Đề Xuất 5/2022 # Sưu Tầm, Vận Dụng Ca Dao, Tục Ngữ Vào Giảng Dạy Phần Triết Học Trong Môn Giáo Dục Công Dân # Top Like

Xem 8,415

Cập nhật nội dung chi tiết về Sưu Tầm, Vận Dụng Ca Dao, Tục Ngữ Vào Giảng Dạy Phần Triết Học Trong Môn Giáo Dục Công Dân mới nhất ngày 22/05/2022 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 8,415 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Nội Dung Qui Luật Phủ Định Của Phủ Định. Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Quy Luật Này?
  • Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định: Phân Tích Nội Dung Và Ý Nghĩa
  • Phương Pháp Ghép Cây Khi Nhân Giống
  • Ưu Điểm Của Phương Pháp Ghép Cây
  • Phương Pháp Cấy Ghép Răng Implant Là Gì? Hiệu Quả Không?
  • Lấy ví dụ minh họa trong dạy phần Triết học trong môn GDCD đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc gắn kết chặt chẽ những quy luật triết học với những luận cứ thực tiễn. Thông qua các ví dụ minh họa làm cho bài giảng sinh động, có tính thuyết phục cao hơn. Qua đó, khơi dậy niềm say mê học tập cũng như rèn luyện cho người học khả năng liên hệ, phân tích, vận dụng tư tưởng triết học vào thực tiễn cuộc sống. Trên cơ sở đó, bài viết sưu tầm và vận dụng ca dao, tục ngữ vào giảng dạy triết học nhằm nâng cao chất lượng dạy học phần Triết học trong môn giáo dục công dân hiện nay. 1. Vận dụng ca dao, tục ngữ minh họa về quan điểm duy vật, quan điểm duy tâm trong triết học

    Việt Nam cũng giống như các dân tộc phương Đông khác, về mặt triết học thường ít bàn về thế giới quan mà chủ yếu bàn về nhân sinh quan. Do đó, vấn đề duy vật và duy tâm khá mờ nhạt so với triết học phương Tây. Một số câu ca dao, tục ngữ đã chứng minh rằng, từ xa xưa, người Việt ta đã có những câu hỏi và lý giải mang tính triết học rất cao. Những câu hỏi mà người Việt đặt ra trong quá trình tác động vào thế giới khách quan thường là vũ trụ này do đâu mà có? Tại sao có mưa, nắng, lũ lụt, biển cả? Tại sao sinh ra được muôn loài?

    Ai là người sinh ra mặt đất? Bà Chày sinh ra mặt đất Ông Chày sinh ra bầu trời Ai là người tạo ra bầu trời? Sông kia ai bới, ai đào mà sâu? Nước non là nước non trời Ai ngăn được nước ai dời được sông?

    Từ xưa, ông cha ta đã có quan niệm mang tính duy vật sâu sắc, không viện dẫn đến thần linh khi cho rằng nguồn gốc của trời đất, muôn loài là do có sự hòa hợp, kết hợp giữa hai mặt đối lập khác biệt nam, nữ, âm, dương hợp thành.

    Mệnh do ngã lập, khúc do kỷ cầu.

    Mặc dù người dân chưa lý giải được nguồn gốc của vũ trụ nhưng có quan điểm duy vật khi cho rằng thế giới vật chất tồn tại khách quan, không do thần linh nào tạo ra, độc lập với ý thức con người.

    Thức đêm mới biết đêm dài Lội sông mới biết sông nào cạn sâu.

    (Khẳng định vai trò làm chủ bản thân, làm chủ vận mệnh của mình. Số mình do mình tự tạo ra, hạnh phúc do mình tự tìm đến).

    (Khuyên con người trong nhận thức và hoạt động cần phải bám sát thực tiễn, phải xuất phát từ thực tế khách quan).

    Thì trời giáng họa cây khoai giữa đồng.

    Bên cạnh những quan niệm mang tính duy vật chất phác, người Việt xưa cũng có quan niệm mang tính rõ nét khi thần thánh hóa sức mạnh của Trời. Đối với họ, Trời là một lực lượng siêu tự nhiên có thể thông hiểu cuộc sống con người, có sức mạnh vạn năng, chi phối cuộc sống con người. Theo quan niệm của người Việt thì Trời không phải là “đấng sáng tạo” mà chỉ là “bao công” luôn trừng trị kẻ xấu. Trời đóng vai trò phân xử, chi phối cuộc sống con người mà thôi. Ai mà nói dối cùng ai,

    Phận nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo.

    Từ chỗ cho rằng số phận con người không thể thay đổi được nên người dân nghèo có tư tưởng tự ti, an phận, thủ thường:

    Cha mẹ sinh con trời sinh tính.

    (Quan niệm duy tâm về số phận con người, xem con người có số phận).

    2 Vận dụng ca dao, tục ngữ minh họa tư tưởng biện chứng, tư tưởng siêu hình

    (Phủ nhận môi trường giáo dục gia đình, cho rằng tính người do trời định).

    Có cột có kèo mới có đòn tay. Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời.

    Từ xưa người Việt Nam đã có cách nhìn tổng thể về bức tranh sinh động của thế giới vật chất. Đó là tính thống nhất trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng của thế giới, đó là các sự vật luôn nằm trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Từ sự quan sát các hiện tượng tự nhiên trong đời sống thường ngày, người Việt Nam đã thấy được sự tác động qua lại giữa các sự vật hiện tượng, có sự ràng buộc nhất định giữa chúng. Đó chính là mối liên hệ phổ biến, tính nhân quả, sự vận động và phát triển không ngừng của thế giới tự nhiên, xã hội:

    (Tư tưởng biện chứng, thời cuộc thay đổi, cuộc sống con người cũng thay đổi không có cái gì là vĩnh viễn).

    Một người làm nên cả họ được cậy, Một người làm bậy cả họ mất nhờ.

    (“Nhập giang” có nghĩa là lội xuống sông, “nhập gia” là vào nhà. Nghĩa là: Lội sông phải tuỳ khúc, vào nhà phải tuỳ tục. Hành động phải phù hợp với thực tế khách quan).

    (Tư tưởng biện chứng, ý nói mối liên hệ lẫn nhau giữa các thành viên trong dòng họ).

    Người có lúc vinh lúc nhục, Nước có lúc đục lúc trong.

    (Tư tưởng biện chứng cho rằng, con người luôn chịu ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh).

    (Sự vật hiện tượng luôn thay đổi, không có cái gì là bất biến).

    Nhờ có phương pháp tư duy biện chứng và khả năng quan sát tinh tế mà người Việt Nam đã đúc rút được kinh nghiệm, dự đoán về thời tiết, khí hậu khá chính xác nhằm phục vụ cho lao động sản xuất và cuộc sống của mình. Mặt khác, tư duy biện chứng giúp cho họ thích nghi với hoàn cảnh, hạn chế đến một mức độ nhất định thiệt hại do hiện tượng tự nhiên gây ra.

    Ngắn tay với chẳng tới trời.

    Trong vốn ca dao, tục ngữ dân tộc, còn có rất nhiều câu thể hiện tư tưởng duy tâm, siêu hình, nó phản ánh đời sống thực tiễn của xã hội thối nát, bất công trong chế độ phong kiến.

    Thân ai nấy lo, phận ai nấy giữ.

    (Quan hệ xã hội phong kiến thối nát, bất bình đẳng. Thân phận những người nghèo khổ bị oan ức không thể bày tỏ được với người có quyền lực).

    3. Vận dụng ca dao, tục ngữ minh họa về nhận thức và thực tiễn Anh tưởng giếng nước sâu,

    (Tư tưởng siêu hình, sống chỉ biết bản thân mình, không có mối liên hệ, quan tâm tới người khác).

    Học khôn học đến chết, học nết học đến già; Ông bảy mươi học ông bảy mốt.

    (Nhận thức phải là một quá trình, đôi khi con người mắc phải sai lầm trong nhận thức).

    Dốt đến đâu học lâu cũng biết.

    (Người Việt quan niệm học là để làm người nên việc học tập phải xảy ra suốt đời).

    (Quan niệm tiến bộ về nhận thức cho rằng, nếu chúng ta cần cù chịu khó, miệt mài học tập sẽ hiểu biết được nhiều kiến thức).

    Non cao cũng có người trèo, Đường dẫu hiểm nghèo cũng có lối đi.

    (Người Việt quan niệm nhận thức của con người mang tính tương đối, do đó không nên đánh giá con người một cách toàn bích).

    Đã đẵn thì vác cả cành lẫn cây.

    (Không có cái gì là con người không làm được).

    Lội sống mới biết sông nào cạn sâu.

    (Khi đã làm thì kiên quyết không dao động, quyết làm cho bằng được).

    (Trong nhận thức phải lấy thực tiễn làm thước đo chân lý).

    Trăm hay không bằng tay quen; Đi một ngày đàng, học một sàng khôn.

    (Quan niệm duy vật, tôn trọng thực tiễn, nhận thức phải dựa vào thực tiễn, lấy thực tiễn làm thước đo chân lý).

    (Mối quan hệ giữa thực tiễn và nhận thức, trong mối quan hệ đó, thực tiễn đóng vai trò quyết định).

    (Mục đích của nhận thức là để phục vụ thực tiễn, trong nền nông nghiệp lúa nước, học tập là để có tri thức ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất lao động).

    Như vậy sưu tầm và vận dụng ca dao, tục ngữ là một phương pháp, cách thức liên hệ thực tiễn hết sức sống động, dễ đi vào lòng người trong dạy học Triết học nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học Triết học hiện nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Luận Biện Chứng Duy Vật Với Việc Nhận Thức Mối Quan Hệ Giữa Tăng Trưởng Kinh Tế Và Phát Triển Văn Hóa, Thực Hiện Tiến Bộ, Công Bằng Xã Hội
  • Biện Chứng Vật Chất Và Ý Thức: Phân Tích Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận.
  • Hướng Dẫn Dạy Tiếng Anh Cho Bé Từ 0
  • Cách Dạy Bé Học Tiếng Anh 3, 4, 5 Tuổi Tại Nhà Hiệu Quả Nhất!
  • Unit 1: Phương Pháp Tự Luyện Phát Âm Tiếng Anh Chuẩn
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Sưu Tầm, Vận Dụng Ca Dao, Tục Ngữ Vào Giảng Dạy Phần Triết Học Trong Môn Giáo Dục Công Dân trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100