Các Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho

--- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Tính Giá Trị Hàng Tồn Kho Theo Thông Tư 133 Và 200
  • Các Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho Của Hàng Tồn Kho
  • Gợi Ý 5 Mẫu Quạt Điều Hòa Mini Giá Rẻ Dưới 5 Triệu Cho Gia Đình
  • Đánh Giá Quạt Điều Hòa Boss S101, S102, S106 Có Tốt Không?
  • Quạt Điều Hòa Boss Có Tốt Không?
  • Phương pháp này áp dụng dựa trên giả sử là hàng được mua trước hoặc SX trước thì được xuất trước và giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập trước hoặc SX trước và thực hiện theo trình tự cho đến khi chúng được xuất ra hết.

    Ưu điểm: Phương pháp này giúp cho chúng ta có thể tính được ngay giá vốn hàng xuất kho của từng lần xuất hàng, do vậy nó cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ tương đối đúng với giá thị trường của mặt hàng đó. Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo cáo kế toán có ý nghĩa thực tế hơn.

    Nhược điểm : Phương pháp này có nhược điểm là làm cho DT hiện tại không phù hợp với những khoản CP hiện tại. Đối với phương pháp này, doanh thu hiện tại được tạo ra bởi giá trị vật tư, hàng hoá có được từ cách đó rất lâu. Và nếu số lượng, chủng loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập – xuất liên tục, dẫn đến những chi phí cho việc hạch toán cũng như khối lượng công việc của kế toán sẽ tăng lên nhiều.

    Ví dụ: Tình hình nhập – xuất nguyên vật liệu X trong tháng 1/2016 của công ty A như sau

    Tồn đầu kỳ : NVL X 20.000 kg, đơn giá 8.000 đồng/kg

    Đơn giá xuất : 20.000 kg x 8.000 và 1.000 kg x 8.200

    Vậy trị giá hàng xuất kho = 20.000 x 8.000 + 1.000 x 8.2000 = 242.000.000 đồng

    Đơn giá xuất : 4.000 kg x 8.200 và 4.000 kg x 8.300

    Vậy trị giá hàng xuất kho = 4.000 x 8.200 + 4.000 x 8.300 = 66.000.000 đồng

    Phương pháp này ngược lại với phương pháp nhập trước – xuất trước

    Áp dụng dựa trên giả định hàng tồn kho được mua sau hoặc sản xuất sau sẽ được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng mua hoặc sản xuất trước đó. Đối với phương pháp này giá trị hàng xuất kho tính theo giá của lô hàng nhập sau cùng, giá trị hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ.

    Ví dụ : Tình hình nhập xuất NVL X của công ty trong tháng 2/2016 như sau :

    Tồn đầu kỳ : 10.000 kg đơn giá 5.000 đồng/kg

    Đơn giá xuất được tính như sau : 6.000 kg x 5.500 và 1.000 kg x 5.000

    Vậy trị giá hàng xuất kho = 6.000 x 5.500 + 1.000 x 5.000 = 38.000.000 đồng

    Tuy nhiên phương pháp này hầu như không được áp dụng trong thực tế

    Bao gồm: bình quân cả kỳ dự trữ, và bình quân sau mỗi lần nhập, bình quân cuối kỳ trước

    (SL hàng, NVL tồn đầu kỳ + SL hàng, NVL nhập trong kỳ)

    Ưu điểm: Đơn giản,dễ làm, chỉ cần tính toán một lần vào cuối kỳ.

    Nhược điểm: Độ chính xác không cao, công việc kế toán bị dồn vào cuối tháng gây ảnh hưởng đến tiến độ của các phần hành khác, phương này chưa đáp ứng yêu cầu kịp thời của thông tin kế toán tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ.

    Tồn đầu kỳ : NVL X 20.000 kg, đơn giá 8.000 đồng/kg

    • Ngày 05/1/2016 : Nhập 5.000 kg NVL X, đơn giá 8.200 đồng/kg
    • Ngày 15/1/2016 : Xuất 21.000 kg NVL X
    • Ngày 16/1/2016 : Nhập 8.000 kg NVL X, đơn giá 8.200 đồng/kg

    Vậy đơn giá xuất kho sẽ được tính vào cuối kỳ và sẽ được tính như sau :

    ĐG BQ cuối kỳ =

    Trị giá hàng xuất kho ngày 15/1/2016 = 21.000 x 8.079 =169.654.545 đồng

    · Phương pháp bình quân sau mỗi lần nhập

    Theo phương pháp này, kế toán phải tính lại giá trị của hàng tồn kho và đơn giá bình bình quân sau mỗi lần nhập sản phẩm, vật tư, hàng hóa đó

    Trị giá hàng, NVL tồn đầu kỳ + Trị giá hàng, NVL nhập trước lần xuất thứ n /

    SL hàng, NVL tồn đầu kỳ + SL hàng, NVL nhập trước lần thứ n

    Ưu điểm : Phương pháp này khắc phục được những hạn chế của phương pháp bình quân cả kỳ dự trữ

    Nhược điểm : việc tính toán phức tạp, tốn nhiều thời gian.

    Vì vậy mà phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp có ít mặt hàng tồn kho, có số lượng nhập – xuất ít.

    Tồn đầu kỳ : NVL Y 10 kg, đơn giá 5.000 đồng/kg

    – Ngày 05/1/2016 : Nhập 20 kg NVL Y, đơn giá 5.500 đồng/kg

    – Ngày 06/1/2016 : Xuất 25 kg NVL Y

    (10x 5.000) + (20 x 5.500) / (10 + 20)

    Trị giá hàng xuất kho ngày 06/1/2016 = 25 x 5.333 = 133.325 đồng/kg

    Theo phương pháp này kế toán dựa vào trị giá và số lượng tồn kho của hàng hóa, nguyên vật liệu cuối kỳ trước để tính đơn xuất

    Trị giá hàng, NVL tồn kho cuối kỳ trước

    SL hàng, NVL tồn kho cuối kỳ trước

    Ưu điểm : dễ tính toán, đơn giản

    Nhược điểm : Trị giá hàng xuất kho không chịu ảnh hưởng của sự biến động của giá cả thị trường. Vì vậy phương pháp này làm cho các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh không chính xác với thực tế.

    Tồn đầu kỳ : NVL Y 100 kg, đơn giá 6.000 đồng/kg

    – Ngày 02/1/2016 nhập 500 kg NVL Y, đơn giá 6.200 đồng/kg

    – Ngày 05/1/2016 : Xuất 200 kg NVL Y

    (100 x 6.000) /100

    Trị giá hàng xuất kho ngày 05/1/2016 = 200 x 6.000 = 12.000.000 đồng

    Theo phương pháp này: hàng hóa, nguyên vật liệu xuất kho thuộc lô hàng nhập nào thì lấy đơn giá nhập kho của lô hàng đó để tính.

    Ưu điểm : Đây là phương pháp tốt nhất, tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán, chi phí phù hợp với doanh thu thực tế. Giá trị của hàng xuất kho đem bán phù hợp với doanh thu mà nó tạo ra, và giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng theo giá trị thực tế của nó.

    Nhược điểm : Việc áp dụng PP này đòi hỏi những điều kiện khắt khe, chỉ những doanh nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn, mặt hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng được phương pháp này. Còn đối với những doanh nghiệp có nhiều loại hàng thì không thể áp dụng được phương pháp này.

    Tồn đầu kỳ NVL A 20 kg, đơn giá 5.000 đồng/ kg

    – Ngày 02/1/2016 : Nhập 50kg NVL A, đơn giá 5.100 đồng/kg

    – Ngày 05/1/2016 : Xuất 30 kg NVL A

    – Ngày 13/1/2016 : Xuất 10 kg NVL A

    – Trị giá XK ngày 05/1/2016 = 30 x 5.100 = 153.000 đồng

    – Trị giá XK ngày 13/1/2016 = 10 x 5.000 = 50.000 đồng

    Tùy vào hoạt động thực tế của doanh nghiệp, kế toán có thể chọn lựa phương pháp tính giá hàng xuất kho sao cho thuận tiện và đúng nguyên tắc nhất quán trong hạch toán.

    Với mục tiêu “Sự thành công của học viên là niềm tự hào của Đức Minh”, Công ty đào tạo kế toán và tin học Đức Minh là nơi đào tạo kế toán thực tế và tin học văn phòng uy tín và chuyên nghiệp nhất Hà Nội hiện nay. Đức Minh luôn sẵn sàng hỗ trợ hết mình vì học viên, luôn đồng hành cùng học viên trên bước đường đi tới thành công.

    Lịch học dạy kèm linh động từ thứ 2 đến thứ 7 hàng tuần cho tất cả các học viên:

    Bảng giá khóa học

    TỔ CHỨC THI VÀ CẤP CHỨNG CHỈ CỦA VIỆN KẾ TOÁN ĐỨC MINH

    Mọi chi tiết vui lòng liên hệ:

    HỌC VIỆN ĐÀO TẠO KẾ TOÁN – TIN HỌC ĐỨC MINH

    CN Đống Đa: Phòng 815, tòa 15 tầng – B14 đường Phạm Ngọc Thạch, Đống Đa, Hn. (tầng 1 là Techcombank và KFC- gửi xe đi vào ngõ 65 Phạm Ngọc Thạch)

    CN Cầu Giấy: Phòng B2T10 (Phòng B2 Tầng 10) – Tòa nhà 335 Cầu Giấy – HN (Tầng 1 là Siêu thị thời trang Fashion Mall)

    CN Linh Đàm: Phòng 404 – Chung cư CT4A1 – Đường nguyễn Hữu Thọ – Linh Đàm – Hoàng Mai Hà Nội. (Ngay đèn xanh đỏ cổng chào Linh Đàm, Tầng 1 siêu thị Bài Thơ, Highlands Cofee)

    CN Hà Đông: Phòng 1001 tầng 10, CT2 tòa nhà Fodacon (tầng 1 là siêu thị Coopmart, đối diện Học Viện An Ninh) – Trần Phú – Hà Đông

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Nét Đẹp Về Văn Hóa Pháp
  • Sự Thật Ít Người Biết Về Pháp Luân Công Ở Việt Nam
  • Pháp Luân Công Có Hợp Pháp Tại Việt Nam
  • Plc Là Gì ? Tìm Hiểu Cơ Bản Về Plc Trong Công Nghiệp
  • Phương Pháp Giáo Dục Steam Và Những Điều Bố Mẹ Cần Biết
  • Các Phương Pháp Tính Giá Thành Sản Xuất Sản Phẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Đào Tạo Kế Toán, Dịch Vụ Kế Toán, Kiểm Toán, Báo Cáo Tài Chính, Thành Lập Doanh Nghiệp
  • Phương Pháp Kế Toán Giá Thành Sản Xuất Theo Thông Tư 133
  • Hai Phương Pháp Hạch Toán Kế Toán Nhà Hàng, Khách Sạn Phổ Biến Nhất Thường Dùng
  • Tính Giá Thành Loại Hình Công Ty Vận Tải
  • Xác Định Giá Xuất Kho Theo Phương Pháp Thực Tế Đích Danh
  • Các phương pháp tính giá thành sản xuất đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam

    Trong bài viết các phương pháp tính giá thành sản xuất sẽ giúp doanh nghiệp lựa chọn được phương pháp tính giá thành sản phẩm phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp

    Bài viết các phương pháp tính giá thành sản xuất gồm các nội dung:

    -  Đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm

    -  Các phương pháp tính giá thành sản xuất

    – Trình tự kế toán chi phí sản xuất sau khi đã lựa chọn phương pháp tính giá thành sản xuất

    Để kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được chính xác, kịp thời, đòi hỏi công việc đầu tiên mà nhà quản lý phải làm là xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm. Vấn đề này có tầm quan trọng đặc biệt cả trong lý luận cũng như thực tiễn hạch toán và là nội dung cơ bản nhất của tổ chức kế toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm.

    Tổ chức kế toán quá trình sản xuất bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau và có quan hệ mật thiết với nhau. Đó là giai đoạn kế toán chi tiết chi phí sản xuất phát sinh theo từng sản phảm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng, giai đoạn công nghệ, phân xưởng… và giai đoạn tinh giá thành sản phẩm, chi tiết sản phẩm, sản phẩm theo đơn đặt hàng đã hoàn thành… theo đơn vị tính giá thành quy định. Việc phân chia này xuất phát từ yêu cầu quản lý, kiểm tra và phân tích chi phí, yêu cầu hạch toán kinh doanh nội bộ, theo đặc điểm quy trình công nghệ của từng doanh nghiệp và yêu cầu tính giá thành sản phẩm theo đơn vị tính giá thành quy định. Có thể nói, việc phân chia quá trình kế toán thành hai giai đoạn là do sự khác nhau cơ bản về giới hạn tập hợp chi phí trong kế toán chi phí sản xuất – tức là đối tượng kế toán chi phí sản xuất – và sản phẩm hoàn thành cần phải tính giá thành một đơn vị – tức là đối tượng tính giá thành.

    Như vậy, xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất chính là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí. Còn xác định đối tượng tính giá thành chính là việc xác định sản phẩm, bán thành phẩm, công việc, lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị. Đối tượng đó có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay đang trên dây chuyền sản xuất tùy theo yêu cầu của chế độ hạch toán kinh tế mà doanh nghiệp áp dụng và quá trình tiêu thụ sản phẩm.

    Để phân biệt được đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành ngay cả khi chúng đồng nhất là một, cần dựa vào các cơ sở sau đây:

    * Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất: sản xuất giản đơn hay phức tạp.

    Với sản xuất giản đơn, đối tượng kế toán chi phí sản xuất có thể là sản phẩm hay toàn bộ quá trình sản xuất (nếu sản xuất một thứ sản phẩm) hoặc có thể là nhóm sản phẩm (nếu sản xuất nhiều thứ sản phẩm cùng tiến hành trong một quá trình lao động). Đối tượng tính giá thành ở đây là sản phẩm cuối cùng

    Với sản xuất phức tạp, đối tượng kế toán chi phí sản xuất có thể là bộ phận, chi tiết sản phẩm, các giai đoạn chế biến, phân xưởng sản xuất hoặc nhóm chi tiết, bộ phận sản phẩm…, còn đối tượng tính giá thành là thành phẩm ở bước chế tạo cuối cùng hay bán thành phẩm ở từng bước chế tạo.

    * Loạt hình sản xuất: đơn chiếc, sản xuất hàng loạt nhỏ hay sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn.

    Với sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt nhỏ, đối tượng kế toán chi phí là các đơn đặt hàng riêng biệt, còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm của từng đơn đặt hàng.

    Đối với sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn, phụ thuộc vào quy trình công nghệ sản xuất (đơn giản hay phức tạp) mà đối tượng kế toán chi phí sản xuất có thể là sản phẩm, nhóm sản phẩm, chi tiết, nhóm chi tiết, giai đoạn công nghệ… Còn đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm cuối cùng hay bán thành phẩm như đã nêu ở trên.

    * Yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh: dựa trên cơ sở trình độ, yêu cầu và tổ chức quản lý để xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành. Với trình độ cao, có thể chi tiết đối tượng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành ở các góc độ khác nhau; ngược lại, nếu trình độ thấp thì đối tượng đó có thể bị hạn chế và thu hẹp lại.

    Việc xác định rõ mối quan hệ và sự khác nhau giữa đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành là vấn đề có ý nghĩa lớn, mang tính định hướng cho tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Đồng thời thể hiện được mục đích và phạm vi tiến hành hai giai đoạn của công tác kế toán nêu trên.

    Phương pháp kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    Phương pháp tính giá thành là một phương pháp hoặc hệ thống phương pháp được sử dụng để tính giá thành của đơn vị sản phẩm, nó mang tính thuần túy kỹ thuật tính toán chi phí cho từng đối tượng tính giá thành. Về cơ bản, phương pháp tính giá thành bao gồm phương pháp trực tiếp, phương pháp tổng cộng chi phí, phương pháp tỷ lệ, v.v… Việc tính giá thành sản phẩm trong từng doanh nghiệp cụ thể, tùy thuộc vào đối tượng kế toán chi phí và đối tượng tính giá thành mà có thể áp dụng một trong các phương pháp nói trên hoặc áp dụng kết hợp một số phương pháp với nhau

     Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn và chu kỳ sản xuất ngắn như các nhà máy điện, nước, các doanh nghiệp khai thác quặng, than, gỗ…). Đối tượng kế toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp này là từng loại sản phẩm hay dịch vụ. Giá thành sản phẩm theo phương pháp này được tính bằng cách trực tiếp lấy tổng số chi phí sản xuất cộng (+) hoặc trừ (-) số chênh lệch giữa giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ so với cuối kỳ chia cho số lượng sản phẩm hoàn thành.

    Áp dụng với các doanh nghiệp mà quá trình sản xuất sản phẩm được thực hiện ở nhiều bộ phận sản xuất, nhiều giai đoạn công nghệ, đối tượng kế toán chi phí sản xuất là các bộ phận, chi tiết sản phẩm hoặc giai đoạn công nghệ hay bộ phận sản xuất. Giá thành sản phẩm được xác định bằng cách cộng chi phí sản xuất của các bộ phận, chi tiết sản phẩm hay tổng chi phí sản xuất của các giai đoạn, bộ phận sản xuất tạo nên thành phẩm.

    Giá thành thành phẩm = Z1 + Z2 +… + Zn

    Phương pháp tổng cộng chi phí được áp dụng phổ biến trong các doanh nghiệp khai thác, dệt, nhuộm, cơ khí chế tạo, may mặc…

    Trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm có quy cách, phẩm chất khác nhau như may mặc, dệt kim, đóng giày, cơ khí chế tạo (dụng cụ, phụ tùng), vv… để giảm bớt khối lượng hạch toán, kế toán thường tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm cùng loại. Căn cứ vào tỷ lệ chi phí giữa chi phí sản xuất thực tế với chi phí sản xuất kế hoạch (hoặc định mức), kế toán sẽ tính ra giá thành đơn vị và tổng giá thành sản phẩm từng loại.

    Đối với các doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất, bên cạnh các sản phẩm chính thu được còn có thể thu được những sản phẩm phụ (các doanh nghiệp chế biến đường, rượu, bia, mỳ ăn liền…), để tính giá trị sản phẩm chính, kế toán phải loại trừ giá trị sản phẩm phụ khỏi tổng chi phí sản xuất sản phẩm. Giá trị sản phẩm phụ có thể được xác định theo nhiều phương pháp như giá có thể sử dụng, giá trị ước tính, giá kế hoạch, giá nguyên liệu ban đầu.

    Là phương pháp áp dụng trong những doanh nghiệp có tổ chức sản xuất, tính chất quy trình công nghệ và tính chất sản phẩm làm ra đòi hỏi việc tính giá thành phải kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như các doanh nghiệp sản xuất hóa chất, dệt kim, đóng giầy, may mặc. Trên thực tế, kế toán có thể kết hợp phương pháp trực tiếp với tổng cộng chi phí, tổng cộng chi phí với tỷ lệ, hệ số với loại trừ giá trị sản phẩm phụ v.v…

    Để phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm được chính xác, nhanh chóng, cần tiến hành kế toán chi tiết chi phí sản xuất theo từng đối tượng tính giá. Tuỳ theo từng đối tượng tập hợp chi phí, công việc kế toán chi tiết chi phí sản xuất có thể khác nhau nhưng có thể khái quát lại qua các bước sau:

    Bước 1: Mở sổ (hoặc thẻ) kế toán chi tiết chi phí sản xuất theo từng đối tượng tập hợp chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất, sản phẩm, nhóm sản phẩm…). Sổ được mở riêng cho từng tài khoản 621, 622, 627, 154, 631, 142, 242, 335, 641, 642. Căn cứ để ghi vào sổ là số chi tiết các tài khoản tháng trước và các chứng từ gốc, các bảng phân bổ (tiền lương, các khoản trích theo lương, vật liệu, dụng cụ, khấu hao…), bảng kê chi phí theo dự toán. Sổ có thể mở riêng cho từng đối tượng hoặc mở chung cho nhiều đối tượng. 

    Bước 3: Tổng hợp toàn bộ chi phí phát sinh theo từng nội dung thuộc từng đối tượng kế toán vào cuối kỳ làm cơ sở cho việc tính giá thành. Đồng thời, lập thẻ tính giá thành sản phẩm, dịch vụ theo từng loại. Căn cứ để lập thẻ tính giá thành từng loại sản phẩm, dịch vụ là các thẻ tính giá thành sản phẩm kỳ trước, sổ kế toán chi tiết chi phí sản xuất kinh doanh kỳ này và biên bản kiểm kê, tính giá sản phẩm dở dang cuối kỳ cùng với bảng kê khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành trong kỳ. 

    Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại với tính chất và nội dung khác nhau, phương pháp hạch toán và tính nhập chi phí vào giá thành sản phẩm cũng khác nhau. Khi phát sinh, trước hết chi phí sản xuất được biểu hiện theo yếu tố chi phí rồi mới được biểu hiện thành các khoản mục giá thành sản phẩm. 

    Việc tập hợp chi phí sản xuất phải được tiến hành theo một trình tự hợp lý, khoa học thì mới có thể tính giá thành sản phẩm một cách chính xác, kịp thời được. Trình tự này phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất của từng ngành nghề, từng doanh nghiệp, vào mối quan hệ giữa các hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, vào trình độ công tác quản lý và kế toán… Tuy nhiên, có thể khái quát chung việc tập hợp chi phí sản xuất qua các bước sau:.

    Bước 2: Tính toán và phân bổ lao vụ của các ngành sản xuất – kinh doanh phụ, từng đối tượng sử dụng trên cơ sở khối lượng lao vụ phục vụ và giá thành đơn vị lao vụ. 

    Bước 4: Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ, tính ra tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm. 

    Tùy theo phương pháp kế toán hàng tồn kho áp dụng trong doanh nghiệp mà nội dung, cách thức kế toán chi phí sản xuất có những điểm khác nhau.

    IV/ Vận dụng phương pháp tính giá thành sản xuất trong một số loại hình doanh nghiệp chủ yếu

    1. Doanh nghiệp sản xuất giản đơn

    Doanh nghiệp sản xuất giản đơn thường là những doanh nghiệp chỉ sản xuất một số ít mặt hàng với khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm dở dang không có hoặc có không đáng kể như các doanh nghiệp khai thác than, quặng, hải sản…; các doanh nghiệp sản xuất động lực (điện, nước, hơi nước, khí nén, khí đốt…). Do số lượng mặt hàng ít nên việc kế toán chi phí sản xuất được mở ở một số (hoặc thẻ) kế toán chi phí sản xuất. Công việc tính giá thành thường được tiến hành vào cuối tháng theo phương pháp trực tiếp (giản đơn) hoặc phương pháp liên hợp.

    2. Doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng

    Đối với các doanh nghiệp sản xuất theo các đơn đặt hàng của khách hàng, kế toán tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo từng đơn. Đối tượng tính giá thành sản phẩm là sản phẩm của từng đơn đặt hàng. Phương pháp tính giá thành tùy theo tính chất và số lượng sản phẩm của từng đơn sẽ áp dụng phương pháp thích hợp như phương pháp trực tiếp, phương pháp hệ số, phương pháp tổng cộng chi phí hay phương pháp liên hợp, vv…

    Việc tính giá thành ở trong các doanh nghiệp này chỉ tiến hành khi đơn đặt hàng hoàn thành nên kỳ tính giá thành thường không nhất trí với kỳ báo cáo. Đối với những đơn đặt hàng đến kỳ báo cáo chưa hoàn thành thì toàn bộ chi phí tập hợp được theo đơn đó đều coi là sản phẩm dở dang cuối kỳ chuyển kỳ sau. Đối với những đơn đặt hàng đã hoàn thành thì tổng chi phí đã tập hợp được theo đơn đó chính là tổng giá thành sản phẩm của đơn vị và giá thành đơn vị sẽ tính bằng cách lấy tổng giá thành sản phẩm của đơn chia cho số lượng sản phẩm trong đơn. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của công tác quản lý, cần xác định khối lượng công việc hoàn thành trong kỳ thì đối với những đơn đặt hàng chỉ mới hoàn thành một phần, việc xác định sản phẩm dở dang của đơn đó có thể dựa vào giá thành kế hoạch (hay định mức) hoặc theo mức độ hoàn thành của đơn.

    3. Doanh nghiệp áp dụng hệ thống hạch toán định mức

    Trên cơ sở hệ thống định mức tiêu hao lao động, vật tư hiện hành và dự toán về chi phí sản xuất chung, kế toán sẽ xác định giá thành định mức của từng loại sản phẩm. Đồng thời, hạch toán riêng các thay đổi, các chênh lệch so với định mức phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm và phân tích toàn bộ chi phí thực tế phát sinh trong kỳ thành ba loại: Theo định mức, chênh lệch do thay đổi định mức và chênh lệch so với định mức. Từ đó, tiến hành xác định giá thành thực tế của sản phẩm bằng cách:

    Việc tính toán giá thành định mức được tiến hành trên cơ sở các định mức tiên tiến hiện hành ngày đầu kỳ (thường là đầu tháng). Tùy theo tính chất quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và đặc điểm sản phẩm mà áp dụng các phương pháp tính giá thành định mức khác nhau (theo sản phẩm hoàn thành, theo chi tiết, bộ phận sản phẩm rồi tổng hợp lại…). Việc thay đổi định mức là sự tăng hay giảm các định mức chi phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm do kết quả của việc áp dụng các định mức mới kinh tế và tiết kiệm hơn để thay đổi các định mức cũ đã lỗi thời. Việc thay đổi định mức được tiến hành vào ngày đầu tháng để thuận lợi cho việc thực hiện định mức cũng như kiểm tra việc thi hành định mức. Trường hợp thay đổi định mức diễn ra vào ngày giữa tháng thì đầu tháng sau mới phát sinh ngoài phạm vi định mức và dự toán quy định được gọi là chênh lệch so với định mức hay thoát ly định mức, được hạch toán trên cơ sở các chứng từ báo động mang tín hiệu riêng hoặc theo phương pháp kiểm kê hay phương pháp pha cắt vật liệu.

    Chứng từ báo động là những chứng từ phản ánh xuất bổ sung vật liệu hay thay thế vật liệu dẫn đến chênh lệch so với định mức. Còn phương pháp pha cắt vật liệu là phương pháp so sánh giữa số chi phí vật liệu thực tế chi ra so với số chi phí vật liệu tính theo định mức. Theo phương pháp kiểm kê, số chênh lệch vật liệu được xác định giống như phương pháp pha cắt nhưng chỉ áp dụng với những vật liệu quý hiếm, đắt tiền. Đối với chi phí tiền công, khoản chênh lệch cũng xác định tương tự như đối với chi phí vật liệu. Đối với các chi phí sản xuất chung, do bao hàm nhiều nội dung nên để đơn giản, cuối tháng chỉ cần so sánh tổng số chi phí thực tế so với định mức. Trường hợp cần thiết mới đi vào từng nội dung cụ thể.

    4. Doanh nghiệp sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục

    Trong các doanh nghiệp sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục, quy trình công nghệ gồm nhiều bước (giai đoạn) nối tiếp nhau theo một trình tự nhất định, mỗi bước tạo ra một loại bán thành phẩm và bán thành phẩm của bước trước là đối tượng (hay nguyên liệu, chế biến của bước sau thì phương pháp kế toán chi phí thích hợp nhất là hạch toán theo bước chế biến (giai đoạn công nghệ). Theo phương pháp này, chi phí sản xuất phát sinh thuộc giai đoạn nào sẽ được tập hợp cho giai đoạn đó. Đối với chi phí sản xuất chung, kế toán sẽ tập hợp theo từng phân xưởng, sau đó mới phân bổ cho các bước theo tiêu thức phù hợp.

    Tùy theo tính chất hàng hóa của bán thành phẩm và yêu cầu công tác quản lý, chi phí sản xuất có thể được tập hợp theo phương án có bán thành phẩm và phương án không có bán thành phẩm. Phương pháp tính giá thành thường là phương pháp trực tiếp kết hợp với phương pháp tổng cộng chi phí hay hệ số (hoặc tỷ lệ).

    4.1. Tính giá thành phân bước theo phương án có bán thành phẩm

    Phương án hạch toán này thường được áp dụng ở các doanh nghiệp có yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ cao hoặc bán thành phẩm sản xuất ở các bước có thể dùng làm thành phẩm bán ra ngoài. Đặc điểm của phương án hạch toán này là khi tập hợp chi phí sản xuất của các giai đoạn công nghệ, giá trị bán thành phẩm của các bước trước chuyển sang bước sau được tính theo giá thành thực tế và được phản ánh theo từng khoản mục chi phí và gọi là kết chuyển tuần tự.

    4.2. Tính giá thành phân bước theo phương án không có bán thành phẩm 

    Trong những doanh nghiệp mà yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ không cao hoặc bán thành phẩm chế biến ở từng bước không bán ra ngoài thì chi phí chế biến phát sinh trong các giai đoạn công nghệ được tính nhập vào giá thành thành phẩm một cách đồng thời, song song nên còn gọi là kết chuyển song song. Theo phương án này, kế toán không cần tính giá thành bán thành phẩm hoàn thành trong từng giai đoạn mà chỉ tính giá thành thành phẩm hoàn thành bằng cách tổng hợp chi phí nguyên, vật liệu chính và các chi phí chế biến khác trong các giai đoạn công nghệ.

    5. Doanh nghiệp có tổ chức bộ phận sản xuất kinh doanh phụ

    Sản xuất phụ là ngành được tổ chức ra để phục vụ cho sản xuất – kinh doanh chính. Sản phẩm lao vụ của sản xuất phụ được sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất – kinh doanh chính, phần còn lại có thể cung cấp cho bên ngoài.

    Phương pháp tính giá thành sản phẩm, lao vụ của sản xuất, kinh doanh phụ tùy thuộc vào đặc điểm công nghệ và mối quan hệ giữa các bộ phận sản xuất phụ trong doanh nghiệp, cụ thể:

    5.1. Trường hợp không có sự phục vụ lẫn nhau giữa các bộ phận sản xuất, kinh doanh phụ hoặc giá trị và khối lượng phục vụ không đáng kể

    Chi phí sản xuất sẽ được tập hợp riêng theo từng bộ phận, từng hoạt động. Giá thành sản phẩm, lao vụ của từng bộ phận sẽ được tính theo phương pháp trực tiếp.

    5.2. Trường hợp có sự phục vụ lẫn nhau đáng kể giữa các bộ phận sản xuất, kinh doanh phụ

    Với các doanh nghiệp có tổ chức nhiều bộ phận sản xuất phụ và giữa chúng có sự phục vụ lẫn nhau thì có thể áp dụng một trong các phương pháp khác tính giá thành sau đây:

    * Phương pháp đại số: là phương pháp xây dựng và giải các phương trình đại số để tính giá thành sản phẩm, lao vụ của sản xuất kinh doanh phụ phục vụ các đối tượng.

    * Phương pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành ban đầu: theo phương pháp này, trước hết tính giá thành đơn vị ban đầu của từng bộ phận sản xuất kinh doanh và xác định giá trị phục vụ lẫn nhau giữa chúng.

    Tiếp theo, xác định giá trị sản phẩm, lao vụ của sản xuất phụ phục vụ cho các bộ phận khác theo giá thành đơn vị mới.

    * Phương pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành kế hoạch: trình tự tính giá thành tương tự như phương pháp trên, chỉ khác thay giá thành đơn vị ban đầu bằng giá thành đơn vị kế hoạch để tính giá trị phục vụ lẫn nhau giữa các phân xưởng sản xuất kinh doanh phụ. Tiếp theo xác định giá trị phục vụ cho các đối tượng khác theo giá thành đơn vị mới.

     

    BÀI VIẾT LIÊN QUAN:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Tính Giá Thành Phổ Biến Trong Doanh Nghiệp
  • Đánh Giá Giá Trị Dở Dang Khi Tính Giá Thành Công Trình Xây Dựng
  • Phương Pháp Tính Giá Vốn Món Ăn
  • 5 Dạng Bài Tập Về Phương Pháp Tăng Giảm Khối Lượng
  • Giải Bài Tập Hóa Bằng Phương Pháp Tăng Giảm Khối Lượng
  • Các Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho Hàng Tồn Kho

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Sử Dụng Phân Hệ Kho Trên Phần Mềm Misa
  • Đề Xuất Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho Theo Thông Tư
  • Phương Pháp Giá Thực Tế Đích Danh Cho Vật Tư, Hàng Hóa Xuất Kho
  • “chia Sẻ” Phương Pháp Tránh Thai Tự Nhiên Bằng Món Ăn Hiệu Quả
  • 5 Phương Pháp Tránh Thai Tự Nhiên Đơn Giản, Hiệu Quả
  • ​Chú ý: Doanh nghi ệp áp dụ ng phương pháp nào đòi hỏi phải nhất quán trong suốt niên độ ính của doanh nghiệp. Để tính giá hàng tồn kho xuất, doanh nghiệp có thể áp dụng một trong các phương pháp sau đây: kế toán. Nếu có sự thay đổi phải giải trình và thuyết minh, nêu rõ những tác động của sự thay đổi tới các báo cáo tài ch

    1. Phương pháp giá thực tế đích danh

    Theo phương pháp này sản phẩm, vật tư, hàng hoá xuất kho thuộc lô hàng nhập nào thì lấy đơn giá nhập kho của lô hàng đó để tính. Đây là phương án tốt nhất, nó tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán; chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế. Giá trị của hàng xuất kho đem bán phù hợp với doanh thu mà nó tạo ra. Hơn nữa, giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng theo giá trị thực tế của nó.

    Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện khắt khe, chỉ những doanh nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn, mặt hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng được phương pháp này. Còn đối với những doanh nghiệp có nhiều loại hàng thì không thể áp dụng được phương pháp này.

    2. Phương pháp giá bình quân

    Theo phương pháp này giá trị của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Phương pháp bình quân có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng, phụ thuộc vào tình hình của doanh nghiệp.

    a) Theo giá bình quân gia quyền cuối kỳ (tháng) (giá bình quan cả kỳ dự trữ).

    Theo phương pháp này, đến cuối kỳ mới tính trị giá vốn của hàng xuất kho trong kỳ. Tuỳ theo kỳ dự trữ của doanh nghiệp áp dụng mà kế toán hàng tồn kho căn cứ vào giá nhập, lượng hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá đơn vị bình quân:

    – Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính toán một lần vào cuối kỳ.

    – Nhược điểm: Độ chính xác không cao, hơn nữa, công việc tính toán dồn vào cuối tháng gây ảnh hưởng đến tiến độ của các phần hành khác. Ngoài ra, phương pháp này chưa đáp ứng yêu cầu kịp thời của thông tin kế toán ngay tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ.

    b) Theo giá bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập (bình quân thời điểm, tức thời)

    Sau mỗi lần nhập sản phẩm, vật tư, hàng hoá, kế toán phải xác định lại giá trị thực của hàng tồn kho và giá đơn vị bình quân. Giá đơn vị bình quân được tính theo công thức sau:

    Phương pháp này có ưu điểm là khắc phục được những hạn chế của phương pháp trên nhưng việc tính toán phức tạp, nhiều lần, tốn nhiều công sức. Do đặc điểm trên mà phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp có ít chủng loại hàng tồn kho, có lưu lượng nhập xuất ít.

    c) Theo giá bình quân gia quyền cuối kỳ trước:

    Dựa vào trị giá và số lượng hàng tồn kho cuối kỳ trước, kế toán tính giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước để tính giá xuất.

    Theo chúng tôi, phương pháp này có ưu điểm đơn giản, dễ tính toán nhưng trị giá hàng xuất không chịu ảnh hưởng của sự thay đổi giá cả trong kỳ hiện tại. Vì vậy, phương pháp này làm cho chỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh không sát với giá thực tế.

    3. Phương pháp FIFO: First in – First out (nhập trước xuất trước)

    Phương pháp này áp dụng dựa trên giả định là hàng được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước và giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập trước hoặc sản xuất trước và thực hiện tuần tự cho đến khi chúng được xuất ra hết.

    – Phương pháp này giúp cho chúng ta có thể tính được ngay trị giá vốn hàng xuất kho từng lần xuất hàng, do vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép các khâu tiếp theo cũng như cho quản lý. Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ tương đối sát với giá thị trường của mặt hàng đó. Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo cáo kế toán​ có ý nghĩa thực tế hơn.

    – Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là làm cho doanh thu hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại. Theo phương pháp này, doanh thu hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hoá đã có được từ cách đó rất lâu. Đồng thời nếu số lượng chủng loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục dẫn đến những chi phí cho việc hạch toán cũng như khối lượng công việc sẽ tăng lên rất nhiều.

    4. Phương pháp LIFO: Last in – First out (nhập sau xuất trước)

    Phương pháp nhập sau, xuất trước áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn kho được mua sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trước đó. Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau cùng, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho.

    Phương pháp này hầu như không được dùng trong thực tế.

    Nguồn: Kế toán Thiên Ưng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hàng Tồn Kho Là Gì? Phương Pháp Hạch Toán Hàng Tồn Kho
  • Một Số Lưu Ý Khi Tính Giá Xuất Hàng Tồn Kho Theo Tt 200/2014/tt
  • Các Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho Nguyên Vật Liệu (Đầy Đủ)
  • Các Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho Hiện Nay
  • Tính Giá Xuất Kho Nguyên Vật Liệu, Công Cụ, Dụng Cụ, Sản Phẩm, Hàng Hóa
  • Các Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho Của Hàng Tồn Kho

    --- Bài mới hơn ---

  • Gợi Ý 5 Mẫu Quạt Điều Hòa Mini Giá Rẻ Dưới 5 Triệu Cho Gia Đình
  • Đánh Giá Quạt Điều Hòa Boss S101, S102, S106 Có Tốt Không?
  • Quạt Điều Hòa Boss Có Tốt Không?
  • Tìm Hiểu Về Quạt Điều Hòa Và Tác Dụng Thần Kỳ Của Quạt
  • Tìm Hiểu Về Quá Trình Mang Thai Đôi
  • Các phương pháp tính giá xuất kho của hàng tồn kho

    Hàng tồn kho của doanh nghiệp là những tài sản được mua vào để sản xuất hoặc để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường, gồm:

    Theo thông thư 200/2014/TT-BTC và thông tư 133/2016/TT-BTC thì có 3 phương pháp tính giá xuất kho, đó là:

    1. Phương pháp bình quân gia quyền

    2. Phương pháp tính theo giá đích danh

    3. Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO)

    1. Cách tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền

    Theo phương pháp bình quân gia quyền, giá trị của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Giá trị trung bình có thể được tính theo từng kỳ hoặc sau từng lô hàng nhập về, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp.

    a) Theo giá bình quân gia quyền cuối kỳ (tháng) (giá bình qu â

    Theo phương pháp này, đến cuối kỳ mới tính trị giá vốn của hàng xuất kho trong kỳ. Tuỳ theo kỳ dự trữ của doanh nghiệp áp dụng mà kế toán hàng tồn kho căn cứ vào giá nhập, lượng hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá đơn vị bình quân:

    Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính toán một lần vào cuối kỳ.

    – Nhược điểm: Độ chính xác không cao, hơn nữa, công việc tính toán dồn vào cuối tháng gây ảnh hưởng đến tiến độ của các phần hành khác. Ngoài ra, phương pháp này chưa đáp ứng yêu cầu kịp thời của thông tin kế toán ngay tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ.

    Công ty kế toán Thiên Ưng có tình hình xuất nhập hàng hóa như sau:

    Tồn đầu T3/2018 NVL B: 3.000 kg Đơn giá 2.000đ/kg.

    Ngày 05/3/2018 nhập NVL B: 9.000kg đơn giá 1.800đ/kg

    Bài giải : Đến cuối T3/2018 tính Đơn giá bình quân của 1kg NVL B

    Lưu ý: Trong doanh nghiệp có nhiều loại hàng hóa (từ 2 mã hàng trở lên) thì phải thực hiện tính giá xuất kho riêng cho từng loại hàng.

    Ví dụ 2: Công ty kế toán Thiên Ưng có tình hình xuất nhập hàng hóa như sau:

    + Ngày 10/02/2019: Nhập mua: Hàng hóa A với số lượng là 20 chiếc, đơn giá là 90.000/chiếc

    + Ngày 12/02/2019: Nhập mua: Hàng hóa B với số lượng là 8 chiếc, đơn giá là 60.000/chiếc

    b) Theo giá bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập (bình quân thời điểm, tức thời)

    Sau mỗi lần nhập sản phẩm, vật tư, hàng hoá, kế toán phải xác định lại giá trị thực của hàng tồn kho và giá đơn vị bình quân. Giá đơn vị bình quân được tính theo công thức sau:

    Phương pháp này có ưu điểm là khắc phục được những hạn chế của phương pháp trên nhưng việc tính toán phức tạp, nhiều lần, tốn nhiều công sức. Do đặc điểm trên mà phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp có ít chủng loại hàng tồn kho, có lưu lượng nhập xuất ít.

    2. Cách tính giá xuất kho theo phương pháp đích danh:

    Phương pháp tính theo giá đích danh được áp dụng dựa trên giá trị thực tế của từng thứ hàng hoá mua vào, từng thứ sản phẩm sản xuất ra nên chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có ít mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được.

    Theo phương pháp này sản phẩm, vật tư, hàng hoá xuất kho thuộc lô hàng nhập nào thì lấy đơn giá nhập kho của lô hàng đó để tính. Đây là phương án tốt nhất, nó tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán; chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế. Giá trị của hàng xuất kho đem bán phù hợp với doanh thu mà nó tạo ra. Hơn nữa, giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng theo giá trị thực tế của nó.

    Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện khắt khe, chỉ những doanh nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn, mặt hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng được phương pháp này. Còn đối với những doanh nghiệp có nhiều loại hàng thì không thể áp dụng được phương pháp này.

    Ví dụ: Tình hình nhập xuất trong tháng T1/2019 của công ty Thiên Ưng như sau:

    Tồn đầu T1/2019:

    NVL A:1.000kg x 11.000đ/kg

    NVL B: 500kg x 15.000đ/kg

    Ngày 03/1/2019: Nhập kho NVL A: 3.000 kg, Đơn giá 12.000đ/kg

    Ngày 10/1/2019:

    + Nhập kho NVL B: 2.000kg, Đơn giá 16.000đ/kg

    + Xuất kho NVL A: 2.000kg

    Ngày 15/1/2019: Xuất kho NVL B: 2.000kg

    Ngày 25/1/2019: Xuất kho NVL A: 1.000kg

    Bài giải: Giá trị xuất trong T1/2019:

    Ngày 03/1/2019 xuất kho NVL A: 2.000 x 12.000 = 24.000.000đ

    Ngày 15/1/2019 xuất kho NVL B: 2.000 x 16.000 = 32.000.000đ

    Ngày 25/1/2019 xuất kho NVL A: 1.000 x 12.000 = 12.000.000đ

    Ưu điểm: Đây là phương án tốt nhất, nó tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán, chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế. Giá trị của hàng xuất kho đem bán phù hợp với doanh thu mà nó tạo ra: Giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng theo giá trị thực tế của nó.

    Nhược điểm: Việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện khắt khe chỉ những doanh nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn, mặt hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng được phương pháp này: Đối với những doanh nghiệp có nhiều loại hàng thì không thể áp dụng được phương pháp này.

    3. Cách tính giá xuất kho theo phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO):

    Phương pháp nhập trước, xuất trước áp dụng dựa trên giả định là giá trị hàng tồn kho được mua hoặc được sản xuất trước thì được xuất trước, và giá trị hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là giá trị hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ. Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho cuối kỳ được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho.

    – Hàng hoá nào nhập trước thì xuất trước, xuất hết số nhập trước rồi mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng lần nhập. Do vậy hàng hoá tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế của số vật liệu mua vào trong kỳ. Phương pháp thích hợp trong trường hợp giá cả ổn định hoặc có xu hướng giảm.

    Thường các doanh nghiệp kinh doanh về thuốc, mỹ phẩm…

    : Tình hình nhập xuất trong T2/2019 của Công ty Thiên Ưng như sau:

    Đầu T02/2019 tồn kho: 5 chai dầu gội, Đơn giá 100.000đ

    Ngày 01/02/2019 nhập mua: 20 chai dầu gội, Đơn giá 110.000đ/chiếc

    Ngày 08/02/2019:

    + Nhập : 10 chai dầu gội, đơn giá 120.000đ/chiếc

    + Xuất : 15 chai dầu gội

    Ngày 22/02/2019 xuất : 15 chai dầu gội.

    Bài giải

    Tính nhập trước – Xuất trước: trước hết căn cứ số lượng xuất kho để tính giá thực tế hàng xuất kho theo nguyên tắc lấy hết số lượng và đơn giá nhập kho lần trước, xong mới lấy đến số lượng và đơn giá nhập lần sau, làm giá thực tế của từng lần xuất:

    Giá trị vật tư xuất trong kỳ:

    Ngày 08/02/2019 xuất kho: 05 x 100.000 + 10 x 110.000 = 1.600.000đ.

    Ngày 22/02/2019 xuất kho: 10 x 110.000 + 05 x 120.000 = 1.700.000đ.

    Ưu điểm: Có thể tính được ngay trị giá vốn hàng xuất kho từng lần xuất hàng, do vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép các khâu tiếp theo cũng như cho quản lý. Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ tương đối sát với giá thị trường của mặt hàng đó. Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên bán cáo kế toán có ý nghĩa thực tế hơn

    Nhược điểm: Làm cho doanh thu hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại.Theo phương pháp này doanh thu hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hóa đã có được từ cách đó rất lâu. Đồng thời nếu số lượng, chủng loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục dẫn đến những chi phí cho việc hạch toán cũng như khối lượng công việc sẽ tăng lên rất nhiều.

    4. Các điều kế toán cần biết về phương pháp tính giá xuất kho:

    – Riêng đối với hàng hóa thì có thêm 1 phương pháp nữa đó là: phương pháp Giá bán lẻ

    Dành cho: Một số đơn vị có đặc thù (ví dụ như các đơn vị kinh doanh siêu thị hoặc tương tự) có thể áp dụng kỹ thuật xác định giá trị hàng tồn kho cuối kỳ theo phương pháp Giá bán lẻ. Phương pháp này thường được dùng trong ngành bán lẻ để tính giá trị của hàng tồn kho với số lượng lớn các mặt hàng thay đổi nhanh chóng và có lợi nhuận biên tương tự mà không thể sử dụng các phương pháp tính giá gốc khác. Giá gốc hàng tồn kho được xác định bằng cách lấy giá bán của hàng tồn kho trừ đi lợi nhuận biên theo tỷ lệ phần trăm hợp lý. Tỷ lệ được sử dụng có tính đến các mặt hàng đó bị hạ giá xuống thấp hơn giá bán ban đầu của nó. Thông thường mỗi bộ phận bán lẻ sẽ sử dụng một tỷ lệ phần trăm bình quân riêng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Tính Giá Trị Hàng Tồn Kho Theo Thông Tư 133 Và 200
  • Các Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho
  • Tìm Hiểu Nét Đẹp Về Văn Hóa Pháp
  • Sự Thật Ít Người Biết Về Pháp Luân Công Ở Việt Nam
  • Pháp Luân Công Có Hợp Pháp Tại Việt Nam
  • Các Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho Nguyên Vật Liệu (Đầy Đủ)
  • Một Số Lưu Ý Khi Tính Giá Xuất Hàng Tồn Kho Theo Tt 200/2014/tt
  • Hàng Tồn Kho Là Gì? Phương Pháp Hạch Toán Hàng Tồn Kho
  • Các Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho Hàng Tồn Kho
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Phân Hệ Kho Trên Phần Mềm Misa
  • Bình quân gia quyền là một khái niệm trong kế toán, nói về phương pháp tính đơn giá của 1 mặt hàng theo phương pháp tính trung bình.

    1. Theo giá bình quân gia quyền cuối kỳ (tháng)

    Theo phương pháp này, đến cuối kỳ mới tính trị giá vốn của hàng xuất kho trong kỳ.

    • Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính toán một lần vào cuối kỳ.
    • Nhược điểm: Độ chính xác không cao, hơn nữa, công việc tính toán dồn vào cuối tháng gây ảnh hưởng đến tiến độ của các phần hành khác. Ngoài ra, phương pháp này chưa đáp ứng yêu cầu kịp thời của thông tin kế toán ngay tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ.

    Sau mỗi lần nhập sản phẩm, vật tư, hàng hoá, kế toán phải xác định lại giá trị thực của hàng tồn kho và giá đơn vị bình quân. Giá đơn vị bình quân được tính theo công thức sau:

    Phương pháp này có ưu điểm là khắc phục được những hạn chế của phương pháp trên nhưng việc tính toán phức tạp, nhiều lần, tốn nhiều công sức. Do đặc điểm trên mà phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp có ít chủng loại hàng tồn kho, có lưu lượng nhập xuất ít.

    II. Phương pháp giá thực tế đích danh cho vật tư, hàng hóa xuất kho

    • Theo phương pháp này sản phẩm, vật tư, hàng hoá xuất kho thuộc lô hàng nhập nào thì lấy đơn giá nhập kho của lô hàng đó để tính.
    • Đây là phương án tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán; chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế. Giá trị của hàng xuất kho đem bán phù hợp với doanh thu mà nó tạo ra. Hơn nữa, giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng theo giá trị thực tế của nó.
    • Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện khắt khe, chỉ những doanh nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn, mặt hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng được phương pháp này. Còn đối với những doanh nghiệp có nhiều loại hàng thì không thể áp dụng được phương pháp này.

    Ví dụ: Tại một doanh nghiệp trong tháng 3 năm N có tình hình vật tư như sau:

    – Vật tư tồn đầu tháng: 4.000 kg, đơn giá 30.000 đồng/kg

    – Tình hình nhập xuất trong tháng:

    Ngày 03: nhập kho 4.000 kg, đơn giá nhập 30.500 đồng/kg

    Ngày 08: xuất sử dụng 5.000 kg

    Ngày 15: nhập kho 4.000 kg, đơn giá nhập 30.800 đồng/kg

    Ngày 20: nhập 2.000 kg, đơn giá nhập 31.000 đồng/kg

    Ngày 21: xuất sử dụng 5.500 kg.

    III. Phương pháp LIFO (nhập sau xuất trước)

    LIFO là viết tắt của cụm từ tiếng Anh Last In, First Out (Nhập sau, xuất trước). Trái ngược với phương pháp FIFO vừa đề cập. Theo đó, các mặt hàng nào mới nhập về sẽ là những hàng hóa đầu tiên được xuất đi. Hàng mới được ưu tiên giao bán cho các đại lý – khách hàng, hàng tồn kho sẽ là những hàng cũ đã lưu trữ từ lâu.

    LIFO nhập sau xuất trước là phương pháp lưu trữ, xuất nhập hàng hóa hiệu quả giúp doanh nghiệp có thể cập nhật thời giá chính xác trên thị trường, so sánh với chi phí đầu vào gần đây nhất để cân đối – điều chỉnh chi phí bán hàng sao cho phù hợp. Đồng thời phản ánh chính xác doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp. Và đương nhiên chỉ áp dụng đối với các mặt hàng không bị giới hạn về thời gian sử dụng hay yếu tố thời thượng.

    Trường hợp thời gian mới đây chi phí sản xuất hàng hóa tăng cao, giá bán hàng cũng được điều chỉnh tăng. Nếu bạn xuất bán hàng hóa nhập kho trước với thông tin chi phí sản xuất trước đây (thấp) thì bạn sẽ nhận được kết quả lợi nhuận cao.

    Nghe có vẻ hấp dẫn nhưng thực sự không tốt vì bạn phải đóng thuế doanh nghiệp cao hơn. Chưa kể đến về sau, khi thị trường được bình ổn lại, giá trở lại mức bình thường và bạn lại xuất bán các mặt hàng trước đây có chi phí sản xuất cao. Lúc này lợi nhuận rất thấp, thậm chí có thể hoà hoặc lỗ vốn. Gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp về lâu dài.

    Khi thị trường biến động nhiều và mức lạm phát cao như hiện nay, thì nguyên tắc LIFO được xem là giải pháp tuyệt vời cho doanh nghiệp. Vì họ sẽ hạn chế được tối đa rủi ro hàng hóa mất giá, có thể theo sát tình hình chi phí, doanh thu và lợi nhuận để xây dựng các chiến lược kinh doanh phù hợp, mang tính cạnh tranh với đối thủ.

    Ví dụ: Tình hình vật liệu của 1 DN trong tháng 9 năm 20×8.

    – Vật liệu chính (A) tồn kho đầu kỳ 1.000kg, giá thực tế nhập kho 1.010đ/kg.

    – Vật liệu chính (A) mua vào trong kỳ:

    + Ngày 01/09 mua 4.000kg x 1.020đ/kg

    + Ngày 15/09 mua 5.000kg x 1.030đ/kg

    – Vật liệu chính (A) xuất dùng cho sản xuất trong kỳ:

    + Ngày 3 xuất cho sản xuất trực tiếp sản phẩm 4.200kg

    + Ngày 18 xuất cho sản xuất trực tiếp sản phẩm 4.500kg

    Theo ví dụ trên giá thực tế vật liệu xuất được tính như sau:

    Ngày 3:

    – 4.000kg x 1.020đ = 4.080.000đ

    – 200kg x 1.010đ = 202.000đ

    Tổng cộng: 4.282.000đ

    Ngày 18:

    – 4.500kg x 1.030đ = 4.635.000đ

    Vật liệu chính tồn kho cuối kỳ:

    – 800kg x 1.010đ = 808.000đ

    – 200kg x 1.030đ = 515.000đ

    Tổng cộng: 1.315.000đ

    IV. Phương pháp FIFO (nhập trước xuất trước)

    Phương pháp nhập trước xuất trước tuân thủ theo nguyên tắc hàng hóa mua trước sẽ được xuất trước để sử dụng và tính theo giá thực tế của lô hàng cũ trước.

    Phương pháp này áp dụng dựa trên giả định là hàng được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước và giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập trước hoặc sản xuất trước và thực hiện tuần tự cho đến khi chúng được xuất ra hết.

    Phương pháp này giúp cho chúng ta có thể tính được ngay trị giá vốn hàng xuất kho từng lần xuất hàng, do vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép các khâu tiếp theo cũng như cho quản lý. Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ tương đối sát với giá thị trường của mặt hàng đó.

    Ví dụ: Tại một doanh nghiệp trong tháng 3 năm N có tình hình vật tư như sau:

    – Vật tư tồn đầu tháng: 4.000 kg, đơn giá 30.000 đồng/kg

    – Tình hình nhập xuất trong tháng:

    Ngày 03: nhập kho 4.000 kg, đơn giá nhập 30.500 đồng/kg

    Ngày 08: xuất sử dụng 5.000 kg

    Ngày 15: nhập kho 4.000 kg, đơn giá nhập 30.800 đồng/kg

    Ngày 20: nhập 2.000 kg, đơn giá nhập 31.000 đồng/kg

    Ngày 21: xuất sử dụng 5.500 kg.

    Phương pháp nhập trước xuất trước sử dụng thường được doanh nghiệp áp dụng cho nguyên vật liệu, cung cụ dụng cụ, hàng hóa, thành phẩm ở trong bất kể một loại hình doanh nghiệp nào

    Cách tính giá xuất kho theo phương pháp nhập trước xuất trước theo phương pháp như sau:

    Qua ví dụ sau:

    Tồn kho 3000 kg giá 20.000

    Trong tháng phát sinh

    – Ngày 3/3 xuất kho 200 kg

    Nhập trong ngày 5/3 nhập kho 400 kg đơn giá 19.000

    – Ngày 7/3 xuất kho 300 kg

    – Ngày 9/3 xuất kho 100 kg

    – Ngày 19/3 nhập kho 500 kg đơn giá 20.000

    – Ngày 20/3 xuất kho 400 kg

    – Ngày 25/3 nhập kho 300 kg đơn giá 21.000

    – Ngày 27/3 xuất kho 300 kg

    – Ngày 28/3 nhập kho 400 kg đơn giá 19.000

    – Ngày 29/3 500 kg

    Yêu cầu: Tính giá xuất kho theo phương pháp nhập trước xuất trướcLời giải

    Công thức tính giá xuất kho theo phương pháp FIFO

    Nguyên vật liệu chính xuất kho:

    – Ngày 3/3: 200*20.000 = 4.000.000

    (Lấy đơn giá tồn kho nhân với số lượng xuất kho)

    – Ngày 5/3: Đến thời điểm này trong kho còn 500 kg gồm 100kg tồn kho với đơn giá 20.000 và 400 kg với đơn giá 19.000 mới nhập vào ngày 5/3

    – Ngày 7/3: 100*20.000 + 200*19.000 = 5.800.000

    (Hiện tại đầu kỳ đã được xuất hết hiện giờ còn 200 kg ở lần nhập kho ngày 5/3)

    – Ngày 9/3: 100*19.000 = 1.900.000

    – Ngày 19/3: Đến thời điểm này trong kho có 600 kg gồm 100kg với đơn giá 19.000 và 500 kg với đơn giá 20.000 vừa mới nhập)

    – Ngày 20/3: 100*19.000 + 300*20.000 = 7.900.000

    (Sau khi xuất trong kho còn lại 200 kg với đơn giá 20.000)

    – Ngày 27/3: 200*20.000 + 100*21.000 = 6.100.000

    – Ngày 29/3: 200*21.000 + 300*19.000 = 9.900.000

    Tồn cuối kỳ: 100*19.000 = 1.900.000

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tính Giá Xuất Kho Nguyên Vật Liệu, Công Cụ, Dụng Cụ, Sản Phẩm, Hàng Hóa
  • Các Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho Hàng Hóa, Nguyên Vật Liệu, Ccdc
  • Tính Giá Xuất Kho Theo Phương Pháp Giá Đích Danh
  • Ba Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho Theo Thông Tư 200
  • Đổi Mới Giảng Dạy Thực Hành Hóa Học
  • Các Phương Pháp Tính Giá Thành Sản Phẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Các Phương Pháp Tính Giá Thành Theo Thông Tư 200
  • Các Phương Pháp Tính Giá Thành Sản Phẩm Theo Thông Tư 200
  • Hạch Toán Giá Thành Sản Phẩm Theo Thông Tư 133
  • Các Phương Pháp Tính Giá Thành Sản Xuất
  • Chỉ Dẫn Cách Tính Giá Thành Dịch Vụ Trong Công Ty Du Lịch
  • Trên thực tế có nhiều Nhưng để lựa chọn được phương pháp tính giá thành phù hợp với doanh nghiệp là một vấn đề đau đầu của kế toán cũng như chủ doanh nghiệp. Muốn lựa chọn được phương pháp tính giá thành phù hợp, trước tiên các bạn phải hiểu được g iá thành sản phẩm là gì?. Có bao nhiêu phương pháp tính giá thành sản phẩm?. Các phương pháp tính giá thành sản phẩm đó được thực hiện như thế nào?. Mời các bạn cùng Kế Toán Hà Nội cùng trả lời các câu hỏi trên.

    1. Giá thành sản phẩm là gì?.

    2. Các phương pháp tính giá thành sản phẩm.

    Khi tính giá thành sản phẩm kế toán có thể lựa chọn một trong các phương pháp tính giá thành sản phẩm sau:

    • Phương pháp tính giá thành giản đơn (trực tiếp),
    • Phương pháp tính giá thành theo hệ số,
    • Phương pháp tính giá thành theo tỷ lệ,
    • Phương pháp tính giá thành loại trừ giá trị sản phẩm phụ,
    • Phương pháp tính giá thành phân bước (tổng cộng chi phí) có tính giá thành nửa thành phẩm,
    • Phương pháp tính giá thành phân bước (tổng cộng chi phí) không tính giá thành nửa thành phẩm,
    • Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng và phương pháp liên hợp.

    Căn cứ vào đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp để lựa chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm phù hợp.

    Doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất số lượng lớn và chu kỳ sản xuất ngắn.

    Bao gồm các DN như: các nhà máy điện, nước, các doanh nghiệp khai thác (quặng, than, gỗ…).

    Tính giá thành theo phương pháp giản đơn (trực tiếp).

    Doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng lao động nhưng thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm mà được tập hợp chung cho cả quá trình sản xuất.

    Các lĩnh vực sản xuất thường áp dụng như: May mặc, hoá chất, cơ khí, chế tạo, điện cơ, chăn nuôi…

    Tính giá thành theo phương pháp hệ số.

    Doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất, sử dụng một thứ nguyên vật liệu, thu được nhóm sản phẩm cùng loại với quy cách (kích cỡ) khác nhau và giữa các loại sản phẩm không có một hệ số quy đổi.

    Các lĩnh vực sản xuất thường áp dụng như:

    + Công ty may mặc, sản xuất giày, dép;

    + Doanh nghiệp sản xuất ra các ống nước có quy cách khác nhau;

    + Các công ty dệt kim….

    Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp tỷ lệ.

    Doanh nghiệp trong trường hợp cùng một quy trình công nghệ sản xuất đồng thời với việc sản xuất ra sản phẩm chính còn thu được sản phẩm phụ

    ­ Sản phẩm được coi là sản phẩm phụ khi đủ các điều kiện sau:

    + Khi nó không phải là mục đích chính của sản xuất

    + Phải có giá trị sử dụng

    + Chiếm tỷ trọng nhỏ so với sản phẩm chính (thường <10% so với sản phẩm chính).

    Tính giá thành theo phương pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ

    Doanh nghiệp có quy trình công nghệ chế biến, sản xuất phức tạp kiểu liên tục.

    Bao gồm các DN như:: Doanh nghiệp dệt, cơ khí chế tạo, may mặc, sản xuất nội thất…và khi Doanh nghiệp nhu cầu bán nữa thành phẩm ra ngoài hoặc có nhu cầu hoạch toán nội bộ cao giữa các giai đoạn công nghệ (bộ phận, phân xưởng) trong Doanh nghiệp đòi hỏi phải xác định giá thành nửa thành phẩm trước khi xác định giá thành thành phẩm.

    Tính giá thành theo phương pháp phân bước (tổng cộng chi phí) tính giá thành nửa thành phẩm

    Doanh nghiệp có quy trình công nghệ chế biến, sản xuất phức tạp kiểu liên tục.

    Bao gồm các DN như: Doanh nghiệp dệt, cơ khí chế tạo, may mặc, sản xuất nội thất…và khi doanh nghiệp không có nhu cầu bán nửa thành phẩm ra ngoài. Doanh nghiệp chỉ cần tính giá thành thành phẩm ở giai đoạn cuối cùng, không cần tính giá thành bán thành phẩm ở từng giai đoạn.

    Tính giá thành theo phương pháp phân bước (tổng cộng chi phí) không tính giá thành nửa thành phẩm.

    Doanh nghiệp, sản phẩm được sản xuất thường theo quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu song song, tổ chức sản xuất đơn chiếc hoặc từng loạt nhỏ, từng loạt vừa theo các đơn đặt hàng.

    Bao gồm các DN như: Đóng tàu, sửa chữa….

    Tính giá thành theo đơn đặt hàng.

    Phương pháp này được áp dụng trong những doanh nghiệp có tổ chức sản xuất, tính chất quy trình công nghệ và tính chất sản phẩm làm ra đòi hỏi việc tính giá thành phải kết hợp nhiều phương pháp khác nhau.

    Bao gồm các DN như: Doanh nghiệp hoá chất, dệt kim, đóng giày…

    Trên thực tế, các doanh nghiệp có thể kết hợp các phương pháp giản đơn với phương pháp cộng chi phí, phương pháp cộng chi phí với phương pháp tỉ lệ.

    Tính giá thành theo phương pháp pháp liên hợp.

    Lưu ý: Doanh nghiệp lựa chọn phương pháp tính giá thành nào thì phải áp dụng nhất quán trong một niên độ kế toán.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Tính Giá Thành Công Trình Xây Dựng Theo Quyết Định 15 Trên Phần Mềm Smart Pro 5.0
  • Phương Pháp Hạch Toán Về Giá Thành Công Trình Xây Dựng
  • Kế Toán Giá Thành Công Trình Xây Dựng Là Gì? Phương Pháp Hạch Toán Giá Thành Công Trình Xây Dựng
  • 6 Phương Pháp Tính Giá Thành Phổ Biến Nhất Cho Doanh Nghiệp Hiện Nay
  • Kế Toán Chi Phí Và Giá Thành Dịch Vụ Nhà Hàng
  • Các Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho Cho Vật Tư Tồn Kho

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Tránh Thai Tự Nhiên
  • Một Số Phương Pháp Tránh Thai Khả Thi Cho Nam Giới
  • Một Số Phương Pháp Tránh Thai Cho Nam Giới
  • Các Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Và Hiệu Quả Cho Nam Giới
  • Tìm Hiểu Về Phương Pháp Đặt Vòng Tránh Thai
  • Các phương pháp tính giá xuất kho cho vật tư tồn kho

    Hàng tồn kho trong doanh nghiệp tăng từ nhiều nguồn khác nhau với các đơn giá khác nhau, vì vậy doanh nghiệp cần lựa chọn phương pháp tính giá thực tế hang tồn kho. Việc lựa chọn phương pháp nào còn tùy thuộc vào các đặc điểm của hàng tồn kho, yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp.

    Chú ý: Doanh nghiệp áp dụng phương pháp nào đòi hỏi phải nhất quán trong suốt niên độ kế toán. Nếu có sự thay đổi phải giải trình và thuyết minh, nêu rõ những tác động của sự thay đổi tới các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Để tính giá vật tư tồn kho xuất, doanh nghiệp có thể áp dụng một trong các phương pháp sau đây:

    1. Phương pháp giá thực tế đích danh

    Theo phương pháp này sản phẩm vật tư hàng hóa xuất kho thuộc lô hàng nhập nào thì lấy đơn giá nhập kho của lô hàng đó để tính. Đây là phương án tốt nhất, nó tuân thủ nguyên tắc phù hợp với kế toán; chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế . Giá trị của hàng xuất khi đem bán phù hợp với doanh thu mà họ tạo ra. Hơn nữa giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng theo giá trị thực của nó.

    Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện khắt khe, chỉ những doanh nghiệp kinh doanh có ít mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn, mặt hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng được phương pháp này. Còn đối với doanh nghiệp có nhiều loại hàng thì không thể áp dụng được phương pháp này.

    2. Phương pháp bình quân

    Theo phương pháp này giá trị của từng loại mặt hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Phương pháp bình quân có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng, phụ thuộc vào tình hình của doanh nghiệp.

    a. Theo giá bình quân gia quyền cuối kỳ(tháng) (giá bình quân cả kỳ dự trữ)

    Theo phương pháp này, đến cuối kỳ mới tính trị giá vốn của hàng xuất kho trong kỳ. Tùy theo kỳ dự trữ của doanh nghiệp áp dụng mà kế toán hàng tồn kho căn cứ vào giá nhập, lượng hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá đơn vị bình quân:

    Đơn giá xuất kho bình quân trong kỳ của một loại sản phẩm

    (Giá trị hàng tồn kho đầu kỳ + Giá trị hàng nhập trong kỳ)

    (Số lượng hàng tồn kho đầu kỳ + Số lượng hàng nhập trong kỳ)

    • Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính giá xuất của hàng tồn kho vào mỗi cuối kỳ.
    • Nhược điểm: Độ chính xác không cao, hơn nữa công việc tính toán dồn vào cuối tháng gây ảnh hưởng đến tiến độ của các phần hành khác. Ngoài ra, phương pháp này chưa đáp ứng được yêu cầu kịp thời của thông tin kế toán ngay tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ.

    b.Theo giá bình quân gia quyền theo mỗi lần nhập(bình quân thời điểm , tức thời)

    Sau mỗi lần nhập sản phẩm, vật tư hàng hóa, kế toán phải xác định lại giá trị thực của hàng tồn kho và giá đơn vị bình quân. Giá đơn vị bình quân được tính theo công thức sau:

    Đơn giá xuất kho lần thứ i

    (Trị giá vật tư ,HH tồn kho đầu kỳ + Trị giá vật tư ,HH nhập trước lần thứ i)

    (Số lượng hàng tồn kho đầu kỳ + Số lượng vật tư, HH nhập trước lần thứ i)

    Phương pháp này có nhiều ưu điểm là khắc phục được những hạn chế của phương pháp trên nhưng việc tính toán phức tạp, nhiều lần, tốn nhiều công sức. Do đặc điểm trên mà phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp có ít trủng loại hàng tồn kho , có lưu lượng nhập xuất ít.

    chúng tôi giá bình quân gia quyền cuối kỳ trước:

    Dựa vào trị giá và số lượng hàng tồn kho cuối kỳ trước, kế toán tính giá trị đơn vị bình quân cuối kỳ trước để tính giá xuất.

    Đơn giá bình quân cuối kỳ trước

    Trị giá thực tế vật tư , SP, hàng hóa tồn kho cuối kỳ trước

    Số lượng vật tư, SP, hàng hóa thực tế tồn kho cuối kỳ trước

    Theo chúng tôi, phương pháp này có ưu điểm đơn giản, dễ tính toán nhưng trị giá hàng xuất không chịu ảnh hưởng của sự thay đổi giá cả tròn kỳ hiện tại. Vì vậy, phương pháp này làm cho chỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh không sát với thực tế.

    3. Phương pháp FIFO: First in- First out (Nhập trước xuất trước)

    • Phương pháp này áp dụng dựa trên giả định là hàng mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước và giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập trước hoặc sản xuất trước và thực hiện cho tới khi chúng được xuất ra hết.
    • Phương pháp này giúp cho chúng ta có thể tính được ngay trị giá vốn hàng xuất kho từng lần xuất hàng, do vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép các khâu tiếp theo cũng như cho quản lý. Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ tương đối sát với thị trường của mặt hàng đó. Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo cáo kế toán có ý nghĩa thực tế hơn.
    • Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là làm cho doanh thu hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại. Theo phương pháp này, doanh thu hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hóa đã có được từ cách đó rất lâu. Đồng thời nếu số lượng chủng loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục dẫn đến những chi phí cho việc hạch toán cũng như khối lượng công việc sẽ tăng lên rất nhiều.

    4. Phương pháp LIFO: Last in – First out( Nhập sau xuất trước)

    Phương pháp nhập sau xuất trước được dựa trên giả định là hàng tồn kho được mua sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trước đó. Theo phương pháp này thì trị giá hàng xuất kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho. Phương pháp này gần như không được dùng trong thực tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cải Tiến Tốc Độ Cho Tính Giá Xuất Kho Theo Phương Pháp Nhập Trước Xuất Trước
  • Các Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho Hàng Tồn Kho Và Cách Hạch Toán Hàng Tồn Kho
  • Tính Giá Thành Sản Xuất Theo Phương Pháp Hệ Số Dễ Hiểu Nhất
  • Tư Vấn Thay Đổi Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho
  • Đề Xuất Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho Theo Thông Tư Năm 2022
  • Các Phương Pháp Tính Giá Thành Sản Xuất

    --- Bài mới hơn ---

  • Chỉ Dẫn Cách Tính Giá Thành Dịch Vụ Trong Công Ty Du Lịch
  • Phương Pháp Tính Kế Toán Giá Thành Dịch Vụ Vận Tải
  • Các Phương Pháp Tính Giá Thành Dịch Vụ Khách Sạn
  • Hướng Dẫn Làm Kế Toán Giá Thành Dịch Vụ Khách Sạn
  • Cách Xác Định Giá Thành Trong Công Ty Vận Tải
  • Điều cần lưu ý nhất là các bạn là Phương pháp tính giá thành

    Phương pháp trực tiếp

    – Phương pháp hệ số

    – Phương pháp tỷ lệ ( định mức)

    – Phương pháp loại trừ sản phẩm phụ

    – Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng

    – Phương pháp phân bước

    1. Phương pháp tính giá thành trực tiếp ( còn gọi là tính giá thành giản đơn)

    Phương pháp này áp dụng đối với những doanh nghiệ có quy trình sản xuất giản đơn.

    số lượng mặt hàng ít, sản xuất với số lượng lớn và chu kỳ sản xuất ngắn.

    Phương pháp tổng cộng chi phí: Áp dụng trong những doanh nghiệp mà quá trình sản xuấ t SP được thực hiện ở nhiều bộ phận SX, nhiều giai đoạn công nghệ, đối tượng kế toán chi phí sản xuất là các bộ phận chi tiết SP hoặc giai đoạn công nghệ hay bộ phận sản xuất.

    Giá thành = Z1 + Z2 + … + Zn

    Phương pháp này áp dụng trong những doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuât, trong quá trình sản xuất sử dụng cùng loại nguyên liệu, vật liệu nhưng kết quả sản xuất thu được nhiều sản phẩm chính khác nhau

    . Kỳ tính giá thành phù hợp với kỳ báo cáo.

    Trình tự của phương pháp tính giá thành theo hệ số :

    Với DN mà trong một chu kỳ SX cùng sử dụng một thứ vật liệu và một lượng LĐ nhưng thu được đồng thời nhiều SP Khác nhau và chi phí ko tập hợp riêng cho từng sản phẩm.

    Đối với những doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất , bên cạnh sản phẩm chính còn thu được sản phẩm phụ , để tính giá trị sản phẩm chính kế toán phải loại trừ giá trị sản phẩm phụ ra khỏi tổng chi phí sản xuất sản phẩm. Giá trị sản phẩm phụ có thể xác định theo giá có thể sử dụ ng được , giá ước tính , giá kế hoạch , giá nguyên liệu ban đầu…

    Tổng giá thành SP chính = Giá trị SP Chính DD ĐKỳ + Tổng chi phí Psinh trong kỳ- Giá trị SP phụ thu hồi ươc tính- Giá trị Sp Chính DD cuối kỳ

    * Trước hết tổng cộng chi phí của quá trình sản xuấ t để xác định tổng giá thành thực tế của nhóm sản phẩm.

    * Xác định tỷ lệ tính giá thành : Căn cứ vào giá thành kế hoạch giá thành định mức :

    Tỷ lệ giá thành = Tổng giá thành thực tế toàn bộ sản phẩm/ Tổng giá thành theo kế hoạch ( định mức) x100

    Xác định giá thành từng quy cách, kích cỡ, phẩm cấp trên cơ sở tỷ lệ :

    Hãy đến với chúng tôi để các bạn có thể nắm vững những kiến thức về kế toán

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hạch Toán Giá Thành Sản Phẩm Theo Thông Tư 133
  • Các Phương Pháp Tính Giá Thành Sản Phẩm Theo Thông Tư 200
  • Hướng Dẫn Các Phương Pháp Tính Giá Thành Theo Thông Tư 200
  • Các Phương Pháp Tính Giá Thành Sản Phẩm
  • Hướng Dẫn Tính Giá Thành Công Trình Xây Dựng Theo Quyết Định 15 Trên Phần Mềm Smart Pro 5.0
  • Thành Phẩm, Sản Phẩm, Cách Tính Giá Nhập, Xuất, Tồn Kho, Tài Khoản Sử Dụng

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Tính Giá Hàng Nhập Kho Nvl
  • Cách Tính Giá Trị Nhập Kho Hàng Hóa, Nvl, Ccdc…
  • Cách Hạch Toán Nhập Kho Thành Phẩm Khi Sản Xuất Xong
  • Phương Pháp Tính Giá Trong Kế Toán
  • 7 Bài Tập Tính Giá Các Đối Tượng Trong Kế Toán
  • 1. Thế nào là thành phẩm, bán thành phẩm và sản phẩm

    Thành phẩm là sản phẩm kết thúc giai đoạn chế biến cuối cùng của quy trình công nghệ sản xuất; do đơn vị tiến hành, đáp ứng tiêu chuẩn, kỹ thuật quy định.

    Bán thành phẩm là những sản phẩm mới kết thúc một hay một số công đoạn trong quy trình công nghệ sản xuất (trừ công đoạn cuối cùng) được nhập kho hay chuyển giao để tiếp tục chế biến thành thành phẩm nhập kho hoặc có thể bán ra ngoài.

    Sản phẩm được sản xuất ra nhằm mục đích cung cấp cho bên ngoài được gọi là sản phẩm hàng hóa (thành phẩm và bán thành phẩm).

    2. Tính giá thành phẩm, bán thành phẩm và sản phẩm (gọi chung là sản phẩm)

    b) Đối với sản phẩm thuê ngoài gia công:

    Giá nhập kho là giá thực tế tại thời điểm xuất bán trước đây.

    2.2. Tính giá xuất kho, tồn kho:

    Việc tính giá trị sản phẩm xuất kho, tồn kho được thực hiện theo một trong ba phương pháp:

    – Phương pháp giá thực tế đích danh ;

    3. Kế toán chi tiết sản phẩm

    Hiện nay các doanh nghiệp thường hạch toán chi tiết sản phẩm theo một trong 3 phương pháp chủ yếu sau:

    Kế toán sử dụng TK 155 – Thành phẩm

    Tài khoản này phản ánh giá thành sản xuất thực tế của tất cả thành phẩm, bán thành phẩm do các bộ phận sản xuất của doanh nghiệp sản xuất hoặc thuê ngoài gia công, chế biến đã hoàn thành, được kiểm nghiệm, nhập kho.

    – Trị giá của sản phẩm nhập kho;

    – Trị giá của sản phẩm thừa khi kiểm kê;

    – Kết chuyển giá trị của sản phẩm tồn kho cuối kỳ (trường hợp doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ).

    – Trị giá thực tế của sản phẩm xuất kho;

    – Trị giá của thành sản thiếu hụt khi kiểm kê;

    – Kết chuyển trị giá thực tế của sản phẩm tồn kho đầu kỳ (trường hợp doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ).

    Số dư bên Nợ: Trị giá thực tế của sản phẩm tồn kho cuối kỳ.

    4.2. Phương pháp hạch toán kế toán thành phẩm, Sản phẩm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Loại Giá Thành Dùng Trong Kế Toán Quản Trị
  • Kế Toán Chi Phí Sản Xuất Và Giá Thành Sản Phẩm
  • Tính Giá Thành Doanh Nghiệp Sản Xuất
  • Quy Trình Tính Giá Thành Sản Xuất, Cách Thức Và Phương Pháp Thực Hiện
  • Giá Vốn Hàng Bán Là Gì? Cách Tính Giá Vốn Hàng Bán Chuẩn 100%
  • 6 Phương Pháp Tính Giá Thành Sản Phẩm Trong Các Doanh Nghiệp Sản Xuất

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tập Tính Giá Thành Sản Phẩm Theo Phương Pháp Kết Chuyển Tuần Tự
  • Cách Tính Giá Thành Sản Xuất Theo Phương Pháp Hệ Số
  • Hướng Dẫn Cách Tính Giá Thành Theo Đơn Đặt Hàng
  • Giá Vốn Hàng Bán Là Gì? 3 Cách Tính Giá Vốn Hàng Bán Chính Xác Nhất
  • Giá Vốn Hàng Bán Là Gì? Các Phương Pháp Tính Giá Vốn Hàng Bán Chuẩn Nhất
  • Đối với các doanh nghiệp sản xuất thì tính giá thành sản phẩm là việc vô cùng quan trọng. Hiện nay có rất nhiều cách tính khác nhau nhằm phục vụ cho các loại hình kinh doanh sản xuất khác nhau. Ở bài viết này, chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn 6 phương pháp phổ biến nhất để tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất.

    Khái niệm

    • Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các chi phí cho một khối lượng sản phẩm nhất định đã hoàn thành.
    • Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả của việc sử dụng tài sản, lao động, vật tư và tiền vốn trong quá trình sản xuất.
    • Giá thành không chỉ là căn cứ quan trọng để xác định giá bán sản phẩm mà còn để xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Phân loại giá thành sản phẩm

    Việc phân loại giá thành sản phẩm giúp cho kế toán có thể nghiên cứu và quản lý, hạch toán tốt giá thành sản phẩm và cũng đáp ứng tốt yêu cầu xây dựng giá cả sản phẩm. Dựa vào các tiêu chí khác nhau và xét theo nhiều góc độ khác nhau mà người ta phân thành các loại giá thành khác nhau.

    Xét theo thời điểm tính và nguồn số liệu

    • Giá thành kế hoạch: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch. Giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước vào sản xuất trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán kinh phí.
    • Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm. Loại giá thành này được xác định trước khi bước vào sản xuất và được xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và không đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch.
    • Giá thành thực tế: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu chi phí thực tế phát sinh tổng hợp trong kỳ và sản lượng sản phẩm đã sản xuất trong kỳ. Giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm.

    Xét theo phạm vi phát sinh chi phí

    • Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ): Bao gồm giá thành sản xuất sản phẩm cộng thêm chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp được tính toán xác định sau khi sản phẩm được tiêu thụ. Đây là căn cứ để xác định mức lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp.

    6 phương pháp tính giá thành sản phẩm

    1. Phương pháp tính giá thành giản đơn (trực tiếp)

    Đây là phương pháp thường được áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất với số lượng lớn và chu kỳ sản xuất ngắn như các nhà máy điện, nước, các doanh nghiệp khai thác (quặng, gỗ, than,…). Tuy nhiên, những doanh nghiệp lớn có quy trình sản xuất phức tạp cũng có thể áp dụng phương pháp này với điều kiện là sản xuất ít loại sản phẩm với số lượng lớn.

    Công thức tính:

    Tổng giá thành sản xuất sản phẩm = Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang đầu kỳ + Chi phí sản xuất trong kỳ – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ

    Giá thành sản phẩm = Tổng giá thành sản xuất sản phẩm / Số lượng sản phẩm hoàn thành

    2. Phương pháp tính giá thành theo tỷ lệ (định mức)

    Phương pháp này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm có quy cách, phẩm chất khác nhau như may mặc, dệt kim, đóng giầy, cơ khí chế tạo (dụng cụ, phụ tùng),…Vì vậy, để giảm bớt khối lượng hạch toán thì kế toán thường tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm cùng loại. Căn cứ vào tỷ lệ chi phí giữa chi phí sản xuất thực tế với chi phí sản xuất kế hoạch (hoặc định mức), kế toán sẽ tính ra giá thành đơn vị và tổng giá thành sản phẩm từng loại.

    Đối tượng tập hợp chi phí là nhóm sản phẩm cùng loại và đối tượng tập hợp giá thành là từng quy cách sản phẩm trong nhóm.

    Công thức tính:

    Tổng giá thành sản xuất sản phẩm = Số sản phẩm tiêu chuẩn * Giá đơn vị sản phẩm tiêu chuẩn

    Giá thành thực tế = Giá thành kế hoạch * Giá thành tỷ lệ

    3. Phương pháp loại trừ sản phẩm phụ

    Phương pháp này được áp dụng cho các doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất, ngoài thu được sản phẩm chính còn thu được cả sản phẩm phụ. Ví dụ như các doanh nghiệp chế biến dầu thô hay các doanh nghiệp sản xuất gỗ.

    Công thức tính:

    Tổng giá thành sản phẩm chính = Giá trị sản phẩm chính dở dang đầu kỳ + Tổng chi phí phát sinh trong kỳ – Giá trị sản phẩm phụ thu hồi ước tính – Giá trị sản phẩm chính dở dang cuối kỳ

    4. Phương pháp theo đơn đặt hàng

    Với việc xác định giá thành trên từng đơn đặt hàng, phương pháp này phù hợp áp dụng cho các công ty xây dựng, các công ty sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ cho từng dự án hay các công ty xuất nhập khẩu theo đơn hàng.

    Theo phương pháp này thì đối tượng tập hợp chi phí là từng đơn đặt hàng và cũng là đối tượng tính giá thành. Giá thành cho từng đơn đặt hàng là toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh kể từ lúc bắt đầu thực hiện cho đến lúc hoàn thành, hay giao hàng cho khách hàng.

    Công thức tính:

    Giá thành của từng đơn hàng = Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp + Chi phí nhân công trực tiếp + Chi phí sản xuất chung phát sinh từ lúc bắt đầu cho tới lúc kết thúc đơn đặt hàng

    Những đơn đặt hàng chưa hoàn thành vào thời điểm cuối kỳ thì toàn bộ các chi phí sản xuất đã tập hợp theo đơn đặt hàng đó được coi là giá trị của những sản phẩm dở dang cuối kỳ chuyển sang kỳ sau.

    5. Phương pháp hệ số

    Đây là phương pháp được áp dụng trong những doanh nghiệp mà trong cùng một chu kỳ sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng lao động nhưng thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm được mà phải tập hợp chung cho cả quá trình sản xuất.

    Để xác định giá thành cho từng loại sản phẩm chính thì cần phải quy đổi các sản phẩm chính khác nhau về một loại sản phẩm duy nhất, gọi là sản phẩm tiêu chuẩn theo hệ số quy đổi được xây dựng sẵn. Sản phẩm có hệ số 1 được chọn làm sản phẩm tiêu chuẩn.

    Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất tại doanh nghiệp là phân xưởng hay quy trình công nghệ. Đối tượng tính giá thành là sản phẩm chính hoàn thành.

    Công thức tính:

    Giá thành đơn vị sản phẩm gốc = Tổng giá thành của tất cả các loại sản phẩm / Tổng số sản phẩm gốc (kể cả quy đổi)

    Giá thành đơn vị sản phẩm từng loại = Giá thành đơn vị sản phẩm gốc * Hệ số quy đổi từng loại

    Tổng giá thành sản xuất của các loại sản phẩm = Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ + Tổng chi phí phát sinh trong kỳ – Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ

    6. Phương pháp phân bước

    Áp dụng trong doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục, quy trình sản xuất bao gồm nhiều công đoạn nối tiếp nhau theo trình tự, mỗi công đoạn chế biến một loại bán thành phẩm. Bán thành phẩm của công đoạn trước là đối tượng của công đoạn sau. Các loại hình doanh nghiệp điển hình là doanh nghiệp chế biến đồ hộp, đồ gia dụng, quần áo thời trang,…

    Công thức tính:

    Giả sử một quy trình sản xuất gồm 3 giai đoạn, ta có cách tính sau

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Tính Giá Thành Sản Phẩm Dịch Vụ Trong Kinh Doanh
  • Cách Xác Định Giá Thành Trong Công Ty Vận Tải
  • Hướng Dẫn Làm Kế Toán Giá Thành Dịch Vụ Khách Sạn
  • Các Phương Pháp Tính Giá Thành Dịch Vụ Khách Sạn
  • Phương Pháp Tính Kế Toán Giá Thành Dịch Vụ Vận Tải
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100