Đề Xuất 2/2023 # Sự Khác Biệt Giữa Nhiễm Vi Khuẩn Và Nhiễm Virus # Top 8 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 2/2023 # Sự Khác Biệt Giữa Nhiễm Vi Khuẩn Và Nhiễm Virus # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sự Khác Biệt Giữa Nhiễm Vi Khuẩn Và Nhiễm Virus mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bác sĩ Paul McKay, người đang nghiên cứu một loại vắc-xin cho chủng coronavirus 2019-nCoV mới, chụp một bức ảnh với vi khuẩn chứa coronavirus tại Trường Y khoa Đại học Hoàng gia (ICSM) tại Luân Đôn vào ngày 10 tháng 2 năm 2020. (Ảnh: Getty)

Sự khác biệt giữa nhiễm vi khuẩn và nhiễm virus

Những hiểu biết về vi khuẩn và virus giúp chúng ta hiểu rõ cách thức chúng có thể gây hại cho con người để biết cách phòng ngừa, chiến đấu với chúng một cách hợp lý và hiệu quả…

Nhiễm trùng xảy ra khi một sinh vật lạ xâm nhập vào cơ thể người và gây hại. Mặc dù vi khuẩn và virus đều có thể gây nhiễm trùng từ nhẹ đến nghiêm trọng, nhưng chúng là hai loại vi sinh vật hoàn toàn khác nhau. 

Do phương pháp điều trị vi khuẩn và virus không thể thay thế cho nhau, do đó xác định rõ nhiễm trùng do vi khuẩn hay virus là rất quan trọng. Chúng ta có thể gây ra tình trạng đề kháng kháng sinh nếu điều trị nhầm kháng sinh cho các trưởng hợp nhiễm virus. 

Sự khác biệt về mặt vi sinh

Vi khuẩn và virus quá nhỏ để có thể nhìn thấy bằng mắt thường và chỉ có thể nhìn được dưới kính hiển vi. Chúng có thể gây ra các triệu chứng tương tự và thường có cùng con đường lây lan. Tuy nhiên, cấu trúc và cách tồn tại của chúng lại khác nhau.

Virus có kích thước từ đường kính khoảng 20 đến 400 nanomet. Hàng tỷ virus có thể chỉ  vừa trên đầu của một cục pin. Virus có hình que, tròn, xoắn ốc v.v. Nó không thể tự sinh sản ngoài cơ thể sống khác. Nó chỉ là một hạt ngủ đông có chứa axit nucleic, hoặc DNA hoặc RNA, được bao quanh bởi vỏ protein và đôi khi là các chất béo gọi là lipid. 

Vi khuẩn có kích thước lớn hơn virus từ 10 đến 100 lần. Vi khuẩn có hình dạng tương tự, nhưng nó có thể tồn tại độc lập. Vi khuẩn chỉ mang một bộ nhiễm sắc thể, chúng nhân bản với cùng một vật liệu di truyền. 

Coronavirus được đặt tên theo hình dáng của chúng, ‘’thân răng’’ hoặc ‘’vương miện’’. (Ảnh: Pixabay)

Vi khuẩn sống chung với con người

Vi khuẩn tồn tại trong khắp cơ thể của chúng ta, bao gồm da, ruột và màng nhầy. Trên thực tế, cơ thể chúng ta chứa các tế bào vi khuẩn nhiều hơn ít nhất 10 lần so với tế bào của chính chúng ta. Chỉ riêng vi khuẩn trong đường tiêu hóa của con người đã bao gồm ít nhất 10 nghìn tỷ sinh vật, đại diện cho hơn 1.000 loài, được cho là ngăn chặn ruột bị các sinh vật gây bệnh xâm chiếm. 

Đại đa số các vi khuẩn cộng sinh dai dẳng trong cộng đồng phức tạp trong và trên bề mặt cơ thể chúng ta. Trong nhiều trường hợp, các vi khuẩn có được lợi ích mà không gây hại cho chúng ta, trong các trường hợp khác, cả vật chủ và vi khuẩn đều có lợi. Ví dụ vi khuẩn giúp tổng hợp vitamin, phá vỡ thức ăn thành các chất dinh dưỡng có thể hấp thụ và kích thích hệ thống miễn dịch của chúng ta.

Chỉ một số ít vi khuẩn gây hại khi hàng rào bảo vệ cơ thể bị phá vỡ như trầy xước, lở loét, vết thương do phẫu thuật v.v hay do hệ miễn dịch bị suy yếu. 

Virus chính là những thực thể sinh học dồi dào nhất từ trước tới nay trên Trái Đất. Chúng có thể xâm nhiễm lên tất cả các dạng tế bào bao gồm của động vật, thực vật, vi khuẩn, vi khuẩn cổ và nấm. Tuy nhiên, những loại khác nhau của virus thì chỉ có thể lây nhiễm trên một phạm vi giới hạn những vật chủ khác nhau, và nhiều loại có tính đặc hiệu loài. 

Một số virus, ví dụ như virus đậu mùa, chỉ có thể nhiễm vào một loài duy nhất – trong trường hợp này là con người, và vì thế chúng được nói rằng có “biên độ vật chủ” (host range) hẹp. 

Những virus khác, ví dụ như virus dại, có thể lây lan trên nhiều loài động vật có vú, và do vậy có biên độ rộng. Virus mà chỉ lây nhiễm vào thực vật thì vô hại với động vật, và hầu hết virus mà xâm nhiễm lên các động vật khác thì vô hại với con người. 

Tuy nhiên, khi virus “biến thể” và lây từ động vật sang người, thì chúng thường có thể gây nên các căn bệnh nguy hiểm. Ví dụ virus HIV-1 lây từ loài tinh tinh sang người, các virus trong họ Corona như SARS, MERS hay SARS-CoV 2 có nguồn gốc từ dơi v.v

SARS-CoV, chủng Virus Corona từng gây ám ảnh cho người dân toàn cầu… (CDC)

Cách thức xâm nhập của virus và vi khuẩn

Virus hoạt động khi xâm nhập vào tế bào chủ thích hợp thông qua một loại chìa khóa chuyên biệt gắn trên vỏ ngoài của nó, chiếm quyền điều khiển bộ máy trao đổi chất của tế bào để tạo ra các bản sao của chính nó. Sau đó làm vỡ và thoát ra khỏi tế bào để lây nhiễm tế bào khác. 

Tương tự muốn làm cho chúng ta bị bệnh, vi khuẩn phải gắn vào vị trí mục tiêu mà chúng đang cố gắng lây nhiễm để không bị đánh bật và nhân lên nhanh chóng. Chúng giết chết các tế bào và mô hoàn toàn, ngoài ra còn tạo ra độc tố có thể làm tê liệt, phá hủy các tế bào trao đổi chất.

Các “ngõ vào” của vi khuẩn và virus

Vi khuẩn và virus xâm nhập vào cơ thể người với 4 con đường tương tự nhau: 

Lây qua tiếp xúc: trực tiếp với dịch cơ thể, máu, thực phẩm ô nhiễm, nước bẩn v.v. , các vết trầy xước, vết thương hở, gián tiếp qua bề mặt có chứa vi khuẩn hay virus.

Qua giọt bắn có chứa virus hay vi khuẩn qua hắt hơi, ho hoặc nói chuyện. SARS, bệnh lao và cúm là những ví dụ về các bệnh lây truyền qua đường truyền giọt bắn trong không khí.

Qua không khí bay hơi hoặc các hạt bụi có chứa vi sinh vật lơ lửng trong không khí trong một khoảng thời gian. 

Thông qua các trung gian truyền bệnh như: muỗi, bọ chét, ve, chuột, ốc sên và chó v.v.

Nhiễm vi khuẩn và nhiễm virus

Vi khuẩn gây nhiễm khuẩn và virus gây nhiễm virus.

Điều quan trọng là phải biết liệu vi khuẩn hay virus gây ra nhiễm trùng, bởi vì phương pháp điều trị khác nhau. Trong một số trường hợp, có thể khó xác định liệu vi khuẩn hoặc virus gây ra các triệu chứng của bạn. Nhiều bệnh – như viêm phổi, viêm màng não và tiêu chảy – đều có thể do vi khuẩn hoặc virus gây ra.

Một số ví dụ về nhiễm virus

Cảm lạnh thông thường, chủ yếu gây ra bởi coronavirus và adenovirus.

Viêm não và viêm màng não, do enterovirus và virus herpes gây ra.

Mụn cóc và nhiễm trùng da, gây ra bởi virus papilloma ở người (HPV) và virus herpes simplex (HSV).

Các virus khác bao gồm: Virus Zika, virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV),  viêm gan C, bệnh bại liệt, cúm, Bệnh sốt xuất huyết, Cúm lợn, Ebola, Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS-CoV), SARS-CoV 2 v.v

Một số bệnh do vi khuẩn gây chết người. Một số ví dụ về các bệnh gây ra do vi khuẩn như: dịch tả, bạch hầu, kiết lỵ, bệnh dịch hạch, viêm phổi, bệnh lao, thương hàn, sốt phát ban v.v 

Để phân biệt nhiễm khuẩn do vi khuẩn và do virus, các bác sĩ cần khám bệnh và có thể cần các xét nghiệm sinh hóa và lấy mẫu nước tiểu, phân hay máu của bạn để làm xét nghiệm “nuôi cấy” để có các khuẩn lạc xác định được dưới kính hiển vi.

Điều trị nhiễm vi khuẩn khác với virus

Các bác sĩ thường điều trị nhiễm vi khuẩn bằng kháng sinh. Chúng có thể tiêu diệt vi khuẩn hoặc làm ngừng sự nhân lên của chúng. Nhưng từ khi vấn đề kháng kháng sinh gia tăng, kháng sinh có lẽ chỉ nên được kê đơn cho các nhiễm khuẩn nghiêm trọng. Hãy nhớ rằng: thuốc kháng sinh không có tác dụng đối với nhiễm virus.

Việc điều trị nhiễm virus có thể bao gồm:

Điều trị triệu chứng: chẳng hạn như mật ong để giảm ho và chất lỏng ấm như súp gà nhằm giảm khô miệng.

Hạ sốt bằng Paracetamol.

Thuốc kháng virus làm ngừng sự sinh sản virus như các thuốc cho HIV / AIDS và Herpes.

Ngăn ngừa nhiễm trùng từ lúc mới sinh ra, chẳng hạn như các vắc-xin cho cúm và viêm gan.

Nói cách khác là chờ đợi sức sống của virus trong cơ thể rút lui và biến mất – cách nhìn này chính là bắt đầu thoát ly khỏi mặt ngoài của sự vật, và tiếp cận với bản chất ở bên trong. (Ảnh: Shutterstock)

Tầm quan trọng của hệ miễn dịch

Bệnh, thường chỉ xảy ra ở một tỷ lệ nhỏ người nhiễm khuẩn. Quan trọng là hệ miễn dịch của bạn có đủ “khỏe” để đánh bật tác nhân gây bệnh xâm nhập cơ thể.

Để đáp ứng được với nhiễm trùng, hệ thống miễn dịch của bạn phải hoạt động. Các tế bào bạch cầu, kháng thể và các cơ chế khác hoạt động để loại bỏ kẻ xâm lược. Thật vậy, rất nhiều triệu chứng khiến một người mắc phải khi bị nhiễm như sốt, khó chịu, đau đầu, phát ban là do các hoạt động của hệ thống miễn dịch đang cố gắng loại bỏ nhiễm trùng khỏi cơ thể.

Nếu hệ miễn dịch hoạt động tốt, bạn có thể đang nhiễm khuẩn mà không có triệu chứng biểu hiện ra bên ngoài, hoặc triệu chứng nhẹ và tự hết. 

Nếu hệ miễn dịch yếu hay nồng độ vi sinh vật quá nhiều, chúng có thể tránh và sống sót sau cuộc tấn công của hệ thống miễn dịch. Đôi khi chúng kích hoạt hệ miễn dịch hoạt động thái quá dẫn đến việc tiết ra các hóa chất nội sinh, không chỉ giết vi khuẩn mà giết luôn cả tế bào và mô lành. 

Điều này có thể giải thích tại sao Coronavirus mới chủ yếu gây bệnh nặng trên nhóm những người già hay có bệnh nền, hoặc suy giảm hệ miễn dịch. 

Những hiểu biết về vi khuẩn và virus giúp chúng ta hiểu rõ cách mà chúng có thể gây hại cho con người cũng như cách thức  phòng ngừa và chiến đấu với chúng một cách hợp lý và hiệu quả. 

Mỹ Tâm

Nhiễm Vi Khuẩn Và Nhiễm Virus Khác Nhau Thế Nào?

Nhiễm trùng do vi khuẩn là do vi khuẩn và nhiễm virus là do virus gây ra. Có lẽ sự khác nhau giữa nhiễm vi khuẩn và virus là thuốc kháng sinh thường tiêu diệt vi khuẩn, nhưng chúng không có hiệu quả chống lại virus.

1.Sự khác biệt giữa vi khuẩn và virus

Mặc dù vi khuẩn và virus đều quá nhỏ để có thể nhìn thấy mà không cần kính hiển vi nhưng chúng khác nhau như hươu cao cổ và cá vàng.

Vi khuẩn là những sinh vật đơn bào, tương đối phức tạp, nhiều loại có thành cứng và màng mỏng, có màng cao su bao quanh chất lỏng bên trong tế bào. Chúng có khả năng tự sinh sản. Các hồ sơ hóa thạch cho thấy vi khuẩn đã tồn tại khoảng 3,5 tỷ năm và vi khuẩn có thể tồn tại trong các môi trường khác nhau, bao gồm nhiệt độ cực cao và lạnh, chất thải phóng xạ và cơ thể con người.

Hầu hết các vi khuẩn là vô hại và một số thực sự hữu ích bằng cách tiêu hóa thức ăn, tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh, chống lại các tế bào ung thư và cung cấp các chất dinh dưỡng thiết yếu. Ít hơn 1% vi khuẩn gây bệnh ở người.

Virus nhỏ hơn vi khuẩn: virus lớn nhất cũng nhỏ hơn vi khuẩn nhỏ nhất. Virus bao gồm một lớp vỏ protein và lõi của vật liệu di truyền, là RNA hoặc DNA. Không giống như vi khuẩn, virus không thể tồn tại mà không có vật chủ. Chúng chỉ có thể sinh sản bằng cách tự gắn vào các tế bào. Trong hầu hết các trường hợp, chúng lập trình lại các tế bào để tạo ra virus mới cho đến khi các tế bào vỡ ra và chết. Trong các trường hợp khác, chúng biến các tế bào bình thường thành tế bào ác tính hoặc ung thư.

Không giống như vi khuẩn, hầu hết các loại virus đều gây bệnh và chúng khá cụ thể về các tế bào chúng tấn công. Ví dụ, một số loại virus tấn công các tế bào trong gan, hệ hô hấp hoặc máu. Trong một số trường hợp khác, virus nhắm mục tiêu vào vi khuẩn.

2.Nhiễm vi khuẩn và nhiễm virus

Nhiễm vi khuẩn và nhiễm virus có nhiều điểm tương đồng. Cả hai loại nhiễm trùng đều do vi sinh vật – vi khuẩn và virus, thêm vào đó chúng đều lây lan qua các con đường sau:

Ho và hắt hơi;

Tiếp xúc với người nhiễm bệnh, đặc biệt là qua hôn và quan hệ tình dục;

Tiếp xúc với bề mặt bị ô nhiễm, thực phẩm và nước;

Tiếp xúc với các sinh vật bị nhiễm bệnh, bao gồm vật nuôi, gia súc và côn trùng như bọ chét và ve.

Nhiễm vi khuẩn cũng có thể gây ra:

Nhiễm trùng cấp tính chỉ xảy ra trong thời gian ngắn;

Nhiễm trùng mãn tính, có thể kéo dài hàng tuần, hàng tháng hoặc suốt đời;

Nhiễm trùng tiềm ẩn, có thể không gây ra triệu chứng lúc đầu nhưng có thể hoạt động lại trong một vài tháng hoặc vài năm.

Quan trọng nhất, nhiễm trùng do vi khuẩn và virus đều có thể gây ra các bệnh từ nhẹ, trung bình đến nặng.

Trong suốt lịch sử, hàng triệu người đã chết vì các bệnh do nhiễm vi khuẩn và nhiễm virus như bệnh dịch hạch hay Cái chết đen do vi khuẩn Yersinia pestis và bệnh đậu mùa gây ra bởi virus variola. Trong thời gian gần đây, nhiễm virus đã gây ra hai đại dịch lớn: đại dịch cúm Tây Ban Nha 1918-1919 đã giết chết 20 – 40 triệu người và đại dịch HIV/AIDS đang diễn ra đã giết chết khoảng 1,5 triệu người trên toàn thế giới trong năm 2013.

Nhiễm vi khuẩn và nhiễm virus có thể gây ra các triệu chứng tương tự như ho, hắt hơi, sốt, viêm, nôn mửa, tiêu chảy, mệt mỏi và chuột rút – tất cả đều là cách mà hệ thống miễn dịch cố gắng loại bỏ các sinh vật truyền nhiễm. Nhưng nhiễm trùng do vi khuẩn và virus không giống nhau ở nhiều khía cạnh quan trọng khác, hầu hết là do sự khác biệt về cấu trúc của sinh vật và cách chúng phản ứng với thuốc.

3.Chẩn đoán nhiễm trùng do nhiễm vi khuẩn và nhiễm virus

Bạn nên tham khảo ý kiến ​​bác sĩ nếu bạn nghĩ rằng bạn bị nhiễm vi khuẩn hoặc nhiễm virus. Có một số ngoại lệ như cảm lạnh thông thường, thường không đe dọa đến tính mạng.

Trong một số trường hợp, thật khó để xác định liệu bệnh là do nhiễm virus hay nhiễm vi khuẩn vì nhiều bệnh – bao gồm viêm phổi, viêm màng não và tiêu chảy – có thể do một trong hai nguyên nhân gây ra. Nhưng bác sĩ có thể xác định nguyên nhân bằng cách kiểm tra bệnh án của bạn và làm một số bài kiểm tra thể chất.

Nếu cần thiết, bác sĩ cũng có thể yêu cầu xét nghiệm máu hoặc nước tiểu để giúp xác nhận chẩn đoán hoặc dùng “xét nghiệm vi sinh” để xác định là nhiễm vi khuẩn hay nhiễm virus. Đôi khi, sinh thiết các mô bị ảnh hưởng có thể được yêu cầu

4.Điều trị nhiễm trùng do nhiễm vi khuẩn và nhiễm virus

Việc phát hiện ra kháng sinh điều trị nhiễm khuẩn được coi là một trong những bước đột phá quan trọng nhất trong lịch sử y tế. Thật không may, vi khuẩn rất dễ thích nghi và việc lạm dụng kháng sinh đã khiến nhiều người trong số họ kháng kháng sinh. Điều này đã tạo ra các vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt là trong các bệnh viện.

Thuốc kháng sinh không có hiệu quả chống lại virus và nhiều tổ chức hàng đầu hiện nay khuyên không nên sử dụng kháng sinh trừ khi có bằng chứng rõ ràng về việc nhiễm vi khuẩn.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Sự Khác Biệt Giữa Vi Khuẩn (Bacteria) Và Siêu Vi Trùng (Viruses).

Thứ sáu – 28/04/2017 10:34

Virus và Vi khuẩn đều là những nguyên nhân gây bệnh chủ yếu khi hệ miễn dịch của con người bị suy yếu. Chúng ta nên biết rõ sự khác nhau giữa Virus và Vi khuẩn để có cách phòng và điều trị bệnh hợp lý khi bị bệnh do Vi khuẩn, hoặc Virus gây ra.

Virus chỉ có thể sống và phát triển được khi xâm nhập vào bên trong tế bào của sinh vật khác (người, động vật, và cây cỏ) và khi ra khỏi ký chủ, vào môi trường ngoài (nước, không khí…) chúng sẽ không sống được lâu.

Ngày nay, khoa học đã phát hiện có khoảng 2.000 loài Virus khác nhau, trong đó có khoảng 300 loài có khả năng gây bệnh cho người như: AIDS, viêm gan B và C, sốt xuất huyết, bại liệt, bệnh dại, đậu mùa, cúm…

Khác với Vi khuẩn, Virus đánh vào hệ miễn dịch của cơ thể nên điều trị bằng kháng sinh không có tác dụng, mà chỉ có thể chống lại bằng cách tiêm vaccin.

Riêng các loại Virus gây cúm, vì chúng biến chủng rất nhanh, nên vaccin chế từ Virus năm này lại không hữu hiệu với cùng Virus ấy cho năm tới. Vì thế các loại vaccin hiện có không ngừa được Virus cúm A (H1N1).

Khi thời tiết chuyển mùa hay trở lạnh, sẽ là điều kiện thuận lợi để Virus gây bệnh.

4. Tại sao thuốc kháng sinh (antibiotic) không điều trị được bệnh do Virus gây ra ?

Năm 1928, tại Bệnh viện Saint Mary (London), Alexander Plemming phát hiện ra chất kháng sinh (antibiotic) diệt khuẩn, và đặt tên là penicillin.

Loại kháng sinh này được tìm ra từ nấm Penicillium notatum. Sau đó có rất nhiều nhà Nghiên cứu về kháng sinh penicillin và đến năm 1943, dự án sản xuất penicillin mới được Chính phủ Mỹ chấp nhận, và từ đây kháng sinh penicillin chính thức ra đời, cứu sống được vô vàn người mắc bệnh nhiễm khuẩn.

Từ penicillin, nhiều nhà Nghiên cứu đã tìm tòi ra vô vàn các loại kháng sinh khác nhau, và đã xếp chúng thành nhiều nhóm, dựa vào cấu tạo và cơ chế tác dụng đối với Vi khuẩn.

Kháng sinh (Antibiotic) đối với Virus thì như thế nào?

Do cấu tạo Virus hoàn toàn khác biệt với tế bào Vi khuẩn và nó không phải là một tế bào hoàn chỉnh bởi cấu tạo đơn giản hơn rất nhiều so với tế bào Vi khuẩn chỉ là bộ gen (hoặc DNA hoặc RNA) bao quanh là lớp vỏ protein chứa nhiều kháng nguyên, vì vậy được gọi là “phi tế bào”.

Do cấu tạo đặc biệt đó nên bắt buộc Virus phải sống ký sinh bên trong tế bào ký chủ mà nó xâm nhiễm, bởi vì Virus không có hệ thống enzym hoàn chỉnh, nên không thể tự tạo ra năng lượng cho mình, hoặc tự sinh sôi nảy nở được.

Do đó, để tồn tại và phát triển thì Virus phải xâm nhập vào trong các tế bào khác (tế bào ký chủ) và “gửi” các vật liệu di truyền của mình.

Khi vào cơ thể, lớp vỏ protein bị loại bỏ, chỉ hoạt động bởi ARN hoặc ADN của nó, không có cách gì để nhận biết được. Hơn nữa, kháng sinh diệt được Vi khuẩn, vì Vi khuẩn ký sinh ngoài tế bào, nên kháng sinh có thể diệt nguyên Vi khuẩn, còn Virus nằm trong vật chất di truyền của tế bào ký chủ, cho nên nếu kháng sinh diệt Virus thì đồng nghĩa với diệt cả tế bào của ký chủ (người, hoặc động vật).

Vì vậy, nếu thuốc kháng sinh muốn tấn công Virus, sẽ phải biết chọn lọc không tấn công vào các bộ phận “tầm gửi” này (tức là không tấn công vào tế bào ký chủ) và đây thực sự là cản trở cực lớn.

Hơn thế nữa, Virus còn có khả năng nằm ẩn mình vài năm trong tế bào trước khi phát bệnh.

Để thay vì dùng kháng sinh không có tác dụng đối với Virus, các nhà Khoa học đã nghiên cứu thành công một số thuốc diệt Virus dựa trên cơ sở sự hiểu biết về cấu trúc, và cơ chế xâm nhiễm, nhân lên trong tế bào ký chủ của Virus.

Tuy vậy, Virus luôn thay đổi hình dạng, và do đó luôn có khả năng kháng lại thuốc, đó là những điều bất lợi cho việc dùng thuốc tiêu diệt chúng.

5. Virus và Vi khuẩn lây lan như thế nào ?

– Một người bị lạnh có thể lây nhiễm Vi khuẩn, hoặc Virus bằng cách ho, hoặc hắt hơi.

– Vi khuẩn, hoặc Virus có thể được lây lan bằng cách chạm, hoặc bắt tay với người khác.

– Chạm vào thức ăn với bàn tay bẩn, cũng sẽ cho phép Virus, hoặc Vi khuẩn từ ngoài lây lan tới ruột.

-Lây qua dịch cơ thể: như máu, nước bọt, và tinh dịch, có thể chứa các vi sinh vật, ví dụ bằng cách tiêm, hoặc quan hệ tình dục (đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng do Virus như viêm gan, hoặc AIDS).-

Virus lây lan theo nhiều cách; Virus thực vật thường được truyền từ cây này sang cây khác qua những loài .Những sinh vật mang mầm bệnh như vậy được gọi là những côn trùng hút nhựa cây như rệp vừng;trong khi Virus động vật lại có thể được truyền đi nhờ những vector. côn trùng hút máu

Virus cúm lan truyền thông qua ho, và hắt hơi. Norovirus và rotavirus, nguyên nhân chính của bệnh viêm dạ dày-ruột siêu vi, lây lan qua đường phân-miệng, và truyền từ người này sang người khác thông qua tiếp xúc, cũng như xâm nhập vào cơ thể qua thức ăn, hay nước uống.

HIV là một trong vài loại Virus lây nhiễm thông qua quan hệ tình dục, và tiếp xúc với máu bị nhiễm bệnh.Mỗi Virus chỉ có thể xâm nhiễm vào một số dạng tế bào vật chủ nhất định, gọi là “biên độ vật chủ” ( host range ); biên độ này có thể rất hẹp hoặc rất rộng, tùy vào số lượng những sinh vật khác nhau, mà Virus có khả năng lây nhiễm.

Sự xâm nhập của Virus trong động vật đã kích hoạt một phản ứng miễn dịch nhằm loại bỏ Virus xâm nhiễm. Những phản ứng miễn dịch cũng có thể được tạo ra bởi vaccin, giúp tạo ra miễn dịch thu được nhân tạo đối với một Virus xâm nhiễm nhất định.

Tuy nhiên, một số Virus, bao gồm những loại gây ra AIDS và viêm gan siêu vi, lại có thể trốn tránh những phản ứng trên, và gây ra sự nhiễm bệnh mãn tính. Đa số các chất kháng sinh không có hiệu quả đối với Virus, dù vậy cũng đã có những loại thuốc kháng Virus được phát triển.

6.Làm thế nào để tránh nhiễm trùng ?

– Rửa tay thật kỹ (thường là một trong những cách tốt nhất để tránh bị cảm cúm).

– Bắt tay với người bị cảm lạnh là nguy hiểm, do đó, tránh dụi mắt, hoặc mũi của bạn sau đó.

– Thức ăn phải được nấu chín, hoặc làm lạnh càng nhanh càng tốt.

– Rau, và thịt phải được lưu giữ riêng, và chuẩn bị trên thớt riêng biệt.

– Khi bị cảm cúm, hoặc hắt hơi, sổ mũi, cần chuẩn bị khăn giấy, khăn cá nhân để ngăn chặn đưa Virus, Vi khuẩn ra ngoài môi trường. Cần luyện thói quen ho vào cánh tay áo (nếu không có khăn giấy), và khạc nhổ vào giấy vệ sinh rồi gói lại cho vào thùng rác.

– Một số sinh vật bị giết khi thức ăn được nấu chín, nhưng chúng vẫn có thể để lại các chất độc hại có thể gây ra tiêu chảy và nôn mửa. Hạn chế ăn các thức ăn để qua đêm, vì dù đun sôi, Vi khuẩn có thể chết, nhưng độc tố gây bệnh do Vi khuẩn tạo ra trong thực phẩm vẫn còn.

– Việc sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục làm giảm khả năng lây lan bệnh qua đường tình dục.

– Giữ phong cách sống, và tinh thần tốt để có hệ miễn dịch khỏe mạnh.

7. Một số bệnh do Virus gây ra và cách phòng bệnh:

– Tiêu chảy do Virus: Bệnh tiêu chảy mùa đông do Rota Virus gây ra và thường chỉ kéo dài trong 3 – 7 ngày. Khi bị bệnh thường có biểu hiện sốt nhẹ, hơi mệt, nôn, tiêu chảy, ở trẻ em có quấy khóc… Người bệnh đi ngoài nhiều lần, phân lỏng, màu vàng chanh, hoặc trắng lẫn dịch nhầy, có khi như màu hoa cà, hoa cải.Là một bệnh thông thường, nhưng nếu bị tiêu chảy kéo dài dẫn đến mất nước, mất điện giải trầm trọng có thể dẫn tới tử vong, nếu không được bù nước, bù điện giải kịp thời.

– Sốt do Virus: Các triệu chứng sốt Virus điển hình là ban đầu sốt nhẹ khoảng 38 – 38,5 độ C, sau đó bùng lên sốt cao đến 39 độ C, hoặc cao hơn nữa. Nhiều người đau họng, ho hắng nhẹ, đau nhức mình mẩy, vã mồ hôi, mệt mỏi. Thường sau 5 – 6 ngày, bệnh sẽ tự khỏi.

Về điều trị, chỉ cần dùng thuốc hạ sốt khi sốt cao, hoặc dùng các loại thuốc cảm để chữa triệu chứng đau nhức, sổ mũi, ho… Ngoài ra nên súc miệng nước muối, và nhỏ mũi thường xuyên. Không nên dùng kháng sinh.

Sốt Virus là bệnh dễ lây, nhất là trong gia đình và công sở, nơi dùng điều hòa không khí. Do đó, người bị sốt Virus nên hạn chế tiếp xúc với người khác, nhất là trẻ em. Nếu mệt nặng, nên nghỉ làm. Những người xung quanh nên phòng bệnh bằng cách nhỏ nước muối, ăn nhiều hoa quả giàu vitamin C, và bảo vệ sức khỏe. Để cơ thể có sức đề kháng tốt cần ăn uống phong phú, đủ dinh dưỡng, ăn thức ăn dễ tiêu như cháo, súp… ngoài ra nên uống nhiều nước, nước lọc, nước hoa quả…

8. Cách phòng ngừa các bệnh do vi khuẩn và virus gây ra:

Bạn cần có một phong cách sống lành mạnh, tinh thần tích cực để giúp hệ miễn dịch khỏe mạnh.

Vì khi hệ miễn dịch yếu thì Vi khuẩn, hoặc Virus nào cũng có thể tấn công bạn.

– Ăn tốt: đủ dinh dưỡng, cân bằng, hợp lý, tươi, sạch, an toàn.

-Uống đủ nước và đúng cách.

-Ngủ tốt: ngủ đúng giờ, phòng thoáng khí, đông ấm, hè mát, ngủ sâu giấc.

– Tập tốt: Tập thể dục và vận động hàng ngày, để thúc đẩy quá trình trao đổi chất và đào thải độc tố.

-Nghĩ tốt: suy nghĩ tích cực, lạc quan, để có sức khỏe tinh thần tốt.

-Môi trường sống tốt: xanh, sạch, đẹp.

– Học tốt: học các kiến thức chăm sóc, bảo vệ và phòng bệnh mỗi ngày.

– Làm tốt: Làm tốt công việc của bạn để có tài chính tốt bảo đảm cho bản thân và gia đình. ./.

Tác giả bài viết: Van Tran

Những tin mới hơn Những tin cũ hơn

Sự Khác Biệt Giữa Virus Và Vi Khuẩn, Sự Lây Lan Và Cách Phòng Ngừa

Virus và vi khuẩn đều là những nguyên nhân gây bệnh chủ yếu khi hệ miễn dịch của con người bị suy yếu. Chúng ta nên biết rõ sự khác nhau giữa virus và vi khuẩn để có cách phòng và điều trị bệnh hợp lý khi bị bệnh do vi khuẩn hoặc virus gây ra.

Vi rút là những sinh vật nhỏ li ti, muốn nhìn thấy chúng phải nhờ kính hiển vi điện tử. Vi rút lớn lên và phát triển chỉ khi chúng sống trong tế bào sống. Sống ngoài tế bào sống, vi rút sẽ tự hủy diệt, không thể phát triển, trừ khi chúng sống trong tế bào động vật, thực vật hay vi khuẩn. Vi rút gây bệnh cho người và vật do thở hay nuốt vào, đột nhập vào lỗ hổng trên da.

Virus bao gồm vật liệu di truyền (DNA hoặc RNA) bao quanh bởi một lớp phủ bảo vệ của protein. Có khả năng bám vào các tế bào và nhận được bên trong chúng.

Virus có thể xâm nhiễm vào tất cả các dạng sinh vật, từ động vật, thực vật cho tới vi khuẩn và vi khuẩn cổ. Virus được tìm thấy ở hầu hết mọi hệ sinh thái trên Trái Đất và là dạng có số lượng nhiều nhất trong tất cả các thực thể sinh học. Một virus có kích thước trung bình vào khoảng 1/100 kích cỡ trung bình của một vi khuẩn.

* Nguồn gốc của virus:

– Dựa vào cấu tạo: Virut do sự kết hợp giữa các đại phân tử protêin và axit nuclêic, nằm giữa ranh giới của vật thể sống và không sống.

– Dựa vào lối sống kí sinh bắt buộc: Virut bắt nguồn từ một loại vi sinh vật sống kí sinh thoái hóa dần các cơ quan không cần thiết.

– Dựa vào cách nhân lên: Virut có thể là một đoạn gen hay một bào quan nào đó đã tách ra hoạt động độc lập. khi kí sinh lại, chúng có thể nhân lên hay xen cài vào nhiễm sắc thể của tế bào.

Vi khuẩn thuộc loại đơn bào, có ở khắp mọi nơi, chỉ một giọt sữa chua là có thể chứa 100 triệu vi khuẩn. Hầu hết các vi khuẩn sinh sản bằng cách phân bào ( một tế bào tách làm đôi ). Vi khuẩn giữ vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa của người và vật, giúp hóa mùn cây cối và súc vật chết, giúp cho tiến trình lên men hiệu quả.

Có khoảng 40 triệu tế bào vi khuẩn trong một gram đất và hàng triệu tế bào trong một mm nước ngọt. Ước tính có khoảng 5×10 30 vi khuẩn trên Trái Đất, tạo thành một lượng sinh khối vượt hơn tất cả động vật và thực vật. Vi khuẩn có vai trò quan trọng trong tái chế chất dinh dưỡng như cố định nitơ từ khí quyển và gây thối rữa sinh vật khác.

3. Sự khác nhau giữa vi khuẩn và virus

(Chú thích: dấu + là Có, dấu – là Không)

* Vi khuẩn gây viêm nhiễm nhưng diệt được

Vi khuẩn còn được gọi là vi trùng, chúng hiện diện khắp nơi trong đất, nước và ở dạng cộng sinh với các sinh vật khác. Một số là tác nhân gây bệnh và gây ra bệnh uốn ván, thương hàn, giang mai, tả, bệnh lây qua thực phẩm và lao. Một số nhiễm khuẩn có thể lan rộng ra khắp cơ thể và trở thành bệnh toàn thân. Bệnh do vi khuẩn lây nhiễm qua tiếp xúc, không khí, thực phẩm, nước và côn trùng.

Vi khuẩn gây viêm nhiễm nhưng diệt được mầm bệnh, bệnh do bị nhiễm khuẩn có thể trị bằng thuốc kháng sinh, được chia làm hai nhóm là diệt khuẩn (bacteriocide) và kìm khuẩn (bacteriostasis), với liều lượng mà khi phân tán vào dịch cơ thể có thể tiêu diệt hoặc kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn.

* Kháng sinh vô tác dụng với vi rút

Vi rút chỉ có thể sống và phát triển được khi xâm nhập vào bên trong tế bào của sinh vật khác (người, động vật và cây cỏ) và khi ra khỏi ký chủ, vào môi trường ngoài (nước, không khí…) chúng sẽ không sống được lâu.

Ngày nay, khoa học đã phát hiện có khoảng 2.000 loài vi rút khác nhau, trong đó có khoảng 300 loài có khả năng gây bệnh cho người như AIDS, viêm gan B và C, sốt xuất huyết, bại liệt, bệnh dại, đậu mùa, cúm…

Khác với vi khuẩn, vi rút đánh vào hệ miễn dịch của cơ thể nên điều trị bằng kháng sinh không có tác dụng mà chỉ có thể chống lại bằng cách tiêm vắc xin. Riêng các loại vi rút gây cúm, vì chúng biến chủng rất nhanh nên vắc – xin chế từ vi rút năm này lại không hữu hiệu với cùng vi rút ấy cho năm tới. Vì thế các loại vắc xin hiện có không ngừa được virus cúm A (H1N1).

Khi thời tiết chuyển mùa hay trở lạnh sẽ là điều kiện thuận lợi để vi rút gây bệnh.

4. Tại sao kháng sinh không điều trị được bệnh do virut?

Năm 1928, tại Bệnh viện Saint Mary (London), Alexander Plemming phát hiện ra chất kháng sinh diệt khuẩn và đặt tên là penicillin. Loại kháng sinh này được tìm ra từ nấm Penicillium notatum. Sau đó có rất nhiều nhà nghiên cứu về kháng sinh penicillin và đến năm 1943, dự án sản xuất penicillin được Chính phủ Mỹ chấp nhận và từ đây kháng sinh penicillin chính thức ra đời, cứu sống được vô vàn người mắc bệnh nhiễm khuẩn.

Từ penicillin, nhiều nhà nghiên cứu đã tìm tòi ra vô vàn các loại kháng sinh khác nhau và đã xếp chúng thành nhiều nhóm dựa vào cấu tạo và cơ chế tác dụng đối với vi khuẩn.

Kháng sinh đối với virut thì như thế nào?

Do cấu tạo virut hoàn toàn khác biệt với tế bào vi khuẩn và nó không phải là một tế bào hoàn chỉnh bởi cấu tạo đơn giản hơn rất nhiều so với tế bào vi khuẩn chỉ là bộ gen (hoặc DNA hoặc RNA) bao quanh là lớp vỏ protein chứa nhiều kháng nguyên, vì vậy được gọi là “phi tế bào”. Do cấu tạo đặc biệt đó nên bắt buộc virut phải sống ký sinh bên trong tế bào túc chủ mà nó xâm nhiễm, bởi vì virut không có hệ thống enzym hoàn chỉnh nên không thể tự tạo ra năng lượng cho mình hoặc tự sinh sôi nảy nở được. Do đó, để tồn tại và phát triển thì virut phải xâm nhập vào trong các tế bào khác (tế bào túc chủ) và “gửi” các vật liệu di truyền của mình.

Khi vào cơ thể, áo protein bị loại bỏ, chỉ hoạt động bởi ARN hoặc ADN của nó, không có cách gì để nhận biết. Hơn nữa, kháng sinh diệt được vi khuẩn vì vi khuẩn ký sinh ngoài tế bào nên kháng sinh có thể diệt nguyên vi khuẩn, còn virut nằm trong vật chất di truyền của tế bào túc chủ cho nên nếu kháng sinh diệt virut thì đồng nghĩa với diệt cả tế bào của túc chủ (người hoặc động vật). Vì vậy, nếu thuốc kháng sinh muốn tấn công virut sẽ phải biết chọn lọc không tấn công vào các bộ phận “tầm gửi” này (tức là không tấn công vào tế bào túc chủ) và đây thực sự là cản trở cực lớn. Hơn thế nữa, virut còn có khả năng nằm ẩn mình vài năm trong tế bào trước khi phát bệnh.

Để thay vì dùng kháng sinh không có tác dụng đối với virut, các nhà khoa học đã nghiên cứu thành công một số thuốc diệt virut dựa trên cơ sở sự hiểu biết về cấu trúc và cơ chế xâm nhiễm, nhân lên trong tế bào túc chủ của virut. Tuy vậy, virut luôn thay đổi hình dạng và do đó luôn có khả năng kháng lại thuốc, đó là những điều bất lợi cho việc dùng thuốc tiêu diệt chúng.

5. Virus và vi khuẩn lây lan như thế nào

– Một người bị lạnh có thể lây nhiễm vi khuẩn/virus bằng cách ho hoặc hắt hơi.

– Vi khuẩn hoặc virus có thể được lây lan bằng cách chạm hoặc bắt tay với người khác.

– Chạm vào thức ăn với bàn tay bẩn cũng sẽ cho phép virus hoặc vi khuẩn từ ngoài lây lan tới ruột.

– Lây qua dịch cơ thể: như máu, nước bọt và tinh dịch, có thể chứa các vi sinh vật, ví dụ bằng cách tiêm hoặc quan hệ tình dục (đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng do virus như viêm gan hoặc AIDS).

– Virus lây lan theo nhiều cách; virus thực vật thường được truyền từ cây này sang cây khác qua những loài côn trùng hút nhựa cây như rệp vừng; trong khi virus động vật lại có thể được truyền đi nhờ những côn trùng hút máu. Những sinh vật mang mầm bệnh như vậy được gọi là những vector.

Virus cúm lan truyền thông qua ho và hắt hơi. Norovirus và rotavirus, nguyên nhân chính của bệnh viêm dạ dày-ruột siêu vi, lây lan qua đường phân-miệng và truyền từ người này sang người khác thông qua tiếp xúc, cũng như xâm nhập vào cơ thể qua thức ăn hay nước uống.

HIV là một trong vài loại virus lây nhiễm thông qua quan hệ tình dục và tiếp xúc với máu bị nhiễm bệnh. Mỗi virus chỉ có thể xâm nhiễm vào một số dạng tế bào vật chủ nhất định, gọi là “biên độ vật chủ” ( host range); biên độ này có thể rất hẹp hoặc rất rộng, tùy vào số lượng những sinh vật khác nhau mà virus có khả năng lây nhiễm.

Sự xâm nhập của virus trong động vật đã kích hoạt một phản ứng miễn dịch nhằm loại bỏ virus xâm nhiễm. Những phản ứng miễn dịch cũng có thể được tạo ra bởi vắc-xin, giúp tạo ra miễn dịch thu được nhân tạo đối với một virus xâm nhiễm nhất định.

Tuy nhiên, một số virus, bao gồm những loại gây ra AIDS và viêm gan siêu vi, lại có thể trốn tránh những phản ứng trên và gây ra sự nhiễm bệnh mãn tính. Đa phần các chất kháng sinh không có hiệu quả đối với virus, dù vậy cũng đã có những loại thuốc kháng virus được phát triển.

– Rửa tay thật kỹ (thường là một trong những cách tốt nhất để tránh bị cảm cúm).

– Bắt tay với người bị cảm lạnh là nguy hiểm, do đó, tránh dụi mắt hoặc mũi của bạn sau đó.

– Thức ăn phải được nấu chín hoặc làm lạnh càng nhanh càng tốt.

– Rau và thịt phải được lưu giữ riêng và chuẩn bị trên thớt riêng biệt.

– Khi bị cảm cúm, hoặc hắt hơi, sổ mũi cần chuẩn bị khăn giấy, khăn cá nhân để ngăn chặn đưa virus, vi khuẩn ra ngoài môi trường. Cần luyện thói quen ho vào cánh tay áo (nếu không có khăn giấy) và khạc nhổ vào giấy vệ sinh rồi gói lại cho vào thùng rác.

– Một số sinh vật bị giết khi thức ăn được nấu chín, nhưng chúng vẫn có thể để lại các chất độc hại có thể gây ra tiêu chảy và nôn mửa. Hạn chế ăn các thức ăn để qua đêm, vì dù đun sôi, vi khuẩn có thể chết, nhưng độc tố gây bệnh do vi khuẩn tạo ra trong thực phẩm vẫn còn.

– Việc sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục làm giảm khả năng lây lan bệnh qua đường tình dục.

– Giữ phong cách sống và tinh thần tốt để có hệ miễn dịch khỏe mạnh.

7. Một số bệnh do vi rút gây ra và cách phòng bệnh

Tiêu chảy do vi rút: Bệnh tiêu chảy mùa đông do Rota vi rút gây ra và thường chỉ kéo dài trong 3 – 7 ngày. Khi bị bệnh thường có biểu hiện sốt nhẹ, hơi mệt, nôn, tiêu chảy, ở trẻ em có quấy khóc… Người bệnh đi ngoài nhiều lần, phân lỏng, màu vàng chanh hoặc trắng lẫn dịch nhầy, có khi như màu hoa cà, hoa cải. Là một bệnh thông thường, nhưng nếu bị tiêu chảy kéo dài dẫn đến mất nước, mất điện giải trầm trọng có thể dẫn tới tử vong nếu không được bù nước, bù điện giải kịp thời. Hiện nay, chưa có trị liệu đặc hiệu đối với vi-rút Rota.

Hiện nay đã có vacxin ngừa Rotavirus, 60% nguyên nhân gây tiêu chảy cấp ở trẻ sơ sinh và trẻ em. Bạn nên cho bé đi uống vacxin từ tháng thứ 2 sau sinh.

Sốt do vi rút: Các triệu chứng sốt vi rút điển hình là ban đầu sốt nhẹ khoảng 38 – 38,5 độ C, sau đó bùng lên sốt cao đến 39 độ C hoặc cao hơn. Nhiều người đau họng, ho hắng nhẹ, đau nhức mình mẩy, vã mồ hôi, mệt mỏi. Thường sau 5 – 6 ngày, bệnh sẽ tự khỏi. Về điều trị, chỉ cần dùng thuốc hạ sốt khi sốt cao, hoặc dùng các loại thuốc cảm để chữa triệu chứng đau nhức, sổ mũi, ho… Ngoài ra nên súc miệng nước muối và nhỏ mũi thường xuyên. Không nên dùng kháng sinh.

Sốt vi rút là bệnh dễ lây, nhất là trong gia đình và công sở, nơi dùng điều hòa không khí. Do đó, người bị sốt vi rút nên hạn chế tiếp xúc với người khác, nhất là trẻ em. Nếu mệt nặng, nên nghỉ làm. Những người xung quanh nên phòng bệnh bằng cách nhỏ nước muối, ăn nhiều hoa quả giàu vitamin C và bảo vệ sức khỏe. Để cơ thể có sức đề kháng tốt cần ăn uống phong phú, đủ dinh dưỡng, ăn thức ăn dễ tiêu như cháo, súp… ngoài ra nên uống nhiều nước, nước lọc, nước hoa quả…

8. Cách phòng ngừa các bệnh do vi khuẩn, virus gây ra

– Ăn tốt: đủ dinh dưỡng, cân bằng, hợp lý, tươi, sạch, an toàn,

– Uống đủ nước và đúng cách.

– Ngủ tốt: ngủ đúng giờ, phòng thoáng khí, đông ấm, hè mát, ngủ sâu giấc.

Monkey Junior – Cho Bé Nền Tảng Ngôn Ngữ Vững Chắc

– Tập tốt: Tập thể dục và vận động hàng ngày, để thúc đẩy quá trình trao đổi chất và đào thải độc tố.

– Nghĩ tốt: suy nghĩ tích cực, lạc quan, để có sức khỏe tinh thần tốt.

– Môi trường sống tốt: xanh, sạch, đẹp

– Học tốt: học các kiến thức chăm sóc, bảo vệ và phòng bệnh mỗi ngày.

– Làm tốt: Làm tốt công việc của bạn để có tài chính tốt đảm bảo cho bản thân và gia đình.

Bài viết khác

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sự Khác Biệt Giữa Nhiễm Vi Khuẩn Và Nhiễm Virus trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!