Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Thể Dục

--- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Kiểm Tra Đánh Giá Kết Quả Học Tập Của Học Sinh
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Văn Học Theo Hướng Phát Triển Năng Lực Người Học
  • Đổi Mới, Sáng Tạo Trong Dạy Và Học Môn Ngữ Văn
  • Chuyên Đề Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học, Đổi Mới Kiểm Tra Đánh Giá Môn Ngữ Văn 8 Của Cô Giáo Lê Thị Hồng Đăng
  • Tại Sao Cần Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học ?
  • Đổi mới phương pháp dạy học môn Thể dục

    Theo đó, việc sử dụng triệt để điều kiện sân bãi, dụng cụ trang thiết bị hiện có để giảng dạy.

    Phối hợp các phương pháp dạy học theo hướng tích cực để tăng hiệu quả dạy học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và các phương tiện khác để cập nhật, nắm bắt thông tin hỗ trợ bài dạy. Giáo viên tích cực sử dụng các bài tập bổ trợ làm phong phú nội dung bài dạy.

    Không nhất thiết mọi tiết đều phân nhóm tập luyện

    Không nhất thiết tiết học nào cũng phân nhóm tập luyện mà tùy theo nội dung của từng bài học, điều kiện vật chất hiện có của nhà trường để tổ chức phân nhóm tập luyện phù hợp đem hiệu quả cao.

    Khi tập luyện theo nhóm, giáo viên cần hướng dẫn rõ nội dung tập luyện từng nhóm, chọn vị trí thích hợp quan sát bao quát được các nhóm để điều chỉnh trong tập luyện khi cần.

    Phát huy tính tích cực học sinh

    Trong giờ học, giáo viên nên tạo mối quan hệ thân thiện, gần gũi giữa thầy và trò; tìm những ưu điểm học sinh để tuyên dương động viên tạo phấn khởi tập luyện, hạn chế tìm những khuyết điểm chê bai gây ức chế hoặc tạo chán nản của học sinh; quan tâm nhiều hơn đối tượng học sinh yếu kém, học sinh bị ốm, bệnh hoặc thiểu năng vận động.

    Tiếp tục thực hiện mẫu giáo án theo nhiều cột dễ hiểu, khuyến khích giáo viên soạn giáo án bằng máy tính (khi lên lớp giáo viên phải có giáo án); nếu dạy ghép 2 tiết, giáo viên soạn ghép nội dung của 2 tiết nhưng không quá 4 phân môn (nội dung)/giáo án, kể cả nội dung chạy rèn sức bền.

    Giáo án phải thể hiện rõ các thông tin: Tên bài, tiết chương trình, ngày soạn, vật dụng chuẩn bị… và các bước chủ yếu trong công việc của giáo viên và học sinh ở trên lớp (giáo án là một bản thiết kế của giáo viên về bài giảng).

    Khi lên lớp gặp điều kiện bất lợi, giáo viên có thể linh động nội dung theo điều kiện cụ thể cho phép để giảng dạy đạt hiệu quả cao.

    QUẢN NHIỆM 9 – VĂN NHẬT

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Cáo Tổng Kết Đánh Giá Các Phương Pháp Đổi Mới Dạy …
  • Skkn Phát Huy Tính Tự Giác, Tích Cực Của Học Sinh Thông Qua Học Môn Thể Thao Tự Chọn Bóng Chuyền
  • Skkn Giải Pháp Đưa Môn Bóng Chuyền Hơi Vào Giảng Dạy Cho Học Sinh Khối 10 Trường Thpt Vĩnh Lộc Nhằm Giúp Học Sinh Hứng Thú Hơn Khi Học Thể Thao Tự Chọn
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Nghiên Cứu Nhằm Phát Triển Môn Bóng Chuyền Thông Qua Việc Dạy Nội Dung Thể Thao Tự Chọn Ở Trường Thcs
  • Áp Dụng Phương Pháp Stem Trong Dạy Hóa Học Như Thế Nào?
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Thể Dục Trong Nhà Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Người Học
  • Những Thuận Lợi Và Khó Khăn Khi Áp Dụng Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Đối Với Các Lớp Tcllct
  • Sợ Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học
  • Tập Huấn Đổi Mới Ppdh
  • Những Khó Khăn Trong Dạy Học Theo Hướng Tiếp Cận Năng Lực
  • A. PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Đảng và nhà nước luôn luôn luôn quan tâm tới công tác Thể dục thể thao nói chung và giáo dục thể chất trong nhà trường nói riêng. Coi sức khoẻ là vốn quí nhất của con người. Bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất là phải xây dụng thế hệ trẻ nước ta thành những con người có đủ bản lĩnh, phẩm chất và năng lực để kế thừa và phát huy những thành tựa và truyền thống vẻ vang của dân tộc để đưa đất nước ta phát triển hội nhầp với cộng đồng quốc tế. Để giúp cho thế hệ trẻ phát triển toàn diện nhiều mặt trong đó có một mặt quan trọng và tất yếu là chăm lo về sức khoẻ và thể lực, không những là nhu cầu của bản thân con người mà là vốn quí để tạo tài sản vật chất cho xã hội. Song song với chương trình giảng dạy các môn khoa học trong nhà trường, nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản, có hệ thống các môn khoa học tự nhiên, xã hội và khoa học kỹ thuật, việc giáo dục thể chất trong nhà trường có vai trò hết sức quan trọng giúp cho học sinh phát triển một cách toàn diện về đức,trí, thể, mỹNgoài ra còn giúp cho các em hiểu được một số kiến thức, kĩ năng cơ bản để tập luyện giữ gìn sức khoẻ, năng cao thể lực, góp phần rèn luyện nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, thói quen tự giác tập luyện TDTT. Xuất phát từ thực tế giảng dạy của bản thân, từ đặc điểm của việc dạy học môn thể dục ở trường Trung học cơ sở, tôi nhận thấy vấn đề "Đổi mới phương pháp dạy học môn thể dục trong nhà trường Trung học cơ sở" là hết sức thiết thực, bổ ích và tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài này. 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Giúp cho giáo viên cải thiện một số phương pháp trong quá trình giảng dạy thể dục nhằm đưa lượng vận động, thời gian tập luyện của học sinh tăng lên.Đề tài còn tháo gỡ những khó khăn mà giáo viên dạy thể dục dễ mắc phải, đó là việc vi phạm về thời gian ( bởi nội dung học thì nhiều mà thời gian một tiết chỉ có 45 phút). Vì vậy đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu và lựa chọn phương pháp, hình thức dạy - hoc thật hợp lý, đảm bảo về kiến thức, kĩ năng, đảm bảo đủ lượng vận động và số lần tập luyện . Đề tài này hết sức cần thiết không những đối với cá nhân tôi mà còn với tất cả giáo viên giảng dạy bộ môn thể dục ở trường THCS nói chung. 3. ĐÓNG GÓP MỚI VỀ MĂT LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Phương pháp dạy học: là cách thức hoạt động của thầy và trò nhằm đạt được mục tiêu Dạy - Học. Phương pháp dạy học mang tính tích cực, độc lập, sáng tạo. Cần chú ý đến hai yếu tố: Học sinh phải được học trong không khí vui vẻ, phấn khởi, học mà chơi, chơi mà học, học sinh phải được tự do tìm hiểu, suy nghĩ, khám phá và tự tìm tòi ra kiến thức của bài hoc dưới sự dẫn dắt của giáo viên. - Như chúng ta đã biết, thời gian công tác càng lâu thì kinh nghiệm giảng dạy và giáo dục càng được nâng cao thì thể lực càng bị giảm sút theo qui luật của tự nhiên của con người, năng lực làm mẫu động tác bị hạn chế. Để khắc phục sự hạn chế đó, người giáo viên thể dục phải không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình, đặc biệt là trình độ lí luận về phương pháp khoa học và phương pháp tổ chức. - Đổi mới phương pháp dạy học xuất phát từ nhu cầu đổi mới sâu sắc nền kinh tế xã hội đang diễn ra trên đất nước ta. Công cuộc đổi mới này này cần những người có bản lĩnh, có năng lực chủ động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, thích ứng với cuộc sống xã hội đang từng ngày đổi mới. Thực tiễn này phải làm cho mục tiêu dạy học phải điều chỉnh kèm theo sự thay đổi về nội dung và phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học được hiểu là đưa ra phương pháp dạy học mới vào nhà trường trên cơ sở phát huy tính tích cực của phương pháp truyền thống để nâng cao chất lượng dạy học, nâng cao hiệu quả đào tạo của giáo dục. - Đổi mới phương pháp dạy học phải thiết thực góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục học sinh THCS, tạo điều kiện và khuyến khích học sinh tự giác học tập, phát huy và vận dụng kiến thức trong bài học vào thực hành luyện tập. Làm được như vậy sẽ phát huy được tính tích cực chủ động, sáng tạo của từng học sinh, rèn luyện cho các em trở thành những con người có đủ năng lực, sức khoẻ để tiếp tục học lên Phổ thông trung học hoặc bước vào cuộc sống. . 4. TỔ CHÚC NGHIÊN CỨU - Thời gian: Từ tháng 8 năm 2011 đến tháng 3 năm 2012 - Đối tượng nghiên cứu : Học sinh khối 8, khối 9 Trường THCS Đức Hiệp - Địa điểm nghiên cứu : Tại Trường THCS Đức Hiệp B/ PHẦN II : NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Hơn 10 năm qua, thực hiện đổi mới chương trình sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy bậc THCS chất lượng giảng dạy trong nhà trường đã và đang từng bước đạt hiệu quả rõ rệt. Giáo viên đã quen dần với những khái niệm " Tích cực hoá hoạt động của trò" trong việc lựa chọn phương pháp cũng như thiết kế bài dạy nhằm khơi dậy hứng thú và phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh. Thầy và trò đều chủ động trong việc tổ chức giờ học cũng như tiếp thu kiến thức. Với đặc trưng của bộ môn thể dục nhằm giáo dục thể chất, nâng cao thể lực cho học sinh, nên việc đổi mới phương pháp ngoài mục tiêu tạo tiết học hứng thú, sôi nổi, hiệu quả còn rèn cho học sinh những kĩ năng cơ bản để tập luyện, giữ gìn sức khoẻ, nâng cao thể lực, góp phần rèn luyện nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, thói quen tự giác tập luyện TDTT, giữ gìn vệ sinh. Chính vì vậy việc chuẩn bị cho giờ dạy phải hết sức hợp lí, khoa học, tạo cho trò tâm lí thoả mái, tự tin, yên tâm khi bước vào giờ học là điều hết sức cần thiết. Đó là yêu cầu không khó song nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố : Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho học tập, đặc biệt ý thức, trách nhiệm của người thầy đối với bài dạy. 1.2 CÁCH THỰC HIỆN - Trước khi thực nghiệm một số bài tập và phương pháp mới tôi tiến hành kiểm tra thực trạng ban đầu tiêu chuẩn rèn luyện thân thể của học sinh gồm những nội dung sau: - Chạy 60m (s) - Bật xa (cm) - Nhảy cao (m) - Chạy 500m (ph,s) Thành tích để xếp loại học sinh áp dụng bảng TIÊU CHUẨN RÈN LUYỆN THÂN THỂ (Áp dụng cho HS THCS) BẢNG 1 :KẾT QUẢ KIỂM TRA BAN ĐẦU Nội dung KT Mức xếp loại Kết quả kiểm tra (%) Khối 8 Khối 9 - Chạy 60m (s) - Nhảy xa (m) - Nhảy cao (m) - Chạy 500m (ph,s) ĐẠT 40,7% 42,8% - Chạy 60m (s) - Nhảy xa (m) - Nhảy cao (m) - chạy 500m (ph,s) KHÁ 22,3% 25,7% - Chạy 60m (s) - Nhảy xa (m) - Nhảy cao (m) - Chạy 500m (ph,s) GIỎI 14,5% 18,5% Sau khi kiểm tra tôi thấy tỉ lệ đạt TCRLTT của học sinh còn rất thấp. Là giáo viên chưa có nhiều kinh nghiệm giảng dạy nhưng với sự cố gắng nhiệt tình tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi và qua thực tế giảng dạy, tôi mạnh dạng đưa ra một vài suy nghĩ của mình làm thể nào để dạy và học môn thể dục đạt kết quả cao. CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Một số giải pháp đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng 2.1.NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU CHUYÊN MÔN - Không ngừng nghiên cứu tài liệu chuyên môn nghiệp vụ mang tính chất khoa học và lí luận nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết về chương trình, cấp học và bậc học, từ đó đưa ra giải pháp phù hợp đối với đối tượng học sinh tại trường mình. 2.2 THAM KHẢO TÀI LIỆU LIÊN QUAN - Nghiên cứu các tài liệu về sự phát triển tâm sinh lí lứa tuổi học sinh bậc THCS để có cách nhìn nhận đúng đắn, từ đó tìm ra phương pháp giáo dục phù hợp, có hiệu quả. 2.3 HỌC TẬP BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN - Không ngừng học tập trau dồi kiến thức chuyên môn thông qua các nội dung học tập, bồi dưỡng thường xuyên, tập huấn thường kì do các cấp tổ chức. 2.4 DỰ GIỜ HỌC HỎI - Tích cực dự giờ, học hỏi, rút kinh nghiệm từ đồng nghiệp, nhất là những đồng nghiệp có kiến thức, chuyên môn vững vàng, tham dự các chuyên đề và các hội nghị tập huấn do cụm, trường, phòng giáo dục tổ chức. Ghi chép tích luỹ những kinh nghiệm học tập được từ bạn bè đồng nghiệp và qua các thông tin đại chúng. Trong trường thường xuyên dự giờ các giáo viên có cùng chuyên môn, ngoài ra còn dự giờ các giáo viên khác để học hỏi thêm về phương pháp tổ chức các hoạt động, cách sử dụng đồ dùng, cách sử lí tình huống sư phạm 2.5.VẬN DUNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP - Nghiên cứu kĩ tài liệu giảng dạy, vận dụng linh hoạt và sáng tạo các phương pháp dạy học tích cực. -Việc đổi mới phương pháp giảng dạy học sẽ đem lại những tác động rất lớn, thường để lại những ấn tượng sâu sắc trong nhận thức và tình cảm của học sinh. Nó kích thích sự say mê, hứng thú luyện tập đối với môn thể dục, học sinh tích cực tập luyện thu được những tri thức mới, hình thành những kĩ năng, kĩ xảo vận động, vận dụng được vào thực tiễn cuộc sống những phưong pháp hay, những hình thức tổ chức hấp dẫn sẽ không dễ phai mờ trong kí ức học sinh. -Song song với việc thực hiện nghiêm túc những nội dung đã được qui định trong chương trình, giáo viên cần nghiêng cứu và vận dụng đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới các hình thức tổ chức hoạt động trên lớp sao cho khoa học, linh hoạt, sáng tạo, một trong các hướng đó là: 2.5.1. Chuẩn bị và soạn bài. *. Chuẩn bị: - Nghiên cứu tài liệu, sách giáo viên và hướng dẫn giảng dạy để xác định mục tiêu của bài dạy, nội dung của tiết học trên cơ sở đó xác định việc chuẩn bị đồ dùng, dụng cụ, sân bãi cho chu đáo và phù hợp. - Nghiên cứu tài liệu, sách giáo viên và hương dẫn giảng dạy để xác định mục tiêu của bài dạy, nội dung của tiết học trên cơ sở đó xác định việc chuẩn bị đồ dùng, dụng cụ, sân bãi. - Nghiên cứu để vận dụng các hình thức tổ chức, các phương pháp dạy học cho phù hợp với tiết dạy. *. Bài soạn: - Bài dạy cần soạn trước ít nhất hai ngày để có sự chuẩn bị đồ dùng và nhắc nhở học sinh những nội dung cần thiết. Bài soạn phải thể hiện rõ ràng, khoa học, chính xác các hoạt động của thầy và trò trong việc đổi mới phương pháp dạy học. - Hệ thống câu hỏi dẫn dắt gợi mở, lôgic, dễ hiểu, thu hút được sự quan tâm chú ý của học sinh, tránh hỏi câu hỏi quá dài, câu hỏi đóng, cần dự kiến và phân loại câu hỏi đúng với từng đối tượng học sinh, câu hỏi dễ dành cho học sinh yếu và trung bình, câu hỏi khó đào sâu suy nghĩ dành cho học sinh khá, giỏi. - Bài soạn cần thể hiện rõ các hoạt động với thời gian và khối lượng vận động, người chỉ đạo hoạt động do giáo viên hay cán sự lớp, tổ trưởng, nhóm trưởng. Ví dụ: Bài tiết 58 - Lớp 8 ,Trong phần cơ bản, hoạt động ôn động tác nhảy cao NỘI DUNG Định lượng HOẠT ĐÔNG CUA THẦY - TRÒ 1. Nhảy cao: a. Ôn động tác bổ trợ : - Bật cao bằng 2 chân 3 nhịp và 5 nhịp, nhịp cuối bật cao co chân -Chạy đà - đặt chân vào điểm giậm nhảy.Giậm nhảy đá lăng b.Học giai đoạn qua xà và tiếp đất -Chạy đà giậm nhảy qua xà thấp - Phối hợp 4 giai đoạn nhảy cao 15phút 5 phút 2-4lần 2-3lần 10phút 2-3lần 2-3lần - Giáo viên chỉ đạo lớp thực hiện: - Tổ 3 và tổ 4 đứng tại chỗ bật cao bằng 2 chân 3 nhịp và 5 nhịp, nhịp cuối bật cao co chân. -Tổ 1 và tổ 2: Tập bổ trợ đà ba bước giậm nhảy đá lăng, chạy đà đặt chân vào điểm giậm nhảy, giậm nhảy đá lăng. - Chú ý: Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện kết hợp với quan sát cả nhóm tổ 3 và 4. Sau 2-5 phút đổi nội dung, thực hiện giữa hai nhóm. - Giáo viên làm mẫu động tác hoặc cho hs quan sát tranh vẽ kĩ thuật - Giáo viên chỉ đạo lớp thực hiện: -Chạy đà giậm nhảy qua xà thấp sau đó nâng dần mức xà lên cao -GV nhắc nhỡ và sữa sai cho hs. 2.5.2. Các biện pháp thực hiện trên lớp: 2.5.2.1. Khâu kiểm tra - Cần kiểm tra độ an toàn của sân tập, hồ cát, đệm nhảy, sào nhảy... và kiểm tra sự chuẩn bị trang phục của học sinh, đồ dùng tập luyện. Đây là khâu quan trọng vì nếu không kiểm tra kĩ thì giáo viên sẽ không làm chủ được tiết dạy, độ an toàn của việc tập luyện không cao, tâm lí học sinh không thật sự vững vàng khi bước vào giờ học. 2.5.2.2. Giải thích kĩ thuật động tác cần ngắn gọn, chính xác. 2.5.2.3. Phối hợp khởi động và bổ trợ - Thông thường giáo viên cho học sinh tập bài khởi động, tiếp đến là bài tập bổ trợ cho nội dung bài học. Khi thực hiện như vậy sẽ làm mất thời gian, vì vậy giáo viên có thể cho học sinh kết hợp hai bài tập thành một. Để làm được điều này giáo viên cần căn cứ vào từng loại hình của bài dạy để chọn những động tác vừa có tác dụng khởi động, vừa có tác dụng bổ trợ cho các động tác chính mà học sinh sẽ học tiếp ngay sau đó. Ví dụ: Khi dạy nội dung: Chạy đà kết hợp với giậm nhảy của nhảy xa. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tập luyện như sau: Khởi động làm linh hoạt các khớp xương. Chạy nhẹ nhàng và xác định chân giậm nhảy. Giáo viên cho học sinh chạy nhẹ nhàng, khi tới vạch giới hạn thì giậm nhảy bật qua. Sau một số lần học sinh sẽ xác định được đúng chân giậm nhảy là chân phải hay chân trái. Tiếp theo cho học sinh chạy nhẹ nhàng ba bước giậm nhảy bật đi xa. Sau đó cho học sinh chạy nhẹ nhàng bật nhảy lên cao về phía trước, chạm vật chuẩn trên cao. 2.5.2.4. Kết hơp làm mẫu của giáo viên với việc sử dụng tranh kĩ thuật. - Việc làm mẫu của giáo viên có tầm quan trọng đặc biệt và không thể thiếu khi lên lớp, nếu không làm mẫu chuẩn thì học sinh sẽ không nắm được kĩ thuật dẫn đến việc tập luyện sẽ không chính xác, đặc biệt là khi dạy kĩ thuật mới. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân: trình độ chuyên môn, sức khoẻ, năng khiếu thể thao của giáo viên... nên việc làm mẫu của giáo viên còn gặp nhiều hạn chế nhất định như: làm mẫu không chuẩn, không dứt khoát, không rõ kĩ thuật. Để khắc phục những hạn chế đó, giáo viên có thể sử dụng tranh ảnh kĩ thuật giới thiệu và phân tích để học sinh nhận biết kĩ thuật, động tác dễ hơn. Mặt khác, học sinh vừa học vừa đối chiếu với hình vẽ để tự sửa chữa những kĩ thuật còn chưa đúng của mình. Nhưng cũng không nên lạm dụng tranh vẽ, mà phải suy nghĩ và tính toán xem sử dụng tranh kĩ thuật vào thời điểm nào, sử dụng như thế nào để phát huy được tác dụng của tranh kĩ thuật, học sinh có ấn tượng sâu và có hứng thú trong quá trình học tập. Ví dụ: Tiết 39 - Nhảy xa - Lớp 8 Trong phần cơ bản, khi giáo viên giảng giải, phân tích kĩ thuật động tác nhảy xa sẽ kết hợp tranh kĩ thuật để học sinh nắm chắc tư thế và động tác. Hình 1: Giai đoạn giậm nhảy Hình2: Kỹ thuật đặt chân vào ván giậm nhảy 2.5.2.5. Tổ chức lên lớp phải thực sự khoa học. Việc tổ chức học sinh luyện tập là khâu quan trọng và then chốt. Những tiết dạy của giáo viên chưa thành công cũng phần lớn là do khâu tổ chức luyện tập cho học sinh còn yếu. Các nhóm tổ hoạt động không thường xuyên, giáo viên phân việc chưa khoa học hoặc giáo viên không có kĩ năng bao quát, quản lí học sinh... Điều đó làm ảnh hưởng tới chất lượng, hiệu quả của bài dạy, và như vậy kĩ năng vận động không thành, thể lực cũng không đạt. Do vậy, ngay từ khi soạn bài, chuẩn bị cho bài lên lớp giáo viên phải tính đến khâu tổ chức luyện tập thực sự khoa học, thể hiện ở những nội dung sau: Vị trí luyện tập để học sinh quan sát được tranh kĩ thuật hay người làm mẫu, đứng cách nhau bao nhiêu để không ảnh hưởng đến nhóm, tổ khác. Đội hình tập luyện: Xếp chữ U, hàng ngang, vòng tròn là tuỳ theo từng nội dung của từng bài, từng hoạt động. Học sinh tập luyện theo nhóm lớn, nhóm nhỏ, đồng loạt hay luân phiên, động viên tất cả các em tham gia tập luyện, những em có năng khiếu kèm cặp,giúp đỡ những em tiếp thu chậm, nhút nhát. Có những nội dung chỉ phù hợp với nhóm nhỏ, nhưng có những hoạt động tổ chức cả lớp lại đạt hiệu quả, có hoạt động tổ chức theo vòng tròn hay nhóm thì mới đạt hiệu quả cao. Sau đây tôi xin đưa ra một số đội hình mà giáo viên hay sử dụng trong giảng dạy Hình3: Đội hình vòng tròn Hình4: Đội hình hàng ngang Hình 5: Đội hình hàng ngang Hình 6: Đội hình dòng chảy Hình 7:Đội hình chia nhóm tập luyện Hình 8: Đội hình chạy nhanh Hình 7 : Đội hình tập đá cầu Hình 8: Đội hình trò chơi chạy tiếp sức con thoi Việc sử dụng đồ dùng thiết bị cũng cần cân nhắc kĩ, sử dụng thiết bị, đồ dùng nào, số lượng bao nhiêu, sử dụng vào thời điểm nào là thích hợp. Nếu tiết dạy mà chuẩn bị tốt những điều nêu trên đảm bảo sẽ thu được kết quả cao, tiết dạy có chất lượng, học sinh nắm chắc kiến thức và kĩ năng. 2.5.2.6. Tổ chức trò chơi. Thường xuyên tổ chức các trò chơi để gây hứng thú học tập. Giáo viên nghiên cứu kĩ các hoạt động và chuyển một số hoạt động thành trò chơi để thay đổi không khí học tập. Ví dụ: Trong tiết dạy 50 - lớp 8: Nhảy xa - TTTC - Chạy bền. Trò chơi "Bật cóc tiếp sức" được tổ chức vào cuối tiết học. Sau phần cơ bản nhằm mục đích phát triển sức mạnh, thể lực và gây hứng thú cho học sinh. 2.6.SỬ DỤNG TỐT ĐỒ DÙNG THIẾT BỊ VÀ TẬN DỤNG ĐIỀU KIỆN SÂN BÃI CỦA TRƯỜNG HỌC - Muốn sử dụng tốt đồ dùng, thiết bị trong môn thể dục, một điều cũng rất quan trọng là cần biết trong bộ đồ dùng có những đồ dùng nào sử dụng cho môn thể dục. Cần xem xét một lượt và ghi lại tên của từng loại đồ dùng. Ví dụ: - Đệm nhảy, xà nhảy sử dụng vào tiết 37,38,39,... lớp 9. - Cầu đá sử dụng vào tiết 26,27,28... lớp 8. - Tranh kĩ thuật Xuất phát thấp sử dụng vào tiế 8,9,10. lớp 8 2.7.CÔNG TÁC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ - Việc kiểm tra, đánh giá chiếm vị trí rất quan trọng. Nếu việc kiểm tra, đánh giá không thường xuyên sẽ dẫn đến việc học sinh chủ quan, xem nhẹ và không chú ý học tập và rèn luyện. - Sau mỗi bài, mỗi chương đều có bài kiểm tra, giáo viên cần nghiên cứu kĩ những yêu cầu về kiến thức và kĩ năng của bài đó, chương đó để kiểm tra cho sát kiến thức và đối tượng học sinh. - Trong khi kiểm tra đánh giá, học sinh sẽ cùng giáo viên thẩm định kết quả của bạn bè. - Việc chấm bài cũng rất chặt chẽ theo các mức độ khác nhau chứ không làm qua loa đại khái để đánh giá thực chất học tập, rèn luyện của học sinh. CHƯƠNG III : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ 3.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1.1. Nghiên cứu lí luận: 3.1.2. Nghiên cứu các tư liệu: Sổ sách ghi chép kinh nghiệm về dạy học thể dục. Tự nghiên cứu, tìm hiểu nắm chắc nội dung chương trình - Sách g

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Trường Trung Học Cơ Sở Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Người Học
  • “sử Dụng Đồ Dùng Trực Quan Trong Dạy Học Phần Đất, Phân Bón Môn Công Nghệ 7”
  • Đổi Mới Phuong Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Giáo Dục Mầm Non “trẻ Chơi Mà, Học Mà Chơi”
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Trường Trung Học Cơ Sở
  • Bộ Sách: Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học (6 Cuốn)
  • Đề Tài Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Thể Dục Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Thiết Kế Giờ Dạy Học Theo Định Hướng Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Còn Gặp Nhiều Vướng Mắc?
  • Đổi Mới Ppdh Môn Gdcd Cấp Thcs
  • Tài Liệu Tập Huấn Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Và Đánh Giá Kết Quả Học Tập Môn Giáo Dục Công Dân Trung Học Cơ Sở
  • Thiết Kế Một Giờ Dạy Học Theo Định Hướng Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học
  • SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC I: Thông tin chung về cá nhân: Họ và Tên: Trịnh Thị Nga Ngày Tháng Năm Sinh: 24-10-1972 Nam, Nữ : Nữ Địa chỉ: ấp I - Xã Phú Ngọc - Huyện Định Quán - Tỉnh Đồng Nai Điện Thoại: 06166082120 Chức Vụ : Giáo viên Đơn vị công tác : Trường Tiểu Học Phú Ngọc B II: Trình độ đào tạo: Học vị (trình độ chuyên môn nghiệp vụ) cao nhất : đại học sư phạm Năm nhận bằng : 2008 Chuyên nghành đào tạo: Giáo viên tiểu học III: Kinh nghiệm khoa học: Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm : giảng dạy SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN THỂ DỤC LỚP 5 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Phân môn thể dục cùng với các phần môn khác trong nhà trường, có nhiệm vụ quan trọng hình thành ở người học những nhân cách sốn của con người lao động mới, trong thời đại mới, đáp ứng với mục tiêu giáo dục của Đảng ta đó là đào tạo những con người: Tự chủ - Năng động - Sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra, tự do lập nghiệp và thăng tiến trong cuộc sống. Qua đó góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh. Không những thế, Giáo dục thể chất cho thế hệ thanh niên là một mặt của nền giáo dục tiến bộ, là nhu cầu tất yếu khách quan cho sự tồn tại và phát triển của một xã hội văn minh nói chung và của công cuộc xây dựng XHCN, bảo vệ Tổ quốc nói riêng. Phân môn thể dục còn mang lại cho thế hệ trẻ cuộc sống vui tươi, lành mạnh và tác động mạnh mẽ đến các mặt giáo dục như: Giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ và thẩm mĩ nhằm góp phần đào tạo thế hệ thanh niên Việt Nam thành những người " phát triển các trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức". Do đó làm thế nào để dạy phân môn thể dục trong trường Tiểu học thực sự thu hút được học sinh tập trung chú ý, tích cực tập luyện và tập luyện có hiểu quả, phù hợp với các em là một vấn đề đòi hỏi cần có sự đầu tư, nghiên cứu. Từ thực tế giảng dạy và xuất phát từ mục tiêu trên, đáp ứng được yêu cầu góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy. Chính vì vậy để nâng cao chất lượng giảng dạy tôi đã tìm tòi và chọn đề tài : "Đổi mới phương pháp dạy học môn thể dục lớp 5" II. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI Qua thực tiễn giảng dạy bản thân tôi nhận thấy thực trạng của việc đổi mới phương pháp dạy học thể dục lớp 5 như sau: 1.Thuận lợi: Cùng với việc đổi mới nội dung - chương trình lớp 5, phân môn Thể dục là môn học được thay đổi nhiều về nội dung chương trình và cấu trúc SGK vì nó được xây dựng theo hướng tích cực, tránh sự trùng lập giảm thời lượng học tập lý thuyết, tăng tính tích cực hoá cho học sinh, tăng thời lượng thực hành. Với những ĐDDH sẵn có tạo cho lớp học được sinh dông, học sinh hứng thú học tập, tự chiếm lĩnh được tri thức thông qua việc thực hành quan sát mẫu vật thật, tranh ảnh Đặc biệt lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi rất hiếu động, thích vui chơi chạy nhảy, thích hoạt động chân tay, cho nên môn thể dục là bộ môn mà các em yêu thích nhất. 2.Khó khăn Thực tế trong trường tiểu học hiện nay, mặc dù thời gian biểu cũng như phân lượng thời gian số tiết cho các môn học rất rõ ràng nhưng ở môn thể dục nhiều khi vẫn mang tính chất là môn phụ. Bởi vì thời lượng kiến thức toán và tiến việt rất nhiều nên thời lượng của phân môn thể dục bị cắt giảm thời lượng. Điều kiện sân bãi nhà trường chưa tốt, mùa mưa đôi chỗ nước đọng lầy lội, mùa nắng bụi bẩn,ảnh hưởng đến sức khoẻ của các em nên chưa đáp ứng được nhu cầu môn thể dục. Học sinh tiểu học đa số chưa có trang phục TDTT khi tập luyện. 3. Số liệu thống kê Trước khi thực hiện các giải pháp đề tài, qua khảo sát của đề tài tôi đã thống kê số liệu của lớp 5.1 do tôi trực tiếp giảng dạy vào đầu năm học 2009 - 2010 như sau: Tổng số HS Số học sinh 28 Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành TS % TS % TS % 03 10.7 19 67.4 06 22.0 III.NỘI DUNG ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận Giáo dục thể chất trong nhà trường tiểu học là một bộ phân quan trọng không thể thiếu trong nền giáo dục của nước nhà, toàn bộ sự nghiệp TDTT nói chung. Vì thế giáo dục thể chất trong nhà trường được cụ thể hoá bằng các nhiệm vụ cụ thể sau: Nhiệm vụ bảo vệ và nâng cao sức đề kháng của cơ thể,nâng cao khả năng làm việc trí óc và thể lực. Nhiệm vụ giáo dưỡng: trang bị cho học sinh tri thức, kỹ năng,kỹ xảo vận động cần thiết cho các hoạt động khác nhau trong cuộc sống, rèn luyện nếp sống văn minh lành mạnh, phát triển hứng thú, hình thành thoi quen tự tập luyện Nhiệm vụ giáo dục góp phần tích cực vào việc hình thành thói quen đạo đức, phát triển trí tuệ, thẩm mỹ. Phát hiện và bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu về TDTT. Trên cơ sở đó chương trình thể dục tiểu học đã đề ra mục tiêu quan trọng nhất đó là cũng cố sức khoẻ và phát triển thể lực cho học sinh. Nội dung chương trình thể dục lớp 5 nhằm tiếp tục cho học sinh một số kiến thức, kỹ năng cơ bản về hoạt động, vận động cần thiết trong cuộc sống hằng ngày. Thông qua thực hiện các bài tập động tác để hình thành kỹ năng, rèn luyện các tư thê vận động cơ bản góp phần giữ gìn và nâng cao sức khoẻ, phát triển toàn diện các tố chất thể lực của học sinh bằng các hoạt động tập luyện theo nội dung của môn học, góp phần rèn luyện cho học sinh lối sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn hoạt bát trong tập luyện TDTT vào các hoạt động sinh hoạt ở trong và ngoài nhà trường. Người giáo viên cần đổi mới phương pháp dạy học dể giúp cho học sinh học tập một cách tích cực tạo cho học sinh có thói quen tự giác luyện tập TDTT phát huy tư duy sáng tạo và các tố chất cho học sinh. 2. Nội dung, biện pháp khi thực hiện các giải pháp của đề tài 2.1 Nội dung: Chương trình phân môn thể dục ở bậc tiểu học được phát triển theo hướng đồng tâm từ lớp một dến lớp 5. Chương trình môn thể dục lớp 5 gồm 70 bài trong 35 tuần. *Nội dung gồm 2 phần chính: -Phần quy định gồm : +Đội hình đội ngũ +Bài thể dục phát triển chung +Bài tập rèn luyện tư thế và kỹ năng vận động cơ bản +Trò chơi vận động động -Phần tự chọn: Đổi mới phương pháp dạy học cũng là mục tiêu cấp bách của tất cả các môn học trong trường tiểu học để nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục toàn diện. Giáo viên cần thiết kế các hoạt động cho phù hợp, sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học đảm bảo được mục tiêu, yêu cầu,kiến thức, kỹ năng, thái độ. Biện pháp : a.Phương pháp quan sát - hình thức - nhóm Đối với phương pháp này giáo viên cần cho hoc sinh ứng dụng vào các hoạt động tập thể của nhóm, lớp nhằm rèn luyện các kĩ năng cơ bản và thái độ ý thức rèn luyện. Ví dụ : Bài đi đều vòng phải, vòng trái, đổi chân khi đi đều sai nhịp. (bài 10 SGK trang 57). Gv hướng dẫn hoc sinh : GV cử một nhóm học sinh thực hiện cho cả lớp quan sát các động tác giậm chân đi đều: giáo viên hô khẩu lệnh : giậm chân giậm,học sinh đồng loạt nâng gối chân trái lên cao, tay trái đánh thẳng ra sau, tay phải đánh thẳng về trước cẳng tay gập vuông góc cao ngang ngực, sau đó đặt bàn chân trái chạm đất đúng vào nhịp 1. Tiếp theo dồn trọng tâm vào chân trái, nâng chân phải lên cao đổi chiều đánh của 2 tay, sau đó đặt bàn chân phải chạm đất đúng vào nhịp 2.Động tác lặp đi lặp lại như vậy một cách nhịp nhàngđúng nhịp,mặt hướngvề phía trước và đồng đều.1-2,1-2.1-2. Khẩu lệnh; đứng lại .. đứng! Rơi vào chân phải thì bước thêm một nhịp 1-2, GV đánh giá điểm nào học sinh thực hiện đúng, điểm nào hoc sinh thực hiện chưa đúng. Rút kinh nghiệm để sửa sai. GV chỉ ra cho học sinh thấy được những động tác thường mắc sai sót, những thói quen của học sinh - cách khắc phục nhằm hình thành cho các em kỹ năng hoàn thiện hơn - sau đó GV tiến hành luyện tập cho học sinh luyện tập đồng loạt ở mức dộ chậm , rồi nhanh dần nhằm rèn luyện học sinh, có tác phong nhanh nhẹn trong hoạt động. Từng nhóm thay phiên trình diễn, các nhóm còn lại quan sát nhận xét. Gv nhận xét sửa sai, gọi học sinh tập lại đông tác sai. Sử dụng phương pháp chia nhóm luyện tập nhằm phát huy tính tự giác tích cực của học sinh. Học sinh dễ nắm bắt kỹ thuật động tác. b. Phương pháp trực quan - Hình thức: hoạt động tập thể Đối với phương pháp này khi sử dụng các tranh, ảnh để kỹ thuật các động tác, giáo viên phải vừa cho học sinh xem tranh vừa có hướng dẫn, giải thích và nhấn mạnh trọng tâm của động tác hay kỹ thuật để các em nhanh chóng nắm bắt được điểm then chốt của các động tác hay bài tập, từ dó giúp các em dễ hình thành tư thế và kỹ thuật đúng ngay từ đầu. Ví đu:ï Động tác chân ( bài 17 SGK trang 70) Nhịp 1: Nâng đùi trái lên cao (vuông góc với thân người) đồng thời 2 tay đưa sang ngang rồi gập khuỷu tay, các ngón tay dặt trên vai Nhịp 2: Đưa chân trái ra sau, kiễng gót chân, 2 tay dang ngang bàn tay ngửa căng ngực. Nhịp 3: Đá chân trái ra trước đồng thời đưa 2 tay ra trước, bàn tay sấp mắt nhìn thẳng Nhịp 4 : Về tư thế chuẩn bị Nhịp 5,6,7,8: Như nhịp 1,2.3.4 nhưng đổi chân. Giáo viên điều khiển - lớp thực hiện Chia nhóm luyện tập Từng nhóm thay phiên nhau trình diễn. HS nhận xét, Gv nhận xét Gọi những học sinh tập sai lên luyện tập lại. Tuỳ theo động tác giáo viên cần hô nhịp chậm hoặc hô nhanh, như động tác vươn thở và điều hoà cần hô nhịp chậm, động tác tay, chân , nhảy, hô nhịp nhanh. c. Phương pháp thực hành - Hình thức: hoạt động cá nhân Đây là phương pháp thực hành nên giáo viên cho học sinh thực hiện các động tác đơn lẻ trước, sau đó mới cho phối hợp hoàn chỉnh bài tập. Tuỳ từng bài tập mà giáo viên có thể cho học sinh tập luyện hình thức cá nhân, tập đồng loạt, chia nhóm tập luyện. Từ đó có thể phát huy tối đa ý thức tự giác tập luyện của học sinh. Ví dụ 1: Bài nhảy dây kiểu chụm 2 chân (bài 40 SGK trang 107) Đối với bài này giáo cần chuẩn bị ĐDDH là dây nhảy cá nhân, giáo viên phân công học sinh mang dụng cụ dây nhảy cá nhân. GV hướng dẫn động tác nhảy chụm 2 chân: đứng chụm hai chân phía trước dây, hai tay cầm hai dầu dây theo vị trí đãû so dây để dây hơi chùng sát mặt đất ở phía sau Dùng cổ tay và cẳng tay quay nhẹ, đưa dây từ phía sau vòng lên cao Ra trước - xuống thấp ở phía - ra phía sau. Vòng quay dây cứ tiếp tục như vậy, khi dây chuyển động gần đến chân, thì thực hiện động tác bật nhảy bằng 2 chân lên cao khoảng 1 gang tay hoặc thấp hơn để cho dây đi qua. Động tác tiếp tục như vậy một cách nhịp nhàng, khéo léo sao cho không để cho dây vướng chân. Giới thiệu và tổ chức luyện tập tôi thường tiến hành: với bài tập nhảy dây giáo viên có thể cho học sinh luyện tập cá nhân đồng loạt để nắm vững kỹ thuật sau đó chia nhóm luyện tập, với sự điều khiển của cán sự nhóm. Sau thời gian tập luyện nhóm giáo viên tổ chức cho học sinh thi đấu biểu diễn giữa các nhóm. Ví dụ 2: bài 65 trang 155. Môn thể thao tự chọn trò chơi "dẫn bóng" Như bài đá cầu bằng mu bàn chân (giáo viên chuẩn bị một số cầu chinh học sinh mang theo cầu để đá. Học sinh đá cầu từ chậm đến nhanh. Nắm được kỹ thuật môn đá cầu. Giáo viên làm mẫu động tác - học sinh quan sát Học sinh đá cầu cá nhân - giáo viên nhận xét sửa sai. d.Phương pháp trò chơi - Hình thức : nhóm Đây là phần thu hút lôi cuốn nhiều học sinh nhất, giáo viên cần phải vận dụng những phương pháp dạy học, sao cho giờ học sôi nổi lôi cuốn học sinh tích cực tham gia trò chơi chủ động nhiệt tình. Ví dụ : trò chơi lò cò tiếp sức ( bài 2 SGK trang 43) GV nêu tên trò chơi: GVHD cách chơi: khi có lệnh chơi, những em số một của mỗi hàng nhanh chóng nhảy lò cò bằng một chân về phía trước vòng qua lá cờ (không được giẳm vào vòng tròn) rồi lại nhảy lò cò trở lại vạch xuất phát và đưa tay chạm vào người số 2 sau đó đi về đứng ở cuối hàng. Em số 2 lại nhảy lò cò như em số 1 và cứ như thế tiếp tục cho đến hết. GV cho học sinh chơi thử, sau đó chơi chính thức. GV nhận xét tuyên dương Khi dạy trò chơi GV có thể dạy thêm những trò chơi dân gian phổ biến ở địa phương.Tuy nhiên những trò chơi cần phải phù hợp với dặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của trẻ em. Trước mỗi giờ học phụ huynh học sinh chuẩn bị chu đáo dụng cụ và tâp luyện cho con em, chú ý dảm bảo an toàn cho học sinh trong khi tham gia trò chơi. Trong giảng dạy, công tác làm mẫu là khâu quan trọng. Nên tôi thường sử dụng phương pháp soi gương, lấy 1 nhóm học sinh có khả năng nhanh nhẹn để làm chuẩn cho lớp quan sát. Kết hợp với đó là giới thiệu về kĩ thuật và học sinh luyện tập theo giáo viên. Sau đó chia nhóm cho học sinh luyện tập. Qua phương pháp này tôi nhận thấy học sinh nắm vững được kiến thức, dễ hình thành kĩ năng động tác của người chỉ huy. Phương pháp giảng dạy phải phù hợp với từng đối tượng học sinh. Cần nắm được trong thực tế thường hay vận dụng đội hình nào học sinh đã có được những kỹ năng gì. Để tăng cường luyện tập, cũng cố cho học sinh nhằm nâng cao kỹ năng vận dụng trong các hoạt động tập thể khác, vào cuộc sống sinh hoạt. Để giảng dạy đạt hiệu quả cao người giáo viên cần phải đổi mới phương pháp dạy học, vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tránh nhàm chán, gây được hứng thú luyện tập của học sinh. Luôn chú ý đến các đối tượng học sinh trong lớp để vận dụng phương pháp cho phù hợp, linh hoạt, sáng tạo trong từng bài giảng. IV. KẾT QUẢ Qua quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy đổi mới phương pháp dạy học môn thể dục lớp 5. Giúp cho học sinh học tập tích cực, say mê hứng thú lĩnh hội tri thức , khộng khí lớp học sôi nổi, học sinh nắm được kỹ thuật động tác, chủ động tập luyện. Bản thân tôi đã áp dụng những biện pháp này vào giảng dạy cho học sinh và kết quả thu được rất khả quan, cụ thể ở các bài sau, học sinh thực hiện đúng, thành thạo và nhanh. Đặc biệt về nhà thường xuyên luyện tập TDTT vào buổi sáng sau khi thức dậy, nhắc nhở mọi người cùng thực hiện. Vì vậy môn thể dục không những là một môn phụ mà thực sự là một môn học có tác dụng thể chất quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường. Và kết quả cuối năm học 2009 - 2010 đạt như sau: Tổng số HS Số học sinh Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành TS % TS % TS % 28 08 28.5 20 71.5 0 0 V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học và tổ chức các hoạt dộng học tập theo hướng đổi mới, tôi đã rút ra được những bài học sau bài học sau : Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, tập trung vào việc phát huy tính tích cực của học sinh. Dành nhiều thời gian cho học sinh được tập luyện, hoạt động, vui chơi và tự tổ chức, điều khiển tập luyện dưới sự giám sát của giáo viên, phát huy tính chủ động, tính tích cực của học sinh trong tập luyện, chú ý đặc điểm cá biệt của mỗi học sinh. Khi dạy học cần giải thích ngắn gọn, tổ chức luyện tập phù hợp với nội dung cũng như yêu cầu của bài học. Luôn tạo giờ học tự nhiên, nhẹ nhàng và sinh động. Để dạy tốt môn thể dục, đòi hỏi người giáo viên cần phải có sự dầu tư thật cụ thể cho từng bài dạy như soạn bài, chuẩn bị phương tiện, thiết bị đồ dùng dạy học, luyện tập các động tác , bài tập kỹ thuật thể thao để làm mẫu cho học sinh. Tuỳ theo nội dung từng bài học mà xây dựng kế hoạch bài giảng cho phù hợp, luôn chú ý đến các đối tượng học sinh trong lớp để vận dụng phương pháp cho phù hợp linh hoạt sáng tạo trong từng bài giảng. Trên dây là một số bài học kinh nghiệm mà tôi đã đúc kết trong quá trình thực hiện đề tài: "Đổi mới phương pháp dạy học môn thể dục lớp 5 VI. KẾT LUẬN Kiến nghị: Đối với giáo viên cần đổi mới phương pháp dạy học Đối với nhà trường : Cần có kế hoạch đầu tư sân bãi đúng quy cách tạo điều kiện tốt cho học sinh học tập và giáo viên dạy thể dục. Mua sắm kịp thời những đồ dùng dạy học bị hư hỏng qua quá trình sử dụng. Đối với gia đình nên tạo diều kiện cho các em có thời gian vui chơi, giải trí lành mạnh nhằm phát triển toàn diện cho con em về thể chất cũng như tinh thần. Kết luận: Qua nhiều năm giảng dạy phân môn thể dục lớp 5, bản thân tôi đã suy nghĩ tìm tòi và thực hiện đề tài: " Đổi mới phương pháp dạy học môn thể dục lớp 5". Sau thời gian áp dụng và thử nghiệm đã được kết quả tương đối khả quan. Với mong muốn góp phần nhỏ bé cùng các bạn đồng nghiệp nấng cao chất lượng dạy học. Song cũng có phần không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận dược sự quan tâm góp ý của quy thầy cô giáo để cho đề tài này được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn ! VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO -SGV thể dục lớp 5 -Tác giả: -Đặng Đức Thao -Trần Đình Thuận -Vũ Thị Thư -Trần Đồng Lâm -Nhà xuất bản giáo dục hà nội -Năm xuất bản: 2006 -Tài liệu Bồi Dưỡng Thường Xuyên chu kỳ III (2003 - 2007) -Nhà xuất bản giáo dục -Năm xuất bản : 2005 Phú ngọc ngày 02 tháng 11 năm 2010 Người viết Trịnh Thị Nga

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Thể Dục Trong Trường Thcs
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Trường Thcs
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Cho Trẻ Mầm Non
  • Hướng Dẫn Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực 2022
  • Bộ Sách Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học (6 Cuốn
  • Chuyên Đề Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Môn Thể Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Giảng Dạy Trực Tuyến Thời Đại Công Nghệ 4.0
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Giảng Dạy Và Hướng Dẫn Học Sinh Học Tốt Bộ Môn Gdcd Ở Trường Thpt
  • Phương Pháp Giảng Dạy Bộ Môn Giáo Dục Công Dân
  • Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Lịch Sử, Giáo Dục Công Dân
  • Phương Pháp Giảng Dạy Hỏi Đáp
  • Đề tài: Lựa chọn các phương pháp tích cực nhằm giúp cho học sinh chủ động, sáng tạo trong học bài thể dục phát triển chung.

    I-Lí do chọn đề tài:

    Hiện nay các sân để dùng trong giảng dạy môn thể dục (gọi chung là sân bãi) là một diện tích đất trống, được tráng xi măng, vừa là sân trường, sân chơi (đa phần là không có bóng mát).

    Sân có diện tích nhỏ hẹp, thiết kế không để dùng cho tập luyện TDTT. Sân tập cho môn thể dục được bố trí gần lớp học (điều bắt buộc vì sân hẹp và không có bóng mát) nên học sinh và giáo viên luôn được nhắc nhở đừng gây ồn trong giờ thưc hành môn thể dục. Đây cũng là yếu tố để giáo viên giảm môn trò chơi vận động.

    Chương trình thay sách giáo khoa mới yêu cầu giảng dạy giờ thực hành với điều kiện ít nhất mỗi học sinh có trung bình 2m2 sân để tập và trên sân tập ấy phải có kẻ các vạch phục vụ cho trò chơi, đội hình tập, đường chạy, hố cát, và phải có các dụng cụ như: cột, trụ, nệm,lưới .Do đó, sân dành cho môn thể dục không còn quan niệm là sân bãi mà phải là sân tập . Đó là sân có diện tích tối thiểu phải theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

    CHUYÊN ĐỀ: ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MÔN THỂ DỤC. Đề tài: Lựa chọn các phương pháp tích cực nhằm giúp cho học sinh chủ động, sáng tạo trong học bài thể dục phát triển chung. I-Lí do chọn đề tài:Hiện nay các sân để dùng trong giảng dạy môn thể dục (gọi chung là sân bãi) là một diện tích đất trống, được tráng xi măng, vừa là sân trường, sân chơi (đa phần là không có bóng mát).Sân có diện tích nhỏ hẹp, thiết kế không để dùng cho tập luyện TDTT. Sân tập cho môn thể dục được bố trí gần lớp học (điều bắt buộc vì sân hẹp và không có bóng mát) nên học sinh và giáo viên luôn được nhắc nhở đừng gây ồn trong giờ thưc hành môn thể dục. Đây cũng là yếu tố để giáo viên giảm môn trò chơi vận động.Chương trình thay sách giáo khoa mới yêu cầu giảng dạy giờ thực hành với điều kiện ít nhất mỗi học sinh có trung bình 2m2 sân để tập và trên sân tập ấy phải có kẻ các vạch phục vụ cho trò chơi, đội hình tập, đường chạy, hố cát,...và phải có các dụng cụ như: cột, trụ, nệm,lưới....Do đó, sân dành cho môn thể dục không còn quan niệm là sân bãi mà phải là sân tập . Đó là sân có diện tích tối thiểu phải theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo II- Mục đích-yêu cầu Mục đích: Qua tiết học giúp học sinh nắm bắt được cách chỉ huy nhóm, phân chia sắp xếp đội hình hợp lí, phù hợp với địa hình sân bãi. Yêu cầu: Học sinh luyện tập nghiêm túc, biết đòan kết giúp đỡ nhau trong tập luyện. Biết vận dụng những kiến thức đã học để tự tập luyện, giữ gìn và nâng cao sức khỏe. III- Biện pháp thực hiện:-Cần bố trí, sắp xếp, ưu tiên cho sân học môn thể dục vì sân chính là lớp học đối với môn thể dục.-Giáo viên phải chuẩn bị sẵn các vạch kẻ sân phù hợp, bố trí các vị trí đứng từng nhónh trên sân theo kế hoạch giảng dạy .-Giáo viên cần đầu tư cho tiết dạy với đội hình tập luyện phù hợp. Sử dụng hết sân tập có sẵn đối với sân hẹp và sử dụng hợp lý khoa học đối với sân rộng-Chuẩn bị kĩ "Kế hoạch bài dạy" về kiến thức kĩ năng, phương pháp, thời lượng và cần liên hệ thực tế để giáo dục đạo đức tư tưởng cho học sinh, cần dự kiến sử dụng đội hình cho phù hợp với điều kiện sân tập.-Tùy theo bài dạy và thực tế sân tập , giáo viên cần chọn phương pháp, cách tổ chức cho hợp lí theo từng đối tựợng học sinh, đảm bảo được lượng vận động và tất cả học sinh đều được tham gia tập luyện, vui chơi.-Những bài tập lập lại nhiều lần, đơn điệu dễ làm cho các em nhàm chán , GV nên biến đổi tăng độ khó và chuyển thành phương pháp trò chơi để tăng hứng thú tập luyện hơn.- GV cần dành nhiều thời gian cho học sinh tập luyện vui chơi.- Cần phân chia nhóm, tổ tập luyện để tạo tính năng động cho học sinh.- GV cần sử dụng các bài tập dưới dạng trò chơi, thi đấu, biểu diễn....- Luôn động viên khích lệ đối với tất cả HS ,tạo điều kiện để các em biết nhận xét đánh giá và tự đánh giá mình .- Giáo viên cần tổ chức học nhóm riêng đối với những HS có thể trạng và tâm sinh lý cá biệt.- Giáo viên nên chú ý trau dồi chuyên môn,học tập và trao đổi với đồng nghiệp .- Bản thân phải luôn gương mẫu về tác phong và lời nói trong giao tiếp. Không dùng bất cứ hình phạt nào để làm tổn thương đến tinh thần và thân thể các em . Phước Hải, ngày 20 tháng 10 năm 2011 Người viết Trần Văn Vũ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Giảng Dạy Bộ Môn Thể Dục
  • Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Giáo Dục Thể Chất Cho Học Sinh Hà Nội
  • Skkn Phương Pháp Giảng Dạy Các Tác Phẩm Thơ Trữ Tình Trung Đại Việt Nam Lớp 7 Thông Qua Đặc Trưng Thể Loại
  • Đặc Điểm Và Phương Pháp Dạy Học Người Lớn
  • Phương Pháp Sư Phạm Cho Người Lớn
  • Đề Tài Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Thể Dục Trong Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Thể Dục Lớp 5
  • Thiết Kế Giờ Dạy Học Theo Định Hướng Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Còn Gặp Nhiều Vướng Mắc?
  • Đổi Mới Ppdh Môn Gdcd Cấp Thcs
  • Tài Liệu Tập Huấn Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Và Đánh Giá Kết Quả Học Tập Môn Giáo Dục Công Dân Trung Học Cơ Sở
  • I. ĐIỀU KIÊN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN 1. Lí do chọn đề tài: Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm tới công tác TDTT nói chung và giáo dục thể chất trong nhà trường nói riêng. Coi sức khoẻ là vốn quí nhất của con người. Bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải xây dựng thế hệ trẻ nước ta trở thành những con người có đủ bản lĩnh, phẩm chất và năng lực để kế thừa và phát huy những thành tựu và truyền thống vẻ vang của dân tộc để đưa nước ta phát triển hội nhập với cộng đồng quốc tế, vươn lên "Sánh vai với các cường quốc năm châu". Để giúp cho thế hệ trẻ phát triển toàn diện nhiều mặt trong đó có một mặt quan trọng và tất yếu là chăm lo về sức khoẻ và thể lực, không những là nhu cầu của bản thân con người mà là vốn quí để tạo tài sản vật chất cho xã hội. Song song với chương trình giảng dạy các môn khoa học trong nhà trường, nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản, có hệ thống các môn khoa học tự nhiên, xã hội và khoa học kỹ thuật, việc giáo dục thể chất trong nhà trường có vài trò hết sức quan trọng giúp cho học sinh phát triển một cách toàn diện về đức, trí, thể, mỹ Ngoài ra còn giúp cho các em học sinh hiểu được một số kiến thức, kĩ năng cơ bản để tập luyện giữ gìn sức khoẻ, nâng cao thể lực, góp phần rèn luyện nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, thói quen tự giác tập luyện TDTT, mạnh dạn tham gia vào các hoạt động và phong trào tập thể, Xuất phát từ thực tế giảng dạy của bản thân, từ đặc điểm của việc dạy học môn Thể dục ở trường THCS tôi nhận thấy vấn đề "Đổi mới phương pháp dạy học môn Thể dục trong trường THCS" là hết sức thiết thực, bổ ích và tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài này. 2. Mục đích nghiên cứu: Giúp cho giáo viên cải thiện một số phương pháp trong quá trình giảng dạy Thể dục nhằm đưa lượng vận động, thời gian tập luyện của học sinh tăng lên. Đề tài còn tháo gỡ những khó khăn mà giáo viên dạy môn Thể dục dễ mắc, đó là việc vi phạm về thời gian (bởi nội dung bài học thì nhiều mà thời gian một tiết chỉ có 45 phút).Vì vậy đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu và lựa chọn phương pháp, hình thức dạy - học thật hợp lý, đảm bảo về kiến thức, kĩ năng, đảm bảo đủ lượng vận động và số lần tập luyện. Đề tài này hết sức cần thiết không những đối với cá nhân tôi mà còn với tất cả giáo viên giảng dạy bộ môn Thể dục ở trường THCS nói chung. 3. Thời gian - Địa điểm: - Thời gian: Chọn đề tài: Tháng 9/2011. Nghiên cứu thực hiện: Từ tháng 10/2011 đến tháng 3/2012. Hoàn thành đề tài: Tháng 3 năm 2012. - Địa điểm: Học sinh khối 7 trường THCS Lương Thế Vinh - TP Nam Định. 4. Đóng góp mới về mặt lí luận, về mặt thực tiễn: Phương pháp dạy học: Là cách thức hoạt động của thầy và trò nhằm đạt được mục tiêu dạy - học. Phương pháp dạy học mang tính tích cực, độc lập, sáng tạo. Cần chú ý đến hai yếu tố: Học sinh phải được học trong không khí vui vẻ, phấn khởi, học mà chơi, chơi mà học, học sinh phải được tự do tìm hiểu, suy nghĩ, khám phá và tự tìm tòi ra kiến thức của bài học dưới sự dẫn dắt, gợi mở của giáo viên. Theo thời gian công tác, kinh nghiệm giảng dạy và giáo dục càng được nâng cao thì thể lực càng bị giảm sút theo qui luật tự nhiên của con người, năng lực làm mẫu động tác bị hạn chế. Để khắc phục sự hạn chế đó, người giáo viên Thể dục phải không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ nghiệp vụ của mình, đặc biệt là trình độ lí luận về phương pháp khoa học và phương pháp tổ chức. Đổi mới phương pháp dạy học xuất phát từ nhu cầu đổi mới sâu sắc nền kinh tế xã hội đang diễn ra trên đất nước ta. Công cuộc đổi mới này cần những người có bản lĩnh, có năng lực chủ động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, thích ứng với cuộc sống xã hội đang từng ngày từng giờ đổi mới. Thực tiễn này làm cho mục tiêu dạy học phải điều chỉnh kèm theo sự thay đổi về nội dung và phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học được hiểu là đưa phương pháp dạy học mới vào nhà trường trên cơ sở phát huy mặt tích cực của phương pháp truyền thống để nâng cao chất lượng dạy học, nâng cao hiệu quả đào tạo của giáo dục. Đổi mới phương pháp dạy học phải thiết thực góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục học sinh THCS, tạo điều kiện và khuyến khích học sinh tự giác học tập, phát huy và vận dụng kiến thức trong bài học vào thực hành luyện tập. Làm được như vậy sẽ phát huy được tính tích cực chủ động, sáng tạo của từng học sinh, rèn luyện cho các em trở thành những người có đủ năng lực, sức khoẻ để tiếp tục học lên các trường THPT hoặc chuẩn bị bắt đầu bước vào cuộc sống. II. Thực trạng Trong những năm qua, thực hiện đổi mới chương trình sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy bậc THCS chất lượng dạy học trong các nhà trường đã và đang từng bước đạt hiệu quả rõ rệt. Giáo viên đã quen dần với những khái niệm "tích cực hoá hoạt động của trò" trong việc lựa chọn phương pháp cũng như thiết kế bài dạy nhằm khơi dậy hứng thú và phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh. Thầy và trò đều chủ động trong việc tổ chức giờ học cũng như tiếp thu kiến thức. Với đặc trưng của bộ môn Thể dục nhằm giáo dục thể chất, nâng cao thể lực cho học sinh nên việc đổi mới phương pháp ngoài mục tiêu tạo tiết học hứng thú, sôi nổi, hiệu quả còn rèn cho học sinh những kĩ năng cơ bản để tập luyện, giữ gìn sức khoẻ, nâng cao thể lực, góp phần rèn luyện nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, thói quen tự giác tập luyện TDTT, giữ gìn vệ sinh. Chính vì vậy việc chuẩn bị cho giờ dạy phải hết sức hợp lí, khoa học, tạo cho trò tâm lí tinh thần thoải mái, tự tin, yên tâm khi bước vào giờ học là điều hết sức cần thiết. Đó là yêu cầu không khó song còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ học tập, đặc biệt ý thức, trách nhiêm của người thầy đối với bài dạy. Là giáo viên trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm giảng dạy nhưng với sự cố gắng tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi và qua kết quả thực tế giảng dạy, tôi mạnh dạn nêu ra một vài suy nghĩ của mình làm thế nào để dạy và học môn Thể dục đạt kết quả cao. III. Các giải pháp Một số giải pháp đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng. 1. Nghiên cứu tài liệu chuyên môn: Không ngừng nghiên cứu tài liệu chuyên môn nghiệp vụ mang tính chất khoa học và lí luận nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết về chương trình, cấp học và bậc học, từ đó đưa ra giải pháp phù hợp với đối tượng học sinh tại trường mình. Nghiên cứu các tài liệu về sự phát triển tâm sinh lí lứa tuổi học sinh bậc THCS để có cách nhìn nhận đúng đắn, từ đó tìm ra phương pháp giáo dục phù hợp, hiệu quả. 3. Học tập bồi dưỡng chuyên môn: Không ngừng học tập trau dồi kiến thức chuyên môn thông qua các nội dung học tập, bồi dưỡng thường xuyên, tập huấn thường kì do các cấp tổ chức. Bản thân áp dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của trường. 4. Dự giờ học hỏi: Tích cực dự giờ, học hỏi, rút kinh nghiệm từ đồng nghiệp, nhất là những đồng nghiệp có kiến thức, chuyên môn vững vàng, tham dự các chuyên đề và các hội nghị tập huấn do cụm trường, Phòng giáo dục tổ chức. Ghi chép tích luỹ những kinh nghiệm học tập được từ bạn bè đồng nghiệp và qua các thông tin đại chúng. Trong trường thường xuyên dự giờ các giáo viên cùng chuyên môn, ngoài ra còn dự giờ các giáo viên dạy các môn khác để học hỏi thêm về phương pháp tổ chức các hoạt động, cách sử dụng đồ dùng, cách sử lí tình huống sư phạm, .. 5. Vận dụng đổi mới phương pháp: Nghiên cứu kĩ tài liệu giảng dạy, vận dụng linh hoạt và sáng tạo các phương pháp dạy học tích cực. Việc đổi mới phương pháp dạy học sẽ đem lại những tác động rất lớn, thường để lại những ấn tượng sâu sắc trong nhận thức và tình cảm của học sinh. Nó kích thích sự say mê, hứng thú luyện tập đối với môn thể dục, học sinh tích cực tập luyện thu được những tri thức mới, hình thành những kĩ năng, kĩ xảo vận động, vận dụng được vào thực tiễn cuộc sống những phương pháp hay, những hình thức tổ chức hấp dẫn sẽ không dễ phai mờ trong kí ức học sinh. - Song song với việc thực hiện nghiêm túc những nội dung đã được qui định trong chương trình, giáo viên cần nghiên cứu và vận dụng đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới các hình thức tổ chức hoạt động trên lớp sao cho khoa học, linh hoạt, sáng tạo. Một trong các hướng đó là: 5.1. Chuẩn bị và soạn bài. *. Chuẩn bị: Nghiên cứu tài liệu, sách giáo viên và hướng dẫn giảng dạy để xác định mục tiêu của bài dạy, nội dung của tiết học trên cơ sở đó xác định việc chuẩn bị đồ dùng, dụng cụ, sân bãi cho chu đáo và phù hợp. Nghiên cứu để vận dụng các hình thức tổ chức, các phương pháp dạy học cho phù hợp với tiết dạy. *. Bài soạn: Bài dạy cần soạn trước ít nhất hai ngày để có sự chuẩn bị đồ dùng và nhắc nhở học sinh những nội dung cần thiết. Bài soạn phải thể hiện rõ ràng, khoa học, chính xác các hoạt động của thầy và trò trong việc đổi mới phương pháp dạy học. Hệ thống câu hỏi dẫn dắt gợi mở, lôgic, dễ hiểu, thu hút được sự quan tâm chú ý của học sinh, tránh hỏi câu hỏi quá dài, câu hỏi đóng, cần dự kiến và phân loại câu hỏi đúng với từng đối tượng học sinh, câu hỏi dễ dành cho học sinh yếu và trung bình, câu hỏi khó đào sâu suy nghĩ dành cho học sinh khá, giỏi. Bài soạn cần thể hiện rõ các hoạt động với thời gian và khối lượng vận động, người chỉ đạo hoạt động do giáo viên hay cán sự lớp, tổ trưởng, nhóm trưởng. 5.2. Các biện pháp thực hiện trên lớp: 5.2.1. Khâu kiểm tra: Cần kiểm tra độ an toàn của sân tập, hố cát, đệm nhảy, sào nhảy... và kiểm tra sự chuẩn bị trang phục của học sinh, đồ dùng tập luyện. Đây là khâu quan trọng vì nếu không kiểm tra kĩ thì giáo viên sẽ không làm chủ được tiết dạy, độ an toàn của việc tập luyện không cao, tâm lí học sinh không thật sự vững vàng khi bước vào giờ học. 5.2.2. Giải thích kĩ thuật động tác cần ngắn gọn, chính xác: 5.2.3. Phối hợp khởi động và bổ trợ: Thông thường giáo viên cho học sinh tập bài khởi động, tiếp đến là bài tập bổ trợ cho nội dung bài học. Khi thực hiện như vậy sẽ làm mất thời gian, vì vậy giáo viên có thể cho học sinh kết hợp hai bài tập thành một. Để làm được điều này giáo viên cần căn cứ vào từng loại hình của bài dạy để chọn những động tác vừa có tác dụng khởi động, vừa có tác dụng bổ trợ cho các động tác chính mà học sinh sẽ học tiếp ngay sau đó. Ví dụ: Khi dạy nội dung: Chạy đà kết hợp với giậm nhảy của nhảy xa. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tập luyện như sau: * Khởi động làm linh hoạt các khớp xương. * Chạy nhẹ nhàng và xác định chân giậm nhảy. * Giáo viên cho học sinh chạy nhẹ nhàng, khi tới vạch giới hạn thì giậm nhảy bật qua. Sau một số lần học sinh sẽ xác định được dùng chân giậm nhảy là chân phải hay chân trái. * Tiếp theo cho học sinh chạy nhẹ nhàng ba bước giậm nhảy bật đi xa. * Sau đó cho học sinh chạy nhẹ nhàng bật nhảy lên cao về phía trước, chạm vật chuẩn trên cao. 5.2.4. Kết hơp làm mẫu của giáo viên với việc sử dụng tranh kĩ thuật: Việc làm mẫu của giáo viên có tầm quan trọng đặc biệt và không thể thiếu khi lên lớp, nếu không làm mẫu chuẩn thì học sinh sẽ không nắm được kĩ thuật dẫn đến việc tập luyện sẽ không chính xác, đặc biệt là khi dạy kĩ thuật mới. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân: trình độ chuyên môn, sức khoẻ, năng khiếu thể thao của giáo viên... nên việc làm mẫu của giáo viên còn gặp nhiều hạn chế nhất định như: làm mẫu không chuẩn, không dứt khoát, không rõ kĩ thuật. Để khắc phục những hạn chế đó, giáo viên có thể sử dụng tranh ảnh kĩ thuật giới thiệu và phân tích để học sinh nhận biết kĩ thuật, động tác dễ hơn. Mặt khác, học sinh vừa học vừa đối chiếu với hình vẽ để tự sửa chữa những kĩ thuật còn chưa đúng của mình. Nhưng cũng không nên lạm dụng tranh vẽ, mà phải suy nghĩ và tính toán xem sử dụng tranh kĩ thuật vào thời điểm nào, sử dụng như thế nào để phát huy được tác dụng của tranh kĩ thuật, học sinh có ấn tượng sâu và có hứng thú trong quá trình học tập. 5.2.5. Tổ chức lên lớp phải thực sự khoa học: Việc tổ chức học sinh luyện tập là khâu quan trọng và then chốt. Những tiết dạy của giáo viên chưa thành công cũng phần lớn là do khâu tổ chức luyện tập cho học sinh còn yếu. Các nhóm tổ hoạt động không thường xuyên, giáo viên phân việc chưa khoa học hoặc giáo viên không có kĩ năng bao quát, quản lí học sinh... Điều đó làm ảnh hưởng tới chất lượng, hiệu quả của bài dạy, và như vậy kĩ năng vận động không thành, thể lực cũng không đạt. Do vậy, ngay từ khi soạn bài, chuẩn bị cho bài lên lớp giáo viên phải tính đến khâu tổ chức luyện tập thực sự khoa học, thể hiện ở những nội dung sau: Vị trí luyện tập để học sinh quan sát được tranh kĩ thuật hay người làm mẫu, đứng cách nhau bao nhiêu để không ảnh hưởng đến nhóm, tổ khác. Đội hình tập luyện: Xếp chữ U, hàng ngang, vòng tròn là tuỳ theo từng nội dung của từng bài, từng hoạt động. Học sinh tập luyện theo nhóm lớn, nhóm nhỏ, đồng loạt hay luân phiên, động viên tất cả các em tham gia tập luyện, những em có năng khiếu kèm cặp,giúp đỡ những em tiếp thu chậm, nhút nhát. Có những nội dung chỉ phù hợp với nhóm nhỏ, nhưng có những hoạt động tổ chức cả lớp lại đạt hiệu quả, có hoạt động tổ chức theo vòng tròn hay nhóm thì mới đạt hiệu quả cao. Việc sử dụng đồ dùng thiết bị cũng cần cân nhắc kĩ, sử dụng thiết bị, đồ dùng nào, số lượng bao nhiêu, sử dụng vào thời điểm nào là thích hợp. Nếu tiết dạy mà chuẩn bị tốt những điều nêu trên đảm bảo sẽ thu được kết quả cao, tiết dạy có chất lượng, học sinh nắm chắc kiến thức và kĩ năng. 5.2.6. Tổ chức trò chơi: Thường xuyên tổ chức các trò chơi để gây hứng thú học tập. Giáo viên nghiên cứu kĩ các hoạt động và chuyển một số hoạt động ở những nội dung tập thành trò chơi để thay đổi không khí, giúp học sinh thoải mái học tập hơn, ... 6. Sử dụng tốt đồ dùng dạy học, tận dụng điều kiện sân bãi của trường để dạy học: Muốn sử dụng tốt đồ dùng, thiết bị trong môn thể dục, một điều cũng rất quan trọng là cần biết trong bộ đồ dùng có những đồ dùng nào sử dụng cho môn Thể dục. Cần xem xét một lượt và ghi lại tên của từng loại đồ dùng. 7. Công tác kiểm tra, đánh giá: Việc kiểm tra, đánh giá chiếm vị trí rất quan trọng. Nếu việc kiểm tra, đánh giá không thường xuyên sẽ dẫn đến việc học sinh chủ quan, xem nhẹ và không chú ý học tập và rèn luyện. Sau mỗi bài, mỗi chương đều có bài kiểm tra, giáo viên cần nghiên cứu kĩ những yêu cầu về kiến thức và kĩ năng của bài đó, chương đó để kiểm tra cho sát kiến thức và đối tượng học sinh. Trong khi kiểm tra đánh giá, học sinh sẽ cùng giáo viên thẩm định kết quả của bạn bè. Việc chấm bài cũng rất chặt chẽ theo thang điểm chứ không làm qua loa đại khái để đánh giá thực chất học tập, rèn luyện của học sinh. IV. Hiệu quả do sáng kiến đem lại 1. Hiệu quả kinh tế: Đây là sáng kiến áp dụng trong lĩnh vực giáo dục học sinh THCS, chủ yếu là làm sao để người giáo viên có được một phương pháp dạy học môn Thể dục trong trường THCS tốt nhất, hiệu quả nhất, đỡ tốn kém nhất. Sáng kiến kinh nghiệm này không tạo ra hiệu quả kinh tế mà nó giúp cho người giáo viên lên lớp có chất lượng, hiệu quả cao nhất; học sinh thì hứng thú, say mê học tập, tích cực tham gia các hoạt động hơn. 2. Hiệu quả về mặt xã hội: Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện thì bản thân tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường cùng các đồng nghiệp, tuy thời gian vận dụng và đúc rút kinh nghiệm chưa nhiều nhưng tôi tự nhận thấy đã thu được những kết quả đáng mừng như sau: Trong các tiết dạy, học sinh đều sôi nổi, hứng thú học tập, tích cực và tự giác tham gia vào các hoạt động của tiết học, hạn chế hiện tượng học sinh rụt rè, nhút nhát ngại tham gia tập luyện. Trong giờ học các em mạnh dạn hỏi thầy, hỏi bạn những động tác, những kĩ năng khó hoặc chưa hiểu. Khi giáo viên phân công, tất cả các em nhóm trưởng, tổ trưởng điều khiển rất tốt hoạt động của nhóm mình, thi đua với nhau để tập luyện. Các kĩ năng của học sinh trở nên thành thục và linh hoạt, các động tác thể dục đã dứt khoát, kĩ thuật khá chuẩn mực. Học sinh vui vẻ, phấn khởi, tích cực tập luyện, có cơ hội được khẳng định mình trước tập thể, nâng cao được khả năng vận động của chính mình, tạo sự ham mê học tập, yêu thích giờ học. Giờ học thực sự là nhu cầu, là niềm vui của học sinh, từ đó chất lượng cũng được nâng lên. Qua những giờ dạy theo phương pháp trên tôi nhận thấy chất lượng bộ môn nói chung và các bài dạy nói riêng, so với năm trước đã được nâng lên rõ rệt. Các em có ý thức tự giác, tích cực hơn trong tập luyện, thực hiện các kĩ thuật động tác tương đối tốt, số lượng học sinh đạt khá giỏi ngày càng nhiều, có nhiều em đạt thành tích cao được chọn vào đội tuyển điền kinh nhà trường để dự thi HKPĐ các cấp. Cụ thể: Trong năm học vừa qua, thành tích đội tuyển đã đạt được: Thi đấu cấp Thành phố với các nội dung: Đá cầu, cầu lông, cờ vua, kéo co điền kinh đều đạt giải nhất, nhì, ba, toàn đoàn. Trong đó: Giải nhất: Đá cầu nữ. Giải nhì: Nhảy cao nam Giải ba: Đá cầu nam, Kéo co Đạt giải nhất toàn đoàn. Học sinh tham gia thi đấu HKPĐ cấp Tỉnh đều đạt giải. Cụ thể: Giải nhất: Nội dung Đá cầu, chạy tiếp sức 4 x 100m. Giải ba: Nội dung AEROBIC Trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm thì một tiết học của bộ môn Thể dục nhàm chán, ít sôi nổi, học sinh chưa hứng thú học tập, còn e dè, ngại khi tập những động tác khó, ... Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm vào giảng dạy bộ môn Thể dục tại trường THCS Lương Thế Vinh - TP Nam Định, tôi thấy những khuyết điểm nêu lên khi chưa áp dụng sáng kiến đã được khắc phục và có kết quả khá cao (Tỉ lệ học sinh yếu kém giảm, tỉ lệ học sinh khá giỏi tăng nhanh so với trước kia). V. Đề xuất, kiến nghị: Để giảng dạy bộ môn Thể dục đạt kết quả cao, Nhà trường, ngành và các cấp chính quyền cần tạo điều kiện hơn nữa về cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí phục vụ cho giảng dạy và tập luyện đạt kết quả cao hơn. Tôi xin chân thành cản ơn ! TÁC GIẢ SÁNG KIẾN (Ký, ghi rõ họ tên) Trần Văn Đương TRƯỜNG THCS LƯƠNG THẾ VINH - THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH (Xác nhận, đánh giá, xếp loại) .................................................................................................................................................................................................................................................................................... .......................................................................................................................................... .......................................................................................................................................... .......................................................................................................................................... .............................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................................................................................................................................................... PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH (Xác nhận, đánh giá, xếp loại) .................................................................................................................................................................................................................................................................................... .......................................................................................................................................... .......................................................................................................................................... .......................................................................................................................................... .................................................................................................................................................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................................................................................................................................................... .......................................................................................................................................... .................................................................................................................................................................................................................................................................................... .......................................................................................................................................... TÀI LIỆU THAM KHẢO- PHỤ LỤC Sách giáo viên Thể dục 6 - 7 - 8 - 9 - NXB Giáo dục. Giáo trình lí luận và phương pháp giảng dạy TDTT - NXB Giáo dục 1998. Đổi mới phương pháp dạy học trường THCS - Viện KHGD 1999. Phương pháp dạy học môn Thể dục trong trường phổ thông - NXB Giáo dục. Chuyên san Giáo dục và thời đại. Trò chơi vận động - NXB TDTT 1981. Sách bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 2004 - 2007. 2. Phụ lục: Nội dung Trang I. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến 1 1. Lí do chọn đề tài 1 2. Mục đích nghiên cứu 1 3. Thời gian - địa điểm 2 4. Đóng góp mới về mặt lí luận, về mặt thực tiễn 2 II. Thực trạng 3 III. Các giải pháp 4 1. Nghiên cứu tài liệu chuyên môn 4 4 3. Học tập bồi dưỡng chuyên môn 4 4. Dự giờ học hỏi 4 5. Vận dụng đổi mới phương pháp 5 5.1. Chuẩn bị và soạn bài 5 5.2. Các biện pháp thực hiện trên lớp 6 5.2.1. Khâu kiểm tra 6 5.2.2. Giải thích kĩ thuật động tác cần ngắn gọn, chính xác 6 5.2.3. Phối hợp khởi động và bổ trợ 6 5.2.4. Kết hơp làm mẫu của giáo viên với việc sử dụng tranh kĩ thuật 7 5.2.5. Tổ chức lên lớp phải thực sự khoa học 8 5.2.6. Tổ chức trò chơi 8 6. Sử dụng tốt đồ dùng dạy học, tận dụng điều kiện sân bãi của trường để dạy học 9 7. Công tác kiểm tra, đánh giá 9 IV. Hiệu quả do sáng kiến đem lại 9 1. Hiệu quả kinh tế: 9 2. Hiệu quả về mặt xã hội 9 V. Đề xuất, kiến nghị 11 IV. Tài liệu tham khảo - Phụ lục 13

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Trường Thcs
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Cho Trẻ Mầm Non
  • Hướng Dẫn Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực 2022
  • Bộ Sách Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học (6 Cuốn
  • Bộ Sách “đổi Mới Phương Pháp Dạy Học”
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Tiếng Anh Thpt Theo Hướng Tích Cực

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Giúp Học Sinh Học Tích Cực Ở Môn Tiếng Anh Tiểu Học.
  • Những Giải Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Lớp 5
  • Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực (Phần 1) Mot So Phuong Phap Day Hoc Tich Cuc 1 Doc
  • Bài Thu Hoạch Chuyên Đề Bồi Dưỡng Thường Xuyên Module 18: Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Chuyên Đề Bdtx Module 18: Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • NỘI DUNG BỒI DƯỠNG 2

    ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

    MÔN TIẾNG ANH THPT THEO HƯỚNG TÍCH CỰC

    1

    4. Dạy kĩ năng viết

    4.1. Dạy viết có kiểm soát

    4.2. Dạy viết có hướng dẫn

    4.3. Dạy viết tự do

    4.4. Chuẩn bị viết

    4.5. Học sinh viết

    4.6. Sau khi viết

    5. Dạy kiến thức ngôn ngữ

    5.1. Dạy ngữ âm

    5.2. Dạy từ vựng

    5.3. Dạy ngữ pháp

    Đổi mới giáo dục trung học phổ thông gắn bó chặt chẽ và thực chất là

    nằm trong khuôn khổ của đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, tuân thủ

    các định hướng, nguyên tắc chung của công cuộc đổi mới giáo dục.

    I. Đổi mới chương trình giáo dục trung học phổ thông

    Đổi mới chương trình giáo dục trung học phổ thông (THPT) trong quá

    trình triển khai đã quán triệt các định hướng, các nguyên tắc chung nhất đối

    với các cấp học khác đồng thời chú trọng những đặc điểm riêng của cấp học

    này.

    1. Về chương trình giáo dục trung học phổ thông

    3

    Chương trình cấp trung học phổ thông quy định mục tiêu, kế hoạch

    giáo dục của cấp học với các giải thích cần thiết; các định hướng về phương

    pháp tổ chức giáo dục, đánh giá kết quả giáo dục, sự phát triển logic của các

    nội dung kiến thức ở từng môn học, lớp học. Chương trình cấp trung học

    phổ thông còn đề cập tới những yêu cầu tối thiểu về kiến thức, kĩ năng và

    thái độ trên các lĩnh vực học tập mà học sinh cần và có thể đạt được sau khi

    hoàn thành cấp học.

    2. Về mục tiêu của giáo dục trung học phổ thông

    Văn bản chương trình giáo dục cấp trung học phổ thông đã trình bày mục tiêu

    cấp học theo Luật Giáo dục quy định: “Giáo dục trung học phổ thông nhằm

    giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ

    sở, hoàn thiện học vấn phổ thông, có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật

    và hướng nghiệp, có điều kiện lựa chọn hướng phát triển và phát huy năng lực

    cá nhân, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề

    hoặc đi vào cuộc sống lao động.” (Điều 27, mục 2, chương II, Luật Giáo

    dục- 2005)

    Căn cứ vào mục tiêu chung được luật định, mục tiêu cụ thể của cấp

    THPT được xây dựng, thể hiện qua yêu cầu học sinh học xong cấp THPT

    phải đạt được ở các mặt giáo dục: tư tưởng, đạo đức lối sống; học vấn kiến

    thức phổ thông, hiểu biết kĩ thuật và hướng nghiệp; kĩ năng học tập và vận

    dụng kiến thức; về thể chất và xúc cảm thẩm mĩ. Cụ thể nội dung của mục

    tiêu cụ thể của giáo dục THPT có một số điểm mới cần được lưu ý như sau:

    + Sống lành mạnh, tự tin, tự tôn dân tộc, có chí lập nghiệp, không cam

    chịu nghèo hèn;

    + Có khả năng sử dụng một ngoại ngữ trong giao tiếp thông thường,

    có khả năng ứng dụng một số thành tựu của công nghệ thông tin ở trình độ

    phổ thông trong giải quyết công việc;

    4

    + Phát triển và nâng cao các kĩ năng học tập chung, kĩ năng vận dụng

    kiến thức vào các tình huống học tập mới, vào thực tiễn sản xuất và cuộc

    sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng.

    3. Về kế hoạch dạy học

    Kế hoạch giáo dục là văn bản qui định thành phần các môn học trong nhà trường, trình tự dạy học các môn trong từng năm, từng lớp, số giờ dành cho

    từng môn học trong cả năm, trong từng tuần, cấu trúc và thời gian của năm

    học.

    Kế hoạch giáo dục của trường trung học phổ thông

    Số

    Môn học và

    th

    hoạt động

    Lớp 10

    KH KH Cơ

    Lớp 11

    KH KH Cơ

    TN

    TN

    TN

    tự

    XH-

    bản

    NV

    XH

    bản

    1

    3

    4

    3

    3,5

    4

    3,5

    3

    4

    3

    Toán

    Giáo dục công

    5

    12 Tin học

    13 Giáo dục quốc

    2

    2

    2

    1,5

    1,5 1,5

    35 tiết/năm

    1,5

    1,5

    1,5

    phòng và an

    ninh

    14 Tự chọn

    15 Hoạt động tập

    thể

    16 Hoạt động giáo

    4 tiết/tháng

    dục ngoài giờ

    lên lớp

    17 Giáo dục hướng nghiệp

    18 Giáo dục nghề

    phổ thông

    Tổng số tiết/tuần

    Ghi chú:

    3 tiết/tháng

    Không học

    30

    30

    3 tiết/tuần

    30

    28,5

    30

    Không học

    30

    29,5

    30

    – Kí hiệu KHTN có nghĩa là ban Khoa học tự nhiên, KHXH&NV là ban Khoa học xã hội

    và nhân văn.

    – Các số trong mỗi ô là số tiết trong một tuần của môn học hoặc hoạt động giáo dục tương ứng.

    Chương trình các môn học của trung học phổ thông gồm chương

    trình chuẩn của tất cả các môn học thể hiện những yêu cầu mang tính tối

    thiểu mọi học sinh cần và có thể đạt; chương trình nâng cao đối với 8 môn

    phân hoá: Toán, Lí, Hoá, Sinh, Ngữ văn, Sử, Địa và Tiếng nước ngoài.

    Trong chương trình của từng môn, mục tiêu môn học được thiết kế nhằm đạt

    được mục tiêu giáo dục của cả cấp học. Chương trình giới thiệu quan điểm

    chính của việc xây dựng lại chương trình môn học; trình bày chuẩn kiến

    thức kĩ năng môn học theo từng lớp và những gợi ý cần thiết về phương

    pháp, phương tiện dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn học của

    học sinh.

    6

    29,5

    8

    trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả

    trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên.

    + Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

    Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể

    đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp

    nhận sự phân hoá về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là

    khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc. Áp dụng phương

    pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hoá này càng lớn. Việc sử

    dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu

    cầu cá thể hoá hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh.

    + Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

    Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định

    thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều

    kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.

    Có thể so sánh đặc trưng của dạy học cổ truyền và dạy học mới như sau:

    Quan

    Dạy học cổ truyền

    Các mô hình dạy học mới

    Học là quá trình tiếp thu Học là quá trình kiến tạo; học sinh

    niệm

    và lĩnh hội, qua đó hình tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện

    thành kiến thức, kĩ năng, tập, khai thác và xử lí thông tin, …

    tư tởng, tình cảm.

    Bản chất Truyền

    thụ

    tri

    tự hình thành hiểu biết, năng lực

    và phẩm chất.

    thức, Tổ chức hoạt động nhận thức cho

    truyền thụ và chứng minh học sinh. Dạy học sinh cách tìm ra

    chân lí của giáo viên.

    chân lí.

    Mục tiêu Chú trọng hình thành các

    Chú

    năng lực (sáng tạo, hợp

    trọng

    tác, …) dạy phương

    cung

    pháp và kĩ thuật lao

    9

    cấp

    tri động khoa học, dạy cách

    thức, kĩ học. Học để đáp ứng

    năng, kĩ những yêu cầu của cuộc

    xảo. Học sống hiện tại và tương

    để

    đối lai. Những điều đã học

    phó với cần thiết, bổ ích cho bản

    thi

    cử. thân học sinh và cho sự

    Sau khi phát triển xã hội.

    thi xong

    những

    điều đã

    học

    th-

    ít

    Từ sách giáo khoa + giáo Từ nhiều nguồn khác nhau : SGK,

    viên

    GV, các tài liệu khoa học phù hợp,

    thí nghiệm, bảo tàng, thực tế … : gắn

    với :

    – Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu

    cầu của HS.

    – Tình huống thực tế, bồi cảnh và

    môi trường địa phương.

    Phương

    – Những vấn đề học sinh quan tâm.

    Các phương pháp diễn Các phương pháp tìm tòi, điều tra,

    10

    pháp

    giảng, truyền thụ kiến giải quyết vấn đề; dạy học tương

    Hình

    thức một chiều.

    tác.

    Cố định : Giới hạn trong Cơ động, linh hoạt : Học ở lớp, ở

    thức tổ

    4 bức tường của lớp học, phòng thí nghiệm, ở hiện trường,

    chức

    giáo viên đối diện với cả trong thực tế …, học cá nhân, học

    lớp.

    đôi bạn, học theo nhóm, cả lớp đối

    11

    13

    Các bài đọc trong SGK cố gắng khai thác hợp lí và triệt để hệ thống phương

    pháp dạy học ngoại ngữ tiên tiến thể hiện qua quan điểm lấy nhiệm vụ giao

    tiếp làm nền tảng. Mỗi bài đọc là một nhiệm vụ giao tiếp lớn (task) và được

    dạy trong một tiết trên lớp. Mỗi nhiệm vụ giao tiếp lớn được chia thành

    nhiều nhiệm vụ giao tiếp nhỏ (sub-task) và được thể hiện qua các bài tập của

    bài đọc.

    Các bài đọc trong SGK được biên soạn thông qua ba giai đoạn dạy học cơ

    bản (The 3-stage process). Có hai cách thể hiện quan điểm dạy học theo quy

    trình ba giai đoạn:

    Pre-task (introduction to topic and task)  Through-

    task (language analyisis and task)  Post-task (application)

    Pre-task (introduction to topic and task)  Task cycle

    (task and planning report)  Language focus (analysis and

    practice)

    Quan điểm dạy đọc hiểu vừa nêu ở trên được thể hiện trong SGK qua các

    tiêu đề:

    Before you read

    While you read

    After you read

    Tuỳ từng điều kiện và hoàn cảnh dạy học (đối tượng học sinh, độ khó hay dễ

    của bài đọc hoặc sở thích của giáo viên), GV có thể áp dụng các cách dạy

    nhằm đạt hiệu quả dạy học cao.

    1.2. Cấu tạo bài đọc hiểu

    Cấu tạo của các bài đọc hiểu trong SGK 10 là:

    14

    Unit

    While you

    Before you

    read

    After you read

    read

    15

    1.

    Answer

    1.

    Multiple

    choice Summary

    A day in the the

    sentences

    life of …

    questions

    2. Answer the questions

    2.

    3. Make a brief note

    Discussion 1. Find the meaning of Discussion

    School talks

    words in sentences

    2. Find out who do what

    3.

    Answer

    3. Answer the questions

    1. Match the words with Summary

    People’s

    the

    their meanings

    passage

    background

    questions

    2. Decide T/F statements

    the words

    4.

    3. Answer the questions

    Discussion 1. Find the meaning of 3.

    using

    Scan

    Special

    words in sentences

    education

    2.

    5.

    Answer

    sentences

    passage

    1. Complete the sentences Discuss

    Technology

    the

    using the words provided

    and you

    questions

    2.

    the

    passage

    Multiple-choice complete

    question

    Multiple-choice

    sentences

    3. Arrange the sequence of

    event

    Discussion 1.

    6.

    Multiple-choice Fill

    in

    An excursion

    sentences

    7.

    2. Answer the questions

    the passage

    1. Match the words with Discussion

    Answer

    mass the

    questions

    missing words in

    their meanings

    2.

    Multiple-choice

    sentences

    16

    the

    8.

    Answer

    3. Answer the questions

    1. Find the meaning of Discussion

    The story of the

    words

    my village

    2. Read the passage and

    questions

    complete the table

    3. Answer the questions

    Discussion 1. Complete the sentences Fill

    9.

    in

    the

    Undersea

    using the words provided

    missing words in

    Answer

    2. Answer the questions

    1. Word definition

    the passage

    Answer

    Conservation

    the

    2. Decide T/F statements

    questions

    3. Choose the main idea

    1. Word definition

    Discussion

    11.

    questions

    National Answer

    parks

    the

    2. Answer the questions

    12.

    questions

    Descriptio

    1. Complete the sentences Answer

    Music

    n

    using the words provided

    questions

    Answer

    2. Answer the questions

    1. Word definition

    Discussion

    and the

    questions

    2. Answer the questions

    3. Decide the title of the

    14. The world Answer

    passage

    1. Match the words with Summary

    cup

    the

    their meanings

    questions

    2

    Scan

    the

    text

    and

    complete the sentences.

    15.

    Answer

    Cities

    the

    3. Decide T/F statements

    Discussion

    17

    the

    the

    questions

    1.

    Word

    questions

    Answer

    1. Find the meaning of Answer

    Historical

    the

    words

    places

    questions

    2. Decide T/F statements

    the

    questions

    1.3. Qui trình dạy đọc hiểu

    Before you read

    * Mục đích

    Mục đích của các bài tập này là:

    Gây hứng thú, thu hút HS vào bài đọc;

    Chuẩn bị hoặc trang bị một số hiểu biết, kinh nghiệm của

    Giải quyết các khó khăn về ngôn ngữ hoặc kiến thức văn

    hoá, đất nước học;

    dung bài đọc sau đó.

    * Cách thức thực hiện

    18

    19

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Vận Dụng Một Số Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực Trong Môn Ngữ Văn
  • Vận Dụng Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Ngữ Văn Thcs
  • Học Mẹ Trẻ Cách Rèn Con Ngủ Ngoan Xuyên Đêm Theo Phương Pháp Easy
  • Bệnh Lậu Nguyên Nhân Xuất Phát Từ Đâu
  • Tập Thói Quen Ăn Ngủ Cho Trẻ Sơ Sinh Với Easy One
  • Chuyên Đề Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Giáo Dục Công Dân

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề Sử Dụng Một Số Phương Pháp Dạy Học “nhằm Phát Huy Tính Tích Cực Và Tư Duy Học Sinh Trong Dạy Học Lịch Sử Thcs)
  • Một Số Phương Pháp Phát Huy Hứng Thú Của Học Sinh Trong Học Lịch Sử Ở Thcs
  • Phương Pháp Và Kỹ Thuật Nào Để Dạy Tốt Môn Lịch Sử?
  • Chuyên Đề Sử Dụng Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Lịch Sử Lớp 5
  • Đề Tài Vận Dụng Phương Pháp Tích Cực Trong Dạy Học Toán Lớp 5
  • Môn giáo dục công dân ở THCS nói chung và môn GDCD lớp 6 nói riêng là một môn học vừa có tính chất thực hành. Chủ yếulà thực hành-thực hành trên cơ sở vận dụng vào trong thực tế cuộc sống.GDCD lớp 6 đã giúp các em hiểu được các phạm trù đạo đức pháp luật để áp dụng thực hiện ngay trong cuộc sống hàng ngày. Nhưng một vấn đề đặt ra là làm thế nào để giảng dạy môn GDCD cho hấp dẫn lôi cuốn học sinh tham gia vào hoạt động của thầy,phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh.Vì vậy,khi giảng dạy môn GDCD đòi hỏi giáo viên phải có phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực hiện nay . Người giáo viên phải biết tổ chức các hoạt động của học sinh sao cho kích thích được sự lỗ lực hoạt động, suy nghĩ, tìm tòi,tự khai thác thông tin,tự kiến tạo tri thức và các em tham gia nhiệt tình hào hứng vào giờ học.Tất cả các bài học học sinh tiếp thu được ở trên lớp nó được phản ánh khá rõ nét trong cuộc sống hàng ngày của các em. Từ những hành vi đạo đức lối sống, thái độ của học sinh trong cuộc sống hàng ngày nó đánh giá kết quả giảng dạy của người giáo viên.

    Xuất phát từ ý nghĩ và tầm quan trọng của môn GDCD đặc biệt là môn GDCD lớp 6. Nên nhóm GDCD- Tổ KHXH của trường đã họp bàn và thống nhất triển khai chuyên đề phân môn GDCD lớp 6.

    – Quan niệm về phương pháp dạy học: Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của giáo viên trong việc tổ chức chỉ đạo các hoạt động nhằm giúp học sinh chủ động đạt các mục tiêu dạy học, giáo viên giữ vai trò chủ đạo tổ chức cho hoạt động của học sinh. Mối quan hệ giữa dạy và học rất chặt chẽ. Dạy học tức là dạy việc học và dạy cách học, đối tượng là người học nhưng họ là chủ thể của quá trình tiếp thu tri thức đòi hỏi người dạy học phải chủ động tích cực có phương pháp :

    VD để nôi cuốn học sinh vào bài học giáo viên có thể sử dụng đồ dùng trực quan là những tranh ảnh có tính chất thời sự nóng bỏng . Trong bài “Thực hiện trật tự an toàn giao thông phần vào bài ta có thể đưa ra một bức ảnh về một vụ tai nạn giao thông gần đây nhất để học sinh quan sát và học sinh thấy được sự thiệt hại về người và tài sản do tai nạn giao thông gây ra . Bởi vì đặc thù của môn GDCD là các tri thức, chuẩn mực, kỹ năng của nó đều gắn chặt với các sự kiện và tính chất cuộc sống hàng ngày cho nên ta lấy những sự kiện trong thực tế cuộc sống gần gũi để học sinh dễ hiểu dễ nhớ . Từ thông tin trên học sinh phải thấy được rằng mình phải thực hiện tốt trật tự an toàn giao thông .

    Khi học sinh đã ý thức được giáo viên bắt đầu đi vào tổ chức hoạt động nhận thức dẫn dắt cho học sinh lĩnh hội các kiến thức

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Vận Dụng Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Nhằm Nâng Cao Hiệu Qủa Dạy Học Môn Giáo Dục Công Dân Bậc Trung Học Phổ Thông
  • Chuyên Đề: Dạy Học Tích Cực Môn Toán Lớp 3
  • Một Số Giải Pháp Giúp Giáo Viên Giảng Dạy Môn Thể Dục Đạt Kết Quả Tốt Theo Chương Trình Đổi Mới Chỉ Tiêu Và Phương Pháp Dạy Học Của Học Sinh Khối 10 Trường Trung Học Phổ Thông Quan Sơn
  • Phát Huy Năng Lực Tự Học Và Tính Tích Cực Hoá Cho Học Sinh Qua Dạy Học Môn Thể Dục
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Dạy Học Môn Toán Theo Phương Pháp Tích Cực
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Trường Trung Học
  • Phương Pháp Dạy Học Thể Thao Tự Chọn Môn Bóng Chuyền Trong Trường Thcs
  • Phương Pháp Dạy Học Thể Thao Tự Chọn Môn Bóng Chuyền Trong Trường Thcs Phuong Phap Day Hoc The Thao Tu Chon Mon Bong Chuyen Trong Truong Thcs Doc
  • Trường Thpt Quang Trung Đống Đa
  • Báo Cáo Tổng Kết Đánh Giá Các Phương Pháp Đổi Mới Dạy Học Và Công Tác Quản Lý Đổi Mới Dạy Học, Kiểm Tra Đánh Giá
  • ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG THPT Trong việc giảng dạy bộ môn Tiếng Anh ở trường THPT nhằm mục đích trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy môn Tiếng Anh THPT

    Trong việc giảng dạy bộ môn Tiếng Anh ở trường THPT nhằm mục đích trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy môn Tiếng Anh THPT điều nhất thiết là mỗi giáo viên cũng phải suy nghĩ làm sao cho học sinh mình yêu thích môn học của mình.Chính vì vấn đề trên nên tôi mạn phép nêu vài suy nghĩ mang tính cá nhân của mình về ” Đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Anh ở trường THPT”. Để dạy thực và học thực có hiệu quả cần thực hiện những điều cụ thể trong giờ học và ngoài giờ học như sau:

    I.Trong giờ học

    1. Đổi mới phương pháp day và học là phải lấy học sinh làm trung tâm, người giáo viên cần cụ thể hóa nội dung từng tiết học dựa vào trình độ cụ thể của từng lớp thực hiện phương châm dạy theo trình độ của học sinh để tiết học có hiệu quả thực sự.

    2. Coi trọng khâu kiểm tra kiến thức đã được học nhưng không có nghĩa là đầu giờ phải kiểm tra bài cũ như chúng ta vẫn thực hiện phương pháp cũ trước đây và như vậy sẽ dễ gây ức chế, tạo áp lực nặng nề cho một số học sinh bị kiểm tra dẫn đến việc tiếp thu bài mới của học sinh không hiêu quả,chúng ta có thể kiểm tra học sinh vào bất cứ thời gian nào phù hợp trong tiết học và luôn thay đổi dạng bài tập kiểm tra để tối đa hóa cả lớp cùng tham gia kiểm tra.

    3. Nghiêm khắc nhưng sẵn sàng giúp đỡ học sinh. Quan tâm nhiều đến hai đối tượng yếu kém và khá giỏi.

    4. Tuyệt đối không chỉ trích phê phán nặng lời khi học sinh nói sai, nói không đúng mà phải luôn luôn khích lệ học sinh đúng lúc kịp thời.

    5. Kiểm tra vở ghi và vở bài tập thường xuyên tạo cho học sinh theo quen chuẩn bị bài trước khi đến lớp và tự ghi bài trong giờ học.

    6. Hướng dẫn các em cách tra từ điển để có thể tự học từng phần cụ thể như cách học từ mới, cách học ngữ pháp, cách học ngữ âm, và cách làm bài tập trắc nghiệm.

    7. Giải thích các vấn đề đưa ra một cách ngắn gọn súc tích,động viên học sinh tham gia xây dựng bài, cố gắng giúp các em thói quen tự đưa ra vấn đề và tự học

    8. Yêu cầu các em chuẩn bị bài trước, để nắm bắt được nội dung chính của bài cần học, giúp các em hiểu bài nhanh, rút ngắn được thời gian giảng bài và giành nhiều thời gian cho việc thực hành.

    9. Tăng cường cho các em họat động theo cặp, theo nhóm để tạo điều kiện cho nhiều học sinh có cơ hội được nói, được thể hiện, đặc biệt là đối với học sinh kém, giúp cho những học sinh này trở nên tự tin hơn, không mặc cảm khi trình bày quan điểm và có nhiều cơ hội học hỏi những bạn khá hơn.

    10. Nên cho học sinh làm bài kiểm tra nhiều hơn qui định để các em thực hành được nhiều hơn và có cơ hội gỡ điểm.

    11. Trong giờ học cần phải bao quát nhiều hơn đến học sinh yếu kém, nắm bắt tâm lý, hiểu cá tính,điểm mạnh và điểm yếu của từng học sinh để các em thấy thoải mái, không bị căng thẳng trong giờ học.

    12. Người thầy cũng đầu tư nhiều hơn về giờ giảng bằng cách bổ xung thêm vào nội dung của bài học những vần thơ, bài hát hay đang được ưa chuộng, những câu chuyện cười bằng Tiêng Anh để các em thấy thích hơn môn Tiếng Anh.

    13. Sử dụng tối đa và có hiệu quả các phương tiện nghe nhìn để kích thích hứng thú học Tiếng Anh trong giờ học của học sinh.

    II. Ngoài giờ học

    1. Tạo điều kiện cho các em tham gia nhiều hơn nữa vào các hoạt động ngoài giờ do nhà trường tổ chức như giao lưu Tiếng Anh trong phạm vi khối lớp hoặc cấp trường.

    2. Nên dùng những khẩu hiệu hoặc câu châm ngôn bằng Tiếng Anh trong phạm vi khối lớp học hay các khu vực khác trong trường tạo môi trường Tiếng Anh.

    III. Kết luận

    Như vậy có thể thấy rằng cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen thụ động, là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng năng lực tự học, kỹ năng vận dụng vào thực tiễn, phương pháp dạy học phải phù hợp với đặc điểm của từng lớp học sinh, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, tạo được hứng thú học tập cho học sinh. Tích cực vận dụng công nghệ mới, khắc phục bài dạy truyền thống thụ động một chiều.Phát huy năng lực tự học của học chúng tôi trò của người thầy là phải bám sát mục tiêu giáo dục sao cho phù hợp với việc đổi mới dạy và học đem lại hiệu quả cao nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Tiếng Anh Cấp Thcs
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Tiếng Anh Thcs
  • Luận Văn: Quản Lý Quá Trình Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tiếng Anh Hay!
  • Phương Pháp Dạy Tin Học (Dựa Theo Ths Tạ Thị Lê Bình _ Thấy Hiện Tại Rất Ít Loại Tài Liệu Này Nên Share)
  • Phương Pháp Dạy Môn Tin Học Nhằm Phát Huy Tính Tích Cực Của Học Sinh Trường Thpt Võ Văn Kiệt
  • Nghiên Cứu Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Vật Lý Thpt

    --- Bài mới hơn ---

  • Ứng Dụng Phương Pháp Dạy Học Theo Mô Hình Trường Học Mới (Vnen) Vào Phân Môn Tập Đọc.
  • 6 Khác Biệt Dạy Học Tiếp Cận Nội Dung Và Dạy Học Tiếp Cận Phát Triển Năng Lực
  • Tập Huấn Đổi Mới Ppdh Và Tnkq Môn Vật Lí Thcs
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Là Yêu Cầu Bắt Buộc Với Giáo Viên
  • Cách Tính Ph Của Dung Dịch Và Công Thức Tính Nhanh Ph
  • Nghiên c u i m i ph ng pháp d y h c v t lý THPT ứ đổ ớ ươ ạ ọ ậ

    MỞ ĐẦU

    1. Lí do chọn đề tài

    Nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhân tố

    quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập

    quốc tế là con người. Giáo dục, đào tạo phải đào tạo được những người lao

    động có khả năng sáng tạo, thích ứng nhanh với những yêu cầu, những đòi hỏi

    của thời kỳ mới. Do vậy, việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học đang

    là vấn đề mang tính cấp thiết.

    Điều 28, Luật Giáo dục năm 2005 xác định: “Phương pháp giáo dục phổ

    thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù

    hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả

    năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác

    động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.

    Hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học là một trong những nhiệm vụ

    hàng đầu của ngành giáo dục đào tạo. Đổi mới phương pháp dạy học không chỉ

    nhận được sự quan tâm lớn của các nhà giáo dục mà còn là vấn đề được cả xã

    hội và các bậc phụ huynh, các em học sinh quan tâm.

    Những năm gần đây ngành giáo dục đào tạo nước ta không ngừng đổi mới

    phương pháp dạy học theo hướng nâng cao chất lượng dạy và học, phát huy

    tích cực, tự chủ, sáng tạo của học sinh. Nhưng trong thực tế, những thay đổi đó

    vẫn chưa đem lại kết quả như mong muốn bởi không ít giáo viên vẫn còn bảo

    1

    Nghiên c u i m i ph ng pháp d y h c v t lý THPT ứ đổ ớ ươ ạ ọ ậ

    thủ, chưa nắm chắc những vấn đề cơ bản của đổi mới PPDH, chưa từ bỏ thói

    quen giảng dạy theo phương pháp cũ, dạy chay vẫn còn phổ biến. Do đó, học

    sinh ít tự lực suy nghĩ, thiếu tính độc lập sáng tạo, chưa đáp ứng được những

    yêu cầu đổi mới dạy học ở THPT.

    Vật lí học là môn khoa học thực nghiệm vì vậy thí nghiệm vật lí đóng vai

    trò quan trọng trong nghiên cứu, trong dạy và học vật lí. Việc tiến hành thí

    nghiệm, giải thích hoặc tiên đoán kết quả thí nghiệm đòi hỏi học sinh phải tích

    cực tư duy, huy động các kiến thức đã học được củng cố, mở rộng và hệ thống

    hóa. Mặc dù thí nghiệm vật lí có thể được sử dụng ở các giai đoạn khác nhau

    của quá trình dạy học, nhưng để tạo tình huống có vấn đề cho học sinh thì

    phương pháp thực nghiệm các thí nghiệm mở đầu là một trong số các phương

    pháp rất hiệu quả. Bởi vì tư duy chỉ thực sự bắt đầu khi trong đầu học sinh xuất

    hiện câu hỏi mà chưa có lời giải đáp. Khi gặp phải mâu thuẫn trên nhiệm vụ

    cần phải giải quyết là trình độ kiến thức hiện có không đủ để trả lời câu hỏi đặt

    ra. Do đó cần phải xây dựng kiến thức mới nhằm giải quyết nhiệm này. Vì vậy

    cần xây dựng các thí nghiệm theo các phương pháp thực nghiệm một cách trực

    quan tạo điều kiện giúp quan sát hiện tượng một cách cụ thể từ đó giải quyết

    các nhiệm vụ học tập giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự lực, tự chủ và

    sáng tạo, làm chủ kiến thức giúp học sinh đạt kết quả cao hơn trong học tập. Để

    đạt được điều đó mỗi giáo viên phải biết kết hợp các hình thức tổ chức, các

    phương pháp dạy học và sử dụng các phương tiện dạy học một cách hợp lí.

    2

    Nghiên c u i m i ph ng pháp d y h c v t lý THPT ứ đổ ớ ươ ạ ọ ậ

    Chương ” các định luật bảo toàn ” vật lí 10 cơ bản là một chương rất quan

    trọng trong chương trình vật lí THPT và được ứng dụng nhiều trong thực tiễn.

    Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đổi

    mới phương pháp dạy học vật lý THPT “.

    2. Mục đích nghiên cứu

    Nghiên cứu vận dụng quan điểm của dạy học hiện đại và sử dụng

    phương pháp thực nghiệm trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong

    dạy học vật lí nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh

    THPT khi dạy chương: “các định luật bảo toàn – Vật lí 10 THPT”.

    3. Giả thuyết khoa học

    Nếu tổ chức dạy học phối hợp phương pháp thực nghiệm và dạy học phát

    hiện, giải quyết vấn đề phù hợp với quan điểm của dạy học hiện đại và đặc

    điểm môn học vật lí thì sẽ phát huy tính tích cực, tự chủ, sáng tạo và nâng cao

    chất lượng học tập của học sinh.

    4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

    * Khách thể

    – Dạy và học vật lí trong trường THPT

    * Đối tượng nghiên cứu

    – Phối hợp sử dụng phương pháp thực nghiệm trong dạy học phát hiện và

    giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 10 – THPT.

    – Giáo viên, học sinh THPT.

    3

    Nghiên c u i m i ph ng pháp d y h c v t lý THPT ứ đổ ớ ươ ạ ọ ậ

    5. Nhiệm vụ nghiên cứu

    – Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc phát huy tính tích cực, tự lực và sáng

    tạo của học sinh THPT.

    – Nghiên cứu vận dụng quan điểm của dạy học hiện đại vào dạy học nêu vấn

    đề và phương pháp thực nghiệm trong dạy học vật lí để phát huy tính tích cực,

    tự lực và sáng tạo của học sinh THPT.

    – Điều tra thực trạng dạy học nêu vấn đề và phương pháp thực nghiệm phần

    kiến thức trên ở trường THPT theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng

    tạo của học sinh THPT.

    – Nghiên cứu nội dung, cấu trúc, đặc điểm chương “các định luật bảo toàn-

    Vật lí 10 THPT “.

    – Thiết kế dạy học phối hợp nêu vấn đề và phương pháp thực nghiệm một

    số kiến thức chương ” các định luật bảo toàn – Vật lí 10 THPT “. Để phát

    huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh.

    – TNSP để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề

    xuất.

    – Xử lí số liệu bằng phương pháp thống kê toán học, viết báo cáo tổng kết.

    6. Phương pháp nghiên cứu

    – Nghiên cứu lý luận các phương pháp dạy học.

    – Tiến hành điều tra khảo sát.

    – Nghiên cứu thực tiễn và thực nghiệm sư phạm.

    4

    Nghiên c u i m i ph ng pháp d y h c v t lý THPT ứ đổ ớ ươ ạ ọ ậ

    – Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí số liệu.

    7. Phạm vi nghiên cứu

    – Các trường THPT thuộc tỉnh Cao Bằng.

    – Nghiên cứu và thiết kế tiến trình dạy học trên tinh thần của phương pháp

    dạy học nêu vấn đề và phương pháp thực nghiệm thông qua hoạt động nhóm

    của phần kiến thức về chương “các định luật bảo toàn – Vật lí 10 THPT”.

    Giúp nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh.

    8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

    – Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận của việc phát huy tính tích cực, tự lực

    và sáng tạo của học sinh trong dạy học nêu vấn đề và phương pháp thực

    nghiệm môn vật lí ở trường phổ thông.

    – Các thiết kế tiến trình dạy học phối hợp nêu vấn đề và phương pháp thực

    nghiệm một số kiến thức chương “các định luật bảo toàn – Vật lí 10 THPT”.

    Nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo và nâng cao chất lượng học tập

    của học sinh miền núi.

    – Có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên phổ thông.

    9. Dự kiến cấu trúc luận văn (gồm 3 phần).

    PHẦN I: MỞ ĐẦU

    1. Lí do chọn đề tài.

    2. Mục đích nghiên cứu.

    3. Giả thuyết khoa học.

    5

    Nghiên c u i m i ph ng pháp d y h c v t lý THPT ứ đổ ớ ươ ạ ọ ậ

    4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.

    5. Nhiệm vụ nghiên cứu.

    6. Phương pháp nghiên cứu.

    7. Phạm vi nghiên cứu.

    8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.

    PHẦN II: NỘI DUNG

    CHƯƠNG I: Cơ sở lí luận và thực tiễn về việc sử dụng phương pháp

    thực nghiệm trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học vật lí.

    CHƯƠNG II: Sử dụng phương pháp thực nghiệm trong dạy học phát

    hiện và giải quyết vấn đề khi dạy học chương “Các định luật bảo toàn” vật lí

    cơ bản 10, theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh

    miền núi.

    CHƯƠNG III: Thực nghiệm sư phạm.

    6

    Nghiên c u i m i ph ng pháp d y h c v t lý THPT ứ đổ ớ ươ ạ ọ ậ

    CHƯƠNG I

    CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG

    PHÁP THỰC NGHIỆM TRONG DẠY HỌC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI

    QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ.

    Trong mấy năm gần đây, đổi mới PPDH là nhiệm vụ quan trọng hàng

    đầu của ngành giáo dục và là một trong những biện pháp để nâng cao chất

    lượng giáo dục Việt Nam hiện nay. Môn vật lí là bộ môn khoa học thực

    nghiệm ở trường phổ thông. Phương pháp nhận thức khoa học của vật lí là

    phương pháp thực nghiệm vì vậy đưa phương pháp thực nghiệm là phương

    pháp không thể thiếu quá trình giảng dạy vật lí.

    1.1. Phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu vật lí.

    1.1.1. Sự ra đời của phương pháp thực nghiệm trong sự phát triển của vật lí

    học .

    Thời cổ đại, khoa học chưa phân ngành và chưu tách khỏi triết học, mục

    đích của nó là tìm hiểu và giải thích thiên nhiên một cách toàn bộ mà chưa đi

    vào từng lĩnh vực cụ thể. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, lao động chân tay bị

    coi khinh vì đó là lao động của tầng lớp nô lệ, coi trọng hoạt động tinh tế của trí

    óc. Do đó nhiều nhà hiền triết cho rằng có thể dùng sự suy lý, sự tranh luận để

    tìm ra chân lý mà không coi trọng thí nghiệm. Trong cuốn “vật lí học”, Aristote

    7

    Nghiên c u i m i ph ng pháp d y h c v t lý THPT ứ đổ ớ ươ ạ ọ ậ

    (384 – 322 TCN ), một đại diện tiêu biểu cho nền khoa học cổ đại cũng không

    dùng thí nghiệm mà đi đến kết luận bằng cách lập luận.

    Sang thời trung đại tư tưởng của Aristote trở thành những giáo điều bất khả

    xâm phạm. Giáo hội Gia Tô có một địa vị tối cao trong đời sống xã hội và coi ”

    khoa học là đầy tớ của giáo lí “. Tuy vậy trong thời này cũng có những người

    muốn tìm những con đường mới hơn để đi đến nhận thức khoa học như Roger

    Bacon (1214 – 1294 ) cho rằng khoa học không chỉ có nhiệm vụ bình giải lời lẽ

    của những kẻ có uy tín, khoa học phải được xây dựng trên cơ sở những lập luận

    chặt chẽ và các thí nghiệm chính xác. Vì vậy ông bị giáo hội lên án và bị cầm

    tù hơn 20 năm.

    Đến thế kỉ XVII, Galile ( 1564 – 1642 ) đã xây dựng cơ sở của một nền vật lí

    học mới ( vật lí học thực nghiệm ) thay thế cho vật lí học của Aristote bằng

    hàng loạt những nghiên cứu về thiên văn học, cơ học, âm học, quang học…

    Galile cho rằng muốn hiểu biết thiên nhiên cần phải trực tiếp quan sát thiên

    nhiên, phải làm thí nghiệm, phải ” hỏi thiên nhiên ” chứ không phải hỏi

    Aristote hoặc kinh thánh. Trước một hiện tượng cần tìm hiểu, Galile bắt đầu

    bằng quan sát để xác định rõ vấn đề cần nghiên cứu, đưa ra một cách giải thích

    lý thuyết có tính chất dự đoán. Từ lý thuyết đó, ông rút ra kết luận có thể kiểm

    tra được bằng thực nghiệm. Sau đó ông bố trí thí nghiệm thích hợp, tạo điều

    kiện thí nghiệm và phương tiện thí nghiệm tốt nhất để có thể đạt kết quả chính

    8

    Nghiên c u i m i ph ng pháp d y h c v t lý THPT ứ đổ ớ ươ ạ ọ ậ

    xác tin cậy được. Cuối cùng ông đối chiếu kết qua thu được bằng thực nghiệm

    với lý thuyết ban đầu.

    Phương pháp của Galile có tính hệ thống, tính khoa học, có chức năng nhận

    thức luận, tổng quát hóa về mặt lý thuyết những sự kiện thực nghiệm và phát

    hiện ra bản chất của sự vật hiện tượng. Về sau, các nha khoa học khác đã kế

    thừa phương pháp đó và xây dựng cho hoàn chỉnh hơn. Những thành tựu ban

    đầu của vật lí học thực nghiệm đã khiến cho thế kỉ XVII trở thành thế kỉ của

    cuộc cách mạng khoa học thắng lợi với các đại diện tiêu biểu như : Torricelli

    ( 1608 – 1662 ), Pascal ( 1623 – 1662 ), Boyle ( 1627 – 1691 )…

    Như vậy, phương pháp thực nghiệm với tư cách là một trong những phương

    pháp nhận thức khoa học và không những thành công trong sự phát triển của

    vật lí học cổ điển mà vẫn còn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình

    nghiên cứu vật lí học hiện đại.

    1.1.2. Nội dung của phương pháp thực nghiệm.

    Galile được coi là ông tổ của vật lí thực nghiệm, người sáng lập ra vật lí

    thực nghiệm và các nhà khoa học sau này đã kế thừa và hoàn chỉnh hơn. Spaski

    đã nên lên thực chất của phương pháp thực nghiệm của Galile như sau: Xuất

    phát từ quan sát và thực nghiệm, nhà khoa học xây dựng một giả thuyết ( dự

    đoán ). Giả thuyết đó không chỉ đơn thuần là sự tổng quát hóa các sự kiện thực

    nghiệm đã làm. Nó chứa đựng một cái gì mới mẻ, không có sẵn trong từng thí

    nghiệm cụ thể. Bằng phép suy luận logic và bằng toán học, các nhà khoa học có

    9

    Nghiên c u i m i ph ng pháp d y h c v t lý THPT ứ đổ ớ ươ ạ ọ ậ

    thể từ giả thuyết đó mà rút ra một số hệ quả, tiên đoán một số các sự kiện mới

    trước đó chưa biết đến. Những hệ quả và sự kiện mới đó lại có thể dùng thực

    nghiệm mà kiểm tra lại được, và nếu sự kiểm tra đó thành công, nó khẳng định

    giả thuyết, biến giả thuyết thành định luật chính xác.

    Còn theo tác giả Nguyễn Đức Thâm và Nguyễn Ngọc Hưng thì phân biệt

    phương pháp thực nghiệm theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. “Theo nghĩa rộng,

    phương pháp thực nghiệm có thể bao gồm từ những ý tưởng ban đầu của các

    nhà khoa học cho đến kết luận cuối cùng. Theo nghĩa hẹp, phương pháp thực

    nghiệm có thể hiểu như sau: từ lý thuyết đã biết suy ra hệ quả và dùng thí

    nghiệm để kiểm tra hệ quả. Các nhà thực nghiệm không nhất thiết tự mình xây

    dựng giả thuyết mà giả thuyết đó đã có người khác đề ra rồi nhưng chưa kiểm

    tra được. Nhiệm vụ của nhà vật lí thực nghiệm lúc này là từ giả thuyết đã có

    suy ra hệ quả có thể kiểm tra được và tìm cách bố trí thí nghiệm khéo léo, tinh

    10

    Nghiên c u i m i ph ng pháp d y h c v t lý THPT ứ đổ ớ ươ ạ ọ ậ

    vi để qua sát được hiện tượng do lý thuyết dự đoán và thực hiện các phép đo

    chính xác”,

    * Giai đoạn 2: Xây dựng dự đoán.

    Giáo viên hướng dẫn, gợi ý cho học sinh xây dựng một câu trả lời dự

    14

    Nghiên c u i m i ph ng pháp d y h c v t lý THPT ứ đổ ớ ươ ạ ọ ậ

    đoán ban đầu dựa vào sự quan sát, vào kinh nghiệm của bản thân, vào những

    kiến thức đã có… ( ta gọi là xây dựng giả thuyết ). Những dự đoán này có thể

    còn thô sơ, có vẻ hợp lý nhưng chưa chắc chắn. Người giáo viên phải hướng

    dẫn các em biết dự đoán có căn cứ, giúp học sinh lập luận, loại trừ các dự đoán

    chưa có căn cứ vững chắc, chọn lựu và xây dựng dự đoán hợp lí hơn cả .

    * Giai đoạn 5: Rút ra kết luận ( Hợp thức hóa kết quả nghiên cứu ).

    Nội dung của giai đoạn này bao gồm:

    – Tổ chức cho học sinh hoặc nhóm học sinh báo cáo kết quả

    nghiên cứu của mình trước lớp.

    16

    Nghiên c u i m i ph ng pháp d y h c v t lý THPT ứ đổ ớ ươ ạ ọ ậ

    – Tổ chức cho học sinh ( các nhóm học sinh ) trao đổi, tranh luận,

    đánh giá kết quả nghiên cứu của bạn, thí nghiệm có kiểm tra được đúng điều dự

    đoán không, cần bổ sung điều chỉnh thế nào.

    – Giúp học sinh chuẩn xác hóa các kết luận, rút ra kiến thức. Nếu

    kết quả thí nghiệm khẳng định hệ quả logic tức là khẳng định tính chân thực

    của dự đoán (giả thuyết). Nếu kết quả thí nghiệm phủ định hệ quả logic thì phải

    kiểm tra lại thí nghiệm ( bố trí đã hợp lý chưa, tiến hành có gì sai…) hoặc quá

    trình suy ra hệ quả logic có sai lầm gì hoặc là phải xem lại chính bản thân dự

    đoán (giả thuyết) để điều chỉnh, thậm chí phải thay đổi bằng dự đoán khác cho

    đến khi có sự phù hợp của kết quả thí nghiệm với hệ quả mới thì lúc đó dự

    đoán (giả thuyết) nêu ra mới thành chân lý khoa học (định luật, thuyết, định

    lý…).

    1.2.3. Những hoạt động của giáo viên và học sinh khi dạy học phương pháp

    thực nghiệm.

    1.2.3.1. Những hoạt động nhận thức vật lí của học sinh.

    Hoạt động học là một hoạt động đặc thù của con người nhằm tiếp thu

    những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm mà loài người đã tích lũy được, đồng thời

    phát triển những phẩm chất năng lực của người học.

    Theo lý thuyết hoạt động, hoạt động học có cấu trúc, gồm nhiều thành

    phần có quan hệ và tác động lẫn nhau:

    Động cơ Hoạt động

    Mục đích Hành động

    Phương tiện Thao tác

    18

    Nghiên c u i m i ph ng pháp d y h c v t lý THPT ứ đổ ớ ươ ạ ọ ậ

    Điều kiện

    Hình 1.1: Cấu trúc của hoạt động học theo lý thuyết hoạt động.

    Đối với hoạt động học tập vật lí của học sinh ở trường phổ thông thì các

    hành động được dùng phổ biến là:

    1. Quan sát, nhận biết những dấu hiệu đặc trưng của sự vật, hiện

    tượng.

    2. Phân tích một hiện tượng phức tạp ra thành những hiện tượng đơn

    giản.

    3. Xác định những giai đoạn diễn biến của hiện tượng.

    4. Tìm các dấu hiệu giống nhau của các sự vật, hiện tượng.

    5. Bố trí một thí nghiệm để tạo ra một hiện tượng trong những điều

    kiện xác định.

    6. Tìm những tính chất chung của nhiều sự vật, hiện tượng.

    7. Tìm mối quan hệ khách quan, phổ biến giữa các sự vật hiện tượng.

    8. Tìm mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng.

    9. Mô hình hóa những sự kiện thực tế quan sát được dưới dạng những

    khái niệm, những mô hình lý tưởng để sử dụng chúng làm công cụ của tư duy.

    10. Đo một đại lượng vật lí.

    11. Tìm mối quan hệ hàm số giữu các đại lượng vật lí, biểu diễn bằng

    công cụ toán học.

    19

    Nghiên c u i m i ph ng pháp d y h c v t lý THPT ứ đổ ớ ươ ạ ọ ậ

    12. Dự đoán diễn biến của một hiện tượng trong những điều kiện thực

    tế xác định.

    13. Giải thích một hiện tượng thực tế.

    14. Xây dựng một giả thuyết.

    15. Từ giả thuyết, suy ra một hệ quả.

    16. Lập phương án thí nghiệm để kiểm tra một giả thuyết (hệ quả).

    17. Tìm những biểu hiện cụ thể trong thực tế của những khái niệm,

    định luật vật lí.

    18. Diễn đạt bằng lời những kết quả thu được qua hành động.

    19. Đánh giá kết quả hành động.

    20. Tìm những phương pháp chung để giải quyết một loại vấn đề.

    Và những thao tác phổ biến cần dùng trong hoạt động nhận thức vật lí.

    1. Thao tác vật chất:

    – Nhận biết bằng các giác quan.

    – Tác động lên các vật thể bằng công cụ: chiếu sáng, tác dụng lực, làm

    di chuyển, làm biến dạng, hơ nóng, làm lạnh, cọ xát, đặt vào một điện áp…

    – Sử dụng các dụng cụ đo.

    – Làm thí nghiệm.

    – Thu thập tài liệu, số liệu thực nghiệm.

    – Thay đổi các điều kiện thí nghiệm.

    2. Thao tác tư duy:

    20

    Nghiên c u i m i ph ng pháp d y h c v t lý THPT ứ đổ ớ ươ ạ ọ ậ

    – Phân tích.

    – Tổng hợp.

    – So sánh.

    – Trừu tượng hóa.

    – Khái quát hóa.

    – Cụ thể hóa.

    – Suy luận quy nạp.

    – Suy luận diễn dịch.

    – Suy luận tương tự.

    Những hành động và thao tác ở trên là những hành động và thao tác được dùng

    phổ biến trong quá trình nhận thức vật lí của học sinh ở trường phổ thông .

    1. Đo đạc:

    – Đo đạc những đại lượng biến thiên nhanh.

    – Đo gián tiếp các đại lượng.

    – Biết cách tính sai số tuyệt đối, tương đối và đánh giá độ chính xác của

    phép đo.

    – Biết vẽ đồ thị. Biết sử dụng đồ thị tra cứu những thông tin cần thiết

    2. Quan sát:

    21

    Nghiên c u i m i ph ng pháp d y h c v t lý THPT ứ đổ ớ ươ ạ ọ ậ

    – Quan sát hiện tượng diễn biến nhanh.

    – Quan sát quá trình có nhiều hơn 2 đại lượng biến thiên, biết khống chế

    điều kiện để đơn giản hóa quá trình. Mô tả kết quả quan sát bằng bảng số, đồ

    thị từ đó rút ra những nhận xét.

    – Quan sát để đưa ra giả thuyết sơ bộ.

    3. Thí nghiệm vật lí: Biết sử dụng các hành động và các thao tác trong

    việc tiến hành thí nghiệm theo chỉ dẫn; Bước đầu có hiểu biết và kỹ năng đề

    xuất phương án thí nghiệm nhằm kiểm tra giả thuyết; rút ra kết luận về vấn đề

    nghiên cứu.

    4. Về các thao tác tư duy: Biết phân tích, so sánh các kết quả quan sát và

    đo đạc, thí nghiệm; biết tổng hợp khái quát hóa để rút ra kết luận đơn giản.

    5. Những hiểu biết về lý thuyết phương pháp thực nghiệm và vận dụng.

    – Hiểu được những khâu cơ bản của phương pháp thực nghiệm.

    – Bước đầu biết sử dụng phương pháp thực nghiệm xây dựng một vài

    định luật đơn giản.

    – Tự lực nghiên cứu một vấn đề đơn giản bằng phương pháp thực

    nghiệm.

    Như vậy, khi hướng dẫn học sinh nhận thức vật lí bằng phương pháp thực

    nghiệm thì hành động và thao tác đặc thù của nhận thức vật lí đã nêu trên có cơ

    hội thực hiện; học sinh được bồi dưỡng, rèn luyện tư duy lý thuyết và thực

    nghiệm – tư duy vật lí.

    22

    Nghiên c u i m i ph ng pháp d y h c v t lý THPT ứ đổ ớ ươ ạ ọ ậ

    1.2.3.2. Những hoạt động của giáo viên khi hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh

    kiến thức theo phương pháp thực nghiệm vật lí.

    – Xây dựng tình huống có vấn đề.

    – Lựa chọn một logic nội dung bài học thích hợp.

    – Rèn luyện cho học sinh kỹ năng thực hiện những thao tác cơ bản,

    những hành động phổ biến.

    – Lựa chọn và cung cấp cho học sinh những phương tiện, công cụ cần

    thiết để thực hiện các hành động.

    – Định hướng hành động tư duy học sinh theo các giai đoạn của phương

    pháp thực nghiệm.

    Việc định hướng hành động tư duy học sinh được thực hiện thông qua

    các câu hỏi. Theo tác giả Phạm Hữu Tòng có 3 kiểu định hướng thường sử

    dụng [22,tr.46].

    + Định hướng tái tạo: là kiểu định hướng trong đó người dạy hướng học

    sinh vào việc huy động, áp dụng những kiến thức, cách thức hoạt động học sinh

    đã nắm được hoặc đã được người dạy chỉ ra một cách tường minh, để học sinh

    có thể thực hiện nhiệm vụ mà họ đảm nhận.

    Sự định hướng tái tạo lại có thể phân biệt thành hai trình độ khác nhau

    đối với hành động đòi hỏi ở học sinh. Đó là:

    Định hướng tái tạo từng thao tác cụ thể riêng rẽ. Người học theo dõi,

    thực hiện, bắt chước lặp lại theo thao tác mẫu cụ thể do người dạy chỉ ra.

    23

    Nghiên c u i m i ph ng pháp d y h c v t lý THPT ứ đổ ớ ươ ạ ọ ậ

    Định hướng tái tạo angôrit. Người dạy chỉ ra một cách khái quát tổng thể

    trình tự hành động để người học tự chủ giải quyết được nhiệm vụ.

    + Định hướng tìm tòi: là kiểu định hướng trong đó người dạy không chỉ

    ra cho học sinh một cách tường minh các kiến thức và cách thức hoạt động cần

    áp dụng, mà người dạy chỉ đưa ra cho học sinh những gợi ý sao cho học sinh có

    thể tự tìm tòi, huy động hoặc xây dựng những kiến thức và cách thức hoạt động

    thích hợp để giải quyết nhiệm vụ mà họ đảm nhận.

    + Định hướng khái quát chương trình hóa: là kiểu định hướng phối hợp

    các đặc điểm của hai kiểu định hướng trên, trong đó trước hết người dạy cũng

    gợi ý cho học sinh tự tìm tòi nhưng chú ý giúp cho học sinh ý thức được đúng

    đường lối khái quát của việc tìm tòi giải quyết vấn đề và sự định hướng được

    chương trình hóa theo các bước hợp lí, theo các bước từ cao đến thấp đối với

    học sinh; từ tổng quát, tổng thể, toàn bộ đến riêng biệt, chi tiết, bộ phận; từ tìm

    tòi đến tái tạo sao cho thực hiện được một cách có hiệu quả các yêu cầu cao

    nhất, vừa sức học sinh.

    Trong việc định hướng hành động tư duy học sinh theo các giai đoạn của

    phương pháp thực nghiệm vật lí thì các câu hỏi khái quát thường có dạng:

    + Câu hỏi định hướng nêu dự đoán: (Từ quan sát hay từ thí nghiệm ta

    thấy có mối liên hệ nào giữa đại lượng A và đại lượng B? Từ quan sát hay từ

    thí nghiệm ta thấy hiện tượng a xuất hiện khi nào? Trong điều kiện nào?).

    24

    Nghiên c u i m i ph ng pháp d y h c v t lý THPT ứ đổ ớ ươ ạ ọ ậ

    + Câu hỏi định hướng nêu hệ quả logic: (Nếu điều dự đoán đúng thì từ

    dự đoán suy ra hệ quả nào có thể kiểm tra bằng thí nghiệm?).

    + Câu hỏi định hướng nêu phương án thí nghiệm kiểm tra dự đoán hay

    hệ quả logic của dự đoán: (Cần phải làm thí nghiệm như thế nào để kiểm tra

    điều đó? Dụng cụ gì? Lắp ráp ra sao? Trình tự tiến hành thế nào? Xử lý số liệu

    kết quả thí nghiệm như thế nào?).

    + Câu hỏi định hướng thực hiện thí nghiệm kiểm tra: (Kết quả thí

    nghiệm có phù hợp với điều dự đoán không?).

    + Câu hỏi định hướng rút ra kết luận: (Rút ra kết luận gì về vấn đề

    nghiên cứu?).

    + Câu hỏi định hướng vận dụng trong tình huống đặt vấn đề: (Kiến thức

    mới, định luật, nguyên lý mới giải thích thế nào cho vấn đề nêu ra ở đề bài?).

    + Câu hỏi định hướng vận dụng trong tình huống mới: (Thí dụ nào

    chứng minh cho kết luận vừa mới tìm bằng phương pháp thực nghiệm?).

    1.3. Các biện pháp và hình thức dạy học phương pháp thực nghiệm.

    1.3.1. Các biện pháp chung.

    Thiết kế và tổ chức tiến trình dạy học một bài học vật lí tương tự như các

    giai đoạn của phương pháp thực nghiệm. Nếu mỗi bài học vật lí từ năm đầu tiên

    đến năm cuối cùng ở trường phổ thông, học sinh được quan tâm bồi dưỡng để

    hoạt động nhận thức theo tiến trình của phương pháp nhận thức khoa học, trong

    môn vật lí là phương pháp thực nghiệm vật lí thì nhất định năng lực nhận thức sẽ

    25

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Bộ Sách Dành Cho Giáo Viên
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Các Môn Học Theo Hướng Tiếp Cận
  • Sở Giáo Dục Và Đào Tạo Vĩnh Phúc
  • Những Kết Quả Bước Đầu Của Việc Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học, Kiểm Tra Đánh Giá
  • Quy Trình Chuẩn Bị Và Thực Hiện Giờ Dạy Theo Định Hướng Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Lịch Sử Thpt Doimoippdhlichsuthptnls Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Tiếng Việt Lớp 1
  • Đổi Mới Ppdayj Môn Học Vần Lớp 1 Doi Moi Ppdh Mon Hoc Van Lop 1 Ppt
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Vấn Đề Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Mĩ Thuật Ở Lớp 9 Trường Thcs
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Âm Nhạc Trong Trường Thcs
  • Chuyên Đề Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Âm Nhạc Thcs Chuyen De Am Nhac Thcs Doc
  • Đ ỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ

    Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC.

    1.Thực tiễn việc dạy học lịch sử ở các trường trung học tỉnh Đăk Lăk hiện nay.

    Những năm gần đây, việc dạy học lịch sử ở trường trung học đã có nhiều tiến bộ về nhận thức, nội dung và phương pháp dạy học. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những vấn đề tồn tại, yếu kém, tập trung ở những điểm sau:

    Thư nhất, nhiều GV nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử (PPDHLS) và hướng đổi mới là phát huy tính tích cực, độc lập nhận thức của HS. Để thực hiện điều này, một số GV đã vận dụng kết hợp các PPDH, trong đó có các biện pháp “hỏi – đáp”. Bên cạnh đó, vẫn còn không ít GV chưa nhận thức được điều này.

    Thứ hai, một số GV nhận thức được điểm mấu chốt của đổi mới PPDH là phải thay đổi quan niệm cũ trước đây: chuyển từ vai trò “thầy là trung tâm” sang “trò làm trung tâm” của quá trình dạy học. GV là người hướng dẫn điều khiển quá trình nhận thức của HS. Muốn vậy, phải phát huy các năng lực nhận thức độc lập, phát triển tính tích cực học tập của HS. Song, về biện pháp phát huy tính tích cực trong nhận thức của HS thì chưa tốt. Một số GV quan niệm rằng, đặt nhiều câu hỏi là đổi mới PPDH theo hướng tích cực. Vì vậy, giờ học biến thành giờ “hỏi – đáp” quá căng thẳng, khô khan và làm cho HS ít hứng thú học tập. Bởi vì, hỏi – đáp chỉ là một cách, muốn phát huy cách dạy này phải kết hợp với các phương pháp khác, đặc biệt là những phương pháp bộ môn.

    Thứ ba, Một bộ phận GV, nhất là ở các vùng sâu, xa…ít được cập nhật thông tin khoa học, chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của đổi mới PPDH hiện nay. Vì vậy, trong giờ học lịch sử thầy làm việc là chủ yếu, trò thụ động ghi chép còn khá phổ biến. Thậm chí, hiện tượng đọc chép còn tràn lan. Mặt khác, cũng có một bộ phận GV tuy nhận thức được vấn đề đổi mới PPDH nói chung, PPDHLS nói riêng, nhưng lại lấy nguyên nhân HS yếu kém không thể vận dụng các biện pháp đổi mới nhằm phát huy tính tích cực học tập của HS, nên cũng chỉ đọc chép, không rèn luyện cho các em năng lực tư duy độc lập, chiếm lĩnh kiến thức và trang bị phương pháp học tập tốt.

    Thứ tư, hiện nay sách giáo khoa biên soạn theo tinh thần đổi mới, có tính gợi mở, kênh hình tăng lên so với sách cũ, song một bộ phận GV chưa đủ độ sâu về kiến thức để hướng dẫn HS tự học, chưa hiểu hết nội dung kênh hình, nên hiệu quả sử dụng chưa cao.

    Thứ năm, ở các trường trung học hiện nay, GV chỉ mới tập trung vào các giờ lên lớp, chưa quan tâm đến các hoạt động ngoài lớp.

    Thứ sáu, việc kiểm tra, đánh giá HS còn nặng về ghi nhớ sự kiện một cách cách máy móc, thuộc lòng mà ít chú ý đến các kỹ năng phân tích, đánh giá, rút ra nhận xét, kết luận. Việc kiểm tra chỉ mới hướng đến cho điểm, chưa đánh giá được nhận thức lịch sử của HS, nên ảnh hưởng đến đổi mới PPDHLS và ít tạo được hứng thú học tập lịch sử.

    2. Đổi mới PPDHLS ở trường trung học .

    Trong quá trình dạy học, giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp và kiểm tra, đánh giá có mối quan hệ mật thiết với nhau. Không thể điều chỉnh mục tiêu đào tạo, cải tiến chương trình, nội dung sách giáo khoa mà không đổi mới PPDH và phương thức kiểm tra đánh giá trong dạy học. Vì vậy, để nâng cao chất lượng bộ môn lịch sử hiện nay theo tinh thần đổi mới giáo dục, việc đổi mới PPDH có ý nghĩa quan trọng.

    Đổi mới PPDH nói chung, dạy học lịch sử nói riêng ở trường trung học hiện nay là chuyển từ mô hình dạy học “lấy GV làm trung tâm” sang dạy học “lấy HS làm trung tâm”. Lấy HS làm trung tâm trong dạy học lịch sử thực chất là phát huy tính tích cực, độc lập nhận thức của người học, trong đó chủ yếu là tư duy. Có thể nhận rõ điều này qua sự so sánh phương pháp dạy cũ và phương pháp phát huy tính tích cực của HS trong bảng sau:

    Qua so sánh ở bảng trên cho thấy, ở cột thứ nhất, GV là nguồn kiến thức duy nhất, phần lớn thời gian trên lớp dùng cho GV giảng, HS nghe và ghi lại lời giảng của GV. Các khả năng nhận thức của HS không được phát huy. Đây là mô hì nh “lấy GV làm trung tâm”.

    Ở cột thứ hai, ngoài bài giảng của GV, HS được tiếp xúc với nhiều nguồn kiến thức khác nhau: SGK, tài liệu tham khảo, đồ dùng trực quan, thực tế cuộc sống… các năng lực và phẩm chất trong hoạt động nhận thức của HS có điều kiện phát huy. Đó là mô hình dạy học “lấy HS làm trung tâm”.

    Mục tiêu giáo dục nói chung, cấp học nói riêng là cái “đích” phải nhằm tới để đạt được những kết quả trong việc phát triển nhân cách HS về các mặt trí dục, đức dục, mĩ dục…. Dạy học lịch sử ở trường phổ thông phải quán triệt mục tiêu đào tạo chung, phải tiến hành theo Chương trình và SGK.

    Để đạt được mục tiêu bộ môn và góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo, dạy học lịch sử ở trường phổ thông phải nâng cao chất lượng dạy học. Song, căn cứ vào thực trạng hiện nay, muốn nâng cao chất lượng dạy học bộ môn cần đổi mới PPDH. Tức là chuyển từ dạy học “lấy GV làm trung tâm” sang dạy học “lấy HS làm trung tâm”.

    Thạc sĩ PHẠM ĐĂNG KHOA

    Phó Trưởng phòng GDTrH , Sở GD&ĐT Đắk Lắk.

    Nguồn: chúng tôi (06/02/2009 , 05/08/2009 )

    http://ngoclinhson.violet.vn , http://ngoclinhson.tk – website đang xây dựng, cập nhật:

    + Văn bản thiết yếu về Giáo dục và Đào tạo;

    + Tài liệu về Quản lý Giáo dục;

    + Tài liệu về các hoạt động giáo dục;

    + Tài liệu về Tin học, công nghệ thông tin, thiết kế web;

    + Giáo trình, giáo án, đề thi/kiểm tra (và đáp án);

    + Tài liệu cá nhân có được về mọi lĩnh vực;

    + Các phần mềm cá nhân có được về mọi lĩnh vực;

    (Một số chuyên mục, nội dung trước tiên ưu tiên khối THPT).

    Các tài liệu đã upload có thể được chỉnh sửa, bổ sung theo thời gian, có thể thay thế bằng một tài liệu khác giá trị hơn; sẽ bị xóa đi nếu phát hiện thiếu chính xác hoặc không có giá trị. Do đó, tại một địa chỉ, cùng một tiêu đề có thể download được tài liệu khác hoặc mới hơn.

    Ban quản trị cố gắng cung cấp kèm theo nguồn gốc tài liệu một cách đầy đủ nhất, đặc biệt là về tác giả, thời gian tài liệu, thời gian upload hay cung cấp…

    Ban quản trị ưu tiên tài liệu dạng văn bản (word). Các tài liệu sẽ được chuyển mã Unicode và chuẩn hóa văn bản trong điều kiện cho phép.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kế Hoạch Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học, Kiểm Tra Đánh Giá Trường Thcs_2013
  • Kế Hoạch Đổi Mới Ppdh Cá Nhân Ke Hoach Dmppdh2 Doc
  • Cơ Sở Lý Luận Trong Quản Lý Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học
  • Đổi Mới Phương Pháp Kiểm Tra, Đánh Giá: Bước Đột Phá Trong Dạy Học
  • Quản Lý Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Và Kiểm Tra Đánh Giá
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100