Đề Xuất 12/2022 # Tổng Quan Về Bong Gân Và Các Tổn Thương Phần Mềm Khác / 2023 # Top 16 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Tổng Quan Về Bong Gân Và Các Tổn Thương Phần Mềm Khác / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tổng Quan Về Bong Gân Và Các Tổn Thương Phần Mềm Khác / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Các bác sĩ cũng nên hỏi về việc sử dụng các thuốc (ví dụ, fluoroquinolones, corticosteroid) làm tăng nguy cơ bị tổn thương gân.

Cơ chế (ví dụ, hướng và cường độ của lực) có thể gợi ý kiểu chấn thương Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân không nhớ hoặc không thể mô tả chính xác cơ chế.

Nếu bệnh nhân cho biết có biến dạng đã được xử trí trước khi được thăm khám y khoa, biến dạng đó được nhận định là biến dạng thực sự đã thuyên giảm tự nhiên.

Tiếng kêu tại khớp tại thời điểm bị thương có thể là dấu hiệu của tổn thương dây chằng hoặc gân (hoặc gãy xương). Tổn thương dây chằng nặng thường gây đau ngay lập tức; đau xuất hiện sau vài giờ cho đến vài ngày sau chấn thương gợi ý tổn thương nhẹ.

Nếu co cơ và đau làm hạn chế thăm khám thực thể (đặc biệt là các nghiệm pháp thăm khám), thăm khám sẽ dễ dàng hơn sau khi bệnh nhân được dùng thuốc giảm đau toàn thân hoặc gây tê tại chỗ. Hoặc vùng tổn thương có thể được bất động cho đến khi bớt co cơ và giảm đau, thường là sau vài ngày, và sau đó bệnh nhân được kiểm tra lại.

Biến dạng gợi ý đến trật khớp, bán trật (di lệch một phần trong số các xương tạo lên khớp), hoặc gãy xương.

Sưng thường cho thấy có tổn thương cơ xương khớp đáng kể nhưng cần một vài giờ để thấy rõ. Nếu sưng không xuất hiện trong thời gian này, không nghĩ đến có đứt dây chằng.

Ấn đau đi kèm với gần như tất cả các tổn thương, và đối với nhiều bệnh nhân, chạm vào bất cứ nơi nào xung quanh vùng tổn thương đều gây khó chịu. Tuy nhiên, sự gia tăng đáng kể mức độ ấn đau ở một vùng khu trú (điểm đau) gợi ý đến bong gân (hoặc gãy xương). Ấn đau tại chỗ bám dây chằng và cảm giác đau khi khớp bị ảnh hưởng cho thấy có tổn thương. Với rách gân hoặc cơ hoàn toàn, một vùng khuyết có thể sờ thấy rõ nơi cấu trúc bị ảnh hưởng.

Mất vững khớp nhiều gợi ý đến đứt dây chằng rất nặng (hoặc trật khớp, cái có thể tự thuyên giảm).

Test áp lực (stress) được thực hiện để đánh giá độ vững của một khớp bị tổn thương; tuy nhiên, nếu nghi ngờ có gãy xương thì nghiệm pháp này không được thực hiện cho đến khi X-quang loại trừ được gãy xương. Test áp lực cạnh giường bao gồm việc vận động thụ động khớp theo hướng vuông góc với vận động bình thường. Bởi vì cơ co trong những chấn thương đau cấp tính có thể che lấp sự mất vững khớp, cần giãn các cơ xung quanh càng nhiều càng tốt, và việc thăm khám nên bắt đầu nhẹ nhàng, sau đó lặp đi lặp lại, với lực tăng dần qua mỗi lần. Các kết quả được so sánh với bên đối diện bình thường nhưng có thể bị giới hạn bởi bản chất chủ quan.

Các kết quả có thể giúp phân biệt đứt dây chằng độ 2 và độ 3:

Đứt dây chằng độ 2: Đau khi tiến hành nghiệm pháp, và vận động của khớp bị giới hạn.

Đứt dây chằng độ 3: Ít đau đớn hơn khi tiến hành nghiệm pháp bởi vì dây chằng đã bị rách hoàn toàn và không còn được kéo căng, tầm vận động khớp tăng rõ rệt.

Nếu cơ còn co nhiều dù đã sử dụng thuốc giảm đau hoặc thuốc gây tê, nên khám lại vài ngày sau đó, khi bớt co cơ.

Một số trường hợp đứt gân bán phần ban đầu khó phát hiện trên lâm sàng vì chức năng không thay đổi. Bất kỳ dấu hiệu nào sau đây đều gợi ý đến đứt gân bán phần:

Đứt gân bán phần có thể tiến triển thành đứt gân hoàn toàn nếu bệnh nhân tiếp tục vận động vùng bị thương. Nếu cơ chế chấn thương hoặc thăm khám cho thấy tổn thương gân bán phần hoặc nếu thăm khám không xác định được thì cần dùng nẹp để bất động và không gây tổn thương thêm. Bước đánh giá tiếp, đôi khi cần chụp MRI, để đánh giá phạm vi, mức độ tổn thương.

Nếu khám thực thể bình thường tại khớp mà bệnh nhân kêu đau, nguyên nhân có thể chỉ do cảm giác đau của bệnh nhân. Chẳng hạn, những bệnh nhân bị chấn thương khớp ức đòn có thể cảm thấy đau ở vai. Vì vậy, các bác sĩ lâm sàng nên luôn luôn khám các khớp ở trên và dưới nơi tổn thương.

Không phải tất cả các tổn thương chi đều cần đến chẩn đoán hình ảnh. Nhiều trường hợp tổn thương dây chằng mắt cá không đòi hỏi phải X-quang trong quá trình đánh giá ban đầu bởi vì xác suất tìm ra một đường vỡ xương mà cần thay đổi phương pháp điều trị thấp; đối với bong gân mắt cá chân, tiêu chuẩn chỉ định chụp X-quang được chấp nhận rộng rãi ( Quy luật mắt cá chân Ottawa) giúp hạn chế tia X cho những bệnh nhân có nhiều khả năng bị gãy cần điều trị đặc biệt. Nếu cần chẩn đoán hình ảnh, chụp X-quang thường được ưu tiên thực hiện.

Chụp X-quang thường quy, thấy được chủ yếu là xương (và gián tiếp thấy tràn dịch khớp do chảy máu hoặc có vỡ xương nhưng bị khuất), được thực hiện để kiểm tra trật khớp và gãy xương; Chụp X-quang thường không thấy được các bằng chứng trực tiếp của đứt dây chằng nhưng có thể thấy các tương quan giải phẫu bất thường gợi ý đến đứt dây chằng hoặc tổn thương phần mềm khác. Chụp X-quang nên gồm ít nhất 2 hướng được chụp ở hai mặt phẳng khác nhau (thường là hướng trước sau và hướng bên).

Các hướng nhìn khác (ví dụ, nghiêng) có thể được thực hiện khi

Khi chụp ngón tay nhìn từ phía bên, ngón cần đánh giá nên được tách riêng biệt với các ngón khác.

MRI có thể được thực hiện để xác định tổn thương phần mềm, bao gồm dây chằng, gân, sụn và các tổn thương cơ. MRI hoặc CT cũng có thể được thực hiện để kiểm tra các đường vỡ khó phát hiện.

Bong Gân Và Trật Khớp Trong Chấn Thương Thể Thao / 2023

Bong gân là thuật ngữ dân gian nhằm chỉ những tổn thương làm căng dãn, đứt một phần hoặc hoàn toàn dây chằng- là cấu trúc kết nối xương với xương, có vai trò làm vững khớp- dẫn đến tình trạng mất vững khớp nhưng chưa gây trật khớp.

Trật khớp là sự di chuyển bất thường của các đầu xương khiến cho diện tiếp khớp của các đầu xương bị sai lệch. Trật khớp là hậu quả của những chấn thương nặng và thường kèm theo tình trạng tổn thương nặng nề của dây chằng, bao khớp và các cấu trúc xung quan

Nhận biết bong gân, trật khớp

Bong gân, trật khớp có thể xảy ra ở tất cả các khớp nhưng thường gặp ở khớp cổ chân, khớp gối, khớp cổ tay, khớp khuỷu và khớp vai. Bong gân, trật khớp thường là hậu quả của những chấn thương đột ngột, gắng sức do cơ chế chấn thương trực tiếp hoặc gián tiếp vào vùng khớp gây nên, thường gặp trong tai nạn giao thông, tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt hay chấn thương thể thao.

Biểu hiện của bong gân rất thay đổi, tùy thuộc vào mức độ nặng của tổn thương. Các triệu chứng của bong gân thường là đau, sưng nề, bầm tím tụ máu vùng khớp, giảm khả năng vận động khớp và chi thể bị tổn thương. Trong trường hợp nặng, bong gân dẫn đến lỏng khớp và mất chức năng của khớp.

Trật khớp thường có biểu hiện nặng hơn nhiều so với bong gân. Các triệu chứng của trật khớp bao gồm biến dạng khớp, sưng nề và bầm tím phần mềm xung quang khớp, đau rất nhiều, không vận động được khớp bị trật, có cảm giác tê bì, kiến bò vùng chi thể phía dưới khớp bị trật. Trật khớp có thể gây biến chứng tổn thương mạch máu và thần kinh kèm theo.

Tổn thương thường gặp trong bong gân và trật khớp

– Khớp vai: Trật khớp vai tái diễn do tổn thương sụn viền và bao khớp phía trước. Rách gân cơ chóp xoay, tổn thương sụn viền, tổn thương đầu dài gân cơ nhị đầu.

– Khớp khuỷu: Trật khớp khuỷu, tổn thương đầu xa gân cơ nhị đầu cánh tay

– Khớp cổ tay: Trật khớp quay trụ dưới, tổn thương phức hợp sụn sợi.

– Khớp gối: Đứt dây chằng chéo trước, dây chằng chéo sau, dây chằng bên trong, dây chằng bên ngoài, rách sụn chêm, trật bánh chè tái diễn…

– Khớp cổ chân: Tổn thương dây chằng delta, dây chằng sên mác trước…

Quan niệm sai lầm khi xử trí bong gân, trật khớp

Nhiều người cho rằng bong gân, trật khớp là những thương tích nhẹ, có thể tự điều trị. Dùng dầu nóng, rượu ngâm xoa vào vùng chi thể bị bong gân, trật khớp có thể để lại những hậu quả khôn lường. Điều trị đắp thuốc lá- những phương thức điều trị dân gian chưa được kiểm chứng- có thể để lại những biến chứng và di chứng nặng nề. Hậu quả của điều trị bong gân, trật khớp không đúng làm cho triệu chứng của bệnh kéo dài, teo cơ, cứng khớp và mất chức năng của khớp.

Những điều nên làm khi bị bong gân

– Để chi thể bị tổn thương được nghỉ ngơi. Trong trường hợp bong gân nhẹ, cần hạn chế vận động khớp bị tổn thương. Nếu tổn thương khớp chi dưới, cần hạn chế đi lại hoặc hỗ trợ đi lại bằng nạng. Nếu tổn thương khớp chi trên cần tránh các động tác gây đau cho khớp. Khi người bệnh đỡ đau có thể nhẹ nhàng tập vận động trở lại. Trong trường hợp bong gân nặng, cần phải để khớp bị thương tổn ở tư thế cơ năng- là tư thế mà khớp được nghỉ ngơi hoàn toàn. Người bệnh thường được bó bột hoặc nẹp bột để hỗ trợ cho khớp ở tư thế cơ năng. Sau 4- 6 tuần, có thể cho người bệnh tập vận động trở lại.

– Chườm lạnh: Nên sử dụng túi chườm lạnh để thực hiện chườm lạnh cho vùng khớp bị thương tổn. Chườm lạnh cần được thực hiện càng sớm càng tốt ngay sau khi bị chấn thương, trong khoảng 15- 30 phút, 4-8 lần mỗi ngày trong vòng 48 giờ đầu hoặc cho đến khi thấy đỡ sưng nề. Nếu sử dụng đá để chườm cần tránh chườm một vị trí trong thời gian quá lâu gây bỏng lạnh phần mềm.

– Băng ép vùng khớp bị thương tổn: Sử dụng băng chun để thực hiện băng ép. Băng ép không quá chặt sẽ gây khó chịu cho người bệnh nhưng cũng không quá lỏng thì mới hiệu quả.

– Nâng cao chi thể bị tổn thương: Nâng cao vùng chi thể bị tổn thương bằng cách để vùng ngọn chi (bàn tay, bàn chân) cao hơn vùng gốc chi (khuỷu, gối) hoặc nâng cao vị trí khớp bị thương tổn hơn mức tim khi có thể nhằm hạn chế và phòng ngừa sưng nề cho vùng chi thể bị tổn thương.

Khi nào cần gặp bác sĩ?

– Bị chấn thương lại vào vùng khớp đã bị bong gân trước đó.

– Đau nhiều vùng khớp bị thương tổn, không thể vận động được khớp hoặc không thể đứng tỳ chân hoặc đi lại được.

– Không thể bước đi được 4 bước mặc dù không thấy đau nhiều hoặc người bệnh cảm thấy lỏng khớp.

– Bong gân được điều trị muộn hoặc không đúng dẫn đến tình trạng lỏng khớp và đau khớp mạn tính.

Điều trị bọng gân

– Dùng thuốc: Đối với bong gân nhẹ và vừa, bác sỹ thường hướng dẫn tự chăm sóc tại nhà theo nguyên tắc trên và dùng thuốc giảm đau chống viêm thông thường như paracetamol, ibuprofen… Tập phục hồi chức năng được thực hiện khi người bệnh cảm thấy đỡ đau. Quá trình tập vận động khớp được thực hiện từ đơn giản đến phức tạp, từ nhẹ đến nặng.

– Phẫu thuật: Phẫu thuật có thể được chỉ định khi bong gân nặng, nghĩa là dây chằng bị đứt hoàn toàn và dẫn đến tình trạng lỏng khớp.

Điều trị trật khớp

Trật khớp là một thương tích nặng, có nhiều biến chứng và di chứng. Điều trị trật khớp cần có bác sỹ chuyên khoa. Điều trị trật khớp phụ thuộc vào vị trí và mức độ nặng của khớp bị trật, bao gồm:

– Nắn chỉnh khớp: Bác sỹ sẽ thực hiện nắn chỉnh các đầu xương của diện khớp về đúng vị trí giải phẫu. Tùy thuộc vào tình trạng khớp bị trật, vị trí khớp, mức độ thương tổn của khớp trật mà trong quá trình thủ thuật bác sỹ có thể sử dụng thuốc gây tê tại chỗ, gây tê vùng hay gây mê cho người bệnh.

– Bất động khớp: Sau khi nắn chỉnh khớp về vị trí giải phẫu, bác sỹ có thể bất động khớp bị trật bằng cách bó bột, dùng dụng cụ trợ đỡ hoặc treo tay. Thời gian bất động khớp phụ thuộc vào độ nặng của trật khớp và các tổn thương phần mềm, mạch máu, thần kinh phối hợp.

– Phẫu thuật: Phẫu thuật được đặt ra nếu bác sỹ không thể nắn chỉnh kín diện khớp về vị trí giải phẫu hoặc khi có tổn thương mạch máu, thần kinh, dây chằng kèm theo. Phẫu thuật cũng có thể được chỉ định trong trường hợp trật khớp tái diễn, nhất là ở khớp vai.

– Phục hồi chức năng: Ngay sau khi được tháo bỏ dụng cụ bất động khớp, người bệnh sẽ bắt đầu chương trình tập phục hồi chức năng nhằm lấy lại biên độ vận động của khớp và sức mạnh cơ bắp. Quá trình tập phục hồi chức năng là một quá trình lâu dài, với nhiều bài tập từ đơn giản đến phức tạp, từ nhẹ đến nặng và từ cường độ thấp đến cường độ cao.

Bệnh viện Đa khoa Phương Đông

Số 9 Phố Viên, Cổ Nhuế 2, Bắc Từ Liêm, Hà Nội

website : https://benhvienphuongdong.vn

Phần Mềm Là Gì? Tìm Hiểu Về Các Loại Phần Mềm Máy Tính? / 2023

Trong thời đại công nghệ số, không ai trong chúng ta là chưa được nghe tới hai chữ “phần mềm”. nhưng không phải ai cũng hiểu phần mềm là gì? Bài viết này sẽ giúp bạn giải đáp thức mắc này.

Phần mềm là gì?

Phần mềm máy tính có những loại nào?

Để phục vụ cho các mục đích khác nhau, phần mềm máy tính được chia làm 3 loại như sau:

Phần mềm ứng dụng là gì?

Phần mềm ứng dụng  bao gồm toàn bộ các chương trình có thể chạy trên hầu hết mọi thiết bị điện tử thông minh như: máy tính để bàn, máy tính xách tay, điện thoại… Là phần mềm được phát triển và cài đặt trên một môi trường nhất định, nhằm thực hiện những công việc, những tác nghiệp cụ thể.

Môi trường hoạt động của phần mềm ứng dụng chính là phần mềm hệ thống vì phần mềm hệ thống có thể tạo ra môi trường cho các phần mềm ứng dụng làm việc trên đó và luôn ở trạng thái làm việc khi thiết bị số hoạt động.

Phần mềm ứng dụng trực quan, được phát triển toàn diện, giao diện người dùng đơn giản, xây dựng dựa trên những tiện ích tốt nhất dành cho người dùng.

Phần mềm hệ thống là gì?

Phần mềm hệ thống là phần mềm được thiết kế để đưa người dùng có thể giao tiếp với các phần cứng hoặc có thể là các phần mềm ứng dụng trên máy tính hiện nay.

Có thể cho bạn một số ví dụ minh họa dễ dàng nhận biết và thấy được phần mềm hệ thống như sau: Chúng ta thường xuyên bắt gặp và đang sử dụng rất phổ biến với hệ điều hành trên máy tính hoặc máy chủ web và các loại hệ điều hành được ứng dụng và đưa vào sử dụng trên điện thoại, các phần mềm hệ thống Moblie.

Phần mềm hệ thống cũng được thiết kế nền tảng để phù hợp với các phần mềm ứng dụng. Bao gồm:

– Hệ điều hành (operating system)

Cung cấp các dịch vụ và tính năng, điều hành các phần mềm khác chạy “trên đỉnh” của chúng. Những thành phần cốt lõi chủ yếu của hệ điều hành bao gồm: Chương trình giám sát, bộ tải khởi động, vỏ và hệ thống

– Trình điều khiển thiết bị (driver)

Giúp vận hành hoặc điều khiển một loại thiết bị được cài trên máy tính. Mỗi thiết bị cần phải có một trình điều khiển riêng biệt và phải tương thích. Mỗi máy tính thường gồm nhiều thiết bị điều khiển cho sự hoạt động.

– Tiện ích (utility)

Đây là một tiện ích giúp hỗ trợ người dùng trong việc hỗ trợ bảo trì và chăm sóc máy tính giúp hoạt động ổn định và bền bỉ nhất.

Phần mềm độc hại

Đây là một dạng phần mềm đen khiến gây hại và phá hỏng máy tính. Phần mềm độc hại thường được các tội phạm công nghệ sử dụng, đôi khi những phần mềm độc hại lại chỉ giống như những trò đùa tới người dùng.

Loãng Xương Và Các Tổn Thương Xương Dạng Pseudopermeative / 2023

Loãng xương là bệnh đặc trưng bởi khối lượng xương giảm, vi cấu trúc xương hư hại dẫn đến tình trạng xương bị yếu và hệ quả tăng nguy cơ gãy xương [1]. Khi so sánh khái niệm loãng xương (osteoporosis) và nhuyễn xương (osteomalacia) người ta quan tâm đến việc giảm khối lượng (quantity) xương trong loãng xương là yếu tố chính, còn nhuyễn xương thì khối lượng xương bình thường nhưng chất lượng (quality) xương bất thường do quá trình khoáng hóa bất thường. Trên phim X quang thường quy không thể phân biệt được loãng xương và nhuyễn xương.

Có rất nhiều nguyên nhân gây loãng xương, nguyên nhân phổ biến nhất là loãng xương nguyên phát (còn gọi là loãng xương lão hóa). Nguyên nhân này xảy ra ở phần lớn phụ nữ sau mãn kinh và là vấn đề sức khỏe quan trọng do tăng nguy cơ gãy xương thân đốt sống và xương hông (xương đùi).

Loãng xương thứ phát ám chỉ hiện tượng loãng xương do bệnh tật khác chi phối, như nhiễm độc giáp hoặc bệnh thận. Chỉ khoảng 5% các trường hợp loãng xương là thứ phát. Danh sách chẩn đoán phân biệt loãng xương thứ phát khá dài nên không nên nhớ. Mặt khác, trên phim X quang người ta còn không thể phân biệt loãng xương và nhuyễn xương.

Dấu hiệu X quang chính trong loãng xương là mỏng vỏ xương. Mặc dù có thể xảy ra trên bất cứ xương nào, người ta thường chứng minh một cách tin cậy ở giữa thân xương của đốt bàn tay thứ hai (Hình 1). Trong loãng xương, độ dày vỏ xương mỏng đi (Hình 2). Vỏ xương đốt bàn tay (và tất cả vỏ xương) giảm chiều dày theo tuổi và ở phụ nữ thì mỏng hơn nam giới cùng lứa tuổi.

Một loại loãng xương có thể gặp ở bất cứ lứa tuổi nào là loãng xương do không cử động. Nguyên nhân do bất động, thường gặp sau điều trị gãy xương. Hình ảnh X quang của loãng xương bất động chi khác với hình ảnh loãng xương nguyên phát ở chỗ nó xảy ra nhanh hơn và tạo hình ảnh mảng lốm đốm (Hình 3). Hiện tượng này do hủy cốt bào tiêu vỏ xương, chúng gây các lỗ nhỏ trong vỏ xương. Nếu tiếp tục bất động, xương vùng này sẽ giống mọi xương trong cơ thể chịu loãng xương nặng với vỏ rất mỏng.

Hình 1. Ngấm khoáng bình thường. Chiều dày vỏ xương (các mũi tên) ở giữa đốt bàn tay thứ hai của một bệnh nhân bình thường. Chiều dày này lớn hơn 1/3 chiều rộng của xương bàn tay ở cùng mức.

Hình 2. Loãng xương. Mỏng nhiều vỏ xương (mũi tên) ở giữa xương bàn tay thứ hai của một bệnh nhân bị loãng xương nặng. Lưu ý các đường, vệt sáng trong vỏ xương, chúng thường xuất hiện ở các trường hợp loãng xương nặng.

Hình 3. Loãng xương do bất động. Hình mảng, lốm đóm ở đầu trên xương đùi của bệnh nhân bị loãng xương mạnh mẽ không sử dụng chi sau cắt cụt. Lưu ý vỏ xương không đều đặn, lốm đốm ở thân xương đùi, đó là các lỗ trong vỏ xương có thể thấy trong những trường hợp loãng xương dữ dội.

Đôi khi, loãng xương dữ dội do bất động có thể giả một tổn thương dạng thấm (permeative)*, như Ewing sarcoma hoặc đa u tủy xương, bởi vì nhiều lỗ ở vỏ xương chồng lên khoang tủy xương, do đó hình ảnh trên phim X quang giống quá trình tiêu xương dạng thấm ở tủy xương (Hình 4). Cách để phân biệt quá trình tiêu xương dạng thấm trong tủy xương với tiến triển tiêu xương ở trong vỏ như trường hợp của loãng xương là phải quan sát vỏ xương, xem vỏ xương đặc hoặc có hình các ổ tiêu xương nhỏ lỗ chỗ (Hình 5) không. Nếu vỏ xương đặc, người ta có thể cho rằng quá trình tiêu xương dạng thấm bắt nguồn từ khoang tủy xương (Hình 6); nếu vỏ xương có nhiều lỗ nhỏ, người ta có thể cho rằng tiêu xương dạng thấm này từ vỏ xương. Tiêu xương dạng thấm tạo lỗ ở vỏ xương được gọi là “giả thấm”(pseudopermeative) phân biệt với tiêu xương dạng thấm thực sự xảy ra từ tủy xương [2]. Những nguyên nhân khác gây tiêu xương “giả thấm” gồm có u mạch máu (hiện nay gọi là dị dạng mạch máu, nhất là dị dạng tĩnh mạch) và xạ trị. U mạch máu (hemangioma) có thể tạo nên các lỗ nhỏ ở vỏ xương theo hai cách: do sung huyết cục bộ gây loãng xương khu trú, hoặc các mạch máu tạo thành đường hầm xuyên qua vỏ xương (Hình 7). Xạ trị có thể gây nên các lỗ trong vỏ xương giả tổn thương dạng thấm do các tế bào tạo xương ở vỏ bị chết, các lỗ to trong vỏ xương (Hình 8). Các lỗ trong vỏ xương do xạ trị thường to nên khó nhầm với các tiến triển thấm thực sự, nhưng chúng cũng có thể nhỏ và rất giống tiến triển tiêu xương dữ dội dạng thấm.

Hình 4. Loãng xương dữ dội. Nhiều lỗ nhỏ ở vỏ xương và chồng lên khoang tủy có thể được nhận ra ở đầu trên xương cánh tay bệnh nhân bị đột quỵ não. Nó là biểu hiện của loãng xương dữ dội do bất động chi và giả tiến triển tiêu xương mạnh mẽ dạng thấm (permeative). Tuy nhiên những lỗ đó hầu như chỉ nằm bên trong vỏ xương.

Hình 6. U tủy (myeloma) tạo ra quá trình thấm (permeative process). Quá trình tiêu xương dạng thấm lan tỏa khắp xương đùi của bệnh nhân bị u tủy này. Lưu ý vỏ xương đặc, mặc dù mặt trong vỏ xương bị bào mòn nhiều chỗ. Đây là quá trình thấm thực sự.

Hình 7. Tiến triển giả thấm (pseudopermeative) do u mạch máu. Tổn thương dạng thấm ở đầu dưới xương chày của bệnh nhân biểu hiện đau và sưng cẳng chân này. Tổn thương được cho là Ewing sarcoma và sinh thiết được tiến hành, hậu quả là mất máu nặng. Kết quả sinh thiết là u mạch máu (hemangioma). Đánh giá kỹ lưỡng vỏ xương thấy rằng mặt trong xương chày có nhiều lỗ trong vỏ xương, so với mặt ngoài nguyên vẹn. Mặt trong bản xương ở phía ngoài cũng còn nguyên vẹn, khiến cho suy luận quá trình tiêu xương từ tủy xương không hợp lý. U mạch máu, xạ trị và loãng xương có thể tạo nên quá trình tiêu xương giả thấm. Mặc dù trong thí dụ này loãng xương là khu trú, nhưng về cơ bản loãng xương và xạ trị khác nhau về phạm vi tổn thương (khu trú so với lan tỏa).

Hình 8. Tiến triển giả thấm (pseudopermeative) do xạ trị. Bệnh nhân này có fibrosarcoma đã điều trị bằng cách cắt đầu xương đùi và sau đó xạ trị. Phim X quang theo dõi cho thấy tổn thương dạng thấm lan tỏa khắp đầu trên xương đùi. Do vỏ xương có lỗ chỗ các lỗ, nên tổn thương được cho là do xạ trị hơn là tái phát u. Đây là trường hợp tiến triển giả thấm sau xạ trị.

Nếu phát hiện một tổn thương dạng thấm thực sự, chẩn đoán phân biệt thường là một quá trình tiến triển dữ dội như Ewing sarcoma, nhiễm khuẩn hoặc hạt ái toan ở bệnh nhân trẻ (< 30 tuổi), hoặc đa u tủy xương, ung thư biểu mô di căn, u lymphoma nguyên phát của xương ở những bệnh nhân lớn tuổi hơn. Tuy nhiên, nếu một tổn thương thấm do các lỗ ở vỏ (còn gọi là dạng giả thấm) thì danh sách chẩn đoán phân biệt ít nguy hiểm hơn: loãng xương tiến triển dữ dội, u mạch máu, thay đổi xương sau xạ trị. Danh sách chẩn đoán phân biệt ít khi được áp dụng, nhưng nó rất hữu ích trong những trường hợp có bệnh cảnh phù hợp và phân tích tổn thương tỉ mỉ (xem Bảng).

Bảng: Chẩn đoán phân biệt của tổn thương tiêu xương “giả thấm” (pseudopermeative pattern)

Loãng xương tiến triển nhanh, dữ dội

U mạch máu ở sâu (ngày nay gọi là dị dạng mạch máu, nhất là dị dạng tĩnh mạch)

Xạ trị

Ghi chú:

– permeative pattern* (tạm dịch là tổn thương dạng thấm): là một trong 3 dạng phá hủy xương do Lodwich phân loại vào những năm 1960 [3]. Nó là dạng phá hủy xương có hoạt động sinh học dữ dội nhất, xảy ra đối với các khối u phát triển nhanh nhất và nhiễm khuẩn xương. Phim X quang thường cho thấy vô số chấm sáng nhỏ li ti, đường kính thường dưới 1 mm. Vào thời điểm tổn thương có thể thấy rõ, vỏ xương thường đã bị xuyên thủng và có thể thấy một khối ngoài xương. Các phim X quang bộc lộ kích thước tổn thương nhỏ hơn thực. Hình ảnh tương tự có thể thấy trong [bệnh] loãng xương tiến triển nhanh và dữ dội, hội chứng loạn dưỡng phản xạ thần kinh giao cảm (reflex sympathetic dystrophy, RDS) và không sử dụng hay bất động chi.

Tham khảo và dịch

1. Consensus development conference: Diagnosis, prophylaxis and treatment of osteoporosis. Am J Med 1993, 94:646-50.

2. Helms C, Munk P. Pseudopermeative skeletal lesions. Br J Radiol 1990;63:461-467.

3. Sinchun Hwang, David M. Panicek. The Evolution of Musculoskeletal Tumor Imaging. Radiol Clin N Am 47 (2009) 435–453.

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tổng Quan Về Bong Gân Và Các Tổn Thương Phần Mềm Khác / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!