Phương Pháp Chữa Bệnh Bằng Thuốc Y Học Cổ Truyền

--- Bài mới hơn ---

  • Lập Cơ Sở Khám Chữa Bệnh Y Học Cổ Truyền
  • Hướng Dẫn Khám, Chữa Bệnh Tại Bệnh Viện Y Học Cổ Truyền Trung Ương
  • Các Phương Pháp Điều Trị Hysteria Theo Y Học Cổ Truyền
  • Khám Chữa Bệnh Da Liễu Tại Bệnh Viện Y Học Cổ Truyền Trung Ương
  • Chữa Bệnh Tiểu Đường Bằng Phương Pháp Y Học Cổ Truyền
  • Chữa phải tìm gốc bệnh: tìm gốc bệnh là tìm nguyên nhân gây ra, chứng trạng hiện có khi giống nhau nhưng lại do nhiều nguyên nhân gây nên. Ví dụ: đau thượng vị gốc bệnh có thể do ở can, cũng có thể tại tỳ vị.

    Chữa bệnh phải có ngọn, gốc, hoãn cấp: gốc là nguyên nhân chính gây ra bệnh, là bệnh cũ là chính khí, là bệnh ở lý. Ngọn là triệu chứng, là bệnh mới mắc, là tà khí, là bệnh mắc về sau.

    Hoãn là bệnh không rầm rộ, khi chữa thì điều trị vào gốc bệnh.

    Cấp là các chứng rầm rộ, mới mắc, nặng nề, khi có các chứng cấp thì chữa vào ngọn.

    Chữa bệnh phải có bổ tả: tùy theo tình trạng của bệnh mà vừa tả, vừa bổ nhưng trên nguyên tắc chung là là bao giờ cũng chú ý đến chính khí của ngươi bệnh, không dùng pháp tả làm tổn hại đến chính khí.

    Chính trị và quản trị:

    Chính trị là phương pháp nhằm đúng bệnh lựa chọn những vị thuốc trái với bệnh mà chữa (nghịch giả chính trị) như chứng hàn thì dùng thuốc nhiệt, chứng nhiệt thì dùng thuốc hàn, chứng thực thì dùng phép công, chứng hư thì dùng phép bổ.

    Phản trị: còn gọi là tòng trị, khi gặp chứng bệnh hiện ra giả tượng chọn biện pháp thuận theo hiện tượng của bệnh mà chữa (tòng giản phản trị). Như chứng âm thịnh cách dương ngoài có hiện tượng nhiệt thì dùng thuốc để chữa. Chứng nhiệt có trước, sau có chứng quyết ra ngoài

    thấy hiện tượng hàn thì dùng thuốc hàn để chữa, chứng thực có hiện tượng hư dùng thuốc tả, chứng hư có hiện tượng thực thì dùng thuốc bổ.

    Thực tế lâm sàng rất phức tạp nếu chỉ đơn thuần dùng một pháp không thể giải quyết được bệnh, cần phối hợp nhiều pháp hỗ trợ nhau.

    Hãn hạ cùng dùng: gặp trường hợp vừa có biểu vừa có lý chứng cần dùng cả pháp hãn (biểu) và hạ (lý).

    Ôn thanh cùng dùng: gặp trường hợp trên hàn dưới nhiệt hay trên nhiệt dưới hàn cần kết hợp nhiệt thì thanh, hàn thì ôn.

    Công bổ cùng dùng: bệnh nhân hư nhược bị bệnh cấp, nếu chỉ bổ thì tà khí kết lại, nếu chỉ công thì cơ thể đã hư dễ trở nên suy nguy hiểm. Cần vừa bổ, vừa công.

    Phương pháp xông: dùng hơi của vị thuốc đun lên hay khói của vị thuốc khi đốt để xông toàn thân hay vào vùng bị bệnh hoặc hít vào mũi

    Phương pháp ngâm tắm: dùng thuốc nấu lên để ngâm tắm.

    Phương pháp bôi đắp: thuốc tươi giã nát hoặc thuốc bột hòa tan hay rượu bôi đắp vào chỗ bị bệnh.

    Phương pháp chườm: dùng thuốc rang hay xào nóng lên chườm vào vùng bị bệnh.

    Dán: thuốc nấy thành cao dán vào vùng đau, mụn nhọt.

    coppy ghi nguồn: http://drugsofcanada.com

    link bài viết: phương pháp chữa bệnh bằng thuốc cổ truyền

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chữa Bệnh Trĩ Ở Bệnh Viện Y Học Cổ Truyền
  • Chế Biến Vị Thuốc Hương Phụ Có Nhiều Phương Pháp Của Y Học Cổ Truyền
  • Cách Detox Súc Ruột Bằng Yoga
  • Hành Trình Chữa Bệnh Ung Thư
  • Nhịn Ăn Có Giảm Cân Không? Cách Nhịn Ăn Giảm Cân Đúng Cách
  • Cách Chữa Bệnh Trĩ Theo Y Học Cổ Truyền

    --- Bài mới hơn ---

  • Y Học Cổ Truyền Điều Trị Bệnh
  • Bật Mí Các Phương Pháp Yết Tỷ Giá Đô La Hồng Kông
  • Phán Quyết Của Wto Về “phương Pháp Quy Về Không” (Zeroing) Của Hoa Kỳ Trong Vụ Kiện Thép Của Mexico
  • Nuôi Con Theo Phương Pháp Easy Tốt Cho Bé, Nhàn Bố Mẹ
  • Baby Sleep Training Part 5
  • Thứ Tư, 29-11-2017

    Trĩ là một trong những căn bệnh về đường tiêu hóa có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất. Hiện nay cách chữa bệnh trĩ theo y học cổ truyền đang được nhiều chuyên gia cũng như người bệnh đánh giá cao trong điều trị căn bệnh này.

    Nguyên nhân gây bệnh trĩ trong y học cổ truyền

    Theo quan niệm của y học cổ truyền nguyên nhân trực tiếp gây ra bệnh trĩ chính là do khí huyết trong cơ thể bị suy nhược, trì trệ làm cho mạch lạc bị giãn sa và gây ra hiện tượng chảy máu khi đi cầu. Cùng với đó sự mất cân bằng âm dương trong cơ thể cộng thêm sự tác động của các yếu tố gây ngoại cảm, nội thương như chế độ ăn uống thiếu khoa học, táo bón lâu ngày, làm việc quá sức…cũng là những yếu tố thuận lợi dẫn đến sự khởi phát của căn bệnh này.

    • Thể huyết ứ: Biểu hiện của dạng bệnh này là bệnh nhân bị đi ngoài ra máu nhỏ giọt, đau tức ở hậu môn kém theo tình trạng táo bón kinh niên.
    • Thể thấp nhiệt: Bệnh nhân có triệu chứng sưng đỏ ở hậu môn, búi trĩ bị sưng to, sa trĩ, đau quặn bụng , táo bón và nước tiểu có màu đỏ.
    • Thể khí trệ, huyết ứ tức khí huyết hư đều: Trường hợp này thì đi cầu ra máu kéo dài dẫn đến thiếu máu. Bệnh nhân thường xuyên bị hoa mắt, chóng mặt, sắc mặt nhợt nhạt, rêu lưỡi trắng, trong người mệt mỏi, bị đứt hơi khi nói chuyện.

    3 cách chữa bệnh trĩ theo y học cổ truyền

    1. Cách chữa bệnh trĩ thể huyết ứ

    – Dùng 30g lá bỏng kết hợp với cỏ nhọ nồi, ngải cứu sao khô và lá bá trắc sao khô mỗi vị 10g. Lấy thuốc sắc uống 2 lần trong ngày, mỗi ngày dùng một thang để chữa chứng đi cầu ra máu.

    2. Cách chữa bệnh trĩ theo y học cổ truyền đối với thể thấp nhiệt:

    – Lấy 15g hòe hoa, 10g trắc bá diệp, 10g hoàng bá, 10g chỉ xác, 10g kinh giới. Các vị thuốc trên tạo thành một thang sắc uống hàng ngày. Kiên trì áp dụng sau khoảng 1 tháng sẽ bắt đầu thấy được kết quả khả quan.

    – Hoặc dùng bài thuốc chứa các vị 12g hoàng bá 12g ,12g hoàng liên, 16g sinh địa, 10g đương quy, 12g trạch tả, 6g đại hoàng ,8g đào nhân, 12g xích thược. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

    3. Bài thuốc chữa bệnh trĩ thể khí huyết hư đều

    – Dùng cam thảo, đương quy, bạch truật ( mỗi vị 12g) kết hợp với thăng ma và hoàng kỳ ( mỗi vị 10g), sài hồ ( 8g). Đem các nguyên liệu thuốc đã chuẩn bị chia làm 3 lần uống trong ngày.

    Trong quá trình dùng các bài thuốc trị bệnh trĩ theo y học cổ truyền kể trên bệnh nhân cần kiêng ăn đồ cay nóng và các thức ăn nhiều dầu mỡ khó tiêu hóa. Nên ăn nhiều chất xơ và uống nhiều nước để chống táo bón. Cùng với đó, tăng cường các hoạt động thể chất để khí huyết lưu thông tốt, giảm áp lực lên búi trĩ, nâng cao thể trạng. Ngoài ra có thể áp dụng thêm các biện pháp châm cứu, bấm huyệt để nhanh chóng đẩy lùi căn bệnh này.

    Ưu nhược điểm phương pháp y học cổ truyền trị trĩ

    • Đã được kiểm chứng qua nhiều đời: Các bài thuốc chữa bệnh trĩ bằng y học cổ truyền đã được người xưa truyền lại dựa trên kinh nghiệm dân gian rất phong phú của mình. Trải qua bao đời các thế hệ đã sử dụng những bài thuốc trên và cho thấy những hiệu quả nhất định nên chúng mới được lưu truyền cho đến ngày nay.
    • An toàn cho sức khỏe: Các bài thuốc chữa bệnh đều được điều chế từ các vị thuốc thảo dược tự nhiên lành tính nên không gây tác dụng phụ như khi sử dụng thuốc Tây.
    • Chi phí điều trị vừa phải: Do các vị thuốc đều có sẵn trong tự nhiên nên chi phí chữa bệnh trĩ theo y học cổ truyền cũng không cao. Mọi đối tượng có thể sử dụng thuốc mà không phải băn khoăn đến vấn đề tài chính của mình.
    • Điều trị bệnh trĩ tận gốc: Y học cổ truyền chú trọng điều trị vào căn nguyên của bệnh nên cho hiệu quả tận gốc và lâu dài. Đồng thời hạn chế được nguy cơ tái phát bệnh.

    – Nhược điểm:

    – Lâu cho kết quả: Việc điều trị bệnh có thể kéo dài vài tháng hoặc cả năm mới thấy tiến triển do hiệu quả sử dụng thuốc thảo dược phụ thuộc vào cơ địa cũng như mức độ bệnh của người sử dụng.Đây chính là lý do giải thích tại sao không phải bệnh nhân nào cũng đủ kiên trì để theo đuổi phương pháp chữa bệnh này.

    – Cầu kì trong nguyên liệu và cách làm thuốc: Theo dõi các bài thuốc ở trên bạn dễ dàng nhận thấy mỗi bài thuốc đều chứa rất nhiều vị khác nhau. Các vị thuốc cũng cần đong đếm cho thật chuẩn và trải qua quá trình sắc uống nên rất mất thời gian.

    – Khó uống: Một số vị thuốc khá đắng nên không phải ai cũng chấp nhận được mùi vị của thuốc dân gian.

    – Không có hiệu quả với người bị trĩ nặng: Với những người mắc bệnh trĩ độ 3, độ 4 thì việc dùng thuốc Y học cổ truyền chỉ có tác dụng hỗ trợ làm giảm triệu chứng chứ không giúp búi trĩ co trở lại hiện trạng ban đầu. Ở giai đoạn này hầu hết bệnh nhân phải nhờ đến phương pháp phẫu thuật.

    Từ những phân tích, nhận định trên có thể thấy dù có nhiều ưu điểm song cách chữa bệnh trĩ theo y học cổ truyền vẫn còn tồn tại một số nhược điểm lớn mà nhiều bệnh nhân không chấp nhận được. Trước khi áp dụng cách chữa bệnh này bệnh nhân nên xem xét giữa cái được và cái mất của phương pháp này so với những cách chữa bệnh khác để lựa chọn cho riêng mình một phương pháp chữa bệnh trĩ thích hợp nhất.

    NGƯỜI BỆNH NÊN THAM KHẢO THÊM

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chữa Bệnh Trĩ Theo Y Học Cổ Truyền Có Ưu Và Nhược Điểm Gì?
  • Hà Nội Nên Theo Học Y Sĩ Y Học Cổ Truyền Ở Đâu Tốt Nhất?
  • Tuyển Sinh Đào Tạo Y Sĩ Y Học Cổ Truyền Năm 2022
  • Muốn Học Y Học Cổ Truyền, Nhất Định Cần Biết Những Điều Sau
  • Hà Nội Đem Đến Nhiều Cơ Hội Cho Thí Sinh Học Trung Cấp Y Học Cổ Truyền
  • Các Phương Pháp Điều Trị Hysteria Theo Y Học Cổ Truyền

    --- Bài mới hơn ---

  • Khám Chữa Bệnh Da Liễu Tại Bệnh Viện Y Học Cổ Truyền Trung Ương
  • Chữa Bệnh Tiểu Đường Bằng Phương Pháp Y Học Cổ Truyền
  • Chữa Dứt Điểm Bệnh Xương Khớp Bằng Phương Pháp Y Học Cổ Truyền
  • Vai Trò Của Y Học Cổ Truyền Trong Điều Trị Ung Thư
  • Y Học Cổ Truyền Là Gì? Nguyên Tắc Chữa Bệnh Và Địa Chỉ Chữa Uy Tín
  • Bệnh hysteria được biết đến là một bệnh rối loạn thần kinh chức năng, nguyên nhân là do các sang chấn tinh thần, hoạt động thần kinh cao cấp quá khẩn trương, hoặc do loại hình thần kinh cá thể thuộc loại yếu và thiên về bản năng đời sống cá nhân gây nên.

    Trong y học cổ truyền, bệnh hysteria được miêu tả trong chứng uất, tâm quý… Trên lâm sàng, bệnh này biểu hiện rất đa dạng và phức tạp, kèm theo đó là các triệu chứng tại những vị trí, tạng phủ khác nhau của cơ thể. Ngoài ra bệnh còn biểu hiện phụ thuộc theo tính tình, nghề nghiệp và sự hiểu biết của từng người bệnh.

    1. Yêu cầu đối người thầy thuốc:

    Người thầy thuốc điều trị bệnh hysteria cần phải có những yêu cầu sau khi điều trị cho người bệnh:

    • Có thái độ và tinh thần hết sức yêu thương cùng thông cảm với người bệnh.
    • Có sự hiểu biết sâu sắc về tâm lý và chuyên môn.
    • Có phương pháp chữa bệnh hết sức linh hoạt.
    • Cần nghiêm khắc tránh tình trạng tùy tiện dễ dãi mới đạt được kết quả điều trị.
    • Tránh bỏ qua bệnh tật khác.

    2. Phương pháp chữa hysteria theo YHCT:

    a. Khám bệnh:

    • Khai thác quá trình bệnh lý.

    Mục đích của khám bệnh là giúp người thầy thuốc nắm được tình hình của người bệnh, tìm ra nguyên nhân gây ra bệnh, đồng thời người thầy thuốc sẽ tìm được phương pháp điều trị hợp lý đối với người bệnh. Áp dụng các phương pháp điều trị như xoa bóp, khí công, thuốc… Đặc biệt, người thầy thuốc cần phải tiến hành theo dõi trên người bệnh, cần nhiều thời gian tiếp xúc với người bệnh hơn, đó là điều kiện tốt để người thầy thuốc làm công tác chữa bệnh bằng tâm lý.

    b. Phương pháp chữa:

    • Triệu chứng: tinh thần hay uất ức, xúc động, ngực sườn hay đầy tức, đầy bụng ợ hơi, ăn uống kém, rêu lưỡi trắng, mạch huyền.
    • Phương pháp chữa: sơ can lý khí giải uất, an thần.
    • Các bài thuốc:

    Bài 1: gồm: đảng sâm: 12g,, cúc hoa: 12g, chỉ xác: 8g, thanh bì: 8g, uất kim: 8g, hương phụ: 8g, đan sâm: 8g, táo nhân: 8g.

    Bài 2: bài “Tiêu dao thang gia giảm” gồm: bạch truật: 12g, bạch linh: 12g, bạch thược: 12g, sài hồ: 12g, hoàng cầm: 12g, bạc hà: 8g, trần bì: 6g, cam thảo: 8g, uất kim: 8g, chỉ xác: 8g, gừng: 4g.

    Ngoài ra có thể phối hợp châm các huyệt nội quan, thần môn, thái xung, thúc lâm khấp, cam du, đởm du, tâm du, tam âm giao.

    Xoa bóp bằng cách day, ấn các huyệt cũng có tác dụng như châm cứu.

    Bệnh có thể có kèm theo một số chứng khác, cần gia giảm một số vị thuốc đối với từng chứng:

    • Nấc: gia thêm lệ chi: 6g, thị đế: 6g. Phối hợp châm thêm huyệt cách du.
    • Khó nuốt, cảm giác có vật mắc trong cổ họng: thêm tô ngạnh: 12g, hậu phác: 6g, bán hạ chế: 8g. Phối hợp châm thêm huyệt thiên đột, chiên trung.
    • Thống kinh: Thêm ích mẫu: 20g, tam lăng: 8g, hồng hoa: 8g… Phối hợp châm thêm huyệt quan nguyên, khí hải.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Khám, Chữa Bệnh Tại Bệnh Viện Y Học Cổ Truyền Trung Ương
  • Lập Cơ Sở Khám Chữa Bệnh Y Học Cổ Truyền
  • Phương Pháp Chữa Bệnh Bằng Thuốc Y Học Cổ Truyền
  • Chữa Bệnh Trĩ Ở Bệnh Viện Y Học Cổ Truyền
  • Chế Biến Vị Thuốc Hương Phụ Có Nhiều Phương Pháp Của Y Học Cổ Truyền
  • ” Y Học Cổ Truyền” : Phương Pháp Chữa Bệnh Hiệu Quả

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Yết Tỷ Giá
  • Cách Yết Tỷ Giá Hối Đoái Trên Thị Trường (Quotation)
  • Xoa Bóp Thần Kỳ Đặc Hiệu Phương Đông (Yumeiho)
  • Để Trẻ Lười Học Trở Nên Siêng Năng Theo Phương Pháp Của Yamabiko
  • + 3 Cách Chọn Thông Số Pid Controller Là Gì
  • Châm cứu là hai phương pháp chữa bệnh hoàn toàn khác nhau: Châm tức là dùng kim châm vào các huyệt đạo trên cơ thể để kích thích khí huyết lưu thông; cứu là dùng sức nóng của ngải cứu để tác động lên huyệt. Kết hợp giữa hai phương pháp này để chữa bệnh sẽ giúp lập lại cân bằng âm dương, làm giảm đau, phục hồi chức năng vận động và điều hòa nội tiết tố trong cơ thể.

    Theo bác sĩ Nguyễn Thị Thúy, Trưởng Khoa Châm cứu Dưỡng sinh (Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh) cho biết, với đội ngũ cán bộ lâm sàng có kiến thức, trình độ, máy móc hiện đại hỗ trợ, Khoa Châm cứu Dưỡng sinh (Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh) đã kết hợp y học hiện đại với y học dân tộc trong châm cứu nên đã chữa được hầu hết các bệnh lý, kể cả những bệnh được coi là nan y. Rất nhiều bệnh nhân sau khi điều trị bằng phương pháp châm cứu, sức khỏe đã cải thiện rõ rệt và có niềm tin vào phương pháp chữa bệnh này.

    Một bệnh nhân đang được châm cứu tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh.

    Điều trị

    Không có thuốc chữa quá trình thoái hóa của khớp; điều trị triệu chứng và phục hồi chức năng là quan trọng. Mục đích điều trị: giảm đau cho người bệnh và duy trì chức năng vận động của khớp. Qua thực tiễn lâm sàng, để đạt kết quả điều trị tốt cần phối hợp toàn diện giữa phương pháp dùng thuốc và phương pháp không dùng thuốc như: châm cứu. tập vật lý trị liệu, chế độ chăm sóc, dinh dưỡng hợp lý.

    Với mỗi bệnh nhân với mỗi mức độ bệnh cần được bác sĩ khám và hướng dẫn điều trị phù hợp.

    Y học cổ truyền – Kiến thức y học cổ truyền – Bài thuốc cổ truyền

    Phương pháp chữa nhằm: lưu thông khí huyết, đưa tà khí ra ngoài, bổ khí huyết và bổ can than, mạnh gân xương để giảm đau và chống tái phát.

    Trong kho tàng bài thuốc Y học cổ truyền (YHCT) còn lưu truyền và sử dụng rộng rãi nhiều bài thuốc trong điều trị bệnh thoái hóa khớp gối như bài Bạch hổ thang, Thược dược tri mẫu thang, PT5… Bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh thang thường được chỉ định nhất, cũng đã có nhiều nghiên cứu chứng minh tác dụng tốt và không có tác dụng phụ.

    Các bài thuốc y học cổ truyền dùng thuốc:

    Bài thuốc 1: Bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh thang:

    Độc hoạt 12g, tế tân 4, sinh địa 12g, đảng sâm 12g, quế chi 4g, phòng phong 10g, đương quy 12g, phục linh 10g, tang ký sinh 16g, ngưu tất (Bắc) 12g, bạch thược 10g, cam thảo(Bắc) 4g, tần giao 8g, đỗ trọng(Bắc) 12g, xuyên khung 8.

    Bài thuốc 2: Bài thuốc PT5 :

    Lá lốt 10g, thiên niên kiện 10g, hà thủ ô 12g, mắc cỡ (trinh nữ) 12g, cỏ xước 16g, sinh địa 12g, quế chi 8g, thổ phục linh 16g.

    Các phương pháp không dùng thuốc:

    Châm cứu: thường chọn các huyệt tại chỗ như: độc tỵ, hạc đỉnh, âm lăng tuyền… Châm tả (kích thích xung điện với tần số 60 -100Hz), hoặc cứu tả.

    – Kết hợp bổ khí huyết, bổ can thận, mạnh gân xương: dùng châm bổ các huyệt can du, thận du, dương lăng tuyền, huyết hải…

    – Thủy châm (vitamine nhóm B…): thận du, can du, huyết hải…

    – Điện phân (dùng dòng điện một chiều đều), tác dụng tốt cho giảm đau và tăng nuôi dưỡng khớp, tránh teo cơ.

    – Châm ngày 1 lần, một liệu trình từ 10 -20 lần châm.

    Nghỉ ngơi: nên nghỉ nghơi, hạn chế đi lại khi khớp gối đau sưng.

    – Các biện pháp bảo vệ khớp: tránh đi bộ nhiều, đeo băng thun khớp gối.

    Đau nhiều dùng nạng, can chống.

    – Chú ý vấn đề giảm cân đối với các bệnh nhân béo phì… Với nghề nghiệp phải đứng lâu, nếu có thể hướng dẫn cho người bệnh nhân thích nghi với điều kiện làm việc.

    Vật lý trị liệu: phục hồi chức năng nhằm giảm đau, duy trì vận động khớp, làm mạnh cơ tứ đầu đùi, ngăn ngừa biến dạng khớp gối.

    – Tập theo hướng dẫn của kỹ thuật viên.

    – Đạp xe đạp từ 10 – 30 phút/ ngày

    – Nhiệt trị liệu: chiếu đèn hồng ngoại 15 – 30 phút/ ngày. Tắm nước khoáng nóng, đắp bùn…

    Trường hợp của anh Nguyễn Huy Thái (27 tuổi, ở xã Ea Kly, huyện Krông Pắc) là một ví dụ. Anh Thái nhập viện tại Khoa Châm cứu Dưỡng sinh trong tình trạng bị liệt nửa người do di chứng của chấn thương sọ não. Sau khi theo dõi và thăm khám, các bác sĩ đã điều trị bằng phương pháp châm cứu kết hợp xoa bóp, bấm huyệt, luyện tập phục hồi chức năng để phục hồi tình trạng liệt cho bệnh nhân và sau 20 ngày điều trị tình trạng bệnh của anh Thái đã cải thiện rõ rệt. Anh Thái chia sẻ: “Tôi cứ nghĩ mình sẽ không bao giờ đi lại được nữa, vậy mà chỉ điều trị thời gian ngắn tôi đã có thể đứng được, tay chân cử động khá tốt. Hy vọng sau khi điều trị hết lộ trình, tôi có thể đi lại bình thường”. Còn bà Trần Thị Thu Vân (52 tuổi, ở xã Ea Sol, huyện Ea H’leo) bị thoái hóa gối chân, gai gối, trật khớp vai từ 3 năm nay, đã điều trị bằng tây y nhưng tình trạng bệnh không được cải thiện. Từ khi châm cứu tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh, từ chỗ không thể đi lại được, đến nay bà Vân có thể tự vận động, đi lại và làm các công việc nhẹ nhàng trong nhà.

    Y học cổ truyền – Kiến thức y học cổ truyền – Bài thuốc cổ truyền

    TS. Phùng Tuấn Giang – Chủ tịch Viện Nghiên cứu Phát triển Y dược Cổ truyền Việt Nam, Chủ tịch Tổ chức Quốc tế Chữa bệnh bằng liệu pháp thiên nhiên tại Việt Nam.

    TS. BS. Trần Thái Hà, Trưởng khoa Châm cứu xoa bóp dưỡng sinh Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương.

    chúng tôi Lê Thị Hải, Nguyên Giám đốc Trung tâm Khám tư vấn Dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng Quốc gia.Ngoài hai trường hợp trên, nhiều người mắc các bệnh khác, như: đau đầu, mất ngủ, rối loạn tiền đình, cơ thể suy nhược, đau lưng, thoái hóa khớp, thoái hóa cột sống, đau dây thần kinh tọa, bại liệt trẻ, viêm quanh khớp vai, đau vai gáy, đau dây thần kinh liên sườn… cũng tìm đến phương pháp châm cứu để chữa bệnh. Vì thế, hiện nay số lượng bệnh nhân đến Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh chữa bệnh bằng phương pháp này khá đông, với trung bình hơn 100 bệnh nhân mỗi tháng. Năm 2022, Khoa Châm cứu Dưỡng sinh đã điều trị cho khoảng trên 1.300 lượt bệnh nhân. Theo bác sĩ Nguyễn Thị Thúy, hầu hết các bệnh nhân sau khi nhập viện điều trị theo phác đồ bài bản, khoa học bằng các phương pháp đông tây y kết hợp, như: điện châm, thủy châm, mãng châm, xoa bóp, bấm huyệt, chườm bằng lá ngải cứu cho đến các bài tập vận động trên máy nên hầu hết tình trạng bệnh đều thuyên giảm. Riêng với trẻ em, đây là phương pháp chữa bệnh không gây biến chứng, không rủi ro trong quá trình điều trị nên các bệnh như: bại não, động kinh, dị ứng do viêm não, viêm màng não, bại liệt, câm điếc… đều được khuyến khích lựa chọn phương pháp châm cứu để chữa bệnh.

    Tuy nhiên, bác sĩ Thúy cũng cho biết thêm: châm cứu có thể chữa được nhiều bệnh song thời gian điều trị bệnh lâu hay nhanh tùy vào từng bệnh cũng như sự kiên trì của bệnh nhân. Để điều trị bằng phương pháp châm cứu hiệu quả, các bệnh nên được khám tây y để xác định rõ nguyên nhân rồi kết hợp đông y để chữa trị thì mới hiệu quả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Y Học Cổ Truyền Giúp Hỗ Trợ Điều Trị Ung Thư
  • Làm Kế Toán: Phương Pháp Yết Giá
  • Các Phương Pháp Niêm Yết Tỷ Giá
  • Chuyên Đề: Một Số Phương Pháp Phân Tích Đa Thức Thành Nhân Tử
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Phân Tích Đa Thức Thành Nhân Tử Trong Giải Toán Ở Thcs
  • Chữa Bệnh Tiểu Đường Bằng Phương Pháp Y Học Cổ Truyền

    --- Bài mới hơn ---

  • Chữa Dứt Điểm Bệnh Xương Khớp Bằng Phương Pháp Y Học Cổ Truyền
  • Vai Trò Của Y Học Cổ Truyền Trong Điều Trị Ung Thư
  • Y Học Cổ Truyền Là Gì? Nguyên Tắc Chữa Bệnh Và Địa Chỉ Chữa Uy Tín
  • Khoa Y Học Cổ Truyền Tại Fv
  • Đông Y (Y Học Cổ Truyền) Là Gì? Khám Chữa Bệnh Bằng Đông Y
  • Chia sẻ:

    Lá xoài non có thể chữa bện tiểu đường

    Bệnh tiểu đường hay còn gọi là đái tháo đường thuộc chứng bệnh tiêu khát. Bên cạnh việc chữa trị bằng thuốc Tây thì người bệnh có thể áp dụng một số cách trị tiểu đường từ thảo dược tự nhiên cũng rất tốt.Những loại cây thuốc chữa tiểu đường lại có sẵn và rất dễ kiếm ở Việt Nam.

    Xoài là loại cây có dược tính rất cao. Ngay cả lá xoài cũng có thể dùng làm vị thuốc trị tiểu đường cực tốt.

    Theo Y học cổ truyền, lá có vị chua ngọt, tính mát, có tác dụng làm mát, lợi tiểu, chống sa nội tạng, được dùng trị bệnh hô hấp trên như ho, viêm phế quản cấp hay mạn tính….

    Hơn nữa, trong lá xoài có chất anthxyanhdin có tác dụng hạ đường huyết phòng các biến chứng ở mắt và mạch máu do bệnh tiểu đường.

    Những kết quả nghiên cứu đều cho thấy chỉ số đường huyết (glycemic index) của xoài rất thấp- khoảng 41-60, do đó xoài không gây ảnh hưởng lớn nào đến việc làm tăng lượng đường trong máu của chúng ta.

    Hướng dẫn cách dùng lá xoài điều trị bệnh tiểu đường:

    -Lấy khoảng 5-7 lá xoài non cắt nhỏ rồi cho vào cốc, đổ nước sôi vào rồi để qua đêm. Mỗi sáng uống hết ly nước lá xoài này, bỏ phần bã.

    -Nếu không có lá xoài tươi thì có thể để dành bằng cách phơi lá cây này trong bóng râm cho đến khi khô, đem nghiền thành bột dùng vào buổi sáng và buổi chiều, mỗi lần nửa muỗng cà phê bột lá xoài pha loãng với ly nước đầy.

    – Vì bài thuốc này giúp làm giảm lượng đường trong máu rất là công hiệu nên cần lưu ý không áp dụng nhiều lần trong ngày vì có thể khiến cho lượng đường huyết giảm quá thấp gây nên chứng hạ đường huyết rất nguy hiểm.

    – Không nên uống nước lá xoài gần với các loại thuốc khác, tốt nhất là uống cách nhau chừng 2 – 3 tiếng để không làm ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ các loại thuốc điều trị khác.

    Thẻ: Cao đẳng Dược Hà Nội, Trung cấp Dược, Trung cấp y, Xét tuyển Cao đẳng Dược Hà Nội, Cao đẳng Y Dược.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khám Chữa Bệnh Da Liễu Tại Bệnh Viện Y Học Cổ Truyền Trung Ương
  • Các Phương Pháp Điều Trị Hysteria Theo Y Học Cổ Truyền
  • Hướng Dẫn Khám, Chữa Bệnh Tại Bệnh Viện Y Học Cổ Truyền Trung Ương
  • Lập Cơ Sở Khám Chữa Bệnh Y Học Cổ Truyền
  • Phương Pháp Chữa Bệnh Bằng Thuốc Y Học Cổ Truyền
  • Chữa Lao Xương Khớp Hiệu Quả Theo Phương Pháp Y Học Cổ Truyền.

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Chữa Thoát Vị Đĩa Đệm Cột Sống Cổ, Thắt Lưng Tại Nhà
  • Yumeiho Therapy: Lịch Sử, Mô Tả Về Công Tác Đào Tạo. Lời Chứng Thực
  • Căn Nhà 80M3 Gỗ Của Chi Cục Trưởng Kiểm Lâm Quảng Trị
  • Phương Pháp ‘zeroing’ Trong Thực Thi Luật Chống Bán Phá Giá Của Hoa Kỳ
  • Ấn Độ Tìm Kiếm Việc Cấm Phương Pháp Zeroing
  • Theo y học cổ truyền lao xương khớp gọi là “cốt cao” hoặc “lưu đàm”. Nguyên nhân sinh bệnh lao xương khớp là do tiên thiên bất túc, tinh huyết của can thận bị hao tổn, xương bị yếu, đàm độc nhân thể xâm phạm làm khí huyết ngưng trệ mà gây nên bệnh. Tùy từng giai đoạ của bệnh, tổn thương thực thể và triệu chứng toàn thân mà dùng bài thuốc phù hợp để điêu trị như sau:

    Dùng bài Dương hòa thang: thục địa 40g, cao ban long 20g, bạch giới tử 4g, ma hoàng 4g, quế chi 6g, tục đoạn 12g, ngưu tất 12g, cam thảo 4g. Sắc uống.

    Nếu sợ lạnh, lưỡi đậm, mạch phù, thêm phụ tử chế 12g.

    Nếu ăn uống kém, đại tiện lỏng, thêm đảng sâm, hoàng kỳ, bạch truật, mỗi vị 12g.

    Biểu hiện của bệnh: các chứng trạng tại khớp xương bị lao rõ ràng kèm theo sốt về chiều, ra mồ hôi trộm, ăn uống kém, miệng khô, lưỡi đỏ, mạch tế sác.

    Dùng bài Cốt lao thang gia giảm: thạch cao 8g, miết giáp 20g, sài hồ 12g, địa cốt bì 12g, mẫu đơn bì 12g, xuyên tục đoạn 12g, ngưu tất 12g, đào nhân 8g, hồng hoa 4g. Sắc uống ngày 1 thang. Nếu mồ hôi trộm, thêm mẫu lệ 40g, thấy ổ áp-xe lạnh, thêm kim ngân hoa 20g, bối mẫu 8g, liên kiều 16g.

    Biểu hiện của bệnh: Các chứng trạng ở khớp, xương, cơ rõ ràng biến dạng các khớp và xương, rò mủ lao, tinh thần mệt mỏi, sức khỏe yếu, sốt, ăn uống kém, hồi hộp, ra mồ hôi trộm, sắc lưỡi đỏ, mạch tế sác.

    Dùng bài Bát trân thang: thục địa 16g, đương quy 12g, xuyên khung 12g, bạch thược 16g, quy bản 12g, kỷ tử 12g, đảng sâm 16g, bạch truật 12g, phục linh 12g, cam thảo 4g, hoài sơn 16g, kê nội kim 8g. Sắc uống.

    Nếu có biểu hiện thể âm hư hỏa vượng hay mất ngủ, ra nhiều mồ hôi trộm, dùng bài Đại bổ âm hoàn thang: quy bản 16g, thục địa 16g, tri mẫu 12g, hoàng bá 12g, ngũ vị tử 6g, toan táo nhân 6g, bá tử nhân 12g, long cốt 16g, mẫu lệ 20g. Sắc uống ngày 1 thang.

    Sau khi bệnh đã ổn định đề phòng tái phát có thể dùng bài thuốc Cốt lao thang. Sắc uống 7-10 ngày là một liệu trình. Nghỉ 3 ngày lại sắc tiếp một liệu trình mới. Sắc uống 3-6 liệu trình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chữa Béo Phì Đơn Giản Bằng Phương Pháp Y Học Cổ Truyền
  • Y Học Cổ Truyền Hà Nội
  • Phương Pháp Yoga Kể Chuyện
  • Các Bước Của Quá Trình Tạo Hạt Ướt
  • Phương Pháp Tạo Hạt Khô Và Dập Thẳng Để Điều Chế Viên Nén
  • Phương Pháp Khám Và Chẩn Đoán Bệnh Theo Y Học Cổ Truyền

    --- Bài mới hơn ---

  • Chữa Bệnh Tiểu Đường Hiệu Quả Bằng Phương Pháp Y Học Cổ Truyền
  • Chữa Dứt Điểm Bệnh Mất Ngủ Bằng Phương Pháp Y Học Cổ Truyền
  • Ứng Dụng Y Học Cổ Truyền Trong Chăm Sóc Và Điều Trị Ung Thư
  • Dịch Vụ Khám Và Điều Trị Bằng Y Học Cổ Truyền
  • Điều Trị Bằng Y Học Cổ Truyền
  • Phương pháp khám và chẩn đoán bệnh theo y học cổ truyền

    Nội dung cụ thể.

    Vấn chẩn.

    Vấn chẩn là một phần trọng yếu của tứ chẩn, thông qua vấn chẩn gợi cho chẩn đoán chính xác. Nội dung chính của vấn chẩn gần giống như y học hiện đại, vừa phải giải thích triệu chứng đau hiện tại vừa phải hiểu được quá trình phát bệnh, nguyên nhân và khái quát quá trình bệnh nhân đã điều trị, phản ứng của bệnh sau uống thuốc hoặc châm. Khái quát bệnh sử và tập quán sinh hoạt, ăn uống, tình hình tư tưởng và gia đình… vấn chẩn có những đặc điểm riêng, y học xưa có người đặt thành bài ca thập vấn để khỏi quên thứ tự khám xét:

    “Nhất vấn hàn nhiệt, nhị vận hãn

    Tam vấn ẩm thực, tứ vận tiện

    Ngũ vấn đầu thân, lục vấn phúc hung

    Thất vấn tai, bát vấn khát, cửu vấn bệnh cũ

    Thập vấn nhân”

    Ngoài ra, hỏi về uống thuốc, riêng nữ giới hỏi về kinh, đới thai sản, trẻ em vấn đề sởi đậu.

    Vấn hàn nhiệt, hãn: phải hỏi rõ có sốt hay không sốt, mức độ nặng nhẹ của sợ gió lạnh, sợ rét nóng, đặc biệt của phát sốt, có mồ hôi hay không có mồ hôi, tính chất nhiều ít thế nào ?

    Bệnh mới mắc phát sốt, sợ lạnh là biểu chứng ngoại cảm, sốt ít, sợ lạnh nhiều, không có mồ hôi là biểu chứng ngoại cảm phong hàn, nếu sốt cao, sợ lạnh ít, có mồ hôi là biểu chứng ngoại cảm phong nhiệt.

    Lạnh rồi lại sốt, sốt rồi lại lạnh là chứng hàn nhiệt vãng lai, nếu thời gian phát bệnh ngắn kèm theo họng đắng, miệng khô, đầu choáng, mắt hoa, ngực sườn đầy tức là chứng “bán biểu bán lý”.

    Phát sốt, không sợ lạnh, có mồ hôi, miệng khát, tiện bế là chứng lý thực nhiệt.

    Bệnh mãn tính: thường bệnh nhân cố sốt nhẹ về chiều, ngực và lòng bàn tay, bàn chân nóng (ngũ tâm phiền nhiệt), gò má đỏ, môi khô, tự hãn là âm hư sinh nội nhiệt thường sợ lạnh, đoản khí vô lực, tự hãn là dương hư.

    Vấn đề đầu, thân, ngực, bụng: chủ yếu là hỏi về vị trí đau, tính chất đau và thời gian đau.

    Đầu đau, chóng mặt, đau đầu liên tục, đau ở hai bên thái dương kèm theo phát sốt sợ lạnh thường là do ngoại cảm (cảm mạo), nếu lúc đau, lúc không có kèm theo huyễn vựng, không rét, không nóng thường là do chứng bệnh nội thương thuộc lý, nếu đau nửa đầu đa phần do nội phong hoặc huyết hư, đau đầu sáng sớm, khi mệt mỏi đau tăng thường do dương hư, đau đầu buổi chiều thường do huyết hư, đau đầu giữa đêm thường do âm hư. Đau đầu, huyễn vựng, mắt đỏ, miệng đắng là do can thương hỏa thịnh. Đầu choáng, tâm quí, khí đoản, vô lực thường do khí huyết đều hư. Đột nhiên nhức như căng đầu ra thuộc thực chứng, lâu ngày thuộc hư chứng. Đau nhức nặng như ghì xuống, như mặc giáp thường thuộc về chứng thấp.

    Đau thân thể, toàn thân đau mỏi, phát sốt, sợ lạnh do ngoại cảm, đau thân thể lâu ngày đa phần là do khí huyết bất túc, phần lưng đau mỏi do thận hư, khớp tứ chi, cơ nhục, cân cốt đau mỏi, tê nhiều hoặc sưng khớp, đau di chuyển nhiều hoặc cố định phần nhiều do phong hàn thấp tý.

    Đau ngực, đau ngực phát sốt, ho, nôn máu (nục huyết) phần nhiều phế ung thũng (dãn phế quản, u phế quản), đau ngực triều nhiệt, ho khan, ít đàm, trong đàm có dây huyết do phế lao thương (phế kết hạch), u phổi. Đau ngực hướng lan ra sau lưng và lên vai hoặc đau xương ức, cảm giác nặng vùng tim là hung tý (chú ý tâm giao thống), hiếp thống thường do can khái không thư thái (căng thẳng kéo dài).

    Phúc thống: chỉ đau bụng trên, hay oẹ hoặc nôn ra nước trong thuộc vị hàn, đau chướng bụng trên hay ợ chua, có thể do thực trệ, quanh rốn đau tức, lúc đau, lúc không, khi đau như có hòn cục nổi lên thường do giun đũa. Đau bụng phát sốt tiết tả hoặc hạ lợi (có máu), lỵ cấp hậu trọng phần nhiều do thực chứng thấp nhiệt. Đau bụng lâm râm, đại tiện lỏng nát, sợ lạnh, tứ chi lạnh phần nhiều là chứng hư hàn thấp. Nói chung đau đột ngột, dữ dội là thực, đau lâu là hư, đau sau khi ăn, bụng chướng là thực, sau khi ăn đau giảm, vị trí đau cố định, đau đớn kịch liệt, khi ấn đau tăng (cự án) là thực, còn đau âm ỉ, vị trí không cố định, khi ấn đau giảm hoặc thiện án là hư.

    Vấn đề ăn uống (ẩm thực): phải hỏi bệnh nhân tỉ mỉ về cảm giác thèm ăn, lượng ăn, khẩu vị, phản ứng sau khi ăn và cảm giác khát. Người bệnh ăn uống bình thường chứng tỏ vị khí không tổn thương, không muốn ăn uống lại hay buồn nôn hay ợ là vị có tích trệ; ăn nhiều hay đói là vị thực hỏa (chú ý chứng tiêu khát), miệng khát, thích uống nước mát phần nhiều là vị nhiệt thương âm, miệng khát thích uống nước ấm nóng thường là do vị dương bất túc; miệng khát, không khát hoặc do biểu chứng chuyển vào lý hoặc do chứng lý dương hư hàn thịnh, miệng khô không muốn uống là tỳ hư thấp thịnh. Bệnh nhân đắng miệng là can đởm có nhiệt, miệng chua là trường vị tích trệ, trong miệng lở loét thường là tỳ có thấp nhiệt, miệng nhạt là hư chứng.

    Vấn đề đại, tiểu tiện: phải hỏi rõ số lần, tính chất có máu hay không có máu.

    Đại tiện táo kết, khô ráo khó đi, phát sốt thuộc chứng nhiệt (thực chứng), bệnh lâu, mới đẻ, người già tiện bí kết thường thuộc chứng khí hư hoặc tân hao.

    Đại tiện lỏng nát, trước đại tiện không đau bụng là do tỳ vị hư hàn, trước ngủ dậy (sáng sớm) đau bụng, ỉa lỏng (gọi là ngũ canh tiết) thường do thận dương hư, đại tiện lỏng như nước, phản xạ mót dặn, nóng ở giang môn là vị trường có nhiệt, đại tiện phân chua, bạc màu, nhiều bọt, bụng đau phúc tả, sau tả đau giảm là thực trệ.

    Đại tiện nùng huyết “lỵ cấp hậu trọng”, bụng đau phát sốt là thấp nhiệt hạ lợi, đại tiện phân có giây máu, sắc tươi hồng là mới xuất huyết, đại tiện phân hồng đen là máu cũ.

    Tiểu tiện lượng nhiều mà trong, trắng phần nhiều là hư hàn; trong trắng nhiều lần (phiền số) thậm chí đái són là khí hư. Tiểu tiện ít mà vàng thuộc nhiệt hoặc tiểu đục, đái buốt, tiểu khó khăn phần nhiều do thấp nhiệt.

    Tiểu tiện nhiều về đêm hoặc trong giấc ngủ di niệu là thận hư, niệu cấp, nhiều lần, buốt, dắt, bài niệu khó khăn hoặc nước tiểu có máu, sa thạch phần nhiều do lâm chứng. Miệng khát uống nhiều, tiểu tiện nhiều, toàn thân gầy nhanh là tiêu khát (đái tháo đường). Đột nhiên phát sinh niệu bế, bàng quang đau nhiều, phát sốt là thực chứng, lượng nước tiểu giảm ít, thậm chí vô niệu, sắc mặt trắng bệch, đau thắt lưng, tay chân lạnh là hư chứng.

    Vấn về giấc ngủ (thùy miên): phải hỏi rõ vào giấc ngủ khó hay dễ, buổi tối khó vào giấc ngủ, ăn kém, gầy gò vô lực, tâm quí kiện vong, tinh thần hoảng loạn là tâm tỳ lưỡng hư phần nhiều do ưu tư quá độ, hư phiền không ngủ được, triều nhiệt tự hãn, lưỡi đỏ, ít tân, mạch tế là âm hư. Trong trường hợp mất ngủ sau khi ốm nặng hoặc là người già khí huyết lưỡng hư, khí huyết hư thường dẫn đến mất ngủ. Đêm ngủ không yên giấc, thiếu ngủ, tâm phiền, miệng lưỡi sinh mụn nhọt, đầu lưỡi đỏ là tâm hỏa vượng thịnh, mất ngủ, hay mộng, đau đầu, miệng đắng, hay giận dữ, cáu gắt là can hỏa vượng thịnh. Trong mộng kinh sợ nhiều là đởm khí hư hoặc vị nhiệt. Mơ mộng nhiều, chi thể gầy gò, ngủ nhiều, giấc ngủ không sâu là khí hư, sau khi ăn mệt mỏi, muốn ngủ đa phần là tỳ khí bất túc. Sau khi ốm ngủ tốt là chính khí đã hồi phục. Mình nặng, mạch hoãn, ngủ nhiều là thấp thắng.

    Vấn về tai ù: thận can đởm có quan hệ chặt chẽ với tai, ù tai nhiều, đột ngột là can đởm hỏa vượng thực chứng, ù tai nhiều ngày kéo dài là thận hư, khí hư. Trong ôn bệnh xuất hiện tai ù là nhiệt tà thương âm, tai ù kèm theo tâm quí, đầu chóng là hư chứng, nếu kèm theo tức ngực, sườn đau, miệng đắng, đại tiện táo kết, hay nôn mửa đa phần thuộc thực chứng.

    Thai phụ bệnh, ngoài đặc điểm vấn như trên, vẫn phải chú ý.

    Người bệnh là nữ phải hỏi tỉ mỉ kinh nguyệt, đã kết duyên hay chưa (bao gồm dậy thì, chu kỳ, tính chất của kinh nguyệt nhiều hay ít, có hay không có thống kinh, mầu sắc khí vị bạch đới) và hỏi khả năng sinh dục (số lần có thai, đẻ, có khó đẻ hay không, xảy thai…)

    Về kinh nguyệt: kinh gnuyệt lượng nhiều, đỏ thẫm mà đặc, miệng đắng, môi đỏ là huyết nhiệt, kinh huyết tím đen, có máu cục đa phần thuộc thực chứng. Kinh nguyệt kéo dài, kinh huyết lượng ít, đỏ nhợt mà loãng, sắc mặt vàng nhợt là huyết hư, nếu chi lạnh, mặt trắng là hàn thực, nếu huyết xám tím thành cục, bụng dưới đau đớn cự án hoặc chướng to là khí trệ huyết ứ. Kinh nguyệt huyết có mùi hôi là chứng nhiệt, có mùi tanh là chứng hàn. Bạch đới trong, lỏng mà tanh là hư hàn, vàng đặc mà hôi là thấp nhiệt. Sau đẻ sản dịch rong kinh kéo dài kèm theo bụng đau cự án là huyết ứ.

    Đối với bệnh thiếu nhi đều phải hỏi rõ thời kỳ dậy thì (phát dục), tiền sử có bị đậu mùa, sởi hay không, sau cùng là chú ý đến ăn uống và nuôi dưỡng.

    Vọng chẩn.

    Là thông qua quan sát trạng thái chung, thần, sắc, hình thái mắt, môi và quan sát lưỡi giúp thêm cho chẩn đoán về tính chất bệnh. Trẻ em từ ba tuổi trở xuống, có thể xem “chỉ văn” để giúp thêm cho chẩn đoán.

    Trạng thái chung: tinh thần uỷ mị, ánh mắt không thần, da mặt xanh bệu trệ, sắc mặt sáng tối, không sáng thường biểu hiện chính khí tổn thương, sắc mặt trắng bệch, da trông khô, môi nhợt phần nhiều do huyết hư, sắc mặt vàng bủng do tỳ hư, bệnh lâu ngày, sắc mặt xám đen phần nhiều do thận hư, hai gò má đỏ về chiều, có sốt thường do âm hư sinh nội nhiệt, bệnh nhi có gò má hồng đỏ, quanh môi lại xanh tím là can phong. Trong màu sắc của các loại bệnh nhìn chung: nhuận sáng là bệnh tương đối nhẹ, xám tối là nặng. Trong các bệnh ôn nhiệt hoặc trẻ con bị cấp kinh phong, vận động nhãn cầu không linh hoạt, lúc cố định, lúc nhìn lên hoặc nhìn thẳng hoặc nhìn lệch, đa phần thuộc can phong nội động hoặc đàm nhiệt tụ bế, đây là một trong những triệu chứng của tiểu nhi kinh phong. Trong bệnh trẻ em mà không có mồ hôi, lỗ mũi khô, không có dịch thường là chứng nặng, sắc mũi trắng bệch là khí huyết hư nhược. – Hình thái: hình thế tiều tụy, chi thể gầy gò, bì phu khô ráo là khí huyết hư nhược, hư bệu, ăn kém là tỳ hư có đàm; hình gầy, ăn ít là trung khí hư nhược, hình gầy ăn nhiều là trung tiêu có hỏa, da toàn thân thấy vàng, củng mạc, kết mạc phát vàng là hoàng đản; sắc vàng thẫm, tươi như quất bì, phát sốt là do dương hoàng (phần nhiều là cấp tính). Toàn thân phù thũng, bệnh tăng dần, khớp chi nặng nề, đau mỏi hoặc kèm theo sợ lạnh, sợ gió là thủy khí nội đình, phong tà xâm nhập, mình nặng tinh thần mệt mỏi là thấp nặng, lưng mỏi, chi lạnh, sắc mặt ám tối là thận dương hư. Hạ chi phù thũng, sắc mặt vàng bủng, ăn không ngon, bụng chướng, đại tiện lỏng nát là tỳ dương hư. Ngoài ra xuất hiện ban chẩn (dạng điểm là chẩn, dạng phiếu là ban) đa phần là nội nhiệt. Bệnh ôn nhiệt nặng là nhiệt vào huyết phận, ban chẩn sắc tươi, sắc hồng nhuận là bệnh nhẹ, sắc xám tối là bệnh nặng.

    Các loại u ác tính.

    Saccom: thường gặp ở người trẻ, gặp ở nam giới hai lần nhiều hơn nữ, vị trí gặp ở hai phần ba phía sau của lưỡi, u cứng, mầu trắng, có tính chất đàn hồi, phát sinh ở bề sâu của lưỡi.

    Ung thư biểu mô: thường gặp ở người có tuổi (40 – 60), người nghiện thuốc lá nặng, có đám vẩy trắng ở niêm mạc lưỡi (do sự kích thích trường diễn của thuốc lá), ở người có vết loét giang mai ở lưỡi. Lâm sàng thể hiện lúc đầu một đám (vết) tổn thương không đau, nhẵn, bóng như vết khảm, mềm, không chảy máu. Đám này lớn rộng dần, trở nên cứng, mầu chuyển thành xám, diện gồ ghề, hơi đau và dễ chảy máu khi chạm tới. Theo vị trí ung thư lưỡi ở đầu lưỡi, ở viền lưỡi, ở cuống lưỡi, khi khám thấy có hạch ở dưới hàm, vùng cổ kèm theo, chẩn đoán bằng sinh thiết làm xét nghiệm giải phẫu bệnh học.

    Các thương tổn lưỡi của bệnh giang mai: khi khám lưỡi thấy các đám niêm mạc lột bong đi lộ ra các nền trống trên lưỡi được ví như các mảnh ruộng đã được giặt sạch.

    Bệnh lưỡi và niêm mạc miệng.

    Niêm mạc miệng và lưỡi có vết loét ở bờ lưỡi thành vệt màu trắng xám, kèm theo có hạch đau. Theo Bergeron là do một loại giống xoắn khuẩn.

    Viêm lưỡi do thuốc (cả viêm niêm mạc miệng): thường do bismuth, vàng, asen. Tùy theo thuốc dùng mà có triệu chứng như khô niêm mạc miệng lưỡi, có vị kim loại, đau răng, đau khi nhai, nếu do bismuth thì có vết xanh đen ở niêm mạc miệng lưỡi, do vùng loét có mầu xà cừ, do asen loét có mầu hoại tử.

    Viêm lưỡi mất gai lưỡi do nhiều nguyên nhân.

    Thiếu máu ác tính (viêm lưỡi Hunter) niêm mạc lưỡi nhợt nhạt mà đau, nhẵn, bóng, mất gai, lưỡi teo toàn bộ bề mặt hoặc teo 1/2 phần trước mặt dưới lưỡi, cần xét nghiệm máu để phát hiện thiếu máu ưu sắc có nhiễm tiểu cậu nhẹ, viêm lưỡi Moeller cũng do thiếu máu ác tính biểu hiện ở lưỡi bằng các vệt đỏ hoặc nhợt nhạt hình bầu dục rải rác trên mặt lưỡi, đau dữ dội ở các vết đó khi đụng vào.

    Viêm lưỡi do thiếu máu nhược sắc, thiếu dưỡng chất, biểu hiện viêm lưỡi mất gai, khô, đau niêm mạc miệng, cần xét nghiệm máu (số lượng hồng cầu gần bình thường nhưng huyết sắc tố giảm mạnh, xét nghiệm dịch vị không có HCL, thiếu dưỡng chất).

    Viêm lưỡi do thiếu Vitamin C: viêm lưỡi mất gai, nhẵn, bóng, giảm tiết nước bọt, tổn thương móng tay, chân, mồ hôi giảm (móng lõm, rối loạn tiêu hóa với thiểu toan).

    Hội chứng Gougerch – Sjoegren: viêm miệng khô, viêm lưỡi mất gai (cả khô mắt)

    Viêm lưỡi mất gai thành đám: cần xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán để xác định hoặc loại trừ, có thể do sâu răng, rối loạn tiêu hóa, đái đường.

    Viêm lưỡi hình thoi trung tâm: mặt lưỡi nhẵn, đôi khi hơi tím và có bạch cầu nhẹ, đôi khi mất mô, giải phẫu bệnh lý có tăng gai, nguyên nhân chưa rõ, có thể là một loại bột (novi); lưỡi địa đồ gồm nhiều đám mất gai đỏ và nhẵn, có một viền trắng bao quanh vằn vèo vẽ thành như hình địa đồ, không đau, kéo dài vô tận, chưa rõ nguyên nhân.

    Viêm lưỡi do nấm mốc: xét nghiệm tìm Candida albicans có cả viêm miệng môi (tứa miệng, lưỡi).

    Liken phẳng ở lưỡi: cần khám niêm mạc miệng ở lưỡi hình mạng lưới, hình vàng hoặc hình rêu dương xỉ, trắng đục, gờ cao.

    Bạch sản (leucoplasie)thường chỉ gặp ở nam giới, nhẹ thì trông như một mạng trắng, đục, nhẵn đồng đều, ranh giới không rõ. Nặng và để lâu thì như đám trắng xà cừ đục, bề mặt nhẵn hoặc có khía ô vuông, vách mặt trên như có bự niêm mạc, ở chỗ đó không mềm mại, cần làm sinh thiết vì bạch sản dễ làm ung thư.

    Lưỡi đen hay gặp tương đối, mầu có thể từ nâu hoặc đen thật sự: phân chia thành hai loại.

    Lưỡi đen có nhung mao, gai lưỡi phì đại, xù xì màu đen và có lẽ do chất sừng tạo ra.

    Lưỡi đen do thuốc, do dùng thuốc súc miệng hoặc thuốc khác có tính oxy hóa làm phì đại gai lưỡi và sẫm màu.

    Đau lưỡi là một cảm giác đau cảm nhận thấy ở một điểm cố định ở lưỡi hoặc ở một phần lớn của lưỡi, nhìn qua không phát hiện được những biến đổi ở lưỡi, thường xuất hiện ở những người có trạng thái tâm lý (bị ám ảnh, sợ ung thư), khám kỹ lưỡi sẽ thấy ở trên một vùng lưỡi nào đó có phì đại gai lưỡi dạng chỉ. Các gai này lởm chởm, đỏ chói, thường rất đau khi chạm vào, dù rất nhẹ. Hiện tượng viêm gan này bề ngoài có vẻ nguyên phát và có lẽ là nguyên nhân của đau vì khi đốt điện nông các gai viêm này thì hết đau lưỡi, người ta phát hiện có giãn tĩnh mạch dưới lưỡi. Căn nguyên thường khó xác định, có thể do viêm lợi, răng, do liken phẳng không nhìn thấy, do sản sinh ra các hóa chất hoặc dòng điện từ răng giả hoặc chất hàn răng, do rối loạn tiêu hóa làm biến đổi pH nước bọt… cũng có thể do viêm gai nhiễm khuẩn (do liên cầu khuẩn).

    Lưỡi to mập, bệu, chắc nhưng cử động lưỡi khó; gặp trong bệnh to mặt và các chi, lưỡi miệng hầu dầy.

    Cần phân biệt với các trạng thái dị dạng bẩm sinh về hình thể lưỡi sau đây.

    Lưỡi to bẩm sinh: ngay sau khi mới đẻ do sự phát triển quá nhiều tổ chức cơ, tổ chức tuyến, tổ chức bạch mạch. Do lưỡi quá to nên chèn các bộ phận khác trong miệng, làm lệch vẹo vị trí các răng.

    Lưỡi rụt ngắn bẩm sinh: do ngắn bẩm sinh đoạn nối lưỡi với nền miệng nên không thè lưỡi ra được và do đó cử động lưỡi bị hạn chế.

    Tuyến giáp lạc vị trí và ở ngay trên viền lưỡi, nơi tiếp giáp đường viền nhú dạng đài với thanh nhiệt. Khi khám thấy có phần gồ ở nền lưỡi, có tổ chức tuyến giáp và màng lưới mạch máu phong phú.

    Biến đổi màu sắc lưỡi.

    Bình thường chất lưỡi hồng tươi, khi thiếu máu có phù to do albumin huyết tương giảm, mầu lưỡi sẽ trắng nhợt.

    Khi có tăng sinh các huyết quản có xung huyết, mầu lưỡi thường xẫm.

    Khi có ứ trệ lưu thông huyết, mầu lưỡi thường xanh tím.

    Biến đổi độ ẩm lưỡi: lưỡi khô khi trạng thái cơ thể bị thiếu nước (mất nước do đi lỏng, nôn nhiều, do ra quá nhiều mồ hôi), khi lượng nước bọt bị giảm do sự tiết các tuyến nước bọt kém hoặc bị ức chế thần kinh.

    Biến đổi cử động lưỡi: khi thương tổn dây thần kinh vận động của lưỡi và ở một số trạng thái nhiễm độc, nhiễm khuẩn, cử động lưỡi không được bình thường. Khi khám lưỡi yêu cầu người bệnh há miệng để xem lưỡi có đúng vị trí không, bảo người đó thè lưỡi, rụt lưỡi xem lưỡi có được đưa ra và trở lại theo đúng với đường giữa hoặc lệch về một bên. Cũng cần khám xem có hiện tượng teo các nhóm cơ lưỡi không.

    Biến đổi niêm mạc lưỡi.

    Lớp biểu mô của niêm mạc lưỡi dầy lên do tăng sinh và sừng hóa, thường gặp ở những người nghiện thuốc lá, thuốc lào, khi khám thấy có những đám trắng bệch, dày ở lưỡi.

    Lớp niêm mạc lưỡi có những rãnh nứt, có những vết trợt loét.

    Rêu lưỡi xám trắng, có mùi hôi, thường gặp ở người có viêm dạ dày cấp.

    Lưỡi khô, khi ổ bụng có những biến chứng nặng, khi người bệnh bị viêm tụy cấp.

    Lưỡi viêm có các vết trợt và chuyển dần sang màu đỏ bóng (như sơn mài) khi bị bệnh viêm teo mãn tính niêm mạc đại tràng có đi lỏng mãn tính.

    Lưỡi màu đen hoặc đỏ tía như màu sơn mài thường gặp ở người bị xơ gan.

    Lưỡi teo, các nhú lưỡi mất, thường gặp ở người ung thư dạ dày, viêm teo dạ dày có giảm nặng các chức phận tiết của dạ dày.

    Bệnh truyền nhiễm.

    Lưỡi khô, có rêu dày, màu nâu xẫm ở cuống lưỡi và giữa lưỡi, còn phía bờ viền, quanh lưỡi, đầu lưỡi không có rêu và nhìn thấy vết hằn của răng, gặp ở các bệnh thương hàn, phó thương hàn. Trong các bệnh này ở thời kỳ khỏi bệnh; lưỡi hơi trắng ở thời kỳ toàn phát, lưỡi bự trắng, có các rêu mầu nâu xẫm hoặc đen trông như lưỡi lợn quay, lưỡi co nẻ khô lại như lưỡi vẹt, còn viền quanh lưỡi, đầu lưỡi màu đỏ rừ.

    Lưỡi khô, môi và niêm mạc miệng khô; bệnh dịch tả thể hiện trạng thái mất nước nhiều.

    Lưỡi và môi khô, rêu lưỡi trắng; bệnh dịch hạch.

    Lưỡi đỏ tía; bệnh hồng ban.

    Bệnh thiếu sinh tố.

    Lưỡi đỏ tươi, phù, có các vết loét gây đau, gặp trong bệnh thiếu sinh tố PP.

    Lưỡi đỏ tươi, bóng, ánh nhẵn (do teo lớp gai lưỡi), hình thể lưỡi dẹt, có thể có các vết loét ở viền lưỡi và đầu lưỡi, ở niêm mạc miệng; còn thấy hiện tượng teo lớp niêm mạc ở miệng, ở thành sau hầu, hiện tượng hà răng phát triển gặp trong thiếu sinh tố B12.

    Lưỡi viêm cùng với niêm mạc miệng; gặp trong thiếu sinh tố B2.

    Trạng thái nhiễm khuẩn nặng, nhiễm độc nặng: (lưỡi khô, rêu lưỡi xám xẫm, có khi có mầu vàng đen, có những đường nứt ở niêm mạc lưỡi, rêu mầu vàng có quan hệ đến sự phát triển của các quá trình nhiễm độc, nhiễm khuẩn nặng, sức chống đỡ của cơ thể giảm sút nhiều, các rối loạn vi tuần hoàn nặng, số lượng vi khuẩn, nấm xâm nhập nhiều).

    Trạng thái dị ứng thuốc như: dị ứng penixilin, lưỡi bị viêm loét, có đám gai lưỡi bị lột đi.

    Lý luận về “thiệt chẩn”. Vị trí của “thiệt chẩn” trong chẩn đoán bệnh; thiệt chẩn (xem lưỡi) là một bộ phận quan trọng trong chẩn đoán đông y. Việc xem lưỡi đối với đông y rất tỷ mỉ, chi tiết. Từ việc xem lưỡi mà hiểu được thực, hư của tạng phủ, tính chất của ngoại tà, vì vậy ở mức độ nhất định có thể giúp thêm cho chẩn đoán.

    Rêu lưỡi và mầu sắc của rêu lưỡi.

    Rêu lưỡi do vị khí mà hình thành: bình thường ở người khoẻ mạnh rêu trắng sáng bóng, mà ướt, mỏng. Cũng có khi màu hơi vàng nhạt, mỏng, khô vừa phải. Mùa hè rêu dày hơn một chút. Khi xem bệnh phải xem rêu lưỡi dày hay mỏng, màu sắc gì, nhuận hay khô, nhờn dính hay nát vụn…Khi khám lưỡi phải phân biệt với một số biểu hiện giả vì một số thức ăn, một số vị thuốc có thể làm cho mầu sắc rêu lưỡi thay đổi. Theo Mã Triệu Nhi (1959), khi cạo rêu lưỡi mà vẫn thấy còn rêu ở mặt bề mặt lưỡi đó là rêu thực. Rêu thực do vị khí mà có, rồi tà khí kết lại mà hình thành. Rêu giả khi cạo lưỡi thì rêu mất hẳn, lưỡi sạch. Rêu giả do trọc khí ngưng tụ mà có hoặc do vị khí hư suy nên các lớp rêu mới không hình thành được vì thế trên mặt lưỡi không còn được nối tiếp liên tục (không có rễ nối với sinh khí ở trong)

    Tiên lượng bệnh thuận lợi hơn khi có rêu thực. Song khi đã có rêu thực rồi, sau đó diễn biến xấu không có rêu mới sau khi cạo lưỡi là vị âm đã khô kiệt, khí sinh phát đã không còn nữa, đó là biểu hiện của bệnh nặng. Khi chỉ có rêu giả nhưng sau đó hình thành rêu thực là trọc khí ở vị tràn lên hoặc nhiệt tà thịnh lên dần.

    Rêu lưỡi hình thành trên khắp bề mặt lưỡi mỏng là tà khí ở biểu, rêu lưỡi dày là tà khí vào lý, nếu rêu đang dày trở nên không có rêu là sức khoẻ tốt, bệnh giảm hoặc có thể rêu đang dày trở nên trắng mỏng là tà khí đã lui.

    Vì vậy quan sát sự hình thành và biến đổi của rêu lưỡi cũng có thể giúp thêm cho tiên lượng bệnh.

    Nếu rêu lưỡi lúc đầu dầy, sau mỏng dần và thưa, rồi dần dần rêu lưỡi hết từ gốc trước rồi dần dần ra đầu lưỡi, sau đó xuất hiện một rêu lưỡi non mới màu trắng, mỏng sáng bóng, ướt cũng từ phía trong ra như thế là hiện tượng tốt vì vị khí hồi phục dần, cốc khí tiến bộ dần.

    Nếu rêu mọc dầy rồi đột nhiên biến mất, lưỡi trở nên bóng, sáng, khô, trơn (như vecni) đó là vị khí đã tuyệt, bệnh nguy kịch (chứng nghịch).

    Bệnh mới phát, còn nhẹ có rêu mỏng, khi rêu trở nên dày là tà khí đã vào lý, sâu hơn là ở trong có sự ngưng trệ.

    Rêu lưỡi ướt nhuận là có thấp, rêu lưỡi khô ráo là có nhiệt. Nhưng cũng có khi thấp tà truyền vào khí phận, khí không hóa được tân thì rêu lưỡi cũng khô, hoặc nhiệt tà vào huyết phận nhiễu động âm khí thì rêu lưỡi cũng trở nên nhuận, do đó phải kết hợp với tứ chẩn mới có thể xác định đúng được.

    Rêu nhuận là tân dịch chưa bị hao tổn, rêu khô là tân dịch đã bị hao tổn.

    Rêu nát như bã đậu, cạo chùi đi là sạch ngay là dương khí hữu dư còn có thể hóa được trọc khí ở vị.

    Rêu nhờn dính, trơn, che kín cả lưỡi, cạo không hết, chùi không sạch, thấy có niêm dịch, đó là dương khí bị đàm ẩm, thấy trọc tính trệ ức chế. Màu sắc rêu lưỡi: do bệnh tình có hàn, có nhiệt nên màu sắc rêu cũng có sự thay đổi khác nhau; rêu lưỡi có thể trắng, vàng, màu xám tro, màu đen.

    Rêu lưỡi trắng: là thuộc chứng hàn, chứng hư hàn cũng có thể thuộc chứng nhiệt nếu có chất lưỡi đỏ. Rêu màu trắng mỏng là bệnh tà còn ở phần biểu, chủ về phong hàn.

    Rêu trắng mỏng là ngoại cảm phong hàn. Nếu ở trong có nhiệt mà ngoài bị cảm phong hàn thì rêu trắng mỏng mà chất lưỡi đỏ hồng.

    Rêu trắng dày, khô là nhiệt tà nhẹ, làm hao tân dịch mà trọc khí chưa hóa được.

    Rêu trắng như phấn đọng là biểu hiện của bệnh ôn dịch nhẹ hoặc là do thử tà với thấp tà ở kinh phế sinh ra.

    Rêu lưỡi vàng: thuộc chứng nhiệt, màu vàng càng thẫm thì nhiệt càng cao. Rêu vàng là tà đã vào lý. Rêu vàng mỏng là do ngoại cảm phong nhiệt; rêu vàng, nhờn, dính là thấp nhiệt hoặc đàm nhiệt thực trệ ở trung tiêu. Rêu vàng mỏng, khô là tân dịch đã bị tổn thương, nhưng tà còn nhẹ (rêu mỏng), nếu rêu vàng dầy, khô là bệnh nặng hơn, thường có kèm theo chứng đại tiện bí kết. Rêu vàng mà khô là màu xám tro, trơn, ướt là hàn thủy hại thổ, thường gặp ở các chứng ỉa lỏng, thổ tả và có kèm theo đầu chi lạnh, mạch trầm tế. Rêu màu xám tro, khô, chất lưỡi đỏ xẫm là nhiệt thịnh hại tâm.

    Rêu lưỡi đen: thuộc lý chứng, biểu hiện bệnh nặng. Khi khám thấy rêu đen phải phân tích hư thực, hàn nhiệt.

    Rêu đen, trơn ướt, nhuận, chất lưỡi hồng nhạt là chứng hàn mà dương hư. Nếu rêu đen, nhuận khắp cả bề mặt lưỡi mà người bệnh không có các triệu chứng gì nguy nặng thì là do đàm ẩm phục ở lồng ngực. Nếu rêu đen như mầu mực, đen nhợt, đồng thời khám thấy đầu chi lạnh, mạch nhỏ, nhanh, yếu là chứng hư hàn.

    Rêu đen, khô, chất lưỡi đỏ hoặc đỏ thẫm là tổn thương âm, hoả nhiệt hại âm. Nếu ở lưỡi có gai nhọn nổi cao, rêu đen nứt là chân thủy ở thận sắp kiệt, bệnh đang nguy nặng, khô là do nhiệt nhưng cũng có khi vì hàn ở thiếu âm làm cho chân dương không trưng bốc được tân dịch làm lưỡi khô có nổi gai nhọn đen. Rêu đen khô thấy ở vùng giữa lưỡi khi bụng chướng đau cần xem xét hiện tượng phân táo bón, bế tắc đại tiện kéo dài. Rêu lưỡi đen khô kèm theo lợi, môi, miệng, răng đều có màu đen là vị khí sắp bại, tiên lượng nguy kịch. Rêu lưỡi đen là hoả thịnh âm hao. Rêu đen khô, chỉ có ở cuống lưỡi là nhiệt ở hạ tiêu. Rêu đen, khô chỉ có ở đầu lưỡi là tâm hoả tự đốt ở trong. Khi thấy rêu lưỡi đen, nếu người bệnh tỉnh táo là hư, nếu hôn mê cuồng sảng là thực, nếu người bệnh khát nước nhiều là nhiệt, nếu không đòi hỏi uống nước là hàn.

    Sự diễn biến về màu sắc rêu lưỡi.

    Rêu lưỡi từ trắng biến thành vàng, sau lại từ vàng chuyển thành màu xám tro rồi hình thành các gai nhọn có điểm đen là nhiệt tà từ nông đã dần dần vào sâu hơn.

    Rêu lưỡi từ trắng biến thành vàng, sau khi rêu vàng biến đi thì tái sinh rêu trắng mỏng là chứng thuận, rêu lưỡi từ trắng biến thành xám và từ xám thành đen là chứng nghịch. Rêu lưỡi giảm hoặc mất đi đột ngột cũng là biểu hiện của bệnh đã nặng lên.

    Chất lưỡi và động thái lưỡi.

    Độ nhuận và màu sắc của lưỡi.

    Sắc lưỡi nhợt (hồng ít trắng nhiều) là huyết hư, dương hư hoặc hàn chứng, sắc lưỡi nhợt mà không rêu thường thường là dương khí suy, khí huyết hư, sắc lưỡi nhợt mà ướt; trơn là hàn ở các rối loạn dinh dưỡng, thiếu máu và một số bệnh nội tiết như phù niêm dịch…có thể thấy loại lưỡi trắng dầy.

    Sắc lưỡi hồng tươi mà khô là âm hư, đỏ mà không có rêu là âm hư hỏa vượng, ở các thời kỳ tiến triển của bệnh lao phổi, cường giáp trạng, đái đường… có thể thấy âm hư nội nhiệt. Sắc lưỡi đỏ (đỏ tức là hồng thẫm) thuộc về thực nhiệt. Sắc lưỡi đỏ thẫm là cực nhiệt. Bệnh truyền nhiễm cấp tính hoặc những bệnh truyền nhiễm dẫn đến nhiễm khuẩn huyết đều thấy lưỡi đỏ thẫm.

    Trong y học dân tộc sắc lưỡi đỏ là dấu hiệu quan trọng của bệnh ôn nhiệt từ phần khí chuyển đến phần doanh, đỏ mà có gai là nhiệt thịnh ở phần doanh; đỏ thẫm là nhiệt làm tổn thương đến tâm bào lạc gặp ở bệnh nhiễm khuẩn huyết và truyền nhiễm mức độ nặng; sắc lưỡi đỏ, hồng mà không rêu là vị âm đã mất; nếu khô, không tươi nhuận là thận âm đã suy, bệnh tình nguy hiểm. Sắc lưỡi chuyển sang đỏ thẫm, khô là dấu hiệu quan trọng thể hiện nhiệt tà đã vào doanh (dinh), huyết. Sắc lưỡi tím, lưỡi tím đen, ướt, nhuận thường do huyết ứ, còn gặp ở các giai đoạn suy thở, suy tuần hoàn. Sắc lưỡi tím nhợt mà ướt là do chứng hàn.

    Sắc lưỡi màu xanh lam: lưỡi xanh là khí huyết lưỡng hư (hao tổn nặng) nếu còn rêu lưỡi là tiên lượng nặng; nếu sắc lưỡi xanh bóng, không rêu là tiên lượng rất xấu (thấy ở suy tuần hoàn, suy thở nặng, thiếu ôxy nặng).

    Sắc lưỡi đen thể hiện cực hàn hoặc cực nhiệt: lưỡi đen mà trơn nhuận là cực hàn, lưỡi đen mà khô là cực nhiệt.

    Hình thái của lưỡi.

    Quan sát lưỡi to hoặc nhỏ, có các vết nứt, các gai nổi cao. Lưỡi to bè, nếu to bệu, mầu hồng nhạt, viền lưỡi có các dấu hằn của các răng là chứng hư hàn. Nếu lưỡi to, mầu hồng thẫm là tâm tỳ có nhiệt, nếu lưỡi to màu nhợt là ở trong có đờm ẩm. Nếu lưỡi to đầy miệng, màu đỏ làm khó thở là huyết hao, nhiệt thịnh, khí huyết ngưng trệ.

    Lưỡi teo nhỏ (mỏng và thon); nếu lưỡi màu hồng nhạt là khí huyết thiếu. Nếu màu đỏ là tân dịch hao tổn nhiều, âm hư nhiệt thịnh. Nếu lưỡi teo khô, sắc tối, không tươi, nói giọng hoặc không nói được là bệnh nặng, ở thời kỳ nguy kịch. Trên mặt lưỡi có gai nổi lên cao là nhiệt uất (nhiệt tà kết bên trong), gai mọc càng nhiều, càng to là nhiệt kế càng sâu (sốt rất cao), thường gặp ở viêm phổi cấp… trên mặt lưỡi có vết nứt phần nhiều là âm huyết hư và nhiệt thịnh (sốt cao, mất nước, suy dinh dưỡng…) Động thái của lưỡi, quan sát trạng thái vận động của lưỡi.

    Nếu đầu lưỡi cứng, cử động vướng ngượng, mỗi khi nói thường vướng rít, sắc lưỡi dổ thẫm là nhiệt tà vào tâm bào, nhiễu loạn thần minh làm cho lưỡi mất linh hoạt; khô hao tân dịch, sự nuôi dưỡng của lưỡi bị giảm sút, lưỡi đẩy lên mà cứng, rêu lưỡi mà đen đục do đờm trở tắc đường lạc mạch của lưỡi, nếu sắc lưỡi trắng nhợt là khí huyết hư suy, nếu sắc lưỡi đỏ hồng là do nhiệt thịnh hao âm (gây âm hư), lưỡi thè dài ra được nhưng đầu và thân lệch về một bên được gọi là lưỡi lệch gặp ở người bị trúng phong. Lưỡi thè dài ra được mà bệnh nhân có cảm giác tê dại phần thò ra ngoài miệng là do khí hư; nếu người bệnh có cảm giác nóng do tâm kinh có đàm nhiệt, nếu khó rụt lưỡi lại là bệnh nặng. Lưỡi rụt vào được mà không thè dài ra được gọi là lưỡi rụt. Nếu lưỡi ướt nhuận là hàn ngưng ở cân mạch, nếu đỏ là nhiệt bệnh hại tâm, nếu lưỡi to bệu, nhờn, dính là đờm thấp trở tắc. Nếu lưỡi rụt không nói được là bệnh nguy kịch.

    Đầu lưỡi cứ rung, không yên gọi là lưỡi run, nếu run nhẹ là do hư suy, huyết ít, can phong động ở trong hoặc do tâm tỳ hư; nếu lưỡi run mạnh bần bật mà sắc lưỡi đỏ hồng là can nhiệt phong động.

    Đường mạch túc thiếu âm đi kèm hai bên cuống lưỡi (túc thiếu âm hiệp thiệt bản)

    Đường mạch túc thiếu âm đi dưới lưỡi (túc thiếu âm thiệt hạ)

    Đầu ngọn là túc thiếu âm ở bối du và có hai đường mạch dưới lưỡi (túc thiếu âm chi tiêu tại bối du, hữu thiệt hạ lưỡi mạch)

    Đường mạch túc thiếu âm đi lên nối ở lưỡi (túc chi thiếu âm thượng hệ ư thiệt)

    Đường kinh biệt túc thái âm liền với cuống lưỡi tản ra ở dưới lưỡi (túc thái âm chi biệt liên thiệt bản tán thiệt hạ)

    Đường kinh cân thủ thiếu dương có nhánh vào chằng ở cuống lưỡi (túc thái dương chi cân, chi gia biệt thiệt bản). Quyết âm là đường của can, can hợp với cân, cân tụ hội ở âm khí mà đường mạch nối ở cuống lưỡi (quyết âm giả, can mạch giả, can giả chi cân hợp giả, cân giả tụ ở âm khí, nhi mạch lạc, ư thiệt bản)

    Phân khu vực theo tam tiêu: đầu lưỡi thuộc thợng quản, cuống lưỡi thuộc hạ quản, giữa lưỡi thuộc trung quản. Cách phân chia này để áp dụng với bệnh trường vị.

    Phân khu vực theo tạng phủ: cuống lưỡi thuộc thận; giữa lưỡi thuộc tỳ vị, trong đó vị ở giữa tỳ ở chung quanh, hai bên can đởm, đầu lưỡi thuộc tâm phế.

    Phân chia thuộc tính ngũ hành: lưỡi thuộc hoả, nước miếng thuộc thổ (hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, thủy khắc hỏa, hoả khắc kim, mộc sinh hỏa)

    Như vậy khám lưỡi trong vọng chẩn bao gồm khám về rêu lưỡi, chất lưỡi, hình thể lưỡi. Rêu lưỡi là đánh giá tình trạng mới cũ, nông sâu, tiến triển của bệnh, là yếu tố gợi ý để khám sâu thêm về chất lưỡi; chất lưỡi là đánh giá bản chất hoạt động của tâm, mạch huyết, huyết dịch. Chất lưỡi luôn là yếu tố quyết định rêu lưỡi. Chất lưỡi có ảnh hưởng đến hình thể lưỡi.

    Tổng hợp tư liệu đánh giá khách quan rêu lưỡi, chất lưỡi và hình thể lưỡi còn giúp ta phân biệt được bệnh tà đang ở tạng phủ nào và tạng phủ nào đang bị bệnh, sau nữa là mức độ nặng nhẹ, tính chất hàn nhiệt, xu thế khỏi bệnh hay tiên lượng nguy kịch dẫn đến tử vong.

    Vọng về chỉ văn ở tiểu nhi.

    Đối với bệnh nhi thường quan “chỉ văn” nhánh tĩnh nhỏ, mạch nổi lên mé trong ngón tay chỏ (giữa vùng da mu tay và da bàn tay), da ấu nhi mềm mỏng, tĩnh mạch dễ nổi lên, vì vậy chỉ văn tương đối rõ, khi tuổi càng lớn, da dầy lên thì xem chỉ văn không rõ nữa. Trong điều kiện, mức độ nhất định chỉ văn có thể phản ánh tính chất và mức độ nặng nhẹ của bệnh tật, vì phần mạch của bệnh nhi ngắn và nhỏ, khi chẩn bệnh đôi khi còn phải vuốt ngón tay, co duỗi ngón tay để khỏi ảnh hưởng đến tính chân thực của mạch tượng. Trên các khoa lâm sàng với trẻ em dưới ba tuổi thường dùng chỉ văn để hỗ trợ thêm cho thiệt chẩn.

    Vọng chỉ văn chủ yếu là quan sát sự lưu thông hay ứ trệ và màu sắc của đường tĩnh mạch nhỏ nổi lên. Ngón tay có ba đốt.

    Đốt ngón tay thứ nhất được gọi là phong quan

    Đốt ngón tay thứ hai được gọi là khí quan

    Đốt ngón tay thứ ba được gọi là mệnh quan.

    Phương pháp vọng chỉ văn là giơ ngón tay hướng ra sáng, y sinh dùng tay phải cầm lấy đốt thứ hai của ngón tay chỏ của bệnh nhi, vuốt, xoa, co, duỗi cho tính mạch nổi rõ, để đánh giá chính xác hơn. Bình thường chỉ văn có màu tía nhạt mà tươi sáng, nói chung không vượt nổi khỏi phong quan, khi có bệnh chỉ văn thường có những biến đổi cả về sự lưu thông cũng như màu sắc. Chỉ văn đặc biệt nổi rõ lên đa phần là biểu chứng, chỉ văn trầm (chìm) bệnh tà ở lý, chỉ văn sắc nhợt là chứng hư, chứng hàn, sắc đỏ tía là chứng nhiệt, sắc xanh thường là phong hàn hoặc kinh phong hoặc chứng đau hoặc thương thực (tổn thương do ăn uoóng) hoặc là đàm khí thượng nghịch, sắc đen là huyết ứ. Chỉ khi uất trệ, khi co duỗi huyết dịch không lưu thông tốt thường do đàm thấp, thực thấp hoặc tà nhiệt uất kết, đó là chứng thực. Về vị trí mà nói, chỉ văn ở phong quan bệnh nhẹ, nếu kéo dài đến khí quan bệnh tương đối nặng, nếu kéo dài đến mệnh quan và hết ngón, người xưa gọi “thấu quan tạ giáp” là bệnh tình thường nguy, nặng. Tóm lại: điểm chủ yếu của vọng chỉ văn là phù trầm để phân biệt biểu hay lý; màu đỏ tía, tím tái, phân biệt nhiệt hay hàn màu nhợt trệ quyết định thực hư.

    Văn chẩn.

    Bao gồm hai phơng diện là nghe âm thanh và văn về khí vị.

    Nghe âm thanh: hơi thở, ợ nấc, khái thấu (ho), tiếng nói. Âm thanh của người bệnh nói nhỏ nhẹ, không liên tục, thiếu khí có khi loạn ngôn đa phần là hư chứng, hàn chứng. Âm thanh đột nhiên lạc giọng hoặc mất tiếng hoặc khàn trầm phần nhiều do phong hàn hoặc do đàm trệ là thực chứng. Âm thanh giảm từ từ phần nhiều là phế viêm tân khô thuộc hư chứng. Âm thanh cao to, có lực hoặc phiền táo, đa ngôn phần nhiều thuộc chứng thực, chứng nhiệt. Khi mắc bệnh lâu ở phế và ở thận chức năng đều giảm có thể thấy khí thô nhưng không thường xuyên là hư chứng; tiếng ho vô lực là phế nhiệt. Tiếng nấc; tiếng nấc mạnh, có lực, mạch hoạt thực, phần nhiều là thực ách; nấc to, ngắn (nấc cụt), táo khát, mạch sác là nhiệt ách (nấc nhiệt chứng); tiếng nấc nhỏ, mạch vô lực kèm theo triệu chứng hư là hư ách (nấc hư chứng). Lâm sàng bệnh nặng, lâu ngày xuất hiện ách nghịch là triệu chứng nguy.

    Văn về khí vị: tức là văn khí vị của các chất bài tiết, hơi thở ở khoang miệng và toàn thân. Khí vị của cơ thể người bệnh ở một số bệnh có giá trị đặc thù. Ví dụ: trong bệnh ôn nhiệt (ôn dịch), khi bệnh nhân mắc bệnh can thận lâu năm, tiến triển nặng: miệng hôi, hơi thở hôi uế thường là phế vị có nhiệt, hơi chua là vị có thực tích, đàm tan hôi là phế nhiệt, hôi nhiều có mủ như phế ung, đại tiểu tiện, kinh đới cũng có thể tham khảo ở phần vấn bổ xung thêm và văn (nghe, ngửi). Y học cổ truyền cho rằng âm thanh chỉ bản (bản chất tiếng nói trong, đục, khàn, trầm, to rõ hoặc nhỏ nhẹ đều thuộc tỳ), thận vị thanh âm chi căn (gốc rễ của giọng nói to khoẻ, âm sắc rõ, nói lâu không nghỉ mà âm sắc vẫn tốt đều do thận quyết định). Vì vậy, lâm sàng có thể thông qua sự thay đổi của âm thanh, âm sắc mà đánh giá tình hình hư thực, hàn nhiệt của tạng phủ…

    Thiết chẩn.

    Bao gồm toàn bộ súc chẩn thân mình, tứ chi và xem mạch.

    Thiết mạch (bắt mạch ở thốn khẩu): y học cổ truyền rất coi trọng khám mạch để chẩn bệnh, nhiều tài liệu ghi lại việc khám rất tỉ mỉ, hiện nay được chia ra hai mươi tám loại mạch khác nhau thường được sử dụng trong lâm sàng.

    Phương pháp khám bệnh: thường được thao tác ở chỗ đập của động mạch quay trên mặt trước khớp cổ tay của người bệnh (được gọi là mạch thốn khẩu), động mạch này được chia làm ba phần (bộ), bộ thốn, bộ quan và bộ xích. Bộ quan ở ngang mỏm châm xương quay, trên bộ quan là bộ xích, dưới bộ quan là bộ thốn. Trước khi khám mạch phải yêu cầu bệnh nhân thư thái tinh thần yên tĩnh, nếu vừa sau hoạt động, lao động nặng phải nghỉ ngơi rồi mới khám mạch. Khi chẩn mạch tay bệnh nhân ở tư thế ngửa thoải mái, bàn tay duỗi, thầy thuốc lần lượt đặt ngón tay giữa vào bộ quan, sau đó đặt ngón tay chỏ vào bộ thốn, và ngón tay nhẫn (ngón vô danh) vào bộ xích, khoảng cách của ba ngón tay phải linh hoạt, nếu người bệnh cao to, khoảng cách của ba ngón tay phải xa hơn với người thấp bé. Thốn khẩu của bệnh nhi mạch ngắn nên cả ba bộ chỉ có thể dùng một ngón cái đặt ở bộ quan, còn bên phải, bên trái để đánh giá bộ thốn và bộ xích (cũng chỉ dùng một ngón cái), nếu bệnh nhi trên 8 tuổi, có thể thích hợp chẩn mạch (một ngón tay cái dùng cho cả ba bộ). Khi chẩn mạch quan trọng là lực ấn của các ngón tay, phải khám ở ba động tác (tam cử) sơ án để các ngón tay tiếp xúc với mặt da, trung án là ấn nhẹ, trọng án là ấn mạnh sát xương quay. Sau khi khám mạch chung ở ba động tác (tam cử) thì xem vi khán từng bộ mạch, y sinh phải tập trung vào cảm giác tinh tế ở các đầu ngón tay, từ các đầu ngón tay biết được sóng mạch nổi chìm (phù, trầm), mạch yếu vơi đầy. Do ba bộ thốn quan xích có giá trị chẩn mạch tương ứng với các tạng phủ khác nhau và khác nhau cả bên phải bên trái. Mạch bên trái (bên tả) thứ tự ba bộ thốn quan xích là tương ứng với tạng tâm, can, thận, còn bên mạch phải thứ tự ba bộ thốn quan xích là tương ứng với ba tạng phế, tỳ và mệnh môn hỏa. Người xưa cho rằng gợn sóng khí huyết, nó có thể đánh giá trung thành hoạt động của tạng phủ (do tạng phủ có tương quan biểu lý với nhau).

    Đặc điểm của mạch và chủ bệnh của mạch: trong phần này sẽ giới thiệu những hình mạch thường gặp trên lâm sàng, đặc điểm của hình mạch về tần số nhanh chậm, biên độ mạch cao thấp, sóng mạch mạnh hay yếu, hình thái mạch to hay nhỏ… bình thường tần số mạch đều đặn 4 – 5 lần trong một nhịp thở (nhất tức) gần tương đương với 72 – 80 lần trong một phút, không phù, không trầm, không nhỏ, đều đều hoà hoãn gọi là mạch hoãn, nhưng nếu khí huyết có thấp trở ngại cũng có thể thấy mạch hoãn, cũng có thể thấy mạch hoãn kèm theo phù, hoãn kèm theo trầm, hoãn kèm theo đại hoặc tiểu đó là mạch bệnh lý.

    Mạch phù và mạch trầm: là hai chỗ mạch cao thấp tương phản, mạch phù là mạch nổi cao, để tay tiếp xúc với mặt da đã thấy mạch đập rõ, dùng lực tây ấn mạnh thấy sóng mạch giảm yếu, mạch trầm là mạch chìm sâu, để tay tiếp xúc mặt da không thấy mạch đập, ấn nhẹ cũng không thấy mạch đập, phải ấn mạnh mới thấy rõ mạch đập.

    Biểu hiện bệnh lý của mạch phù: bệnh thuộc biểu chứng, mạch phù mà có lực là biểu thực, phù mà không có lực là biểu hư. Nếu như bệnh ngoại cảm mà sợ lạnh, phát sốt không có mồ hôi, mạch phù khẩn là chứng biểu thực hàn, còn bệnh ngoại cảm phát sốt có mồ hôi, sợ gió, mạch phù nhược là chứng biểu hư hàn, với những bệnh nhân có thể chất hư nhược, khi bị bệnh ngoại cảm mạch thường không phù. Thời kỳ đầu của các bệnh truyền nhiễm cấp tính thường có mạch phù.

    Biểu hiện bệnh lý của mạch trầm: bệnh thuộc lý chứng, trầm mà có lực là lý thực, trầm mà có lực là lý hư, nếu ho (khái thấu) vô lực, đàm lỏng trắng, khí đoản, sắc mặt trắng, ăn ít, gầy gò, mạch trầm nhược là phế khí hư thuộc về chứng khí hư.

    Mạch trì và mạch sác: đặc điểm hai loại trì và sác là hai loại mạch nhanh chậm tương phản mạch trì nhất tức (một lần thở) có ba lần mạch đập “nhất tức là tam lai thị mạch trì” tương đương với mỗi phút 90 lần trở lên.

    Biểu hiện bệnh lý của mạch trì: là chứng hàn, phù mà trì là biểu hàn, trầm mà trì là lý hàn, trì mà có lực là thực chứng, vô lực là hư hàn thuộc về lý chứng.

    Biểu hiện bệnh lý của mạch sác: là chứng nhiệt, sác mà có lực là dương thịnh, sác mà có lực là âm hư nội nhiệt, nếu như mặt đỏ, họng khô, tâm trạng phiền nhiệt, mạch sách có lực là tâm hoả vượng thuộc chứng dương thịnh. Mồm lở loét, sưng đau, ăn không tiêu, mạch tế sách là vị âm hư, hư hoả thượng viêm thuộc hư nhiệt.

    Mạch hư và mạch thực: đặc điểm mạch hư và mạch thực là hai loại mạch có lực đập mạnh yếu tương phản.

    Mạch hư là mạch phù, cả trung, trọng án đều vô lực, mạch thực là phù, trung, trọng án đều có lực. Mạch hư chủ bệnh khí huyết đều hư, mạch hư phù là thương thử.

    Mạch thực chủ bệnh chứng thực, sốt cao, trằn trọc không yên, đại tiện bí kết, mạch thực mà hoạt là ngoan đàm ngưng kết tụ, thực mà huyền là can khí uất kết.

    Mạch hoạt và mạch sáp: là hai trạng thái mạch tương phản.

    Mạch hoạt là sóng mạch đi lại lưu lợi dưới tay có cảm giác như hạt trâu lăn, mạch sáp là mạch đi lại sáp trệ (dung lai nhi mạt tức lai, dung khí nhi mạch tức khứ) nghĩa là sóng mạch muốn tới lại không tới cùng, muốn đi mà không đi hết. ứng với điện tâm đồ mạch sóng có hiện tượng dẫn truyền bị trở lại, mạch đồ cũng có biểu hiện to nhỏ không đều.

    Mạch hoạt thường gặp trong chứng đàm thấp, nếu như tiếng ho khàn, đàm nhiều trắng, dễ khạc, tức ngực, ăn kém, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch hoạt đó là chứng đàm thấp khái thấu, khi có thai thờng thấy mạch hoạt.

    Mạch sáp thường gặp trong thiếu máu, khí trệ huyết ứ.

    Mạch hồng và mạch tế: đặc điểm mạch tượng, mạch hồng và mạch tế là hai loại mạch tượng to, nhỏ và mạch yếu tương phản nhau.

    Mạch hồng, mạch to, sóng mạch mạnh, cuồn cuộn như hồng thủy phù và đàm rõ, nmạch tế là mạch nhỏ như sợi dây, lực mạch không mạnh, khi ấn nặng tay (trọng án) mới thấy mạch đập.

    Mạch hồng thường gặp trong trạng thái nhiệt thịnh, nếu như bệnh ôn nhiệt phần khí có mạch hồng đại nhiệt thịnh, sốt cao, phiền khát, đại hãn, mạch hồng đại, như vậy mạch hồng đại thường gặp trong chứng nhiệt thịnh. Nhiệt thịnh thương âm, khi âm hư ở trong thì dơng phù ở ngoài cũng có thể thấy mạch hồng. thời kỳ toàn phát của các bệnh truyền nhiễm thường thấy mạch hồng.

    Mạch tế thường gặp trong hư chứng hư lao, suy nhược cơ thể , phần nhiều thấy mạch tế hoặc khi thấp khí ở dưới, khi thấp tà trở ngại mạch đạo cũng có thể thấy mạch tế, như vậy mạch tế cũng có thể thấy trong thực chứng. Ví dụ: sắc mặt trắng bủng, môi lưỡi trắng nhợt, đầu choáng mắt hoa, tâm quí thấy mạch tế là huyệt hư. Khi đại tiện có nhầy mũi, mệt mỏi, ăn kém, bụng chướng, tứ chi không ấm, mạch đa phần là huyền tế mà hoãn thường gặp trong hàn thấp ly tật, bệnh thuộc thực chứng.

    Mạch huyền và mạch khẩn: có đặc điểm giống nhau, sóng mạch liền một mạch ở cả ba bộ thốn quan xích, cảm giác dưới ba đầu ngón tay sóng mạch đi khẩn trương, khác nhau là mạchk huyền thấy căng khi ấn, mạch khẩn khi ấn không căng, lực mạch khẩn cấp cảm thấy có lực ở dưới tay, lực của mạch huyền không cương cấp như của mạch khẩn, trên hình mạch đồ mạch khẩn có sóng mạch cao hơn, to hơn mạch huyền.

    Mạch khẩn thường gặp ở chứng hàn, chứng đau, khi ngoại cảm phong hàn thấy mạch phù khẩn, khi lý hàn có mạch trầm khẩn, ví dụ: trong chứng hàn tý (thống tý), các khớp của chi thể đau mỏi dữ dội, đau cố định khi thấy sốt đau giảm, đa phần thấy mạch huyền khẩn.

    Mạch huyền thường gặp trong chứng thống (đau), phong chứng ngược tật và đàm ẩm, âm hư dương vượng đa phần thấy mạch huyền, ví dụ: trong chứng cao huyết áp (can dương thiên vượng) thường là mạch huyền có lực, nhóm can âm bất túc thường là mạch huyền tế, trong chứng can vị bất hòa thường thấy mạch huyền, trong các bệnh về gan, loét hành tá tràng, viêm túi mật, kinh nguyệt không đều, ung thư cổ tử cung, bệnh thuộc tạng thận đều có thể thấy mạch huyền.

    Ở trên đã nếu 12 loại mạch thường gặp trên lâm sàng, sau đây là một số loại mạch ít gặp trên lâm sàng.

    Mạch súc, mạch kết, mạch đại.

    Mạch súc là mạch hoà hoãn, không có qui luật, đôi lúc hẫng nhịp, không đều, chủ mạch của chứng thực nhiệt, khí trệ huyết ứ.

    Mạch kết là mạch hoà hoãn, không có qui luật, đôi khi không đều, có nhịp hẫng chủ mạch của chứng âm thịnh, khí kết, hàn đàm huyết ứ.

    Mạch đại là mạch nhanh chậm như thường nhưng tự ngừng có qui luật, đập lại sau khi ngừng nhịp, chủ mạch của chứng tạng khí suy vi hoặc do kinh sợ, chấn thương, ngoài ra các chứng nôn, ỉa lỏng nhiều cũng có thể thấy mạch đại.

    Ba loại mạch súc, kết, đại có thể thấy các loại bệnh ở tạng tâm, ví dụ: trong thấp tim, hẹp ống thông động mạch, thiếu máu tâm cơ.

    Mạch nhu là mạch phù nhỏ mà mềm, ấn nhẹ thấy mạch đập mềm như màng nước, ấn mạnh thì thấy mất mạch. Mạch nhu chủ bệnh của chứng thấp, chứng hư, ví dụ: thủy thũng và khí huyết đều hư nhược.

    Mạch nhược là mạch trầm nhỏ mà mềm, chủ bệnh của chứng khí huyết bất túc.

    Mạch vi là mạch rất nhỏ, rất mềm, như có, như không có mạch, khó đếm, chủ bệnh của chứng đại hư, các triệu chứng nguy kịch, bệnh nặng lâu ngày.

    Mạch to (đại) mạch có hình to hơn bình thường, nhưng sóng mạch không căng, không trào dâng như mạch hồng, chủ bệnh của chứng tà thịnh, mạch to mà không có lực là chứng hư.

    Mạch khâu là mạch phù đại mà rỗng, sờ mạch chỉ thấy thành mạch, không thấy sóng mạch ở giữa như ấn vào dọc hành, chủ bệnh của chứng mất máu nhiều, thiếu máu.

    Trên lâm sàng thường đa phần là kiêm mạch còn ít thấy đơn thuần một loại mạch. Qua thực tế thường chia làm ba loại sau đây.

    Loại mạch thứ nhất: xuất hiện đơn thuần một loại mạch, còn loại mạch thứ hai và ba là kiêm mạch.

    Mạch kiêm thường thấy: mạch phù sác, phù hoãn, phù khẩn, trầm trì, trầm huyền, trầm tế, huyền tế, tế sác, hoạt sác, huyền tế sác…chủ bệnh của mạch kiêm tương ứng với các loại mạch tổng hợp chủ bệnh.

    Mạch trầm thể hiện bệnh ở lý, mạch trì chủ hàn, nếu trầm đi với trì là lý hàn.

    Mạch tượng xuất hiện đơn độc ở một số phần khi bị bệnh. Ví dụ: đau đầu thấy bộ thốn mạch phù…

    Trong quan hệ giữa mạch và bệnh có thể thấy bệnh nào mạch ấy, nhưng cũng có thể thấy nhiều lạoi mạch khác nhau ở một bệnh, ví dụ: mạch huyền chủ về đau, về phong, về ngược tật còn chứng hàn thường thể hiện mạch trì hoặc mạch khẩn.

    Những điểm cần chú ý khi chẩn mạch cụ thể.

    Biểu hiện mạch bình thường: mạch hoãn là một nhịp thở có 4 – 5 lần mạch đập, không phủ, không trầm, đều đều hoà hoãn, tuy nhiên do ảnh hưởng hoàn cảnh bên ngoài với bên trong của từng cơ thể có thấy một số biến đổi sinh lý: sau khi ăn mạch có lực hơn, sau khi vận động mạnh mạch thường hồng sác hoặc sau uống rượu mạnh phần nhiều là sác, lao động mạch đại có lực, vận động viên thể thao thường có mạch trì, thường có tới 50% người bình thường mạch thiên về trầm tế, và một số người có mạch phù đại. Phụ nữ thường có mạch hơi tế nhược, khi hành kinh thường mạch ở bộ quan bên trái hồng hoặc trì, mạch trẻ con thường nhanh, ở trẻ 5 tuổi trở xuống một nhịp thở có thể tới 6 lần mạch đập cũng là bình thường. Mạch người già thường cứng chắc hơn (xơ), một số người do vị trí giải phẫu bẩm sinh, động mạch quay không ở trong rãnh quay mà ở phía sau ngoài gọi là “mạch phản quan” cũng là bình thường.

    Người xưa thường có ba căn cứ để phân biệt giữa mạch bình thường và mạch bệnh lý đó là “vị, thần, căn”.

    Mạch không phù, không trầm, đều đều hoà hoãn là vị khí tốt (hay là có bị khí).

    Sóng mạch đến nhu hoà, bên trong có lực là mạch có thần.

    Khám mạch ở cử trầm (ấn các ngón tay sát xương) mạch vẫn đập rõ là vì mạch hữu căn (có rễ).

    Thường mạch hữu căn, hữu vị, hữu thần là mạch tốt, con người khoẻ mạnh, khi bệnh nghiêm trọng hoặc sau bệnh thoái lui cũng thường phải dựa vào ba loại căn cứ này để suy đoán và tiên lượng tốt hay không tốt.

    Hai mươi tám loại mạch là trải qua quá trình nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của y học cổ truyền phương đông nói chung và y học dân tộc Việt Nam nói riêng, trong khi ứng dụng vào chẩn trị có thể tóm lược trên các mặt sau đây:

    Về đại thể đều có quan niệm giống nhau, mạch thường là do các yếu tố: vị trí, tần số, nhịp, cường độ, biên độ, hình thái quyết định, nói chung vị trí mạch đập nông hay sâu có thể liên hệ phù hay trầm, từ tần số nhịp đập của mạch có thể liên hệ với hư, thực, từ hình thái mạch đập có thể liên hệ với mạch huyền, hồng, hoạt, vi, sáp, từ nhịp đập của mạch đều hay hẫng nhịp không đều có thể liên hệ với mạch súc, mạch kết, mạch đại…

    Đối chiếu mạch với bát cương trên đại thể có thể xếp tương ứng:

    Mạch phù là biểu chứng, mạch trầm là lý chứng

    Mạch sác là nhiệt chứng, mạch trì là hàn chứng

    Mạch có lực là thực chứng, mạch vô lực là hư chứng

    Thông qua phân tích sáu loại mạch trên có thể kết luận tình hình mạch yếu xu thế chung của chính khí và tà khí, đưa đến tổng cương “âm dương”.

    Đối chiếu giữa mạch với chứng bệnh tương ứng, có thể khái quát quy luật chung là mạch và chứng là tương hợp, chứng nào có mạch ấy, tuy nhiên có một số ít trường hợp không tương ứng giữa mạch tượng và triệu chứng bệnh. Như vậy, việc bỏ mạch lấy chứng, hay bỏ chứng lấy mạch cần phải dựa trên cơ sở phân tích toàn diện những yếu tố chính quyết định trong chẩn đoán.

    Liên hệ với y học hiện đại, còn một số vấn đề chưa phù hợp, ví dụ: như bệnh viêm ruột thừa triệu chứng thực thể về cơ bản đã hết nhưng mạch vẫn sác (nhanh).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Nhân Gây Bệnh Và Phương Pháp Chẩn Đoán Theo Yhct
  • 3 Phương Pháp Chữa Bệnh Tóc Bạc Sớm Từ Y Học Cổ Truyền
  • Phương Pháp Chế Biến, Sử Dụng Các Vị Thuốc Y Học Cổ Truyền
  • Sách Phương Pháp Chế Biến, Sử Dụng Các Vị Thuốc Cổ Truyền
  • Phương Pháp Thở Yoga Kết Hợp 3 Kỹ Thuật Thở
  • Chữa Dứt Điểm Bệnh Mất Ngủ Bằng Phương Pháp Y Học Cổ Truyền

    --- Bài mới hơn ---

  • Ứng Dụng Y Học Cổ Truyền Trong Chăm Sóc Và Điều Trị Ung Thư
  • Dịch Vụ Khám Và Điều Trị Bằng Y Học Cổ Truyền
  • Điều Trị Bằng Y Học Cổ Truyền
  • Tư Vấn Tuyển Sinh: Có Nên Học Y Học Cổ Truyền Không?
  • Học Y Học Cổ Truyền Sẽ Được Học Gì?
  • Chữa bệnh mất ngủ bằng phương pháp Y học cổ truyền mang lại hiệu quả cao, an toàn lại ít tốn kém nên được rất nhiều người sử dụng để điều trị.

    Y học cổ truyền chữa mất ngủ hiệu quả

    Nguyên nhân mất ngủ theo y học cổ truyền là gì?

    Theo các Y sĩ Y học cổ truyền bệnh mất ngủ là chứng bệnh thất miên. Bệnh khiến cho con người thường xuyên bị mất ngủ, kèm theo đó là các triệu chứng như đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, hay quên, người mệt mỏi. Mất ngủ có ảnh hưởng trực tiếp tới chức năng của các tạng Tâm, Can, Thận, làm cho tinh thần không được yên ổn.

    Nguyên nhân mất ngủ còn do:

    Do mắc phải nhiều bệnh gây hao tổn thận âm khiến cho thận thủy không đủ sức làm cho âm bất thăng lên, dẫn đến tâm hỏa vượng dẫn đến mất ngủ.

    Thường xuyên phải suy nghĩ nhiều, lao lực do làm việc đầu óc nhiều khiến cho Tâm, Tỳ bất ổn dẫn đến huyết hư, khó ngủ.

    Do tâm lý bất ổn, lo sợ hoặc các yếu tố bên ngoài tác động.

    Do ăn uống không điều độ, không khoa học.

    Sư dụng bài thuốc y học cổ truyền chữa mất ngủ

    Y học cổ truyền phân chia bệnh mất ngủ thành các thể khác nhau, tùy theo từng nguyên nhân: thể tâm tỳ hư, thể đàm nhiệt nội nhiễu, thể can đởm hỏa vượng. Ở mỗi thể được áp dụng theo các bài thuốc Y học cổ truyền khác nhau.

    Bài thuốc chữa mất ngủ thể tâm tỳ hư

    Triệu chứng bệnh: mất ngủ, ngủ không sâu, hay tỉnh giấc nửa đêm, ngủ hay mê sảng, kèm theo đó là các triệu chứng hay lo lắng, tinh thần bất an, nhanh quên, chân tay mỏi mệt, người nhợt nhạt kém sắc.

    Bài thuốc điều trị: táo nhân, bá tử nhân, thục địa, hoài sơn, mỗi thứ 20g; lá vông, đẳng sâm, liên nhục mỗi thứ 15g; bạch truật, long nhãn, hoàng kỳ mỗi thứ 10g; phục thần, viên trí mỗi thứ 10g; sinh khương 6g.

    Bài thuốc chữa mất ngủ thể tâm tỳ hư

    Bài thuốc chữa mất ngủ thể can đởm hoả vượng

    Triệu chứng bệnh: Người bệnh mất ngủ thường xuyên, ngủ hay mơ kèm theo các triệu chứng dễ cáu gắt, tức giận, đau đầu, mệt mỏi, đau sườn, miệng đắng.

    Bài thuốc điều trị: Sử dụng các Vị thuốc đông y gồm bạch linh, bạch thược, đương quy, thảo quyết minh, sài hồ, mỗi thứ 15g; bạch truật, chỉ thực mỗi thứ 12g; trần bì, trúc nhự, bán hạ mỗi thứ 9g; lạc tiên, lá vông mỗi thứ 15g; liên nhục 20g; trích thảo 5g và táo nhân.

    Bài thuốc chữa mất ngủ thể đàm nhiệt nội nhiễu

    Triệu chứng bệnh: Người bệnh bị mất ngủ kèm theo các triệu chứng lo lắng, phiền muộn, thường tức ngực, miệng đắng, hoa mắt, mạch hoạt sác.

    Bài thuốc điều trị: Nác vị thuốc Đông y gồm bán hạ chế, trần bì mỗi thứ 15g; phục linh 15g; chỉ thực 12g; trúc nhự 8g; đại táo 5 quả. Tất cả làm thang sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần.

    Ngoài sử dụng các bài thuốc chữa bệnh mất ngủ, người bệnh còn có thể áp dụng điều trị chứng mất ngủ bằng phương pháp châm cứu. Bên cạnh đó, bệnh nhân cũng cần xây dựng cho mình chế độ ăn uống khoa học hợp lý, luyện tập thể dục thể thao, giữ tinh thần thư giãn thoải mái, như vậy chứng mất ngủ sẽ nhanh chóng biến mất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chữa Bệnh Tiểu Đường Hiệu Quả Bằng Phương Pháp Y Học Cổ Truyền
  • Phương Pháp Khám Và Chẩn Đoán Bệnh Theo Y Học Cổ Truyền
  • Nguyên Nhân Gây Bệnh Và Phương Pháp Chẩn Đoán Theo Yhct
  • 3 Phương Pháp Chữa Bệnh Tóc Bạc Sớm Từ Y Học Cổ Truyền
  • Phương Pháp Chế Biến, Sử Dụng Các Vị Thuốc Y Học Cổ Truyền
  • Chữa Dứt Điểm Bệnh Xương Khớp Bằng Phương Pháp Y Học Cổ Truyền

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Y Học Cổ Truyền Trong Điều Trị Ung Thư
  • Y Học Cổ Truyền Là Gì? Nguyên Tắc Chữa Bệnh Và Địa Chỉ Chữa Uy Tín
  • Khoa Y Học Cổ Truyền Tại Fv
  • Đông Y (Y Học Cổ Truyền) Là Gì? Khám Chữa Bệnh Bằng Đông Y
  • Điều Trị Ung Thư Dạ Dày Bằng Y Học Cổ Truyền
  • Bệnh xương khớp là một trong những bệnh lý phổ biến nhất và có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi. Hiện nay, có rất nhiều phòng khám chuyên điều trị các bệnh lý về xương khớp, trong đó có Trung tâm Điều trị Phục hồi Xương khớp Việt Nam luôn là địa chỉ uy tín được nhiều người tin tưởng.

    Bệnh xương khớp không chừa một ai

    Bệnh xương khớp tưởng chừng chỉ xuất hiện ở người cao tuổi nhưng đang dần trở nên phổ biến và có xu hướng trẻ hóa. Sự phát triển kinh tế – xã hội mang đến ngày càng nhiều việc làm nhưng cũng kéo theo sự xuất hiện của hàng loạt vấn đề về xương khớp như viêm khớp, thoát vị đĩa đệm, thoái hóa đốt sống…. Những bệnh này xuất hiện ở những đối tượng như người lao động phổ thông và dân văn phòng. Đặc biệt, những ai thường xuyên ngồi làm việc trong phòng trong thời gian dài, ngồi sai tư thế và ít vận động thì xuất hiện các triệu chứng như đau lưng, đau cổ, đau vai gáy.

    Theo thống kê, tỷ lệ người mắc các bệnh về xương khớp chiếm 35% dân số. Độ tuổi nào cũng có nguy cơ mắc bệnh, tuy nhiên số lượng nữ giới gặp vấn đề về xương khớp gấp ba lần so với nam giới, trong đó 60% trong độ tuổi 35 đến 50 và trên 80% trên 80 tuổi.

    Những người bị đau nhức xương khớp thường gặp khó khăn trong vận động và gặp vấn đề như khó ngủ dẫn đến nhiều tổn hại đối với sức khỏe. Một số người vì nỗi lo cơm – áo – gạo – tiền mà quên đi vấn đề sức khỏe của mình mà chủ quan không đi khám thì có thể đối mặt với những biến chứng nguy hiểm. Nếu để sụn khớp bị phá hủy hoàn toàn thì khó có khả năng hồi phục và nguy cơ tàn phế cao. Do đó khi xuất hiện bệnh, ai cũng nghĩ đến việc tìm kiếm một địa chỉ khám và chữa bệnh dứt điểm hiệu quả.

    Có rất nhiều phương pháp được áp dụng trong điều trị bệnh xương khớp, từ điều trị nội khoa bằng thuốc (Paracetamol, Ức chế COX-2, NSAID, Diacerein…) đến phẫu thuật (cắt lọc, cấy tế bào sụn tự thân, tạo vi gãy xương kích thích tủy). Tuy nhiên, đa phần là giải pháp tạm thời do tính chất dễ tái phát của bệnh và cơ địa của từng người.

    Vì thế, phương pháp điều trị bệnh bằng phương pháp y học cổ truyền không cần phẫu thuật được ưa chuộng rộng rãi vì an toàn, không để lại tác dụng phụ.

    Điều trị bệnh xương khớp không cần phẫu thuật

    Trung Tâm Điều Trị Phục Hồi Xương Khớp Việt Nam là một trong những địa chỉ uy tín, được tin cậy, đã chữa trị thành công cho hàng nghìn bệnh nhân bằng phương pháp y học cổ truyền, không dùng phẫu thuật. Đây là đơn vị tiên phong trong việc áp dụng những phương pháp điều trị, phục hồi xương khớp hiệu quả và an toàn. Trung tâm có đội ngũ y bác sĩ giàu kinh nghiệm, nhiệt huyết và có chuyên môn cao trong lĩnh vực Y học Cổ truyền và khá thành công trong việc khai thác thế mạnh Đông y Nhật Bản trong việc chẩn đoán, điều trị bệnh. Đặc biệt, bài thuốc đông y Nhật Bản “Thanh Thấp Hóa Đàm Thang” bổ sung glucosamine dưới dạng nano, ức chế enzyme lactase (enzyme phá hủy xương) và kích thích tổng hợp proteoglycan, kết hợp với phương pháp tác động cột sống giúp người bệnh hồi phục sau chỉ từ 2 tuần. Các bệnh nhân nhanh chóng khả năng đi lại, thuyên giảm đáng kể tình trạng đau nhức xương khớp mang lại kết quả hết sức tốt đẹp, hầu hết các bệnh nhân sau khi điều trị tại trung tâm đều cảm thấy hài lòng và tin tưởng.

    Phương pháp điều trị bằng y học cổ truyền, không phẫu thuật được xem là phương pháp điều trị ít xâm hại, giảm nguy cơ thoái hóa khớp và mang đến hiệu quả điều trị tích cực cho người bệnh. Theo PGS TS BS. Nguyễn Vinh Ngọc, Phó chủ tịch Hội khớp học Hà Nội và Trưởng phân môn khớp – Đại học Y Hà Nội, ứng dụng đông y là phương pháp an toàn và có hiệu quả đối với các bệnh lý xương khớp, không để lại di chứng.

    Ngoài ra, Trung Tâm cũng cung cấp đầy đủ các dịch vụ thăm khám, chẩn đoán và điều trị các bệnh lý xương khớp như: thoát vị đĩa đệm, thoái hóa khớp, thoái hóa cột sống, vôi cột sống, bệnh Gout, viêm gân, hẹp khe khớp…

    Cùng với việc xây dựng đội ngũ y bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, Trung tâm còn chú trọng đầu tư trang thiết bị và không ngừng mở rộng cơ sở vật chất. Đồng thời, hướng đến việc đem lại sự hỗ trợ điều trị phục hồi xương khớp đến mọi đối tượng người bệnh để mang đến cho họ một cuộc sống khỏe mạnh, hạnh phúc.

    Do đó, để được tư vấn chuyên sâu và điều trị hiệu quả, vui lòng truy cập: https://trungtamdieutrixuongkhop.vn/

    Thông tin liên hệ đặt lịch hẹn khám

    Tại Hà Nội: Số 15 ngõ 135 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội

    Tại Thái Bình: Lô 14 – 15 Trần Phú, Tp. Thái Bình, tỉnh Thái Bình

    Tại Hải Phòng: 309 Hai Bà Trưng, Tp. Hải Phòng

    Email: [email protected]

    Điện thoại: 0961.095.111

    Theo Trungtamdieutrixuongkhop

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chữa Bệnh Tiểu Đường Bằng Phương Pháp Y Học Cổ Truyền
  • Khám Chữa Bệnh Da Liễu Tại Bệnh Viện Y Học Cổ Truyền Trung Ương
  • Các Phương Pháp Điều Trị Hysteria Theo Y Học Cổ Truyền
  • Hướng Dẫn Khám, Chữa Bệnh Tại Bệnh Viện Y Học Cổ Truyền Trung Ương
  • Lập Cơ Sở Khám Chữa Bệnh Y Học Cổ Truyền
  • Chữa Bệnh Tiểu Đường Hiệu Quả Bằng Phương Pháp Y Học Cổ Truyền

    --- Bài mới hơn ---

  • Chữa Dứt Điểm Bệnh Mất Ngủ Bằng Phương Pháp Y Học Cổ Truyền
  • Ứng Dụng Y Học Cổ Truyền Trong Chăm Sóc Và Điều Trị Ung Thư
  • Dịch Vụ Khám Và Điều Trị Bằng Y Học Cổ Truyền
  • Điều Trị Bằng Y Học Cổ Truyền
  • Tư Vấn Tuyển Sinh: Có Nên Học Y Học Cổ Truyền Không?
  • Hiện có nhiều bài thuốc chữa bệnh tiểu đường bằng phương pháp y học cổ truyền hiệu quả được các chuyên gia đông y nghiên cứu kĩ lưỡng và áp dụng thành công.

    Chữa bệnh tiểu đường bằng phương pháp Y học cổ truyền hiệu quả

    Nguyên nhân gây bệnh tiểu đường

    Theo các y sỹ y học cổ truyền, trong Đông y không có bệnh danh “đái tháo đường” nhưng đối chiếu với các chứng trạng lâm sàng, căn bệnh này được quy vào phạm vi chứng “tiêu khát”. Bệnh phát sinh chủ yếu do các nguyên nhân như di truyền, ăn uống bất hợp lý, yếu tố tâm thần kinh, trường, nhiễm trùng, dùng thuốc bất hợp lý hoặc tửu sắc và lao lực quá độ. Các nguyên nhân này làm rối loạn công năng các tạng phủ, đặc biệt là ba tạng tỳ, phế và thận, từ đó mà phát sinh tiêu khát. Ngoài ra, việc dùng quá nhiều đồ ăn thức uống béo bổ và khó tiêu khiến cho tỳ vị bị tổn thương, mất khả năng vận chuyển và tiêu hóa thức ăn gây nên tích trệ, lâu ngày hóa nhiệt làm tổn hao âm dịch mà phát sinh thành bệnh. Căng thẳng thần kinh kéo dài làm cho tạng can mất khả năng sơ tiết, can khí uất kết mà hóa hỏa, hỏa phía trên gây tổn thương âm dịch của phế và vị, phía dưới gây tổn thương âm dịch của thận, từ đó mà phát sinh tiêu khát – hay còn gọi là bệnh tiểu đường

    Bài thuốc y học cổ truyền chữa bệnh tiểu đường

    Y học cổ truyền phân chia bệnh tiểu đường ở nhiều thể khác nhau, ở mỗi thể thì có thể áp dụng theo các bài, vị thuốc khác nhau.

    Bài thuốc y học cổ truyền gồm các vị sau: Sinh địa, thiên hoa phấn, sa sâm, sơn thù, bạch linh, mạch môn, đơn bì, trạch tả mỗi thứ 12 g, cát căn, kỷ tử, sinh sơn dược, sinh bạch thược mỗi thứ 16 g. Sắc uống ngày một thang.

    Nếu người bệnh cảm thấy nóng nhiều gia thêm tri mẫu 12 g, thạch lộc 20 g. Nếu người bệnh khát nước, uống nhiều, gia thêm sinh thạch cao 40 g, hoàng cầm 12 g hoặc chỉ cần tăng liều cát căn 20 g, sa sâm 20 g. Trong trường hợp người bệnh ăn nhiều, mau đói, gầy ốm sụt cân thì cần tăng thêm gia hoàng liên 8 g. Nếu táo bón thì bỏ vị sơn thù, sơn dược, gia thêm đại hoàng 10-12 g, mang tiêu 10-12 g, huyền sâm 12 g. Hết táo bón thì ngưng dùng đại hoàng, mang tiêu, duy trì dùng huyền sâm. Người bệnh tiểu nhiều thì gia thêm ích trí nhân 12 g, tang phiêu tiêu 12 g, ngũ vị tử 6 g, sơn dược – sơn thù nhục dùng tăng liều.Nếu thận âm và dương đều hư nhược, càng ăn uống nhiều càng gầy ốm, chân tay lạnh, tinh thần mệt mỏi, đau lưng, ù tai, tiểu đêm nhiều lần… thì thêm kim anh tử 16 g, phụ tử chế 10 g, thục địa 16 g, nhục quế 4-6 g, ngũ vị tử 6 g, thỏ ty tử 12 g. Người bệnh thường đi ngoài phân lỏng sệt, không thành khuôn, đầy bụng, mệt mỏi vô lực thì gia thêm bạch truật (sao vàng) 16 g, bỏ vị kỷ tử.Nếu có vết thương khó lành thì gia thêm các vị thuốc Đông y như: kim ngân hoa 20 g, cúc hoa 20 g, bồ công anh 20 g, tử hoa địa đinh (địa đinh) 20 g…

    Các chuyên gia đông y có khuyến cáo: người bệnh có thể dùng các loại đậu (xanh, đen, đậu nành, đậu phụng, đậu trắng…), ăn rau tươi, trái cây chua, cá, thịt nạc, sữa không béo và thường xuyên luyện tập dưỡng sinh hoặc đi bách bộ.

    Điều trị bệnh bệnh tiểu đường có sự chỉ dẫn của các thầy thuốc chuyên môn cao

    Công dụng phương pháp Y học Cổ truyền trong điều trị bệnh tiểu đường

    Mục tiêu của y học cổ truyền trong điều trị bệnh tiểu đường (tiêu khát) làm bớt các triệu chứng khó chịu, nâng thể trạng cho người bệnh và ngăn ngừa những biến chứng do bệnh tiểu đường gây ra. Tác dụng hạ đường huyết của các vị thuốc chỉ có giới hạn, vì vậy bệnh nhân nên kết hợp điều trị bằng cả hai loại thuốc Đông và Tây y để đạt hiệu quả cao nhất.Tuy nhiên, các giảng viên nghiên cứu Y học cổ truyền, Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur cũng khuyến cáo: việc chữa trị cần được thực hiện bởi các thầy thuốc có chuyên môn tay nghề và kinh nghiệm cao mới đảm bảo hiệu quả và an toàn tuyệt đối. Vì vậy, người bệnh cần nghiên cứu kĩ lưỡng phương thuốc và cần có sự hướng dẫn của các thầy thuốc, không được tự ý sử dụng sẽ gây ra nhiều nguy hiểm.

    Chữa bệnh tiểu đường bằng phương pháp y học cổ truyền được nhiều bệnh nhân ứng dụng vì hiệu quả an toàn, chi phí điều trị hợp lí, không chỉ vậy, sau khi chữa trị bệnh tiểu đường bằng các phương pháp Đông y cổ truyền thì hiệu quả rất lâu dài và hầu hết các bệnh nhân đều không bị gặp phải biến chứng do bệnh tiểu đường gây ra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Khám Và Chẩn Đoán Bệnh Theo Y Học Cổ Truyền
  • Nguyên Nhân Gây Bệnh Và Phương Pháp Chẩn Đoán Theo Yhct
  • 3 Phương Pháp Chữa Bệnh Tóc Bạc Sớm Từ Y Học Cổ Truyền
  • Phương Pháp Chế Biến, Sử Dụng Các Vị Thuốc Y Học Cổ Truyền
  • Sách Phương Pháp Chế Biến, Sử Dụng Các Vị Thuốc Cổ Truyền
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100