【#1】Đau Xương Bả Vai Báo Hiệu Bệnh Gì?

Đau xương bả vai là triệu chứng bệnh mà mọi lứa tuổi đều có thể bị mắc phải, tuy nhiên bệnh thường gặp ở tuổi trung và cao niên. Bởi lúc này cơ thể đã bắt đầu có những triệu chứng của quá trình lão hóa khiến cho sức khỏe và sự co giãn của các cơ bắt đầu kém đi.

Những ai có nguy cơ mắc bệnh đau xương bả vai?

Tất cả mọi người đều có nguy cơ bị mắc chứng đau nhức xương ở bả vai và đặc biệt là những người thường làm các công việc như làm văn phòng, lái xe, thợ chúng tôi phải ngồi nhiều một chỗ lâu nên có nguy cơ cao bị đau xương ở bả vai. Khi người bệnh phải ngồi lâu trong 1 tư thế thì các nhóm cơ vùng cổ sẽ bị mỏi và lan xuống cả vùng bả vai. Những người ngồi làm việc, đi đứng, nằm ngủ sai tư thế cũng thường có nguy cơ bị đau xương ở bả vai rất cao.

Đau xương bả vai không phải là một căn bệnh nguy hiểm nhưng nó gây ra các cơn đau khiến cho người bệnh cảm thấy khó chịu, các công việc hàng ngày bị trì trệ và các các hoạt động sinh hoạt thường ngày của người bệnh cũng bị ảnh hưởng.

Những người mắc hội chứng đau xương ở vùng bả vai thường ít chú ý hoặc xem nhẹ chứng bệnh này không nguy hiểm. Tuy nhiên hội chứng này có thể đang báo hiệu bạn đang mắc những căn bệnh nguy hiểm mà nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời bệnh sẽ gây biến chứng nguy hiểm.

– Bệnh đau dạ dày: những người bị đau ở vùng xương ức hoặc xương bả vai trước và sau bữa ăn thì có khả năng cao là dấu hiệu của việc bạn đang bị mắc bệnh đau dạ dày hoặc tá tràng. Đây là một trong những dấu hiệu thường gặp của bệnh đau dạ dày. Thậm chí người bệnh có thể có những biểu hiện bị nôn ói sau khi ăn.

– Dấu hiệu của bệnh tim: những người bị bệnh tim thường có dấu hiệu đau tức ngực, cơn đau xuất hiện đầu tiên ở phần ngực trái, sau có xu hướng lan ra sau lưng và xuống cánh tay. Ngoài ra cơn đau có thể xuất hiện ở cùng xương bả vai bên trái, bởi rất có thể khi người bệnh bị lên cơn nhồi máu cơ tim thì người bệnh cũng có những biểu hiện như bệnh đau nhức xương vùng bả vai. Vì vậy khi có những dấu hiệu đau ngực trước và sau người bệnh cần đến cơ sở y tế để khám và điều trị bệnh kịp thời, tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra.

– Bệnh tâm lý: Stress, căng thẳng thường xuyên và liên tục cũng sẽ gây ra cho người bệnh triệu chứng đau nhức ở vùng dưới xương bả vai, nặng ngực hay bị nóng ran lồng ngực. Cảm giác cơn đau không kéo dài mà chỉ khoảng vài phút và lan từ vùng dưới xương bả vai trái sang xương ức, hàm, cổ khiến cho người bệnh cảm thấy vô cùng khó chịu và ảnh hưởng đến chất lượng công việc.

– Chấn thương vùng bả vai: những người từng bị va đập, gãy xương bả vai tuy bệnh đã lành lại nhưng những hệ lụy sau đó là gây ra các cơn đau nhức ở vùng bả vai và làm cho bệnh nhân phải thường xuyên đối mặt với các cơn đau nhức.

– Đau thần kinh liên sườn: những người có dấu hiệu bị đau ở mạn sườn, những cơn đau dọc các dây thần kinh liên sườn khiến cho người bệnh bị đau từ 1 bên, sang trước ngực, lan sang sau lưng, dưới xương bả vai cạnh cột sống làm cho người bệnh và các đau tức vùng ngực và xương ức và cơn đau tăng nặng khi người bệnh thay đổi tư thế do các dây thân kinh liên sườn gắn liền với xương cột sống.

– Bệnh vẹo cột sống: những người bị vẹo côt sống thường có biểu hiện là 2 vai không đều nhau, xương bả vai nhô cao lúc đi hoặc đứng thì người đều bị nghiêng về 1 phía. Những người bị vẹo cột sống thường khó khăn khi thở và hay bị đau lưng do xương sườn và lồng ngực bị nhô ra phía trước.

Khi bị đau xương bả vai thì bạn nên thực hiện theo các chế độ sau:

– Nghỉ ngơi thư giãn, không vận động mạnh ở vùng bả vai

– Luyện tập thể dục với các bài tập nhẹ nhàng, đều đặn để giúp giảm thiểu các cơn đau.

– Dùng cao dán, xoa bóp bằng dầu cao hoặc các loại rượu thuốc dân gian để giảm đau.

– Bổ sung canxi, kali cho cơ thể, đây là những khoáng chất rất tốt cho xương.

– Tránh hút thuốc, uống rượu bia bởi chúng cũng là tác nhân gây ra những cơn đau nhức bả vai cho người bệnh.

– Nếu bệnh nhân bị các cơn đau tăng nặng và không có dấu hiệu thuyên giảm trong thời gian dài thì nên đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám bệnh. Bác sĩ sẽ có phác đồ điều trị phù hợp để giúp bệnh nhân loại bỏ cơn đau mỏi bả vai.

Chữa đau xương bả vai hiệu quả với Thái Y Phục Cốt Vương

Bài thuốc Thái Y Phục Cốt Vương vốn từ lâu đã được nhiều người biết đến là một trong những bài thuốc Nam quý hiếm đặc trị bệnh xương khớp rất hiệu quả, có khả năng chữa được cả những vấn đề mà Y học hiện đại cũng phải bó tay lắc đầu. Thái Y Phục Cốt Vương xuất phát từ bài thuốc cùng tên của lương y kế thừa đời thứ 3 dòng họ Nguyễn Thượng – Lương y Nguyễn Thượng Minh (Thái Nguyên).

Sau quá trình phân tích, nghiên cứu chuyên sâu, bài thuốc đã được bào chế lại với hình thức mới tiện dụng hơn nhưng vẫn đảm bảo chắc chắn về chất lượng, mức độ dược tính và hiệu quả chữa bệnh. Với con số thực tế trên 20.000 lượt bệnh nhân đã chữa khỏi bệnh xương khớp với nhiều dạng bệnh lý khác nhau, Thái Y Phục Cốt Vương càng lúc càng mở rộng tầm ảnh hưởng của mình và thực hiện nguyện vọng của người thầy thuốc tận tâm Nguyễn Thượng Minh: Đưa bài thuốc trở nên phổ biến, chữa được cho nhiều người hơn nữa trên mọi vùng miền Tổ Quốc.

  • Bệnh lý khớp: Viêm khớp vai, Viêm khớp gối, Viêm đa khớp, Viêm khớp dạng thấp, Thoái hóa khớp gối…
  • Bệnh lý cột sống: Thoát vị đĩa đệm cột sống (lưng và cổ), Gai cột sống (lưng và cổ), Phồng lồi đĩa đệm, Thoái hóa cột sống, Viêm cột sống, Viêm cột sống dính khớp…

Bài thuốc bao gồm 3 phần với 3 công dụng và cách dùng riêng biệt, nhưng khi kết hợp lại cùng nhau sẽ mang lại hiệu quả điều trị đau xương bả vai tối ưu và toàn diện nhất.

– Dạng bào chế: Tinh chất xoa bóp, thuốc nước.

– Thành phần: Mộc hương, Đinh hương, Địa liền, Quế hồi, Long não, Bạc hà… và một số dược liệu quý.

– Công dụng: Lưu thông kinh mạch, thông kinh hoạt lạc, tăng cường liên kết của cơ – gân – sụn – khớp, tái tạo sụn khớp và xương dưới sụn, chữa đau khớp, đau cơ hiệu quả.

– Dạng bào chế: Viên cao hoàn dẻo.

– Thành phần: Xuyên khung, Mạn kinh tử, Độc hoạt, Tang ký sinh, Quế chi, Hoàng bá, Dây đau xương, Thương truật, Đẳng sâm, Đương quy, Phòng phong, Kê huyết đằng, Thiên niên kiện, Huyết giác… và một số dược liệu quý.

– Công dụng: Thông kinh hoạt lạc, hành khí hoạt huyết, lợi thủy, thẩm thấm, tiêu trừ phong thấp, bổ huyết, giảm đau; Bổ thận, mạnh gân cốt; Chữa các bệnh viêm khớp, thoái hóa khớp, thoát vị đĩa đêm…

– Dạng bào chế: Viên hoàn cứng.

– Thành phần: Thục địa, Đỗ trọng, Bồ công anh, Ngưu tất, Cải trời, Kim ngân hoa, Linh chi, Thổ phục linh… và một số dược liệu quý.

– Công dụng: Bổ gan, thanh nhiệt giải độc, lương huyết tiêu viêm, trị chứng phù nề sưng đau; Chữa thoái hóa khớp, viêm đau cơ xương khớp, dây thần kinh…

Bài thuốc Thái Y Phục Cốt Vương mang lại những ưu điểm và tác động khác biệt so với các phương pháp chữa thông thường:

  • Tác động đến bệnh từ căn nguyên đến triệu chứng, điều trị sâu và tận gốc, mang lại tác dụng toàn diện.
  • Hiệu quả được duy trì lâu dài, ngăn chặn những cơn đau và triệu chứng tái phát, giúp người bệnh sống khỏe và yên tâm hơn.
  • Cam kết 100% thành phần là thảo dược tự nhiên, trong đó có nhiều dược liệu quý. Nhờ vậy mà dược tính của bài thuốc rất mạnh và sử dụng an toàn, đảm bảo không có tác dụng phụ, dùng tốt cho cả những bệnh nhân mắc dạ dày, gan, tiểu đường, cao huyết áp…
  • Hình thức bào chế dùng sẵn, nhanh chóng, dễ mang theo, không cần phải mất công đun sắc.
  • Chữa được nhiều dạng bệnh lý xương khớp khác nhau, phù hợp cho nhiều đối tượng, đặc trị cho các bệnh nhân mãn tính mắc bệnh lâu năm chưa khỏi.
  • Liệu trình điều trị ngắn, tùy theo tình trạng bệnh lý của mỗi người mà thời gian dùng thuốc có thể kéo dài từ 1 đến 6 tháng, thông thường phổ biến là 1 – 2 tháng.

【#2】Gãy Thân Xương Cánh Tay: Dấu Hiệu Triệu Chứng, Chẩn Đoán Điều Trị Ngoại Khoa

Đại cương

Gãy thân xương cánh tay chiếm khoảng 3% các gãy xương nói chung, có thể lựa chọn nhiều phương pháp điều trị, mặc dầu kết quả điều trị bảo tồn và phẫu thuật tương đương như nhau. Tuy nhiên trước một gãy xương và bệnh nhân cụ thể, đòi hỏi phải có một kiến thức cơ bản về giải phẫu và chức năng của cánh tay để lựa chọn được đúng đắn phương pháp điều trị mang lại kết quả tối ưu.

Nguyên nhân

Thường do cơ chế chấn thương gián tiếp như ngã chống tay, do tai nạn sinh hoạt. Cơ chế chấn thương trực tiếp gặp trong tai nạn lao động, tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội như đánh nhau, đâm chém nhau hoặc vết thương hỏa khí, thường gây gãy hở.

Giải phẫu bệnh

Đường gãy

Thân xương cánh tay giới hạn từ bờ trên của chỗ bám cơ ngực lớn xuống đến giới hạn trên của mõm trên lồi cầu xương cánh tay. Đường gãy bao gồm:

Đường gãy ngang.

Đường gãy chéo.

Đường gãy xoắn

Gãy có mảnh rời.

Gãy vụn.

Hướng di lệch

Tùy theo vị trí của chỗ gãy, lực tác dụng của cơ lên thân xương khác nhau, dẫn đến các hướng di lệch đặc thù như sau:

Gãy trên chỗ bám của cơ ngực lớn: Đầu trên bị di lệch dạng và xoay ngoài do lực kéo của khối cơ xoay (cơ trên gai, cơ dưới gai, cơ dưới vai).

Gãy giữa chỗ bám của cơ ngực lớn và chỗ bám của cơ delta: Đầu trên khép (do cơ ngực lớn kéo), đầu dưới di lệch lên và ra ngoài (do cơ delta kéo).

Gãy dưới chỗ bám của cơ delta: Đầu trên dạng, đầu dưới di lệch lên trên do co kéo của các cơ (không có cơ đối kháng).

Triệu chứng và chẩn đoán

Triệu chứng

Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng cận lâm sàng

Chụp phim X- quang chuẩn lấy hết khớp vai và khớp khuỷu tay ở hai bình diện vuông góc với nhau, thường phải dịch chuyển thay đổi tư thế bệnh nhân để chụp, không nên chỉ xoay cánh tay để chụp. Trên phim ghi nhận được vị trí gãy, đường gãy, di lệch, mảnh rời…,trong trường hợp gãy bệnh lý, cần khám nghiệm thêm phim chụp cắt lớp xương, chụp cắt lớp xử lý vi tính (CT Scanner), chụp cộng hưởng từ (MRI) để nắm được giới hạn của xương bệnh lý trước khi chỉ định điều trị.

Chẩn đoán

Dựa vào các triệu chứng lâm sàng đặc hiệu như biến dạng, cử động bất thường, tiếng lạo xạo và hình ảnh chẩn đoán (X-quang, MRI…).

Nguyên tắc điều trị

Có nhiều phương pháp khác nhau có thể áp dụng để điều trị gãy thân xương cánh tay, đem lại kết quả tốt đẹp. Trong y văn, người ta đề cập nhiều đến một tỷ lệ chậm liền xương và không liền xương trong phương pháp bảo tồn. Tuy nhiên, những tiến bộ gần đây về kỹ thuật nắn xương, bất động chi bằng nẹp bột, bó bột, nẹp plastic… đã làm giảm bớt đáng kể các di chứng này và làm cho phương pháp điều trị bảo tồn trở thành phương pháp được chọn lựa trong điều trị gãy thân xương cánh tay. Trong khi đó, những tiến bộ trong kỹ thuật bất động xương trong hai mươi năm qua đã làm cho phương pháp điều trị gãy thân xương cánh tay bằng phẫu thuật đem lại kết quả lý tưởng, đặc biệt là đem lại kết quả chức năng sớm.

Điều trị bảo tồn (không mổ)

Thường không đạt được hình dạng giải phẫu của xương tốt, nhưng Klenerman cho thấy rằng gập góc ra trước 200 và gập vào trong tối đa 300 là cóthể chấp nhận được đối với thân xương cánh tay. Cần phải thao dõi kiểm tra thường xuyên mới mong đem lại kết quả mỹ mãn được. Tùy thuộc vào kiểu gãy xương, cơ chế chấn thương, mức độ chấn thương mạnh hay nhẹ, mức độ sưng nề, tổn thương phần mềm, nhu cầu về cơ năng cũng như yêu cầu của bệnh nhân mà có thể lựa chọn các phương pháp khác nhau. Các phương pháp bảo tồn bao gồm:

Bột cánh tay treo

Phương pháp này do Caldwell giới thiệu năm 1933, ngày nay vẫn còn được xem là phương pháp cơ bản trong điều trị gãy thân xương cánh tay. Nó được áp dụng tốt nhất trong các trường hợp gãy chéo, gãy xoắn hoặc gãy ngang có chồng ngắn. Thời gian đầu, có ý nghĩa nắn thẳng trục và chữa di lệch chồng ngắn, khi kiểm tra sự kéo nắn đã đạt yêu cầu, có thể chuyển sang một phương pháp điều trị khác hoặc vẫn duy trì tiếp tục. Một khi lựa chọn duy trì tiếp tục bột cánh tay treo thì phải theo dõi kiểm tra X-quang về tình trạng xương bị kéo giãn quá và khả năng không liền xương.

Kỹ thuật cơ bản của phương pháp này là bó bột tương đối nhẹ, từ 2cm trên chỗ gãy đến cổ tay với khuỷu gấp 90 0 cẳng tay tư thế trung gian, móc tạ 2-3 kg ngay dưới khủyu, thời gian 8-10 tuần. Hướng dẫn bệnh nhân luôn luôn để cánh tay tư thế thẳng đứng hoặc nửa thẳng đứng, như vậy xương cánh tay mới luôn bị kéo nắn được, phải chụp X – quang kiểm tra hằng tuần trong 3 – 4 tuần đầu. Hạn chế của phương pháp này bao gồm ngắn chi, gập góc, biến dạng xoay, chậm liền xương hoặc không liền xương. Các biến chứng này hay gặp ở các bệnh nhâ béo mập, không chịu hợp tác trong quá trình điều trị. Tuy nhiên, hầu hết các tác giả đã báo cáo một tỷ lệ liền xương từ 93-96% khi áp dụng phương pháp này.

Băng tam giác

Do Gilchrist mô tả, là phương pháp đơn giản, rẻ tiền, dễ làm, áp dụng đối với các gãy không di lệch hoặc ít di lệch đối với trẻ dưới 8 tuổi, hoặc ở những người già không chịu nổi các phương pháp khác. Có thể dùng nhiều loại chất đệm khác nhau chêm trong nách để điều chỉnh độ gập góc của ổ gãy

Nẹp bột chữ U (Coaptation splint)

Chỉ định trong gãy xương mới, điều trị tạm thời lúc đầu, các trường hợp gãy không di lệch hoặc ít di lệch, các trường hợp bệnh nhân không thể chịu đựng được phương pháp bó bột cánh tay treo. Bột ôm hết nách, ôm vòng qua khối cơ Delta và ôm lấy khuỷu. Ưu điểm là bàn tay và cổ tay vận động tự do, khuỷu thì có thể vận động một phần. Nhược điểm là kích thích khó chịu vùng nách, thường liền xương tư thế hơi gập góc hoặc chi bị ngắn ít, bệnh nhân khó chịu.

Bột ngực vai cánh tay

Bột ôm ngực, vai và cánh tay, cánh tay ở tư thế dạng, ưu điểm là bất động tương đối cánh tay, nhưng hiện ít dùng vì quá nặng và gây khó chịu cho bệnh nhân, lại còn gây hạn chế vận động vai và tay để tư thế dạng lâu rất khó chịu. Ngày nay, bột được thay thế bằng nẹp nhựa dẻo (abduction splint) nhẹ và thuận tiện hơn.

Bao ôm cánh tay

Là phương pháp điều trị bảo tồn hiện đại nhất, do Sarmiento đề xướng năm 1977. Bao chỉ ôm đoạn thân cánh tay và được ép bởi thủy lực. Phương pháp này là đại diện cho sự ưu việt trong điều trị bảo tồn không mổ gãy thân xương cánh tay. Chỉ định khi gãy thân xương cánh tay đã hết sưng nề (trước đó được bất động bởi một trong các kỹ thuật trên), bệnh nhân được chỉ dẫn để cánh tay xuôi dọc thân mình càng nhiều càng tốt. Khi nào bệnh nhân tự dạng tay được 90 0 thì có thể tháo bỏ phương tiện ra. Ưu điểm là cho phép vận động được toàn bộ chi trên, tỷ lệ liền xương được báo cáo đạt 96-100%.

Điều trị phẫu thuật

Bao gồm các kỹ thuật sau:

Cố định ngoài

Chỉ định trong gãy hở, có khiếm khuyết da và phần mềm, các gãy vụn nhiều mảnh ở bệnh nhân có nhu cầu vận động sớm, các bệnh nhân gãy thân xương kèm tổn thương bỏng ở vùng khác cần lấy da để ghép, hoặc ở bệnh nhân có kèm gãy xương cẳng tay cùng bên.

Mổ kết hợp xương nẹp vít

Áp dụng kỹ thuật AO/ASIF (Arbeitgemeinschaft Fur Osteosynthesefragen/ The Association for the Study of problems of Internal Fixation) đem lại kết quả tốt. Tuy nhiên có thể bị nhiễm trùng, liệt thần kinh quay hoặc đôi khi kết hợp xương không được.

Mổ đóng đinh nội tủy

Chỉ định trong các trường hợp nắn kín thất bại, gãy 1/3 giữa thân xương, gãy có mảnh rời, gãy cũ không liền xương, gãy xương bệnh lý, gãy chéo hoặc gãy xoắn, ở bệnh nhân đa chấn thương. Chống chỉ định trong gãy kèm thương tổn thần kinh, gãy hở độ III.

Biến chứng

Liệt thần kinh quay

Can xương liền tư thế xấu

Thường thì gập góc 20-30 0 hoặc ngắn chi 2-3 cm ít để lại di chứng gì lớn. Biên độ vận động rộng của vai làm giảm đi ảnh hưởng của can xấu do xoay, ngay cả những biến dạng lớn hơn cũng được thích nghi với một hạn chế cơ năng không đáng kể. Vấn đề thẩm mỹ ít khi được xem là chỉ định của phẫu thuật. Khi chỉ định mổ, đục cắt xương và kết hợp xương vững chắc sẽ đem lại kết quả mỹ mãn.

Không liền xương

2-5% ở bệnh nhân bảo tồn và 25% ở bệnh nhân được phẫu thuật ngay kỳ đầu. Không liền xương gặp nhiều hơn trong các gãy hở, gãy do chấn thương tốc độ cao, gãy có mảnh rời, các gãy mà nắn không tốt, gãy được mổ nhưng bất động không vững. Các yếu tố thuận lợi là cứng khớp vai hay khớp khuỷu có sẵn trước đó, phần mềm che phủ kém, bệnh nhân béo phệ, bị ung thư di căn, nghiện rượu dẫn đến loãng xương, đang với corticosteroid, hoặc bị đa chấn thương.

Nhiễm trùng không liền xương

Không liền xương với khuyết xương

Khi không liền xương xảy ra kèm với khuyết xương trên 5cm thì đòi hỏi phải can thiệp phẫu thuật lại. Người ta khuyên nên ghép xương xốp dày có kèm theo vỏ xương, hoặc ghép xương có cuống mạch. Kỹ thuật bao gồm cắt bỏ các mô xơ, tổ chức chết bao gồm cả đầu xương, làm thông lại ống tủy ở cả hai đầu xương, chèn xương ghép vào giữa hai đầu gãy và bất động thật vững chắc.

Biến chứng mạch máu

Ítt gặp trong gãy kín, hay gặp trong gãy hở, gãy do dao chém hoặc hỏa khí. Nếu nghi ngờ có tổn thương mạch máu hoặc trong các gãy xương có nguy cơ cao tổn thương mạch máu thì nên chụp động mạch để xác định vị trí tổn thương để phục hồi lại. Việc phục hồi lại mạch máu được xem là chỉ định tuyệt đối trong các trường hợp bất động xương vững chắc với nẹp vit hoặc cố định ngoài. Trong đa số trường hợp, bất động xương gãy được thực hiện trước phẫu thuật mạch máu, cắt mở lớp cân ở cánh tay, cẳng tay hoặc bàn tay đôi khi cần thiết sau khi dòng máu được tái lập.

Dự phòng

Tuyên truyền và giáo dục trong cộng đồng về luật giao thông và lao động.

Cần giáo dục học sinh trong các trường phổ thông cơ sở nguyên nhân gây gãy xương để hạn chế các tai nạn xảy ra trong sinh hoạt và trong học đường.

Cần giáo dục cộng đồng sơ cứu tại chỗ tốt các trường hợp gãy xương để hạn chế các biến chứng trong gãy xương và phục hồi chức năng sau điều trị gãy xương.

Các tuyến y tế cơ sở cần chẩn đoán sớm, xử lý đúng gãy xương cánh tay.

Nguồn: Internet.

Nguồn: Điều trị (https://www.dieutri.vn/benhhocngoai/benh-hoc-ngoai-gay-than-xuong-canh-tay/)

【#3】Dấu Hiệu Và Cách Chăm Sóc Khi Bị Gãy Xương

Đôi khi nạn nhân chỉ bị gãy xương đơn, nhưng người cứu cấp không biết cách hoặc không cẩn thận để nó biến thành gãy xương kép. Gãy xương kép khó điều trị hơn gãy xương đơn vì các tổ chức xung quanh vết thương bị hủy hoại nhiều và dễ nhiễm độc.

Theo bản điều tra chung thì hầu hết những tai nạn xe cộ đều do bất cẩn mà ra. Nếu ta ở nhà lầu hay nhà có gác cao, nên chong đèn cả trên lẫn dưới, sẽ tránh được nhiều tai nạn vì trợt chân cách vô lý. Nếu ở trên lầu đi xuống, cẩn thận nhận xét nền nhà trước khi đặt chân lên, có thể có vỏ trái cây hoặc một món đồ chơi nào đó mà em bé trong nhà quên dẹp đi lại gây nên tai nạn đáng tiếc chăng. Nên dùng cản chặn phía trên cầu thang để em bé khỏi té xuống lầu.

Không nên chạy nhảy khi mang guốc cao gót. Đế giày cao su cũng không bảo đảm ta được trên nền nhà ướt. Phải hết sức cẩn thận khi nền gạch được đánh si ra bóng láng cũng như đoạn đường lầy lội.

Tránh việc dùng ghế, thùng gỗ, thùng đựng trái cây hay thùng rượu không, để thế thang. Một thùng gỗ dựng đứng lên không vững chắc gì cả, vì chỉ có vài cây đinh yếu ớt chống đỡ mà thôi. Nếu nó không chịu nổi thì những cây đinh long ván rất có thể làm cho ta bị rách da, lủng thịt nguy hiểm, thêm vào những thương tích khác do việc ngã té mà ra.

Phải lựa thang tốt mà dùng. Hãy sửa lại hoặc hủy bỏ những thang hư. Những thang đứng, cao, dùng trong việc sơn sửa nhà cửa, phải được đặt trên nền đất bằng phẳng, chêm, chặn cẩn-thận, hay phải có người đứng giữ cẩn thận.

Nền nhà tắm phải được khô ráo và chùi sạch nước xà bông để bớt tai nạn. Ở các nước u Mỹ, nhà tắm được liệt vào hàng thứ ba trong các chỗ gây tai nạn chết người.

Khi qua đường nên cẩn thận ngó trước ngó sau, vì khi ta làm bộ không nhìn thấy xe, không có nghĩa là xe không thể đụng ta được.

Không phải mọi dấu hiệu đều lộ ra trong mỗi trường hợp gãy xương. Nạn nhân thương nghe hay cảm thấy tiếng xương gãy. Trong trường hợp gãy xương, chỗ bị thương rất đau nhức, đặc biệt khi rờ mó đến. Nếu nạn nhân không thể cử động được hay cử động cách vô cùng khó khăn và nhức nhối chỗ bị thương, ta nên nghi người ấy bị gãy xương và phải điều trị theo cách gãy xương. Ví dụ trong một tai nạn xảy ra mà nạn nhân không thể ngồi dậy được hay không nhúc nhích nổi tay hay chân bị thương thì tay hay chân ấy chắc đã bị gãy rồi. Có khi nạn nhân bị gãy xương mà có thể vẫn đi đứng được, vì xương mới rạn nứt chứ chưa gãy lìa.

Theo quan niệm của nhiều người thì khi không thể cử động các ngón tay được có nghĩa là xương cánh tay trước đã bị gãy, nhưng đó không phải là một lý do vững chắc để ta tin theo. Tuy xương cánh tay bị gãy thật, nạn nhân vẫn có thể cử động ngón tay được, tuy rất đau đớn. Trong nhiều trường hợp ta nên yêu cầu nạn nhân lấy tay chỉ đúng chỗ đau có thể biết được chỗ xương bị gãy. Chỗ da thịt bị gãy xương có thể bầm tím, sưng lên và thay đổi hình thể. Có thể nạn nhân không cử động được các khớp xương kế cận. Nạn nhân có thể cảm thấy tiếng lộp cộp của hai khúc xương va chạm nhau, nhưng người cứu thương không nên cố tạo ra tiếng ấy hay thử coi có tiếng va chạm của hai khúc xương chăng.

Ta có thể so sánh phần nghi bị gãy xương với phần lành lặn ở bên kia cơ thể coi nó có bị biến dạng chăng. Có thể lấy tay rờ bóp nhẹ dọc theo chỗ bị nghi gãy xương để dò xem, nạn nhân cảm thấy đau đớn nhiều, và lắm khi ta có thể nhận ra xương gãy.

Gãy xương là bị kích ngất (còn gọi là bất tỉnh).

Mọi triệu chứng gãy xương đơn đều có thể phát lộ trong trường hợp gãy xương kép, và có một vết thương từ chỗ xương gãy trồi ra ngoài da. Thường có một đầu xương gãy ló ra ngoài.

Vết thương này gây chảy máu nhiều và gây kích ngất cũng trầm trọng hơn vết gãy xương đơn. Nếu có một vết thương gần chỗ xương bị gãy, ta nên coi như đó là trường hợp gãy xương kép. Như trên đã nói, nếu không săn sóc cẩn thận vết gãy xương đơn, ta có thể biến nó thành gãy xương kép và điều nầy vô cùng nguy hiểm, vì ngoài việc gây cho nạn nhân thêm đau đớn, vết thương dễ bị nhiễm độc, lâu lành, nếu không may một huyết quản lớn hay dây thần kinh bị đứt, có thể làm cho nạn nhân chết hoặc phải mang tật suốt đời.

Cách săn sóc vết gãy xương đơn

1. Gọi bác sĩ lập tức. Trong khi chờ đợi bác sĩ ta có thể…

2. Dùng que đỡ để chỗ xương gãy không bị xê dịch. Không được dời nạn nhân đi trước khi cột que đỡ để tránh làm vết gãy xương đơn thành gãy xương kép. Nếu nghi nạn nhân bị gãy xương, cứ điều trị theo cách gãy xương.

3. Ngừa kích ngất. Nếu đã bị kích ngất, nên ngừa nó thành nặng thêm.

Nếu bác sĩ sẽ đến sớm và không có chảy máu, ta không cần phải xé hay cổi quần áo nạn nhân, nhưng trái lại, nếu bác sĩ không đến ngay được hoặc có dấu máu trong áo quần, ta cổi hoặc xé ra đủ để xem xét vết thương và coi họ có bị gãy xương kép không. Nếu tiện, ta nên cắt theo đường may của áo quần mặc ngoài, rồi cắt xé cẩn thận và nhẹ nhàng áo quần lót bên trong. Nếu bị thương ở mắt cá hay bàn chân, phải cắt dây hoặc da giày để cởi giày ra.

Nếu tay hay chân bị gãy, không nên níu kéo tay hay chân ấy, cũng không nên dời nạn nhân đi trước khi bác sĩ đến nếu tình trạng cho phép như vậy.

HÃY NHỚ: Dây thắt mạch là một vật dụng rất nguy hiểm.

Phải dùng dây thắt mạch với tài khéo léo đặc biệt. Nếu thắt lỏng, có thể làm xuất huyết tĩnh mạch thêm, còn nếu quá chặt các cơ cấu ngầm bên dưới sẽ bị hư đi và sanh ra chứng thúi thịt phần ngoài chỗ thắt mạch. Nên ghi chú cẩn thận giờ, phút dùng dây thắt mạch để gởi theo nạn nhân.

Có thể dùng vải thưa sát trùng đắp lên vết thương rồi băng chặt lại.

Nếu nạn nhân bị gãy xương bàn tay, ta có thể băng bó cẩn thận, cột băng treo và đưa nạn nhân đến bệnh viện mà không sợ bị nguy hại nhiều. Tuy nhiên vẫn phải đề phòng và điều trị kích ngất.

Gãy xương ống chân và Gãy xương cánh tay trong

Que đỡ là một vật dụng dùng để giữ xương gãy nằm yên một chỗ cho đến khi bác sĩ sửa lại hai đoạn xương lìa nhau. Một miếng ván, một khúc gỗ, một cành cây, cán chổi, cây gậy, cán dù, một xấp báo cũ, áo mưa v.v… đều có thể dùng làm que đỡ được cả. Nếu có cấp bách lắm và không thể tìm được que đỡ thích đáng, ta có thể lấy một bó rơm, hay một áo bành tô (áo tây mặc ngoài) để dùng còn hơn là để xương gãy trơ ra như vậy. Que đỡ phải đủ dài để giữ chặt cánh tay hay ống chân. Nên lấy giẻ rách, bông-gòn, len hay vật gì mềm và êm để lót vào giữa lớp băng và que đỡ. Để cột que đỡ ta có thể dùng dây băng, băng cà-vạt, dây nịch hay rẻo vải cũng được. Nhớ cột vừa đủ chặt để giữ cho xương gãy vào que đỡ, mà không nên quá chặt. Ta cũng có thể dùng thân thể nạn nhân để làm que đỡ cho họ. Một ống xương cánh tay gãy có thể được buộc chặt vào ngực. Một ống chân gãy có thể được buộc chặt vào chân lành. Đó cũng là một cách dùng que đỡ hữu hiệu vậy. Que đỡ cùng được dùng trong trường hợp gãy xương sống mà chúng ta sẽ nghiên cứu sau.

Trong mọi trường hợp cứu cấp, người cứu thương phải thật bình tĩnh để trí được sáng-suốt hầu nhận xét và điều trị hợp cách và có khoa học.

Nếu nạn nhân bị gãy xương tay, sau khi cột que đỡ, ta có thể dùng băng treo để đỡ, treo tay lên, nạn nhân sẽ cảm thấy dễ chịu hơn, ít mỏi tay và ít chảy máu. Trong nhiều trường hợp nạn nhân có thể đi tới lui cách dễ dàng với băng treo.

Que đỡ bằng tạp chí, Que đỡ và băng treo

【#4】Gãy Xương Hàm Trên. Dấu Hiệu, Chuẩn Đoán Và Điều Trị Gãy Xương Hàm Trên

Gãy xương hàm trên (gãy xương lefort) là gì?

Những dấu hiệu khi bị gãy xương hàm trên

  • Biểu hiện choáng váng và đau nhức: Do xương hàm trên liên kết chặt chẽ với hệ thần kinh và trung ương não cho nên khi bị gãy xương hàm trên thì kèm với biểu hiện đau buốt, đau nhói hoặc đau râm ran khắp phần đầu và mặt thì bệnh nhân còn kèm theo biểu hiện choáng váng nhẹ hoặc nặng tùy theo mức độ gãy xương và chảy mất máu.
  • Khó hoặc không thể vận động: Khi bị gãy xương hàm trên, mặc dù không chuyển động khi nhai nhưng chức năng nhai, nuốt hoặc há miệng của bệnh nhân cũng bị ảnh hưởng nặng nề do khi bị gãy thì phần gãy sa xuống gây cản trở và đau.
  • Biến dạng mặt: Là một trong những trường hợp gãy xương hàm trên nặng với các biểu hiện như chảy máu miêng, mũi hay bầm tím, sưng nề toàn vùng miệng. Các biểu hiện biến dạng bên trong vòm miêng còn xuất hiện như lợi, má đều xuất huyết và sưng tím, phù nề và rất khó cử động hoặc nuốt nước bọt.
  • Xẹp phần giữa mặt: Đây là một trong những biến dạng nặng được tách ra với các loại biến dạng thông thường ít nguy hiểm hơn như sưng phù má hoặc tím bầm. Sự xẹp giữa mặt xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do đường gãy ngang hình răng cưa ngay tại phần mặt gây nên.
  • Các phương pháp chuẩn đoán gãy xương hàm trên

      Phương pháp chuẩn đoán bên ngoài: Đối với gãy xương hàm mặt trên thì các phương pháp chuẩn đoán cục bộ và sơ lược bên ngoài cho phép nhìn thấy rõ những tổn thương tổng quan có tác dụng quan trọng trong phục hồi tính thẩm mỹ cho khuôn mặt.

    Sự biến dạng của khuôn mặt bên ngoài do gãy xương, sự biến dạng trong khuôn miệng, vòm họng và sự ảnh hưởng dập nát của các mô mềm xung quanh bên ngoài có thể được xem xét kỹ càng để áp dụng các phương pháp kéo nắn hoặc may chỉ. Bên cạnh đó còn đánh giá khả năng dập nát phần mềm để phòng ngừa nguy cơ nhiễm trùng cao có thể xảy ra.

    Khi chụp X-quang chuẩn đoán gãy xương hàm Le Fort I sẽ tiến hành chụp phim sọ thẳng và sọ nghiêng để phát hiện chính xác đường gãy, đối với chụp X-quang chuẩn đoán gãy xương hàm Le Fort II thực hiện 4 kiểu chụp X-quang gồm: chụp X-quang Blondeau, X-quang Hirtz, X-quang phim sọ thẳng và X-quang sọ nghiêng. Đối với X-quang chuẩn đoán gãy xương hàm Le Fort III gồm 5 kiểu chụp X-quang: chụp X-quang Blondeau, chụp X-quang Hirtz, chụp X-quang phim sọ thẳng, chụp X-quang sọ nghiêng và chụp X-quang cắt lớp vi tính (Scanner).

    Điều trị gãy xương hàm trên

    Đối với gãy xương hàm trên thì dễ gây ra sự tắc đường thở gây ngạt do chảy máu nhiều hoặc tình trạng xuất huyết trong nên các phương pháp kiểm soát và sơ cứu cầm máu, thông đường thở cho bệnh nhân là hết sức quan trọng và cấp thiết. Sau khi đã thông và đảm bảo đường thở an toàn cho tính mạng của nạn nhân thì các phương pháp chống nhiễm trùng phải được áp dụng lập tức trước khi tiến hành bất cứ phương pháp điều trị bảo tồn không phẫu thuật hoặc phẫu thuật nào.

    Để tiến hành chống nhiễm trùng các bác sỹ sẽ tiến hành tiêm huyết thanh phòng uốn ván, huyết thanh giải mẫn cảm và các loại kháng sinh phòng và điều trị nhiễm trùng. Sau khi tiến hành xong hai bước trên thì mới áp dụng các phương pháp điều trị khác cụ thể:

  • Các phương pháp điều trị bảo tồn bao gồm: Nắn chỉnh theo khớp cắn trung tâm bằng tay hoặc dây thép tạm thời; nắn chỉnh bằng máng chỉnh hình; phương pháp liên hoàn Stout kéo chỉnh liên tục bằng cao su; phương pháp kéo qua xông Nélaton luồn qua mũi họng hoặc sử dụng bộ dụng cụ ngoài.
  • Phương pháp điều trị phẫu thuật: Thông thường sau khi tiến hành điều trị bảo tồn đã liền xương thì áp dụng các phương pháp điều trị chuyên sâu phẫu thuật gồm có phẫu thuật treo xương hàm vào gò má; phẫu thuật cố định bằng cung Tiguerstedt, phẫu thuật cố định bằng cung Ginested, phẫu thuật treo xương hàm vào mấu mắt ngoài của xương trán.
  • 【#5】Tác Dụng Của Máy Xông Hơi Đối Với Sức Khỏe Con Người  

    Áp lực công việc khiến bạn mệt mỏi, bạn bị mỏi cơ sau những giờ học tập, chơi thể thao. Một liệu pháp giúp bạn thư giãn nhanh chóng đó chính là xông hơi.

    Bạn có thể đến các phòng xông hơi tập thể, hoặc các spa chăm sóc sức khỏe, nhưng những việc này thường gây tốn kém, và khá mất thời gian. Nhưng bây giờ thì không cần phải lo lắng nữa vì bạn đã có thể sử dụng máy xông hơi tại nhà.

    Tác dụng thần kì đến từ việc xông hơi cơ thể

    Xông hơi cơ thể có tác dụng trực tiếp đến sức khỏe của chúng ta, góp phần cải thiện tình trạng căng thẳng, hơi nóng tác động lên hệ thần kinh làm tăng nhanh quá trình chuyển hóa trao đổi chất trong cơ thể, làm giảm mệt mỏi. Không chỉ vậy, liệu pháp xông hơi còn giúp giảm béo.

    Tác dụng xông hơi không chỉ tốt đối với làn da mà còn có tác dụng đối với vóc dáng. Với lượng nhiệt lớn, tỏa ra trong quá trình xông hơi có tác dụng đốt cháy mỡ thừa hiệu quả. Bạn nên kết hợp xông hơi và thoa các loại tinh dầu giảm béo như gừng, oải hương… hoặc muối biển, đá muối Himalaya để đem lại tác dụng hiệu quả hơn. Việc tiện lợi của sử dụng máy xông hơi sẽ giúp bạn có một sức khỏe tốt hơn.

    Các hương liệu sử dụng trong máy xông hơi

    Đầu tiên những loại lá thường dùng trong xông hơi trị chính là lá ngải cứu, lá chanh, sả, bưởi, hoa cúc, hồng khô, tinh dầu thơm. Ngoài ra còn có thêm lá tre, lá hương nhu, lá khế, lá xương sông. Công dụng của mỗi loại lá khác nhau nhưng khi kết hợp tất vào cùng một loại nước xông hơi lại mang đến hiệu quả giải cảm, giữ ấm cơ thể rất tốt.

    Lá tía tô có chứa các chất giúp ra mồ hôi, giải phóng chất độc tích tụ trong cơ thể, tái tạo các mô tế bào. Việc xông hơi bằng lá tía tô sẽ đẩy nhanh việc hấp thụ các tinh dầu này tốt nhất.

    Lắp đặt máy xông hơi tại nhà

    Hiện nay có khá nhiều dòng máy xông hơi chất lượng tốt, có xuất xứ nhập khẩu từ nước ngoài, công suất mỗi loại khác nhau như HP, Coast, Havia hay Amazon được sử dụng cho các phòng xông hơi gia đình. Mỗi loại sẽ có mức giá, ưu điểm khác nhau. Ví dụ như dòng Coast nhập khẩu châu Âu thì có độ bền cao hơn, ổn định hơn và tuổi thọ cao. Dòng máy Amazon lại có mức giá vừa phải, chất lượng ổn định, bảo hành 12 tháng…

    Máy xông hơi có rất nhiều tiện lợi so với việc tự đi đến các cơ sở spa hay phòng xông hơi công cộng. Vừa đảm bảo được vệ sinh, lại không mất thêm phụ phí đi kèm. Đây chính là một lựa chọn hoàn hảo dành cho gia đình bạn.

    【#6】★ Các Loại Sữa Similac Cho Trẻ Từ 1 Đến 3 Tuổi Của Abbott Hoa Kỳ

    Từ giai đoạn 1 đến 3 tuổi là thời điểm bé cần bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng để đáp ứng được nhu cầu phát triển cực kỳ quan trọng của mình. Đây cũng là thời gian bé bắt đầu tập đi, tập nói cũng như bắt đầu có những tò mò, mong muốn nhất định. Vì vậy nguồn dinh dưỡng trong giai đoạn này giúp bé phát triển một cách toàn diện từ trí não, cân nặng, chiều cao, hệ miễn dịch, sức đề kháng cũng như thị giác…Chính vì vậy abbott hoa kỳ đã nghiên cứu và tạo ra 3 loại sữa similac cho trẻ từ 1 đến 3 tuổi cực kỳ tốt mẹ nên sử dụng cho bé dưới đây.

    Sữa sữa similac cho trẻ từ 1 đến 3 tuổi Abbott Grow 3

    Sữa similac cho trẻ từ 1 đến 3 tuổi Abbott Grow 3 là một trong những công thức sữa tuyệt vời nhất cho bé bổ sung chất dinh dưỡng được nghiên cứu bởi các nhà khoa học của Abbott. Uống sữa Grow 3 bé sẽ luôn có được một cơ thể khỏe mạnh, chiều cao phát triển và luôn học hỏi, sáng tạo cũng như luôn năng động trong mọi thời gian.

    Abbott Grow 3 có chứa GOS giúp tăng cường sức đề kháng cho hệ tiêu hóa của trẻ. Ngoài ra sữa còn bổ sung rất nhiều các dưỡng chất như vitamin C and E, Fe, kẽm,… cho trẻ có được một hệ miễn dịch khỏe khoắn ngay từ bé. Chưa dừng lại ở đó sữa còn chứa một lượng vitamin D và canxi cao cùng hàm lượng chất béo quan trọng sẽ bổ sung canxi tốt nhất cho xương khớp cũng như răng bé chắc khỏe hơn.

    Sữa similac cho trẻ từ 1 đến 3 tuổi – Similac IQ  Plus 3

    Dòng sản phẩm sữa sữa similac cho trẻ từ 1 đến 3 tuổi này nằm trong sản phẩm IQ Plus với điểm đặc biệt là hệ dinh dưỡng Intelli-pro giúp cải tiến và phát triển trí não cũng như thị giác cho con trẻ một cách tốt nhất.

    Hệ dưỡng chất Intelli-pro là một trong những sự kết hợp tuyệt vời nhất của DHA và Lutein vốn là thành phần quan trọng giúp phát triển não bộ và thị giác. Ngoài ra sữa Similac IQ  Plus 3 còn chứa các thành phần AA, Phospholipid, Taurine, Choline, Acid Folic, Omega-3, Omega-6, I ốt,… Giúp bé có được một sự khởi đầu tuyệt vời nhất.

    Sữa similac cho trẻ từ 1 đến 3 tuổi này chứa hệ dưỡng chất Tummy Care bao gồm các chất đạm dễ tiêu và hàm lượng lactose ít hơn so với các loại sữa thông thường giúp hệ tiêu hóa của bé ổn định và làm việc tốt hơn. Ngoài ra hàm lượng chất béo không chứa dầu cọ giúp bảo vệ đường ruột cũng như tăng cường khả năng hấp thụ can xi, DHA.

    Với 3 loại Sữa similac cho trẻ từ 1 đến 3 tuổi trên đây mẹ có thể hoàn toàn yên tâm để con phát triển toàn diện nhất về cả thể chất lẫn trí não.

    ~~~

    Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng táo bón của trẻ. Nhưng mẹ đừng quá lo lắng. Khảo sát mới đây được thực hiện với 500 bà mẹ trên webtretho cho thấy, mẹ đã áp dụng được những cách rất khoa học để giúp trẻ vượt qua táo bón. Đặc biệt, việc cân bằng hệ vi sinh đường ruột với những dưỡng chất vàng trong sữa cho trẻ sơ sinh cho thấy hiệu quả rõ nét khi giúp hệ tiêu hóa của trẻ “mát” và khỏe mạnh hơn.

    Đừng bỏ qua các dưỡng chất này trong sữa cho trẻ sơ sinh, nếu muốn trẻ có hệ tiêu hóa khỏe mạnh

    Mẹ nên lưu ý thêm một yếu tố quan trọng là khi chọn các thực phẩm dinh dưỡng hoặc sữa cho trẻ sơ sinh, không nên chọn các sản phẩm có chứa thành phần dầu cọ Olein vì đây chính là một trong các nguyên nhân làm phân bé cứng lại, gây táo bón. Theo tiến sĩ Pedro Alarcon (bác sĩ Nhi khoa Tiêu hóa, Chicago, Mỹ), chính thành phần dầu cọ Olein trong một số loại sữa công thức là nguyên nhân dễ gây táo bón cho bé. Chọn cho bé các sữa không chứa dầu cọ Olein, bé dễ đi ngoài hơn, đi ngoài nhiều lần với phân mềm hơn.

    Thêm vào đó, mẹ nên đọc kỹ thành phần sữa trên nhãn sữa ở mục dầu thực vật, vì các loại dầu khác nhau có giá trị dinh dưỡng khác nhau. Dầu cọ rẻ, lại dễ bảo quản nên hay được các nhà sản xuất sữa thêm vào sữa; dầu hướng dương, dầu đậu nành có giá trị dinh dưỡng cao nhưng đắt và khó bảo quản nên ít được dùng.

    Nhưng nhiều nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh bé dùng sữa không chứa dầu cọ có tỷ lệ táo bón chỉ bằng 50% và hấp thu canxi cao hơn 53% so với sữa chứa dầu cọ. Vì dầu cọ có nhiều acid palmitic, chúng kết hợp với canxi trong sữa tạo thành xà phòng canxi không tan, không hấp thu được và làm phân cứng.

    Nếu nhãn sữa chỉ ghi chung chung “dầu thực vật” thì khả năng cao là có chứa dầu cọ, còn nếu ghi chi tiết các loại dầu và không có dầu cọ như Similac thì chính là loại sữa tốt cho đường tiêu hóa, bé hấp thu tốt và ít bị táo bón.