Top 8 # Xem Nhiều Nhất Dấu Hiệu Chẩn Đoán Bệnh Bạch Hầu Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Chẩn Đoán Và Điều Trị Bệnh Bạch Hầu

Trang chủ

Tin tức

Chẩn Đoán Và Điều Trị Bệnh Bạch Hầu

HƯỚNG DẪN

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH BẠCH HẦU (Ban hành kèm theo Quyết định số 2957 /QĐ-BYT ngày 10 tháng 7 năm 2020  của Bộ trưởng Bộ Y tế)

1. ĐẠI CƯƠNG

Bệnh bạch hầu là bệnh nhiễm trùng – nhiễm độc, lây theo đường hô hấp và có khả năng gây dịch, do trực khuẩn Corynebacterium diphtheriae (còn gọi là trực khuẩn Klebs-Leoffler) gây nên. Bệnh thường găp ở trẻ em < 15 tuổi và ở đối tượng chưa có miễn dịch với bệnh bạch hầu do chưa được tiêm vắc-xin đầy đủ. Vi khuẩn thường khu trú và làm thương tổn đường hô hấp trên (mũi, họng, thanh quản) tạo giả mạc dai dính, khó bóc tách và sinh ra ngoại độc tố gây nhiễm độc toàn thân (tim, thận, thần kinh), nguy cơ tử vong cao do tắc đường thở và viêm cơ tim. Bệnh có thuốc điều trị đặc hiệu bằng kháng sinh và kháng độc tố bạch hầu (SAD) và có thể dự phòng bệnh bằng vắc-xin.

2. TÁC NHÂN GÂY BỆNH

Vi khuẩn bạch hầu là cầu trực khuẩn gram (+), hình chuỳ dài 1-9 µm, rộng 0,3 – 0,8 µm, không di động, không có vỏ, không tạo nha bào. Trực khuẩn bạch hầu sống lâu ở giả mạc và họng của bệnh nhân. Trong điều kiện thiếu ánh sáng vi khuẩn sống tới 6 tháng và tồn tại lâu trên các đồ chơi của trẻ bị bạch hầu, áo choàng của nhân viên y tế…Vi khuẩn bạch hầu chết ở nhiệt độ 58oC trong vòng 10 phút, dưới ánh sáng mặt trời vi khuẩn chết trong vài giờ.

3. LÂM SÀNG

Hay gặp nhất là bạch hầu họng (70%), bạch hầu thanh quản (20-30%), bạch hầu mũi (4%), bạch hầu mắt (3-8%), bạch hầu da…

3.1. Bạch hầu họng

3.1.1. Thời gian ủ bệnh: từ 2-5 ngày, không có triệu chứng lâm sàng.

3.1.2. Thời kỳ khởi phát:

– Người bệnh thường sốt 37,5o - 38oC, đau họng, khó chịu, mệt, ăn kém, da hơi xanh, sổ mũi một bên hoặc 2 bên có thể lẫn máu.

– Khám họng: Họng hơi đỏ, a-my-dan có điểm trắng mờ dạng giả mạc ở một bên. Sờ thấy hạch cổ nhỏ, di động, không đau.

3.1.3. Thời kỳ toàn phát: Vào ngày thứ 2-3 của bệnh.

– Toàn thân: Người bệnh sốt 38o - 38,5o, nuốt đau, da xanh tái, mệt nhiều, chán ăn, mạch nhanh, huyết áp hơi hạ.

– Khám họng: có giả mạc lan tràn ở một bên hoặc 2 bên a-my-dan; trường hợp nặng giả mạc lan trùm lưỡi gà và màn hầu. Giả mạc lúc đầu trắng ngà, sau ngả màu hơi vàng nhạt, dính chặt vào niêm mạc, bóc tách gây chảy máu, nếu bóc tách thì vài giờ sau mọc lại rất nhanh; giả mạc dai, không tan trong nước, niêm mạc quanh giả mạc bình thường.

– Hạch góc hàm sưng đau. Bệnh nhân sổ mũi nhiều, nước mũi trắng hoặc lẫn mủ.

3.2. Bạch hầu ác tính

Có thể xuất hiện sớm ngày 3-7 ngày đầu của bệnh. Bệnh cảnh nhiễm trùng nhiễm độc nặng sốt cao 39-40oC, giả mạc lan rộng, khắp hầu họng và môi. Hạch cổ sưng to biến dạng dẫn đến hình cổ bạnh, có nhiều biến chứng sớm viêm cơ tim, suy thận và tổn thương thần kinh.

3.3. Bạch hầu thanh quản

– Ít gặp bạch hầu thanh quản đơn thuần, thường là bạch hầu họng-thanh quản.

– Bệnh cảnh lâm sàng bao gồm: viêm thanh quản cấp (ho ông ổng, khàn tiếng, khó thở chậm thì hít vào, có tiếng rít thanh quản) giai đoạn muộn sẽ dẫn đến ngạt thở.

4. CẬN LÂM SÀNG

4.1. Xác định căn nguyên

+ Bệnh phẩm: lấy dịch hầu họng ngoáy ở vùng rìa xung quanh giả mạc (tăm bông lấy bệnh phẩm được bảo quản trong môi trường Amies hoặc môi trường Stuart, vận chuyển ngay đến phòng xét nghiệm càng sớm càng tốt).

+ Nhuộm soi tìm vi khuẩn hình thái bạch hầu: Trực khuẩn gram (+), hình chuỳ.

+ Nuôi cấy trên môi trường thạch máu, môi trường chọn lọc Loeffle (Tellurite kali) (hoặc môi trường Cystine tellurite blood agar – CTBA) tìm vi khuẩn bạch hầu, xác định độc tố bạch hầu (Toxigenicity testing bằng VD: Elek test).

+ Dùng kĩ thuật PCR xác định gen độc tố bạch hầu ở cơ sở có điều kiện thực hiện.

4.2. Các xét nghiệm thường quy và theo dõi, phát hiện các biến chứng

(công thức máu, men gan, men tim, ure, creatinine, điện giải, glucose máu, khí máu nếu cần, điện tâm đồ, tổng phân tích nước tiểu, XQ ngực…)

5. CHẨN ĐOÁN

5.1. Ca bệnh nghi ngờ

– Lâm sàng: Có bệnh cảnh lâm sàng của bệnh bạch hầu, giả mạc vùng hầu họng ở vùng tổn thương.

– Dịch tễ học: Người bệnh có đi và đến từ vùng đang có dịch bạch hầu hoặc ở vùng từng có ổ dịch bạch hầu trong 5 năm gần đây.

5.2. Chẩn đoán xác định

Ca bệnh nghi ngờ kèm theo xét nghiệm tìm vi khuẩn bạch hầu dương tính

5.3. Chẩn đoán phân biệt

5.3.1. Các viêm a-my-dan hốc mủ có giả mạc mủn do các nguyên nhân khác như:

– Liên cầu nhóm A

– Bệnh viêm họng Vincent

– Epstein-Barr vi rút (EBV)

– Nấm họng candida

5.3.2. Các viêm thanh quản do nguyên nhân khác

– Viêm thanh quản do vi rút

– Áp xe thành sau họng

– Phản vệ

5.3.3. Biến chứng bạch hầu với các căn nguyên khác gây

– Viêm cơ tim

– Viêm thận

– Liệt thần kinh

6. ĐIỀU TRỊ

6.1. Nguyên tắc điều trị

– Phát hiện sớm, cách ly khi phát hiện ca bệnh

– Sử dụng kháng độc tố bạch hầu (SAD) và kháng sinh ngay (penicillin G, erythromycin, azithromycin) để ngăn chặn các biến chứng để giảm tử vong

– Theo dõi, phát hiện sớm và xử lý kịp thời các biến chứng

– Chăm sóc toàn diện cho người bệnh

6.2. Điều trị cụ thể

6.2.1. Huyết thanh kháng độc tố bạch hầu (SAD)

Sử dụng ngay khi nghi ngờ mắc bệnh. Liều lượng phụ thuộc vào mức độ nặng của bệnh, không phụ thuộc vào lứa tuổi và cân nặng. Cần test trước khi tiêm, nếu dương tính thì áp dụng phương pháp giải mẫn cảm (Besredka)

– Bạch hầu hầu họng hoặc thanh quản trong 2 ngày đầu: 20.000 – 40.000 UI

– Bạch hầu mũi họng: 40.000 – 60.000 UI

– Bạch hầu ác tính: 80.000 – 100.000 UI

Trong thể nặng, có thể xem xét truyền tĩnh mạch SAD (cần theo dõi sát các dấu hiệu phản vệ và chuẩn bị sẵn sàng để cấp cứu phản vệ nếu xảy ra). Cách thức truyền: Pha toàn bộ SAD trong 250 – 500ml muối 0,9% truyền tĩnh mạch chậm 2-4 giờ.

* Phương pháp Besredka

a) Tiêm 0,1 ml huyết thanh bạch hầu và đợi 15 phút. Nếu không có phản ứng thì tiêm thêm 0,25 ml huyết thanh bạch hầu. Nếu không có phản ứng sau 15 phút thì tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch phần còn lại.

b) Nếu người bệnh có biểu hiện sự nhạy cảm khi thử phản ứng, thì không nên dùng toàn bộ liều. Tiến hành giải mẫn cảm theo hướng dẫn của Bộ Y tế.

6.2.2. Kháng sinh

– Penicillin G: 50.000 – 100.000 đơn vị/kg/ngày chia 2 lần, tiêm bắp 14 ngày cho đến khi hết giả mạc.

– Hoặc Erythromycin uống: trẻ em 30-50mg/kg/ngày; người lớn 500mg x 4 lần/ngày dùng 14 ngày cho đến khi hết giả mạc.

– Hoặc Azithromycin: trẻ em: 10-12mg/kg/ngày, người lớn: 500mg/ngày x 14 ngày.

6.2.3. Các điều trị khác

– Hỗ trợ hô hấp: Thông thoáng đường thở (nếu khó thở thanh quản độ II cần chỉ định mở khí quản giúp thông thoáng đường thở). Sử dụng Oxy liệu pháp sớm nếu có suy hô hấp, nếu không đáp ứng với Oxy có thể thở máy không xâm nhập/xâm nhập tùy mức độ với trường hợp có suy hô hấp.

– Hỗ trợ tuần hoàn: đảm bảo cung cấp đầy đủ nước điện giải theo nhu cầu có tính đến bù trừ nếu sốt cao, khó thở, nôn… Trong những trường hợp có sốc (da lạnh, dấu hiệu làm đầy mao mạch ≥ 3 giây, HA tâm thu < 90 mmHg ở người lớn, nước tiểu < 0,5ml/kg/giờ) sau bù dịch đủ (áp lực tĩnh mạch trung tâm 12-14 cm H2O, hoặc đo đường kính tĩnh mạch chủ dưới,….không hiệu quả) nên sử dụng thuốc vận mạch để đảm bảo huyết áp trung bình ≥ 65mmHg và Lactat máu < 2 mmol/l. Chú ý đánh giá quá tải dịch.

– Cân bằng nước điện giải.

– Nếu bệnh nhân có rối loạn nhịp tim (block nhĩ thất cấp 2 Mobitz II có thể dùng máy tạo nhịp tạm thời Pacemaker ngoài da hoặc qua tĩnh mạch cảnh.

– Với trường hợp viêm cơ tim điều trị theo phác đồ viêm cơ tim, nếu viêm cơ tim nặng hoặc có sốc tim không đáp ứng với trợ tim có thể dùng ECMO V-A cho bệnh nhân nếu có điều kiện.

– Bệnh nhân có suy đa tạng, suy thận có thể lọc máu liên tục (CVVH) nếu có chỉ định.

– Có thể sử dụng corticoid trong trường hợp bạch hầu ác tính, và bạch hầu thanh quản có phù nề nhiều.

– Đảm bảo dinh dưỡng: tĩnh mạch hoàn toàn hay kết hợp qua đường tiêu hóa tùy thuộc tình trạng người bệnh.

6.2.4. Tiêu chuẩn xuất viện và theo dõi điều trị

– Bệnh nhân ổn định sau 2 – 3 tuần điều trị

– Soi cấy kiểm tra 2 lần âm tính và không biến chứng.

– Phải tiêm phòng bạch hầu sau khi xuất viện

– Theo dõi tiếp ngoại trú đủ 60-70 ngày

7. PHÒNG BỆNH

– Tất cả người bệnh nghi bạch hầu phải được vào viện để cách ly cho đến khi có kết quả xét nghiệm vi khuẩn hai lần âm tính. Mỗi mẫu bệnh phẩm được lấy cách nhau 24 giờ và không quá 24 giờ sau khi điều trị kháng sinh. Nếu không có điều kiện làm xét nghiệm thì phải cách ly bệnh nhân sau 14 ngày điều trị kháng sinh.

– Rửa tay đúng quy cách bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn.

– Nhà ở của người bệnh, dụng cụ trong phòng, đồ dùng, quần áo của người bệnh phải tẩy uế và sát khuẩn.

– Phòng bệnh bằng vắc-xin bạch hầu: trong chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia, dùng vắc-xin đa giá: bạch hầu – ho gà – uốn ván cho trẻ. Bắt đầu tiêm từ 2-3 tháng tuổi, tiêm 2 lần, mỗi lần 1ml cách nhau 1 tháng. Một năm sau nhắc lại mỗi một năm 1 lần cho đến 5 tuổi.

– Với người tiếp xúc: Xét nghiệm vi khuẩn và theo dõi trong vòng 7 ngày.

+ Hoặc uống Erythromycin (trẻ em 40mg/kg/ngày, 10mg/lần cách 6 giờ) trong 7 ngày. Người lớn 1g/ngày, 250mg/lần mỗi 6 giờ.

+ Hoặc Azithromycin: trẻ em 10-12mg/kg 1 lần/ngày, tối đa 500mg/ngày. Điều trị trong 7 ngày. Người lớn: 500mg/ngày, trong 7 ngày.

Tin khác

📌🏥📌[THÔNG BÁO] Những quy định mới trong công tác phòng chống dịch tại Bệnh viện Tâm Thần Hải Phòng

(75 Lượt xem )

Lạm dụng và lệ thuộc vào pregabalin và gabapentin: Cảnh báo Đặc biệt từ TGA

(80 Lượt xem )

Báo cáo kết quả tự kiểm tra đánh giá chất lượng bệnh viện năm 2020 của Bệnh Viện Tâm Thần Hải Phòng

(251 Lượt xem )

Thông Báo từ ngày 01/01/2021 không cần phải làm thủ tục chuyển tuyến tại các phòng khám, các bệnh viện tuyến Quận, Huyện

(221 Lượt xem )

Giảm Thiểu Rác Thải Nhựa

(319 Lượt xem )

1

 2 3 4 5  … 

Dấu Hiệu Nhận Biết Bệnh Bạch Hầu

Dấu hiệu của bệnh bạch hầu là gì?

Bệnh bạch hầu có thể xảy ra ở các vị trí khác nhau trên cơ thể của con người. Chính vì thế mà chúng ta thường nghe tới những cái tên như: Bạch hầu mũi, bạch hầu họng – amidan, bạch hầu thanh quản. Ở mỗi vị trí khác nhau thì bệnh có biểu hiện lâm sàng cũng khác nhau. Cụ thể như sau:

Dấu hiệu bệnh bạch hầu không được bỏ qua

Biểu hiện bệnh bạch hầu mũi

Đây là một trường hợp bạn bị viêm đường hô hấp, dấu hiệu nhận biết là bạn sẽ bị chảy nước mũi và triệu chứng toàn thân nghèo nàn, hoạc rất khó để phát hiện vì có thể nhầm với những căn bệnh về đường hô hấp khác. Sau một thời gian biểu hiện chất dịch mũi sẽ nhầy và quánh hơn, có thể có máu hoặc hơi thở hôi. Khi bạn đi khám sẽ nhận thấy có một màng trắng bên trong của mũi. Bệnh bạch hầu mũi thường gặp ở trẻ nhỏ còn đang bú mẹ. Do đó bạn hết sức lưu ý điều này.

Dấu hiệu của bệnh bạch hầu thanh quản

Đối với bệnh nhân bị bệnh bạch hầu thanh quản sẽ có những triệu chứng rõ ràng hơn và đặc trưng hơn. Bệnh nhân bị bạch hầu thanh quản sẽ thở dữ dội hơn, có thể nghe thấy tiếng rít thanh quản, và khàn giọng. Bên cạnh đó là biểu hiện khó thở, có thể dẫn tới tử vong nếu tình trạng khó thở đột ngột xảy ra. Do đó hết sức lưu ý tình trạng này.

Dấu hiệu nhận biết bệnh bạch hầu họng – Amidan

Bệnh bạch hầu họng – Amidan có tỉ lệ người mắc bệnh cao hơn so với 2 trường hợp kia. Tỉ lệ chiếm khoảng ½ trong số các trường hợp được phát hiện mắc bệnh bạch hầu. Biểu hiện của bệnh bạnh hầu lúc này là cơ thể mệt mỏi, bị viêm họng, cảm giác bất an hồi hộp, chán ăn. Sau thời gian 1-2 ngày thì màng giả xuất hiện và hạch bạch huyết tại vùng cổ bắt đầu phản ứng. Đôi khi là gây phù nề vùng mô mề gây ra triệu chứng dấu cổ bò. Biểu hiện này là biểu hiện nặng của bệnh, Có thể gây ra những biến chứng nặng hơn như: xuất huyết tiêu hóa, xuất huyết da và tiểu da máu…bệnh không nên để kéo dài vì có hể dẫn tới nhiệm độc và ảnh hưởng tới tính mạng của người bệnh.

Bệnh bạch hầu xuất hiện màng giả tại cổ họng

Biểu hiện chung của bệnh bạch hầu

Với 3 vị trí khác nhau mà bệnh có các biểu hiện khác nhau, nhìn chung với bệnh nhân mắc bệnh bạch hầu người bệnh sẽ có các biểu hiện bệnh bạch hầu như: sốt, viêm họng, khó thở, chán ăn do đau họng, đau đầu, sổ mũi, giọng khàn, hơi thở hôi, cảm giác bất an và hồi hộp luôn xuất hiện. Triệu chứng này kéo dài 2-3 ngày thì sẽ xuất hiện màng giả có màu trắng ngà ở thanh quản, họng. Màng giả bạch hầu này dính và dai. Khi bóc màng giả sẽ dẫn tới chảy máu.

Bạch Hầu Thanh Quản: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị

Tổng quan bệnh Bạch hầu thanh quản

Bệnh bạch hầu thanh quản là các trường hợp mắc bệnh bạch hầu mà vị trí khởi đầu nơi vi khuẩn sinh sản là thanh quản. Bệnh bạch hầu là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính có giả mạc ở các tuyến hạnh nhân, mũi, hầu họng và thanh quản. Bệnh có thể xuất hiện trên da hoặc các niêm mạc khác như kết mạc mắt hoặc niêm mạc bộ phận sinh dục. Đây là một bệnh biểu hiện tình trạng nhiễm trùng nhiễm độc và các tổn thương nghiêm trọng của bệnh hầu hết là do ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu (Corynebacterium diphtheria) gây ra. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng trẻ 2-7 tuổi là hay gặp nhất nên thường được biết đến với tên bạch hầu thanh quản ở trẻ em. Nguồn lây chủ yếu là người bệnh sang người lành khi tiếp xúc trực tiếp nói chuyện, ho hắt hơi… Trên lâm sàng, bệnh bạch hầu còn có thể gặp các thể khác như bạch hầu mũi, bạch hầu họng-amidan… Tuy nhiên, bạch hầu thanh quản chiếm khoảng 1/4 các trường hợp, có thể bạch hầu tiếp tục lan xuống nhưng cũng có thể do bệnh tại chỗ. Bạch hầu thanh quản phổ biến ở trẻ còn bú.

Trẻ mắc bệnh bạch hầu thanh quản nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời sẽ dẫn đến các biến chứng nguy hiểm về tim mạch, thần kinh và thận, đặc biệt có nguy cơ gây tắc nghẽn đường hô hấp dẫn đến hôn mê và tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Đây là bệnh có nhiều biến chứng rất nguy hiểm, vậy nên khi bị bạch hầu thanh quản cần được điều trị tích cực tại cơ sở y tế và theo dõi các biến chứng của bệnh tránh tử vong do tắc thở và đột ngột trụy tim mạch.

Nguyên nhân bệnh Bạch hầu thanh quản

Nguyên nhân gây bệnh bạch hầu thanh quản đã được xác định đó là do vi khuẩn bạch hầu Corynebacterium diphtheriae. Vi khuẩn bạch hầu là một trực khuẩn gram dương có tính hiếu khí và không di động. Vi khuẩn chỉ sản xuất được ngoại độc tố khi chính bản vi khuẩn này bị nhiễm một loại virus đặc biệt gọi là thực khuẩn bào (bacteriophage). Trên lâm sàng chỉ có những chủng vi khuẩn có khả năng sinh độc tố mới gây bệnh có các biến chứng nguy hiểm. Khi soi dưới kính hiển vi, vi khuẩn bạch hầu rất mảnh có dạng hình dùi trống hoặc hình que và sắp xếp đặc trưng như hình hàng rào. Vi khuẩn bạch hầu chia làm ba typ là gravis, intermedius và mitis theo thứ tự khả năng gây bệnh giảm dần. Cả ba type vi khuẩn đều có khả năng sinh độc tố nhưng thể bệnh nặng thường do type gravis gây ra.

Tất cả các typ vi khuẩn bạch hầu đều nhạy cảm với các yếu tố vật lý, hoá học. Dưới ánh sáng mặt trời trực tiếp, vi khuẩn sẽ chết sau vài giờ, ánh sáng trong nhà sẽ bị diệt sau vài ngày. Tại nhiệt độ 580C vi khuẩn sống được khoảng 10 phút, ở môi trường phenol 1% và cồn 60 độ vi khuẩn chỉ có thể sống được 1 phút. Bản chất của ngoại độc tố bạch hầu là một loại protein có tính kháng nguyên đặc hiệu, độc tính cao và chịu nhiệt kém. Ngoại độc tố của các typ vi khuẩn bạch hầu khác nhau đều giống nhau. Ngoại độc tố bạch hầu khi được xử lý bằng nhiệt độ và formol sẽ mất độc lực, được gọi là giải độc tố dùng làm vắc xin để tiêm phòng bệnh.

Triệu chứng bệnh Bạch hầu thanh quản

Các dấu hiệu và triệu chứng bệnh bạch hầu thanh quản thường bắt đầu từ hai đến năm ngày sau khi bị nhiễm bệnh và có thể bao gồm:

Sốt và ớn lạnh.

Khó chịu ở trẻ thường biểu hiện quấy khóc, bỏ bú.

Chảy nước mũi.

Khó thở và thở nhanh đặc biệt ở trẻ còn bú do trẻ khó thở nên khi bú trẻ phải dừng lại để thở.

Sưng các hạch ở cổ.

Ho ông ổng (barking cough).

Khàn tiếng.

Xuất hiện một màng màu xám dày vùng họng.

Bạch hầu thanh quản là thể bệnh nặng tiến triển nhanh và cực kỳ nguy hiểm. Do thanh quản là nơi hẹp nhất của đường thở nên nếu màng giả mạc phát triển ở đây, nguy cơ gây tắc nghẽn đường thở rất nhanh đưa đến hôn mê và tử vong.

Đường lây truyền bệnh Bạch hầu thanh quản

Vi khuẩn bạch hầu lây truyền qua các con đường sau:

Giọt bắn trong không khí. Khi một người bị nhiễm bệnh hắt hơi hoặc ho ra các giọt bắn mang vi khuẩn, những người ở gần đó có thể hít phải và nhiễm vi khuẩn bạch cầu. Thực tế bệnh bạch hầu chủ yếu lây lan theo cách này, đặc biệt ở những nơi tập trung đông người.

Vật dụng cá nhân bị nhiễm bệnh. Bệnh bạch hầu cũng có thể lây qua tiếp xúc hoặc sử dụng các vật dụng bị nhiễm vi khuẩn bạch hầu.

Đồ gia dụng bị ô nhiễm. Trong những trường hợp hiếm hoi, bệnh bạch hầu lây lan trên các vật dụng gia đình dùng chung, chẳng hạn như khăn hoặc đồ chơi.

Ngoài ra có thể tiếp xúc với vi khuẩn gây bệnh bạch hầu bằng cách chạm vào vết thương bị nhiễm trùng.

Những người đã bị nhiễm vi khuẩn bạch hầu và chưa được điều trị có thể lây nhiễm cho những người không mắc bệnh trong vòng sáu tuần – ngay cả khi họ không có bất kỳ triệu chứng nào.

Đối tượng nguy cơ bệnh Bạch hầu thanh quản

Những người có nguy cơ mắc bệnh bạch hầu thanh quản gồm:

Trẻ em và người lớn không được tiêm chủng.

Điều kiện sinh hoạt đông đúc hoặc mất vệ sinh.

Đi qua hoặc sinh sống tại một khu vực đang có dịch bệnh bạch hầu.

Ngày nay bệnh bạch hầu hiếm khi xảy ra ở Hoa Kỳ và Tây Âu, nơi có tỷ lệ tiêm chủng vắc-xin cao cho trẻ để phòng chống bệnh bạch hầu trong nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, bệnh bạch hầu vẫn còn phổ biến ở các nước đang phát triển nơi tỷ lệ tiêm chủng thấp. Ở những nơi có tỷ lệ tiêm vắc-xin bạch hầu cao, căn bệnh này chủ yếu là mối đe dọa đối với những người chưa được tiêm phòng hoặc tiêm phòng không đầy đủ, những người đi du lịch nước ngoài hoặc tiếp xúc với những người bệnh từ các nước kém phát triển.

Phòng ngừa bệnh Bạch hầu thanh quản

Trước khi có thuốc kháng sinh, bạch hầu là một bệnh phổ biến ở trẻ nhỏ. Ngày nay, căn bệnh này không chỉ có thể chữa được mà còn có thể phòng ngừa được bằng vắc-xin.

Vắc-xin bạch hầu thường được kết hợp với vắc-xin uốn ván và ho gà (ho gà). Vắc-xin ba trong một được gọi là vắc-xin bạch hầu, uốn ván và ho gà. Phiên bản mới nhất của vắc-xin này được gọi là vắc xin sáu trong một phòng các bệnh sau: bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B, các bệnh gây ra do hib và bại liệt. Vắc-xin bạch hầu, uốn ván và ho gà là một trong những loại vắc-xin mà các bác sĩ tại Hoa Kỳ khuyên dùng trong thời kỳ sơ sinh. Tiêm vắc-xin bao gồm một loạt năm mũi tiêm, thường được tiêm ở cánh tay hoặc đùi cho trẻ em ở các độ tuổi:

Vắc-xin bạch hầu có hiệu quả trong việc ngăn ngừa bệnh bạch hầu. Nhưng có thể có một số tác dụng phụ. Một số trẻ có thể bị sốt nhẹ, quấy khóc, buồn ngủ hoặc đau tại chỗ tiêm sau khi tiêm vắc-xin. Hiếm khi, vắc-xin bạch hầu gây ra các biến chứng nghiêm trọng ở trẻ, chẳng hạn như phản ứng dị ứng (nổi mề đay hoặc phát ban trong vòng vài phút sau khi tiêm), co giật hoặc sốc – biến chứng có thể điều trị được.

Một số trẻ em – chẳng hạn như những trẻ bị động kinh hoặc một số bệnh lý thần kinh khác không nên tiêm loại vắc-xin này.

Sau loạt tiêm chủng ban đầu ở thời ấu thơ, cần tiêm nhắc lại vắc-xin bạch hầu để giúp duy trì khả năng miễn dịch. Do khả năng miễn dịch đối với bệnh bạch hầu mất dần theo thời gian.

Trẻ em được tiêm chủng khuyến cáo trước 7 tuổi nên được tiêm mũi nhắc lại đầu tiên vào khoảng 11 hoặc 12 tuổi. Lần tiêm nhắc tiếp theo được khuyến nghị 10 năm sau, sau đó lặp lại sau khoảng thời gian 10 năm. Việc tiêm nhắc lại đặc biệt quan trọng nếu bạn đi đến một khu vực thường gặp bệnh bạch hầu.

Vắc-xin nhắc lại bạch hầu thường được kết hợp với vắc-xin uốn ván (Td). Vắc-xin kết hợp này thường được tiêm vào cánh tay hoặc đùi.

Các biện pháp chẩn đoán bệnh Bạch hầu thanh quản

Chẩn đoán bệnh bạch hầu họng được xác định qua các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng. Ngay sau khi khám bệnh, nếu nghĩ đến bạch hầu (dựa vào các đặc điểm về dịch tễ, miễn dịch, biểu hiện lâm sàng) thì xét nghiệm quan trọng nhất là lấy giả mạc hoặc bệnh phẩm ở chỗ tổn thương nghi ngờ bạch hầu. Tuy nhiên nếu trên lâm sàng nghi ngờ bạch hầu thì nên tiến hành điều trị ngay mà không cần chờ kết quả cận lâm sàng.

Xét nghiệm nhanh vi khuẩn bạch hầu nhờ vào nhuộm soi Gram. Vi khuẩn có thể bắt màu nhuộm Gram dương, mảnh, hình dùi trống, sắp xếp theo kiểu hình hàng rào. Khi xét nghiệm không tìm thấy vi khuẩn bạch cầu trong khi nhuộm soi cũng không thể loại trừ nguyên nhân bạch hầu.

Chẩn đoán xác định phải dựa vào việc cấy và định danh vi khuẩn nhưng quá trình này thường đòi hỏi thời gian lâu hơn. Ngoài việc nuôi cấy nhằm phân lập vi khuẩn bạch hầu thì bệnh phẩm thường được nuôi cấy trên đĩa thạch để tìm liên cầu tan huyết beta do loại vi khuẩn này cũng gây biểu hiện tại hầu họng tương tự bạch hầu.

Các biện pháp điều trị bệnh Bạch hầu thanh quản

Bạch hầu họng là một bệnh nghiêm trọng. Bệnh nhân cần được điều trị ngay lập tức và tích cực với các loại thuốc sau:

Nếu nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu, trẻ em hoặc người lớn bị nhiễm sẽ được sử dụng một loại chống độc tố bạch cầu. Thuốc kháng độc tố, được tiêm vào tĩnh mạch hoặc tiêm bắp, trung hòa độc tố bạch hầu đã lưu hành trong cơ thể. Trước khi cho uống thuốc kháng độc tố, nên thực hiện các xét nghiệm dị ứng da để đảm bảo rằng người bệnh không bị dị ứng với thuốc kháng độc tố.

Với những trường hợp bị dị ứng trước tiên phải được giải mẫn cảm với thuốc kháng độc tố. Giải mẫn cảm được thực hiện bằng cách ban đầu cho liều nhỏ thuốc kháng độc tố và sau đó tăng dần liều lượng.

Kháng sinh.

Bạch hầu cũng được điều trị bằng kháng sinh. Thuốc kháng sinh giúp tiêu diệt vi khuẩn trong cơ thể, làm sạch nhiễm trùng.

Trẻ em và người lớn mắc bệnh bạch hầu thường cần phải vào bệnh viện để điều trị. Các trường hợp mắc bệnh có thể được cách ly đặc biệt vì bệnh bạch hầu có thể lây lan dễ dàng đến bất kỳ ai không được chủng ngừa bệnh.

Trong trường hợp bạch hầu thanh quản đến muộn có dấu hiệu bít tắc đường hô hấp cần thực hiện bóc tách giả mạc giúp thông đường hô hấp.

Dấu Hiệu, Cách Phòng Bệnh Bạch Hầu Từ Sớm

Hỏi: Tôi được biết triệu chứng ban đầu của bệnh bạch hầu như sốt, ho, viêm họng dễ gây nhầm lẫn với các bệnh đường hô hấp khác. Vậy có cách nào để phân biệt? Làm sao có thể phân biệt bệnh bạch hầu và các bệnh khác từ sớm và phòng bệnh bằng cách nào để hiệu quả?

(Kim Tuyến, tỉnh Đồng Nai)

Trả lời:

Bác sĩ lấy mẫu xét nghiệm bạch hầu cho người dân ở Đăk Nông vào tháng 6 – Ảnh: Ngô Duyên

Bạch hầu là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Corynebacterium diphtheria gây ra, có thể lây nhiễm qua đường hô hấp, vật tiếp xúc khi người bệnh nói chuyện, ho, hắt hơi. Nếu người lành tiếp xúc trực tiếp với người bệnh hoặc gián tiếp với bề mặt tiếp xúc đều có thể bị lây bệnh. Dấu bệnh của bệnh bạch hầu tùy thuộc thể bệnh.

Thể bạch hầu hô hấp ở vị trí mũi (bạch hầu mũi) là thể nhẹ nhất. Bệnh nhân chỉ có dấu hiệu sốt nhẹ kéo dài, kích thích ở vùng mũi, vùng miệng, có thể chảy nước mũi dịch trong, dịch nhầy mũ. Các biểu hiện này thường dễ nhầm lẫn với cảm lạnh hoặc viêm mũi do virus. Để chẩn đoán bệnh, bác sĩ sẽ hỏi về tiền sử tiếp xúc với bệnh nhân bạch hầu trước đây hoặc xem lịch sử tiêm chủng, cũng như vùng dịch tễ lưu hành.

Thể bạch hầu vùng hầu họng, amidan với dấu hiệu sốt nhẹ, đau rát nhiều ở vùng họng, khó thở, một số người có thể thấy khó nuốt. Những triệu chứng này rất dễ nhầm lẫn trong chẩn đoán với những trường hợp viêm hầu họng do streptococcus liên cầu khuẩn nhóm A hoặc những bệnh lý vùng hầu họng do epstein-barr virus hay nấm candida albicans gây ra. Nhưng bệnh bạch hầu có những dấu hiệu đặc trưng có thể phân biệt với những bệnh lý gây vùng hầu họng khác.

Dấu hiệu thứ nhất là giả mạc. Giả mạc dai, dính chắc, nếu cố cạy ra có thể gây chảy máu. Giả mạc tồn tại lâu, thậm chí có thể gây viêm loét, hoại tử, giả mạc từ màu trắng biến thành màu xám và đen. Dấu hiệu thứ hai là sưng nề vùng dưới hàm, hạch cổ sưng to như cổ bò. Dấu hiệu thứ ba là sốt nhẹ, kéo dài nhưng dấu hiệu nhiễm trùng, nhiễm độc rất nặng nề, phờ phạc. Bệnh nhân mệt mỏi, xanh xao, thậm chí có thể hôn mê rất nhanh, dẫn đến tử vong.

Thể bạch hầu vùng thanh quản là thể nặng nhất, tổn thương do nội độc tố đã xâm nhập vào máu, có thể xuống tận vùng thanh quản và tạo giả mạc. Giả mạc có thể xâm lấn nhánh khí phế quản, gây khó thở, có thể dẫn đến suy hô hấp và tử vong rất nhanh. Diễn tiến của thể bạch hầu vùng thanh quản trong vòng 6-10 ngày. Trẻ em nếu có những dấu hiệu của thể bạch hầu này thì bệnh sẽ diễn tiến nhanh nhất.

Chuẩn đoán thể bạch hầu chính xác nhất là xét nghiệm cận lâm sàng để phân biệt. Xét nghiệm cận lâm sàng có thể định danh bằng cách kiểm tra nhanh dưới kính hiển vi điện tử để biết trực khuẩn gram dương hình dùi trống hoặc nuôi cấy vi khuẩn để xác định hoặc xét nghiệm vi khuẩn bạch hầu gây độc tố.

Tuy nhiên, do diễn biến của bệnh nhanh, nặng nề và có thể gây biến chứng, những nhà điều trị lâm sàng tiến hành điều trị bệnh càng sớm càng tốt, thậm chí chưa có kết quả cận lâm sàng. Xét về mặt dịch tễ, về mặt nhận diện dấu hiệu cận lâm sàng, bác sĩ có thể điều trị cho bệnh nhân từ sớm.

Hiện nay, tiêm vaccine là biện pháp phòng bệnh bạch hầu hữu hiệu, an toàn và ít chi phí nhất. Vaccine phòng bệnh bạch hầu có thể tiêm ở nhiều độ tuổi khác nhau, khi trẻ 2, 3, 4 tháng tuổi, trẻ 16-18 tháng tuổi, trẻ 4-6 tuổi, người lớn. Ngoài ra còn có các loại vaccine phòng bạch hầu cho nhóm người lớn có nguy cơ cao, chỉ được sử dụng trong chiến dịch khi có dịch bệnh chứ không tiêm phổ cập.

Một số loại vaccine phối hợp như vaccine 6 trong 1 phòng bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, Hib, viêm gan B hoặc vaccine 5 trong 1 phòng bạch hầu, ho gà, uốn ván, Hib, bại liệt dành cho trẻ 2-24 tháng tuổi. Vaccine 4 trong 1 phòng bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt có thể tiêm cho trẻ từ 2 tháng tuổi trở lên. Vaccine 3 trong 1 phòng bạch hầu, ho gà, uốn ván dành cho trẻ 4 tuổi trở lên và người lớn.

Bên cạnh tiêm vaccine để phòng bệnh từ sớm, người lớn, trẻ em nên giữ vệ sinh cơ thể, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng, không đưa tay lên mắt, mũi, miệng; vệ sinh môi trường sống sạch sẽ, thông thoáng…

Theo giacngo