Đề Xuất 5/2022 # Sự Hình Thành Và Sụp Đổ Của Trật Tự Véc Xai Oasinhtơn Sau Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất # Top Like

Xem 10,197

Cập nhật nội dung chi tiết về Sự Hình Thành Và Sụp Đổ Của Trật Tự Véc Xai Oasinhtơn Sau Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất mới nhất ngày 17/05/2022 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 10,197 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Băng Hải Tặc Mũ Rơm Trong One Piece
  • Muốn Hiểu Hết “tất Tần Tật” Về One Piece, Hãy Hỏi Nhân Vật Này!
  • “tất Tần Tật” Về Onedrive Cho Người Mới Sử Dụng
  • Oracle Là Gì? Tìm Hiểu Về Cơ Sở Dữ Liệu Nổi Tiếng Nhất Thế Giới
  • Oracle Là Gì? Các Phiên Bản Của Oracle
  • Chuyên đề:

    SỰ HÌNH THÀNH VÀ SỤP ĐỔ CỦA TRẬT TỰ VÉC XAI – OASINHTƠN

    SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT

    Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919-1939) diễn biến

    phức tạp, gắn liền với sự tồn tại của trật tự Véc xai- Oasinhtơn. Vậy, trật tự Véc

    xai- Oasinhtơn đã hình thành và sụp đổ như thế nào sau Chiến tranh thế giới thứ

    nhất? Nó có liên hệ gì với sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai? Quan hệ

    quốc tế trong những năm 1919-1939 liệu có phải là giai đoạn hưu chiến giữa hai

    cuộc chiến tranh thế giới? Để tìm ra lời giải cho những thắc mắc này, chúng ta

    cùng phân tích.

    1. Sự hình thành trật tự Véc xai – Oasinhtơn

    1.1. Tương quan lực lượng giữa các nước sau chiến tranh thế giới thứ

    nhất

    Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) kết thúc đã mở ra một thời kỳ mới

    trong quan hệ quốc tế. Kết cục của chiến tranh đã tác động mạnh mẽ đến tình hình

    thế giới đặc biệt là đối với châu Âu.

    – Chiến trường chính của cuộc chiến tranh diễn ra ở châu Âu, vì thế các

    cường quốc châu Âu đều bị suy yếu. Hai nước tư bản lâu đời Anh và Pháp tuy

    chiến thắng nhưng nền kinh tế bị kiệt quệ sau chiến tranh và trở thành con nợ của

    Mĩ. Italia, một đồng minh ốm yếu trong chiến tranh, bị xâu xé bởi cuộc đấu tranh

    gay gắt trong nước và khủng hoảng kinh tế. Ba đế quốc rộng lớn ở châu Âu là Nga,

    Đức, Áo – Hung lần lượt sụp đổ. Đế quốc Đức và Áo – Hung bại trận, bị tàn phá

    nặng nề và những cuộc cách mạng bùng nổ đã đẩy các nước này vào tình trạng

    khủng hoảng nghiêm trọng.

    – Trong khi đó các cường quốc ở ngoài châu Âu như Mỹ và Nhật, không bị

    tàn phá bởi chiến tranh, đã vươn lên nhanh chóng, vượt qua nhiều nước tư bản ở

    châu Âu. Tương quan lực lượng giữa các cường quốc thay đổi rõ rệt, ngày càng bất

    lợi cho các nước tư bản châu Âu vốn chiếm vị trí trung tâm trong thế giới tư bản

    chủ nghĩa trước đây.

    – Đồng thời thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 cũng tạo ra

    một chuyển biến căn bản của tình hình thế giới. Chủ nghĩa tư bản không còn tồn tại

    như một hệ thống duy nhất thống trị thế giới nữa. Sự tồn tại của Nhà nước xã hội

    chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới đã trở thành một thách thức to lớn đối với thế giới

    tư bản chủ nghĩa.

    gây ra cuộc chiến này, và đòi họ phải giao Wilhelm II (người phát động cuộc

    chiến) và khoảng 800 tội phạm chiến tranh khác cho các nước Hiệp ước để họ xét

    xử, còn các nước đế quốc khác thì dường như “vô tội”. Ngoài ra, hạt Sarre của Đức

    cũng giao cho Hội Quốc liên quản trị trong thời hạn 15 năm, các mỏ than ở đây

    thuộc về Pháp. Sau thời hạn này sẽ tiến hành trưng cầu ý dân để quyết định hạt

    Sarre sẽ thuộc về nước nào (sau cuộc trưng cầu ý dân năm 1935, hạt Sarre đã thuộc

    về nước Đức). Đồng thời toàn bộ hệ thống thuộc địa của Đức đều trở thành đất uỷ

    trị của Hội Quốc liên và được giao cho các cường quốc Anh, Pháp, Nhật, Bỉ… quản

    lí.

    Nước Đức còn bị hạn chế vũ trang đến mức thấp nhất: chỉ được giữ lại

    100.000 bộ binh với vũ khí thông thường, không có không quân, không có hạm đội

    tầu ngầm và thiết giáp hạm. Vùng tả ngạn sông Ranh (gần biên giới Pháp) và 3 đầu

    cầu vùng hữu ngạn sẽ do quân đội Đồng minh đóng trong vòng 15 năm và rút dần

    quân nếu Đức thi hành hoà ước. Vùng hữu ngạn sông Ranh với chiều rộng 50 km

    sẽ trở thành khu phi quân sự. Nước Đức còn phải bồi thường chiến tranh cho các

    nước thắng trận số tiền (do Hội nghị Luân đôn tháng 4 – 1921 qui định) là 132 tỉ

    Mác vàng, trong đó trả cho Pháp: 52% Anh 22%, Italia: 10%, Bỉ: 8%… Với hoà

    ước này, nước Đức mất 1/8 đất đai, gần 1/12 dân số, 1/3 mỏ sắt, gần 1/3 mỏ than,

    2/5 sản lượng gang, gần 1/3 sản lượng thép và gần 1/7 diện tích trồng trọt. Toàn bộ

    gánh nặng của hoà ước Vécxai đè lên vai nhân dân Đức. Tuy thế, hoà ước Vécxai

    không thủ tiêu được tiềm lực kinh tế chiến tranh của Đức. Sau này, với sự trợ giúp

    của Mĩ, Anh, chỉ trong vòng một thời gian ngắn, nước Đức đã khôi phục và trở

    thành một lò lửa chiến tranh nguy hiểm nhất ở châu Âu trong thập niên 30.

    Các hoà ước khác.

    Cùng với hoà ước Vécxai kí với Đức, những hoà ước khác cũng lần lượt kí

    kết với các nước bại trận trong hai năm 1919 – 1920. Với hoà ước Saint – Germain

    kí với Áo ngày 10 – 9 – 1919 và Hoà ước Trianon kí với Hunggari ngày 4-6-1920,

    đế quốc Áo – Hung trước kia không còn nữa mà bị tách thành hai nước nhỏ: Áo chỉ

    còn 6,5 triệu dân với diện tích 84.000 km2, Hunggari cũng mất 1/3 lãnh thổ trước

    kia, chỉ còn lại 92.000km2 với 8 triệu dân. Mỗi nước chỉ được quyền có khoảng

    30.000 quân và phải bồi thường chiến phí. trên lãnh thổ của đế quốc áo – Hung cũ

    đã thành lập hai quốc gia mới là Tiệp Khắc và Nam Tư. Một số nước được mở

    rộng thêm đất đai từ lãnh thổ của đế quốc áo – Hung: Rumani được thêm vùng

    Bukovine và Transylvanie, Italia được thêm vùng Trentin – Istrie, Ba Lan cũng

    được thành lập với vùng Galicia thuộc áo và các vùng đất khác thuộc Đức và Nga.

    Ở bán đảo Ban căng, số phận hai nước thua trận là Bungari và đế quốc ốttôman

    cũng được quyết định. Với hoà ước Neuilly kí với Bungari ngày 27-11-1919, lãnh

    thổ Bungari bị thu hẹp lại so với trước kia do phải cắt một số đất đai ở biên giới

    phía Tây cho Nam Tư, cắt vùng Thrace cho Hi Lạp (do vậy bị mất cảng

    Dédéagatch và lối ra biển Egée và cắt tỉnh Dobroudja cho Rumani. Ngoài ra,

    Bungari phải bồi thường chiến phí là 2,25 tỉ phơ răng, phải nộp cho các nước láng

    giềng trong phe chiến thắng (Nam Tư, Hi lạp, Rumani) 37.000 gia súc lớn, 33.000

    gia súc nhỏ, đồng thời phải hạn chế lực lượng vũ trang xuống còn không quá

    20.000 người. Hoà ước Sevres với Thổ Nhĩ Kì kí ngày 11 – 8 – 1920 đã chính thức

    xoá bỏ sự tồn tại của đế quốc Ottoman. Syria, Libăng, Palextin và Irắc tách khỏi

    thổ Nhĩ Kì và đặt dưới quyền “bảo hộ” của Anh và Pháp. Ai Cập chịu sự “bảo hộ”

    của Anh, bán đảo Aráp được coi là thuộc “phạm vi thế lực” của Anh. Phần đất châu

    Âu của Thổ Nhĩ Kì phải cắt cho Hi Lạp (trừ Istambul và vùng ngoại ô). Các eo

    biển của Thổ Nhĩ Kì được đặt dưới quyền kiểm soát của một uỷ ban gồm các đại

    biểu của Anh, Pháp, Italia, Nhật Bản.

    Toàn bộ những hoà ước nói trên hợp thành Hệ thống hoà ước Vécxai. Đây là

    văn bản chính thức đầu tiên xác định việc phân chia thế giới của chủ nghĩa đế

    quốc. Trật tự mới này đem lại lợi ích cho các cường quốc thắng trận, nhất là Anh.

    Anh chẳng những mở rộng hệ thống thuộc địa đồng thời quyền bá chủ mặt biển

    vẫn được giữ vững. Pháp và Nhật cũng giành được khá nhiều quyền lợi. Tuy nhiên,

    những điều khoản khắt khe của Hệ thống hoà ước Versailles đối với các nước chiến

    bại, nhất là Đức, trên thực tế chẳng những đã không thể thực hiện được mà còn làm

    tăng thêm tâm lý phục thù của các nước này. Đó là mâu thuẫn nảy sinh ngay từ khi

    hệ thống này mới được hình thành. Đồng thời, tham vọng lãnh đạo thế giới của

    giới cầm quyền Mĩ cũng chưa được thực hiện. Chính vì thế các nước đế quốc đã

    phải tiếp tục giải quyết những bất đồng về quyền lợi tại một hội nghị tiếp theo ở

    Washington.

    1.3. Hội Quốc Liên

    Một trong những vấn đề cơ bản được các nước tham dự Hội nghị Vécxai

    nhất trí là việc thành lập Hội Quốc liên, được thành lập theo tinh thần và nội dung

    của Điểm 14 trong “Chương trình 14 điểm” của Uyn-xơn. Công ước thành lập Hội

    quốc liên là văn kiện đầu tiên được kí kết cùng với Hiến chương của Hội. Theo đó,

    mục đích của Hội Quốc liên là “khuyến khích sự hợp tác quốc tế, thực hiện nền

    hoà bình và an ninh thế giới”, và để thực hiện mục đích đó người ta đề ra một số

    nguyên tắc như: không dùng chiến tranh trong quan hệ giữa các nước, quan hệ

    quốc tế phải rành mạch và dựa trên đạo lí, phải thi hành những cam kết quốc tế…

    Ngày 10 – 1 – 1920, Hội Quốc liên chính thức thành lập với 44 nước kí vào

    công ước sáng lập, Hội quốc liên có 3 tổ chức chính: Đại hội đồng (gồm tất cả các

    nước thành viên, họp mỗi năm một lần vào tháng 9), Hội đồng thường trực (gồm 5

    uỷ viên các cường quốc Anh, Pháp, Mĩ, Nhật, Italia – sau đó còn lại 4 vì Mĩ không

    tham gia, và một số uỷ viên có kì hạn, họp mỗi năm ba lần), Ban thư ký thường

    trực (do Tổng thư ký đứng đầu) thường trực như một nội các làm việc hành chính

    thường xuyên, đóng trụ sở ở Geneve. Các cơ quan chuyên môn của Hội Quốc liên

    gồm có Toà án quốc tế (có trụ sở thường trực ở La Hay) và các tổ chức khác như:

    Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Tổ chức sức khoẻ (HO), uỷ ban người tị nạn

    (HCR)

    Nội dung hoạt động do Hội Quốc liên đề ra là giám sát việc giải trừ quân bị,

    tôn trọng và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị, giải quyết các tranh

    chấp quốc tế, thực hiện “chế độ uỷ trị” đối với một số lãnh thổ “chưa đủ điều kiện

    tự quản”… Nước nào vi phạm công ước, gây chiến tranh sẽ bị xem là gây chiến với

    toàn thể hội viên và sẽ bị trừng phạt dưới hai hình thức: bằng biện pháp kinh tế và

    tài chính (do tất cả các nước hội viên bắt buộc phải thi hành) và bằng những biện

    pháp quân sự.

    Sự ra đời của Hội Quốc Liên, một tổ chức chính trị mang tính quốc tế đầu

    tiên, đã đánh dấu bước phát triển mới của quan hệ quốc tế thế kỷ XX. Về danh

    nghĩa, Hội Quốc Liên trở thành một tổ chức giám sát trật tự quốc tế mới, nhằm

    ngăn ngừa chiến tranh, bảo vệ hoà bình thế giới. Tuy nhiên, trên thực tế, những

    hoạt động của Hội quốc Liên là nhằm duy trì trật tự thế giới mới do các cường

    quốc chiến thắng áp đặt tại Hội nghị Vécxai. Với “chế độ uỷ trị”, Anh, Pháp đã

    chia nhau hầu hết các thuộc địa của Đức và lãnh thổ của đế quốc Thổ Nhĩ Kì. Các

    biện pháp về giải trừ quân bị và sự trừng phạt chỉ mang ý nghĩa hình thức vì Hội

    Quốc liên không có sức mạnh thực tế để thực thi các quyết định của mình. Để Hội

    Quốc Liên có thể trở thành một công cụ có hiệu quả, tổ chức này phải có ý chí

    chính trị thống nhất và có khả năng quân sự cần thiết. Những sự kiện diễn ra sau

    này sẽ cho thấy sự bất lực của Hội Quốc Liên trong việc giải quyết các vấn đề quốc

    tế. Hội Quốc Liên được thành lập theo sáng kiến của Tổng thống Mĩ Uyn-xơn

    nhưng Mĩ từ chối không tham gia do những tham vọng của Mĩ đã không được thực

    hiện trong Hội nghị Vécxai. Điều đó cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến uy tín và

    sức mạnh của tổ chức này.

    1.4. Hiệp ước ký ở Oasinhtơn

    Hội nghị Vécxai kết thúc nhưng những mâu thuẫn mới lại nảy sinh giữa các

    cường quốc thắng trận đặc biệt là mâu thuẫn trong quan hệ Anh – Mĩ và Mĩ – Nhật.

    Các nguyên nhân dẫn đến việc ký hòa ước này là:

    – Hòa ước Vécxai không giải quyết được mâu thuẫn giữa các nước đế quốc,

    ngay cả trong nội bộ các nước đế quốc. Trên thực tế, Anh là nước có nhiều quyền

    lợi hơn cả, được giữ vững hệ thống thuộc địa và không cho một đế quốc nào khác

    mạnh hơn và qua mặt mình. Pháp và Nhật cũng giành được nhiều quyền lợi qua Hệ

    thống hòa ước Vécxai. Còn Mỹ chưa giành được quyền lợi nào đáng kể. Cụ thể,

    Mỹ rất bất bình trước việc Anh, Pháp làm cho Đức quá suy yếu. Về bồi thường

    chiến tranh, trong khi Anh, Pháp đòi Đức bồi thường 480 – 600 tỉ mac, Đức chấp

    nhận 100 tỉ mac, thì Mỹ chỉ chấp nhận có 200 tỉ mac mà thôi. Chính giới Mỹ cũng

    bất bình khi Hiệp ước Vécxai quyết định trao Sơn Đông cho Nhật, là đối thủ cạnh

    tranh nguy hiểm của Mỹ ở Viễn Đông.

    – Sự thất bại của Uyn-xơn. Đúng vậy, Uyn-xơn chưa có những hành động

    tích cực bảo vệ quyền lợi của Mỹ trong Hệ thống hòa ước Vécxai. Trong các hòa

    Nước Nga Xô viết – một nước lớn ở khu vực đã không được mời tham dự hội nghị.

    Quyền lãnh đạo hội nghị nằm trong tay bốn nước: Anh, Pháp, Mĩ, Nhật, nhưng

    quyền quyết định thuộc về Mĩ. Những nghị quyết quan trọng nhất của Hội

    nghị Washington được thể hiện trong ba hiệp ước: Hiệp ước 4 nước (Anh, Pháp,

    Mĩ, Nhật) , Hiệp ước 9 nước (Anh, Pháp, Mĩ, Nhật, Italia, Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào

    Nha, Trung Quốc) và Hiệp ước 5 nước (Anh, Pháp, Mĩ, nhật, Italia).

    Hiệp ước 4 nước

    Được gọi là Hiệp ước “không xâm lược ở Thái Bình Dương” kí ngày 13-121921 và có giá trị trong 10 năm. Các bên thoả thuận “tôn trọng quyền của nhau về

    các đảo ở vùng Thái Bình Dương” thực ra là cùng nhau bảo vệ các thuộc địa ở khu

    vực rộng lớn này. Đồng thời cũng nhân dịp này Mĩ gây áp lực với Anh để liên

    minh Anh – Nhật (được kí kết từ năm 1902) không còn hiệu lực nữa (điều 4). Với

    Hiệp ước này, Mĩ không chỉ thủ tiêu được liên minh Anh – Nhật mà còn trở thành

    nước đóng vai trò chủ đạo trong bốn cường quốc ở khu vực Thái Bình Dương.

    Hiệp ước 9 nước

    Kí ngày 6 – 2 – 1922, gồm 9 điều, công nhận nguyên tắc “hoàn chỉnh về lãnh

    thổ và tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc” đồng thời nêu nguyên tắc “mở cửa”

    và “khả năng đồng đều” cho các nước trong các hoạt động thương mại và công

    nghiệp trên toàn lãnh thổ Trung Quốc. Ngoài ra, một công ước đặc biệt được ký kết

    thống nhất thuế hải quan của Trung Quốc với tỉ lệ bằng 5% giá trị hàng hóa, và

    Trung Quốc không được tăng thuế lên mức 12,5%. Tóm lại với hiệp ước này,

    Trung Quốc đã trở thành một thị trường chung của các cường quốc phương Tây và

    Nhật Bản. Đặc biệt là Mĩ đã hợp pháp hoá sự bành trướng của mình vào Trung

    Quốc.

    Hiệp ước 5 nước

    Kí kết cùng ngày 6-2-1922, được gọi là “Hiệp ước hạn chế vũ trang và hải

    quân” nhằm qui định trọng tải tàu chiến của các nước ở khu vực Thái Bình Dương

    theo tỉ lệ: 5 – 5 – 3 – 1,75 – 1,75 (cụ thể: Mĩ và Anh bằng nhau: 525.000 tấn, Nhật:

    315.000 tấn, Pháp và Italia bằng nhau: 175.000 tấn). Đồng thời các nước này cũng

    qui định tỉ lệ về hai loại tàu chở máy bay và tầu tuần dương hạm. Với hiệp ước này,

    Mỹ giành được quyền bình đẳng hải quân với Anh với nguyên tắc “sức mạnh gấp

    đôi” bị phá vỡ, Nhật cũng giành được thắng lợi quan trong khi 5 nước tuyên bố

    không xây dựng các căn cứ quân sự ở Thái Bình Dương, giúp nó nắm ưu thế trên

    vùng biển rộng lớn này.

    Kết hợp với hệ thống Hoà ước Versailles, các hiệp ước của Hội

    nghị Washington đã tạo nên Hệ thống Versailles – Washington. Đó là trật tự thế

    giới mới mà chủ nghĩa đế quốc xác lập, trong đó ba cường quốc Anh, Pháp, Mĩ

    giành được nhiều ưu thế nhất và “7/10 dân cư thế giới trong tình trạng bị nô dịch”

    theo cách nói của Lê-nin. Những điều khoản ký kết ở Véc xai và Oasinhtơn còn là

    sự chà đạp trắng trợn đến quyền dân tộc của các nước đế quốc bại trận cũng như

    tướng Pháp có nhiều công lao lớn trong Thế chiến I, đã không ngừng phản đối

    Clemenceau rất kịch liệt và không bằng lòng với những nội dung Hòa ước đã ký

    với Đức, ông ta cũng dự báo về những thất bại của Hòa ước đó. Ông ta từng chứng

    kiến quân Đức hủy hạm đội của mình để tránh rơi vào tay giặc, quân và dân Đức

    đốt cháy lá cờ Pháp ở nước Đức mà quân Đức cướp trong cuộc chiến 1870 – 1871,

    nhằm ngăn cản việc giao các lá cờ này cho Pháp… Ông viết thư cho vợ: “Bọn họ

    nhạo báng chúng ta. Toàn thể châu Âu là một đám nhốn nháo. Ấy là công trình

    của Clê-măng-xô”. Do đó, Foch từ chối làm lễ ký kết Hiệp ước này vào ngày 28

    tháng 6 năm 1919 tại Versailles. Foch có lời tuyên bố, mà sau này càng trở nên

    đúng: “Đây không phải là một Hòa ước. Đây là một Thỏa ước ngừng bắn trong

    vòng 20 năm”. Bất chấp sự nỗ lực lớn nhất của Clemenceau, Hòa ước này thất bại

    vì không thể thay đổi sự cân bằng chiến lược Đức – Pháp: Đức thì đông dân, có

    tiềm lực quân sự, chính trị mạnh nhưng trong khi đó quân đội Pháp lại quá yếu,

    ảnh hưởng rất nhỏ bé trong phe Hiệp ước nên rất khó đương đầu với Đức. Chính vì

    vậy, Thượng viện Hoa Kỳ từ chối phê chuẩn bản Hòa ước này vào tháng 1

    năm 1920, và liên minh giữa Anh Quốc và Pháp bắt đầu suy sụp. Foch chán ghét

    một liên minh quân sự Pháp – Anh – Mỹ, cái mà Clemenceau đặt niềm tin to lớn.

    Thành thử không những chiến thắng của Pháp vào năm 1918 hoàn toàn là một

    chiến thắng mà Pháp đã thất bại trong việc thiết lập một nền hòa bình lâu dài.

    Người Nhật cũng thể hiện sự không bằng lòng một cách kín đáo: trong hội nghị,

    đại diện của Nhật nở nụ cười bí hiểm, hướng ánh mắt xa xăm về Châu Á – Thái

    Bình Dương.

    “Cơm không lành, canh không ngọt”, nguyện vọng vươn lên vị trí bá chủ

    của nước Mỹ chưa được thỏa mãn. Họ nhanh chóng triệu tập hội nghị ở Oasinhtơn

    ngay sau đó ít lâu.

    Hội nghị Washington hoàn toàn có lợi cho Mĩ, trong khi nước Anh phải chấp

    nhận nhượng bộ: từ bỏ nguyên tắc “sức mạnh quân sự gấp đôi” đã có từ năm 1914,

    theo đó hải quân Anh phải có hạm đội bằng hai hạm đội mạnh nhất thế giới cộng

    lại, đồng thời phải huỷ bỏ liên minh Anh – Nhật. Từ đây hải quân Mĩ ngang hàng

    với Anh và vượt qua Nhật. Mĩ còn thực hiện được việc xâm nhập vào thị trường

    viễn Đông và Trung Quốc thông qua chính sách “mở cửa”. Với hệ thống Hiệp

    ước Washington, Mĩ đã giải quyết quyền lợi của mình bằng cách thiết lập một

    khuôn khổ trật tự mới ở Châu Á – Thái Bình Dương do Mĩ chi phối. Người Nhật

    cũng có điều kiện phát triển lực lượng hải quân, phục vụ cho những kế hoạch tiếp

    theo của mình.

    Chúng ta có thể nhận ra mong muốn cân bằng quyền lực giữa các nước lớn

    đặc biệt là của Anh và Pháp nhằm tạo ra một trật tự thế giới mới sau Chiến tranh

    thế giới thứ nhất có lợi cho họ. Tuy nhiên, những toan tính này vấp phải mưu đồ

    riêng của Mỹ và Nhật, hai quốc gia đã mạnh lên rất nhiều sau chiến tranh, đặc biệt,

    Mỹ là chủ nợ của toàn châu Âu. Những giành giật, giao kèo mới ở Véc xai và sau

    đó là Oasinhtơn khiến các nước lớn không tìm ra được tiếng nói chung, dần rà, họ

    xa cách trong các việc xử lý các vấn đề nóng bỏng sau này. Đó là điều kiện vô

    cùng thuận lợi để nước Đức, và các nước phát xít có thời cơ hành động.

    2.1.2. Vấn đề thực hiện Hoà ước Vécxai kí với Đức.

    Tiếng nói chung trong việc giải quyết vấn đề Đức đã không xuất hiện.

    Việc thực hiện các điều khoản của Hoà ước Vécxai kí với Đức chiếm một vị

    trí đặc biệt quan trọng trong quan hệ quốc tế những năm 20. Về vấn đề bồi thường

    chiến tranh, Hội nghị Luân Đôn ngày 30 – 4 – 1921 đã qui định số tiền bồi thường

    của Đức là 132 tỉ mác vàng và Đức bắt đầu phải trả từ mùa hè năm 1921. Tuy

    nhiên, tình trạng khủng hoảng kinh tế – tài chính trầm trọng diễn ra ở Đức đã khiến

    cho nước này không có khả năng thực tế để trả món nợ đó. Sau việc liên quân Pháp

    – Bỉ chiếm đóng vùng Ruhr (11 – 1 – 1923), nơi sản xuất 90% sản lượng than và

    70% sản lượng gang của nước Đức, không mang lại hiệu quả trong vấn đề bồi

    thường của Đức, một Hội nghị quốc tế đã được triệu tập ở Luân đôn để xem xét lại

    vấn đề này. Hội nghị Luân đôn khai mạc ngày 16 – 7 – 1924 với sự tham gia của

    các đại diện Anh (MacDonald), Pháp (Herriot), Italia (Stefani), Nhật (Hayashi), Bỉ

    (Teinic), Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Rumani, và Mĩ (Kellogg) (về danh nghĩa Mĩ chỉ

    tham gia với một số quyền hạn chế nhưng trên thực tế Mĩ có ảnh hưởng lớn trong

    Hội nghị). Hội nghị Luân Đôn đã thông qua kế hoạch Dawes có giá trị trong vòng

    5 năm với nội dung chủ yếu là Mĩ và Anh sẽ giúp đỡ Đức trong việc phục hồi và

    phát triển kinh tế – tài chính để nước này có khả năng trả được các khoản bồi

    thường chiến tranh theo lịch trình được Uỷ ban 5 nước Anh, Pháp Mĩ, Italia qui

    định như sau:

    – Năm thứ nhất trả 1 tỉ mác vàng;

    – Năm thứ hai: 1,22 tỉ mác vàng;

    – Năm thứ 3: 1,2 tỉ mác vàng;

    – Năm thứ tư: 1,75 tỉ mác vàng;

    – Từ năm thứ năm: mỗi năm 2,5 tỉ mác vàng.

    Với kế hoạch Dawes, Pháp đã phải có những nhượng bộ quan trọng: Pháp

    phải rút khỏi vùng Ruhr (năm 1925) việc giải quyết vấn đề bồi thường chiến tranh

    đã tuột khỏi tay Pháp chuyển sang tay người Mĩ. Mĩ và Anh có điều kiện mở rộng

    ảnh hưởng về kinh tế – tài chính vào nước Đức. Kế hoạch Dawes đã góp phần quan

    trọng vào việc phục hồi và phát triển kinh tế Đức. Những trận “mưa đô la” từ Mĩ

    và Anh qua kế hoạch này đã tạo điều kiện trang bị những kĩ thuật hiện đại và nâng

    cao năng lực sản xuất của nền kinh tế Đức. Trong năm đầu thực hiện kế hoạch

    Dawes, khi số tiền Đức cho vay được ấn định là 800 triệu mac, thì trên thực tế Đức

    nhận được đến 921 triệu mac (461 triệu của Mỹ, 227 triệu của Anh). Từ đó đến

    năm 1929, Đức đã nhận viện trợ của Mĩ, Anh để vay, tín dụng và đầu tư vào công

    nghiệp khoảng 20 – 25 tỉ mac vàng. Số tiền viện trợ đó không những đủ để trả nợ

    cho các đế quốc thắng trận (Đức trả lại cho họ tới 11 tỉ mac) mà còn đủ để phát

    trung lập trong trường hợp bên kia bị một nhóm nước hay nước thứ ba tấn công,

    nếu các bên một nhóm nước hay nước thứ ba tẩy chay, bao vây, thì bên kia sẽ

    không tham gia các hoạt động chống lại bên đã ký hiệp ước. Phía Đức còn thông

    báo là sẽ không bị ràng buộc bởi các quyết định của Hội để chống Liên Xô. Hiệp

    ước Xô – Đức là một thắng lợi lớn của nền ngoại giao Nga Xô viết khi đó. Sau đó,

    Liên Xô có ký kết các hiệp ước với một loạt các nước khác nhau để khẳng định,

    củng cố vị thế lúc đó.

    Như vậy, sự kiện các hiệp ước Xô – Đức, Locarno, Thổ Nhĩ Kì và Đức gia

    nhập Hội Quốc Liên…đã làm sáng lên những tia hy vọng về một nền hòa bình có

    cơ may được xác lập ở châu Âu và trên toàn thế giới. Trong bối cảnh lòng tin vào

    an ninh tập thể lên đến đỉnh cao mà tháng 4 – 1927, Ngoại trưởng Pháp Aristide

    Briand đề nghị với Ngoại trưởng Mĩ Frank B. Kellogg về việc Pháp và Mỹ ký một

    hiệp ước “hữu nghị vĩnh viễn, theo đó hai nước cam kết từ bỏ việc chiến tranh như

    là một phương tiện chính trị quốc gia”. Ngoại trưởng Mĩ đồng ý, nhưng sẽ mở

    rộng hiệp ước cho nhiều nước cùng tham gia. Sau nhiều cuộc đàm phán liên

    tục, ngày 27 – 8 – 1928 tại Pari đã diễn ra lễ ký kết Hiệp ước từ bỏ chiến tranh nói

    chung, còn được gọi là Hiệp ước Briand – Kellogg. Hiệp ước này đã được nhiều

    nước trên thế giới hưởng ứng và có tới 57 quốc gia kí kết tham gia, trong đó có

    Liên Xô. Liên Xô là một trong những quốc gia đầu tiên phê chuẩn Hiệp ước và

    mong muốn Hiệp ước này sớm có hiệu lực. Một năm sau, nhằm thúc đẩy việc vận

    dụng vào thực tế hiệp ước này, theo sáng kiến của Thứ trưởng Ngoại giao Liên Xô

    Maxim Litvinov (1876 – 1951), 8 nước (Liên Xô, Rumania, Latvia…) đã cùng nhau

    ký “Nghị định thư Litvinov” (9 – 2 – 1929) kêu gọi hiện thực hóa hiệp ước Briand Kellogg vào thực tiễn mà không chờ đợi cho đến khi nó được các nước khác phê

    chuẩn.

    Mặc dù Hiệp ước Briand – Kellogg được đánh giá là “đánh dấu đỉnh cao của

    làn sóng hoà bình trong thập niên 20,” nhưng thực tế cho thấy việc đặt niềm tin vào

    hiệp ước này là “một ảo tưởng nguy hiểm” bởi lẽ chỉ vài ngày sau khi kí kết hiệp

    ước Briand – Kellogg, Anh và Pháp đã tiến hành kí kết ngay một thoả hiệp riêng rẽ

    vấn đề vũ khí Hòa bình và an ninh tập thể trong khuôn khổ trật tự Versailles Washington, Hội Quốc Liên là rất mong manh, xa vời. Những diễn biến tiếp theo

    trong quan hệ quốc tế thập niên 30 sẽ tiếp tục chứng minh điều đó.

    Những toan tính riêng vì lợi ích dân tộc của các nước lớn đặc biệt là Mỹ,

    Anh, Pháp đã khiến họ xa cách, và không tìm được tiếng nói chung trong việc giải

    quyết các vấn đề quốc tế, đặc biệt là vấn đề Đức. Nước Đức không hề bị suy yếu

    hoàn toàn sau chiến tranh, nung nấu ý định phục thù, và có điều kiện phục thù. Trật

    tự Véc xai- Oasinhtơn từng bước bị xói mòn nhanh chóng.

    2.2. Sự sụp đổ của trật tự Vécxai – Oasinhtơn

    2.2.1. Sự hình thành các lò lửa chiến tranh

    Cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) bùng nổ đã chấm dứt

    thời kì ổn định của chủ nghĩa tư bản cùng với ảo tưởng về một kỷ nguyên hoà bình

    của thế giới. Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ nước Mĩ ngày 24 – 10 – 1929, đã nhanh

    chóng tràn sang châu Âu, bao trùm toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩa, để lại những

    hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội. Hàng trăm triệu người (công

    nhân, nông dân và gia đình của họ) bị rơi vào vũng lầy đói khổ. Hàng ngàn cuộc

    biểu tình lôi cuốn trên 17 triệu công nhân ở các nước tư bản tham gia trong những

    năm 1929 – 1933. ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, cuộc đấu tranh giành độc lập

    dân tộc cũng bùng lên mạnh mẽ. Những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản trở nên

    cực kì gay gắt. Trong bối cảnh đó đã hình thành những xu hướng khác biệt nhau

    trong việc tìm kiếm con đường phát triển giữa các nước tư bản chủ nghĩa. Các

    nước không có hoặc có ít thuộc địa gặp nhiều khó khăn về vốn, nguyên liệu và thị

    trường đã đi theo con đường phát xít hoá chế độ chính trị, thiết lập nền chuyên

    chính khủng bố công khai nhằm cứu vãn tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng của

    mình. Các nước Italia, Đức, Nhật Bản là điển hình cho xu hướng này. Trong những

    năm 1929 – 1936, giới cầm quyền các nước nói trên đã từng bước phá vỡ những

    điều khoản chính yếu của hệ thống Vécxai – Oasinhtơn và tích cực chuẩn bị cuộc

    chiến tranh để phân chia lại thế giới. Trong khi đó các nước Mỹ, Anh, Pháp… đã

    tìm cách thoát ra khỏi khủng hoảng bằng những cải cách kinh tế – xã hội , duy trì

    nền dân chủ tư sản đại nghị, đồng thời chủ trương duy trì nguyên trạng hệ

    thống Vécxai – Oasinhtơn. Quan hệ giữa các cường quốc tư bản trong thập niên

    30 chuyển biến ngày càng phức tạp. Sự hình thành hai khối đối lập – một bên là

    Đức, Italia, Nhật Bản với một bên là Mĩ, Anh, Pháp và cuộc chạy đua vũ trang giữa

    hai khối đã phá vỡ hệ thống thoả hiệp tạm thời Versailles – Washington dẫn tới sự

    hình thành các lò lửa chiến tranh, báo hiệu một cuộc chiến tranh thế giới mới.

    Lò lửa chiến tranh ở Viễn Đông

    Nhật Bản là nước đầu tiên có tham vọng phá vỡ hệ thống Vécxai –

    Oasinhtơn bằng sức mạnh quân sự. Từ năm 1927 Thủ tướng Nhật Tanaka đã vạch

    một kế hoạch chiến tranh toàn cầu đệ trình lên Thiên hoàng dưới hình thức bản

    “tấu thỉnh”‘, trong đó khẳng định phải dùng chiến tranh để xoá bỏ những “bất công

    mà Nhật phải chấp nhận” trong các Hiệp ước Oasinhtơn (1921 – 1922) và đề ra kế

    hoạch cụ thể xâm lược Trung Quốc, từ đó mở rộng xâm lược toàn thế giới. Sau hai

    lần thất bại trong việc xâm lược vùng Sơn Đông (Trung Quốc), ngày 18 – 9 – 1931

    Nhật Bản dựng “Sự kiện đường sắt Nam Mãn Châu” để lấy cớ đánh chiếm vùng

    Đông Bắc Trung Quốc, nơi tập trung 77% tổng số vốn của Nhật ở Trung Quốc.

    Đây là bước đầu tiên trong kế hoạch xâm lược đại qui mô của Nhật. Sau khi chiếm

    vùng này, quân Nhật dựng lên cái gọi là “Nhà nước Mãn Châu độc lập” với chính

    phủ bù nhìn do Phổ Nghi đứng đầu, biến vùng Đông Bắc Trung Quốc thành thuộc

    địa và bàn đạp cho những cuộc phiêu lưu quân sự mới.

    Việc Nhật Bản xâm lược Đông Bắc Trung Quốc đã động chạm đến quyền lợi

    của các nước tư bản phương Tây, nhất là Mĩ. Tuy nhiên Mĩ cũng như Anh, Pháp đã

    nhân nhượng, dung túng cho hành động xâm lược của Nhật với tính toán rằng Nhật

    sẽ tiêu diệt phong trào cách mạng ở Trung Quốc và tiến hành chiến tranh xâm lược

    Liên Xô. Điều đó đã làm cho Nhật bỏ qua mọi phản đối của phái đoàn điều tra V.

    Lytton do Hội Quốc Liên cử đến Trung Quốc. Ngày 24 – 2 – 1933 Hội Quốc liên đã

    thông qua Báo cáo công nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Mãn Châu, không công

    nhận “nước Mãn Châu” do Bộ tham mưu Nhật dựng lên nhưng mặt khác lại đề

    nghị duy trì “những quyền lợi đặc biệt của Nhật” ở Trung Quốc. Như vậy, Hội

    Quốc liên đã không công khai tuyên bố “hành động của Nhật là xâm lược và không

    quyết định một hình phạt nào đối với Nhật. Trước sức mạnh quân sự, Hội Quốc

    liên đã sử dụng sức mạnh tinh thần. Phương pháp đó không đem lại kết quả nào”.

    Nhật Bản tiếp tục mở rộng xâm lược Trung Quốc, chiếm đóng hai tỉnh Nhiệt Hà và

    Hà Bắc. Để có thể tự do hành động, ngày 24 – 3 – 1933 Nhật Bản tuyên bố rút khỏi

    Hội Quốc liên. Hành động của Nhật đã phá tan nguyên trạng ở Đông á do Hiệp ước

    Oasinhtơn năm 1922 qui định, đánh dấu sự tan vỡ bước đầu của Hệ thống Vécxai –

    Oasinhtơn. Không dừng lại ở đó, năm 1937 Nhật bắt đầu mở rộng chiến tranh trên

    toàn lãnh thổ Trung Quốc.

    Sự hình thành lò lửa chiến tranh nguy hiểm nhất ở châu Âu

    Trong lúc đó, lò lửa chiến tranh thế giới nguy hiểm nhất đã xuất hiện ở châu

    Âu với việc Hitle lên cầm quyền ở Đức tháng 1 – 1933. Có thể nói, lực lượng quân

    phiệt Đức đã nuôi chí phục thù ngay từ sau khi nước Đức bại trận và phải chấp

    nhận hoà ước Versailles. Bước vào thập niên 30, sự sụp đổ của chính phủ Hermann

    Muller – chính phủ cuối cùng của nền Cộng hoà Weimar – và việc Heinrich

    Bruning lên nắm chính quyền đầu năm 1930 đánh dấu một thời kì chuyển biến mới

    trong chính sách đối nội cũng như đối ngoại của Đức. Xu hướng thành lập một

    chính quyền ”mạnh”, một nền chuyên chính dân tộc chủ nghĩa cực đoan đã trở

    thành nhu cầu cấp thiết của giới quân phiệt ở Đức. Đảng Quốc xã được coi là lực

    lượng thực tế có thể đáp ứng được nhu cầu đó và Adolph Hitler được coi là “người

    hùng” có thể ngăn chặn được “tình trạng hỗn loạn và chủ nghĩa Bônsêvích”. Ngày

    30-1-1933 Tổng thống P. Hindenburg đã cử Hitler, lãnh tụ của Đảng Quốc xã thay

    Schleicher làm Thủ tướng, mở đầu một thời kỳ đen tối trong lịch sử nước Đức.

    Việc Hitler lên cầm quyền không chỉ là một sự kiện thuần tuý của nước Đức,

    mà còn “đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong lịch sử quan hệ quốc tế”. Bởi

    lẽ, “đối mặt với Hitler, chủ nghĩa “xoa dịu” của Anh, sự trì trệ của Pháp và chủ

    nghĩa trung lập của Mỹ là những hiện tượng tiêu biểu nhất của thời kỳ tiếp theo”

    Quốc tế cộng sản đã chỉ ra rằng “chủ nghĩa phát xít – đó là nền chuyên chính khủng

    bố công khai của những phần tử phản động nhất, sôvanh nhất và đế quốc chủ nghĩa

    nhất của tư bản tài chính”.

    Quả thật, ngay từ những năm 20, Hitler và Đảng Quốc xã đã công khai bày

    tỏ tham vọng bá chủ thế giới của mình. Trong tác phẩm “Cuộc chiến đấu của tôi” tác phẩm lý luận chủ chốt của Đảng Quốc xã mà Hitler là tác giả, đã đề cập đến

    “Kế hoạch lục địa”, theo đó Đức dự định là sẽ chinh phục châu Âu, trong đó chủ

    yếu là chiếm đoạt các vùng lãnh thổ ở phía đông châu Âu, trước hết là Nga và các

    vùng phụ cận Nga. Tuy nhiên, Hitler cũng không loại trừ một cuộc chiến tranh với

    phương Tây để xâm chiếm lãnh thổ phía tây mà trong đó nước Pháp được coi là

    “kẻ thù truyền thống”. Hitler còn đề ra kế hoạch Âu – Á (Eurasia) và Âu – Phi

    (Eurafrica) nhằm xâm chiếm lãnh thổ của các nước châu Phi, châu Á và châu Mĩ.

    Việc làm đầu tiên của Hitler sau khi lên nắm quyền là tái vũ trang nước Đức và

    thoát khỏi những ràng buộc quốc tế để chuẩn bị cho những hành động xâm lược.

    Tháng 10 – 1933 Chính phủ Đức quốc xã đã rời bỏ Hội nghị giải trừ quân bị ở

    Genova và sau đó tuyên bố rút khỏi Hội Quốc liên. Ngày 16 – 3 – 1935, Hitler công

    khai vi phạm Hoà ước Versailles, công bố đạo luật cưỡng bức tòng quân, thành lập

    36 sư đoàn (trong lúc đó Pháp chỉ có 30 sư đoàn). Ba tháng sau, ngày 18 – 6 – 1935

    Đức kí với Anh Hiệp định về hải quân, theo đó Đức được phép xây dựng hạm đội

    tàu nổi bằng 35% và Hạm đội tàu ngầm bằng 45% sức mạnh hải quân của Anh.

    Hiệp định này trực tiếp vi phạm Hiệp ước Vécxai và tăng cường sức mạnh quân sự

    của nước Đức. Đồng thời, Hitler tìm cách bí mật thủ tiêu các chính khách phương

    Tây cản trở kế hoạch xâm lược của mình, như Thủ tướng Rumani I. Duca, Ngoại

    trưởng Pháp L. Barthou, nhà vua Nam Tư Alexandre I và thủ tướng Áo E.

    Dollfuss. Không dừng lại ở đó, ngày 7 – 3 – 1936 Hitler ra lệnh tái chiếm vùng

    Rheinanie, công khai xé bỏ Hoà ước Versailles, Hiệp ước Locarno và tiến sát biên

    giới nước Pháp. Lò lửa chiến tranh nguy hiểm nhất đã xuất hiện ở châu Âu.

    Lò lửa chiến tranh thứ hai ở châu Âu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Office 365 Là Gì? Công Cụ “nghìn Tay” Hấp Dẫn Cho Doanh Nghiệp
  • Tìm Hiểu Ngành Công Nghệ Thông Tin
  • Phân Tích Và Dàn Ý Chi Tiết Về Nhân Vật An Dương Vương
  • Top 8 Bài Phân Tích Nhân Vật An Dương Vương Đầy Đủ Nhất
  • Tìm Hiểu Về Con Người, Văn Hóa, Phong Tục Nhật Bản
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Sự Hình Thành Và Sụp Đổ Của Trật Tự Véc Xai Oasinhtơn Sau Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100