trong các công sở, cửa hàng, nhà máy, công ty …

Hoạt động 3. Giới thiệu về quê hương chúng ta

Mục tiêu:

– Dựa trên những đặc điểm chung của làng quê, đô thị và các nghề nghiệp của người dân sống ở các khu vực đã* học học ở trên, HS liên hệ và giới thiệu về những nét đặc trưng của địa phương và nghề nghiệp của nhân dân địa phương mình.

– Khơi dậy tình yêu quê hương cho HS.

Bước 1: Làm việc theo nhóm

Nếu thấy HS cần GV có thể gợi ý:

Tên địa phương: X*ã, huyện hoặc phường, quận …(hoặc đơn vị nhỏ hoặc lớn hơn)

Đặc điểm: Cây cối, nhà cửa, sông hồ, đồng ruộng, phố sá, giao thông…

Các nghề nghiệp chính của nhân dân và các sản phẩm, đặc sản (nếu có) do người dân địa phương làm ra.

Bước 2: Làm việc theo lớp

– GV và cả lớp cùng đánh giá và tổ chức khen hoặc thưởng(nếu có) cho nhóm có bài giới thiệu chính xác và hấp dẫn nhất.

Thực hành

Chủ đề Tự nhiên

Đặc điểm cấu tạo và môi trường sống của một số cây, con vật phổ biến. Ích lợi và tác hại của chúng đối với con người.

Một số hiện tượng tự nhiên như thời tiết, ngày và đêm, các mùa…

Sơ lược về hệ Mặt trời, Trái Đất và các vận động của Trái Đất.

Một số biểu tượng về sông, hồ, suối, lục địa, đại dương, các dạng địa hình…

Lưu ý về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học

Đối với các đối tượng quan sát là vật thật: rễ, thân, lá, hoa, quả và một số con vật… cần làm cho các em huy động nhiều giác quan vào quá trình tri giác để có thể hình thành những biểu tượng sinh động, đầy đủ về các cây và con vật.

Thăm quan (đi thăm thiên nhiên) cũng được sử dụng sau khi học về các cây và con vật để củng cố những kiến thức về sự đa dạng của động, thực vật và đặc điểm của chúng. Địa điểm thăm quan là vườn bách thảo, vườn bách thú hoặc công viên, vườn trường, khu sinh thái … tuỳ theo điều kiện của từng địa phương.

Trò chơi:

Ví dụ về thiết kế bài học

BÀI 46: KHẢ NĂNG KÌ DIỆU CỦA LÁ CÂY

I – MỤC TIÊU

Sau bài học HS có thể:

Về kiến thức:

– Nêu được chức năng của lá cây.

– Kể ra được ích lợi của lá cây.

Về kỹ năng:

– Có kỹ năng làm thí nghiệm về sự thoát hơi nước của cây.

Về thái độ:

– Có tình yêu và ý thức bảo vệ cây xanh.

II – ĐỒ DÙNG DẠY HỌC

– Các hình vẽ trong SGK trang 88, 89.

– Chuẩn bị: Từ buổi sáng hôm trước hoặc 1, 2 hôm trước nữa GV hướng dẫn HS làm thí nghiệm về sự thoát hơi nước của lá cây. Dùng túi ni lông trùm lên một cành lá ở một cây nào đó ở sân trường, rồi buộc túm miệng túi ni lông lại.

(Sau 1 hoặc vài ngày, lá cây thoát ra hơi nước và đọng lại trong túi nilông).

III – HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

Hoạt động 1. Tìm hiểu về chức năng của lá cây

Mục tiêu:

– HS biết được chức năng của lá cây.

– Có kỹ năng làm thí nghiệm tương tự về sự thoát hơi nước của lá cây.

Bước 1: Quan sát kết quả thí nghiệm ngoài thiên nhiên

GV đưa HS ra sân trường đứng xung quanh gốc cây đ*ã được làm thí nghiệm. GV yêu cầu một em HS hôm trước tiến hành làm thí nghiệm nói lại cách tiến hành thí nghiệm của mình.

GV hỏi để khảng định lại cho cả lớp biết:

– Trước khi trùm túi ni lông vào cành cây trong túi ni lông đ*ã có nước chưa? (chưa)

– Hôm qua trời mưa hay nắng? (trời nắng, nhưng nếu trời mưa thì nước mưa cũng không chảy vào trong túi được vì miệng túi đ*ã bị bịt kín).

– Như vậy nước ở trong túi ni lông là từ đâu mà ra? (nước được thoát ra cành và lá cây).

GV kết luận: Đó chính là sự thoát hơi nước của lá cây. Nhờ nước được thoát ra từ lá cây mà dòng nước liên tục được hút từ rễ, qua thân và đi lên lá làm cho lá luôn được giữ ở nhiệt độ thích hợp, điều đó cần thiết cho sự sống của cây.

Bước 2: Làm việc theo cặp trong lớp

– GV yêu cầu từng cặp HS dựa vào hình 1 trang 88, tự đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi của nhau. Ví dụ:

+ Trong quá trình quang hợp, lá cây hấp thụ khí gì và thải ra khí gì?

+ Quá trình quang hợp xảy ra khi nào? trong điều kiện nào?

+ Quá trình quang hợp của cây có tác dụng như thế nào đối với việc giữ gìn môi trường trong lành cho con người và động vật trên Trái Đất?

+ Quá trình hô hấp diễn ra khi nào? Trong quá trình hô hấp lá cây hấp thụ khí gì và thải ra khí gì?

+ Lá cây có chức năng gì?

Bước 3: Làm việc chung cả lớp

– GV cho các cặp đặt câu hỏi và trả lời chéo nhau về chức năng của cây.

GV kết luận:

Lá cây có 3 chức năng: – Quuang hợp, hô hấp và thoát hơi nước.

GV bổ sung thêm: Trong quá trình quanh hợp, lá cây hấp thụ khí các bô nic và nhả ra khí ôxy nên người ta tích cực trồng và bảo vệ cây để bảo vệ bầu không khí trong sạch. Đó cũng chính là khả năng kỳ diệu của lá cây.

Hoạt động 2. Tìm hiểu ích lợi của lá cây

Mục tiêu: HS kể ra được các ích lợi của lá cây

Các tiến hành:

GV chia HS thành các nhóm 5-6 HS và yêu cầu các nhóm trưởng điều khiển hoạt động của nhóm mình. Các nhóm dựa vào thực tế cuộc sống và các hình vẽ trang 89 để nói lá cây được sử dụng vào những việc gì trong cuộc sống hàng ngày (càng liệt kê tỷ mỷ càng tốt).

Bước 2: Trò chơi tiếp sức

– GV chia HS được chia làm hai đội và đặt tên cho mỗi đội. (ví dụ Đội A và Đội B)

– Từ mỗi đội cử ra 5 HS tham gia chơi. Các em HS còn lại là cổ động viên cho đội mình.

– 5 em HS trong một đội đứng thành hàng dọc hoặc ngang cách đều bảng bằng một vạch quy định.

– GV kẻ hình vẽ phía dưới lên bảng và ghi tên của 2 đội chơi vào từng bên của hình.

– Khi GV hô: “bắt đầu” từ mỗi đội em HS đứng trên cùng sẽ lên viết vào phần bảng của đội mình tên một lá cây và ích lợi của nó vào các cột tương ứng ở trên bảng, em tiếp sau tiến lên vị trí sát vạch và chờ để em thứ nhất đưa phấn để viết tiếp tên và ích lợi của lá cây thứ 2 …

– Sau một khoảng thời gian nhất định nếu đội nào ghi được nhiều tên và ích lợi của các lá cây đội đó thắng cuộc.

Thực hành

Học qua băng hình

Hãy xem hai trích đoạn băng hình : bài Vệ sinh môi trường và bài Sự chuyển động của Trái Đất và trả lời các câu hỏi sau:

1. Hãy chỉ ra những thành công của tiết dạy.

2. Hãy chỉ ra những hạn chế của tiết dạy.

3. Anh chị sẽ cải tiến như thế nào để tiết dạy có thể phù hợp với điều kiện giảng dạy của mình và làm cho nó có thể đạt hiệu quả cao hơn?

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sử Dụng Phương Pháp Graph Trong Dạy Học Kiến Thức Lịch Sử Học Phần Cơ Sở Tự Nhiên – Xã Hội Ở Trường Cao Đẳng Sư Phạm Lạng Sơn / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!