Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Hoá Thcs

--- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Cấp Tiểu Tiểu Học
  • 20+ Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực Hiệu Quả Nhất
  • Phương Pháp Kỉ Luật Tích Cực Trong Dạy Học Và Giáo Dục Học Sinh Tiểu Học
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Giáo Dục Mầm Non “trẻ Chơi Mà Học, Học Mà Chơi”
  • Đề Tài Giới Thiệu Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Sinh Học Trong Trường Thpt
  • Trang

    Phần thứ nhất : Những vấn đề chung

    II. Đối tượng nghiên cứu

    3

    III. Mục đích nghiên cứu

    3

    IV. Điểm mới của vấn đề

    3

    Phần thứ hai: Cơ sở lí luận của đề tài

    II. Phương pháp dạy học hoá học

    5

    Phần thứ ba: dụng các phương pháp dạy học tích cực vào một số tình huống giảng dạy môn hoá học THCS

    16

    Phần thứ tư: Một số giáo án sử dụng các phương pháp dạy học tích cực

    26

    Phần thứ nhất

    Những vấn đề chung

    I – Lí do chọn đề tài:

    Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, nền giáo dục quốc dân cần phải có những đổi mới phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế – xã hội. nghị quyết trung ương Đảng lần thứ IV đã chỉ rõ “… giáo dục và đào tạo là động lực thúc đẩy và là điều kiện cơ bản đảm bảo việc thực hiện mục tiêu kinh tế – xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước…”

    Để thực hiện quan điểm trên, Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VII về việc tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: ” Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học. kết hợp tốt học với hành học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và NCKH, gắn nhà trường và xã hội, áp dụng phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực sáng tạo, năng lực giải quết vấn đề, do đó đặt ra nhiệm vụ cho ngành giáo dục phải đổi mới phương pháp dạy học để đào tạo con người có đủ khả năng sống và làm việc theo yêu cầu của cuộc cách mạng lớn của thời đại: Cách mạng truyền thông, công nghệ thông tin, cách mạng công nghệ. một trong những sự đổi mới giáo dục là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hoá người học, trong việc tổ chức quá trình lĩnh hội tri thức thì lấy học sinh làm trung tâm. theo hướng này giáo viên đóng vai trò tổ chức và điều khiển học sinh chiếm lĩng tri thức, tự lực hoạt động tìm tòi để dành kiến thức mới.

    Trong sự đổi mới này không phải chúng ta loại bỏ phương pháp truyền thống mà cần tìm ra những yếu tố tích cực, sáng tạo trong từng phương pháp để thừa kế và phát triển những phương pháp đó cần sử dụng sáng tạo các phương pháp dạy học phù hợp, thuyết trìng nêu vấn đề, đàm thoại ơrixtic, trong dạy học hoá học THCS việc tăng cường sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp với thí nghiệm hoá học cũng là phương hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá người học. Để sử dụng sáng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mách Bạn 10 Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Phổ Biến Nhất
  • Giáo Án Bài Tấm Cám Soạn Theo Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Những Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Ngữ Văn
  • Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Phổ Biến Hiện Nay
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Thực Hiện Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Cho Trẻ Tại Trường Mầm Non Sao Mai
  • Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Phổ Biến Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Ngữ Văn
  • Giáo Án Bài Tấm Cám Soạn Theo Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Mách Bạn 10 Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Phổ Biến Nhất
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Hoá Thcs
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Cấp Tiểu Tiểu Học
  • Các phương pháp dạy học tích cực môn toán được đánh giá hiệu quả và sử dụng nhiều cho các cấp học

    1. Đặc điểm của môn toán

    Để sử dụng hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực môn toán, đầu tiên cần phải hiểu rõ về đặc điểm của môn toán.

    Nội dung của môn toán có tính trừu tượng, logic và khái quát. Do đó, để giúp các em học tốt môn toán cần phải đảm bảo sự cân đối giữa việc học lý thuyết, và vận dụng lý thuyết giải quyết các vấn đề cụ thể. Bên cạnh đó, cần phải có sự hỗ trợ của thiết bị như máy tính cầm tay, máy tính điện tử để khám phá kiến thức và giải quyết các vấn đề của toán học.

    Đối với toán trung học, các em được cung kiến thức và kỹ năng then chốt, đồng thời mở ra các cơ hội trải nghiệm và áp dụng toán học vào trong thực tế, hay kết nối các ý tưởng toán học với nhiều môn học và các hoạt động khác.

    2. Phương pháp dạy học tích cực môn toán là gì?

    Phương pháp dạy học tích cực môn toán là phương pháp dạy học mà ở đó giáo viên sẽ dùng đến một nhóm phương pháp giáo dục để giúp học sinh phát triển kỹ năng học toán theo hướng chủ động, tích cực và sáng tạo.

    Thông qua phương pháp này, học sinh sẽ hình thành các năng lực: tư duy và lập luận, mô hình hóa, giải quyết các vấn đề và dụng các phương tiện cùng công cụ của toán học.

    3. Hướng đổi mới phương pháp dạy học môn toán

    3.1 Về phương pháp dạy học

    Thực hiện việc dạy học cần phải phù hợp với khả năng, trình độ nhận thức của học sinh, dạy học theo tinh thần “lấy người học làm trung tâm”, quan tâm đến nhu cầu, khả năng nhận thức của từng đối tượng học sinh. Tổ chức việc dạy học đi theo hướng kiến tạo, có nghĩa học sinh sẽ là người chủ động tìm kiếm, phát hiện, tự đưa ra suy luận để giải quyết vấn đề.

    3.2 Về đánh giá kết quả

    Khi áp dụng các phương pháp dạy học tích cực môn toán, chúng ta cũng cần phải đổi mới về cách đánh giá kết quả. Cần kết hợp đánh giá của giáo viên bộ môn toán, tự đánh giá của học sinh với đánh giá của giáo viên bộ môn khác. Thực hiện đúng mục tiêu của đánh giá là vì sự tiến bộ của học sinh khi học môn toán.

    Khuyến khích giáo viên nên sử dụng đa dạng các phương pháp đánh giá hoặc kết hợp nhiều phương pháp đánh giá. Có thể kết đến như quan sát quá trình học tập, làm bài trắc nghiệm, câu hỏi vấn đáp, thực hiện dự án, bài tập thực hành… Đồng thời nên lựa chọn phương pháp phù hợp với năng lực toán học của từng đối tượng học sinh khác nhau.

    3.3 Về phương tiện dạy học

    Đảm bảo giáo viên giảng dạy được sử dụng các phương tiện dạy học ở mức tối thiểu. Kết hợp phương tiện dạy học truyền thống với thiết bị dạy học tự làm, và các phương tiện kỹ thuật hiện đại vào quá trình dạy học. Giáo viên cũng nên hướng dẫn học sinh sử dụng công cụ tìm kiếm internet để tìm tòi, khám phá thêm nhiều kiến thức về toán học.

    4. Các phương pháp dạy học tích cực môn toán

    4.1 Phương pháp trực quan

    Là một trong các phương pháp dạy học tích cực môn toán được nhiều giáo viên áp dụng hiện nay. Với phương pháp trực quan, việc truyền dạy kiến thức sẽ được thực hiện thông qua hoạt động quan sát của học sinh. Để mang lại hiệu quả cao, đồ vật sử dụng trực quan phải có đẹp và có màu sắc bắt mắt.

    4.2 Phương pháp gợi mở – vấn đáp

    Giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để học sinh tìm câu trả lời. Khi sử dụng phương pháp dạy toán tích cực này, giáo viên nên lựa chọn câu hỏi thật ngắn gọn, rõ ràng, mức độ vừa phải để học sinh suy nghĩ.

    4.3 Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề

    Trong các phương pháp dạy học tích cực môn toán, phương pháp đặt và giải quyết vấn đề được đánh giá là mang lại hiệu quả cao. Bởi nó thúc đẩy hoạt động tự giác và tích cực trong việc giải quyết vấn đề của học sinh. Với phương pháp này, giáo viên sẽ đưa ra các tình huống để học sinh chủ động tìm cách giải quyết vấn đề.

    Với phương pháp luyện tập thực hành, giáo viên sẽ đứng ra tổ chức các nhiệm vụ, bài tập để học sinh tự giải quyết. Bằng việc sử dụng phương pháp này sẽ giúp học sinh ghi nhớ sâu kiến thức được học và vận dụng chúng một cách linh hoạt khi thực hành.

    4.5 Phương pháp giảng giải – minh hoạ

    Là phương pháp dạy học sử dụng lời nói để giải thích về kiến thức toán học với sự hỗ trợ của các phương tiện trực quan. Lưu ý với phương pháp này, việc giảng giải sẽ diễn ra tối đa trong thời gian 5 phút.

    5. Đổi mới lập kế hoạch dạy môn toán

    5.1 Chuẩn bị lập kế hoạch

    • Kế hoạch dạy học phải tự lập chứ không dùng chung giáo án mẫu giống như trước.
    • Giáo viên phải có thái độ cầu tiến, sự tâm huyết và đổi mới trong kế hoạch dạy môn toán. Ở mỗi bài dạy nên có một mục về kinh nghiệm thành công, nội dung bài học cần điều chỉnh và nhận xét học sinh để lấy đó làm cơ sở kiểm tra, đánh giá theo thông tư 22.
    • Kế hoạch dạy môn toán chính là nội dung về cách tổ chức, hướng dẫn học sinh được giáo viên ghi lại trong một tiết học. Nó hoàn toàn không phải là bài soạn về nội dung học mà giáo viên sẽ truyền dạy cho học sinh.

    5.2 Yêu cầu của kế hoạch dạy học

    • Có kiến thức.
    • Có kỹ năng.
    • Giáo dục phát triển.
    • Hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực cơ bản.
    • Yêu cầu của nội dung, mục tiêu, chương trình dạy học phải đáp ứng được 2 nhiệm vụ cơ bản: phổ cập kiến thức cho tất cả học sinh trong lớp và phát triển với đối tượng học sinh học tốt hơn.

    5.3 Quá trình tổ chức dạy – học

    Quy trình cần phải thể hiện được phương pháp đặc trưng, trọng tâm và phương pháp phối hợp:

    • Hoạt động của thầy và trò trong lớp học bao gồm hình thức hoạt động như thế nào? Giải quyết vấn đề gì? Yêu cầu nhiệm vụ là gì?,…
    • Hình thức tổ chức các hoạt động (chia nhóm, độc lập, trò chơi học tập,…) cần phải tập trung vào các phương pháp chủ yếu và đặc trưng.
    • Thể hiện được sự đồng bộ trong hoạt động của giáo viên và học sinh, sự tương tác giữa các hoạt động, sự hợp tác trong quá trình làm việc, hỗ trợ hoạt động của cá cá nhân, các nhóm và tập thể lớp.

    6. Cấu trúc kế hoạch dạy – học môn toán

    Áp dụng các phương pháp dạy học tích cực môn toán buộc giáo viên phải tuân theo cấu trúc kế hoạch dạy, chỉ có như thế mới phát huy hiệu quả tốt nhất cho hoạt động dạy và khám phá kiến thức của học sinh.

    Cấu trúc kế hoạch dạy – học môn toán bao gồm:

    6.1 Hoạt động 1: Hoạt động sư phạm hoặc khởi động và kết nối

    • Giáo viên tổ chức, xây dựng môi trường học tập. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là chuẩn bị tinh thần cho học sinh để bắt đầu học môn toán.
    • Tổ chức hoạt động kiểm tra bằng cách lồng ghép kiến thức mới và cũ hoặc hỏi về kiến thức cũ, đánh giá nhiệm vụ học tập của học sinh một cách toàn diện về kiến thức và cả kỹ năng.
    • Thực hiện việc kiểm tra về sự chuẩn bị của học sinh.
    • Giáo viên chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng phục vụ việc dạy học, giới thiệu về bài học mới.

    6.2 Hoạt động 2: Khám phá

    • Giáo viên hỗ trợ học sinh trong việc khám phá kiến thức của bài học mới.
    • Ở hoạt động khám phá, vai trò của giáo viên rất quan trọng. Cần phải lên một bản kế hoạch bao gồm tiến trình dạy học, phương pháp giảng dạy chủ yếu, hoạt động giáo viên và học sinh trong lớp, phương tiện, công cụ sử dụng,…
    • Mục đích của hoạt động này là tạo nên sự kết nối giữa các kiến thức vừa mới khám phá được với luyện tập cơ bản.
    • Ở hoạt động này, giáo viên giữ vai trò chỉ đạo:Đưa ra nhiệm vụ tổng quát và các yêu cầu để học sinh thực hiện.
    • Tìm hiểu kỹ về đề bài và đưa ra phương pháp giải.
    • Trao đổi giữa thành viên trong nhóm về cách làm, đánh giá cách làm của nhau.
    • Báo cáo lại kết quả làm việc của nhóm.

    6.4 Hoạt động 4: Luyện tập thực hành

    • Mục đích của hoạt động này là hỗ trợ các em học sinh có thể vận dụng những kiến thức, những kỹ năng đã khám phá ở hoạt động 2 và hoạt động 3 vào những tình huống khác nhau với mức độ cao hơn.
    • Giáo viên đưa ra các nhiệm vụ, các yêu cầu để học sinh thực hiện.

    6.5 Hoạt động 5: Sau tiết học

    • Mục đích là mang đến các cơ hội để các em học sinh có thể gắn kết nội dung đã được học trên lớp vào trong các hoạt động thực tế của cuộc sống. Từ đó, giúp các em học được cách tự lực, thích ứng hoặc tự mình xây dựng nên các kế hoạch hợp tác với những đối tượng khác.
    • Để thực hiện được hoạt động này, giáo viên nên đưa ra các bảng chỉ dẫn để giải quyết công việc.

    Cẩm nang dạy học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Thực Hiện Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Cho Trẻ Tại Trường Mầm Non Sao Mai
  • Một Số Phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực Có Thể Sử Dụng Trong Dạy Học Ngữ Văn Thcs
  • Những Cuốn Sách Hay Dành Cho Cha Mẹ
  • Top 5 Cuốn Sách Hay Về Nuôi Dạy Con Từ 0
  • Mẹ Đã Biết Gì Về Phương Pháp Easy Chưa?
  • Gợi Ý Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Phổ Biến

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Ở Tiểu Học
  • Phương Pháp Dạy Học Kể Chuyện Học Sinh Tiểu Học
  • Quy Trình Dạy Phân Môn Kể Chuyện Lớp 5 Theo Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Kể Chuyện
  • Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Khám Phá Trong Dạy Học Phép Biến Hình Lớp 11 Trung Học Phổ Thông ( Ban Nâng Cao)
  • Sự Kết Hợp Đa Dạng Các Phương Pháp Trong Giảng Dạy
  • 1. Đặc điểm của môn toán

    Để sử dụng hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực môn toán, đầu tiên cần phải hiểu rõ về đặc điểm của môn toán.

    Nội dung của môn toán có tính trừu tượng, logic và khái quát. Do đó, để giúp các em học tốt môn toán cần phải đảm bảo sự cân đối giữa việc học lý thuyết, và vận dụng lý thuyết giải quyết các vấn đề cụ thể. Bên cạnh đó, cần phải có sự hỗ trợ của thiết bị như máy tính cầm tay, máy tính điện tử để khám phá kiến thức và giải quyết các vấn đề của toán học.

    Môn toán ở cấp học tiểu học giúp hình thành và phát triển năng lực toán học của học sinh thông qua khả năng tư duy và lập luận toán học. Các em sẽ tiến hành mô hình hóa toán học, ứng dụng các công cụ, phương tiện để giải quyết vấn đề của toán học.

    Đối với toán trung học, các em được cung kiến thức và kỹ năng then chốt, đồng thời mở ra các cơ hội trải nghiệm và áp dụng toán học vào trong thực tế, hay kết nối các ý tưởng toán học với nhiều môn học và các hoạt động khác.

    2. Phương pháp dạy học tích cực môn toán là gì?

    Phương pháp dạy học tích cực môn toán là phương pháp dạy học mà ở đó giáo viên sẽ dùng đến một nhóm phương pháp giáo dục để giúp học sinh phát triển kỹ năng học toán theo hướng chủ động, tích cực và sáng tạo.

    Thông qua phương pháp này, học sinh sẽ hình thành các năng lực: tư duy và lập luận, mô hình hóa, giải quyết các vấn đề và dụng các phương tiện cùng công cụ của toán học.

    3. Hướng đổi mới phương pháp dạy học môn toán

    3.1 Về phương pháp dạy học

    Thực hiện việc dạy học cần phải phù hợp với khả năng, trình độ nhận thức của học sinh, dạy học theo tinh thần “lấy người học làm trung tâm”, quan tâm đến nhu cầu, khả năng nhận thức của từng đối tượng học sinh. Tổ chức việc dạy học đi theo hướng kiến tạo, có nghĩa học sinh sẽ là người chủ động tìm kiếm, phát hiện, tự đưa ra suy luận để giải quyết vấn đề.

    Linh hoạt trong việc sử dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực, có sự kết hợp với kỹ thuật dạy học truyền thống. Bên cạnh hoạt động học tập ở trên lớp, có thể cho học sinh tham gia các hoạt động trải nghiệm, để có cơ hội vận dụng kiến thức toán học vào trong thực tế.

    3.2 Về đánh giá kết quả

    Khi áp dụng các phương pháp dạy học tích cực môn toán, chúng ta cũng cần phải đổi mới về cách đánh giá kết quả. Cần kết hợp đánh giá của giáo viên bộ môn toán, tự đánh giá của học sinh với đánh giá của giáo viên bộ môn khác. Thực hiện đúng mục tiêu của đánh giá là vì sự tiến bộ của học sinh khi học môn toán.

    Khuyến khích giáo viên nên sử dụng đa dạng các phương pháp đánh giá hoặc kết hợp nhiều phương pháp đánh giá. Có thể kết đến như quan sát quá trình học tập, làm bài trắc nghiệm, câu hỏi vấn đáp, thực hiện dự án, bài tập thực hành… Đồng thời nên lựa chọn phương pháp phù hợp với năng lực toán học của từng đối tượng học sinh khác nhau.

    3.3 Về phương tiện dạy học

    Đảm bảo giáo viên giảng dạy được sử dụng các phương tiện dạy học ở mức tối thiểu. Kết hợp phương tiện dạy học truyền thống với thiết bị dạy học tự làm, và các phương tiện kỹ thuật hiện đại vào quá trình dạy học. Giáo viên cũng nên hướng dẫn học sinh sử dụng công cụ tìm kiếm internet để tìm tòi, khám phá thêm nhiều kiến thức về toán học.

    4. Các phương pháp dạy học tích cực môn toán

    4.1 Phương pháp trực quan

    Là một trong các phương pháp dạy học tích cực môn toán được nhiều giáo viên áp dụng hiện nay. Với phương pháp trực quan, việc truyền dạy kiến thức sẽ được thực hiện thông qua hoạt động quan sát của học sinh. Để mang lại hiệu quả cao, đồ vật sử dụng trực quan phải có đẹp và có màu sắc bắt mắt.

    4.2 Phương pháp gợi mở – vấn đáp

    Giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để học sinh tìm câu trả lời. Khi sử dụng phương pháp dạy toán tích cực này, giáo viên nên lựa chọn câu hỏi thật ngắn gọn, rõ ràng, mức độ vừa phải để học sinh suy nghĩ.

    4.3 Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề

    Trong các phương pháp dạy học tích cực môn toán, phương pháp đặt và giải quyết vấn đề được đánh giá là mang lại hiệu quả cao. Bởi nó thúc đẩy hoạt động tự giác và tích cực trong việc giải quyết vấn đề của học sinh. Với phương pháp này, giáo viên sẽ đưa ra các tình huống để học sinh chủ động tìm cách giải quyết vấn đề.

    4.4 Phương pháp luyện tập thực hành

    Với phương pháp luyện tập thực hành, giáo viên sẽ đứng ra tổ chức các nhiệm vụ, bài tập để học sinh tự giải quyết. Bằng việc sử dụng phương pháp này sẽ giúp học sinh ghi nhớ sâu kiến thức được học và vận dụng chúng một cách linh hoạt khi thực hành.

    4.5 Phương pháp giảng giải – minh hoạ

    Là phương pháp dạy học sử dụng lời nói để giải thích về kiến thức toán học với sự hỗ trợ của các phương tiện trực quan. Lưu ý với phương pháp này, việc giảng giải sẽ diễn ra tối đa trong thời gian 5 phút.

    5. Đổi mới lập kế hoạch dạy môn toán

    5.1 Chuẩn bị lập kế hoạch

    • Kế hoạch dạy học phải tự lập chứ không dùng chung giáo án mẫu giống như trước.
    • Giáo viên phải có thái độ cầu tiến, sự tâm huyết và đổi mới trong kế hoạch dạy môn toán. Ở mỗi bài dạy nên có một mục về kinh nghiệm thành công, nội dung bài học cần điều chỉnh và nhận xét học sinh để lấy đó làm cơ sở kiểm tra, đánh giá theo thông tư 22.
    • Kế hoạch dạy môn toán chính là nội dung về cách tổ chức, hướng dẫn học sinh được giáo viên ghi lại trong một tiết học. Nó hoàn toàn không phải là bài soạn về nội dung học mà giáo viên sẽ truyền dạy cho học sinh.

    5.2 Yêu cầu của kế hoạch dạy học

    • Có kiến thức.
    • Có kỹ năng.
    • Giáo dục phát triển.
    • Hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực cơ bản.
    • Yêu cầu của nội dung, mục tiêu, chương trình dạy học phải đáp ứng được 2 nhiệm vụ cơ bản: phổ cập kiến thức cho tất cả học sinh trong lớp và phát triển với đối tượng học sinh học tốt hơn.

    5.3 Quá trình tổ chức dạy – học

    Quy trình cần phải thể hiện được phương pháp đặc trưng, trọng tâm và phương pháp phối hợp:

    • Hoạt động của thầy và trò trong lớp học bao gồm hình thức hoạt động như thế nào? Giải quyết vấn đề gì? Yêu cầu nhiệm vụ là gì?,…
    • Hình thức tổ chức các hoạt động (chia nhóm, độc lập, trò chơi học tập,…) cần phải tập trung vào các phương pháp chủ yếu và đặc trưng.
    • Thể hiện được sự đồng bộ trong hoạt động của giáo viên và học sinh, sự tương tác giữa các hoạt động, sự hợp tác trong quá trình làm việc, hỗ trợ hoạt động của cá cá nhân, các nhóm và tập thể lớp.

    6. Cấu trúc kế hoạch dạy – học môn toán

    Áp dụng các phương pháp dạy học tích cực môn toán buộc giáo viên phải tuân theo cấu trúc kế hoạch dạy, chỉ có như thế mới phát huy hiệu quả tốt nhất cho hoạt động dạy và khám phá kiến thức của học sinh.

    Cấu trúc kế hoạch dạy – học môn toán bao gồm:

    6.1 Hoạt động 1: Hoạt động sư phạm hoặc khởi động và kết nối

    • Giáo viên tổ chức, xây dựng môi trường học tập. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là chuẩn bị tinh thần cho học sinh để bắt đầu học môn toán.
    • Tổ chức hoạt động kiểm tra bằng cách lồng ghép kiến thức mới và cũ hoặc hỏi về kiến thức cũ, đánh giá nhiệm vụ học tập của học sinh một cách toàn diện về kiến thức và cả kỹ năng.
    • Thực hiện việc kiểm tra về sự chuẩn bị của học sinh.
    • Giáo viên chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng phục vụ việc dạy học, giới thiệu về bài học mới.

    6.2 Hoạt động 2: Khám phá

    • Giáo viên hỗ trợ học sinh trong việc khám phá kiến thức của bài học mới.
    • Ở hoạt động khám phá, vai trò của giáo viên rất quan trọng. Cần phải lên một bản kế hoạch bao gồm tiến trình dạy học, phương pháp giảng dạy chủ yếu, hoạt động giáo viên và học sinh trong lớp, phương tiện, công cụ sử dụng,…

    6.3 Hoạt động 3: Luyện tập cơ bản

    • Mục đích của hoạt động này là tạo nên sự kết nối giữa các kiến thức vừa mới khám phá được với luyện tập cơ bản.
    • Ở hoạt động này, giáo viên giữ vai trò chỉ đạo:Đưa ra nhiệm vụ tổng quát và các yêu cầu để học sinh thực hiện.
    • Tìm hiểu kỹ về đề bài và đưa ra phương pháp giải.
    • Trao đổi giữa thành viên trong nhóm về cách làm, đánh giá cách làm của nhau.
    • Báo cáo lại kết quả làm việc của nhóm.

    6.4 Hoạt động 4: Luyện tập thực hành

    • Mục đích của hoạt động này là hỗ trợ các em học sinh có thể vận dụng những kiến thức, những kỹ năng đã khám phá ở hoạt động 2 và hoạt động 3 vào những tình huống khác nhau với mức độ cao hơn.
    • Giáo viên đưa ra các nhiệm vụ, các yêu cầu để học sinh thực hiện.

    6.5 Hoạt động 5: Sau tiết học

    • Mục đích là mang đến các cơ hội để các em học sinh có thể gắn kết nội dung đã được học trên lớp vào trong các hoạt động thực tế của cuộc sống. Từ đó, giúp các em học được cách tự lực, thích ứng hoặc tự mình xây dựng nên các kế hoạch hợp tác với những đối tượng khác.
    • Để thực hiện được hoạt động này, giáo viên nên đưa ra các bảng chỉ dẫn để giải quyết công việc.

    Toán học là bộ môn quan trọng trong chương trình giảng dạy của các cấp học. Việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực môn toán sẽ có tác động rất lớn trong việc hình thành khả năng tư duy, năng lực toán học của các em học sinh.

    Hy vọng rằng với những phương pháp dạy toán tích cực được Hachium chia sẻ trong bài viết trên, việc dạy toán sẽ trở nên hiệu quả hơn, kích thích được khả năng sáng tạo, chủ động của học sinh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Theo Nhóm
  • Một Số Phương Pháp Dạy Học Nhằm Phát Huy Tính Tích Cực, Chủ Động, Sáng Tạo Của Học Sinh Thcs Trong Việc Học Phân Môn Vẽ Tranh
  • Một Số Biện Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học
  • Luận Văn: Phương Pháp Dạy Học Trong Dạy Học Hóa Học Lớp 10
  • Phương Pháp Dạy Học Hóa Học 2
  • Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Theo Mô Hình Vnen
  • Phương Pháp Dạy Học Văn Bản Nhật Dụng Lớp 8
  • Skkn Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Văn Bản Nhật Dụng Lớp 8
  • Giới Thiệu Sơ Lược Về Webquest
  • Phương Pháp Dạy Văn Của Thầy Cô Xưa Và Nay
  • 1. Phương pháp dạy học tích cực môn Ngữ Văn

    Phương pháp dạy học tích cực là việc lấy học sinh làm trung tâm trong quá trình dạy học, giáo viên là người nêu và gợi mở lên vấn đề bằng nhiều cách khác nhau mang lại sự hào hứng, sự tự giác của học sinh. Học sinh sẽ tự học, tự nhiên cứu, tự trình bày và giải quyết các vấn đề để đưa ra kết luận cụ thể.

    Các phương pháp dạy học tích cực môn Ngữ Văn

    2. Một số phương pháp dạy học tích cực môn Ngữ Văn THCS

    2.1 Phương pháp tình huống có vấn đề

    Tình huống có vấn đề ở đây là chứa đựng nội dung chính, xác định một nhiệm vụ cụ thể, một vấn đề nào đó cần được giải quyết, một vướng mắc cần được tháo gỡ. Kết quả của việc nghiên cứu, giải quyết đó sẽ tìm ra được tri thức mới, nhận thức mới hay phương pháp hành động mới đối với học sinh.

    2.2 Phương pháp kích thích tư duy

    Phương pháp này tạo sự chú ý, kích thích, tìm tòi, gợi cách suy nghĩ, kiểm tra đánh giá. Được tiến hành như sau: Học sinh sẽ lắng nghe cách đặt câu hỏi của giáo viên, tự suy nghĩ để nắm rõ nội dung của câu hỏi, tự tìm kiếm câu trả lời cho mình. Sau đó giáo viên sẽ để học sinh trả lời câu hỏi công khai. Lúc này từng học sinh sẽ xem lại câu trả lời của mình khi nghe câu trả lời của bạn hoặc nghe nhận xét của giáo viên về câu trả lời của bạn.

    Phương pháp dạy học tích cực môn Ngữ Văn

    Lớp sẽ được chia thành nhiều nhóm khác nhau tùy thuộc vào mục đích và yêu cầu của nội dung bài học. Mỗi nhóm thực hiện một nhiệm vụ khác nhau hoặc cùng thực hiện một nhiệm vụ chung. Các em sẽ bầu chọn nhóm trưởng, các thành viên còn lại đều phải làm việc tích cực đưa ra quan điểm, ý kiến riêng, không ỷ lại. Sau đó sẽ được tổng hợp thành ý kiến chung của nhóm. Các nhóm thi đua nhau trong một bầu không khí vui vẻ để cùng đưa ra kết quả chung cuối cùng. Lúc này giáo viên sẽ là người tổng kết vấn đề.

    Giáo viên sẽ tổ chức cho học sinh làm thử một số tình huống trong văn bản, các nhóm hoặc cá cá nhân sẽ lên đóng vai nhân vật trong tình huống đó. Sau khi nhập vai và hoàn thành tình huống xong, cả lớp sẽ đóng góp và nhận xét ý kiến cho từng nhân vật đó. Cuối cùng, giáo viên là người chốt lại nội dung vấn đề.

    Phương pháp dạy học tích cực môn Ngữ Văn THCS

    3. Áp dụng phương pháp đóng vai trong môn Ngữ Văn

    Khi dạy các bài: Con Rồng, cháu Tiên; ông lão đánh cá và con cá vàng; thầy bói xem voi … giáo viên vận dụng phương pháp đóng vai như sau:

    Bước 1: Giáo viên giới thiệu về văn bản, tìm hiểu chú thích.

    Bước 2: Giáo viên sẽ cho học sinh đóng vai trong các câu chuyện, hướng dẫn về cách đọc, lời thoại, giọng điệu cho học sinh, giáo viên có thể làm mẫu cho học sinh trước.

    Bước 3: Sau khi nhìn các bạn diễn đạt nội dung cốt truyện hoặc đọc phân vai xong thì giáo viên và học sinh cùng đi vào tìm hiểu văn bản.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Phương Pháp Dạy Học Phân Môn Học Vần Lớp 1
  • Chuyên Đề Phương Pháp Dạy Học
  • Skkn. Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Thí Nghiệm Vật Lí Thcs
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Dạy Từ Hán Việt
  • Tài Liệu Một Số Phương Pháp Dạy Học Từ Hán Việt Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Môn Ngữ Văn Ở Trường
  • Đề Tài Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Ở Thpt

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Dạy Học Môn Toán Theo Phương Pháp Tích Cực
  • Phát Huy Năng Lực Tự Học Và Tính Tích Cực Hoá Cho Học Sinh Qua Dạy Học Môn Thể Dục
  • Một Số Giải Pháp Giúp Giáo Viên Giảng Dạy Môn Thể Dục Đạt Kết Quả Tốt Theo Chương Trình Đổi Mới Chỉ Tiêu Và Phương Pháp Dạy Học Của Học Sinh Khối 10 Trường Trung Học Phổ Thông Quan Sơn
  • Chuyên Đề: Dạy Học Tích Cực Môn Toán Lớp 3
  • Đề Tài Vận Dụng Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Nhằm Nâng Cao Hiệu Qủa Dạy Học Môn Giáo Dục Công Dân Bậc Trung Học Phổ Thông
  • – Khái niệm chung về phương pháp: Phương pháp là con đường, là cách thức để đạt những mục đích nhất định.

    Trong đời sống, người ta thường nói: Phương pháp làm cái này, cái kia hoặc cách làm cái này, cái kia; phương pháp sản xuất cái này, cái kia hoặc cách sản xuất cái này, cái kia; Trong dạy học, người ta thường nói: Phương pháp đặt vấn đề hoặc cách đặt vấn đề; phương pháp giải quyết vấn đề hoặc cách giải quyết vấn đề; phương pháp giải bài toán hoặc cách giải bài toán;

    Đặc điểm chung của phương pháp:

    + Phương pháp có tính khái quát: Con đường, cách thức để đạt những mục đích ở đây được hiểu chính là một tập hợp các hoạt động, các thao tác cần thiết có tính chất chung nhất, khái quát nhất mà mọi người khác nhau cần phải hiểu và hoạt động như thế để đạt mục đích đề ra.

    + Phương pháp có chức năng phương tiện tư tưởng: Phương pháp là con đường, là cách thức để đạt những mục đích nhất định – Đó chính là phương tiện tư tưởng để đạt tới mục đích đã định.

    – Phương pháp dạy học (PPDH): Người ta dễ thống nhất với nhau về định nghĩa phương pháp nêu ở trên, từ đó đã đưa ra nhiều nhiều định nghĩa khác nhau về PPDH theo các quan điểm khác nhau, chẳng hạn như:

    PPDH là một hệ thống tác động liên tục của GV nhằm tổ chức các hoạt động nhận thức và thực hành của HS để HS lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội dung giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đã định.

    PPDH là những cách thức hoạt động và ứng xử của GV gây nên những hoạt động và giao lưu cần thiết của HS trong quá trình dạy học nhằm đạt được các mục đích dạy học.

    Theo quan điểm hoạt động thì PPDH bao gồm hai mặt hoạt động: Hoạt động dạy học của GV- hoạt động này giữ vai trò chỉ đạo, tổ chức điều khiển quá trình dạy học. Hoạt động học tập của HS- hoạt động này giữ vai trò chủ động và tích cực.

    trình nhận thức trong nghiên cứ khoa học, quá trình nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện ra các tri thức mà loài người chưa biết mà nhằm lĩnh hội những tri thức mà loài người đã tích lũy được từ trước. Tuy nhiên trong học tập HS cũng cần phải "khám phá'' những tri thức mới với bản thân mình. HS sẽ thông hiểu, ghi nhớ một các chắc chắn những tri thức đã lĩnh hội được hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình. Tính tích cực trong học tập thường được biểu hiện ở HS chủ thể của quá trình nhận thức như: HS hăng hái trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn, thường nêu thắc mắc hay đề nghị GV giải thích những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức các vấn đề mới; tập trung chú ý vào các vấn đề đang học, kiên trì thực hiện các bài tập, không nản trước những khó khăn. Tính tích cực học tập của HS thể hiện ở ba mức độ tư duy sau: + Tái tạo: Tập trung chú ý gắng sức để nắm được vấn đề GV đang hướng dẫn. + Độc lập: Tự lực tìm tòi cách giải quyết các vấn đề đã đặt ra không có sự hướng dẫn của GV. + Sáng tạo: Tự mình tìm ra cách giải quyết vấn đề mới, độc đáo, hữu hiệu - Đặc trưng của PPDH tích cực: + Dạy học phải kích thích nhu cầu và hứng thú học tập của HS Khi đứng trước một nhiệm vụ học tập cần giải quyết, mức độ tích cực các hoạt động của HS được nhà tâm lý học Xô Viết V.P Simonov mô tả dưới dạng công thức sau: Như vậy, trong dạy học điều quan trọng là đảm bảo điều kiện tương quan giữa KCT và KĐC sao cho tối ưu- nhu cầu N đạt giá trị lớn nhất, tức là KCT nằm trong vùng phát triển gần nhất. Khi đó nhu cầu nhận thức của HS càng cao thì tính tích cực hoạt động nhận thức càng tăng. Điều đó khẳng định rằng tính tích cực hoạt động học tập của HS phụ thuộc vào mức độ hấp dẫn và lôi cuốn của nhiệm vụ học tập. + Dạy học thông qua các hoạt động học tập của HS Phương pháp tích cưc dựa trên cơ sở tâm lý học cho rằng nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động chủ động, thông qua các hành động có ý thức. Trí tuệ của trẻ phát triển nhờ sự "đối thoại'' giưa chủ thể với đối tượng và môi trường. Mối quan hệ giữa học và làm được nhiều tác giả đề cập: Suy nghĩ tức là hành động'' (J. Piaget). " Cách tốt nhất để hiểu là làm''(Kant). " Học để hành; học và hành phải đi đôi. Học mà không hành thì vô ích; hành mà không học thì hành không trôi chảy'' ( Hồ Chí Minh). + Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập của HS không chỉ là biện pháp nâng cao hiệu quả việc dạy học mà còn là mục tiêu việc dạy hoc. Như Desterwerg viết: " người thầy giáo tồi truyền đạt chân lí, người thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lí''. Trong phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học. Một yếu tố quan trọng đảm bảo thành công trong học tập và nghiên cứu khoa học là khả năng phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào những tình huống mới, biết tự lực phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham hiểu biết, ham học. Vì vậy, người ta nhấn mạnh dạy cho người học phương pháp học trong quá trình dạy học, cố gắng tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động. + Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác Trong một lớp học trình độ, kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đều một cách tuyệt đối thì khí áp dụng phương pháp dạy học tích cực buộc phải chấp nhận về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập. Áp dụng phương pháp dạy học tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa càng lớn. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi HS. Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường. Sử dụng một cách phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung.Trong hoạt động nhóm nhỏ sẽ không có hiện tượng ỷ lại, tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn ắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ. Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội. Trong nền kinh tế thị trường xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, năng lực hợp tác phải trở thành mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho HS. + Kết hợp sự đánh giá của thầy với sự đánh giá của trò: Trong dạy học, việc đánh giá HS là nhằm mục đích đánh giá thực trạng và điều chỉnh hoạt động của đồng thời của cả trò và cả thầy Trong phương pháp dạy học tích cực, GV phải hướng dẫn HS tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học và GV cũng phải tạo điều kiện để các HS tham gia vào việc đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần thiết cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường cần trang bị cho HS. Theo hướng của các phương pháp dạy học tích cực thì việc kiểm tra, đánh giá không chỉ dừng lại ở việc tái hiện các kiến thức, kĩ năng đã học mà phải khuyến khích được trí thông minh, sáng tạo, phát hiện được sự chuyển biến thái độ, xu hướng của hành vi của HS trước các vấn đề của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng, rèn luyện khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề nảy sinh trong các tình huống thực tế. - Các phương pháp dạy học tích cực môn toán ở THPT + Phương pháp gợi mở, vấn đáp: GV đưa ra một hệ thống câu hỏi mang tính chất gợi mở và yêu cầu HS trả lời lần lượt từng câu hỏi một, dần dần từng bước dẫn tới toán học cần thiết - Hệ thống câu hỏi trong gợi mở cần đảm bảo yêu cầu: . Các câu hỏi phải phù hợp với các loại đối tượng HS. . Mỗi câu hỏi phải có nội dung chính xác, phải gọn gàng, rõ ràng và không gây ra sự nhập nhằng khó hiểu cho HS . GV có thể đặt nhiều câu hỏi khác nhau cho cùng 1 nội dung. . Các câu hỏi phải gợi ra vấn đề để HS phải suy nghĩ, hạn chế sử dụng các câu hỏi mà câu trả lời chỉ là có hoặc không . Đối với một số các câu hỏi khó GV nên dự kiến câu trả lời và chuẩn bị câu hỏi phụ để có thể nhanh chóng trợ giúp HS khi cần thiết - Sử dụng các câu hỏi gợi mở trong dạy học toán: GV nêu câu hỏi cho cả lớp suy nghĩ, sau đó gọi HS trả lời, rồi gọi HS khác nhận xét đánh giá, cuối cùng GV kết luận - Có thể khuyến khích HS tự đăt câu hỏi để các HS khác trả lời. + Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề: GV tạo ra các tình huống gợi vấn đề, và đặt HS vào trong các tình huống gợi vấn đề đó, để cho họ trực tiếp tham gia vào việc phát hiện vấn đề và tìm cách giải quyết vấn đề đó một cách tự giác tích cực Tình huống gợi vấn đề mà GV tạo ra phải đảm bảo ba yêu cầu sau đây: . Tồn tại một vấn đề: Tình huống phải bộc lộ mâu thuẫn giữ thực tiễn với trình độ nhận thức của HS. HS phải ý thức được một số khó khăn nhất định trong tư duy hoặc trong hành động mà vốn hiểu biết của mình chưa đủ để vượt qua. Nói cách khác, HS chưa giải đáp được và cũng chưa có quy tắc nào có tính chất thuật toán để giải đáp câu hỏi nảy sinh trong tình huống. . Gợi nhu cầu nhận thức: HS phải tự cảm thấy cần thiết và thấy có nhu cầu giải quyết vấn đề đó + Phương pháp dạy học theo nhóm: GV tổ chức lớp học thành một số nhóm và giao việc cho các nhóm thông qua phiếu giao việc Dạy học theo nhóm trong tiết học khi có những vấn đề từng cá nhân HS có thể giải quyết được, thường có thể được tiến hành trong trong quá trình hoạt động củng cố tri thức

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Tiểu Học Phát Triển Năng Lực Học Sinh Theo Chương Trình Gdpt Mới
  • Hiểu Đầy Đủ Bản Chất Của Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Tập Huấn Về Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Những Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Bậc Đh
  • Bài Thu Hoạch Bồi Dưỡng Thường Xuyên Giáo Viên
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Dạy Học Môn Toán Theo Phương Pháp Tích Cực

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Huy Năng Lực Tự Học Và Tính Tích Cực Hoá Cho Học Sinh Qua Dạy Học Môn Thể Dục
  • Một Số Giải Pháp Giúp Giáo Viên Giảng Dạy Môn Thể Dục Đạt Kết Quả Tốt Theo Chương Trình Đổi Mới Chỉ Tiêu Và Phương Pháp Dạy Học Của Học Sinh Khối 10 Trường Trung Học Phổ Thông Quan Sơn
  • Chuyên Đề: Dạy Học Tích Cực Môn Toán Lớp 3
  • Đề Tài Vận Dụng Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Nhằm Nâng Cao Hiệu Qủa Dạy Học Môn Giáo Dục Công Dân Bậc Trung Học Phổ Thông
  • Chuyên Đề Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Giáo Dục Công Dân
  • ạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ. Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội. Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh. d. Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò. Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế. Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học. Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình. Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh. Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên. Có thể so sánh đặc trưng của dạy học cổ truyền và dạy học mới như sau: Dạy học cổ truyền các mô hình dạy học mới. Quan niệm Học là quá trình tiếp thu và lĩnh hội, qua đó hình thành kiến thức, kĩ năng, tư tưởng, tình cảm. Học là quá trình kiến tạo, học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất. Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền thụ và chứng minh chân lí của giáo viên. Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh. Dạy học sinh cách tìm ra chân lí. Mục tiêu Chú trọng cung cấp tri thức, kĩ năng, kĩ xảo. Học để đối phó với thi cử. Sau khi thi xong những điều đã học thường bị bỏ quên hoặc ít dùng đến. Chú trọng hình thành các năng lực (Sáng tạo, hợp tác, ) dạy phương pháp và kĩ thuận lao động khoa học, dạy cách học. Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai. Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân học sinh và cho sự phát triển xã hội. Nội dung Từ sách giáo khoa + giáo viên Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK, GV, các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, bảng tàng, thực tế: gắn với: Vốn hiểu biết, kinh nghiệp và nhu cầu của HS. Tình huống thực tế, bối cảnh và môi trường địa phương. Những vấn đề học sinh quan tâm. Phương pháp Các phương pháp diễn giảng, truyền thụ kiến thức một chiều. Các phương pháp tìm tòi, điều tra, giải quyết vấn đề, dạy học tương tác. Hình thức tổ chức cố định: Giới hạn trong 4 bức tường của lớp học, giáo viên đối diện với cả lớp. Cơ động, linh hoạt: Học ở lớp, ở phòng thí nghiệm, ở hiện trường, trong thực tế, học cá nhân, học đôi bạn, học theo cả nhóm, cả lớp đối diện với giáo viên. 6. Một số kỹ thuật dạy học tích cực 6.1 Động não a. Khái niệm: b. Quy tắc động não. - Không đánh giá phê phán trong qúa trình thu thập ý tưởng của các thành viên. - Liên hệ với các ý tưởng đã được trình bày. - Khuyến khích số lượng các ý tưởng. - Cho phép sự tưởng tượng và liên tưởng. * Các bước tiến hành* 2. Các thành viên đưa ra nhưũng ý kiến của mình, trong khi thu thập ý kiến, không đánh giá nhận xét, mục đích là huy động nhiều ý kiến nối tiếp nhau. 3.Kết thúc việc đưa ra ý kiến 4. Đánh giá + Lựa chọn sơ bộ các suy nghĩ, chẳng hạn theo khả năng ứng dụng. - Có thể trực tiếp - Có thể ứng dụng nhưng cần nghiên cứu thêm - Không có khả năng ứng dụng. + Đánh giá ý kiến lựa chọn + Rút ra kết luận hành động. C. ứng dụng + Tìm các phương án giải quyết vấn đề + Thu thập các khả năng lựa chọn và ý nghĩ khác nhau. d. ưu điểm + Dễ thực hiện + Không tốn kém + Sử dụng được hiệu ứng cộng hưởng, huy động tối đa trí tụê của tập thể + Huy động được nhiều ý kiến + Tạo cơ hội cho tất cả các thành viên tham gia e. Nhược điểm + Có thể mất thời gian nhiều trong việc chọn các ý kiến thích hợp + Có thể có một số học sinh " Qúa tích cực " Số khác thụ động. Kỹ thuật động não được áp dụng phổ biến và người ta xây dựng nhiều kỹ thuật khác dựa trên kỹ thuật này, có thể coi các dạng khác nhau của kỹ thuật động não. 6.2 Động não viết a. Khái niệm b. Cách thực hiện + Đặt trên bàn 1 - 2 tờ giấy để ghi các ý tưởng, đề xuất của các thành viên + Mỗi một thành viên viết những ý nghĩ của mình trên các tờ giấy đó + Có thể tham gia khảo sát các ý nghĩ khác đã ghi trên giấy của các thành viên khác để tiếp tục phát triển ý nghĩ. + Sau khi thu thập xong ý tưởng thì đánh giá các ý tưởng trong nhóm c. ưu điểm + ưu điểm của các phương pháp này có thể huy động sự tham gia của tất cả học sinh trong nhóm. + Tạo sự yên tĩnh trong lớp học. + Động não viết tạo ra mức độ tập chung cao. Vì những học sinh tham gia sẽ trình bày những suy nghĩ của mình bằng chũ viết nên có sự chủ ý cao hơn so với cuộc nói chuyện bình thường bằng miệng. + Những ý kiến đóng góp trong cuộc nói chuyện bằng giất bút thường được suy nghĩ đặc biệt kỹ. d. Nhược điểm + Có thể học sinh sa vào những ý kiến tản mạm, xa đề. + Do được tham khảo ý kiến của nhau, có thể một số học sinh ít có sự độc lập 6.3 Động não không công khai + ưu điêm: Mỗi thành viên có thể trình bày ý kiến cá nhân của người khác mà không bị ảnh hưỏng bởi các ý kiến khác. + Nhược điểm: Không nhận được gợi ý từ những ý kiến của người khác trong việc viết ý kiến riêng. 6.4 Kỹ thuật XYZ - Mỗi nhóm 6 người, mỗi người viết 3 ý kiến, mỗi ý kiến trong vòng 5 phút về cách giải quyết 1 vấn đề và tiếp tục chuyển cho người bên cạnh. - Tiêp tục như vậy cho đến khi tất cả mọi người đều viết ý kiến của mình, có thể lặp lại vòng khác. - Con số X - Y - Z có thể thay đổi 6.5 Kỹ thuật bể cá Bằng câu hỏi cho người quan sát. - Người nói có nhìn vào những người đang nói với mình không ? - Họ có nói một cách dễ hiểu không ? - Họ có để những người khác nói hay không ? - Họ có thể đưa ra được các luận điểm dáng thuyết phục hay không ? - Họ có lệch hướng khỏi đề tàu hay không ? - Họ có tôn trọng những quan điểm khác hay không ? 6.6. Kỹ thuật " ổ bi " *Cách thực hiện* + Sau một ít phút thì học sinh vòng ngoài ngồi yên, hịc sinh vòng trong đổi chỗ theo chiều kim đồng hồ, tương tự như vòng bi quay, để luôn hình thành các nhóm đồi tác mới. *Cách thực hiện.* 6.8. Thông tin phản hồi trong qúa trình dạy học. Thông tin phản hồi trong quá trình dạy học là giáo viên và học sinh cùng nhận xét, đánh giá và đưa ra ý kiến đối với những yếu tố cụ thể có ảnh hưởng tới quá trình học tập nhằm mục đích là điều chỉnh, hợp lý hoá quá trình dạy và học. Những đặc điểm của việc đưa ra thông tin phan rhồi tích cực là: + Có sự cảm thông + Có kiểm soát + Được người nghe chờ đợi + Cụ Thể + Đúng lúc + Có thể biến thành hành động - Diễn đạt ý kiến của Ông/Bà một cách đơn giản và có trình tự ( không nói quá nhiều ) - Cố gắng hiểu được những suy tư, tình cảm , không vội vã - Tìm hiểu các vấn đề cũng như nguyên nhân của chúng - Giải thích những quan điểm không đồng nhất - Chấp nhận cách thức đánh giá của người khác - Chỉ tập chung vào các vấn đề có thể giải quyết được trong thời điểm thực tế - Coi cuộc trao đổi là cơ hội để tiếp tục cải tiến - Chỉ ra các khả năng để lựa chọn Có nhiều kỹ thuật khác nhau trong việc thu nhận thông tin phản hồi trong dạy học. Ngoài việc sử dụng các phiếu đánh giá, sau đây là một số kỹ thuật có thể áp dụng trong dạy học nói chung và trong thu nhận thông tin phản hồi. 6.9 - Kỹ thuật tia chớp Kỹ thuật tia chớp là một kỹ thuật huy động sự tham gia cảu các thành viên đối với một câu hỏi nào đó, hoặc nhằm thu thập thông tin phản hồi nhằm cải thiện tình trạng giao tiếp và không khí học tập trong lớp học, thông qua việc các thành viên lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng (nhanh như chớp) ý kiến của mình về câu hỏi hoặc tình trạng vấn đề. *Quy tắc thực hiện* - Có thể áp dụng bất cứ thời điểm nào khi các thành viên thấy cần thiết và đề nghị. - Mỗi người chỉ nói ngắn gọn 1 - 2 câu ý kiến của mình. 6.10- Kỹ thuật "3 lần 3" Kỹ thuật "3 lần 3" là một kỹ thuật lấy thông tin phản hồi nhằm huy động sự tham gia tích cực của học sinh. Cách làm như sau: + Mỗi người cần viết ra: - 3 điều tốt - 3 điều chưa tốt - 3 đề nghị cải tiến 6.11 - Lược đồ tư duy a. Khái niệm b. Cách làm: - Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết những nội dung thuộc nhánh chính đó. Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường. - Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo. Phần iii - thực nghiệm A. Minh hoạ skkn qua giáo án 1 tiết day. Tiết: 71 Bài 3 - tính chất cơ bản của phân số I. Mục tiêu 1. Kiến thức : + Naộm vửừng tớnh chaỏt cụ baỷn cuỷa phaõn soỏ . + Bửụực ủaàu coự khaựi nieọm veà soỏ hửừu tổ . 2. Kĩ năng : + Vaọn duùng ủửụùc tớnh chaỏt cụ baỷn cuỷa phaõn soỏ ủeồ giaỷi moọt soỏ baứi taọp ủụn giaỷn , ủeồ vieỏt moọt phaõn soỏ coự maóu aõm thaứnh phaõn soỏ baống noự vaứ coự maóu dửụng . 3. Thái độ : + Cẩn thận trong khi thực hiện tính toán và nghiêm túc trong học tập. II. Chuẩn bị 1.Giáo viên: SGK, Bảng phụ. 2. Học sinh: SGK, Bảng nhóm. III. Tiến trình tổ chức dạy - học 1.ổn định tổ chức Lớp: 6A: Lớp: 6B: . 2.Kiểm tra bài cũ CH: + Khi naứo thỡ hai phaõn soỏ baống nhau ? + Hai phân số sau có bằng nhau không ? 2/5 và 4/10 1/3 và 3/1 3.Bài mới Hoạt động của thầy Hoạt động của thầy Hoạt động 1. Nhận xét. *GV : Yêu cầu học sinh làm ?1. Giải thích vì sao : ; ; *GV: : Y/c 1 học sinh lên bảng thực hiện. *GV: Nhận xét: .(3) : (-4) ; .(3) : (-4) *GV: Yêu cầu học sinh làm ?2. Điền số thích hợp vào ô trống : ; *GV : Y/c Học sinh Hoạt động theo nhóm. *GV: Nhận xét. Hoạt động 2. Tính chất cơ bản của phân số. *GV: Nếu ta nhân hoặc chia cả tử và mẫu của phân số cho một số nguyên m 0 thì ta được điều gì?. *HS: Nếu ta nhân hoặc chia cả tử và mẫu của phân số cho một số nguyên m 0 thì ta được một phân số mới bằng với phân số đã cho. *GV: Nhận xét và khẳng định. Nếu ta nhân cả tử và mẫu của một phân số với cùng một số nguyên khác 0 thì ta được một phân số bằng phân số đã cho. với m Z và m 0. Nếu ta nhân cả tử và mẫu của một phân số cho cùng một ước chung của chúng thì ta được một phân số bằng phân số đã cho. với n ƯC(a, b). *GV: Dựa vào tính chất trên, hãy chứng tỏ: a, ; b, *GV: Từ tính chất của phân số, ta có thể viết một phân số bất kì có mẫu âm thành mẫu thành phân số bằng nó và mẫu có mẫu dương bằng cách nhân cả tử và mẫu của phân số đó với -1. *GV: Yêu cầu học sinh làm ?3. Viết mỗi phân số sau đây thành một phân số bằng nó và mẫu dương : ; ; (a, b Z, b < 0) *GV: - Nhận xét. GV: - Hãy cho biết một phân số có bao nhiêu phân số bằng với phân số đã cho GV: giới thiệu số hữu tỉ GV: Mỗi phân số có vô số ps bằng nó. Chẳng hạn: Các phân số bằng nhau là cách viết khác nhau của cùng một số mà người ta gọi là số hữu tỉ 1. Nhận xét ?1. HS : trả lời ?1 Vì: (-1) . (-6) = 2 . 3 Vì : (-4) . (-2) = 8 . 1 Vì : 5 . 2 = (-1) . (-10) HS: nghe gv nhận xét Nhận xét : .(3) : (-4) ; .(3) : (-4) ?2. Điền số thích hợp vào ô trống : .(-3) :(-5) ; .(-3) :(-5) HS: Hoạt động theo nhóm HS: nghe nhận xét 2. Tính chất cơ bản của phân số. Nếu ta nhân cả tử và mẫu của một phân số với cùng một số nguyên khác 0 thì ta được một phân số bằng phân số đã cho. với m Z và m 0. Nếu ta nhân cả tử và mẫu của một phân số cho cùng một ước chung của chúng thì ta được một phân số bằng phân số đã cho. với n ƯC(a, b). Nhận xét : Từ tính chất của phân số, ta có thể viết một phân số bất kì có mẫu âm thành mẫu thành phân số bằng nó và mẫu có mẫu dương bằng cách nhân cả tử và mẫu của phân số đó với -1. a, ; b, *HS: Chú ý nghe giảng và ghi bài. *HS: Thực hiện. HS: Nghe giảng ?3. HS: làm ?3 = ; = ; = (a, b Z, b < 0) HS: Nghe GV nhận xét * Nhận xét : Mỗi phân số có vô số bằng nó. Chẳng hạn: Các phân số bằng nhau là cách viết khác nhau của cùng một số mà người ta gọi là số hữu tỉ *HS: Trả lời. Có vô số phân số bằng phân số đã cho HS: nghe giảng 4.Củng cố Baứi taọp cuỷng coỏ 11 vaứ 12 (SGK - 11 ) 5.Hướng dẫn học sinh học ở nhà Baứi taọp veà nhaứ 13 vaứ 14 SGK 6. Rút kinh nghiệm giờ dạy .***

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Ở Thpt
  • Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Tiểu Học Phát Triển Năng Lực Học Sinh Theo Chương Trình Gdpt Mới
  • Hiểu Đầy Đủ Bản Chất Của Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Tập Huấn Về Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Những Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Bậc Đh
  • Những Giải Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực (Phần 1) Mot So Phuong Phap Day Hoc Tich Cuc 1 Doc
  • Bài Thu Hoạch Chuyên Đề Bồi Dưỡng Thường Xuyên Module 18: Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Chuyên Đề Bdtx Module 18: Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Bài Thu Hoạch Bồi Dưỡng Thường Xuyên Giáo Viên
  • Những Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Bậc Đh
  • SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    NHỮNG GIẢI PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC MÔN TOÁN LỚP 5

    I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

    1- Xuất phát từ vai trò môn Toán ở tiểu học :

    Theo tôi môn toán ở tiểu học có tầm quan trọng rất lớn vì : môn Toán cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản ban đầu, có hệ thống để tiếp lên những bậc học trên. Bên cạnh đó môn toán góp phần vào việc phát triển tư duy, khả năng suy luận hợp lí và diễn đạt đúng, kích thích học sinh tìm tòi, khám phá chiếm lĩnh kiến thức mới. Đồng thời rèn luyện cho các em phương pháp học tập, làm việc khoa học, linh hoạt sáng tạo. Ngoài ra nó còn góp phần hình thành và phát triển nhân cách trẻ tiểu học trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.

    2- Xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục nói chung và sự nghiệp cần thiết nghiên cứu phương pháp dạy Toán lớp 5 :

    Thông qua việc kiểm tra chất lượng đầu mỗi năm học, tôi nhận thấy chất lượng môn Toán quá thấp. Tôi suy nghĩ, tìm hiểu nguyên nhân vì sao học sinh học yếu môn Toán? Nguyên nhân đó chính là : do phương pháp dạy của giáo viên và học của học sinh. Giáo viên thường làm việc một cách máy móc, dạy rập khuôn, chạy theo chương trình, chưa đào sâu kiến thức, ít quan tâm đến việc phát huy khả năng sáng tạo của học sinh. Học sinh học tập thụ động chủ yếu nghe giảng, ghi nhớ và làm theo mẫu, học sinh ít hứng thú học tập, nội dung các hoạt động học tập thường đơn điệu, nghèo nàn, ít có cơ hội phát triển năng lực cá nhân. Cách dạy – học như vậy đang cản trở người lao động năng động tự tin, linh hoạt, sáng tạo sẵn sàng thích ứng với những đổi mới đang diễn ra hàng ngày.

    Vì vậy đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới phương pháp dạy học môn Toán nói riêng là vấn đề cần thiết. Hiện nay, ngành giáo dục ta đang tiến hành đổi mới theo định hướng phát huy tính tích cực của học sinh. Đổi mới phương pháp dạy học là trọng tâm chỉ đạo của công tác quản lý chuyên môn để nâng cao chất lượng đào tạo. Vì nhu cầu phát triển chung của ngành giáo dục, vì trọng trách của mình trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Tôi đã nghiên cứu, tiến hành áp dụng những phương pháp dạy học tích cực trong quá trình giảng dạy để góp phần nâng cao chất lượng thực của học sinh.

    II- THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN

    Thuận lợi :

    – Giáo viên trực tiếp giảng dạy, nắm được những phần kiến thức còn khiếm khuyết, thiếu hệ thống của học sinh.

    – Được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của đồng nghiệp, trực tiếp là Ban giám hiệu nhà trường, giáo viên được hỗ trợ các tài liệu tham khảo.

    – Giáo viên được tham gia đầy đủ các buổi tập huấn thay sách giáo khoa mới, các phương pháp dạy học tích cực. Bản thân luôn tìm tòi, học hỏi các phương pháp dạy học mới kích thích tư duy sáng tạo của học sinh.

    – Học sinh có đầy đủ sách giáo khoa.

    2- Khó khăn :

    – Cơ sở vật chất chưa đáp ứng đúng yêu cầu của phương pháp dạy học mới.

    – Đồ dùng dạy học còn hạn chế.

    – Học sinh chưa tự tư duy, làm bài tập một cách máy móc rập khuôn. Một số học sinh bị mất căn bản ngay từ lớp dưới.

    – Do nhận thức của học sinh trong việc học còn thấp, phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình.

    III- NỘI DUNG : Những giải pháp dạy học tích cực môn toán

    1- Điều khiển học sinh làm việc :

    Điều khiển học sinh làm việc để tự tìm ra kiến thức mới để trẻ có thể tự mình chiếm lĩnh các tri thức đó, trong quá trình này có nhiều vấn đề phải quan tâm, đặc biệt là :

    – Giáo viên cần chú ý đến việc đưa ra một hệ thống các “lệnh làm việc”.

    – Giáo viên cần quan tâm đến học sinh, kiểm soát các hoạt động của từng học sinh.

    * Muốn cho trẻ làm một điều gì đó, giáo viên phải nêu rõ nội dung công việc rồi yêu cầu các em làm. Đây là quá trình “phát lệnh làm việc”. Để nêu nội dung công việc giáo viên có thể.

    – Nói bằng lời

    Ví dụ : “Hãy vẽ hình tròn có bán kính 3cm”.

    – Ghi ký hiệu vào ô lệnh trên bảng

    Ví dụ : Giáo viên ghi B thì học sinh lấy bảng con, ghi S/9 thì học sinh lấy sách mở trang 9, giáo viên ghi V thì học sinh lấy vở ….

    – Dùng động tác :

    Ví dụ : Gõ 1 tiếng thước học sinh giơ bảng, gõ tiếng thước

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Giúp Học Sinh Học Tích Cực Ở Môn Tiếng Anh Tiểu Học.
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Tiếng Anh Thpt Theo Hướng Tích Cực
  • Đề Tài Vận Dụng Một Số Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực Trong Môn Ngữ Văn
  • Vận Dụng Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Ngữ Văn Thcs
  • Học Mẹ Trẻ Cách Rèn Con Ngủ Ngoan Xuyên Đêm Theo Phương Pháp Easy
  • Skkn Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Thông Qua Tổ Chức Các Trò Chơi Trong Dạy Học Môn Toán Lớp 6 Tại Trường Thcs Đông Tiến

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề Đổi Mới Phương Pháp Trong Giảng Dạy Môn Toán Ở Bậc Thcs Tổ Tự Nhiên Trường Thcs Gia Hoà
  • Sự Khác Biệt Giữa Ăn Chay Thực Dưỡng Ohsawa Và Ăn Chay Đơn Thuần
  • Thực Đơn Thực Dưỡng 1 Tuần Ohsawa Dành Cho Người Ăn Chay
  • Ăn Chay Đủ Chất Đúng Cách Khoa Học Như Thế Nào?
  • Ăn Uống Lành Mạnh Theo Shinya Để Sống Khỏe Không Bệnh
  • 1. Lý do chọn đề tài

    Toán học là một bộ môn khoa học tự nhiên mang tính trừu tượng cao, tính logíc đồng thời môn toán còn là bộ môn công cụ hỗ trợ cho các môn học khác, có tính thực tiễn phổ dụng. Những tri thức và kỹ năng toán học cùng với những phương pháp làm việc trong toán học trở thành công cụ để học tập những môn khoa học khác và nó là cầu nối các ngành khoa học với nhau đồng thời nó có tính thực tiễn rất cao trong cuộc sống xã hội và với mỗi cá nhân. Môn toán có khả năng tư duy lôgic, phát huy tính linh hoạt, sáng tạo trong học tập và môn toán là một trong những môn học khó nhất.

    Hiện nay mục tiêu giáo dục cấp THCS đã được mở rộng, các kiến thức và kỹ năng được hình thành và củng cố để tạo ra 4 năng lực chủ yếu:

    +Năng lực hành động.

    +Năng lực thích ứng.

    +Năng lực cùng chung sống và làm việc.

    +Năng lực tự khẳng định mình.

    Trong đề tài này tôi quan tâm để đi khai thác đến 2 nhóm năng lực chính là “năng lực cùng chung sống và làm việc” và “năng lực tự khẳng định mình” vì kiến thức và kỹ năng là một trong những thành tố của năng lực HS.

    Qua quá trình giảng dạy thực tế tôi nhận thấy rằng việc tổ chức các hoạt động trò chơi thông qua các bài toán trong giờ học toán luôn gây được hứng thú cho các em và các em làm việc, học tập rất sôi nổi. Vì vậy tôi lựa chọn đề tài “Phương pháp dạy học tích cực thông qua tổ chức các trò chơi trong dạy học môn Toán lớp 6 tại trường THCS Đông Tiến”

    Qua sáng kiến này tôi muốn đưa ra một số cách thức tổ chức các trò chơi trong tiết dạy và các trò chơi trong môn Toán 6 từ đó hình thành cho học sinh các kỹ năng như hoạt động nhóm, kỹ năng trình bày, năng lực chung sống, làm việc và qua các hoạt động trò chơi đó học sinh có cơ hội tự khẳng định mình trước bạn bè và thầy cô.

    Qua sáng kiến này tôi cũng tự đúc rút cho bản thân mình những kinh nghiệm để làm luận cứ cho phương pháp dạy học mới của tôi những năm tiếp theo.

    2. Mục đích nghiên cứu

    – Đổi mới phương pháp dạy học.

    – Nâng cao chất lượng dạy học và bồi dưỡng học sinh giỏi

    Cụ thể là :

    +Tìm hiểu thực trạng học sinh

    +Những phương pháp đã thực hiện

    +Những chuyển biến sau khi áp dụng

    +Rút ra bài học kinh nghiệm

    +Nghiên cứu sản phẩm hoạt động của GV và HS để phát hiện trình độ nhận thức, phương pháp và chất lượng hoạt động nhằm tìm giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục.

    – Phân tích và tổng kết kinh nghiệm giáo dục khi áp dụng nội dung đang nghiên cứu vào thực tiễn giảng dạy nhằm tìm ra nguyên nhân những sai lầm mà học sinh thường mắc phải khi giải toán. Từ đó tổ chức có hiệu quả hơn trong các giờ dạy tiếp theo.

    3. Đối tượng nghiên cứu

    Phương pháp dạy học tích cực thông qua tổ chức các trò chơi trong dạy học môn Toán lớp 6 tại trường THCS Đông Tiến

    4. Phương pháp nghiên cứu

    + Phương pháp, điều tra, khảo sát, thu thập và xử lý số liệu.

    + Phương pháp quan sát.

    + Phương pháp đối chiếu so sánh

    B. NỘI DUNG

    1. Cơ sở lý luận sáng kiến kinh nghiệm.

    – Toán học có vai trò rất quan trọng đối với đời sống và các nghành khoa học khác. Đặc điểm về môn toán nội dung nhiều, công thức tính nhiều, bài tập thì đa dạng (có khó, có dễ, có phức tạp). Vì thế nếu không tìm cách tổ chức một giờ dạy sao cho hợp lý, sinh động hấp dẫn thì rất khó có thể lôi cuốn được học sinh, giờ học sẽ tẻ nhạt, mang tính chất công thức khô khan.

    – Trong những năm gần đây, định hướng đổi mới PPDH đã được thống nhất theo tư tưởng tích cực hóa hoạt động học tập của HS dưới sự tổ chức hướng dẫn của GV: Học sinh tự giác chủ động tìm tòi, phát hiện, giải quyết nhiệm vụ nhận thức và có ý thức vận dụng linh hoạt, sáng tạo các kiến thức kỹ năng đã thu nhận được.

    Luật Giáo dục 2005 (Điều 5) quy định:”Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.

    Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy quyết định cách học, tuy nhiên, thói quen học tập thụ động của HS cũng ảnh hưởng đến cách dạy của thầy. Mặt khác, cũng có trường hợp HS mong muốn được học theo phương pháp dạy học tích cực nhưng GV chưa đáp ứng được. Do vậy, GV cần phải được bồi dưỡng, phải kiên trì cách dạy theo phương pháp dạy học tích cực, tổ chức các hoạt động nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, hình thành thói quen cho học sinh. Trong đổi mới phương pháp phải có sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hợp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới có kết quả. Phương pháp dạy học tích cực hàm chứa cả phương pháp dạy và phương pháp học.

    – Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực

    a. Dạy học tăng cường phát huy tính tự tin, tính tích cực, chủ động, sáng tạo thông qua tổ chức thực hiện các hoạt động học tập của học sinh.

    b. Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực tự học của HS.

    c. Dạy học phân hóa kết hợp với học tập hợp tác.

    d. Kết hợp đánh giá của thầy với đánh giá của bạn, với tự đánh giá.

    e. Tăng cường khả năng, kỹ năng vận dụng vào thực tế, phù hợp với điều kiện thực tế về cơ sở vật chất, về đội ngũ GV

    Vấn đề cần quan tâm ở đây là chất lượng dạy và học của GV và HS như thế nào là hiệu quả, nên chúng ta cần bàn đến.

    2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

    Đối với đặc thù môn Toán, việc phủ nhận những phương pháp dạy học truyền thống là điều thiếu thoả đáng. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa chúng ta có quyền “ khư khư ” với những gì đã có. Một học sinh đã quá nhàm chán với kiểu học thầy giảng, trò nghe, ghi chép thụ động, thỉnh thoảng rụt rè trình bày ý kiến theo gợi ý của thầy nảy sinh thực trạng học đối phó, thụ động, thậm chí chán học bộ môn.

    a. Đối với giáo viên

    b. Đối với học sinh

    Học sinh lớp 6 luôn ham hiểu biết, thích tìm tòi cái mới, muốn thể hiện mình và khẳng định mình, muốn tham gia vào các hoạt động một cách độc lập, muốn thử sức mình, thích học mà chơi, chơi mà học từ đó việc tổ chức các hoạt động trò chơi trong dạy học Toán chắc chắn sẽ gây hứng thú học tập của học sinh, hình thành và phát triển kỹ năng quan sát, nhận xét, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa kiến thức, khả năng suy luận, rèn luyện tác phong nhanh nhẹn và kỹ năng hoạt động nhóm cho học sinh.

    c. Kết quả khảo sát chất lượng học sinh

    Năm học 2022 – 2022, tôi được nhà trường phân công dạy lớp 6A.Tôi nhận thấy kĩ năng ghi chép chắt lọc của học sinh còn hạn chế, cứ đến tiết thứ 4 của buổi học, không khí của lớp học trầm hẳn xuống, dáng vẻ mệt mỏi bộc lộ rõ trên khuôn mặt của mỗi học sinh. Vậy làm thế nào để tiết học nhẹ nhàng mà vẫn hiệu quả, gây hứng thú học tập cho học sinh? Tôi đã trăn trở tìm ra giải pháp khắc phục.

    Trước hết tôi phân loại đối tượng học sinh qua khảo sát chất lượng đầu năm. Cụ thể như sau:

    Tổng số học sinh

    Giỏi

    Khá

    Trung bình

    Yếu

    SL

    TL (%)

    SL

    TL (%)

    SL

    TL (%)

    SL

    TL (%)

    42

    5

    11,9

    10

    23,8

    22

    52,4

    5

    20

    Số liệu điều tra được ở bảng trên cho thấy học sinh khá giỏi ở lớp 6A ít. Điều đó phải chăng hoàn toàn do năng lực của học sinh ? Xuất phát từ những vấn đề nêu trên và để góp phần hoàn thiện và nâng cao các phương pháp dạy học tích cực trong hoạt động dạy học môn Toán của mình tôi đã nghiên cứu “Phương pháp dạy học tích cực thông qua tổ chức các trò chơi trong dạy học môn Toán lớp 6A tại trường THCS Đông Tiến”. Tôi thiết nghĩ sáng kiến được áp dụng vào thực tế là một điều hết sức cần thiết.

    3. Các sáng kiến kinh nghiệm

    – Góp phần nâng cao chất lượng môn Toán, thông qua các trò chơi giúp học sinh nắm được các kiến thức cơ bản của bài học, có thể làm được các bài tập vận dụng thông qua hệ thống câu hỏi vận dụng kiến thức mới học (hoặc đã học ở những tiết trước, lớp trước)

    – Kích thích hứng thú, phát huy tính tích cực, tự giác, tư duy sáng tạo và khả năng hợp tác cao trong học tập cũng như trong cuộc sống của học sinh.

    – Giáo dục học sinh tính tự giác, trung thực, sự kiên trì, tính kỷ luật, cẩn thận và tinh thần đồng đội trong học tập cũng như trong cuộc sống hằng ngày.

    3.1. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề

    a. Mục tiêu của trò chơi

    – Trò chơi là một hoạt động của con người với mục đích trước tiên là vui chơi giải trí, thư giãn sau những giờ học, giờ làm việc căng thẳng. Thông qua trò chơi trong giờ học toán, người học được rèn luyện thể lực (thông qua việc đi lại), trí lực, rèn luyện các giác quan tạo cơ hội giao lưu và hợp tác với bạn bè, đồng đội trong cùng nhóm, tổ.

    Đối với hoạt động trò chơi, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn. Đối với mỗi tiết học hoặc chương bài, nhóm chương bài, giáo viên phải tìm trò chơi có tác dụng phát huy trí sáng tạo, tích cực của học sinh, nhằm tạo ra những thế hệ năng động, sáng tạo, nhanh nhẹn trong mọi lĩnh vực.

    Các trò chơi cần khắc sâu được kiến thức vừa học của học sinh. Giáo dục được đạo đức, thái độ của học sinh. Các câu hỏi của trò chơi phải đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh, không dễ quá, cũng không khó quá. Nội dung đưa ra phù hợp với nhận thức của học sinh.

    Hoạt động trò chơi có thể tổ chức ở đầu giờ học hoặc cuối giờ học, thời gian của trò chơi phải phù hợp, không làm ảnh hưởng đến chất lượng giờ dạy, lấn át thời gian chính của giờ học.

    Giáo viên không nên chỉ tập trung vào một số đối tượng học sinh khá giỏi, mà cần tập trung cả vào các đối tượng học sinh yếu. Thông thường trên lớp, tôi sẽ tự chọn 1 em học sinh bất kỳ và yêu cầu em học sinh đó thành lập đội và có quy ước với “người quản trò” phải chọn cả các bạn có nhận thức yếu để tạo điều kiện cho các bạn rèn luyện tác phong và hòa đồng với tập thể.

    b. Phương pháp tổ chức trò chơi

    – Giai đoạn chuẩn bị

    Đây là giai đoạn quan trọng trong hoạt động trò chơi trong giờ dạy Toán, giáo viên phải thiết kế trò chơi sao cho đảm bảo được các mục tiêu của bài học.

    Giáo viên cần xác định số nhóm chơi, số người chơi trong nhóm, các đồ dùng, dụng cụ cần thiết như mô hình, tranh ảnh, phấn viết (phấn màu), bìa hoặc bảng phụ, hệ thống câu hỏi

    – Giai đoạn thực hiện

    Trình bày trò chơi: Nêu rõ luật chơi ngắn gọn, dễ hiểu, dẫn dắt người chơi từng bước để tạo sự hấp dẫn.

    GV có thể hướng dẫn mẫu (làm mẫu) hoặc chơi thử để giảng luật chơi đối với những trò chơi có tính phức tạp.

    Giáo viên yêu cầu học sinh nghiêm túc khi tham gia trò chơi, các thành viên không được tham gia chơi làm “khán giả” quan sát trò chơi, giải nháp để nhận xét bài làm của các đội chơi, cổ vũ các đội chơi tuy nhiên đảm bảo trật tự, không hò reo gây ảnh hưởng tới việc học tập của lớp học khác.

    Giáo viên công bố rõ thời gian cho mỗi trò chơi (quy định thời gian chơi).

    -Điều khiển trò chơi

    +Đề cao tinh thần tự giác, thẳng thắn, trung thực, chơi “đẹp”

    +Thông thường với mỗi trò chơi tôi sẽ tìm ra một bạn học sinh khá – giỏi trong lớp làm “trọng tài” để bắt lỗi của các đội chơi.

    +Yêu cầu dừng trò chơi đúng lúc khi học sinh có dấu hiệu mệt mỏi chán nản hoặc khi đội chơi đã có kết quả thắng thua rõ ràng hoặc vi phạm thời gian quy định của trò chơi.

    +Khi chơi, giáo viên cần quan sát học sinh chơi để biết thái độ, cử chỉ, phong cách của từng học sinh từ đó điều chỉnh phong cách cho phù hợp. Đôi khi trong quá trình chơi, giáo viên cũng có thể chuyển hướng với những dự kiến để làm không khí lớp học sôi nổi.

    -Giai đoạn kết thúc

    +Giai đoạn này tôi để “trọng tài” làm việc. Trọng tài sẽ yêu cầu các bạn học sinh là “khán giả” nhận xét kết quả của các đội chơi, phân xử thắng thua.

    +Giáo viên là người đóng vai trò quan trọng nhất trong hoạt động trò chơi, phải xử lý tình huống một cách khách quan, không thiên vị, không dễ dãi.

    +Giáo viên công bố kết quả chung cuộc chơi, có hình phạt đội thua nhẹ nhàng, thoải mái, khen thưởng các thành viên của đội thắng cuộc bằng quà tặng hoặc khen thường bằng điểm (mang tính chất khích lệ học sinh).

    3.2.Các trò chơi trong dạy học môn Toán 6

    a. Trò chơi “Tiếp sức”

    Dùng để dạy một phần kiến thức mới hoặc củng cố cuối bài

    – Mục đích: Củng cố, khắc sâu kiến thức của bài học, biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo kiến thức đã học vào trò chơi.

    Rèn luyện tác phong nhanh nhẹn, phối hợp nhịp nhàng giữa các thành viên trong nhóm.

    Giáo dục ý thức tích cực, tinh thần hợp tác trong các hoạt động của tập thể.

    Rèn tính chính xác, cẩn thận trong giải toán. (vì nếu làm sai sẽ ảnh hưởng tới thành tích của đội)

    – Yêu cầu: Giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi

    Học sinh được phân công làm trưởng nhóm có trách nhiệm tìm tổ viên của đội chơi.

    Học sinh được chọn vào đội chơi thì nhanh chóng vào vị trí của ðội, vui vẻ và nhiệt tình thực hiện nhiệm vụ

    – Chuẩn bị: Giáo viên chia lớp thành 2 đội chơi, mỗi đội khoảng 4-5 thành viên

    Chia phần bảng, phấn viết cho các nhóm trưởng.

    Quy định thời gian chơi: 3 phút (hoặc 4 phút). Trò chơi kết thúc khi có 1 đội chơi hoàn thành phần thi của mình hoặc hết giờ.

    Học sinh xếp thành 2 hàng dọc

    – Luật chơi: Khi trọng tài hô “Bắt đầu” lần lượt học sinh số 1 của mỗi đội lên bảng làm bài, sau đó về giao phấn cho học sinh số 2 và về vị trí cuối hàng đứng, cứ vậy làm tiếp cho đến khi hết thời gian quy định hoặc hoàn thành hết các bài tập.

    Khi học sinh làm sai, học sinh tiếp theo được phép sửa bài, tuy nhiên lần sửa bài được tính là 1 lần chơi, sau khi sửa bài xong không được làm tiếp mà phải trở về vị trí của đội chơi.

    – Tiến hành: Giáo viên yêu cầu 1 học sinh làm trọng tài. Trọng tài làm việc:

    Đội nào hoàn thành với số lượng nhiều hơn trong khoảng thời gian đã cho hoặc hoàn thành hết các câu hỏi thì sẽ dừng cuộc chơi.

    Các thành viên trong đội chơi về chỗ ngồi. Trọng tài yêu cầu các bạn “khán giả” nhận xét bài làm của hai đội chơi, thành viên của đội này có thể nhận xét bài làm của đội kia. Trọng tài xác định đội thắng thua, báo cáo với giáo viên

    Giáo viên chốt, nhận xét và cho điểm đội thắng (hoặc thưởng bằng tràng pháo tay)

    Ví dụ: Trò chơi “tiếp sức” khi dạy ôn tập dạng toán tìm x ở chương I.

    – Đồ dùng : GV chuẩn bị 2 bảng phụ

    Bảng 1 Bảng 2

    Tìm số tự nhiên x, biết

    163- 52.(x+4)=38

    Tính số tự nhiên x, biết

    (3x – 24).73=2.74

    – Giới thiệu trò chơi:

    + GV nêu tên trò chơi tiếp sức

    + GV hướng dẫn cách chơi: Hai đội xếp thành 2 hàng mỗi đội 5 học sinh.

    – Mỗi học sinh làm 1 bài , sau đó quay về trao phần cho người thứ 2 , cứ như thế cho đến khi hoàn thành bài giải , người sau có thể sửa cho người trước sai. Đội nào hoàn thành trước chính xác đội đó sẽ thắng cuộc.

    + GV có thế cho học sinh chơi thử trước khi chơi thật.

    + GV nhận xét kết quả trò chơi, thái độ người tham dự:

    Nhận xét:

    – Trò chơi này cũng có thể thay thế các nội dung 1 cách linh hoạt, nội dung kiến thức cần củng số, ôn luyện cũng như để phù hợp với từng đối tượng học sinh, lưu ý các bài toán của 2 đội chơi phải tương đương về độ khó, độ dài, tránh sự chênh lệch.

    – Trò chơi trên ngoài việc củng cố kiến thức cho học sinh còn có tác dụng rèn luyện về thể chất (HS được vận động) và rèn luyện các phẩm chất đạo đức như: Tôn trọng kỷ luật hăng say chơi hết mình gắn bó giúp đỡ với đồng đội.

    b.Trò chơi hái hoa dân chủ (kiến thức chương 2- số nguyên)

    – Trò chơi thường được dùng trong các kiến thức ôn tập chương

    – Đồ dùng: GV chuẩn bị các câu hỏi để củng cố kiến thức trong chương

    – Giới thiệu trò chơi:

    + GV nêu tên trò chơi hái hoa dân chủ “kiến thức chương 2 – số nguyên”

    + GV hướng dẫn trò chơi

    + Đồ dùng: GV chuẩn bị các câu hỏi để củng cố các kiến thức trong chương

    + GV giới thiệu trò chơi và hướng dẫn cách chơi

    – Mỗi dãy cử ra một đội chơi, học sinh 2 đội lần lượt lên bốc thăm và trả lời. GV đánh giá điểm sau mỗi câu và ghi điểm trên bảng.

    – Tổng điểm của đội nào sau khi hoàn thành cao hơn thì đội đó thắng.

    – GV nhận xét kết quả trò chơi, thái độ người tham dự.

    Nhận xét:

    – Trò chơi này nhằm củng số các kiến thức trong chương trình, thông qua trò chơi các em có thể ôn tập 1 cách tính cực các kiến thức trong chương.

    – Cũng như trò chơi 2, trò chơi này cũng giúp các em rèn luyện thêm các phẩm chất đạo đức như: Ý thức trách nhiệm cao, gắn bó với đồng đội, tích cực hoạt động vì danh dự đội nhóm.

    c. Trò chơi: “Giải ô chữ”; “Trò chơi ô chữ”

    -Trò chơi này tổ chức vào cuối tiết học, tiết ôn tập để củng cố hoặc tái hiện kiến thức. Trong các tiết học ôn tập chương có thể dùng trò chơi này cũng sẽ mang lại hiệu quả cao.

    Mục đích: Củng cố, khắc sâu kiến thức của bài học, của chương, từ đó giáo dục ý thức, thái độ học tập của học sinh.

    Rèn kỹ năng ghi nhớ, vận dụng linh hoạt các kiến thức Toán học đã học của học sinh.

    Phát triển tư duy nhanh nhạy, sáng tạo của học sinh

    Chuẩn bị: Bảng ô chữ, các câu hỏi và đáp án tương ứng

    Thiết kế trò chơi trên power point để trình chiếu.

    Cách xây dựng ô chữ:

    Có thể chia nhóm hoặc cả tập thể lớp cùng tham gia, học sinh nào dựa vào từ khóa tìm được từ khóa hàng dọc là bạn dành chiến thắng.

    Tiến hành: Giáo viên nêu cách tổ chức trò chơi.

    Ví dụ 1: Tiết dạy ôn tập chương III – Số học 6 tôi có thể cho các em học sinh cùng chơi trò trơi ô chữ để củng cố kiến thức của học sinh, cũng là nhắc nhở lại một số tên kiến thức đã được học trong chương trình toán 6

    Từ hàng dọc:

    Có 9 chữ cái, là tên gọi cũ của thủ đô Hà Nội

    Đáp án: THĂNG LONG

    Hàng ngang:

    Số 1: Có 6 chữ cái: Gồm 6 chữ cái. là một tính chất mà cả phép toán nhân và phép toán cộng phân số đều có.

    Đáp án: Kết hợp

    Số 2: Có 7 chữ cái: Là phép toán ngược của phép toán cộng

    Đáp án: Phép trừ

    Số 3: Có 6 chữ cái. Là cụm từ còn thiếu trong quy tắc sau: “Muốn chia một phân số hay một số nguyên cho một phân số, ta nhân số bị chia với số nghịch đảo của ”

    Đáp án: Số chia

    Số 4: Có 11 chữ cái. Là quan hệ của hai số có tích bằng 1.

    Đáp án: Số nghịch đảo

    Số 5: Có 6 chữ cái. Kết quả của phép chia hết được gọi là gì?

    Đáp án: Thương

    Số 6: Có 4 chữ cái: Là một cụm từ được viết tắt bởi 4 chữ cái này. Khi chia cả tử và mẫu của một phân số cho cùng một số ta được phân số tối giản. Vậy số đó có quan hệ như thế nào với tử số và mẫu số của phân số đã cho.

    Số 7: Có 8 chữ cái: Công thức sau thể hiện

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Lịch Sử 7
  • Skkn Vận Dụng Các Phương Pháp, Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Môn Hoá Học Phổ Thông
  • Đổi Mới Ppdh Môn Thể Dục Ở Các Trường Thcs Tình Khánh Hoà
  • Ứng Dụng Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Ở Các Cấp Thcs, Thpt Như Thế Nào?
  • Giáo Trình Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Ở Thpt Theo Định Hướng Tích Cực. – Trung Tâm Toán Tài Năng Nhật Khang
  • Các Phương Pháp Dạy Học, Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Sử Dụng Trong Nhà Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Chuyên Gia Trong Dạy Học
  • Làm Kế Toán: Phương Pháp Chuyên Gia (Delphi) Xây Dựng Chỉ Số
  • Bài Giảng Quản Trị Chất Lượng
  • Phương Pháp Tiêu Chuẩn 5S Trong Quản Lý Chất Lượng Nhân Sự
  • Các Nhóm Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Nghiên Cứu Khoa Học
  • – Bình diện vĩ mô là quan điểm về PPDH. Ví dụ: Dạy học hướng vào người học, dạy học phát huy tính tích cực của HS,…

    Quan điểm dạy học là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học, những cơ sở lí thuyết của lí luận dạy học, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những định hướng về vai trò của GV và HS trong quá trình dạy học. Quan điểm dạy học là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lí thuyết của PPDH.

    – Bình diện vi mô là Kĩ thuật dạy học . Ví dụ: kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật giao nhiệm vụ, kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật các mảnh ghép, kĩ thuật hỏi chuyên gia, kĩ thuật hoàn tất một nhiệm vụ,…

    Kĩ thuật dạy học (KTDH) là những biện pháp, cách thức hành động của GV trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.

    Tóm lại, QĐDH là khái niệm rộng, định hướng cho việc lựa chọn các PPDH cụ thể. Các PPDH là khái niệm hẹp hơn, đưa ra mô hình hành động. KTDH là khái niệm nhỏ nhất, thực hiện các tình huống hành động.

    – Việc phân biệt giữa PPDH và KTDH chỉ mang tính tương đối, nhiều khi không rõ ràng. Ví dụ, động não (Brainstorming) có trường hợp được coi là phương pháp, có trường hợp lại được coi là một KTDH.

    – Có những PPDH chung cho nhiều môn học, nhưng có những PPDH đặc thù của từng môn học hoặc nhóm môn học.

    – Có thể có nhiều tên gọi khác nhau cho một PPDH hoặc KTDH. Ví dụ: Brainstorming có người gọi là động não, có người gọi là công não hoặc tấn công não,…

    2. Một số phương pháp dạy học tích cực 2.1. Phương pháp dạy học nhóm

    Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên khác nhau như: Dạy học hợp tác, Dạy học theo nhóm nhỏ, trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc. Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp.

    Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tính trách nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của HS.

    Tiến trình dạy học nhóm có thể được chia thành 3 giai đoạn cơ bản:

    a. Làm việc toàn lớp : Nhập đề và giao nhiệm vụ

    – Xác định nhiệm vụ các nhóm

    – Thoả thuận quy tắc làm việc

    – Tiến hành giải quyết các nhiệm vụ

    – Chuẩn bị báo cáo kết quả.

    c. Làm việc toàn lớp: Trình bày kết quả, đánh giá

    – Các nhóm trình bày kết quả

    Có rất nhiều cách để thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau, không nên áp dụng một tiêu chí duy nhất trong cả năm học. Số lượng HS/1 nhóm nên từ 4- 6 HS.

    Các câu hỏi kiểm tra dùng cho việc chuẩn bị dạy học nhóm:

    – Chủ đề có hợp với dạy học nhóm không?

    – Các nhóm làm việc với nhiệm vụ giống hay khác nhau?

    – HS đã có đủ kiến thức điều kiện cho công việc nhóm chưa?

    – Cần trình bày nhiệm vụ làm việc nhóm như thế nào?

    – Cần chia nhóm theo tiêu chí nào?

    – Cần tổ chức phòng làm việc, kê bàn ghế như thế nào?

    * Các kỹ thuật chia nhóm:

    a/ Chia nhóm theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa trong năm,…:

    – GV yêu cầu HS điểm danh từ 1 đến 4/5/6…(tùy theo số nhóm GV muốn có là 4,5 hay 6 nhóm,…); hoặc điểm danh theo các màu (xanh, đỏ, tím, vàng,…); hoặc điểm danh theo các loài hoa (hồng, lan, huệ, cúc,…); hay điểm danh theo các mùa (xuân, hạ, thu, đông,…)

    – Yêu cầu các HS có cùng một số điểm danh hoặc cùng một mầu/cùng một loài hoa/cùng một mùa sẽ vào cùng một nhóm.

    b/ Chia nhóm theo hình ghép

    – GV cắt một số bức hình ra thành 3/4/5… mảnh khác nhau, tùy theo số HS muốn có là 3/4/5… HS trong mỗi nhóm. Lưu ý là số bức hình cần tương ứng với số nhóm mà GV muốn có.

    – HS bốc ngẫu nhiên mỗi em một mảnh cắt.

    – HS phải tìm các bạn có các mảnh cắt phù hợp để ghép lại thành một tấm hình hoàn chỉnh.

    – Những HS có mảnh cắt của cùng một bức hình sẽ tạo thành một nhóm.

    c/ Chia nhóm theo sở thích

    GV có thể chia HS thành các nhóm có cùng sở thích để các em có thể cùng thực hiện một công việc yêu thích hoặc biểu đạt kết quả công việc của nhóm dưới các hình thức phù hợp với sở trường của các em. Ví dụ: Nhóm Họa sĩ, Nhóm Nhà thơ, Nhóm Hùng biện,…

    d/ Chia nhóm theo tháng sinh: Các HS có cùng tháng sinh sẽ làm thành một nhóm.

    Ngoài ra còn có nhiều cách chia nhóm khác như: nhóm cùng trình độ, nhóm hỗn hợp, nhóm theo giới tính,….

    2.2. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình

    Nghiên cứu trường hợp điển hình là phương pháp sử dụng một câu chuyện có thật hoặc chuyện được viết dựa trên những trường hợp thường xảy ra trong cuộc sống thực tiễn để minh chứng cho một vấn đề hay một số vấn đề. Đôi khi nghiên cứu trường hợp điển hình có thể được thực hiện trên video hay một băng catset mà không phải trên văn bản viết.

    Các bước nghiên cứu trường hợp điển hình có thể là:

    – HS đọc (hoặc xem, hoặc nghe) về trường hợp điển hình

    – Vì trường hợp điển hình được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống thực, nên nó phải tương đối phức tạp, với các tuyến nhân vật và những tình huống khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản.

    – Tùy từng trường hợp, có thể tổ chức cho cả lớp cùng nghiên cứu một trường hợp điển hình hoặc phân công mỗi nhóm nghiên cứu một trường hợp khác nhau.

    2.3. Phương pháp giải quyết vấn đề

    Dạy học (DH) phát hiện và giải quyết vấn đề (GQVĐ) là PPDH đặt ra trước HS các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển HS vào tình huống có vấn đề , kích thích họ tự lực, chủ động và có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn đề.

    – Xác định, nhận dạng vấn đề/tình huống;

    – Liệt kê các cách giải quyết có thể có ;

    – Phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết ( tích cực, hạn chế, cảm xúc, giá trị) ;

    – So sánh kết quả các cách giải quyết ;

    – Lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất;

    – Thực hiện theo cách giải quyết đã lựa chọn;

    – Rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề, tình huống khác.

    Các vấn đề/ tình huống đưa ra để HS xử lí, giải quyết cần thoả mãn các yêu cầu sau:

    – Phù hợp với trình độ nhận thức của HS

    – Vấn đề/ tình huống phải gần gũi với cuộc sống thực của HS

    – Vấn đề/ tình huống có thể diễn tả bằng kênh chữ hoặc kênh hình, hoặc kết hợp cả hai kênh chữ và kênh hình hay qua tiểu phẩm đóng vai của HS

    – Vấn đề/ tình huống cần có độ dài vừa phải

    – Vấn đề/ tình huống phải chứa đựng những mâu thuẫn cần giải quyết, gợi ra cho HS nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách giải quyết vấn đề.

    Tổ chức cho HS giải quyết, xử lí vấn đề/ tình huống cần chú ý:

    – Các nhóm HS có thể giải quyết cùng một vấn đề/ tình huống hoặc các vấn đề/ tình huống khác nhau, tuỳ theo mục đích của hoạt động.

    – HS cần xác định rõ vấn đề trước khi đi vào giải quyết vấn đề.

    – Cần sử dụng phương pháp động não để HS liệt kê các cách giải quyết có thể có.

    – Cách giải quyết tối ưu đối với mỗi HS có thể giống hoặc khác nhau.

    Có thể tiến hành đóng vai theo các bước sau :

    – Các nhóm lên đóng vai.

    – GV kết luận, định hướng cho HS về cách ứng xử tích cực trong tình huống đã cho.

    – Tình huống không nên quá dài và phức tạp, vượt quá thời gian cho phép

    – Tình huống phải có nhiều cách giải quyết

    – Tình huống cần để mở để HS tự tìm cách giải quyết, cách ứng xử phù hợp; không cho trước ” kịch bản”, lời thoại.

    – Mỗi tình huống có thể phân công một hoặc nhiều nhóm cùng đóng vai

    – Các vai diễn nên để HS xung phong hoặc tự phân công nhau đảm nhận

    – Nên khích lệ cả những HS nhút nhát cùng tham gia.

    – Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của tiểu phẩm đóng vai.

    2.5. Phương pháp trò chơi

    Phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho HS tìm hiểu một vấn đề hay thể nghiệm những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua một trò chơi nào đó.

    – GV phổ biến tên trò chơi, nội dung và luật chơi cho HS

    – Chơi thử ( nếu cần thiết)

    – HS phải nắm được quy tắc chơi và phải tôn trọng luật chơi.

    – Phải quy định rõ thời gian, địa điểm chơi.

    – Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, tạo điều kiện cho HS tham gia tổ chức, điều khiển tất cả các khâu: từ chuẩn bị, tiến hành trò chơi và đánh giá sau khi chơi.

    – Trò chơi phải được luân phiên, thay đổi một cách hợp lí để không gây nhàm chán cho HS.

    2.6. Dạy học theo dự án ( Phương pháp dự án)

    Dạy học theo dự án còn gọi là phương pháp dự án, trong đó HS thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành.

    Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao, từ việc lập kế hoạch đến việc thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện dự án. Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm. Kết quả dự án là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được.

    + Lập kế hoạch các nhiệm vụ học tập

    – Bước 2: Thực hiện dự án

    + Tham vấn giáo viên hướng dẫn

    – Bước 3: Tổng hợp kết quả

    + Phản ánh lại quá trình học tập

    Các dự án học tập cần góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội; có sự kết hợp giữa nghiên cứu lí thuyết và vận dụng lí thuyết vào hoạt động thực tiễn, thực hành.

    Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của HS.

    HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân.

    Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp.

    Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm.

    Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết; sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu.

    Vai trò của GV -HS : Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác, BTNB luôn coi học sinh là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của giáo viên:

    Thầy cô sẽ giúp học sinh chứng minh những giả thiết của các em và cùng các em tìm ra câu trả lời đúng.

    Mục tiêu của BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu và say mê khoa học của học sinh. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh.

    Giảng dạy khoa học dựa trên tìm tòi khám phá.

    Tiến trình của 1 giờ dạy theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”

    Bước 1: Đưa ra tình huống có vấn đề và xác định vấn đề cần giải quyết.

    Bước 2: Tổ chức các hoạt động để giải quyết vấn đề.

    Bước 3: Củng cố, định hướng mở rộng

    Tiến trình của một thực nghiệm: Gồm có 5 bước:

    B1:Đưa ra tình huống có vấn đề.

    B2:HS làm việc cá nhân hc theo nhóm ( đưa ra câu hỏi, dự đoán kết quả, giải thích)

    B3:Tiến hành thực nghiệm.

    B4: So sánh kết quả với dự đoán.

    B5: Kết luận, mở rộng.

    Vai trò của người giáo viên:

    – Đề ra những tình huống, những thử thách.

    – Định hướng các hoạt động.

    – Thu hẹp những cái có thể.

    – Chỉ ra thông tin.

    * Giáo viên là người trung gian:

    -Là nhà trung gian giữa “thế giới” khoa học (Các kthức & T.Hành) và HS

    -Đảm bảo sự đóan trước và giải quyết các xung đột nhận thức.

    -Hành động bên cạnh với mỗi học sinh cũng như với mỗi nhóm học sinh và cả lớp.

    Vai trò của học sinh trong giờ học với PPBTNB:

    -HS quan sát một hiện tượng của thế giới thực tại và gần gũi với chúng về đề tài mà từ đó chúng sẽ hình thành các nghi vấn.

    -HS tìm tòi, suy nghĩ và đề ra những bước đi cụ thể của thực nghiệm, hoặc chỉnh lí lại những ca thất bại nhờ tra cứu tư liệu.

    -HS trao đổi và lập luận trong QT hoạt động, chúng chia sẻ với nhau những ý tưởng của mình, cọ sát những quan điểm của nhau và hình thành những kết luận tạm thời hoặc cuối cùng bằng ghi chép, biết phát biểu.

    Như vậy là học sinh đã biết nghe lời người khác, hiểu người khác, tôn trọng người khác và biết bảo vệ ý kiến của mình.

    Dạy học theo góc có những điểm tương đồng với dạy học theo nhóm, theo cặp và một số phương pháp, kỹ thuật, thủ thuật dạy học khác. Ưu điểm của học theo góc trong dạy học nói chung và Mỹ thuật nói riêng là người dạy có thể giao nhiều nhiệm vụ với các mức độ và năng lực khác nhau theo từng nội dung học tập, mỗi cá nhân tự hoàn thành nhiệm vụ với sự tương tác của người dạy và thành viên trong nhóm. Mỗi góc phải chuẩn bị đầy đủ các phương tiện đáp ứng nội dung học tập và nhiệm vụ các góc cùng hướng tới mục tiêu bài học. Dạy học theo góc có thể áp dụng ở hầu hết các dạng bài học và các bài tập tích hợp kiến thức nhiều môn học.

    Ví dụ: Vẽ theo mẫu – Vẽ tĩnh vật – vẽ mầu

    Góc 1: Tìm hiểu các bước vẽ – Khám phá

    Góc 2: Quan sát, nhận xét các bước vẽ – Trải nghiệm

    Góc 3: Quan sát, nhận xét mẫu – Phân tích

    Góc 4: Thực hành – Áp dụng

    Việc phân chia các góc theo các phong cách và nội dung học tập không nhất thiết phải đủ tất cả 4 góc như trên, mà có thể linh hoạt tổ chức 2 hoặc 3 góc tùy theo điều kiện và nội dung học tập, nhằm đảm bảo học sâu, thoải mái.

    * Chia nhóm theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa trong năm,…:

    – GV yêu cầu HS điểm danh từ 1 đến 4/5/6…(tùy theo số nhóm GV muốn có là 4,5 hay 6 nhóm,…); hoặc điểm danh theo các màu (xanh, đỏ, tím, vàng,…); hoặc điểm danh theo các loài hoa (hồng, lan, huệ, cúc,…); hay điểm danh theo các mùa (xuân, hạ, thu, đông,…)

    – Yêu cầu các HS có cùng một số điểm danh hoặc cùng một mầu/cùng một loài hoa/cùng một mùa sẽ vào cùng một nhóm.

    * Chia nhóm theo hình ghép

    – GV cắt một số bức hình ra thành 3/4/5… mảnh khác nhau, tùy theo số HS muốn có là 3/4/5… HS trong mỗi nhóm. Lưu ý là số bức hình cần tương ứng với số nhóm mà GV muốn có.

    – HS bốc ngẫu nhiên mỗi em một mảnh cắt.

    – HS phải tìm các bạn có các mảnh cắt phù hợp để ghép lại thành một tấm hình hoàn chỉnh.

    – Những HS có mảnh cắt của cùng một bức hình sẽ tạo thành một nhóm.

    * Chia nhóm theo sở thích

    GV có thể chia HS thành các nhóm có cùng sở thích để các em có thể cùng thực hiện một công việc yêu thích hoặc biểu đạt kết quả công việc của nhóm dưới các hình thức phù hợp với sở trường của các em. Ví dụ: Nhóm Họa sĩ, Nhóm Nhà thơ, Nhóm Hùng biện,…

    * Chia nhóm theo tháng sinh: Các HS có cùng tháng sinh sẽ làm thành một nhóm.

    Ngoài ra còn có nhiều cách chia nhóm khác như: nhóm cùng trình độ, nhóm hỗn hợp, nhóm theo giới tính,….

    3.2. Kĩ thuật giao nhiệm vụ

    – Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng:

    + Nhiệm vụ giao cho cá nhân/nhóm nào?

    + Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?

    + Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?

    + Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì?

    + Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?

    + Cách thức trình bày/ đánh giá sản phẩm như thế nào?

    – Nhiệm vụ phải phù hợp với: mục tiêu hoạt động, trình độ HS, thời gian, không gian hoạt động và cơ sở vật chất, trang thiết bị

    3.3. Kĩ thuật đặt câu hỏi

    Trong dạy học theo PP cùng tham gia, GV thường phải sử dụng câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt HS tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới, để đánh giá kết quả học tập của HS; HS cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm GV và các HS khác về những ND bài học chưa sáng tỏ.

    Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HS – GV và HS – HS. Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của HS càng nhiều; HS sẽ học tập tích cực hơn.

    Mục đích sử dụng câu hỏi trong dạy học là để:

    – Kích thích, dẫn dắt HS suy nghĩ, khám phá tri thức mới, tạo đ/k cho HS tham gia vào quá trình dạy học

    – Kiểm tra, đánh giá KT, KN của HS và sự quan tâm, hứng thú của các em đối với ND học tập

    – Thu thập, mở rộng thông tin, kiến thức

    Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau:

    – Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu

    – Phù hợp với trình độ HS

    – Kích thích suy nghĩ của HS

    – Phù hợp với thời gian thực tế

    – Sắp xếp thep trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.

    – Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xính

    – Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc

    3.4 Kĩ thuật khăn trải bàn

    – HS được chia thành các nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Mỗi nhóm sẽ có một tờ giấy A0 đặt trên bàn, như là một chiếc khăn trải bàn.

    – Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh, tiếp tục chia phần xung quanh thành 4 hoặc 6 phần tuỳ theo số thành viên của nhóm ( 4 hoặc 6 người.)

    Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm.

    – GV nêu câu hỏi/ vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm.

    – Mỗi thành viên ( hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạ những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh.

    – Cuối cùng, tất cả các ph­ương án giải quyết được tập hợp lại và tìm ph­ương án tối ­ưu.

    – Các nhóm đọc và góp ý kiến bổ sung cho nhóm bạn. Sau đó lại tiếp tục luân chuyển kết quả cho nhóm tiếp theo và nhận tiếp kết quả từ một nhóm khác để góp ý.

    3.7 Kĩ thuật các mảnh ghép

    – Sau đó, mỗi thành viên của các nhóm này sẽ tập hợp lại thành các nhóm mới, như vậy trong mỗi nhóm mới sẽ có đủ các “chuyên gia” về vấn đề A, B, C, D,…và mỗi ” chuyên gia” về từng vấn đề sẽ có trách nhiệm trao đổi lại với cả nhóm về vấn đề mà em đã có cơ hội tìm hiểu sâu ở nhóm cũ.

    – Sử dụng để tìm các phương án giải quyết vấn đề

    – Dùng để thu thập các khả năng lựa chọn và suy nghĩ khác nhau

    Động não có thể tiến hành theo các bước sau :

    – Giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề ( có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm.

    – Khích lệ HS phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt.

    – Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp.

    – Phân loại các ý kiến.

    – Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng

    – Tổng hợp ý kiến của HS và rút ra kết luận.

    3.9 Kĩ thuật ” Trình bày một phút”

    Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho HS tổng kết lại kiến thức đã học và đặt những câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và cô đọng với các bạn cùng lớp. Các câu hỏi cũng như các câu trả lời HS đưa ra sẽ giúp củng cố quá trình học tập của các em và cho GV thấy được các em đã hiểu vấn đề như thế nào.

    Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:

    – Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học), GV yêu cầu HS suy nghĩ, trả lời các câu hỏi sau: Điều quan trọng nhất các em học đuợc hôm nay là gì? Theo các em, vấn đề gì là quan trọng nhất mà chưa được giải đáp?…

    – HS suy nghĩ và viết ra giấy. Các câu hỏi của HS có thể dưới nhiều hình thức khác nhau.

    – Mỗi HS trình bày trước lớp trong thời gian 1 phút về những điều các em đã học được và những câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn đề các em muốn được tiếp tục tìm hiểu thêm.

    3.10 Kĩ thuật “Chúng em biết 3”

    – Mỗi nhóm sẽ cử một đại diện lên trình bày về cả 3 điểm nói trên.

    3.11 Kĩ thuật ” Hỏi và trả lời”

    Đây là KTDH giúp cho HS có thể củng cố, khắc sâu các kiến thức đã học thông qua việc hỏi và trả lời các câu hỏi.

    Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:

    – HS vừa trả lời xong câu hỏi đầu tiên lại được đặt tiếp một câu hỏi nữa và yêu cầu một HS khác trả lời.

    – HS này sẽ tiếp tục quá trình trả lời và đặt câu hỏi cho các bạn cùng lớp,… Cứ như vậy cho đến khi GV quyết định dừng hoạt động này lại.

    – Nhóm “chuyên gia” lên ngồi phía trên lớp học

    – Một em trưởng nhóm “chuyên gia” (hoặc GV) sẽ điều khiển buổi “tư vấn”, mời các bạn HS trong lớp đặt câu hỏi rồi mời “chuyên gia” giải đáp, trả lời.

    – Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó.

    – Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo.

    3.14 Kĩ thuật “Hoàn tất một nhiệm vụ”

    – GV đưa ra một câu chuyện/một vấn đề/một bức tranh/một thông điệp/… mới chỉ được giải quyết một phần và yêu cầu HS/nhóm HS hoàn tất nốt phần còn lại.

    – HS/nhóm HS thực hiện nhiệm vụ được giao.

    – HS/ nhóm HS trình bày sản phẩm.

    Lưu ý: GV cần hướng dẫn HS cẩn thận và cụ thể để các em hiểu được nhiệm vụ của mình. Đây là một hoạt động tốt giúp các em đọc lại những tài liệu đã học hoặc đọc các tài liệu theo yêu cầu của giáo viên.

    – GV yêu cầu một vài HS chia sẻ nội dung mà các em đã viết trước lớp.

    Kĩ thuật này cũng có thể sử dụng sau tiết học để tóm tắt nội dung đã học, để phản hồi cho GV về việc nắm kiến thức của HS và những chỗ các em còn hiểu sai.

    3.16 Kĩ thuật “đọc hợp tác” (còn gọi là đọc tích cực)

    Kĩ thuật này nhằm giúp HS tăng cường khả năng tự học và giúp GV tiết kiệm thời gian đối với những bài học/phần đọc có nhiều nội dung nhưng không quá khó đối với HS.

    – GV nêu câu hỏi/yêu cầu định hướng HS đọc bài/phần đọc.

    + Đoán trước khi đọc: Để làm việc này, HS cần đọc lướt qua bài đọc/phần đọc để tìm ra những gợi ý từ hình ảnh, tựa đề, từ/cụm từ quan trọng.

    + Đọc và đoán nội dung : HS đọc bài/phần đọc và biết liên tưởng tới những gì mình đã biết và đoán nội dung khi đọc những từ hay khái niệm mà các em phải tìm ra.

    + Tìm ý chính: HS tìm ra ý chính của bài/phần đọc qua việc tập trung vào các ý quan trọng theo cách hiểu của mình.

    + Tóm tắt ý chính.

    – HS chia sẻ kết quả đọc của mình theo nhóm 2, hoặc 4 và giải thích cho nhau thắc mắc (nếu có), thống nhất với nhau ý chính của bài/phần đọc đọc.

    – HS nêu câu hỏi để GV giải đáp (nếu có).

    Lưu ý: Một số câu hỏi GV thường dùng để giúp HS tóm tắt ý chính:

    – Em có chú ý gì khi đọc ………… ?

    – Em nghĩ gì về………………. ?

    – Em so sánh A và B như thế nào?

    – A và B giống và khác nhau như thế nào?

    3.17 Kĩ thuật “Nói cách khác”

    – GV chia HS thành các nhóm, yêu cầu các nhóm hãy liệt kê ra giấy khổ lớn 10 điều không hay mà thỉnh thoảng người ta vẫn nói về một ai đó/việc gì đó.

    – Tiếp theo, yêu cầu các nhóm hãy tìm 10 cách hay hơn để diễn đạt cùng những ý nghĩa đó và tiếp tục ghi ra giấy khổ lớn.

    3.18. Phân tích phim Video

    Phim video có thể là một trong các phương tiện để truyền đạt nội dung bài học. Phim nên tương đối ngắn gọn (5-20 phút). GV cần xem qua trước để đảm bảo là phim phù hợp để chiếu cho các em xem.

    – Sau khi xem phim video, yêu cầu HS làm việc một mình hoặc theo cặp và trả lời các câu hỏi hoặc viết tóm tắt những ý cơ bản về nội dung phim đã xem.

    – Đại diện nhóm trình bày các ý chính cho cả lớp.

    – Sau đó, các thành viên trong nhóm lần lượt trả lời các câu hỏi của các bạn khác trong lớp về bài đọc

    3.20 Kỹ thuật XYZ (Còn gọi là kỹ thuật 635)

    Kỹ thuật XYZ là một kỹ thuật làm việc nhóm nhằm phát huy tính tích cực của mỗi thành viên trong nhóm, trong đó mỗi nhóm có X thành viên, mỗi thành viên cần đưa ra Y ý kiến trong khoảng thời gian Z. Mô hình thông thường mỗi nhóm có 6 thành viên, mỗi thành viên cần đưa ra 3 ý kiến trong khoảng thời gian 5 phút, do vậy, kỹ thuật này còn gọi là kỹ thuật 635.

    Giấy bút cho các thành viên.

    Các thành viên trình bày ý kiến của mình, hoặc gởi ý kiến về cho thư ký tổng hợp, sau đó tiến hành đánh giá và lựa chọn.

    Số lượng thành viên trong nhóm nên tuân thủ đúng quy tắc để tạo tính tương đồng về thời gian, giáo viên quy định thời gian và theo dõi thời gian cụ thể.

    Có yêu cầu cụ thể nên buộc các thành viên đều phải làm việc.

    Cần dành nhiều thời gian cho hoạt động nhóm, nhất là quá trình tổng hợp ý kiến và đánh giá ý kiến.

    Giấy bút cho các thành viên.

    Bảng câu hỏi cho những người quan sát:

    · Người nói có nhìn vào những người đang nói với mình không?

    · Họ có nói một cách dễ hiểu không?

    · Họ có để những người khác nói hay không?

    · Họ có đưa ra được những luận điểm đáng thuyết phục hay không?

    · Họ có đề cập đến luận điểm của người nói trước mình không?

    · Họ có lệch hướng khỏi đề tài hay không?

    · Họ có tôn trọng những quan điểm khác hay không?

    · Vừa giải quyết được vấn đề, vừa phát triển kỹ năng quan sát và giao tiếp của người học.

    · Cần có không gian tương đối rộng.

    3.22 Kỹ thuật Kipling (5W1H) (What, where, when, who, why, how).

    Giấy bút cho người tham gia.

    Các câu hỏi được đưa ra theo thứ tự ngẫu nhiên hoặc theo một trật tự định ngầm trước, với các từ khóa: Cái gì, Ở đâu, Khi nào, Thế nào, Tại sao, Ai.

    Vấn đề xảy ra ở đâu?

    Vấn đề xảy ra khi nào?

    Tại sao vấn đề lại xảy ra?

    Làm thế nào để giải quyết vấn đề?

    Ai sẽ tham gia giải quyết vấn đề?

    Khi nào thì vấn đề giải quyết xong?

    Các câu hỏi cần bám sát vào hệ thống từ khóa 5W1H (What, where, when, who, why, how).

    Nhanh chóng, không mất thời gian, mang tính logic cao.

    Có thể áp dụng cho nhiều tình huống khác nhau.

    Có thể áp dụng cho cá nhân.

    Ít có sự phối hợp của các thành viên.

    Dễ dẫn đến tình trạng “9 người 10 ý”.

    Dễ tạo cảm giác “Bị điều tra”.

    Từ biểu đồ KWL, Ogle bổ sung thêm cột H ở sau cùng, với nội dung khuyến khích học sinh định hướng nghiên cứu. Sau khi học sinh đã hoàn tất nội dung ở cột L, các em có thể muốn tìm hiểu thêm về một thông tin. Các em sẽ nêu biện pháp để tìm thông tin mở rộng. Những biện pháp này sẽ được ghi nhận ở cột H.

    Bảng KWL (KWLH) dành cho học sinh.

    Bảng KWL (KWLH) dành cho giáo viên.

    Chọn bài đọc – Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả với các bài đọc mang ý nghĩa gợi mở, tìm hiểu, giải thích.

    Tạo bảng KWL – Giáo viên vẽ một bảng lên bảng, ngoài ra, mỗi học sinh cũng có một mẫu bảng của các em. Có thể sử dụng mẫu sau.

    Yêu cầu học sinh đọc và tự điền câu trả lời mà các em tìm được vào cột L. Trong quá trình đọc, học sinh cũng đồng thời tìm ra câu trả lời của các em và ghi nhận vào cột W. Học sinh có thể điền vào cột L trong khi đọc hoặc sau khi đã đọc xong.

    Chuẩn bị những câu hỏi để giúp học sinh động não. Đôi khi để khởi động, học sinh cần nhiều hơn là chỉ đơn giản nói với các em : “Hãy nói những gì các em đã biết về…”

    Khuyến khích học sinh giải thích. Điều này rất quan trọng vì đôi khi những điều các em nêu ra có thể là mơ hồ hoặc không bình thường.

    Ngoài việc bổ sung câu trả lời, khuyến khích học sinh ghi vào cột L những điều các em cảm thấy thích. Để phân biệt, có thể đề nghị các em đánh dấu những ý tưởng của các em.

    Khuyến khích học sinh nghiên cứu thêm về những câu hỏi mà các em đã nêu ở cột W nhưng chưa tìm được câu trả lời từ bài đọc.

    Giúp học sinh dần dần hình thành khả năng tự định hướng học tập, nắm được cách học không chỉ cho môn đọc hiểu mà cho các môn học khác.

    Giúp giáo viên và học sinh tự đánh giá kết quả học tập, định hướng cho các hoạt động học tập kế tiếp.

    Sơ đồ cần phải được lưu trữ cẩn thận sau khi hoàn thành hai bước K và W, vì bước L có thể sẽ phải mất một thời gian dài mới có thể tiếp tục thực hiện.

    Là một kỹ thuật huy động sự tham gia của các thành viên đối với một câu hỏi nào đó, hoặc nhằm thu thông tin phản hồi nhằm cải thiện tình trạng giao tiếp và không khí học tập trong lớp, thông qua việc các thành viên lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng (nhanh như tia chớp) ý kiến của mình về một câu hỏi hoặc tình trạng vấn đề.

    Là một kỹ thuật lấy thông tin phản hồi nhằm huy động sự tham gia tích cực của học sinh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Đáp Thắc Mắc Về Phương Pháp Tránh Thai Cấy Que Dưới Da
  • Cấy Que Tránh Thai Có An Toàn Không?
  • Ưa Nhược Điểm Của Phương Pháp Cấy Que Tránh Thai Và Đặt Vòng
  • Ưu Và Nhược Điểm Của Phương Pháp Cấy Que Tránh Thai Bạn Nên Biết
  • Ưu Và Nhược Điểm Của Phương Pháp Cấy Que Tránh Thai
  • Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Lợi Ích Tốt Mà Phương Pháp Ăn Kiêng Keto Mang Lại Cho Sức Khỏe Của Bạn
  • Những Lưu Ý Về Chế Độ Ăn Giảm Cân Keto
  • Sinh Hoạt Không Tiêu Hao Enzyme Diệu Kỳ Của Bác Sĩ Shinya
  • (Update 2022) Hướng Dẫn Lọc Cổ Phiếu Theo Phương Pháp Canslim
  • Mua Cổ Phiếu: Đừng Dùng Phương Pháp Canslim
  • Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới để chỉ phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Và rõ ràng, đây không phải là một khái niệm, lý thuyết suông mà nó đã được ứng dụng rộng rãi tại nhiều trường học thuộc các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

    Khái niệm phương pháp dạy học

    Phương pháp dạy học là cách thức, sự tương tác chung giữa giáo viên và học sinh trong một điều kiện dạy học nhất định, nhằm đạt được các mục tiêu đề ra của việc dạy học.

    Trong đó, có 3 bình diện cần xem xét trong phương pháp dạy học, có thể kể đến như:

    Quan điểm dạy học

    Được hiểu là tổng thể các định hướng về hành động phương pháp, có sự kết hợp của nhiều yếu tố như nguyên tắc dạy học, cơ sở lý thuyết của lý luận dạy học, môi trường và điều kiện dạy học cũng như định hướng cụ thể về vai trò của giáo viên, học sinh khi tham khảo quá trình giảng dạy.

    Các quan điểm dạy học trên bao gồm các định hướng có tính chiến lược. Và chính những định hướng này là mô hình lý thuyết hình thành nên phương pháp dạy học.

    Phương pháp dạy cụ thể

    Kỹ thuật dạy học

    Kỹ thuật dạy học gồm các phương pháp, cách thức hành động của giáo viên ở từng tình huống cụ thể, nhằm thực hiện và điều khiển toàn bộ quá trình dạy học. Một số kỹ thuật dạy học phổ biến dành cho giáo viên bao gồm: Kỹ thuật phân chia nhóm, đặt câu hỏi, kỹ thuật hỏi chuyên gia, kỹ thuật các mảnh ghép hay hoàn thành một nhiệm vụ,…

    Một số lưu ý quan trọng về phương pháp dạy học

    1.Với mỗi một quan điểm dạy học sẽ có phương pháp dạy học phù hợp. Và với mỗi phương pháp dạy học cụ thể cũng sẽ có các kỹ thuật dạy học đặc thù. Tuy nhiên, điều này không mang tính cố định, đôi khi cũng có ngoại lệ.

    2.Việc phân biệt phương pháp dạy học và kỹ thuật dạy học đôi khi chỉ mang tính chất tương đối, một số ví dụ có thể kể đến như: “Động não” – ở một số trường hợp, nó được xem là phương pháp hoặc kỹ thuật dạy học.

    3.Có các phương pháp dạy học chung cho nhiều môn học, tuy nhiên cũng có những phương pháp đặc thù, dành riêng cho 1 số môn học hoặc các nhóm môn học nhất định

    4.Một phương pháp dạy học, hay kỹ thuật môn học sẽ được gọi với nhiều cái tên khác nhau.

    Một số phương pháp dạy học tích cực

    Phương pháp dạy học nhóm

    Đây là một trong số phương pháp dạy học tích cực được đánh giá cao hiện nay.

    Nếu giáo viên có thể tổ chức tốt, phương pháp dạy học nhóm sẽ góp phần thúc đẩy giúp các em học sinh phát huy tính tích cực của bản thân, đồng thời phát triển khả năng làm việc nhóm, trách nhiệm và khả năng giao tiếp của các em.

    Kỹ năng chia nhóm

    • Dựa trên số thứ tự điểm danh, dựa vào màu sắc, các mùa hoặc các loài hoa. Điều kiện để ghép chung nhóm là chung 1 số, 1 màu, 1 mùa hoặc 1 loài hoa.
    • Dựa vào hình ghép: Giáo viên cắt 1 bức hình thành nhiều mảnh và để cho học sinh bốc thăm ngẫu nhiên. Số bức hình sẽ tương ứng với số nhóm cần chia. Điều kiện để chung nhóm là các em học sinh có mảnh ghép để tạo ra cùng 1 hình.
    • Dựa theo sở thích: Những em học sinh có cùng sở thích với nhau sẽ tạo thành 1 tổ hợp nhóm
    • Dựa vào tháng sinh: Điều kiện chung nhóm là các học sinh có cùng tháng sinh với nhau.

    Quy trình triển khai

    Xác định nhiệm vụ chung cho các nhóm

    Tạo và tiến hành phân chia nhóm

    Phân bố vị trí làm việc nhóm

    Lập kế hoạch về việc cần làm

    Đề ra các quy tắc làm việc chung

    Chuẩn bị để báo cáo kết quả từ quy trình làm việc nhóm

    Các nhóm lần lượt trình bày kết quả của nhóm mình.

    Đánh giá các kết quả

    Phương pháp nghiên cứu một trường hợp điển hình

    Tương tự như phương pháp dạy học phân chia nhóm, phương pháp nghiên cứu một trường hợp điển hình cũng là một trong những phương pháp dạy học được áp dụng phổ biến hiện nay. Với phương pháp này, giáo viên sẽ đóng vai trò kể 1 câu chuyện có thật hoặc một câu chuyện được viết lại dựa theo các tình huống thực xảy ra trong cuộc sống, nhằm chứng minh cho một vấn đề nào đó.

    Phương pháp nghiên cứu một trường hợp điển hình có thể được thực hiện bằng văn bản, đoạn ghi âm hoặc hình thức video.

    Quy trình triển khai

    • Học sinh sẽ cùng đọc, nghe hoặc xem một trường hợp điển hình nào đó
    • Suy ngẫm về trường hợp điển hình
    • Tiến hành tranh luận dựa trên sự hướng dẫn của giáo viên

    Phương pháp giải quyết vấn đề

    Nằm trong số các phương pháp dạy học mới nhằm kích thích tính tự lực và chủ động giải quyết các vấn đề của học sinh. Với phương pháp giải quyết vấn đề, giáo viên sẽ đưa ra các vấn đề nhận thức mà ở đó có sự mâu thuẫn giữa những kiến thức đã biết và chưa biết, định hướng học sinh tìm cách giải quyết.

    Quy trình triển khai

    • Xác định vấn đề, tình huống cần giải quyết
    • Liệt kê ra các biện pháp để giải quyết vấn đề
    • Phân tích và đánh giá về những kết quả của các biện pháp
    • So sánh kết quả của những giải pháp đề ra
    • Chọn lựa ra biện pháp tối ưu nhất
    • Thực hiện theo giải pháp đã lựa chọn
    • Kết luận và rút kinh nghiệm khi giải quyết vấn đề, tình huống khác

    Phương pháp đóng vai

    Quy trình triển khai

    • Lần lượt từng nhóm diễn đóng vai theo thứ tự
    • Giáo viên đưa ra đánh giá, kết luận và định hướng cho học sinh đâu mới là cách ứng xử tích cực với tình huống đã phân.

    Phương pháp trò chơi

    Thông qua một trò chơi, giáo viên sẽ tổ chức cho các em học sinh tìm hiểu về một vấn đề nào đó. Phương pháp trò chơi thuộc phương pháp dạy học tăng trải nghiệm kích thích, tăng hứng thú tìm hiểu vấn đề của học sinh

    Quy trình triển khai

    • Giáo viên phổ biến trò chơi bao gồm tên, nội dung và quy tắc chơi
    • Tiến hành chơi thử nếu học sinh chưa nắm rõ về luật chơi
    • Cho học sinh bắt đầu trò chơi
    • Đưa ra đánh giá khi trò chơi kết thúc

    Phương pháp dự án

    Đây là phương pháp dạy học mà học sinh cần phải thực hiện một nhiệm vụ học tập gắn liền với thực tiễn, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành.

    Nhiệm vụ học tập này đòi hỏi người học có tính tự lực cao, có khả năng đảm nhiệm mọi công đoạn bao gồm lập kế hoạch, thực hiện dự án học tập và đánh giá kết quả của dự án.

    Để thực hiện phương pháp dạy học theo dự án, giáo viên cần dạy theo hình thức chia nhóm.

    Quy trình triển khai

    Lập kế hoạch về nhiệm vụ học tập của dự án

    Tìm kiếm, thu thập thông tin

    Tiến hành nghiên cứu, điều tra

    Nhờ giáo viên hướng dẫn, hỗ trợ

    Tổng hợp các kết quả tìm thấy được trong quá trình học

    Hệ thống lại các kết quả tìm được

    Trình bày kết quả học tập

    Phản ánh lại kết quả của quá trình học.

    Phương pháp bàn tay nặn bột

    Nhiều nghiên cứu cho thấy hiện nay, 1 số phương pháp dạy học tích cực dựa trên các thí nghiệm, nghiên cứu được áp dụng cực phổ biến để tăng hiệu quả của các môn học tự nhiên. Phương pháp bàn tay nặn bột là một trong số đó.

    Với phương pháp giảng dạy này, kiến thức của học sinh được hình thành thông qua các thí nghiệm. Các em được tự mình tìm tòi nghiên cứu để tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc số bằng cách tiến hành những thí nghiệm, đọc, điều tra, nghiên cứu tài liệu,…

    Quy trình 1 tiết dạy

    • Nêu ra các tình huống có vấn đề, xác định được vấn đề cần giải quyết
    • Xây dựng các hoạt động nhằm giải quyết vấn đề
    • Củng cố và đề xuất thêm các định hướng mở rộng trong hệ thống bài học

    Quy trình thực nghiệm

    • Nêu ra tình huống có vấn đề cần giải quyết
    • Học sinh đưa ra các câu hỏi, dự đoán và kết quả theo từng nhóm hoặc từng cá nhân
    • Làm thực nghiệm
    • So sánh kết quả đạt được với dự đoán đã đưa ra ở bước trên
    • Đưa ra kết luận về bài học.

    Phương pháp dạy theo góc

    Còn rất mới mẻ, song gần đây, phương pháp dạy học mới này đã được áp dụng tại nhiều trường học. Ở đó, học sinh cần phải thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau, ở các vị trí cụ thể trong phạm vi lớp học, để đáp ứng nhiều phong cách học tập khác nhau

    Phương pháp dạy học góc giúp học sinh lựa chọn hoạt động cũng như phong cách học: Thực hành; khám phá, tăng thêm cơ hội để phát triển khả năng sáng tạo, cơ hội đọc, hiểu các nhiệm vụ được đề xuất từ giáo viên cũng như cơ hội để mỗi cá nhân đều có thể áp dụng và trải nghiệm.

    Những điều kiện để áp dụng phương pháp dạy học tích cực thành công

    Đối với giáo viên

    Để có thể áp dụng 1 số phương pháp dạy học tích cực, giáo viên cần phải trải qua quá trình đào tạo mới có thể dễ dàng thích nghi với những thay đổi, nâng cấp về chức năng cũng như nhiệm vụ giảng dạy của mình.

    Cùng với đó, các thầy cô còn phải nhiệt tình và sẵn sàng tiếp nhận các thay đổi mới của nền giáo dục.

    Các giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy phải là những người nắm vững về kiến thức chuyên môn, có kỹ năng về sư phạm, khéo léo trong cách ứng xử cũng như sử dụng thành thạo công nghệ thông tin để hỗ trợ ứng dụng trong việc giảng dạy và biết cách để định hướng học sinh theo đúng như mục tiêu giáo dục và chương trình học đã đề ra. Tuy nhiên, cũng cần đảm bảo tự do nhận thức để học sinh phát triển tư duy và sáng tạo.

    Đối với học sinh

    Học sinh cần phải xây dựng những phẩm chất và khả năng thích nghi với phương pháp dạy học mới, cách xác định mục tiêu học tập, tính tự giác và có trách nhiệm không chỉ với việc học của mình, mà còn đối với việc học chung của cả nhóm, cả lớp. Cần phát huy tính tự giác ở bất cứ hoàn cảnh hay điều kiện nào.

    Sách giáo khoa

    Những chương trình giảng dạy trong sách giáo khoa nên có sự giảm tải về khối lượng kiến thức. Giảm những nội dung buộc học sinh phải ghi nhớ, các câu hỏi tái tạo và hạn chế đến mức tối đa những kết luận mang tính áp đặt. Thay vào đó, cần bổ sung thêm các bài toán về nhận thức, thực tiễn, các câu hỏi phát triển trí thông minh cùng những gợi ý để học sinh dựa vào cốt lõi đó và tự phát triển nội dung của bài học.

    Trang thiết bị dạy học

    • Cần đảm bảo trang thiết bị dạy học đầy đủ ở mức tối thiểu, nhằm phục vụ công tác dạy và học hoàn thiện hơn
    • Cung cấp đầy đủ trang thiết bị thực hành, giúp học sinh có phương tiện làm bài thực hành thử nghiệm
    • Trang thiết bị dạy học đắt tiền sẽ được bố trí để sử dụng chung. Song, cần phải đảm bảo về nguyên tắc sử dụng, bảo quản theo từng hoàn cảnh cụ thể nhằm giúp học sinh và giáo viên có thể sử dụng tối đa số lần thử nghiệm.
    • Xây dựng phòng học đa năng và kho chứa thiết bị ngay bên cạnh phòng học bộ môn, đảm bảo an toàn trong khâu bảo quản.
    • Với nhiều đơn vị giáo dục thì không chỉ trang bị đầy đủ thiết bị thực hành, dụng cụ hỗ trợ học tập mà còn cả vấn đề cung cấp các giải pháp học trực tuyến cho.

    Đối với nhà trường

    • Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm chính về việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực cho toàn trường. Đồng thời, nhấn mạnh về vai trò của phương pháp dạy học trong các hoạt động còn lại của trường.
    • Với những sáng kiến, đề xuất mang tính tiến bộ, cải cách của giáo viên, hiệu trưởng nên giữ thái độ tôn trọng và đồng tình, dù là những đóng góp ý kiến nhỏ nhất. Bên cạnh việc hỗ trợ cho giáo viên khi áp dụng phương pháp dạy học tích cực vào trong giảng dạy để phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện giảng dạy, đặc điểm của từng đối tượng, việc chỉ dẫn cũng vô cùng cần thiết để việc giảng dạy mang lại hiệu quả tốt hơn.

    Về những đổi mới trong cách đánh giá kết quả của học sinh

    Theo phương pháp dạy học tích cực, người chịu trách nhiệm giảng dạy cần đánh giá kết quả học tập của học sinh một cách công khai và công bằng.

    Bộ công cụ sử dụng để đánh giá được bổ sung thêm với hình thức câu hỏi và bài tập trắc nghiệm. Ngoài ra, giáo viên cũng nên thực hiện đánh giá dựa trên toàn bộ quá trình học tập của học sinh, bao gồm các yếu tố về tính tự giác, chủ động trong mỗi tiết học, kể cả lý thuyết lẫn thực hành.

    Hệ thống câu hỏi, trắc nghiệm được sử dụng để đánh giá phải bao gồm 70% ở mức tiêu chuẩn về mặt bằng học thức của học sinh, 30% còn lại nằm trong phần nội dung nâng cao.

    Kết luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mương Oxy Hóa Là Gì? Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Ra Sao
  • Bài 5: Đo Lường Vị Trí Các Giá Trị Trong Tập Dữ Liệu
  • Phương Pháp Đo Tầm Hoạt Động Khớp
  • “qui Về 0” (Zeroing) Trong Tính Toán Biên Độ Phá Giá Đối Với Các Vụ Kiện Chống Phá Giá Tại Mỹ
  • Ấn Độ Tìm Kiếm Việc Cấm Phương Pháp Zeroing
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100