Bài Dự Thi Tìm Hiểu Về Dịch Bệnh Covid

--- Bài mới hơn ---

  • Cuộc Thi Tìm Hiểu Dịch Bệnh Covid
  • Hội Dòng Mến Thánh Giá Vinh: Thông Báo Tuyển Sinh 2021
  • 350 Năm Dòng Mến Thánh Giá: Ba Mươi Hội Dòng Mến Thánh Giá
  • Gx. Thánh Giuse, Gò Vấp: Thiếu Nhi Tìm Hiểu Ơn Gọi Tại Dòng Mến Thánh Giá Tân Lập
  • Giao Tiếp Giữa Các Container Trong Docker Và Sử Dụng Docker Compose
  • Cuối năm 2021 có một loại bệnh làm cho số người chết ở TQ tăng nhanh và lây lan ra khắp thế giới. Đó là bệnh Covid 19.

    Vậy Covid 19 là gì? Covid 19 là bệnh về đường hô hấp có thể bị ho, hắt hơi , khó thử hoặc có những triệu chứng khác. Các vấn đề hô hấp xảy ra khi phổi bị nhiễm trùng và gây nên bệnh viêm phổi. Hầu hết hững người mắc Covid đều bị sốt rất nặng. Hiện nay các bác sĩ đã khuyến cáo người dân không nên ra khỏi nhà hoặc không tiếp xúc gần với người khác để giảm tỉ lệ người mắc bệnh.

    Covid chủ yếu lây từ người sang người. Sảy ra khi hắt hơi hoặc ho hay nói chuyện gần với người khác. Virut có thể lây truyền dễ dàng giữa những người sống chung với nhau. Virut có thể lây từ những cuộc họp, bắt tay hay ôm ấp, chia se hoặc hát chung cùng nhau. Các chuyên gia cũng cho rằng bạn chạm tay lên mặt thì cx có thể bị mắc bệnh. Một người có thể lây nhiễm Covid 19 cho người khác ngay cả khi không có bất kì triệu chứng nào. Do đó nên giữ khoảng cách tốt nhất để tránh sự lây lan.

    Đã có ghi nhận Covid có thể lây sang vật nuôi. Ngoài ra không có cảnh báo nào nói về covid có thể lây sang hồ bơi nhưng hãy cẩn thận khi đến hồ bơi bởi vì hồ bơi đông nười có thể mắc nguy cơ lây nhiễm cao.

    Bệnh covid 19 thường 4-5 mới phát bệnh. Tuy nhiên một số người 2 tuần mới phát hiện ra. Một số người thì không có triệu chứng. Triệu chứng của covid 19 như sau: Sốt, ho, khó thở, cảm thấy mệt mỏi, ớn ạnh, đau nhức, nhức đầu, đau họng, rối loạn vị giác hoặc khứu giác. Đối với nhiều người, triệu chứng thuyên giảm trong vòng nhiều tuần hoặc nhiều tháng. Trẻ em có thể bị nhiễm covid 19 nhưng ít khả năng nghiêm trọng hơn người lớn. Điều đó phụ thuộc vào đọ tuổi sức khỏe của bạn. Người mắc covid 19 khả năng cao sẽ tử vong. Những người có hệ thống miễn dịch kém cũng có nguy cơ trở nên nặng.

    Nếu bạn mắc các triệu chứng tôi đã nêu trên thì hãy đến ngay cơ quan y tế của địa phương bạn. Họ có thể hỏi về lịch sử chuyến đi gần nhất của bạn. Người có triệu chứng nhẹ nên ở nhà tự cách ly. Nếu cần đến bệnh viện thì hãy nhớ đeo khẩu trang để che mũi và miệng. Điều này sẽ đảm bảo cho người khác. Nếu bạn bị bệnh nặng hãy gọi ngay về phòng khám bệnh viện. Nếu bạn cảm thấy cần được chăm sóc thì hãy gọi cấp cứu 115.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thi Tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến: Nhiều Sáng Kiến Có Thể Ứng Dụng Ngay Trong Thực Tế
  • Đáp Án Câu Hỏi Cuộc Thi Tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến 2021
  • Hà Nội: 85 Tập Thể, Cá Nhân Đạt Giải Cuộc Thi “tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến”
  • Hà Nội: 85 Tập Thể, Cá Nhân Đạt Giải Cuộc Thi ‘tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến’
  • Hà Nội: 20 Tập Thể, 65 Cá Nhân Đạt Giải Cuộc Thi “tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến” 2021
  • Phiếu Dự Thi Tìm Hiểu Dịch Bệnh Covid

    --- Bài mới hơn ---

  • Docker Là Gì? Tìm Hiểu Thêm Kiến Thức Về Docker
  • Tìm Hiểu Cơ Bản Về Docker
  • Tìm Hiểu Về Quan Họ Bắc Ninh
  • Tìm Hiểu Về Nguồn Gốc Dân Ca Quan Họ Bắc Ninh
  • Dân Ca Quan Họ Bắc Ninh Là Gì Và Nguồn Gốc
  • Câu hỏi cuộc thi tìm hiểu dịch bệnh Covid-19

    Cuộc thi tìm hiểu dịch bệnh Covid-19

    Cuộc thi tìm hiểu dịch bệnh Covid-19 được tổ chức nhằm nâng cao sự hiểu biết, ý thức phòng chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra (gọi tắt là dịch bệnh Covid-19). Mời các bạn cùng tham khảo mẫu Phiếu dự thi tìm hiểu dịch bệnh Covid-19.

    Lưu ý: Nếu bạn muốn Tải bài viết này về máy tính hoặc điện thoại, vui lòng kéo xuống cuối bài viết

    PHIẾU DỰ THI TÌM HIỂU DỊCH BỆNH COVID-19

    I. THÔNG TIN CÁ NHÂN NGƯỜI DỰ THI

    – Họ và tên:………………………………………..; Giới tính;………..năm sinh:………….;

    – Đơn vị học tập; công tác:………………………………………………………………….;

    – Địa chỉ liên hệ:……………………………..; Email:……………………; SĐT:………….;

    II. PHẦN TRẢ LỜI BỘ CÂU HỎI CUỘC THI TÌM HIỀU DỊCH BỆNH COVID-19 1. Dịch Covid-19 là dịch bệnh gì?

    □ Covid-19 là dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra và xuất hiện đầu tiên ở thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc.

    □ Covid-19 là dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp, có nguy cơ lan rộng trong cộng đồng dân cư, có thể diễn tiến nặng gây suy hô hấp cấp, đe dọa tính mạng người bệnh có thể tiến triển đến tử vong.

    □ Covid-19 là dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp thường diễn tiến nặng ở những bệnh nhân lớn tuổi, suy giảm miễn dịch hoặc có bệnh nền kèm theo.

    □ Tất cả các ý trên

    2. SARS – CoV-2 là gì?

    □ SARS – CoV-2 là một loại vi khuẩn gây viêm đường hô hấp cấp tính.

    □ SARS – CoV-2 là một một chủng mới của virus Corona gây ra bệnh viêm đường hô hấp cấp tính.

    □ SARS – CoV-2 là xuất hiện đầu tiên tháng 12 năm 2021 tại TP. Vũ Hán – Trung Quốc, sau đó lan rộng ra toàn cầu.

    □ SARS – CoV-2 là virus từng gây đại dịch SARS năm 2003.

    3. Người bị nhiễm bệnh Covid-19 có biểu hiện gì?

    □ Trong giai đoạn ủ bệnh không có biểu hiện gì đặc trưng, thậm chí không có biểu hiện gì cho đến khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên của bệnh viêm đường hô hấp cấp.

    □ Đa số trường hợp người nhiễm virus gây bệnh Covid-19 không phát triển thành bệnh.

    □ Khi phát bệnh, các triệu chứng lâm sàng ban đầu hay gặp là sốt, ho khan, mệt mỏi, đau cơ.

    □ Rất hiếm khi bệnh diễn tiến nặng hoặc gây ra tử vong cho bệnh nhân.

    4. Nhiễm bệnh Covid-19 bao lâu thì phát bệnh?

    □ Thông thường từ 02 đến 14 ngày sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh hoặc người bệnh và tùy thuộc vào từng người bệnh

    □ Một số trường hợp có thể dài hơn đến 3 tuần.

    □ Chỉ cần nhiễm virus thì có thể phát bệnh ngay.

    □ Chưa có ghi nhận cụ thể về thời gian ủ bệnh.

    5. Khi mắc Covid 19 nếu không được điều trị có thể dẫn đến những hậu quả gì?

    □ Nhẹ thì có thể tự khỏi.

    □ Nặng có thể diễn biến đến viêm phổi nặng, suy hô hấp cấp tiến triển, suy chức năng các cơ quan dẫn tới tử vong.

    □ Theo ghi nhận, tỷ lệ tử vong do Covid 19 là 20% người nhiễm bệnh.

    □ Rất hiếm khi diễn tiến nặng hoặc tử vong nên không cần phải lo lắng

    6. Có phải cứ ho, sốt là bị bệnh Covid-19 hay không?

    □ Chỉ cần ho, sốt là nghi ngờ nhiễm virus SARS-CoV-2 ngay.

    □ Người bị ho, sốt cần được cách ly ngay lập tức để tránh lây lan cho cộng cộng.

    □ Ho, sốt là triệu chứng chung của các bệnh về đường hô hấp cấp tính do các tác nhân khác gây bệnh; các loại virus khác như virus cúm mùa, virus á cúm, virus hô hấp hợp bào…

    □ Ho, sốt chỉ nghi ngờ nhiễm SARS-CoV-2 khi người bệnh có yếu tốt dịch tể như đi qua vùng dịch, tiếp xúc với người nhiễm SARS-CoV-2 trước đó…

    7. Hiện nay đã có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh Covid-19 chưa? Có vắc xin phòng bệnh chưa?

    □ Hiện nay, Tổ chức Y tế Thế giới và các tổ chức y tế khác chưa có thuốc điều trị đặc hiệu nào cho bệnh Covid 19 cũng như chưa có vắc xin phòng bệnh.

    □ Việc điều trị chủ yếu là hỗ trợ nâng đỡ thể trạng, sức đề kháng và điều trị triệu chứng.

    □ Có thể sử dụng thuốc kháng sinh để điều trị Covid 19.

    □ Điều trị Covid 19 như một bệnh viêm phổi thông thường.

    8. Bệnh Covid-19 lây truyền bằng cách nào?

    □ Virus gây bệnh Covid-19 lây truyền từ người sang người qua không khí do tiếp xúc gần với người bệnh khi người bệnh hắc hơi, ho.

    □ Virus gây bệnh Covid-19 lây truyền từ người sang người thông qua các cử chỉ thân mật như bắt tay, ôm hôn.

    □ Virus gây bệnh Covid-19 lây truyền khi chạm tay vào đồ vật hay bề mặt có chứa virus Corona và vô tình đưa tay lên mắt, mũi, miệng mà không rửa sạch tay trước đó.

    □ Cả ba đáp án trên.

    9. Virus Corona tồn tại bao lâu trong môi trường tự nhiên?

    □ Virus Corona tồn tại từ vài phút đến vài giờ sau khi ra khỏi cơ thể con người.

    □ Virus Corona có thể tồn tại đến hàng tháng nếu bám vào bề mặt có nhiều dinh dưỡng.

    □ Virus Corona có thể tồn tại tối đa vài giờ trong không khí hoặc vài ngày nếu bám vào một số bền mặt.

    □ Virus Corona sẽ chết ngay sau khi rời khỏi cơ thể con người.

    10. Virus Corona tồn tại ở đâu và gây bệnh như thế nào sau khi nhiễm?

    □ Virus Corona bám vào bề mặt các tế bào niêm mạc đường hô hâp (có thể cả niêm mạc miệng, mắt) sau đó nhân lên và gây tổn thương cho tế bào và gây bệnh.

    □ Virus Corona xâm nhập trực tiếp vào máu và gây bệnh cho con người.

    Virus Corona thường tồn tại trong bề mặt các tế bào niêm mạc đường hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu và có thể có trong máu người nhiễm.

    □ Virus Corona có thể tồn tại hàng tháng trong cơ thể con người, đến khi sức đề kháng suy giảm sẽ phát triển và gây bệnh.

    11. Virus gây bệnh Covid-19 gây bệnh cho cơ quan nào?

    □ Gây bệnh cho đường hô hấp.

    □ Có thể gây bệnh đường tiêu hóa và mắt.

    □ Có thể tổn thương chức năng của các tạng khác như gan, thận…

    □ Có thể gây nhiễm trùng máu dẫn đến tử vong.

    12. Dịch Covid-19 có thể lây lan trong trường học hoặc những nơi công cộng bằng cách nào?

    □ Khi có một thành viên trong trường nhiễm virus gây bệnh Covid-19, người này phát tán virus ra ngoài làm ô nhiễm không khí và bề mặt xung quanh. Từ đó những người xung quanh hít phải không khí có virus hoặc chạm tay vào bề mặt có virus như sách vở, đồ dùng học tập, bàn ghế, quần áo, phương tiện vui chơi… rồi từ tay lây nhiễm lên vùng mặt và nhiễm bệnh.

    □ Do tiếp xúc trực tiếp với người bệnh như bắt tay, ôm hôn…

    □ Người vừa nhiễm virus Corona sẽ gây truyền virus cho người tiếp theo, và cứ như vậy sẽ lan lên theo cấp số nhân.

    □ Một người bệnh chỉ có thể lây cho tối đa không quá 20 người

    13. Tại sao đeo khẩu trang có thể ngăn ngừa được bệnh lây nhiễm qua đường hô hấp?

    □ Khẩu trang khi sử dụng đúng loại và đúng cách có thể ngăn ngừa được các tác nhân gây bệnh từ đường hô hấp của người mang mầm bệnh phát tán ra không khí và từ không khí vào đường hô hấp của người chưa bị nhiễm bệnh.

    □ Hiệu quả phòng ngừa sẽ cao hơn khi cả người mang mầm bệnh và người không mang mầm bệnh cùng sử dụng khẩu trang.

    □ Chỉ cần một trong hai người mang khẩu trang là được.

    □ Mang khẩu trang đúng cách đảm bảo 100% không nhiễm bệnh cho dù tiếp xúc gần với người bị bệnh.

    14. Bộ y tế khuyến cáo nên đeo khẩu trang ở thời điểm nào?

    □ Khi có các triệu chứng hô hấp như ho, khó thở; khi chăm sóc hoặc tiếp xúc gần với người có triệu chứng ho, hắt hơi, chảy nước mũi, khó thở hoặc được chỉ định tự theo dõi, cách ly tại nhà;

    □ Khi cách ly ở nhà riêng.

    □ Khi đi ngoài đường.

    □ Khi đến những nơi đông người.

    15. Virus gây bệnh Covid-19 là virus gây bệnh đường hô hấp, tại sao rửa tay lại hạn chế được lây nhiễm mầm bệnh?

    □ Tay người khi tiếp xúc với người bệnh, với các bề mặt và vật dụng quanh người bệnh có thể nhiễm virus gây bệnh và nếu vô tình đưa lên mắt, mũi, miệng sẽ gây nhiễm bệnh nếu không được rửa tay sạch bằng dung dịch vệ sinh tay đặc hiệu.

    □ Rửa tay có thể hạn chế hoặc loại bỏ hoàn toàn tác nhân gây bệnh Covid 19 nếu thực hiện đúng cách và đúng thời điểm.

    □ Chỉ cần rửa tay bằng nước cũng có thể tiêu diệt được virus Corona.

    □ Nên rửa tay bằng dung dịch có nồng độ Cồn từ 90 độ trở lên.

    16. Khi nào phải rửa tay để hạn chế lây nhiễm virus gây bệnh Covid-19?

    □ Sau khi lấy tay che mũi, miệng khi ho, hắt hơi;

    □ Sau khi sờ, cầm, nắm vào các vật dụng xung quanh.

    □ Nên rửa tay trước và sau khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi chế biến thực phẩm, khi thấy tay bẩn…

    □ Tất cả các thời điểm trên

    17. Ngoài việc rửa tay sạch, cần thực hiện thêm thói quen gì với đôi tay để hạn chế lây nhiễm virus gây bệnh Covid-19?

    □ Không cầm vào mặt trước trong suốt quá trình sử dụng cũng như mặt sau của khẩu trang đã sử dụng.

    □ Không đưa bàn tay lên mặt, nhất là dụi mắt, ngoáy mũi hay cắn móng tay.

    □ Hạn chế chạm tay vào các bề mặt có nguy cơ cao hoặc nghi ngờ ô nhiễm mầm bệnh.

    □ Tất cả đều đúng.

    18. Bệnh Covid 19 có lây qua muỗi đốt hay không?

    □ Virus Corona là virus gây bệnh đường hô hấp lây truyền chủ yếu qua giọt bắn khi người bị nhiễm ho hoặc hắc hơi.

    □ Virus Corona có thể lây truyền qua muỗi đốt.

    □ Virus Corona không thể lây truyền qua muỗi đốt.

    □ Nước bọt của muỗi có khả năng tiêu diệt được virus Corona.

    19. Nên phòng chống dịch bệnh Covid-19 khi tham gia các phương tiện giao thông công cộng như thế nào?

    □ Đeo khẩu trang đúng cách. Không khạc nhổ bừa bãi. Che mũi, miệng khi ho, hắt hơi.

    □ Thông báo ngay cho cơ sở y tế hoặc cơ quan có thẩm quyền nếu phát hiện hành khách có dấu hiệu sốt, ho, khó thở.

    □ Phải rửa tay bằng các dung dịch sát khuẩn tay nhanh ngay sau khi chạm vào tất cả các đồ vật trên phương tiện giao thông công cộng.

    □ Chỉ phòng tránh khi tham gia giao thông ở những khu vực đã có người nhiễm bệnh.

    20. Có nên tránh bắt tay để không mắc Covid 19 không?

    □ Không nên, đây là một tập quán của người Việt.

    □ Có, nên hạn chế bắt tay để ngừa mắc Covid 19. Các virus gây bệnh Covid 19 có thể được truyền qua cái bắt tay, rồi sau đó bạn đưa tay lên mắt, mũi, miệng của mình.

    □ Thay cho cái bắt tay, bạn có thể chào hỏi người khác bằng việc vẫy tay, gật đầu hoặc cúi chào…

    □ Chỉ cần đứng gần người bệnh cũng bị truyền bệnh cho dù có bắt tay hay không.

    21. Đeo găng tay cao su khi đến những nơi công cộng có hiệu quả trong việc ngăn ngừa mắc Covid 19 không?

    □ Đeo găng tay cao su là một trong những cách hiệu quả giúp phòng ngừa Covid 19 khi đến những nơi công cộng

    □ Thường xuyên rửa tay sạch bằng xà phòng hoặc dung dịch chứa cồn tốt hơn so với đeo găng tay cao su.

    □ Virus gây bệnh Covid 19 vẫn có thẻ bám trên găng tay cao su, và nếu sau đó bạn chạm tay lên mặt, virus có thể chuyển từ găng sang mặt và gây bệnh.

    □ Nên sử dụng găng tay cao su khi chạm vào tiền, thẻ tín dụng…

    22. Tắm nước nóng có giúp ngăn ngừa được bệnh Covid 19 không?

    □ Có, chỉ cần thường xuyên tắm với nước nóng, có thể ngăn ngừa được bệnh Covid 19.

    □ Virus Corona không chịu được nhiệt độ cao, do đó tắm bằng nước nóng sẽ giúp tiêu diệt virus.

    □Nhiệt độ cơ thể người bình thường duy trì từ 36,5 – 37oC, dù bạn có tắm nước nóng hay không.

    □ Cách tốt nhất dể bảo vệ không mắc Covid 19 là thường xuyên rửa sạch tay. Bằng cách này, có thể loại bỏ virus có thể đang bám trên tay, do đó có thể tránh bị nhiễm nếu chạm tay vào mắt, mũi, và miệng.

    23. Đeo khẩu trang y tế như thế nào là đúng cách?

    □ Khi đeo đảm bảo tay sạch, luôn đeo mặt chống thấm ra ngoài, chỉnh thanh kim loại cho ôm sát mũi và quai đeo chắc chắn.

    □ Khẩu trang phải trùm kín được mũi, miệng. Thời gian đeo khẩu trang dùng một lần khoảng 6 – 8 giờ.

    □ Không sờ tay vào mặt ngoài trong suốt quá trình sử dụng. Khi tháo phải vệ sinh tay, dùng tay tháo dây đeo và chỉ cầm dây đeo bỏ vào thùng rác, không sờ vào mặt ngoài khẩu trang.

    □ Tất cả các ý trên.

    24. Khẩu trang vải có tác dụng dự phòng lây nhiễm virus gây bệnh Covid-19 không?

    □ Có. Tuy nhiên hiệu quả bảo vệ thấp hơn khẩu trang y tế và có thể khác nhau tùy theo cấu tạo, cách sử dụng (đặc biệt là vấn đề tái sử dụng) và đối tượng sử dụng.

    □ Không. Khẩu trang vải không đảm bảo che tránh được những vi khuẩn, hạt bụi siêu nhỏ.

    25. Thuốc súc họng có tác dụng trong phòng chống Covid 19 không?

    □ Thuốc súc họng có tác dụng sát khuẩn giúp làm sạch khoang miệng, tiêu diệt vi khuẩn và virus gây bệnh.

    □ Việc súc miệng sát khuẩn 2-4 lần mỗi ngày giúp giảm thiểu nguy cơ nhiễm giữa người với người thông qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc trực tiếp.

    □ Súc miệng bằng chất sát trùng càng nhiều càng tốt, không gây hại gì cho cơ thể mà tránh được dịch.

    □ Súc họng càng sâu càng tốt, việc có thể nuốt một ít nước súc họng không có vấn đề gì.

    26. Sử dụng mạng xã hội như thế nào là đúng cách góp phần vào công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19?

    □ Thường xuyên cập nhật thông tin về tình hình dịch bệnh tại cổng thông tin điện tử của Bộ y tế với tên miền https://moh.gov.vn/.

    □Tuyên truyền người thân, bạn bè cách thức vệ sinh cá nhân, cách thức phòng chống dịch bệnh theo khuyến cáo của Bộ Y tế.

    □ Tất cả các ý trên

    27. Đăng tải thông tin sai sự thật về tình hình dịch bệnh Covid-19 có thể bị phạt vi phạm hành chính như thế nào?

    □ Phạt tiền từ 10 triệu đến 15 triệu đồng (đối với cá nhân) theo quy định tại Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện.

    □ Phạt tiền từ 20 triệu đến 30 triệu đồng (đối với tổ chức) theo quy định tại khoản 3, Điều 64, Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện.

    □ Việt Nam đã có quyền tự do ngôn luận nên có thể đăng bất cứ thông tin gì mình muốn.

    28. Cố tình khai báo sai sự thật tình hình bệnh của mình nhằm trốn tránh cách ly phòng dịch Covid-19 có thể bị xử lý như thế nào?

    □ Có thể bị phạt tiền từ 5-10 triệu đồng theo quy định tại khoản 2, Điều 10, Nghị định 176/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.

    □ Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 240 Bộ luật hình sự về tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người.

    □ Người dân có quyền giữ những thông tin riêng hoặc nhạy cảm mà không cần phải khai báo.

    29. Các hành vi nào cần được lên án, xử lý nghiêm theo quy định pháp luật trong tình hình dịch bệnh Covid-19?

    □ Tích trữ, nâng giá khẩu trang, dung dịch rửa tay và các dụng cụ y tế khác vượt quá mức giá nêm yết theo quy định.

    □ Khai báo y tế không trung thực về lịch trình xuất, nhập cảnh; lịch trình đi lại, đối tượng tiếp xúc khi bị nghi ngờ tiếp xúc với người nhiễm Covid-19 để cố tình trốn tránh việc cách ly y tế.

    □ Lợi dụng tình hình dịch bệnh Covid-19 để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật và thực hiện hành vi phạm tội.

    □ Tất cả các hành vi trên.

    Câu 30. Những việc nên làm trong phòng chống dịch bệnh Covid-19?

    □ Tuân thủ nghiêm và chia sẽ, tuyên truyền rộng rãi đến người thân, bạn bè và toàn xã hội cách thức phòng chống bệnh viêm đường hô hấp cấp do Covid-19 gây ra như: Quy trình vệ sinh cá nhân, cách thức sử dụng khẩu trang y tế và các biện pháp phòng tránh khác theo khuyến cáo của Bộ Y tế.

    □ Không đăng tải thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống về tình hình dịch bệnh, cũng như công tác phòng chống dịch bệnh của cơ quan chức năng mà hãy tập trung tuyên truyền cách thức phòng chống dịch bệnh, tuyên truyền những thành tựu y học của nước ta trong việc điều trị bệnh, những việc làm hay, thiết thực, có ý nghĩa, có hiệu quả; gương người tốt, việc tốt trong công tác phòng chống dịch bệnh.

    □ Khai báo chính xác tờ khai y tế; tuân thủ nghiêm các biện pháp cách ly của các cơ sở y tế.

    □ Kịp thời tố giác các hành vi lợi dụng tình hình dịch bệnh Covid-19 để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật.

    □ Không du lịch, di chuyển đến những nơi đang có dịch nếu không thực sự cần thiết. Nếu bắt buộc phải đi đến vùng có dịch, phải tuyệt đối thực hiện tốt các biện pháp bảo hộ và phải cách ly theo quy định.

    □ Hạn chế tối đa việc tố chức các hoạt động tập trung đông người, hạn chế đến chỗ đông người.

    □ Tất cả các điều trên.

    DỰ ĐOÁN…………………Người Theo bạn, có bao nhiêu người tham gia dự thi?

    * Địa chỉ gửi bài dự thi về Ban tổ chức: [email protected]

    * Ngày kết thúc nhận bài dự thi: Ngày 10 tháng 04 năm 2021.

    * Tổng kết, trao giải: Trong tháng 4 năm 2021.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Bài Viết Về Dịch Vụ Công Trực Tuyến
  • Thi “tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến”
  • Đáp Án Cuộc Thi Tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến Năm 2021
  • Cuộc Thi “tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến” Năm 2021: Sáng Kiến Hoàn Thiện Phần Mềm Hữu Ích
  • Soạn Bài Tìm Hiểu Đề Và Cách Làm Bài Văn Tự Sự Trang 47 Sgk Văn 6
  • Cuộc Thi Tìm Hiểu Dịch Bệnh Covid

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Dòng Mến Thánh Giá Vinh: Thông Báo Tuyển Sinh 2021
  • 350 Năm Dòng Mến Thánh Giá: Ba Mươi Hội Dòng Mến Thánh Giá
  • Gx. Thánh Giuse, Gò Vấp: Thiếu Nhi Tìm Hiểu Ơn Gọi Tại Dòng Mến Thánh Giá Tân Lập
  • Giao Tiếp Giữa Các Container Trong Docker Và Sử Dụng Docker Compose
  • Tìm Hiểu Docker Compose Qua Các Ví Dụ Cụ Thể
  • Cuộc thi tìm hiểu dịch bệnh Covid-19

    Nhằm nâng cao sự hiểu biết, ý thức phòng chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra (gọi tắt là dịch bệnh Covid-19) trong đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên, công chức, viên chức và người lao động trên địa bàn tỉnh; nâng cao ý thức sử dụng mạng xã hội đúng mục đích, đúng quy định pháp luật, góp phần vào việc phòng chống có hiệu quả dịch bệnh trong tình hình hiện nay; Chi đoàn Viện KSND tỉnh Bình Định phối hợp với Đoàn Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định và Đoàn Trường THPT Nguyễn Thái Học tổ chức Cuộc thi tìm hiều dịch bệnh Covid-19, nội dung cụ thể như sau:

    1. Đối tượng tham gia dự thi

    – Công chức, viên chức và người lao động trên địa bàn tỉnh Bình Định;

    – Đoàn viên, thanh niên trên địa bàn tỉnh Bình Định;

    – Học sinh, sinh viên đang học tập tại các trường trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Bình Định.

    2. Hình thức cuộc thi

    Cuộc thi tìm hiểu về dịch bệnh Covid-19 được tổ chức bằng hình thức trực tuyến thông qua trang tin điện tử của Viện KSND tỉnh Bình Định. Ngoài ra, Ban Tổ chức còn in sẵn bộ câu hỏi để hỗ trợ cho người dự thi không có điều kiện tham gia dự thi bằng hình thức trực tuyến để nộp về Ban Tổ chức qua Bưu điện.

    3. Một số quy định chung

    – Một cá nhân chỉ được tham gia 01 bài dự thi.

    – Người tham gia dự thi phải cung cấp thông tin cá nhân đầy đủ, chính xác theo mẫu phiếu dự thi.

    – Thành viên Ban Tổ chức không được tham gia dự thi.

    4. Cách thức dự thi:

    – Người dự thi truy cập vào trang tin điện tử VKSND tỉnh Bình Định để lấy Phiếu dự thi tìm hiểu dịch bệnh Covid-19. Phiếu dự thi gồm III phần:

    + Phần I. Thông tin cá nhân người dự thi: Người dự thi điền đầy đủ, trung thực thông tin theo mẫu.

    + Phần II. Phần trả lời Bộ câu hỏi tìm hiểu dịch bệnh Covid-19: Phần này có 30 câu hỏi. Người tham gia dự thi phải trả lời đầy đủ 30 câu hỏi của Ban tổ chức đưa ra về phòng chống dịch bệnh Covid-19.

    Mỗi câu hỏi có nhiều đáp án trả lời. Câu hỏi có thể có duy nhất một đáp án đúng hoặc có nhiều đáp án đúng. Người tham gia dự thi trả lời câu hỏi trực tiếp trên file word bằng cách đánh dấu (X) vào ô trống ở đầu câu trả lời tương ứng đối với câu trả lời mình cho là đúng.

    * Cách tính câu trả lời đúng:Câu trả lời đúng là câu có đáp án trả lờitrùngkhớp với đáp án của Ban tổ chức đưa ra. Đối với câu hỏi có nhiều đáp án đúng thì tất cả các đáp án trả lời của câu đó phải trùng khớp với đáp án của Ban tổ chức đưa ra.

    + Phần III. Dự đoán số người tham gia cuộc thi: Phần này người dự thi điền số người tham gia cuộc thi mà mình dự đoán.

    – Khi thực hiện xong cả ba phần trong phiếu dự thi nêu trên, người tham gia dự thi gửi bài dự thi của mình về Ban tổ chức, địa chỉ thư điện tử: [email protected]êu đề thư điện tử ghi rõ “Bài dự thi tìm hiểudịch bệnh Covid-19”.

    * Đối với trường hợp không có điều kiện tham gia bằng hình thức trực tuyến như đã nêu trên thì người tham gia dự thi trả lời trực tiếp 30 câu hỏi vào phiếu dự thi mà Ban tổ chức đã cung cấp, nộp về Ban tổ chức (Qua Chi đoàn Viện KSND tỉnh Bình Định, địa chỉ số 04 Trần Cao Vân, P. Lê Lợi, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định) thông qua Bưu điện. Ngoài bì thư ghi rõ “Bài dự thi tìm hiểu dịch bệnh Covid-19”.

    * Người tham gia dự thi theo dõi đáp án và kết quả cuộc thi trên trang tin điện tử Viện KSND tỉnh Bình Định, địa chỉ https://vksbinhdinh.gov.vn.

    5. Thời gian tổ chức cuộc thi

    – Thời gian nhận bài dự thi: Từ ngày 24/3/2020 đến hết ngày 10/4/2020.

    – Thời gian tổng kết, trao giải: Trong tháng 4 năm 2021.

    6. Cách xếp hạng và cơ cấu giải thưởng

    * Cách xếp hạng:

    – Dựa vào số câu trả lời đúng và đáp án dự đoán số người tham gia cuộc thi.

    – Thứ tự xếp từ cao xuống thấp theo tiêu chí: số câu trả lời đúng nhiều nhất và có đáp án dự đoán đúng hoặc gần với số liệu thực tế từ Ban tổ chức công bố nhất. Trong trường hợp có từ 02 bài dự thi trở lên có cùng số câu trả lời đúng, thì căn cứ vào đáp án dự đoán, bài dự thi nào có đáp án dự đoán gần đúng nhất thì được xếp hạng trên. Trong trường hợp có từ 02 bài dự thi trở lên cùng số câu trả lời đúng và có đáp án dự đoán giống nhau, thì căn cứ vào thời gian Ban Tổ chức nhận bài dự thi, bài dự thi nào được Ban Tổ chức nhận sớm nhất sẽ được xếp hạng trên.

    * Cơ cấu giải thưởng: Giải thưởng cuộc thi tìm hiểu về dịch bệnh Covid-19 gồm:

    – 01 giải nhất: Giấy chứng nhận và tiền mặt trị giá 1.000.000đ.

    – 01 giải nhì: Giấy chứng nhận và tiền mặt trị giá 800.000đ.

    – 01 giải ba: Giấy chứng nhận và tiền mặt trị giá 500.000đ.

    – 07 giải khuyến khích, mỗi giải trị giá 100.0000đ.

    Ban Tổ chức cuộc thi rất mong nhận được sự quan tâm và tham gia nhiệt tình của đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên, công chức, viên chức và người lao động trên địa bàn tỉnh Bình Định. Mọi chi tiết xin liên hệ ông Nguyễn Văn Hải – Trưởng Ban tổ chức cuộc thi, số điện thoại: 0967.020.988 (Trong giờ hành chính)./.

    Thể lệ Cuộc thi Phiếu dự thi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Về Dịch Bệnh Covid
  • Thi Tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến: Nhiều Sáng Kiến Có Thể Ứng Dụng Ngay Trong Thực Tế
  • Đáp Án Câu Hỏi Cuộc Thi Tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến 2021
  • Hà Nội: 85 Tập Thể, Cá Nhân Đạt Giải Cuộc Thi “tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến”
  • Hà Nội: 85 Tập Thể, Cá Nhân Đạt Giải Cuộc Thi ‘tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến’
  • Bài Dự Thi Bài Dự Thi Tìm Hiểu Bác Hồ Với Thái Bình

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tìm Hiểu Bác Hồ Với Thai Bình Bai Du Thi Tim Hieu Bac Ho Voi Thai Binh Thai Binh Lam Theo Loi Bac Full Doc
  • Giáo Án Tìm Hiểu Về Bác Hồ
  • Sưu Tầm Tên Gọi, Bí Danh Và Bút Danh Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Qua Các Thời Kỳ
  • Những Tên Gọi, Bí Danh, Bút Danh Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Kim Liên, Quê Hương Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • BÀI DỰ THI TÌM HIỂU BÁC HỒ VỚI THÁI BÌNH – THÁI BÌNH LÀM THEO LỜI BÁC

    Câu 1: Bạn hãy cho biết, trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bao nhiêu lần về thăm Thái Bình? Bối cảnh lịch sử, ý nghĩa những lần Người về thăm?

    Gợi ý trả lời:

    Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 5 lần về thăm Đảng bộ và nhân dân Thái Bình.

    Lần thứ nhất : Ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền dân chủ nhân dân vừa mới thành lập, đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách: 28 vạn người chết đói, 500 quân Tưởng kéo vào, quấy phá… Đê Đìa (Hưng Nhân) và đê Mỹ Lộc (Thư Trì) bị vỡ. 15 giờ, ngày 10 – 01 – 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hưng Yên đến thăm Thái Bình. Người làm việc với các đồng chí lãnh đạo tỉnh tại Uỷ ban hành chính tỉnh, Người căn dặn: Phải đoàn kết toàn dân, đoàn kết các thân hào, thân sỹ trước hết phải lo giải quyết nạn đói cho nhân dân và nhanh chóng khắc phục đoạn đê mới bị vỡ. Sau đó, Người đến thăm đoạn đê Đìa thuộc huyện Hưng Nhân. Trước đông đảo đồng bào Thái Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh động viên và nhắc nhở: nhiệm vụ trước mắt là phải đắp lại đê và cứu đói.

    Lần thứ hai : Ngày 28 – 4 – 1946, biết tin nhân dân Thái Bình chỉ trong ba tháng đã khắc phục được hậu quả hai quãng đê bị vỡ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm Thái Bình lần thứ hai. Cùng đi với Người có các ông Huỳnh Thúc Kháng, Lê Văn Hiến và một số lãnh đạo khác. Tại nhà Trí thể dục (thị xã Thái Bình), Người đã gặp gỡ, nói chuyện với hơn 5 vạn cán bộ, nhân dân trong tỉnh. Người khen ngợi thành tích gia tăng sản xuất của nhân dân và kêu gọi mọi người phải đoàn kết, ra sức diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Sau đó, Bác đến thăm quãng đê vỡ đã được hàn gắn. Người xem xét rất kỹ đoạn đê và nhắc phải đảm bảo đầm đất kỹ hơn nữa.

    Lần thứ ba : Ngày 26 – 10 – 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Thái Bình. Tại trụ sở Uỷ ban hành chính tỉnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghe lãnh đạo tỉnh báo cáo những công việc của tỉnh đã làm được trong năm 1958. Rời trụ sở Uỷ ban hành chính tỉnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm các chuyên gia Trung Quốc tại công trường Nhà máy Xay. Sau đó, Người tới dự Đại hội sản xuất Đông – Xuân tỉnh Thái Bình. Tại sân vận động thị xã, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có buổi nói chuyện với 4 vạn đại biểu nhân dân Thái Bình các cấp xã, huyện, tỉnh. Người đánh giá cao những thành tích mà quân dân Thái Bình đã đạt được và nhắc nhở một số điểm cần khắc phục như vấn đề tiết kiệm, chủ quan, tự mãn. Cuối cùng, Người kết luận “Thái Bình có nhiều điều kiện thuận lợi, người đông, đất tốt, nước có sẵn, đồng bào và cán bộ phải cố gắng làm cho tỉnh nhà thành một tỉnh gương mẫu trong miền Bắc”.

    Lần thứ tư : Được biết, Thái Bình có phong trào lấn biển khai hoang và toàn tỉnh đạt thành tích cao trong sản xuất, ngày 26 – 3 – 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm và động viên phong trào. Từ máy bay trực thăng xuống, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ các đồng chí lãnh đạo tỉnh và các tầng lớp nhân dân ra đón. Đến thăm hợp tác xã Nam Cường (huyện Tiền Hải), xã điển hình đi đầu trong công tác lấn biển, mở rộng diện tích đất canh tác, Người khen ngợi thành tích ngăn biển, khai phá đất hoang và tặng huy hiệu cho 4 cán bộ, xã viên có thành tích xuất sắc trong xã.

    Ngoài những vinh dự trên, nhân dân và Đảng bộ Thái Bình còn nhận được muôn vàn tình thương yêu và chăm sóc của Bác như: trong nhiều năm theo dõi Báo “Thái Bình tiến lên”, Bác đã thưởng huy hiệu cho 67 người tốt, việc tốt. Bác khen 41 giáo viên dạy giỏi, 197 học sinh giỏi. Bác hai lần gửi thư khen Hợp tác xã Tân Phong, Đông Bình cách chăn nuôi trâu, bò giỏi, khen ngợi Hợp tác xã Hiệp Hoà trồng cây giỏi, khen đội Thuỷ Lợi Quang Trung làm thuỷ lợi giỏi. Bác gửi Tỉnh uỷ ba tấm ảnh có chữ ký của Người làm phần thưởng. Đầu năm 1969, cả Ban Thường vụ Tỉnh uỷ được vào thăm và chụp ảnh với Bác.

    Câu 2: Trong bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ, chiến sĩ tỉnh Thái Bình, Bác Hồ từng căn dặn: “Thái Bình có nhiều tiến bộ, Bác mong các đồng chí và đồng bào đều cố gắng hơn nữa để làm cho Thái Bình trở thành một tỉnh gương mẫu về mọi mặt”. Bạn hãy cho biết câu nói trên Bác nói ở đâu? Vào thời gian nào? Nội dung, ý nghĩa của bài nói chuyện đó?

    Gợi ý trả lời:

    TOÀN VĂN BÀI NÓI CHUYỆN CỦA BÁC VỚI ĐỒNG BÀO VÀ CÁN BỘ TỈNH THÁI BÌNH NGÀY 01 – 01 – 1967

    Hôm nay, Bác cùng với các đồng chí Tố Hữu và Hoàng Anh, thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ về thăm Thái Bình là tỉnh trong năm 1966 đã sản xuất giỏi. Bây giờ có mấy câu chuyện nói với các cụ, các cô, các chú.

    Hiện nay, nhiệm vụ quan trọng nhất của toàn Đảng, toàn dân ta là sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Sản xuất và chiến đấu là hai mặt trận quan hệ rất mật thiết với nhau. Các hợp tác xã nông nghiệp là đội quân hậu cần của quân đội chiến đấu ngoài mặt trận. Các xã viên hợp tác xã là chiến sỹ sản xuất, cần phải cố gắng như chiến sỹ ngoài mặt trận. Các xã viên hợp tác xã phải sản xuất tốt để bộ đội và nhân dân ta ăn no, đánh thắng. Vì vậy, nhiệm vụ của các hợp tác xã nông nghiệp, của bà con xã viên, của cán bộ công tác ở nông thôn là rất quan trọng.

    Các chiến sỹ ở ngoài mặt trận phải có đầy đủ vũ khí, phải nắm vững chiến thuật để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Trên mặt trận sản xuất, cán bộ và xã viên phải nắm vững kỹ thuật canh tác để thâm canh tăng năng suất. Muốn tăng năng suất, trước hết phải làm tốt thuỷ lợi, phải nhiều phân bón. Phân bón thì có thứ phân bón sẵn có, chỉ cần ta xúc lấy là được, như bùn, nước phù sa. Nhưng phân chuồng là loại phân bón tốt nhất. Muốn có nhiều phân chuồng thì phải chăn nuôi tốt, nhất là nuôi lợn. Có đủ nước, nhiều phân rồi, lại phải chọn giống tốt, phải phòng trừ sâu bệnh thì mới thu hoạch được nhiều. Trong sản xuất có nhiều việc cần phải quan hệ với nhau. Có làm tốt cả các biện pháp thì ruộng mới có năng suất cao, mùa màng mới thắng lợi.

    Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, phải coi trọng cả lúa và hoa màu. Có lúa lại phải có nhiều hoa màu thì lương thực mới dồi dào. Hoa màu dùng làm thức ăn cho người, lại còn để chăn nuôi lợn.

    Trong việc chăn nuôi phải cố gắng nuôi nhiều cá, để thêm thức ăn.

    Một việc quan trọng nữa là phải trồng cây gây rừng. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Trồng 100 cây mà sống cả, tốt cả thì hơn trồng 1000 cây mà chỉ sống được 90 cây. Việc trồng cây nên dựa vào các lực lượng các cụ phụ lão và các cháu nhi đồng. Các cụ vừa có kinh nghiệm trồng cây, vừa cẩn thận, tỉ mỉ chăm sóc cây cối. Các cháu nhỏ ở nông thôn cần giúp các cụ giữ gìn cây tốt, không để trâu bò phá hoại.

    Muốn làm tốt những công việc sản xuất thì phải tổ chức và phân phối sức lao động cho tốt. Sau này, kháng chiến thắng lợi, chúng ta sẽ có nhiều máy móc để thay thế cho sức người và sức trâu bò. Nhưng bây giờ chúng ta cần rất nhiều sức trâu bò. “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Phải chăm sóc trâu bò, không được để trâu bò đói rét.

    Muốn sử dụng tốt sức người vào công việc sản xuất, thì cần ra sức cải tiến công cụ. Một người gánh khoẻ cũng chỉ được 50 cân, nhưng một người kéo một cái xe thì có thể chở được hơn vài tạ, tức là gấp mấy lần sức gánh.

    Sức người có nhiều loại: có thanh niên, có phụ nữ, có người trẻ, có người già. Phải phân công cho hợp lý, người khoẻ thì làm việc nặng, người yếu thì làm việc nhẹ.

    Phải đặc biệt chú ý đến sức lao động phụ nữ. Phụ nữ là đội quân lao động rất đông. Phải giữ gìn sức khoẻ cho phụ nữ để chị em tham gia sản xuất được tốt. Ví dụ: Khi phụ nữ có kinh nguyệt thì chớ phân công họ đi làm ở chỗ ruộng sâu, nước rét. Các hợp tác xã phải có những tổ giữ trẻ tốt để phụ nữ có con mọn có chỗ gửi các cháu để yên tâm lao động.

    Một điều nữa, Bác cần nói là: phải kính trọng phụ nữ. Chúng ta làm cách mạng là để tranh quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau. Lê nin dạy chúng ta: phụ nữ là một nửa của xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả. Phụ nữ tự mình phấn đấu giữ quyền bình đẳng với đàn ông. Đàn ông phải kính trọng phụ nữ. Nhưng Bác nói vẫn có người đánh chửi vợ. Đó là một điều đáng xấu hổ. Như thế thì còn gì là tình nghĩa vợ chồng? Như thế là phạm pháp, là cực kỳ dã man. Chi bộ phải giáo dục đảng viên và nhân dân về quyền bình đẳng giữa vợ chồng. Đoàn thể phụ nữ và thanh niên phải bảo ban nhau cách cư xử hoà thuận trong gia đình. Bác mong rằng: từ nay về sau sẽ không còn thói xấu đánh chửi vợ nữa.

    Bây giờ Bác nói đến tình hình hợp tác xã nông nghiệp ở Thái Bình. Nói chung đều có tiến bộ, thu hoạch khá. Nhưng chưa phải hợp tác xã nào cũng đều tốt cả. Cho nên hợp tác xã đã khá rồi phải cố gắng vươn lên hơn nữa. Các hợp tác xã kém thì phải cố gắng tiến lên thành hợp tác xã khá. Các hợp tác xã đều phải:

    – Đoàn kết chặt chẽ giữa xã viên với nhau, đoàn kết giữa ban quản trị và xã viên.

    – Thực hành dân chủ, nghĩa là công việc đều phải bàn bạc với xã viên, cán bộ không được quan liêu, mệnh lệnh.

    – Tài chính phải công khai, tuyệt đối chống tham ô, lãng phí.

    Các hợp tác xã phải làm thế nào để các xã viên đều thấy rằng mình là người chủ tập thể của hợp tác xã, có quyền bàn bạc và quyền quyết định những công việc của hợp tác xã. Có như thế thì xã viên sẽ đoàn kết chặt chẽ, phấn khởi sản xuất và hợp tác xã sẽ tiến bộ không ngừng.

    Năm nay, Thái Bình được mùa khá. Nhưng chớ thấy được mùa mà chủ quan, cụ thể là:

    a. Phải cố gắng hơn nữa, không nên cho như thế là đủ rồi. Phải làm cho năng suất cao hơn nữa;

    b. Phải tiết kiệm, không được lãng phí;

    c. Thái Bình vốn là một tỉnh đất hẹp, người đông. Cho nên phải hết sức tăng năng suất cây trồng, nhưng vẫn phải đi vỡ hoang thêm ruộng đất. Trong việc vỡ hoang có xã Nam Cường, năm nọ Bác về thăm thì mới bắt đầu vỡ hoang. Bây giờ Nam Cường chẳng những sản xuất đủ ăn mà còn bán thóc làm nghĩa vụ cho Nhà nước. Như thế là rất tốt.

    Ruộng đất khôn lắm, nó cũng biết suy tính đấy. Người chăm sóc nó chừng nào thì nó trả ơn cho người chừng nấy. Về chuyện ruộng đất, có hai nhóm tranh luận với nhau: nhóm A thì cho đất tốt là người chăm sóc nó. Nhóm B cho là đất tốt, đất xấu là do nó vốn có sẵn như vậy. Bác cho rằng nhóm A là đúng. Như hợp tác xã Tân Phong chẳng hạn. Đất Tân Phong trước đây cũng không tốt mấy. Nhưng Đảng bộ và bà con xã viên ở đó quyết tâm cải tạo đất. Bây giờ cả hợp tác xã Tân Phong đạt hơn 7 tấn thóc/1 hecta. Đạt được như vậy cũng chưa phải là tột bậc, còn có thể đạt cao hơn nữa.

    Bác nghe nói ở Thái Bình đang có phong trào báo công, bình công. Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, ai có công thì báo công và đưa ra trước xã viên bình công. Làm như thế là rất tốt, vì:

    – Ai có công, ai không có công, bà con xã viên đều biết. Do đó thúc đẩy lẫn nhau, cùng cố gắng lập công mới.

    – Người có công gì tự báo công để tập thể bình bầu, như thế là thực hành quyền dân chủ trong nhân dân, làm cho mọi người đều phấn khởi và cố gắng.

    – Đó cũng là một dịp để phê bình và tự phê bình một cách thiết thực, nhân dân tự giáo dục lẫn nhau, qua đó mọi người biết làm việc gì thì tốt, làm thế nào là tốt…

    – Về việc xây dựng Đảng ở Thái Bình, phát triển Đảng như vậy là khá. Nhưng Đảng viên là phụ nữ hiện nay mới chỉ chiếm 17 % tổng số đảng viên, như thế là còn ít, còn hẹp hòi với phụ nữ. Trong lúc đề bạt cán bộ trẻ phải chú ý đến sự đoàn kết giữa đảng viên cũ và đảng viên mới. Trong Đảng ta có nhiều đảng viên già, nhiều đảng viên trẻ. Đảng viên nhiều tuổi thì từng trải. Đảng viên trẻ tuổi thì hăng hái. Cho nên Đảng viên phải giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Công việc cách mạng rất nhiều, không sợ thiếu việc. Phải chú ý đến phát triển Đảng vào thanh niên. Không nên hẹp hòi. Nhưng việc phát triển Đảng phải làm cẩn thận, không được cẩu thả.

    Còn hai điều nữa, phải rất chú ý:

    Một là, việc phòng không nhân dân phải làm tốt hơn nữa. Địch càng thua, càng liều lĩnh. Chiến tranh có thể gay go hơn. Cho nên phải đào nhiều hầm hào để bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.

    Hai là, nhân dân phải ra sức bảo vệ tài sản của Nhà nước và của hợp tác xã hơn nữa. Phải giáo dục nhân dân, làm cho mọi người rõ: của Nhà nước, của hợp tác xã, tức là của mình, do đó mọi người phải ra sức giữ gìn, không để cho mất mát, hao hụt.

    Cuối cùng, Bác nhờ các cụ, các cô, các chú chuyển lời thăm hỏi tới toàn thể bà con xã viên trong hợp tác xã, công nhân trong xí nghiệp, cán bộ trong cơ quan, các đơn vị bộ đội và công an, quân dân trong tỉnh. Năm nọ, Bác về thăm, cán bộ và đồng bào trong tỉnh đã hứa với Bác sẽ đưa phong trào tiến lên mạnh mẽ. Bây giờ, Bác rất vui lòng thấy Thái Bình có tiến bộ nhiều. Bác mong các đồng chí và đồng bào đều cố gắng hơn nữa để làm cho Thái Bình trở thành một tỉnh gương mẫu về mọi mặt.

    Câu 3: Bạn hãy cho biết, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hợp tác xã đầu tiên nào của Thái Bình và cũng là hợp tác xã đầu tiên của cả nước đạt thành tích 5 tấn thóc/ha? Ý nghĩa của sự kiện đó đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước và trong công cuộc xây dựng nông thôn mới hiện nay?

    Gợi ý trả lời:

    (Nêu một vài nét khái quát về Hợp tác xã Tân Phong, xã Việt Hùng, huyện Thư Trì, tỉnh Thái Bình).

    * Ý nghĩa đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước và trong công cuộc xây dựng nông thôn mới hiện nay

    – Thái Bình đạt 5 tấn thóc/ha, ghi dấu mốc trong lịch sử là tỉnh đầu tiên đạt năng suất lúa cao nhất trên toàn miền Bắc trong điều kiện đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc; phương tiện, công cụ sản xuất nông nghiệp còn lạc hậu, thiếu thốn nhưng với tinh thần quyết tâm, tự lực, tự cường của Đảng bộ và nhân dân Thái Bình đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, chắc tay súng, vững tay cày, vừa chiến đấu, vừa sản xuất. Sự kiện này thể hiện ý chí, sức mạnh đoàn kết của Đảng bộ và nhân dân Thái Bình đã làm nên kì tích trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, góp phần xây dựng chủ nghĩa ở miền Bắc…

    – Tích cực đóng góp sức người, sức của, làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam, góp phần hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước…

    – Phát huy những thành tích đã đạt được trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; sự kiện Thái Bình đạt 5 tấn thóc/1ha năm 1965 vừa là bài học về huy động sức dân trong công cuộc xây dựng nông thôn mới hiện nay, đồng thời vừa là động lực giúp Đảng bộ và nhân dân Thái Bình không ngừng phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, chung sức, đồng lòng quyết tâm đưa Thái Bình trở thành một tỉnh nông thôn mới, có nền nông nghiệp và công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2021…

    Câu 4: Thực hiện lời huấn thị của Bác, trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân Thái Bình đã đạt được những thành tựu gì, đặc biệt trong công cuộc xây dựng nông thôn mới? Là một người con của quê hương, bạn sẽ làm gì để góp phần xây dựng Thái Bình trở thành tỉnh “gương mẫu về mọi mặt” ?

    Gợi ý trả lời

    – Thái Bình là vùng quê có bề dày truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng; nhân dân kiên cường, bất khuất, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, dũng cảm trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Đặc biệt là từ khi có Đảng đến nay, 83 năm qua, Đảng bộ quân và dân Thái Bình đã khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, không ngừng phấn đấu, xây dựng quê hương Thái Bình ngày càng phát triển.

    Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Thái Bình luôn là hậu phương vững chắc của quân và dân đồng bằng Bắc Bộ, chỉ huy sở tiền phương của Chiến khu Ba, Mặt trận 5, Thành đội Hải Kiến… Mặt khác, Thái Bình không chỉ đảm bảo đủ nhân tài, vật lực cho kháng chiến tại địa phương mà còn huy động đáng kể sức người, sức của cho chiến trường cả nước, bổ sung cho bộ đội chủ lực (bao gồm cả cán bộ, chiến sĩ) với quân số tương đương ba đại đoàn; huy động 10 triệu ngày công phục vụ chiến đấu, cung cấp cho Trung ương và các tỉnh bạn hàng chục vạn tấn thóc. Chỉ riêng các khoản thuế quy ra thóc (từ năm 1951 đến tháng 6-1954), Thái Bình đã đóng góp cho Nhà nước 63.600 tấn. Trên khắp các chiến trường, 9.922 người con thân yêu của quê hương Thái Bình đã hy sinh để bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc.

    – Sau thắng lợi ở Hội nghị Giơnevơ, cùng với miền Bắc, Đảng bộ Thái Bình đã lãnh đạo nhân dân bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, đồng thời tiến hành đấu tranh giảm tô, cải cách ruộng đất, đẩy mạnh phát triển sản xuất; chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, chi viện cao nhất sức người, sức của cho tiền tuyến.

    Trong hơn 40 năm qua, những tình cảm sâu nặng, lời chỉ bảo ân tình và mong muốn của Bác đã khắc sâu trong tâm trí của mỗi người dân Thái Bình, trở thành động lực tinh thần to lớn, thôi thúc Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức, hoàn thành thắng lợi toàn diện nhiệm vụ chính trị trong các giai đoạn cách mạng.

    Thấm nhuần chân lý “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, với tinh thần vì miền Nam ruột thịt, “thóc thừa cân, quân vượt mức”, Đảng bộ và nhân dân đã huy động cao nhất sức người, sức của cho tiền tuyến; hàng chục vạn người con ưu tú của quê hương đã lên đường tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên khắp các chiến trường. Thái Bình là tỉnh có tỷ lệ tham gia quân đội so với dân số cao nhất miền Bắc. Trên quê hương ngày đêm bị bom Mỹ bắn phá, nhân dân Thái Bình vẫn “vững tay cày, chắc tay súng”, vừa sản xuất giỏi, vừa chiến đấu giỏi; kiên cường, bất khuất, bám đồng ruộng, nhà máy, công trường, đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, đạt năng suất lúa 5 tấn thóc trở lên/ha và chăm lo phát triển văn hóa, xã hội; đồng thời tổ chức tốt công tác phòng không, bảo vệ sản xuất, tính mạng, tài sản của Nhà nước, tập thể và nhân dân. Quân và dân Thái Bình đã anh dũng đánh trả 1064 trận bằng không quân, hải quân của giặc Mỹ; bắn rơi 44 máy bay, bắn bị thương 4 tàu chiến. Trên khắp chiến trường của cả nước, 48 nghìn người con quê hương đã hy sinh, gần 30 nghìn người đã anh dũng hiến dâng một phần xương máu, gần 50 nghìn gia đình có công và rất nhiều người con Thái Bình đã ghi vào lịch sử những dấu son chói lọi như Vũ Ngọc Nhạ, Tạ Quốc Luật, Bùi Quang Thận, Phạm Tuân… Đảng bộ và nhân dân Thái Bình tự hào vì có những cống hiến xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc, đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

    – Từ khi cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất là trong hơn 25 năm đổi mới, Đảng bộ và nhân tỉnh nhà tiếp tục giành được nhiều thành tựu quan trọng. Hoàn thành chương trình “điện, đường, trường, trạm, thông tin, nước sạch”, làm thay đổi rõ nét bộ mặt nông thôn. Thực hiện 5 trọng tâm phát triển kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, đã quy hoạch và xây dựng được các khu, cụm công nghiệp, đẩy mạnh phát triển nghề và làng nghề, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp, hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa và phát triển kinh tế biển, đưa nền kinh tế của tỉnh thoát khỏi tình trạng trì trệ, duy trì tốc độ tăng trưởng khá.

    – Những năm gần đây, mặc dù trong điều kiện khó khăn do tác động của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu, suy giảm kinh tế trong nước, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của tỉnh đạt 12%/năm. Năm 2012, tổng sản phẩm (GDP) đạt 13.558 tỷ đồng (giá cố định 1994), tăng 7,82% so với năm 2011; trong đó, nông , lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 3,63%, công nghiệp, xây dựng tăng 9,31%, dịch vụ tăng 10,5%. Cơ cấu kinh tế: nông, lâm, thủy sản chiếm 38,2%, công nghiệp, xây dựng chiếm 32,5%, dịch vụ chiếm 29,3%. GDP bình quân đầu người (giá thực tế) đạt 24,8 triệu đồng. Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội được tăng cường. Văn hóa – xã hội có nhiều tiến bộ. N ăm học 2011 – 2012, t ỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 99,94%, bổ túc trung học phổ thông đạt 99,83%; có 56/68 (82%) học sinh đạt giải tại kỳ thi học sinh giỏi quốc gia; trên 64% học sinh trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các trường học, cơ sở dạy nghề tiếp tục được đầu tư xây dựng, nâng cấp . Đ ến nay, toàn tỉnh có 594/903 (65,8%) trường học đạt chuẩn quốc gia, tăng 34 trường so với năm học trước.

    Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” được duy trì. Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá được chú trọng; năm 2012, chùa Keo được công nhận di tích quốc gia đặc biệt, 26 di tích được công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh. Các thiết chế văn hoá, thể thao được đầu tư xây dựng. Phong trào thể dục, thể thao quần chúng phát triển ngày càng sâu rộng; thể thao thành tích cao có tiến bộ.

    An ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Công tác cải cách tư pháp, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân tiếp tục được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, có hiệu quả, góp phần giải quyết kịp thời những tồn đọng, bức xúc và những vụ việc phức tạp mới nảy sinh ở cơ sở.

    Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị đạt được một số kết quả tích cực. Các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể tiếp tục triển khai , thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị; hoàn thiện, bổ sung chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng “về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”.

    Các địa phương đang tích cực triển khai thực hiện đầu tư xây dựng hạ tầng nông thôn mới từ nguồn vốn ngân sách tỉnh hỗ trợ về các nguồn vốn huy động khác.

    Ghi nhận những thành tích to lớn và đặc biệt xuất sắc trong các cuộc kháng chiến, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, Đảng bộ, nhân dân, lực lượng vũ trang Thái Bình vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Hồ Chí Minh, 6 Huân chương Quân công; 96 tập thể và 78 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Anh hùng lao động; hơn 2000 bà mẹ được phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”, hàng trăm tập thể và cá nhân được tặng huân chương độc lập, Huân chương chiến công và Huân chương lao động.

    * Là một người con của quê hương, bạn sẽ làm gì để góp phần xây dựng Thái Bình trở thành tỉnh “gương mẫu về mọi mặt”?

    – Người dự thi tự liên hệ bản thân trả lời.

    Theo tôi là một người con của quê hương Thái Bình, là một đoàn viên thanh niên để góp phần xây dựng Thái Bình trở thành tỉnh “gương mẫu về mọi mặt thì tôi cần:

    Thanh niên là “rường cột nước nhà” là lực lượng tiên phong trong sự phát triển của xã hội. Năng động, sáng tạo họ tham gia phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội.

    PHẢI THẬT NỖ LỰC TRONG HỌC TẬP

    Tôi nghĩ rằng, trong giai đoạn hiện nay, đoàn viên thanh niên phải có trách nhiệm và phải đi đầu trong học tập, để đóng góp trí tuệ của mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Học tập ở đây không chỉ là hoàn thành các chương trình của nhà trường, thanh niên phải học tập truyền thống văn hoá, lịch sử, chủ nghĩa Mác -Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, phải nắm vững các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, không ngừng học tập để nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề. Là sinh viên ngoài việc hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập, tôi nghĩ mình phải tham gia xây dựng môi trường văn hoá học đường, trung thực và đấu tranh chống các hành vi tiêu cực trong học tập, chấp hành và tuyên truyền, vận động người khác thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.

    SỐNG CÓ LÝ TƯỞNG VÀ KHÔNG NGỪNG TRAU DỒI ĐẠO ĐỨC

    Là đoàn viên thanh niên trong thời đại Hồ Chí Minh, chúng tôi rất tự hào về truyền thống hào hùng của dân tộc, truyền thống đấu tranh bất khuất kiên cường của các thế hệ cha anh. Theo tôi, trách nhiệm của đoàn viên thanh niên hiện nay là lý tưởng, có văn hóa trau dồi đạo đức, làm tròn bổn phận của người công dân tốt và xung kích tình nguyện vì cộng đồng. Có như thế mới sống đẹp, sống có ích trong xã hội. Bên cạnh đó, đoàn viên thanh niên trong thời kỳ mới phải biết “đề kháng”, “miễn dịch” trước sự xâm nhập của lối sống thiếu văn hoá, không lành mạnh.

    XUNG KÍCH TRONG LAO ĐỘNG

    Đoàn viên thanh niên phải tích cực, chủ động trong công việc, dám nghĩ, dám làm, nhất là luôn phải tìm tòi và phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật; xung kích, tiến quân vào khoa học công nghệ, đi đầu trong việc cải cách thủ tục hành chính, góp phần xây dựng quê hương đất nước. Không những thế, đoàn viên thanh niên phải tuân thủ kỷ luật lao động, không ngừng học tập để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.

    LÃNH TRỌNG TRÁCH BẢO VỆ TỔ QUỐC

    Trong thời kỳ đổi mới đất nước, vai trò và trách nhiệm của đoàn viên thanh niên trong việc xây dựng vào bảo vệ Tổ quốc càng nặng nề hơn. Chúng ta phải tích cực rèn luyện, nâng cao tinh thần cảnh giác, ý thức bảo vệ Tổ quốc, tham gia giữ gìn an ninh trật tự và an toàn xã hội, xung kích, đi đầu trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự. Đồng thời chúng ta phải tích cực tuyên truyền và vận động người dân thực hiện Luật nghĩa vụ quân sự, chính sách quốc phòng an ninh, kiên quyết đấu tranh chống mọi hành vi xâm hại đến an ninh Tổ quốc và trật tự an toàn xã hội.

    Câu 5 : Bạn hãy viết về một tấm gương người tốt, việc tốt hoặc một tập thể tiêu biểu ở địa phương, cơ quan, đơn vị thuộc địa bàn tỉnh Thái Bình mà bạn biết trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh? (Số lượng không quá 4000 từ).

    Gợi ý trả lời:

    * Thông tin về tập thể, cá nhân

    – Tên đơn vị, cá nhân.

    – Địa chỉ cụ thể

    + Đối với cá nhân (Họ và tên, năm sinh, giới tính, quê quán…)

    + Đối với tập thể (Tên cơ quan, đơn vị, địa chỉ cụ thể…)

    * Những thành tích đạt được

    – Khái quát về cơ quan, đơn vị, quá trình phấn đấu của cá nhân

    – Những thành tích nổi bật của cơ quan, đơn vị, cá nhân đã đạt được trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

    – Ý nghĩa của những đóng góp đó.

    Chị Trần Khánh Thu – sinh năm 1982, Bí thư Đoàn Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình sau 6 năm học tại trường Đại học Y Thái Bình, đã có kết quả cao trong học tập và là thanh niên rất tích cực tham gia các hoạt động xã hội, qua đó giúp chị Thu có điều kiện để rèn luyện, hoàn thiện bản thân. Qua trao đổi, chị Thu tâm sự: “Trong số các hoạt động xã hội mà em tham gia thì ngay từ ngày đầu đến với hoạt động tình nguyện là hoạt động hiến máu tình nguyện”. 6 năm học tại trường đại học chị Thu luôn tham gia tích cực và là Chủ nhiệm Câu lạc bộ Hiến máu nhân đạo của trường; trực tiếp đi vận động và trực tiếp tham gia hiến máu lưu động tại Bệnh viện khi bệnh nhân cấp cứu cần máu mà Bệnh viện hết máu dự trữ. Chính những dòng máu kịp thời của chị Thu và các bạn trong CLB đã nhiều lần cứu sống được bệnh nhân qua cơn nguy hiểm. Không chỉ khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà đến nay khi là cán bộ Bệnh viện đa khoa và là Bí thư Đoàn Bệnh viện Đa khoa tỉnh, chị Thu tiếp tục có điều kiện cùng Đoàn thanh niên bệnh viện phối hợp với khoa Huyết học truyền máu đi vận động đoàn viên thanh niên các trường Đại học, cao đẳng, TCCN nhân rộng hình thức hoạt động Câu lạc bộ Hiến máu tình nguyện nhằm phát triển phong trào rộng rãi hơn. Đến nay phong trào đã triển khai thường xuyên tại 8 trường Đại học, cao đẳng, trung học trong toàn tỉnh với số lượng máu thu được hàng năm lên đến trên 6.000 đơn vị. Cá nhân đồng chí Thu đã có khoảng 30 lần hiến máu tình nguyện và lưu động với khoảng 30 đơn vị máu.

    Trở lại những năm tháng tại Trường Đại học Y, với phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, ngay từ năm học thứ 2, chị Thu đã được tham gia cùng đoàn y bác sẽ trẻ đến những xã còn khó khăn trong tỉnh khám, tư vấn và cấp phát thuốc miễn phí cho các đối tượng chính sách, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và khi làm việc tại Bệnh viện đa khoa tỉnh đã cùng Đoàn thanh niên bệnh viện tổ chức các đợt đi khám tư vấn sức khoẻ và cấp phát hàng trăm đơn thuốc miễn phí cho các gia đình khó khăn trong tỉnh, tập trung cao điểm vào Tháng Thanh niên và Chiến dịch hè tình nguyện; qua đó đã các cấp ủy Đảng, chính quyền ghi nhận và nhận được nhiều tình cảm tốt đẹp của nhân dân trong tỉnh. Đến nay, sau 8 năm tham gia với khoảng hơn 50 chuyến đi tình nguyện chăm sóc sức khỏe cộng đồng tại cơ sở, là một sinh viên ngành y và sau này là một bác sỹ, được tham gia hoạt động tình nguyện theo đúng chuyên ngành được đào tạo là một hạnh phúc lớn đối với chị Thu. Được đi đến với bà con vùng xa, các gia đình neo đơn, gia đình chính sách, được chia sẻ những kiến thức mình được đào tạo để chăm sóc, tư vấn sức khỏe cho nhân dân không chỉ giúp ích cho chị Thu và các y, bác trẻ tình nguyện trong việc rèn luyện, nâng cao tay nghề mà hơn thế, qua mỗi chuyến đi, các bạn còn có dịp được gặp gỡ, chia sẻ với những người còn gặp nhiều khó khăn trong xã hội, để rồi sau mỗi chuyến đi tình nguyện mỗi đoàn viên thanh niên thấy trân trọng hơn những gì mình đang được hưởng và qua đó để cố gắng hơn nữa trong cuộc sống.

    Bên cạnh hoạt động hiến máu tình nguyện và chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chị Thu cùng Hội sinh viên trường Đại học Y tích cực tham gia các hoạt động như: tiếp sức mùa thi, giữ gìn trật tự ATGT, … Kết quả thông qua 3 kỳ thi đã việc tìm được hàng trăm nhà trọ đảm bảo an ninh, giá cả hợp lý và gần các hội đồng thi, hướng dẫn tuyến đường về các địa điểm thi, phục vụ “xe ôm” miễn phí trong trường khẩn cấp,.. giúp cho các thi sinh về dự thi tại Thái Bình; tích cực tham gia hoạt động giữ gìn trật tự ATGT, phát tờ rơi tuyên truyền về ATGT trên các địa điểm đông dân cư và trục đường chính của Thành Phố;…

    Khi còn là sinh viên, bên cạnh việc tham gia các hoạt động xã hội, chị Thu tập trung cao cho học tập, xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm quan trọng nên trong 6 năm học tập tại trường, luôn đạt danh hiệu sinh viên tiên tiến, sinh viên xuất sắc và sinh viên ưu tú; tích cực tham gia nghiên cứu khoa học, thực hiện triển khai và làm chủ nhiệm 2 đề tài nghiên cứu khoa học; trong đó có 1 đề tài đạt giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học toàn quốc năm 2007. Hiện nay khi đó là cán bộ bệnh viện đa khoa tỉnh, chị Thu tiếp tục học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và hiện đang hoàn thành chương trình đào tạo bác sỹ chuyên khoa cấp I, chuyên ngành răng hàm mặt. Và cùng với sự cố gắng trong học tập, công tác chuyên môn và tham gia các hoạt động xã hội của mình, trong những năm qua chị Thu vinh dự được nhận: Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; Bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bằng khen của Trung ương Đoàn; Giải thưởng Sao Tháng giêng; Bằng khen của TW Hội sinh viên Việt Nam; Giấy khen của BCH Tỉnh Đoàn; Danh hiệu Thanh niên Tiên tiến, Thanh niên sống đẹp sống có ích, Đảng viên trẻ tiêu biểu tỉnh Thái Bình;…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kể Một Câu Chuyện Của Em Hoặc Bạn Bè Về Việc Làm Theo 5 Điều Bác Hồ Dạy
  • Cuộc Thi Tìm Hiểu Về Bác Hồ
  • Bài Văn Nghị Luận Về Bác.
  • Đề 1: Bác Hồ Là Lãnh Tụ Vĩ Đại Của Nhân Dân Việt Nam, Anh Hùng Giải Phóng Dân Tộc, Danh Nhân Văn Hóa Thế Giới. Hãy Viết Bài Văn Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Người.
  • Thi Viết, Vẽ Tranh, Tìm Hiểu Về Bác
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Về Cải Cách Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Ubnd Tỉnh Ban Hành Thể Lệ Cuộc Thi Viết “tìm Hiểu Về Cải Cách Hành Chính Tỉnh Quảng Nam Năm 2021”
  • Thông Báo Cuộc Thi “tìm Hiểu Sáng Kiến, Giải Pháp Cải Cách Thủ Tục Hành Chính” Năm 2021
  • Lai Châu Thi “tìm Kiếm Sáng Kiến, Giải Pháp Cải Cách Hành Chính”
  • Triển Khai Cuộc Thi Trực Tuyến “tìm Hiểu Về Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Và Dịch Vụ Công Trực Tuyến” Tỉnh Bắc Giang Năm 2021
  • Thể Lệ Cuộc Thi: Tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến
  • BÀI DỰ THI

    TÌM HIỂU VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

    PHẦN TRẢ LỜI CÂU HỎI

    Câu 1 : I. Mục tiêu chung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 là :

    Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

    II. Những mục tiêu cụ thể của Chương trình là :

    – Hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế, chính sách phù hợp với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước hết là các thể chế về kinh tế, về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính.

    Tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, khắc phục tính cục bộ trong việc chuẩn bị, soạn thảo các văn bản; đề cao trách nhiệm của từng cơ quan trong quá trình xây dựng thể chế; phát huy dân chủ, huy động trí tuệ của nhân dân để nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.

    – Xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành chính mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân.

    – Các cơ quan trong hệ thống hành chính được xác định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng; chuyển được một số công việc và dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan nhà nước thực hiện cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ đảm nhận.

    – Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gọn nhẹ, hợp lý theo nguyên tắc Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý vĩ mô toàn xã hội bằng pháp luật, chính sách, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện.

    Bộ máy của các Bộ được điều chỉnh về cơ cấu trên cơ sở phân biệt rõ chức năng, phương thức hoạt động của các bộ phận tham mưu, thực thi chính sách, cung cấp dịch vụ công.

    – Đến năm 2005, về cơ bản xác định xong và thực hiện được các quy định mới về phân cấp quản lý hành chính nhà nước giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương; định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và tổ chức bộ máy chính quyền ở đô thị và nông thôn.

    Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện được tổ chức lại gọn nhẹ, thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước theo nhiệm vụ và thẩm quyền được xác định trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (sửa đổi). Xác định rõ tính chất, cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc của chính quyền cấp xã.

    – Đến năm 2010, đội ngũ cán bộ, công chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, chuyên nghiệp, hiện đại. Tuyệt đại bộ phận cán bộ, công chức có phẩm chất tốt và đủ năng lực thi hành công vụ, tận tụy phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước và phục vụ nhân dân.

    – Đến năm 2005, tiền lương của cán bộ, công chức được cải cách cơ bản, trở thành động lực của nền công vụ, bảo đảm cuộc sống của cán bộ, công chức và gia đình.

    – Đến năm 2005, cơ chế tài chính được đổi mới thích hợp với tính chất của cơ quan hành chính và tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công.

    – Nền hành chính nhà nước được hiện đại hóa một bước rõ rệt. Các cơ quan hành chính có trang thiết bị tương đối hiện đại phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước kịp thời và thông suốt. Hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ được đưa vào hoạt động.

    III. Nội dung của chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 :

    1. Cải cách thể chế

    1.1. Xây dựng và hoàn thiện các thể chế, trước hết là thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể chế về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước.

    1.2. Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật

    1.3. Bảo đảm việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức

    1.4

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quang Bình Tổ Chức Hội Thi Tìm Hiểu Công Tác Cải Cách Hành Chính Năm 2021
  • Tham Gia Tìm Hiểu Về Cải Cách Hành Chính Nhà Nước
  • Bắc Giang: 8 Giờ Ngày 15/9 Thi Trực Tuyến Tìm Hiểu Về Cải Cách Thủ Tục Hành Chính
  • Tìm Hiểu Về Cải Cách Hành Chính
  • Thi Viết “tìm Hiểu Về Cải Cách Hành Chính”
  • Hơn 300.000 Bài Dự Thi Tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Dịch Vụ Công Trực Tuyến
  • Dịch Vụ Công Trực Tuyến Là Gì?
  • Hà Nội: 20 Tập Thể, 65 Cá Nhân Đạt Giải Cuộc Thi “tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến” 2021
  • Hà Nội: 85 Tập Thể, Cá Nhân Đạt Giải Cuộc Thi ‘tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến’
  • Hà Nội: 85 Tập Thể, Cá Nhân Đạt Giải Cuộc Thi “tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến”
  • Theo đó, tính đến ngày 6/9, toàn TP đã có trên 300 nghìn bài dự thi. Do số lượng người tham gia dự thi đông, ngày 4/9, Ban Tổ chức cuộc thi đã chỉ đạo Sở TT&TT Hà Nội tăng cường thêm 2 máy chủ và thiết lập 3 cổng vào thi, tăng 2 cổng so với trước nhằm đáp ứng số lượng thí sinh tham gia cuộc thi toàn TP.

    Ngoài ra, Ban Tổ chức cuộc thi cũng quyết định kéo dài thời gian thi thêm 10 ngày, đến 17 giờ ngày 26/9 nhằm đảm bảo nhu cầu tham gia dự thi của lực lượng cán bộ, công chức và nhân dân trên địa bàn Thủ đô. Trước đó theo thể lệ cuộc thi, thời gian thi kết thúc vào 17 giờ ngày 16/9.

    Trước đó, ngày 22/7/2019, UBND TP đã phát động cuộc thi “Tìm hiểu Dịch vụ công trực tuyến” trên website: http://timhieudichvucong.hanoi.gov.vn/ theo Kế hoạch số 84/KH-UBND ngày 4/4/2019 của UBND TP và Quyết định số 3902/QĐ-BTC ngày 19/7/2019 của Ban Tổ chức cuộc thi TP ban hành thể lệ của cuộc thi. Cuộc thi sẽ kết thúc vào 17 giờ ngày 16/9/2019.

    Để công tác triển khai cuộc thi diễn ra kịp thời, đúng thể lệ, đảm bảo hiệu quả, thu hút đông đảo cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, học sinh, sinh viên và người dân sinh sống, học tập và làm việc Thủ đô tham dự cuộc thi, UBND TP Hà Nội yêu cầu các sở, ban, ngành, đoàn thể, cơ quan, đơn vị TP, UBND các quận, huyện, thị xã triển khai các công việc sau:

    Căn cứ kế hoạch tổ chức cuộc thi của UBND TP và thể lệ của Ban Tổ chức cuộc thi, tổ chức phát động cuộc thi; tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biển về cuộc thi gồm: Kế hoạch, thể lệ cuộc thi, đề thi, tài liệu tham khảo để trả lời câu hỏi thi, hướng dẫn cách thức tham dự cuộc thi… đã được đăng tải trên website: http://timhieudichvucong.hanoi.gov.vn phấn đấu 100% cán bộ, công chức, viên chức tại các sở, ngành, cơ quan, đơn vị và địa phương tham gia cuộc thi.

    Cùng đó, kết hợp triển khai cuộc thi với việc tuyên truyền các dịch vụ công trực tuyến đang triển khai thực hiện trên địa bàn TP trên trang https://dichvucong.hanoi.gov.vn.

    Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đoàn thể TP, Chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã giao chỉ tiêu cán bộ, công chức, viên chức thuộc đơn vị, địa phương tham gia cuộc thi; xem xét đánh giá ý thức tham gia cuộc thi của cán bộ, công chức, viên chức là một trong những tiêu chí xem xét đánh giá công tác của tháng.

    Chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã chỉ đạo, hướng dẫn UBND xã, phường, thị trấn trực thuộc tổ chức triển khai rộng rãi cuộc thi trên địa bàn; thực hiện các giải pháp phù hợp thực tế, vận động linh hoạt, thu hút người dân trên địa bàn tham gia cuộc thi.

    Dự kiến Hà Nội tổng kết cuộc thi vào thời điểm đầu tháng 11/2019, gắn với Lễ hưởng ứng Ngày pháp luật Việt (9/11) trên địa bàn TP.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gợi Ý Trả Lời Cuộc Thi Tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến 2021
  • Cuộc Thi Tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến 2021
  • Đáp Án Cuộc Thi Tìm Hiểu Dịch Vụ Công Trực Tuyến Nghệ An
  • Thủ Tục Nhập Hộ Khẩu Cho Con Mới Sinh
  • Trao Giải Cuộc Thi Viết Tìm Hiểu Sáng Kiến, Giải Pháp Về Cải Cách Hành Chính Của Ủy Ban Dân Tộc
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Truyền Thống

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Rượu Vang Tây Ban Nha
  • Tìm Hiểu Văn Hóa, Lịch Sử Và Các Cấp Bậc Của Rượu Vang Tây Ban Nha ⋆ Sành Vang
  • Rượu Vang Tây Ban Nha Là Gì? Tìm Hiểu Kiến Thức Cơ Bản Về R Ợu Vang Tây Ban Nha
  • Tìm Hiểu Về Rượu Vang Ý
  • Tìm Hiểu Về Rượu Vang Pháp
  • Câu hỏi 1 : Quân khu 3 thành lập ngày, tháng, năm nào? Hiện nay gồm mấy tỉnh, thành phố (hãy kể tên)? Sông Bạch Đằng nơi quân và dân ta (thế kỷ thứ X và XIII) đã lập nên chiến công oanh liệt, hiện nay thuộc địa bàn tỉnh nào? Ai là người lãnh đạo lập nên những chiến công đó?

    Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trên địa bàn Quân khu 3 ngày nay đã hình thành một số chiến khu cách mạng như: Chiến khu Quang Trung thành lập ngày 3 tháng 2 năm 1945 theo sự chỉ đạo của Thường vụ Trung ương Đảng gồm các tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá, Chiến khu Trần Hưng Đạo hay còn gọi là (Đệ tứ Chiến khu hay Chiến khu Đông Triều), thành lập tháng 6 năm 1945, lúc đầu gồm Đông Triều, Chí Linh, Mạo Khê, Tràng Bạch. Đến đến cuối tháng 6 có thêm Kinh Môn, Thanh Hà, Thủy Nguyên, Uông Bí, Yên Hưng, và một phần Kim Thành, sau mở rộng tới Kiến An, Đồ Sơn, Quảng Yên, Hòn Gai.

    Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Đến tháng 10 năm 1945, Chính phủ ra quyết định thành lập các chiến khu, (sau gọi là khu) trên toàn quốc. Trong phạm vi đồng bằng Bắc Bộ và phụ cận có 3 chiến khu là Chiến khu 2, Chiến khu 3 và Chiến khu 11. Chiến khu 2 gồm các tỉnh Ninh Bình , Nam Định, Hà Nam , Hà Đông, Lơn La, Lai Châu. Chiến khu 3 gồm các tỉnh: Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Kiến An, Quảng Yên, Hải Ninh và thành phố Hải Phòng. Chiến khu 11 chỉ có Hà Nội trực thuộc Trung ương: khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ Chiến khu 11 sáp nhập vào Chiến khu 2.

    Trước yêu cầu của cuộc kháng chiến ngày càng gay go, ác liệt; ngày 25 tháng 1 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 120-SL thành lập Liên khu 3 trên cơ sở hợp nhất khu 2 và khu 3 và xác định rõ phương hướng cùng cả nước chủ động đưa cuộc kháng chiến sang giai đoạn mới, đánh bại âm mưu bình định của địch, xây dựng và phát triển lực lượng kháng chiến ngày càng lới mạnh. Địa bàn Liên khu 3 gồm các tỉnh: Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hòa Bình, Hà Đông, Sơn Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Kiến An, Hải Phòng, Thái Bình.

    Tháng 5 năm 1952, Trung ương Đảng, Chính phủ quyết định thành lập khu Tả Ngạn trực thuộc Trung ương Đảng. Địa bàn khu Tả Ngạn gồm các tỉnh Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình. Lúc này Liên khu 3 còn lại các tỉnh: Nam Định, Hà Nam , Ninh Bình, Hà Đông, Sơn Tây, Hòa Bình. Địa bàn Quân khu 3 gồm Liên khu 3 và khu Tả Ngạn.

    Ngày 3 tháng 6 năm 1957, Bác Hồ ký Sắc lệnh số 017/SL thành lập các quân khu Việt Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc, Tả Ngạn, Hữu Ngạn, Quân khu 4. Ngày 10 tháng 9 năm 1957, Bộ Quốc phòng ra Nghị định 254/NĐ quy định phạm vi địa giới.

    hành chính do các Quân khu phụ trách. Theo đó, địa bàn Quân khu 3 lúc này gồm Quân khu Tả Ngạn và Quân khu Hữu Ngạn. Quân khu Tả Ngạn bao gồm các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình. Đến năm 1957 có thêm Hồng Quảng và Hải Ninh. Đồng chí Thiếu tướng Hoàng Sâm – Tư lệnh; đồng chí Nguyễn Quyết – Chính ủy. Quân khu Hữu Ngạn bao gồm các tỉnh: Hòa Bình, Thanh Hóa (Thanh Hóa mới tách từ Quân khu 4 về). Thiếu tướng Vương Thừa Vũ – Tư lệnh; đồng chí Trần Độ – Chính ủy.

    Ngày 1 tháng 11 năm 1963, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 51/QĐ-BQP điều chỉnh địa giới Quân khu Tả Ngạn và Quân khu Hữu Ngạn tổ chức lại với tên gọi Quân khu Đông Bắc và Quân khu 3.

    Ngày 29 tháng 5 năm 1976, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Sắc lệnh số 45/LCT hợp nhất Quân khu Tả Ngạn và Quân khu Hữu Ngạn để thành lập lại Quân khu 3 và điều chỉnh địa giới hành chính tách tỉnh Thanh Hóa thuộc Quân khu 4. Như vậy, từ giai đoạn này địa bàn Quân khu 3 gồm các tỉnh Hải Hưng, Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Bắc, Hà Nam Ninh và Hà Sơn Bình.

    Ngày 14-15 tháng 7 năm 1976, Đảng ủy Quân khu 3 họp phiên đầu tiên, ra nghị quyết lãnh đạo Quân khu theo yêu cầu mới. Đảng ủy Quân khu thống nhất đánh giá về vị trí, nhiệm vụ quan trọng của Quân khu 3 trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quân khu 3 là địa bàn đông dân cư, giàu của, giàu truyền thống yêu nước, cách mạng, có vị trí quan trọng cả về công nghiệp và nông nghiệp và giao thông … có mục tiêu chiến lược về quân sự.

    Từ hai ngày 29 và 30 tháng 6 năm 1978, Quân khu 3 và Quân khu 1 tiến hành bàn giao nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, tổ chức biên chế, vũ khí, trang bị của lực lượng vũ trang hai tỉnh Hà Bắc và Quảng Ninh từ địa bàn Quân khu 3 cho Quân khu 1.

    Ngày 20 tháng 4 năm 1979, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Sắc lệnh số 71/LCT tách tỉnh Quảng Ninh ra khỏi Quân khu 1 để thành lập Đặc khu Quảng Ninh trực thuộc Trung ương. Ngày 7 tháng 7 năm 1979, Đảng ủy Đặc khu Quảng Ninh họp phiên họp đầu tiên công bố các quyết định của Bộ Chính trị về thành lập Đặc khu Quảng Ninh và danh sách Đảng ủy Đặc khu.

    Ngày 4 tháng 8 năm 1987, Đảng ủy Quân sự Trung ương ra Nghị quyết số 154/NQ hợp nhất Đặc khu Quảng Ninh vào Quân khu 3. Tại thời điểm này, địa bàn Quân khu 3 gồm 6 tỉnh, thành phố, dân số trên 10 triệu người. Những năm tiếp theo địa giới Quân khu tiếp tục được điều chỉnh: tháng 3 năm 1997 tách tỉnh Hải Hưng thành hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên; tháng 10 năm 1999 tách Hà Tây về Quân khu Thủ đô.

    Quân khu 3 là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm. Nhiều tên đất, tên làng, tên sông đã gắn liền với những chiến công oanh liệt. Một trong những địa danh gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta là sông Bạch Đằng, (còn gọi là Bạch Đằng Giang), hiệu là sông Vân Cừ, sông chảy giữa 2 huyện Yên Hưng (tỉnh Quảng Ninh ngày nay) và Thủy Nguyên (TP Hải Phòng), sông có chiều dài 32km; là con đường thủy tốt nhất để đi vào Hà Nội (Thăng Long ngày xưa). Sông Bạch Đằng là nơi quân và dân ta (thế kỷ X và XIII) đã lập nên những chiến công oanh liệt, hiện nay thuộc địa bàn giáp ranh giữa tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng. Những chiến công đó là:

    Chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất : Cuối mùa đông năm 938, Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân ta đập tan cuộc tiến công của quân Nam Hán, giữ vững nền độc lập dân tộc.

    Chiến thắng Bạch Đằng lần thứ 2 : Ngày 28 tháng 4 năm 981 Lê Hoàn lãnh đạo nhân dân Đại Cồ Việt đập tan quân sâm lược Tống.

    Chiến thắng Bạch Đằng lần thứ 3: Ngày 9 tháng 4 năm 1288, đoàn thuyền địch bắt đầu tiến vào sông Bạch Đằng; Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh trận quyết định đập tan ảo mộng xâm lăng của quân Nguyên, đưa đất nước vào thời đại phát triển.

    Câu hỏi 2: Bạn hãy cho biết Chiến khu Quang Trung và Chiến khu Trần Hưng Đạo trong kháng chiến chống Pháp gồm những tình nào? Hiện nay thuộc những tỉnh nào? Kinh đô của 3 triều đại phong kiến ( thế kỷ X, XI), hiện nay thuộc tỉnh nào trên địa bàn Quân khu?

    Chiến khu Quang Trung thành lập ngày 03/02/1945, tên gọi ban đầu Chiến khu Hòa – Ninh – Thanh gồm 3 tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình và Thanh Hóa; đến tháng 5 năm 1945 đổi tên là Chiến khu Quang trung (đệ tam Chiến khu) ngày nay Hòa Bình, Ninh Bình thuộc Quân khu 3 ; tỉnh Thanh Hóa thuộc Quân khu 4.

    Chiến khu Trần Hưng Đạo tức Chiến khu Đông Triều (còn gọi là đệ tứ Chiến khu) thành lập ngày 8 tháng 6 năm 1945, lúc đầu gồm các huyện Đông Triều, Mạo Khê, Tràng Bạch (tỉnh Quảng Yên), Chí Linh (tỉnh Hải Dương). Đến cuối tháng 6, có thêm huyện Kinh Môn và một phần của huyện Kim Thành, Thanh Hà (tỉnh Hải Dương); Thủy Nguyên (TP Hải Phòng); Uông Bí, Yên Hưng (tỉnh Quảng Yên) sau mở rộng tới huyện Đồ Sơn (tỉnh Kiến An), Hòn Gai trong đó Đông Triều và Chí Linh là trung tâm Chiến khu. Chiến khu Trần Hưng Đạo nay thuộc tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương và TP Hải Phòng

    – Quân khu 3 không chỉ là nơi có nhiều căn cứ, kháng chiến, mà còn là nơi có kinh đô gắn liền với quá trình xây dựng phát triển của 3 triều đại phong kiến. Đó là Cố đô Hoa Lư thuộc tỉnh Ninh Bình là kinh đô của 3 triều đại phong kiến gồm Nhà Đinh, Nhà tiền Lê và Nhà Lý (Quốc hiệu Đại Cồ Việt). Năm 1010 Lý Công Uẩn cho dời đô về Thăng Long, nay là Thủ đô Hà Nội.

    Câu hỏi 3 : Bạn cho biết họ tên, quê quán của người vẽ lá cờ đỏ sao vàng (Quốc kỳ) và tác giả bài hát “Tiến quân ca” (Quốc ca Việt Nam )?

    – Bài hát Tiến quân ca do nhạc sĩ Văn Cao sáng tác. Nhạc sĩ Văn Cao tên thật là Nguyễn Văn Cao, sinh ngày 15/11/1923 tại Lạch Chay, Hải Phòng, quê gốc ở thôn An Lễ, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông tham gia Việt Minh năm 1944 sáng tác bài hát này trong nhiều ngày tại căn gác số 171 phố Mongrant (nay là 45 phố Thượng Hiền, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng Hà Nội) và đặt tên cho tác phẩm là Tiến quân ca . Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Đại hội Quốc dân tại Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) quy định Quốc thiều là Tiến quân ca, sau này Quốc ca của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngoài ra Văn Cao còn là một họa sĩ, nhà thơ với nhiều tác phẩm giá trị.

    Câu hỏi 4 : Bạn hãy cho biết thời gian diễn ra, lực lượng tham gia và kết quả 05 trận đánh tiêu biểu của quân, dân Quân khu 3 trong cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp: Trận tập kích sân bay Cát Bi, Hải Phòng: Trận đánh 86 ngày đêm bảo vệ thành phố Nam Định: Trận chống càn ở Phan Xá, Tống Xá, tỉnh Hưng Yên: Trận đánh mìn ở ga Phạm Xá huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương? Trận chống địch càn quét tại làng Vạn Thọ, xã Nhân Nghĩa, huyện Lý Nhân, tình Hà Nam .

    – Lực lượng ta: Bộ đội địa phương tỉnh Kiến An vơi 34 cán bộ, chiến sĩ và các lực lượng hỗ trợ của bộ đội địa phương huyện Kiến Thụy.

    – Lực lượng địch: 6 tiểu đoàn bảo vệ và 1 đại đội tham mưu chỉ huy sân bay, ngoài ra còn có hàng trăm phi công và 50 cố vấn quân sự Mỹ.

    – Kết quả: 6 lính Âu Phi bị ta tiêu diệt phá hủy 59 máy bay địch.

    2. TRẬN CHỐNG CÀN PHAN XÁ, TỐNG XÁ TỈNH HƯNG YÊN

    – Lực lượng tham gia: Đại đội 20 bộ đội chủ lực tỉnh Hưng Yên (2 trung đội) và trung đội địa phương huyện Ân Thi, tổng cộng 130 đồng chí và dân quân du kích của 2 làng Phan Xá và Tống Xá.

    – Lực lượng địch khoảng 1000 tên.

    – Kết quả: Ta đã tiêu diệt 500 tên, bắt làm tù binh 20 tên lính Âu Phi.

    – Lực lượng tham gia: Trung đội đánh mìn thuộc huyện đội Kim Thành có công binh làm lòng cốt, tổng số 20 đồng chí; trong đó có 5 đồng chí trực tiếp đặt mìn, phát nổ, còn lại bố trí hai bên bờ sông Rang sẵn sàng yểm trợ.

    – Lực lượng địch: Phía Đông ga Phạm Xá là bốt Phạm do một đại đội lính ngụy canh giữ, phía tây là đồn Măng do môt trung đội và một trung đội địa phương quân chiếm giữ, hai đồn đóng cách nhau 600m làm nhiệm vụ bảo vệ đường sắt ở khu vực Phạm Xá.

    – Kết quả ta tiêu diệt và làm bị thương 778 tên; phá hủy và làm lật đổ 08 toa xe, 20m đường ray, làm ngưng trệ tuyến vận chuyển của địch 04 ngày đêm.

    4. TR ẬN CHỐNG CÀN TẠI LÀNG VẠN THỌ XÃ NHÂN NGHĨA

    (LÝ NHÂN, HÀ NAM )

    – Thời gian: Từ ngày 12 đến ngày 14 tháng 3 năm 1952.

    – Lực lượng tham gia: 2 đại đội bộ binh thuộc tiểu đoàn 738/ Đại đoàn 320; 01 đại đội thuộc huyện Lý Nhân; 03 trung đội du kích.

    – Lực lượng địch: binh đoàn cơ động số 4 Âu Phi có máy bay, pháo binh và xe lội nước yểm trợ.

    – Kết quả: Ta bẻ gãy các đợt tiến công, càn quét của địch bao vây truy bắt 60 tên.

    5. TRẬN ĐÁNH 86 NGÀY ĐÊM BẢO VỆ THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

    – Thời gian: từ ngày 20/12/1946 đến ngày 15/3/1947

    – Lực lượng tham gia: 02 tiểu đoàn 02 đại đội và hơn 700 tự vệ; ngoài ra còn có 20 tiểu đoàn bộ đội tỉnh Hà Nam và Ninh Bình.

    – Lực lượng địch: 01 tiểu đoàn gồm 450 tên, ngoài ra còn sử dụng 1 500 quân cùng các phương tiện chiến tranh để ứng cứu giải vây cho quân ở Nam Định.

    – Kết quả: ta tiêu diệt hơn 400 tên địch và rút ra khỏi thành phố an toàn.

    – Anh hùng đánh xe tăng trên đường số 6 trong Chiến dịch Hòa Bình (12/1951) là ai?

    Anh hùng đánh xe tăng trên đường số 6 trong Chiến dịch dịch Hòa Bình (12/1951) là Cù Chính Lan, anh sinh năm 1930 tại làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An; là tiểu đội trưởng tiểu đội bộ binh thuộc Đại đoàn 304. Ngày 13/12/1951 trong trận tấn công cứ điểm Giang Mỗ anh đã một mình đuổi xe tăng Pháp, nhảy lên thành xe ném lựu đạn vào buồng lái để tiêu diệt địch. Anh đã anh dũng hi sinh ngày 29/12/1951, khi tham gia đánh đồn Cô Tô. Được truy tặng Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương kháng chiến hạng Nhất và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

    – Người bắt sống tướng Đờ Cát tại Điện Biên Phủ (7/5/1954) là đồng chí Đại tá Tạ Quốc Luật (nghỉ hưu nay đã mất) sinh năm 1925 quê ở xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình.

    – Người cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập (30/4/1975) là đồng chí Đại tá Bùi Quang Thận (đã nghỉ hưu) sinh năm 1949, quê xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

    – Người Việt Nam đầu tiên bay vào vũ trụ là đồng chí Trung tướng Phạm Tuân (nguyên Chủ nhiệm Tổng cục CNQP nay là Chủ tịch HĐQT ngân hàng cổ phần thương mại Quân đội, Anh hùng LLVT nhân dân, Anh hùng Liên Xô), sinh năm 1947 quê ở xã Quốc Tuấn huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

    Câu nói của Đai tướng đã khẳng định: địa bàn Quân khu 3 có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng không chỉ trong chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước mà còn cả trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thực tiễn lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc XHCN đã chứng minh:

    Quân khu 3 là địa bàn chiến lược rất quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng an ninh, ngoại giao, là trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, có thế mạnh về công, nông, lâm, ngư nghiệp, có núi rừng hiểm trở, có biển đảo rộng lớn, có hệ thống giao thông rất thuận lợi trong giao lưu giữa Quân khu với Thủ đô Hà Nội và nhiều vùng trọng yếu khác trong nước và quốc tế. Trải qua các thời đại, dưới con mắt của kẻ thù ngoại bang, luôn coi đây là địa bàn quan trọng, là mục tiêu, hướng tiến công chủ yếu tạo điều kiện để phát triển lực lượng, làm bàn đạp để tiến hành chiến tranh xâm lược trên phạm vi miền Bắc và cả nước, cũng là nơi chúng co cụm rút lui cuối cùng.

    Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Quân khu 3 có vị trí quan trọng trong thế trận chiến tranh nhân dân và là địa bàn trọng yếu trong khu vực phòng thủ Đông Bắc và Thủ đô Hà Nội; là khu vực kinh tế năng động của cả nước góp phần to lớn vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

    Quân khu 3 là mảnh đất giàu truyền thống đấu tranh cách mạng; trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với tinh thần tự lực, tự cường, chiến đấu anh dũng, đóng góp sức người, sức của cùng quân dân cả nước làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

    Trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp và can thiệp của Mỹ, nhân dân lực lượng vũ trang Liên khu 3 đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chủ lực đánh hơn 78. 600 trận lớn, nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu gần 400 nghìn tên địch, phá hủy và thu hơn 42.000 vũ khí các loại, hành trăm ngàn phương tiện chiến tranh.

    Trong cuộc chiến đấu đánh trả máy bay, tàu chiến Mỹ, quân và dân Quân khu 3 đã phối hợp chặt chẽ với quân chủng Hải quân, Phòng không – Không quân tạo nên thế trận hiệp đồng rộng khắp, vừa có trọng điểm, đánh địch nhiều tầng, mọi hướng đạt hiệu xuất chiến đấu cao, đã cùng các lực lượng trên địa bàn đánh 39.450 trận, bắn rơi 1.526 máy bay Mỹ ( trong tổng số 4.181 máy bay bị bắn rơi ở miền Bắc), trong đó có 10 máy bay B52; 2 máy bay F111, bắt sồng nhiều giặc lái; bắn chìm, bắn cháy 75 tàu chiến các loại; tiêu diệt nhiều toán biệt kích Mỹ ngụy; rà phá, tháo gỡ gần 69.000 quả bom, mìn, thủy lôi; phá tan chiến dịch phong tỏa đường biển vào cảng Hải Phòng; lần lượt đập tan chiến dịch “Biển lửa”, ” Mũi lao lửa”, ” Rồng biển” của địch. Đặc biệt, đã cùng với quân, dân miền Bắc đánh đòn quyết định làm nên một ” Điện Biên phủ trên không” tháng 12/1972 đầy oanh liệt, đánh thắng hoàn toàn hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; đồng thời làm tròn trách nhiệm thiêng liêng, cao cả đối với miền Nam ruột thịt và làm tròn nghĩa vụ quốc tế; đã có 1,2 triệu thanh niên, hàng chục sư đoàn, trung đoàn, hàng trăm tiểu đoàn, hàng chục vạn thanh niên xung phong, hàng trăm ngàn cán bộ các ngành tham gia nhiệm vụ quốc tế ở Lào, Campuchia. Nuôi dưỡng hàng ngàn con em miền Nam tập kết, đào tạo trở thành những cán bộ, chiến sĩ phục sự nghiệp cách mạng; nuôi dưỡng 30 vạn thương binh, bệnh binh ở các chiến trường về hậu phương, góp phần to lớn cùng cả nước hoàn thành sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, đi lên xây dựng CNXH.

    Sau chiến thắng 30/4/1975, quân và dân Quân khu 3 đã nêu cao tinh thần đoàn kết, tự lực tự cường, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đặc biệt từ năm 1975 đến năm 1984, quân và dân Quân khu 3 đã chi viện đắc lực về lực lượng, cơ sở vật chất trang bị kỹ thuật cho các tuyến phòng thủ ở biên giới phía Bắc, Đông Bắc, biển và hải đảo của Tổ quốc. Các tỉnh, thành phố đã tổ chức 40 trung đoàn tự vệ, dân quân với 37 vạn lượt người cùng các đơn vị chủ lực xây dựng các công trình quốc phòng; chi viện hàng nghìn tấn xi măng, sắt thép, hàng trăm ngàn ngày công… chi viện hàng chục vạn cán bộ, chiến sĩ trong đội hình hàng chục sư đoàn ra phía trước làm nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ biên giới. Trong những năm qua, quân và dân Quân khu không ngừng phát huy truyền thống, hoàn thành xất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng là Quân khu có vị trí chiến lược trọng yếu của cả nước.

    Từ năm 2000 đến nay đã có 08 đơn vị thuộc LLVT Quân khu được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân và Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, cụ thể là:

    *Anh hùng LLVT nhân dân: Bệnh viện 5, Cục Hậu cần; Xưởng 10 Công binh, Bộ Tham mưu; Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 43, f395; Tiểu đoàn 25,Lữ đoàn 513; LLVT huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định, LLVT thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh

    * Anh hùng lao động: Công ty xây dựng 319.

    Câu hỏi 8 : Ban hãy viết một đoạn văn (bài thơ) về con người, vùng đất Quân khu 3, hoặc kỷ niệm sâu sắc của mình trong đời quân ngũ? ( không quá 500 từ).

    Người tham gia dự thi tự trả lời câu hỏi…

    Câu hỏi 9: Dự đoán cuộc thi tìm hiểu ” Quân khu 3- lịch sử và những chiến công” có bao nhiêu người tham gia?

    Người tham gia dự thi tự trả lời câu hỏi…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hãy Tóm Tắt Về Bài Dự Thi Tìm Hiểu Về Quân Khu 3
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Quân Khu 3
  • Đề Cương, Đáp Án Cuộc Thi Tìm Hiểu 70 Năm Ngày Truyền Thống Llvt Tỉnh Quảng Ninh
  • Cuộc Thi Trực Tuyến Tìm Hiểu Pháp Luật Năm 2021: Có Nhiều Điểm Mới
  • Đáp Án Cuộc Thi Tìm Hiểu Chính Sách, Pháp Luật Về Bình Đẳng Giới Dap An Cuoc Thi Tim Hieu Chinh Sach Phap Luat Ve Binh Dang Gioi Doc
  • Hãy Tóm Tắt Về Bài Dự Thi Tìm Hiểu Về Quân Khu 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Truyền Thống
  • Tìm Hiểu Về Rượu Vang Tây Ban Nha
  • Tìm Hiểu Văn Hóa, Lịch Sử Và Các Cấp Bậc Của Rượu Vang Tây Ban Nha ⋆ Sành Vang
  • Rượu Vang Tây Ban Nha Là Gì? Tìm Hiểu Kiến Thức Cơ Bản Về R Ợu Vang Tây Ban Nha
  • Tìm Hiểu Về Rượu Vang Ý
  • 1. Liên khu 3: Ngày 25/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 120-SL thành lập Liên khu 3 trên cơ sở hợp nhất Chiến khu 2 và Chiến khu 3. Địa bàn gồm các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hoà Bình. Tháng 11/1948, Hà Nội tách khỏi Liên khu 3 thành lập Mặt trận Hà Nội.

    2. Liên khu 3 và Khu Tả Ngạn: Tháng 5/1952, Liên khu 3 tách thành Khu Tả Ngạn sông Hồng (thường gọi là Khu Tả Ngạn) và Liên khu 3.

    – Khu Tả Ngạn: Gồm các tỉnh Kiến An, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình và thành phố Hải Phòng.

    – Liên khu 3: Gồm các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hà Đông, Sơn Tây và Hoà Bình.

    3. Quân khu Tả Ngạn và Quân khu Hữu Ngạn (lần thứ nhất): Ngày 03/6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 017/SL thành lập Quân khu Tả Ngạn, Quân khu Hữu Ngạn. Ngày 10/9/1957, Bộ Quốc phòng ra Nghị định 254/NĐ quy định phạm vi và địa giới hành chính do các quân khu phụ trách, theo đó:

    + Quân khu Tả Ngạn: Gồm các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An, Thái Bình và thành phố Hải Phòng. Đến tháng 10/1957, có thêm Khu Hồng Quảng (hợp nhất hai đơn vị hành chính Đặc khu Hồng Gai và tỉnh Quảng Yên tháng 2/1955) và tỉnh Hải Ninh. Tháng 10/1963, Khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh hợp nhất thành tỉnh Quảng Ninh.

    + Quân khu Hữu Ngạn: Gồm các tỉnh Hoà Bình, Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá (Thanh Hoá tách từ Quân khu 4 về).

    4. Quân khu 3 (lần thứ nhất): Tháng 11/1963, hợp nhất Quân khu Tả Ngạn và Quân khu Hữu Ngạn thành Quân khu 3. Địa bàn gồm các tỉnh: Thanh Hóa, Nam Hà (năm 1996, tỉnh Nam Hà tách ra thành tỉnh Hà Nam, tỉnh Nam Định), Ninh Bình, Hà Tây, Hòa Bình, Hải Hưng (tỉnh Hải Hưng sau này tách ra thành tỉnh Hải Dương, tỉnh Hưng Yên), Hà Bắc (sau này tách ra thành tỉnh Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh), Thái Bình và thành phố Hải Phòng.

    Tháng 11/1963, tỉnh Quảng Ninh tách ra để thành lập Quân khu Đông Bắc. Tháng 02/1970, Quân khu Đông Bắc giải thể, tỉnh Quảng Ninh sáp nhập vào Quân khu Tả Ngạn.

    Từ tháng 1-8/1964: Có thêm Thủ đô Hà Nội.

    5. Quân khu Tả Ngạn và Quân khu Hữu Ngạn (lần thứ hai): Ngày 27/3/1967, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký Quyết định số 22/QĐ-BQP tách Quân khu 3 thành Quân khu Tả Ngạn và Quân khu Hữu Ngạn, theo đó:

    – Quân khu Tả Ngạn: Gồm các tỉnh, thành phố: Hà Bắc, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên và Thái Bình.

    – Quân khu Hữu Ngạn: Gồm các tỉnh Thanh Hoá, Nam Hà, Ninh Bình, Hà Tây và Hoà Bình.

    6. Quân khu 3 (lần thứ 2): Ngày 29/5/1976, Chủ tịch nước ký Sắc lệnh số 45/LCT hợp nhất Quân khu Tả Ngạn và Quân khu Hữu Ngạn thành Quân khu 3. Địa bàn gồm các tỉnh Hải Hưng, Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Bắc, Hà Nam Ninh (tỉnh Hà Nam Ninh thành lập ngày 27/12/1975, trên cơ sở sáp nhập tỉnh Nam Hà, tỉnh Ninh Bình), Hà Sơn Bình (sau này tách ra thành tỉnh Hà Tây, tỉnh Sơn Tây, tỉnh Hòa Bình; hiện nay là tỉnh Hòa Bình và một phần thành phố Hà Nội).

    * Một số thay đổi về địa giới của Quân khu 3 sau khi tái lập:

    – Tháng 6/1978, các tỉnh Hà Bắc, Quảng Ninh tách khỏi Quân khu 3, sáp nhập vào Quân khu 1.

    – Ngày 04/8/1987, Đảng uỷ Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) ra Nghị quyết số 154/NQ hợp nhất Đặc khu Quảng Ninh vào Quân khu 3 (trước đó, khi cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc nổ ra, tháng 4/1979, Chủ tịch nước ký Sắc lệnh số 71/LCT tách tỉnh Quảng Ninh khỏi Quân khu 1 để thành lập Đặc khu Quảng Ninh trực thuộc Trung ương).

    – Tháng 10/1999, tách Hà Tây về Quân khu Thủ đô (nay là Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội).

    * Hiện nay, địa bàn Quân khu 3 gồm 9 tỉnh, thành phố là: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hòa Bình, Hải Dương và Hưng Yên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Quân Khu 3
  • Đề Cương, Đáp Án Cuộc Thi Tìm Hiểu 70 Năm Ngày Truyền Thống Llvt Tỉnh Quảng Ninh
  • Cuộc Thi Trực Tuyến Tìm Hiểu Pháp Luật Năm 2021: Có Nhiều Điểm Mới
  • Đáp Án Cuộc Thi Tìm Hiểu Chính Sách, Pháp Luật Về Bình Đẳng Giới Dap An Cuoc Thi Tim Hieu Chinh Sach Phap Luat Ve Binh Dang Gioi Doc
  • Cuộc Thi Trực Tuyến Tìm Hiểu Pháp Luật Năm 2021: Lan Tỏa Tinh Thần Thượng Tôn Pháp Luật
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Quân Khu 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Hãy Tóm Tắt Về Bài Dự Thi Tìm Hiểu Về Quân Khu 3
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Truyền Thống
  • Tìm Hiểu Về Rượu Vang Tây Ban Nha
  • Tìm Hiểu Văn Hóa, Lịch Sử Và Các Cấp Bậc Của Rượu Vang Tây Ban Nha ⋆ Sành Vang
  • Rượu Vang Tây Ban Nha Là Gì? Tìm Hiểu Kiến Thức Cơ Bản Về R Ợu Vang Tây Ban Nha
  • Câu 1: Quân khu 3 thành lập ngày, tháng, năm nào? Hiện nay bao gồm mấy tỉnh, thành phố (hãy kể tên)? Sông Bạch Đằng, nơi quân và dân ta (thế kỷ X và XIII) đã lập nên những chiến công oanh liệt, hiện nay thuộc địa bàn tỉnh nào? Ai là người lãnh đạo quân dân ta lập nên những chiến công đó?

    Trả lời:

    Trước cách mạng Tháng Tám năm 1945, trên địa bàn Quân khu 3 ngày nay đã hình thành một số chiến khu cách mạng nhu chiến khu Quang Trung thành lập ngày 3 tháng 2 năm 1945 theo sự chỉ đạo của Thường vụ Trung ương Đảng, gồm các tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá; chiến khu Trần Hưng Đạo (còn gọi là Đệ tứ Chiến khu hay Chiến khu Đông Triều), thành lập tháng 6 năm 1945, lúc đầu gồm: Đông Triều, Chí Linh, Mạo Khê, Tràng Bạch. Đến cuối tháng 6, có thêm Kinh Môn, Thanh Hà, Thuỷ Nguyên, Uông Bí, Hưng Yên và một phần Kim Thành, sau mở rộng tới Kiến An, Đồ Sơn, Quảng Yên, Hòn Gai.

    Cách mạng tháng 8 thành công, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Đến tháng 10 năm 1945, Chính phủ ra quyết định thành lập các chiến khu (sau gọi là khu) trên toàn quốc. Trong phạm vi đồng bằng Bắc bộ và phụ cận có 3 chiến khu là chiến khu 2, chiến khu 3, và chiến khu 11. Chiến khu 2 gồm các tỉnh: Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Sơn La, Lai Châu. Chiến khu 3 gồm các tỉnh: Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Kiến An, Quảng Yên, Hải Ninh và thành phố Hải Phòng. Chiến khu 11 chỉ có Hà Nội, trực thuộc Trung ương; khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Chiến khu 11 sát nhập vào Chiến khu 2.

    Trước yêu cầu của cuộc kháng chiến ngày càng gay go, ác liệt, ngày 25 tháng 1 năm 1948, Chủ tịch Hồ CHí Minh ký sắc lệnh số 120-SL thành lập Liên khu 3 trên cơ sở hợp nhất Khu 2 và Khu 3 và xác định rõ nhiệm vụ và phương hướng cùng cả nước chủ động đưa cuộc chiến sang giai đoạn mới, đánh bại âm mưu bình định của địch, xây dựng và phát triển lực lượng kháng chiến ngày càng lớn mạnh. Địa bàn Liên khu 3 gồm các tỉnh: Hà Nội, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hoà Bình, Hà Đông, Sơn Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Kiến An, Hải Phòng, Thái Bình.

    Tháng 5 năm 1952, Trung ương Đảng, Chính phủ quyết định thành lập Khu Tả Ngạn trực thuộc Trung ương Đảng. Địa bàn Khu Tả Ngạn gồm các tỉnh: Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình. Lúc này, Liên khu 3 còn lại các tỉnh: Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hà Đông, Sơn Tây, Hoà Bình. Địa bàn quân khu 3 lúc này gồm có Liên khu 3 và Khu Tả Ngạn.

    Ngày 3 tháng 6 năm 1957, Bác Hồ ký sắc lệnh số 017/SL thành lập các quân khu Việt Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc, Tả Ngạn, Hữu Ngạn, Quân khu 4. Ngày 10 thá

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Cương, Đáp Án Cuộc Thi Tìm Hiểu 70 Năm Ngày Truyền Thống Llvt Tỉnh Quảng Ninh
  • Cuộc Thi Trực Tuyến Tìm Hiểu Pháp Luật Năm 2021: Có Nhiều Điểm Mới
  • Đáp Án Cuộc Thi Tìm Hiểu Chính Sách, Pháp Luật Về Bình Đẳng Giới Dap An Cuoc Thi Tim Hieu Chinh Sach Phap Luat Ve Binh Dang Gioi Doc
  • Cuộc Thi Trực Tuyến Tìm Hiểu Pháp Luật Năm 2021: Lan Tỏa Tinh Thần Thượng Tôn Pháp Luật
  • Đáp Án Tìm Hiểu Pháp Luật Đồng Nai
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Hiến Pháp 2013

    --- Bài mới hơn ---

  • Giảng Lược Đề Cương Kinh Pháp Hoa
  • Giải Đáp Quá Trình Làm Ivf Ở Bệnh Viện Bưu Điện
  • Tìm Hiểu Về Phương Pháp Lọc Rửa Và Bơm Tinh Trùng Iui
  • Tìm Hiểu Kỹ Thuật Bơm Tinh Trùng Vào Buồng Tử Cung (Iui) Tại Vinmec
  • Kinh Phap Cu (Co Hinh Minh Hoa)
  • BÀI DỰ THI

    “TÌM HIỂU HIẾN PHÁP

    NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM”

    Họ và tên: Hồ Sỹ Huấn

    Đơn vị: Trường Tiểu học Quỳnh Thanh A

    Câu 1. Từ năm 1945 khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến nay, nước ta có mấy bản Hiến pháp ? Các bản Hiến pháp đó được Quốc hội thông qua vào ngày, tháng, năm nào ?

    Trả lời:

    Từ năm 1945 khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến nay, nước ta có 05 bản Hiến pháp.

    – Hiến pháp 1946 là bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội thông qua vào ngày 09 tháng 11 năm 1946

    – Hiến pháp năm 1959 được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua vào ngày 31 tháng 12 năm 1959.

    – Hiến pháp năm 1980 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam – khoá VI – kỳ họp thứ 7, nhất trí thông qua ngày 18 tháng 12 năm 1980

    – Hiến pháp năm 1992 được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam thông qua ngày 15 tháng 04 năm 1992. Năm 2001 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 vào ngày 25 tháng 12 năm 2001.

    – Hiến pháp pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam – khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua vào ngày 28 tháng 11 năm 2013.

    Câu 2. Bản Hiến pháp mới được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 (Hiến pháp năm 2013) có hiệu lực từ ngày, tháng, năm nào ? So với Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) có bao nhiêu điều được giữ nguyên ? Có bao nhiêu điều được sửa đổi, bổ sung ? Điều sửa đổi, bổ sung nào bạn tâm đắc nhất ? Vì sao ?

    Trả lời:

    – Bản Hiến pháp mới được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 (Hiến pháp năm 2013) có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2014.

    – So với Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) có 07 điều được giữ nguyên, sửa đổi 101 điều, bổ sung 12 điều.

    Điều sửa đổi, bổ sung nào bạn tâm đắc nhất ? Vì sao ?

    Nếu có ai đó hỏi, trong số những điều mới lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp 2013, điều nào bạn tâm đắc nhất ? Tôi nghĩ rằng câu trả lời sẽ tùy thuộc vào cách tiếp cận cũng như nhận thức riêng của mỗi người đối với từng nội dung, từng điều cụ thể của Hiến pháp. Không ai giống ai. Riêng tôi, Điều 43 là điều tâm đắc nhất, đó là “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”.

    Trong những năm qua cùng với quá trình phát triển kinh tế của đất nước, đã nảy sinh hàng loạt những hệ lụy khác nhau ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường tự nhiên, như ô nhiễm đất, ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước… Các nguồn ô nhiễm này chủ yếu có nguồn gốc từ các cơ sở chế biến, gia công, sản xuất công nghiệp, nhưng không thực hiện đúng quy định về xử lý chất thải, đang từng ngày, từng giờ góp phần hủy hoại môi trường sống của chúng ta. Điều đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền được hưởng thụ môi trường sống trong lành của mọi người.

    Như vậy, có thể nói trước Hiến pháp năm 2013, vấn đề bảo vệ môi trường đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992. Tuy nhiên, việc ghi nhận này còn ở dạng nguyên tắc chung về trách nhiệm từ phía các cơ quan, tổ chức của Nhà nước mà chưa đề ra vấn đề quy định quyền được sống trong môi trường trong lành là một quyền cơ bản của công dân như trong Hiến pháp năm 2013. Phải chăng quyền được sống trong môi trường trong lành chưa được hiến định cụ thể mà trong thời gian qua nhận thức và hành động về bảo vệ môi trường vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn ? Môi trường sống vẫn bị ô nhiễm, hủy hoại từng ngày đã tác động không nhỏ đến đời sống của người dân ở nhiều nơi, đồng thời ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế xã hội lâu dài của đất nước.

    Nhằm khắc phục những tồn tại hạn chế nêu trên, Hiến pháp năm 2013 ra đời đã có sự tiếp thu, chọn lọc những quy định phù hợp của pháp luật quốc tế, đồng thời thể chế hóa quan điểm của Đảng về quyền con người, coi con người là chủ thể, là động lực quan trọng của sự phát triển đất nước. Với quy định: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” là một bước tiến lớn thể hiện việc mở rộng và phát triển quyền con người, phản ảnh kết quả của quá trình đổi mới gần 30 năm qua ở nước ta đồng thời thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân, thừa nhận vấn đề bảo vệ môi trường chính là bảo vệ quyền con người, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Để mọi người thực hiện quyền của mình, Hiến pháp năm 2013 cũng quy định trách nhiệm của Nhà nước là phải ban hành văn bản pháp luật để có cơ sở pháp lý cho mọi người và công dân thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình.

    Thể chế hóa quy định của Hiến pháp, để quyền được sống trong môi trường trong lành được phát huy trong thực tế, tại Kỳ họp thứ VII Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường 2014 với rất nhiều những quy định mới nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững, đảm bảo mọi người dân được sống trong môi trường trong lành là một sự khẳng định rõ nhất của nhà nước ta trong việc bảo vệ quyền con người.

    Câu 3. Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân…”. Bạn hãy nêu và phân tích ngắn gọn các quy định của Hiến pháp năm 2013 về những cách thức để Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước.

    Trả lời:

    Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân…” các quy định của Hiến pháp năm 2013 về những cách thức để Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước như sau:

    – Khoản 2 Điều 4 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”, đây là điểm bổ sung mới quan trọng, vì vai trò làm chủ của Nhân dân đối với nước, Nhân dân giao phó trách nhiệm cho Đảng để lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Vì vậy, Đảng phải chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước nhân dân trong việc lãnh đạo của mình.

    – Tại Điều 6 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”, quy định đa dạng hơn về thực hiện quyền lực của Nhân dân so với Hiến pháp năm 1992, đặc biệt thể hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp đã làm rõ hơn, sâu sắc hơn vai trò làm chủ của Nhân dân.

    – Lần đầu tiên trong Hiến pháp năm 2003 ghi nhận quyền con người, quyền cơ bản của công dân tại chương II. Hiến pháp năm 2013 đã có những nhận thức mới về đề cao nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển. Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật, trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng”.

    – Điều 53 Hiến pháp năm 2013 thể hiện: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” đã khẳng định quyền sở hữu của Nhân dân và Nhân dân ủy quyền cho Nhà nước đại diện Nhân dân để sở hữu và thống nhất quản lý, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về việc quản lý tài sản do Nhân dân ủy quyền.

    – Điều 65 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế” thể hiện trách nhiệm của lực lượng vũ trang là tuyệt đối trung thành với Nhân dân và trước hết là phải bảo vệ Nhân dân là một chủ thể làm chủ đất nước, sau đó là bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

    – Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” đã nhấn mạnh vai trò của Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước, tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về Nhân dân. Nhân dân ủy thác thực hiện quyền lực cao nhất cho Quốc hội để thực hiện quyền lập hiến như đề xuất sửa đổi Hiến pháp,

    Câu 4. Những quy định nào của Hiến pháp năm 2013 thể hiện tư tưởng đại đoàn kết dân tộc ?

    Trả lời:

    Những quy định của Hiến pháp năm 2013 thể hiện tư tưởng đại đoàn kết dân tộc đó là:

    Tại Điều 5, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ:

    1. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.

    2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.

    3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình.

    4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.

    Tại Điều 42, Chương II Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”; hay Điều 61, Chương III: Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường: “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tim Hieu Phap Hanh Thien Tue
  • Tìm Hiểu Về Phương Pháp Giáo Dục Montessori
  • Định Nghĩa Phương Pháp Giáo Dục Montessori Là Gì?
  • Tìm Hiểu Phương Pháp Giáo Dục Mầm Non Montessori
  • Phương Pháp Montessori Và Những Điều Ba Mẹ Cần Biết
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100