Top 18 # Xem Nhiều Nhất Dấu Hiệu Bệnh Tiểu Đường Ở Phụ Nữ Mang Thai / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Bệnh Tiểu Đường Ở Phụ Nữ Mang Thai / 2023

Tình huống thứ nhất: người bệnh đã được chẩn đoán đái tháo đường, trong quá trình diễn tiến của bệnh, người bệnh có thai.

tình trạng tăng đường huyết được phát hiện lần đầu tiên trong thai kỳ, không loại trừ trường hợp người bệnh đã có đái tháo đường nhưng không được chẩn đoán. Trường hợp này được gọi là đái tháo đường thai kỳ. Muốn xác định xem người bệnh đã bị đái tháo đường nhưng chưa được chẩn đóan hoặc đái tháo đường thai kỳ thực sự thì làm nghiệm pháp dung nạp glucose trong khỏang 6-12 tuần lễ sau sinh.

Người bệnh đái tháo đường typ 1 và typ 2 đều có thể thụ thai. Để tạo điều kiện tốt nhất cho bà mẹ và thai nhi, người bệnh nên lên kế hoạch có thai trước và ổn định đường huyết thật tốt trước khi thụ thai. Khi có thai, người bệnh cần được phối hợp chăm sóc toàn diện bởi bác sĩ đa khoa, bác sĩ chuyên khoa đái tháo đường, bác sĩ sản phụ khoa, bác sĩ chuyên khoa bệnh lý sơ sinh và nữ hộ sinh.

I. CÁC VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM KHI NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG CÓ THAI

1. Người bệnh đái tháo đường có thai có thể xảy ra tai biến gì?

Thường các tai biến chỉ xảy ra nếu đường huyết không được ổn định tốt, hoặc người bệnh đã có các biến chứng trước khi có thai.

Sinh non;

Dị tật thai;

Thai to hoặc chậm tăng trưởng trong tử cung so với tuổi thai bình thường;

Thai chết lưu;

Thai bị thiếu surfactant ở phế nang;

Các rối loạn chuyển hóa lúc sơ sinh: đa hồng cầu, tăng bilirubin gây vàng da kéo dài, hạ calci huyết, hạ đường huyết sơ sinh.

Tăng huyết áp thai kỳ (có thể bị tiền sản giật).

Đa ối.

2. Thai kỳ có thể ảnh hưởng như thế nào đến diễn tiến bệnh đái tháo đường?

Ảnh hưởng lên chuyển hóa đường

Quí 1: có tình trạng đồng hóa ở thai phụ và tăng insulin huyết, tăng nhạy cảm với insulin. Nếu người bệnh ói mửa nhiều, dễ bị hạ đường huyết và nhiễm

Quí 2: thai phụ có tình trạng dị hóa, đề kháng insulin, tăng nhu cầu về Đường huyết có khuynh hướng tăng cao.

Quí 3: tình trạng đề kháng insulin tăng nhiều hơn. Đường huyết có khuynh hướng tăng cao và tăng nguy cơ bị nhiễm toan

Các biến chứng thoái biến

Đáy mắt: bệnh võng mạc Đái tháo đường có khuynh hướng nặng thêm. Nếu người bệnh rặn lúc sinh, hoặc có cơn tăng huyết áp, có thể gây xuất huyết võng mạc hoặc xuất huyết vào thể kính.

Thận: tăng đạm niệu, tăng khả năng bị nhiễm trùng tiểu, nếu người bệnh bị bệnh thận mạn tính, thường tình trạng suy thận sẽ gia tăng, tăng nguy cơ tiền sản giật.

Tim mạch: nếu người bệnh có bệnh cơ tim thiếu máu, sẽ tăng khả năng bị suy tim và nhồi máu cơ tim cấp.

3. Nếu người bệnh không muốn có thai, có thể dùng biện pháp tránh thai nào?

Phương pháp tốt nhất là dựa trên chu kỳ kinh nguyệt tính ngày rụng trứng để tránh thụ Tuy nhiên, trên thực tế phương pháp này ít thành công và đòi hỏi người phụ nữ phải có kinh rất đều.

Đặt vòng tránh thai: không được khuyến cáo dùng cho phụ nữ chưa sinh nở.

Hormon estrogens và progestogens, nếu không có chống chỉ định và trên người bệnh Đái tháo đường dưới 15 năm.

Thuốc progestogens dạng uống hoặc cấy dưới

II. ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG LÚC CÓ THAI

1. Ổn định đường huyết Mục tiêu đường huyết:

Glucose máu toàn phần lúc đói từ 60-90 mg/dL (3,33-5,0mmol/L) hay 95mg/dL (5,3mmol/L), glucose máu toàn phần 1 giờ sau ăn < 140mg/dL (7,8mmol/L) và 2 giờ sau ăn < 120mg/dL (6,7mmo/L). Cũng không nên để mức glucose huyết lúc đói thấp hơn 60mg/dL. Ceton trong máu và trong nước tiểu phải âm tính nếu người bệnh ăn uống đúng cách.

Nếu dùng glucose huyết tương tĩnh mạch, thì glucose huyết tương mục tiêu lúc đói là < 100mg/dL (5,6 mmol/L), và glucose huyết tương sau ăn <130mg/dL (7,2mmol/L). Không để glucose huyết <60-70mg/dL (3,3-3,9mmol/L)

Nhiều thai phụ có thể giữ mức glucose huyết ổn định sau khi ăn uống đúng cách và luyện tập đều đặn.

2. Dinh dưỡng điều trị

Tổng số năng lượng mỗi ngày dành cho người bệnh đái tháo đường thai kỳ được tính dựa trên cân nặng lý tưởng.

Trên phụ nữ đã có cân nặng lý tưởng, tổng số năng lượng là 30 kilocalo/kg cân nặng đang có mỗi ngày.

Phụ nữ có cân nặng dưới 80% cân nặng lý tưởng cần 40 kilocalo/kg cân nặng đang có/ ngày.

Phụ nữ nặng cân vượt quá từ 120% đến 150% cân nặng lý tưởng cần 25 kilocalo/kg cân nặng đang có/ ngày. Nếu cân nặng lý tưởng của người bệnh vượt quá 150% cân nặng lý tưởng, cần giới hạn tổng số năng lượng khoảng 12 kilocalo/kg cân nặng đang có/ngày.

Chú ý đến sự tăng trọng cần thiết trong thai kỳ: 0,45kg (1lb) mỗi tháng trong quí đầu, 0,2-0,35kg (0,5-0,75lb) mỗi tuần trong quí 2 và 3 của thai kỳ.

Tổng số năng lượng được chia đều cho ba bữa ăn chính và ba bữa ăn lỡ. Nên nhấn mạnh đến carbohydrat hấp thu chậm (đường phức và các chất xơ). Phụ nữ có thai đặc biệt nhạy cảm với tác dụng của glucocorticoid vào buổi sáng, do đó không nên ăn nhiều carbohydrat vào buổi sáng, nhiều khi chỉ cần giới hạn lượng carbohydrat trong bữa sáng, glucose huyết của người bệnh cũng ổn định.

3. Điều trị bằng thuốc

Nếu người bệnh không thể ổn định glucose huyết bằng tiết chế đơn thuần sẽ phải dùng đến Insulin để điều trị. Hiện nay có nghiên cứu cho thấy thuốc glyburide qua nhau thai không đáng kể, nhưng thuốc này chưa được các Hiệp hội Đái tháo đường tại hầu hết các nước chấp nhận dùng cho thai phụ Đái tháo đường. Ngoài ra nhóm thuốc Biguanides đã được dùng trong điều trị buồng trứng đa nang và có một số trường hợp người bệnh có thể có thai nhưng nhóm thuốc này hiện nay vẫn chưa được chấp nhận dùng cho thai phụ.

Loại Insulin được sử dụng thường nhất là Insulin thường tác dụng nhanh (Regular Insulin- Insulin Actrapid) và Insulin bán chậm Có thể dùng dưới dạng pha sẵn 30/70 gồm 1/3 là Insulin thường và 2/3 là Insulin tác dụng bán chậm. Liều trung bình lúc khởi đầu là 0,7 đơn vị/ kg cân nặng mỗi ngày. Liều trong ngày có thể chia tiêm ba lần hoặc hai lần mỗi ngày, trước bữa ăn. Nếu tiêm hai lần mỗi ngày thì thường 2/3 tổng liều sẽ được tiêm trước khi ăn sáng và 1/3 tổng liều sẽ được tiêm trước khi ăn chiều. Trong trường hợp không khẩn cấp, Insulin được tiêm dưới da. Vùng tiêm tốt nhất là vùng bụng, không có bằng chứng vị trí tiêm này có hại cho thai nhi.

Một số người bệnh Đái tháo đường typ 1 cần tiêm liều insulin NPH nhỏ trước ba bữa ăn để tạo mức insulin nền và dùng insulin tác dụng ngắn (analog) trước các bữa ăn.

Đối với người bệnh Đái tháo đường typ 2, có thể dùng insulin thường hoặc insulin analog tác dụng ngắn trước mỗi bữa ăn và một liều insulin nền NPH trước khi đi ngủ.

Các loại insulin analog tác dụng ngắn như insulin aspart, lispro, phải tiêm ngay trước khi ăn. Các loại Insulin nền như insulin glargine, insulin detemir chỉ cần tiêm một lần trong ngày. Tuy nhiên các insulin analog kể trên không phải là lựa chọn hàng đầu cho thai phụ. Theo FDA, insulin aspart, lispro được khuyến cáo ở mức độ B, và Insulin glargine, detemir được khuyến cáo ở mức độ

Nếu có điều kiện, người bệnh nên có một máy tự theo dõi đường huyết mao mạch tại nhà và liên hệ với bác sĩ khi glucose huyết thay đổi bất thường. Có thể theo dõi glucose huyết lúc đói, 1-2 giờ sau ăn và một lần buổi tối trước khi đi ngủ.

Chú ý tìm thể ceton trong máu hoặc trong nước tiểu khi glucose huyết không ổn định, hoặc khi thai phụ ói mửa nhiều.

Ngoài mức glucose huyết, còn cần quan tâm đến huyết áp, đạm niệu, phù, tiền sản giật hoặc sản giật. Mục tiêu sau cùng của điều trị là bảo đảm sức khoẻ cho cả thai phụ và thai nhi, ngăn ngừa các trường hợp thai chết lưu, suy hô hấp, thai to đưa đến các tình huống phải mổ bắt con hoặc trật khớp vai thai nhi nếu sinh qua đường âm đạo.

III. THEO DÕI THAI KỲ

1. Theo dõi thai phụ

Cân nặng, huyết áp, phù, đường huyết, đạm niệu và nước tiểu nên được chú trọng mỗi lần tái khám ngoài khám tổng quát thường quy.

2. Theo dõi sức khoẻ thai nhi

Nghe tim thai mỗi lần khám thai, đếm số lần thai máy mỗi giờ, siêu âm để đo vòng bụng của thai nhi.

Tuần lễ thứ 8-12 của thai kỳ dự đoán có thể làm siêu âm để xác định tuổi thai.

Tuần lễ 18-22, siêu âm thai nhi.

Trên thai phụ có nguy cơ thấp siêu âm lại vào tuần lễ 28 và 37 để theo dõi sự tăng trưởng của thai nhi.

Trên thai phụ có nguy cơ cao, làm siêu âm mỗi 3-8 tuần. Nguy cơ thai to khi vòng bụng của thai nhi lớn hơn bách phân vị 70 trở lên.

Theo dõi thai máy:

Từ tuần lễ 28, nếu thai máy (đếm số lần thai nhi đụng chân vào bụng thai phụ) dưới 4 lần mỗi giờ phải nghi có suy thai.

Theo dõi tim thai:

Thai phụ nguy cơ thấp: theo dõi mỗi tuần kể từ tuần thứ 36.

Thai phụ có nguy cơ cao: theo dõi tim thai từ tuần lễ thứ 27, mỗi 1-3 lần/tuần.

Theo dõi nguy cơ thiếu surfactant ở phổi bằng cách chọc dò dịch ối. Đây là phương pháp xâm lấn, chỉ thực hiện trên thai phụ có nguy cơ cao.

Nguy cơ được dựa trên mức glucose huyết có ổn định tốt hay không và các biến chứng mạch máu sẵn có của thai phụ.

IV. THỜI GIAN SINH VÀ PHƯƠNG PHÁP SINH

Trên thai phụ có nguy cơ thấp, có thể sinh vào tuần lễ thứ 39-40 trừ khi có các vấn đề phụ khoa hoặc đe doạ sinh con to.

Ở các thai phụ có nguy cơ cao, đường huyết không ổn định, nếu thai nhi không có đe doạ bị suy hô hấp, thiếu surfactant ở phổi, nên cân nhắc trì hoãn đến tuần lễ thứ 38-40.

Nếu quyết định cho thai ra sớm trước tuần lễ thứ 37, cần phải chọc dò nước ối, đo các thông số để xem nguy cơ trẻ có thể bị suy hô hấp hay không.

V. SỬ DỤNG INSULIN TRONG LÚC SINH

Trong khi sinh nên dùng Insulin thường tác dụng nhanh truyền qua đường tĩnh mạch, liều trung bình 1-2 đơn vị mỗi giờ cùng với 7,5gam glucose. Nếu cần mổ bắt con liều dùng cũng tương tự. Dù gây mê toàn hon hay gây tê tủy sống, gây tê màng cứng thai nhi cũng không bị ảnh hưởng nếu đường huyết của mẹ ổn định.

Đường huyết của thai phụ nên được duy trì < 110 mg/dL.

Bảng sau đây giúp điều chỉnh liều Insulin cho thai phụ trong khi sinh

Nếu glucose huyết < 130 mg/dL (7,2mmol/L) giữ thông tĩnh mạch với Lactat Ringer sau đó truyền tĩnh mạch Lactat Ringer và Glucose 5% với tốc độ 125 mL/giờ điều chỉnh bằng bơm truyền.

Phác đồ này cũng dùng cho thai phụ đang cần nhịn ăn. Nếu người bệnh đang điều trị bằng corticosteroid, thường cần liều insulin cao hơn. Nếu người bệnh ăn, cần tiêm insulin tác dụng nhanh trước bữa ăn.

Khi truyền tĩnh mạch Insulin phải theo dõi glucose huyết, tốt nhất là một giờ một lần bằng máy thử mao mạch để chỉnh liều cho chính xác.

Cũng cần theo dõi Kali của người bệnh trước khi truyền tĩnh mạch glucose, nhất là khi người bệnh ăn uống kém, và theo dõi Kali trong lúc truyền glucose tuỳ kết quả xét nghiệm.

Sau khi sinh, tình trạng đề kháng insulin của thai kỳ sẽ cải thiện nhanh. Người bệnh Đái tháo đường typ 1 và typ 2 đang điều trị bằng insulin có thể trở lại liều cũ ngay khi người bệnh ăn được. Bệnh nhân Đái tháo đường typ 2 điều trị bằng thuốc có thể không cần dùng thuốc trong vòng 24-48 giờ sau sinh.

Khi cho con bú, có thể điều trị bằng insulin hoặc dùng metformin và /hoặc glyburide, đã có nghiên cứu cho thấy hai thuốc này an toàn khi cho con bú.

Dấu Hiệu Bệnh Tiểu Đường Thai Kỳ (Tiểu Đường Type 3) Ở Phụ Nữ / 2023

5% phụ nữ mang thai mắc chứng tiểu đường thai kỳ (tiểu đường type 3) nhưng một phần rất lớn không được phát hiện do các dấu hiệu không rõ rang và dễ nhầm tưởng là “do ngén”, “do mang thai”. Vậy:

– Tiểu đường thai kỳ là gì và có nguy hiểm cho mẹ và thai nhi hay không? – Dấu hiệu (triệu chứng) tiểu đường thai kỳ là gì? – Làm sao để xác định chắc chắn bà bầu có đang mắc tiểu đường thai kỳ hay không?

TIỂU ĐƯỜNG THAI KỲ LÀ GÌ VÀ CÓ NGUY HIỂM KHÔNG?

Tiểu đường thai kỳ là một dạng bệnh tiểu đường xuất hiện ở phụ nữ mang thai, bệnh sẽ tự hết ngay sau khi chấm dứt thai kỳ (sinh con). Tiểu đường thai kỳ là do có thể phụ nữ mang thai có những thay đổi nội tiết tố từ đó làm cho tế bào cơ thể đề kháng với insulin. Khi tế bào đề kháng insulin làm cho đường glucose không được tế bào hấp thụ, thay vào đó nó lưu giữ lại trong máu và làm tăng chỉ số đường huyết.

Khi chấm dứt thai kỳ (sinh con) thì có thể lại trở về trạng thái bình thường, tế bào không còn đề kháng insulin nữa và do đó, glucose được tế bào hấp thụ làm cho lượng đường trong máu ở trạng thái cân bằng.

– Có ảnh hưởng đến thai nhi hay không?

Chắc chắn là có! Nếu đường huyết của bạn vẫn tiếp tục tăng cao, lượng đường dư thừa đó sẽ tích tụ trong cơ thể thai nhi. Lúc này, tụy của bé phải sản sinh ra nhiều insulin hơn để xử lý lượng đường dư thừa đó. Và quá trình này sẽ dẫn đến các vấn đề cho bé:

Về phía thai nhi, đái tháo đường thai kỳ sẽ làm gia tăng tỉ lệ dị tật thai, thai nhi dễ bị rối loạn tăng trưởng (thai quá to hoặc quá nhỏ). Thai quá to có thể gặp phải các sang chấn lúc sinh như trật khớp vai, gãy xương đòn, liệt đám rối thần kinh cánh tay…

Thậm chí, thai nhi có thể chết lưu đột ngột do đường huyết tăng quá cao mà không có bất kì dấu hiệu báo trước nào. Sau khi chào đời, trẻ sơ sinh có mẹ bị tiểu đường thai kỳ thường dễ bị suy hô hấp, hạ đường huyết, hạ canxi, vàng da…đồng thời gia tăng nguy cơ mắc bệnh béo phì, cao huyết áp, tim mạch khi trưởng thành.

Bệnh khiến thai phụ đối mặt với những nguy cơ như đa ối, sảy thai, sinh non, cao huyết áp, tiền sản giật, sản giật, nhiễm trùng thận, quá trình chuyển dạ kéo dài, sinh khó, sang chấn và băng huyết sau sinh, rối loạn đường huyết dẫn tới hôn mê…

Nhưng nguy hiểm nhất vẫn là: Phụ nữ mang thái nếu mắc tiểu đường thai kỳ thì rất dễ mắc tiểu đường type 2 sau này, đặc biệt là khi đã trên 40 tuổi, nguy cơ mắc tiểu đường type 2 là khá cao.

DẤU HIỆU (TRIỆU CHỨNG) TIỂU ĐƯỜNG THAI KỲ

Nhiều phụ nữ bị tiểu đường thai kỳ nhưng lại không được phát hiện do người mang thai thường nhầm lẫn giữa các triệu chứng (dấu hiệu) của tiểu đường thai kỳ với các vấn đề thay đổi sức khỏe do mang thai. Nhưng nếu để ý kỹ bà bầu hoàn toàn có thể thấy các dấu hiệu tiểu đường thai kỳ, từ đó đi khám để chắc chắn có mắc bệnh hay không.

Các triệu chứng (dấu hiệu) tiểu đường thai kỳ phổ biến:

1. Đi tiểu nhiều là bình thường với bà bầu, nhưng đi tiểu quá nhiều thì đó là dấu hiệu của tiểu đường thai kỳ

Khi mang thai, do sự gia tăng của hóc-môn hCG và áp lực trên bàng quang gia tăng, mẹ bầu có thể sẽ cảm thấy “buồn tiểu” nhiều hơn bình thường. Các mẹ đừng quá lo lắng vì đây là một hiện tượng bình thường mà khi mang thai ai cũng gặp phải. Tuy nhiên, cũng chính vì thế mà nhiều mẹ bầu không hề biết rằng đây chính là một dấu hiệu của tiểu đường thai kỳ.

Như vậy, tiểu nhiều khi mang thai là bình thường nhưng nếu tiểu quá nhiều thì cũng là dấu hiệu của tiểu đường thai kỳ.

Khi mang thai, mẹ bầu có một chế độ ăn uống khi mang thai nhiều hơn bình thường để cung cấp dinh dưỡng cho em bé trong bụng.

Tuy nhiên, nếu thường xuyên cảm thấy đói và lúc nào cũng thèm ăn, dù rằng vừa mới ăn rồi thì đó có thể là dấu hiệu của tiểu đường thai kỳ. Nguyên nhân của vấn đề này là do insulin trong cơ thể không chuyển hóa hết glucose thành năng lượng nuôi cơ thể. Lúc này, do không đủ năng lượng cần thiết, cơ thể sẽ gởi “tín hiệu” cho não và làm cho mẹ bầu luôn bị cơn đói “dai dẳng”.

Triệu chứng (Dấu hiệu) này khá dễ phân biệt với việc ăn nhiều khi mang thai. Khi mang thai thì bà bầu vẫn có xu hướng ăn nhiều nhưng không thường xuyên thèm ăn, còn tiểu đường thai kỳ thì lại thường xuyền thèm ăn, thậm chí ăn mất kiểm soát. Dấu hiệu là có sự khác nhau nhiều.

Dấu hiệu này không có đối với phụ nữ mang thai bình thường. Việc mang thai không làm giảm thị lực.

Nên nếu bà bầu có hiện tượng giảm thị lực (mắt mờ, lèm nhèm giống như người cận thị) trong thời gian ngắn rồi hết, nhưng sau đó lại bị và cứ tái đi tái lại thì đây là một dấu hiệu của tiểu đường thai kỳ.

Nguyên nhân: Khi lượng đường trong máu tăng đột ngột và cơ thể chưa thích nghi kịp với sự thay đổi này dẫn đến tình trạng mờ mắt. Tuy nhiên, tình trạng này chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn và khi cơ thể đã thích nghi thì tầm nhìn của mẹ sẽ trở lại bình thường.

Với phụ nữ mang thai thì uống nhiều nước hơn vẫn là bình thường vì Mẹ bầu thường có thân nhiệt cao, dễ bị nóng và nhiều mồ hôi dẫn đến dễ mất nước. Do đó, cần uống nhiều nước hơn thông thường. Ngoài ra, việc ốm nghén cũng là nguyên nhân làm nhiều mẹ bầu thích uống nước. Thay vì thèm ăn đồ chua, đồ ngọt, mẹ bầu bị nghén “lạ” như đá lạnh, nước lạnh…Nhưng việc khát nước của mẹ bầu không phải quá thường xuyên.

Nhưng nếu mẹ bầu thường xuyên cảm thấy khô miệng, hay khát nước và uống nhiều nước thì có thể là dấu hiệu (triệu chứng) của tiểu đường thai kỳ

Nguyên nhân: Việc đi tiểu nhiều lần do lượng đường trong máu cao sẽ khiến cơ thể mẹ bị mất nước và cần bổ sung thêm nước. Cứ như vậy, những mẹ bầu có dấu hiệu tiểu đường thai kỳ thường có cảm giác khô miệng và muốn uống nước nhiều hơn bình thuờng.

Lượng đường trong máu tăng cao và xuất hiện một lượng đường trong nước tiểu khiến những vi khuẩn và các loại nấm men ở vùng kín cũng tăng theo. Từ đó, phụ nữ mang thai bị tiểu đường thai kỳ có nguy cơ bị viêm nhiễm cao. Nếu có các dấu hiệu ngứa ngáy, rát buốt khi đi tiểu, dịch tiết âm đạo có mùi hôi… thì có thể mẹ đã bị nhiễm khuẩn vùng kín. Lúc này, mẹ bầu nên nhanh chóng đi khám bác sĩ để được chẩn đoán và điều trị sớm.

Khi bị tiểu đường thai kỳ, làm cho lượng đường trong máu tăng ảnh hưởng đến chức năng thai độc của gan và làm giảm khả năng miễn dịch…và đó là lý do mẹ bầu bị tiểu đường thai kỳ hay nổi mẫn ngứa, mụn nhọt và lại khó lành vết thương hơn bình thường.

Do đó, nổi mẫn ngứa ngáy, nổi nhiều mụn nhọt, chậm lành thương là một dấu hiệu của tiểu đường thai kỳ.

Kết luận: Các dấu hiệu của tiểu đường thai kỳ và các dấu hiệu của việc mang thai bình thường có nhiều điểm khá giống nhau, do đó, làm chúng ta dễ nhẫm lẫn và không phát hiện được các dấu hiệu tiểu đường thai kỳ. Từ đó, không phát hiện bệnh sớm.

Nhưng nếu xuất hiện nhiều triệu chứng (dấu hiệu): mệt mỏi, khát nước thường xuyên, thèm ăn liên tục, đi tiểu nhiều, hay nổi mẫn ngứa, viêm nhiễm vùng kín thì có thể là dấu hiệu cảnh báo bạn đang mắc tiểu đường thai kỳ. Đặc biệt, nếu tình trạng quá thường xuyên mà còn thỉnh thoảng hay bị mờ mắt, vừa ăn xong một chút đã đói thì có thể bạn đã mắc tiểu đường thai kỳ.

Các dấu hiệu (triệu chứng) của tiểu đường thai kỳ vừa không quá rõ rệt vừa dể nhầm lẫn với dấu hiệu của việc mang thai nên chúng ta không thể khảng định được có hay không mắc tiểu đường thai kỳ nếu chỉ căn cứ vào dấu hiệu.

Cách tốt nhất để khẳng định bạn có mắc tiểu đường thai kỳ hay không đó là xét nghiệm máu.

Có thể thực hiện xét nghiệm máu lúc đói, sau ăn 1h, sau ăn 2h và chỉ số kiểm soát đường huyết HbA1c

Hoặc có phương pháp xét nghiệm cho độ chính xác cao mà nhiều bệnh viện đang áp dụng đó là phương pháp thực nghiệm dung nạp glucose.

Lời khuyên của Bác sĩ:

Tiểu đường thai kỳ là một chứng bệnh có thể gây nguy hiểm cho thai nhi và đặc biệt mang đến các bất lợi cho bé do việc thai nhi quá lớn. Ngoài ra, phụ nữ bị mắc bệnh tiểu đường thai kỳ thường hay dẫn đến tiểu đường type 2 sau này. Vì vậy tiểu đường thai kỳ cần phải được phát sớm và đừng chủ quan.

Chúng ta chú ý quan sát các dấu hiệu của tiểu đường thai kỳ đã nêu trên và cố gắng đánh giác các dấ hiệu không trùng lắp giữa tiểu đường thai kỳ và dấu hiệu bình thường của thai kỳ (hay đói, thèm ăn liên tục, vết thương chậm lành, mờ mắt). Nếu thấy có sự bất thường thì cần nên đến các cơ sở ý tế thực hiện các xét nghiệm tiểu đường thai kỳ.

Nếu chúng ta đã phát hiện tiểu đường thai kỳ thì bà bầu cũng không có gì phải quá lo lắng, bệnh có thể dễ dàng điều trị và khống chế mà không ảnh hưởng đến thai nhi cũng như mẹ.

Tìm Hiểu Dấu Hiệu Bệnh Tiểu Đường Ở Phụ Nữ / 2023

Bệnh tiểu đường là căn bệnh phổ biến hiện nay. Đối tượng mắc bệnh ngày càng trẻ hóa trong đó các chị em phụ nữ đặc biệt quan tâm đến những dấu hiệu bệnh tiểu đường ở phụ nữ như thế nào?

Tìm hiểu dấu hiệu bệnh tiểu đường ở phụ nữ

Bệnh tiểu đường đối với phụ nữ sẽ có nguy cơ đối mặt với biến chứng tim mạch. Ngoài ra còn ảnh hưởng đến thời kỳ mang thai, đời sống tình dục vợ chồng bị suy giảm… Chính vì vậy, cần phải chú ý đến những biểu hiện bệnh tiểu đường ở nữ để phát hiện bệnh sớm là cực kỳ quan trọng trong việc phòng ngừa rủi ro cho sức khỏe. Dấu hiệu của bệnh tiểu đường ở nữ như sau:

Đường huyết tăng cao kéo dài ở phụ nữ sẽ làm tổn thương hệ mạch máu. Từ đó dẫn đến việc cung cấp oxy và chất dinh dưỡng tới các dây thần kinh chi phối cho cơ quan sinh dục quyết định sinh lý nữ bị thiếu hụt. Hệ quả là cơ quan sinh dục nữ giảm tiết dịch âm đạo ảnh hưởng đến cuộc sống vợ chồng. Chúng ta không nên xem nhẹ dấu hiệu này. Dấu hiệu này là tình trạng thường gặp ở nữ giới mắc bệnh tiểu đường type 2.

Buồng trứng đa nang dấu hiệu của bệnh tiểu đường ở nữ

Tiểu đường thai kỳ gần đây được rất nhiều bà mẹ quan tâm và lo lắng. Nó chiếm khoảng 1/20 những trường hợp mang thai. Những hormone trong thai kỳ gây trở ngại đến hoạt động của insulin. Điều này kích thích cơ thể sản xuất nhiều insulin hơn so với bình thường. Thế nhưng, với một số phụ nữ, như vậy vẫn không đủ lượng insulin. Vì vậy dẫn đến họ phát triển bệnh tiểu đường thai kỳ.

Thường xuyên tập thể dục phòng bệnh tiểu đường ở phụ nữ

TÌM HIỂU CHUNG: Vì sao tỏi đen sunkun phòng và điều trị được bệnh tiểu đường?

Dấu Hiệu Bệnh Thiếu Máu Ở Nam, Nữ, Phụ Nữ Mang Thai ? / 2023

Bệnh thiếu máu là một chứng bệnh thường hay gặp phải ở mọi lứa tuổi vậy bệnh thiếu máu có những triệu chứng gì? Bạn cần bổ sung gì cho cơ thể để khắc phục được tình trạng thiếu máu để bạn có được cuộc sống khỏe mạnh đầy sức sống.

Thiếu máu cấp tính (do xuất huyết dưới 1 lít): xuất huyết dưới da, do bị thương (tai nạn), xuất huyết do tiêu hóa, do băng huyết ở phụ nữ, do các tai biến, đột quị nhồi, sể mạch máu.

+ Triệu chứng (xuất huyết dưới 1 lít): niêm mạc nhợt phai, da xanh, lòng bàn tay trắng bệch, nhịp tim nhanh.

+ Triệu chứng (xuất huyết trên 1 lít): khó thở, nhịp tim nhanh, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, cơ khớp cứng mỏi, dẫn đến trụy mạch huyết áp không đo được.

Thiếu máu mãn tính: xuất huyết dưới da, ở cơ quan tiêu hóa, xuất huyết từ từ qua nhiều tuần, nhiều tháng, dẫn đến hiện tượng thiếu máu.

+ Triệu chứng: niêm mạc môi mắt nhợt nhạt, da xanh, tim đập nhanh, nghe có tiếng thổi tâm thu, có thể kèm những cơn đau ngực, khó thở, nhức đầu, hoa mắt, chống mặt, ù tai, mệt lả người, ngất, cơ khớp mỏi cứng, rối loạn tiêu hóa, rối loạn sinh dục ở nam, ở nữ rối loạn kinh nguyệt.

Nếu bệnh thiếu máu kéo dài lâu sẽ dẫn đến suy tim toàn bộ. Nếu thiếu máu nặng trong các cơn tan máu cấp sẽ dẫn đến các triệu chứng: sốt cao kèm rét run, đau bụng, vàng da, vàng niêm mạc, lách to. Có thể biến chứng làm suy thận, suy tim cấp, nước tiểu sẫm màu, phân vàng.

Thiếu máu do thiếu sắt ở thai phụ: chiếm tỉ lệ rất cao, khoảng 20 – 45% trong các bệnh thiếu máu (nhiều nhất ở các nước đang phát triển). Bệnh thường xảy ra ở những phụ nữ mang thai ở giai đoạn 5 – 6 tháng cuối tháng thai kì. Vào giai đoạn này bào thai phát triển và biến dưỡng rất nhanh vì vậy cần phải cung ứng đủ các chất dinh dưỡng cho thai phụ và bào thai, nhất là chất sắt để tạo tế bào máu cho hồng huyết cầu. Dinh dưỡng cần cung ứng cho thai phụ khoảng 3000 – 3300Kcal/ngày thì lượng sắt có được khoảng 35 – 60mg/ngày. Bình thường thai phụ 600 – 800mg, cung ứng cho con khoảng 300 – 350mg, phần còn lại sẽ dùng cho các hoạt động biến dưỡng tạo tế bào máu đỏ cho bản thân. Nếu mẹ không cung ứng đủ lượng sắt cho con thì bào thai có thể tự rút sắt từ cơ thể mẹ để tự cung ứng cho mình và dự trữ cho 3 -4 tháng đầu đời sau khi sinh ra dẫn đến người mẹ bị thiếu máu). Vì vậy có nhiều trường hợp thai phụ thiếu máu trầm trọng, nhưng con vẫn đủ máu (sắt) để biến dưỡng và phát triển.

Theo thống kê của các cơ quan quốc tế, trên thế giới có khoảng 1,2 tỉ người bị các bệnh về thiếu máu, nhất là bệnh thiếu máu do thiếu sắt. Hàng năm có khoảng 200 – 250000 người chết vì bệnh này. Nhất là ở các khu vực thuộc châu Phi chiếm tỉ lệ khá cao (do đói nghèo) thiếu thốn dinh dưỡng gây nên.

bệnh thiếu máu

Thiếu máu do thiếu sinh tố B12: là một loại thiếu máu cấp tính. Thiếu sinh tố B12 cũng gây nên bệnh thiếu máu. Nhu cầu của cơ thể cần khoảng 2 – 4 microgam/ngày, nếu thiếu loại sinh tố này sẽ dẫn đến bệnh thiếu máu bởi sinh tố này cũng tạo các tế bào máu đỏ trưởng thành, và dẫn đến những bệnh về đường tiêu hóa với các triệu chứng chán ăn, gầy sút, giảm cân nhanh chóng, đau bụng, nôn mửa, ỉa chảy, làm tổn thương gan, vàng da và thận to, chân tay run, trí nhớ giảm.