Đề Xuất 1/2023 # Tìm Hiểu Chung Về Tác Phẩm Cô Bé Bán Diêm # Top 5 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 1/2023 # Tìm Hiểu Chung Về Tác Phẩm Cô Bé Bán Diêm # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tìm Hiểu Chung Về Tác Phẩm Cô Bé Bán Diêm mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Tìm hiểu chung

a. Xuất xứ

– Đoạn trích Cô bé bán diêm trích trong tác phẩm Cô bé bán diêm – một trong những truyện ngắn hay, nổi tiếng giàu giá trị nhân văn.

b. Bố cục: 3 phần

– Phần 1 (từ đầu… “cứng đờ ra”): Hoàn cảnh đáng thương của cô bé bán diêm.

– Phần 2 (tiếp… “chầu Thượng đế”): Những lần quẹt diêm những mơ ước giản dị hiện ra.

– Phần 3 (còn lại) Cái chết của cô bé bán diêm và thái độ của mọi người.

c. Tóm tắt

        Truyện kể về một cô bé bán diêm trong đêm giao thừa. Cô bé có một hoàn cảnh khó khăn mẹ và bà đều đã mất em phải sống với một người bố độc ác trong một căn nhà tồi tàn. Vào đêm giao thừa em đi bán diêm với một bộ quần áo mỏng manh rách rưới và cái bụng không có gì ăn. Nhưng em không dám về nhà vì sợ rằng về nhà bố sẽ đánh khi chưa bán được bao diêm nào cả. Em rét quá không thể tiếp tục đi được nữa nên đã ngồi vào một xó nhỏ giữa hai bức tường. Em quẹt diêm để sưởi ấm. Và khi những que diêm được quẹt lên bao mộng tưởng trong đầu em xuất hiện. Đến khi em quẹt que diêm thứ tư thì người bà hiền từ hiện lên. Em cầu khẩn bà hãy cho em được đi cùng bà. Cuối cùng thì hai bà cháu đã cùng cầm tay nhau bay lên thiên đường nơi mẹ đang ở đó chờ.

2. Giá trị nội dung và nghệ thuật:

a. Giá trị nội dung

– Tình cảnh đáng thương của cô bé bán diêm nghèo khổ, qua đó thể hiện niềm xót thương, đồng cảm của tác giả với những con người bất hạnh.

b. Giá trị nghệ thuật

– Trí tưởng tượng bay bổng.

– Đan xen yếu tố thật và mộng tưởng.

– Kết hợp tự sự, miêu tả, biểu cảm.

– Kết cấu tương phản, đối lập.

Cô Bé Bán Diêm Của An

An-đéc-xen (1805-1875), sinh ra trong một gia đình nghèo, từ nhỏ đã tự lập kiếm sống, lưu lạc nhiều nơi.

Truyện của ông nhẹ nhàng, toát lên lòng yêu thương con người, đượm màu sắc hư ảo và thơ mộng, thể hiện niềm tin vào sự thắng lợi cuối cùng của cái tốt đẹp trên thế gian.

Ông là nhà văn vĩ đại của ĐM thế kỷ XIX, là danh nhân văn hoá thế giới.

Bạn đọc khắp năm châu quen thuộc với nhiều truyện của ông như “Cô bé bán diêm”, “Bầy chim thiên nga”, “Nàng tiên cá”, “Bộ quần áo mới của hoàng đế”, “Nàng công chúa và hạt đậu”…

Đoạn trích: Cô bé bán Diêm trích trong “Cô bé bán diêm” – một trong những truyện ngắn hay nổi tiếng, giàu chất nhân văn.

Nội dung: Bằng nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, đan xen giữa hiện thực và mộng tưởng, với các tình tiết diễn biến hợp lí, tác phẩm “Cô bé bán diêm” của An- đéc-xen truyền cho chúng ta lòng thương cảm sâu sắc đối với một em bé bất hạnh.

* Gia cảnh.

Bà nội và mẹ đã qua đời.

Sống với bố khó tính – hay chửi mắng.

Nhà nghèo, nơi ở tối tăm.

Phải đi bán diêm để kiếm sống.

⇒ Em bé thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần. Em phải chịu cảnh sống thiệt thòi hơn so với các bạn cùng trang lứa.

* Bối cảnh của truyện.

Thời gian: Đêm giao thừa.

Không gian: Rét buốt dữ dội, tuyết rơi đầy trời. Em bé một mình cô đơn, đói rét, lang thang trên đường để mong bán được một bao diêm hay có ai bố thí cho một chút

Mọi người xung quanh thờ ơ với em

→ Em hoàn toàn ko nơi nương tựa.

* Nghệ thuật tương phản.

→ Gợi tình cảnh đáng thương của em bé, gợi cho người đọc sự cảm thông với nỗi đau khổ mà những con người bất hạnh phải chịu, nhắc nhở sự quan tâm, giúp đỡ của mọi người. ⇒ Nêu bật nỗi cực khổ của cô bé bán diêm, gợi niềm thương cảm cho người đọc

Em bé quẹt diêm 5 lần và mộng tưởng đẹp đẽ cứ hiện ra.

Mộng tưởng (quẹt diêm) → Thực tại (diêm tắt)

Lò sưởi ấm áp → bần thần trở về nỗi lo bán diêm

Bàn ăn thịnh soạn, ngỗng quay → Cô đơn, lạnh lẽo

Cây thông Nôen lộng lẫy → Tất cả bay lên trời, nghĩ đến bà

Bà nội hiện về, mỉm cười hiền hậu → Bà biến mất

Hai bà cháu bay lên

Các mộng tưởng của em bé diễn ra lần lượt theo thứ tự hợp lí (phù hợp với tâm lí tuổi thơ và hoàn cảnh thực tế của em)

Lần 1: Vì trời rét

Lần 2: Vì bụng đói

Lần 3: Đó là đêm giao thừa

Lần 4: Trong giờ phút hạnh phúc đó bà đã hiện về đem đến cho em t/y thương như thuở nào.

Các mộng tưởng lò sưởi, bàn ăn, cây thông Nôen gắn liền với thực tế (em bé đang rất cần) Còn hình ảnh con ngỗng quay bay ra khỏi đĩa và hình ảnh hai bà cháu nắm tay nhau bay lên trời thì thuần tuý là mộng tưởng. ⇒ Làm nổi bật khát khao cháy bỏng và tình cảnh đang thương của cô bé bán diêm.

Em bé bán diêm đã chết.

Nguyên nhân: vì đói, rét.

Cái chết của em được miêu tả nhẹ nhàng, thanh thản. Đó là cái chết của 1 người toại nguyện “đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười” (bởi em đã được về với bà ở thế giới khác chẳng còn đói rét, buồn đau)

→ Em thật tội nghiệp. Người đời đối xử với em quá lạnh lùng, chỉ có mẹ, bà em là thương em, nhưng đều đã mất. Người cha đối xử với em thiếu tình thương, khách qua đường chẳng đoái hoài nên em chẳng bán được diêm, những người nhìn thấy thi thể em vào ngày mồng 1 tết cũng lạnh lùng như thế.

→ Cái chết của em bé:

Nói lên số phận bất hạnh của những con người đau khổ.

Tố cáo sự thờ ơ của xã hội, cảnh tỉnh thói vô tâm, ích kỉ của con người.

→ Thái độ của tác giả:

Vô cùng cảm thông, thương xót. Ông thấu hiểu sâu sắc tình cảnh của em rồi cùng em đi vào những mộng tưởng đẹp đẽ. Và chính ông đã tiễn đưa em với những giọt nước mắt và nụ cười an ủi cùng bà.

Tác giả muốn gửi gắm chúng ta: Con người phải biết yêu thương đùm bọc nhau.

Tổng kết

Nội dung

Tình cảnh đáng thương của cô bé bán diêm nghèo khổ.

Niềm xót thương, đồng cảm của tác giả với những con người bất hạnh.

Nghệ thuật

Trí tưởng tượng bay bổng

Đan xen yếu tố thật và mộng tưởng

Kết hợp tự sự, miêu tả, biểu cảm

Kết cấu tương phản, đối lập

Tìm Hiểu Chung Về Tác Phẩm Tức Nước Vỡ Bờ

1. Tìm hiểu chung

a. Xuất xứ

– Tức nước vỡ bờ là đoạn trích thuộc chương XVIII của tiểu thuyết Tắt đèn. Đây là tác phẩm tiêu biểu nhất của Ngô Tất Tố, và cũng là một trong những tác phẩm xuất sắc của văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945.

b. Tóm tắt

       Gia đình anh Dậu nghèo khổ không có tiền nộp sưu. Anh Dậu vì thiếu sưu mà bị lôi ra đình đánh đập và khi được trả về chỉ còn là một thân xác rũ rượi. Đươc bà hàng xóm cho bát gạo, chị Dậu nấu cháo cho anh Dậu ăn. Nhưng anh chưa kịp ăn thì tên cai lệ và người nhà lí trưởng đến đòi sưu. Chị Dậu van xin chúng tha cho anh Dậu nhưng chúng không nghe mà còn đánh chị và sấn đến định trói anh Dậu mang đi. Quá phẫn nộ, chị đã liều cự lại và chống trả quyết liệt, quật ngã hai tên tay sai.

c. Bố cục: 2 phần

-Phần 1 (từ đầu… “ăn có ngon miệng hay không”): Cảnh chị Dậu chăm sóc chồng.

-Phần 2 (còn lại): Cảnh chị Dậu phản kháng.

2. Giá trị nội dung và nghệ thuật:

a. Giá trị nội dung

Vạch trần bộ mặt tàn ác, bất nhân của xã hội thực dân phong kiến đương thời; xã hội ấy đã đẩy người nông dân vào tình cảnh khổ cực, khiến họ phải liều mạng chống lại. Đoạn trích còn cho thấy vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân, vừa giàu tình yêu thương vừa có sức sống tiềm tàng mạnh mẽ.

b. Giá trị nghệ thuật

– Tình huống truyện đặc sắc, có kịch tính cao.

– Cách kể chuyện, miêu tả nhân vật chân thực, sinh động. Nghệ thuật tương phản làm nổi bật tính cách nhân vật.

– Ngòi bút hiện thực sinh động, ngôn ngữ đối thoại đặc sắc.

Tìm Hiểu Tác Phẩm Chiếu Cầu Hiền Của Ngô Thì Nhậm, I.tìm Hiểu Chung Hoàn Cảnh Ra Đời Của Bài

I.Tìm hiểu chung Hoàn cảnh ra đời của bài chiếu

Năm 1788, vua Lê Chiêu Thống rước quân Thanh vào xâm lược nước ta, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Quang Trung rồi đem quân ra Bắc quét sạch 20 vạn giặc Thanh cùng bọn tay sai bán nước. Lê Chiêu Thống và tàn quân chạy theo Tôn Sĩ Nghị, triều Lê sụp đổ. Trước sự kiện trên, một số bề tôi của nhà Lê hoặc mang nặng tư tưởng trung quân lỗi thời, hoặc sợ hãi vì chưa hiểu triều đại mới nên có người đã bỏ trốn, hoặc đi ở ẩn, hoặc tự tử,…Quang Trung giao cho Ngô thì Nhậm thay mình viết Chiếu cầu hiền kêu gọi những người tài đức ra giúp nước an dân.

 Văn bản thể hiện rõ sự khát khao cầu hiền của nhà vua trẻ tài đức, qua đó ta thấy được Ngô Thì Nhậm thật là uyên bác, cao tay trong việc dùng văn bản, thay mặt nhà vua chiêu hiền đãi sĩ. Ông xứng đáng là người được vua Quang Trung tin cậy.

Thể loại: Chiếu

Là một thể văn thư nhà vua dùng để ban bố mệnh lệnh cho thần dân.Công văn hành chính thời xưa gồm hai loại: một loại do cấp dưới đệ trình lên nhà vua hoặc triều đình ( tấu, chương, biểu, sớ, khải,…), một loại do nhà vua truyền xuống cho bề tôi ( chiếu, mệnh, lệnh, chế, dụ, cáo, …)

– Chiếu nói chung, chiếu cầu hiền nói riêng thuộc loại văn nghị luận chính trị – xã hội. Mặc dù chiếu thuộc loại công văn nhà nước, lệnh cho thần dân thực hiện, nhưng ở đây, đối tượng của bài chiếu là các bậc hiền tài, hơn nữa đây là cầu, tức là vua Quang Trung cầu, chứ không phải là lệnh.

Kết cấu của ” Chiếu cầu hiền”

Chiếu cầu hiền là một tác phẩm chính luận có kết cấu chặt chẽ, lập luận chắc chắn, lí lẽ sắc bén. Bài chiếu chia làm 3 phần:

– Phần 1: (đoạn 1 sgk ): cơ sở lí luận của “chiếu cầu hiền” ( mượn lời Khổng Tử, viện ý trời làm cơ sở cho việc cầu hiền)

– Phần 2 (đoạn 2a và 2b ): tình hình thực tiễn và khao khát cầu hiền của nhà vua.

– Phần 3: ( đoạn 3 ): Hướng sử dụng người hiền tài và lời kêu gọi người tài trong thiên hạ ra giúp dân giúp nước.

II.Phân tích1.Cơ sở lí luận của “Chiếu cầu hiền” Đoạn mở đầu tạo ra một tiền đề vững chắc, thuyết phục để cầu hiền.

– Mượn ý của Khổng Tử trong sách luận ngữ: Lấy đức mà cai trị đất nước, giống như sao Bắc Đẩu giữ đúng vị trí của mình, các ngôi sao khác sẽ về chầu.

Tác giả vừa tôn vinh bậc thánh hiền của đạo Nho ( như sao sáng), vừa khẳng định với hiền sĩ khắp nơi rằng triều đại mới là một triều đại dùng đức để cai trị đất nước.

– Mượn ý trời, xem việc người hiền tài về chầu thiền tử là lẽ đương nhiên, hợp quy luật. Nếu người hiền tài tự giấu mình là trái ý trời. ( Nếu như che mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp, có tài mà không được đời dùng thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy).

Ngô Thì Nhậm thật cao tay, ông mượn lời thánh hiền và ý trời để tạo ra một cơ sở lí luận chắc chắn cho việc cầu hiền cảu triều đình. Vừa tôn vinh người hiền tài lại vừa tôn vinh hoàng đế ( ví vua Quang Trung với ngôi Bắc Thần, gọi ông là thiên tử) đã tạo ra một sự tin cậy cho những người hiền chưa hiểu rõ thời cuộc.

2.Tình hình thực tiễn và khao khát cầu hiền của vua Quang Trung

– Khi thời thế suy vi, nhiều biến cố, tất yếu kẻ sĩ trong thiên hạ phải tìm chỗ ẩn mình.

+ Tác giả dùng nhiều hình ảnh gợi cảm để chỉ tình trạng thất thế loạn lạc của kẻ sĩ (ẩn trong ngòi khe, kiêng dè không dám lên tiếng, gõ mõ canh cửa, ra biển vào sông, chết đuối trên cạn,…) nhấn mạnh lối sống uổng phí tài năng, không xứng danh là người hiền tài.( biện pháp kích tướng)

+ Thái độ khẩn khoản của nhà vua ( nay trẫm đang lắng nghe, ngày đêm mong mỏi,…), hàng loạt câu hỏi ( hay trẫm ít đức…?Hay đang thời đổ nát…?) có tác dụng kêu gọi sự hợp tác của các hiền tài.

– Thời bình, nước đã có vua, non sông đã có chủ, thay mặt vua, tác giả đưa ra một số công việc bề bộn: công việc vừa mới mở ra, kỉ cương nơi triều chính, công việc ngoài biên cương, dân còn nhọc nhằn, đức hoá của nhà vua chưa kịp nhuần thấm, một cái cột không thể đỡ nổi một cái nhà,… kể muôn sự khó khăn nhằm tac động vào trách nhiệm của hiền sĩ với non sông đất nước. Những người có tâm đức sẽ không thờ ơ trước tình cảnh này. Kết đoạn, tác giả cũng đưa ra một loạt câu hỏi: huống nay trên dãi đất văn hiến rộng lớn này, há trong đó không có lấy một người tài danh nào ra phò giúp cho chính quyền buổi ban đầu của trẫm hay sao?

+ Giọng điệu linh hoạt, khi mạnh mẽ ( gợi cái tầm thường trong cuộc sống ẩn dật), khi thì lắng lại, khiêm nhường, thành tâm; khi thì khích lệ, cổ vũ người hiền ra giúp chính quyền buổi đầu…

3. Hướng sử dụng người hiền tài và lời kêu gọi người tài trong thiên hạ ra giúp dân, giúp nước.

– Để đánh tan những phân vân của nhiều hền tài còn nhiều e ngại do chưa hiểu triều đại mới, nhà vua đưa ra hướng sử dụng người hiền tài thật rõ ràng, rộng mở và độ lượng. Đưa ra nhiều biện pháp cụ thể.

– Đối với người có tài năng học thuật, mưu hay hơn đời, lời nói noà dùng được thì cất nhắc, không kể thứ bậc, không dùng thì gác lại, không bắt tội.

– Đối với người có nghề hay nghiệp giỏi, cho phép quan văn, quan võ tiến cử, tuỳ tài sử dụng.

– Đối với những người tài năng còn bị che kín thì dâng sớ tự tiến cử…

 Người hiền theo quan niệm của Quang Trung thật toàn diện, không chỉ hướng tới những người giỏi chữ nghĩa mà còn hướng tới những người có tay nghề giỏi. Ông còn khuyến khích người tài tự tiến cử.

-Quan điểm về người hiền tài của nhà vua thât tiến bộ, hiện đại, hợp lòng dân, tạo con đường rộng mở cho người tài ra phò vua trị nước.

– Những lời kêu gọi cuối tác phẩm như một lời hiệu triệu mạnh mẽ, khơi dậy, làm nức lòng kẻ hiền tài bốn bể. Cái lí của triều đình đưa ra là không còn gì thuận lợi hơn nữa ( trời trong sáng, đất thanh bình) cho người tài đức xuất hiện.Thời cơ đã đến cho những ai muốn làm nên nghiệp lớn ( gặp hội gió mây )

III.Tổng kết

Bài chiếu không chỉ cho chúng ta thấy tư tưởng tiến bộ của vua Quang Trung trong việc sử dụng người hiền tài mà còn cho thấy cái tài trong nghệ thuật viết chiếu của Ngô Thì Nhậm. Lời lẽ trong bài vừa có cái trang trọng, cao sang, trí tuệ của kẻ bề trên, lại vừa có cái thành tâm, khiêm nhường, của người có đức đang cầu hiền tài. Bài chiếu là một văn bản chính luận đặc sắc của nần văn học trung đại Việt Nam.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tìm Hiểu Chung Về Tác Phẩm Cô Bé Bán Diêm trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!