Đề Xuất 1/2023 # Sự Thật Về Calcium Và Vitamin D # Top 10 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 1/2023 # Sự Thật Về Calcium Và Vitamin D # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sự Thật Về Calcium Và Vitamin D mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Mối liên hệ giữa sữa, calcium và loãng xương lại trở thành một vấn đề thời sự. Một chị bạn chuyền cho tôi xem một bài báo tiếng Việt [mà tôi cũng đã xem qua trước đây] nói rằng uống sữa có hại cho xương. Bài báo đó, cũng như bao nhiêu bài báo viết về khoa học ở VN, trích dẫn một cách có chọn lọc từ những bài báo phổ thông ở nước ngoài, và có vài thông tin chưa đầy đủ. Nói một cách ngắn gọn: người Việt chúng ta cần calcium để xây dựng bộ xương chắc, dẻo và khoẻ mạnh.

Vấn đề

“The countries with the highest rates of osteoporosis are the ones where people drink the most milk and have the most calcium in their diets. The connection between calcium consumption and bone health is actually very weak, and the connection between dairy consumption and bone health is almost nonexistent” (1).

Calcium và sức khỏe xương

Sự thật về mối liên hệ giữa sữa, calcium và xương ra sao? Để trả lời câu hỏi này, tôi phải điểm qua vài thông tin rất cơ bản [mà có lẽ đa số các bạn cũng đã biết] và đặt thông tin trong bối cảnh để thấy tầm quan trọng của calcium đối với bộ xương chúng ta. Tôi sẽ đánh số những đoạn văn để các bạn dễ theo dõi trong khi đề cập đến những thực tế trong phần sau của cái note này.

1. Calcium là một chất khoáng rất cần thiết không chỉ cho xương mà còn cho các cơ quan bộ phận khác.

Chúng ta cần calcium để xây dựng bộ xương lúc còn trẻ và duy trì bộ xương lúc về già. Chúng ta cần calcium để chuyển tải các tín hiệu thần kinh và kiểm soát nhịp đập của tim và cơ bắp. Ngoài ra, cơ thể chúng ta cần calcium để cùng với vitamin D và fibronogen giúp đông máu. Do đó, cơ thể chúng ta mà thiếu calcium là rất nguy hiểm, không chỉ cho xương mà còn cho sự sống còn.

2. Xương chúng ta được cấu thành từ khoáng chất calcium và chất keo (collagen).

Khoảng 60% trọng lượng của xương là do calcium, và phần lớn còn lại la collagen và nước. Có hai loại calcium trong xương là calcium phosphate và calcium carbonate. Calcium giúp cho xương chúng ta chắc. Chất keo giúp cho xương dẻo dai.

3. Xương là “ngân hàng” của calcium 

Khoảng 99% hàm lượng calcium trong cơ thể chúng ta nằm trong xương và răng. Cũng có thể ví von rằng xương là một “nhà kho” chứa calcium. Còn 1% còn lại là lưu hành trong máu. Chúng ta không thể nào sống sót mà thiếu 1% đó!

4. Nồng độ calcium trong máu

Nồng độ calcium trong máu dao động rất thấp, chỉ khoảng 8.5 đến 10 mg/dL, nhưng nếu nồng độ này suy giảm chỉ một chút thôi là chúng ta … rất mệt và chết như bỡn. Khi nồng độ calcium trong máu suy giảm một số triệu chứng sẽ xuất hiện như móng tay dễ bị gãy, co giãn cơ bắp bị suy giảm, hay tê tay tê chân, mất trí nhớ, và ảo giác.

5. Vai trò calcium

Vì vai trò quan trọng của calcium, nên tất cả các hiệp hội về nội tiết, loãng xương, khớp, v.v. đều khuyến cáo mỗi ngày chúng ta nên tiếp thu khoảng 1000 mg calcium. Tuy nhiên, ở Việt Nam, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trung bình mỗi ngày người Việt chỉ tiếp thu khoảng 300-400 mg calcium mà thôi, và đó là một liều lượng quá thấp so với nhu cầu cơ thể chúng ta cần.

6. Chúng ta tiếp thu calcium chủ yếu từ hai nguồn: thực phẩm và bổ sung

Thực phẩm giàu chất calcium bao gồm sữa, rau xanh và đậu. Bổ sung calcium có thể mua từ các tiệm dược phẩm. Sữa là thực phẩm có hàm lượng calcium lớn nhất. Tính chung, cứ 200 ml sữa bò thì tương đương với 240 mg calcium; 200 ml yoghurt thì bằng 260 mg calcium; 200 ml sữa đậu nành tương đương với 210 mg calcium.

Calcium phải đi chung với vitamin D

Đó là những thông tin cơ bản, bây giờ tôi sẽ nói thêm về cơ chế và những mối tương tác giữa calcium, vitamin D, và một loại hormone quan trọng có tên là PTH. Khi nồng độ calcium trong máu bị giảm thì cả một hệ thống nội tiết được kích hoạt. Đầu tiên là tuyến cận giáp tiết ra hormone cận giáp (PTH); PTH kích thích tế bào huỷ xương osteoclasts để lấy calcium từ xương và thải ra hệ thống tuần hoàn. Do đó, khi PTH tăng trong máu thì đó là tín hiệu cơ thể cần calcium và mật độ xương đang suy giảm. Điều này cũng có nghĩa là nếu chúng ta không ăn uống đủ calcium và nếu cơ thể không hấp thu tốt thì chúng ta sẽ mất xương.

Hấp thu calcium cần đến một hormone khác: vitamin D.

Chúng ta sản xuất vitamin D từ da và thận, nhưng nguồn vitamin D chính vẫn là ánh nắng mặt trời. Khi da chúng ta tiếp xúc ánh nắng mặt trời, vitamin D sẽ qua hai giai đoạn chuyển hóa. Lần thứ nhất là qua gan để thành 25OHD (không active), và lần thứ hai qua thận thành1-25OHD (active). Chính 1-25OHD giúp hấp thu calcium. Tất cả sự tương tác giữa PTH, 1,25D, và tế bào huỷ xương hoạt động nhịp nhàng với nhau và liên tục để đảm bảo cơ thể chúng ta có đủ nồng độ calcium trong máu. Khi hệ thống này bị rối loạn, chúng ta sẽ mắc chứng cường cận giáp (PTH quá cao), hoặc suy cận giáp (PTH quá thấp), hoặc nhuyễn xương (osteomalacia), hoặc loãng xương (osteoporosis).

Những lí giải trên chỉ để nói lên một ý rất quan trọng rằng calcium phải “song hành” cùng vitamin D. Chúng ta có thể ăn uống giàu chất calcium, hay có thể bổ sung calcium, nhưng nếu thiếu vitamin D thì … cũng như không, vì calcium sẽ bài tiết ra đường nước tiểu hết. Điều này cũng có nghĩa là nếu nghiên cứu khoa học mà chỉ xem xét đến calcium, hay chỉ xem xét vitamin D là sai lầm nghiêm trọng. Trong quá khứ đã có nhiều sai lầm như thế vì người ta (nhà khoa học) quên cái cơ chế sinh học của calcium và vitmin D. Một nghiên cứu khoa học chỉ có ý nghĩa khi xem xét cả hai calcium và vitamin D.

Chứng cứ về calcium và vitamin D đến xương

Nhưng trong y văn, không phải thông tin nào cũng có giá trị như nhau, mà chúng ta phải biết chọn lọc thông tin. Chỉ có những nghiên cứu công bố trên các tập san chính thống và có impact factor cao mới đáng tin cậy. Đó là những tập san JAMA, BMJ, NEJM, American Journal of Clinical Nutrition, Journal of Bone and Mineral Research, Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism, Osteoporosis International, Bone. Còn những tập san có impact factor thấp hay “ngoại đạo” (như Bone Research của Tàu) thì không đáng đọc. Ngoài ra, còn phải xem xét tác giả là ai, xuất phát từ labo nghiên cứu nào trên thế giới. Những phân tích tổng hợp từ Tàu thì phải dè chừng vì họ làm chưa chắc tốt; chỉ có những nhóm nghiên cứu trong “bộ lạc” thì mới đáng quan tâm.

Dựa trên những tiêu chuẩn trên, chúng ta thử điểm qua vài phân tích tổng hợp trên các tập san quan trọng:

(a) Sữa và gãy xương.

(b) Calcium và mật độ xương (BMD).

BMD là một chỉ số lâm sàng rất quan trọng cho xương. Người có BMD càng cao thì xương càng chắc. Một phân tích tổng hợp công bố trên BMJ vào năm 2015 (3), tổng hợp 59 công trình nghiên cứu RCT để nhằm trả lời câu hỏi là bổ sung calcium, kể cả uống sữa, có lợi cho mật độ xương hay không. Kết quả cho thấy BMD ở nhóm với bổ sung calcium qua đường thức ăn có BMD cao hơn nhóm chứng từ 0.6 đến 1%. Ngoài ra, các tác giả còn phát hiện bổ sung calcium (qua viên thuốc) tăng BMD 0.7 đến 1.8%.

Điều thú vị là tác giả kết luận rằng tăng calcium qua nguồn thực phẩm chỉ làm tăng một chút xíu BMD và có thể chẳng dẫn đến giảm gãy xương! (“Increasing calcium intake from dietary sources or by taking calcium supplements produces small non-progressive increases in BMD, which are unlikely to lead to a clinically significant reduction in risk of fracture.”) Theo tôi, đây là một kết luận sai lầm. Mật độ xương chỉ giảm khoảng 0.5% mỗi năm (ở người cao tuổi), do đó bổ sung calcium làm tăng đến 1% BMD có nghĩa là tương đương với 2 năm trì hoãn giảm BMD. Và, như thế thì ảnh hưởng của bổ sung calcium là tốt, chứ sao lại kết luận là chỉ “small” được. Ngoài ra, tác giả không có số liệu về gãy xương, nên suy luận về gãy xương chỉ là võ đoán.

(c) Calcium và gãy xương.

Trong loãng xương, gãy xương là một “outcome” rất quan trọng, quan trọng hơn cả BMD. Nghiên cứu này cũng là một phân tích tổng hợp trên 26 RCT (4), nhằm trả lời câu hỏi bổ sung calcium có giảm nguy cơ gãy xương hay không. Kết quả cho thấy bổ sung calcium giảm nguy cơ gãy xương 11% (hiệu quả giảm nguy cơ gãy xương dao động trong khoảng 4 đến 19%); giảm nguy cơ gãy xương cột sống 14% (dao động từ 0 đến 26%). Phân tích cho nguy cơ gãy cổ xương đùi thì kết quả không có ý nghĩa thống kê.

(d) Calcium và gãy cổ xương đùi.

Đây là một phân tích tổng hợp nhằm trả lời câu hỏi bổ sung calcium có làm giảm nguy cơ gãy cổ xương đùi? Gãy cổ xương đùi là một outcome quan trọng trong loãng xương, vì bệnh nhân chết sớm sau khi bị gãy xương. Các tác giả phân tích trên 12 nghiên cứu đoàn hệ, 5 RCT (5). Kết quả của các nghiên cứu đoàn hệ cho thấy bổ sung calcium không giảm nguy cơ gãy cổ xương đùi ở nữ (tỉ số nguy cơ 1.01; 0.97-1.05) hay ở nam giới (tỉ số nguy cơ 0.92; 0.82-1.03). Phân tích trên dữ liệu RCT cho thấy bổ sung calcium giảm nguy cơ gãy cổ xương đùi 8% nhưng không có ý nghĩa thống kê (tỉ số nguy cơ 0.92; 0.81 – 1.05).

Tuy nhiên, tác giả kết luận rất ư là lệ thuộc vào thống kê. Họ viết bổ sung calcium không làm giảm nguy cơ gãy cổ xương đùi (“Pooled results from randomized controlled trials show no reduction in hip fracture risk with calcium supplementation, and an increased risk is possible.”) Thật ra là có giảm (8%), nhưng mức độ giảm có thể là 20% nhưng cũng có xác suất nhỏ tăng 5%. Nói cách khác, kết quả còn bất định, chưa kết luận có hay không có ảnh hưởng. Phân tích này cũng có vấn đề vì họ không xem xét đến calcium + vitamin D.

(e) Calcium + vitamin D và gãy xương

Như nói trên, nhiều nghiên cứu trong quá khứ phạm phải sai lầm là không xem xét calcium và vitamin D “song hành.” Năm ngoái, một nghiên cứu được công bố trên tập san Osteoporosis International (6) nhằm trả lời câu hỏi là bổ sung calcium và vitamin D (viết tắt CaD) có giảm gãy xương hay không. Các tác giả phân tích dữ liệu trên 8 RCT, và kết quả cho thấy bổ sung CaD giảm nguy cơ gãy xương 15% (hiệu quả dao động trong khoảng 2 đến 27%). Ngoài ra, bổ sung CaD cũng giảm nguy cơ gãy cổ xương đùi 30% (dao động 13 đến 44%).

Những kết quả này cũng nhất quán với kết quả của chúng tôi được công bố năm ngoái trong hội nghị loãng xương quốc tế ở Atlanta. Nghiên cứu của chúng tôi cũng chỉ ra rằng bổ sung CaD không làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch hay đột quị. Tính chung, lợi ích CaD vẫn cao hơn nhiều so với tác hại (nếu có). Nghiên cứu của chúng tôi chưa được chính thức công bố trên một tập san y khoa (đang duyệt) nhưng Tạp chí Endocrinology Advisor có đưa tin và phỏng vấn tôi vào năm ngoái (7).

Tình hình sử dụng Calcium và vitamin D ở Việt Nam

Những gì tôi trình bày trên là chuyện bên Tây và chuyện khoa học. Bây giờ, tôi quay lại tình hình ở Việt Nam. Những nghiên cứu của chúng tôi và đồng nghiệp ngoài Bắc (8-9) cho thấy rất nhiều phụ nữ thiếu vitamin D. Ở Sài Gòn, gần 50% phụ nữ thiếu vitamin D, còn ở Hà Nội tỉ lệ này là 70-80%. Đó là một thực tế rất đáng ngại, vì thiếu vitamin D dẫn đến nhiều hệ quả sức khoẻ.

Nghiên cứu của chúng tôi còn chỉ ra là đa số phụ nữ Việt Nam hấp thu rất ít calcium. Tính trung bình lượng calcium từ thực phẩm ở phụ nữ Việt Nam chỉ dao động trong khoảng 300 đế 500 mg/d (8). Như đề cập trong điểm 5 ở trên, mỗi chúng ta cần phải có calcium 1000 mg/ngày để duy trì xương chắc và bền và cho nhiều hoạt động khác của cơ thể.

Như vậy, tình hình ở Việt Nam là đa số người dân vừa thiếu calcium vừa thiếu vitamin D. Điều này giải thích tại sao tỉ lệ loãng xương ở phụ nữ Việt Nam là gần 30% (ở những người sau mãn kinh) và 10% (ở nam giới trên 50 tuổi). Thực tế này nói lên rằng những quan ngại về sữa, calcium ở Việt Nam là … rất vô lí. Mình đã thiếu (chứ đâu phải thừa) mà sợ calcium làm hại cho xương?! Báo chí phương Tây tỏ ra quan ngại về bổ sung calcium cũng vô lí, vì bằng chứng khoa học tôi trình bày trên cho thấy bổ sung calcium, qua thực phẩm hay viên thuốc, có hiệu quả giảm nguy cơ loãng xương và giảm nguy cơ gãy xương.

Hỏi: Calcium có quan trọng cho xương không? – Đáp: Rất quan trọng, vì calcium là một khoáng chất làm nên xương và giúp cho xương chúng ta chắc.

Hỏi: Tôi có thể “tiếp thu” calcium từ đâu? – Đáp: Từ hai nguồn chính là thực phẩm, đặc biệt là sữa, và bổ sung qua viên thuốc. Nhưng calcium phải đi liền với vitamin D.

Hỏi: Nghe nói bổ sung calcium không có hiệu quả giảm loãng xương mà còn tăng nguy cơ đột quị? – Đáp: Không đúng. Bổ sung calcium và vitamin D tăng mật độ xương (làm cho xương mạnh hơn), giảm nguy cơ gãy xương. Bằng chứng về bổ sung calcium và vitamin D và đột quị là chưa thuyết phục.

======

(1) https://saveourbones.com/osteoporosis-milk-myth/

(2) Bischoff-Ferrari H, et al. Milk Intake and Risk of Hip Fracture in Men and Women: A Meta-Analysis of Prospective Cohort Studies. J Bone Miner Res 2011; 26:833-839.

(3) http://www.bmj.com/content/351/bmj.h4183

(4) http://www.bmj.com/content/351/bmj.h4580

(5) http://ajcn.nutrition.org/content/86/6/1780.long

(6) https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4715837/

(8) Ho-Pham L, et al. Vitamin D status and parathyroid hormone in a urban population in Vietnam. Osteoporosis International, 2011;22:241–248.

(9) Nguyen HTT, et al. Vitamin D deficiency in northern Vietnam: Prevalence, risk factors and associations with bone mineral density. Bone 2012; 51: 1029–1034.

Bổ Sung Vitamin D Hiệu Quả, Chọn Vitamin D3 Hay Vitamin D2?

Vitamin D là dưỡng chất cần thiết cho xương và các hoạt động của cơ thể

Vitamin D là một vitamin tan trong chất béo, giúp thúc đẩy hấp thu calci, phát triển xương và đóng vai trò quan trọng trong chức năng miễn dịch của cơ thể. Thông thường, da của chúng ta tổng hợp vitamin D dưới ánh sáng mặt trời, tuy nhiên nếu bạn không thường xuyên đi ra ngoài, việc bổ sung vitamin D có thể thông qua chế độ dinh dưỡng hàng ngày.

Vitamin D có 2 dạng chính là:

Vitamin D2 (ergocalciferol)

Vitamin D3 (cholecalciferol)

Vitamin D3 có nhiều trong động vật, vitamin D2 có nhiều trong thực vật

Vitamin D3 chỉ có trong các thực phẩm có nguồn gốc động vật. Vitamin D2 có nhiều trong thực vật và thực phẩm tăng cường.

Các thực phẩm giàu vitamin D3: cá nhiều dầu, dầu cá, gan, lòng đỏ trứng, bơ, thực phẩm bổ sung vitamin D3.

Các thực phẩm giàu vitamin D2: nấm (phát triển dưới tia UV), thực phẩm chức năng bổ sung vitamin D2.

Vitamin D3 giúp bổ sung vitamin D hiệu quả hơn

Cả vitamin D2 và D3 đều được hấp thụ vào máu, tuy nhiên chúng sẽ được gan chuyển hóa theo hai cách khác nhau. Gan chuyển hóa vitamin D2 và D3 thành 2 dạng calcifediol – dạng vitamin D phản ánh lượng vitamin D trong cơ thể.

Trong nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy, vitamin D2 cung cấp ít calcifediol hơn vitamin D3 ở lượng tương đương. Trong một nghiên cứu với 32 phụ nữ lớn tuổi cho thấy, sử dụng vitamin D3 giúp bổ sung gấp đôi nồng độ calcifediol so với sử dụng vitamin D2 ở một liều tương đương.

Chất lượng vitamin D2 thấp hơn vitamin D3

Các nghiên cứu cũng cho thấy, vitamin D2 nhạy cảm hơn với độ ẩm và sự thay đổi nhiệt độ. Do đó, vitamin D2 có thể dễ bị ảnh hưởng về chất lượng. Tuy nhiên, những thay đổi chất lượng này chưa được các nhà khoa học chứng minh có ảnh hưởng đến sức khỏe hay không.

Làm thế nào để cải thiện vitamin D trong cơ thể?

Theo Viện Y học Hoa Kỳ, mức vitamin D khuyến nghị mỗi ngày cho người trưởng thành là 400-800 IU (10-20mcg), liều bổ sung tương đương là từ 1000-2000IU (25-50mcg).

Những thực phẩm giàu vitamin D:

Một số thực phẩm giàu vitamin D

Ăn các loại nấm (được tiếp xúc với tia UV)

Bổ sung dầu cá, dầu gan cá

Ăn cá nhiều dầu 2 lần 1 tuần

Uống các loại sữa hoặc nước cam được bổ sung vitamin D

Ăn trứng, bơ

Đi ra ngoài ít nhất 1 lần 1 ngày để da tiếp xúc với ánh nắng mặt trời lúc sáng sớm.

Mỹ Linh H+ (Theo Healthline) – Theo HEALTH+

So Sánh Vitamin D2 Và Vitamin D3: Nên Chọn Loại Nào?

Hầu hết chúng ta đều biết đến vitamin D với lợi ích nổi bật là tốt cho xương khớp và nâng cao miễn dịch. Trên thực tế, dưỡng chất này bao gồm hai dạng là D2 và D3. Câu hỏi đặt ra, liệu vitamin D2 và D3 khác nhau như thế nào, đâu là loại tối ưu nhất? Hãy dành ít phút để tìm câu trả lời ngay sau đây. 

Vitamin D là thành phần vô cùng quan trọng đối với nhiều chức năng sống của cơ thể. Nó tồn tại dưới hai dạng phổ biến là D2 và D3 trong tự nhiên, cũng như ở các loại thực phẩm bổ sung. Bài viết này sẽ nêu bật những điểm khác biệt chính giữa hai loại trên.

Khám phá vitamin D2 và vitamin D3

Xét về khía cạnh lý thuyết, vitamin D là thuật ngữ dùng để mô tả những hợp chất có cấu trúc hóa học tương đồng. Cho đến nay, các nhà khoa học đã tìm ra được 5 loại vitamin D, nhưng nhiều nhất vẫn là 2 loại đã đề cập ở đầu bài.

Thực chất, ergocalciferol và cholecalciferol đều ở dạng bất hoạt. Khi vào cơ thể, nhờ các phản ứng chuyển hóa đặc hiệu tại gan và thận, chúng mới chuyển sang dạng có hoạt tính. Tuy nhiên, những enzyme tham gia vào quá trình này sẽ không hoàn toàn giống nhau ở cả hai loại.

Vitamin D2 và D3 khác nhau như thế nào?

Ngày nay, nhiều người dành phần lớn thời gian ở nhà hoặc ít tiếp xúc với ánh nắng mặt trời nên dễ gặp phải tình trạng thiếu hụt vitamin D. Giải pháp lúc này sẽ là bổ sung vitamin D thông qua chế độ ăn và sử dụng các loại viên uống hỗ trợ.

Với lựa chọn thứ hai, nếu quan sát kỹ trên nhãn dinh dưỡng, bạn sẽ nhận thấy một số sản phẩm chứa vitamin D ở dạng ergocalciferol hoặc cholecalciferol. Để biết được đâu là loại tối ưu nhất với mình, bạn cần hiểu rõ những điểm khác biệt sau:

1. Nguồn thực phẩm chứa vitamin

Vitamin D2 và D3 khác nhau như thế nào? Ngoài cấu trúc hóa học thì câu trả lời chính là ở nguồn gốc hình thành. Đối với vitamin D2, loại này chủ yếu có trong thực vật hoặc nấm hoang dã khi tiếp xúc với tia UV B. Ngoài ra, một số thực phẩm tăng cường (fortifield food) như sữa hay ngũ cốc cũng có sự hiện diện của ergocalciferol trong thành phần.

Trong khi đó, vitamin D3 lại đến từ nguồn động vật, chẳng hạn như các loại cá béo, dầu gan cá, lòng đỏ trứng … Bên cạnh những thực phẩm giàu vitamin D3 vừa liệt kê, cơ thể người hoàn toàn có khả năng tự tổng hợp nên dưỡng chất này.

Bằng chứng là trên da chúng ta có chứa hợp chất gọi là 7 – dehydrocholesterol. Chất này đóng vai trò là tiền thân của vitamin D, nhờ bức xạ tia cực tím nó chuyển hóa thành vitamin D3 dạng hoạt động. Lượng D3 sản sinh bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như độ che phủ của mây, quần áo và việc sử dụng kem chống nắng.

Trên thực tế, việc sản xuất vitamin D ít gây tốn kém nên có rất nhiều dạng viên uống bổ sung khác nhau ra đời. Quan sát nhãn thành phần của các sản phẩm này, cả vitamin D2 và D3 đều được tính theo đơn vị quốc tế IU. Ngoại trừ những viên có hàm lượng cao từ 50.000 IU trở lên cần có sự chỉ định của các sĩ, số còn lại đều có sẵn ở dạng không kê đơn.

2. Cách tổng hợp vitamin D trong cơ thể

Lời giải cho thắc mắc vitamin D2 và D3 khác nhau như thế nào đó là cách tổng hợp và sự gia tăng nồng độ vitamin D trong máu. Theo đó, khi được cơ thể hấp thụ cả vitamin D2 và D3 đều được gan chuyển hóa lần lượt thành 25 – hydroxyvitamin D2 và 25 – hydroxyvitamin D3 (gọi tắt là 25D hoặc calcidiol).

Calcidiol tồn tại rất nhiều trong máu và nồng độ chất này phản ánh trực tiếp lượng vitamin D có trong cơ thể. Chính vì thế, khi đến bệnh viện và được chỉ định làm xét nghiệm kiểm tra mức vitamin D thì có thể hiểu người ta đang đo lượng calcidiol của bạn. Thêm vào đó, calcidiol là dạng có hoạt tính của vitamin D. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra hơn 200 thụ thể khác nhau liên kết với calcidiol trong rất nhiều cơ quan ở người.

Đã có rất nhiều thử nghiệm khác nhau so sánh hiệu quả giữa việc bổ sung D2 và D3 xem chất nào sẽ tạo ra nồng độ calcidiol cao hơn. Điển hình là một khảo sát của viện Y tế Quốc gia Hoa kỳ trên nhóm đối tượng là phụ nữ cao tuổi, sau mãn kinh và được xác định là thiếu hụt vitamin. Những người này đều được uống bổ sung một liều cao vitamin D2 hoặc D3. Kết quả thu được cho thấy vitamin D3 tạo ra lượng calcidiol gấp đôi so với D2.

Thử nghiệm lâm sàng dùng liều cao 50.000 IU vitamin D2 và D3 hai lần một tuần kéo dài trong suốt 10 tuần cũng cho kết quả tương tự.

3. Hiệu quả hấp thụ

Vitamin D2 và D3 khác nhau như thế nào còn phải nhắc đến hiệu quả hấp thụ giữa cả hai nữa. Theo như các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng so sánh hiệu quả giữa việc bổ sung D2 và D3 vào năm 2012 cho thấy, vitamin D3 làm gia tăng và duy trì nồng độ calcidiol tốt hơn.

Mặc dù một vài nghiên cứu đã chỉ ra việc dùng hằng ngày hoặc uống một liều vitamin D2 có hiệu quả tương đương với D3, nhưng tác dụng đó chỉ kéo dài trong thời gian ngắn. Lý giải cho vấn đề này, các chuyên gia cho rằng, cholecalciferol có ái lực cao hơn với protein liên kết với vitamin D, cũng như thụ thể của vitamin D.

Một số ý kiến khác lại đề cập đến việc vitamin D3 là chất nền ưu tiên cho enzyme hydroxylase. Enzyme này đóng vai trò chuyển hóa tiền vitamin D thành dạng có hoạt tính. Hơn nữa, cần lưu ý rằng vitamin D2 là dạng kém bền hơn. Theo đó, dưỡng chất này vô cùng nhạy cảm với nhiệt độ và độ ẩm.

Theo báo cáo được đăng tải trên Tạp chí Dinh dưỡng lâm sàng Hoa Kỳ, để đạt được hiệu lực lâu dài như vitamin D3, nếu dùng vitamin D2 thì buộc phải tăng liều lượng cao hơn rất nhiều lần.

Từ những phân tích trên, hẳn là bạn đã biết được đâu là dạng vitamin D tối ưu nhất. Để bổ sung vitamin D3, bạn có thể lựa chọn sử dụng các loại thực phẩm sau đây:

Các loại cá béo như cá hồi, cá trích, cá ngừ …

Dầu gan cá

Sữa và các chế phẩm từ sữa như phô mai

Trứng

Một cách đơn giản hơn nữa để nhận được dưỡng chất này đó chính là tắm nắng buổi sớm. Mỗi ngày, bạn chỉ cần dành ra khoảng từ 10 – 15 phút đón ánh nắng ban mai là đã đáp ứng đủ nhu cầu về vitamin D.

Trên thị trường hiện nay có khá nhiều loại thực phẩm bổ sung vitamin D khác nhau, tuy nhiên tốt nhất bạn nên sử dụng dạng bổ sung đầy đủ 17 vitamin và khoáng chất thiết yếu cho cơ thể. Ngoài ra, khi chọn sản phẩm bổ sung vitamin D3, bạn cũng cần chú ý đến liều lượng phù hợp với nhu cầu hằng ngày là 400 IU.

Hy vọng rằng bài viết trên đã gỡ rối thắc mắc vitamin D2 và D3 khác nhau như thế nào cho bạn. Bên cạnh “vitamin ánh nắng” bạn cần chú ý hơn đến việc cân đối những dưỡng chất khác như canxi và vitamin K để xây dựng hệ xương chắc khỏe và nâng cao hệ miễn dịch cho bản thân và gia đình.

Tài liệu tham khảo

Vitamin D2 vs. D3: What’s the Difference? – https://www.healthline.com/nutrition/vitamin-d2-vs-d3

Should You Take Vitamin D2 or Vitamin D3? – https://www.verywellfit.com/which-form-of-vitamin-d-is-better-d2-or-d3-2507730

Vitamin D vs. D3: Differences, similarities, and which is better for you – https://www.singlecare.com/blog/vitamin-d-vs-d3/

Vitamin D: Sự Thiếu Hụt, Các Triệu Chứng Và Thực Phẩm Bổ Xung

Vitamin D là gì?

Vitamin D phải là một trong những loại vitamin bị khoa học hiểu nhầm nhất.

Ban đầu, nó không thực sự là một vitamin, mà là một prohormone, có nghĩa là nó được cơ thể chúng ta chuyển hóa thành một loại hormone. Nó cũng không chỉ là một chất, mà là năm chất khác nhau, trong đó có hai chất đã được xác định là quan trọng nhất đối với con người. Đó là:

Vitamin D2 (ergocalciferol)

Vitamin D3 (cholecalciferol).

Ngoài ra, nghiên cứu đã phát hiện ra rằng vitamin D không chỉ quan trọng đối với sự hấp thụ canxi và sự phát triển và tái tạo xương, mà còn một số quá trình quan trọng khác, chẳng hạn như điều chỉnh sự phát triển của tế bào và chức năng hệ thống miễn dịch.

Vitamin D hoạt động trên xương, ruột, thận và tuyến cận giáp của chúng ta để giữ cân bằng canxi trong cơ thể. Các thụ thể vitamin D cũng nằm trong hệ thống tim mạch, phổi, tuyến tụy, cơ xương, da và cơ quan sinh sản của chúng ta. Tóm lại, vitamin D là một prohormone cần thiết cho sức khỏe tốt.

Chỉ 10% lượng vitamin D mà cơ thể chúng ta cần được lấy từ thực phẩm. Phần còn lại do cơ thể chúng ta tạo ra khi da tiếp xúc với ánh nắng.

Sự khác biệt giữa vitamin D2 và D3 là gì?

Vitamin D2 và D3 là hai dạng vitamin quan trọng D. D2 đến từ thực vật và D3 chủ yếu đến từ nguồn động vật hoặc nó được cơ thể chúng ta tạo ra khi da tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. D3 được hấp thu tốt hơn và mạnh hơn D2. Sữa hoặc nước trái cây tăng cường có nhiều khả năng chứa D2 hơn vì sản xuất rẻ hơn.

Vitamin D2

Vitamin D2, còn được gọi là ergocalciferol, được tìm thấy tự nhiên trong nấm đã phơi nắng. Nấm có chứa một hợp chất nấm men gọi là ergosterol, được chuyển đổi thành ergocalciferol khi tiếp xúc với tia UV. Nấm maitake là một trong những nguồn cung cấp vitamin D2 tốt nhất với 786 IU / cốc, tiếp theo là nấm portobello (634 IU / cốc). Nấm Chanterelle chứa ít hơn rất nhiều D2 (114 IU / cốc). Vitamin D2 có nguồn gốc từ nấm thân thiện với người ăn chay / thuần chay.

Các chất bổ sung vitamin D2 cũng có thể được sản xuất tổng hợp bằng cách chiếu xạ nấm và thực vật có chứa ergosterol tự nhiên. Drisdol là một tên gọi khác của vitamin D2 bổ sung. Bổ sung D2 rẻ hơn để sản xuất so với D3 bổ sung; tuy nhiên, nó không hiệu quả trong việc nâng cao nồng độ vitamin D trong máu và cũng không ổn định như vitamin D3 tổng hợp. Vitamin D2 vẫn cần chuyển đổi trong cơ thể để trở thành D3 hoạt động.

Vitamin D3

Vitamin D3 được tạo ra khi cholesterol trong da của chúng ta tiếp xúc với ánh sáng mặt trời và nó cũng chứa một lượng nhỏ trong một số thực phẩm có nguồn gốc động vật.

Da của chúng ta lưu trữ một loại cholesterol cụ thể, được gọi là 7-dehydrocholesterol, được chuyển đổi thành vitamin D3 khi tiếp xúc với tia UVB (bước sóng 270-300nm). Một quá trình khác thay đổi chất này thành cholecalciferol trước khi nó trải qua quá trình hoạt hóa trong gan và thận để trở thành vitamin D. Vitamin D hoạt động được gọi là 1,25 dihydroxyvitamin D3 (1,25 (OH) D) hoặc calcitriol.

Quá trình chuyển hóa 7-dehydrocholesterol thành vitamin D3 hoạt động, mặc dù phức tạp, nhưng hiệu quả hợp lý và người ta ước tính rằng chỉ cần 10 phút nắng hè trên bàn tay và khuôn mặt của chúng ta để tạo ra nhu cầu hàng ngày là 10 microgram vitamin D3.

Thực phẩm chứa vitamin D3 tự nhiên bao gồm gan bò, pho mát, dầu gan cá, lòng đỏ trứng và cá béo (như cá thu, cá ngừ và cá hồi).

Bổ sung vitamin D3 có thể được thực hiện bằng cách chiết xuất cholesterol từ lanolin có nguồn gốc từ lông cừu, sau đó đưa nó vào một loạt các phản ứng hóa học để tạo ra 7-dehydrocholesterol. Sau đó nó được chiếu xạ để tạo ra D3 (cholecalciferol). Các chất bổ sung thu được từ lanolin không thân thiện với người ăn chay; tuy nhiên, một chất bổ sung D3 chiết xuất từ ​​địa y là thuần chay và thân thiện với người ăn chay.

Vitamin D3 mạnh hơn D2 và liên kết với các thụ thể vitamin D hiệu quả hơn. Nó cũng được hấp thụ tốt hơn và dễ dàng chuyển đổi thành D hoạt động hơn.

Tất cả các dạng vitamin D2 và D3 thu được từ chế độ ăn uống của chúng ta hoặc từ các chất bổ sung đều cần chuyển đổi trong gan và thận trước khi hoạt động trong cơ thể.

Làm cách nào để biết mình có bị thiếu vitamin D hay không?

Sự thiếu hụt vitamin D được đo bằng xét nghiệm máu đo 25 (OH) D. Đây là dạng D3 đã được gan chuyển hóa; mặc dù nó vẫn chưa hoạt động và cần thận chuyển hóa thêm thành vitamin D3 hoạt động, 1,25 (OH) D.

Lý do 25 (OH) D được đo là vì nó là dạng ổn định nhất của D3. Đây cũng là dạng dồi dào nhất và tồn tại trong cơ thể vài tuần. Đây là một đại diện tốt về lượng vitamin D thu được từ cả chế độ ăn uống và phơi nắng.

Ngược lại, 1,25 (OH) D chỉ tồn tại trong vài giờ trong cơ thể và mức độ ít hơn một nghìn lần so với 25 (OH) D. Cơ thể của chúng ta cũng có một cách để tăng sản xuất D3 hoạt động của thận trong thời gian thiếu hụt và suy giảm, vì vậy xét nghiệm máu cho 1,25 (OH) D có thể bình thường hoặc tăng cao ngay cả khi mức vitamin D thực tế của bạn thấp. . Tuy nhiên, trong một số trường hợp rối loạn chuyển hóa canxi, xét nghiệm 1,25 (OH) D có thể được sử dụng.

Mức 25 (OH) D sẽ cho bác sĩ biết nếu bạn đang thiếu vitamin D, giới hạn, đủ hoặc vitamin D độc hại.

Xem sơ đồ bên trên để biết tổng quan về các dạng khác nhau của vitamin d.

Làm thế nào để tôi có được vitamin D?

Da của chúng ta tạo ra vitamin D khi nó tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Nó cũng có thể được lấy từ thực phẩm có chứa vitamin D và D2 ​​/ D3 bổ sung.

Các nguồn cung cấp vitamin D2 bao gồm:

Nấm

Chất bổ sung vitamin D2 (làm từ nấm và nguyên liệu thực vật đã được chiếu xạ)

Thực phẩm tăng cường có chứa D2 (ví dụ: ngũ cốc ăn sáng, sữa bột trẻ em, bơ thực vật, nước cam, sữa)

Các nguồn cung cấp vitamin D3 bao gồm:

Để da tiếp xúc với ánh nắng

Phô mai

Lòng đỏ trứng

Gan

Cá có dầu (ví dụ: cá thu, cá hồi, cá ngừ) và dầu cá

Chất bổ sung vitamin D3 được làm bằng lanolin từ lông cừu

Chất bổ sung vitamin D3 được làm bằng địa y (ăn chay / thân thiện với người ăn chay)

Thực phẩm tăng cường có chứa D3 (ví dụ: ngũ cốc ăn sáng, sữa bột trẻ em, bơ thực vật, nước cam, sữa)

Vì D2 được sản xuất rẻ hơn nên nó là dạng phổ biến nhất trong các loại thực phẩm tăng cường.

Mức vitamin D thấp là gì?

Hầu hết các chuyên gia khuyến nghị:

Mức 20-50 nanogam / mililit (ng / ml) 25 (OH) D: Đủ (tốt)

Mức 12-19 ng / ml: Ranh giới

Mức dưới 12 ng / ml: Thiếu (thấp)

Tuy nhiên, không phải ai cũng đồng ý và một số tổ chức đề xuất các giá trị giới hạn khác nhau.

Các Viện Y học (IOM) khẳng định:

Mức trên 20 ng / ml: Đủ

Mức dưới 20 ng / ml: Thiếu

Lưu ý rằng một số thành viên của ủy ban IOM đã tuyên bố công khai rằng tầm soát thiếu hụt vitamin D quá mức là một vấn đề thường dẫn đến việc điều trị không cần thiết. Họ không đồng ý với mức giới hạn 20 ng / ml cho sự thiếu hụt và khuyến nghị mức thấp hơn 12,5 ng / ml.

Các chuyên khoa nội tiết trạng thái:

Mức trên 30 ng / ml: Đủ; tuy nhiên, một số xét nghiệm không chính xác và mức 40-60 ng / ml tốt hơn đảm bảo đủ

Mức 21-29 ng / ml: Không đủ

Mức dưới 20 ng / ml: Thiếu

Nói chuyện với bác sĩ của bạn về những gì họ cho là mức vitamin D thấp.

Thiếu vitamin D là gì?

Thiếu vitamin D là khi mức vitamin D trong cơ thể bạn giảm xuống dưới mức khuyến nghị cần thiết để đảm bảo tất cả các quá trình trong cơ thể của bạn dựa vào vitamin D có thể hoạt động bình thường.

Hiện tại, vẫn còn tranh cãi về mức giới hạn đối với sự thiếu hụt vitamin D với các khuyến nghị từ dưới 20 ng / ml 25 (OH) D đến dưới 12 ng / ml 25 (OH) D.

Vitamin D có tan trong nước không?

Không, vitamin D tan trong chất béo. Điều này có nghĩa là nó được lưu trữ trong mô mỡ (chất béo) của chúng ta và một lượng nhỏ có thể được huy động nếu lượng tiêu thụ hàng ngày của chúng ta tạm thời giảm. Các vitamin tan trong chất béo khác là vitamin A, vitamin E và vitamin K. Vì nó tan trong chất béo nên có thể xảy ra ngộ độc vitamin D nếu uống quá nhiều.

Sự thiếu hụt vitamin D phổ biến ở những người béo phì, bởi vì một lượng lớn vitamin D bị nhốt trong mô mỡ của họ (dự trữ chất béo), chứ không phải trong máu nơi nó có thể được sử dụng. Những người béo phì cũng ít ăn thực phẩm tự nhiên có nhiều vitamin D hoặc để da tiếp xúc với ánh nắng.

Cơ thể chúng ta tạo ra vitamin D như thế nào?

Trong da của chúng ta có một loại cholesterol được gọi là 7-dehydrocholesterol. Khi tia UVB có bước sóng từ 290 đến 315nm chạm vào 7-dehydrocholesterol, chúng sẽ chuyển hóa nó thành vitamin D3. Sau đó, chất này được chuyển thành cholecalciferol để nó có thể được vận chuyển đến gan để hydroxyl hóa thành calcidiol [25 (OH) D]. Quá trình hydroxyl hóa xảy ra trong thận để tạo ra 1,25 (OH) D (calcitriol) là dạng hoạt động của vitamin D3.

Toàn bộ quá trình chuyển hóa 7-dehydrocholesterol thành D3 hoạt động khá hiệu quả và người ta đã báo cáo rằng phải mất 10 phút nắng hè trên tay và mặt để tạo ra 10 microgam vitamin D3 được coi là nhu cầu hàng ngày.

Bạn có thể tạo ra vitamin D từ ánh nắng mặt trời nhanh chóng như thế nào?

Sản xuất vitamin D qua da của chúng ta hiệu quả và là cách dễ dàng, đáng tin cậy để hầu hết mọi người có đủ vitamin D.

Tất nhiên, bạn cần ở ngoài nắng trong bao lâu tùy thuộc vào độ tuổi, loại da và màu da của bạn, theo mùa và thời gian trong ngày; nhưng đối với hầu hết mọi người, 10 phút vào mùa hè trên vùng da tiếp xúc, không dùng kem chống nắng, được coi là đủ.

Nguyên nhân nào khiến vitamin D thấp?

Bất cứ điều gì cản trở khả năng tạo vitamin D qua da của cơ thể, bao gồm cả bệnh gan hoặc thận, đều có thể gây thiếu hụt. Hội chứng kém hấp thu hoặc chế độ ăn ít thực phẩm chứa vitamin D cũng có thể làm giảm nồng độ vitamin D.

Các yếu tố sau có thể cản trở khả năng tạo ra vitamin D của cơ thể:

Bệnh mãn tính hoặc khuyết tật ngăn cản tiếp xúc với ánh nắng mặt trời thường xuyên

Sống ở vĩ độ trên 37 độ bắc hoặc dưới 37 độ nam của đường xích đạo trong mùa đông, mặc dù điều này còn gây tranh cãi và các nghiên cứu chỉ cho thấy người da trắng có mối tương quan với mức vitamin D thấp và vĩ độ.

Màu da: Những người có làn da sẫm màu tạo ra ít vitamin D hơn với cùng một lượng tiếp xúc với ánh sáng mặt trời so với những người có màu da sáng hơn.

Tuổi tác: Người lớn tuổi tạo ra D3 kém hiệu quả hơn và ít ra ngoài nắng hơn.

Tôn giáo hoặc văn hóa: Những người (đặc biệt là phụ nữ) có tín ngưỡng yêu cầu họ phải che phần lớn da và / hoặc khuôn mặt thường không nhận được đủ ánh sáng mặt trời để da tạo ra vitamin d.

Tránh ánh nắng mặt trời và sử dụng kem chống nắng: Nỗi sợ hãi về ung thư da và lão hóa da có nghĩa là mọi người dành ít thời gian dưới ánh nắng mặt trời hơn trước đây, mặc dù chỉ cần 10 phút dưới ánh nắng mùa hè trực tiếp là cần thiết để cung cấp đủ lượng vitamin D.

Ngoài ra, việc hấp thụ kém vitamin D qua chế độ ăn uống cũng có thể góp phần; tuy nhiên, các nghiên cứu đã chỉ ra ít hơn 10% lượng vitamin D trong cơ thể chúng ta được thu nhận thông qua chế độ ăn uống, vì vậy nó không được coi là một yếu tố góp phần chính.

Các yếu tố khác làm tăng nguy cơ thiếu vitamin D bao gồm:

Bệnh gan mãn tính

Bệnh thận mãn tính

Rối loạn ăn uống (ví dụ, chán ăn tâm thần )

Tình trạng y tế ảnh hưởng đến sự hấp thụ vitamin D từ chế độ ăn uống (chẳng hạn như bệnh Celiac hoặc suy tuyến tụy)

Cho con bú kéo dài, hoàn toàn bằng sữa mẹ hoặc được sinh ra bởi một bà mẹ thiếu vitamin D

Béo phì (dự trữ vitamin D bị nhốt trong mô mỡ)

Dùng thuốc ảnh hưởng đến sự tổng hợp hoặc phân giải vitamin D (như carbamazepine , efavirenz , phenobarbital , phenytoin , primidone , rifampin ).

Các triệu chứng của thiếu vitamin D là gì?

Các triệu chứng của thiếu vitamin D ban đầu rất mơ hồ và hầu hết mọi người không nhận ra rằng họ bị thiếu trừ khi bác sĩ yêu cầu xét nghiệm máu để kiểm tra tình trạng thiếu vitamin D. Bất kỳ triệu chứng nào phản ánh thực tế là vitamin D ảnh hưởng đến sức khỏe xương, tâm trạng và hệ thống miễn dịch của bạn và có thể bao gồm:

Đau xương hoặc lưng

Mệt mỏi liên tục hoặc mệt mỏi

Nhiễm trùng thường xuyên (chẳng hạn như cảm lạnh hoặc cúm)

Rụng tóc

Tâm trạng thấp hoặc trầm cảm

Đau cơ

Loãng xương (quét mật độ xương cho thấy mất xương)

Sức khỏe răng miệng kém

Vết thương ngoài da mất nhiều thời gian để chữa lành.

Nếu sự thiếu hụt tiếp tục không được giải quyết, thì các triệu chứng đáng chú ý hơn có thể xảy ra, chẳng hạn như gãy xương, còi xương hoặc nhuyễn xương .

Suy giảm trí nhớ và kỹ năng tư duy ở người lớn tuổi

Ung thư (đặc biệt là ung thư ruột kết)

Bệnh tim mạch và tăng nguy cơ tử vong do đột quỵ hoặc đau tim

Bệnh thận

Hen suyễn nặng ở trẻ em.

Nghiên cứu cũng cho thấy vitamin D có thể giúp ngăn ngừa hoặc hữu ích trong việc kiểm soát một số bệnh khác như tiểu đường , huyết áp cao và bệnh đa xơ cứng .

Còi xương là gì?

Còi xương là một tình trạng xương đặc trưng bởi sự mềm và yếu của xương ở trẻ em. Nguyên nhân là do thiếu vitamin D kéo dài làm ảnh hưởng đến việc hấp thu các khoáng chất khác cần thiết cho sức khỏe tốt của xương như canxi và photphat. Tình trạng mềm xương ở người lớn được gọi là nhuyễn xương.

Bệnh còi xương thường xảy ra nhất ở trẻ từ 6 tháng đến 36 tháng. Mặc dù hiếm gặp ở Mỹ, nhưng nó lại phổ biến ở các khu vực khác trên thế giới, chẳng hạn như các khu vực ở châu Á, nơi phổ biến việc ăn chay cùng với giờ ban ngày thấp.

Các yếu tố nguy cơ bao gồm sinh ra từ một người mẹ thiếu vitamin D, cho con bú hoàn toàn, dinh dưỡng kém, ít tiếp xúc với ánh nắng mặt trời và các hội chứng kém hấp thu ngăn cản sự hấp thu chất dinh dưỡng. Trẻ em có làn da sẫm màu và sống ở các thành phố phía Bắc nhiều mây hoặc những người có tín ngưỡng văn hóa hoặc tôn giáo hạn chế tiếp xúc với ánh nắng mặt trời cũng có nhiều khả năng mắc bệnh hơn.

Các triệu chứng của bệnh còi xương ở trẻ sơ sinh bao gồm:

Sự chậm trễ trong quá trình đóng xương của hộp sọ

Các nốt dạng hạt, nơi xương của khung xương liên kết với sụn (chuỗi hạt có gai)

Chân vòng kiềng và đầu gối khuỵu xuống từ đầu xương dài trở nên to ra

Biến dạng lồng ngực do kéo cơ hoành trên xương sườn

Chậm trễ khi bò, ngồi hoặc đi bộ

Tăng trưởng kém

Ngủ không ngon

Bồn chồn

Sọ mỏng hoặc sưng

Sâu răng và răng kém phát triển.

Trong những trường hợp rất nghiêm trọng, gãy xương, co giật, co cứng cơ và chậm phát triển trí tuệ cũng có thể xảy ra. Bệnh còi xương cũng có thể xảy ra ở những bà mẹ đang cho con bú có chế độ ăn thiếu vitamin D. Các triệu chứng có thể bao gồm đau nhức cơ và xương, sưng khớp, mệt mỏi và rụng tóc.

Điều trị bằng cách bổ sung vitamin D thường được tiếp tục lâu dài, ngay cả khi các triệu chứng đã hết. Trong trường hợp nghiêm trọng, cũng có thể truyền canxi qua đường tĩnh mạch. Đôi khi có thể phải phẫu thuật để điều chỉnh các biến dạng của xương và cơ.

Vitamin D có tác dụng gì?

Hầu hết mọi người đều biết rằng vitamin D rất tốt cho sự hấp thụ canxi và sức khỏe của xương, nhưng vitamin D cũng rất quan trọng đối với nhiều quá trình quan trọng khác của cơ thể.

Suy giảm trí nhớ và kỹ năng tư duy ở người lớn tuổi

Đau xương, lưng hoặc cơ

Ung thư (đặc biệt là ung thư ruột kết)

Bệnh tim mạch và tăng nguy cơ tử vong do đột quỵ hoặc đau tim

Mệt mỏi liên tục và mệt mỏi

Nhiễm trùng thường xuyên (chẳng hạn như cảm lạnh và cúm)

Rụng tóc

Bệnh thận

Tâm trạng thấp hoặc trầm cảm

Nhuyễn xương

Loãng xương

Sức khỏe răng miệng kém

bệnh còi xương

Hen suyễn nặng ở trẻ em

Vết thương ngoài da mất nhiều thời gian để chữa lành.

Nghiên cứu cũng cho thấy vitamin D thấp có thể là một yếu tố gây ra một số bệnh khác như tiểu đường, huyết áp cao và bệnh đa xơ cứng.

Ai nên được kiểm tra tình trạng thiếu vitamin D?

Hầu hết các chuyên gia đều chống lại việc kiểm tra định kỳ tình trạng thiếu vitamin D. Điều này là do:

Thử nghiệm vitamin D đắt hơn đáng kể so với chất bổ sung

Không có điểm giới hạn rõ ràng cho sự thiếu hụt đã được thống nhất

Khám sàng lọc định kỳ có thể dẫn đến điều trị quá mức tình trạng thiếu vitamin D.

Hầu hết các chuyên gia khuyến cáo rằng trẻ sơ sinh, trẻ em và người lớn có nguy cơ thiếu vitamin D cao nên được kê đơn bổ sung mà không cần kiểm tra sự thiếu hụt, ngay cả khi họ không có bất kỳ triệu chứng nào.

Thử nghiệm có thể thích hợp ở những người bị nghi ngờ thiếu vitamin D nghiêm trọng. Trong những trường hợp này, nồng độ canxi, phosphat, và phosphatase kiềm trong máu; chức năng thận; và các thử nghiệm khác cũng nên được điều tra.

Thử nghiệm vitamin D thích hợp cho những người:

nồng độ canxi hoặc photphat thấp hoặc tăng không giải thích được phosphatase kiềm trong huyết thanh

loãng xương không điển hình

đau chân tay không rõ nguyên nhân gần khớp ở người lớn tuổi

gãy xương bất thường, đau xương không rõ nguyên nhân hoặc các triệu chứng khác gợi ý bệnh xương chuyển hóa.

Một số người có thể cần giới thiệu đến bác sĩ chuyên khoa nếu được phát hiện ra rằng họ bị bệnh xương chuyển hóa chứ không phải do thiếu vitamin D đơn giản.

Tôi nên uống bao nhiêu vitamin D?

Có một số tranh cãi về việc mọi người nên bổ sung vitamin D dưới dạng uống hay chỉ cải thiện mức độ tiếp xúc với ánh nắng mặt trời mà vẫn an toàn với ánh nắng mặt trời.

Ước tính khoảng 90% vitamin D trong cơ thể chúng ta được tạo ra khi da tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, có nghĩa là chế độ ăn uống của chúng ta chỉ đóng góp một lượng nhỏ. Tuy nhiên, có một số nhóm người nhất định, chẳng hạn như trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, người khuyết tật về tinh thần hoặc thể chất, người mắc hội chứng kém hấp thu, người già và những người che da vì lý do tôn giáo hoặc văn hóa có nguy cơ cao bị thiếu vitamin D thiếu hụt.

Lượng vitamin D được khuyến nghị hàng ngày là:

Trẻ sơ sinh 1 tuổi: 400 IU

Từ 1-70 tuổi: 600 IU

Giới hạn trên an toàn của vitamin D là 4.000 IU / ngày đối với người lớn. Nhưng mặc dù không khuyến cáo sử dụng liều lượng cao hơn lượng này, bác sĩ vẫn có thể kê đơn cho những người bị thiếu vitamin D. Giới hạn trên cho trẻ em là 1000IU cho trẻ sơ sinh đến 6 tháng; 2.500IU cho trẻ mới biết đi đến 3 tuổi; 3.000IU cho trẻ từ 4-8 tuổi và 4.000IU cho trẻ từ 9 tuổi trở lên. Cần theo dõi nồng độ trong máu khi ai đó đang dùng vitamin D. liều cao.

Hiệp hội Nội tiết là một tổ chức chuyên gia khuyến nghị lượng vitamin D hàng ngày cao hơn một chút và giới hạn trên an toàn cao hơn. Tổ chức này đặc biệt giải quyết những người có nguy cơ thiếu hụt cao hơn, chẳng hạn như những người được cấy ghép, các bệnh mãn tính có thể gây kém hấp thu hoặc những người đang dùng thuốc có thể đe dọa sức khỏe xương của họ.

Các hướng dẫn hiện không phân biệt giữa việc bổ sung các dạng vitamin D khác nhau (chẳng hạn như D2 hoặc D3).

Bao nhiêu vitamin D là quá nhiều?

Độc tính của vitamin D là rất hiếm, nhưng nó có thể xảy ra nếu bạn dùng quá nhiều chất bổ sung. Bạn không thể bị nhiễm độc vitamin D từ ánh nắng mặt trời hoặc do ăn thực phẩm có chứa vitamin D.

Ngộ độc vitamin D được cho là xảy ra ở nồng độ trong máu trên 150 ng / ml (375 nmol / L) của 25 (OH) D. bởi vì vitamin D là một loại vitamin tan trong chất béo, có thể mất vài tuần để nồng độ giảm xuống, ngay cả sau khi bạn ngừng uống bổ sung.

Ngộ độc vitamin D có thể được điều trị bằng cách ngừng bổ sung vitamin D và hạn chế canxi trong chế độ ăn. Chất lỏng và các loại thuốc khác, chẳng hạn như bisphosphonates cũng có thể được kê đơn.

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng uống 40.000-60.000 IU vitamin D mỗi ngày trong vài tháng có thể dẫn đến ngộ độc. Nhưng con số này nhiều hơn đáng kể so với liều lượng vitamin D an toàn được khuyến nghị, là 4.000 IU / ngày cho người lớn. Chế độ ăn kiêng khuyến nghị (RDA) cho hầu hết người lớn là 600 IU vitamin D mỗi ngày.

Luôn luôn nói chuyện với bác sĩ của bạn trước khi bổ sung vitamin và khoáng chất.

Vitamin D có thuần chay không?

Vitamin D3 trong lịch sử đã được làm từ lanolin chiết xuất từ ​​lông cừu, nhưng gần đây, một dạng thuần chay / ăn chay đã trở nên phổ biến. Phiên bản này được chiết xuất từ ​​địa y (một loại thực vật thường được tìm thấy trên đá, tường hoặc cây) và nó được gọi là Vitashine . Sản phẩm này cũng không chứa đường, lúa mì, gluten và sữa.

Các chất bổ sung vitamin D2, được tạo ra bằng cách chiếu xạ nấm, cũng thân thiện với người ăn chay / ăn chay.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng D3 làm tăng nồng độ vitamin D trong máu nhiều hơn D2.

Thực phẩm nào có Vitamin D?

Chỉ một số loại thực phẩm có chứa vitamin D. Vitamin D có thể được tìm thấy trong thực phẩm và chất bổ sung dưới dạng D2 hoặc D3.

Nguồn thực phẩm giàu vitamin D2 bao gồm:

Nấm

Thực phẩm tăng cường có chứa D2 (ví dụ: ngũ cốc ăn sáng, sữa bột trẻ em, bơ thực vật, nước cam, sữa)

Các nguồn cung cấp vitamin D3 bao gồm:

Phô mai

Lòng đỏ trứng

Gan

Cá có dầu (ví dụ: cá thu, cá hồi, cá ngừ) và dầu cá

Thực phẩm tăng cường có chứa D3 (ví dụ: ngũ cốc ăn sáng, sữa bột trẻ em, bơ thực vật, nước cam, sữa)

Vì D2 được sản xuất rẻ hơn nên nó là dạng phổ biến nhất trong các loại thực phẩm tăng cường.

Tại sao vitamin D lại được bổ sung vào sữa?

Vitamin D lần đầu tiên được thêm vào sữa ở Mỹ vào cuối những năm 1930. Cho đến lúc đó, còi xương là một căn bệnh phổ biến và lan tràn ở trẻ em nghèo sống ở các thành phố ô nhiễm và công nghiệp hóa ở Hoa Kỳ.

Còi xương là một bệnh về xương gây ra các dị tật về xương và tăng trưởng, điển hình là ở trẻ nhỏ. Nó lần đầu tiên được công nhận là một tình trạng y tế vào năm 1650. Mặc dù dầu gan cá đã được sử dụng như một phương pháp điều trị các bệnh khác trong một thời gian, nhưng nó đã không được kê đơn cho bệnh còi xương cho đến năm 1824. Một nghiên cứu mang tính bước ngoặt vào năm 1922 cho thấy rằng trẻ em suy dinh dưỡng bị còi xương có thể được chữa khỏi bằng cách bổ sung sữa nguyên chất hoặc dầu gan cá vào chế độ ăn uống của họ, mở đường cho các nhà nghiên cứu phân lập vitamin D hoạt động vào những năm 1930.

Ban đầu, việc bổ sung vitamin D vào sữa được thực hiện bằng cách chiếu xạ sữa hoặc bằng cách cho bò ăn men đã được chiếu xạ. Nhưng vào những năm 1940, phương pháp này đã được thay thế bằng phương pháp đơn giản và hiệu quả hơn là thêm vitamin D đậm đặc vào sữa, phương pháp này vẫn tiếp tục cho đến ngày nay.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sự Thật Về Calcium Và Vitamin D trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!