Phân Biệt Motor Động Cơ Ac 1 Pha Và 3 Pha

--- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Tem Trùm Xe Máy 250K Và 350K/bộ
  • Sự Khác Nhau Giữa Xml Và Html
  • So Sánh Xml Và Html 2022
  • Cách Định Dạng Xml Trong Notepad ++
  • Sự Khác Biệt Giữa Html Và Xml Và Json Là Gì?
  • Có nhiều bạn hay thắc mắc về sự khác nhau của động cơ ac 1 pha và 3 pha, mời các bạn cùng tham khảo bài viết sau đây.

    Điểm giống nhau giữa động cơ ac 1 pha và 3 pha

    Về cơ bản thì cả 2 loại motor ac này đều được chế tạo dựa trên nguyên lý cảm ứng điện từ của dòng điện. Về cấu tạo thì cả 2 loại động cơ này đều được cấu thành từ 2 bộ phận chính đó chính là rotor và stator. Khi dòng điện chạy trong cuộn dây quấn trong động cơ sẽ tạo ra từ trường quay và rotor quay dựa trên nguyên tắc chống lại sự thay đổi của từ trường.

    Về ứng dụng thực tế thì cả động cơ 3 pha và 1 pha đều được sử dụng cho một số loại máy móc có đặc tính cơ học để tận dụng khả năng chuyển động tròn của rotor. Cả hai loại động cơ này đều có thể dùng cho một số loại máy bơm nước, máy ép, xay công suất nhỏ.

    Sự khác biệt giữa động cơ ac 1 pha và 3 pha

    Đầu tiên dễ thấy nhất sự khác nhau của 2 loại mô tơ này đó chính là năm ở tên gọi của chúng. Động cơ 1 pha có khả năng hoạt động được ở mạng lưới điện 1 pha, thường gọi là mạng điện gia dụng hay điện sinh hoạt, trong khi đó động cơ 3 pha phải sử dụng mạng lưới điện 3 pha thường gọi là điện công nghiệp. Lưu ý chúng ta có thể sử dụng tụ để đấu động cơ 3 pha nhưng dùng điện 1 pha, tuy nhiên giải pháp này mang tính không ổn định vì sẽ làm ảnh hưởng đến công suất của motor.

    Sự khác biệt tiếp theo giữa động cơ ac 1 pha và 3 pha đó chính là tụ đề. Mô tơ 1 pha để khởi động được cần phải sử dụng tụ đề, trong khi đó động cơ 3 pha có thể khởi động trực tiếp mà không qua tụ đề. Các bạn có thể phân biệt 2 loại motor này bằng cách quan sát hộp đấu nối. Hộp đấu nối của động cơ 1 pha thường to hơn vì có chứa tụ. Trong khi đó hộp đấu nối của động cơ 3 pha thường ra 6 hoặc 12 cọc dây.

    Một điểm khác nhau nữa của động cơ điện 1 pha ac và 3 pha ac đó chính là khả năng điều chỉnh tốc độ. Do khác nhau về nguyên lý cấu tạo nên động cơ 3 pha có khả năng thay đổi tốc độ cũng như momen ở tốc độ thấp tốt hơn rất nhiều so với động cơ 1 pha.

    Một số kinh nghiệm trong việc chọn lựa motor ac 1 pha và 3 pha

    • Đối với những ứng dụng đơn giản sử dụng tại nhà có thể sử dụng động cơ 1 pha cho tiện lợi như bơm nước, máy nén khí công suất nhỏ. Lưu ý động cơ 1 pha thường chỉ có công suất từ 5.5kW tương ứng với 7.5hp trở xuống.
    • Những ứng dụng có công suất lớn thì nên lựa chọn động cơ 3 pha để thiết bị có thể sử dụng một cách ổn định hơn, bởi vì khi sử dụng điện 3 pha sẽ tiết kiệm chi phí hơn so với điện gia dụng.
    • Khi chọn mua biến tần cho động cơ ac trước tiên các bạn phải xác định rõ động cơ của mình là 1 pha hay 3 pha để chọn mua loại cho thích hợp, thường biến tần đa số chỉ ứng dụng cho động cơ 3 pha, còn nếu dùng cho động cơ 1 pha cần phải chọn một số loại chuyên biệt hoặc là loại đã được độ chế lại.
    • Đối với một số nơi chỉ có điện 1 pha nhưng động cơ là 3 pha thì có thể sử dụng giải pháp sử dụng biến tần vào 1 pha ra 3 pha để có thể sử dụng trong trường hợp này.
    • Khi tính toán thiết kế máy nếu cần điều khiển tốc độ của động cơ thì các bạn nên chọn sử dụng động cơ ac 3 pha vì dễ tìm biến tần và giải thuật điều khiển cũng sẽ đơn giản hơn.
    • Sử dụng giải pháp biến tần và động cơ 3 pha có thể giúp tiết kiệm điện năng hơn so với động cơ 1 pha.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xịt Khoáng Và Nước Hoa Hồng Có Gì Khác Nhau?
  • Phân Biệt Xịt Khoáng Và Toner
  • Top 3 Xịt Khoáng Của Nhật Tốt Nhất Cho Da Dầu Mụn
  • So Sánh Iphone X Vs Iphone 11: Bạn Có Nên Nâng Cấp?
  • Khác Biệt Giữa Html Và Html5 (Và Những Lợi Ích Của Html5)
  • Đại Cương Chiết Pha Rắn Và Ứng Dụng Của Chiết Pha Rắn

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Tách Chiết Axit Nucleic
  • Cách Chiết Cành Cây Ăn Quả
  • Giáo Án Sinh Học 11
  • Máy Chiết Rót Đẳng Áp Là Gì? Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động
  • Máy Chiết Rót Định Lượng Chiết Dung Dịch Chuẩn Xác, Nhanh Chóng
  • . Giới thiệu chung ,, Trước đây, quá trình tách và làm giàu lượng vết kim loại trong mẫu môi trường thường được tiến hành bằng kỹ thuật chiết lỏng – lỏng (LLE). Những điểm bất lợi của phương pháp này là sử dụng một lượng lớn dung môi và chỉ sử dụng dung môi không trộn lẫn nên việc lựa chọn dung môi rất khó khăn, thao tác thí nghiệm phức tạp và hiệu suất làm giàu không cao. Vì vậy, kỹ thuật LLE ít được sử dụng. Kỹ thuật chiết pha rắn (SPE) ra đời vào giữa những năm 1970, vừa mới ra đời kỹ thuật này đã bộc lộ những tính năng ưu việt hơn. Tuy nhiên, mãi đến năm 1998 thuật ngữ khoa học “Chiết pha rắn” mới được công nhận trên toàn thế giới. Từ đó đến nay, kỹ thuật chiết pha rắn được phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực phân tích, đặc biệt là phân tích lượng vết các kim loại độc trong mẫu môi trường. Chiết pha rắn (hay chiết rắn-lỏng) là quá trình phân bố các chất tan giữa hai pha lỏng và rắn. Trong đó, chất tan ban đầu ở trong pha lỏng (nước hoặc dung môi hữu cơ), chất để hấp thụ chất tan ở dạng rắn (dạng hạt, nhỏ và xốp) gọi là pha rắn Pha rắn (còn được gọi là pha tĩnh) thường là các hạt silica gel xốp trung tính, hạt oxit nhôm, silica gel trung tính đã được ankyl hoá nhóm -OH bằng các gốc hydrocarbon mạch thẳng -C¬2, -C4, -C8, -C18, hay nhân phenyl, các polyme hữu cơ, các loại nhựa hoặc than hoạt tính Các hạt này được nhồi vào cột chiết nhỏ (thường là cột có kích thước 5  1 cm) hoặc nén ở dạng đĩa dày 1 – 2 mm với đường kính 3 – 4 cm (đĩa chiết). Luận văn dài 27 trang, chia làm 3 chương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Vi Chiết Pha Rắn Spe Solid Phase Extraction Hãng Supelco
  • Ứng Dụng Của Phenol / Chloroform Trong Tách Chiết Dna, Rna
  • Nghiên Cứu Chiết Tách Polyphenol Từ Cây Điều Để Làm Chất Kháng Oxi Hóa
  • Phương Pháp Chiết Pha Rắn
  • Các Phương Pháp Chiết Xuất Curcumin Từ Nghệ
  • Sự Khác Nhau Giữa Điện 1 Pha Và Điện 3 Pha

    --- Bài mới hơn ---

  • Giữa Con Người Và Con Vật Khác Nhau Ở Điểm Nào?
  • Sự Khác Nhau Giữa Máy Cnc Và Nc
  • Máy Nc Và Máy Cnc
  • Khác Biệt Giữa Máy Ảnh Cảm Biến Full
  • Sự Khác Biệt Giữa Máy Ảnh Dslr Crop Và Full
  • Dòng điện sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày của chúng ta hiện nay chính là dòng điện xoay chiều, được viết tắt là AC. Dòng điện xoay chiều đã được sử dụng từ những năm 1900 cho sinh hoạt gia đình và cho sản xuất công nghiệp.

    Trong đó, hoạt động sản xuất công nghiệp thì thường phải được đáp ứng một mức điện năng lớn cho sản xuất vì thế nguồn điện 3 pha được sử dụng là chủ yếu. Trong khi đó, dòng điện 1 pha thì thường để cung cấp cho việc sử dụng trong sinh hoạt gia đình.

    Ống cách điện là một thiết bị dùng để luồn hệ thống dây điện trong công trình vừa có tác dụng bảo vệ dây điện vừa có tác dụng tăng tính thẩm mỹ cho công trình.

    Tổng quát về dòng điện 1 pha và dòng điện 3 pha

    Theo quy ước, số pha trong một dòng điện được tính bằng số dây nóng và không bao gồm dây trung tính.

    Mặc dù cả điện 1 pha và điện 3 pha đều được đề cập đến là dòng điện xoay chiều nói chung nhưng hai dòng điện này có sự khác biệt về công suất phân phối.

    Điện một pha được hiểu nôm na là dòng điện được lấy ra từ 1 pha của điện 3 pha và dùng để cung cấp điện năng cho các thiết bị điện có công suất nhỏ mà việc hao tốn điện năng rất ít.

    Trong mạch điện 1 pha sẽ bao gồm 2 dây dẫn: 1 dây nóng và 1 dây lạnh.

    Tại nước ta, hiệu điện thế định mức để sử dụng là 220V. Trên thực tế, nhiều quốc gia không sử dụng mức điện áp này. Ví dụ như Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ,.. điện mức tiêu chuẩn sử dụng của các quốc gia này thường ở mức 110 hay 120V,..

    Điện 1 pha là dòng điện xoay chiều có công suất nhỏ nên không thể dùng để truyền đi xa, nguồn điện này thích hợp nhất khi sử dụng trong sinh hoạt gia đình.

    Hệ thống điện 1 pha đạt điện áp ở 90 0 và 270 0, chu trình của nó sẽ hoàn chỉnh là 360 0.

    Trong hệ thống điện một pha đơn gồm có một dây trung tính và một dây pha có dòng điện chạy qua. Những thay đổi theo chu kỳ về độ lớn và hướng thường thay đổi dòng chảy trong dòng điện và điện áp khoảng 60 lần mỗi giây và tùy thuộc vào nhu cầu của từng hệ thống.

    Dòng điện xoay chiều 3 pha là một hệ thống gồm 3 dòng điện xoay chiều một pha, ba dòng điện này được gây ra bởi ba suất điện động xoay chiều có cùng biên độ, cùng tần số nhưng lệch nhau về pha là 2pi/3.

    Điện 3 pha là hệ thống điện bao gồm 3 dây nóng và 1 dây lạnh, được mắc nối trong mạch bằng 2 cách phổ biến là nối hình tam giác và nối hình sao.

    Hệ thống điện 3 pha dùng để sản xuất công nghiệp, vận hành máy móc công nghiệp hay dùng để truyền tải điện năng đi xa mà không làm hao tổn quá nhiều điện năng.

    Một cách dễ hiểu nhất, hệ thống điện 3 pha có cấu tạo tương tự như 3 dòng điện 1 pha được mắc song song với nhau và có 1 dây trung tính. Do đó, hệ thống điện 3 pha thường sẽ có 4 dây với 3 dây nóng mang điện và 1 dây lạnh.

    Ở hệ thống điện 3 pha sử dụng trong công nghiệp sẽ có 3 dây nóng và 1 dây lạnh, mỗi 120 0 ra khỏi pha với nhau. Trong hệ thống điện áp cao thường sẽ không được trang bị dây trung tính. Nguồn điện ba pha có dòng điện ổn định được phân phối với tốc độ không đổi và có thể mang tải nhiều hơn mà hoàn toàn đảm bảo được yếu tố kinh tế nhất.

    Dòng điện 3 pha được tạo ra bởi máy phát điện xoay chiền 3 pha với cấu tạo gồm:

    – 3 dây quấn AX, BY, CZ và nam châm điện

    – Các dây quấn AX, BY, CZ có cùng số vòng dây và được đặt lệch nhau một góc 2pi/3 trong không gian.

    Nguyên lý hoạt động của dòng điện 3 pha: Khi quay nam châm với vận tốc không đổi, từ trường sẽ lần lượt quét qua các dây quấn và cảm ứng vào trong dây quấn. Khi đó, sức điện động xoay chiều cùng biên độ, tần số và lệch pha nhau một góc 120 0. Xét về mặt thời gian là 1/3 chu kỳ.

    Tải 3 pha thường là động cơ điện 3 pha với các tổng trở của các pha lần lượt là A,B, C của tải là Za, Zb, Zc.

    Trong mạch nối điện 3 pha hình sao, 3 điểm cuối là X, Y, Z nối với nhau để tạo thành điểm trung tính O.

    Cách nối hình tam giác thì cho đầu pha này nối với cuối của pha kia.

    – Sử dụng hiệu quả nhất đối với các thiết bị có công suất dưới 1000 Watt

    – Thiết kế mạch điện 1 pha đơn giản hơn so với mạch 3 pha.

    Để lắp đặt hệ thống mạng điện 1 pha dùng trong sinh hoạt gia đình, trước hết các kỹ sư cơ điện phải lên một bản vẽ điện để xác định vị trí của các thiết bị điện, các công tắc hay ổ cắm. Tất cả các yếu tố này được thể hiện thông qua hệ thống ký hiệu. Tham khảo chi tiết tại:

    – Dòng điện 3 pha thường được ứng dụng cho các lưới điện, trung tâm dữ liệu, hệ thống điện công nghiệp, vận tải hoặc cho các thiết bị máy móc có tải trọng lớn hơn 1000 Watt.

    – Dòng điện 3 pha sử dụng dây dẫn với tiết diện tiết kiệm hơn so với dòng điện 1 pha khi sử dụng để truyền tải điện năng đi xa. Cấu tạo của các động cơ sử dụng điện 3 pha cũng đơn giản và có nhiều đặc tính tốt hơn so với các thiết bị dùng điện 1 pha.

    – Đối với các hệ thống tải điện cao áp, nguồn điện 3 pha có khả năng vận chuyển tốt hơn do:

    + Hiệu suất dẫn điện lớn hơn

    + Có khả năng chạy tải điện với công suất lớn

    + Ít hao phí khi dẫn truyền điện năng đi xa

    + Ít rủi ro về an toàn điện hơn cho con người

    + Chi phí xử lý lao động thấp.

    + Hệ thống dây và cáp dẫn điện 3 pha có tiết diện nhỏ và ít tốn kém hơn.

    Ở mỗi quốc gia, mức giá trị điện áp của điện 3 pha cũng khác nhau. Ví dụ:

    Ở Việt Nam, dòng điện 3 pha có giá trị chuẩn là 380V/3F

    Ở Mỹ, mức điện áp 3 pha là 220V/3F còn Nhật Bản thì sử dụng điện 3 pha với mức điện áp là 200V/3F.

    Những thông tin thú vị xoay quanh dòng điện 1 pha và 3 pha

    – Hệ thống điện 3 pha được nhà khoa học Nikola Tesla giới thiệu và đã được cấp bằng sáng chế vào năm 1887 và 1888.

    – Dòng điện 3 pha có các đặc tính làm cho nó trở lên rất hữu ích trong hệ thống điện như:

    + Dòng pha có xu hướng hủy bỏ một dòng khác. Trong trường hợp tải cân bằng tuyến tính, giá trị pha bằng không. Điều này làm cho nó có thể loại bỏ hoặc giảm kích thước của dây dẫn trung tính. Các dây dẫn pha mang cùng dòng điện và có thể có cùng kích thước cho tải cân bằng.

    + Điện truyền tải vào tải trọng cân bằng tuyến tính là không đổi từ đó giúp giảm rung động máy phát và động cơ.

    + Hệ thống điện ba pha có thể tạo ra từ trường quay theo một hướng xác định, nên động cơ điện dùng điện 3 pha có thiết kế đơn giản hơn.

    – Hiện tượng không cân bằng pha trong nguồn điện 3 pha xảy ra khi các đường dây điện lệch pha do sử dụng các tải 1 pha.

    Hiện tượng này làm cho một hoặc hai đường dây điện mang nhiều hoặc ít tải hơn, làm cho các đường dây 3 pha đi lệch pha, kết quả là các pha không còn cách nhau 120 0 nữa.

    Hiện tượng không cần bằng pha làm cho các mô tơ 3 pha chạy ở các nhiệt độ cao hơn so với các giá trị định mức.

    Nếu mất cân bằng pha thì sự tăng nhiệt độ càng lớn hơn. Nhiệt độ cao làm hư hỏng lớp cách điện của dây dẫn và gây mất an toàn.

    Các mô tơ ba pha không thể phân phối mã lực theo định mức của chúng khi một hệ thống không được cân bằng.

    – Các thiết bị điện 3 pha sử dụng dòng điện 3 pha để hoạt động còn điện 1 pha thì dùng cho các thiết bị điện 1 pha. Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều gia đình sử dụng hệ thống điện 3 pha bằng cách lắp đặt thêm ổn áp 3 pha để tạo điện áp 1 pha 220V ở đầu ra.

    – Giá thành của điện 3 pha luôn cao hơn so với điện 1 pha vì nó được xếp vào nhóm điện sản xuất kinh doanh, không phải điện sinh hoạt.

    – Trong các ngành công nghiệp, có tới 70% các động cơ, máy móc hay thiết bị công nghiệp đều được thiết kế để sử dụng nguồn điện 3 pha để đạt hiệu quả cao nhất.

    – Tần số chuẩn của hệ thống điện 1 pha thường là 50 hoặc 60 Hz. Tại Việt Nam, nguồn điện một pha dùng trong sinh hoạt gia đình có tần số chuẩn là 50Hz.

    – Để biến đổi nguồn điện 3 pha thành dòng điện 1 pha phân phối cho các gia đình hoặc ngược lại, ta cần một thiết bị điện quan trọng đó là máy biến áp (máy biến thế).

    Chi tiết về loại máy này được đề cập chi tiết tại:

    Dù sử dụng dòng điện 1 pha hay 3 pha thì người dùng cũng cần trang bị hệ thống ống điện cho hệ thống dây, cáp điện truyền tải điện năng để đảm bảo an toàn cũng như giúp cho dòng điện luôn được phân phối ổn định nhất.

    Tìm hiểu về ống luồn dây điện EMT và các phụ kiện tại video

    Ống thép luồn dây điện Thịnh Phát là sản phẩm được sản xuất trên dây truyền công nghệ hiện đại, phù hợp với các tiêu chuẩn an toàn về điện mà lại có giá cả rất hợp lý, phải chăng.

    Nếu quý khách có nhu cầu tìm hiểu, cần tư vấn hoặc nhận báo giá về các dòng ống luồn dây điện Thịnh Phát hay các phụ kiện vui lòng liên hệ:

    CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG THỊNH PHÁT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Quan Về Máy Móc Thiết Bị
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Máy Chủ Và Máy Trạm
  • Sự Khác Biệt Giữa Máy Móc, Máy Móc Và Thiết Bị Là Gì?
  • Sự Khác Nhau Giữa Máy Trạm Và Máy Chủ
  • Cách Phân Biệt Các Loại Máy Bay Thương Mại Phần 2
  • Sự Khác Biệt Giữa Nhóm Thực Vật C3, C4, Cam Của Pha Tối?

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Ẩm Thực 3 Miền Bắc
  • Sự Khác Nhau Giữa Internet Và Web, So Sánh Internet Và Www
  • Sự Khác Biệt Giữa Kinh Tế Vi Mô Và Vĩ Mô
  • Sự Khác Biệt Giữa Nhà Quản Lý Và Nhà Lãnh Đạo
  • 3 Sự Khác Biệt Lớn Giữa Người Quản Lý Và Nhà Lãnh Đạo
    • vì sao nói phương thức quang hợp của thực vật là đặc điểm thể hiện sự tiến hóa thích nghi của thực vật với môi trường?

    • a. Quang phân li nước.

      b. Chu trình Canvin.

      c. Pha sáng.

      d. Pha tối.

    • A – CO2 và ATP.

      B – Năng lượng ánh sáng,

      C – Nước và O2.

      D – ATP và NADPH.

    • Khi tăng cường độ chiếu sáng và tang nhiệt độ trong nhà kính thì cường độ quang hợp của cây A giảm nhưng cường độ quang hợp của cây B không thay đổi.

      Những điều nào sau đây nói lên được mục đích của thí nghiệm và giải thích đúng mục đích đó?

      (1) Mục đích của thí nghiệm là nhằm phân biệt cây C3 và C4.

      (2) Khi nhiệt độ và cường độ ánh sángtăng làm cho cây C3 phải đóng khí khổng để chống mất nước nên xảy ra hô hấp sáng làm giảm cường độ quang hợp (cây A).

      (3) Mục đích của thí nghiệm có thể nhằm xác định khả năng chịu nhiệt của cây A và B.

      (4) cây C4 (cây B) chịu được điều kiện ánh sáng mạnh và nhiệt độ cao nên không xảy ra hô hấp sáng. Vì thế, cường độ quang hợp của nó không bị giảm.

      Phương án trả lời đúng là:

    • Phương án trả lời đúng là:

      A. Quá trình quang phân li nước ở pha sáng và cố định CO2 ở pha tối của quang hợp. 1-pha sáng ; 2-pha tối ; 3-CO 2 ; 4-C 6H 12O 6.

      B. Quá trình quang phân li nước ở pha sáng và cố định CO2 ở pha tối của quang hợp. 1-pha sáng ; 2-pha tối ; 3-O2 ; 4-C6H12O6.

      C. Quá trình quang hợp của thực vật CAM. 1-pha sáng ; 2-pha tối ; 3-ATP ; 4-C6H12O6.

      D. Quá trình quang phân li nước ở pha sáng và cố định CO2 ở pha tối của quang hợp. 1-pha sáng ; 2-pha tối ; 3-ATP ; 4-C6H12O6.

    • Đặc điểm Pha sáng Pha tối

      Nguyên liệu

      1. Năng lượng ánh sáng, H 2O, NADP+ , ADP

      5. CO 2, NADPH và ATP

      Thời gian

      2. Xảy ra vào ban ngày và ban đêm

      6. Xảy ra vào ban ngày

      Không gian

      3. Các phản ứng xảy ra trên màng tilacôit của lục lạp

      7. Các phản ứng xảy ra ở chất nền (strôma) của lục lạp

      Sản phẩm

      4. NADPH, ATP và oxi

      8. Các hợp chất hữu cơ

      Phương án trả lời đúng là:

      A. 4 và 5.

      B. 3 và 7.

      C. 2 và 6.

      D. 5 và 8.

    • (1) Gồm những loài mọng nước sống ở các vùng hoang mạc khô hạn và các loại cây trồng nhưu dứa, thanh long…

      (2) Gồm một số loài thực vật sống ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như mía, rau dền, ngô, cao lương, kê…

      (3) Chu trình cố định CO2 tạm thời (con đường C4) và tái cố định CO 2 theo chu trình Canvin. Cả hai chu trình này đều diễn ra vào ban ngày và ở hai nơi khác nhau trên lá.

      (4) Chu trình C4 (cố định CO2) diễn ra vào ban đêm, lúc khí khổng mở và giai đoạn tái cố định CO2 theo chu trình Canvin, diễn ra vào ban ngày.

      Phương án trả lời đúng là:

    • A. và giai đoạn tái cố định CO 2 theo chu trình Canvin, diễn ra ở lục lạp trong tế bào bao bó mạch.

      B. và giai đoạn cố định CO2 theo chu trình Canvin, diễn ra ở lục lạp trong tế bào mô giậu.

      C. diễn ra ở lục lạp trong tế bào bó mạch; còn giai đoạn tái cố định CO2 theo chu trình Canvin, diễn ra ở lục lạp trong tế bào mô giậu.

      D. diễn ra ở lục lạp trong tế bào mô giậu; còn giai đoạn tái cố định CO2 theo chu trình Canvin, diễn ra ở lục lạp trong tế bào bó mạch.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Tình Yêu Và Tình Bạn
  • Khác Biệt Đám Cưới Mỹ Và Việt Nam Là Gì
  • Sự Khác Nhau Giữa Đám Cưới Việt Nam Và Mỹ
  • Sự Thú Vị Giữa Đám Cưới Xưa Và Nay: Khác Từ Thiệp Cưới Cho Đến Cỗ Cưới, Váy Cưới
  • Sự Khác Biệt Giữa Đám Cưới Thời Xưa Và Nay
  • Bộ Chiết Pha Rắn (Solid

    --- Bài mới hơn ---

  • Máy Chiết Rót Đẳng Áp & Nguyên Lý Hoạt Động
  • Cơ Cấu Chiết Rót Đẳng Áp Và Những Điều Bạn Chưa Biết
  • Tìm Hiểu Phương Pháp Định Lượng Và Cơ Chế Hoạt Động Máy Chiết Rót Dung Dịch
  • Quá Trình Định Lượng Của Máy Chiết Rót
  • Chiết Xuất Rutin Từ Hoa Hoè
  • admin

    Công ty CPTM Thiết bị KHKT Việt Nam

    Giới thiệu

    • SPE sử dụng ái lực của các chất hòa tan hoặc lơ lửng trong chất lỏng (được gọi là pha động) đối với chất rắn mà qua đó mẫu được đi qua (được gọi là pha tĩnh) để tách hỗn hợp thành các thành phần mong muốn và không mong muốn. Kết quả là các chất phân tích mong muốn được quan tâm hoặc các tạp chất không mong muốn trong mẫu được giữ lại trên pha tĩnh. Phần đi qua pha tĩnh được thu lại hoặc loại bỏ, tùy thuộc vào việc nó có chứa chất phân tích mong muốn hay tạp chất không mong muốn. Nếu phần được giữ lại trên pha tĩnh bao gồm các chất phân tích mong muốn, thì chúng có thể được loại bỏ khỏi pha tĩnh để thu gom trong một bước bổ sung, trong đó pha tĩnh được rửa bằng chất rửa giải thích hợp.
    • Có thể có sự thu hồi không hoàn toàn các chất phân tích do SPE gây ra do chiết hoặc rửa giải không hoàn toàn. Trong trường hợp chiết không hoàn toàn, các chất phân tích không có đủ ái lực với pha tĩnh và một phần của chúng sẽ ở lại trong dịch thấm. Trong quá trình rửa giải không hoàn toàn, một phần chất phân tích vẫn còn trong chất hấp thụ vì chất rửa giải được sử dụng không có ái lực đủ mạnh. Lượng chất phân tích được chiết xuất bởi sợi tỷ lệ với nồng độ của nó trong mẫu miễn là đạt được trạng thái cân bằng hoặc trong trường hợp cân bằng trước trong thời gian ngắn, với sự trợ giúp của đối lưu hoặc kích động.

      • E. M. Thurman, M. S. Mills, Solid-Phase Extraction: Principles and Practice, Wiley-Interscience, 1998, ISBN 978-0-471-61422-7
      • Nigel J.K. Simpson, Solid-Phase Extraction: Principles, Techniques, and Applications, CRC, 2000, ISBN 978-0-8247-0021-8
      • James S. Fritz, Analytical Solid-Phase Extraction, Wiley-VCH, 1999, ISBN 978-0-471-24667-1

      --- Bài cũ hơn ---

    • Một Số Phương Pháp Sản Xuất Tinh Dầu
    • Chiết Xuất Rau Má – Cứu Tinh Của Da Nhạy Cảm, Dầu Mụn
    • Chuyên Luận Dược Liệu (Herba Ephedrae)
    • Nguyên Lý Cơ Bản, Quy Trình Chiết Siêu Tới Hạn
    • Sở Khoa Học & Công Nghệ Bình Dương

    Phương Pháp Chiết Pha Rắn

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghiên Cứu Chiết Tách Polyphenol Từ Cây Điều Để Làm Chất Kháng Oxi Hóa
  • Ứng Dụng Của Phenol / Chloroform Trong Tách Chiết Dna, Rna
  • Kỹ Thuật Vi Chiết Pha Rắn Spe Solid Phase Extraction Hãng Supelco
  • Đại Cương Chiết Pha Rắn Và Ứng Dụng Của Chiết Pha Rắn
  • Các Phương Pháp Tách Chiết Axit Nucleic
  • Phương pháp chiết pha rắn

    Chiết pha rắn là một dạng sắc ký lỏng được cải tiến thành hấp thụ pha rắn với các cơ chế khác nhau. Kỹ thuật này dựa trên nguyên tắc sự phân bố của chất tan giữa hai pha không tan vào nhau đã sử dụng phương pháp chiết pha rắn để xử lý mẫu nhằm xác định đồng thời các chất amphetamin, methamphetamin, 3,4-methylenedioxyamphetamin, 3,4-m ethylene-dioxymethamphetamin, N-methyl-1-(3,4-methyl-enedioxyphenyl)-2-butanamin, 3,4-methylenedioxyethylamphetamin, p-methoxymethamphetamin, ephedrin, N-methylephedrin, cathinon, methcathinon và ketamintrong nước tiểu. Cột Oasis MCX (1 mL, 30 mg; Waters, USA) được hoạt hóa bằng 1 mL MeOH, 1ml nước đề-ion. 4 mL mẫu nước tiểu (được axit hóa bằng 200 µL HCl 5 M, thêm 0,25 ng/mL dung dịch chất nội chuẩn MA-d 5) được rung siêu âm 5 phút ở tốc độ 8000 rpm sau đó được cho chảy qua cột MCX. Cột chiết được rửa với 1ml HCl 0,1M; 1 mL MeOH; 1 mL dung dịch amoniac 5%.Chất phân tích được rửa giải bằng 1 mL 5% amoniac trong MeOH. Hiệu suất thu hồi của các chất đều nằm trong khoảng 70,3 ÷ 107,9 %.

    Các tác giả Đặng Đức Khanh, Trần Việt Hùng, Trần Thị Thúy đã sử dụng cột chiết trao đổi ion (benzensulphonyl silica, 1mL) để xử lí mẫu nước tiểu. Quy trình như sau: Cột chiết được hoạt hóa bằng metanol (2 mL), nước cất (1 mL) và axit photphoric 10 mM (0,5 mL) dưới áp suất giảm. Lắc 1 mL nước tiểu với 0,5 mL axit photphoric 10 mM trong 1 ống nghiệm sau đó đưa vào cột chiết đã hoạt hóa. Sau khi đuổi hết không khí (khoảng 30 giây), rửa lần lượt bằng 1 mL axit photphoric 10 mM, 0,5 mL axit axetic 0,1 M và 1 mL metanol. Loại bỏ không khí trong cột, sau đó tiến hành rửa giải bằng 2 mL dung dịch amoniac 3%/metanol (v/v), làm khô dưới áp suất giảm dòng nitơ, thu cặn chiết và tiến hành phân tích.

    Như vậy, có thể nhận thấy có nhiều phương pháp xác định các chất ma túy nhưng các phương pháp này đều đòi hỏi trang thiết bị hiện đại, yêu cầu kỹ thuật cao. Tuy nhiên, phương pháp điện di mao quản cho thấy rất có tiềm năng bởi vì phương pháp điện di mao quản sử dụng detector đo độ dẫn không tiếp xúc (CE-C 4 D) là phương pháp phân tích mới với những ưu điểm như: thiết bị tương đối đơn giản, chi phí thấp, hoạt động đơn giản, có thể tự động hóa và triển khai phân tích ngay tại hiện trường với một lượng nhỏ mẫu và hóa chất phục vụ kịp thời quá trình điều tra. Do đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu quy trình phân tích một số chất ma túy tổng hợp ATS trên thiết bị điện di mao quản sử dụng detector độ dẫn không tiếp xúc, kết nối kiểu tụ điện.

    CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

    2.1. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

    2.1.1. Mục tiêu nghiên cứu

    Mục tiêu của luận văn là: Nghiên cứu quy trình xử lý mẫu nước tiểu để phân tích một số chất ma túy tổng hợp nhóm ATS (gồm: MA, MDA, MDMA, MDEA) bằng phương pháp điện di mao quản, sử dụng detector đo độ dẫn không tiếp xúc theo kiểu kết nối tụ điện (CE-C 4 D).

    2.1.2. Nội dung nghiên cứu

    Để đạt được mục tiêu đề ra, các nội dung nghiên cứu cần thực hiện bao gồm:

    – Tổng quan tài liệu về các phương pháp khác nhau để xác định đồng một số hợp chất ma túy tổng hợp nhóm ATS và các phương pháp xử lý mẫu nước tiểu.

    – Xây dựng đường chuẩn của các chất phân tích.

    • Đánh giá phương pháp phân tích (xác định LOD, LOQ, độ đúng, độ chụm).
    • Nghiên cứu, tối ưu quy trình chiết lỏng và chiết pha rắn để xử lý làm sạch, làm giàu mẫu nước tiểu.
    • Áp dụng phân tích một số mẫu nước tiểu do Viện Khoa học hình sự và Đội giám định hóa học – Phòng kỹ thuật hình sự – CATP Hà Nội cung cấp.
    • Thực hiện phân tích đối chứng một số mẫu bằng phương pháp GC/MS do Viện Khoa học hình sự thực hiện.

    2.2. Phương pháp nghiên cứu

    2.2.1. Phương pháp phân tích

    Phương pháp phân tích là phương pháp điện di mao quản sử dụng detector độ dẫn không tiếp xúc kết nối kiểu tụ điện (CE – C 4D). Thiết bị này được thiết kế và chế tạo bởi Công ty 3Sanalysis ( http://www.3sanalysis.vn/) trên cơ sở hợp tác với nhóm nghiên cứu của GS. Peter Hauser (Thụy Sỹ), là thiết bị có nguồn thế cao lên đến 20kv, có thể thực hiện bán tự động (hình 2.1). Hệ thiết bị này hiện đang được triển khai nghiên cứu hoàn thiện và phát triển ứng dụng tại Bộ môn Hóa Phân tích, Khoa Hóa học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội và khảo sát các điều kiện thiết bị, hóa chất, chúng tôi thực hiện quy trình chiết xuất như sau:

    – Xử lý mẫu nước tiểu bằng phương pháp chiết pha rắn: sử dụng cột C18 dung tích 3ml.

    1. Hoạt hóa cột ( 3ml MeOH, 3ml H 2 O, 3ml đệm phốt phát pH 6)

    2. Nạp mẫu ( 5 ml nước tiểu, 0,5ml đệm phốt phát pH 6)

    3. Rửa tạp chất ( 1ml H 2O, 2ml H 3PO 4 10mM, 2ml MeOH/H 2 O 1/9 v/v)

    4. Rửa giải ( 2ml MeOH ngâm 5 phút), thu dịch chiết

    5. Cô cạn dịch chiết bằng dòng khí nito, sau đó hòa tan vào MeOH và pha loãng với tỉ lệ thích hợp rồi tiến hành phân tích trên thiết bị CE.

    Xử lý mẫu nước tiểu bằng phương pháp chiết lỏng:(chiết lặp 2 lần)

    1. Lấy mỗi mẫu 5 ml nước tiểu vào ống nghiệm có nắp xoáy

    2. Kiềm hóa mẫu về pH 9 bằng dung dịch NH3 (kiểm tra bằng giấy quỳ) 3. Chiết mẫu bằng 3 ml etyl axetat, lắc trong vòng 10 phút.

    4. Ly tâm cho tách lớp (tốc độ 8000 vòng/phút trong 20 phút)

    5. Hút lớp etyl axetat (lớp trên) đến khi hết dịch trong thì cho 200µl MeOH vào lắc nhẹ giúp làm giảm huyền phù trong mẫu rồi tiếp tục hút thu tiếp dịch chiết.

    6. Cô cạn dịch chiết bằng dòng khí nito, sau đó hòa tan vào MeOH và pha loãng với tỉ lệ thích hợp rồi tiến hành phân tích trên thiết bị CE.

    2.3. Hóa chất và thiết bị

    2.3.1. Hóa chất

    Tất cả các hóa chất sử dụng đều thuộc loại tinh khiết phân tích và được pha chế bằng nước deion.

    2.3.1.1. Chất chuẩn

    • MA (Lipomed, hàm lượng dạng bazơ =80,2%)
    • MDA (Lipomed, hàm lượng dạng bazơ = 82,8%)
    • MDMA (Lipomed, hàm lượng dạng bazơ = 83,71%)
    • MDEA (Lipomed, hàm lượng dạng bazơ = 84,66%)

    2.3.1.2. Hóa chất, dung môi

    • Axit acetic (CH3COOH), (PA, Merck, Đức)
    • Axit clohydric (HCl), (PA, Merck, Đức)
    • Axit photphoric (H3PO4) (PA, Deajung, Hàn Quốc, 85%)
    • Natri hydroxyd (NaOH), (PA, Merck, Đức)
    • Methanol (CH3OH), (PA, Merck, Đức)
    • Diclometan (CH2Cl2), (PA, Deajung, Hàn Quốc, 99%)

    2.3.1.3. Chuẩn bị các dung dịch hóa chất

    * Pha các dung dịch chuẩn gốc

    Cân chính xác từng chất phân tích trên cân phân tích (độ chính xác 0,1mg): 0,0125 g MA, 0,0121 g MDA, 0,0119 g MDMA, 0,0118 g MDEA chuyển vào bình định mức 10,0 mL, thêm 4 mL Methanol và đem rung siêu âm 30 phút sau đó định mức đến vạch bằng nước deion ta được các dung dịch chuẩn gốc 1000ppm.

    Các dung dịch chuẩn nồng độ nhỏ hơn được pha loãng bằng nước deion theo tỉ lệ thích hợp từ dung dịch chuẩn gốc 1000 ppm trước khi phân tích.

    * Pha dung dịch đệm điện di

    Dung dịch pha động điện di kết hợp giữa Arginine và axit acetic được pha như sau: Cân chính xác 0,0435g Arginine chuyển vào cốc có mỏ 50,0 mL rung siêu âm trong 5 phút cho tan hết sau đó thêm từ từ axit axetic vào đến khi pH của dung dịch là 4.5 (sử dụng máy đo pH). Dung dịch đệm được pha mới hàng ngày.

    2.3.2. Thiết bị, dụng cụ

    *Thiết bị

    – Thiết bị điện di mao quản CE-C 4 D như đã trình bày ở mục 2.2.1.

    – Thiết bị lọc nước deion (Mỹ).

    – Máy rung siêu âm, có gia nhiệt của hãng BRANSONIC 521.

    – Máy đo pH của hãng HANNA với điện cực thủy tinh và các dung dịch pH chuẩn để hiệu chỉnh điểm chuẩn của máy đo pH.

    – Cân phân tích của hãng S¢ientech (Mỹ), độ chính xác 0,1mg.

    – Tủ lạnh Sanaky VH-2899W dùng bảo quản mẫu

     Dụng cụ:

    – Dụng cụ thủy tinh: bình định mức, pipet, cốc, ống nghiệm.

    – Pipet paster các loại: 10; 20; 100; 200; 5000 µL.

    – Các lọ Falcon 15ml để đựng dung dịch chuẩn.

    – Một số dụng cụ thông thường khác trong phòng thí nghiệm.

    2.4. Các phương pháp đánh giá độ tin cậy của phương pháp phân tích

    2.4.1. Giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ) của thiết bị

    Giới hạn phát hiện (LOD) là nồng độ thấp nhất của chất phân tích mà hệ thống phân tích còn cho tín hiệu phân tích khác có nghĩa so với tín hiệu mẫu trắng hay tín hiệu nền .

    – Độ lặp lại của phương pháp được xác định qua độ lệch chuẩn (SD) và độ lệch chuẩn tương đối (RSD%) theo các công thức sau:

    RSD (%) còn được gọi là hệ số biến thiên (CV%). Người ta thường sử dụng độ lệch chuẩn tương đối (RSD) hơn là độ lệch chuẩn (SD) do có thể đánh giá được độ lệch chuẩn chiếm bao nhiêu phần trăm giá trị trung bình và có cái nhìn rõ hơn về độ chụm của các số liệu trong tập số liệu lặp lại.

    Trong đó:

    – S i là diện tích của pic điện di thứ i

    – S tb là diện tích trung bình của n lần phân tích

    – n là số lần phân tích lặp lại

    2.4.3. Độ đúng (độ thu hồi) của thiết bị, của phương pháp

    Độ đúng chỉ mức độ gần nhau giữa giá trị trung bình của dãy lớn các kết quả thí nghiệm và các giá trị quy chiếu được chấp nhận. Do đó, thước đo độ đúng thường đánh giá qua sai số tương đối hay bằng phương pháp xác định độ thu hồi và bước đầu đã đạt được một số kết quả về điều kiện tối ưu phân tích 4 chất ma túy MA, MDA, MDMA và MDEA. Tuy nhiên, do nền mẫu nước tiểu phức tạp và hàm lượng các chất phân tích trong nước tiểu thường rất nhỏ nên việc xử lý mẫu là rất cần thiết. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào quy trình xử lý mẫu nước tiểu trên cơ sở kỹ thuật chiết lỏng – lỏng và chiết pha rắn nhằm nâng cao hiệu quả phân tích bốn chất ma túy nhóm ATS nêu trên bằng phương pháp CE-C 4D. Các nội dung nghiên cứu cụ thể bao gồm: xây dựng và đánh giá lại đường chuẩn, giá trị LOD, LOQ tại thời điểm nghiên cứu; khảo sát điều kiện tối ưu xử lý mẫu nước tiểu trên cơ sở kỹ thuật lỏng -lỏng và chiết pha rắn (SPE) nhằm nâng cao hiệu quả phân tích; áp dụng phân tích một số mẫu thực tế và tiến hành đối chứng với phương pháp truyền thống (GC-MS) do Viện Khoa học Hình sự thực hiện.

    3.1. Xây dựng đường chuẩn của các chất phân tích

    3.1.1. Xây dựng đường chuẩn

    Các dung dịch sử dụng để lập đường chuẩn có nồng độ trong khoảng 5÷120 với MA và 10÷140ppm với MDA, MDAM, MDEA và được pha loãng từ các dung dịch chuẩn gốc ban đầu. Mỗi dung dịch được bơm 3 lần và thực hiện quá trình điện di trên thiết bị điện di mao quản sử dụng detector độ dẫn không tiếp xúc với các điều kiện tối ưu như sau:

    • Mao quản silica đường kính trong ID = 50 µm, tổng chiều dài: 60cm (chiều dài hiệu dụng 53cm).
    • Phương pháp bơm mẫu: Thủy động lực học kiểu xiphông ở độ cao 10 cm.
    • Thời gian bơm mẫu: 45 s
    • Dung dịch đệm điện di: Arg/Ace (10 mM) pH = 4,5.
    • Thế tách: 10 kV
    • Giá trị diện tích pic trung bình là kết quả được sử dụng để lập đường chuẩn.

    Các kết quả đo được trình bày trong bảng 3.1.

    Bảng 3.1. Sự phụ thuộc của diện tích pic vào nồng độ

    MA, MDA, MDMA, MDEA

    Hình 3.1. Đường chuẩn của MA Hình 3.2. Đường chuẩn của MDA

    Hình 3.3. Đường chuẩn của MDMA Hình 3.4. Đường chuẩn của MDEA

    Tra bảng chuẩn t với bậc tự do f = 5, độ tin cậy 95% có t = 2,57, kết hợp với các giá trị a, b, S a, S b, S y của các chất từ phần mềm origin 6.1 ta có phương trình hồi quy của các chất phân tích:

    Bảng 3.2. Phương trình hồi quy của các chất phân tích

    Chất phân tích

    Phương trình hồi quy

    Hệ số tương quan R 2

    Từ các kết quả trên cho thấy hệ số tương quan R 2 của các chất phân tích đều lớn hơn 0,99 đồng thời giá trị P value<0,05 chứng tỏ x và y có quan hệ tuyến tính.

    3.1.2. Đánh giá phương trình hồi quy của đường chuẩn

    Trong phương trình hồi quy y = a + bx, trường hợp lý tưởng xảy ra khi không có chất phân tích thì không có tín hiệu. Tuy nhiên, trong thực tế các số liệu phân tích thường mắc sai số ngẫu nhiên luôn làm cho a ≠ 0.Nếu giá trị a khác 0 có ý nghĩa thống kê thì phương pháp phân tích mắc sai số hệ thống.Vì vậy, trước khi sử dụng đường chuẩn cho chất phân tích công cụ thì cần kiểm tra sự khác nhau giữa giá trị a và 0 có ý nghĩa thống kê không.

    * Kiểm tra a với giá trị 0:

    Nếu xem a ≈ 0 thì phương trình y = a + bx được viết thành y = b’x. Thay các giá trị x i, y i vào phương trình y = b’x ta sẽ được các giá trị b i và tính

    ;

    Phương sai của hai phương trình được tính như sau:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Chiết Xuất Curcumin Từ Nghệ
  • Phương Pháp Ngâm Trong Kỹ Thuật Bào Chế
  • Hướng Dẫn Cách Chiết Nước Hoa Sang Lọ Nhỏ Đơn Giản Tại Nhà
  • Bật Mí Cách Để Các Lọ Nước Hoa Chiết Ra Đời
  • Cách Chiết Nước Hoa Ra Chai Nhỏ Đơn Giản
  • Cách Phân Biệt Pha Lê Và Thủy Tinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Cơ Bản Liên Quan Đến Đá Xà Cừ
  • Đá Xà Cừ Trắng Xanh
  • Đá Hoa Cương Xanh Xà Cừ
  • Khám Phá Ý Nghĩa Màu Sắc Xanh Lam
  • Hai Cách Phân Chia Màu Sắc Cơ Bản
  • Khi nói đến pha lê và thủy tinh thì ta cần phải nhắc đến 3 khái niệm: pha lê tự nhiên, pha lê nhân tạo và thủy tinh vì bình thường người ta cứ nghĩ pha lê là tự nhiên còn thủy tinh thì được con người tạo ra hoàn toàn nhân tạo 100%.

    Pha lê tự nhiên thì được hình thành trong tự nhiên bởi quá trình biến đổi của vỏ trái đất trong điều kiện đặc biệt.

    Trong lĩnh vực làm quà tặng, đồ trang trí, đồ dùng hiện nay có lẽ ta chỉ nói đến pha lê nhân tạo và thủy tinh. Bởi pha lê tự nhiên hiện nay rất hiếm nên chỉ được dùng để làm những món đồ trang sức cao cấp và cực đắt tiền. Vì vậy nếu ai nói với bạn là pha lê không thôi thì cần phải biết đó là pha lê nhân tạo.

    Thủy tinh được sản xuất từ 3 hợp chất chính: silicat SiO2, soda NaCo3, đá vôi CaCo3 và các loại oxit kim loại để cho màu hoặc độ cứng tùy sản phẩm muốn chế tạo. Các vật liệu trên được nấu nóng ở nhiệt độ 1500°C, carbon C bốc hơi còn lại sodium silicate Na2SiO3 và calcium silicate Ca2SiO4. Dung dịch được để nguội hơn ở nhiệt độ 1000°C, chất hơi đặt sệt này được dùng để chế biến các vật dụng thủy tinh như thổi thành chai, ly, tráng mỏng làm kiếng cửa sổ, kiếng soi, v.v..

    Pha lê nhân tạo về bản chất cũng là một loại thủy tinh như thành phần cấu tạo thì có khác. Pha lê nhân tạo là thủy tinh silicat kali có trộn thêm một lượng ôxít chì II (PbO) và có thể là cả ôxít bari (BaO) khi người ta sản xuất nó. Ôxít chì được thêm vào thủy tinh nóng chảy làm cho thủy tinh có chiết suất cao hơn và như vậy độ tán sắc ánh sáng cũng cao hơn so với thủy tinh thông thường, nghĩa là trông nó lấp lánh hơn. Sự có mặt của chì cũng làm cho thủy tinh mềm và dễ cắt hơn.

    Pha lê là các mặt hàng được sản xuất từ thủy tinh chứa chì này. Thủy tinh pha lê thường chứa từ 12-28% chì, nhưng có thể chứa tới 33% chì. Tại hàm lượng này nó tạo ra độ lấp lánh cao nhất.

    Pha lê được chia làm 4 loại:

    + Loại 1: Là pha lê chứa 5% chì.

    + Loại 2: Là pha lê chứa 14% chì thường được dùng làm hạt đèn chùm.

    + Loại 3: Là pha lê chứa 24% chì thường được làm các vật dụng hằng ngày.

    + Loại 4: Là pha lê chứa 33% chì được làm các sản phẩm quà tặng, kỷ niệm chương, cúp, gạt tàn, lọ hoa…

    Tuy nhiên, những sản phẩm có độ chì cao trông long lanh và đẹp như vậy lại dễ có hại cho sức khoẻ con người. Vì thế người ta chỉ dùng các loại pha lê có hàm lượng chì vừa phải ở ngưỡng 24% để làm đồ dùng hằng ngày, ly , tách ….cách phân biệt pha lê và thủy tinh, thủy tinh là gì, pha lê là gì, cách bảo quản pha lê, cách chọn mua pha lê, quà tặng pha lê, quà lưu niệm pha lê,

    So sánh giữa Thủy tinh và Pha lê:

    Do có chì nên xét về trọng lượng, pha lê nặng hơn thủy tinh rất nhiều. Khi cầm 1 vật làm bằng pha lê, bạn sẽ cảm giác rất chắc tay nhưng bản thân nó cũng dễ vỡ như thủy tinh.

    Độ tán sắc của Pha lê cao hơn thủy tinh, nên Pha lê trong suốt, sáng loáng và có màu sắc óng ánh chiếu ra từ bên trong sản phẩm khi soi dưới đèn đơn sắc hoặc xuyên qua ánh sáng mặt trời. Có lẽ cũng vì thế người ta dùng pha lê cho trang trí nội thất là nhiều.

    Cách phân biệt pha lê và thủy tinh:

    Pha lê càng dày, càng nặng, càng có nhiều chỗ mài rãnh sâu, càng tốt. Tuy nhiên, ly uống nước thì pha lê mỏng tốt hơn vì tản nhiệt tốt nên khó nức bể

    Pha lê khi chạm vào nhau sẽ có tiếng ngân kéo dài,lanh lảnh và vang xa, nghe rất trong và thanh hơn thủy tinh với âm thanh đục.

    Khi mua ly, dĩa, tô, chén pha lê nên xem kỷ sự đều đặn của vật thể, không có chổ dầy chổ mỏng và chọn lựa cái không có bọt hay bị tì vết. Những vật thể pha lê có mài những rãnh sâu sẽ thấy những ánh bạc phát ra từ đó. Khi búng tay vào pha lê, nghe được âm thanh như po …o …o …o chúng tôi trong khi búng vào thủy tinh chỉ nghe được tiếng pong.

    Khi mua, nên nâng sản phẩm pha lê lên xem có nặng không so với thủy tinh cùng loại, vì nhẹ là không phải. Nhìn kỹ xem có bị tì vết hay bị bọt không, có chiếu lấp lánh dưới ánh sáng đèn đơn sắc (bóng đèn tròn) hay ánh sáng trời không. Do trong thành phần nguyên liệu của pha lê có chì (loại tốt hàm lượng chì khoảng 18%), nếu bạn dùng chén, tô, đĩa… bằng pha lê đựng thức ăn đưa vào lò vi ba nấu, hầm sẽ nguy hại. Các kỹ sư hóa điện cho biết, sóng của lò vi ba sẽ tách chì ra, gây độc cho thức ăn. Với nhóm đồ pha lê trang trí, chỉ cần dùng nước ấm và xà phòng rửa nhẹ. Riêng các bình chưng hoa, lâu ngày có thể bị vết cặn và mờ thì dùng giấm tẩy rồi sau đó rửa lại bằng xà phòng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thủy Tinh Là Gì? Cách Phân Biệt Thạch Anh Và Thủy Tinh
  • Sự Khác Biệt Giữa Đá Dolomit Và Đá Vôi Là Gì?
  • Dấu Hiệu Phân Biệt Ung Thư Da Và Mụn Nhọt Ai Cũng Phải Biết
  • Làm Sao Để Phân Biệt Ung Thư Da Với Mụn Nhọt Thông Thường?
  • Nhận Biết Ung Thư Da Qua Ứng Dụng Điện Thoại Thông Minh
  • Tối Ưu Phương Pháp Phân Tích Dầu Mỡ Bằng Thiết Bị Chiết Tách Pha Rắn Tự Động Đồng Loạt Spe

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Nghệ Chiết Xuất Tinh Dầu Ấn Độ
  • Phễu Chiết Thủy Tinh Dùng Để Làm Gì Và Cách Sử Dụng Phễu Chiết
  • Chiết Tách Dầu Từ Hạt Thanh Long Bằng Phương Pháp Enzyme
  • Trứng Gà Nhiễm Thuốc Trừ Sâu Được Bán Ở 15 Nước Châu Âu Và Hong Kong
  • Châu Âu Rúng Động Về Vụ Bê Bối “trứng Bẩn”
  • Dầu mỡ hình thành trong các đường ống dẫn nước thải gây ra nhiều tác hại

    cho môi trường và điều kiện sống của con người

    Việc ước lượng các nhóm chức là cách phân tích chỉ tiêu dầu mỡ. Những nhóm này được định lượng bằng cách hòa tan trong dung môi chiết tách. Sau đó, thành phần dầu mỡ được xác định bằng cách thu hồi lại các chất đã bị hòa tan trong dung môi trước đó. Các thành phần chính trong phân tích dầu mỡ bao gồm: mỡ, xà phòng, các axit béo, hydrocarbon, sáp, và các loại dầu.

    Một trong những phương pháp phân tích dầu mỡ (trong nước và nước thải) là cân khối lượng. Trong đó, tổng hàm lượng dầu được xác định bằng cách cân phần hữu cơ chiết được bằng dung môi hữu cơ từ một thể tích mẫu nước xác định.

    Theo TCVN 4582:1998, 5070:1995 (VN), clorofom được dùng để tách dầu và các sản phẩm dầu ra khỏi nước, cho qua cột sắc ký nhôm-ôxít và sau đó là quá trình chưng cất để loại dung môi và cân. Tuy nhiên, clorofom là loại hóa chất không còn được khuyến khích sử dụng do tính độc hại cao.

    Hiện nay, tiêu chuẩn EPA 1664 sử dụng n-hexane để chiết tách đang dần trở thành phương pháp được ưa chuộng do tính an toàn và độ tin cậy cao. Phương pháp này phù hợp để xác định HEM (n-Hexane Extractable Material) và SGT-HEM (Silica Gel Treated n-Hexane Extractable Material) với hàm lượng từ 5 – 1000 mg/L.

    Các tiêu chuẩn và quy chuẩn phân tích nước thực hiện theo US EPA Method 1664 Extraction and gravimetry (Oil and grease and total petroleum hydrocarbons) bao gồm:

    • TCVN 5945:2005: Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp hiện hành
    • QCVN 11:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp chế biến thủy sản
    • QCVN 13:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp dệt may
    • QCVN 14:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt
    • QCVN 24:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp
    • QCVN 28:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế

    Để phục vụ quá trình chiết tách nói trên, Tegent Scientific Việt Nam hân hạnh giới thiệu Thiết bị chiết tách pha rắn tự động đồng loạt SPE-DEX® 3100.

    Thiết bị chiết tách pha rắn tự động đồng loạt SPE-DEX® 3100

    Thiết bị được thiết lập theo phương pháp EPA 1664A/B, cho các ứng dụng chiết tách dầu mỡ hoàn toàn tự động. Ngoài ra người dùng có thể mở rộng, tự lập trình các bước xử lý chiết tách mẫu theo nhu cầu riêng. Thiết bị chiết tách tích hợp 03 bộ chiết, có thể sử dụng các đĩa hấp phụ kích thước từ 47 mm, 50 mm, 90 mm.

    Ưu điểm:

    • Cung cấp 03 hệ độc lập, cho hiệu suất cao
    • Cổng xả kép (chuyên cho methanol, hexane) giảm nguy cơ nhiễm chéo
    • Vale tích hợp làm giảm sự nhỏ giọt của bình mẫu úp ngược
    • Khả năng xử lý mẫu linh hoạt ngay cả mẫu bẩn chứa nhiều hạt
    • Cấu trúc chắc chắn với vật liệu nhựa chống ăn mòn cao
    • Cảm biến tràn giúp giảm việc thất thoát mẫu
    • Bộ điều khiển với màn hình cảm biến cho thao tác đơn giản và an toàn

    Theo US EPA 1664B, tất cả nước dư phải được lấy ra khỏi dung môi hexane đang mang mẫu, trước khi bắt đầu quá trình hóa hơi. Hiện tại có các lựa chọn để loại nước bao gồm:

    Đi kèm với SPE-DEX® 3100 là màng ngăn nước thế hệ mới, thiết kế in-line drying giúp dễ dàng loại nước

    Màng ngăn nước thế hệ mới với thiết kế in-line drying

    Quý khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và báo giá trong thời gian sớm nhất.

    Website: chúng tôi

    Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

    Hotline: (028) 5431 9272

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xác Định Các Chất Chiết Được Trong Dược Liệu
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Mít
  • Muốn Cho Cây Mít Sai Quả
  • Cách Chiết Cành Mai Vàng Hiệu Quả Nhất Cho Các Nhà Vườn
  • Kỹ Thuật Nhân Và Trồng Cây Mít Nghệ
  • Chửi Cha Không Bằng Pha Tiếng

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỳ Thị Vùng Miền – Nhìn Từ Trải Nghiệm Cá Nhân
  • Cách Chăm Sóc Hoa Lan Phi Điệp Có Thể Bạn Chưa Biết!
  • Phân Biệt Vùng Miền – Vấn Đề Nhức Nhối Cần Loại Bỏ
  • Người Mới Nên Dùng Tinh Dầu Pod Loại Nào Tốt?
  • Hướng Dẫn Phân Biệt Các Loại Juice Pod System Cho Dân Khói
  • Ðây không phải là trường hợp như ông Hồ Chí Minh đọc lời chúc Tết cho dân chúng miền Bắc thời trước. Giọng của ông, dù qua radio, vẫn nghe rõ sự pha tạp giữa Bắc và Trung. Thực tình thì ông không dám chửi cha ai mà chỉ cố che đi cái giọng miền quê Nghệ An của ông bằng cách cố nói theo giọng Hà Nội. Không riêng gì ông, nhiều người Trung cũng cố giả giọng khi đi xa quê. Những người ấy mang cái mặc cảm là giọng quê mình… quê quá; nói ra không (mấy) ai hiểu và ai cũng cười. Tức nhất là khi bị người ta nhại giọng của mình để chế nhạo. Còn hơn bị chửi cha!

     

     

    Nạn nhân bị nhại giọng

    thường là người miền Trung. Người miền Bắc, ngoại trừ dân Hà Nội

    chính gốc (trước năm 1954), cũng bị nhại nhưng ít hơn. Còn người

    miền Nam, nhất là Sài Gòn, được cái “hơn” là giọng hay… trời cho!

    Trời cho ở chỗ họ phát âm cũng lắm cái sai nhưng lại sai… có duyên.

    Giọng Hà Nội (gốc) rất chuẩn, nhưng có lẽ chính vì chuẩn quá nên mất

    bớt “duyên” dù nghe vẫn hay. Âm sai mà nhiều người Việt nhớ nhất ở

    giọng Bắc là lẫn lộn giữa L và N. Ngoài cái đó ra, những chỗ sai

    khác không đáng… cười! Ngược lại, người miền Trung phát âm sai nhiều

    hơn mà cũng… quê hơn. Miền Trung, từ Nghệ An vào tới Khánh Hòa, có

    rất nhiều giọng khác biệt nhau. Phải nói rõ là “khác biệt”, chứ

    không phải “khang khác” như kiểu các vùng ở Bắc bộ hoặc Nam bộ. Sự

    khác biệt này không chỉ giữa tỉnh này với tỉnh kia mà thậm chí cách

    nhau một con sông cũng đủ khác. Chẳng hạn, ở Ðà Nẵng (trước đây),

    dân ở bên kia sông Hàn (phía bán đảo Sơn Trà) nói giọng nặng hơn rất

    nhiều so với người dân ở bên này sông. Nếu phân biệt tổng quát hơn,

    miền Trung có gần 10 giọng: Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa

    Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên… Nếu khái quát hơn nữa thì có

    chừng 2 giọng, ngăn cách bởi đèo Hải Vân, nằm giữa hai tỉnh Thừa

    Thiên và Quảng Nam. Các giọng miền Trung phía Nam đèo Hải Vân có âm

    sắc hơi… bà con với giọng miền Nam.

    Nếu như người miền Nam

    có giọng trời cho thì người miền Trung nói có… trời hiểu! Có một

    điều mà nhiều người miền Trung phía Bắc đèo Hải Vân, hay giả giọng

    Nam, không… hiểu là tiếng nói của họ khó nghe (khó hiểu) không phải

    vì… giọng nói mà vì từ ngữ họ dùng. Cho dù họ có thể giả giọng Nam

    đúng 100 phần trăm nhưng cách dùng từ ngữ của họ không như tiếng Nam

    thì người Nam cũng khó hiểu. Chẳng hạn, một người ở Quảng Trị vào

    Sài Gòn chơi, ra chợ thấy xoài ngon quá, gọi cô bán hàng (hỏi): “Nì

    nì chị nớ, bán xoài chục mấy rứa?” Cho dù người này có thể bắt chước

    y chang giọng “Xì Goòng” thì cô bán hàng, dẫu có… bà nội của mình

    giúp, cũng chịu không hiểu nổi. Ngược lại, nếu người đó cứ giữ

    nguyên giọng Quảng Trị mà hỏi “Nè, xài nhiêu chị Hai?” thì cô bán

    hàng còn dễ hiểu hơn. Người Nam phát âm XOÀI thành “xài”

    và chỉ hỏi gọn là “nhiêu” chứ không đầy đủ là “bao nhiêu”

    như người Hà Nội. Cách nói mỗi miền ảnh hưởng trực tiếp từ văn

    hóa, tính cách người dân từng địa phương. Người Quảng Trị khi buôn

    bán thường dùng đơn vị “chục” (mười) cho dễ tính. Người Sài Gòn, mặc

    dù trái cây đầy tràn, nhưng vẫn tính giá từng trái. Tuy nhiên, người

    Quảng Trị hỏi thì hỏi vậy, chứ chưa chắc sẽ mua nguyên cả chục trái!

    Nói chung, muốn bắt chước tiếng nói của một địa phương nào, không

    chỉ tập giọng nói mà còn phải học từ vựng và cách nói của địa phương

    ấy. Nó giống như học nói một ngoại ngữ vậy.

    Có thể vì tiếng nói giữa

    các vùng ở miền Bắc hoặc miền Nam không khác nhau quá nhiều như ở

    miền Trung nên rất nhiều người Bắc và người Nam cứ lầm tưởng người

    Trung nào cũng nói giống nhau. Chẳng hạn, họ không phân biệt được

    giọng Ðà Nẵng với giọng… Quảng Nam, hoặc giọng Huế với giọng (ngoài)

    Nghệ An… Ðiển hình là nhiều người (Bắc và Nam) khi nhái giọng Huế cứ

    hay thêm dấu nặng vào những từ mang dấu sắc hoặc không dấu. Họ hay

    nói đùa “cặc tọc” thay vì “cắc tóc” khi muốn nhái

    giọng Huế về từ CẮT TÓC. Người Huế phát âm dấu sắc rất rõ.

    Người Quảng Trị phát âm dấu sắc có khi nghe như dấu huyền. Phải ra

    đến ngoài Nghệ An hoặc Hà Tĩnh thì dấu sắc mới bị biến thành dấu

    nặng.

    Trở lại… Đà Nẵng, người

    dân ở đây không phát âm kiểu “eng không eng téc đèn đi ngủ”

    như dân Quảng Nam, mặc dù Đà Nẵng là thành phố nằm trong tỉnh Quảng

    Nam. Cũng như người Huế nói tiếng Huế chứ không phải nói tiếng Thừa

    Thiên. Chính vì không hiểu cặn kẽ sự khác biệt tiếng nói mỗi địa

    phương nên người pha tiếng người khác thường biến tiếng nói của

    người bị chế nhạo nghe càng khôi hài, kỳ cục hơn. Chính vì vậy mới

    gọi là “pha” chứ không phải “giả” hoặc “nhái”. Nạn nhân lại không

    thể giải thích được nên lại càng tức; thà nó chửi cha mình còn hơn!

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Đồ Việt Nam Và Danh Sách Các Tỉnh Miền Bắc, Trung, Nam
  • Nên Du Học Ở Đông Đức Hay Tây Đức
  • Mc Thành Trung Bị Tố Phân Biệt Vùng Miền Khi Nói Về Vụ Hùng Dũng Bị Chấn Thương
  • Việt Tân Kích Động Chia Rẽ Vùng Miền Khi Cả Nước Đang Chống Dịch Covid
  • Luyện Nghe Tiếng Anh Mỹ Đặc Trưng Từng Vùng Miền
  • Ngua Thai Va Pha Thai

    --- Bài mới hơn ---

  • Tránh Thai Bằng Các Biện Pháp Nhân Tạo Thì Có Phạm Tội Không?
  • Ngừa Thai Bằng Phương Pháp Rào Chắn Dành Cho Nữ
  • Các Màng Chắn Ngừa Thai
  • Luận Văn So Sánh 2 Phương Pháp Định Lượng Berberin Nguyên Liệu Bằng Hplc Theo Dược Điển Trung Quốc (2005)
  • Đồ Án So Sánh Hai Phương Pháp Định Lượng Berberin Nguyên Liệu Bằng Hplc Theo Dược Điển Trung Quốc (2005) Và Bằng Đo Quang Phổ Hấp Thụ Uv
  • Vấn

    Nạn Ngừa Thai Và Phá Thai

    Lm.

    Trần Mạnh Hùng, DCCT

     

    Prepared

    for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia

    Ngừa

    Thai (Phần I)

    Việc

    Ngừa Thai trong Thế Kỷ 20

     

    Bài

    viết sau đây xin được hân hạnh gởi đến quí vị độc giả

    như một đóng góp khiêm tốn, trong công cuộc không ngừng

    tìm kiếm những câu trả lời, một cách nào đó gọi là

    lý, đầy hóc búa, có tính cách éo le và đầy cam go, đôi

    lúc dường như cảm thấy tắt nghẽn, không lối thoát đối

    với một số Ki-tô hữu hôm nay. Ðề tài mà tôi mạo muội

    xin được đề cập trong những bài viết tiếp nối liên tục,

    hy vọng sẽ được ra mắt và cống hiến cùng quí vị độc

    giả trong thời gian sắp tới, đó chính là vấn đề “ngừa

    thai” và “phá thai”. Ước mơ và hy vọng nhỏ bé

    lại lợi ích thực tiễn cho quí độc giả, nhất là đối

    với những cặp vợ chồng đang gặp phải khó khăn trong vấn

    đề điều hòa sinh sản, ngõ hầu họ có được những thông

    tin cần thiết và sau khi đã cùng nhau bàn thảo cẩn thận, họ

    có thể đi đến quyết định với một lương tâm ngay thẳng,

    hạn định số con cái mà cả hai mong muốn cho ra đời, nhờ

    đó họ sẽ ra sức kiến tạo và xây dựng hạnh phúc gia

    đình một cách tốt đẹp hơn.

    khuôn khổ nội dung của bài viết và để cho quí vị độc giả

    vấn đề ngừa thai – nên tôi xin được chia bài viết ra làm

    5 phần như sau:

    1.

    Việc ngừa thai trong thế kỷ 20 (phần I)

    2.

    Phản ứng của giới thần học gia đối với Humanae Vitae (phần

    II)

    3.

    Việc đánh giá Luân Lý những phương pháp ngừa thai nhân

    tạo (phần III)

    4.

    Ngừa thai nhân tạo và tự nhiên: những cách thức, kỹ

    thuật khác nhau ra sao? (phần IV)

    5.

    Bất đồng có trách nhiệm về Giáo Huấn của Giáo Hội (phần

    V – kết thúc bài viết)

     

    Phần

    Dẫn Nhập

    Thông

    thường thì chúng ta vẫn nghĩ rằng, mục đích của hôn nhân

    thì nó gắn liền với mục đích của tình yêu tình dục. Tuy

    là như thế nhưng có lẽ, chúng ta cần phải phân biệt, vì

    chưng chúng không nhất thiết lại là đồng nhất với nhau.

    Ðời sống hôn nhân không chỉ có mục đích duy nhất là sinh

    sản con cái – như vẫn thường được quan niệm trước đây -

    tỷ dụ như quan điểm của Thánh Âu-tinh. Nhưng trong thực tế,

    nó còn có những mục đích khác, chẳng hạn như việc giáo

    dục con cái hay là sự nâng đỡ mật thiết giữa hai vợ

    chồng:

    “Tự

    bản chất, chính định chế hôn nhân và tình yêu lứa đôi

    qui hướng về việc sinh sản và giáo dục con cái như chóp

    đỉnh hoàn thành hôn nhân. Như thế bởi, bởi giao ước hôn

    nhân, người nam và người nữ “không còn là hai, nhưng

    là một xương thịt” (Mt 19:6), phục vụ và giúp đỡ lẫn

    nhau bằng sự kết hợp mật thiết trong con người và hành

    động của họ, cảm nghiệm và hiểu được sự hiệp nhất

    với nhau mỗi ngày mỗi đầu đủ hơn. Sự liên kết mật

    thiết vẫn sự tự hiến của hai người cho nhau cũng như lợi

    ích của con cái buộc hai vợ chồng phải hoàn toàn trung tín

    và đòi hỏi kết hợp với nhau bất khả phân ly.” (Trích

    Công Ðồng Va-ti-ca-nô II, trong Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội

    trong thế giới hôm nay, Gaudium et Spes số 48).

    Cho

    nên, chúng ta thấy rằng: một trong những mục đích khác của

    đời sống hôn nhân là sự tương trợ lẫn nhau trong một

    cách thức rất cụ thể được thể hiện ngang qua cuộc sống

    hằng ngày, ví dụ như chăm lo săn sóc cho nhau, đặc biệt khi

    đau yếu, đây cũng là một hình thức biểu lộ sự yêu

    thương của tình nghĩa vợ chồng, song song với việc chăn gối.

    Nói cách khác, đời sống và mục đích của hôn nhân không

    chỉ hạn hẹp trong việc sinh sản và các hành động hợp giao.

    Do

    vậy, ta phải công nhận đã có sự tiến triển trong nhận

    thức của Giáo Hội về mục đích của việc giao hợp trong

    cuộc sống vợ chồng. Từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV, phần

    lớn do chịu ảnh hưởng liên tục từ các suy tư và quan

    điểm thần học của thánh Augustinô. Các tư tưởng này khá

    phổ biến vào những thời điểm trên, cho nên ý kiến của

    các nhà thần học, lúc bấy giờ, vốn cho rằng cặp vợ

    chồng khi họ giao hợp mà không có ý truyền sinh, nhưng chỉ

    vì muốn tìm lạc thú hay sử dụng việc đó như là phương

    thế để ngăn ngừa sự ngoại tình, thì mắc tội nhẹ. Cũng

    vậy, việc giao hợp trong thời gian người phụ nữ có kinh hay

    đang thai nghén đều bị cấm chỉ, xét về mặt luân lý bởi

    khả năng truyền sinh lúc đó chắc chắn đã bị loại trừ.

    Những

    huấn lệnh như trên, may thay đã được bãi bỏ từ lâu.

    Trên thực tế, vào giữa thế kỷ XIX, chúng ta có thể xác

    định ba giai đoạn triển khai lập trường chính thức của Giáo

    Hội về mục đích riêng biệt của sự giao hợp.

    1.

    Ðầu tiên, cặp vợ chồng được khuyến cáo là phải có ý

    định truyền sinh cách tích cực trong việc giao hợp;

    2.

    Sau đó họ được đề nghị rằng những mục tiêu khác mà

    việc giao hợp nhắm đến đều được luân lý chấp nhận bao

    lâu họ không tích cực loại trừ ý định truyền sinh, đặc

    biệt bằng những phương cách tránh né, chận ngang hoặc ngăn

    ngừa việc thụ thai trong khi giao hợp;

    3.

    Sau cùng, giáo huấn nhìn nhận rằng trong một vài trường

    hợp, cặp vợ chồng được phép giao hợp cách hợp với

    Luân Lý, với ý định và ý muốn ngừa thai cách minh nhiên.

    Nhưng họ không được trực tiếp hay cố ý ngăn chận hoặc

    can thiệp vào khả năng thụ thai của việc giao hợp. Nói cách

    khác, trong giai đoạn tiến trình thứ ba này của giáo huấn

    Hội Thánh, luân lý thừa nhận cách minh nhiên, việc kiêng

    giao hợp có định kỳ, như ta sẽ tìm hiểu sâu xa hơn, việc

    này không được thông báo cách chính thức cho tới giữa

    thế kỷ 20 này. Tuy nhiên, chuẩn nhận việc kiêng cữ có

    thời hạn này có nghĩa cho phép vì những lý do chính đáng,

    vợ chồng có thể chủ động chỉ giao hợp với nhau vào

    những lúc mà người vợ cảm thấy hay nhận biết mình không

    thể thụ thai. Việc kiêng cữ giao hợp trong thời kỳ người

    vợ có thể mang thai được xem như một phương pháp ngừa thai

    tự nhiên, trong khi dứt khoát loại trừ việc triệt sản,

    nghĩa là tất cả mọi cố gắng khác nhằm ngăn chận tiến

    trình truyền sinh trong khi giao hợp vốn bị xem như những hình

    thức ngừa thai nhân tạo.

    Trong

    loạt bài này chúng ta tập chú vào giáo huấn của Giáo Hội

    Công Giáo về vấn đề ngừa thai và một vài vấn nạn khác

    hằng duy trì lập trường là mọi hành vi tính giao phải mở

    ngỏ cho việc truyền sinh; cho nên Giáo Hội cấm chỉ việc sử

    dụng những phương pháp gọi là ngừa thai nhân tạo, trong khi

    chuẩn nhận hết mình việc thực hành tuân theo các chu kỳ sinh

    học tự nhiên nơi cơ thể người nữ, vốn được xem như

    những cách thức kế hoạch hóa gia đình theo phương pháp tự

    nhiên.

    Do

    vậy, giáo huấn Hội Thánh Công Giáo khác biệt với huấn

    dụ của của các Hội Thánh Ki-tô giáo khác, vốn chỉ đòi

    buộc rằng: các chiều kích truyền sinh và thông hiệp tình yêu

    của tính dục được giữ lại trong nguyên tắc, chứ không

    phải trong từng hành vi của việc giao hợp. Quan điểm này,

    nhìn nhận người chồng và người vợ chỉ truyền sinh từ

    và trong mối thông hiệp tình yêu của họ cho nhau, và họ sẽ

    đi vào sự hiệp nhất tình yêu để trở nên một thân xác

    không phải vì một cách ích kỷ, nhưng là với tình yêu cho

    nhau, bởi vì người này đều mong ước người kia trở nên

    cha hoặc mẹ của đứa con thân thiết sắp có của mình.

    lẽ đó, tôi sẽ cố gắng trình bày những tư tưởng trên

    theo tiến trình như sau:

    1.

    Quan điểm chính thức của Giáo Hội về vấn đề ngừa thai

    được trình bày – đan xen nhau – trong những văn kiện chủ

    chốt được ban hành ở thế kỷ 20.

    2.

    Phân tích một vài giải đáp cho lập trường Giáo Hội, đặc

    biệt được trình bày trong Thông điệp Humanae Vitae (Sự Sống

    Con Người).

    3.

    Thử cố gắng đánh giá về mặt Luân Lý – phương pháp

    ngừa thai nhân tạo – theo như sự phê bình của một vài nhà

    thần học luân lý về thông điệp Humanae Vitae;

    4.

    Phê bình về những phương cách hoặc kỹ thuật và phương

    pháp tự nhiên về kế hoạch hóa gia đình;

    5.

    Sau cùng, chúng ta xem thử về khả năng gây bất đồng ý

    kiến nêu lên từ giáo huấn chính thức của Giáo Hội.

     

    Phần

    I:

    Việc

    Ngừa Thai trong Thế Kỷ 20

     

    Nhằm

    cố gắng tìm hiểu lập trường hiện nay của Giáo Hội Công

    Giáo Rô-ma về vấn đề ngừa thai, tôi xin phép được bắt

    đầu bằng việc nhìn lại bốn văn kiện chính thức của Giáo

    Hội đề cập đến vấn đề này trong thế kỷ 20. Trước hết,

    ta cần xác định với nhau là chính việc “ngừa thai”

    đã được hiểu như bao hàm tất cả mọi phương cách nhằm

    hạn chế số trẻ sinh ra, ngay cả phá thai hằng được xem như

    là một phương pháp ngừa thai, nhưng trong thực tế thì không

    phải như vậy. Ngừa thai, cho dẫu mang hình thức triệt sản

    bán vĩnh viễn hay tạm thời, đều bao hàm mọi và từng hành

    vi tiến hành nhằm vào việc ngăn ngừa sự thụ thai, trong khi

    “phá thai” là hành vi được tiến hành khi người

    nữ đã thụ thai rồi. Như hai thực tế khác nhau, ngừa thai

    và phá thai kéo theo những vấn đề và vấn nạn luân lý

    khác nhau, như chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu sau này. Vậy bây

    giờ, ta thử xem giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo quan niệm

    như thế nào về vấn đề ngừa thai.

     

    1.

    Ðức Pi-ô XI và Thông Ðiệp Casti Connubii

    Chính

    Giáo Hội Công Giáo Rô-ma ngày nay, thường hay bị chỉ trích

    gay gắt về lập trường cũng như giáo huấn của Giáo Hội

    suy nghĩ hiện nay, ta vẫn thường có khuyng hướng tin rằng cho

    đến thế kỷ 20, các Hội Thánh Ki-tô Giáo, cách chung, thừa

    nhận là việc ngừa thai là mối nguy hiểm đe dọa đến thể

    chế hôn nhân. Dẫu vậy, vào năm 1930, sau những cố gắng

    bất thành vào các năm 1908 và 1920, Hội Ðồng Giám Mục Anh

    Giáo họp tại Lambeth, đã dè dặt thừa nhận cho phép ngừa

    thai đối với các cặp vợ chồng theo Anh Giáo. Theo nghị quyết

    tháng 8 năm đó, các giám mục Anh Giáo trong khi bãi bỏ sự

    cấm chỉ tuyệt đối việc ngừa thai, tuy nhiên, các ngài đã

    kêu gọi đến sự nhạy cảm của các tín hữu vốn hằng

    biết tự chủ đúng mực :

    Dẫu

    sao còn đó cách minh nhiên, bổn phận luân lý trong việc hạn

    chế số con sẽ được sinh ra, hầu có thể có đầy đủ khả

    năng – tinh thần cũng như vật chất – để nuôi nấng và giáo

    dục con cái cho tốt đẹp. Cho nên cách thức ngừa thai như

    thế nào thì vẫn cần dựa trên những nguyên tắc luân lý

    căn bản của đạo Ki-tô Giáo. Phương pháp tiên thiên và

    hiển nhiên đó là kiêng cữ hoàn toàn việc giao hợp (bao

    lâu còn thấy cần thiết) trong cuộc sống tự chủ và có kỷ

    luật được Thần Khí Chúa thúc đẩy. Tuy nhiên, trong những

    trường hợp cảm thấy cần có bổn phận luân lý phải hạn

    chế hay tránh mang thai, và khi có lý do chấp nhận được về

    mặt luân lý nhằm tránh sự kiêng cữ hoàn toàn, Hội

    Ðồng Giám Mục Anh Giáo cho phép sử dụng những phương pháp

    khác nữa, miễn sao phù hợp cũng cùng những nguyên tắc

    của đạo Chúa Ki-tô. Hội đồng đó cũng lên án gắt gao

    việc sử dụng bất cứ các phương pháp ngừa thai nào, chỉ

    nhắm đến những mục tiêu vị kỷ, dâm ô, hay tương tự như

    thế.

    Ðể

    phản ứng lại, hay ít ra cũng phần nào như thế, đối với

    giáo huấn đã bị xét lại và sửa đổi của bên Anh giáo,

    Ðức Pi-ô XI, vào tháng 12 năm 1930, đã phổ biến thông

    điệp Casti Connubii, trong đó giáo huấn truyền thống của Giáo

    Hội Công Giáo về việc ngừa thai vẫn được dứt khoát duy

    trì. Trong thông điệp, Ðức Giáo Hoàng nêu dẫn một số

    điểm quan trọng:

    a)

    Ngài bảo vệ thể chế hôn nhân chống lại những lạm dụng

    của chủ thuyết “tự do luyến ái” vốn đang lan tràn

    phổ biến trên thế giới;

    b)

    Ngài phủ nhận quan điểm cho rằng người phụ nữ cần

    được giải thoát khỏi cái “ách nô dịch” từ phía

    con cái, trong đó bao hàm cái cảm thức cho rằng có con có

    cái thì trở thành gánh nặng cho cuộc sống hơn là ý nghĩa

    được chúc phúc.

    Xét

    đến vấn đề riêng của tính dục hôn nhân, Casti Connubii rõ

    rệt nêu lên hai mục đích của việc giao hợp, một mục đích

    chính và một mục đích phụ như sau: “… Hành vi giao hợp

    tiên thiên theo bản tính phải nhắm đến việc có con… (nhưng)

    do quyền lợi trong đời sống hôn nhân, cũng còn có những

    mục đích phụ nữa, như trợ giúp lẫn nhau, chăm sóc tình

    yêu đôi lứa, và việc làm dịu cơn thèm khát xác thịt mà

    chồng và vợ không bị cấm đoán xét đến bao lâu họ vẫn

    tuân thủ mục đích đầu tiên và bao lâu mà bản chất nội

    tại của hành vi đó vẫn được gìn giữ vẹn toàn”.

    Trong mạch văn đó, điểm nêu dẫn trên cho rằng bất cứ

    lúc nào giao hợp, họ phải tiến hành “sao cho hành vi

    không được tự ý tránh né khả năng tự nhiên dẫn đến

    sự sinh sản,” do vậy ta phải đối diện với sự vi phạm

    đến điều luật của tự nhiên và của Thiên Chúa, “và

    ai vi phạm thì không thể không mắc tội nặng.”

    Trong

    khi ngăn cấm sự tự ý ngăn ngừa khả năng sinh sản của

    hoạt động tính giao, thông điệp không chỉ danh rõ rệt những

    hình thức ngừa thai riêng biệt nào bị ngăn cấm. Dẫu vậy,

    cách chung, vào lúc đó, theo như Noonan từng nhận xét, thì

    cách thức mà hầu như các nhà thần học ám chỉ đến, khi

    đề cập đến ngừa thai, đó là tội Ô-năng (onanism). Tội

    mà Ô-năng đã phạm là sự từ chối tuân thủ luật hôn

    nhân của Lê-vi-ra trong Cựu Uớc (x. Ðệ Nhị Luật 25, 5 – 6),

    theo đó người đàn ông phải buộc lo sao cho người anh của

    mình có hậu duệ nối dõi tông đường, khi người này chết

    mà chưa có con cái. Trong trường hợp của Ô-năng, anh ta

    đã “ăn ở” với chị dâu của mình tên là Ta-ma,

    nhưng mỗi lần ăn ở, “anh ta đều trút tinh trùng của

    mình trên đất”, do vậy mà Ðức Ya-vê đã khiến anh

    phải chết (Kn 38, 6 – 10).

    Do

    vậy tội ô-năng nhằm ám chỉ hành vi giao hợp giữa chừng,

    qua đó dương vật được rút ra khỏi âm hộ trước lúc

    xuất tinh, nhưng trong lãnh vực từ ngữ thần học trước khi

    xuất hiện thông điệp Casti Connubii, thì tội này lại có ý

    nghĩa rộng hơn nữa. Ngoài nghĩa giao hợp giữa chừng theo sau

    sự xuất tinh, nó còn bao hàm tất cả những hành vi tính giao

    khác có nhắm đến việc ngăn chận sự truyền sinh bằng

    những phương tiện tích cực như đặt vòng xoắn, màng bao cổ

    tử cung, hoặc việc sử dụng hóa chất để tránh mang thai.

    Và rồi theo suy luận của Noonan, nếu ta đọc kỹ thông điệp

    thì có lẽ còn cho thấy có việc cấm đoán cả hai hành vi,

    đó là việc giao hợp giữa chừng và sử dụng “bao cao

    su” (condom – từ ngữ chuyên môn bằng Anh ngữ được sử

    dụng là: Prophylactic), trong khi giải thích rộng hơn nữa thì

    còn phải cấm thêm việc lau rửa sau lúc giao hợp, cũng như

    cấm đặt các màng chắn và những dụng cụ khác mà sau này

    được gọi là “những phương pháp ba-ri-e” nhằm ngăn

    chận sự thụ thai.

     

    2.

    Ðức PI-ô XII ngỏ lời với Hiệp Hội Những Cô Ðỡ Công

    Giáo người Ý

    Năm

    1951, Ðức Pi-ô XII lần đầu tiên công bố cách chính thức

    và minh nhiên thừa nhận cho phép thực hành sự kiêng cữ

    định kỳ, qua đó vợ chồng tránh việc giao hợp với nhau khi

    người nữ có thể thụ thai và do vậy chỉ giao hợp vào

    những giai đoạn không thể thụ thai tính theo chu kỳ kinh nguyệt

    nơi người vợ. Trong buổi nói chuyệ�n với giới cô đỡ

    người Ý, Ðức Pi-ô XII minh nhiên cho rằng vợ chồng phải

    có lý do chính đáng để giới hạn việc giao hợp vào

    những lúc người ta có thể phỏng đoán việc thụ thai không

    thể xảy ra. Ngài nêu ra các đánh giá về phương diện y học,

    ưu sinh học, xã hội và kinh tế, như là những cơ sở khả

    dĩ có thể biện minh luân lý cách xứng hợp cho việc thực

    hành này nơi các cặp vợ chồng. Ngài cũng nhìn nhận là

    những dấu chỉ y khoa, ưu sinh, kinh tế-xã hội như trên,

    dường như thuộc về bản tính tự nhiên bảo đảm cho việc

    thực hành sự tiết dục định kỳ như vậy trong cuộc sống

    hôn nhân. Khi nhấn mạnh đến lý do chính đáng để giới

    hạn việc chỉ giao hợp vào những thời gian không thể thụ

    thai đó, thì Ðức Pi-ô XII cũng lên tiếng nêu rõ việc vợ

    chồng có thể hành xử cách vô trách nhiệm và do vậy bất

    xứng cách luân lý khi giới hạn sinh hoạt tình dục của họ

    như vậy.

    Dẫu

    vậy, dựa trên sự phán đoán hữu lý và công bằng, nếu

    không có những lý do cá nhân đủ nghiêm chỉnh, hoặc những

    lý do đủ thuyết phục xuất phát từ những hoàn cảnh ngoại

    tại, thì ý định thường xuyên tránh né kết quả đẹp đẽ

    của việc hiệp nhất (tính giao), trong khi đồng thời tiếp tục

    hoàn toàn thỏa mãn tình tư dục, là một hành động không

    thể chấp nhận. Hành vi như thế chỉ có thể phát xuất từ

    sự đánh giá sai lầm về cuộc sống (hôn nhân) và từ

    những lý lẽ chống lại những tiêu chuẩn đích thực của

    hành vi luân lý. (Ðức Pi-ô XII ngỏ lời với giới cô

    đỡ người Ý năm 1951).

    Nhận

    định sau cùng về bài nói chuyện trên của Ðức Pi-ô XII là

    một khi phương pháp tiết dục định kỳ hoặc ngừa thai theo chu

    kỳ kinh nguyệt của phụ nữ, hoặc việc kế hoạch hóa gia

    đình cách tự nhiên được thừa nhận hợp pháp cách luân

    lý như vậy, ta cũng phải xác quyết rằng vợ chồng có thể

    được phép cách luân lý giao hợp với nhau mà không cần

    phải có ý định hay ý muốn cách minh nhiên là phải có con

    với nhau. Cho rằng vợ chồng có đủ lý do chính đáng để

    không muốn truyền sinh, mỗi khi họ giao hợp với nhau, do vậy

    bật ra câu hỏi khơi gợi chú ý: liệu việc tiết dục định

    kỳ chỉ là phương thế Luân Lý duy nhất cho vợ chồng để

    tránh thai thôi sao? Như chúng ta sẽ thấy, tranh luận xoay quanh

    câu hỏi này, theo ý nghĩa nào đó, đã đạt tới cao điểm

    của thập niên 60 vừa qua.

     

    3.

    Công Ðồng Vatican II và hôn nhân gia đình

    Năm

    1965, kết thúc khóa họp khoáng đại thứ tư và sau cùng,

    Công Ðồng Vatican II đã phổ biến Hiến Chế Mục Vụ về Giáo

    Hội trong thế giới ngày nay (Gaudium et Spes), trong đó liệt kê

    nhiều điểm quan trọng về hôn nhân Ki-tô giáo và ý nghĩa

    nồng cốt:

    (1)

    Như một “cộng đồng tình yêu (#47), cộng đồng thân thiết

    thông chia cuộc sống và tình yêu” (#48). Hôn nhân cùng

    phản ánh lẫn thông dự vào giao ước tình yêu nối kết

    Ðức Ki-tô với Giáo Hội của Ngài. Vẻ tốt đẹp đầy ý

    nghĩa của cuộc sống gia đình Ki-tô hữu nằm trong mối kỳ

    vọng là “qua tình yêu san sẻ giữa vợ chồng dẫn đến

    sự quảng đại và sinh hoa kết trái nơi họ. Cũng như qua sự

    hiệp nhất và chung thủy với nhau và qua cuộc sống yêu

    thương mà mọi thành viên trong gia đình đối xử với nhau”,

    thì Ðức Ki-tô vốn hằng hiện diện sống động nơi dương gian

    này có thể tỏ hiện rõ nét cho mọi người (#48).

    (2)

    Việc ăn ở với nhau nhằm diễn tả tình yêu phu-phụ (vợ

    chồng) được xem như một giá trị thiết yếu nhưng lại độc

    lập với việc sinh con. Những hành vi yêu thương này được

    đánh giá là “cao thượng” và “xứng hợp”,

    và trong cách diễn tả thuần túy nhân loại, những hành vi

    này “đem lại ý nghĩa và thăng tiến cho sự tự hiến

    hỗ tương, khiến cho vợ chồng làm giàu cho nhau bằng một ý

    chí tươi vui và cảm tạ” (#49).

    (3)

    Tuy nhiên đồng thời, tình yêu vợ chồng không tách rời

    khỏi bổn phận truyền sinh cũng như việc giáo dục con cái.

    Chính cuộc hôn nhân cũng như tình yêu vợ chồng, cả hai

    “đều được phối hợp cho sự truyền sinh và giáo dục

    con cái, và tìm thấy qua những phận vụ này triều thiên cao

    cả nhất của mình” (#48). Hơn nữa, con cái là ân huệ cao

    quý nhất của hôn nhân và là sự đóng góp lớn lao kiến

    tạo hạnh phúc của cha mẹ” (#50).

    (4)

    Khi vợ chồng thực hành có hiệu quả khả năng truyền sinh

    của mình, thì họ đạt đến sự vui hưởng, theo một cách

    thế nào đó, vào công trình sáng tạo của chính Thiên Chúa.

    Khi cẩn thận nêu ra vị trí của con cái trong cuộc sống hôn

    nhân, Gaudium et Spes khuyến dụ, “dù không nên xem nhẹ giá

    trị của các mục đích khác của hôn nhân… cha mẹ cần xem

    như sứ mệnh riêng biệt của mình trong bổn phận truyền sinh

    và giáo dục những kẻ đã được trao phó cho mình”

    (#50). Về điểm này, ta cần ghi nhận là văn kiện đã dứt

    khoát từ chối sử dụng hạn từ truyền thống vốn so sánh

    việc phân chia “cấp trật của các mục đích hay mục tiêu”

    theo đó thì sự truyền sinh và giáo dục con cái được xem

    như mục đích đầu tiên của hôn nhân và tính dục vợ

    chồng, trong khi đó – phận sự biểu lộ và nuôi dưỡng tình

    yêu giữa vợ chồng với nhau – lại trở thành mục đích

    thứ nhì của hôn nhân.

    Theo

    các chuyên gia giám sát và theo dõi diễn tiến Công Ðồng

    Vatican II về mặt soạn thảo văn kiện cho biết: đã có nhiều

    đề nghị tu chính bản văn, đòi tái đem vào ý tưởng về

    “cấp trật mục đích” cốt để phân biệt những mục

    đích, mục tiêu chính và phụ. Tuy nhiên những đề nghị sửa

    đổi này đều bị bác bỏ, trong đó có đề nghi rõ rệt như

    sau “tình yêu phu-phụ được sắp đặt cho mục tiêu chính

    của hôn nhân, đó là việc sinh con nối dõi dòng họ”. Do

    vậy, hôn nhân và tính dục vợ chồng được xem là có hai

    mục đích, nhưng các nghị phụ Công đồng từ chối đánh giá

    về tầm quan trọng của các mục tiêu này, tránh cho cái nào

    là chính cái nào là phụ.

    (5)

    Vợ chồng mang trọng trách sinh sản và giáo dục con cái “với

    đầy đủ trách nhiệm trong tư cách con người và Ki-tô hữu”.

    Trong việc tổ chức cuộc sống gia đình, vợ chồng cần quan

    tâm đúng mức đến hạnh phúc của riêng họ cũng như của

    con cái, những đứa đã được sinh ra và cả những đứa

    sắp sinh. “Bậc làm cha mẹ có trách nhiệm – có nghĩa vợ

    chồng” cần dự trù các điều kiện cả hai mặt vật chất

    lẫn tinh thần về số con cũng như hoàn cảnh sống của chúng”.

    Tóm lại vợ chồng “phải tham khảo những lợi ích của

    cộng đồng gia đình, xã hội hiện nay và của chính Giáo Hội

    nữa.” Cha mẹ nào phải chăm sóc một gia đình tương đối

    đông đúc cần được quan tâm đặc biệt, họ được nhắc

    bảo đến bổn phận phải nuôi dạy con cái của họ “cho

    xứng hợp,” do vậy khi quyết định có đông con, họ nên

    khôn ngoan bàn thảo với nhau trước” (#50).

    Như

    đoạn trích dẫn trên cho thấy, Giáo Hội Công Giáo không

    chống lại việc cha mẹ sinh sản có trách nhiệm và có kế

    hoạch. Gaudium et Spes không đề cao việc sinh sản bừa bãi

    khiến không thể giáo dục con cái đàng hoàng. Do vậy đối

    với vợ chồng, là người Ki-tô hữu, làm cha mẹ có trách

    nhiệm bao hàm ba việc: (1) họ cần hành xử mở ngõ cho việc

    sinh sản; (2) cần chăm sóc đúng mức con cái đã được sinh

    ra, và sau cùng, (3) khi thấy cần thiết, vợ chồng cần phải

    hạn chế cách xứng hợp khả năng sinh sản của mình. Tuy

    nhiên, cách nào để hạn chế sinh sản thì vẫn còn là đề

    tài bỏ ngõ cho tranh luận.

    (6)

    Về việc quyết định số con sinh ra, “chính cha mẹ phải là

    người quyết định sau cùng, mang trách nhiệm trước mặt Chúa,”

    nhưng họ cần nhận thức là “họ không được tiến hành

    cách tùy tiện được.” Hơn nữa, vợ chồng Ki-tô hữu

    cần quyết định có ý thức trách nhiệm, nghĩa là “họ

    luôn được lương tâm hướng dẫn, một lương tâm phù hợp

    với chính lề luật Thiên Chúa, và họ cần tuân phục huấn

    quyền Hội thánh hằng giải thích một cách chân thật lề

    luật này dưới ánh sáng Tin Mừng” (#50).

    (7)

    Sau cùng, nên thừa nhận việc vợ chồng thường phải “rơi

    vào những cảnh huống này là, ít ra tạm thời, họ cần

    giới hạn số người trong gia đình của họ.” Do vậy để

    chu toàn bổn phận làm cha mẹ có trách nhiệm, họ cần phải

    tiết dục, nhưng điều ấy lại xung đột với ý muốn biểu

    lộ tình yêu vợ chồng của họ về mặt sinh lý. Bị đẩy vào

    trạng huống này, vợ chồng phải đối mặt với hai thực tế:

    trách nhiệm đều ràng buộc họ phải tránh việc thụ thai và

    đồng thời phải duy trì cho bằng được “tình yêu chung

    thủy của họ qua cuộc sống lứa đôi thân mật.” Thất

    bại trong việc duy trì “sự thân mật lứa đôi” là

    mối đe dọa rõ rệt cho tình yêu chung thủy hỗ tương của vợ

    chồng, cũng như có nguy cơ phá vỡ hạnh phúc của những

    đứa con đã sinh ra và làm giảm sút sự can trường và

    quảng đại của cha mẹ trong việc đón nhận những đứa con

    mới. (#51).

    Nhằm

    hướng dẫn vợ chồng trong nỗ lực “hòa hợp tình yêu

    đôi lứa với việc truyền sinh có trách nhiệm,” Gaudium et

    Spes cảnh báo chống lại những giải pháp không xứng hợp

    với chuẩn mực luân lý, được đề ra bởi Giáo Hội. Và

    khuyến dụ họ là đặc tính luân lý của những cách biểu

    lộ tình yêu vợ chồng�, được xác định bằng những tiêu

    chuẩn khách quan có nền tảng dựa trên bản tính của nhân

    vị và những hành vi đó phải “duy trì đầy đủ ý nghĩa

    của sự tự hiến thân cho nhau và sản sinh con cái bằng một

    tình yêu đích thật” (#51).

    Ðiều

    diễn tả tình yêu vợ chồng không thể bị xem xét đơn thuần

    chỉ trên chiều kích sinh học, hay trên phương diện thể lý

    của hành động giao hợp, nhưng đúng hơn phải xét trong mối

    tương quan với toàn thể nhân vị con người, được coi là

    chủ thể của hành động. Thật quá giản lược việc văn

    kiện bắt nguồn từ lý lẽ đã được lặp đi lặp lại

    chống lại sự ngừa thai vốn chỉ nhìn đến cơ cấu sinh học

    của hành vi tính giao được xem xét tách lìa khỏi những yếu

    tố khác, đặc biệt là chủ thể đang thực hiện hành vi đó.

    Tiêu

    chuẩn luân lý tính được xem như có gốc gác nhiều hơn nơi

    bản tính của nhân vị, chứ không phải nơi mục tiêu riêng

    rẽ của từng hành vi riêng biệt. Tỷ dụ như ta không thể

    đánh giá một con người tốt hay xấu ngang qua những hành vi

    riêng biệt của kẻ ấy. Ta thử lấy một ví dụ, có thể hôm

    nay anh ta vì vui chén với bạn bè, nên đã say rượu và có

    lời ăn tiếng nói không hay, nhưng qua hôm sau khi anh ta hết say

    rượu, thì thái độ và cách cử xử của anh ta sẽ khác.

    Các

    nghị phụ Công Ðồng kết thúc phần tranh luận của mình về

    cuộc sống hôn nhân và gia đình bằng cách khuyến khích vợ

    chồng thực tập đức trong sạch hôn nhân, vốn phần nào

    đó có nghĩa là trong khi nhằm hạn chế sinh sản, vợ chồng

    cần tránh các phương pháp “bị Huấn Quyền Giáo Hội cho

    là sai trái vì không phù hợp với lề luật Thiên Chúa”

    (#51). Không thể hướng dẫn người ta được gì thêm bằng

    cách phân biệt giữa những hình thức ngừa thai được

    hoặc không được chấp nhận, nhưng trong phần chú thích văn

    kiện, các nghị phụ giải thích lý do sự im lặng của các

    ngài như sau: “Vài vấn đề cần được xem xét kỹ càng

    hơn nữa, thì theo lệnh Ðức Giáo Hoàng, chúng đã được

    chuyển giao lại cho tiểu ban nghiên cứu về dân số, gia đình,

    và sinh suất, để rồi sau khi hoàn tất sẽ được Ðức Giáo

    Hoàng chuẩn y. Do quá đặt nặng lý thuyết về huấn quyền

    đến như vậy, mà Thượng Hội Ðồng Giám Mục lúc đó đã

    không có ý đưa ra ngay lập tức những giải pháp cụ thể.

     

    4.

    Humanae Vitae và bối cảnh của nó

    Tiểu

    ban đặc biệt giáo hoàng nhằm nghiên cứu vấn đề ngừa thai

    đã được Ðức Giáo Hoàng Gio-an XXIII thiết lập năm 1963;

    một năm sau đó Ðức Giáo Hoàng Phao-lô VI bổ nhiệm thêm

    nhiều nhân vật nữa vào tổ chức này. Cả giáo dân lẫn

    giáo sĩ đếm được từ 60 đến 70 vị, bao gồm giới nghành

    y, các nhà khoa học xã hội, các cặp vợ chồng, Linh Mục,

    Giám Mục, Hồng Y.

    Sau

    khi tiểu ban biểu quyết vào tháng 6 năm 1966, hai bản tường

    trình khác nhau được đệ trình lên Ðức Phao-lô VI; trong

    bản tường trình của nhóm ý kiến thiểu số, có bốn nhà

    thần học ký tên thì những cấm đoán truyền thống về mọi

    hình thức ngừa thai nhân tạo đều được giữ lại; còn

    bản tường trình theo ý kiến số đông bao gồm hầu như toàn

    bộ những thành viên còn lại của tiểu ban thì khuyến cáo

    Giáo Hội nên có thay đổi trong huấn quyền chính thức về

    các phương pháp ngừa thai.

    Tháng

    2 năm 1966, trước khi nhận các bản tường trình, Ðức Giáo

    Hoàng Phao-lô VI ngỏ lời tại Trung tâm Hội Nghị Phụ Nữ

    Quốc Gia Ý. Trong bài phát biểu, Ngài nêu lên tính phức

    trong tiểu ban vốn được đặc biệt triệu tập “với

    nhiệm vụ xem xét những vấn đề này cách sâu xa hơn từ

    nhiều quan điểm – khoa học, lịch sử, xã hội và giáo thuyết

    – với sự cố vấn phong phú của các giám mục và chuyên

    viên.” Khi khuyến dụ thính giả “hãy chờ đợi những

    kết quả của công trình nghiên cứu này…” Ngài lưu ý

    Giáo Hội cần bước đi cẩn trọng và xem xét cẩn thận trong

    nỗ lực giáo huấn cho Dân Thiên Chúa.

    Huấn

    Quyền Giáo Hội không thể đưa ra những chuẩn mực Luân Lý

    mà không bảo đảm là mình đang diễn tả ý Chúa. Ðể đạt

    tới chân lý này, Giáo Hội không buộc phải theo những tìm

    tòi cũng như phải xem xét tất cả những vấn đề do từ

    mọi góc nẻo trần gian đặt ra. Ðôi khi những công việc đó

    đòi hỏi nhiều thời gian và không phải dễ dàng gì.

    Tâm

    tình được giãi bày như trên của Ðức Phao-lô VI cho thấy

    bối cảnh, một khi những khuyến cáo từ bản phúc trình của

    nhóm ý kiến đa số trong tiểu ban giáo hoàng được công bố

    cho công chúng, người ta rất hy vọng chờ mong từ giữa

    lòng Giáo Hội Công Giáo quyết định thay đổi sự cấm đoán

    sử dụng những phương pháp ngừa thai gọi là nhân tạo.

    Liệu Ðức Giáo Hoàng sẽ đáp ứng ra sao đối với những

    gợi ý của tiểu ban? Sự đáp ứng này chỉ xảy ra hai năm

    sau đó khi ngài công bố thông điệp Humanae Vitae (HV: Sự sống

    con người), tháng 7 năm 1968.

    Mở

    đầu Thông Ðiệp, Ðức Phao-lô VI cám ơn Tiểu Ban Giáo Hoàng

    về công tác đã thực hiện, nhưng ngài cho rằng những kết

    luận của phúc trình không thể được xem như có tính quyết

    định được cũng như chúng không thể cho phép cá nhân ngài

    bỏ qua việc xem xét vấn đề cách tường tận hơn nữa. Sau

    đó ngài nhận định là tiểu ban đã “không đạt được

    chuẩn mực luân lý;” hơn nữa, ngài cho rằng trong bản

    phúc trình của tiểu ban, một vài giải pháp đề nghị cho vấn

    đề ngừa thai thực ra đã “vượt quá xa khỏi giáo huấn

    luân lý về hôn nhân mà Huấn Quyền Giáo Hội vẫn hằng

    mạnh mẽ giảng dạy.”

    Sau

    cùng, với niềm xác tín rằng mình đã “chủ động xem

    xét tường tận tất cả thông tin tài liệu” đệ trình

    lên ngài, Ðức Giáo Hoàng, “sau khi cân nhắc, đắn đo

    và cầu nguyện liên lỷ” tuyên bố duy trì là không thể

    có sự thay đổi trong lập trường của Giáo Hội về việc

    chống lại sự sử dụng các phương pháp ngừa thai nhân tạo

    (HV, #6).

    Thông

    Ðiệp đưa ra luận chứng cơ bản như sau: “Mọi và từng

    hành vi trong việc giao hợp phải mở ngõ cho sự truyền sinh (HV,

    #11), vì Thiên Chúa đã muốn “sự nối kết không thể

    phân chia… giữa hai ý nghĩa của hành vi phu-phụ: ý nghĩa

    phối hợp yêu thương và ý nghĩa sinh sản.” Nhờ sự

    kết giao thân mật, “hành vi phu-phụ trong khi hiệp nhất

    chặt chẽ vợ chồng với nhau, khiến họ có khả năng thông

    ban sự sống mới, thể theo những định luật được ghi khắc

    trong tận hữu thể của người đàn ông và đàn bà” (HV,

    #12).

    Do

    vậy, được coi là hành vi “xấu ngay tự bản chất” (HV,

    #14), và “không bao giờ hợp pháp” (HV, #16) cho vợ

    chồng khi giao hợp với nhau mà đồng thời lại toan tính cách

    tích cực có chủ ý ngăn cản khả năng truyền sinh của hành

    vi này. Nghĩa là vợ chồng không được phép dùng phương

    pháp ngừa thai nhân tạo.

    Khi

    phê bình những xác quyết cơ bản của thông điệp, cố thần

    học gia luân lý, Richard McCormick, S.J. nêu nhận xét như sau:

    nội dung chủ yếu của thông điệp là: sự giao hợp giới

    tính “chỉ là hành vi đơn độc với hai khía cạnh hay hai ý

    nghĩa nội tại: hiệp nhất và truyền sinh”; hơn nữa, hai ý

    nghĩa này lại “bất khả phân ly theo sự hoạch định của

    Thiên Chúa”, do vậy bất cứ ai chủ ý làm cho hành vi giao

    hợp không thể thụ thai cũng đều “tấn công vào chính

    ý nghĩa của hành vi vốn là sự biểu lộ của tình tự hiến

    cho nhau.”

    McCormick

    ghi nhận là phân tích như trên là điều không mới mẻ gì,

    nhiều nhà luân lý đã từng phát biểu từ lâu những

    dòng chữ đó, và McCormick thừa nhận rằng: chính ông ta

    trước đây cũng đã từng đưa ra các luận điệu tương

    tự như thế “qua việc loại trừ khả năng cưu mang một

    thai nhi, vốn là dấu hiệu thường trực của tình yêu được

    diễn tả trong sự giao hợp, người ta đã chủ động ngừa

    thai trong hành vi tính giao và do vậy đã tước bỏ dấu hiệu

    đó khỏi hành vi vốn làm cho tình yêu hiệp nhất cách khách

    quan.”

    Nhưng

    sau này, McCormick đã không còn giữ lập trường này nữa.

    Ðồng ý rằng, con cái là hoa quả tình yêu giữa hai vợ

    chồng, được biểu lộ qua hành vi ái ân. Tuy nhiên, nếu

    chúng ta chấp nhận quan điểm này, thì phải nói rằng, có lẽ

    không biết bao nhiêu triệu con người đang có mặt trong thế

    giới ngày hôm nay đã không là kết quả của tình yêu tự

    hiến trong đời sống hôn nhân, nhưng chẳng qua đó chỉ là

    kết trái của một cuộc tri hoan nhằm thỏa mãn tính dục và

    đứa con là kết quả của một sự việc ngoài ý muốn.

    Không biết Giáo Hội nghĩ sao về vấn đề này?

    Theo

    cách thức suy tư hiển lộ trong Humanae Vitae, các ý nghĩa thông

    hiệp và truyền sinh của hành vi tính giao nối kết chặt chẽ

    với nhau đến độ không thể bị phân lìa. Ðiều này có

    nghĩa bất cứ sự can thiệp thể lý có chủ ý nào trên

    một trong hai ý nghĩa thì đều tất yếu kéo theo ảnh hưởng

    phân rẽ hay phân hủy đối với ý nghĩa kia, đến độ ý

    nghĩa luân lý của hành vi tính dục xét như là một tổng

    thể đã bị phá hủy.

    Do

    vậy tính bất khả phân ly của những chiều kích thông hiệp

    và truyền sinh của tình yêu phu-phụ nằm ở cội rễ của

    việc Giáo Hội cấm đoán bất cứ sự giao hợp nào có kèm

    theo chủ ý tích cực ngăn cản sự truyền sinh; đồng thời,

    cần ghi nhận là cùng một luận chứng về tính bất khả phân

    chia của hai chiều kích trong tình yêu phu-phụ, cũng giải thích

    phần lớn việc Giáo Hội chống lại bất cứ sự toan tính

    nào của vợ chồng nhằm có con mà không thông qua con

    đường biểu lộ tình yêu thân mật hỗ tương qua sự giao

    hợp.

    Do

    vậy, Giáo Hội giữ vững lập trường cố hữu chống lại

    chẳng những phương pháp cấy tinh nhân tạo dùng tinh trùng

    người khác, được gọi là Artificial Insemination using a Donor’s

    sperm, viết tắt là (AID) mà ngay cả phương pháp cấy tinh nhân

    tạo nhờ tinh trùng của chồng, được gọi là Artificial

    Insemination using the Husband’s sperm, viết tắt là (AIH) và phương

    pháp thụ tinh trong ống nghiệm IVF (In Vitro Fertilization) theo đó

    cả trứng lẫn tinh trùng đều thuộc của vợ chồng.

     

    Lm.

    Trần Mạnh Hùng, DCCT (Roma)

     

    (Trích

    dẫn từ Ehpata Việt Nam số 64, năm 2002)

    Back

    to Vietnamese Missionaries in Asia Home Page

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Tính Ngày An Toàn Khi Quan Hệ Để Không
  • Tiêm Thuốc Tránh Thai: Lợi Và Hại
  • 17 Phương Pháp Ngừa Thai Hiệu Quả Và Dễ Thực Hiện Nhất Hiện Nay
  • Tư Vấn Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Sau Sinh
  • Bài 6 : Lươngtâm Công Giáo Và Vấn Đề Điều Hoà Sinh Sàn
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100