Đề Xuất 12/2022 # Thực Hiện Hiệu Quả Công Tác Khoa Học Quân Sự Góp Phần Xây Dựng Quân Đội / 2023 # Top 17 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Thực Hiện Hiệu Quả Công Tác Khoa Học Quân Sự Góp Phần Xây Dựng Quân Đội / 2023 # Top 17 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thực Hiện Hiệu Quả Công Tác Khoa Học Quân Sự Góp Phần Xây Dựng Quân Đội / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

CNQP&KT- Phóng viên Tạp chí CNQP&Kinh tế cùng Thiếu tướng, PGS, TS. Ngô Văn Giao, Cục trưởng Cục Khoa học quân sự (Bộ Quốc phòng), đề cập tới những nội dung chủ yếu của công tác khoa học, công nghệ và môi trường trong Quân đội.

Thiếu tướng, PGS, TS. Ngô Văn Giao.

ĐÓNG GÓP THIẾT THỰC, HIỆU QUẢ

Phóng viên (PV): Thưa đồng chí Thiếu tướng, nói một cách vắn tắt thì công tác khoa học quân sự đã có đóng góp như thế nào đối với Quân đội ta trong thời gian qua?

Thiếu tướng Ngô Văn Giao: Công tác khoa học quân sự, cụ thể hơn là công tác khoa học, công nghệ và môi trường (KHCN-MT) trong Quân đội là một bộ phận không thể tách rời của nền KHCN-MT quốc gia. Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng và được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, nhất là Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, công tác KHCN-MT đã có nhiều đóng góp thiết thực, hiệu quả phục vụ nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) của Quân đội.

Trong lĩnh vực khoa học nghệ thuật quân sự, kết quả nghiên cứu đã cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước các vấn đề về dự báo tình huống chiến lược; tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Cung cấp cơ sở lý luận khoa học góp phần xây dựng và triển khai chiến lược quốc phòng Việt Nam, chiến lược quân sự Việt Nam; nghiên cứu các vấn đề về xây dựng tổ chức lực lượng, phương châm chiến lược, hình thức chiến tranh, hình thức tác chiến, nguyên tắc chỉ đạo tác chiến, phát triển nghệ thuật tác chiến chiến lược, chiến dịch, chiến thuật…

PV: Đồng chí có thể nói rõ hơn về hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật, công nghệ quân sự, trong đó có sản phẩm vũ khí, trang bị kỹ thuật do các nhà máy quốc phòng sản xuất?

Thiếu tướng Ngô Văn Giao: Có thể nói, đối với hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật, công nghệ và y – dược quân sự, thời gian qua, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã tập trung xây dựng và triển khai nhiều chương trình, đề án KHCN trọng điểm cấp quốc gia, như: Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia, chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao và nhiều đề tài độc lập cấp Nhà nước. Đồng thời, tích cực xây dựng và triển khai nhiều chương trình, đề án, nhiệm vụ KHCN cấp Bộ Quốc phòng, cấp bộ, ngành, địa phương. Nhờ đó, các viện nghiên cứu, các nhà máy quốc phòng đã từng bước làm chủ trong thiết kế, chế tạo nhiều tổ hợp vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao, năng lực nghiên cứu trên một số lĩnh vực đã có bước tiến lớn, điển hình như: Công nghệ điện tử vi mạch, quang điện tử, tự động điều khiển, vật liệu, cơ khí chính xác, công nghệ thông tin… Nhiều sản phẩm nghiên cứu đã đưa vào phục vụ huấn luyện, SSCĐ, bảo đảm sức khỏe bộ đội.

PV: Một trong những vấn đề “nóng” hiện nay mà người dân đang rất quan tâm là môi trường. Vậy, đối với mặt công tác này, các đơn vị Quân đội đã thực hiện những nhiệm vụ gì, thưa đồng chí?

Thiếu tướng Ngô Văn Giao: Những năm qua, các đơn vị Quân đội đã chủ động nghiên cứu, làm nòng cốt trong xử lý, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường. Tổ chức xử lý chất độc hóa học/dioxin ở các khu vực sân bay Đà Nẵng, Biên Hòa và Phù Cát; thúc đẩy các hoạt động giải quyết chính sách cho nạn nhân chất độc da cam/dioxin; các hoạt động khắc phục hậu quả bom, mìn, vật nổ sau chiến tranh, thông qua những dự án hợp tác với các tổ chức quốc tế và nhiều bộ, ngành, địa phương. Với sự cố gắng, nỗ lực rất lớn của các đơn vị, nhiều vùng “đất chết” đã được hồi sinh, góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội tại các địa phương.

GẮN CHẶT NGHIÊN CỨU VỚI SẢN XUẤT

PV: Đồng chí đánh giá như thế nào về đội ngũ cán bộ KHCN trong Quân đội hiện nay?

Thiếu tướng Ngô Văn Giao: Tôi có thể khẳng định rằng, qua việc triển khai các nhiệm vụ KHCN-MT, hằng năm, toàn quân đã huy động hàng nghìn lượt nhà khoa học tham gia nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện nâng cao mặt bằng trình độ KHCN quân sự, xây dựng đội ngũ cán bộ KHCN có trình độ cao trên các lĩnh vực. Hiện nay, đội ngũ cán bộ KHCN Quân đội đã có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng; số cán bộ có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, học hàm phó giáo sư, giáo sư không ngừng tăng. Trong Quân đội đã hình thành một số cơ sở nghiên cứu sâu chuyên ngành và đa ngành, một số tập thể nghiên cứu sâu, nhóm nghiên cứu trẻ trên một số lĩnh vực. Đây là tiền đề quan trọng để chủ động và sẵn sàng tiếp cận thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0).

PV: Thưa đồng chí, trước những cơ hội và thách thức của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, trong những năm tới, công tác KHCN-MT của Quân đội cần tập trung vào những nội dung gì?

Thiếu tướng Ngô Văn Giao: Để khẳng định vị trí, vai trò của KHCN-MT đối với sự lớn mạnh của Quân đội và sự phát triển bền vững của quốc gia trong kỷ nguyên của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, thời gian tới, công tác KHCN-MT trong Quân đội tiếp tục được triển khai đồng bộ, hiệu quả.

Trước hết là tổ chức nghiên cứu bổ sung, phát triển hệ thống lý luận về nghệ thuật quân sự Việt Nam, cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch định chủ trương, chính sách về quân sự, quốc phòng. Tập trung mọi nỗ lực nghiên cứu, tạo ra các sản phẩm KHCN có tính đột phá; một số sản phẩm mang tầm cỡ quốc gia. Gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất quốc phòng. Chủ động đổi mới cơ bản, toàn diện, đồng bộ cơ chế quản lý và cơ chế hoạt động KHCN-MT trong Quân đội, phù hợp với cơ chế, chính sách KHCN quốc gia.

PV: Vậy đâu là giải pháp thực hiện, thưa đồng chí?

Thiếu tướng Ngô Văn Giao: Tôi nghĩ rằng, để đạt được những mục tiêu trên, các cấp bộ Đảng, người chỉ huy cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện, gắn kết chặt chẽ việc thực hiện nhiệm vụ KHCN-MT với nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Thực hiện đổi mới đồng bộ cơ chế quản lý, cơ chế tài chính, tổ chức hoạt động KHCN-MT; tăng cường đầu tư nguồn lực cho hoạt động KHCN-MT, đưa Quỹ phát triển KHCN của Bộ Quốc phòng vào hoạt động; phát huy mô hình các doanh nghiệp quân đội tham gia nghiên cứu KHCN, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật (VKTBKT). Trong xây dựng và triển khai nhiệm vụ KHCN bảo đảm theo hướng phục vụ thiết thực nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Nhiệm vụ KHCN phải xuất phát từ nhu cầu đặt hàng của đơn vị; đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, đẩy mạnh tiếp cận thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Chú trọng ứng dụng kết quả nghiên cứu, nâng cao tỷ lệ sản phẩm nghiên cứu đưa vào trang bị trong Quân đội.

SỚM CÓ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TRONG CÁC TỔ CHỨC KHCN

PV: Để công tác KHCN-MT của Quân đội phát triển, đồng chí có đề xuất gì với Đảng, Nhà nước?

Thiếu tướng Ngô Văn Giao: Để công tác KHCN-MT của Quân đội phát triển, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, theo tôi, Đảng, Nhà nước, Chính phủ cần tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, ngân sách cho hoạt động KHCN-MT. Việc đầu tư nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu của các tổ chức KHCN trong Quân đội, nhất là đối với VKTBKT công nghệ cao. Tạo điều kiện cho các cơ quan, đơn vị của Bộ Quốc phòng tham gia các chương trình, đề án tiếp cận các lĩnh vực công nghệ trọng điểm của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Tiếp tục quan tâm tạo điều kiện thuận lợi bằng các cơ chế, chính sách đặc thù trong việc đào tạo, xây dựng và đãi ngộ đội ngũ cán bộ KHCN; đồng thời sớm có chính sách hỗ trợ các tổ chức KHCN trong Quân đội có khả năng nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm lưỡng dụng; chuyển đổi mô hình hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Viện Thuốc phóng – Thuốc nổ (Tổng cục CNQP).      Ảnh: THÁI ANH

PV: Nhân đề cập đến cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đồng chí từng là Viện trưởng Viện Thuốc phóng – Thuốc nổ (Tổng cục Công nghiệp quốc phòng), trực tiếp chỉ đạo, tạo tiền đề quan trọng để Viện thực hiện thành công mô hình tự chủ một phần tài chính theo Nghị định 115 của Chính phủ, xin đồng chí chia sẻ một vài kinh nghiệm về vấn đề này?

Thiếu tướng Ngô Văn Giao: Cách đây gần 6 năm, Bộ Quốc phòng ban hành Quyết định số 823 về việc thí điểm thực hiện cơ chế tự chủ một phần tài chính theo Nghị định 115 của Chính phủ đối với Viện Thuốc phóng – Thuốc nổ. Đây là tổ chức KHCN đầu tiên và duy nhất trong Quân đội thí điểm thực hiện cơ chế này. Sau thời gian triển khai, hiện nay, Viện đã tự chủ việc trả lương cho 2/3 số cán bộ, công nhân viên, người lao động, mở ra một hướng phát triển mới.

Theo tôi, để triển khai nhân rộng mô hình này, các viện nghiên cứu phải có định hướng KHCN theo chức năng nhiệm vụ, xác định rõ lợi thế so sánh với các đơn vị khác. Nhà nước, Bộ Quốc phòng cũng cần có cơ chế đặt hàng, cơ chế giao nhiệm vụ, cơ chế về tài chính, ngân sách, khoán chi cho phù hợp; nhất là phải linh hoạt trong giao nhiệm vụ, đề tài KHCN hằng năm và tập trung nguồn lực ban đầu để cho các viện có đủ điều kiện hoạt động. Cùng với đó, phải có các văn bản hướng dẫn, cụ thể hóa Nghị định của Chính phủ để tăng cường tính tự chủ cho các đơn vị. Đặc biệt, phải gắn nghiên cứu với sản xuất; có cơ chế phù hợp, rõ ràng về quyền sở hữu trí tuệ; tiếp tục đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ khả năng thực hiện các chương trình, đề tài, dự án lớn. Có như thế mới kịp thời giải quyết được các vướng mắc trong quá trình chuyển đổi, từng bước tự chủ về tài chính.

PV: Là người được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng giao giữ cương vị Cục trưởng Cục Khoa học quân sự chưa lâu, đồng chí có chia sẻ gì với đội ngũ những người làm công tác khoa học quân sự trong toàn quân?

Thiếu tướng Ngô Văn Giao: Với chức trách, nhiệm vụ được giao, bản thân tôi xác định phải không ngừng nỗ lực, cố gắng đóng góp cho sự phát triển của công tác khoa học quân sự trong Quân đội. Tất nhiên, “một cây làm chẳng nên non”, đồng hành và sát cánh cùng tôi là đội ngũ những người làm công tác khoa học quân sự trong toàn quân. Tôi xin chia sẻ một điều, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã, đang và sẽ luôn chủ động, nỗ lực khắc phục khó khăn, triển khai thực hiện hiệu quả công tác khoa học quân sự, góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại và có những lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.

 PV: Xin cảm ơn đồng chí!

HƯƠNG LÊ (thực hiện)

Học Viện Khoa Học Quân Sự / 2023

Tuy nhiên, trong chuyên ngành Quan hệ quốc tế, môn Phân tích sự kiện quốc tế, cho đến nay, vẫn được nhìn nhận là một môn học mới, chưa được triển khai rộng khắp tại các cơ sở đào tạo ở Việt Nam. Môn học này mới được đưa vào giảng dạy tại một số cơ sở đào tạo như Học viện Ngoại giao, Học viện Khoa học Quân sự… Mỗi cơ sở đào tạo lại căn cứ vào chuẩn đầu ra của mình để xây dựng nội dung chương trình giảng dạy phù hợp với đối tượng được đào tạo là sinh viên hệ Cử nhân hoặc học viên hệ Thạc sĩ. Cuốn Giáo trình Phân tích sự kiện quốc tế được tiếp cận từ góc độ khoa học chính trị, bằng phương pháp chung là nghiên cứu quan hệ quốc tế, nghiên cứu các động thái và đưa ra quy trình cụ thể, cần thiết để phân tích một sự kiện trong đời sống quốc tế.

Chương 1 làm rõ khái niệm, bản chất của sự kiện quốc tế và những kỹ năng cần thiết đối với nhà nghiên cứu khi tiến hành phân tích sự kiện quốc tế.

Chương 2 đề cập các phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế nói chung và khả năng ứng dụng của các phương pháp này trong phân tích sự kiện quốc tế. Tiếp cận so sánh là cách được vận dụng nhằm làm rõ các nội dung của chương.

Chương 3 nêu quy trình tổng thể và các bước cần triển khai khi tiến hành phân tích sự kiện quốc tế, đồng thời cũng làm rõ những vấn đề mà nhà nghiên cứu cần lưu tâm trong từng bước phân tích sự kiện quốc tế. Đây là chương nền tảng giúp các nhà nghiên cứu hiểu các bước cụ thể cần triển khai.

Chương 4 đề cập và nhấn mạnh vai trò của thông tin đối với việc phân tích sự kiện quốc tế. Bên cạnh đó, chương này cũng làm rõ kỹ năng thu thập và cách xử lý thông tin khi phân tích sự kiện quốc tế, trong đó có chỉ ra những ưu điểm và nhược điểm của từng phương pháp.

Chương 5 trình bày khái niệm, tầm quan trọng của việc làm đại sự ký đối với công tác tác chiến và việc triển khai phân tích sự kiện quốc tế. Đồng thời, những yêu cầu và quy trình làm đại sự ký trong phân tích sự kiện quốc tế cũng được trình bày cụ thể.

Chương 6 tập trung nêu và phân tích khái niệm, tầm quan trọng của kỹ năng quan sát cũng như các yêu cầu đối với người phân tích sự kiện quốc tế. Bên cạnh đó, nội dung của chương cũng đề cập cụ thể quy trình quan sát trong phân tích sụ kiện quốc tế.

Chương 7 đề cập khái niệm, tầm quan trọng của cách tiếp cận có tư duy và tính khách quan của nhà nghiên cứu khi phân tích sự kiện quốc tế. Những yếu tố ảnh hưởng đến cách tiếp cận có tư duy và tính khách quan cũng như cách áp dụng hai yếu tố này trong phân tích sự kiện quốc tế cũng là nội dung được làm rõ trong chương này.

Chương 8 giúp người học, người đọc nắm được dạng thức làm biên bản trình bày nội dung tổng hợp thông tin trong quá trình phân tích sự kiện quốc tế; làm rõ các yêu cầu và những điểm cần lưu ý khi làm biên bản trong phân tích sự kiện quốc tế.

Chương 9 đề cập khái niệm, yêu cầu, nội dung và các hình thức trình bày kết quả phân tích sự kiện quốc tế trong tương thích với các dạng thức trình bày kết quả nghiên cứu của một công trình nghiên cứu khoa học thuộc chuyên ngành Quan hệ quốc tế.

Một điểm đáng lưu ý khác của cuốn giáo trình này là nó được xây dựng dựa trên sự kế thừa lý thuyết của ngành Quan hệ quốc tế đã được giảng dạy ở một số cơ sở đào tạo như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Ngoại giao, Học viện Khoa học Quân sự, kết hợp với phần bài tập thực hành được xây dựng dựa trên sự tham gia đóng góp của các sinh viên chuyên ngành tại Học viện Ngoại giao.

Mặc dù đã rất nỗ lực trong quá trình biên soạn, song cuốn Giáo trình Phân tích sự kiện quốc tế chắc chắn vẫn còn những thiếu sót. Vì vậy, nhóm tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà nghiên cứu, các bạn sinh viên, học viên và bạn đọc để cuốn giáo trình được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau.

Trích Giáo trình Phân tích sự kiện quốc tế – Thiếu tướng, chúng tôi Đặng Trí Dũng – Giám đốc Học viện Khoa học Quân sự (Chủ biên)

Chính Ủy Quân Đội: Tăng Một Tướng Công An Thì Phải Thêm Hai Tướng Quân Đội! / 2023

“Công an nói dựa trên quy mô hành chính cấp tỉnh, nôm na là rộng hay hẹp, nhưng quốc phòng là tính tầm quan trọng trong khu vực phòng thủ. Điều này có nghĩa là trọng điểm của quốc phòng chắc chắn là trọng điểm về an ninh, nhưng trọng điểm của an ninh chưa chắc là trọng điểm của quốc phòng” – đại biểu Phan Anh Khoa nêu ý kiến.

“Giải thích của Bộ trưởng Bộ Công an tôi thấy chưa thuyết phục. Đề nghị giữ trần quân hàm Giám đốc Công an cấp tỉnh như hiện nay là Đại tá thôi. Nếu phong tướng như dự thảo, thì để tương đương giữa hai bên, cứ một tướng công an sẽ thêm hai tướng quân đội nữa, liệu ngân sách có chịu nổi không? Mà chỉ công an phong tướng thì không ổn. Cá nhân tôi là Chính uỷ Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, tôi nghĩ phong tướng như thế là nhiều quá” – Đại tá Phan Anh Khoa nói.

Đại tá Phan Anh Khoa

Phát biểu góp ý xây dựng luật, đại biểu Trương Trọng Nghĩa (TP. Hồ Chí Minh) cho rằng, muốn quy định cấp bậc quân hàm cao nhất của công an thì phải xác định Cục nào quan trọng thì mới phong tướng. “Làm sĩ quan quân đội hay công an, ai cũng mong được lên tướng, đó là phấn đấu, là mong muốn bình thường, nhưng không nên để có sự so sánh giữa quân đội và công an” – ông Nghĩa nói.

Đại biểu Lâm Quang Đại (TP. Hồ Chí Minh) cho biết đồng ý với phương án phong tướng cho Giám đốc Công an tỉnh.

Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm: Phong tướng cũng không vượt “trần”

Đại biểu Bùi Mậu Quân (Hải Dương) thì nêu quan điểm: “Tương đồng với quân đội thì cũng nên mức độ. Công an không có quân khu, mà quân khu có tướng (415 tướng), nhiều tỉnh có cả biên phòng và cảnh sát biển, đều tướng có hợp lý không?”.

Giải thích về quy định trong dự thảo luật, Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm cho rằng, nhiệm vụ của lực lượng Công an so với 10 năm trước đây nặng nề hơn rất nhiều. Trong khi đó, dù có phong tướng cho Giám đốc Công an tất cả các địa phương cũng không vượt quá “trần” Bộ Chính trị cho phép.

“Hiện có cơ chế chung, Bộ Chính trị đã cho cơ cấu, cấp hàm rất rõ với tổng số tướng là 205 người, chúng tôi không vượt qua số đó”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm

Thượng tướng Tô Lâm phân tích, cơ cấu hiện nay chỉ có 1 Đại tướng là Bộ trưởng, nhưng không phải cứ Bộ trưởng sẽ được Đại tướng, mà phải đủ 4 năm Thượng tướng mới được nâng hàm. Đó là lý do vì sao hiện Bộ Công an vẫn chưa có Đại tướng. 6 Thứ trưởng được cơ cấu trần hàm Thượng tướng, nhưng vẫn phải đủ niên hạn.

Ông Tô Lâm cũng cho biết, 205 tướng trong cơ cấu đủ để phong tướng cho Giám đốc 63 tỉnh. “Hiện có 60 cục và 63 tỉnh, thành thì bố trí tướng hết mới là hơn 120 người, cộng lại cả Bộ vẫn chưa đủ 200 người”, Thượng tướng Tô Lâm nhấn mạnh.

“Các đồng chí nói không phải tỉnh nào cũng tướng, nhưng địa phương lại nói sao tỉnh kia được mà tôi không được, cấp ủy địa phương cũng đề nghị xem xét. Trước mắt, đề nghị những tỉnh loại một, thành phố trực thuộc Trung ương, tức là khoảng hơn 10 địa phương được bố trí cấp tướng” – ông Tô Lâm nói.

Tuy nhiên, theo Bộ trưởng, điều này cũng rất bất cập với điều hành thực tế. “Cục trưởng và Giám đốc là tương đương nhau về cấp hành chính, Bộ Công an quy hoạch số này là Thứ trưởng. Nếu Giám đốc địa phương là Đại tá được đề bạt Thứ trưởng thì sẽ không thể có Thượng tướng. Cấp tỉnh làm rất nhiều công việc, bố trí quân hàm tương đương với cấp Cục mới làm được những việc như vậy, và vẫn đảm bảo không vượt qua trần quy định chung của Bộ Chính trị chứ không phải làm tràn lan”, Bộ trưởng Bộ Công an phân tích.

“Bộ tinh gọn lên, tỉnh mạnh lên. Không bớt đi chức năng nhiệm vụ gì, chỉ có tăng lên thôi mà chính sách lại bớt đi, thì quá thiệt rồi, mà Nghị quyết đã nói rõ là phải chú ý đến chính sách cán bộ,” ông Tô Lâm nêu ý kiến.

Ông Phạm Minh Chính – Trưởng ban Tổ chức Trung ương

Ông Phạm Minh Chính – Trưởng ban Tổ chức Trung ương cũng tán thành với đề xuất trần quân hàm của Giám đốc Công an cấp tỉnh là Thiếu tướng nhưng cho rằng, cần chọn những địa bàn trọng điểm về an ninh trật tự để áp dụng quy định này.

Xuân Hưng

“Khi sửa đổi Luật, để tránh số lượng tướng tăng lên so với Luật hiện hành thì phải khống chế về tiêu chí, đồng thời khống chế tổng số cấp tướng mà lực lượng Công an được phong để đảm bảo chặt chẽ”, ông Chính nói.

Đẩy Mạnh Nghiên Cứu Khoa Học Quân Sự Ở Học Viện Quốc Phòng / 2023

Học viện Quốc phòng (HVQP) là một học viện lớn của quốc gia, Chính phủ giao cho Bộ Quốc phòng quản lý, điều hành, chỉ huy. Tuy thành lập sau một số học viện khác, nhưng HVQP đã nỗ lực vượt bậc, trưởng thành toàn diện, xứng đáng với tầm vóc là Học viện cao nhất trong hệ thống nhà trường Quân đội; trong đó, hoạt động nghiên cứu khoa học quân sự, quốc phòng tầm chiến dịch – chiến lược được Học viện luôn coi là một trong những nhiệm vụ chính trị hàng đầu.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Lễ khai giảng năm học mới của Học viện (Ảnh: Trí Dũng/mod.gov.vn)

Hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện những năm qua được triển khai tương đối toàn diện, đạt những kết quả quan trọng. Đó là: thường xuyên tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, dự báo tình hình và xu thế phát triển của thế giới, khu vực và trong nước, nhất là dự báo chiến tranh, xác định các loại hình tác chiến chiến lược; cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng hoạch định chủ trương, đường lối tăng cường sức mạnh quốc phòng, kết hợp kinh tế với quốc phòng, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới. Hệ thống giáo trình, tài liệu lý luận nghệ thuật quân sự Việt Nam đã được biên soạn, bổ sung những kiến thức mới, cập nhật thông tin cho việc hình thành hệ thống kiến thức, kỹ năng giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn, phù hợp với chương trình đào tạo, bảo đảm tính khoa học, tính hiện đại; đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo của Học viện.

Trong tương lai, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra) sẽ là cuộc chiến tranh nhân dân chống quân xâm lược trong điều kiện tác chiến mới. Tính chất chiến tranh, đối tượng và phương pháp tác chiến, vũ khí trang bị và khả năng bảo đảm đều có sự phát triển so với chiến tranh giải phóng trước đây. Cùng với đó, vấn đề đấu tranh quốc phòng, an ninh phi truyền thống trong thời bình đã, đang diễn ra phức tạp, khó lường. Tình hình đó đặt ra yêu cầu mới, phải tiếp tục đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển nghệ thuật quân sự sát với thực tiễn. Theo đó, công tác nghiên cứu khoa học của Học viện đang tập trung thực hiện một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc và cụ thể hoá chủ trương, quan điểm của Đảng trong công tác nghiên cứu khoa học, phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam thời kỳ mới. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc đảm bảo cho công tác nghiên cứu khoa học phát triển đúng hướng, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nội dung quán triệt phải toàn diện; trong đó, tập trung quán triệt đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân trong điều kiện mới được xác định trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng và trong Nghị quyết 791-NQ/QUTW ngày 30-12-2012 của Quân ủy Trung ương “Về lãnh đạo công tác khoa học, công nghệ và môi trường trong quân đội đến năm 2020 và những năm tiếp theo”. Nghiên cứu khoa học quân sự ở HVQP phải lấy đường lối chính trị, quân sự của Đảng, Chiến lược phát triển khoa học công nghệ, Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia làm cơ sở để phát triển khoa học; phải tăng cường nghiên cứu lý luận phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam, nghệ thuật chiến tranh nhân dân để vận dụng phù hợp trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới. Tập trung nghiên cứu và từng bước phát triển, bổ sung, hoàn thiện và cụ thể hoá Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân vững mạnh; xây dựng Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, chủ động ngăn ngừa và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh kiểu mới của địch. Đồng thời, mở rộng hợp tác nghiên cứu, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu triển khai…, nghiên cứu giải quyết vấn đề cấp thiết trước mắt với cơ bản lâu dài, lý luận với thực tiễn, v.v.

Hai là, tập trung nghiên cứu phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam trong tình hình mới. Đây là nội dung quan trọng có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và là nhiệm vụ cốt lõi chủ yếu trong nghiên cứu khoa học của HVQP. Mục đích cao nhất của nghiên cứu khoa học, phát triển nghệ thuật quân sự là khám phá, phát hiện, đề xuất những nội dung mới, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trước hết, cần nghiên cứu dự báo xu thế phát triển của thế giới, khu vực và trong nước; các nguy cơ, thách thức tác động đến quốc phòng, quân sự; các tình huống tranh chấp, xung đột có thể xảy ra ở biên giới đất liền, trên Biển Đông…; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; các hình thái, phương thức tiến hành chiến tranh xâm lược của kẻ thù đối với Việt Nam… Từ đó, nghiên cứu đề xuất mục tiêu, phương châm, phương thức tiến hành chiến tranh và những giải pháp bảo đảm cho chiến tranh và nghiên cứu chỉ đạo thực hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Thứ hai, nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện lý luận về cơ chế vận hành trong khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố; nghệ thuật tổ chức tác chiến phòng thủ, phòng ngự biển, đảo; các vấn đề chống khủng bố, chống bạo loạn lật đổ, ly khai trong điều kiện mới. Thứ ba, nghiên cứu tính chất, đặc điểm một số cuộc chiến tranh gần đây trên thế giới và tình hình thực tiễn của Việt Nam. Cần thấy rằng: chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong tương lai là cuộc chiến tranh có sự phát triển so với trước, nhất là về đối tượng tác chiến; quy mô, thời gian, không gian, phương thức tiến hành; âm mưu, thủ đoạn, tổ chức lực lượng; đặc biệt là địch sẽ sử dụng vũ khí công nghệ cao, tác chiến điện tử mạnh, chiến tranh mạng, tiến công hoả lực đường không, tiến công đường biển, tác chiến phi trực tiếp, phi đối xứng, tác chiến liên hợp. Về ta, cũng có những phát triển mới, nhiều thuận lợi và thời cơ hơn. Đó là tiến hành chiến tranh trong điều kiện nước nhà có độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, có nhiều thành tựu quan trọng của hơn 25 năm đổi mới; có tiềm lực quốc phòng, quân sự, kinh tế phát triển, chính trị ổn định; có vị thế cao trên trường quốc tế, nhất là trong khối ASEAN; trình độ sẵn sàng chiến đấu của quân và dân ta có bước phát triển mới. Vì vậy, nghiên cứu khoa học phát triển nghệ thuật quân sự phải luôn cập nhật, phát hiện những vấn đề mới, tìm giải pháp nhằm hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu cơ bản của đối phương; phát huy tối đa chỗ mạnh, hạn chế, khắc phục chỗ yếu tạm thời của ta, kiên quyết đánh thắng địch.

Học viện luôn xác định công tác nghiên cứu khoa học phải gắn chặt với giảng dạy, kịp thời phổ biến kết quả nghiên cứu và đưa vào giảng dạy. Nghiên cứu khoa học nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống tài liệu, giáo trình phục vụ huấn luyện; đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp huấn luyện phù hợp với các đối tượng, nhất là đối tượng đào tạo cấp chiến dịch – chiến lược, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh đối tượng 1 với nguyên tắc, lý luận dạy học hiện đại. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin phù hợp với đặc thù, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và huấn luyện đào tạo; từng bước đưa Trung tâm mô phỏng tác chiến chiến dịch – chiến lược vào hoạt động.

Bốn là, tích cực đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, cán bộ làm công tác khoa học có trình độ cao. Xuất phát từ vị trí, vai trò, tiêu chuẩn của đội ngũ làm công tác khoa học và những đặc trưng hoạt động giảng dạy, đội ngũ làm công tác khoa học phải có trình độ, năng lực toàn diện, chuyên sâu về khoa học cơ bản, khoa học chuyên ngành, đặc biệt là khoa học nghệ thuật quân sự. Vì vậy, Thường vụ Đảng ủy và Ban Giám đốc Học viện đã coi trọng công tác quy hoạch, phát triển đội ngũ làm công tác nghiên cứu khoa học, bảo đảm yêu cầu về số lượng và chất lượng; chú ý đội ngũ cán bộ khoa học trẻ, khoa học đầu ngành. Ngoài những tiêu chuẩn chung của người cán bộ, đảng viên về phẩm chất, đạo đức, bản lĩnh cách mạng…, người làm công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học quân sự phải có trình độ sau đại học và kiến thức chuyên ngành sâu, kiến thức chung rộng, biết sử dụng ngoại ngữ thành thạo để đọc, tra cứu, tham khảo tài liệu nước ngoài, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, thái độ trung thực và tinh thần nghiên cứu khoa học nghiêm túc, biết khai thác tốt những tri thức mới của thời đại, những thành tựu và truyền thống quân sự của dân tộc.

Năm là, đẩy mạnh công tác thông tin khoa học, kịp thời truyền tải kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu. Hằng năm, Học viện được giao nghiên cứu nhiều đề tài khoa học ở các cấp và được tổ chức triển khai nghiêm túc, nên nhiều đề tài đạt chất lượng cao. Kết quả nghiên cứu khoa học đã góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước, Quân đội trong hoạch định đường lối, chủ trương, xây dựng Quân đội, phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời kỳ CNH,HĐH đất nước. Việc đẩy mạnh công tác thông tin khoa học qua mạng MISTEN, một mặt, kịp thời truyền tải các kết quả nghiên cứu của Học viện cho toàn quân làm tài liệu tham khảo, mở rộng tri thức khoa học quân sự cho cán bộ các cấp…; mặt khác, để tránh trùng lặp trong đề xuất đề tài nghiên cứu khoa học, tiết kiệm ngân sách cho Nhà nước.

Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, phát triển nghệ thuật quân sự là đòi hỏi khách quan cấp thiết cả trước mắt và lâu dài, góp phần nâng cao vị thế của HVQP ở trong nước, khu vực và trên thế giới.

Trung tướng, PGS, TS. VÕ TIẾN TRUNG

Uỷ viên BCHTƯ Đảng, Giám đốc Học viện

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thực Hiện Hiệu Quả Công Tác Khoa Học Quân Sự Góp Phần Xây Dựng Quân Đội / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!