【#1】Tìm Hiểu Thánh Kinh. Cuốn 1: Phần Tổng Quát

Theo Hiến Chế Mặc Khải của công đồng Vaticano II, Thánh Kinh là Lời Chúa nói với loài người để mặc khải cho họ về chính Thiên Chúa, về tình thương, sự an bài săn sóc, ý định và chương trình cứu độ của Người, nhờ đó con người có thể tiếp cận được với Thiên Chúa và thông phần bản tính của Người. Thánh Kinh hay Lời Chúa không chỉ là một bản văn chất chứa tình cảm của Chúa mà còn là chính Chúa (Dei Verbum 25). Có thể nói, tình yêu của con người đối với Thiên Chúa tỉ lệ với độ mến yêu của con người đối với Thánh Kinh. Sở dĩ công đồng Vaticano II dám đồng hoá Lời Chúa với chính Chúa, vì Lời ở đây không phải là một âm thanh vẳng trong không khí, nhưng trước hết là Ngôi Lời

Công đồng Vaticano II, mong muốn mọi kitô hữu hãy siêng năng học hỏi Thánh Kinh để đi vào cuộc đối thoại với Thiên Chúa và để tâm hồn được bối dưỡng nơi bàn tiệc Lời Chúa:

“Mọi kitô hữu, cách riêng các tu sĩ hãy siêng năng đọc Thánh Kinh để học biết khoa học về Thiên Chúa (x. Pl 3,8). Vì không biết Thánh Kinh là không biết Thiên Chúa (S. Hyeronimo). Vậy ước gì họ hăng hái tiếp xúc với chính bản văn Thánh Kinh nhờ Phụng Vụ Thánh chứa đựng dồi dào, hoặc nhờ sốt sắng đọc Kinh Thánh, hay những tổ chức học hỏi thích hợp…” (DV, 25).

Có thể nói môn học Thánh Kinh là môn học quan trọng nhất trong các môn thần học, vì Thánh Kinh là kim chỉ nam cho tất cả mọi suy luận thần học. Hơn nữa, việc hiểu biết Thánh Kinh sẽ hướng dẫn cho đời sống mọi kitô hữu.

Chương I. CÁC KHÁI NIỆM A. Khái niệm về mặc khải (mạc khải).

1. Định nghĩa.

Chữ Mặc Khải hay Mạc Khải mà người Việt Nam đang dùng là một từ Hán Việt (mạc là màn, mặc là tối, khải là mở), nghĩa là Thiên Chúa vén bức màn hoặc cất đi sự u mê của con người để họ biết về Người, được dịch từ chữ REVELATIO, tiếng Latinh, chữ Revelatio bao gồm: Re (cất lên), velum (khăn voan, cái lúp), tức là cất khăn che để thấy rõ một vật gì.

Ví dụ: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi và mi sẽ cắn vào gót nó” (St 3, 15). Đây là mặc khải đầu tiên Thiên Chúa hứa ban Đấng Cứu Độ.

2. Mặc khải và Kitô Giáo.

Người có tín ngưỡng đi tìm cho mình một sự liên lạc với các thần linh mà họ tôn thờ và khao khát có một sự đối thoại. Vì thế, không lạ gì nhiều tôn giáo cổ xưa đã đặt ra nhiều phương cách để như “ép buộc” thần linh tự mặc khải cho họ qua chiêm mộng, bói toán, lắc quẻ, đồng cốt, cầu cơ… Những phương cách đó là do sáng kiến của con người hơn là do thần linh. Thiên Chúa của Cựu Ước và Tân Ước là một Thiên Chúa mặc khải, Người tỏ mình qua công trình sáng tạo, qua lịch sử cứu độ, qua sự đàm đạo và tác động trên các tổ phụ và các ngôn sứ, đặc biệt qua Đức Giêsu Kitô.

Như thế, Kitô giáo được xây dựng trên nền tảng mặc khải của Thiên Chúa, nghĩa là trên niềm tin vào những gì Thiên Chúa nói với loài người (qua các kỳ công trong vũ trụ), qua các sứ giả của Người, nhất là qua Đức Giêsu Kitô. Nhờ đó chúng ta sẵn sàng đón nhận và chấp nhận những chân lý mầu nhiệm vượt qua khả năng tri thức và lý luận của người phàm.

3. Cách thức mặc khải.

Thiên Chúa tỏ mình và tỏ ý định của Người bằng muôn phương ngàn cách. Chính thánh Phaolô đã viết: “Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Quyết định của Người, ai dò cho thấu! Đường lối của Người, ai theo dõi được! Thật vậy, ai đã biết tư tưởng của Chúa? Ai đã làm cố vấn cho Người?” (Rm 11, 33-34).

Nhân loại dùng ngôn ngữ mà truyền đạt tư tưởng, ý muốn và tâm tình của mình. Cũng thế, khi chấp nhận đối thoại, Thiên Chúa đã sử dụng chính ngôn ngữ của nhân loại để mặc khải. Thánh Kinh dùng chữ Dabar và Logos để chỉ Lời mặc khải. Nội dung hai từ này bao gồm việc Thiên Chúa thực hiện mặc khải không những qua lời nói mà còn qua những hành động cụ thể. Hai hình thức này bổ túc cho nhau, nghĩa là lời nói của Chúa giải thích và làm sáng tỏ mầu nhiệm được thể hiện bằng hành động trước đó. Ngược lại, Hành động làm ứng nghiệm những gì được mặc khải qua lời nói.

Ví dụ: “Ta thấy cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai Cập… Ta xuống giải thoát chúng…” thế rồi Chúa đã dùng cánh tay uy quyền giải phóng dân Israel khỏi nô lệ Ai Cập (x. Xh 3,7-8). “Ta thương đoàn dân này…” và sau lời nói này Chúa đã hoá bánh ra nhiều nuôi dưỡng dân (x. Mt 15,32).

Nghĩa là Thiên Chúa tuyên phán trực tiếp Lời của Người, hoặc qua miệng các tổ phụ và các ngôn sứ về danh Người hoặc về ý định của Người. Ví dụ: truyền giới răn trên núi Sinai, Đức Giêsu ban bố Hiến Chương Nước Trời…

Là bằng chính việc làm, Thiên Chúa bày tỏ bản tính của Người và thánh ý của Người là Đấng sáng tạo, quan phòng săn sóc, thương xót con người và luôn trung tín với giao ước Người đã ban cho nhân loại. Ví dụ: Hai chương đầu của sách sáng thế, Tv 33, 6; 1Pr 1,23…).

– Thiên Chúa cho biết Người là Đấng Sáng Tạo và Quan Phòng (x. Ga 1,3; Rm 1, 19-20).

– Săn sóc và ban lời hứa cứu độ (x. St 3,8.15).

– Chọn một dân riêng (kêu gọi Abraham) để chuẩn bị cho Đấng Cứu Thế ra đời.

– Dùng các tổ phụ và các ngôn sứ để giáo huấn.

Thiên Chúa không còn nói với một dân tộc và qua các ngôn sứ nữa, nhưng Người nói với toàn thể nhân loại và nhờ chính Con Một của Người là Đức Giêsu Kitô (x. Ga 3,34; Dt 1,1-2).

Thiên Chúa hiện thân nơi Đức Giêsu bấy giờ là Emmanuel – ở cùng nhân loại, để không chỉ giúp riêng dân Israel thoát ách nô lệ ngoại bang nữa, mà là cứu chuộc nhân loại thoát ách nô lệ ma quỷ, tội lỗi và sự chết, nâng con người lên địa vị làm Con Thiên Chúa và xứng đáng tham dự vào đời sống vĩnh cửu.

Tân Ước hoàn tất trọn vẹn chương trình mặc khải được khởi đầu và chuẩn bị trong Cựu Ước.

4. Các nguồn mặc khải.

Giáo Hội Công Giáo nhìn nhận Thánh Kinh và Thánh truyền là hai nguồn mặc khải chính và bổ túc nhau. Điều này khác với Giáo Hội Tin Lành chỉ nhìn nhận Thánh Kinh là mặc khải duy nhất.

Thánh truyền là những mặc khải tuy không được chép thành văn, nhưng vẫn được các kitô hữu sống và thực hành. Chẳng hạn các phẩm trật, quyền bính của Giáo Hội, quyền thủ lãnh của thánh Phêrô và các đấng kế vị ngài, quyền giáo huấn của các tông đồ…

Thánh Kinh là một kho tàng mặc khải được chép thành văn và lưu truyền cho hậu thế. Có thể nói, cho đến hôm nay chưa có một sách nào được ấn bản nhiều và có thời gian lưu hành dài như Thánh Kinh.

c, Thái độ đối với Lời Chúa.

Các tín hữu sơ khai là những nhân chứng sống động trong việc sống Lời Chúa, họ ý thức tầm quan trọng của Lời Chúa và sùng mộ Lời Chúa.

Các tín hữu sơ khai đón nhận Lời Chúa giữa bao gian truân thử thách, với sự hoan hỷ của Thánh Thần, khiến họ nên mẫu mực cho mọi kẻ tin (1Tx 1, 6). Họ lắng nghe và ngoan ngoãn đem ra thực hành. Thánh Giacôbê viết: “Ai thiết tha và trung thành tuân giữ luật trọn hảo -luật mang lại tự do-, ai thi hành luật Chúa, chứ không nghe qua rồi bỏ, thì sẽ tìm được hạnh phúc trong mọi việc mình làm” (Gc 1, 25). Nhờ trung thành thực thi Lời Chúa nên các tín hữu đầu tiên đã lớn mạnh trong ân sủng. Tác giả sách Công Vụ Tông Đồ dám đồng hoá sự tăng trưởng của Giáo Hội sơ khai với sự tăng trưởng của Lời Chúa. Nói cách khác, một khi các kitô hữu tiếp thu và thực hành Lời Chúa, thì Lời Chúa sẽ làm phát triển sự sống thiêng liêng (x. Cv 6,7; 12,24…). Cuối cùng, các kitô hữu sơ khai đã dám liều chết vì Lời Chúa (x. Kh 6,9) vì Lời Chúa dành cho họ sự toàn thắng cuối cùng (x. Kh 12, 11).

5. Phân loại mặc khải.

Mặc khải tư (Private revelation) là chỉ nhắm tới một số người được giới hạn bởi không gian hoặc thời gian, và không phải là nền tảng của đạo.

Ví dụ: Những tiết lộ Fatima, Mễ Du…

Mặc khải công (Public Revelatio) là mặc khải nhắm tới lợi ích chung của toàn thể nhân loại, và là nền tảng của đạo.

Ví dụ: Mặc khải cho Môisê biết Thiên Chúa là Giavê (có); mặc khải cho Phêrô biết Đức Giêsu là Đấng Kitô hằng sống…

Chữ LINH HỨNG được dịch từ INSPIRATIO (Latinh): Introng, Spirarethổi. Cái gì thổi? Gió thổi. Trong Thánh Kinh, gió hay hơi (ruah) được dùng để chỉ Thần Khí, tức là Chúa Thánh Thần.

Vậy, Linh hứng hiểu cách đơn giản là “được Thánh Thần thổi cho”.

Ơn linh hứng là ơn Chúa Thánh Thần tác động trên người viết, là ảnh hưởng siêu nhiên, có công dụng nâng cao và thúc đẩy khả năng của tác giả chép Thánh Kinh để họ chỉ viết những gì Thiên Chúa muốn, đồng thời cũng hướng dẫn họ trong việc sử dụng những từ ngữ và thể văn thích hợp để không làm sai lạc chân lý mà Thiên Chúa muốn mặc khải.

Đức giáo hoàng Lêô XIII, trong thông điệp Providentissimus Deus (18.11.1893), viết về tác động của Chúa Thánh Thần như sau : “Bằng một sức mạnh siêu nhiên, Thiên Chúa đã khơi động và thúc đẩy các soạn giả viết. Trong khi các vị viết, Người giúp các vị suy tưởng đúng, muốn viết lại cách trung thành và diễn tả cách thích hợp bằng chân lý không sai lầm, hiểu theo nghĩa là đạt tới mục đích cứu rỗi (apte infaillibiti veritate exprimerunt) tất cả những gì Người truyền cho các vị viết và chỉ những điều đó thôi. Nếu không có như thế thì Người không phải là tác giả của tất cả Kinh Thánh” (EB 125 ; Dz 3293). Đây là bản văn rất quan trọng, vẫn được coi là một định nghĩa ơn linh hứng, bởi vì đoạn văn mô tả tác động cụ thể của ơn linh hứng nơi soạn giả khi ông đang làm việc : Thánh Thần hoạt động cùng với soạn giả con người. Người có sáng kiến, nhưng soạn giả thánh không thụ động, trái lại vẫn làm việc và cộng tác bằng trí tuệ, ý muốn và khả năng hành động.

Đức giáo hoàng Piô XII trong thông điệp Divino afflante Spiritu (30.9.1943), được coi là hiến chương mới của khoa nghiên cứu Kinh Thánh trong Giáo Hội công giáo, và đã có ảnh hưởng rất lớn. Về vấn đề linh hứng, thông điệp nhấn mạnh đến vai trò của soạn giả : “Khi chép Sách Thánh, soạn giả thánh là dụng cụ của Chúa Thánh Thần, một dụng cụ sống và có lý trí”, do đó, “khi được Thiên Chúa tác động, vẫn còn sử dụng những khả năng và sức lực của mình. Thế nên từ cuốn sách do công lao soạn giả làm ra, ai nấy có thể nhận thấy dễ dàng tính cách riêng và những nét đặc thù của mỗi soạn giả” (EB 556).

Công đồng Vaticano II trong Hiến Chế Mặc Khải đã viết : “Những điều Thiên Chúa măc khải và Kinh Thánh chứa đựng và trình bày, đều đã được ghi chép do ơn Chúa Thánh Thần soi sáng (Spiritu Sancto afflante). Giáo Hội, Mẹ Thánh chúng ta, do niềm tin bắt nguồn từ thời các thánh Tông Đồ, coi là Sách Thánh và thuộc Thư qui toàn bộ các sách Cựu Ước cũng như Tân Ước với tất cả các phần đoạn, vì lý do là các sách đó đã được chép nhờ ơn Chúa Thánh Thần linh hứng (Spiritu Sancto inspirante) nên có Thiên Chúa là tác giả và đã được truyền lại cho Giáo Hội với tư cách đó. Trong việc soạn các Sách Thánh, Thiên Chúa đã chọn một số người và dùng họ, mà họ vẫn sử dụng những khả năng và sức lực của mình, để nhờ chính Người hành động trong họ và qua họ, họ viết ra với tư cách là những tác giả thực sự, tất cả những gì Người muốn và chỉ viết những điều đó thôi” (DV 11).

Trong trí tuệ : Thiên Chúa soi sáng:

Để trình bày chân lý như Thiên Chúa muốn, trước tiên cần phải có một quan niệm cho đúng. Ơn linh hứng sẽ giúp trí tuệ soạn giả thánh nhận thức đúng. Một trong những yếu tố góp phần tích cực để hiểu tác động của ơn linh hứng đối với trí tuệ của soạn giả thánh là cách phân biệt phán đoán trừu tượng và phán đoán thực hành cùng vai trò của nó.

Ơn linh hứng tác động vào trí tuệ, giúp cho soạn giả nhận thức chân lý Thiên Chúa muốn thông ban và biết nên viết điều gì và viết cách nào. Ánh sáng linh hứng đó có tính cách nội tại, để lời viết ra thực sự là của con người, và cũng là Lời của Thiên Chúa nhờ ánh sáng đó, bởi vì nếu là ngoại tại thì việc làm của soạn giả thánh không còn tính cách tự do nữa mà là bị cưỡng bách.

Trong ý chí : Thiên Chúa thúc đẩy:

Ơn Thiên Chúa thúc đẩy soạn giả thánh để chỉ muốn viết những gì Thiên Chúa muốn. Vấn đề là sự hài hòa giữa ý muốn của Thiên Chúa với ý muốn của con người như thế nào. Nếu soạn giả thánh là một dụng cụ có lý trí và tự do, thì Thiên Chúa cũng phải sử dụng dụng cụ đó theo bản tính của nó là có tự do. Vì đó ơn linh hứng phải tác động trên ý chí vì đây là quan năng làm cho con người hành động như con người tức là có tự do.

Trong hành động: Thiên Chúa giúp đỡ:

Ý chí không những quyết định những gì trí tuệ thấy cần phải viết, nhưng còn vận dụng mọi cơ năng để thực hiện quyết định đó nữa. Vậy ơn linh hứng cũng tác động trên cả những cơ năng thực hành nữa. Khi thực hiện ý định viết, Thiên Chúa sẽ nâng đỡ các khả năng hành động như trí tưởng tượng, trí nhớ, tâm tình, khiếu viết văn và cả những hoạt động thân thể nữa. Vì Sách Thánh là tác phẩm của Thiên Chúa và của con người, nên cũng phải qui những tác động của con người về cho Người, nghĩa là Người ban ơn linh hứng siêu nhiên trợ giúp.

Như vậy, ai là tác giả Thánh Kinh?

2. Các tác giả Thánh Kinh.

Vì chính Thiên Chúa linh hứng cho người ta chép và chỉ chép ra những gì Người muốn bày tỏ với nhân loại, nên tác giả chính của Thánh Kinh là chính Thiên Chúa. Chính vì thế mà Thánh Kinh được gọi là Lời Chúa.

b, Các thánh ký (người viết).

Các tác giả chép Thánh Kinh không phải chỉ nghe Chúa Thánh Thần phát âm chữ nào thì viết ra chữ đó, nhưng các vị chép Thánh Kinh là những con người tự do và luôn sử dụng tài năng riêng cùng quan niệm bình dân và tư tưởng thời đại để diễn tả trước hết là cho người đương thời biết những chân lý mặc khải của Thiên Chúa. Vì thế, các vị cũng là những tác giả thực của Thánh Kinh, nhưng chính là những tác giả phụ mà thôi, vì nội dung chính không phải là do sáng kiến của các vị, mà hoàn toàn là Lời mặc khải của Thiên Chúa.

Thiên Chúa là Đấng thông minh và chân thật tuyệt đối, nghĩa là Người không thể sai lầm và Người cũng không hề lừa dối ai. Vì thế những điều Người linh hứng cho các thánh ký cũng không thể sai lầm được. Điều này cũng có nghĩa là Thánh Kinh không thể sai lầm.

Sự vô ngộ của Thánh Kinh xuất phát từ Ơn Linh Hứng. Thật vậy, nếu tin rằng chính Thánh Thần linh hứng, tức là soi sáng và hướng dẫn các thánh ký để họ viết ra thì bản văn Thánh Kinh không thể sai lầm, vì Ngài là Thần Chân Lý. Đức Kitô hứa ban Thánh Thần cho các Tông Đồ, như trí khôn và trí nhớ của họ: Là trí khôn, Ngài cho họ thấu hiểu những điều bí nhiệm (x/ Ga 16,13); là trí nhớ, Ngài nhắc cho họ những gì Chúa đã nói với họ (x. Ga 14, 26).

Tuy nhiên, nếu dừng lại theo phương diện khoa học và lịch sử thì không thiếu những mâu thuẫn và sai lầm. Chẳng hạn tường thuật không logich về việc sáng tạo, hoặc đoạn Tin Mừng Matthêu trích dẫn câu: “Thế là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giêrêmaia: họ đã lượm ba mươi đồng bạc, tức là cái giá mà số con cái Israel đã đặt khi đánh giá Người”. Câu này của sách ngôn sứ Giacaria nhưng Matthêu lại lầm lẫn là của Giêrêmia (x. Mt 27,9 // Gcr 11,12). Như thế, chúng ta phải hiểu thế nào khi nói Thánh Kinh không thể sai lầm?

Chúng ta có lập trường sau đây của Giáo Hội:

Công đồng Vaticano II trong Hiến Chế Mặc Khải dạy:

– “Phải xem mọi lời các tác giả được linh hứng viết ra, tức các soạn giả thánh, là những Lời của Chúa Thánh Thần, nên phải công nhận rằng Kinh Thánh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, những chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Kinh Thánh ghi lại vì ơn cứu độ của chúng ta…” (DV 11)

– “… Để tìm ra chủ ý của soạn giả thánh, giữa những phương pháp khác, cũng cần xét đến văn loại. Vì chân lý được trình bày và diễn tả qua nhiều thể văn khác nhau, như thể văn lịch sử, ngôn sứ, thi phú hoặc những thể văn diễn tả khác. Hơn nữa, nhà chú giải còn có bổn phận tìm hiểu ý nghĩa mà trong những trường hợp nhất định, soạn giả thánh đã muốn diễn tả và thực sự đã diễn tả trong hoàn cảnh thời đại và văn hóa của họ qua các lối văn được dùng trong thời đó. Thực vậy, để hiểu đúng ý nghĩa Kinh Thánh muốn quả quyết trong bản văn, chúng ta phải chú tâm đúng mức đến các cách thức cảm nghĩ, diễn tả, tường thuật do bẩm sinh, được thịnh hành trong thời của họ, cũng như phải để ý đến các hình thức mà người thời ấy thường dùng khi giao tế với nhau” (DV 12).

Giáo Hội tin Thánh Kinh vô ngộ vì:

– Giáo Hội thừa kế lòng tin tưởng đó của dân tộc Do Thái.

– Giáo Hội dựa trên uy tín của Đức Kitô (x. Mt 22,31).

– Giáo Hội dựa trên thế giá các Tông Đồ (x. Cv 2, 16).

– Giáo Hội dựa trên lời quả quyết của các giáo phụ: Thánh Clément I viết: “Anh em đừng xuyên tạc Lời Chúa vì đó là Lời chân thật”; thánh Augustine cũng dạy: “Thánh Kinh chân thật và không ai phủ nhận chân lý này, trừ phi kẻ bất lương”.

– Thánh Kinh là Lời Chúa nói với loài người bằng ngôn ngữ nhân loại (cách nói của loài người), nhờ đó giúp người ta có thể lãnh hội được Lời Chúa cách dễ dàng hơn.

– Chỉ những mặc khải về Ơn Cứu Rỗi mới là nội dung chính của Thánh Kinh mà thôi. Đối với những chân lý về Ơn Cứu Rỗi thì Thánh Kinh không thể sai lầm được (S. Augustin, S. Thomas d’Aquine).

– Những chân lý thuộc lãnh vực khoa học, lịch sử, văn phạm… không phải là những chân lý mà Chúa Thánh Thần muốn dạy dỗ loài người qua chương trình mặc khải, nghĩa là những chân lý ấy không thuộc về nội dung chính của Thánh Kinh.

– Các sai lầm trong các lãnh vực thuộc về nội dung chính của Thánh Kinh không hề ảnh hưởng đến các chân lý mặc khải về Ơn Cứu Rỗi, nghĩa là không làm sai lạc những chân lý mà Thiên Chúa muốn mặc khải cho con người để họ có thể đạt tới Ơn Cứu Rỗi.

Các tác giả Thánh Kinh có thể sai lầm theo suy nghĩ bình dân, hoặc các ngài phản ảnh những sai lầm của thời đại khi đề cập đến các chân lý ấy.

C. Khái niệm về giao ước. I, Định nghĩa.

1, Cấu tạo Thánh Kinh.

Được gọi là Thánh Kinh hay Sách Thánh là bởi vì:

– Tác giả là chính Thiên Chúa chí thánh.

– Vì trong đó chứa đựng những điều thánh thiện.

– Vì những trang sách này có sức thánh hoá người đọc (S. Thomas Aquino).

Thánh Kinh là một bộ sách gồm 73 cuốn, được chia làm hai phần: Cựu Ước và Tân Ước. Bộ sách chứa đựng các chân lý mặc khải về Ơn Cứu Rỗi, do nhiều tác giả viết ra dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần (ơn Linh Hứng).

Thánh Kinh được viết vào những thời kỳ khác nhau, trải dài từ khoảng năm 1350 trước Chúa Giáng Sinh đến năm 100 sau Chúa Giáng Sinh.

Thánh Kinh cũng được coi là bộ sách Giao Ước, trong đó bao gồm Cựu Ước (giao ước cũ) và Tân Ước (giao ước mới). Cả hai đều gồm ba thể loại: Lịch Sử, Ngôn Sứ và Giáo Huấn.

2, Định nghĩa giao ước.

Giao ước là một thoả thuận giữa hai bên, được thiết lập và đóng ấn bằng một nghi lễ công khai. Qua đó mỗi bên đều được hưởng những quyền lợi, kèm theo những ràng buộc và phải thi hành một số điều kiện.

Theo phong tục cổ thời, các dân vùng Lưỡng Hà Địa thì sau khi hai bên đạt được thoả thuận cho việc ký kết, người ta giết một con vật, rồi phân thây con vật làm hai nửa. Sau đó đại diện hai bên lần lượt đi qua giữa hai phần của con vật đó, ngụ ý nói lên quyết tâm thực hiện điều đã ký kết và sẵn sàng chịu chung số phận như con vật nếu vi phạm điều đã giao ước (x. St 15, 7-20; Gr 31,31; 34,18-22).

Tuy nhiên, nếu hiểu theo nghĩa chặt, thì không thể có giao ước đúng nghĩa giữa Thiên Chúa và loài người. Vì giao ước chỉ được thiết lập giữa hai bên ngang hàng với nhau và hai bên đều được hưởng lợi và cùng phải có bổn phận ràng buộc. Trong khi Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo và con người chỉ là thụ tạo được Thiên Chúa dựng nên từ hư vô thì không thể ngang hàng với nhau được. Đồng thời Thiên Chúa cũng chẳng được lợi ích gì và Người cũng không thể bị ràng buộc vào bổn phận phải thi hành, vì mọi sự đều là của Thiên Chúa. Nhưng vì yêu thương Thiên Chúa đã tự hạ cố để thiết lập giao ước, nên đúng hơn phải hiểu giao ước giữa Thiên Chúa với loài người là một Lời Hứa được ban cho con người mà thôi (x. St 9,11; 15,5; Xh 19,5).

Giao ước khác biệt với mọi bản giao kèo hay hợp đồng giao kết khác, nghĩa là các bản giao kết kia nếu một bên vi phạm thì bên còn lại không bị ràng buộc nữa, trong khi Giao Ước thì không thay đổi, bằng chứng là phía con người bất tín biết bao lần, nhưng Thiên Chúa vẫn luôn trung tín.

3. Giao ước cũ và giao ước mới.

Là Lời Giao Ước Cũ mà Thiên Chúa thiết lập với dân riêng của Người là Israel qua trung gian là các tổ phụ và các ngôn sứ, và được đóng ấn bằng máu con vật sát tế.

Là Lời Giao Ước Mới mà Thiên Chúa thiết lập với toàn thể nhân loại nhờ chính Con Một Người là Chúa Giêsu và được đóng ấn bằng chính Máu của Người đổ ra trên thập giá (x. Mc 14,22-25; 1Cr 11,23-25).

II. Các nguồn tài liệu.

Những truyền thống trên bao gồm nhiều tài liệu khác nhau, lắm lúc có cả những tài liệu không cần thiết. Vì thế, qua những biến cố quan trọng ảnh hưởng đến đức tin vào Thiên Chúa, như việc tìm thấy sách Luật trong đền thờ, cuộc lưu đày… người ta đã hiệu đính lại các truyền thống và loại bỏ những gì không cần thiết, đồng thời đưa ra những chú giải làm căn bản thần học cho các truyền thống ấy.

Ngày nay các nhà chú giải phân biệt được thành 4 truyền thống khác nhau lẫn lộn trong bộ Ngũ Kinh:

Truyền thống J xuất hiện ở Miền Nam (Giuđa) vào khoảng thế kỷ X trước Chúa Giáng Sinh, dưới thời Đavít và Salômon trị vì Israel.

Đặc điểm của truyền thống này là dùng cách thức của con người để diễn tả Thiên Chúa. Chẳng hạn: Kể chuyện Thiên Chúa giống như thợ gốm ngồi lấy đất nặn ra con người, lấy xương sườn đàn ông để đắp thành đàn bà…

Truyền thống J trình bày giai đoạn lịch sử bao quát kéo dài từ con người khởi thuỷ đến biến cố Xuất Hành. Chủ đề tổng quát của truyền thống J là LỜI HỨA và THỰC HIỆN LỜI HỨA được trình bày qua các trình thuật về các tổ phụ.

Truyền thống E xuất hiện muộn hơn truyền thống J, thuộc miền Bắc, tức vào khoảng thế kỷ IX trước Chúa Giáng Sinh.

Đặc điểm của truyền thống này là luôn tránh lối diễn tả về Thiên Chúa theo cách thức con người. Vì thế, khi tường thuật việc Thiên Chúa muốn mặc khải điều gì, thì truyền thống E không dùng hình thức trực tiếp mà dùng các cách thức như: báo mộng, đám mây, ngọn lửa, thiên thần…

Về mặt luân lý, truyền thống E khắt khe hơn truyền thống J, để đương đầu với lối sống vô luân và phong tục của các bộ tộc ngoại đạo sống xung quanh hoặc lẫn lộn với dân Israel.

Truyền thống P xuất hiện vào thời lưu đày. Giữa lúc dân Chúa sống giữa thế giới dân ngoại, nên rất dễ bị lung lạc và đồng hoá với các hình thức tôn giáo ngoại đạo. Vì thế, truyền thống P ra đời nhằm bảo vệ đức tin tinh tuyền và cách thờ tự Thiên Chúa của Israel.

Truyền thống P trình bày lịch sử theo khung cảnh phụng vụ, trình bày lịch sử Israel thành 4 thời kỳ và mỗi thời kỳ được đành dấu bằng một giao ước đặc biệt của Thiên Chúa và được đáp ứng bằng một hình thức tôn thờ đặc biệt.

Tóm lại, truyền thống P được trình bày theo lối phụng vụ trang trọng với chủ đích giúp dân Israel lưu đày giữ vững niềm tin vào Thiên Chúa.

Ba truyền thống J, E và P đan kết lại với nhau làm thành 4 cuốn đầu của bộ Ngũ Kinh.

viết tắt chữ Deutoronomy (luật thứ hai). Được gọi là truyền thống Đệ Nhị Luật vì nói về luật và là nội dung của sách Đệ Nhị Luật.

Truyền thống D xuất hiện vào khoảng thế kỷ VII trước Chúa Giáng Sinh, thuộc thời kỳ khủng hoảng tôn giáo, do các vua gian ác làm tổn hại đến việc tôn kính Giavê, cùng với việc Miền Bắc đã bị sụp đổ và Miền Nam đang bị đe doạ trầm trọng bởi đế quốc Assyri. Trước tình trạng ấy, truyền thống D ra đời nhằm khích lệ dân Israel trung thành với giao ước qua việc tuân giữ lề luật.

Căn bản thần học của truyền thống D là xác tín rằng Giao Ước là lựa chọn đầy yêu thương của Thiên Chúa, do đó tuân giữ giao ước (lề luật) của Thiên Chúa chính là đáp lại sự lựa chọn đầy yêu thương đó.

Ngôn sứ được hiểu là một sứ giả của Thiên Chúa và chuyển đạt Lời Chúa, chuyển đạt ý định của Thiên Chúa cho dân.

Các ngôn sứ nhận được sứ điệp từ Thiên Chúa đôi khi qua thị kiến (x Is 6, Ed 1-3…), nhưng thường thì qua ơn linh hứng diễn ra nơi nội tâm. Các vị nhận thức được rõ về linh hứng và xác tín rằng đó là mặc khải của Thiên Chúa và phải được rao giảng cho dân.

Để phân biệt đâu là một ngôn sứ có thật là do Thiên Chúa sai đến hay không, Thánh Kinh giúp chúng ta biết dựa theo 1 trong 2 tiêu chuẩn sau đây:

Tiền ngôn sứ và hậu ngôn sứ : Quy điển Thánh Kinh Do Thái thì các sách: Giosuê, Thủ Lãnh, Samuel, Các Vua là sách TIỀN NGÔN SỨ, để phân biệt với HẬU NGÔN SỨ là: Isaia, Giêrêmia, Êdêkien và 12 ngôn sứ nhỏ.

Tìm kiếm và chiếm hữu được khôn ngoan là một khát vọng lớn lao. Vì thế, đi tìm sự khôn ngoan hiểu biết là một phong trào rất thịnh hành của các dân tộc. Mục đích của công cuộc tìm kiếm khôn ngoan là thâu thập những kinh nghiệm rút từ cuộc sống hằng ngày, rồi đúc kết lại thành một nghệ thuật sống giúp người ta thành công trên đường đời, biết sống hoà hợp với mọi người và vũ trụ, để đạt được hạnh phúc.

Dân Israel cũng hấp thụ nền văn minh và kho tàng khôn ngoan của các dân tộc, nhưng không chỉ dừng lại ở những gì có tính cách nhân bản mà còn được nâng lên một lãnh vực cao siêu hơn, không chỉ dừng lại ở lãnh vực cuộc sống thường ngày mà thăng hoá lên trong cái nhìn tôn giáo, nghĩa là sự khôn ngoan đích thực xuất phát từ Giavê, được soi sáng bởi Giavê và sự khôn ngoan của mọi khôn ngoan chính là lòng đạo đức và kính sợ Đức Chúa. Có thể so sánh sự khác biệt: Khôn ngoan dân ngoại đưa ra sự đối lập giữa khôn và dại, thì khôn ngoan Isrel đưa ra sự đối lập giữa đạo đức và vô luân, giữa công chính và bất chính…

Tóm lại: Các nguồn tài liệu lịch sử, ngôn sứ và khôn ngoan đã tạo nên một cuốn Thánh Kinh duy nhất.

Chương II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ THÁNH KINH.

: Hiện nay, các thủ bản (bản gốc) nguyên thủy của Thánh Kinh phần lớn đã bị thất lạc và chỉ còn lại các bản sao lục, nghĩa là những bản được sao chép từ bản chính. Căn cứ vào những bản sao lục, thì Thánh Kinh được chép bằng các loại ngôn ngữ sau đây:

Híp-ri (Do Thái): Hầu hết các sách Cựu Ước được chép bằng tiếng Do Thái, nhất là các sách lịch sử.

Hi Lạp: Một số ít sách được viết bằng tiếng Hi Lạp, nhất là các sách thuộc văn chương khôn ngoan và viết vào thời kỳ văn hoá Hi Lạp bành trướng (khoảng -333).

A-ram: Chỉ có một số đoạn và rất ít sách chép bằng tiếng A-ram. Aram là thứ ngôn ngữ gần với tiếng Híp-ri, nó được dùng làm tiếng quốc tế được sử dụng trong khắp đế quốc Ba Tư trong công việc thương mại và ngoại giao (như tiếng Anh ngày nay). Ở Giuđêa, tiếng Aram dần dần thay thế tiếng Híp-ri là thứ tiếng chỉ còn dùng trong phụng vụ. Thời Đức Giêsu dân nói tiếng Aram và không còn hiểu tiếng Híp-ri nữa.

: Nghệ thuật in ấn mới được phát minh vào thế kỷ XV sau Chúa Giáng Sinh. Thế nhưng, từ thời thượng cổ, con người cũng đã tìm ra những cách để lưu lại, như khắc trên gỗ, trên đá, trên đất sét…

Các chất liệu được dùng để chép Thánh Kinh là chỉ thảo và da thuộc.

Chỉ thảo (papyrus): Là loại chất liệu làm bằng ruột cây sậy chẻ mỏng và ép chồng lên nhau rồi phơi khô làm giấy để viết.

Da thuộc (Parchment): Là chất liệu làm bằng da thú vật ngâm nước vôi, phơi khô và đánh nhẵn ra để làm giấy viết. Loại này xuất hiện vào khoảng thế kỷ VII Trước CSS.

2. Vấn đề quy điển Thánh Kinh.

Quy điển Thánh Kinh là tất cả những sách được nhìn nhận là có Linh Hứng và chứa đựng những chân lý mặc khải về Ơn Cứu Rỗi.

Trước hết, Thánh Kinh không phải là một cuốn sách, do một tác giả chép, xuất hiện cùng một thời kỳ và được in ấn thành sách như ngày nay. Trái lại, là một sưu tập nhiều cuốn sách, do nhiều tác giả khác nhau chép, xuất hiện vào nhiều thời kỳ đôi khi cách xa nhau và hơn nữa còn được sao chép nhiều lần chứ không phải in ấn một lần như ngày nay. Vì thế, việc sưu tầm các tài liệu đó, rồi gom lại thành tập và sao lục lại các tài liệu ấy đã tạo ra nhiều nghi vấn về tính chính xác của một cuốn sách. Chẳng hạn: Cuốn sách ấy có được sao lục đúng với bản gốc không? Có thực sự có linh hứng không…? Cho nên, vấn đề quy điển được đặt ra là nhằm loại bỏ những cuốn sách không thực sự có Ơn Linh Hứng và không được kể là Kinh Thánh.

Sau cùng, có những sách được một số cộng đoàn Do Thái hoặc cộng đoàn Kitô Giáo nhận là Thánh Kinh, nhưng một số cộng đoàn khác lại không nhìn nhận. Vì thế vấn đề quy điển được đặt ra để phán quyết sách nào là có Linh Hứng và sách nào là không?

a, Sự khác biệt về quy điển trong Công Giáo và Tin Lành.

Giáo Hội Công Giáo và Tin Lành không nhìn nhận một quy điển Thánh Kinh như nhau.

Cụ thể, 7 cuốn sau đây được Giáo Hội công giáo nhìn nhận là Thánh Kinh, trong khi Tin Lành thì không:

1. Sách Tobia.

2. Sách Giuđita.

3. Sách Khôn Ngoan.

4. Sách Huấn Ca.

5. Sách Baruc.

6. Sách Macabê I.

7. Sách Macabe II.

Ngoài ra, Tin Lành cũng không nhìn nhận một số chương trong sách Ette và sách Đanien vào quy điển.

b, Thẩm quyền phán quyết về quy điển Thánh Kinh.

Khi phán quyết về một cuốn sách không thể căn cứ vào hình thức văn chương để chân nhận tính linh hứng của nó, vì nhiều cuốn có hình thức văn chương tuyệt tác mà không được công nhận vào quy điển, trong khi một số cuốn có hình thức văn chương rất nghèo nàn và vụng về lại được xếp vào quy điển. Cũng không thể căn cứ vào nội dung cao siêu để phán quyết là có linh hứng, vì không thiếu những tác phẩm viết về những suy luận cao siêu như các tác phẩm của Socrate, Platon, Aristote… nhưng không thể gọi là Thánh Kinh.

Cần biết rằng, đã nhìn nhận Thánh Kinh là bộ sách chứa đựng các chân lý mặc khải của Thiên Chúa, thì đương nhiên cũng chỉ có mình Thiên Chúa mới là tiêu chuẩn và có thẩm quyền để phán quyết mà thôi.

Tuy nhiên, Thiên Chúa, qua mầu nhiệm nhập thể, Chúa Giêsu sau khi về trời đã uỷ thác quyền bính cho các Tông Đồ và ban Thánh Thần cho họ, rồi từ các Tông Đồ thông truyền đến cho Giáo Hội của Người. Chúa Thánh Thần hướng dẫn và gìn giữ Giáo Hội khỏi mọi sai lầm về giáo lý và luân lý, vì: “Ai nghe anh em là nghe Thầy” (Lc 10,16).

Tóm lại, vì được Chúa Kitô uỷ thác để bảo tồn và truyền bá giáo lý mặc khải của Chúa, nên Giáo Hội có đủ thẩm quyền để phán quyết tính cách linh hứng của một cuốn sách. Tiêu chuẩn để Giáo Hội phán quyết có được xếp vào quy điển hay không, chính là sách có phù hợp với giáo lý của các Tông Đồ hay không.

Ngoài ra, tiếng nói của một số các sử gia và chuyên viên nghiên cứu sách thánh cũng góp phần quan trọng, nhưng chỉ có giá trị làm sáng tỏ vấn đề, chứ không có tính quyết định.

3. Thánh Kinh và Khoa Học.

Nếu nhìn theo khao học, chúng ta thấy trong Thánh Kinh có rất nhiều điều trái với khoa học.

Trình thuật tạo dựng trong 6 ngày (x. St 1).

Nước được chứa trên trời trong một cái vòm rắn chắc (x. St 1,7; G 37, 18).

Thỏ rừng là động vật thuộc loài nhai lại (x. Lv 11,6; Đnl 14,4).

Trái đất bằng phẳng, có cột chống đỡ và bên dưới là nước (Tv 136,6).

Mặt trời xoay quanh trái đất (Tb 2,7; Et 11,11); Giosuê cho mặt trời đứng lại (Gs 10,12).

Trước những mâu thuẫn với khoa học như thế đã dẫn đến các lập trường sau đây:

a, Các lập trường cực đoan.

: Chủ trương Thánh Kinh hoàn toàn phù hợp với khoa học. Chủ trương này cố gắng giải thích những sự kiện Thánh Kinh cho hợp với khoa học. Chẳng hạn: Để giải thích việc con người trong Thánh Kinh hợp với thuyết tiến hoá theo khoa học, họ giải thích rằng, ông bà nguyên tổ ban đầu ở trần truồng trong vườn địa đàng, chịu tác động của sương gió… nên vẫn lông lá mọc nhiều trên da, và đó là dấu vết còn lại ngày hôm nay nơi con cháu. Hoặc, chuyện sáng tạo vẫn đúng là 6 ngày, nhưng Phái cực hữu ngày ở đây được hiểu là có thể kéo dài hàng trăm triệu hoặc tỉ năm. Những giải thích của phái cực hữu nhiều khi rất gượng ép và bế tắc. Chẳng hạn, họ không thể lý giải việc thứ tự sáng tạo: ngày đầu tiên có ánh sáng, nhưng tới ngày thứ tư mới tạo dựng mặt trời mặt trăng… (x. St 1).

b, Lập trường của Giáo Hội Công Giáo.

Tóm lại, Thánh Kinh không phải là bộ sách có mục đích dạy về khoa học, nên có thể có những mâu thuẫn về khoa học, do các tác giả dùng chính quan niệm bình dân để chép, hoặc phản ảnh những sai lầm của thời đại lúc ấy.

4. Các chủ thuyết.

Cần biết rằng, tường thuật về sáng tạo không phải là một sự tích lịch sử, nhưng là một cách dựng truyện để diễn tả về những chân lý mặc khải Ơn Cứu Độ. Có nghĩa là, xuyên qua các tường thuật về sáng tạo có vẻ huyền thoại này, mời gọi chuyển đạt những chân lý sau đây:

* Vũ trụ vạn vật từ đâu mà có?

– Do Thiên Chúa sáng tạo nên.

* Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ từ lúc nào và bằng gì?

– Thiên Chúa tạo dựng từ khởi thuỷ và từ hư vô.

* Thiên Chúa tạo nên vũ trụ thế nào?

– Bằng Lời quyền năng, chỉ phán một lời là có.

* Tình trạng của vũ trụ từ lúc tạo thành thế nào?

– Hoàn toàn tốt đẹp.

* Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ để làm gì?

– Để biểu lộ sự tốt lành của Người.

* Thiên Chúa sáng tạo hay liên tục sáng tạo?

– Liên tục sáng tạo vì sau khi sáng tạo, Thiên Chúa chúc phúc cho các sinh vật tiếp tục sinh sản ra nhiều.

* Có nhiều thần sáng tạo không?

– Chỉ có một mình Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo duy nhất. Các thần dân ngoại tôn thờ như: Ai Cập có thần mặt trời, Babilon có thần mặt trăng, Assiry có thần các tinh tú… chỉ là thụ tạo do Thiên Chúa dựng nên mà thôi, chứ không phải là thần minh.

b, Vũ trụ quan theo Thánh Kinh.

Người xưa quan niệm cơ cấu vũ trụ giống như một cái bát lớn úp xuống mặt đất (chân trời). Có các tinh tú được gắn chặt cố định trên vòm trời. Vì thỉnh thoảng có mưa nên tin rằng có nước được ngăn lại trên trời, khi mưa thì các con đập được mở ra để nước tuôn xuống. Mặt đất thì bằng phẳng như mặt bàn, bên dưới là nước và mặt đất có các cột chống đỡ. Trong lòng đất là Âm Phủ (sheol) là nơi cư ngụ của người chết….

Để trả lời cho những điều trên, cần hiểu rằng thời thượng cổ, người ta chưa phát minh ra các phương tiện hiện đại như kính lúp và các phương tiện khám phá không gian, mà tất cả chỉ dừng ở việc quan sát các sự luân chuyển trong vũ trụ bằng mắt thường. Tất cả chỉ dừng lại ở mức quan niệm hơn là những thí nghiệm khám phá. Chính vì thế, những quan niệm cổ xưa được chép ra so với thời nay sai với khoa học chứng minh được, nhưng lại rất hợp lý và cho đến ngày nay bằng việc quan sát thường ngày cũng vẫn hợp lý. Người đương thời dùng để chuyển đạt Lời Chúa cũng sử dụng tiếng nói và quan niệm như thế. Vì vậy, cần nắm bắt được điều này để không rơi vào những phán xét cực đoan cho rằng Thánh Kinh là sai lầm.

c, Độc nguyên và đa nguyên.

Ngày nay, khi xuất hiện các nghiên cứu về tiến hoá, về các chủng loại người cũng như những khám phá về dấu vết của sự sống sinh vật có thể có nơi các hành tinh ngoài trái đất, người ta bắt đầu đặt vấn đề nguyên tổ: Độc nguyên hay đa nguyên?

Thuyết độc nguyên (Monogenisme) chủ trương con người phát sinh từ một cha mẹ duy nhất.

Thuyết đa nguyên (Polygenisme) lại chủ trương phải có nhiều nguyên tổ khác nhau. Thuyết này cho rằng, vì có rất nhiều chủng loại người khác nhau trên các châu lục, cũng như có sự tiến hoá theo nhiều thời kỳ để hình thành con người thông minh. Đồng thời, biết đâu có một chủng người khác ở một hành tinh khác trong vũ trụ ngoài trái đất (người ngoài hành tinh). Vì thế, có nhiều nguyên tổ.

Vấn đề được đặt ra là câu chuyện về nguyên tổ Ađam – Eva là một sự tích mang màu sắc huyền thoại, mà nguồn văn J để lại không thể hiểu theo nghĩa đen, và như vậy có buộc phải tin là độc tổ hay không?

Trong khi những bản văn Tân Ước như Rm 5,12-21 và 1Cr 15,21tt xác định về độc tổ: “Vì một người mà tội lỗi đã nhập vào thế gian và vì tội lỗi mà người ta phải chết…”. Giáo Lý của Giáo Hội nói về tội nguyên tổ…. Vậy làm sao dung hoà được chuyện độc tổ hay đa tổ quả là một điều hết sức khó khăn.

Đức Pio XII trong thông điệp Humani Generis phản bác thuyết đa nguyên vì cho rằng thuyết này không thể dung hoà được tội nguyên tổ.

Nhà thần học người Đức Karl Rahner cho rằng thuyết đa nguyên có thể chấp nhận được một vài hình thức.

Dự trù cho vấn nạn tội nguyên tổ, một số nhà thần học ngày nay không không coi Tội Nguyên Tổ như một hành động do Nguyên Tổ loài người phạm một lần và gây ra hậu quả có ảnh hưởng đến toàn nhân loại, nhưng họ đồng hoá tội đó với TỘI TRẦN GIAN nơi thần học Gioan (x. Ga 1,29), nghĩa là do lạm dụng tự do Nguyên Tổ đã vi phạm lệnh truyền của Thiên Chúa, rồi một khi tội lỗi bắt đầu xuất hiện thì đà xuống dốc không thể dừng lại được và kéo theo một môi trường hay một tình trạng hư hoại. Trải qua từ thế hệ này đến thế hệ khác, tội lỗi cứ thêm chồng chất và mọi người đều đóng góp vào “tội trần gian” ấy. Đó là tình trạng khi một người sinh ra đã ở trong môi trường tội lỗi và rồi lệ thuộc tình trạng sẵn có này. Với khả năng nhỏ bé con người không thể lướt thắng mãnh lực tội lỗi nên cần đến Ơn Cứu Rỗi.

Nếu hiểu tội nguyên tổ theo nghĩa “tội trần gian” thì không còn khó khăn về vấn đề độc tổ hay đa tổ. Tín điều Giáo Hội là vấn đề thuộc đức tin, nhưng việc phát sinh từ một cha mẹ duy nhất thì không thuộc đức tin.

Đó là những dự trù cho những giải thích có thể trong tương lai, chứ cho đến ngày nay vẫn chưa ai có thể chứng minh được cách chắc chắn là đa nguyên.

5. Thánh Kinh và thời gian.

Cách tư duy theo lối Tây Phương, quan niệm thời gian như một thực tại có thể đo lường được. Thật vậy, khi muốn nhắc đến thời gian, người ta dùng các dụng cụ trắc lượng như đồng hồ hay quyển lịch để có thể xác định một thời đại hoặc một biến cố. Thời gian trở thành đặc tính có thể đo lường.

Nhưng đối với người Do Thái, biết thời gian không phải là cho nó một thời biểu, mà biết thời gian được nói đến là thời gian nào: Đó là thời gian của tiếng cười hay thời gian khóc lóc, thời gian của hoà bình hay thời gian chiến tranh, thời gian để gieo hay thời gian để gặt…

“Mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời : một thời để chào đời, một thời để lìa thế ; một thời để trồng cây, một thời để nhổ cây ; một thời để giết chết, một thời để chữa lành ; một thời để phá đổ, một thời để xây dựng ; một thời để khóc lóc, một thời để vui cười ; một thời để than van, một thời để múa nhảy ; một thời để quăng đá, một thời để lượm đá ; một thời để ôm hôn, một thời để tránh hôn ; một thời để kiếm tìm, một thời để đánh mất ; một thời để giữ lại, một thời để vất đi ; một thời để xé rách, một thời để vá khâu ; một thời để làm thinh, một thời để lên tiếng ; một thời để yêu thương, một thời để thù ghét ; một thời để gây chiến, một thời để làm hoà” (Gv 3,1-8).

Giống như khi nói: “thời gian tốt”, thời gian xấu”, “thời kì tân tiến”, “thời kỷ khó khăn…” có nghĩa là đánh giá những gì xảy ra trong thời gian, đánh giá phẩm tính của kinh nghiệm con người chứa đựng trong đó.

Khi nghĩ đến lịch sử, người ta tìm lại quan niệm lượng số về thời gian. Riêng người Do Thái thời xưa không tự đặt mình vào một chỗ nhất định, mà phối trí các biến cố, địa điểm, các thời đại và thấy mình lư thông trong đó. Nguyên tố duy nhất và độc nhất của biến cố đối với Do Thái là Thiên Chúa, vì Người là chủ lịch sử, là Đấng tổ chức thời gian: “… Một thời để ăn chay, một thời để vui chơi, một thời để phán xét, một thời để cứu rỗi…”

Mười một chương đầu của sách Sáng Thế tường thuật tuổi đời rất dài của các tổ phụ, như: Ađam 930 tuổi (St 5,5), Mơthusêlac 969 tuổi, Nôê 950 tuổi (St 9,29)… Điều này cho ta những thắc mắc:

Có phải người xưa sống thọ hơn ngày nay?

Người xưa đã biết tính tuổi (365 ngày) như ngày nay?

Làm thế nào các tác giả Thánh Kinh biết được tuổi những người sống trước họ hàng trăm thế kỷ?

Thiết nghĩ, Thiên Chúa không mặc khải những điều như thế, nhưng các tác giả chép thánh Kinh đã định tuổi của họ với những dụng ý sau:

– Cố gắng bắc nhịp cầu nối liền giữa thời đại đương thời của tác giả với các tổ phụ thời đại xa xưa, để nói lên tính liên tục của lịch sử và chứng tỏ Thiên Chúa là chủ lịch sử và hiện diện hoạt động trong mọi thời đại. Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất cho các tác giả là sử liệu truyền khẩu về các vĩ nhân và các biến cố không nhiều trong khoảng thời gian lịch sử rất dài, nên các vị đã phải phân phối tuổi tác các vĩ nhân làm sao cho bao trùm hết được khoảng thời gian lịch sử ấy. Dĩ nhiên, các tác giả Thánh Kinh cũng không biết rõ lịch sử nhân loại bắt đầu từ bao giờ và các vị cũng chỉ dùng quan niệm bình dân của thời đại các vị để chép mà thôi.

– Quan niệm người xưa cho rằng sống lâu là một ân huệ Chúa ban. Vì thế, việc gán cho các tổ phụ có tuổi đời trường thọ, ngụ ý cho thấy rằng các tổ phụ kia đã sống cuộc sống đầy ân nghĩa với Thiên Chúa.

Tóm lại: Tuy các tác giả Thánh Kinh thực sự không biết chắc về tuổi thọ của các tổ phụ, nhưng việc gán cho các tổ phụ có tuổi đời rất lớn là nhằm cho thấy dù các vị sống từ thời xa xưa vẫn thuộc gia đình nhân loại, và Thiên Chúa của chúng ta hôm nay cũng là Thiên Chúa của các tổ phụ xưa. Thiên Chúa duy nhất.

6. Ngày tháng trong Thánh Kinh.

Người Do Thái tính năm tháng theo hai loại lịch khác nhau:

: Tính theo dương lịch, nghĩa là mỗi năm có 365 ngày.

: Tính theo âm lịch, nghĩa là tính theo chu kỳ mặt trăng xoay quanh trái đất một vòng gồm 29 ngày. Như thế, 12 tháng trong 1 năm chỉ có 348 ngày. Vì sự chênh lệch của năm âm lịch và dương lịch, nên cứ hai hoặc ba năm lại phải thêm một tháng nhuận. Cách thêm tháng nhuận do các tiến sĩ luật họp và nghiên cứu thêm vào sau tháng cuối cùng (Adar thứ hai).

Trước khi về định cư tại Canaan, người Do Thái dùng tên tháng của người Canaal, nhưng sau lưu đày, họ dùng tên tháng của Babilon như sau:

1. Nisan (khoảng tháng 3 và 4).

2. Iyyar (khoảng 4 và 5).

3. Siwan (khoảng 5 và 6).

4. Tammuz (khoảng 6 và 7).

5. Ab (khoảng 7 và 8).

6. Alul (khoảng 8 và 9).

7. Tiishri (khoảng 9 và 10).

8. Marsheshwan (khoảng 10 và 11).

9. Kisleu (khoảng 11 và 12).

10. Tebet (khoảng tháng 12 và tháng giêng).

11. Shebat (khoảng tháng giêng và 2).

12. Adar (khoảng 2 và 3).

Năm nhuận có thêm tháng Adar thứ hai.

: Ngày của người Do Thái được tính từ lúc mặt trời lặn. Vì thế, Đức Giêsu chịu chết vào ngày thứ sáu, Người ta phải cho tháo xác Người xuống trước khi mặt trời lặn để khỏi vi phạm ngày Sabát (x. Ga 19,31). Ngày được chia thành 12 giờ và đêm có 4 canh. 7 ngày một tuần, 4 tuần 1 tháng, ngày thứ 7 là sabat – ngày nghỉ.

7. Các ngày lễ.

Ba lễ hành hương

Các ngày lễ thánh (haggim), để kỷ niệm các mốc trong lịch sử Do Thái giáo, như việc thoát khỏi đất Ai Cập, sự mạc khải của Thiên Chúa trong sách Torah, hoặc đôi khi đánh dấu sự chuyển mùa hoặc lúc giao mùa giữa các chu kỳ trồng trọt. Có ba lễ chính, đó là Lễ Vượt qua, Lễ Ngũ Tuần và Lễ Lều tạm. Trong ba dịp lễ này, các tín hữu thường hành hương về Jerusalem để dâng sự hy sinh trong Đền Thánh.

Lễ Vượt qua là ngày lễ nghỉ kéo dài một tuần, bắt đầu vào chiều tối ngày thứ 14 của Nisan (tháng thứ nhất theo lịch Do Thái), để tưởng nhớ ngày thoát khỏi Ai Cập. Các nước khác ngoài Israel, Lễ Vượt qua được mừng trong tám ngày. Thời xưa, lễ này trùng vào mùa gặt lúa mạch. Đây là lễ duy nhất tập trung cho các nghi thức được thực hiện ngay tại nhà, đó là “Bữa tối lễ Vượt qua”. Thực phẩm có men (chametz) được mang ra khỏi nhà trước ngày lễ và suốt tuần sẽ không dùng thực phẩm có men. Nhà cửa được dọn dẹp sạch sẽ để bảo đảm không còn bánh mì trong nhà và vào buổi sáng của ngày lễ, người ta sẽ đốt tượng trưng chiếc bánh có men cuối cùng trong nhà. Bánh không men (Matzo) sẽ được dùng thay cho bánh mì.

Lễ Ngũ Tuần (Shavuot) kỷ niệm sự mạc khải của sách Torah cho Con cái Israel trên núi Sinai. Đây còn được gọi là Lễ Bikurim, (Hoa quả đầu mùa), lễ này trùng với mùa thu hoạch lúa mì. Trong ngày lễ Shavuot, người ta tổ chức học suốt đêm (Tikkun Leil Shavuot), ăn thực phẩm làm từ sữa (bánh phô-mai và bánh kếp mỏng được đặc biệt yêu thích), đọc Sách Ruth, trang trí nhà cửa và đền thờ thành màu xanh lá cây, mặc quần áo trắng, tượng trung cho sự thanh khiết.

Lễ Lều tạm (Sukkot) tưởng nhớ Con cái Israel phải mất 40 năm đi qua sa mạc để trở về miền Đất Hứa. Lễ này kỷ niệm việc dựng các lều tạm (sukkot) khi dân Israel lưu đày trên đất Ai Cập. Lễ này trùng với mùa thu hoạch hoa quả và đánh dấu sự kết thúc một chu kỳ trồng cấy. Người Do Thái khắp nơi trên thế giới ăn ở trong sukkot trong 7 ngày 7 đêm. Lễ Lều tạm kết thúc bằng lễ Shemini Atzeret (lễ người Do Thái cầu mưa) và lễ Simchat Torah, là lễ đánh dấu sự kết thúc của sách Torah và bắt đầu một chu kỳ sách mới.

Lễ trọng

Lễ trọng (Yamim Noraim) là các lễ về sự phán xét và tha thứ.

Rosh Hashanah, (còn gọi là Yom Ha-Zikkaron (“Ngày tưởng niệm,”) và Yom Teruah (“Ngày tiếng kèn Shofar”). Rosh Hashanah là lễ Năm mới của Do Thái giáo, mặc dù nó là ngày thứ nhất của tháng thứ 7 Tishri, theo lịch Do Thái. Rosh Hashanah đánh dấu bắt đầu thời gian 10 ngày để đền bù tội lỗi chuẩn bị cho lễ Yom Kippur, trong thời gian này, người Do Thái sửa soạn tâm hồn, sám hối và làm việc đền bù tội lỗi đã phạm một cách vô tình hay cố ý trong suốt năm qua. Trong ngày lễ này, người ta thổi kèn shofar (kèn sừng cừu), trong đền thờ, người ta ăn táo và uống mật ong, đọc các lời chúc lành trên thực phẩm tượng trưng như quả lựu chẳng hạn.

Yom Kippur, (“Ngày đền tội”) là một trong những lễ trọng của Do Thái giáo. Đó là ngày cộng đoàn tụ họp lại và cầu nguyện xin tha thứ tội lỗi đã phạm. Các tín hữu cầu nguyện suốt ngày trong đền thờ, đọc kinh từ sách Mahzor, thỉnh thoảng có nghỉ một tí vào buổi chiều. Vào đêm lễ Yom Kippur, trước khi thắp nến, người ta ăn nhẹ (suhoor). Nghi thức trong các đền thờ vào đêm lễ Yom Kippur bắt đầu với lời kinh Kol Nidre. Vào dịp lễ này có thể mặc quần áo trắng nhưng không được mang giày da. Ngày tiếp theo, người ta cầu nguyện từ sáng đến tối. Khi buổi cầu nguyện kết thúc (“Ne’ilah,”) người ta thổi một hồi dài kèn shofar.

Các ngày lễ khác

(tiếng Hebrew : çð ), còn gọi là Lễ hội Ánh sáng, là lễ kéo dài tám ngày bắt đầu từ ngày thứ 25 của tháng Kislev theo lịch Do Thái. Trong dịp lễ này, người Do Thái sẽ thắp thêm một ngọn đèn theo số tăng dần của mỗi đêm lễ, đêm thứ nhất thắp một ngọn đèn, đêm thứ hai thắp hai ngọn đèn…cho đến đêm cuối cùng là tám ngọn đèn.

Lễ Hanukkah có nghĩa là “dâng hiến” vì nó đánh dấu việc tái dâng hiến Đền thờ sau khi đền thờ bị Đức vua Antiochus IV Epiphanes báng bổ. Trong đức tin, Hanukkah nhằm tưởng nhớ “Dầu kỳ diệu”. Theo sách Talmud, khi tái dâng hiến Đền thờ Jerusalem sau chiến thắng của phong trào Macabê đối với Đế chế Seleucid, chỉ còn đủ dầu thánh để đốt lửa vĩnh cửu trong Đền thờ trong một ngày. Kỳ diệu thay, lửa đã cháy trong tám ngày – đó là thời gian đủ để ép, chuẩn bị và thánh hoá dầu mới.

Hanukkah không được đề cập đến trong Phúc âm và cũng chưa bao giờ được xem là lễ chính của Do Thái giáo nhưng lễ này đã được mừng rộng rãi ở nhiều nơi, chủ yếu là do lễ cũng trùng vào dịp Lễ Giáng sinh.

(tiếng Hebre w: ơí Prỵm) là lễ mừng, tưởng nhớ việc giải thoát dân Do Thái gốc Iran (Persian Jews) khỏi bị truy sát của Haman, người đã tìm để tiêu diệt họ, theo như Sách Esther đã ghi chép. Trong ngày lễ này, người ta đọc Sách Esther ở nơi công cộng, trao tặng nhau thực phẩm và thức uống, làm việc từ thiện cho người nghèo, và ăn mừng (Esther 9:22). Các tập tục khác bao gồm uống rượu, ăn bánh “hamantash”, mang mặt nạ, tổ chức diễu hành (carnival) và tiệc mừng.

Purim được kỷ niệm hàng năm vào ngày thứ 14 của tháng Adar theo lịch Do Thái, tương đương với tháng hai hoặc tháng ba của dương lịch.

8. Ý nghĩa các con số trong Thánh Kinh.

Trong Thánh Kinh thường sử dụng những con số có tính tượng trưng, cách riêng thể văn khải huyền hay dùng các con số ám chỉ một thực tại nào đó, như:

– Số 7 ám chỉ sự hoàn hảo.

– Số 6 ám chỉ sự bất toàn.

– Số 12 ám chỉ dân Israel.

– Số 40 ám chỉ sự đầy đủ.

– Số 1000 ám chỉ tính bao la rộng lớn.

Ví dụ: “Samson vớ được cái hàm lừa tươi và dùng nó đánh chết một ngàn người Philitinh” (Tl 15,15). “Có một trăm bốn mươi bốn ngàn người được đóng ấn” (Kh 7,4)…

Thực ra các tác giả chép Thánh Kinh không chủ tâm cung cấp cho độc giả những con số chính xác, nhưng nhằm cho thấy về tầm mức quan trọng của vấn đề được nói tới mà thôi.

Chương III. CHÚ GIẢI THÁNH KINH.

1. Định nghĩa.

Chú giải Thánh Kinh là tìm hiểu ý nghĩa để rồi áp dụng vào cuộc sống. Đây là việc thường ngày của những ai muốn đọc Lời Chúa. Việc chú giải có nhiều trình độ khác nhau:

– Chú giải một cách khoa học như các nhà chuyên môn về Thánh Kinh.

– Khám phá những ý nghĩa thiêng liêng sâu sắc như các Giáo Phụ.

– Rút ra những bài học đơn sơ cho cuộc sống thường ngày.

Riêng khoa chú giải Thánh Kinh Công Giáo là khoa nhằm giải thích và chuyển đạt Lời Chúa cách trung thành và trọn vẹn, đặt dưới quyền giáo huấn của Giáo Hội.

Trong Cựu Ước có phong trào Midrash chuyên việc chú giải Cựu Ước; trong Tân Ước, Chúa Giêsu và các Tông Đồ trưng dẫn Cựu Ước và đã đem áp dụng vào thực tế. Đến thời các giáo phụ có hai trường phái với hai đường hướng rõ rệt: trường phái Alexandria với thánh Clément d’Alexandria và Origène thiên về nghĩa bóng, còn trường phái Antiochia thiên về nghĩa của từ. Hai trường phái này ảnh hưởng rất lớn trên các giáo phụ, như thánh Augustino theo lối chú giải của trường phái Alexandria, còn thánh Hieronymo lại thiên về trường phái Antiochia.

Sở dĩ ngày nay chúng ta đón nhận Thánh Kinh là vì chúng ta dựa trên quan điểm của Giáo Hội. Ngay từ đầu, Giáo Hội có lòng tin tưởng và quý mến đặc biệt đối với Thánh Kinh. Trước hết, các Tông Đồ kêu mời mọi Kitô hữu hãy đến kín múc từ Thánh Kinh những chân lý và sức sống. Thánh Phaolô viết cho Timôthê: “Từ thời thơ ấu, anh đã biết Sách Thánh, sách có thể dạy anh nên người khôn ngoan để được ơn cứu độ, nhờ lòng tin vào Đức Ki-tô Giê-su. Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính” (2Tm 3, 15-16). Thánh Phêrô cũng đồng một xác tín: “”Chúng tôi tin tưởng vào lời các ngôn sứ. Anh em chú tâm vào đó là phải, vì lời ấy như chiếc đèn tỏ rạng giữa chốn tối tăm, cho đến khi ngày bừng sáng và sao mai mọc lên soi chiếu tâm hồn anh em. Nhất là anh em phải biết điều này: không ai được tự tiện giải thích một lời ngôn sứ nào trong Sách Thánh. Quả vậy, lời ngôn sứ không bao giờ lại do ý muốn người phàm, nhưng chính nhờ Thánh Thần thúc đẩy mà có những người đã nói theo lệnh của Thiên Chúa” (2Pr 1, 19-21).

Công đồng Vaticano II, quyền tối cao trong Giáo Hội hôm nay, đã tuyên bố: “Giáo Hội luôn tôn kính Thánh Kinh như Thân Thể Chúa… Cùng với Thánh Truyền, Thánh Kinh đã và đang được Giáo Hội xem như Qui Luật Tối Cao hướng dẫn đức tin, được Thiên Chúa linh hứng và được ghi chép một lần cho muôn đời” (DV 21). Lòng tin tưởng của Giáo Hội nơi Thánh Kinh không ngoài thánh ý của Chúa Kitô. Người đã từng quả quyết: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn” (Mt 5,17). Quả thật, Chúa Kitô từng trích dẫn Cựu Ước để dạy dỗ và phi bác những ý kiến sai lạc của cấp lãnh đạo đương thời.

Khoa chú giải cần xem xét: đâu là mối quan hệ giữa một bên là các vấn đề chú giải có tính lịch sử và phê bình đối với các sách khác nhau, và bên kia là ý nghĩa của Thánh Kinh Do Thái đối với đức tin thời hiện đại? Đây không hề là một câu hỏi dễ dàng, vì chỉ cần nghĩ thêm một chút, chúng ta có thể nhận ra rằng việc nghiên cứu bản văn có thể không dính líu gì đến một thái độ dấn thân hay một định hướng đặc biệt nào về tôn giáo cả. Tuy nhiên, từ một quan điểm đức tin, ta sẽ thấy chính những phương pháp này có thể hữu ích cho việc xây dựng thần học hiện đại. Khả năng giải quyết những câu hỏi gay go được nêu lên bởi khoa phân tích phê bình là một dấu cho thấy một niềm tin trưởng thành vào Thiên Chúa, ngay cả dù nó có nghĩa rằng mình phải sống với những câu hỏi còn bỏ ngỏ hay những vấn đề phức tạp. Chẳng hạn, không nhất thiết phải tin vào một con người lịch sử có tên là Abraham để có được một đức tin sâu xa và vững vàng rằng Thiên Chúa không ngừng truyền đạt cho chúng ta qua các câu chuyện về Abraham. Đó là lý do tại sao việc nghiên cứu bản văn vẫn là việc rất quan trọng.

Một thần học đích thực Kitô giáo không thể được xây dựng tách rời khỏi việc lắng nghe kỹ lưỡng những bản văn này. Thánh Kinh Do Thái vẫn là nguồn chủ yếu cho đức tin của con người hiện đại, và các Kitô hữu hiện đại có thể bắt đầu xây dựng thần học của riêng mình bằng cách nghiêm túc tham chiếu đến vị Thiên Chúa đã giải phóng các nô lệ, lật đổ các vua chúa, ngỏ lời qua các ngôn sứ, và hành động trong lịch sử.

Chú giải Thánh Kinh nghiên cứu dựa theo ba lãnh vực:

– Khảo sát bản văn.

– Tìm hiểu ý nghĩa của bản văn.

– Những phương tiện giúp hiểu Thánh Kinh.

2. Khảo sát bản văn.

Khảo sát bản văn là xác định đâu là bản văn chính thức. Lý do của công việc này là vì hầu hết các thủ bản nguyên thuỷ đã mất và chỉ còn các sao lục, mà các sao lục thì được chép bằng tay nên không thể tránh khỏi những thiếu sót sai lầm, như chép sót, bỏ bớt, chép lặp, hoặc khó hiểu thì tự ý sửa lại hay bổ sung thêm hoặc thêm phần giải thích vào. Chính vì vậy mà nhiệm vụ đầu tiên của các nhà chú giải là phải làm sao để thiết lập lại một bản văn gần giống với bản nguyên thuỷ nhất. Đây là một công việc rất khó khăn, vì có quá nhiều bản sao lục, chẳng hạn chỉ riêng Tân Ước có tới khoảng 5 ngàn bản Hi Lạp, 8 ngàn bản La-tinh và khoảng 1 ngàn bản bằng các ngôn ngữ khác. Các nhà chú giải đã xác lập bản văn gần giống thủ bản nhất theo cách sau:

a, Tìm số nhiều các bản giống nhau nhất (có khác biệt ít nhất giữa các bản văn với nhau trong số các bản văn).

b, Gặp chỗ khác biệt thì so sánh:

– So sánh tất cả các bản với nhau.

– So sánh với Thánh Truyền.

– So sánh với những tài liệu các Giáo Phụ.

– Dùng những nguyên tắc phê bình văn chương.

3. Các hình thức văn chương.

Dụ ngôn (Parable) là một câu chuyện giả tạo nhưng có thể xảy ra trong thực tế.

Người ta dùng dụ ngôn để chuyển đạt ý niệm về một thực tại cao siêu xuyên qua việc so sánh với một thực tại thường nhật.

Ví dụ: Đức Giêsu nói: “Nước Trời giống như một kho báu chôn trong thửa ruộng…”

Câu này gồm 3 yếu tố:

1. Hình ảnh quen thuộc thường nhật: Kho tàng chôn trong thửa ruộng.

2. Thực tại siêu hình: Nước Trời.

3. So sánh giữa hai thực tại trên với nhau.

Nhờ sự so sánh này mà người ta có ý niệm về thực tại siêu nhiên chưa thấy được.

Tuy nhiên, khi giải nghĩa dụ ngôn không nên quá chú tâm đến từng chi tiết tỷ mỷ và xem các chi tiết đều có ý nghĩa, nhưng chỉ cần nhìn vào những điều dụ ngôn muốn ám chỉ là đủ.

Ngụ ngôn (Fable) là câu chuyện giả tạo không thể xảy ra trong thực tế, vì gán cho các sinh vật, thực vật, sông nước… những đặc điểm của con người, nhằm diễn tả một sự việc của con người mà tác giả kể ngụ ngôn nhắm tới. Ngụ ngôn chứa đựng những bài học luân lý được diễn tả qua các chi tiết của câu chuyện.

Thánh Kinh có sử dụng hình thức văn chương này, nhưng không nhiều.

Ví dụ: “…Bụi gai trả lời cây cối: “Nếu quả thật các ngươi xức dầu phong ta làm vua cai trị các ngươi, thì hãy tới nương náu dưới bóng ta; bằng không, lửa sẽ bốc ra từ bụi gai và sẽ thiêu rụi các cây bá hương Li-băng…” (Tl 9,8-15).

Tân Ước không sử dụng hình thức văn chương ngụ ngôn.

Phép ám tỷ (Metaphor) là một kiểu nói bóng bảy, dùng một từ hay một câu nếu hiểu theo nghĩa đen thì ám chỉ điều này, nhưng qua đó lại ám chỉ về điều khác, nhờ có sự tương đồng nào đó giữa hai sự vật.

Ví dụ ví Chúa Giêsu là Chiên Con (hiền lành, hy tế), Phêrô là Đá (vững chắc), Hêrôđê là Con Cáo (bù nhìn, lén lút trong đêm tối)…

Đặc điểm của phép ám tỷ là nói lên một thực tại vừa không thực lại vừa thực. Ví dụ: “Thầy là cây nho, anh em là cành nho” (Ga 15,5). Không thực là Chúa Giêsu và các môn đệ không phải là cây nho cành nho thật, nhưng điều thực là Chúa Giêsu là nguồn sự sống thần linh cho những ai kết hợp với Người.

Ẩn dụ (Allegory) là câu chuyện không có thực, được dựng lên với mục đích diễn tả một chân lý nào đó cách thi vị và gần gũi. Chẳng hạn truyện Nguyên Tổ ăn trái cấm “giữa vườn” và bị phạt nặng. Truyện này nhằm mục đích nói lên ngay từ đầu con người đã vi phạm lệnh Chúa và lãnh lấy hậu quả của sự bất tuân, chứ không phải có chuyện chỉ ăn một trái cây mà bị phạt nặng đến thế.

Cường điệu (Hyberbole) là kiểu nói phóng đại quá với sự thật nhằm muốn nhấn mạnh điều muốn nói. Chẳng hạn khi nói: Đánh chết nó đi, có nghĩa là không phải đánh chết mà là ngụ ý đánh cho thật đau.

Ví dụ khi nói về tầm mức lan rộng của giáo lý Đức Giêsu, Gioan viết: “Còn nhiều điều khác Đức Giêsu đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế gian cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra” (x. Ga 21,25).

Mỹ từ (Euchanism) là kiểu nói dùng các từ thanh lịch để nói tránh một sự việc tế nhị hoặc khó nói, hay không muốn nói thẳng ra.

Ví dụ: thay vì nói “chết” người ta dùng từ “an nghỉ” hoặc “ngủ”…

4. Ý nghĩa Thánh Kinh.

Thánh Kinh có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau, nên cần tìm hiểu các loại nghĩa được sử dụng trong Thánh Kinh mới có thể hiểu được tư tưởng chính của tác giả muốn nhắm tới.

Đi tìm ý nghĩa của Kinh Thánh là một tiến trình qua nhiều nguyên tắc: Tìm ý nghĩa thực của từ ngữ mà tác giả nhắm tới, đặt chúng vào trong sự liên tục của bản văn và tìm chủ đích của cả tác phẩm muốn nói với mục đích gì?

Nguyên tắc 1: Tìm ý nghĩa thực mà tác giả nhắm tới. ví dụ: Khi nói “Nhớ chết đi được” có nghĩa là rất nhớ.

Nguyên tắc 2: Đặt vào mạch văn nếu không sẽ làm cho nội dung bị méo mó hoặc sai lệch. Ví dụ: “Hãy sám hối”. Nếu tách câu này ra thì giáo lý Chúa Giêsu cũng chỉ dừng lại ở mức Cựu Ước như các ngôn sứ, Gioan Tẩy Giả và ngay cả Đức Phật cũng nói thế. Nhưng đặt vào mạch văn: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” thì mới nói lên được nội dung đầy đủ của giáo lý Chúa Giêsu.

Nguyên tắc 3: Xét chủ đích của tác giả trong mỗi tác phẩm. Chẳng hạn mỗi Tin Mừng mang một sắc thái riêng: Matthêu viết cho Kitô hữu gốc Gio Thái thì cố gắng làm cho họ hiểu những gì tiên báo trong Cựu ước đã ứng nghiệm…

Mỗi từ ngữ đều ám chỉ một thực tại nào đó, nghĩa là mỗi từ ngữ đều mang ý nghĩa và có thể hiểu theo hai cách:

– Nghĩa đen: Là điều mà từ ấy nói đến trực tiếp. Ví dụ khi nói “con cáo” tức là người ta nghĩ ngay đến loài động vật rình rập vào ban đêm và được người ta gọi là con cáo…

– Nghĩa bóng: Là ý nghĩa của từ ngữ nói về sự vật này nhưng lại ám chỉ một sự vật khác cách bóng bảy. Như khi Đức Giêsu nói: “Hãy đi nói với con cáo ấy thế này…”. Con cáo được nói ở đây ám chỉ vua Hêrôđê.

Là ý nghĩa rút ra từ một thực tại trong Cựu Ước, rồi áp dụng vào Tân Ước. Vì Tân Ước thực hiện và hoàn tất những hình bóng Cựu Ước, nên chỉ những thực tại được đề cập trong Tân Ước mới có mối tương quan ý nghĩa biểu tượng mà thôi.

Hai thực tại trong nghĩa biểu tượng, có thể là nhân vật, sự vật, biến cố:

Nhân vật: Melkiseđe là hình bóng Chúa Giêsu linh mục thượng phẩm…

Sự vật: Manna là hình bóng Thánh Thể…

Biến cố (hành động): Vượt qua Biển Đỏ là hình bóng Bí Tích Rửa Tội…

Nghĩa hoàn hảo hay đầy đủ là ý nghĩa rút ra từ một từ ngữ được ám chỉ về thực tại này, nhưng lại được áp dụng cho một thực tại khác.

Ví dụ: “Các ngươi không được làm gãy một cái xương nào của nó”(Xh 12,46) Câu này được dùng cho con chiên vượt qua, nhưng lại áp dụng cho thực tại là Đức Giêsu không bị đánh giập ống chân (x. Ga 19,36).

Nghĩa hoàn hảo khác với nghĩa biểu tượng ở chỗ, nghĩa biểu tương là rút từ thực tại này áp dụng vào thực tại khác, trong khi nghĩa hoàn hảo là cùng một từ ngữ được áp dụng cho trường hợp này để áp dụng cho trường hợp khác.

Đôi khi trong một vài trường hợp một câu vừa có nghĩa biểu tượng, vừa có nghĩa hoàn hảo. Ví dụ: “Như Môisê treo con rắn đồng trong sa mạc thế nào, thì Con Người cũng bị treo lên như vậy”. Nghĩa biểu tượng là hình ảnh con rắn đồng với Đức Giêsu, nhưng sự “treo lên” (nghĩa hoàn hảo) mới diễn tả hết sự Cứu Độ của Đức Giêsu.

Là ý nghĩa được căn cứ vào nghĩa đen của một chữ, một câu hay một đoạn Kinh Thánh, rồi suy rộng ra và áp dụng vào nhiều lãnh vực khác nhau. Nghĩa này thường được các nhà giảng thuyết, nhất là các nhà đạo đức sử dụng nhiều. Tuy Giáo Hội không cấm, nhưng không thật sự khuyến khích.

6. Phương pháp nghiên cứu lịch sử.

Vì mặc khải xảy ra trong lịch sử, cho nên muốn hiểu Thánh Kinh, chúng ta cần “tìm ý nghĩa mà … các thánh sử muốn diễn tả và thực sự đã diễn tả trong thời đại và hoàn cảnh văn hóa của họ, qua những lối văn được dùng trong thời đó” (Dei Verbum 11). Để giúp đạt được mục đích này, Giáo Hội khuyến khích chúng ta dùng phương pháp Phân Tích (Phê Bình) Lịch Sử, vì phương pháp này nghiên cứu các văn bản Thánh Kinh như các tài liệu lịch sử và tìm cách hiểu bản văn trong phạm vi lịch sử. Tuy nhiên phương pháp này không phải là phương pháp duy nhất, cần phải được sử dụng một cách cẩn trọng theo truyền thống Đức Tin của Giáo Hội.

a, Đại cương về phương pháp phân tích lịch sử

Trong phương pháp Phân Tích Lịch Sử, ý nghĩa của bản văn được tìm thấy trong cái thế giới lịch sử và văn hóa mà trong đó bản văn được phát sinh, các nhân vật và biến cố trong lịch sử mà từ đó bản văn chính được tạo ra, cũng như các truyền thống được truyền khẩu hoặc được viết thành văn có trước khi bản văn cuối cùng được thành hình.

Phương pháp này tìm cách xác định ý nghĩa nguyên thủy của bản văn qua việc tái tạo: (1) Khung cảnh nguyên thủy. (2) Môi trường lịch sử và văn hóa đầu tiên mà trong đó bản văn được sáng tác. (3) Những nguồn tài liệu, hoặc truyền khẩu hoặc được ghi chép, dùng để viết bản văn. (4) Các hoàn cảnh lịch sử và văn hóa dẫn đến việc viết bản văn. (5) Các niềm tin về thần học cũng như văn hóa của các tác giả và độc giả đầu tiên của bản văn. (6) Chủ ý của các tác giả đầu tiên.

Thực ra, có nhiều cách thế khác nhau trong việc nghiên cứu Thánh Kinh theo Phân Tích Lịch sử. Phương pháp phân tích văn thể được dùng để khám phá ra các truyền thống khẩu truyền đằng sau bản văn. Phương pháp phân tích nguồn văn để tìm ra các văn bản được sát nhập vào bản văn Thánh Kinh. Phương pháp phân tích biên tập chú ý đến vai trò của soạn giả hay người viết cuối cùng là người gom góp các tài liệu hoặc truyền khẩu hoặc đã được viết xuống thành bản văn Thánh Kinh. Phương pháp phân tích văn tự chú ý đến lịch sử của việc lưu truyền bản văn sau khi bản chính đã được soạn thảo.

b, Sự cần thiết của phương pháp phân tích lịch sử

Đây là một phương pháp cần thiết để nghiên cứu Thánh Kinh vì các bản văn Thánh Kinh xuất hiện trong một hoàn cảnh lịch sử và văn hóa khác với hoàn cảnh của chúng ta. Hiến Chế Tín Lý Mặc Khải (Dei Verbum) của Công Đồng Vaticanô II khẳng định rằng “mặc khải xảy ra trong phạm vi lịch sử nhân loại.” Tài liệu về Giải Thích Thánh Kinh trong Giáo Hội của Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh viết: “Thánh Kinh, thực ra, không tự mình xuất hiện như một mặc khải trực tiếp các chân lý vĩnh cửu, nhưng như chứng từ viết về những lần can thiệp của Thiên Chúa mà trong đó Ngài đã tự tỏ mình ra trong lịch sử nhân loại. Bằng một cách thế khác hẳn với các giáo lý của các tôn giáo khác, sứ điệp Thánh Kinh có một chỗ đứng vững chắc trong lịch sử. Cho nên không thể hiểu các bản văn Thánh Kinh cách đúng đắn nếu không nghiên cứu hoàn cảnh lịch sử ảnh hưởng đến các bản văn này.”

Theo Giáo Hội thì Thiên Chúa đã chọn các tác giả Thánh Kinh, hoạt động trong họ và nhờ họ mà truyền đạt lời của Ngài. Ngài hoàn toàn sử dụng năng lực và khả năng của họ để họ viết như những tác giả thật sự (x. Dei Verbum 11-12). Đức Thánh Cha Piô XII viết trong Divino Afflante Spiritu rằng các tác giả được linh hứng của Thánh Kinh là dụng cụ sống động và hợp lý của Chúa Thánh Thần. Họ đem cá tính của mình vào các bản văn Thánh. Các phương pháp Phân Tích Lịch Sử có thể được dùng để hiểu rõ hơn về các tác giả nhân loại mà Thiên Chúa đã dùng để thông tri Lời Ngài.

Nhờ phương pháp Phân Tích Lịch sử chúng ta có thể hiểu chính xác hơn nghĩa văn tự của các bản văn Thánh Kinh.

c, Giới hạn của phương pháp phân tích lịch sử

Từ ngày Giáo Hội cho phép và khuyến khích dùng phương pháp Phân Tích Lịch Sử trong việc nghiên cứu Thánh Kinh. Nhiều học giả đã cố gắng dùng phương pháp này để chứng minh mọi biến cố trong Thánh Kinh. Từ đó đưa đến việc lạm dụng phương pháp này. Trước hết, phương pháp này thường có khuynh hướng nghiên cứu tiền sử của các bản văn Thánh Kinh mà không tìm hiểu ý nghĩa của toàn thể bản văn. Thứ đến, thay vì tìm hiểu ý nghĩa của lịch sử được tái tạo đằng sau bản văn như các nhà phân tích lịch sử làm, một số người cho rằng phải chú tâm nhiều hơn đến những tường thuật trong bản văn Thánh Kinh. Một số các nhà chú giải dựa vào thuyết duy lý hoặc thuyết tự nhiên để tìm những cách giải thích về các phép lạ xảy ra trong Thánh Kinh theo lịch sử. Vì không tin vào phép lạ hay quyền năng biết trước lịch sử của Chúa, nhiều người đã thay thế những câu truyện được kể trong Thánh Kinh với lịch sử được họ tái tạo dựa theo các tiêu chuẩn lịch sử hiện đại, hoặc loại bỏ những truyền thống lâu đời mà họ cho rằng không phù hợp với khoa học. Thí dụ như nhiều người cho rằng việc Đức Chúa Giêsu được sinh ra bởi Mẹ Đống Trinh là huyền thoại; Tin Mừng Thánh Luca phải đuợc viết sau năm 70 vì trong đó có những đoạn văn nói quá rõ về việc Thành bị phá hủy…. Do đó người đọc Thánh Kinh chỉ còn lại một số dữ kiện tối thiểu có thể được xác nhận cách chắc chắn trong lịch sử, mà mất đi các ý nghĩa phong phú đa dạng được tìm thấy trong chính những câu truyện được diễn tả trong Thánh Kinh.

Nghiên cứu Thánh Kinh theo phương pháp Phân Tích Lịch Sử thường không vượt qua giai đoạn tìm hiểu xem bản văn có ý nghĩa gì trong vị trí lịch sử nguyên thủy, để đi đến việc tìm hiểu xem bản văn muốn nói gì với chúng ta hôm nay. Vì thế Chú giải Thánh Kinh sẽ không trọn vẹn nếu chỉ phân tích lịch sử. Đức Thánh Cha Phaolô VI, ngày 14 tháng 3, 1974, đã kêu gọi các học giả phải giải thích Thánh Kinh theo giáo huấn Giáo Hội: “Công việc của anh em không phải chỉ giải thích các bản văn cổ để trở lại hình thái sơ khởi của một số bản văn Thánh Kinh. Nhiệm vụ chính yếu của một nhà chú giải Thánh Kinh là trình bày sứ điệp mặc khải cho Dân Thiên Chúa; phơi bày chính ý nghĩa của Lời Chúa ngay trong những Lời ấy trong mối liên hệ với con người hiện đại.”

Gần đây hơn nữa một số học giả bị lôi cuốn bởi các sách ngoài quy điển và một số truyền khẩu được tái tạo mà cho rằng chúng diễn tả sự bình đẳng của sứ điệp của Chúa Giêsu đúng hơn là sách Tân Ước, vì chúng không bị áp đặt bởi một Giáo Hội chuyên chế. Ngược lại phương thức của Công Giáo là nhấn mạnh sự liên tục và phát triển của của các truyền thống Thánh Kinh từ truyền khẩu và các bài viết về thời tiền sử, đến việc biên soạn cuối cùng và sát nhập vào quy điển, cùng việc liên tục sử dụng và giải thích Thánh Kinh trong đời sống Giáo Hội cho đến hiện nay.

Đôi khi phương pháp này mạo nhận là có tính cách khoa học khách quan cùng địa vị đặc quyền của mình. Trên thực tế, phương pháp Lịch Sử đã đưa ra những tiếp cận cùng những ước đoán khác nhau, đôi khi còn trái ngược nhau. Còn Giáo Hội tuy xác nhận sự cần thiết của việc nghiên cứu bản văn theo phương pháp Phân Tích Lịch Sử, nhưng không cho nó là phương pháo độc nhất được dùng để hiểu bản văn Thánh Kinh. Thượng Hội Đồng Giám Mục về Lời Chúa vừa qua đã đưa ra hai hậu quả đáng tiếc của việc lạm dụng phương pháp Phân Tích Lịch sử là: (1) “Đối với những độc giả hiện nay, Thánh Kinh trở thành một cuốn sách hoàn toàn trong quá khứ, không có khả năng nói với thời đại chúng ta”; (2) “Hậu quả thứ hai trầm trọng hơn, là sự mất dạng của việc chú giải theo Đức Tin mà ‘Dei Verbum’ vạch ra. Thay vì chú giải theo niềm tin, thì lại lọt vào đó một viêc chú giải theo thực chứng và thế tục chối bỏ cả việc Thiên Chúa có thể hiện diện và lui tới trong lịch sử nhân loại”

Chính vì những lý do trên mà chúng ta nên đọc các sách chú giải Thánh Kinh theo phương pháp Phân Tích Lịch Sử cách thận trọng, ý thức rằng phương pháp này có thể bị bóp méo bởi những thiên lệch duy lý và chủ quan. Khi giải thích Thánh Kinh, điều chắc chắn nhất là luôn luôn tuyệt đối trung thành với giáo huấn của Huấn Quyền. ĐTC Bênêđictô XVI nhắn nhủ chúng ta trước Kinh Truyền Tin ngay sau Thánh Lễ bế mạc Thượng Hội Đồng Giám Mục ngày 26 tháng 10 năm 2009 rằng: “Một bài chú giải Thánh Kinh hay cần có cả phương pháp Phân Tích Lịch Sử lẫn phương pháp Thần học, bởi vì Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa trong các chữ của loài người. Điều này có nghĩa là mọi đoạn văn phải được đọc trong khi luôn để tâm đến tính duy nhất của tất cả Thánh Kinh, truyền thống sống động của Giáo Hội và ánh sáng Đức Tin. Thánh Kinh đúng là một tác phẩm văn chương, và hơn nữa, là một bộ luật của nền văn hóa phổ quát, nhưng không được cướp mất yếu tố Thiên Chúa của Thánh Kinh, mà trái lại, phải được đọc trong cùng một Chúa Thánh Thần là Đấng viết Thánh Kinh.”

7. Vai trò của Giáo Hội.

Dù thời nay có nhiều phương tiện giúp giải thích Thánh Kinh, nhưng vẫn còn rất nhiều câu và nhiều đoạn Thánh Kinh chưa rõ nghĩa, hoặc còn hàm ẩn nhiều nghĩa chưa được khai thác. Điều này là thao thức của các nhà chú giải Thánh Kinh. Tuy nhiên, quyền phán quyết cuối cùng vẫn phải luôn thuộc về Giáo Hội, vì đó là “tôn sư sống động” mà Chúa Kitô uỷ thác cho việc bảo tồn, truyền bá và giải thích Lời Chúa (x. Mt 28,18-20). Bởi vì: “Ai nghe anh em là nghe Thầy” (Lc 10,16).

1% Thánh Kinh được viết ra nhằm trình bày chương trình mặc khải của Thiên Chúa. Nhưng mặc khải là một thực tại duy nhấtliên tục mà chóp đỉnh là mầu nhiệm Đức Kitô. Do đó mầu nhiệm Đức Kitô là đối tượng duy nhất của Kinh Thánh. Khoa chú giải trước hết nhằm phô bày cách rõ ràng mầu nhiệm căn bản này.

2% Toàn bộ Thánh Kinh không được chép trong một lúc, nhưng theo nhịp tiến của thời gian. Vì thế, khi chú giải một bản văn Cựu Ước chẳng hạn, ta phải đối chiếu với mầu nhiệm Đức Kitô.

3% Khi tìm hiểu một đoạn văn nào của Thánh Kinh, ta phải đặt nó vào trong toàn bộ của cuốn sách.

4% Vì Thiên Chúa đã muốn dùng ngôn ngữ của nhân loại để diễn tả các mầu nhiệm, và vì ngôn từ nhân loại mang dấu vết của một nền văn minh văn hoá, một ý thức hệ, một khung cảnh xã hội… nên ta cần phải thấu hiểu ngôn ngữ mà tác giả đã dùng để chép.

5% Khi gặp một chữ khó hiểu ta cần nghiên cứu các ý nghĩa khác nhau: nghĩa bóng, nghĩa của từ, nghĩa hoàn hảo…

6% Khi gặp một kiểu nói khác lạ, ta cần tìm xem kiểu nói ấy thuộc loại thể văn nào (thi ca, lịch sử, giáo huấn, luật, ngôn sứ…).

7% Ý thức rằng, chỉ có Giáo Hội có bổn phận gìn giữ và có thẩm quyền phán quyết về việc chú giải Lời Chúa.

Chương IV. LƯỢC SỬ CÁC GIAI ĐOẠN THÁNH KINH. I. Niên biểu giản lược.

Thế kỷ – XVIII: Abraham, thời này có vương quốc Ai Cập và Babilon.

(kinh Véda 1500 – 1000).

Khoảng – 1250: Môsê và cuộc Xuất Hành.

K -1220: Giosuê: Israel vào Canaal.

K -1010 : Đavít, kinh đô Giêrusalem.

(Nhà Chu 1050 – 770).

K – 970: Salomon, đền thờ Giêrusalem.

K -930: Nam Bắc phân tranh.

K -880: Omri, Kinh đô Samari của Israel.

K -875: Akhab, xuất hiện ngôn sứ Elia và Elisa.

K -750: Giêrôbôam II, có các ngôn sứ Amos, Hôsê, Isaia, Mikha.

Các sách ngôn sứ Amos, Hôsê, Isaia (1-39), Mikha.

(Đời Xuân Thu 722 – 481).

K -721: Samaria lưu đày qua Assyri.

K -716: Khítkigia vua Giuđa.

K -630: Các sách ngôn sứ Sophonia, Giêrêmia.

K -622: Giosigiahu cải cách tôn giáo.

Các sách Giosuê, Thủ Lãnh, Samuel, Các Vua.

K -612: Ninivê bị phá huỷ.

(Lão Tử 605 – 520)

K -600: Sách ngôn sứ Habacuc.

K -587: Lưu đày Babilon.

Các sách ngôn sứ Êdêkiel, Isaia II (40-55).

(Đức Phật 563 – 483; Khổng Tử 551- 479).

K -539: Cyrus vua Batư, chiếm Babilon, ra sắc chỉ cho người Do Thái hồi hương.

K -515: Giơrúpbabel xây lại đền thờ Giêrusalem.

Các sách ngôn sứ Khácgai, Giacaria, Isaia III (56-66).

K -445: Nơkhemia.

K -420: Sách ngôn sứ Malakia

Các sách Gióp, Cách Ngôn, Diễm Ca, Rút, phần lớn Thánh Vịnh.

K -400: San định lần cuối bộ Ngũ Kinh.

(Chiến Quốc 400 – 256; Trang Tử 380 – 320; Mạnh Tử 372 – 289).

Các sách Sử Biên Niên, Étra, Nơkhemia.

K -333: Alexandro chiếm Tiểu Á, bành trướng văn hoá Hi Lạp, Giuđê dưới quyền Ai Cập.

Sách ngôn sứ Giacaria II (9-11).

Sau -300: Bản dịch LXX bắt đầu.

Các sách Giảng Viên, Étte.

(vạn lý trường thành).

(Thục An Dương Vương 257; nhà Tần 256; Triệu Đà 207; Lưu Bang lập nhà Hán 202).

K -198: Giuđê dưới quyền Syria.

K -170: Antiocus Etiphane cấm đạo Do Thái.

K -166: Dòng họ Macabê khởi nghĩa. Bắt đầu có bè Pharisiêu, Sađốc, Essenien.

(Nhà Hán đô hộ Nam Việt).

K -100: Các sách 2 Macabê, Giuđitha.

K -63: Tướng Pompê chiếm giêrusalem, Rôma đô hộ Giuđê.

K -37: Hêrôđê Cả.

K -4: Hêrôđê chết.

K năm 6: Giuđê là một tỉnh của Rôma. (kinh Phật vào Trung Quốc).

K năm 8: Phaolô sinh tại Tarsô.

(hết thời Tiền Hán).

K. 14-37 Tibèrius hoàng đế Rôma.

K. 26-36: Philatô tổng trấn Giuđê.

(nhà Hậu Hán. 22).

K. 27: Gioan Tẩy Giả rao giảng, khởi đầu sứ vụ Chúa Giêsu.

K. 30. Chúa Giêsu chịu đóng đinh (thứ 6, ngày 7 tháng 4).

K. 30. Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các tông đồ và môn đệ Đức Giêsu. Thánh Phêrô rao giảng ở Jerusalem. Khoảng 3.000 người trở lại xin rửa tội và họp thành cộng đoàn Kitô giáo đầu tiên.

36-37 (?). Thánh Stephanus, phó tế, bị ném đá chết tại Jerusalem. Ngài là vị tử đạo đầu tiên của Giáo Hội. Một phần cộng đoàn Giáo Hội tiên khởi phải phân tán đi khắp nơi. Sau đó ít lâu, thánh Phaolô trở lại. Ngài trước tên là Saul, từng bách hại Giáo Hội; sau khi trở lại, ngài nhập đoàn các tông đồ thực hiện 3 cuộc truyền giáo lớn khắp vùng Tiểu Á và được mệnh danh là tông đồ dân ngoại.

39. Cornelius và gia đình được thánh Phêrô rửa tội. Biến cố này nói lên sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội cho mọi dân tộc.

(40-43: Trưng Trắc – Trưng Nhị)

42. Vua Hêrôđê Agrippa bách hại Kitô hữu tại Palestine. Thánh Giacôbê Tiền là vị tông đồ đầu tiên tử đạo.

44. Thánh Phêrô bị tống ngục; nhiều tín hữu trốn đến Antioch xứ Syria. Chính nơi đây, những người tin theo Đức Kitô được gọi là Kitô hữu.

45-49. Hành trình truyền giáo đầu tiên của thánh Phaolô đến Antioch, Cyprus, Antioch xứ Pisidia, Listra…

48-49. Công đồng Chung đầu tiên ở Jerusalem không đòi buộc lương dân trở lại phải giữ luật Môsê.

49. Hoàng đế Claudius buộc người Do Thái phải rời khỏi Rôma, vì người Do Thái và Kitô hữu tranh chấp với nhau về Đức Kitô (sử gia Sueton).

K.50. Tin Mừng truyền miệng đầu tiên được biên soạn thành văn bản, đó là bản Tin Mừng theo thánh Matthêu bằng tiếng Aram, nhưng sau đó bị thất lạc. Thư của thánh Giacôbê có lẽ được viết vào dịp này.

50-52. Hành trình truyền giáo lần thứ 2 của Thánh Phaolô đi Listra, Phrygia, Galatia, Philippi ở Macedonia, Athens, Corinth.

51. Thánh Phaolô viết các thư gửi tín hữu Thessalonica (1&2).

53-58. Hành trình truyền giáo thứ 3 của Thánh Phaolô: Ephesus, Corinth, Galatia, Phrygia, Macedonia, Philippi, Jerusalem.

57: Thư gửi tín hữu Philíp, Côrintô 1&2, Galát, Rôma.

58-63. Thánh Phaolô bị bắt ở Caesarea, rồi được giải sang Rôma; ngài bị giam giữ ở Rôma từ năm 61-63, sau đó được thả.

62: Thư gửi tín hữu Côlôsê, Êphêsô, thư gửi ông Philêmôn. Thánh Giacôbê hậu bị ném đá.

64. Hoàng đế Nero đốt thành Rôma và đổ tội cho người Kitô hữu, dẫn đến cuộc bách hại dã man. Có thể thư 1 Phêrô, thư 1 Timôthê và thư gửi Titô viết giai đoạn này.

64-67: Thánh Phêrô tử đạo trong dịp này. Có thể thư gửi tín hữu Do Thái và thư 2 Timôthê viết giai đoạn này.

65. Bản Tin Mừng theo thánh Marcô được biên soạn.

65-67. Thánh Phaolô đi giảng ở Ephesus, Macedonia; sau đó, bị bắt tại Rôma và bị chém đầu.

66-70: Do Thái khởi nghĩa chống Rôma.

70. Titus chiếm đóng thành Jerusalem, sau đó đốt đền thờ.

K.80. Bản Tin Mừng theo thánh Matthêu, Luca và Công Vụ Tông Đồ được biên soạn. Có thể thư 1 Phêrô, thư Do Thái và thư Giacôbê viết dịp này.

(85: Phật Giáo chia thành Tiểu Thừa và Đại Thừa).

88-97. Triều đại Giáo hoàng Clemens I, ngài là giám mục Rôma và đã gửi thư cho tín hữu Corinthô.

K.95. Sách Khải Huyền, Tin Mừng theo thánh Gioan và 3 thư của ngài, được biên soạn. Có thể thư 1&2 Timôthê và thư Titô được soạn lại, đồng thời có thể thư 2 Phêrô và thư Giuđa cũng được viết trong dịp này. Hoàng đế Domitianus cấm đạo gắt gao ở Rôma.

K.100. Thánh Gioan Tông Đồ chết ở Ephesus, chấm dứt thời Tông đồ và thế hệ đầu tiên của Kitô giáo.

Thật không khôn ngoan nếu tách biệt Thánh Kinh Do Thái khỏi dân tộc đã sản xuất ra nó và mảnh đất mà dân tộc này đã sống. Giới nghiên cứu gần đây đã bắt đầu nhấn mạnh đến tầm quan trọng của bối cảnh chính trị, kinh tế và xã hội của sự xuất hiện liên bang It-ra-en vào các thế kỷ 13 và 12 trước Chúa Giáng Sinh. Đất Canaan vào lúc đó vốn đã là một vùng đất tranh chấp lâu dài, đóng vai trò như một cầu nối giữa người Ai Cập ở phía nam , người Hít-ti chủ yếu tập trung ở Tiểu Á, và các cường quốc đang nổi lên ở Mêsôpôtamia phía đông (x. bản đồ số 1 ở cuối sách). Như vậy, lịch sử Thánh Kinh diễn ra trong một “Khu Vực Trung Tâm” của cổ thời.

Các tư liệu của người Ai Cập cho biết rằng dường như đất Canaan được cư trú bởi “những người dân của một lãnh địa độc lập”, được điều khiển bởi một bậc vị vọng địa phương; họ sống nhờ vào lương thực được cung cấp bởi các nông dân trồng ngũ cốc trên miền bình nguyên và canh tác những vườn cây trái trên các đồi dốc (ôliu, vả và nho). Ý thức hệ nâng đỡ hệ thống này là một tôn giáo đặt nền trên sự bảo đảm mùa màng phong phú và con người sinh sôi nảy nở, đồng thời tôn trọng trật tự hay quyền bính đã được thiết lập dựa trên sự cúng tế hy lễ cho chư thần. Các vị thần chính yếu là: thần giông tố Baal, nữ thần Asherah, và thần El. Tôn giáo Canaan được hậu thuẫn bởi một giới tư tế phụ trách các đền thờ và các trung tâm thờ cúng khác nhau. Đây chính là tình hình ở Canaan khi đám dân Do Thái nô lệ từ Ai Cập kéo đến.

Căn cứ vào các truyền thống Thánh Kinh thì thật khó xác định những dữ kiện chính xác của cuộc “Xuất Hành”. Chẳng hạn, Xh 10,28-29 kết thúc truyền thống cho đó là một “cuộc trốn thoát” khỏi Ai Cập, trong khi Xh 11-12 thì trình bày biến cố đó như “một sự trục xuất” người Do Thái sau nạn dịch thứ 10, và cũng là cuối cùng, giết chết tất cả con đầu lòng của người Ai Cập. Sách Xuất Hành pha trộn hai truyền thống này bằng cách nêu sự kiện Pharaô đổi ý và đuổi theo người Do Thái, tạo ra những truyền thống về sự giải thoát dân Do Thái tại Biển Đỏ. Nhưng, một lần nữa, ở đây lại có hai truyền thống, một truyền thống mô tả người Do Thái trốn thoát ngang qua những vùng trũng hơi lầy lội (làm cho xa mã của người Ai Cập trở thành vô dụng), còn truyền thống kia, muộn hơn, chuyển tình tiết ấy thành hiện tượng nước biển rẽ ra một cách kỳ diệu, rõ ràng nhằm nêu bật tầm quan trọng thần học của việc Thiên Chúa cứu giúp dân Do Thái trong những khi họ lâm vào cảnh khốn cùng.

Dù trường hợp nào, thì chúng ta cũng ghi nhận một nhóm người vốn là nô lệ ở Ai Cập đã đến Canaan vào khoảng năm 1250 trước công nguyên, với một tôn giáo hướng về một Thiên Chúa đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập. Tôn giáo này, trong hình thức sơ khai của nó, gắn bó chặt chẽ với Môsê. Đức tin thuở phôi thai của It-ra-en được đặt nền trên những kỳ vọng luân lý căn bản (“Lề Luật”), trên việc thực hành phụng tự trong một cái miếu thờ hay chiếc lều di động, và trên việc tôn thờ một Thiên Chúa được gọi là “Giavê”. Tuy nhiên, yếu tố chính của tôn giáo này, dưới cái nhìn của giới nông dân Canaan đương thời, là sự kiện rằng vị Thiên Chúa Giavê này là một vị thần giải phóng những người nô lệ, và do đó Ngài là một vị thần có liên can tới hoàn cảnh sống của họ. Tôn giáo này, khi đến Canaan, đã gây một ảnh hưởng “bùng nổ”, và đại đa số những người làm nên “mười hai chi tộc It-ra-en” chính là những người Canaan đã cải giáo để theo tôn giáo mới này.

Như vậy, dường như sự phụng thờ Giavê đã bắt đầu trong tư cách là một tôn giáo của “thiểu số” nơi những người trước kia là nô lệ ở Ai Cập và những người Canaan cải giáo, và rồi về sau có được uy thế lớn hơn trong thời quân chủ (nhất là dưới triều vua Giôsia). Tuy nhiên, lúc bấy giờ, số phận của các quốc gia It-ra-en độc lập bị định đoạt bởi sự nổi lên của các đế quốc ở Mêsôpôtamia, và việc phụng thờ Giavê sẽ dần phát triển thành Do Thái giáo nơi một dân tộc lụy thuộc các đế quốc ấy về chính trị và kinh tế. Nói cách khác, căn tính “con cái It-ra-en” đang nổi lên đã đi vào một bước quặt quan trọng, rứt ra khỏi một căn tính chính trị khi những đế quốc to lớn này (đầu tiên là Assiri, rồi đến Babylon, sau đó là Ba tư) bắt đầu bành trướng ảnh hưởng về phía tây, tiến vào vùng duyên hải Palestine.

Thời đại quân chủ It-ra-en bắt đầu khoảng năm 1000 trước công nguyên. Đavít là vị lãnh đạo nổi bật nhất; ông đã thành công trong việc thống nhất các dân Do Thái và Canaan thành một mối để chống lại sự đe dọa đang ập đến từ những kẻ xâm lăng ở vùng duyên hải gọi là Philitinh. Đavít cũng thiết lập một thủ đô là Giê-ru-sa-lem, và mở rộng ảnh hưởng chính trị của It-ra-en qua bên kia sông Giođan, đi vào các vùng đất Ammon, Moab, Êđom và tràn lên Syria phía bắc.

Palestine/Canaan vốn không phải là một môi trường thuần nhất, và những sắc thái nông nghiệp khác nhau dẫn đến những sắc thái xã hội khác nhau, tình hình càng phức tạp hơn nữa do bởi các đòi hỏi đóng góp vào công cuộc xây dựng của Salômôn bằng lao động và thuế má. Khi Salômôn qua đời, các dân phía bắc (gồm 10 trong 12 chi tộc) ly khai ra khỏi triều đình Giê-ru-sa-lem, và thiết lập một nước It-ra-en mới vào năm 922 trước công nguyên. Vì thế, Thánh Kinh Do Thái gọi quốc gia phía bắc là “It-ra-en”, và quốc gia phía nam là “Giuđa”. Nước Giuđa duy trì triều đại của dòng tộc Đavít, trong khi It-ra-en được cai trị bởi một loạt nối tiếp các vua, không vị nào trong đó rốt cục có thể thiết lập một vương triều khả dĩ vững chãi. Vì thế quốc gia phía bắc xem ra bất ổn hơn. Ở phía bắc, các ngôn sứ thỉnh thoảng dấy lên những cuộc cách mạng bằng cách công bố rằng Thiên Chúa đã chọn một vị vua mới trong khi ông vua tại vị vẫn còn đang ngồi trên ngai!

Trong nửa sau thế kỷ 8 trước CGS, quốc gia phía bắc tham gia vào một khối liên minh các quốc gia nhằm cố gắng chống lại áp lực ngày càng tăng của đế quốc Assiri. Khi vị vua của quốc gia phía nam, vua Akhaz, từ chối tham gia vào liên minh này, các thành viên của liên minh quyết định gây áp lực đối với Akhaz, và phát động một cuộc chiến tranh. Để ứng phó, vua Akhaz kêu gọi sự hỗ trợ của người Assiri – thế là người Assiri bắt đầu xâm lăng về phía tây. Năm 722 trước công nguyên, liên minh nói trên bị tiêu diệt bởi những người Assiri xâm lăng, trong đó có cả quốc gia It-ra-en phía bắc.

Giữa những năm 640 và 609, nghĩa là, giữa cuộc suy tàn của đế quốc Assiri và sự bành trướng thanh thế của người Babylon, vua Giôsia cai trị ở Giê-ru-sa-lem. Vua Giôsia được nhìn nhận là có công phát động một cuộc cải cách quan trọng, tập trung mọi việc phụng tự về Giê-ru-sa-lem (nghĩa là chấm dứt việc phụng tự trong các đền thờ địa phương, tránh hiện tượng pha tạp với các thực hành tôn giáo của người Canaan), đồng thời phục hồi một hình thức phụng tự Giavê cách tinh ròng hơn, có lẽ để hưởng ứng lời kêu gọi của một số ngôn sứ. Công cuộc của vua Giôsia đặt cơ sở trên Lề Luật được chứa đựng trong Sách Đệ Nhị Luật, và vì thế được gọi là “Cuộc Cải Cách Đệ Nhị Luật”. Phong trào này cũng gợi cảm hứng thêm cho việc trước tác văn chương. Sau cái chết của Giôsia trong một chiến dịch chống lại người Ai Cập (609 trước công nguyên), “Lịch Sử Đệ Nhị Luật” được biên soạn, bắt đầu với Giôsuê và tiếp tục tới cuộc xâm chiếm của người Babylon như được mô tả ở cuối sách 2 Các Vua.

Cuộc “Lưu Đày Babylon” này là một trong những biến cố rất hệ trọng trong vận mệnh của dân Do Thái; nhưng nhóm người lưu đày đã sống còn và đã tái lập đức tin của họ. Khi rốt cục người Ba tư đánh bại Babylon vào năm 539, hoàng đế Kyrô đã cho phép người Do Thái trở về Palestine. Dù một nhóm khá đông những người Do Thái vẫn còn ở lại Babylon, song “những cuộc hồi hương” khác nhau của người Do Thái (như được mô tả trong Et-ra) đã cho phép tái lập lại đức tin, cộng đoàn, và ngay cả việc phụng tự Đền Thờ.

Chúng ta không biết nhiều về xã hội Giuđa thời hậu lưu đày. Chỉ có một vài cuốn sách được gán cho thời này, chẳng hạn sách Hacgai, Dacaria, Malaki, và Etra-Nêhêmia. Tình trạng thiếu thông tin này tiếp tục cho tới giai đoạn Hi Lạp (sau năm 333 trước công nguyên) là giai đoạn mà chúng ta lại bắt đầu có những nguồn văn chương/lịch sử như các sách ngụy thư (Apocryphal) khác nhau. Điều mà chúng ta có thể giả đoán, đó là cộng đoàn Do Thái đã hình thành một căn tính và đức tin cộng đoàn mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của các tư tế, là những người xuất hiện như những vị lãnh đạo chủ yếu thay cho vương triều Đavít. Niềm hy vọng về việc khôi phục một quân vương thuộc dòng tộc Đavít đã trở thành căn bản cho một thời đại trong tương lai; niềm hy vọng này đôi khi dấy lên những hoạt động có tính dân tộc chủ nghĩa nơi những người Do Thái ở Palestine. Nhưng vào thời này, nhiều người Do Thái vẫn đang sống trong một “Diaspora” (nghĩa là, tại những nơi không phải là Palestine/It-ra-en) trải rộng từ Ai Cập tới xa bên phía đông qua khỏi lãnh thổ Babylon và Batư. Đối với họ, đức tin không còn có nghĩa là sự tồn vong của đất nước, nhưng là căn tính thuộc chiều kích tinh thần cũng như sự đề kháng lại tình trạng đồng hóa về mặt văn hóa. Từ những cộng đoàn này chúng ta có những câu chuyện về những người Do Thái trung kiên sống ở nước ngoài, chẳng hạn Đanien và Esther.

Từ thời lưu đày cho đến thế kỷ 20, với chỉ một thời gian tương đối ngắn trước cuộc chiếm đóng của người Rôma vào năm 64 trước công nguyên, dân Do Thái vẫn phải lụy thuộc về chính trị và kinh tế vào những người không phải là Do Thái. Vì thế, Do Thái giáo và Kitô giáo là những tôn giáo có gốc rễ được tìm thấy nơi những con người “bị xâm lăng” về chính trị. Đức Giavê, một vị Thiên Chúa của những người nô lệ được giải phóng, vì thế trở thành vị Thiên Chúa của những người bất lực và là vị Thiên Chúa của sự phán xử đối với những kẻ áp bức, những người giàu có và những người nắm quyền lực.

Nếu chúng ta không quên rằng hầu như tất cả Thánh Kinh Do Thái đều được biên tập và sắp xếp (nếu như không phải được viết trọn vẹn) bởi một dân tộc bất lực về chính trị, thì các bài thánh ca của Thánh Kinh nói với một “Thiên Chúa của chinh chiến” sẽ – một cách nào đó – mang những âm hưởng khác. Những ý niệm như thế sẽ có một ý nghĩa hoàn toàn khác (và không có tính Thánh Kinh) khi được những người nắm quyền lực trích dẫn nhằm phục vụ cho ích lợi của họ. Còn ở đây, tất cả những nhận thức ấy lại đến với chúng ta từ các loại văn khác nhau trong Thánh Kinh Do Thái, mỗi loại đóng góp những nhãn giới riêng. Chúng ta hãy tìm hiểu vắn tắt một số trong các loại ấy và đồng thời tìm hiểu một số vấn đề bật lên từ việc nghiên cứu những cuốn sách này ngày nay.

III. Các thời đại về lịch sử Thánh Kinh và Do Thái.

Do Thái giáo (tiếng Hebrew , Yehudah) là một tôn giáo gắn liền với Thánh Kinh Do Thái và lịch sử dân tộc Israel. Do Thái giáo xem mình là mối quan hệ giao ước giữa con cái Israel (sau này là nhà nước Do Thái) với Thiên Chúa. Và như thế, nhiều người xem đây là tôn giáo thờ độc thần đầu tiên. Nhiều phương diện của Do Thái giáo tuân theo các khái niệm về đạo đức và luật dân sự của phương Tây. Do Thái giáo là một trong những tôn giáo cổ xưa nhất mà vẫn còn được thực thi cho đến ngày hôm nay, và có rất nhiều sách thánh và truyền thống của đạo này là trung tâm của các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham. Như vậy, lịch sử và những luân lý đạo đức của Do Thái giáo có ảnh hưởng ít nhiều đến các tôn giáo khác, bao gồm cả Kitô giáo và Hồi giáo.

Vì đại đa số người theo Do Thái giáo là người Do Thái nên tín đồ tôn giáo này cũng còn được gọi là người Do Thái, và gọi như thế là đang nói đến nhóm tôn giáo-dân tộc, vì các lý do trong sách thánh đã xác định họ là một quốc gia, chứ không chỉ riêng những người theo đạo. Năm 2007, dân số Do Thái ước tính khoảng 13.2 triệu người, trong đó có 41% sinh sống ở Israel.

Trong Do Thái giáo hiện đại, uy quyền không được trao cho một người riêng lẻ hay một cơ quan nào cả mà nó ở trong sách thánh, giáo luật, và các thầy giảng (Rabbi) là những người diễn dịch Thánh Kinh thư Giáo luật. Theo những lời truyền của người Do Thái, Do Thái giáo khởi nguồn bằng giao ước giữa Thiên Chúa và ông Abraham (khoảng năm 2000 trước Chúa Giáng Sinh), tổ phụ và quốc tổ của nhà nước Do Thái. Qua nhiều thời đại, Do Thái giáo gắn liền với rất nhiều luân lý tôn giáo, mà quan trọng nhất là đức tin vào một Thiên Chúa duy nhất là Đấng Toàn Năng, rất nhân từ, thông biết mọi sự, Người đã tạo dựng vũ trụ và tiếp tục thống trị nó. Theo tục truyền Do Thái, Thiên Chúa thiết lập giao ước với con cái Israel và hậu duệ của nó và cho chúng biết lề luật và giới răn của Người thông qua ông Môsê trên núi Sinai. Do Thái giáo trân trọng việc học hỏi Cựu Ước và tuân giữ các điều răn đã ghi trong Cựu Ước.

1. Thời tiền sử.

Palestin là một trong những miền đất được con người cư ngụ sớm nhất (khoảng 40.000 năm trước Chúa Giáng Sinh). Dân Canaan đã sống ở Palestin khoảng 3.000 năm trước CGS và ảnh hưởng của họ còn rất lớn kể cả sau khi bị dân Isrel chinh phục miền đất này (x. Xh 3,8).

Thật vậy, vùng Cận Đông, trước năm 3,000 trước CN, có hai trung tâm văn minh rất tách biệt nhau. Mỗi nền văn minh đều có văn hóa, tay nghề và hệ thống chữ viết riêng. Một ở vùng Lưỡng Hà, tức vùng đất nằm giữa hai con sông Tích-ra và Êu-phơ-rát, một vùng ‘trăng lưỡi liềm phì nhiêu’. Nền văn minh kia chính là Ai Cập. Câu truyện về loài người bắt đầu với Vườn Ê-đen, tọa lạc đâu đó ở Lưỡng Hà Địa. Ápraham xuất phát từ thành Ur, phía nam Lưỡng Hà. Một số con cháu của ông lập nghiệp tại Kha-ran về phía bắc trong khi ông tiến vào Ca-na-an.

Như thế, ta thấy tổ tiên khởi thủy của dân tộc Do Thái chính là một trong các vương quốc giầu có và hùng mạnh tại các thung lũng sông ngòi của Ai Cập và Lưỡng Hà. Trong các lãnh thổ nằm giữa, ta thấy nhiều thành phố có vây tường và các vương quốc tí hon. Những thành trì này bảo vệ các người định cư giúp họ an ổn trồng cấy các mảnh đất bên trong. Nhưng cũng có các bộ lạc du mục, luôn luôn chuyển dịch, để tìm ra đồng cỏ tốt tươi cho đoàn vật của họ. Áp-ra-ham và gia đình ông chính là một trong những nhóm du cư khắp vùng ấy.

2. Thời các bộ tộc.

Theo sách sáng thế (St 11,27-32) thì gia đình Ápraham phát xuất từ thành Ur, thuộc xứ Canđê, một thành phố ở miền nam thung lũng Euphơrát. Ong di chuyển lên phía bắc và tới lập cư ở Kharan. Tại đây ông được Chúa kêu gọi (St 12,1-3). Sau đó cùng với vợ và cháu là Lot di chuyển đến Sikhem

Đồng bằng duyên hải và Thung Lũng Gio-đan, những nơi có đất đai canh tác tốt, đã có người định cư từ lâu. Điều ấy lôi cuốn người cháu của Áp-ra-ham là Lót. Lót từ vùng đồi núi di chuyển tới đóng lều gần Xơ-đôm. Nhưng cuộc sống ở đấy có cái nguy hiểm riêng của nó. Lót chỉ là một trong số nhiều người chịu tai vạ khi các vua nổi loạn rấy lên lật đổ quyền kiểm soát của các lãnh chúa xa xôi (St 14).

Còn Ápraham tiếp tục di chuyển xuống miền nam, qua Nêghép đến tận Ai Cập. Cuối cùng đến lập cư tại Khépron.

Về Isaac thì Thánh Kinh không đề cập nhiều, ông như cầu nối kế tiếp đền Giacóp là con ông mà thôi.

Riêng Giacóp thì có nhiều câu chuyện có vẻ ly kỳ và hấp dẫn. Ông phải trốn khỏi đất Canaan vì cướp quyền trưởng nam của Esau. Ông chạy tới Kharan và ở với cậu là Laban và cưới hai cô con gái của Laban là Lêa và Rakhen làm vợ. Sau khi hẹn Esau và giải quyết xong tranh chấp Giacop trở về Canaan.

Hạn hán và đói kém thường xẩy ra tại Ca-na-an. Nên người du mục đương nhiên phải di chuyển xuống vùng đất phì nhiêu của Ai Cập. Anh em con Giacop cũng đã xuống Ai Cập mua lương thực, một câu chuyện rất hấp dẫn về nhân vật Giuse con Giacop được làm quan trong triều đình Pharaô được truyền tụng. Chẳng bao lâu sau, cả nhà Ít-ra-en (12 con trai của Gia-cóp) đều đã định cư tại Gô-sen, phía đông Đồng Bằng Sông Nin.

3. Thời nô lệ và xuất hành.

Dân Ít-ra-en cư ngụ tại Ai Cập trong gần 400 năm. Trong thời gian đó, họ đã phát triển thành cả một dân tộc.

Thời Pharaô Sêti I (-1317-1290) và Ramset II (-1290-1234) khởi công xây cất các cung điện, các vua này không còn biết đến ông Giuse và bắt đầu bắt dân Do Thái làm nô lệ phục dịch và còn coi người Do Thái như một đe doạ. Họ xiết chặt quyền kiểm soát, cưỡng bức người Do Thái phải làm việc như các nô lệ chuyên sản xuất gạch xây nhà. Để giảm thiểu số người Do Thái, Vua Ai Cập ra lệnh bỏ trôi sông các trẻ trai của Do Thái cho chết đuối hết. Dân kêu van Chúa nên Ngài gửi nhà lãnh đạo đến với họ, đó chính là Mô-sê.

Phải kinh qua nhiều tai ương, Vua Ai Cập mới chịu để dân Do Thái ra khỏi xứ sở ông. Nhưng vào phút chót, ông lại thay đổi lòng dạ, nên đã cho quân sĩ đuổi theo, nhưng dân Do Thái chạy thoát qua ‘biển sậy’ tới Núi Xi-nai yên ổn. Cuộc ‘xuất hành’ bắt đầu (x. Xh 1-14).

Cuộc xuất hành kéo dài khoảng 40 năm và tại sa mạc Sinai, dân Do thái đã nhận Thập Điều (mười giới răn – giao ước). Trước khi tiến vào đất hứa, ông Môsê đã chết tại núi Nebo và Giôsuê thay thế ông đưa dân vào đất Canaan.

4. Thời lập quốc.

Giô-suê đảm nhiệm quyền lãnh đạo toàn dân khi họ tiến vào lãnh thổ bên kia Sông Gio-đan. Thực ra, cuộc chiến thắng không dễ dàng như tường thuật trong sách Giosuê, nhưng có lẽ diễn ra theo kiểu xâm nhập dần từ phía miền núi xuống. Cuộc hội họp ở Sikem (Gs24) có lẽ nhằm mục đích quy tụ và liên kết toàn dân lại thành một khối duy nhất sau khi đã xâm nhập được một số nơi và hiện các chi tộc đang sống rải rác.

Các chi tộc định cư tại các vùng được phân chia cho họ. Nhưng giờ đây lại sống rải rác khắp nơi, bị bao vây bởi các lân bang thù nghịch. Khi Giôsuê mất, việc kiểm soát được cả lãnh thổ xem ra là việc khó làm. Dần dà, dân Do Thái mất hết ý niệm chính Thiên Chúa đã chiến đấu cho họ. Họ bắt đầu thỏa hiệp với các nước lân bang, và cả với các thần minh của họ, mong sao được sống yên ổn. Kẻ thù của họ rõ ràng lợi dụng được điểm yếu của họ. Sách Thủ Lãnh thuật lại câu truyện đáng buồn ấy. Các nước lân bang vì thế quay đầu tấn công lại họ: Vua Lưỡng Hà từ hướng bắc; người Mô-áp và Am-mon từ bên kia Sông Gio-đan; người Ma-đi-an từ hướng đông. Người Ca-na-an tại Kha-xo lớn mạnh đủ để thực hiện cuộc tấn công thứ hai vào những người mới định cư. Và từ hướng duyên hải, người Phi-li-tinh đẩy dân Do Thái ngày một lùi dần về phía núi đồi. Cũng như bao nhiêu lần khác trong lịch sử của họ, người Ít-ra-en đều kêu cầu Chúa đến giúp đỡ họ qua cơn bĩ cực. Mỗi vị ‘phán quan’ hay thủ lãnh đều ít nhất cũng đem lại một thời kỳ bớt căng thẳng. Những vị nổi tiếng nhất trong hàng ngũ những người chiến đấu dành tự do này chính là Đơ-vô-ra và Ba-rắc, Ghít-ôn, Gíp-tác và Sam-sôn. Thời kỳ thủ lãnh kéo dài khoảng từ năm – 1200 đến năm – 1050.

5. Thời quân chủ.

Vị sau cùng và vĩ đại nhất trong hàng thủ lãnh chính là Sa-mu-en. Ngài vừa là tiên tri vừa là người tạo nên các vị vua. Khi Sa-mu-en về già, dân chúng yêu cầu có một vị vua để cai trị họ, giống như các quốc gia khác. Sa-mu-en cảnh cáo để họ thấy rằng có vua có nghĩa là có quân dịch, có cưỡng bức lao động và có áp chế. Nhưng dân Ít-ra-en bất kể những thứ ấy, họ vẫn cần có một vị vua. Nên cuối cùng Sa-mu-en đã làm theo lời họ yêu cầu. Vị vua đầu tiên là một thanh niên thuộc chi tộc Ben-gia-min, cao ráo và đẹp trai, tên là Sa-un. Buổi đầu, mọi sự đều suôn sẻ, nhưng rồi quyền lực lọt vào đầu óc Sa-un và ông bắt đầu làm ngơ các huấn lệnh rõ rệt của Thiên Chúa. Vì sự bất tuân của Sa-un, nên con trai ông là Giô-na-than không thừa kế được ngai vàng. Thay vào đó, ngay lúc sinh tiền của Sa-un, Thiên Chúa đã sai Sa-mu-en đi xức dầu cho Đa-vít làm vua kế tiếp. Khi còn là một cậu bé chăn chiên, Đa-vít đã giết được tên quán quân người Phi-li-tinh là Go-li-át. Sự nổi tiếng của cậu khiến Vua Sa-un ghen tức. Nên trong nhiều năm, Đa-vít phải sống như một người bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, lúc nào cũng phập phồng cho số phận mình. Nhưng rồi cả Sa-un lẫn Giô-na-than đều bị chết trong lúc chiến đấu với quân Phi-li-tinh. Đa-vít lên làm vua. Ông thống nhất vương quốc, chiếm cứ Giê-ru-sa-lem, một thành trì của người Giơ-vút, làm thủ đô. Ông là một quân vương kiêm chiến sĩ. Ông đã mở mang vương quốc, xua đuổi các kẻ thù xưa.

Tuy nhiên, dù Đa-vít là một nhà quân sự tài ba, nhưng trong việt tề gia ông lại nhu nhược. Câu chuyện dài ở Sm 9-20 và 1V 1-2 đã cho thấy mặt trái trong triều đại của ông là việc phế trưởng lập thứ, bỏ con chính thức để chọn con ngoại tình kế vị ngai vàng. Đó là mầm mống của gây ra hậu hoạ sau này.

Gia bảo ông để lại cho Sa-lô-môn. Đa-vít muốn xây một đền thờ cho Chúa tại Giê-ru-sa-lem, nhưng ông chỉ đủ thì giờ thu thập vật dụng. Sa-lô-môn mới là người xây dựng đền thờ ấy và nhiều dinh thự lộng lẫy khác. Một vương quốc hùng mạnh, vững ổn đã giúp Sa-lô-môn thịnh trị qua nhiều liên minh buôn bán. Đức khôn ngoan của ông đã thành huyền thoại. Tại vương triều của Sa-lô-môn, có rất nhiều vui chơi văn hóa và mỹ thuật. Thời ông là hoàng kim thời đại của Ít-ra-en. 1Sm 8 – 1V 11.

6. Thời phân tranh nam bắc.

Dưới thời Sa-lô-môn, Ít-ra-en trở thành một vương quốc giầu có và hùng mạnh, nhưng dân chúng thì bị áp chế bằng sưu cao thuế nặng cũng như lao công khổ dịch. Khi con trai của Sa-lô-môn là Rơ-kháp-am lên trị vì, họ thỉnh cầu ông nhẹ gánh cho họ. Nhưng ông cự tuyệt. Nên mười chi tộc miền Bắc đã nổi dậy chống lại. Họ lập ra một vương quốc mới, tức vương quốc Ít-ra-en, với Gia-róp-am I làm vua và thủ đô đặt tại Si-khem. Ở miền Nam, Rơ-kháp-am cai trị vương quốc Giu-đa (gồm hai chi tộc Giu-đa và Ben-gia-min) với thủ đô tại Giê-ru-sa-lem. Gia-róp-am cũng lập ra một trung tâm thờ phượng mới cho vương quốc phía Bắc, hoàn toàn cắt đứt với Giê-ru-sa-lem. Ông ta chọn Đan, ở phía bắc, và Bết-ên, một trung tâm quan trọng lúc Sa-mu-en còn sống. Nhưng rồi các tập tục ngoại giáo mau chóng du nhập vào việc thờ phượng. Các sử gia soạn giả hai sách Các Vua và Sử Biên xếp loại các vua là ‘tốt’ hay ‘xấu’ là tùy họ có chịu canh cải tôn giáo hay để cho các tập tục ngoại giáo tiếp tục hoành hành. Út-di-gia-hu và Khít-ki-gia là hai trong các vua biết đi theo đường lối Thiên Chúa của Giu-đa. Vua A-kháp của Ít-ra-en có thành tích tệ hại hơn cả. Ông và bà vợ ngoại giáo là I-de-ven chống lại tiên tri Ê-li-a và bách hại bất cứ ai thờ phượng Thiên Chúa. Ngày nay, người ta vẫn còn nhìn thấy di tích ‘tháp ngà’ của ông vua này tại Sa-ma-ri. Các biên niên sử của Át-sua ghi lại rằng ông vua này đem 10,000 binh lính và 2,000 chiến xa dự trận đánh Qarqar, nơi ông liên minh với Ai Cập chống lại Vua San-ma-ne-xe của Át-sua (853 trước CN).

Sự lớn mạnh của thế lực Phương Bắc: Trong vị thế chiến lược giữa hai đại cường Ai Cập và Lưỡng Hà của mình, cả Ít-ra-en lẫn Giu-đa đều là mồi ngon cho xâm lược. Đa-vít và Sa-lô-môn thành công một phần vì không đại cường nào mạnh đủ để tấn công lúc các ông còn trị vì. Nhưng sau khi phân rẽ vương quốc, các quốc gia gần kề như Xi-ri, Am-mon và Mô-áp lập tức đem lại cho các vua Ít-ra-en và Giu-đa đủ thứ rắc rối. Tuy nhiên, chính sự lớn mạnh của các đại cường chính xa hơn về phía đông bắc mới có tính quyết định. Đế quốc Át-sua trước đó từng có thời gian đầy sức mạnh dưới thời Tích-lát Pi-le-xe I. Nhưng cuộc gây hấn tàn bạo khiến ai cũng phải kinh hoàng đối với họ lên đến cực điểm vào các năm 880 và 612 trước CN. Đế quốc này đặt căn cứ tại ba thành phố lớn: Át-sua, Ca-lác và Ni-ni-vê. Từ giữa thế kỷ thứ 9 trước CN, thời A-kháp trị vì Ít-ra-en, các vua Át-sua đã liên tiếp tấn công Ít-ra-en và Giu-đa rồi. Chẳng bao lâu sau, Vua Giê-hu của Ít-ra-en phải triều cống Vua San-ma-ne-xe III của Át-sua. Một trăm năm sau, Vua A-khát của Giu-đa yêu cầu Vua Tích-lát Pi-le-xe III của Át-sua giúp mình chống lại Xi-ri và Ít-ra-en (Is 7; 2V 16). Ông ta đã chiến thắng cả hai nước trên, nhưng cũng vì thế, Giu-đa đã trở thành nước chư hầu của Át-sua. Khi Ít-ra-en từ khước không chịu triều cống hàng năm, vị vua kế tiếp của Át-sua đã chiếm lấy Sa-ma-ri, lưu đầy mọi người và hủy diệt vương quốc phía bắc (7221 trước CN; 2V 17). Không bao lâu sau, Ai Cập bị người Át-sua đánh bại. Năm 701 trước CN, ông vua hùng mạnh là Xan-khê-ríp vây hãm Giê-ru-sa-lem, nhưng nhờ Vua Khít-ki-gia biết tín thác nơi Thiên Chúa, nên thành thánh đã được cứu (2V 19). Người Át-sua phải chiến đấu rất nhiều mới giữ được đế quốc của họ. Trong thế kỷ kế tiếp, nhiều tỉnh nổi lên giành lại độc lập. Đế quốc ấy tồn tại tới lúc Át-sua lọt vào tay người Mê-đi năm 614 trước CN và Ni-ni-vê bị người Mê-đi và Ba-by-lon tiêu hủy năm 612. Tóm lại, vương quốc phía bắc tồn tại ngắn hơn nhưng có tới 20 đời vua, còn vương quốc Giuđa tồn tại 18 đời vua.

7. Thời lưu đày.

Lịch sử Do Thái từ ngàn xưa cho thấy cha ông họ đã luôn sống dưới kiếp nô lệ, hết với đế quốc này sang đế quốc khác. Trong thời kỳ này có bốn Đế Quốc cai trị cả vùng Tiểu Á.

Thời đó (trước đây 2000 năm), người Do Thái nhìn thế giới rất nhỏ, đơn giản là tin có trời tròn đất vuông. Hơn nữa, con người thời này biết rất ít về địa lý của thế giới, cụ thể là với Châu Phi thì họ chỉ biết được những vùng rẻo nhỏ, còn với Châu Á thì cũng chỉ biết được một số vùng nào đó, nhất là với Châu Mỹ thì lại càng hoàn toàn không biết gì (vì mãi đến sau này Kha Luân Bố mới khám phá ra Châu Mỹ). Nói tóm lại, thế giới thời đó chỉ là những vùng xung quanh Địa Trung Hải.

Với người Do Thái thời đó thì Israel chính là cái rốn của vũ trụ và Giêrusalem là cái rốn của Israel. Có bốn thời đại, đúng hơn là bốn đế quốc đã thay nhau đô hộ Do Thái:

– Assyri = khoảng năm – 650

– Babylon = khoảng năm – 550 (thời lưu đày)

– Đế quốc Ba Tư = khoảng năm – 450.

– Đế quốc Hy Lạp = khoảng năm – 323.

Thời đó, ai chiếm được vùng này là chiếm được toàn thể thế giới. Vì thế, nói tới bối cảnh lịch sử thời này là nói nhiều đến các vua chúa đương thời.

Trong Thánh Kinh, nếu Át-sua có nghĩa là áp bức, thì Ba-by-lon có nghĩa là quyền lực. Nobopolassar, thống đốc khu vực quanh Vịnh Ba Tư, giải phóng Ba-by-lon khỏi Át-sua và năm – 626 lên ngôi vua. Ông tiếp tục chiến thắng người Át-sua và năm – 612, người Ba-by-lon và Mê-đi chiếm được thủ đô của Át-sua là Ni-ni-vê. Họ không chỉ bằng lòng với việc chiếm cứ Át-sua mà còn tìm cách thu tóm toàn bộ Đế Quốc Át-sua nữa. Người Át-sua rút về Kha-ran, nhưng chẳng bao lâu cũng bị bứng khỏi đấy. Người Ai Cập, vì biết đất nước mình lâm nguy, nên đã tự động tiến quân lên phía bắc để hỗ trợ người Át-sua. Vua Giô-si-gia-hu của Giu-đa đụng độ với đoàn quân Ai Cập tại Mơ-gít-đô. Trong trận chiến này, ông bị giết và do đó, Giu-đa trở thành chư hầu của Ai Cập (2V 23:29). Bốn năm sau, tức năm – 605, quân đội Ba-by-lon do Na-bu-cô-đô-nô-xo cầm đầu đã đánh bại quân Ai Cập tại Cá-cơ-mít (Gr 46:1-2). Đế quốc Ba-by-lon mỗi ngày một bành trướng. Giơ-hô-gia-kim của Giu-đa là một trong nhiều vị vua nay phải triều cống cho Na-bu-cô-đô-nô-xo. Sau một trận đánh khốc liệt với quân Ba-by-lon năm – 601, người Ai Cập khích lệ Giu-đa nổi dậy. Na-bu-cô-đô-nô-xo phái quân đội tới dẹp loạn và năm – 597, chỉ sau khi Giơ-hô-gia-kim lên ngôi không lâu, Giu-đa đầu hàng. Vua và nhiều nhà lãnh đạo bị đầy qua Ba-by-lon. Chính sách của kẻ xâm lăng không những là cướp bóc và phá phách, mà còn làm suy yếu các nước chư hầu và ngăn chặn những vụ nổi loạn trong tương lai bằng cách tống xuất các công dân hàng đầu của họ (2V 24:10-17). Dù thế, 10 năm sau, Xít-ki-gia-hu, một ông vua bù nhìn được Na-bu-cô-đô-nô-xo đặt lên ngai vàng Giu-đa, đã cầu viện Ai Cập để nổi dậy. Quân Ba-by-lon bèn xâm lăng Giu-đa và vây hãm Giê-ru-sa-lem. Cuộc vây hãm này kéo dài 18 tháng. Cuối cùng, tường thành bị chọc thủng. Năm – 586, thành bị chiếm. Vua Xít-ki-gia-hu bị bắt và bị làm cho mù. Các báu vật, kể cả châu báu của đền thờ, đều bị đem qua Ba-by-lon. Giê-ru-sa-lem và đền thờ bị phá hủy, còn công dân thì bị tống xuất. Chỉ những người thật nghèo mới được phép ở lại canh tác đất đai (2V 25:1-21).

8. Thời hồi hương.

Giữa thế kỷ thứ sáu trước CGS, Ba-by-lon hết sức hùng mạnh. Nhưng các tiên tri lên tiếng nói về một Thiên Chúa mà đối với Người mọi ông vua chỉ là bù nhìn, và Người có thể dùng chính thế lực ngoại giáo để hoàn tất các ý định của mình. Ky-rô, người Ba Tư, thống nhất được hai vương quốc Mê-đi và Ba-tư ở phía đông của Ba-by-lon. Ông chiếm được nhiều lãnh thổ xa xôi tận phía đông như Ấn Độ. Rồi ông tấn công chính Ba-by-lon. Thành này thất thủ năm – 539 và ông thống lãnh toàn bộ đế quốc. Các vua Ba-Tư mở rộng bờ cõi xa hơn cả các đế quốc trước đó. Họ chiếm được cả Ai Cập và trọn vùng nay là Thổ Nhĩ Kỳ. Khi Ba-by-lon thất thủ, Ky-rô bắt đầu tái tổ chức đế quốc. Ông phân chia nó thành các tỉnh, mỗi tỉnh đều có nhà cai trị riêng, gọi là ‘satrap’. Những vị này thường là người Ba Tư, nhưng dưới họ là các nhà cai trị địa phương với một số quyền nhất định. Dân các nước chư hầu được khích lệ duy trì phong tục và tôn giáo riêng của mình. Như một phần của chính sách trên, Ky-rô phái một số người Do Thái trở lại Giê-ru-sa-lem để tái thiết thành phố và đền thờ, như đã được thuật lại trong sách Ét-ra và Nơ-khe-mi-a. Người Do Thái cũng lập nghiệp ở nhiều vùng khác nhau trong đế quốc. Ở Su-san, một trong các thủ phủ của Ba Tư, một vị vua sau này tên là Xéc-xét I, còn tôn một phụ nữ Do Thái làm hoàng hậu, như đã được sách Ét-te thuật lại. ‘Sự tán dân’ (diaspora), một danh từ chỉ chung những người Do Thái sống trên xứ người, sau này trở thành rất quan trọng vào thời Tân Ước.

Vì họ sống xa đền thờ, nên những người Do Thái này đã phát triển ra hệ thống hội đường làm trung tâm giáo huấn và thờ phượng. Việc đó đã xây nền cho việc phát triển mau lẹ của các giáo hội Ki-tô giáo sau này, là các giáo hội cũng được xây dựng theo khuôn mẫu ấy. Vua Đa-ri-ô I (522-486 trước CGS), người xây dựng nên thủ đô mới hết sức vĩ đại là Persepolis, và là người đã chiếm được miền Tây Ấn Độ, cũng đã đẩy đế quốc xa hơn về phía tây. Năm – 513, ông chiếm Ma-kê-đô-ni-a, phía bắc Hy Lạp. Năm – 490, người Ba Tư bị người Hy Lạp đánh bại tại Marathon, và vũ đài được chuẩn bị sẵn cho những chiến công hiển hách sau này của Hy Lạp cổ điển xưa.

Đại đế A-lê-xan-đê là con của Vua Philiphê II, vua sứ Makêdonia. Vua Philiphê II có tham vọng tập hợp các xứ xung quanh Địa Trung Hải thành một đế chế Hy Lạp. Trong vòng 23 năm, ông đã chinh phục lại được các thành phố đang chịu sự thống trị của Ba Tư. Không những thế, ông đã huy động được một đội quân hùng mạnh dự định một ngày nào đó sẽ tuyên chiến với Ba Tư. Đang khi đó ông đã bị chính vợ mình là bà Olympias, mẹ của A-lê-xan-đê đại đế giết hại. Bà đã sát hại chồng để giữ ngôi báu cho con mình, vì ngoài bà, ông còn có rất nhiều vợ.

A-lê-xan-đê trở thành hoàng đế năm 19 tuổi. Ông đã từng học trong trường của Aristote. Ông khao khát được biết về văn hoá, siêu hình học, tâm lý học, y khoa, khoa học, thiên văn, triết học, toán học. v.v.

Nối nghiệp cha, ông ta có tư tưởng sẽ hình thành một đế quốc bao trùm cả thế giới, và trong thế giới đó, nền văn minh Hy Lạp sẽ trị vì. Vì thế, ở bất cứ nơi nào ông chiếm được, ông điều biến thành những thuộc địa của Hy Lạp để văn minh Hy Lạp được phổ biến và lan rộng.

Khi chinh phục được Ai Cập, ông có ý định xây dựng đây một thành phố lớn mang tên ông. Ngoài ra, nơi những thành phố hoặc những vùng ông đã chiếm lĩnh được, ông bắt dân đóng thuế cùng vơ vét những tài nguyên bù vào những gì ông đã bỏ ra trước chiến tranh và để nuôi chiến tranh.

Khi đạo quân của A-lê-xan-đê đến biên giới gần Ấn Độ, đoàn quân vì di chuyển xa xôi nên đã mỏi mệt, và không muốn tiến xa hơn nữa. Vì thế ông đành dừng lại và thu quân về, và đế quốc dừng lại ở đó. Trên đường thu quân về ông qua đời ở Babylon vì một cơn sốt, lúc đó ông được 33 tuổi.

Công trạng của ông là đã phổ biến văn hoá Hy Lạp trên toàn đế quốc của mình. Ngoài ra, ông còn là người có tính nhân bản và biết thuật dùng người: Người trẻ đi đánh trận, còn người đau yếu và già nua thì ở nhà xây dựng thành phố. Như vậy, ông là người có óc xây dựng chứ không chỉ biết có tàn phá. Hơn thế nữa, quân của ông khi từ Hy Lạp sang Châu Á, đi tới đâu đều cưới người địa phương ở đó. Từ đó tạo nên sự Hy Lạp hoá các vùng mà đế quốc đã đi qua.

Người ta ước tính rằng chưa đầy 14 năm, ông đã đi hơn 25.000 cây số, và đã xây dựng được một đế quốc rộng hơn cả Babylon thời đó.

Alexandre đại đế không có con nối dõi, mặc dù trước đó các tướng lĩnh đã thúc giục ông lấy vợ trước khi tấn công vào Châu Á. Người kế ngôi ông là người em cùng cha khác mẹ, tên là Philipphê.

Nhưng Philipphê lại là người bị tâm thần. Bởi đó, ông này cũng đã bị bà Olympias mẹ của Alexandre đại đế sát hại. Vì tội ác tày đình giết chồng hại con này mà sau đó bà cũng đã bị xử trảm. Đến đây dòng dõi của vua Philipphê II hoàn toàn tuyệt tự. Vì thế, sau đó đế quốc Hy Lạp lớn rộng đã được cai trị bởi 4 chư hầu cũng là 4 vị tướng lãnh của A-lê-xan-đê đại đế.

Các nhà cai trị Xê-lêu-kít, đặt bản doanh ở An-ti-ô-ki-a bên Xi-ri, kiểm soát vùng Pa-lét-tin. Người Pơ-tô-lê-mai, đặt bản doanh tại A-lê-xan-ri-a cai trị Ai Cập. Tuy nhiên, về văn hóa, thế giới Hy Lạp vẫn là một thể thống nhất với tiếng Hy Lạp làm ngôn ngữ chung và khuôn mẫu văn minh Hy Lạp làm chuẩn. Bối cảnh này đóng một vai trò rất sinh tử trong các biến cố sau này.

Đến thời Tân Ước, dân Do Thái đã phải sống hết 500 năm dưới ách thống trị ngoại bang kể từ ngày từ lưu đầy trở về. Dưới thời Đế Quốc Hy Lạp, họ nộp sưu thuế cho Pơ-tô-lê-mai của Ai Cập và chấp nhận tiếng Hy Lạp làm ngôn ngữ Đế Quốc. Năm – 198, nhà cai trị gốc Xê-lêu-kít tại Xi-ri là An-ti-ô-khô đại đế đánh bại nhà Pơ-tô-lê-mai và chiếm đóng Pa-lét-tin. Nhưng sau đó ông bị người Rôma đánh bại tại Magnesia vào năm – 190.

Người Rôma đánh thuế đế quốc Xê-lêu-kít rất nặng và tìm mọi cơ hội để cướp bóc các thành thị và đền thờ. An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê dùng sự chống đối của những người Do Thái đạo hạnh gọi là Khi-si-đim như cái cớ để cướp phá đền thờ Giê-ru-sa-lem. Sau đó, ông cho xây một trung tâm ngoại giáo của Hy Lạp ngay trung tâm thành phố và một bàn thờ trong đền thờ dâng kính thần Zeus (Dớt) trên đó, họ cho dâng heo làm hy lễ (luật thực phẩm Do Thái cấm không được dùng thịt này).

10. Cuộc khởi nghĩa của nhà Macabê.

Năm – 167, vào những giai đoạn trước, sứ Giudêa dưới quyền cai trị của tiểu vương đóng tại Ai Cập coi vùng Palestin. Còn với thời đại mới thì Palestin lại dưới quyền cai trị của Syria

Vị tiểu vương Syria bắt dân đóng thuế và thờ lạy thần ngoại lai. Trong bối cảnh đó xuất hiện một người tên là Mattathias. Ông là tư tế lãnh đạo tôn giáo, Ong từ trối vâng lời tiểu vương cống nộp thuế và thờ thần ngoại. Vì thế, Ong và gia đình trốn lên núi của Giuđê và tổ chức kháng chiến. Cấu kết với một số người do thái chính thống.

Ông Mattathias chết vào năm – 166 và con ông là Giuđa Maccabée lên thay.

Cuối cùng ông chiếm được Giêrusalem. Theo lễ nghi, khi chiếm được thành phải làm lễ tẩy uế đền thờ.

* Ngày 25-12 ông thiết lập nghi thức phượng tự theo nghi lễ Lêvi dâng lên Thiên Chúa. Dân Do Thái coi là lễ cung hiến hay là lễ ánh sáng.

Quân đội của ông xây dựng một tường thành mới kiên cố hơn (tường thành nơi chiếm đóng). Những người Do Thái chính thống rất hài lòng với những kết quả mà ông Giuda đạt được. Nhất là trên bình diện tôn giáo, và những người Do Thái chính thống (Hassidim) muốn an phận, nghỉ ngơi và không muốn đánh nhau nữa. Nhưng đối với ông Giuđa vẫn muốn tiếp tục giải phóng kể cả mặt tôn giáo và chính trị.

Năm – 164 Antiochus IV qua đời. Và những người Do Thái thân Hylạp đã bật mí chi tiết này cho một tay tên là Lysias, là một quốc sư của ông vua trẻ Antiochus V mới lên ngôi.

Ông Giuđa Maccabée bị những người Do Thái này chơi. nên khi ông quốc sư cầm một đạo binh đến vây thành Giêrusalem nhưng sau một thời gian thì triều đình buộc Lysias ra đi. Trước khi đi ông đòi Giuđa Maccabée một thoả hiệp:

– Bên ngoài tường thành mà Maccabée xây dựng phải để cho quân triều đình đóng giữ, còn bên trong thì cha con nhà Giuđa tự lo liệu

Vào thời Antiochus V, người Do Thái tuy bị nô lệ nhưng vẫn được tự do tôn giáo.

Trong khi một bên muốn an phận và một bên muốn đánh tiếp. Từ đó sinh ra những mâu thuẫn. Nhóm Hassidim (do thái chính thống và là tiền thân Pharisêu) có thế lực rất lớn và ảnh hưởng đến cả thế quyền.

Lysias lợi dụng tình thế sự bất hoà này đã đặt một người tên Alsimus lên làm thượng tế (vì vua tại trị còn trẻ nên ông quốc sư này làm mọi chuyện theo ý của ông ta. Alsimus thuộc dòng tộc tư tế nhưng ở trường phái thân Hy Lạp. Anh em Maccabée chống lại sự đặt để này. Ông Alsimus đã cầu viện lên vua Démétrios I (vua Syria). Nhà vua sai một đạo binh, và người dẫn đầu là Nicanor đến bắt Giuđa Maccabée và khẳng định vị trí của Alsimus. Nhưng quân Maccabée mạnh nên quân của nhà vua thua, và Nicanor bị giết chết, còn Alsimus thì trốn sang Syria.

Giuđa chết, Jonathan là em ông tiếp tục lãnh đạo kháng chiến. Ông là thủ lãnh của Giuđêa từ -160 đến -142.

Nhưng ông Alsimus trên nguyên tắc vẫn là thượng tế, trở về sau cuộc chạy trốn và chết năm -159. Sau đó trong vòng 7 năm liền không có thượng tế vì anh em Maccabée không được vua yêu thích nữa.

Alexandre Balas cậy vào thế của sứ thần Rôma. Cả hai đều ra sức làm vừa lòng Jonathan để nhờ cậy

Ông Alexandre Balas nói với Jonathan nếu đứng về phía ông thì sẽ được làm thượng tế và là bạn của nhà vua; ngược lại Démétrios I thì hứa sẽ miễn thuế và trả đất bị chiếm đóng. Qua hai sự mời gọi đó. Jonathan đã chọn Balas vì với ông danh xưng làm thượng tế rất quan trọng.

Sau đó Balas ám sát Démétrios I, và Jonathan thì thần phục Balas. Sau đó Balas bị ám sát ở ẢRập, và khi Balas bị ám sát thì ông Jonathan chạy chọt với Démétrios II để xin vua khẳng định Jonathan là thượng tế hợp pháp. Nhưng Démétrios II đã không giữ lời hứa của Démétrios I, nghĩa là không chấp nhận Jonathan là thượng tế, chính vì vậy Jonathan bực mình và quay sang một người khác tên là Tryphon

Năm – 63 sứ Giuđa trở thành một tỉnh của Rôma mà họ phân vùng. Ông Hycano II lãnh đạo cả vùng thổ Giuđêa. Các xứ này đã thấm nhuần văn hoá Hy Lạp.

Vùng Samaria (ven biển) và thập tỉnh bị ảnh hưởng văn hoá Hy Lạp nhiều nhất. Trực tiếp dưới quyền chăm sóc của Syria. Lãnh thổ Do Thái do ông Hycano II lãnh đạo chỉ còn là cộng đồng tôn giáo mà trung tâm của người Do Thái là Giêrusalem.

Ông Hycano II chịu lỗi trước mặt hoàng đế Rôma. Ong có nhiệm vụ đóng thuế hàng năm.

Sứ Palestin được bình an (- 57). Nhưng do sự xung đột nội bộ của người Do Thái. Người ta chia vùng này thành 5 tỉnh.

Năm – 55 Antipale. Được làm tổng trấn Rôma tại Girusalem.

Năm – 58 Césa được bầu làm hoàng đế của Rôma sau khi chiến thắng Pompée 48

Antipale theo phò Césa và được phong làm tổng trấn Rôma tại Giuđêa, ông tập hợp các tướng lĩnh. Người Do Thái giúp Césa đánh thắng Pompée. Hoàng đế Césa đã chết vào năm – 44, người Do Thái đã khóc thương ông.

Năm – 42. Khi Antigone chống Hycano II thì Hêrôđê Cả bênh vực Hycano II nên sau đó Hycano II đã gả đứa cháu gái cho Hêrôđê Cả. Cô ta tên là Mariamne (cô này là con của bà Salomé Alexandra và vua Aristobule I). Đến khi Antigone bị trục xuất ra khỏi Giêrusalem và bị giết ở Ankiokia. Hêrôđê cả trở thành tổng trấn Giêrusalem. Ông là dân biểu của Rôma và được lên làm vua ở Giêrusalem.

– Vì lấy cháu gái Hycano II, mà Hycano II là thượng tế nên Hêrôđê cũng được làm thượng tế. Tuy nhiên, tổ tiên của Hêrôđê cả và Antipale mang dòng máu Hydome nên dân không ưa gì ông

Bà mẹ vợ của ông ghét ông vì việc ông làm vua là làm cản trở con ruột của bà là Aristobule III. Biết được điều này, nên trong một bữa tiệc. Hêrôđê cả đã dùng cân vệ của mình để giết Aristobule III bằng cách dìm trong nước.

Khi biết con của mình là Aristobule III bị giết chết bà mẹ đã thỉnh cầu Nữ hoàng Cléopatre..

Cléopatre đã rỉ tai hoàng đế Rôma và cho gọi Hêrôđê cả về Rôma để giải trình vụ việc này. Hêrôđê đã nghi ngờ trước sự việc sẽ xảy ra với mình khi về Rôma, nên ông đã bắt bà mẹ vợ giao cho ông Giuse và căn dặn nếu ông không trở về thì sẽ giết bà ta.

Năm – 31 có một cuộc nổi dậy do Octave cầm đầu đã chiến thắng Anton. Hêrôđê lo lắng không biết mình còn được làm vua xứ Giuđêa nữa không nên kết hợp với Octave.

Octave thấy Hêrôđê được việc cho mình nên củng cố cho Hêrôđê ở Giuđêa và ban thưởng một số vùng đất ở phía bên kia sông Giođan (phía đông).

Năm – 25 nhiều cuộc biểu tình chống lại Hêrôđê Cả, vì với tất cả những tội ác mà ông đã gây ra, cho dù ông đã làm xoa dịu dân Do Thái thân Hy Lạp và một số người Do Thái chính thống, nhưng cũng không gây được cảm tình với họ (ông đã cho xây lại đền thờ Giêrusalem và xây cảng ở Césarê) Bởi vì với người Hy Lạp sống ở Giuđêa thì cho rằng Hêrôđê mang một nửa con người Do Thái trong mình và họ đã không chấp nhận. Nhưng ngược lại với dân Do Thái thì không thích nửa người Idumé trong ông, vì thế ông không những không gây được cảm tình với dân mà lại càng làm căng thẳng hơn.

Hêrôđê cuối đời bị đau nặng về cả thể xác đến tinh thần và qua đời vào năm -4.

11. Thời phát sinh Kitô Giáo.

Giu-đê trở thành chư hầu Rôma dưới quyền tổng trấn Xi-ri. Nhưng người Do Thái được tự do thực hành tôn giáo và có nhà cai trị riêng. Hê-rô-đê miền I-đu-mê cai trị từ năm 37 đến năm 4 trước CGS. Bất kể các dự án xây dựng dinh thự nguy nga của ông, trong đó có đền thờ Giê-ru-sa-lem, dân Do Thái vẫn rất ghét Hê-rô-đê Cả, và phần lớn người ta chỉ nhớ đến những tàn bạo và dã man của ông mà thôi. Đó là bối cảnh của việc Chúa Giê-su sinh ra. Thánh Lu-ca ghi lại sự kiện là Chúa Giê-su sinh ra dưới thời đệ nhất Hoàng Đế Rôma, tức Au-gút-tô. Ông này được Ti-bê-ri-ô nối ngôi năm 14. Hành vi Hê-rô-đê sát hại các hài nhi tại Bê-lem hoàn toàn phù hợp với cá tính ông ta. Khi ông ta chết, vương quốc bị ba người con của ông chia nhau. Một tên vì cai trị quá tệ đã bị người Rôma truất phế và thay thế bằng một tổng trấn cho vùng Giu-đê. Phông-xi-ô Phi-la-tô, người đã lên án tử cho Chúa Giê-su, làm tổng trấn từ năm 26 đến năm 36.

Hội đồng Do Thái, gọi là Sanhedrin, cố gắng sống hòa hoãn với người Rôma để duy trì thế đứng của chính mình. Những người khác, như các viên thu thuế chẳng hạn, cũng lợi dụng sự chiếm đóng của người Rôma để làm đầy túi tham. Nhiều người trông chờ ngày họ được giải thoát khi họ được tự do. Như Si-mê-ôn, người đã có mặt ở đền thờ khi cha mẹ Chúa Giê-su đem dâng con trẻ cho Thiên Chúa, họ ‘chờ đợi ngày Ít-ra-en được cứu vớt’. Bởi thế, Chúa Giê-su rất thận trọng đối với tước hiệu Đấng Được Xức Dầu, đấng giải thoát từng được hứa hẹn xưa nay, vì sợ nâng cao niềm hy vọng của dân muốn Ngài lãnh đạo cuộc nổi dậy chống người Rôma.

Theo một sử gia người do thái tên: Flavius Josèphe thì Hêrôđê Cả đã trao cho ông Archélaiis một quyền chức (Ethnarque) và một nửa vương quốc của ông ta, trong đó có Giuđêa, Samaria, Iduméa. Một nửa khác được chia cho hai người con của ông là :

– Hêrôđê Antipa cai trị Galilê và Pérée.

– Hêrôđê Philipphê cai trị phía đông Galilê và Bétsaida.

Hêrôđê Cả còn 3 đứa con trai khác nhưng ông thấy chúng có tham vọng chính trị. Để trừ hậu quả sau nàu nên ông đã giết chúng.

Khi Hêrôđê chết, thì xứ Syria bảo hộ của Rôma nằm trong tay một người tên Barut. Vào thời đó có một người tên Giuđa con ông Ezechias tự xưng mình là đấng thiên sai và cầm đầu một băng nhóm bạo loạn. Băng này lôi kéo một số đông người của Giuđêa và Samaria. Trước tình hình bạo loạn đó, ông Barut xuống dẹp loạn và giết khoảng 2000 người.

Thời đó xảy ra nhiều cuộc nội chiến . vídụ: như một nhóm Zelote năm 6 trước công nguyên và cũng nhóm Zelote này năm 66 sau CN cũng nổi loạn.

Sau khi được chia phần, các con trai Hêrôđê sang Rôma để được chuẩn nhận từ hoàng đế Rôma. Trong khi đó những người Do Thái ở Palestin cũng cử một phái đoàn đến hoàng đế Rôma để bày tỏ những bất đồng về sự phong vương này vì họ muốn tẩy chay gia đình Hêrôđê. Để dung hoà Rôma quyết định không gọi Archelaiis là vua (nhưng chỉ là thủ lãnh của một tỉnh).

Archelaiis lấy tước hiệu là Ethnarque: tuy không được Rôma cho tước hiệu vua nhưng cả hai người con Hêrôđê Cả tuy có quyền hạn nhưng vẫn dưới quyền của Archelaiis.

Philippê và Antipas có tước hiệu Rôma ban cho là (Tétraque) là tướng của ¼ vùng tiểu vương.

Khi thánh Giuse và Mẹ Maria trở về từ Aicập đã lập nghiệp ở Galilêa chứ không phải ở Judêa vì họ biết Archelaiis cai trị vùng này.

Khoảng năm thứ 4-6 ông Archelaiis cai trị dân sống trong một thời kỳ thịnh vượng. Ở đây có hai miền khá khác nhau : xứ Samaria, dân tạp chủng từ thời nô lệ sang Assyria là dân ở miền bắc về đó sinh sống vì dân lưu đày về không còn thuần chủng. Còn Giuđêa gần gũi Galillé và Pérée.

Về mặt địa lý và chính trị thì xứ Pérée và Galillé là hai địa danh bị chia căt vì một nửa thuộc về Hêrôđê Antipas.

Triều đại Archelaiis đánh dấu của sự chống đối giữa Sađốc và Pharisiêu. Pharisiêu đòi quyền tự do mà ngày xưa họ được hưởng còn bây giờ con của Hêrôđê Cả không tôn trọng. Có một số người dù sống trong miền thuộc Archelaiis nhưng họ thích Hêrôđê Antipas và Hêrôđê Philipphê hơn.

Để chỉ sự chống đối này, Archelaiis đặt để các vị tướng và không cần dân bầu điều này làm cho dân giận (ông ta cưới một cô em gái cùng cha khác mẹ).

Hêrôđê Antipas trị vì Galileé và Pérée. Hai vùng cách biệt bởi Samaria và vùng Thập Tỉnh.

Galille là một xứ màu mỡ và Hêrôđê Antipas lập thủ phủ của mình tại địa danh Tiberiade để tôn vinh hoàng đế tên là Tibère.

Tiberiade: là trung tâm giáo dục tôn giáo của thượng tế.

Antipas là một người tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn trọng đạo Do Thái. Ông trị vì khoảng 30 năm, cưới bà HHêrôđia, bà này ly dị với người chồng trước là Hêrôđê Philipphe để lấy ông này. Bà là cháu gái của Hêrôđê Cả và bà Mariamne và là chắt của Hycano II.

Hoàng đế Rôma Caligula thấy Antipas tham vọng chính trị nên đày qua xứ Gaule (năm 39 – 40) và đặt ông Agrippa lên thay.

Hêrôđê Philipphe trị vì bên kia sông Giođan (phía tây) xứ sở này tương đối thanh bình và trong xứ này người ta dùng ngôn ngữ Aram. Hêrôđê Philipphe cũng là một nhà xây dựng, ông đã cho xây hai thành: Césare Philiphe và cái kia là Panéas.

Hêrôđê Philipphe chết năm 34 và vùng đất của ông được tháp vàp tỉnh Syria vào năm 34 dưới quyền Agrippa I

Bổn phận tổng trấn là thu thuế và giữ an ninh, thường ông có thể uỷ thu thuế cho một nhóm hay một cá nhân ký hợp đồng với tổng trấn. Những người thu thuế này phải là người Rôma hay người Do Thái làm cho Rôma. Chính những người làm việc thu thuế bị coi là ngoại lai.

Vào thời các tổng trấn thời Do Thái giữ độc lập một mức độ nào đó, và hoàng đế tôn trọng truyền thống tôn giáo của họ. Đối với người Do Thái quyền bính tối thượng nằm chính trong con người của thượng tế.

Một vị thượng tế nổi tiếng thời đó tên là Anna nắm quyền từ năm thứ 6 -15 là một người Sađốc giàu có và thông thoáng với Rôma, ông gây ảnh hưởng trện người con rể là Caipha và sau này bốn người con trai của ông tiếp tục lên nắm quyền. Thượng tế Caipha trị vì năm 18 – 36. có dính vào vụ án giết Chúa Giêsu.

Vào năm 26 Fontio Philatô tổng trấn cai trị Giuđêa. Ông ta có đôi lúc chọc giận người Do Thái rồi kiếm cách làm hoà lòng dân. Chính vì thế, khi vụ án Chúa Giêsu xảy ra, ông tha Banaba để làm yên lòng dân. Nhưng vì không đẹp lòng dân nên một ngày kia ông bị hạ bệ bởi một ông sứ thần của Rôma tên là Vitellius. Vitellius giao chức tổng trấn cho Jonathan con của Caipha.

Jonathan lên nắm chức thượng tế. Người ta giả thiết vào năm 36 dưới thời Jonathan các thượng tế lên án và giết Stephano mà không có ý kiến của Rôma và một năm sau đó ông Vitellius thay ông Jonathan bằng Théophile.

Hoàng đế Tibère chết vào năm 37 (ông Théophile lên thượng tế vào năm 37-71). Hoàng đế Caligula là một người Rôma, ông rất yêu thích văn hoá Hy Lạp. Ông đặt xứ Giuđêa dưới quyền của một tổng trấn tên là Maurulus ( 37-71).

Hoàng đế Caligula: bị ám sát năm 41 và ông Claudius lên thay thế ( 41-44). Claudius đặt Palestin dưới quyền cai trị của Rôma, ông tháp nhập Galillée vào Samaria và đặt Agrippa II con của Agrippa I làm thủ lãnh khắp vùng từ năm 49-54 và người tổng trấn đầu tiên mà hoàng đế Claudius đặt coi sóc toàn bộ Palestin bởi một người Rôma tên là Cuspius Fadus.

– Cuspius Fadus làm tổng trấn từ năm 44-46

– Tibère Alexandre…………………………………..46-48

– Ventidius Cumanus…………………………………..48-52

– Antoine Félix …………………………………………….52-60

Chính trong thời Antoine Félix có sự cố: Phaolô bị giam ở Césare và phải ra trước toà Félix.

– Festus……………………………………………………… 60-62

– Albinus…………………………………………………….62-64

– Florus …………………………………………………..64-66.

Với sự nổi dậy của những người ái quốc Zélote. Những người Kitô hữu bỏ Giêrusalem mà đi. Cuộc di cư của những người kitô hữu tiên khởi trước khi có cuộc bạo loạn của những người Do Thái chống Rôma từ năm 66-70.

GIÊSU DƯỚI CÁI NHÌN CỦA DO THÁI GIÁO VÀ HỒI GIÁO

Theo con số thống kê của “Time Almanach 2001” thì Kitô Giáo, tức Cơ Đốc Giáo (Christianity) là tôn giáo có số lượng tín đồ lớn nhất thế giới, chiếm 1/3 dân số toàn thể nhân loại.

Dân số thế giới hiện nay là 5 tỷ 929 triệu.

Số lượng tín đồ Kitô Giáo (Christians) là: 1 tỷ 943 triệu.

Mặc dầu gần hai tỷ người đó đều tự nhận là tín đồ Kitô (Christians) nhưng họ thuộc về nhiều giáo hội khác nhau, với những tín điều và nghi lễ khác nhau. Nói chung, những người theo Kitô Giáo có thể được chia thành 5 nhóm tôn giáo sau đây:

1. Công Giáo La Mã: 1 tỷ 026 triệu (trực thuộc Vatican)

2. Các giáo phái Tin Lành: 316 triệu (trên 200 giáo phái chống đối Vatican)

3. Chính Thống Giáo: 213 triệu (phần lớn ở Đông Âu, Nga và Bắc Phi)

4. Anh Giáo: 63 triệu (nghi lễ giống Công Giáo nhưng không thuộc Vatican)

5. Các nhóm Kitô Giáo độc lập: 373 triệu (Unaffiliated Christians)

Qua gần hai ngàn năm lịch sử, Kitô Giáo đã bị phân hóa trầm trọng và những cuộc thánh chiến tương tàn giữa những người anh em có cùng niềm tin vào Chúa Kitô đã làm tiêu hao nhiều chục triệu sinh linh. Nhưng có một sự kiện nổi bật trong lịch sử là: Dù cho những người Kitô Giáo chống đối nhau, thậm chí giết nhau như cuộc xung đột Công Giáo Tin Lành ở Ái Nhĩ Lan hoặc xung đột giữa Chính Thống Giáo và Công Giáo ở Nam Tư, nhưng họ vẫn có chung một niềm tin: Giêsu là Chúa Cứu Thế (Messiah/Christ).

Qua lăng kính tâm linh của các tín đồ Kitô Giáo, Giêsu là đấng Messiah với những thuộc tính sau đây:

1. Ngài là Thiên Chúa hóa thân thành người (God in human form).

2. Ngài chết để chuộc tội tổ tông của loài người

3. Ngài sống lại lên trời và sẽ xuống thế gian lần thứ hai vào ngày tận thế để xét xử mọi người sống và chết (mọi người chết sẽ sống lại để được xét xử)

Như chúng ta đã biết, Do Thái và Hồi Giáo cũng là những đạo thờ Thiên Chúa nhưng cả hai đều phủ nhận Giêsu là Messiah với những thuộc tính nói trên.

Hai tôn giáo Do Thái và Hồi đã đưa ra những luận cứ nào để bác bỏ tư cách Messiah (Kitô) của Giêsu? Đó là nội dung chính yếu của bài viết này.

I. QUAN ĐIỂM CỦA DO THÁI GIÁO VỀ GIÊSU

Giêsu là một người có thật, bằng xương bằng thịt, đã được sinh ra ở Do Thái cách đây gần 2000 năm.

Nhưng ý niệm về Messiah (Chúa Cứu Thế/ Chúa Kitô) là một sản phẩm đặc biệt trong tư duy của dân tộc Do Thái. Để tìm một định nghĩa xác thực nhất về Messiah, thiết tưởng không có gì đáng tin cậy hơn là Tự Điển Bách Khoa về Đạo Do Thái (The Shengold Jewish Encyclopedia).

Niềm tin vào Đấng Messiah (Messianism) được định nghĩa như sau: “Niềm tin vào đấng Messiah là niềm tin rằng: dân tộc Do Thái và toàn thể nhân loại được dẫn đến một thời đại hoàng kim, trong đó nền công lý toàn hảo và nền hòa bình thế giới được thực hiện bởi đấng Messiah. Ngài là vị vua lý tưởng và là một người toàn hảo. Danh từ “Messiah” có nghĩa là “Người được xức dầu”, đây là một phương cách cổ xưa để tôn vinh một người được trao trọng trách đặc biệt. Danh từ “Messiah Adonai” có nghĩa là “Người được Thiên Chúa xức dầu”. Đây là một danh hiệu do Cựu Ước dùng để gọi các vị vua của Israel. Các vị tiên tri trong kinh Thánh mô tả Messiah là một người được Thiên Chúa chỉ định, một vị lãnh đạo lý tưởng để đưa toàn thế giới đến nền công chính và hòa bình. Qua nhiều thế kỷ lưu lạc, dân tộc Do Thái vẫn tiếp tục ước mơ về sự xuất hiện của đấng Messiah”.

(Messianism: The belief that the Jewish people and all humanity would be led to a Golden Age of perfect justice and universal peace by a Messiah, an ideal king and a perfect man. The Hebrew Messiah means “one anointed man with oil”, the ancient way of dedicating a man to a special service. Messiah Donai – The Anointed of God – was a title of honor given in the Bible to the Kings of Israel. The prophets described the Messiah as a pinely appointed man, an ideal ruler who would lead the world in righteousness and in peace.

During the long centuries of exile, the Jewish people continued to dream of the Messiah).

Qua định nghĩa “Messiah” nói trên của người Do Thái, ta thấy sứ mạng của “Chúa Cứu Thế” chính danh phải là người thực hiện được nền hòa bình thực sự và nền công chính toàn hảo trên khắp thế giới. Xét theo tiêu chuẩn này, mọi người đều sẽ nhận rõ rằng: Giêsu chỉ là một kẻ vô dụng vì y chưa từng bao giờ góp được một chút công lao nào cho nền công chính và hòa bình của nhân loại.

Trong Kinh Thánh Cựu Ước có nhiều điều tiên tri về Messiah. Nhưng Giêsu chưa từng bao giờ thực hiện được một điều nào để chứng tỏ ông ta là Messiah cả. Thí dụ:

– Tiên tri Isaiah (thế kỷ 8 TCN) định nghĩa Messiah là đấng “giải thoát mọi người bị áp bức” (To let the oppssed go free – Isaiah 6: 9 và 6: 1-2). Thử hỏi Giêsu đã giải thoát được một người nào bị áp bức trên thế gian này?

– Isaiah cũng nói: Đấng Messiah sẽ gom góp toàn dân Do Thái trở về đất Israel (Gather all Jews back to the land of Israel – Isaiah 43: 5-6). Lịch sử Do Thái đã chứng minh ngược lại: Giêsu chết khoảng năm 30. Đến năm 70 thì Israel bị quân La Mã đánh chiếm và tiêu diệt người Do Thái vô số kể. Đến nỗi người Do Thái sợ bi diệt chủng nên đã bỏ xứ lánh nạn khắp nơi trên thế giới. Gần 19 thế kỷ sau (1949) thì Liên Hiệp Quốc (không phải Giêsu) đã gom dân Do Thái về Israel!

– Tiên tri Zechariah nói: Đấng Messiah là vua cai trị toàn thế giới (King over all the world – Zech. 14: 19) Điều này thì trong 2000 năm qua và cho đến muôn kiếp về sau chẳng bao giờ Giêsu có thể thực hiện được!

– Tiên tri Isaiah xác định: Messiah phải là người thuộc dòng vua David theo phụ hệ (Messiah must be decended on his father’s side from King David.

– Isaiah 11: 1) Giêsu có mẹ đồng trinh nên không có cha, vậy y làm sao thuộc dòng David theo phụ hệ được? Do đó, Giêsu không có tư cách Messiah.

– Người Do Thái hoàn toàn bác bỏ tính cách Thiên Chúa của Giêsu vì Cựu Ước dạy “Thiên Chúa chỉ có Một” (The Lord is One – Dent 6: 4) và “Thiên Chúa là vĩnh cửu, vượt thời gian. Ngài là vô cùng, vượt không gian. Ngài không thể được sinh ra và không thể chết” (God is eternal above time. He is infinite above space. He cannot be born and cannot die – Numbers 23: 19). Giêsu đã được sinh ra bởi bà Maria và đã chết dù chỉ chết 3 ngày 3 đêm) nên Giêsu không thể là Thiên Chúa vì Thiên Chúa không chết dù chỉ trong giây phút.

Người Do Thái vẫn chờ đợi sự xuất hiện của đấng Messiah. Điều đó có nghĩa là đấng Messiah chưa từng bao giờ xuất hiện trên thế gian này. Đối với họ, Giêsu không hề thực hiện được một điều nào Cựu Ước đã tiên tri về Messiah nên Giêsu không bao giờ được dân tộc Do Thái công nhận. Người Do Thái cũng phủ nhận sự tái lâm của Giêsu vì thần học của đạo Do Thái khẳng định Messiah chỉ đến một lần và không bao giờ trở lại. (No second coming of Messiah).

Dân tộc Do Thái rất kiên trì trong niềm tin tôn giáo vì họ tin tưởng rằng đạo Do Thái là đạo duy nhất do Thiên Chúa mặc khải cho cả quốc gia (a national revelation). Truyền thuyết về Messiah là sản phẩm tâm linh của cả dân tộc Do Thái. Họ không ngờ truyền thuyết này đã trở thành chiếc boomerang quay ngược lại tiêu diệt dân tộc mình. Trong gần hai ngàn năm qua, họ luôn luôn phủ nhận tư cách Messiah của Giêsu. Hậu quả thảm khốc là nhiều triệu người Do Thái đã bị giết nhưng vẫn chưa đủ đền mạng của một người Do Thái được người ta tôn vinh là Đấng Messiah!

II. QUAN ĐIỂM CỦA HỒI GIÁO VỀ GIÊSU

Khi nghiên cứu về Hồi Giáo, chúng ta sẽ ngạc nhiên nhận thấy người Hồi Giáo – nhất là Hồi Giáo Ả Rập – rất quan tâm và viết khá nhiều về Giêsu.

Tiến sĩ Tarif Khalidi, giáo sư môn ngôn ngữ học Ả Rập tại Đại Học Cambridge, đã thu thập được 303 câu chuyện (stories) qua hàng trăm cuốn sách bằng tiếng Ả Rập viết về Giêsu.

Ông đúc kết lại thành sách “The Muslim Giêsu”. Nguyên bản bằng tiếng Ả Rập. Bản dịch Anh ngữ 246 trang do Havard University Press xuất bản 2001. Tựa đề của cuốn sách ngụ ý Giêsu không phải là người Do Thái, cũng không phải là giáo chủ đạo Kitô mà là một tín đồ Hồi Giáo. Cũng tương tự như Giêsu, Abraham và Moises đều được người Hồi Giáo coi là những người đồng đạo của họ. Muhammad khẳng định: “Abraham không phải là Do Thái hay Kitô. Abraham, Moises và Giêsu đều là những tín đồ Hồi Giáo. (Abraham was not a Jew nor yet a Christian. Abraham, Moises and Giêsu are Muslims – Koran 3: 67).

Người Hồi Giáo cho rằng: các tín đồ Kitô đã hiểu sai về Giêsu và chỉ có người Hồi Giáo mới có cái nhìn đích thực về một “Giêsu Thật” (The Real Giêsu).

Tất cả những quan niệm của người Hồi Giáo về Giêsu đều được Muhammad truyền dạy trong kinh Koran qua những câu thơ rải rác trong 15 chương sách. Chúng ta cũng biết rằng kinh Koran là Kinh Thánh của Hồi Giáo (The Holy Bible of Islam). Đối với các tín đồ Hồi Giáo, Giêsu thật là Giêsu được mô tả trong kinh Koran (Quranic Giêsu). Đó chính là Giêsu trong đức tin Hồi Giáo:

– Kinh Koran ca ngợi Giêsu là tiên tri của Thiên Chúa (a prophet of God) là sứ giả của Chúa (a messenger of God) là tiếng nói và tinh thần của Thiên Chúa Allah (the Word and the Spirit of Allah) (Koran 3: 45).

– Kinh Koran ca ngợi Giêsu có tài tranh biện vì được Thiên Chúa ban sức mạnh tinh thần thánh thiện (God gave Giêsu clear arguments and strenghten him with the holy spirit – Koran 2: 87). Thiên Chúa dạy dỗ Giêsu sự khôn ngoan và sự hiểu biết về kinh Thánh Cựu Ước, Tân Ước (Allah taught him the wisdom, and the Tawrah, the Injil – Koran 3: 48) Giêsu có khả năng chữa lành những kẻ mù hoặc những kẻ cùi hủi và khiến cho kẻ chết sống lại với sự cho phép của Thiên Chúa Allah (Giêsu heals the blind and the leprous and bring the death to life with Allah’s permission – Koran 3: 49)

– Hồi Giáo công nhận Giêsu được sinh ra bởi bà Maria đồng trinh (And She who guarded her chastity – Koran 21: 91). Koran nhắc lại lời của bà I-sa-ve (mẹ của Gioan) chúc mừng bà Maria: “Thiên Chúa Allah đã chọn bà trên hết mọi người nữ ở thế gian này” (Allah has chosen you above the women of the world! – Koran 3: 42).

– Hồi Giáo tin rằng Giêsu sẽ trở lại thế gian vào ngày phán xét cuối cùng nhưng chỉ với tư cách nhân chứng mà thôi. Vị thẩm phán tối cao xét xử mọi người là Thiên Chúa Allah. (On the day of Resurrection Giêsu shall be a witness – Koran 4: 159).

– Hồi Giáo không nói Giêsu đã từ kẻ chết sống lại, nhưng tin rằng Thiên Chúa Allah đã đưa Giêsu về trời. (Allah took him up to Himself – Koran 4: 158)

Mặc dầu Hồi giáo tôn vinh Giêsu như trên nhưng họ hoàn toàn phủ nhận tư cách Thiên Chúa hoặc Con Thiên Chúa của Giêsu. Koran khẳng định: “Thật là nhục mạ Thiên Chúa đối với những kẻ nói Giêsu, con của Maria, là Thiên Chúa. Giêsu không là gì khác hơn là tôi tớ của Thiên Chúa mà thôi” (They do blaspheme who say God is Giêsu, son of Maria. He was no more than a servant of God – Koran 5: 72-75).

Giêsu không phải là một sinh vật linh thiêng mà chỉ là một người thường như chúng ta. Trước mặt Thiên Chúa Giêsu cũng giống như Adam, tất cả đều được Thiên Chúa dựng lên bằng tro bụi. (Surely, the likeness of Giêsu is with Allah as the likeness of Adam. He created him from dust – Koran 3: 59). Sở dĩ Giêsu được coi là một người đặc biệt vì ông ta được Thiên Chúa Allah ban cho đặc ân và ngài biến ông ta thành một gương sáng cho con cháu của dân tộc Do Thái. (Giêsu, son of Mary, was naught but a servant on whom God bestowed favor and made him an example for the children of Israel – Koran 43: 59).

– Hồi Giáo kịch liệt chống lại Thuyết Thiên Chúa Ba Ngôi. Kinh Koran luôn luôn nhắc đi nhắc lại điều quan trọng nhất của đạo Hồi là: Thiên Chúa chỉ có Một. Ngài không sinh con và không do ai sinh ra. Không có một người nào giống Thiên Chúa cả. (Say not three Deists, Allah is One. Koran 4: 117, Say, He, Allah is One. He begets not, nor is He begotten and none is like Him. Koran 112: 1-4)

Thiên Chúa không bao giờ tha thứ cho bất cứ ai đồng hóa với Ngài – Bất cứ ai gán ghép một cái gì đó vào Thiên Chúa đều phạm tội trọng. (Surely, Allah does not forgive that anything should be associated with him – Whoever associated anything with Allah he devises indeed a great sin – Koran 4: 48)

– Hồi Giáo phủ nhận việc Giêsu bị đóng đinh trên thập giá (They – the Jews – killed him not nor cruxified him – Koran 3: 59) đồng thời phủ nhận “tội tổ tông” của Adam và Eva, mặc dầu Hồi Giáo cũng tin hai vị này là tổ tiên của loài người. Nói cách khác, Hồi Giáo hoàn toàn phủ nhận lập luận của đạo Kitô cho rằng đã chịu chết trên thập giá chuộc tội tổ tông để cứu loài người.

Đọc kinh Koran, mọi người sẽ nhận thấy thái độ rất rõ rệt của Hồi Giáo đối với Kitô Giáo:

Một mặt, người Hồi Giáo rất tôn kính Giêsu. Mặt khác người Hồi Giáo tỏ thái độ thù nghịch đối với các tín đồ Kitô Giáo vì người Kitô vi phạm những điều cấm kỵ hết sức nghiêm ngặt của đạo Hồi là tuyệt đối cấm thờ bất cứ một ai ngoài Thiên Chúa Allah và cấm thờ ảnh tượng. Muhammad qui trách nhiệm cho những người Do Thái lập đạo Kitô đã ngụy tạo Lời Chúa và viết thêm những điều bậy bạ vào Thánh Kinh làm cho Kitô Giáo trở thành một tà đạo. Muhammad viết:

– “Những người Do Thái (lập đạo Kitô) là những kẻ đã thay đổi Lời Chúa hoặc xuyên tạc Lời Chúa bằng miệng lưỡi của họ và nhạo báng đạo của Chúa” (of those who are Jews there are those who alter the words of God… distorting the words with their tongues and taunting about religion – Koran 4: 46).

– “Thật là một thảm họa cho những kẻ viết Thánh Kinh bằng bàn tay của họ rồi nói rằng sách đó do Thiên Chúa ban cho” (Woe, then, to those who write the Book with their hands and then say: This is from Allah – Koran 2: 79).

Muhammad ca ngợi Giêsu là người hết lòng tôn thờ Thiên Chúa Allah – kinh Koran có thuật lại lời cầu nguyện của Giêsu như sau:

“Vinh danh Chúa Allah. Chúa biết những gì con nghĩ trong đầu nhưng con không biết điều gì trong ý Chúa. Chỉ có chúa là Đấng Thông Biết mọi sự”.

(Glory to Allah. Thou knowest what is in my mind and I do not know what is in Thy mind. Surely Thou art the great knower of the unseen things – Koran 5:117)

Đối với đạo Hồi, Giêsu được coi là một người công chính giống như tiên tri Elisha của đạo Do Thái. Kinh Koran viết: “Giêsu và Elisha đều chung một hàng của những người Công Chính”.

(Giêsu and Elisha were all in the rank of the Righteous. Koran 6: 85)

PHỤ LỤC II TRUYỀN THỐNG ABRAHAM DƯỚI ÁNH SÁNG KHOA HỌC KHẢO CỔ

Trải qua 4000 năm lịch sử, nhân vật Abraham đã được coi là biểu tượng cho niềm khát vọng của con người muốn thiết lập một mối giao ước (covenant) với Thượng đế.

Nói đúng ra, đó là khát vọng tâm linh của phần đông các dân tộc Tây phương, bao gồm Âu châu, Do thái và các chủng tộc Ả rập. Đố với các dân tộc Á châu, ý niệm về sự thiết lập một giao ước với Thượng đế là hoàn toàn xa lạ, nếu không muốn nói là kỳ quặc!

Chúng ta không thể tưởng tượng nổi là cái ý tưởng kỳ quặc đó đã xâm chiếm tâm linh của hơn một nửa dân số loài người. Hiện nay có tới trên 3 tỉ người tôn vinh nhân vật Abraham là Thánh tổ phụ về huyết thống (Father) hoặc Thánh tổ phụ của đức tin (Spiritual Ancestor of Faith).

Một điều đáng chú ý là hai tỉ người Ki-tô giáo, 1.3 tỉ người Hồi giáo và 15 triệu tín đồ Do thái giáo từ xưa đến nay luôn luôn thù nghịch nhau, nhưng tất cả đều đồng nhất tự xưng mình là tín đồ độc thàn chân chính của Abraham (True Abrahamic monotheists). Dù là một nhân vật có thật trong lịch sử hoặc hcỉ là một nhân v6ạt thần thoại, Abraham đã hiển nhiên là một “giáo chủ” có đông tín đồ nhất từ xưa đến nay. Có thể nói, Abraham là giáo chủ của các giáo chủ Tây phương, bời lẽ không có một tôn giáo nào của Tây phương mà không tôn vinh Abraham là tổ phụ đức tin của tôn giáo mình.

Cuốn sách đầu tiên của Bộ Thánh kinh Do thái là sách Sáng thế ký (Genesis II: 27-28) cho biết : Noah sinh ra Shem, Shem sinh ra Terah, Terah sinh ra Abraham. Abraham lấy Sarah sinh ra Isaac, Isaac sinh ra Jacob là tổ tiên của 12 bộ lạc Israel. Abraham lấy cô đầy tớ gái Ai cập sinh ra Ismael là tổ tiên của các giống Ả rập. Kinh thánh Do thái kể lý lịch của Abraham như trên để xác định Abraham chẳng những là ông tổ lập đạo Chúa mà còn là ông tổ của dân tộc Do thái về huyết thống.

Do thái thuộc dòng dõi chính thức của Abraham còn các dân tộc Ả rập đều thuộc dòng dõi thấp kém vì chỉ là “con rơi con rớt” của Abraham mà thôi.

Trong sách Phúc âm Tông đồ Công vụ của Ki-tô giáo có bức thư của Phao-lồ gửi cho các tín hữu ở Rome, trong đó có câu: “Đức tin của chúng ta là đức tin của Tổ phụ Abraham” (Epostle to the Romans: Our faith is that faith of our Fatther Abraham). Phao-lồ là “vị đại thánh” có công hàng đầu trong việ lập đạo và truyền đạo ki-tô, vì vậy các nhà chuyên nghiên cứu tôn giáo Tây phương đã gọi Ki-tô giáo là “thần học của Phao-lồ” (The Pauline theology). Phao-lồ đã xác nhận Ki-tô giáo là đạo của Abraham. Ngòai ra, vì Phao-lồ là người Do thái nên ông ta đã gọi Abraham là Tổ phụ (Father).

Công giáo Việt Nam tránh né không gọi Abraham là “tổ phụ” nhưng cũng tôn vinh Abraham là một vị thánh cao cả ngồi cạnh Đấng chí tôn. 92% dân số Việt-nam ngoại đạo đều là những kẻ chưa biết đến “đạo thánh” của Abraham! Người Công giáo Việt-nam cảm thấy xót thương đồng bào mình nên đã sáng tác bài kinh bất hủ mang tựa đề :

“Kinh Cầu Cho Dân Nước Việt-nam Trở Lại Đạo Thánh”:

“Lạy Chúa, thuở Chúa mới giáng sinh, Chúa đã kêu gọi ba vua phương Đông đến thờ lạy Chúa. Chúa đã phán rằng : Ngày sau có nhiều kẻ bởi Đông Tây sẽ đến nghỉ ngơi cùng Thánh Abraham trên nước thiên đàng. Nay nước Việt-nam cũng là một cõi Đông Phương đang còn nhiều kẻ tin vơ thờ quấy chưa hề biết Đấng chí tôn. Xin Chúa hãy làm cho nó tìm đến cùng Chúa hầu ngày sau đặng nghỉ ngơi (cùng thánh Abraham) trên nước thiên đàng, chúc tụng ngợi khen Chúa đời đời kiếp kiếp.” (Kinh Nhựt khóa 143-146).

Vị giáo chủ sáng lập đạo Hồi là Muhammad viết kinh Koran vào đầu thế kỉ 7 đã tôn vinh Abraham là tín đồ Hồi giáo. “Abraham chẳng phải là người Do thái, cũng chẳng phải người Ki-tô nhưng ngài là một người công chính, một người Hồi giáo.” (Abraham was not a Jew nor a Christian but he was upright man, a Muslim – Koran 3:67). “Chúng ta tin Thiên Chúa và tin những gì đã được Thiên Chúa mặc khải cho Abraham và Ismael” (We believe in Allah and waht eas revealed to Abraham and Ismael – Koran 3:84).

Nói tóm lại, tất cả các đạo thờ Chúa gồm có Do thái, Ki-tô và hồi đều dành nhau làm “con cái của Abraham” (The children of Abraham). Nhưng điều mỉa mai là từ nhiều thế kỷ qua đến nay, lịch sử của đám con cái Abraham luôn luôn là lịch sử của một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn liên miên bất tận! Vấn đề đựơc đặt ra 12 nguyên nhân nào đã dẫn đến sự nghi kỵ hận thù không thể hàn gắn giữa những người tự nhận là anh em cùng cha là Abrahan?

Nhà khảo cổ chuyên về Thánh kinh (Biblical archaeologist) Tad Szulc, tác giả bài “Abraham, cuộc hành trình của niềm tin” (Abraham, Journey of faith) đăng trên tạp chí National geographic tháng 12/2001 (trang 90-129), đã trả lời một phần cho vấn đề nêu trên. Tác giả đến Jerusalem quan sát và chụp hình nhiều nhóm tín đồ độc thần. Tất cả đều dùng Thánh kinh như những kịch bản bi kịch (drama). Các người thuyế giảng đều tự coi mình như những diễn viên (actors). Lúc đầu các nhóm đều kể chuyện Thánh kinh giống nhau, nhưng về sau họ rẽ sang những chi tiết của câu chuyện khác nhau. Chính sự khác nhau về những chi tiết này đã làm các tôn giáo và các chủng tộc thù nghịch nhau, mặc dù tất cả đều cùng tôn vinh Abraham làm tổ phụ.

Màn bi kịch được diễn nhiều nhất tại Jerusalem là chuyện Thiên Chúa dựng lên trời đất cạn vật trong 7 ngày, Chúa đuổi tổ tiên loài người là Adam và Eva ra khỏi vười Địa đàng, Chúa tạo nên trận Đại hồng thủy trong đời Noah. Con út của Noah là Shem sinh ra Terah. Terah sinh ra Abraham và Thiên Chúa ra lệnh cho Abraham thực hiện một sứ mạng lịch sử. Đến đây câu chuyện bắt đầu khác : Người Hồi giáo tin rằng sứ mạng lịch sử của Abraham đã được mặc khải cho loài người qua Muhammad thuộc dòng dõi Ismael, con của Abraham. Trong khi những người Do thái và Ki-tô giáo tin rằng họ được Thiên Chúa mặc khải và ban cho nhiều ân sủng thiêng liêng qua dòng dõi Jacob, con của Isaaac, tức cháu nội của Abraham.

Đối với các nhà nghiên cứu tôn giáo đứng bên ngoài quan sát đều đưa ra nhận xét : Tất cả các chuyện kể trên đều là bịa đặt, đả đựơc viết ra để tự vinh danh bộ lạc của mình! (these stories are pure fiction, written for tribal self-glorification – Journey of faith, National Geographic 12/2001, page 90).

Chúng ta hãy duyệt qua Kinh thánh Do thái và Kinh Koran của Hồi giáo để xem hai tôn giáo này đã xử dụng truyền thuyết Abraham để tôn vinh dân tộc của họ như thế nào. Cuối cùng, qua kết quả của các công trình khảo cổ, chúng ta sẽ có một giải đáp khoa học khách quan về truyền thuyết Abraham.

1. Truyền thuyết Abraham qua Kinh thánh Cựu ước Do thái:

Sách Sáng thế ký 11: 27-31 cho biết Abraham sinh tại thành phố Ur ở phía Nam xứ Babylon (nước Iraq hiện giờ). Căn cứ vào sự xác định này của Thánh kinh Cựu ước, vào đầu thập niên 1920 hàng ngàn nhà khảo cổ từ khắp mọi nới trên thế giới đã đổ xô đến Ur để khai quật tìm hiểu về sinh quán của Abraham. Ur là một nới tiều điều bụi bặm, khô cằn sỏi đá và không có một người nước nào cả. Hiện chỉ còn một số ụ đất hình kim-tự-tháp, một số ngọn tháp Zigguart được xây để thờ thần Mặt trăng (Sin) vào khoảng năm 2100 TCN (Trước Công nguyên). Toàn cảnh thành phố Ur rộng khoảng 120 mẫu (acres) được tạo dựng lên khoảng 5000 năm TCN. Thành phố Ur được khai quật đợt đầu trong thập niên 1920 và sau đó vào thập niên 1930, dưới sự lãnh đạo của nhà bác học khảo cổ trứ danh người Anh là Leonard Woolley.

Các nhà khảo cổ đã tìm thấy tại Ur nhiều ngôi mộ cổ của các vua chúa và di tích của nhiều dãy phố. Đặc biệt là những đồ trang sức bằng vàng, bạc và đá quý rất tinh xảo. Điều đó chứng tỏ Ur là một thành phố giàu có và đạt tới trình độ văn minh cao. Theo các giáo sư chuyên khảo cứu về văn minh Babylon thuộc trường Đại học Michigan thì Ur là thủ đô của vùng Lưỡng Hà châu (Mesopotamia) và là thương cảng của sông Euphrate sát gần với Vịnh Ba tư. Thành phố Ur có tới 12.000 dân và đạt tới điểm cực thịnh vào khoảng năm 2100 TCN.

Sau đó, bờ biển của Vịnh Ba tư được đất bồi và tiến xa ra biển, đã để thành phố Ur ở lại phía sau cách bờ biển tới hơn một trăm dặm. Ur dần dần biến thành sa mạc hoang vu. Các công trình khai quật thành Ur không phải là vô ích vì nó đã đem lại cho các nhà khảo cổ hàng ngàn tấm đất sét phơi khô (sun-dried clay tablets) có những hàn chữ giống như nêm cối gọi là “Cuneiform”. Lối viết chữ này đã được phát minh từ năm 3200 TCN bởi giống người Sumerians là những cư dân đầu tiên ở vùng Lưỡng Hà châu này.

Giáo sư Michalowski, chuyên viên khảo cổ về Luỡng Hà châu thuộc Đại học Michigan và là chủ bút tờ báo nghiên cứu về chữ Cuneiform (Kournal of Cuneiform Studies) cho biết : Thành phố Ur là trung tâm thương mại trong vùng Lưỡng Hà châu vào khoảng 2100 TCN, tương đương với thành phố Venice của Ý sau này vì tại UR người ta dùng nhiều thuyền bè chạy trên sông Euphrates, sông Tigris và nhiều sông đào thông qua các con sông lớn này. nếu Abraham là một nhân v6ạt có thật vào thời điểm này và nếu được đi học thì Abraham phải biết toán học, sử học, kế toán và văn chương của người Sumerians. Tại Ur có rất nhiều đền thờ thần Sin, tức thần Mặt trăng (The Moon God). Rất có thể những suy nghĩ về thần Mặt trăng đã dẫn Abraham đến ý tưởng thờ một Thiên Chúa duy nhất.

Sác Sáng thế ký mô tả thành phố Ur thuộc xứ Chaldes là một điều sai lầm vì các nhà khảo cổ có đầy đủ bằng cớ xác nhận Chaldes là một địa danh xuất hiện ở vùng Lưỡng Hà châu vào thiên niên kỷ I TCN, tức sau thời đại của Abraham tới một ngàn năm.

Giáo sư Do thái Finkelstein, chủ nhiêm ngành khảo cổ thuộc Đại học Tel Aviv, cho biết : “Trong 20 năm qua, khoa học khảo cổ đã trở thnàh một công cụ chính yếu để khảo cứu các giai đoạn quá khứ của Do thái Cổ. Sau nhiều năm nghiên cứu , ngành khảo cổ chưa xác định được có hay không có Abraham, nhưng sách Sáng thế ký (Genesis) viết về ông ta được ước tính đã được viết trong thế kỷ 7 TCN.” (National Geograpic, p.106-107). Như vậy, sách Sáng thế ký đã được viết để kể chuyện một nhân vật đã sinh ra trước đó tới 13 thế kỷ. Diều này cho thấy chuyện Abraham khó có thể là một chuyện thật.

– Các tài liệu ghi chép bằng chữ Cuneiform ghi nhận vào khoảng năm 2000 TCN có một trận chiến tranh lớn gây ra bời giống người Elamite (tức Iran ngày nay) đến tàn phá thành phố Ur. Đây có thể là lý do khiến gia đình của Abraham phải dời đi nơi khác.

– Từ thành phố Ur đến Canaan là cuộc hành trình dài 600 dặm (965 km). Nếu đi đường bộ với đoàn lữ hành có ngựa, lừa, lạc đà … củng phải mất nhiều tháng hặoc cả năm. Sáng Thế ký cho biết Abraham không đến th8ảng Canaan mà đến định cư tại thành phố Haran một thời gian. Thành phố Haran ngày nay là một ngôi làng thuộc Thổ nhĩ kỳ với 500 cư dân. Các ngôi nhà của dân làng này đều làm bằng đất sét giống như tổ ong. Thuở xa xưa, làng này là một thành phố thương mại sầm uất vì nó nằm trên bờ sông Balikh, phía Bắc thung lũng sông Euphrates và là ngã tư quan trọng của vùng Lưỡi Liềm Cận Đông (The firtile crescent of the Near East). Tại đây có nhiều đền thờ thần Mặt trăng giống như ở Ur. Dân cư trở nên thưa thớt vì khí hậu thay đổi càng ngày càng nóng. Hiện tại nhiệt độ trung bình ở đây lên tới 120 độ F.

Điều đặc biệt đáng chú ý là ở giữa làng Haran có một ngọn đồi, trên đó có một căn nhà mà dân làng này tin rằng đó là căn nhà khá rộng lớn như nhà của những người khá giả. theo chuyện dân gian lưu truyến ở vùng này thì Abraham làm nghề chăn nuôi và thường bán lông cừu cho nông dân trong vùng để đổi lấy nông sản và thực phẩm.

Những chuyện về Abraham ở Haran chỉ có thế nhưng cũng thu hút khá nhiều du khách từ những vùng lân cận đến bằng xe buýt (bus) vào cuối tuần để viếng thăm những “di tích” của Abraham !

Ở gần làng Haran có thành phố Urfa cới dân số gần nửa triệu người. Từ xa xưa thành phố này đã được coi là sinh quán của Abraham. Hàng năm người ta tổ chức những đại hội lớn gọi là “Đại hội Abraham” thu hút rất đông du khách từ thập phương kéo tới.

Truyền thuyết địa phương kể rằng : Abraham sinh ra trong một cái hang đá ở phía nam của thành phố Urfa. Khi mới sinh ra được một ngày, Abraham đã lớn bằng đứa trẻ đầy tháng và sau một năm, Abraham lớn bằng đứa trẻ 12 tuổi. Khi trưởng thành, Abraham đập nát các ảnh tượng của các thần cà khuyên mọi người chỉ thờ một Thiên Chúa mà thôi. Vua Nimrod ra lệnh nắt Abraham và xử tử bằng cách thiêu sống. Nhưng khi ngọn lửa mới bùng lên thì tự nhiên có một vòi nước đổ nước xuống dập tắt ngọn lửa và những thanh củi đang cháy biến thành những con cá, nhờ thế mà Abraham được cứu sống.

Hiện nay, mỗi tuần có nhiều chuyến xe bus chở khách hành hương từ Iran qua viếng hang đá mà họ tin là nơi sinh của Abraham. Trước khi vào hang đá họ phải đi qua một ngôi đền Hồi giáo có một ngọn tháp nhỏ. Họ ở đây ít phút cầu nguyện Thượng đế trước khi vào viếng thăm hang đá, nơi sinh ra của Abraham, vị thánh tổ vĩ đại của tất cà các đạo thờ Chúa ! Đối với dân chúng ở khắp vùng này thì sinh quán của Abraham là Urfa chứ không phải Ur như sách Sáng thế ký của đạo Do thái đã nói. Dù cho Abraham sinh ra tại Ur hay Urfa cũng không quan trọng, điều quan trọng là sách Sáng thế ký (cuống sach đầu tiên của bộ Kinh thánh Do thái) đã mô tả chi tiết về Haran : Tại Haran, Chúa nói với Abraham hãy tiếp tục lên đường đi đến Đất hứa. Lúc đó Abraham đã 75 tuổi, vợ là Sarah đã 65 tuổi. Abraham lên đường cùng với vợ và người cháu trai tên là Lot. Họ mang theo nhiều tài sản gồm súc vật và đồ đạc. Từ haran đến đất hứa Canaan, Abraham phải đi qua nước Syria. Đất hứa Canaan chính là dải đất của xứ Ai cập. Sáng thế ký mô tả vùng Đất hứa Canaan “chảy ra sữa và mật” (flowing with milk and honey) ngụ ý miền đất này rất phì nhiêu. Trong thực tế vùng đất Canaan khô cằn sỏi đá nên từ hai ngàn năm trước Công nguyên đa số cư dân ở Canaan phải sinh sống bằng nghề buôn bán. Vì thế, từ thuở đó chữ “Canaanites” đã có nghĩa là thương gia (merchants).

Sechem là tên của một thành phố cổ tại Trung đông đã có từ 2000 năm TCN, tọa lac ở phía tây sông Jordan. Nay thành phố mang tên Nablus, có 130.000 dân và đặt dưới quyền kiểm soát của chính quyền Palestine. Hiện tại thành phố này đang là một bãi chiến trường giữa Palestine và Do thái. Cũng như hàng ngàn năm về trước, nơi đây đã từng là chiến trường giữa hai dân tộc con cháu của Abraham : Do thái và Ả rập !

Sách Sáng thế ký không nói Abraham ở tại thành phố Sechem bao lâu, chỉ nói Abraham đi về phía nam đến sa mạc Negrev. Ngày nay, vùng Negrev đã được dẫn thủy nhập điền nên nghề nông phát triển. Vào thời Abraham, mỗi khi gặp mùa hạn hán vùng này thường bị lâm vào nạn đói trầm trọng. Chính vì vậy Abraham đã phải bỏ Đất hứa Canaan để đi Ai cập. Nhờ có sông Nil và vùng đồng bằng phì nhiêu màu mỡ nên dân Ai cập có một cuộc sống no đủ thịnh vượng. Mục đích của Abraham đến Ai cập kiếm ăn để khỏi bị chết đói. Khi mới tới biên giới Ai cập , Abraham căn dặn Sarah (lúc đó 65 tuổi) : “Em là một người đàn bà đẹp, nếu em nói là vợ ta thì người Ai cập sẽ giết ta. Vậy em hãy nói là em gái của ta”. Quả nhiên, các cận thần của vua Pharaon thấy Sarah quá đẹp nên đã dẫn nàng “dinh” (“harem”) của nhà vua.

Tại Canaan, Chúa lại hiện ra với Abraham và xác định lãnh thổ Đất hứa : “Ta sẽ cho dòng dõi của con lãnh thổ từ sông Nil của Ai cập đến sông Euphrates” (nay thuộc Iraq). Nhưng Abraham lo lắng nghĩ về tương lai vì hiện tại Abraham không có một đứa con nào cả. Abraham oán trách Chúa : “Chúa cho tôi những thứ đó để làm gì vì tôi già sắp chết rồi mà vẫn không có con?” (Oh my Lord, what can you give me when I am going to my end childless?). Chúa trả lời : “Con hãy nhìn lên bầu trời và đếm các vì sao. Dòng dõi của con sau này cũng sẽ đông như vậy”.

Lúc đó, Sarah tin rằng mình không thể nào sinh con được vì đã 75 tuổi nên thuyết phục chồng ăn nằm cới cô đầy tớ gái Ai cập tên Hagar. ít lâu sau, Hagar sinh cho Abraham đứa con trai đầu lòng, đặt tên là Ismael. Khi có đứa con đầu lòng thì Abraham tròn 86 tuổi !

Mười ba năm sau, tức vào lúc Abraham 99 tuổi, Chúa hứa với Abraham rằng ông ta sẽ là tổ phụ của nhiều quốc gia (father to a multitude of nations). Abraham và Sarah đều phá lên cười và hỏi lại Chúa “Có lẽ nào một ông già trên 100 tuổi và một bà già 90 tuổi sinh con?”. Đúng một năm sau, Sarah sinh ra một bé trai được hai vợ chồng đặt tên là Isaac, có nghĩa là tiếng cười (theo tiếng Hebrew). Sau khi có con, Sarah ghen với Hagar và Ismael nên thuyết phục Abraham đuổi họ ra khỏi nhà. Abraham đưa Hagar và Ismael đến một nơi trong sa mạc. Những người Hồi giáo tin rằng nơi đó chính là Mecca hiện nay.

Sách Sáng thế ký kể tiếp : Sarah chết năm 127 tuổi tại Quiryat gần Hebron, Abraham đem xác vợ về chôn tại hang Machpelah, thuộc tỉnh Hebron ở gần Biển Chết (the Dead Sea).

Sau đó, Abraham đến Haran kiếm vợ cho Isaac tên Rebekah. Cưới vợ cho con trai xong, Abraham đi Hebron để kiếm một cô vợ cho riêng ông, lúc này ông đã 137 tuổi. Cô vợ trẻ của Abraham tên Keturah sinh cho ông 6 đứa con. Sách Sáng thế ký cho biết Abraham chết vào năm 175 tuổi. Isaac va Ismael đem xác cha về chôn bên cạnh mộ của bà Sarah tai hang Machpelah. Ngày nay hang này là thánh địa của đạo Do thái va đạo Hồi.

2. Truyền thuyết về Abraham trong đạo Hồi

Truyền thuyết về Abraham trong đạo Hồi được thuật lại một cách sơ lược qua 25 câu thơ rải rác trong các chương khác nhau của kinh Koran:

– Adam là tổ tiên của loài người và là vị tiên tri thứ nhất của Thiên Chúa (Koran 3:33)

– Trận Đại hồng thủy tiêu diệt cả loài người, chỉ ngoại trừ những người và vật trên tàu của ông Noah được cứu thoát mà thôi. Noah là tiên tri thứ hai của Chúa (Koran 7:59-64)

– Sau đó loài người sinh sôi nảy nở và thờ nhiều thần nhảm nhí nên Chúa cho tiên tri thứ ba xuất hiện, đó chính Abraham. Với sứ mạng lập đạo thờ một Chúa tức Độc thần giáo (Monotheism), Abraham chống lại cha ruột của minh là Azar (tức Terah) vì ông này làm ra rất nhiều tượng thần để tôn thờ. Abraham chất vấn cha : “Cha sẽ thờ những ảnh tượng này thay vì thờ Chúa sao? Hiển nhiên là cha và những người theo cha là những kẻ sai lầm!” ( Koran 6:74-84 ).

Đạo Do thái và đạo Hồi đều tự nhận là đạo chân chính của Abraham vì không thờ ảnh tượng.ai đạo này kết án đạo Công giáo và Chính thống giáo là những tà đạo vì hai giáo phái Ki-tô này đều thờ rất nhiều ảnh tượng của Chúa và các thánh!

Trong thế kỷ I, “thánh” Phao-lồ của Ki-tô giáo gọi Abraham là “tín đồ Ki-tô giáo trước Phúc âm” ( a Christian before Gospel). Đến thế lỷ 7, Muhammad gọi Abraham là “tín đồ hồi giáo trước kinh Koran” ( a Muslim before Koran ).

Truyền thuyết của Hồi giáo về Abraham trong phần đầu cũng tương tự như trong sách Sáng thế ký của đạo Do thái. Nhưng từ khi bà Sarah nổi ghen và buộc Abraham phải đuổi hai mẹ con Ismael ra khỏi nhà thì câu chuyện bắt đầu đổi khác : Bà Hagar dẫn con đến một nơi ở sa mạc Syro-Arabia, nơi đó chính là địa điểm của thành phố Mecca, thủ đô của xứ Saudi Arabia ngày nay.

Năm Ismael lên 13 tuổi, Abraham cắt da qui đầu của con trai và sau đó ông tự cắt da qui đầu của mình, mặc dầu lúc đó ông đã 99 tuổi. Đây là hành vi tỏ ý tuân phục Thiên Chúa tuyệt đối. Tục lệ cắt bì (circumcision) bắt đầu từ đó và dần dần biến thành một nghi lễ (tương tự như lễ rủa tội của Ki-tô giao) áp dụng cho mọi tín đồ nam giới của đạo Do thái và đạo Hồi.

Khi Isamel trưởng thành, Chúa thử lòng Abraham bằng cách ra lệnh cho ông phải giết đứa con trai yêu quí của mình và đốt nó bằng củi lửa như những vật hy sinh khác ( Koran 37:102-112 ). Abraham tuân lệnh Chúa nên dẫn Ismael lên núi Arafat (cách Mecca 16 dặm) để giết. Nhưng khi Abraham vừa mới vung đao lên để giết con thì Thiên Chúa ngăn lại. Chúa hứa cho Ismael sau này trỏ thành tổ phụ của một dân tộc lớn. về sau, Ismael có 12 người con trai là tổ tiên của 12 giống dân Ả rập. (Điều này cũng tương tự như Kinh thánh Cựu ước Do thái chép rằng : cháu nội của Abraham là Gia-cóp có 12 con trai là tổ phụ của 12 bộ lạc Do thái. Kinh thánh Tân ước cũng chép : Chúa Jesus chọn 12 tông đồ để lãnh đạo 12 bộ lạc Do thái chứ không phải để truyền đạo khắp thế gian.)

Trong thời gian bà Hagar và Ismael sống tại sa mạc, Abraham thường xuyên đến thăm. Giữa chốn sa mạc hoang vu này Chúa đã khiến cho một dòng nước từ dưới những lớp cát phun lên. Đó chính là giếng nước thiêng ở Mecca gọi là giếng Zamzam. Cả hai cha con Abraham đã cùng nhau xây một đền thờ Chúa đầu tiên trên trái đất. Đó chính là đền thờ Kaaba ở Mecca hiện nay. Tiếng Ả rập Kaaba có nghĩa là Tòa nhà hình khối (the Cubic Building). Ismael thọ 137 tuổi.

Ngày nay, mỗi năm có tới hàng chục triệu người Hồi giáo từ khắp nơi trên thế giới đổ về Mecca hành hương. Địa điểm chính yếu là đền thờ Kaaba. Trước khi tới đền thờ này, người ta phải đi bộ qua các đại lộ Abraham, Hagar, Ismael và Muhammad. Sau đó, các khách hành hương đi thăm giếng nước Zamzam đã nuôi sống hai mẹ con Ismael ở sa mạc. Cuối cùng họ kéo nhau lên núi Arafat, cách Mecca 16 dặm, giết những con cừu làm lễ tế sinh (animal sacrifice offering) để tưởng niệm Abraham toan giết Ismael làm lễ hy sinh tế lễ Thiên Chúa !

3. Quan điểm của Vatican về Abraham:

Mặc dầu chỉ đọc qua những truyền thuyết về Abraham của đạo Do thái hay đạo Hồi, chúng ta cũng nhận thấy trong những câu chuyện có đầy dẫy những chi tiết huyền hoặc nhảm nhí. Tuy nhiên, Giáo hoàng John Paul II là người lãnh đạo tối cao của gần một tỉ tín đồ Công giáo tin rằng Abraham là một nhân vật có thật. Năm 1994, John Paul II công bố ý muốn làm một cuộc hành hương đến thành phố Ur để vinh danh thánh tổ phụ Abraham. Giáo hoàng tuyên bố : “Nếu không khởi đầu từ thành phố Ur thì mọi cuộc thăm viếng các vùng đất của Thánh kinh sẽ không thực hiện được, bởi vì mọi sự bắt đầu từ đó” (No visit to the lands of the Bible is possible without a start in Ur, where it all began – national geographic, 12/2001, page 98).

Vatican đã vận động Saddam Hussein cho phép giáo hoàng đến thăm Ur vì thành phố cổ này hiện thuộc lãnh thổ phía nam của Iraq. Cuối năm 1999, Saddam Hussein dứt khoát bác bỏ lời yêu cầu của Vatican. Giáo hoàng bèn quyết định tổ chức một đại lễ tại đại giảng đường ở Vatican. Ngày 23-2-2000, 6000 người tụ họp tai đại giảng đường Vatican để dự đại lễ tưởng niệm Abraham do giáo hoàng chủ lễ. Nghi thức chủ yếu trong buổi lễ này là giáo hoàng châm lửa đốt một đống củi nhỏ trên bàn thờ để tưởng nhớ hành vi giết con của Abraham làm vật hy sinh tế lễ Thiên Chúa! Khói và mùi hương lan tỏa khắp đại giảng đường. Dĩ nhiên, đối với Do thái giáo và Ki-tô giáo, đứa con trai mà Abraham định giết để tế Chúa là Isaac chứ không phải Ismael. Bà Hagar và Ismael của Hồi giáo hoàn toàn bị quên lãng trong hai tôn giáo này.

4. Quan điểm của cá nhà khoa học khảo cổ về Abraham

Sách Sáng thế ký là sách đầu tiên của Bộ Thánh kinh Do thái đã chép : “Terah sinh ra Abraham tại Ur.” Các cuộc khai quật khảo cổ trong thế kỷ 20 đã xác định sự hiện hữu của thành phố Ur, nhưng các kết quả thu lượm được chứng tỏ Abraham chỉ là một nhân vật thần thoại.

Cuộc khai quật thành phố Ur lần đầu tiên đuợc thực hiện năm 1917 bởi nhà khảo cổ trứ danh người Anh là Sir Leonard Wooley. Con số những hiện vật đào được rất nhiều và rất đa dạng khiến cho các nhà khoa học dễ dàng xác định được hạn tuổi và tìm hiểu các khía cạnh của đời sống người xưa. Báo National Geographic số tháng 5 năm 1999 đã viết về vấ đề như sau: “Những tài liệu khổng lồ thu thập được về những thành tựu của con người đã xác định được lịch sử của Lưỡng Hà châu, nơi sinh quán theo truyền thuyết của một nhân vật cả ba tôn giáo Do thái, Ki-tô giáo và Hồi”.

“Nơi sinh quán theo truyền thuyết về Abraham là thành phố Ur đã bị bỏ hoang từ thế kỷ 4 trước Công nguyên do sự đổi dòng của con sông Euphrate khiến cho Ur bị vây hãm bởi sa mạc” (Traditional birthplace of Abraham, the city of Ur, was abandoned is the fourth century BC. after the Euphrate changed course, leaving Ur enclosed by desert).

Các cuộc khai quật khảo cổ tại Ur và các vùng khác thuộc Babylon đã đem đến cho các nhà khoa học hàng chục ngàn tấm đất sét phơi khô có ghi chữ ‘Cuneiform’. Đó là những cuốn sách ghi chép đủ thứ, từ sử liệu, thơ văn, tôn giáo, tóan học, khoa học và rất nhiều chuyện thần thoại. Trong kho chuỵên thần thoại của thành phố Ur có chuyện về Abraham.

Nhà khảo cổ Mellersh (tác giả Archeological Section của Bộ Đại từ diện Bách khoa Great Encyclopedic Dictionary) cho biết : Tại thành phố Ur có chuyện thần thoại về vị Thần đất Terah. Thần đất sinh con trai đặt tên là Abraham, có nghĩa là một vị nam thần (male god) và một con gái đặt tên là Sarai, có nghĩa là nữ thần (female god). Về sau hai người lớn lên, Abraham đã lấy em gái làm vợ.

Năm 322 TCN, Hoàng đế Hy lạp là Alexander the Great chiếm Do thái và vùng Lưỡng Hà châu và thiết lập sự cai trị vùng này trong 180 năm (322 TCN – 152 TCN). Các chuyện thần thoại của Do thái và Lưỡng Hà châu đều được dịch sang tiếng Hy lạp và phổ biến tại Âu châu. ngôn ngữ la tinh đã mượn tên thần đất Terah (cha của Abraham) để làm nguyên ngữ cho dnah từ TERRA có nghĩa là đất. Sau đó, Pháp ngữ dùng chữ Terra làm nguyên ngữ cho danh từ của Pháp là La Terre. Như vậy, theo kết quả khảo cổ, Abraham chỉ là tên đọc trại ra từ tên thần thoại. Abraham trong chuyện thần đất Terah của thành phố Ur mà thôi. Abraham là một nhân vật không có thật.

Chuyên gia Do thái về khảo cổ tại Đại hoc Tel Aviv tuyên bố : “Abraham là vấn đề không thể truy tìm được. Không có một bằng chứng nào về sự hiện hữu của ông ta. Đi tìm một nhân vật Abraham lịch sử còn khó hơn nhiều so với việc đi tìm một Jesus lịch sử. Điều quan trọng là chúng ta hãy giả định Abraham chỉ là một ý tưởng được nhân cách hóa mà thôi.” (Abraham is beyond recovery. Without any prooof of the patriarch’s existence, the search for a historical Abraham is even more difficult than the search for a historical Jesus. The important thing is to assess the meaning and legacy of the ideas of Abraham came to embody. National geographic Dec. 2001, page 96).

Ý tưởng chính yếu của Abraham là “chỉ tôn thờ một Chúa mà thôi”. Nhà khảo cổ Tad Szule, tác giả bài viết “Abraham, cuộc hành trình của niềm tin” (Abraham Journey of faith – N. Geographic, Dec 2001) kết luận: ” Các tín đồ độc thần nói lên niềm tin của Abraham vao một Thiên Chúa, chính niềm tin đó đã làm thay đổi thế giới từ xưa tới nay” (They spell out his fundamenta belief that there is one Gos. That belief changed the world forever).

Người đưa ra chủ thuyết “chỉ thờ một Chúa” có thể đã có một mục tiêu vĩ đại là thống nhất các bộ lạc, hoặc các dân tộc trong niềm tin một Thiên Chúa duy nhất.

MỘT SỐ VẤN NẠN MÀ NGƯỜI CÔNG GIÁO PHẢI BIẾT 1. “Cựu Ước và Tân Ước trái ngược nhau ở nhiều chỗ. Nếu một Thiên Chúa toàn năng linh hứng Thánh Kinh, thì Ngài đã không để cho có sai lỗi.”

Đây là một luận điệu thông thường, người ta có thể thấy khắp nơi trên Internet (nhất là những websites vô thần và tự do tư tưởng). Một bài trên website của Vô Thần ghi rằng “Điều lạ thường về Thánh Kinh không phải vì tác giả là Thiên Chúa; chính là những mâu thuẫn được bịa đặt vô nghĩa mà người ta có thể tin là được Thiên Chúa thượng trí viết ra.”

Những câu như thế thường được kèm theo một danh sách những câu “mâu thuẫn” trong Thánh Kinh. Tuy nhiên, những điều cho là mâu thuẫn có ít sai lầm đơn giản. Thí dụ, người phê bình không đọc những sách khác nhau trong Thánh Kinh theo thể văn mà các sách đó được viết. Xét cho cùng, Thánh Kinh là một sưu tập nhiều loại văn tự… lịch sử, thần học, thơ phú, và khải huyền,vv…. Nếu chúng ta đọc các sách này cùng một cách cứng ngắc như chúng ta đọc báo ngày nay, thì chúng ta sẽ bị bối rối kinh khủng.

Và danh sách “các mâu thuẫn” trong Thánh Kinh minh xác điều này. Thí dụ lấy điều đầu tiên trong danh sách Vô Thần của Mỹ:

(Xh 20,8) so với “Hãy nhớ ngày Sabát, và giữ nó cách thánh thiện” “Người thì cho rằng ngày này trọng hơn ngày khác; người khác lại cho rằng ngày nào cũng như nhau. Vậy mỗi người phải xác tín trong thâm tâm mình” (Rm 14,5).

Người vô thần la lên: Đó! rõ ràng là một mâu thuẫn. Nhưng phê bình gia quên không nhắc đến điều mà mọi Kitô hữu đều biết: Khi Đức Kitô thiết lập Giao Ước Mới, thì những đòi hỏi về nghi lễ của Giao Ước Cũ được làm trọn (và qua đi). Vì thế việc những luật lệ trong Cựu Ước về nghi lễ không còn được ứng dụng cho dân của Tân Ước là điều hoàn toàn hợp lý.

Nếu nhà phê bình hiểu giáo lý đơn giản này của Kitô giáo, thì anh đã không mắc phải một lỗi sơ đẳng như thế.

Những “mâu thuẫn” khác giữa Cựu và Tân Ước có thể được trả lời cách tương tự. Hầu như với điểm nào, nhà phê bình cũng bị lầm lẫn về mạch văn, không để ý đến thể văn, và không để dành chỗ nào cho việc cắt nghĩa cách hợp lý.

Không một Kitô hữu biết suy nghĩ nào phải bối rối về những danh sách này.

2. Kitô giáo không hơn gì các tín ngưỡng khác. Tất cả mọi tôn giáo đều dẫn đến Thiên Chúa.”

Nếu bạn không nghe đến câu này vài chục lần, bạn không rút ra được bao nhiêu. Đáng buồn là những người nói lên điều này thường lại là Kitô hữu (ít ra trên danh nghĩa).

Những trở ngại với quan điểm này thật không phức tạp gì cả. Kitô giáo đưa ra một chuỗi những lời xác nhận về Thiên Chúa và con người: Rằng chính Chúa Giêsu Nadareth là Thiên Chúa, và Người đã chết và sống lại – tất cả để chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi. Mọi tôn giáo khác trên thế giới phủ nhận tất cả những điều này. Cho nên, nếu Kitô giáo là đúng, thì đạo này nói cho thế gian biết một chân lý sống còn – một chân lý mà tất cả các tôn giáo khác phủ nhận.

Chỉ điều này thôi đã làm cho Kitô giáo thành duy nhất.

Nhưng nó không ngừng ở đó. Hãy nhớ lại lời Chúa Giêsu trong Tin Mừng Thánh Gioan: “Thầy là đường, sự thật, và sự sống; không ai có thể đến với Chúa Cha, mà không qua Thầy.” Trong Kitô giáo, chúng ta có trọn sự mạc khải của Thiên Chúa cho nhân loại. Đúng là tất cả các tôn giáo chứa đựng một phần chân lý – số lượng thay đổi tùy theo tôn giáo. Tuy nhiên, nếu chúng ta khao khát mong muốn theo và thờ phượng Thiên Chúa, chúng ta có nên làm theo cách Ngài chỉ dạy không?

Nếu Chúa Giêsu quả thực là Thiên Chúa, thì chỉ Kitô giáo chứa đựng hoàn toàn chân lý này.

3. “Tôi không cần đến Nhà Thờ. Bao lâu tôi là một người tốt, chỉ có điều đó mới đáng kể.”

Luận điệu này dược dùng thường xuyên, và rất gian xảo. Khi một người nhận mình là “người tốt,” người đó thật sự ám chỉ rằng họ “không phải là một người xấu.” – người xấu là người sát nhân, hiếp dâm, và trộm cắp. Phần đông người ta không cần cố gắng mấy để tránh các tội này, và đó là tư tưởng: Chúng ta muốn làm một số việc tối thiểu để được thông qua. Điều đó không giống Đức Kitô lắm, phải không?

Nhưng bỏ qua trạng thái tâm lý đó, có một lý do quan trọng để người Công Giáo đến Nhà Thờ hơn là chỉ để thực hành việc đi thêm một dặm nữa. Thánh Lễ là viên đá góc của đời sống đức tin của chúng ta vì một điều nằm ở trọng tâm của nó: Bí Tích Thánh Thể. Đó là nguồn mạch của tất cả đời sống cho người Công Giáo, là những người tin rằng bánh và rượu trở nên Mình và Máu thật của Đức Kitô. Chứ không phải chỉ là biểu tượng của Thiên Chúa, nhưng là Thiên Chúa hiện diện cách thể lý với chúng ta bằng một phương thế mà chúng ta chỉ có thể cảm nghiệm được bằng cầu nguyện.

Chúa Giêsu phán, “Thật, Ta bảo các người, trừ khi các người ăn thịt Con Người và uống máu Người, các người không có sự sống trong các người; ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6,53-54). Chúng ta tôn trọng lệnh của Chúa Giêsu và tin tường vào lời hứa của Người mỗi lần chúng ta đi dự Thánh Lễ.

Hơn nữa, bí tích Thánh Thể, cùng với tất cả các bí tích khác, chỉ dành cho những người ở trong Hội Thánh. Là phần tử của Hội Thánh, nhiệm thể hữu hình của Đức Kitô trên thế gian, đời sống chúng ta liên hệ mật thiết với đời sống của người khác trong Hội Thánh. Liên hệ cá nhân của chúng ta đối với Thiên Chúa thật quan trọng, nhưng chúng ta cũng có nhiệm vụ sống như những phần tử trung thành của nhiệm thể Đức Kitô. Là “người tốt” mà thôi chưa đủ.

4. “Bạn không cần phải xưng tội với một linh mục. Bạn có thể đến thẳng cùng Thiên Chúa.”

Như một cựu mục sư Baptist, tôi có thể hiểu việc chống xưng tội của người Tin Lành (họ hiểu về chức linh mục một cách khác). Nhưng một người Công Giáo mà nói một điều như thế… thì thật là thất vọng. Tôi nghi rằng bản tính loài người là thế, người ta thường không thích nói cho người khác biết tội mình, nên đưa ra lý do để biện minh tại sao không làm thế…

Bí Tích Giải Tội đã có với chúng ta từ đầu, từ chính Lời của Đức Kitô: “Chúa Giêsu lại bảo các ông, ‘Bình an cho các con! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai các con.’ Nói rồi, Người thổi hơi vào các ông và bảo các ông, ‘Các con hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần. Nếu các con tha tội cho ai, thì người ấy được tha; nếu các con cầm buộc ai, thì người ấy bị cầm buộc.'” (Ga 20,21-23)

Nên ghi nhận rằng Chúa Giêsu ban cho các tông đồ quyền tha tội.. Tất nhiên, họ không biết phải tha tội nào nếu họ không được nói cho biết là tội nào chúng ta phạm.

Việc xưng tội cũng được chứng minh trong thư thánh Giacôbê: “Có ai trong anh em đau ốm? Hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh, và hãy để họ cầu nguyện trên người ấy, xức dầu cho người ấy nhân danh Chúa; Và lời cầu nguyện do đức tin sẽ cứu người bệnh; và Chúa sẽ nâng người ấy dậy, và nếu người ấy đã phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha. Anh em hãy xưng tội với nhau và cầu nguyện cho nhau để được chữa lành. Vì lời cầu xin tha thiết của người công chính có hiệu lực rất lớn lao” (Gc 5,14-16)

Điều đáng quan tâm là không có chỗ nào Thánh Giacôbê (hay Chúa Giêsu) bảo chúng ta là chỉ xưng tội với Thiên Chúa, nhưng các Ngài có vẻ nghĩ là ơn tha tội đến bằng cách xưng tội công khai.

Và lý do thật dễ hiểu. Khi chúng ta phạm tội, chúng ta làm tổn thương không những mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa, mà còn với Nhiệm Thể Người, là Hội Thánh (vì tất cả mọi người Công Giáo nối kết với nhau như con cùng một Cha). Cho nên khi chúng ta xin lỗi, chúng ta phải xin lỗi tất cả mọi nhóm liên hệ – Thiên Chúa và Hội Thánh.

5. “Nếu Hội Thánh thật sự theo Chúa Giêsu, thì đã bán các nghệ thuật, tài sản, và các công trình kiến trúc lãng phí, mà cho người nghèo.”

Khi một người nghĩ đến thành Vatican, họ liên tưởng ngay đến một vương quốc giàu sang, với nơi ở như cung điện cho Đức Giáo Hoàng và các hòm đầy vàng cất ở các xó nhà, chưa kể đến các sưu tầm nghệ thuật và đồ cổ vô giá. Nhìn đến Vatican cách này thì dễ thấy tại sao một số người trở thành bực tức vì những điều họ nghĩ là sự khoe khoang tài sản cách phô trương và phí phạm.

Nhưng sự thật thì hoàn toàn khác. Các dinh thự chính gọi là “Điện Vatican” không phải được xây làm chỗ ở xa hoa của Đức Giáo Hoàng. Thực ra, khu vực gia cư tương đối nhỏ. Phần lớn điện Vatican được dùng vào việc nghệ thuật, khoa học, điều hành công việc Hội Thánh, và điều hành chung của điện. Có một số đông nhân viên của Hội Thánh và hành chánh sống trong điện Vatican cùng ĐTC, làm cho nó thành trụ sở chính của Hội Thánh.

Còn về những sưu tầm nghệ thuật, thực sự là sưu tập quý nhất trên thế giới, Vatican coi đó như một “kho tàng không thể thay thế được,” nhưng không phải về diện tài chánh. ĐTC không làm chủ những tác phẩm nghệ thuật này, và nếu ngài muốn, ngài cũng không được phép bán chúng; chúng chỉ được đặt dưới sự săn sóc của Toà Thánh. Các tác phẩm này không đem nguồn lợi đến cho Hội Thánh, mà ngược lại, Tòa Thánh phải đầu tư một số tài nguyên không nhỏ để bảo tồn các sưu tầm này.

Sự thật của vấn đề này là Tòa Thánh có một ngân sách khá eo hẹp Nếu thế thì tại sao lại giữ những nghệ phẩm này? Vì tin vào một trong các sứ mệnh của Hội Thánh là một động lực truyền bá văn minh trong thế giới. Cũng như các thầy dòng thời trung cổ cẩn thận chép lại các sách cổ để cung cấp cho các thế hệ tương lai – nếu không thì những văn bản này không còn nữa – Hội Thánh tiếp tục bảo trì nghệ thuật để chúng không bị mai một với thời gian. Trong nền văn hóa sự chết ngày nay khi mà từ “văn minh” chỉ được dùng cách lỏng lẻo, sứ vụ truyền bá văn minh của Hội Thánh ngày nay còn quan trọng hơn bao giờ hết.

6. Nếu giải thích đúng, Thánh Kinh không lên án đồng tính luyến ái. Nhưng đúng hơn là chống lối sống bừa bãi – dù là đồng tính hay giữa nam nữ. Vì vậy, chúng ta không có lý do để chống liên hệ tình yêu đồng tính.”

Khi hành vi đồng tính luyến ái được chấp nhận rộng rãi hơn trong nền văn hóa của chúng ta, thì sẽ có nhiều áp lực hơn giữa các Kitô hữu để giải thích sự cấm đoán điều này cách tỏ tường trong Thánh Kinh. Hiện thời tiêu chuẩn của phe cấp tiến là cho rằng Thánh Kinh – khi hiểu đúng – không cấm những hành vi đồng tính.

Nhưng luận điệu này hoàn toàn trái ngược với những câu rõ ràng trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Các câu đầu tiên dĩ nhiên là câu chuyện thời danh về Sođôm và Gômôra. Nếu bạn nhớ lại chuyện hai thiên sứ được Thiên Chúa sai đến thăm ông Lót (x. St 19,4-10).

Thông điệp của đoạn này thật rõ ràng. Các người Sôđôm là người đồng tính luyến ái muốn liên hệ tính dục với những người thanh niên ở trong nhà. Ông Lót cho họ con gái ông, nhưng họ không thích. Ít giờ sau, Sôđôm bị Thiên Chúa thiêu hủy để đền tội dân chúng phạm – đó là các hành vi đồng tính luyến ái. Sự thật này được Tân Ước xác nhận: “Như Sôđôm, Gômôra và các thành lân cận cũng có cùng một thái độ như họ, buông tuồng trong việc tà dâm, và chạy theo những chuyện xác thịt trái tự nhiên, thì đã được dùng để làm gương, bằng cách chịu phạt trong lửa đời đời” ( Gđ 7).

Nhưng không phải chỉ có những đoạn này trong Thánh Kinh lên án hành vi đồng tính. Cựu Ước còn có một câu khác lên án cách rõ ràng: “Ngươi không được nằm với đàn ông như nằm với đàn bà: đó là điều ghê tởm” (Lv 18,22).

Và những câu này không chỉ được giữ trong Cựu Ước mà thôi. “Vì lý do đó mà Thiên Chúa đã để mặc họ theo dục tình đồi bại. Phụ nữ của họ đã đổi những liên hệ tự nhiên lấy những liên hệ trái tự nhiên. Đàn ông cũng thế, bỏ liên hệ tự nhiên với phụ nữ để nôn nao thèm muốn lẫn nhau. Đàn ông làm việc tồi bại với đàn ông, và như thế chuốc vào thân hình phạt xứng với sự suy đồi của họ” (Rm1,26-27).

7. “Người Công Giáo nên theo lương tâm trong mọi sự… dù là phá thai, ngừa thai, hay phong chức thánh cho phụ nữ.”

Nhưng điều đó không có nghĩa là lương tâm chúng ta không phải chịu trách nhiệm hay có thể gạt luật của Thiên Chúa ra ngoài. Đây là điều mà Giáo Lý gọi là có “một lương tâm được huấn luyện chu đáo.”

Sách Giáo Lý trao cho lương tâm con người một trách nhiệm nặng nề: “Lương tâm luân lý, hiện diện trong lòng người, ra lệnh vào lúc thích hợp cho con người làm lành lánh dữ… Lương tâm chứng nhận quyền bính của chân lý bằng cách chiếu theo Sự Thiện Hảo tối thượng (Thiên Chúa), là Đấng mà con người được thu hút và đón nhận mệnh lệnh. Khi nghe theo tiếng lương tâm, người khôn ngoan có thể nghe tiếng Thiên Chúa đang nói” (số 1777).

Nói cách khác, lương tâm chúng ta không phải chỉ là “cái gì chúng ta cảm thấy đúng”; mà là những gì chúng ta phán quyết là đúng dựa theo những điều chúng ta biết là giáo huấn của Thiên Chúa và Hội Thánh. Và để phán đoán, chúng ta có nhiệm vụ học hỏi và cầu nguyện rất cẩn thận về những giáo huấn này. Sách Giáo Lý có trọn một phần dành riêng cho việc huấn luyện lương tâm cách kỹ lưỡng – và nó quan trọng thế nào trong việc quyết định đúng.

Và sau cùng, dù đúng hay sai, chúng ta vẫn chịu trách nhiệm về việc chúng ta làm: “Lương tâm giúp chúng ta gánh nhận trách nhiệm đối với việc chúng ta làm” (số 1781). Khi được đào luyện đúng, nó giúp chúng ta thấy khi nào chúng ta làm sai và cần được tha thứ tội lỗi chúng ta.

Bằng cách cố gắng để có một lương tâm được đào luyện hoàn toàn, chúng ta thật sự cảm nghiệm được sự tự do lớn lao, vì chúng ta được lôi cuốn lại gần chân lý vô cùng của Thiên Chúa. Nó không phải là một gánh nặng hay là một cái gì ngăn cản chúng ta làm điều chúng ta thích; nhưng là một sự hướng dẫn giúp chúng ta làm những gì là đúng. “Việc giáo dục lương tâm đảm bảo sự tự do và đem lại bình an trong tâm hồn” (số 1784).

8. Phương Pháp Tự Nhiên chỉ là một cách ngừa thai của Công Giáo.”

Phương Pháp Tự Nhiên (PPTN) có kẻ thù mọi mặt. Có người tin rằng đó là một cách ngừa thai khác thiếu thực tế (mà cách nào họ cũng không cho là có tội) trong khi người khác lại cho rằng nó cũng xấu chẳng khác gì ngừa thai. PPTN phải đi giữa ranh giới của hai cực đoan.

Trước nhất, vấn đề chính của việc ngừa thai là nó ngược lại với bản chất của cơ thể chúng ta – và cách chung sự tự nhiên. Mục đích của nó là tách rời hành động (tính dục) ra khỏi hậu quả (có thai), chính là hạ sự thánh thiện của tính dục xuống thành sự theo đuổi lạc thú thuần túy.

Những người khác nghĩ rằng dùng bất cứ phương thức nào để giới hạn số con trong gia đình là đóng vai Thiên Chúa, hơn là để Ngài cung cấp cho chúng ta như Ngài thấy cần. Đúng là chúng ta phải tin tưởng vào Thiên Chúa và luôn chấp nhận sự sống Ngài ban cho chúng ta, nhưng chúng ta không phải hoàn toàn buông xuôi về phương diện này.

Thí dụ, thay vì phung phí tiền bạc lung tung và nói rằng “Thiên Chúa sẽ cung cấp,” các gia đình cẩn thận dự trù ngân sách tài chánh và cố gắng không tiêu xài quá khả năng của mình. PPTN cũng giống như ngân sách đó, giúp chúng ta suy nghĩ đến hoàn cảnh của chúng ta trong cuộc đời và hành động theo đó trong tinh thần cầu nguyện. Biết mình và dùng trí khôn cùng ý chí tự do, thay vì thụ động mong chờ Thiên Chúa lo liệu mọi sự, là một phần của bản tính con người. Chúng ta được mời gọi để trở nên những người quản lý tốt các hồng ân Chúa ban; chúng ta phải cẩn thận đừng coi thường các ân huệ này.

Những đoạn sau nói rõ: “Sự sống con người phải được tôn trọng và bảo vệ cách tuyệt đối từ giây phút thụ thai” (số 2270). “Ngay từ thế kỷ thứ nhất Hội Thánh đã xác nhận sự dữ về luân lý của mọi cuộc phá thai cố tình. Giáo huấn này không thay đổi và sẽ không bao giờ thay đổi” (số 2271). “Hợp tác chính thức vào việc phá thai là tội trọng. Hội Thánh gán hình phạt vạ tuyệt thông cho các tội phạm đến sự sống con người” (số 2272).

Đó là lại là luận “điều đúng cho bạn có thể không đúng cho tôi” mà thôi. Hội Thánh cũng có câu trả lời cho lập luận này: “Những quyền bất khả xâm phạm của con người phải được xã hội dân sự và chính quyền nhìn nhận và tôn trọng. Những quyền này không lệ thuộc vào các cá nhân, hay cha mẹ, cũng không phải là một nhân nhượng của xã hội và của quốc gia, nhưng thuộc về bản tính con người và gắn liền với con người do chính hành động sáng tạo của Thiên Chúa mà từ đó sinh ra con người” (số 2273).

Tính linh thiêng của sự sống là một chân lý phổ quát không thể coi thường được. Khuyên ai phá thai, hay ngay cả bỏ phiếu cho các chính trị gia cổ võ việc phá thai, là một tội trọng, vì nó đưa người khác đến tội trọng – là điều mà Sách Giáo Lý gọi là làm gương mù (số 2284).

Hội Thánh mạnh dạn và dứt khoát chống phá thai, và chúng ta là người Công Giáo cũng phải khẳng định lập trường của chúng ta như thế.

MỤC LỤC THÁNH KINH NHẬP MÔN Dẫn nhập

CHƯƠNG I. CÁC KHÁI NIỆM

A. Khái niệm về mặc khải (mạc khải).

1. Định nghĩa.

2. Mặc khải và Kitô Giáo.

3. Cách thức mặc khải.

4. Các nguồn mặc khải.

5. Phân loại mặc khải.

B. Khái niệm về linh hứng và vô ngộ.

2. Các tác giả Thánh Kinh.

C. Khái niệm về giao ước. I, Định nghĩa.

1, Cấu tạo Kinh Thánh.

2, Định nghĩa giao ước.

3. Giao ước cũ và giao ước mới.

II. Các nguồn tài liệu.

1. Các sách luật (ngũ kinh).

2. Văn chương ngôn sứ.

3. Các sách khôn ngoan.

CHƯƠNG II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ THÁNH KINH.

1, Ngôn ngữ, chất liệu chép Thánh Kinh.

2. Vấn đề quy điển Thánh Kinh.

4. Các chủ thuyết.

5. Thánh Kinh và thời gian.

6. Ngày tháng trong Thánh Kinh.

7. Các ngày lễ.

8. Ý nghĩa các con số trong Thánh Kinh.

CHƯƠNG III. CHÚ GIẢI THÁNH KINH.

1. Định nghĩa.

2. Khảo sát bản văn.

3. Các hình thức văn chương.

4. Ý nghĩa trong Thánh Kinh.

5. Phương pháp nghiên cứu lịch sử.

6. Vai trò của Giáo Hội.

CHƯƠNG IV. LƯỢC SỬ CÁC GIAI ĐOẠN THÁNH KINH.

I. Niên biểu giản lược.

II. lược sử Do Thái.

III. Các thời đại.

1. Thời nguyên thuỷ.

2. Thời các bộ tộc.

3. Thời nô lệ và xuất hành.

4. Thời lập quốc.

5. Thời quân chủ.

6. Thời phân tranh nam bắc.

7. Thời lưu đày.

8. Thời hồi hương.

11. Thời phát sinh Kitô Giáo.

Đừng phạm tội sát nhân.

Đừng phạm tội ngoại tình.

Đừng ăn trộm.

– Không được cắt bì.

【#2】Tìm Hiểu Về Israel Và Người Do Thái

Có rất nhiều câu hỏi đeo đẳng trong suốt quá trình tìm hiểu để có câu trả lời thấu đáo, đại loại như:

1. Tại sao chỉ chiếm một phần nhỏ của dân số thế giới, nhưng người Do Thái lại có sự thông tuệ vượt thời gian, hơn hẳn các dân tộc khác trên thế giới? Nếu tính theo chỉ số IQ, chỉ số trung bình của người Do Thái là 110 so với chỉ số trung bình 100 của thế giới. Tuy mức chênh lệch IQ chỉ là 10, nhưng tỷ lệ thiên tài trong nhóm những người có IQ 110 cao hơn nhóm có chỉ số IQ 100 tới 120-150 lần!

2. Phải chăng người Do Thái có “gien” thông minh hơn người và “gien” này được lưu giữ và truyền từ đời này qua đời khác?

Câu chuyện này đã được nhiều nhà khoa học âm thầm nghiên cứu để tìm câu trả lời thấu đáo. Tuy nhiên, người Do Thái lại “bác bỏ” điều nay, cho rằng sở dĩ người Do Thái thành công là do điều kiện, hoàn cảnh bắt buộc họ phải nỗ lực, sáng tạo và vươn lên không ngừng để thích nghi với hoàn cảnh. Vậy thực, hư câu chuyện này ra sao?

3. Nếu như có “gien” Do Thái như vậy thì “gien” này được “lưu giữ” và phát triển ra sao từ thời “Cụ Tổ” của người Do Thái đến nay và trong hoàn cảnh họ bị ly tán, tha phương cầu thực?

Người Do Thái hiện nay đều coi Thủy tổ của mình là ông Abraham (và cũng là của người Hồi giáo – Người Hồi giáo gọi là Ibrahim) ra đời cách đây khoảng 4000 năm, và Nhà Tiên tri Moses, ra đời cách đây khoảng 3600 năm. Ông Moses đã dẫn dắt các nô lệ người Do Thái chạy trốn khỏi Ai Cập và đến khu vực Bắc Israel hiện nay, thống nhất 12 bộ lạc khác để lập ra nhà nước Do Thái. Hiện nay Israel là quốc gia Do Thái duy nhất trên thế giới, người dân đa phần là người Do Thái và quốc đạo là Đạo Do Thái. Để dễ hình dung, nếu có một nước khác có đặc trưng tương tự như Israel, chẳng hạn Trung Quốc, thì đặc trưng nước đó sẽ là: Người Trung Quốc, nước Trung Quốc, Đạo Trung Quốc. Nhưng trên thực tế ta thấy: người Hán, nước Trung Quốc và Đạo Khổng.

4. Tại khu vực hiện gồm phía Bắc Ai Cập, lãnh thổ Israel, Palestine, Gioóc-đa-ni hiện nay, khu vực phía Nam Syria, và phía Đông Bắc Iraq vốn trước đây là khu vực tranh chấp quyết liệt giữa bộ lạc Do Thái với các bộ lạc khác trong khu vực, cũng như giữa các đế chế lân bang với nhau như Roma, Assyria, Babilon, Ottoman… nhằm kiểm soát khu vực đồng bằng ven biển Israel và khu đồi cao Jerusalem để cho được gần với Đức Chúa trời. Sau sự kiện Ngôi đền thứ nhất của người Do Thái bị đốt năm 586 trước Công Nguyên thì mục tiêu xâm lược là để chiếm miền đất thánh Jerusalem, nơi cả 3 tôn giáo (Do Thái, Thiên chúa, Hồi giáo) đều coi là đất thiêng của mình.

Vậy tại sao trong khi hầu hết các bộ tộc du mục khác bị đồng hóa, hoặc bị tuyệt diệt, nhưng người Do Thái lại “thoát” được nạn này (tuy rằng người Do Thái cũng trải qua nạn diệt chủng Holocaust và một số cuộc truy sát tập thể trong quá khứ)? Vậy họ đã “thoát” bằng cách nào?

5. Tại sao người Do Thái lại có truyền thống hiếu học và tỷ lệ biết chữ rất cao so với những dân du mục cùng thời? Tại sao người Do Thái lại đi tiên phong trong rất nhiều lĩnh vực như khoa học tự nhiên, luật, khoa học chính trị, công nghiệp giải trí…?

Từ hàng ngàn năm trước công nguyên trẻ em Do Thái hầu hết biết đọc biết viết, và khi lưu lạc ở châu Âu, người Do Thái cũng có tỷ lệ biết đọc, biết viết cao hơn người bản địa. Cần nhớ, trước thời kỳ Phục Hưng cả châu Âu chìm đắm trong u muội, tỷ lệ mù chữ lên tới 80-90% dân số. Đến những năm 1930 của thế kỷ trước, người Do Thái gần như độc quyền trong lĩnh vực nghiên cứu năng lượng nguyên tử, thậm chí thời kỳ đó người ta còn gọi ngành khoa học này là “ngành khoa học Do Thái”.

Nhìn rộng hơn, không chỉ người Do Thái quan tâm đến chuyện học hành của con cái, mà người Đông Á, kể cả Việt Nam, cũng vậy và có thể kể ra không ít các tấm gương thành công đáng ngưỡng mộ. Nhiều gia đình sẵn sàng bán nhà, bán cửa để đầu tư chuyện học hành của con cái. Tuy nhiên đạt đến đỉnh cao trí tuệ như Albert Einstein, Karl Marx, Noam Chomski và rất nhiều nhà khoa học đoạt giải Nobel gốc Do Thái lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Tại sao người Do Thái làm được chuyện đó?

6. Trên thế giới đã từng có dân tộc nào bị trục xuất, sống lưu vong trên hai ngàn năm mà vẫn giữ được bản sắc, tiếng nói, chữ viết và tập tục của mình như người Do Thái không?

7. Các giáo sĩ (Rabbi), Hội đồng giáo sĩ và những người Do Thái chính thống là những người có địa vị và tiếng nói quan trọng trong xã hội. Vậy họ có vai trò ra sao trong việc duy trì tập tục, bản sắc và “nòi giống” Do Thái?

8. Tại sao mô hình Kibbudz của người Do Thái lại thành công và có sức sống kỳ diệu ở Israel, trong khi mô hình này lại không thành công hoặc không thể thành công ở các quốc gia khác. Cốt lõi tạo nên thành công của các Kibbudz là gì?

9. Khi người Do Thái được thực hiện giấc mơ “Phục quốc” năm 1948, hàng trăm ngàn người Do Thái từ trên 70 quốc gia khác nhau trên khắp thế giới đổ về mảnh đất Israel, họ đã sát cánh cùng nhau bắt tay xây dựng và bảo vệ đất nước. Tiếp đó, sau các biến động ở Liên Xô và châu Âu trong những năm 1989-1990, 1,5 triệu người Do Thái (tức trên 1/4 dân số) trở về “cố quốc”. Mỹ, Australia, Canada cũng là quốc gia của những người nhập cư, nhưng chưa từng chứng kiến lượng lớn người nhập cư đổ về (tính theo tỷ lệ dân số) trong một thời gian ngắn đến vậy. Tuy đến từ nhiều xứ sở khác nhau, nhưng hầu hết những người Do Thái không bị gặp các rào cản ngôn ngữ và nhanh chóng hội nhập vào xã hội mới. Chuyện này thực hư thế nào và được thực hiện ra sao?

Còn rất nhiều các câu hỏi khác nữa. Vấn đề đặt ra là mô hình Israel và bài học thành công của người Do Thái (tạm bỏ qua một bên các khiếm khuyết và một số “thói hư, tật xấu” của người Do Thái) có thể học được không và áp dụng ở quy mô nào (gia đình, dòng họ, công ty, thiết chế, đất nước…)?

Israel: Cường quốc nông nghiệp giữa sa mạc

Do điều kiện tự nhiên, sa mạc chiếm đến 60% tổng số 20.000 km2 diện tích, nên đất đai canh tác còn lại của Israel rất ít và chủ yếu nằm ở khu vực đồng bằng ven biển. Tuy nhiên, điều này không ngăn cản Israel trở thành nước có nền nông nghiệp phát triển nhất thế giới, chủ yếu nhờ đi tiên phong trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng các thành tựu khoa học-công nghệ vào sản xuất nông nghiệp.

Đi thăm các cơ sở nông nghiệp Israel mới thấy trình độ công nghiệp hóa nông nghiệp và khả năng lập kế hoạch sản xuất, dự báo thị trường của Israel đạt đến trình độ rất cao. Có lẽ dùng từ “nông dân” đối với họ là không chính xác, mà là công nhân nông nghiệp. Ngoài ra, đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa 4 “Nhà”, gồm: (i) Nhà nước; (ii) Nhà khoa học; (iii) Nhà buôn; và (iv) Nhà nông. “Nhà nông” ở đây cần được hiểu là người bỏ vốn đầu tư, tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất nông nghiệp.

Đất đai ở Israel được nhà nước quản lý rất chặt chẽ. Nhà ở của dân thì xây trên các triền núi đá, khó cải tạo thành đất nông nghiệp, còn đất đồng bằng tuyệt đối sử dụng cho trồng trọt và canh tác. Thậm chí đất hoang mạc, nhưng tương đối bằng phẳng có thể cải tạo thành đất nông nghiệp thì cũng không được làm nhà ở trên đó.

Israel đi tiên phong trên thế giới trong lĩnh vực cải tạo đất hoang mạc, sa mạc thành đất nông nghiệp trù phú. Quy trình như sau (để đơn giản hóa): (i) San bằng đất hoang mạc, sỏi đá; (ii) Phủ lên đó 1 lớp đất dày, ít nhất là 1/2 m; (iii) Trồng các loại cỏ hoặc cây dại không cần tưới nước khoảng từ 3-5 năm, để biến đất chết thành đất màu; (iv) Sau quá trình cải tạo này, đất hoang mạc biến thành đất nông nghiệp và được giao cho các chủ đất (nhà đầu tư) để tiến hành sản xuất.

Về mặt sinh thái, bước vào thế kỷ 21, Israel là nước duy nhất trên thế giới đã mở rộng được diện tích rừng và quỹ đất nông nghiệp.

Tuy là nước nhỏ, có 8 triệu dân, nhưng Israel lại có hệ thống đường dẫn nước tái sử dụng dài nhất thế giới. Toàn bộ lượng nước thải được dẫn trở lại các trung tâm xử lý, lọc lại, sau đó được dẫn ngược trở lại theo các đường ống để sử dụng tưới tiêu cho nông nghiệp.

Hệ thống ống dẫn nước tưới được dẫn đến từng khoảnh vườn, tới từng cây và việc tưới được vi tính hóa qua hệ thống điều khiển ở trung tâm về thời gian tưới, lượng nước tưới sao cho phù hợp nhất với thời tiết, độ sinh trưởng của từng loại cây. Cũng từ trung tâm, các kỹ sư nông nghiệp sử dụng luôn đường ống dẫn nước để dẫn phân bón hoặc chất dinh dưỡng cần cho cây theo định kỳ.

Tại đầu từng khoảnh vườn, có bảng ghi chi tiết vườn trồng cây gì, giống nào, từ khi nào… Nhìn chung các cây trồng (cam, bưỏi, cà chua, ớt.. ) là những loại cây trồng có năng suất cao, đã được lai ghép cho phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng Israel là chịu nắng, chịu khô, chịu sâu bệnh nhưng lại cho năng suất cao và chất lượng quả, trái cây tốt.

Mỗi cây cam hoặc bưởi trông thấp như vậy nhưng lại rất sai quả và có thể cho đến vài tạ quả/cây khi đến mùa thu hoạch. Với lợi thế là trồng cây quả nhiệt đới có chất lượng cao, ổn định, hệ thống kiểm định chất lượng chặt chẽ, ở ngay sát châu Âu và cung cấp những hoa quả nhiệt đới “trái vụ” khi châu Âu bước vào mùa đông nên hoa quả Israel có rất nhiều lợi thế về giá và thị trường.

Đây có lẽ chính là mô hình đầu tư, sản xuất, phát triển và kinh doanh nông nghiệp mà một nước nông nghiệp như chúng ta cần học hỏi và để làm giàu tại ngay chính mảnh đất quê hương mình. Nếu so với Israel, có lẽ đất đai miền Trung Việt Nam còn màu mỡ và có các điều kiện tự nhiên để sản xuất tốt hơn nhiều. Ngay một nước có nền nông nghiệp phát triển nhất ở khu vực như Thái Lan cũng có hàng ngàn thực tập sinh lao động trong các trang trại, mà thực chất là lao động xuất khẩu.

Có điều ít người để ý là trong khi thực tập sinh Việt Nam chăm chỉ làm lụng, tiết kiệm từng đồng gửi về cho gia đình, vợ con, thì khá nhiều “lao động” Thái là các “tình báo” nông nghiệp. Họ là các kỹ sư, con cái các chủ nông trại Thái, những người nuôi chí làm giàu bằng nghề nông và sử dụng thời gian lao động tại Israel như một hình thức “khổ nhục kế”, âm thầm tìm hiểu quy trình sản xuất, kinh doanh, quản lý… để tìm đường khởi nghiệp làm giàu cho mình và cho nước Thái sau này.

Vậy ta nên và sẽ làm gì? Xin nhường câu trả lời cho các bạn trẻ.

Kinh Do Thái, lối sống, bản sắc, và tiếng Hebrew

CÂU CHUYỆN 1: Công việc đã xong, nhưng rủi một cái là không thể bay về được vì là ngày Thứ 7 nên hãng hàng không Israel El Al không làm việc. Nhưng lại có cái may là nhờ đó hiểu được thêm về kỳ nghỉ cuối tuần Thứ 6 và Thứ 7 (lễ Sabbath, người Do Thái đi làm từ Chủ nhật đến hết Thứ 5) của người Do Thái. Khi đi trên đường, đặc biệt ngày Thứ 7, thấy đường phố vắng ngắt và gặp không ít đàn ông Do Thái chính thống (Jewish Orthodox) mặc bộ đồ đen, đầu cũng đội mũ đen rộng vành, đứng trên vỉa hè, hai tay cầm quyển Kinh thánh Do Thái đọc lẩm nhẩm hàng tiếng đồng hồ với động tác hết sức thành kính và giữa trời nắng chang chang, trong khi đầu gật tới gật lui. Điều này không chỉ gây cho tôi sự ngạc nhiên thích thú, mà còn gợi ra rất nhiều điều.

CÂU CHUYỆN 2: Trước đó, khi chia tay Đại sứ Dan Stav, người tháp tùng trong suốt chuyến đi, tôi có nói rằng “Khi tôi mới đến nơi, ông Đại sứ có nói Bộ Ngoại giao Israel có khoảng 1000 nhà ngoại giao. Giờ đây khi đã xong các cuộc tiếp xúc tôi chỉ đồng ý một nửa. Các ông không chỉ có 1000 nhà ngoại giao, mà đó còn là 1000 Giáo sư nữa”. Dan ngửa mặt cười ha hả. Quả thực, hiếm có nước nào, kể cả các cường quốc, lại có nhiều nhà ngoại giao nắm giữ các vị trí chủ chốt nhưng lại có trình độ khá đều tay, am hiểu sâu chuyên môn và có thể trình bày vấn đề mạch lạc như một giáo sư đại học. Không chỉ rành chuyên môn, họ còn thể hiện tác phong hết sức chuyên nghiệp, động tác mạnh mẽ, dứt khoát.

Quay trở lại Phần 1, tôi thấy rằng các câu trả lời về nguyên nhân thành công của người Do Thái, sự cố kết của dân tộc này đều khởi nguồn từ 3 yếu tố chính (i) cuốn Kinh Do Thái (Jewish Bible), (ii) cách thức duy trì Đạo, bản sắc và lối sống Do Thái; và (iii) tiếng Hebrew. Các vấn đề khác như “gien” và tố chất thông minh của người Do Thái; tính hiếu học, ham hiểu biết và sáng tạo; cách duy trì và tổ chức cuộc sống, đời sống xã hội một cách văn minh, lành mạnh của họ đều bắt nguồn từ 3 yếu tố trên. Và cũng thật trớ trêu, đây lại là nguyên nhân chính khiến họ bị xua đuổi, miệt thị, truy sát trong hơn 20 thế kỷ qua. Tôi cũng nghiệm thấy rất ít dân tộc, quốc gia có thể học được theo họ, trừ phi anh cũng trở thành… người Do thái như họ!

Ta hãy đi từng vấn đề một:

Trong các tôn giáo trên thế giới, Đạo Do Thái được ghi nhận là đạo có tuổi đời lâu thứ hai trên thế giới (ra đời cách đây khoảng 3000 năm), sau Đạo Hindu (ra đời cách đây khoảng 4000 năm). Tuy nhiên, do Hindu là đạo đa thần, nên Do Thái giáo có thể xem là đạo độc thần (Monotheistic) ra đời sớm nhất thế giới. Đạo Độc thần là đạo chỉ thờ 1 vị chúa/thần/hoặc thánh duy nhất. Đạo Do Thái chỉ thờ duy nhất Chúa trời, nên trên bàn thờ trong nhà thờ Do Thái họ trang trí đơn giản, không thờ người hoặc động vật. Họ cho rằng, người là người, dứt khoát không thể là chúa hay thánh được và chỉ có một Đức Chúa trời duy nhất. Phải chăng điều này làm cho người Do Thái cũng như sinh hoạt tôn giáo của họ “dân chủ” hơn do không bị phân tán, mất bớt quyền lực qua các nhân vật trung gian?

Một điều rất đặc biệt là trong cuốn Kinh Torah (gồm 5 tập, ghi lại các lời của Nhà tiên tri Moses) có ghi người Do Thái được Đức chúa trời chọn (the Chosen People) để truyền đạt thông điệp của Chúa cho các dân tộc khác, dẫn dắt và khai sáng các dân tộc khác. Người Do Thái rất tin vào điều này, tin vào “sứ mạng” được Chúa giao phó. Đây có lẽ là động lực lớn nhất khiến người Do Thái luôn tìm cách đạt đến đỉnh cao của khoa học, phấn đấu đủ tầm trí tuệ “dẫn dắt” nhân loại như họ nghĩ đã được “Chúa lựa chọn”. Do đó, điểm nổi bật nhất ở người Do Thái là họ thấy mục đích cao nhất của cuộc sống là sáng tạo, chứ không chỉ là kiếm tiền, và kiếm tiền cũng như sự giàu có của họ thực ra là hệ quả của các lao động sáng tạo chứ không phải mục đích mà họ theo đuổi.

Chỉ bấy nhiêu thôi cũng gợi ra một số điều thú vị:

– Ngày thứ 7 nghỉ tuyệt đối để lấy sức lao động cho các ngày khác trong tuần và đây có thể là nguồn cảm hứng cho việc đấu tranh đòi quyền của người lao động sau này;

– Lễ Sabbath tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình (khi cả nhà cùng ngồi ăn quay quần bên nhau), và giữa các thành viên trong cộng đồng (khi hàng xóm cùng kéo nhau đến nhà thờ);

– Là cơ sở của việc đấu tranh giành quyền bình đẳng phụ nữ (không lao động trong ngày Sabbath) sau này, cũng như quyền của động vật;

– Vợ chồng “sản xuất” em bé trong ngày nghỉ khi tinh thần thoải mái thì đứa trẻ sau này cũng sẽ thông tuệ hơn.

Người Do Thái coi trọng chuyện học hành

Người Do Thái rất chú trọng đến chuyện học hành và chữ nghĩa của con cái. Cuốn Kinh Talmud từ cách đây trên 2000 năm đã yêu cầu các ông bố, bà mẹ phải dạy cho con cái biết đọc, biết viết từ năm lên 6 tuổi. Điều này, cũng như một số giáo lý khác trong kinh Talmud, được người Do Thái thực hiện hết sức nghiêm túc (sẽ nói kỹ sau), một phần vì thấy đúng, một phần vì sợ bị cộng đồng xa lánh. Do đó, từ cách đây trên 2000 năm người Do Thái cơ bản xóa được nạn mù chữ, với trên 90% người dân biết đọc, biết viết.

Đối với cuộc sống của con người hiện đại thời nay, điều này là quá sức bình thường. Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh người Do Thái là những người du mục, nông dân, thậm chí tha phương cầu thực mà vẫn giữ được truyền thống này, trong bối cảnh tới trên 90% dân châu Âu và các sắc dân khác ở Bắc Phi, Trung Đông ở xung quanh thời đó mù chữ thì đây quả là điều phi thường. Không chỉ thời nay người Do Thái mới được trọng dụng và phát huy vai trò, mà vào thời cực thịnh của Đạo Hồi (thế kỷ IX-XIII) sau Công nguyên, người Do Thái được người Hồi giáo tin dùng và đóng vai trò nổi trội là các thương gia biết tính toán, “ăn nên, làm ra” với hệ thống buôn bán kéo dài từ Trung Đông, qua Nam Á và Đông Nam Á, thậm chí tới Thượng Hải.

Vậy trong điều kiện bị chiếm đóng và lưu lạc, họ duy trì được chữ viết và tiếng nói của mình ra sao trong hàng ngàn năm mà không bị mai một? Câu trả lời chính là sự sùng đạo và cuốn kinh Do Thái viết bằng tiếng Hebrew.

Hầu hết những người Do Thái mà tôi gặp, dù là người Chính thống hay người Do Thái bình thường, đều nói rằng khi gặp nạn, vật đầu tiên và cũng là vật quý giá nhất mà người Do Thái đem theo đầu tiên đó chính là CUỐN KINH THÁNH, chứ không phải bất cứ vật dụng nào khác. Cuốn Kinh thánh Do Thái (Hebrew Bible) đối với họ vừa là đức tin, vừa là lịch sử, vừa là nguồn tri thức, vừa giúp họ giữ được bản sắc, vừa giúp họ có tương lai:

Đạo Do Thái và việc duy trì nòi giống

Nếu như người Đông Á chỉ dừng lại ở mức “khuyên răn” thì người Do Thái đã “luật hóa” và “hệ thống hóa” được việc chọn lọc có chủ đích thay cho việc chọn lọc tự nhiên, vô thức để “hoàn thiện” và “phát triển” gien của mình:

Nhiều nhà thần học mà tôi có điều kiện tiếp xúc cho rằng Đạo Do Thái hiện là một trong số ít tôn giáo “giữ” được “kỷ cương” khá tốt. Tuy nhiên vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh câu chuyện này và cần nghiên cứu sâu hơn mới có câu trả lời thỏa đáng. Quả thực, bất kỳ tôn giáo lớn hoặc quan trọng nào đều đứng trước 3 thách thức lớn trong quá trình phát triển, đó là:

– Duy trì được sự thống nhất, giữa các dòng, nhánh, xu hướng khác nhau trong cùng một tôn giáo, duy trì một đức tin chung trong thể thống nhất. Ví dụ, sự phân liệt rõ nhất thể hiện ở Đạo Hồi hiện nay với các dòng Shia, Suni, rồi nhánh Wahabis thuộc Suni, nhánh Alewite, Druze thuộc dòng Shia…, mà dòng, nhánh nào cũng cho mình mới là “chính thống”, còn những dòng, nhánh khác là “ngoại đạo”, cần bị loại bỏ để làm “trong sạch” Đạo Hồi;

– “Đồng hành” cùng xã hội hiện đại, nhưng vẫn duy trì các giá trị, các nguyên tắc “cốt lõi” (tức tính chất “chính thống”, mặc dù việc diễn giải và tự nhận các tính chất này còn nhiều điều phải bàn);

– Tránh việc tạo ra một tầng lớp “tăng lữ” mới, với các đặc quyền, đặc lợi, hủy hoại chính tôn giáo của mình.

Do Thái giáo cũng không phải là ngoại lệ, nhưng ít gặp các “vấn nạn” ở trên hơn, do:

– Ngay khi ra đời, Do Thái giáo đã không có “vấn nạn”, đưa đến sự kình chống nhau sâu sắc giữa các dòng tu. Đạo Hồi chẳng hạn, ngay sau khi Nhà tiên tri Mohamed qua đời, sự giằng xé giữa những người cho rằng cần phải chọn người thừa kế hoặc có dòng màu trực hệ để “hướng đạo” hạy chọn những người có khả năng nhất trong việc kế thừa và phát triển di sản của Mohamed đã đưa đến việc phân chia Hồi giáo thành 2 nhánh lớn là Shia và Suni. Do Thái giáo cũng có những dòng hết sức cực đoan, thậm chí không công nhận Nhà nước Israel, nhưng họ vẫn hợp tác, và không đi đến chỗ đối đầu nhau bằng bạo lực. Những người có tác dụng giữ sự hòa hợp và thống nhất Đạo Do Thái là các giáo sĩ và Hội đồng giáo sĩ.

– Trong hệ thống luật dân sự của Israel, còn có luật Do Thái Halakha tương tự như luật Sharia của Hồi giáo mà một số nước như Arab Saudi, Brunei… áp dụng. Halakha bao gồm 613 điều răn (commandments) với hệ thống tòa án riêng, và các “bản án” tôn giáo đối với người có đạo thậm chí còn đáng sợ và nghiêm khắc hơn các bản án dân sự. Luật Halakha tồn tại trong mọi ngóc ngách của đời sống xã hội, can thiệp sâu và điều chỉnh rất nhiều quy tắc, tập tục của đời sống xã hội. Nếu không tuân theo Halakha, các Rabbis có quyền rút “Phép thông công” (excommunicate) – tương đương với một bản án tử hình – và điều này cũng đồng nghĩa với việc khi qua đời, linh hồn người chịu hình phạt đó không được bay lên Thiên đàng.

– Người theo Đạo chính thống Orthodox tin và tự chọn cho mình lối sống theo các giá trị truyền thống và nguyên tắc nguyên thủy. Tuy nhiên, họ không tìm cách áp đặt lối sống của mình hay kỳ thị những người thế tục. Bản thân các Giáo sĩ (Rabbis) và những người Orthodox không được hưởng đặc quyền, đặc lợi, họ thỏa mãn với cuộc sống thanh bạch của mình. Trong đạo Hồi chẳng hạn, những người Wahabbis cũng có cuộc sống thanh bạch, khắc khổ, nhưng điều nguy hại là họ lại tìm cách áp đặt lối sống của mình lên những dòng, nhánh khác.

– Khác với các Đạo giáo khác là tìm mọi cách truyền đạo để mở rộng thành viên, càng nhiều càng tốt. Tuy nhiên, để trở thành một người Do Thái rất khó, phải có căn cứ, bằng chứng xác nhận tới ít nhất 4 đời trước đó và quy theo mẫu hệ. Họ cho rằng, đã là “thiên sứ nhà trời”, “được chúa chọn” thì chỉ có ít người được hưởng vinh dự, chứ đâu có thể kết nạp tràn lan, cứ vào đến synagogue (nhà thờ Do Thái) là trở thành Do Thái ngay được.

Trong những điều kiện khắc nghiệt thời kỳ Đế quốc La mã là bá chủ khu vực Trung Đông, để tránh bị truy đuổi và tận diệt, người Do Thái buộc phải cải đạo sang đạo Thiên chúa. Tuy nhiên họ lại cải đạo trở lại thành người Do Thái khi điều kiện cho phép. Bản thân Hitler là người rất căm thù dân Do Thái, một cộng đồng đoàn kết nhưng sống tách biệt với người bản xứ. Trong con mắt Hitler, đã sinh ra là một người Do Thái thì sẽ luôn luôn là một người Do Thái, cải đạo chẳng giúp ích gì, và quyết truy sát 1 người nếu tìm được bằng chứng trước đó 4 đời họ là người Do Thái.

Tản mạn thay lời kết: Chuyện ăn uống và tố chất của người Do Thái

Đồ ăn Kosher (Kosher food) là đồ ăn được chế biến và ăn theo kiểu Do Thái. Đối với người Do Thái Chính thống, việc sử dụng Kosher là điều gần như bắt buộc, còn đối với người thế tục thì tùy lựa chọn. Các canteen phục vụ tai các cơ quan chính phủ Israel như Bộ Ngoại giao hay Bộ Quốc phòng nghiễm nhiên là các nhà hàng phục đồ ăn Kosher. Đồ ăn Kosher hiện ngày càng trở nên phổ biến tại Israel và trên khắp thế giới và không chỉ người Do thái chính thống mới dùng. Hiện nay, có 100.000 loại thực phẩm Kosher khác nhau được bán trên phạm vi toàn thế giới.

Vậy Kosher là gì và ăn như thế nào? Trong Halakha quy định rất rõ, chi tiết và khá phức tạp, nhưng chung quy lại có một số điểm chính:

Về các thức ăn Kosher:

– Một số con vật ăn được: chỉ ăn những con vật có móng chẻ, ăn cỏ và nhai thức ăn lại như bò, dê, cừu. Các con vật không ăn được là lợn, ngựa, và lạc đà. Lợn tuy có móng chẻ nhưng không nhai lại, còn ngựa, lạc đà tuy ăn cỏ nhưng không có móng chẻ.

– Ăn các loài có cánh như gà, vịt, ngỗng, bồ câu… Không ăn các loài chim ăn thịt như diều hâu, chim ưng, đại bàng.

– Ăn các loài cá có vây và vẩy như các hồi, cá ngừ, cá trích… Không ăn các con cá không vảy như lươn, các trê, cá tầm, tôm, tép, nghêu sò, ốc hến, các loài bò sát, côn trùng.

– Các thức ăn trung tính như trái cây, nước trái cây, ngũ cốc, trứng gà vịt, mật ong, rượu vang, chè, café.

Về cách ăn đồ Kosher:

– Chỉ uống sữa và các vật phẩm chế biến từ sữa của các con vật Kosher như bò, dê, cừu. Chỉ được dùng sữa và các vật phẩm chế từ sữa 6 tiếng sau khi dùng thịt, hoặc 30 phút trước khi ăn thịt chứ không được ăn, uống đồng thời. Đồ chế biến sữa và thịt, kể cả chậu rửa bát nhất thiết phải dùng riêng.

– Lúa mì, gạo, và một số loại rau, củ nhất định thì ăn được. Không ăn, uống nước trái cây hoặc đồ chế biến từ các loại loại quả như cam, quýt, bưởi… dưới 3 tuổi.

– Không ăn nội tạng động vật hay gia cầm; không ăn phần phía sau của con thú và không ăn thịt, cá đồng thời.

– Khi ăn thịt phải lấy hết sạch máu và người chế biến phải học cách giết con vật sao cho con vật chết nhanh nhất, không đau đớn, nhưng lại ra được hết tiết. Thậm chỉ còn phải rửa sạch và ngâm miếng thịt trong nước 30 phút trước khi chế biến để ra hết máu,

– Các nhà hàng Kosher nhất thiết phải do đầu bếp Do thái chính thống trực tiếp nấu nướng và bị phạt rất nặng, kể cả tước giấy phép kinh doanh, hành nghề nếu vi phạm.

Có lẽ trên thế giới không có dân tộc nào có kiểu ăn “kiêng, khem” phức tạp và rườm rà như người Do Thái chính thống. Các nhà hàng phục vụ đồ ăn Kosher thường đắt hơn từ 20-30% so với nhà hàng thông thường, vậy mà lúc nào cũng đông khách ăn.

Theo tôi, đây không chỉ là đồ ăn kiêng của người Do Thái, mà THỰC CHẤT KOSHER LÀ ĐỒ ĂN, CÁCH ĂN THÔNG MINH, KHOA HỌC, THẬM CHÍ LÀ LÝ TƯỞNG không chỉ của người Do Thái, mà của con người nói chung. Nếu chỉ khuyên nhủ thông thường sẽ ít người theo, nhưng khi khoa học được “phủ” một lớp màu tôn giáo thì Kosher đã trở nên thành món ăn kỳ ảo, mê hoặc và quyến rũ.

Tạm cắt nghĩa một số thứ:

– Theo người Do Thái, con vật cũng như con người đều có linh hồn. Nếu làm cho con vật chết đau đớn thì nó sẽ oán trách và cả người thịt lẫn người ăn nó đều bị “quở phạt”. Do đó, giết nhanh để con vật mau chóng được hóa kiếp lên thiên đàng.

– Khi con vật cắt được tiết nghĩa là con vật còn tươi, chứ không phải ăn đồ ôi. Thú tính và sự ngu muội của con vật nằm ở “dòng máu”, và ăn thú vật hay gia cầm có tiết sẽ làm con người lâu dần nhiễm “thú tính” và đầu óc trở nên trì độn, còn nòi giống đi đến chỗ thoái hóa.

– Thịt ăn cùng với cá không còn tác dụng bổ dưỡng nữa, mà triệt tiêu lẫn nhau. Còn trái cây trong 3 năm đầu thường chứa nhiều chất, độc tố có hại cho cơ thể.

– Uống sữa sau khi ăn thịt không tốt cho sức khỏe vì bản thân thịt nhiều chất đạm, lâu tiêu lại có thêm chất bổ dưỡng khác nữa làm cho cơ thể không thể hấp thụ nổi và dễ sinh bệnh.

– Trong điều kiện thiên nhiên hết sức khắc nghiệt của vùng Bắc Phi – Trung Đông, việc ăn uống tốt giúp người Do Thái chống chọi tốt hơn với khí hậu khắc nghiệt, làm cho không chỉ thể trạng khỏe khoắn mà trí tuệ của họ cũng hơn người. Các cụ nhà ta chả nói bệnh vào từ mồm đó sao?

Như vậy, trải qua cả ngàn năm, với cuốn Kinh Thánh Hebrew, người Do Thái không chỉ thành công trong việc bảo tồn, mà còn phát triển bản sắc, văn hóa, tôn giáo của mình. Không những vậy, thông qua ăn uống, cuộc sống tinh thần lành mạnh, làm cho “gien Do Thái” vốn đã ưu việt, ngày một trở nên ưu việt hơn. Khác với các tôn giáo khác, người Do Thái không tìm cách phát triển tôn giáo của mình qua con đường truyền đạo như Đạo Hồi, Đạo Thiên chúa, hay Đạo Phật, mà tìm cách giữ sao cho Do Thái giáo càng “thuần khiết” càng tốt. Phải chăng những người được Chúa “chọn mặt gửi vàng” đâu có thể phát triển tràn lan được!

Có lẽ chính vì vậy mà cách đây từ trên 3.000 năm Nhà tiên tri Moses của người Do Thái đã lường trước điều này khi ông, ngay từ khi đó, đã hình dung ra rằng nếu người Do Thái làm theo các lời răn dạy của ông thì họ sẽ trở thành đối tượng bị săn đuổi và tận diệt của nhiều sắc dân khác và vì vậy đã chuẩn bị cho họ hành trang đầy đủ trong cả ngàn năm thiên di trước khi “trở về Jerusalem”. Điều ngạc ngạc nhiên là người Do Thái không than thân, trách phận mà họ coi đó là “sự thử thách” của Chúa trời đối với dân tộc Do Thái!

TS. Hoàng Anh Tuấn là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược và Ngoại giao, Bộ Ngoại giao Việt Nam. Bài viết tổng hợp những ghi chép đăng lần đầu trên trang Facebook của tác giả về chuyến công tác tới Israel gần đây, thể hiện quan điểm cá nhân, không phải quan điểm của cơ quan nơi tác giả công tác.

Nguồn: http://nghiencuuquocte.org/2014/10/10/giai-ma-thanh-cong-cua-israel-va-nguoi-do-thai/

Hình 5: Nước Israen từ 1947 đến nay

CHIA SẺ BÀI VIẾT

【#3】Những Dấu Hiệu Cảnh Báo Phụ Nữ Có Thể Bị Vô Sinh

Trong cuộc sống hiện đại, vô sinh ở đàn bà là căn bệnh khá phổ biến cũng như có tỷ lệ người mắc bệnh ngày càng gia tăng. Vì vậy nhận phát hiện kịp thời những dấu hiệu cảnh báo các bạn nữ có khả năng vô sinh để thường sớm nhận ra cũng như từ đó có biện pháp khắc phục nhanh chóng là điều vô cùng quan trọng.

Theo các chuyên gia tại website http://phongkhamaumyviet.vn/pha-thai-1-tuan-tuoi-bang-thuoc-nhu-the-nao-2269.html, vô sinh được hiểu là tình trạng một cặp đôi chung sống với nhau ít nhất 1 năm cũng như không dùng bất kỳ biện pháp bảo vệ nào lúc quan hệ tình dục nhưng không thể có con.

Vô sinh ở nữ giới là hiện tượng phụ nữ không thể có thai dù chung sống với chồng trong khoảng ít nhất 1 năm, không dùng biện pháp bảo vệ khi quan hệ cũng như sức khỏe sinh sản của nam giới bình có khả năng. Nếu vô sinh nguyên phát khiến bạn không thể mang thai, thì vô sinh thứ phát ở đàn bà là thuật ngữ chỉ những cặp vợ chồng chẳng thể thụ thai được sau nhiều năm sinh con đầu lòng. Vô sinh là bệnh lý vô cùng nghiêm trọng khiến cho nữ giới mất đi thiên chức dẫn tới mẹ, nguy cơ tan vỡ hạnh phúc gia đình khá cao.

8 dấu hiệu vô sinh ở nữ

Một số dấu hiệu vô sinh nữ sẽ gặp phải có thể kể đến bao gồm:

Rối loạn kinh nguyệt

Kinh nguyệt quá dài hoặc quá ngắn, kỳ kinh không đều… là những biểu hiện của rối loạn nội tiết và các hormone giới tính nữ. Không những vậy, sự phát triển chưa hoàn thiện của trứng, noãn cũng như sự viêm nhiễm của viêm mạc tử cung cũng là căn nguyên làm rối loạn kinh nguyệt từ đó khiến cho khả năng thu thai giảm đi rõ rệt.

nếu nữ giới trên 18 tuổi mà vẫn chưa có kinh hoặc đã có kinh mà bị tắc kinh quá 6 tháng liên tiếp được coi là vô kinh. Căn nguyên gây ra vô kinh có khả năng do: rối loạn chức năng tuyến yên, dị tật bẩm sinh đường sinh dục như không có tử cung, không có âm đạo, không rụng trứng, suy buồng trứng…

Đây là tình trạng đau bụng dưới khi có kinh. Các cơn đau có khả năng diễn ra nặng hoặc nhẹ tùy theo từng thể trạng của mỗi người. Đau bụng kinh sẽ xảy ra lúc máu huyết lưu thông kém, dẫn tới huyết ứ gây ra cho kinh xuống bị trở ngại, không thông có thể khiến Ở tại vùng bụng có cảm giác đau nhất là Tại vùng bụng dưới.

Dịch âm đạo bất thường

Âm đạo xuất hiện tiết dịch bất thường, có dịch màu vàng, xanh…. Kèm theo mùi hôi khó chịu là những dấu hiệu của viêm nhiễm, nấm âm đạo, viêm nội mạc tử cung hoặc các căn bệnh về đường tình dục khác. Viêm âm đạo có khả năng khiến cho âm đạo có các chất thải, bài tiết ra quá nhiều và chèn ép gây cảm giác đau bụng.

Tuyến vú phát triển kém

Đối với đàn bà lúc tới tuổi trưởng thành dưới tác động của tiết tố estrogen trong cơ thể, Vùng ngực phát triển cũng như dần hoàn thiện. Nhưng nếu như đã quá 18 tuổi mà tuyến vú chưa phát triển thì rất thường do thiếu nội tiết tố nữ estrogen. Điều này khiến cho buồng trứng phát triển kém và gây ra khả năng thụ thai cũng khó khăn hơn.

Chỉ số BMI không chuẩn

Chỉ số BMI được tính dựa theo công thức: BMI = Cân nặng/ chiều cao. Để có được dáng chuẩn, nhiều chị em đã ăn kiêng dẫn tới cho dinh dưỡng không đủ, hoặc chỉ số BMI quá lệch chuẩn từ đó thường dẫn tới nguy cơ vô sinh.

Các triệu chứng đau, chuột rút kinh nguyệt

khi bạn quan hệ tình dục có thể xuyên thấy đau cơ quan sinh dục có thể là một dấu hiệu của khối u xơ. Đau Tại vùng chậu sẽ mắc một số bệnh như u xơ, bệnh viêm Ở vùng chậu, hư hỏng tử cung, hoặc khuyết tật bẩm sinh tử cung và âm đạo…

nếu như bị sẩy thai khi thai nhi chưa được 140 ngày kể từ thời điểm thụ thai, gọi là trường hợp sẩy thai. Qua các nghiên cứu cho thấy có khoảng 30% nữ giới từng bị sẩy thai hoặc sẩy thai liên tiếp 3 lần có thể bị hiếm muộn – vô sinh.

Chính vì vậy, lúc có các dấu hiệu vô sinh ở đàn bà kể trên chị em bắt buộc sớm đến ngay phòng khám đa khoa âu mỹ việt để được các bác sĩ thăm khám, chẩn đoán căn nguyên, tình trạng bệnh từ đó tìm ra các biện pháp khắc phục nhanh chóng, hiệu quả.

【#4】Dấu Hiệu Sắp Sinh Con Ở Tuần 38 Và Những Lưu Ý Dành Cho Mẹ Bầu Mới Nhất

Dấu hiệu sắp sinh con ở tuần 38 chắc hẳn là mối quan tâm hàng đầu của các bố mẹ, khi chỉ vài tuần nữa là đến ngày dự sinh. Ở tuần này, thai nhi đã phát triển gần như hoàn thiện để chuẩn bị cho thời điểm chào đời. Bên cạnh đó, cơ thể mẹ bầu cũng có nhiều thay đổi một cách rõ rệt. Đây cũng là giai đoạn mà các mẹ nên chuẩn bị sẵn sàng để chào đón con yêu.

  • 1. Sự phát triển của thai nhi ở tuần 38
  • 2. Sinh con ở tuần 38 có phải là sinh non hay không?
  • 3. Dấu hiệu sắp sinh con ở tuần 38 của thai kỳ
  • 4. Những lưu ý dành cho mẹ bầu trước khi sinh con

Bà bầu nên chú ý những dấu hiệu sắp sinh con ở tuần 38 của thai kỳ – Ảnh Internet

1. Sự phát triển của thai nhi ở tuần 38

Vào thời điểm này, em bé tiếp tục tích mỡ dưới da để kiểm soát thân nhiệt sau khi ra đời. Có thể mẹ chưa biết, thai nhi 38 tuần đã dài khoảng 50cm và nặng khoảng 3,2kg. Một số bé đã mọc tóc dài khoảng 2,5cm và có lông tơ bao bọc cho đến khi chào đời. Bên cạnh đó, ngoại trừ não bộ và phổi thì bộ khung và các chức năng khác đã bắt đầu hoàn thiện.

Khi thai nhi 38 tuần, cơ thể mẹ bầu đã ngừng hẳn việc tăng cân, thậm chí có thể sút thêm vài cân nữa. Đây cũng là thời điểm mà em các bé đã di chuyển xuống sát vùng xương chậu của người mẹ, làm tăng thêm áp lực lên bàng quang, khiến cho mẹ bầu rơi vào tình trạng đi tiểu nhiều lần. Bên cạnh đó, các mẹ cũng sẽ phải đối mặt với hiện tượng phù chân và mắt cá chân. Nếu có những biểu hiện bất thường, các mẹ nên gặp ngay bác sĩ để phòng tránh nguy cơ tiền sản giật.

Thai nhi 38 tuần tuổi đã phát triển gần như hoàn thiện để chuẩn bị chào đời – Ảnh Internet

2. Sinh con ở tuần 38 có phải là sinh non hay không?

Theo các chuyên gia thì thai nhi đủ tháng phải ở trong bụng mẹ từ 39 đến 40 tuần 6 ngày. Do đó, việc sinh con ở tuần 38 có thể được xem là một ca sinh non. Tuy nhiên các mẹ cũng đừng nên quá lo lắng vì việc sinh con ở tuần 38 cũng không quá lo ngại. Sau khi em bé chào đời vẫn sẽ phát triển bình thường, các mẹ sẽ không gặp phải bất kì khó khăn gì trong việc nuôi dưỡng bé.

3. Dấu hiệu sắp sinh con ở tuần 38 của thai kỳ

Khi thai nhi 38 tuần, các mẹ sẽ thường xuyên cảm nhận được những cơn đau chuyển dạ giả với tần suất nhiều hơn. Bên cạnh đó, việc thay đổi số lần thai máy cũng là một trong những dấu hiệu sắp sinh được biểu hiện rõ ràng. Vào thời điểm này, tử cung của mẹ đã chật hơn rất nhiều, do đó em bé sẽ khó chuyển động hơn.

Khi thai nhi 38 tuần mẹ bầu sẽ thường xuyên đối mặt với những cơn đau chuyển dạ giả – Ảnh Internet

Bên cạnh đó, phần lưng và các cơ bị căng ra do thai nhi đã chuyển dần xuống vùng xương chậu, sẽ khiến cho các mẹ thường xuyên phải đối mặt với những cơn đau lưng dữ dội. Ngoài việc đi tiểu nhiều lần, các mẹ còn xuất hiện triệu chứng tiêu chảy và các cơ co thắt ở vùng bụng trong tuần thai này.

Bụng bầu tuột xuống thấp là một trong những dấu hiệu sắp sinh con rõ ràng – Ảnh Internet

4. Những lưu ý dành cho mẹ bầu trước khi sinh con

Các mẹ nên bổ sung thật nhiều dinh dưỡng để cung cấp cho cơ thể trước khi sinh – Ảnh Internet

Càng đến gần kỳ sinh nở, các mẹ càng nên giảm bớt khối lượng công việc và nghỉ ngơi nhiều hơn. Ngoài ra các mẹ cũng tránh đi đâu xa nhà trong thời điểm này để hạn chế được những sự cố bất ngờ có thể gây nguy hiểm cho cả hai mẹ con.

Ái Quê tổng hợp

【#5】#1 Cách Phân Biệt Dấu Hiệu Sắp Có Kinh Nguyệt Và Có Thai

Đôi khi, chị em có thể nhầm lẫn giữa dấu hiệu sắp có kinh và có thai do có nhiều điểm tương đồng.

Kinh nguyệt là gì?

Kinh nguyệt là tập hợp các thay đổi sinh lý lặp đi lặp lại ở cơ thể phụ nữ dưới sự điều khiển của hệ hormone sinh dục và cần thiết cho sự sinh sản. Ở phụ nữ, chu kỳ kinh nguyệt điển hình xảy ra hàng tháng giữa thời kỳ dậy thì và mãn kinh.

Chu kỳ kinh nguyệt là một tập hợp những thay đổi định kỳ tự nhiên xảy ra trong buồng trứng và tử cung cần thiết cho quá trình mang thai và sinh sản.Chu kỳ này hỗ trợ cho việc sản sinh trứng và chuẩn bị môi trường trong tử cung để đón trứng đã thụ tinh và mang thai. Có đến 80% phụ nữ cho biết họ bắt đầu có triệu chứng trong vòng một đến hai tuần trước khi hành kinh. Các triệu chứng thường thấy gồm mụn trứng cá, đau ngực, căng ngực, cảm thấy mệt mỏi, dễ cáu giận và tính khí bất ổn. Các triệu chứng này ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường và do đó được xếp vào loại triệu chứng tiền kinh nguyệt, ghi nhận ở 20 đến 30% phụ nữ. Khoảng 3 đến 8% trong số đó gặp những triệu chứng nghiêm trọng.

Chu kỳ kinh nguyệt đầu tiên thường diễn ra vào độ tuổi mười hai đến mười bảy, được gọi là hành kinh lần đầu. Đôi khi kinh nguyệt có thể diễn ra sớm hơn, từ lúc các bé gái mới tám tuổi, đây vẫn được coi là bình thường. Tuổi bắt đầu hành kinh trung bình ở các nước đang phát triển thường muộn hơn các nước phát triển. Thời gian giữa hai kỳ kinh nguyệt thường là từ 21 đến 45 ngày ở các thiếu nữ trẻ và từ 21 đến 31 ngày ở người lớn (tính trung bình là 28 ngày). Kinh nguyệt ngừng lại sau thời kỳ mãn kinh, xảy ra ở độ tuổi từ 45 đến 55. Ra máu thường xảy ra trong khoảng từ 2 đến 7 ngày.

Chu kỳ kinh nguyệt được điều khiển bởi sự thay đổi hàm lượng hoocmôn trong cơ thể. Quá trình này có thể can thiệp bằng cách sử dụng phương pháp tránh thai bằng hoocmôn để ngừa thai. Mỗi chu kỳ được chia làm ba giai đoạn dựa trên những thay đổi xảy ra trong buồng trứng (chu kỳ buồng trứng) và tử cung (chu kỳ tử cung). Chu kỳ buồng trứng gồm giai đoạn nang noãn, rụng trứng và giai đoạn hoàng thể còn chu kỳ tử cung gồm có kinh nguyệt, giai đoạn tăng sinh và giai đoạn chế tiết.

Bị kích thích bởi hàm lượng estrogen tăng dần trong giai đoạn nang noãn, quá trình ra máu ngừng lại, nội mạc tử cung dày lên. Nang trứng trong buồng trứng bắt đầu phát triển dưới sự chi phối phức tạp lẫn nhau của các hoocmôn, và sau một vài ngày một hoặc đôi khi là hai nang trứng phát triển vượt trội (các nang còn lại sẽ co lại rồi chết). Ở khoảng giữa chu kỳ, 24-36 tiếng sau khi lượng hoocmôn LH (LH) tăng lên đột biến, nang trứng vượt trội sẽ phóng thích một trứng, đây gọi là sự rụng trứng. Sau khi rụng, tế bào trứng chỉ có thể sống trong khoảng 24 giờ hoặc thậm chí ít hơn để chờ thụ tinh còn nang trứng vượt trội nói trên ở trong buồng trứng sẽ biến thành thể vàng; thể này có chức năng chính là sản xuất ra một lượng lớn progesterone. Dưới tác động của progesterone, nội mạc tử cung sẽ biến đổi để chuẩn bị chờ phôi thai về làm tổ, khi đó cơ thể bước vào trạng thái mang thai. Nếu trong khoảng hai tuần mà không có phôi thai đến làm tổ, thể vàng bị thoái hóa làm lượng hoocmôn progesterone và estrogen giảm mạnh. Sự suy giảm hoocmôn ấy làm cho lớp nội mạc tử cung bong ra, gọi là kinh nguyệt.

Dấu hiệu sắp có kinh nguyệt trước 1 tuần

1. Phụ nữ bị căng tức ngực khi sắp có kinh

Trước chu kỳ kinh nguyệt khoảng 1 tuần, chị em sẽ có dấu hiệu ngực căng lên và đau tức. Nếu để ý kỹ sẽ thấy kích thước của ngực tăng lên, cứng hơn so với ngày thường và chạm vào sẽ thấy đau. Đây là một triệu chứng sinh lý rất bình thường ở phụ nữ khi bước vào chu kỳ kinh nguyệt. Vậy nên khi gặp phải vấn đề này chị em cũng không cần quá lo lắng. Nếu trong chu kỳ kinh có xuất hiện các triệu chứng bất thường khác chị em có thể nhờ bác sĩ phụ khoa tư vấn miễn phí.

2. Khí hư ra nhiều dấu hiệu sắp có kinh ở phụ nữ

Khí hư là phần dịch tiết ở vùng kín có chức năng giữ ẩm và bảo vệ vùng kín khỏi sự tấn công của vi khuẩn. Khí hư thường ra nhiều khi phụ nữ trong kỳ kinh nguyệt và mang thai. Thường thì trước khi có kinh 1 tuần khí hư bắt đầu tăng lên đột biến về số lượng nên chị em sẽ thấy vùng kín ẩm ướt hơn bình thường. Chị em có thể quan sát sự thay đổi về khí hư để chuẩn bị trước cho ngày “đèn đỏ”. Tuy nhiên, nếu ra khí hư có màu vàng, xanh, nâu,… và có mùi hôi thì chị em nên đi khám ngay bởi đó là dấu hiệu của các bệnh viêm nhiễm phụ khoa nguy hiểm.

3. Khi sắp có kinh nguyệt chị em thường bị đau bụng dưới

Trước kỳ nguyệt san khoảng 1 tuần chị em thường có dấu hiệu đau bụng dưới âm ỉ. Hiện tượng này thường được gọi là đau bụng kinh. Đau bụng kinh có thể kéo dài vài ngày trước chu kỳ kinh (2 – 3 ngày), nó có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới tâm lý và sức khỏe của chị em phụ nữ. Những cơn đau bụng kinh thường không rõ ràng, chị em thường thấy đau râm ran ở bụng dưới. Nếu đau bụng diễn ra kéo dài và cơn đau dữ dội chị em nên cảnh giác vì đây có thể là dấu hiệu chị em đã mắc bệnh phụ khoa. Trong trường hợp này chị em nên đến các cơ sơ y tế chuyên khoa để khám. Trước khi đi khám chị em có thể nhờ bác sĩ phụ khoa tư vấn trước.

Nhận biết dấu hiệu sắp có kinh qua tâm trạng phụ nữ

Tâm trạng thất thường hay cáu gắt là một dấu hiệu chị em sắp bước vào chu kỳ kinh nguyệt. Theo một số nghiên cứu chỉ ra rằng khi chị em bước vào thời kỳ nguyệt san, do nội tiết tố thay đổi khiến tâm trạng chị em luôn buồn bực, cáu gắt không rõ nguyên nhân. Hiện tượng này sẽ hết khi chu kỳ kinh nguyệt qua đi. Chị em nên thư giãn trong những ngày này vì tâm trạng không tốt sẽ ảnh hưởng xấu tới sức khỏe.

Nhận biết dấu hiệu kinh nguyệt sớm qua làn da

Kỳ kinh nguyệt không chỉ ảnh hưởng tới tâm lý, sức khỏe của chị em mà nó còn gây ra sự thay đổi lớn với làn da của chị em. chu kỳ kinh nguyệt có thể khiến làn da của chị em dễ nổi mụn và tiết ra nhiều nhờn hơn. Lý giải cho hiện tượng này các bác sĩ phòng khám đa khoa quốc tế Hà Nội cho biết, da tiết ra nhiều dầu nhờn và nổi mụn do nội tiết tố có sự thay đổi. Đây là một hiện tượng hoàn toàn bình thường nên chị em không nên quá lo lắng. Nó sẽ hết khi kỳ kinh nguyệt qua đi. Để hạn chế hiện tượng này, chị em nên bổ sung kẽm trong bữa ăn hàng ngày.

Nhận biết sắp có kinh nguyệt dựa vào vấn đề tiêu hóa

Các vấn đề về tiêu hóa: trước mỗi chu kỳ kinh, một số chị em cho biết bản thân gặp phải triệu chứng tiêu chảy, táo bón không rõ nguyên nhân.

Ngoài ra, trước khi đến ngày kinh nguyệt, chị em sẽ có nhu cầu tình dục cao hơn bình thường, cơ thể mệt mỏi, đau lưng,…Nguyên nhân gây ra hiện tường này thường do sự thay đổi nội tiết tố. Nó có thể sảy ra trước hoặc sau chu kỳ kinh 2- 3 ngày.

13 dấu hiệu mang thai mà hầu như mẹ bầu nào cũng có

1. Căng tức bầu ngực

Đây thường là dấu hiệu mang thai thường thấy nhất, các mô cơ ở ngực rất dễ bị tác động bởi các hormone. khi các hormone steroid (hormone được sản sinh từ hoàng thể ở nửa sau chu kỳ kinh nguyệt) và hormone từ nhau thai bắt đầu tiết ra nhiều trong cơ thể sau khi trứng được thụ tinh làm gia tăng lượng máu trong cơ thể và làm cho ngực bạn căng lên, bạn sẽ cảm thấy đôi bầu ngực của mình nặng hơn bình thường.

2. Khó chịu

Có thể bạn cảm thấy khó chịu giống như trong thời kỳ kinh nguyệt, nhưng thực ra, sự khó chịu này là do trứng làm tổ – khi trứng đã thụ tinh bám vào thành tử cung. Tử cung của bạn có thể bị giãn ra một chút (làm xuất hiện các cơn co thắt) để chuẩn bị cho sự mở rộng tối đa vào chín tháng sau đó.

3. Ra máu

Rất nhiều phụ nữ thường lầm tưởng rằng ra một ít máu là dấu hiệu của một kỳ kinh mới, nhưng khoảng 25 phần trăm người sẽ xuất hiện vài giọt máu trong suốt thời kỳ trứng bám vào thành tử cung. Nếu bạn thấy rằng “kỳ kinh” của mình hình như ngắn hơn bình thường thì đã đến lúc bạn phải thử thai rồi đấy.

4. Mệt mỏi

Bạn sẽ thấy mệt, và có cảm giác như thế này: nếu bạn luôn thấy buồn ngủ khi làm việc, hoặc nếu bạn thấy quá mệt mỏi để có thể tiếp tục những sinh hoạt thường ngày như đến phòng tập thể dục thì đó có thể là những dấu hiệu cơ thể bạn đang thích nghi với một sinh linh bé bỏng mới. Goist cũng nói thêm: “thậm chí trong giai đoạn đầu tiên của thai kỳ – trong vòng 2 tuần sau khi giao hợp – con bạn đã đang bắt đầu sử dụng tiêu thụ năng lượng của bạn rồi. Năng lượng dự trữ trong cơ thể bạn cũng sẽ được dùng hết nhanh chóng.

5. Quầng vú sẫm màu

Ngực của phụ nữ có gì khác trong thời kỳ này? Các hormone được tiết ra khi mang thai cũng ảnh hưởng tới hoạt động của các tế bào hắc tố ở núm vú chịu trách nhiệm về màu sắc của chúng.

6. Buồn nôn

Chứng buồn nôn – ảnh hưởng tới 85 phần trăm phụ nữ mang thai – thường xảy ra sau vài tuần lễ, nhưng có một số chị em có thể phải chịu đựng chứng bệnh tế nhị này rất sớm. Nhiều người nói rằng họ đột ngột nôn ra trong khi đang đọc sách trên xe hơi hoặc luôn bị say trong suốt chuyến bay.

7. Đầy bụng

Bạn không thể kéo được dây kéo chiếc quần jean bó bạn vẫn thường mặc lên? Lượng hormone steroid tăng lên sẽ làm giảm chức năng của hệ tiêu hoá và có thể làm cho dạ dày của bạn phình to hơn bình thường. Hiên tượng này cũng xảy ra trong suốt thời gian bạn sắp có kinh, nhưng nó cũng sẽ chấm dứt khi bạn đến kỳ kinh, vì nó làm cho lượng hormone steroid giảm đi. Nhưng nếu bạn vẫn không hết đầy bụng, và bạn cũng không thấy kỳ kinh đến thì có thể có dấu hiệu mang thai rồi đấy, bạn nên thử thai và đợi cho tới khi vạch que thử chuyển sang màu hồng.

8. Đi tiểu nhiều hơn bình thường

Bạn phải vào nhà vệ sinh nhiều lần là kết quả của việc thận của bạn phải làm việc tăng tốc, chúng phải tống các chất thải ra ngoài nhiều hơn trong suốt thời kỳ mang thai (bạn cũng sẽ gặp hiện tượng này vào thời kỳ cuối của thai kỳ, nhưng khi đó là do tử cung quá lớn của bạn đè chèn lên bàng quang).

9. Thèm ăn

Ở giai đoạn này, bạn có thể ăn nhiều thức ăn chứa tinh bột hơn là rau dưa. Lúc này, cơ thể mệt mỏi của bạn đòi hỏi một lượng lớn carbon vì chúng dễ chuyển hoá hơn, sinh ra nhiều năng lượng hơn.

10. Nhức đầu

Gia tăng lượng máu trong cơ thể có thể làm cho mạch đập nhanh hơn bình thường và bạn sẽ cảm thấy hơi nhức đầu trong một vài tuần đầu tiên của thai kỳ, nhưng tình trạng này sẽ kết thúc khi cơ thể bạn thích nghi được với lượng hormone cao

11. Táo bón

Các loại hormone gây ra chứng đầy bụng cũng là nguyên nhân gây ra táo bón. vì cơ quan tiêu hoá của bạn không làm việc tốt như trước nên thức ăn không thể đi qua nhanh được. Triệu chứng này có khả năng giảm đi hoặc có thể tăng thêm trong quá trình phát triển của thai nhi.

12. Thay đổi tính tình

Vì lượng hormone nhau thai gia tăng, bạn sẽ cảm thấy rất mệt mỏi, ngoài ra còn cộng thêm chứng nhức đầu, sưng phù, táo bón, và đau ngực. Đó là lý do bạn sẽ luôn ở trong tình trạng ủ rũ.

13. Nhiệt độ cơ thể

Đo thân nhiệt – đo nhiệt độ ở miệng trước vào buổi sáng- thường được áp dụng để chỉ ra thời điểm trứng rụng. Thường thì thân nhiệt của bạn sẽ cao hơn nửa độ hoặc nhiều hơn khi có một trứng rụng và duy trì mức nhiệt độ đó cho tới kỳ kinh nguyệt. Vì vậy, nếu bạn theo dõi thân nhiệt của bạn và thấy rằng nó không giảm trong hơn hai tuần lễ, điều đó có thể có nghĩa là bạn đang có dấu hiệu nhận biết mang thai. Nếu bạn đo bằng một nhiệt kế tự động đặc biệt sẽ chính xác hơn nhiệt kế bình thường.

Lời khuyên của bác sĩ chuyên khoa

  • Trong thời kỳ hành kinh cơ thể chị em trở nên nhạy cảm nên cần chú ý thực hiện những lưu ý dưới đây của bác sĩ để ngày đèn đỏ trôi qua một cách thoải mái.
  • Tắm nước ấm để cơ thể ấm lên, giảm cảm giác căng thẳng mệt mỏi.
  • Không uống đồ lạnh, thay vào đó hãy uống những đồ uống ấm để làm cơ thể ấm dần từ bên trong.
  • Ngày kinh nguyệt sẽ khiến chị em mất máu, tiêu tốn nhiều năng lượng hơn bình thường, vậy nên hãy chú ý ăn uống đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng.
  • Vận động cơ thể nhẹ nhàng, tập thể dục nhẹ nhàng cho khí huyết lưu thông.

Những dấu hiệu phân biệt có thai và có kinh nguyệt tuy có sự giống nhau nhưng chỉ là ở mức độ tương đối nên nếu chị em tinh ý một chút là có thể phát hiện ra được.

  • dấu hiệu sắp có kinh nguyệt lần đầu
  • dấu hiệu sắp có kinh nguyệt và có thai có giống nhau không
  • dấu hiệu sắp có kinh và có thai
  • dấu hiệu sắp có thai
  • dấu hiệu có kinh trễ
  • dấu hiệu có kinh và có thai
  • sap co kinh am dao kho hay uot
  • sắp có kinh thân nhiệt có tăng không

Bác sĩ Phùng Thanh Vân

Bác sĩ Phùng Thanh Vân chuyên khoa ngoại, chuyên khoa Phụ-Sản cấp I; Bác sĩ chuyên khoa Y-xã hội học cấp I, bác sĩ chuyên khoa Da liễu, bác sĩ Đa khoa (nội-ngoại-sản -nhi).

Bác sĩ Phùng Thanh Vân đã có hơn 40 năm kinh nghiệm trong việc khám, chẩn đoán và điều trị gồm:

– Các bệnh lây truyền qua đường tình dục như: Bệnh lậu, giang mai, sùi mào gà, herpes sinh dục, mụn cóc sinh dục…

– Bệnh nam khoa: Xuất tinh sớm, suy giảm chức năng sinh dục, rối loạn cương dương, các bệnh về bao quy đầu, tinh hoàn, các bệnh về tuyến tiền liệt…

– Chẩn đoán và điều trị vô sinh ở nam giới, có rất nhiều bệnh nhân đã được chữa trị và có thể sinh con một cách tự nhiên.

– Bác sĩ Phùng Thanh Vân còn là một trong những bác sĩ phẫu thuật, mổ nội soi và vi phẫu các bệnh lý hệ tiết niệu sinh dục nam có tay nghề cao.

【#6】Bệnh Cao Huyết Áp Là Gì? Những Dấu Hiệu Nhận Biết Cao Huyết Áp

Cao huyết áp được xem là “kẻ giết người thầm lặng” vì những dấu hiệu nhận biết thông thường mà ai cũng có thể gặp hoặc một số người còn không có biểu hiện gì mà chỉ khi đi khám mới tình cờ phát hiện. Đôi khi những dấu hiệu của nó không quan trọng khiến chúng ta không quan tâm và nhẹ nhàng cho qua. Chính vì những điều đó mà làm cho tình trạng bệnh cao huyết áp ngày một tăng với con số chóng mặt và những biến chứng mà nó để lại là vô cùng nghiêm trọng nhiều trường hợp có thể dẫn đến tử vong.

Xem nhanh nội dung bài viết

Vậy bạn đã thực sự biết cao huyết áp là gì và như thế nào mới được gọi là cao huyết áp chưa?

Trước tiên bạn cần biết huyết áp là gì? Đó là áp lực máu cần thiết tác động lên thành động mạch nhằm đưa máu đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể, huyết áp được tạo ra do lực co bóp của tim và sức cản của động mạch.

Ở người bình thường, huyết áp ban ngày cao hơn ban đêm, hạ xuống thấp nhất vào khoản 1 – 3 giờ sáng khi ngủ say giấc và cao nhất vào lúc 8 – 10 giờ sáng. Khi cơ thể vận động với cường độ cao, hao tốn nhiều sức lực, tập trung cao độ, căng thẳng thần kinh hay xúc động mạnh sẽ làm huyế áp tăng lên và ngược lại, kho cơ thể ở trạng thái nghĩ ngơi, thư giản và ít suy nghĩ thì huyết áp hạ xuống.

Huyết áp được đo bằng 2 chỉ số sau:

  • Huyết áp tâm thu (hay còn gọi là huyết áp đối đa) ở người bình thường từ 90 đến 139 mm Hg
  • Hyết áp tâm trương (hay còn goi là huyết áp tối thiểu) bình thường từ 60 đến 89 mm Hg.

Vậy người được goi là cao huyết áp khi áp lực máu lên các thành động mạch cao hơn mức bình thường, tức là khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mg Hg và huyết áp tâm trương ≤ 90 mm Hg.

Những dấu hiệu thường gặp của người bệnh cao huyết áp

Những dấu hiệu của cao huyết áp rất thông thường và không có dấu hiệu nào nghiêm trọng, ai cũng có thể gặp phải kể cả trẻ em hay người trẻ tuổi. Tuy nhiên khi đã đến giai đoạn nghiêm trọng thì có thể đe dọa đến tính mạng và đây là một trong những căn bệnh có tỷ lệ người tử vong cao nhất thế giới do những biến chứng mà nó gây ra.

Khi có những biểu hiện sau, bạn cần phải đến gặp bác sĩ ngay:

Thường xuyên xuất hiện những cơn đau đầu, chóng mặ t: Đây là dấu hiện thông thường, cơ bản của những người cao huyết áp, bệnh càng nặng, những cơn đau đầu xuất hiện càng thường xuyên và bất chợt khiến bạn rất khó chịu, kèm theo đó là hoa mắt, chóng mặt. Thời gian kéo dài hay ngắn là phun thuộc vào từng người. Biện pháp tốt nhất là nên nằm xuống, nghĩ ngơi tránh tình trạng huyết áp tăng quá cao dẫn đến đứt mạch máu.

Chảy máu cam: cao huyết áp dẫn đến nứt vỡ mạch máu ở mũi, gây ra hiện tượng chảy máu cam. Đây là dấu hiệu đầu tiên của những người bệnh cao huyết áp, khi có dấu hiệu này bạn nên tiến hành đo huyết áp.

Xuất hiện những vết máu trong mắt: Đây là hiện tượng võng mạc bị xuất huyết do áp lực thành mạch tăng và bị vỡ, nếu để tình trạng này kéo dài có thể ảnh hưởng đến thị giác.

Tay chân tê, ngứa: khi huyết áp cao, áp lực tác động lên thành mạch máu tăng khiến các mạch bị cứng lại và không kiểm soát được. Vì vậy mà làm cho tay chân bị tê cứng và cảm giác ngứa rần rần khắp người. Đây là dấu hiệu của cao huyết áp và có thể dẫn đến đột quỵ.

Cảm giác buồn nôn và nôn: có thể đây là triệu chứng dễ nhầm lẫn với bệnh về tiêu hóa hoạch dạ dày, nếu bạn thường xuyên cảm thấy buồn nôn và nôn thì đó là dấu kiệu của cao huyết áp vì khi huyết áp tăng, gây nên áp lực vào thành mạch, não cũng không nhận đủ máu cho quá trình hoạt động gây ra tình trạng.

Hoa mắt, chóng mặt, ù tai: đây là dấu hiệu phổ biến nhưng nguy hiểm mà bạn không nên xem thường, những cơn choáng váng thường đến bất chợt khiến bạn có thể mất thăng bằng, khó thở và thậm chí là ngất xỉu và dẫn đến đột quỵ. Khi bạn có dấu hiệu chóng mặt thì không nên đi lại mà chỉ nằm yên trên giường.

Nguyên nhân dẫn đến cao huyết áp và cách phòng ngừa như thế nào?

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh cao huyết áp và được chia làm 2 nhóm:

Nguyên nhân tăng huyết áp nguyên phát ( nguyên nhân không xác định chính xác)

Những người già và phụ nữ thời kì mãn kinh thường có tỷ lệ cao huyết áp cao hơn so với nhóm đối tượng khác. Nguyên nhân là do xuất hiện các mãng bám do mỡ, cholesterol, canxi hình thành nên làm hẹp mao mạch, dẫn đến quá trình lưu thông máu khó khăn, từ đó làm tăng huyết áp.

Những người làm việc với chế độ tập trung cao, hay suy nghĩ nhiều và làm việc quá nhiều vào ban đêm cần lượng máu cung cấp lên não nhiều. Với nhu cầu cao quá, lượng máu không lưu thông lên não đủ cũng là nguyên nhân dẫn đến cao huyết áp.

    Chế độ ăn uống không hợp lí

Chế độ ăn uống là nguyên nhân dẫn đến nhiều bệnh, không riêng gì cao huyết áp. Theo nghiên cứu, những người ăn mặn có chỉ số huyết áp cao hơn hẵn những người ăn nhạt. Nguyên nhân là do muối ăn chứa thành phần chính là natri. Khi lượng natri lớn thấm vào tế bào dẫn đến tăng trương lực của thành mạch, gây co mạch dẫn đến tăng huyết áp. Giải pháp cho nhóm đối tượng này đơn giản là giảm lượng muối sau đó giữ ở mức an toàn, đặc biệt nên tránh các đồ ăn nhanh vì thường chứa lượng muối lớn.

Theo nghiên cứu cho thấy, trước 50 tuổi, tỷ lệ nam mắc bệnh cao huyết áp nhiều hơn nữ. Nguyên nhân do áp lực công việc, làm việc trong môi trường căng thẳng nhiều hơn, ảnh hưởn do uống rượu bia, hút thuốc lá. Tuy nhiên sau 55 tuổi, tỷ lệ này lại ngược lại, do phụ nữ bước vào giai đoạn mãn kinh, thay đổi nội tiết tố trong cơ thể.

    Lười vận động, thể dục thể thao

Khi ít vận động, máu lưu thông không tốt dẫn đến tăng huyết áp, không những thế còn gây ra nhiều hậu quả khác như tăng cân, béo phì, đột quỵ.

Nguyên nhân thứ phát ( những căn bệnh khác gây nên tăng huyết áp)

Đây là nguyên nhân có thể xác định được từ những căn bệnh khác. Một số bệnh có thể là biến chứng của tăng huyết áp đó là bệnh thận, tim mạch, …

Làm thế nào để phòng ngừa và điều trị bệnh cao huyết áp

Có chế độ ăn uống hợp lí, khoa học

Tuân theo chế độ ăn nhiều trái cây và rau, trong rau chứa nhiều chất xơ có tác dụng chuyển hóa chất béo vừa giảm béo phì vừa làm ổn định huyết áp. Ăn 3 bữa một ngày, nên tăng cường ăn các loại thức ăn giàu kali như giá đỗ, chuối chín, các loại đậu, khoai sọ, ngô, khoai tây.

Bổ sung những thực phẩm tự nhiên giàu acid amin, K, saponin như hồng sâm, sâm tươi. Đây là thảo dược thiên nhiên có chứa đầy đủ các loại acid amin cần thiết cho cơ thể, giúp ngăn ngừa sự kết dính của các tiểu cầu máu và chống xơ vữa động mạch, nguyên nhân dẫn đến cao huyết áp.

Hạn chế ăn các loại thức ăn nhanh chứa nhiều dầu mở động vật, thay vào đó là sử dụng các loại dầu thực vật như dầu đậu nành, đậu phụng tốt cho tim mạch.

Chế độ ăn giảm muối, giàu kali và canxi: Càng ăn ít muối, huyết áp càng thấp. Nhu cầu muối ăn trung bình của một người khoảng 15g/ngày, trong đó có tới 10g sẵn có trong thực phẩm tự nhiên, vì vậy chỉ nên bổ sung thêm một thìa cà phê muối ăn/ngày là đủ.

Bỏ những thói quen xấu như hút thuốc,cà phê,chè đặc là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng bệnh tăng huyết áp và các bệnh tim mạch. Hạn chế hoặc kiêng uống rượu bia: Nếu dùng thường xuyên một lượng rượu nhỏ sẽ có tác dụng làm giảm các nguyên nhân gây tử vong nói chung và do tim mạch nói riêng, nhưng nếu uống nhiều dễ làm tăng huyết áp.

Chế độ luyện tập thể dục thể thao

Phải có chế độ luyện tập thể dục thể thao thường xuyên, chỉ cần một buổi sáng bỏ ra từ 30 – 45 phút để tập thể dục, có thể là đi bộ hay các động tác cơ bản để giúp máu lưu thông tốt. tập thể dục là phương pháp đớn giản, hiệu quả cho tất cả các bệnh, không riêng gì cao huyết áp.

Chế độ sinh hoạt và làm việc

Đảm bảo ngủ đúng giờ, đủ giấc và có chế độ làm việc khoa học, không thức quá khuya. Tránh làm việc dưới áp lực cao, sẽ gây ra tình trạng căng thẳng, stress từ đó dẫn đến cao huyết áp.

Có một điều quan trọng là cần sắm một cái mình một cái máy đo huyết áp để tiện trong việc kiểm tra huyết áp thường xuyên và phát hiện sớm tình trạng bệnh và có biện pháp phòng ngừa kịp thời.

Hy vọng những thông tin mà chúng tôi cung cấp có thể hữu ích trong việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe. Không riêng gì bệnh huyết áp cao mà tất cả các bệnh khác nữa, điều quan trọng là có chế độ ăn uống hợp lí, luyện tập thể dục thể thao thường xuyên và chế độ làm việc khoa học thì có thể đẩy lùi tất cả các bệnh. Hãy nâng cao phòng bệnh hơn chữa bệnh.

【#7】5 Dấu Hiệu Sắp Sinh Trước 1 Tuần Mẹ Bầu Phải Biết Để Chuẩn Bi Chu Đáo

Các dấu hiệu sắp sinh con so trước 1 tuần

Dấu hiệu sắp sinh trước 1 tuần đối với những mẹ sinh con so tương tự như các mẹ sinh con rạ. Ngoài ra, những mẹ sinh con so còn có thêm các biểu hiện sau:

Dấu hiệu nhận biết sắp sinh trước 1 tuần: Bị chuột rút, cảm thấy đau lưng nhiều hơn: Khi bước vào cuối thai kỳ, các mẹ bầu thường xuyên bị chuột rút và đau nhiều hơn ở hai bên háng. Đặc biệt, càng gần đến ngày dự sinh, mẹ càng dễ bị đau hơn. Lúc này, các cơ và khớp ở vùng xương chậu lẫn tử cung đều bị kéo căng ra hết sức để chuẩn bị cho quá trình vượt cạn sẽ gây ra tình trạng trên.

Các mẹ bầu thường xuyên bị chuột rút và đau lưng khi sắp sinh

Ngưng tăng cân là một trong những dấu hiệu sắp sinh trước 1 tuần:

  • Nếu trong suốt thai kỳ, mẹ tăng cân rất nhiều nhưng đến tuần cuối cùng thì lại không tăng. Chứng tỏ đây là một trong các dấu hiệu sắp sinh trước 1 tuần mà mẹ có thể lưu ý.
  • Đây là một điều hoàn toàn bình thường và không gây ảnh hưởng gì đến cân nặng của bé. Việc sụt cân của mẹ bầu là do lượng nước ối đang giảm xuống. Lúc này, cơ thể sẽ cảm thấy mệt mỏi, mẹ chỉ muốn nghỉ ngơi nhiều hơn mà không thiết gì đến ăn uống.

Dấu hiệu chuẩn bị sinh trước 1 tuần mà “không báo trước”

Có những dấu hiệu sắp sinh ập tới dồn dập mà mẹ bầu không thể biết để mà chuẩn bị trước. Điển hình như:

    Các cơn co thắt tử cung: Những cơn co thắt ở tử cung là dấu hiệu sắp sinh trước 1 tuần tiêu biểu nhất. Cơn đau co thắt liên tục này có thể diễn ra trong 1 vài tuần, hoặc có thể là khoảng 1 tháng trước ngày sinh. Tuy nhiên, khi càng đến gần thời điểm bé chuẩn bị ra đời, mẹ sẽ càng cảm thấy các cơn co thắt này trở nên mạnh hơn, dày đặc hơn.

Những cơn co thắt ở tử cung chính là dấu hiệu sắp sinh tiêu biểu nhất

Khi cơn co thắt xảy ra kèm cảm giác đau bụng quặn thắt, dữ dội và khó chịu, cơn đau đến theo từng đợt đều đặn và ngày càng dày đặc hơn thì đó là dấu hiệu mẹ bầu chuyển dạ sắp sinh.

Mẹ cần vào bệnh viện ngay để được theo dõi khi các cơn co thắt và đau quặn diễn ra với tần suất từ 10 – 15 phút/ lần. Nhiều mẹ bầu cảm thấy không an tâm khi ở ở nhà khi đã đến thời điểm này thì mẹ có thể vào viện sớm hơn.

    Vỡ nước ối: Vỡ nước ối là dấu hiệu “báo động” sắp sinh chính xác nhất. Tuy nhiên, em bé ít khi chào đời ngay ở lúc vỡ ối mà phần lớn sản phụ thường phải mất vài giờ thì mới thực sự lâm bồn. Khi thấy nước ối bị vỡ ra, mẹ bầu cần nhập viện ngay lập tức. Tuy nhiên, các mẹ bầu thường vỡ ối trong quá trình đau đẻ, lúc này mẹ bầu đã ở trong bệnh viện rồi.

Vỡ nước ối là dấu hiệu “báo động” sắp sinh chính xác nhất

    Cổ tử cung bắt đầu mở: Thời điểm này em bé đã sắp chào đời, cổ tử cung của mẹ bầu cũng bắt đầu giãn và mỏng hơn. Để biết chính xác vấn đề này, mỗi lần khám thai định kỳ, các bác sĩ sẽ kiểm tra độ mở của tử cung và sẽ thông báo với mẹ bầu những việc cần làm để chuẩn bị tinh thần vượt cạn.

Dấu hiệu sắp sinh con rạ trước 1 tuần

Bụng bầu bắt đầu tụt xuống: Khoảng 1 tuần cho đến vài ngày khi chuẩn bị chào đời, em bé sẽ bắt đầu dịch chuyển hẳn xuống phía dưới trong khung xương chậu của mẹ bầu. Phần đầu của bé sẽ quay xuống phía dưới, nằm ở vị trí thấp nhất bên trong tử cung. Tư thế này còn gọi là “ngôi thai đầu” chính là ngôi thuận lợi nhất để sinh thường.

Nếu bé ở ngôi mông hay còn gọi là ngôi ngược, mẹ thường được các bác sĩ khuyên sinh mổ. Đây là một trong những dấu hiệu sắp sinh con mà những người giàu kinh nghiệm mới nhìn là có thể giúp mẹ bầu phát hiện ra ngay. Ở các mẹ sinh con rạ, do cơ bụng không còn săn chắc như ở lần mang thai đầu tiên, cho nên dấu hiệu này cũng không còn rõ ràng nhưng vẫn có thể nhận biết được.

Dấu hiệu sắp sinh con trước 1 tuần: Ra chất nhầy: Dịch nhầy thường tích tụ ở cổ tử cung của mẹ trong thời kỳ mang thai. Dần dần tạo thành “nút nhầy” cổ tử cung để giúp ngăn ngừa vi khuẩn có hại xâm nhập vào, gây nguy hiểm cho cả mẹ và bào thai. Khi tới những ngày cuối của thai kỳ, mẹ có thể thấy một chút máu màu hồng, đỏ hoặc nâu xuất hiện ở dưới đáy quần lót, dịch nhớt này có thể ra nhiều một lúc hoặc ra ít một. Mẹ cũng cần lưu ý là nếu dịch nhầy có lẫn nhiều máu (gần giống như khi có kinh nguyệt) thì đây có thể là một dấu hiệu chuyển dạ cô cùng nguy hiểm, mẹ bầu cần phải đến bệnh viện ngay lập tức.

Dấu hiệu sắp sinh con trước 1 tuần dễ thấy đó là ra chất nhầy

Tiểu rắt và tiêu chảy là dấu hiệu bà bầu sắp sinh trước 1 tuần: Thời điểm sắp sinh, bàng quang bị đầu em bé chèn ép, sức ép này khiến cho mẹ đi tiểu thường xuyên giống như trong 3 tháng đầu của thai kỳ. Kèm theo đó, có mẹ bầu còn xuất hiện những cơn co cơ nhẹ ở bụng. Cùng với đó, mẹ bầu dễ bị tiêu chảy do ruột được thả lỏng hơn trong những ngày gần sinh.

Bản năng làm tổ của người mẹ khi sắp sinh: Khi có dấu hiệu sắp sinh khoảng 1 tuần, người phụ nữ thường có nhu cầu được giặt quần áo, dọn dẹp nhà cửa, nấu ăn, rửa chén bát,… như thể đang chuẩn bị “dọn ổ” để đón con yêu sắp chào đời. Cảm giác này thường xuất hiện ở rất nhiều mẹ bầu.

Các biểu hiện sắp sinh trước 1 tuần có thể có hoặc không

Đau phần lưng dưới: Những ngày cuối cùng của thai kỳ thường làm mẹ bầu có cảm giác đau lưng nhiều hơn. Bởi vì lúc này em bé đã lớn hơn và tụt xuống dưới tạo áp lực cho vùng lưng dưới và làm dây chằng của cổ tử cung, xương chậu bị kéo giãn hết mức khiến mẹ bầu cảm thấy đau nhức, mỏi mệt hơn. Nếu mẹ bầu thấy đau lưng dưới hơn mức bình thường, đau thành từng đợt ngắn thì đây là dấu hiệu cho thấy thiên thần nhỏ sắp chào đời.

Đau vùng lưng dưới là dấu hiệu cho thấy thiên thần nhỏ sắp chào đời

Vùng kín bị sưng nề: Rất nhiều thay đổi trong cơ thể mẹ bầu sẽ xảy ra khi ngôi thai vào vị trí chuẩn bị chào đời. Đặc biệt nhất là cơ thể mẹ bầu sẽ tự thay đổi nội tiết tố, thay đổi hoạt động của thần kinh làm cho các mạch máu nuôi dưỡng của vùng tầng sinh môn, âm hộ và âm đạo bị giãn rộng hơn.

Hoạt động này giúp cung cấp máu nuôi dưỡng để cho đường kính ống âm đạo giãn nở tốt hơn, từ đó giúp cho thai nhi có thể “sổ” ra dễ dàng khi vào giai đoạn chuyển dạ sinh. Chính vì thế, chuyện nhiều mẹ bầu bất ngờ với sự thay đổi vùng kín của mình cũng là điều hoàn toàn dễ hiểu.

Cảm thấy dễ thở hơn: Giai đoạn mẹ bầu sắp sinh em bé, lúc này thai nhi đã tụt xuống thấp. Vì vậy, áp lực của thai nhi đè nặng lên cơ hoành và dạ dày của mẹ đã được giảm thiểu. Cũng chính vì vậy nhịp thở của mẹ bầu đã được dễ dàng hơn, chứng ợ nóng thường xuyên “ám ảnh” trong thai kỳ cũng bỗng nhiên biến mất.

Cách giảm cơn đau do các dấu hiệu sắp sinh trước 1 tuần gây ra

Đi dạo bộ hoặc xem một vài bộ phim hài vui nhộn;

Massage, ngâm mình trong bồn nước ấm 15 20 phút/ ngày hoặc tắm vòi sen ấm;

Trò chuyện cùng những người thân, bạn bè để quên đi cảm giác khó chịu;

  • Cố gắng ngủ cho đủ giấc. Vì mẹ bầu cần phải tích lũy năng lượng cho quá trình sinh em bé.
  • Ngoài ra, nếu có một trong các dấu hiệu sau đây, mẹ bầu hãy đến bệnh viện gần nhất càng sớm càng tốt:
  • Gặp phải các cơn co thắt liên tục xuất hiện trước tuần thứ 37, chảy máu âm đạo nhiều, tiết dịch âm đạo một cách bất thường, đau quặn bụng, đau vùng xương chậu âm ỉ hoặc đau lưng.
  • Vỡ ối ồ ạt hoặc rò rỉ nước ối. Mẹ bầu cũng nên gọi cho bác sĩ để xin lời khuyên nếu thấy nước ối có màu xanh nhạt vì đây có thể là phân su của em bé. Nếu không được kích thích sinh nở ngay, em bé có thể sẽ bị ngạt vì hít phải chất thải của mình.
  • Mẹ bầu cảm thấy thai nhi hoạt động ít hơn thường ngày.
  • Chảy máu âm đạo, bụng đau quặn và đau liên tục từng cơn hoặc bị sốt.
  • Mẹ bầu bị đau đầu nặng và kéo dài, cảm thấy thay đổi thị lực, đau ở vùng bụng trên, bị sưng phù chân tay hoặc các triệu chứng nguy hiểm của tiền sản giật.

【#8】Dấu Hiệu Mèo Sắp Sinh

Dấu hiệu mèo sắp sinh

Đây là một số dấu hiệu cho thấy mèo nhà bạn sắp đẻ:

Mèo mẹ sẽ kêu thảm thiết và sẽ mất tích khoảng 1 – 2 ngày rồi mới trở về. Sau khoảng 1 tháng, bụng mèo mẹ có vẻ hơi to lên một chút. Khi sờ vào bụng nó thấy cứng cứng.

Dấu hiệu của mèo sắp đẻ thì hình dạng hai bên bụng không đều, cứng, thậm chí có chỗ nhô hẳn ra.

Nếu mèo kêu liên tục và nhìn Sen như muốn nhờ vả điều gì đó chí là lúc mèo sắp đẻ. Khi đó Sen phải vuốt ve liên tục để mèo yên tâm.

Nó sẽ bớt kêu lại và nằm im một chỗ, đồng thời chuẩn bị cho nó chút thức ăn nhẹ (nó sẽ ăn dù chỉ là rất ít).

Mèo lờ đờ, dấu hiệu khi mèo sắp đẻ là bồn chồn. Nếu không muốn mèo đẻ lung tung trong nhà bạn nên chuẩn bị sẵn một chiếc ổ cho mèo mẹ.

Nó bắt đầu liếm láp âm hộ và các khu vực trên cơ thể nhiều hơn thường ngày. Chúng sẽ vệ sinh cơ thể trước khi chuyển dạ.

Hay thở hổn hển và dáng đi chậm hơn, thậm chí chúng có xu hướng rên nhiều hơn.

Ăn uống kém dần đi hoặc xuất hiện triệu chứng nôn.

Chú ý trình tạng cơ thể mèo sắp sinh

Trường hợp mèo xuất hiện máu trước khi sinh là dấu hiệu cực kỳ nguy hiểm. Có thể mèo bị sảy thai hay thai bị chết lưu.

Lưu ý, Sen phải đưa mèo mẹ tới cơ sở thú ý gần nhất. Để chúng được chăm sóc đúng cách.

Cách hỗ trợ cho mèo đẻ, hậu sản sau sinh

Mèo mẹ thường sinh con một cách bí mật và kín đáo. Vì thế, bạn cần theo dõi quá trình mang thai và nhận biết dấu hiệu sắp sinh của mèo.

Việc mèo đẻ con là điều hết sức bình thường, và nó không cần sự trợ giúp khi sinh con.

Sau khi sinh, hãy nhẹ nhàng đặt những đứa con dưới tấm khăn mỏng để mèo con không nhiễm lạnh hoặc tiếp xúc trực tiếp với môi trường xung quanh.

Biện pháp tốt nhất là dùng bao tay để tránh nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, Sen phải hết sức nhẹ nhàng, vì mèo mẹ có thể phản ứng gay gắt vì nhầm lẫn bạn đang bắt con nó.

Một vài trường hợp, mèo mẹ mới sinh lần đầu nên cần sự giúp đỡ từ bạn. Vì vậy, sau khi sinh, Sen hãy nhanh chóng lau sạch từng con mèo con.

Ngoài ra, hãy giúp mèo mẹ gỡ nhau thai để hạn chế việc bị nhiễm trùng. Mèo mẹ sẽ ăn luôn nhau thai, để cung cấp dinh dưỡng tốt cho sức khỏe của chúng.

【#9】10 Dấu Hiệu Sắp Có Kinh Nguyệt Trước 1 Tuần Chính Xác Nhất

Tham vấn y khoa: Admin

Đánh giá:

Vì vậy nếu chị em thường xuyên theo dõi chu kỳ kinh nguyệt của mình thì sẽ nhận ra các dấu hiệu tiền kinh nguyệt. Biết được điều này sẽ giúp chị em có sự chuẩn bị tâm lý cũng như sắp xếp kế hoạch công việc phù hợp nhất.

Tổng hợp 10 dấu hiệu sắp có kinh nguyệt trước 1 tuần chính xác nhất

Dấu hiệu đầu tiên mà chị em có thể nhận biết mình sắp đến chu kỳ kinh đó là khí hư ra nhiều. Khí hư hay còn gọi là dịch tiết âm đạo được tiết ra hàng ngày với một lượng nhỏ để làm sạch âm đạo. Tuy nhiên sắp đến chu kỳ kinh hormone estrogen tăng lên, làm cổ tử cung tăng tiết chất nhầy dẫn đến khí hư ra nhiều. Chị em sẽ thấy vùng kín ẩm ướt hơn thường ngày.

Nếu mỗi lần đi tiểu bạn thể khí hư ra nhiều hơn bình thường thì rất có thể là sắp đến ngày đèn đỏ. Đây là dấu hiệu rất bình thường chị em không cần quá lo lắng. Tuy nhiên nếu khí hư ra nhiều có mùi hôi hoặc thay đổi màu sắc bất thường như màu vàng, màu xanh thì cần để ý. Vì rất có thể đó là dấu hiệu của các bệnh phụ khoa.

Đau bụng dưới là triệu chứng tiền kinh nguyệt phổ biến ở rất nhiều chị em phụ nữ. Có người đau âm ỉ nhưng cũng có người đau dữ dội đến mức không muốn làm bất cứ việc gì. Cơn đau thường kéo dài trước chu kỳ kinh và diễn trong 2-3 ngày cả trong chu kỳ. Lượng máu kinh càng nhiều thì cơn đau càng nặng hơn.

Nguyên nhân gây ra cơn đau bụng kinh là do tử cung bắt đầu co bóp để đẩy máu kinh ra ngoài. Ngoài ra người bị thiếu hụt axit béo omega-3, làm ức chế sản sinh hormone sinh dục. Điều này cũng gây ra những cơn đau tiền kinh nguyệt.

Sắp đến ngày kinh nguyệt, nhiều chị em bị mọc mụn bọc. Mụn này còn được gọi là mụn nội tiết. Mụn bọc thường hình thành một khối cứng trên da và gây cảm giác rất đau. Những người có làn da dầu và bị rối loạn nội tiết tố có nguy cơ cao bị mọc mụn này. Mụn bọc là loại mụn nguy hiểm, nếu nặn mụn không đảm bảo có thể gây viêm nhiễm và để lại sẹo.

Trong những ngày này, bạn cần có chế độ ăn uống thích hợp. Tránh ăn đồ cay nóng, dầu mỡ khiến tình trạng mụn càng nghiêm trọng hơn. Để trị mụn bạn nên thoa các loại kem trị mụn giúp khô cồi mụn, rồi nhẹ nhàng nặn ra.

Khi sắp đến ngày kinh nguyệt, chị em dễ bị bất ổn tâm lý với các dấu hiệu như: dễ cáu gắt, bực bội, thay đổi cảm xúc nhanh chóng, nhạy cảm, dễ xúc động…

Nguyên nhân là do lượng hormone nội tiết thay đổi kéo theo tâm trạng và cảm xúc cũng thay đổi theo.

Khi sắp đến chu kỳ kinh nguyệt, ngực của chị em cũng có sự thay đổi. Ngực căng tức, to hơn bình thường. Đây là dấu hiệu rất bình thường, bạn không cần quá lo lắng. Giải pháp cho tình trạng này khá đơn giản là mặc áo ngực rộng rãi hơn. Hoặc có thể massage nhẹ nhàng cho ngực nếu cảm giác đau tức gây khó chịu.

Ngoài đau bụng thì đau lưng cũng là một triệu chứng khá điển hình xuất hiện trước chu kỳ kinh. Nguyên nhân là do, cơ thể tiết ra hormone prostaglandin. Hormone này làm co cơ tử cung và tăng áp lực lên buồng ối khiến lưng đau mỏi.

Thông thường tình trạng đau mỏi lưng diễn ra trong khoảng 2-3 ngày. Khi kinh nguyệt hết thì tình trạng này cũng chấm dứt. Tuy nhiên nếu bị đau mỏi lưng thường xuyên không do vấn đề kinh nguyệt thì có thể do các nguyên nhân khác như bệnh về cột sống, xương khớp, hoặc sỏi thận…

Các nghiên cứu khoa học cho biết, ham muốn tình dục của phụ nữ thay đổi theo từng thời điểm của chu kỳ kinh nguyệt. Phụ nữ ham muốn tình dục cao nhất trong khoảng thời gian rụng trứng. Và giảm dần về cuối chu kỳ.

Điều này cũng không có gì khó hiểu. Khi rụng trứng lượng hormone sinh dục tăng lên, làm chị em tăng cao ham muốn. Càng về cuối chu kỳ, lượng hormone càng giảm khiến ham muốn tình dục cũng giảm theo.

Khi chuẩn bị đến chu kỳ kinh nguyệt, chị em thường bị mất ngủ. Nguyên nhân là do sự sụt giảm của tryptophan trong những ngày này.

Tryptophan là amino axit thiết yếu của nhiều phân tử sinh vật duy trì sự sống, trong đó có serotonin và melatonin. 2 chất này rất quan trọng trong việc kiểm soát giấc ngủ. Nếu thiếu hụt sẽ gây ra tình trạng mất ngủ, ngủ không sâu giấc.

Để hạn chế tình trạng mất ngủ, bạn nên bổ sung các loại thực phẩm có chứa tryptophan như:

Trước chu kỳ kinh nguyệt, nội tiết tố thay đổi cũng gây ra những ảnh hưởng đến hệ tiết hóa. Vì vậy một số dấu hiệu sắp đến ngày kinh nguyệt có thể bao gồm:

  • Táo bón
  • Tiêu chảy
  • Tăng cảm giác thèm ăn
  • Một số trường hợp có thể bị buồn nôn vào sáng sớm hoặc chiều tối.

Với những thay đổi ở cơ thể do các triệu chứng tiền kinh nguyệt gây ra, chị em không tránh khỏi cảm giác mệt mỏi. Những ngày này, bạn nên nghỉ ngơi thư giãn nhiều hơn, tránh làm việc nặng nhiều. Ngoài ra, bạn cũng cần chú ý ăn uống đầy đủ, đi ngủ sớm để cơ thể phục hồi sức khỏe.

Phân biệt dấu hiệu có kinh và biểu hiện có thai ở nữ giới

Các dấu hiệu sắp có kinh và có thai khá giống nhau. Việc hiểu nhầm 2 tình trạng này có thể gây ra những tác hại, hệ lụy không mong muốn. Vì vậy chị em nên biết cách phân biệt.

Để phân biệt dấu hiệu có thai và sắp có kinh, chị em cần chú ý:

  • Nếu có kinh: Các dấu hiệu như nổi mụn, khí hư ra nhiều, đau vùng bụng dưới… thường chỉ kéo dài nhiều nhất là 1 tuần và hết khi kinh nguyệt kết thúc.
  • Còn nếu do có thai: Các triệu chứng ốm nghén như rối loạn tiêu hóa, buồn nôn… có thể kéo dài tới 3 tháng đầu thai kỳ. Ngoài ra chị em sẽ không thấy kinh nguyệt về.

Những điều cần lưu ý khi sắp đến kỳ kinh nguyệt

Nắm được các dấu hiệu tiền kinh nguyệt của mình giúp chị em chủ động và có sự chuẩn bị tốt hơn. Và để chu kỳ kinh diễn ra dễ chịu hơn, có một số điều chị em cần lưu ý như sau:

  • Không cần quá lo lắng với các dấu hiệu tiền kinh nguyệt: Những thay đổi ở cơ thể là do sự biến đổi của hormone nội tiết. Chúng sẽ giảm dần và biến mất khi hết kỳ kinh. Nếu chu kỳ kinh kéo dài trên 7 ngày và các triệu chứng không có dấu hiệu thuyên giảm thì mới cần đi khám.
  • Có chế độ sinh hoạt hợp lý trong chu kỳ kinh: Ăn uống đầy đủ, ngủ đúng giờ đủ giấc, tránh làm việc nặng, nghỉ ngơi nhiều hơn là biện pháp để cơ thể nhanh hồi phục sức khỏe.
  • Đi khám trong các trường hợp sau: Nếu các dấu hiệu của chu kỳ kinh không ổn định, bị đau bụng dưới dữ dội, kỳ kinh kéo dài, máu kinh có màu sắc khác thường, máu kinh bao gồm cả những cục máu đông…

Nguồn tham khảo : 2khoe.com

【#10】Dấu Hiệu Sắp Có Kinh Nguyệt Dễ Nhận Biết

Tự nhận biết các dấu hiệu sắp có kinh nguyệt sẽ giúp bạn gái chuẩn bị sẵn tâm lý đón nhận những thay đổi về tâm sinh lý cũng như thói quen sinh hoạt trọng những ngày đèn đỏ. Trên thực tế, nhiều bạn gái khi đến kỳ kinh nguyệt đầu tiên cảm thấy lo sợ vì không được trang bị kiến thức về sức khỏe giới tính.

    Có kinh nguyệtdấu hiệu sinh lý thường thấy ở nữ giới từ thời thiếu nữ đến thời kỳ mãn kinh. Những chu kỳ kinh nguyệt đầu tiên thường không ổn định cả về thời gian và lượng kinh nguyệt. Sau khoảng 1-2 năm chu kỳ kinh nguyệt sẽ dần ổn định.

Dấu hiệu có kinh nguyệt dễ nhận biết

Dấu hiệu có kinh nguyệt thường có những thay đổi về tâm sinh lý. Về sinh lý có những triệu chứng như: nổi mụn, khí hư ra nhiều, kính thước vòng một tăng, hầu hết phụ nữ còn đau âm ĩ vùng bụng dưới,…. Tâm lý bất an thường xuyên cáu gắt vì cảm giác khó chịu trong người.

Khí hư ra nhiều

Sự gia tăng lượng hormone estrogen trước khi có kinh nguyệt sẽ khiến cho tử cung tiết nhiều khí hư hơn, bạn gái sẽ thấy vùng kín của mình ẩm ướt hơn so với bình thường. Tuy nhiên nếu khí hư ra nhiều kèm theo các biểu hiện bất thường như màu vàng xanh hoặc xám, mùi hôi khó chịu thì rất có thể bạn đã bị viêm nhiễm phụ khoa nếu như có kinh nguyệt thì sẽ tăng nguy cơ viêm nhiễm.

Kích thước vòng 1 tăng

Trước khi đến kì kinh nguyệt khoảng 1 tuần (vào ngày thứ 21 của chu kỳ kinh) bạn gái sẽ cảm thấy vùng ngực của mình to ra về kích thước và sưng đau. Cảm giác đau không chỉ xuất hiện ở đầu ngực, vùng xung quanh ngực mà còn lan ra cả vùng cận nách.

Đau ngực là dấu hiệu có kinh điển hình ở nữ giới, xảy ra do sự gia tăng hormone estrogen, khiến các mô ở ngực cương và đau. Hiện tượng này hoàn toàn bình thường và không có gì đáng lo lắng trừ khi ngực đau dữ dội đó có thể là dấu hiệu của ung thư vú.

Da nổi mụn, tiết nhờn

Mọc mụn là hiện tượng sinh lý rất bình thường khi đến tuổi dậy thì. Da mặt của mỗi bạn gái thường khác nhau, da dầu thì nhờn và dễ nổi mụn hơn da thường hay da hỗn hợp. Tuy nhiên, dù là loại da nào thì khi đến gần chu kỳ kinh nguyệt thì có dấu hiệu ra nhiều dầu hơn và nhờn hơn, cũng dễ nổi mụn hơn.

Bạn gái có thể khắc chế tình trạng này bằng cách cung cấp các thực phẩm chứa kẽm cho cơ thể, có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của da dầu và da mụn, giảm nguy cơ viêm nhiễm cho làn da.

Đau âm ỉ vùng bụng​ dưới

Không phải chị em nào trước khi có kinh nguyệt cũng bị đau vùng bụng dưới, chỉ có một số người bị đau bụng âm ỉ trước một đến hai ngày trước khi đến hành kinh mà thôi. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do các hormone sinh dục nữ tiết ra nhiều hơn, gây hiện tượng co thắt tử cung và khiến cho chị em bị đau bụng dưới.

Đau mỏi lưng

Trước chu kỳ kinh nguyệt, cơ thể nữ giới sẽ tiết ra số lượng lớn hormone prostaglandin gây ra các cơn co bóp tử cung và cũng gây đau mỏi ở lưng. Cũng giống như đau bụng dưới, các bạn gái sẽ thấy đau mỏi lưng xảy ra trước, trong và sau khi có kinh.

Tâm trạng bực bội, cáu gắt

Thay đổi tâm trạng là một dấu hiệu sắp có kinh nguyệt khá phổ biến. Hầu hết các chị em trước và trong khi hành kinh đều có tâm trạng thất thường: Có thể cáu gắt, tức giận vô cớ, chán nản, vui buồn mà không rõ nguyên nhân…

Điều này được giải thích là sự gia tăng đột biến của các hormone sinh dục nữ trước khi đến chu kỳ kinh, làm ảnh hưởng nhiều đến tâm sinh lý ở nữ giới. Ngoài ra, sự thay đổi đột ngột trong tâm trạng cũng có thể là do các chị em phải chịu đựng những triệu chứng khó chịu của giai đoạn “tiền kinh nguyệt” như đau vùng bụng dưới, da nổi mụn và ngực căng đau.

Dấu hiệu sắp có kinh nguyệt ở đường tiêu hóa

Các vấn đề về tiêu hóa cũng sẽ biến đổi vào thời kỳ sắp có kinh nguyệt bao gồm: Tiêu chảy hoặc táo bón, cảm giác thèm ăn dù không đói, chướng bụng hoặc buồn nôn…..

Những hiện tượng này có thể chỉ thoáng qua rồi hết nhưng cũng có thể kéo dài cho đến khi có kinh nguyệt và ngày càng trở nên trầm trọng, gây ra những ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe.

Phân biệt dấu hiệu sắp có kinh nguyệt và có thai

Một số dấu hiệu sắp có kinh nguyệt giống với dấu hiệu có thai như ra máu ở vùng kín, căng tức ngực, biến đổi tâm lý…. Ngoài ra, một số dấu hiệu có kinh khác với dấu hiệu bạn đã mang thai. Cụ thể:

  • Các dấu hiệu có kinh ở nữ giới như: đau tức vùng bụng dưới, căng tức ngực, nổi mụn, khí hư ra nhiều,…
  • Dấu hiệu có thai ở nữ giới: bao gồm chậm hoặc mất kinh, ra máu báo, căng tức ngực, ốm nghén, thèm ăn vặt,….
  • Dấu hiệu có kinh nguyệt chỉ kéo dài khoảng vài ngày trước khi đến chu kỳ kinh nguyệt. Dấu hiệu có thai kéo dài suốt 3 tháng đầu của thai kỳ.

Lời khuyên của bác sĩ

Quan sát cơ thể để nhận biết những dấu hiệu sắp có kinh nguyệt là cách để bạn gái sẵn sàng tâm lý và có những điều chỉnh trong thói quen sinh hoạt phù hợp hơn. Bác sĩ tại phòng khám đa khoa Thái Hà khuyên rằng, trong những ngày trước và trong khi hành kinh này, bạn nên xây dựng cho bản thân một lối sống khoa học, chế độ dinh dưỡng hợp lý, vận động nhẹ nhàng để giữ cho tinh thần thoải mái,… là biện pháp tốt nhất để bạn gái trải qua những ngày nguyệt san của bản thân một cách nhẹ nhàng, không để ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt và cuộc sống.

Bác sĩ tư vấn