Quan Hệ Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Tổng Kết Phần Văn Học Sbt Ngữ Văn 10 Tập 2
  • Pod System Là Gì: Tìm Hiểu Chi Tiết Về Vape Pod Cho Người Mới!
  • So Sánh Vape Và Thuốc Lá Thường Cái Nào Hại Hơn
  • Nên Chọn Pod System Hay Vape Khi Hút Thuốc Lá Điện Tử
  • Pod System Và Vape Khác Nhau Như Thế Nào? Nên Hút Loại Nào?
  • Cần xem văn học dân gian và văn học viết là hai loại khác nhau của nghệ thuật ngôn từ nhưng cùng có chung một đối tượng phản ánh là hiện thực xã hội và lịch sử. Vì vậy, mối quan hệ tương tác là một tất yếu khách quan trong đời sống và quá trình phát triển của hai loại hình nghệ thuật này.

    Sự tương tác giữa văn học dân gian và văn học viết trước hết được nhìn nhận từ nhóm xã hội, nghĩa là từ phía người sáng tác. Nói văn học dân gian là sản phẩm của những người bình dân, văn học viết là sản phẩm của trí thức và những người thuộc tầng lớp trên của xã hội chỉ là một cách nói đại thể và đúng với các thời đại trước. Nhìn tổng quát thì sự tương tác giữa hai loại nghệ thuật ngôn từ này phản ánh sự tương tác giữa hai nhóm xã hội (trước đây thường gọi là tầng lớp hoặc giai cấp) trong quá trình sáng tác. Đó là mối quan hệ giao lưu tự nhiên. Các thành viên của nhóm này chen vào nhóm kia và ngược lại. Ca dao có câu:

    Kinh đô cũng có kẻ rồ

    Thôn quê cũng có sinh đồ trạng nguyên.

    Những người bình dân có thể leo lên những nấc thang cao trong xã hội bằng con đường học hành, thi cử. Ngược lại cũng có nhiều nho sĩ thất thế, về sống trong lòng dân chúng nơi thôn dã. Những “phần tử lạc ngũ” (chữ dùng của V.I. Lênin) thường tạo một sự hòa đồng mới, đem vốn văn học của mình gieo vào mảnh đất chung của những người cùng sống. Do đó giữa văn học dân gian và văn học viết, ranh giới hoàn toàn không rõ ràng. Không ít nhà thơ nhà văn reo rắc văn chương bác học vào môi trường dân gian và cũng không ít các sinh đồ trạng nguyên từ nông thôn reo rắc văn học dân gian vào môi trường bác học.

    Nhìn vào xã hội hiện đại, vấn đề ranh giới giữa văn học dân gian và văn học viết còn mờ nhạt hơn nữa. Một cá nhân trong xã hội đương đại có thể vừa sáng tác văn học viết, lại vừa sáng tác văn học dân gian. Tại những thời điểm khác nhau, anh ta có thể làm hai nhiệm vụ khác nhau về bản chất. Một nhiệm vụ sáng tác nghiêm túc (viết trường ca, truyện ngắn…) để đăng báo, in sách. Tại thời điểm khác, anh ta có thể bông đùa trước bạn bè, ngẫu hứng làm thơ hoặc nghĩ ra một câu chuyện hài hước. Hai loại nghệ thuật ngôn từ đều của cùng một tác giả. Sự tương tác này diễn ra trong cùng một cá nhân sáng tạo. Có điều, khi sáng tác văn học viết, anh ta rất có ý thức về quyền tác giả của mình, còn khi sáng tác văn học dân gian, anh ta không quan tâm, thậm chí cố tình từ chối quyền đó. Điển hình nhất hiện nay là những câu thơ, bài thơ trào phúng, rõ ràng có xuất phát điểm (tác giả) hẳn hoi nhưng khi truyền bá, không ai quan tâm đến tên người sáng tác nữa. Người ta có ý thức quên chứ không phải vô tình. Ngay chính tác giả nhiều khi, để tránh phiền toái, cũng không nhận là cha đẻ của đứa con tinh thần đó nữa.

    Đó chính là cội nguồn của mối tương tác giữa văn học dân gian và văn học viết.

    Về biểu hiện của mối quan hệ này, có các hình thức cơ bản sau đây:

    Con đò dịch đít sang ngangChắc chắn Bút Tre thật không bao giờ viết như vậy. 1. Hình thức nhại

    Xa xa có một cái làng thò ra

    Hiện tượng nhại còn có đối với cả thơ Tố Hữu, thơ Minh Huệ và một số nhà thơ khác. Chúng tôi ngờ rằng, trong số các bài thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương, có thể có những bài thơ nhại.

    Trong văn học dân gian cổ truyền, hiện tượng nhại diễn ra chủ yếu ở mảng thơ ca trào phúng và trên sân khấu chèo.

    Hình thức nhại đích thực là của văn học dân gian. Chỉ có một chiều nhại: văn học dân gian nhại văn học viết; không có chiều ngược lại: văn học viết nhại văn học dân gian.

    Nhại là một lối sáng tác rất phổ biến trong văn học dân gian. Hoàn toàn không có chuyện văn học dân gian nhại văn học dân gian. Những người làm văn học dân gian không bao giờ nhại nhau. Các trường hợp nhại đều là văn học dân gian nhại văn học viết. Bản thân từ “nhại” cũng mang ý nghĩa hài hước rồi. Văn học nhại là một loại văn học hài hước. Bắt đầu từ sự nghiêm trang trong văn học bác học, văn học dân gian bẻ cong thành một tác phẩm khác, mất đi ý nghĩa đích thực và hoàn toàn mang ý nghĩa trào lộng. Thơ Bút Tre dân gian là hiện tượng tiêu biểu cho văn học nhại. Những bài thơ của Trưởng ty Văn hóa Vĩnh Phú cách đây 40 năm vốn là những bài thơ nghiêm túc, chỉ có điều là hơi nôm na, không được chuyên nghiệp lắm. Những bài thơ nhại Bút Tre tự nhiên phát triển khá nhiều trong những năm 70 của thế kỷ trước. Đại loại có những bài thơ theo lối trần tục hóa như sau:

    2. Hình thức mô phỏng

    Nếu hình thức nhại là của văn học dân gian thì hình thức mô phỏng lại thường là của văn học viết. Các nhà nghiên cứu từng cho rằng đây là những tác phẩm ngụy dân gian. Quả thật, những tác phẩm này, nhiều người rất dễ lầm tưởng là văn học dân gian. Ngay cả các nhà nghiên cứu cũng đã từng lầm tưởng như vậy. Bài thơ “Anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương…” mãi sau này mới bị phát hiện ra là của Á Nam Trần Tuấn Khải viết vào đầu thế kỷ XX; câu thơ của Bảo Định Giang “Tháp Mười đẹp nhất bông sen, nước Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”, nhiều người trước đây đã lầm tưởng là ca dao Nam Bộ; bài thơ “Trên trời mây trắng như bông, ở dưới cánh đồng bông trắng như mây” được gọi là ca dao mới nhưng kỳ thực đó là bài mô phỏng ca dao.

    Hiện tượng mô phỏng văn học dân gian tiêu biểu nhất xảy ra trên thế giới là các trường hợp nhà văn viết truyện cổ tích văn học và truyện ngụ ngôn (Gơrim, L.Tônxtôi, Laphôngten). Trong Kinh Thánh tân ước có rất nhiều truyện ngụ ngôn nhưng đó là văn học bác học mô phỏng truyện ngụ ngôn vốn là một thể loại văn học dân gian.

    Việc đi tìm sự khác nhau giữa tác phẩm dân gian đích thực và tác phẩm mô phỏng dân gian là rất khó khăn, tuy rằng một vài trường hợp có thể phân biệt được (ví dụ: truyện cổ tích văn học thường hay có những đoạn tả cảnh hoặc diễn tả tâm lý nhân vật, còn truyện cổ tích dân gian thì chỉ kể về hành động của nhân vật mà thôi). Thành ra đây là nơi giao thoa, lẫn lộn giữa văn học dân gian và văn học viết.

    3. Hình thức thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học

    Đây là hiện tượng phổ biến, diễn ra theo cả hai chiều, từ dân gian vào bác học và ngược lại. Rất nhiều ngôn từ, điển tích của văn chương bác học đã đi vào dân gian:

    Anh xa em như bến xa thuyền

    Như xa biết mấy niên cho tái hồi

    *

    Đêm đêm tưởng giải Ngân Hà

    Mối sầu đã ba năm tròn

    Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn

    nước chảy vẫn còn trơ trơ.

    Các từ Một nhà sum họp Thuý Kiều, Kim Trọng, tinh đẩu, tào khê lấy từ nguồn văn học bác học.

    Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông.

    *

    Nàng rằng: “Non nước xa khơi,

    Sao cho thì mới

    Dễ lòa yếm thắm, trôn kim,

    Làm chibưng mắt bắt chim khó lòng !

    Đôi ta chút nghĩa ,

    Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh”.

    Ngược lại, rất nhiều ngôn từ nghệ thuật của văn học dân gian đã có mặt trong những tác phẩm văn học viết. Sự tiếp nhận văn học dân gian của văn học viết được xem như là quy luật của lịch sử văn học. Đối với đa số các dân tộc trên thế giới, văn học dân gian bao giờ cũng có trước, văn học viết hình thành sau và được xây dựng trên nền tảng văn học dân gian. Vì vậy, tiếp thu chất liệu của văn học dân gian là hiện tượng phổ biến trong văn học viết. Những tác phẩm văn học viết nổi tiếng, giàu tính dân tộc nhất, thường tiếp thu có sáng tạo nhiều chất liệu từ văn học dân gian. Truyện Kiều của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du là một ví dụ tiêu biểu:

    Các từ và cụm từ trúc mai, trong ấm ngoài êm, bưng mắt bắt chim, đèo bòng được lấy từ kho tàng thơ ca dân gian người Việt.

    Sự thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học, dù diễn ra phổ biến, vẫn không làm xoá nhoà ranh giới giữa văn học dân gian và văn học viết. Mỗi tác gia văn học viết đều có ý thức rõ ràng rằng mình sử dụng chất liệu văn học dân gian để làm gì và sử dụng như thế nào. Sự có mặt của chất liệu văn học dân gian trong các tác phẩm văn học viết làm cho các tác phẩm này gần gũi với dân gian nhưng không làm biến chất bác học. Cũng như vậy, không vì mang trong mình chất liệu văn học viết mà văn học dân gian bị biến đổi bản chất của mình. Chúng ta có thể lấy Tam quốc chí và Tây du ký, hai tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng của Trung Quốc làm ví dụ. Những mẩu chuyện trong hai tác phẩm nổi tiếng này vốn từ lâu được kể trong dân gian bởi các thuyết thoại nhân (những người chuyên đi kể chuyện ở ngoài chợ hoặc trên đường phố để kiếm ăn). Tập hợp những mẩu chuyện rời rạc để thành tiểu thuyết chương hồi là công lao to lớn của La Quán Trung và Ngô Thừa Ân. Toàn bộ chất liệu dân gian được hai nhà văn thời Minh Thanh nhào nặn, tạo nên những tác phẩm văn học viết đích thực, không phải là dân gian nữa.

    Đèn tà thấp thoáng bóng trăng,Thuở sinh thời, nhà thơ Xuân Diệu đã từng ca ngợi bài ca dao: lời thơ không kém gì thơ Kiều. Phong cách bác học của bài ca dao thể hiện khá rõ, có thể lẫn với văn học viết nếu người đọc không biết rõ xuất xứ của nó. 4. Hình thức thâm nhập lẫn nhau về phong cách

    Ai đem người ngọc thung thăng chốn này.

    Hiện tượng văn học viết mang phong cách dân gian thì có nhiều. Tiêu biểu nhất trong nền thơ ca Việt nam, có lẽ là Nguyễn Bính. Thơ ông tràn đầy phong cách dân gian:

    Đây là hình thức tương tác cao nhất giữa văn học dân gian và văn học viết. Hình thức này tạo ra một chất lượng mới trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ.

    Phong cách là chất lượng. Các nhà văn, nhà thơ trẻ chưa thể tạo cho mình một phong cách. Chỉ những tác gia văn học có tài năng mới định hình được về phong cách. Vì vậy, phong cách cũng là bản lĩnh của tác giả thể hiện qua tác phẩm. Văn học dân gian không có phong cách tác giả nhưng có phong cách thể loại.

    Sự thâm nhập lẫn nhau về phong cách cũng diễn ra theo hai chiều như sự thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học. Tuy nhiên, ở đây, chiều dân gian vào bác học mạnh hơn là chiều từ bác học vào dân gian. Thật khó tìm những tác phẩm văn học dân gian mang phong cách bác học. Những trường hợp như bài ca dao sau đây không nhiều trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam:

    Giếng thơi mưa ngập nước tràn,

    Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều.

    Nhà em cách bốn quả đồi,

    Cách ba ngọn núi, cách đôi cánh rừng,

    Nhà em xa cách quá chừng,

    Em van anh đấy, anh đừng yêu em.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mối Quan Hệ Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết Trong Lịch Sử Văn Học Dân Tộc
  • Các Hình Thức Tương Tác Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết
  • Chuẩn Usb 2.0 Và Usb 3.0 Khác Nhau Ở Chỗ Nào?
  • Usb 2.0 Và Usb 3.0 Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Sự Khác Biệt Giữa Usb 1.1, Usb 2.0 Và Usb 3.0 Là Gì?
  • Mối Quan Hệ Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết Trong Lịch Sử Văn Học Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Quan Hệ Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết
  • Soạn Bài Tổng Kết Phần Văn Học Sbt Ngữ Văn 10 Tập 2
  • Pod System Là Gì: Tìm Hiểu Chi Tiết Về Vape Pod Cho Người Mới!
  • So Sánh Vape Và Thuốc Lá Thường Cái Nào Hại Hơn
  • Nên Chọn Pod System Hay Vape Khi Hút Thuốc Lá Điện Tử
  • ♦ ♦ ♦

    Đúng là chưa bao giờ văn học dân gian cổ truyền của dân tộc lại sống dậy huy hoàng và được nhận thức sâu sắc về giá trị và vai trò của nó như trong thời đại ngày nay.Trong những thành tựu hiện đại về việc nghiên cứu văn học dân gian cổ truyền của dân tộc, có một luận điểm khoa học cực kỳ quan trọng được nhiều người thừa nhận là: chính văn học dân gian là nền tảng của sự phát triển, kết tinh của nền văn học dân tộc. Luận điểm này vừa là sự khẳng định vai trò của văn học dân gian, vừa là điều cốt lọi nhất khi nói về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết,vừa là phương pháp luận đối với việc nghiên cứu lịch sử văn học dân tộc nói chung. Luận điểm này xét đến cùng là dựa trên qui luật cơ bản về vai trò của nhân dân Việt Nam trong lịch sử Việt Nam mà cũng đến thời đại cách mạng đã thành công, quan điểm nhân dân làm chủ đất nước đã trổi dậy với tính chất chính thống, đặc biệt là trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước vừa qua mới như được phát hiện lại, nhận thức lại một cách đầy đủ hơn. Dĩ nhiên nó còn phải được tiếp tục nhận thức sâu sắc hơn trong tương lai. Trước thời đại cách mạng thành công, một số vị thức giả như Võ Liêm Sơn(1), Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Trọng Thuật(2)… đã nêu cao vai trò “tảng móng, tinh tuý của văn học dân gian đối với nền quốc học của ta”. Nhưng những ý kiến quí báu đó lại đang ở trạng thái trực cảm, chưa được nâng lên trình độ phân tích lý luận và do đó chính các tác giả của nó cũng chưa hình dung được thật rõ những điều mình nói. Còn với chúng ta hôm nay, muốn vượt qua giai đoạn nhận thức trực cảm để tiến vào giai đoạn nhận thức lý tính, phải có lý luận khoa học hỗ trợ, mặc dù công việc nhận thức lý tính này tự nó cũng lại phải có một quá trinh từ thấp lên cao. Nói vậy để thấy công tác lý luận ở phương diện này là đang cần được quan tâm nhiều hơn nữa. Có như thế, luận điểm khoa học nói trên mới có khả năng được quán triệt trong công việc nghiên cứu văn học dân tộc một cách sâu sắc và cụ thể. Ví như với Truyện Kiều chẳng hạn. Từ lâu, các nhà nghiên cứu đã nói đến mối quan hệ giữa Truyện Kiều với văn học dân gian. Nhưng từ chỗ chỉ giới hạn mối quan hệ đó trong phạm vi một số yếu tố nghệ thuật là thể tài lục bát và thành ngữ tục ngữ… như lâu nay vẫn thấy đến chỗ kết luận rằng: Truyện Kiều đã kết tinh trên cơ sở văn học dân gian(3) quả là một điều hoàn toàn không đơn giản bởi nó đã thay đổi chất lượng của sự nhận thức, có thể nói là thay đổi qui mô của vấn đề. Chúng ta sẽ cố gắng góp phần vào việc giải quyết yêu cầu trên bằng cách làm sáng rõ hơn mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết để từ đó xác định rõ hơn vai trò làm nền của văn học dân gian trong lịch sử văn học dân tộc.

    Khi nói đến vai trò làm nền của văn học dân gian trong lịch sử văn học dân tộc, chúng ta dễ nghĩ ngay đến bộ phận văn học dân gian ra đời có thể nói là cùng với sự ra đời của lịch sử dân tộc và tồn tại, phát triển trong một thời gian dài trước khi có văn học viết. Bộ phận văn học dân gian nguyên thuỷ này bao gồm chủ yếu là các thể loại thần thoại, thần thoại pha truyền thuyết, truyền thuyết, truyền thuyết pha thần thoại ,truyện cổ, dân ca cổ, ca dao tục ngữ cổ.. .chắc đã bị mai một đi không ít trong thời gian, nhưng gần đây với sự hỗ trợ tích cực của những thành tựu khoa học lịch sử như dân tộc học lịch sử, ngôn ngữ học lịch sử, đặc biệt là khảo cổ học, nó đang được sưu tầm lại ngày một phong phú, bề thế. Từ đó vấn đề cần kết luận là: chính kho tàng văn học dân gian sơ khai, nguyên thuỷ đó đã là nền tảng vững chãi, đã là ngọn nguồn trong mát đầu tiên của lịch sử văn học dân tộc. Vấn đề tiếp theo ở đây là làm sao miêu tả, chứng minh, khôi phục lại được dấu vết cụ thể của văn học dân gian nguyên thuỷ từng tồn tại và chi phối, từng làm cơ sở kết tinh tư tưởng thẩm mỹ trong nền văn học viết ra đời và phát triển về sau. Chắc chắn là có trạng thái đơn giản, trực tiếp dễ thấy, có trạng thái tinh vi, phức tạp, gián tiếp khó thấy hơn nhưng chưa hẳn đã kém quan trọng hơn. Thật ra ở đây cũng không thể hiểu vấn đề vai trò của văn học dân gian nguyên thuỷ đối vơí nền văn học viết về sau một cách hẹp hòi theo hướng hạn chế nội hàm của khái niệm văn học dân gian chỉ còn lại là những văn bản được ghi chép lại như là cái bóng của một hình thức vốn tồn tại như một cơ thể sống và có quan hệ chằng chịt,gắn bó với nhiều hình thái của văn hoá sơ khai như trò chơi,lễ hội,kể cả phong tục.

    Tóm lại, tình hình văn tự như trên vừa nói chính là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh qui luật: trong lịch sử văn học Việt Nam, sau khi đã có văn học viết ra đời, văn học dân gian vẫn tiếp tục tồn tại, phát triển và do đó vẫn tiếp tục đóng vai trò làm nền cho sự phát triển và kết tinh của văn học viết. Tuy nhiên để cho quan điểm “làm nền” này được triển khai thực sự, lại còn phải làm sáng tỏ một loạt vấn đề sau đây:

    • Nội hàm có tính lịch sử cụ thể của khái niệm bình dân (hoặc dân chúng, hoặc quần chúng, hoặc nhân dân lao động) là gì?
    • Vai trò của trí thức bình dân có hay không trong việc sáng tác văn học dân gian? Có ở mức độ nào trong tương quan với vai trò của quần chúng lao động?
    • Những trí thức khác không thuộc trí thức bình dân liệu có vai trò gì trong việc sáng tác văn học dân gian?

    Chúng ta vẫn bắt gặp tình trạng nói tác giả văn học dân gian là bình dân, là quần chúng lao động… nhưng bỏ không giới thuyết nội hàm khái niệm hoặc có giới thuyết thì lại chưa chú ý đầy đủ đến tính lịch sử cụ thể của nội hàm khái niệm. Trong bài ” Để có thể nắm bắt được thực chất của văn học dân gian”, tác giả Đinh Gia Khánh đã cố gắng giới thuyết chu đáo và phù hợp với thực tiễn sinh động hơn. Tuy vậy, sự chú ý của ông cũng đang tập trung ở phạm vi thời đại phong kiến mà chưa chú ý đến những thời “tiền phong kiến”, “hậu phong kiến” cũng như nội dung lịch sử cụ thể của khái niệm “các tầng lớp dân chúng” trong đó có vai trò của tầng lớp trí thức bình dân như thế nào.

    – Dùng chữ quốc ngữ để sưu tầm ghi chép văn học dân gian. Công việc này bắt đầu với Trương Vĩnh Ký từ nửa sau thế kỷ XIX bằng các tác phẩm như Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, được tiếp tục với một số người ở nửa đầu thế kỷ XX như Nguyễn Văn Ngọc (ví dụ Truyện cổ nước Nam, Đông Tây ngụ ngôn, Để mua vui). Đặc biệt từ sau 1954 thì công việc này đã đạt tới những thành tựu bề thế chưa từng có. Trong lịch sử Việt Nam chưa bao giờ văn học dân gian bao gồm văn học dân gian của người Kinh, đặc biệt là văn học dân gian của các dân tộc ít người lại được sưu tầm,thành văn hoá như trong thời đại ngày nay do có chữ quốc ngữ nhưng quan trọng hơn là do ý thức của con người một khi đã tự giác sâu sắc về kho báu văn học dân gian.

    – Khai thác kho tàng văn học dân gian trong khi sáng tác văn học hiện đại. Điều này thể hiện rõ ở hai hình thức sau: a) Tìm nguồn cảm hứng cho thơ ca bằng cách đưa thơ ca trở về tắm mát trong suối dân ca. Phong dao trong thơ ca Tản Đà, Trần Tuấn Khải… là tiêu biểu cho hai hiện tượng phôncơloricphôncơloridê trong mối quan hệ giữa văn học viết và văn học dân gian. b) Viết tiểu thuyết huyền thoại và tiểu thuyết lịch sử bằng cách khai thác nguồn dạ sử vốn là sản phẩm thuộc phạm trù văn học dân gian. Tiểu thuyết Qủa dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật, hầu hết các tiểu thuyết lịch sử ở nửa đầu thế kỷ XX tiêu biểu là của Nguyễn Tử Siêu, đã nói lên điều đó. Hiện tượng này sẽ được tiếp tục trong tình hình văn học sau ngày cách mạng thành công.

    ♦♦♦

    Cuối cùng, một vấn đề nữa cũng có thể đặt ra để suy nghĩ là trong nền văn học Việt Nam hiện đại, mối quan hệ giữa văn học viết và văn học dân gian là thế nào? Văn học dân gian có còn đóng vai trò làm nền kết tinh cho văn học viết nữa không? Qủa thật đây cũng lại là một vấn đề rất thú vị, nhưng rất phức tạp. Bởi lẽ chung quanh vấn đề có hay không có văn học dân gian trong thời hiện đại, và nếu có thì việc đánh giá nó thế nào đã là có chuyện tranh chấp nhau khá gay gắt, thậm chí có thể qui kết nhau khá nặng nề. Không phải không có người đã cho rằng duới chế độ mới mà nhân dân được làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ đất nước trong đó có sự làm chủ về văn hoá thì còn gì phải có văn học dân gian. Nếu có thì đó chỉ là tiếng nói phản động cần lên án, cần loại bỏ. Đây là cách nói của một vài người trên báo chí mà trong bối cảnh xã hội một thời, nó dường như là tiếng nói chính thống do đó không phải không có người đồng tình, ít ra thì cũng không dám phản bác. Đến hôm nay thì chắc là không ai nghĩ đơn giản và thô thiển như thế nữa một khi đã thấy sự có mặt của văn học dân gian hiện đại dưới hình thức ca dao hò vè, nhất là giai thoại, truyện kể với đủ nội dung trong đó có cả nội dung chọc trời, nói là táo bạo cũng được, nói là trắng trợn được. Có điều là dường như với các nhà nghiên cứu văn học dân gian vẫn chưa hết ngợp trước hiện tượng vốn dĩ nhạy cảm, phức tạp đó. Cho nên ở đây cũng khó nói được gì hơn. Nhưng vẫn có thể nghĩ rằng, gì thì gì, mối quan hệ giữa văn học dân gian (nếu có thừa nhận) với văn học viết trong thời hiện đại này về cơ bản đã khác trước. Bởi trong thời hiện đại này, dù còn nhiều hạn chế trong việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, nhưng không có nghĩa là nhân dân chưa làm chủ được gì trong cuộc sống nói chung, trong văn hoá,văn học nói riêng. Từ thực tế đó, sẽ có sự hoà quyện giữa văn học của mọi tầng lớp nhân dân trong một đất nước. Và như thế thiết tưởng cũng khó nói đến cái gọi là vai trò làm nền của văn học dân gian đối với nền văn học viết như ở các thời đại trước.

    Chú thích:

    1. Xem: Văn hoá và xã hội, viết 1927, in 1934. In lại trong Hợp tuyển văn học Việt Nam (1920-1945). Tập V-quyển I, Văn học,1987, tr 397-402.
    2. Xem: Việt Nam tổ quốc tuý ngâm, xuất bản 1932.
    3. Xem: Vai trò của văn học dân gian trong văn học Việt Nam nói chung trong Truyện Kiều nói riêng-Nguyễn Khánh Toàn- Tạp chí văn học số tháng 11-1965.
    4. Còn có loại chữ ” Thập châu” được Vương Duy Trinh ghi lại trong Thanh hoá quan phong mà theo Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử“chữ viết đời thượng cổ”. Về hiện tượng này cần nghiên cứu thêm.
    5. Có người tính từ thế kỷ 2-3 sau công nguyên.
    6. Xem Văn minh tân học sách của Đông kinh nghĩa thục.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Hình Thức Tương Tác Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết
  • Chuẩn Usb 2.0 Và Usb 3.0 Khác Nhau Ở Chỗ Nào?
  • Usb 2.0 Và Usb 3.0 Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Sự Khác Biệt Giữa Usb 1.1, Usb 2.0 Và Usb 3.0 Là Gì?
  • Phân Biệt Sổ Đỏ Và Sổ Hồng Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Các Hình Thức Tương Tác Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết

    --- Bài mới hơn ---

  • Mối Quan Hệ Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết Trong Lịch Sử Văn Học Dân Tộc
  • Quan Hệ Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết
  • Soạn Bài Tổng Kết Phần Văn Học Sbt Ngữ Văn 10 Tập 2
  • Pod System Là Gì: Tìm Hiểu Chi Tiết Về Vape Pod Cho Người Mới!
  • So Sánh Vape Và Thuốc Lá Thường Cái Nào Hại Hơn
  • Cần xem văn học dân gian và văn học viết là hai loại khác nhau của nghệ thuật ngôn từ nhưng cùng có chung một đối tượng phản ánh là hiện thực xã hội và lịch sử. Vì vậy, mối quan hệ tương tác là một tất yếu khách quan trong đời sống và quá trình phát triển của hai loại hình nghệ thuật này.

    Sự tương tác giữa văn học dân gian và văn học viết trước hết được nhìn nhận từ nhóm xã hội, nghĩa là từ phía người sáng tác. Nói văn học dân gian là sản phẩm của những người bình dân, văn học viết là sản phẩm của trí thức và những người thuộc tầng lớp trên của xã hội chỉ là một cách nói đại thể và đúng với các thời đại trước. Nhìn tổng quát thì sự tương tác giữa hai loại nghệ thuật ngôn từ này phản ánh sự tương tác giữa hai nhóm xã hội (trước đây thường gọi là tầng lớp hoặc giai cấp) trong quá trình sáng tác. Đó là mối quan hệ giao lưu tự nhiên. Các thành viên của nhóm này chen vào nhóm kia và ngược lại. Ca dao có câu:

    Kinh đô cũng có kẻ rồ

    Thôn quê cũng có sinh đồ trạng nguyên.

    Những người bình dân có thể leo lên những nấc thang cao trong xã hội bằng con đường học hành, thi cử. Ngược lại cũng có nhiều nho sĩ thất thế, về sống trong lòng dân chúng nơi thôn dã. Những “phần tử lạc ngũ” (chữ dùng của V.I. Lênin) thường tạo một sự hòa đồng mới, đem vốn văn học của mình gieo vào mảnh đất chung của những người cùng sống. Do đó giữa văn học dân gian và văn học viết, ranh giới hoàn toàn không rõ ràng. Không ít nhà thơ nhà văn reo rắc văn chương bác học vào môi trường dân gian và cũng không ít các sinh đồ trạng nguyên từ nông thôn reo rắc văn học dân gian vào môi trường bác học.

    Nhìn vào xã hội hiện đại, vấn đề ranh giới giữa văn học dân gian và văn học viết còn mờ nhạt hơn nữa. Một cá nhân trong xã hội đương đại có thể vừa sáng tác văn học viết, lại vừa sáng tác văn học dân gian. Tại những thời điểm khác nhau, anh ta có thể làm hai nhiệm vụ khác nhau về bản chất. Một nhiệm vụ sáng tác nghiêm túc (viết trường ca, truyện ngắn…) để đăng báo, in sách. Tại thời điểm khác, anh ta có thể bông đùa trước bạn bè, ngẫu hứng làm thơ hoặc nghĩ ra một câu chuyện hài hước. Hai loại nghệ thuật ngôn từ đều của cùng một tác giả. Sự tương tác này diễn ra trong cùng một cá nhân sáng tạo. Có điều, khi sáng tác văn học viết, anh ta rất có ý thức về quyền tác giả của mình, còn khi sáng tác văn học dân gian, anh ta không quan tâm, thậm chí cố tình từ chối quyền đó. Điển hình nhất hiện nay là những câu thơ, bài thơ trào phúng, rõ ràng có xuất phát điểm (tác giả) hẳn hoi nhưng khi truyền bá, không ai quan tâm đến tên người sáng tác nữa. Người ta có ý thức quên chứ không phải vô tình. Ngay chính tác giả nhiều khi, để tránh phiền toái, cũng không nhận là cha đẻ của đứa con tinh thần đó nữa.

    Đó chính là cội nguồn của mối tương tác giữa văn học dân gian và văn học viết.

    Về biểu hiện của mối quan hệ này, có các hình thức cơ bản sau đây: 1. Hình thức nhại

    Nhại là một lối sáng tác rất phổ biến trong văn học dân gian. Hoàn toàn không có chuyện văn học dân gian nhại văn học dân gian. Những người làm văn học dân gian không bao giờ nhại nhau. Các trường hợp nhại đều là văn học dân gian nhại văn học viết. Bản thân từ “nhại” cũng mang ý nghĩa hài hước rồi. Văn học nhại là một loại văn học hài hước. Bắt đầu từ sự nghiêm trang trong văn học bác học, văn học dân gian bẻ cong thành một tác phẩm khác, mất đi ý nghĩa đích thực và hoàn toàn mang ý nghĩa trào lộng. Thơ Bút Tre dân gian là hiện tượng tiêu biểu cho văn học nhại. Những bài thơ của Trưởng ty Văn hóa Vĩnh Phú cách đây 40 năm vốn là những bài thơ nghiêm túc, chỉ có điều là hơi nôm na, không được chuyên nghiệp lắm. Những bài thơ nhại Bút Tre tự nhiên phát triển khá nhiều trong những năm 70 của thế kỷ trước. Đại loại có những bài thơ theo lối trần tục hóa như sau:

    Con đò dịch đít sang ngang

    Xa xa có một cái làng thò ra

    Chắc chắn Bút Tre thật không bao giờ viết như vậy.

    Hiện tượng nhại còn có đối với cả thơ Tố Hữu, thơ Minh Huệ và một số nhà thơ khác. Chúng tôi ngờ rằng, trong số các bài thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương, có thể có những bài thơ nhại.

    Trong văn học dân gian cổ truyền, hiện tượng nhại diễn ra chủ yếu ở mảng thơ ca trào phúng và trên sân khấu chèo.

    Hình thức nhại đích thực là của văn học dân gian. Chỉ có một chiều nhại: văn học dân gian nhại văn học viết; không có chiều ngược lại: văn học viết nhại văn học dân gian.

    2. Hình thức mô phỏng

    Nếu hình thức nhại là của văn học dân gian thì hình thức mô phỏng lại thường là của văn học viết. Các nhà nghiên cứu từng cho rằng đây là những tác phẩm ngụy dân gian. Quả thật, những tác phẩm này, nhiều người rất dễ lầm tưởng là văn học dân gian. Ngay cả các nhà nghiên cứu cũng đã từng lầm tưởng như vậy. Bài thơ “Anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương…” mãi sau này mới bị phát hiện ra là của Á Nam Trần Tuấn Khải viết vào đầu thế kỷ XX; câu thơ của Bảo Định Giang “Tháp Mười đẹp nhất bông sen, nước Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”, nhiều người trước đây đã lầm tưởng là ca dao Nam Bộ; bài thơ “Trên trời mây trắng như bông, ở dưới cánh đồng bông trắng như mây” được gọi là ca dao mới nhưng kỳ thực đó là bài mô phỏng ca dao.

    Hiện tượng mô phỏng văn học dân gian tiêu biểu nhất xảy ra trên thế giới là các trường hợp nhà văn viết truyện cổ tích văn học và truyện ngụ ngôn (Gơrim, L.Tônxtôi, Laphôngten). Trong Kinh Thánh tân ước có rất nhiều truyện ngụ ngôn nhưng đó là văn học bác học mô phỏng truyện ngụ ngôn vốn là một thể loại văn học dân gian.

    Việc đi tìm sự khác nhau giữa tác phẩm dân gian đích thực và tác phẩm mô phỏng dân gian là rất khó khăn, tuy rằng một vài trường hợp có thể phân biệt được (ví dụ: truyện cổ tích văn học thường hay có những đoạn tả cảnh hoặc diễn tả tâm lý nhân vật, còn truyện cổ tích dân gian thì chỉ kể về hành động của nhân vật mà thôi). Thành ra đây là nơi giao thoa, lẫn lộn giữa văn học dân gian và văn học viết.

    3. Hình thức thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học

    Đây là hiện tượng phổ biến, diễn ra theo cả hai chiều, từ dân gian vào bác học và ngược lại. Rất nhiều ngôn từ, điển tích của văn chương bác học đã đi vào dân gian:

    Anh xa em như bến xa thuyền

    Như Thuý Kiều xa Kim Trọng biết mấy niên cho tái hồi

    *

    Đêm đêm tưởng giải Ngân Hà

    Mối sầu tinh đẩu đã ba năm tròn

    Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn

    Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ.

    Các từ Thuý Kiều, Kim Trọng, tinh đẩu, tào khê lấy từ nguồn văn học bác học.

    Ngược lại, rất nhiều ngôn từ nghệ thuật của văn học dân gian đã có mặt trong những tác phẩm văn học viết. Sự tiếp nhận văn học dân gian của văn học viết được xem như là quy luật của lịch sử văn học. Đối với đa số các dân tộc trên thế giới, văn học dân gian bao giờ cũng có trước, văn học viết hình thành sau và được xây dựng trên nền tảng văn học dân gian. Vì vậy, tiếp thu chất liệu của văn học dân gian là hiện tượng phổ biến trong văn học viết. Những tác phẩm văn học viết nổi tiếng, giàu tính dân tộc nhất, thường tiếp thu có sáng tạo nhiều chất liệu từ văn học dân gian. Truyện Kiều của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du là một ví dụ tiêu biểu:

    Một nhà sum họp trúc mai

    Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông.

    *

    Nàng rằng: “Non nước xa khơi,

    Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm.

    Dễ lòa yếm thắm, trôn kim,

    Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng !

    Đôi ta chút nghĩa đèo bòng,

    Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh”.

    Các từ và cụm từ trúc mai, trong ấm ngoài êm, bưng mắt bắt chim, đèo bòng được lấy từ kho tàng thơ ca dân gian người Việt.

    Sự thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học, dù diễn ra phổ biến, vẫn không làm xoá nhoà ranh giới giữa văn học dân gian và văn học viết. Mỗi tác gia văn học viết đều có ý thức rõ ràng rằng mình sử dụng chất liệu văn học dân gian để làm gì và sử dụng như thế nào. Sự có mặt của chất liệu văn học dân gian trong các tác phẩm văn học viết làm cho các tác phẩm này gần gũi với dân gian nhưng không làm biến chất bác học. Cũng như vậy, không vì mang trong mình chất liệu văn học viết mà văn học dân gian bị biến đổi bản chất của mình. Chúng ta có thể lấy Tam quốc chí và Tây du ký, hai tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng của Trung Quốc làm ví dụ. Những mẩu chuyện trong hai tác phẩm nổi tiếng này vốn từ lâu được kể trong dân gian bởi các thuyết thoại nhân (những người chuyên đi kể chuyện ở ngoài chợ hoặc trên đường phố để kiếm ăn). Tập hợp những mẩu chuyện rời rạc để thành tiểu thuyết chương hồi là công lao to lớn của La Quán Trung và Ngô Thừa Ân. Toàn bộ chất liệu dân gian được hai nhà văn thời Minh Thanh nhào nặn, tạo nên những tác phẩm văn học viết đích thực, không phải là dân gian nữa.

    4. Hình thức thâm nhập lẫn nhau về phong cách

    Đây là hình thức tương tác cao nhất giữa văn học dân gian và văn học viết. Hình thức này tạo ra một chất lượng mới trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ.

    Phong cách là chất lượng. Các nhà văn, nhà thơ trẻ chưa thể tạo cho mình một phong cách. Chỉ những tác gia văn học có tài năng mới định hình được về phong cách. Vì vậy, phong cách cũng là bản lĩnh của tác giả thể hiện qua tác phẩm. Văn học dân gian không có phong cách tác giả nhưng có phong cách thể loại.

    Sự thâm nhập lẫn nhau về phong cách cũng diễn ra theo hai chiều như sự thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học. Tuy nhiên, ở đây, chiều dân gian vào bác học mạnh hơn là chiều từ bác học vào dân gian. Thật khó tìm những tác phẩm văn học dân gian mang phong cách bác học. Những trường hợp như bài ca dao sau đây không nhiều trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam:

    Đèn tà thấp thoáng bóng trăng,

    Ai đem người ngọc thung thăng chốn này.

    Thuở sinh thời, nhà thơ Xuân Diệu đã từng ca ngợi bài ca dao: lời thơ không kém gì thơ Kiều. Phong cách bác học của bài ca dao thể hiện khá rõ, có thể lẫn với văn học viết nếu người đọc không biết rõ xuất xứ của nó.

    Hiện tượng văn học viết mang phong cách dân gian thì có nhiều. Tiêu biểu nhất trong nền thơ ca Việt nam, có lẽ là Nguyễn Bính. Thơ ông tràn đầy phong cách dân gian:

    Giếng thơi mưa ngập nước tràn,

    Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều.

    *

    Nhà em cách bốn quả đồi,

    Cách ba ngọn núi, cách đôi cánh rừng,

    Nhà em xa cách quá chừng,

    Em van anh đấy, anh đừng yêu em.

    Có thể nói, sự thâm nhập của phong cách dân gian vào thơ Nguyễn Bính không diễn ra trên bình diện vay mượn chất liệu thơ ca mà là sự đồng điệu với tâm hồn dân tộc của nhà thơ. Chỉ có thực sự uống nước từ nguồn mạch dân gian và tắm mình trong nguồn mạch ấy, thơ Nguyễn Bính mới có được phong cách như vậy.

    Những tác gia văn học khác cũng có nhiều câu mang phong cách dân gian, mặc dù không phải toàn bộ tác phẩm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuẩn Usb 2.0 Và Usb 3.0 Khác Nhau Ở Chỗ Nào?
  • Usb 2.0 Và Usb 3.0 Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Sự Khác Biệt Giữa Usb 1.1, Usb 2.0 Và Usb 3.0 Là Gì?
  • Phân Biệt Sổ Đỏ Và Sổ Hồng Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Sổ Hồng Và Sổ Đỏ Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Những Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Hình Thức Tương Tác Cơ Bản Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết
  • Sự Khác Biệt Giữa Vận Tốc Và Gia Tốc
  • So Sánh Romio Plus Và Juli Pod, Pod Nào Tốt Hơn?
  • Đánh Giá Chi Tiết & So Sánh Orion Dna Go Và Orchid, Asvape
  • So Sánh Nicotine Vape Và Thuốc Lá
  • Văn học dân gian và văn học viết là 2 bộ phận cấu thành nền văn học dân tộc.Chương trình ngữ văn THCS ở lớp 6 và lớp 7 đều được học cả văn học cả văn học dân gian và văn học viết. Để giúp các em phân biệt rõ 2 bộ phận văn học này, tôi rút ra 1 số điểm giống và khác nhau như sau :

    1 Giống nhau

    Cả hai bộ phận văn học dân gian và văn học viết đều nhận thức và phản ánh cuộc sống của con người bằng hình tượng. Nghĩa là người sáng tác thông qua việc xây dựng các hình tượng nghệ thuật để tái hiện hiện thực cuôc sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm, ước mơ, khát vọng của con người. Con người là trung tâm trong bức tranh đời sống văn học.

    .2 Khác nhau

    Khách quan mà nói, so với văn học viết, văn học dân gian có những ưu thế riêng trong việc thỏa mãn nhu cầu tinh thần, nhu cầu tình cảm, thể hiện tâm tư, nguyện vọng của đa số quần chúng nhân dân. Người bình dân có thể sáng tác một truyện cổ tích, một bài ca dao ở mọi nơi mọi lúc (trên đồng ruộng, bên mái đình, đêm trăng thanh… ) . Quá trình sáng tác diễn ra rất nhanh, theo lối ứng tác. Quá trình sáng tác và lưu truyền của văn học dân gian không bị cản trở bởi sự kiểm duyệt nào. Và lại, là những sáng tác khuyết danh, phản ánh đời sống tình cảm của người bình dân đúng như nó vốn có, Văn học dân gian vì thế phát huy được tối đa tinh thần dân chủ. Văn học dân gian được lưu truyền và phổ biến nhanh, có sức cộng hưởng lớn trong quần chúng nhân dân.

    Ngôn ngữ văn học dân gian có sự kết hợp với các yếu tố ngoài văn bản, gắn liền với môi trường diễn xướng dân gian nên đạt hiệu quả giao tiếp cao. Ngôn ngữ văn học dân gian mộc mạc, chất phác, tự nhiên. Tác phẩm thường được sáng tác theo môtip, công thức có sẵn, Người bình dân không cần dồn hết năng lực vào việc sáng tác văn bản. Trong khi ngôn ngữ văn học viết gọt giũa, sử dụng nhiều biện pháp tu từ, được người sáng tác cẩn thận từng “miligam quặng chữ”. Do “cách mặt khuất lời’, lại là sản phẩm của một cá nhân nên ngôn ngữ văn học viết được pha màu theo cách riêng, sự sáng tạo của nhà văn, nhà thơ được thể hiện ở sự mới lạ về kết cấu, cốt truyện…

    Văn học dân gian thường có phương diện phê phán, hài hước, khác với văn học viết có quan tâm đến tầng lớp dưới, nhưng chủ yếu hướng đến tầng lớp trên, thẩm định các giá trị nhân văn của con người.

    Nhân vật trong văn học dân gian có tính phổ biến, tiêu biểu cho một kiểu người, loại người. Trong khi đó nhân vật văn học viết là những sáng tạo có tính cá thể, “điển hình hóa’.

    Thể loại văn học dân gian khá đa dạng trong thể loại do cùng cấu trúc thẩm mĩ. Văn học viết lại khác, cùng đề tài nhưng khác xa về cấu trúc thẩm mĩ. Không gian, thời gian, nhân vật, cốt truyện trong văn học viết là cá biệt, cụ thể. Trong khi đó, văn học dân gian lại phiếm chỉ, tương đồng.

    Văn học dân gian ra đời đầu tiên,tiếp tục tồn tại sau khi có chữ viết và phát triển cho tới ngày nay là nhờ 1 phần quan trọng của chính dòng văn học này. Văn học dân gian có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển văn học viết học viết.Vai trò của văn học dân gian với văn học viết như thế nào cũng là 1 vấn đề mở để chúng ta cùng tìm hiểu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Nền Giáo Dục Uk Và Us
  • Nghe Nhạc Lâu Năm Nhưng Bạn Đã Biết Tới Sự Khác Biệt Cơ Bản Giữa Kpop Và Us
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Usb 2.0 Và 3.0
  • Làm Thế Nào Bạn Có Thể Biết Sự Khác Biệt Giữa Cổng Usb 2.0 Và Usb 3.0?
  • Sự Khác Biệt Giữa Usb 2.0 Và Usb 3.0 Là Gì
  • Các Hình Thức Tương Tác Cơ Bản Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Vận Tốc Và Gia Tốc
  • So Sánh Romio Plus Và Juli Pod, Pod Nào Tốt Hơn?
  • Đánh Giá Chi Tiết & So Sánh Orion Dna Go Và Orchid, Asvape
  • So Sánh Nicotine Vape Và Thuốc Lá
  • Pod Là Gì ? Pod Và Vape Khác Nhau Ở Điểm Nào
  • TÓM TẮT

    Các hình thức tương tác cơ bản giữa văn học dân gian và văn học viết- hai loại khác nhau của cùng nghệ thuật ngôn từ là thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình hình thành và phát triển của nền văn học dân tộc. Các hình thức đó là: nhại, mô phỏng, vay mượn chất liệu, vay mượn phong cách. Bài viết tập trung làm rõ các khái niệm này.

    Cần xem văn học dân gian và văn học viết là hai loại khác nhau của nghệ thuật ngôn từ nhưng cùng có chung một đối tượng phản ánh là hiện thực xã hội và lịch sử. Vì vậy, mối quan hệ tương tác là một tất yếu khách quan trong đời sống và quá trình phát triển của hai loại hình nghệ thuật này.

    Trong nền văn học Việt Nam, văn học dân gian xuất hiện sớm, trong một thời gian dài của lịch sử (trước thế kỷ thứ X) chưa có văn học viết, vì thế đã không diễn ra quá trình tương tác này. Thời kỳ Lý, Trần mở ra những trang mới cho lịch sử văn học thành văn. Mặc dù, chịu ảnh hưởng rất nhiều của Hán học, văn học thời Lý, Trần cũng không nằm ngoài quy luật của sự tương tác với văn học dân gian truyền thống của dân tộc.

    Sự tương tác giữa văn học dân gian và văn học viết trước hết được nhìn nhận từ nhóm xã hội, nghĩa là từ phía người sáng tác. Nói văn học dân gian là sản phẩm của những người bình dân, văn học viết là sản phẩm của trí thức và những người thuộc tầng lớp trên của xã hội chỉ là một cách nói đại thể và đúng với các thời đại trước. Nhìn tổng quát thì sự tương tác giữa hai loại nghệ thuật ngôn từ này phản ánh sự tương tác giữa hai nhóm xã hội (trước đây thường gọi là tầng lớp hoặc giai cấp) trong quá trình sáng tác. Đó là mối quan hệ giao lưu tự nhiên. Các thành viên của nhóm này chen vào nhóm kia và ngược lại. Ca dao có câu:

    Kinh đô cũng có kẻ rồ Thôn quê cũng có sinh đồ trạng nguyên.

    Những người bình dân có thể leo lên những nấc thang cao trong xã hội bằng con đường học hành, thi cử. Ngược lại cũng có nhiều nho sĩ thất thế, về sống trong lòng dân chúng nơi thôn dã. Những “phần tử lạc ngũ” (chữ dùng của V.I. Lênin) thường tạo một sự hòa đồng mới, đem vốn văn học của mình gieo vào mảnh đất chung của những người cùng sống, cùng hợp tác và làm việc. Do đó giữa văn học dân gian và văn học viết, ranh giới hoàn toàn không rõ ràng. Không ít nhà thơ, nhà văn đã “reo rắc” văn chương bác học vào môi trường dân gian và cũng không ít các sinh đồ trạng nguyên từ nông thôn “cấy trồng” văn học dân gian vào môi trường bác học.

    Nhìn vào xã hội hiện đại, vấn đề ranh giới giữa văn học dân gian và văn học viết còn mờ nhạt hơn nữa. Một cá nhân trong xã hội đương đại có thể vừa sáng tác văn học viết, lại vừa sáng tác văn học dân gian. Tại những thời điểm khác nhau, anh ta có thể làm hai nhiệm vụ khác nhau về bản chất: một nhiệm vụ sáng tác nghiêm túc (viết trường ca, truyện ngắn, làm thơ…) để đăng báo, in sách; tại thời điểm khác, anh ta có thể bông đùa trước bạn bè, ngẫu hứng làm thơ hoặc nghĩ ra một câu chuyện hài hước. Hai loại nghệ thuật ngôn từ đều của cùng một tác giả nhưng mang những đặc trưng khác nhau về phương thức sáng tác, lưu truyền. Sự tương tác này diễn ra trong cùng một cá nhân sáng tạo. Có điều, khi sáng tác văn học viết, anh ta rất có ý thức về quyền tác giả của mình, còn khi sáng tác văn học dân gian, anh ta không quan tâm, thậm chí cố tình từ chối quyền đó. Điển hình nhất hiện nay là những câu thơ, bài thơ trào phúng, rõ ràng có xuất phát điểm (tác giả) hẳn hoi nhưng khi truyền bá, không ai quan tâm đến tên người sáng tác nữa. Người ta có ý thức quên chứ không phải vô tình. Ngay chính tác giả nhiều khi, để tránh phiền toái, cũng không nhận là cha đẻ của đứa con tinh thần đó nữa. Đó chính là cội nguồn của mối tương tác giữa văn học dân gian và văn học viết.

    Về biểu hiện của mối quan hệ này, có các hình thức cơ bản sau đây:

    1. Hình thức nhại

    Nhại là một lối sáng tác rất phổ biến trong văn học dân gian. Hoàn toàn không có chuyện văn học dân gian nhại văn học dân gian. Những người làm văn học dân gian không bao giờ nhại nhau. Các trường hợp nhại đều là văn học dân gian nhại văn học viết.

    Bản thân từ “nhại” cũng mang ý nghĩa hài hước rồi. Văn học nhại là một loại văn học hài hước. Bắt đầu từ sự nghiêm trang trong văn học bác học, văn học dân gian bẻ cong thành một tác phẩm khác, mất đi ý nghĩa đích thực và hoàn toàn mang ý nghĩa trào lộng. Thơ Bút Tre dân gian là hiện tượng tiêu biểu cho văn học nhại. Những bài thơ của Trưởng ty Văn hóa Vĩnh Phú cách đây 40 năm vốn là những bài thơ nghiêm túc, chỉ có điều là hơi nôm na, không được chuyên nghiệp lắm. Những bài thơ nhại Bút Tre tự nhiên phát triển khá nhiều trong những năm 70 của thế kỷ trước. Đại loại có những bài thơ theo lối trần tục hóa như sau:

    Con đò dịch đít sang ngang Xa xa có một cái làng thò ra

    Chắc chắn Bút Tre thật không bao giờ viết như vậy.

    Hiện tượng nhại còn có đối với cả thơ Tố Hữu, thơ Minh Huệ và một số nhà thơ khác. Chúng tôi ngờ rằng, trong số các bài thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương, có thể có những bài thơ nhại có xuất xứ từ trong dân gian.

    Trong văn học dân gian cổ truyền, hiện tượng nhại diễn ra chủ yếu ở mảng thơ ca trào phúng và trên sân khấu chèo.

    Hình thức nhại đích thực là của văn học dân gian. Chỉ có một chiều nhại: văn học dân gian nhại văn học viết; không có chiều ngược lại: văn học viết nhại văn học dân gian.

    2 . Hình thức mô phỏng

    Nếu hình thức nhại là của văn học dân gian thì hình thức mô phỏng lại thường là của văn học viết. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, có nhiều trường hợp văn học viết nhại văn học dân gian. Phương Tây và Nga, thời trung đại từng có giai đoạn văn học nhại phát triển – giai đoạn hình thành nền văn học viết. Chúng tôi cho rằng, sử dụng từ “nhại” trong trường hợp này không đúng. Nhại phải gắn liền với sự châm biếm hoặc hài hước, trào lộng. Các nhà nghiên cứu từng cho rằng đây là những tác phẩm ngụy dân gian. Quả thật, những tác phẩm này, nhiều người rất dễ lầm tưởng là văn học dân gian. Ngay cả một vài nhà nghiên cứu cũng đã từng lầm tưởng như vậy. Bài thơ “Anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương…” mãi sau này mới bị phát hiện ra là của Á Nam Trần Tuấn Khải viết vào đầu thế kỷ XX; câu thơ của Bảo Định Giang “Tháp Mười đẹp nhất bông sen, nước Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”, nhiều người trước đây đã lầm tưởng là ca dao Nam Bộ; bài thơ “Trên trời mây trắng như bông, ở dưới cánh đồng bông trắng như mây” được gọi là ca dao mới nhưng kỳ thực đó là bài thơ mô phỏng ca dao.

    Hiện tượng mô phỏng văn học dân gian tiêu biểu nhất xảy ra trên thế giới là các trường hợp nhà văn viết truyện cổ tích văn học và truyện ngụ ngôn (Gơrim, L.Tônxtôi, Laphôngten). Trong Kinh Thánh Tân ước có rất nhiều truyện ngụ ngôn nhưng đó là văn học bác học mô phỏng truyện ngụ ngôn vốn là một thể loại văn học dân gian.

    Việc đi tìm sự khác nhau giữa tác phẩm dân gian đích thực và tác phẩm mô phỏng dân gian là rất khó khăn, tuy rằng một vài trường hợp có thể phân biệt được (ví dụ: truyện cổ tích văn học thường hay có những đoạn tả cảnh hoặc diễn tả tâm lý nhân vật, còn truyện cổ tích dân gian thì chỉ kể về hành động của nhân vật mà thôi). Thành ra đây là nơi giao thoa, lẫn lộn giữa văn học dân gian và văn học viết.

    Một ví dụ cụ thể, truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng của Puskin, được sáng tác từ nguồn truyện dân gian nhưng yếu tố mô tả khá nhiều. Những chi tiết biển xanh nổi sóng, biển xanh giận dữ khi ông lão đánh cá ra gặp cá vàng để đưa ra những yêu cầu quá mức của bà vợ… đều không phù hợp với truyền thống thể hiện trong truyện cổ tích dân gian. Đó là sáng tạo của Puskin, làm nên những giá trị nghệ thuật mới mà truyện cổ tích dân gian không có được. Tuy nhiên, nếu không phải nhà chuyên môn thì khó lòng nhận thức được sự khác biệt của truyện cổ tích văn học so với truyện cổ tích dân gian.

    3. Hình thức thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học

    Đây là hiện tượng phổ biến, diễn ra theo cả hai chiều, từ dân gian vào bác học và ngược lại. Rất nhiều ngôn từ, điển tích của văn chương bác học đã đi vào dân gian:

    Anh xa em như bến xa thuyền Đêm đêm tưởng giải Ngân Hà Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn

    Các từ Thuý Kiều, Kim Trọng, tinh đẩu, tào khê lấy từ nguồn văn học bác học.

    Ngược lại, rất nhiều ngôn từ nghệ thuật của văn học dân gian đã có mặt trong những tác phẩm văn học viết. Sự tiếp nhận văn học dân gian của văn học viết được xem như là quy luật của lịch sử văn học. Đối với đa số các dân tộc trên thế giới, văn học dân gian bao giờ cũng có trước, văn học viết hình thành sau và được xây dựng trên nền tảng văn học dân gian. Vì vậy, tiếp thu chất liệu của văn học dân gian là hiện tượng phổ biến trong văn học viết. Những tác phẩm văn học viết nổi tiếng, giàu tính dân tộc nhất, thường tiếp thu có sáng tạo nhiều chất liệu từ văn học dân gian. Truyện Kiều của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du là một ví dụ tiêu biểu:

    Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông. Nàng rằng: “Non nước xa khơi, Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh”.

    Các từ và cụm từ trúc mai, trong ấm ngoài êm, bưng mắt bắt chim, đèo bòng được lấy từ kho tàng thơ ca dân gian người Việt.

    Sự vay mượn không chỉ diễn ra ở cấp độ từ ngữ mà còn ở các cấp độ cao hơn, tổng hợp hơn như hình tượng, cấu trúc, đề tài và trừu tượng hơn là tư tưởng, quan điểm nghệ thuật.

    Sự thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học, dù diễn ra phổ biến, vẫn không làm xoá nhoà ranh giới giữa văn học dân gian và văn học viết. Mỗi tác gia văn học viết đều có ý thức rõ ràng rằng mình sử dụng chất liệu văn học dân gian để làm gì và sử dụng như thế nào. Sự có mặt của chất liệu văn học dân gian trong các tác phẩm văn học viết làm cho các tác phẩm này gần gũi với dân gian nhưng không làm biến chất bác học. Cũng như vậy, không vì mang trong mình chất liệu văn học viết mà văn học dân gian bị biến đổi bản chất của mình. Chúng ta có thể lấy Tam quốc chí và , hai tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng của Trung Quốc làm ví dụ. Những mẩu chuyện trong hai tác phẩm nổi tiếng này vốn từ lâu được kể trong dân gian bởi các thuyết thoại nhân (những người chuyên đi kể chuyện ở ngoài chợ hoặc trên đường phố để kiếm ăn). Tập hợp những mẩu chuyện rời rạc để thành tiểu thuyết chương hồi là công lao to lớn của La Quán Trung và Ngô Thừa Ân. Toàn bộ chất liệu dân gian được hai nhà văn thời Minh Thanh nhào nặn, tạo nên những tác phẩm văn học viết đích thực, không phải là dân gian nữa.

    Quá trình vay mượn chất liệu văn học để sử dụng thực chất là quá trình sáng tạo lại. Điều này xảy ra cả trong văn học dân gian và văn học viết, nhất là đối với văn học viết. Nhiều nhà văn, nhà thơ đương đại viết lại truyện cổ dân gian nhưng không phải dưới hình thức mô phỏng mà là sáng tạo mới. Truyện cổ dân gian chỉ là cái cớ (vay mượn) để tác giả nói lên những suy nghĩ hoàn toàn khác của mình về xã hội và nhân sinh. Những điều tác giả nói có khi rất xa lạ với quan niệm truyền thống trong dân gian nhưng lại phù hợp với quan niệm của thời đại mới. Ví dụ, nhân vật Thuỷ Tinh trong truyện dân gian Sơn Tinh, Thuỷ Tinh bị người đời coi là nhân vật phản diện, hàng năm gây hại cho dân. Một vài nhà văn đương đại lại đứng ra bênh vực cho Thuỷ Tinh, cho rằng đây là một chàng trai si tình, rằng tình yêu của chàng là chân thành và bất diệt.

    4. Hình thức thâm nhập lẫn nhau về phong cách

    Phong cách là những yếu tố (thuộc cả về nội dung và hình thức nghệ thuật) được lặp đi lặp lại trong các tác phẩm văn học khác nhau, trở thành những yếu tố cố định, bền vững và đồng thời là những tín hiệu thẩm mỹ có giá trị, được mọi người thừa nhận, tạo nên sự khác biệt giữa dòng văn học này với dòng văn học khác, giữa tác gia này với tác gia khác. Phong cách thể hiện sự phong phú, đa dạng trong sánh tác văn học nghệ thuật.

    Văn học dân gian có phong cách thể loại, văn học viết có phong cách tác gia. Trong quá trình phát triển văn học, hai phong cách này có sự thâm nhập vào nhau.

    Đây là hình thức tương tác cao nhất giữa văn học dân gian và văn học viết. Hình thức này tạo ra một chất lượng mới trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ.

    Phong cách là chất lượng. Các nhà văn, nhà thơ trẻ chưa thể tạo cho mình một phong cách. Chỉ những tác gia văn học có tài năng mới định hình được về phong cách. Vì vậy, phong cách cũng là bản lĩnh của tác giả thể hiện qua tác phẩm. Văn học dân gian cũng có bản lĩnh của mình, nếu không thì phong cách dân gian không thể trường tồn trong suốt chiều dài của hàng ngàn năm lịch sử.

    Sự thâm nhập lẫn nhau về phong cách cũng diễn ra theo hai chiều như sự thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học. Tuy nhiên, ở đây, chiều dân gian vào bác học mạnh hơn là chiều từ bác học vào dân gian. Thật khó tìm những tác phẩm văn học dân gian mang phong cách bác học. Những trường hợp như bài ca dao sau đây không nhiều trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam:

    Đèn tà thấp thoáng bóng trăng, Ai đem người ngọc thung thăng chốn này.

    Thuở sinh thời, nhà thơ Xuân Diệu đã từng ca ngợi bài ca dao: lời thơ không kém gì thơ Kiều. Phong cách bác học của bài ca dao thể hiện khá rõ, có thể lẫn với văn học viết nếu người đọc không biết rõ xuất xứ của nó.

    Hiện tượng văn học viết mang phong cách dân gian thì có nhiều. Tiêu biểu nhất trong nền thơ ca Việt nam, có lẽ là Nguyễn Bính. Thơ ông tràn đầy phong cách dân gian:

    Giếng thơi mưa ngập nước tràn, Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều. Cách ba ngọn núi, cách đôi cánh rừng, Em van anh đấy, anh đừng yêu em.

    Có thể nói, sự thâm nhập của phong cách dân gian vào thơ Nguyễn Bính không diễn ra trên bình diện vay mượn chất liệu thơ ca mà là sự đồng điệu với tâm hồn dân tộc của nhà thơ. Chỉ có thực sự uống nước từ nguồn mạch dân gian và tắm mình trong nguồn mạch ấy, thơ Nguyễn Bính mới có được phong cách như vậy.

    Những tác gia văn học khác cũng có nhiều câu mang phong cách dân gian, mặc dù không phải toàn bộ tác phẩm.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Chu Xuân Diên (2001), Văn hóa dân gian, mấy vấn đề về phương pháp luận và nghiên cứu thể loại , Nxb Giáo dục, Hà Nội.

    2. Nguyễn Xuân Kính (1991), Thi pháp học và việc nghiên cứu thi pháp văn học nghệ thuật dân gian. Tạp chí Văn hóa dân gian, Số 3.

    3. Nguyễn Xuân Lạc (1998), Văn học dân gian Việt Nam trong nhà trường. Nxb Giáo dục, Hà Nội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết
  • Sự Khác Biệt Giữa Nền Giáo Dục Uk Và Us
  • Nghe Nhạc Lâu Năm Nhưng Bạn Đã Biết Tới Sự Khác Biệt Cơ Bản Giữa Kpop Và Us
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Usb 2.0 Và 3.0
  • Làm Thế Nào Bạn Có Thể Biết Sự Khác Biệt Giữa Cổng Usb 2.0 Và Usb 3.0?
  • Mối Quan Hệ Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết Trong Lịch Sử Văn Học Dân Tộc :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Vận Tốc, Gia Tốc Và Tốc Độ Là Gì? Làm Thế Nào Để Tôi Biết Khi Nào Mỗi Người Được Áp Dụng?
  • Vape Pod System Là Gì
  • Tinh Dầu Cho Pod System & Vape
  • Pod System Là Gì? Mạnh Và Yếu Của Pod System
  • Tất Tần Tật Về Tinh Dầu Cho Pod System
  • ♦ ♦ ♦

    Đúng là chưa bao giờ văn học dân gian cổ truyền của dân tộc lại sống dậy huy hoàng và được nhận thức sâu sắc về giá trị và vai trò của nó như trong thời đại ngày nay.Trong những thành tựu hiện đại về việc nghiên cứu văn học dân gian cổ truyền của dân tộc, có một luận điểm khoa học cực kỳ quan trọng được nhiều người thừa nhận là: chính văn học dân gian là nền tảng của sự phát triển, kết tinh của nền văn học dân tộc. Luận điểm này vừa là sự khẳng định vai trò của văn học dân gian, vừa là điều cốt lọi nhất khi nói về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết,vừa là phương pháp luận đối với việc nghiên cứu lịch sử văn học dân tộc nói chung. Luận điểm này xét đến cùng là dựa trên qui luật cơ bản về vai trò của nhân dân Việt Nam trong lịch sử Việt Nam mà cũng đến thời đại cách mạng đã thành công, quan điểm nhân dân làm chủ đất nước đã trổi dậy với tính chất chính thống, đặc biệt là trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước vừa qua mới như được phát hiện lại, nhận thức lại một cách đầy đủ hơn. Dĩ nhiên nó còn phải được tiếp tục nhận thức sâu sắc hơn trong tương lai. Trước thời đại cách mạng thành công, một số vị thức giả như Võ Liêm Sơn(1), Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Trọng Thuật(2)… đã nêu cao vai trò “tảng móng, tinh tuý của văn học dân gian đối với nền quốc học của ta”. Nhưng những ý kiến quí báu đó lại đang ở trạng thái trực cảm, chưa được nâng lên trình độ phân tích lý luận và do đó chính các tác giả của nó cũng chưa hình dung được thật rõ những điều mình nói. Còn với chúng ta hôm nay, muốn vượt qua giai đoạn nhận thức trực cảm để tiến vào giai đoạn nhận thức lý tính, phải có lý luận khoa học hỗ trợ, mặc dù công việc nhận thức lý tính này tự nó cũng lại phải có một quá trinh từ thấp lên cao. Nói vậy để thấy công tác lý luận ở phương diện này là đang cần được quan tâm nhiều hơn nữa. Có như thế, luận điểm khoa học nói trên mới có khả năng được quán triệt trong công việc nghiên cứu văn học dân tộc một cách sâu sắc và cụ thể. Ví như với Truyện Kiều chẳng hạn. Từ lâu, các nhà nghiên cứu đã nói đến mối quan hệ giữa Truyện Kiều với văn học dân gian. Nhưng từ chỗ chỉ giới hạn mối quan hệ đó trong phạm vi một số yếu tố nghệ thuật là thể tài lục bát và thành ngữ tục ngữ… như lâu nay vẫn thấy đến chỗ kết luận rằng: Truyện Kiều đã kết tinh trên cơ sở văn học dân gian(3) quả là một điều hoàn toàn không đơn giản bởi nó đã thay đổi chất lượng của sự nhận thức, có thể nói là thay đổi qui mô của vấn đề. Chúng ta sẽ cố gắng góp phần vào việc giải quyết yêu cầu trên bằng cách làm sáng rõ hơn mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết để từ đó xác định rõ hơn vai trò làm nền của văn học dân gian trong lịch sử văn học dân tộc.

    Khi nói đến vai trò làm nền của văn học dân gian trong lịch sử văn học dân tộc, chúng ta dễ nghĩ ngay đến bộ phận văn học dân gian ra đời có thể nói là cùng với sự ra đời của lịch sử dân tộc và tồn tại, phát triển trong một thời gian dài trước khi có văn học viết. Bộ phận văn học dân gian nguyên thuỷ này bao gồm chủ yếu là các thể loại thần thoại, thần thoại pha truyền thuyết, truyền thuyết, truyền thuyết pha thần thoại ,truyện cổ, dân ca cổ, ca dao tục ngữ cổ.. .chắc đã bị mai một đi không ít trong thời gian, nhưng gần đây với sự hỗ trợ tích cực của những thành tựu khoa học lịch sử như dân tộc học lịch sử, ngôn ngữ học lịch sử, đặc biệt là khảo cổ học, nó đang được sưu tầm lại ngày một phong phú, bề thế. Từ đó vấn đề cần kết luận là: chính kho tàng văn học dân gian sơ khai, nguyên thuỷ đó đã là nền tảng vững chãi, đã là ngọn nguồn trong mát đầu tiên của lịch sử văn học dân tộc. Vấn đề tiếp theo ở đây là làm sao miêu tả, chứng minh, khôi phục lại được dấu vết cụ thể của văn học dân gian nguyên thuỷ từng tồn tại và chi phối, từng làm cơ sở kết tinh tư tưởng thẩm mỹ trong nền văn học viết ra đời và phát triển về sau. Chắc chắn là có trạng thái đơn giản, trực tiếp dễ thấy, có trạng thái tinh vi, phức tạp, gián tiếp khó thấy hơn nhưng chưa hẳn đã kém quan trọng hơn. Thật ra ở đây cũng không thể hiểu vấn đề vai trò của văn học dân gian nguyên thuỷ đối vơí nền văn học viết về sau một cách hẹp hòi theo hướng hạn chế nội hàm của khái niệm văn học dân gian chỉ còn lại là những văn bản được ghi chép lại như là cái bóng của một hình thức vốn tồn tại như một cơ thể sống và có quan hệ chằng chịt,gắn bó với nhiều hình thái của văn hoá sơ khai như trò chơi,lễ hội,kể cả phong tục.

    Tóm lại, tình hình văn tự như trên vừa nói chính là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh qui luật: trong lịch sử văn học Việt Nam, sau khi đã có văn học viết ra đời, văn học dân gian vẫn tiếp tục tồn tại, phát triển và do đó vẫn tiếp tục đóng vai trò làm nền cho sự phát triển và kết tinh của văn học viết. Tuy nhiên để cho quan điểm “làm nền” này được triển khai thực sự, lại còn phải làm sáng tỏ một loạt vấn đề sau đây:

    • Nội hàm có tính lịch sử cụ thể của khái niệm bình dân (hoặc dân chúng, hoặc quần chúng, hoặc nhân dân lao động) là gì?
    • Vai trò của trí thức bình dân có hay không trong việc sáng tác văn học dân gian? Có ở mức độ nào trong tương quan với vai trò của quần chúng lao động?
    • Những trí thức khác không thuộc trí thức bình dân liệu có vai trò gì trong việc sáng tác văn học dân gian?

    Chúng ta vẫn bắt gặp tình trạng nói tác giả văn học dân gian là bình dân, là quần chúng lao động… nhưng bỏ không giới thuyết nội hàm khái niệm hoặc có giới thuyết thì lại chưa chú ý đầy đủ đến tính lịch sử cụ thể của nội hàm khái niệm. Trong bài ” Để có thể nắm bắt được thực chất của văn học dân gian”, tác giả Đinh Gia Khánh đã cố gắng giới thuyết chu đáo và phù hợp với thực tiễn sinh động hơn. Tuy vậy, sự chú ý của ông cũng đang tập trung ở phạm vi thời đại phong kiến mà chưa chú ý đến những thời “tiền phong kiến”, “hậu phong kiến” cũng như nội dung lịch sử cụ thể của khái niệm “các tầng lớp dân chúng” trong đó có vai trò của tầng lớp trí thức bình dân như thế nào.

    – Dùng chữ quốc ngữ để sưu tầm ghi chép văn học dân gian. Công việc này bắt đầu với Trương Vĩnh Ký từ nửa sau thế kỷ XIX bằng các tác phẩm như Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, được tiếp tục với một số người ở nửa đầu thế kỷ XX như Nguyễn Văn Ngọc (ví dụ Truyện cổ nước Nam, Đông Tây ngụ ngôn, Để mua vui). Đặc biệt từ sau 1954 thì công việc này đã đạt tới những thành tựu bề thế chưa từng có. Trong lịch sử Việt Nam chưa bao giờ văn học dân gian bao gồm văn học dân gian của người Kinh, đặc biệt là văn học dân gian của các dân tộc ít người lại được sưu tầm,thành văn hoá như trong thời đại ngày nay do có chữ quốc ngữ nhưng quan trọng hơn là do ý thức của con người một khi đã tự giác sâu sắc về kho báu văn học dân gian.

    – Khai thác kho tàng văn học dân gian trong khi sáng tác văn học hiện đại. Điều này thể hiện rõ ở hai hình thức sau: a) Tìm nguồn cảm hứng cho thơ ca bằng cách đưa thơ ca trở về tắm mát trong suối dân ca. Phong dao trong thơ ca Tản Đà, Trần Tuấn Khải… là tiêu biểu cho hai hiện tượng phôncơloricphôncơloridê trong mối quan hệ giữa văn học viết và văn học dân gian. b) Viết tiểu thuyết huyền thoại và tiểu thuyết lịch sử bằng cách khai thác nguồn dạ sử vốn là sản phẩm thuộc phạm trù văn học dân gian. Tiểu thuyết Qủa dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật, hầu hết các tiểu thuyết lịch sử ở nửa đầu thế kỷ XX tiêu biểu là của Nguyễn Tử Siêu, đã nói lên điều đó. Hiện tượng này sẽ được tiếp tục trong tình hình văn học sau ngày cách mạng thành công.

    ♦♦♦

    Cuối cùng, một vấn đề nữa cũng có thể đặt ra để suy nghĩ là trong nền văn học Việt Nam hiện đại, mối quan hệ giữa văn học viết và văn học dân gian là thế nào? Văn học dân gian có còn đóng vai trò làm nền kết tinh cho văn học viết nữa không? Qủa thật đây cũng lại là một vấn đề rất thú vị, nhưng rất phức tạp. Bởi lẽ chung quanh vấn đề có hay không có văn học dân gian trong thời hiện đại, và nếu có thì việc đánh giá nó thế nào đã là có chuyện tranh chấp nhau khá gay gắt, thậm chí có thể qui kết nhau khá nặng nề. Không phải không có người đã cho rằng duới chế độ mới mà nhân dân được làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ đất nước trong đó có sự làm chủ về văn hoá thì còn gì phải có văn học dân gian. Nếu có thì đó chỉ là tiếng nói phản động cần lên án, cần loại bỏ. Đây là cách nói của một vài người trên báo chí mà trong bối cảnh xã hội một thời, nó dường như là tiếng nói chính thống do đó không phải không có người đồng tình, ít ra thì cũng không dám phản bác. Đến hôm nay thì chắc là không ai nghĩ đơn giản và thô thiển như thế nữa một khi đã thấy sự có mặt của văn học dân gian hiện đại dưới hình thức ca dao hò vè, nhất là giai thoại, truyện kể với đủ nội dung trong đó có cả nội dung chọc trời, nói là táo bạo cũng được, nói là trắng trợn được. Có điều là dường như với các nhà nghiên cứu văn học dân gian vẫn chưa hết ngợp trước hiện tượng vốn dĩ nhạy cảm, phức tạp đó. Cho nên ở đây cũng khó nói được gì hơn. Nhưng vẫn có thể nghĩ rằng, gì thì gì, mối quan hệ giữa văn học dân gian (nếu có thừa nhận) với văn học viết trong thời hiện đại này về cơ bản đã khác trước. Bởi trong thời hiện đại này, dù còn nhiều hạn chế trong việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, nhưng không có nghĩa là nhân dân chưa làm chủ được gì trong cuộc sống nói chung, trong văn hoá,văn học nói riêng. Từ thực tế đó, sẽ có sự hoà quyện giữa văn học của mọi tầng lớp nhân dân trong một đất nước. Và như thế thiết tưởng cũng khó nói đến cái gọi là vai trò làm nền của văn học dân gian đối với nền văn học viết như ở các thời đại trước.

    Chú thích:

    1. Xem: Văn hoá và xã hội, viết 1927, in 1934. In lại trong Hợp tuyển văn học Việt Nam (1920-1945). Tập V-quyển I, Văn học,1987, tr 397-402.
    2. Xem: Việt Nam tổ quốc tuý ngâm, xuất bản 1932.
    3. Xem: Vai trò của văn học dân gian trong văn học Việt Nam nói chung trong Truyện Kiều nói riêng-Nguyễn Khánh Toàn- Tạp chí văn học số tháng 11-1965.
    4. Còn có loại chữ ” Thập châu” được Vương Duy Trinh ghi lại trong Thanh hoá quan phong mà theo Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử“chữ viết đời thượng cổ”. Về hiện tượng này cần nghiên cứu thêm.
    5. Có người tính từ thế kỷ 2-3 sau công nguyên.
    6. Xem Văn minh tân học sách của Đông kinh nghĩa thục.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chúng Ta Không Nên Kỳ Thị Vùng Miền!
  • Son Dưỡng Môi Vaseline 7G Bị Làm Giả? Công Dụng
  • Phân Biệt Below, Under, Underneath Và Beneath
  • Phân Biệt Under Và Below Trong Bài Thi Toeic
  • Cách Tính, Chọn Size Giày Us, Uk, Eu Việt Nam Cho Nam Và Nữ Chuẩn Xác
  • Bài Học: Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tóm Tắt Kiến Thức Và Bài Tập Vận Dụng Vật Lý 12 Bài 1 Dao Động Điều Hòa
  • So Sánh Vape Và Pod
  • Phân Biệt Đột Quỵ Não Và Thiếu Máu Não Thoáng Qua
  • Yêu Và Thương Khác Nhau
  • Thích, Thương Và Yêu! Bạn Là Gì?
  • Nội dung

    KẾT QUẢ CẦN ĐẠT

    * Nắm được các đặc trưng cơ bản của văn học dân gian và khái niệm về các thể loại của văn học dân gian Việt Nam.

    * Hiểu rõ vị trí, vai trò và những giá trị to lớn của văn học dân gian trong mối quan hệ với văn học viết và đời sống văn hoá dân tộc.

    Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng, sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng.

    I – ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN

    1. Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng (tính truyền miệng)

    Ngôn từ truyền miệng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên nội dung, ý nghĩa và thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn học dân gian nhằm phản ánh sinh động hiện thực cuộc sống.

    Văn học dân gian tồn tại, lưu hành theo phương thức truyền miệng. Đây là điểm khác biệt rất cơ bản giữa văn học dân gian và văn học viết. Trong khi văn học viết được lưu giữ bằng chữ viết thì văn học dân gian lại được truyền miệng từ người này sang người khác, qua nhiều thế hệ và các địa phương khác nhau. Quá trình truyền miệng vẫn được tiếp tục kể cả khi tác phẩm văn học dân gian đã được ghi chép lại.

    Nói truyền miệng là nói đến quá trình diễn xướng dân gian hào hứng và sinh động. Người ta có thể nói, kể, hát, diễn tác phẩm văn học dân gian(1). Ở đây, lời (tức phần ngôn từ truyền miệng) ở một số thể loại có thể kết hợp với các loại hình nghệ thuật khác (lời thơ trong ca dao thường được hát theo làn điệu; một vở chèo khi trình diễn bao gồm cả lời, nhạc, hát, múa và diễn xuất của nghệ nhân).

    2. Văn học dân gian là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể (tính tập thể)

    Văn học viết là sáng tác cá nhân, trong khi đó, văn học dân gian lại là kết quả của quá trình sáng tác tập thể.

    Quá trình sáng tác tập thể diễn ra như sau: Lúc đầu, một người khởi xướng, tác phẩm hình thành và được tập thể tiếp nhận; sau đó, những người khác (có thể thuộc các địa phương khác nhau hoặc các thế hệ khác nhau) tiếp tục lưu truyền và sáng tác lại làm cho tác phẩm biến đổi dần, thường là tác phẩm được làm phong phú hơn, hoàn thiện hơn về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật.

    Văn học dân gian dần dần đã trở thành tác phẩm chung của tập thể. Mỗi người đều có thể tiếp nhận, sử dụng, sữa chữa, bổ sung tác phẩm văn học dân gian theo quan niệm và khả năng nghệ thuật của mình.

    Tính truyền miệng và tính tập thể là những đặc trưng cơ bản, chi phối, xuyên suốt quá trình sáng tạo và lưu truyền tác phẩm văn học dân gian, thể hiện sự gắn bó mật thiết của văn học dân gian với các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng.

    1. Văn học dân gian là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc

    Tri thức trong văn học dân gian thuộc đủ mọi lĩnh vực của đời sống: tự nhiên, xã hội và con người.

    Tri thức dân gian phần lớn là những kinh nghiệm lâu đời được nhân dân đúc kết từ thực tiễn. Tri thức dân gian thường được trình bày bằng ngôn ngữ nghệ thuật, vì thế hấp dẫn người đọc, người nghe, dễ phổ biến, dễ tiếp thu, có sức sống lâu bền với thời gian.

    Tri thức dân gian thể hiện trình độ và quan điểm nhận thức của nhân dân, vì vậy có sự khác biệt so với nhận thức của giai cấp thống trị cùng thời, đặc biệt là về các vấn đề lịch sử, xã hội.

    Việt Nam có 54 dân tộc người. Mỗi tộc người có một kho tàng văn học dân gian riêng, vì thế vốn tri thức của toàn dân tộc vô cùng phong phú và đa dạng.

    2. Văn học dân gian có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lí làm người

    Trước hết văn học dân gian giáo dục con người tinh thần nhân đạo và lạc quan. Đó là tình yêu thương đối với đồng loại, là tinh thần đấu tranh không biết mệt mỏi để bảo vệ và giải phóng con người khỏi những cảnh bất công, là niềm tin bất diệt vào chiến thắng cuối cùng của chính nghĩa, của cái thiện.

    Văn học dân gian góp phần hình thành những phẩm chất tốt đẹp: lòng yêu quê hương, đất nước, tinh thần bất khuất, đức kiên trung và vị tha, tính cần kiệm, óc thực tiễn,…

    3. Văn học dân gian có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần quan trọng tạo nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc

    Văn học dân gian được chắt lọc, mài giũa qua không gian và thời gian, khi đến với chúng ta đã thành những viên ngọc sáng. Nhiều tác phẩm đã trở thành những mẫu mực về nghệ thuật để cho chúng ta học tập. Những truyện kể dân gian làm cho “từ đứa trẻ đầu xanh đến cụ già tóc bạc đều truyền tụng và yêu dấu” (tựa sách Lĩnh Nam chích quái). Những lời ca tiếng hát ân tình ngày xưa vẫn còn làm say đắm lòng người hôm nay và mai sau.

    Nhờ có giá trị nghệ thuật to lớn như vậy nên trong nhiều thế kỉ, khi văn học viết mới hình thành, văn học dân gian đóng vai trò chủ đạo. Khi văn học viết đã phát triển, văn học dân gian vẫn là nguồn nuôi dưỡng, là cơ sở của văn học viết. Trong tiến trình lịch sử, văn học dân gian đã phát triển song song cùng văn học viết, làm cho nên văn học Việt Nam trở nên phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc.

    HƯỚNG DẪN HỌC BÀI

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Trong Phát Âm Của Anh
  • So Sánh Thông Dịch Và Biên Dịch
  • Quản Trị Và Quản Lý Giống Và Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Giáo Án Lớp 7 Môn Địa Lí
  • Các Cách Thử Để Nhận Biết Mật Ong Nguyên Chất
  • Chuyên Đề: Ứng Dụng Phương Pháp Dạy Học Dự Án Vào ‘văn Học Dân Gian’

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Ngoại Ngữ Bằng Dự Án: Hiệu Quả Bất Ngờ
  • Vận Dụng Hướng Dạy Học Dự Án Của Môn Lịch Sử
  • Phương Pháp Dạy Lịch Sử Thành Công Đã Được Áp Dụng Vào Thực Tế
  • Phương Pháp Easy Và Luyện Ngủ, Luyện Ăn Cho Con Thế Nào Cho Đúng?
  • Trải Nghiệm Phương Pháp Nuôi Con Easy Và Phương Pháp Truyền Thống
  • Sáng ngày 5.11.2014, tại trường THPT Phú Nhuận (TP.HCM), chúng tôi đã tổ chức buổi báo cáo Chuyên đề: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰ ÁN VÀO VĂN HỌC DÂN GIAN theo hướng đổi mới phương pháp giảng dạy sau một thời gian được tham gia lớp tập huấn chương trình: “Dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh” (Tài liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo 7/2014) và Dạy học theo Dự án (Intel teach Element) (Tài liệu của Sở GD và ĐT TPHCM 5/2011)

    Tham gia buổi báo cáo có sự hiện diện của BGH trường THPT Phú Nhuận, GV các trường trong Thành phố (THPT Nguyễn Thượng Hiền, THPT Tân Phú, THPT Nguyễn Chí Thanh,…) cùng sự tham dự của các GV trong tổ Ngữ Văn và các em HS của trường THPT Phú Nhuận.

    Mục đích và ý nghĩa của buổi chuyên đề:

    1/ Tổ chức buổi chuyên đề nhằm thực hiện tốt kế hoạch, nhiệm vụ năm học 2014-2015 và những năm học tiếp theo, đáp ứng được yêu cầu của các cấp, các ngành đối với sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo.

    2/ Buổi chuyên đề giúp học sinh cảm nhận sâu sắc hơn đặc trưng và vẻ đẹp của văn học Dân gian Việt Nam – một thứ tài sản vô giá của dân tộc, tạo ra một sân chơi bổ ích giáo dục nhân cách và để tạo hứng thú học tập cho học sinh đối với bộ môn Ngữ Văn.

    3/ Hoạt động này sẽ góp phần bồi đắp thêm tinh thần tự hào dân tộc và tình yêu mến con người Việt Nam nói riêng và nhân loại nói chung.

    4/ Đây cũng là hoạt động nhằm phát hiện ra những tài năng văn hoá, văn nghệ trong học sinh để bổ sung thêm lực lượng cho nhà trường, đồng thời tăng cường cho học sinh những kĩ năng khác trong nhà trường trong việc giáo dục học sinh một cách toàn diện, hiệu quả thiết thực.

    (Dự án do cô Minh Hương và HS lớp 10A5 thực hiện)MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG BUỔI BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ cô Minh Hương giới thiệu chuyên đề trước khi HS lên báo cáo kết quả sau gần 2 tháng nghiên cứu

    5/ Buổi chuyên đề nhằm giới thiệu và minh họa đến các giáo viên trong Tổ Văn trường THPT Phú Nhuận những phương pháp dạy học theo định hướng mới của Bộ giáo dục về phát triển năng lực học sinh.

    Trích đoạn “QUAN ÂM THỊ KÍNH” do HS đóng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Lớp 1″
  • Dạy Học Sinh Dạng Toán Có Lời Văn Ở Lớp 1
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Dạy Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 1
  • Top 4 Cách Dạy Toán Lớp 2 Hiệu Quả Nhất Bố Mẹ Nên Biết
  • Báo Cáo Chuyên Đề Môn Toán
  • Viết Đoạn Văn Về Việc Học, Cách Học Tiếng Anh Bằng Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Học Tiếng Anh Bằng Tiềm Thức
  • Học Tiếng Anh Bằng Tiềm Thức
  • Biết 1.000 Từ, Nói Hàng Vạn Câu Với Phương Pháp Học Tiếng Anh Bbst
  • Dạy Tiếng Anh Bằng Phương Pháp Bbst: Vì Sao Sinh Viên Vẫn Chưa Nói Sõi Tiếng Anh?
  • Diễn Đàn Khoa Học: Phương Pháp Dạy Và Học Tiếng Anh Nhanh Bbst
  • Bài luận 1. Viết đoạn văn về việc học, cách học tiếng Anh có dịch tiếng Việt

    Vocabulary:

    • Obvious (adj): Đương nhiên, hiển nhiên.
    • Proficient (adj): Thành thạo.
    • Aviation (n): Ngành hàng không.
    • Attempt (n): Nỗ lực.

    There is no doubt that English is the most common language, and we use it to communicate with other people from all over the world. Therefore, it is an obvious thing that we – especially young people – to study and master this language. When we are proficient in English, we can have higher chance to get a good position in industries that require staffs to be fluent in that language such as aviation, travel, economics, computing etc. Many people will think that English is very difficult to learn, but all we need to do is have our own ways to study and have a real attempt. It needs a long process to remember and use the vocabulary as well as grammar correctly, but we can always invent new methods in learning. Language is quite an easy subject for us to learn, because it appears almost everyday and everywhere we live. For example, instead of writing down all the new words and repeating them aimlessly, we can start to remember the things in our own house and people around us. We can go to the parks or join some English speaking club to have chance to talk with foreign people, and it can help us improve our grammars as well as accent. English books, movies, songs, newspaper are also the things that help us to get used to the ways foreign people use it. The key to study English is that we should not try to remember what we had written on our notebooks, but we need to meet and practice it in real live. Above are some easy ways for us to learn English, and I am sure each of us can master this language is we find our own right ways to study it.

    Dịch:

    Không nghi ngờ gì khi tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến nhất, và chúng ta sử dụng nó để giao tiếp với những người đến từ khắp nơi trên thế giới. Vậy nên, việc chúng ta – đặc biệt là những người trẻ – học và giỏi tiếng Anh là điều hiển nhiên. Khi chúng ta thành thạo tiếng Anh, chúng ta sẽ có cơ hội cao hơn để có được một vị trí tốt trong những ngành đòi hỏi nhân vân viên phải sử dụng trôi chảy ngôn ngữ này như hàng không, du lịch lữ hành, kinh tế, vi tính..v..v. Nhiều người sẽ nghĩ rằng học tiếng Anh rất khó, nhưng những gì chúng ta cần làm là có được cho riêng mình những cách học và một sự nỗ lực. Việc sử dụng đúng những từ vựng và cấu trúc câu một cách chính xác đòi hỏi một quá trình dài, nhưng chúng ta luôn có thể sáng tạo ra những phương pháp học mới. Ngôn ngữ là một môn học khá dễ dàng vì nó gần như xuất hiện hằng ngày và ở tất cả mọi nơi chúng ta sống. Ví dụ như thay vì ghi lại hết những từ mới và lặp lại chúng một cách vô ích, chúng ta có thể bắt đầu bằng việc nhớ những vật dụng ngay trong nhà chúng ta và những người xung quanh mình. Chúng ta có thể đến công viên hoặc tham gia vào những câu lạc bộ nói tiếng Anh để có cơ hội nói chuyện với người nước ngoài, và điều đó giúp chúng ta cải thiện ngữ pháp cũng như giọng nói. Sách, phim, bài hát, và báo bằng tiếng Anh cũng là những thứ giúp chúng ta làm quen với cách người nước ngoài sử dụng nó. Chìa khóa để học tiếng Anh là chúng ta không nên cố gắng nhớ toàn bộ những thứ ghi trong vở, mà chúng ta cần phải gặp và luyện tập nó ngoài đời thực. Phía trên là một số cách đơn giản để học tiếng Anh, và tôi tin chắc mỗi người chúng ta sẽ thành thục ngôn ngữ này khi chúng ta có một cách học đúng đắn cho riêng mình.

    Bài luận 2. Viết đoạn văn về việc học, cách học tiếng Anh:

    Vocabulary:

    • Compulsory (adj): Bắt buộc.
    • Boredom (n): Sự buồn chán.
    • Slang (n): Tiếng lóng.
    • Idiom (n): Thành ngữ.

    English is my favorite subject and also the one that I am good at, so many of my friends had asked me about the way to learn it properly. There is no compulsory method to study English, but each person has to find the suitable one in order to study it efficiently. I had discovered some of my own secret to learn it, and I had a big improvement since then. One of my hobbies is reading, and I choose English books to read in order to improve both my vocabulary and grammar. I read about the history, culture of England and the United States, novels of famous authors, and English news, all of them help me to gain a lot of new words as well as general knowledge. Besides, I never lose my interest in learning English because I know how to combine studying and entertaining. Instead of learning by hearts all the new words in boredom, I listen to English songs, watch English movies and try to translate the lyrics as well as the subtitle. By doing that, I know more about the different and the same things between English and Vietnamese, and it helps me to use English properly in each certain situation. I also connect with some international friends, and they are the best teacher to teach me about English. I can learn some slang, idioms, and things that normal teachers do not teach their students. Besides, my confidence in speaking English also increases since I spend time to talk on the phone with them. I feel that I have made more positive changes since I had my very own ways to learn English, and that is the reason why I think each of us should be creative in learning it.

    Dịch:

    Tiếng Anh là môn học mà tôi yêu thích nhất và cũng là môn mà tôi học giỏi, vậy nên có nhiều bạn bè hỏi tôi về cách học nó đúng đắn. Không có một phương pháp bắt buộc nào để học tiếng Anh cả, nhưng mỗi người phải tự tìm cho mình một cách phù hợp để có thể học nó một cách hiệu quả. Tôi đã khám phá riêng cho mình bí mật để học nó, và tôi đã có sự tiến bộ to lớn kể từ đó. Một trong những sở thích của tôi là đọc sách, và tôi chọn sách tiếng Anh đọc để cải thiện cả từ vựng và ngữ pháp của mình. Tôi đọc về lịch sử, văn hóa của Anh và Mỹ, tiểu thuyết của những tác giả lớn, và tin tức bằng tiếng Anh, tất cả chúng giúp tôi có được một lượng lớn từ mới cũng như kiến thức chung. Bên cạnh đó, tôi không bao giờ đánh mất niềm hứng thú trong việc học tiếng Anh bởi vì tôi biết kết hợp giữa học hành và giải trí. Thay vì học thuộc lòng từ vựng trong sự chán nản, tôi nghe nhạc, xem phim bằng tiếng Anh và cố gắng dịch lời bài hát cũng như phụ đề. Bằng cách làm như thế, tôi biết nhiều hơn về những thứ khác và giống nhau giữa tiếng Anh và tiếng Việt, và nó giúp tôi sử dụng tiếng Anh một cách đúng đắn trong từng tình huống cụ thể. Tôi cũng kết nối với một vài người bạn quốc tế, và họ là những giáo viên tốt nhất trong việc dạy tôi tiếng Anh. Tôi có thể học được một vài tiếng lóng, thành ngữ, và những thứ mà giáo viên bình thường không dạy cho học trò của họ. Bên cạnh đó, sự tự tin trong cách nói chuyện của tôi cũng được tăng lên kể từ khi tôi dành thời gian nói chuyện điện thoại với họ. Tôi cảm thấy rằng mình đã có nhiều sự thay đổi tích cực hơn kể từ khi có cách riêng để học tiếng Anh, và đó là lý do vì sao tôi nghĩ mỗi người chúng ta nên sáng tạo trong việc học nó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Effortless English Của Aj.hoge
  • 7 Phương Pháp Học Tiếng Anh Của Aj Hoge
  • Gặp Ông Bố Tiếng Anh “dở Tệ”, Kiên Trì Dạy Con Tại Nhà Và 2 Năm Sau Được Hưởng “quả Ngọt”
  • Phương Pháp Học Tiếng Anh Hiệu Quả Cho Người Mất Gốc
  • Bí Quyết Học Tiếng Anh Giao Tiếp Tại Nhà Thành Công
  • So Sánh Văn Học Hiện Đại Và Văn Học Trung Đại

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Vé Máy Bay Của Các Hãng Hàng Không Nội Địa Việt Nam Có Gì Khác Biệt?
  • Vé Máy Bay Giá Rẻ Nhất, Nhiều Khuyến Mãi Hấp Dẫn 2022
  • So Sánh Xe Vision Và Grande, Janus, Nozza Nên Mua Xe Nào
  • Điện Thoại Vsmart Live 4 (6Gb/64Gb)
  • So Sánh Vinfast Fadil Và I10 Chi Tiết Nhất
  • 1. Khái quát văn học hiện đại và văn học trung đại

    Trước khi phân biệt văn học hiện đại và văn học trung đại, các em cần có cách nhìn tổng quan nhất về hai thể loại văn học trên:

    – Sự ra đời và hình thành phát triển:

    + Từ thế kỉ X đến trước khi hình thành văn học Việt Nam chỉ có văn học dân gian

    + Đầu thế kỉ X đánh dấu sự ra đời của dòng văn học Việt Nam (văn học trung đại)

    – Chủ đề chủ đạo của các tác phẩm văn học trung đại:

    + Từ thế kỉ X – XV: Nêu cao tinh thần yêu nước, sức mạnh dân tộc, ý chí độc lập và tinh thần tự chủ, tự cường

    + Từ thế kỉ XVI đến nửa đầu thế kỉ XVIII: Tập trung phê phán, phản ánh xã hội

    + Từ cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX: Tập trung phản ánh, phê phán xã hội và đề cao vai trò của con người.

    + Giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX: Phản ánh, phê phán những thói hư dởm đời.

    Ví dụ: Các tác phẩm văn học trung đại tiêu biểu Hịch tướng sĩ, Nam quốc sơn hà,…

    – Thời gian tư tưởng chủ đạo: Văn học hiện đại kéo dài từ 1945 đến 1975 chia làm 3 giai đoạn:

    + 1945 – 1954: trong giai đoạn này tư tưởng chủ đạo hướng về cuộc kháng chiến chống pháp ( Làng- Kim Lân)

    + 1954 – 1964: Cách nhìn mới về một cuộc sống mới, hướng đến tương lai tươi sáng

    + 1964 – 1975: Những tác phẩm tiêu biểu như : Chiếc lược ngà – Nguyễn Quang Sáng, Lặng lẽ Sa Pa – Nguyễn Thành Long ⇒ Hướng đến những con người cao đẹp với những phẩm chất tốt đẹp trong xã hội.

    + Sau 1975: Nổi bật với tác phẩm bến quê – Nguyễn Minh Châu.

    2. Phân biệt văn học hiện đại và văn học trung đại

    So sánh Văn Học hiện đại và Văn Học trung đại

    Sau khi các em nắm bắt được những điểm khái quát và hệ thống lại được một số tác phẩm tiêu biểu, sau đây các em có thể tìm được những điểm giống nhau và khác nhau giữa văn học hiện đại và văn học trung đại như sau:

    – Nội dung: Cùng thể hiện tình cảm, tư tưởng của tác giả bao gồm 3 nội dung chủ đạo là giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và tinh thần yêu nước

    – Nội dung: Văn học hiện đại có nội dung phong phú, hấp dẫn người đọc hơn văn học trung đại, có cái tôi cá nhân và giác ngộ lí tưởng cách mạng. Nó không chỉ thu hút người đọc bởi cách viết đổi mới mà còn bởi nó bộc lộ được nhiều góc khuất của xã hội, của cuộc sống một cách chân thực nhất mà văn học trung đại không biểu hiện được

    – Nghệ thuật:

    + Quan điểm nghệ thuật: Văn học hiện đại có cái nhìn mở rộng hơn, phóng khoáng hơn, không bị ràng buộc bởi các lễ nghi, lễ giáo như ở văn học trung đại. Ở đây, tác giả được biểu lộ cái tôi cá nhân vào bài viết

    + Thể loại: Đa dạng hơn văn học trung đại: truyện ngắn, tiểu thuyết, tùy bút,,…giúp người viết tự do thể hiện tư tưởng tình cảm mà không sợ bị bó hẹp có thể viết ngắn hoặc dài, thay đổi nhiều phong cách viết khác nhau, có các hình ảnh hiện đại,…

    – Nội dung: Các tác phẩm của văn học trung đại luôn bị kèm kẹp trong một phạm vi nhất định, bị tiêu khiển bởi các lễ nghi, lễ giáo, xã hội phong kiến. Các tác phẩm đôi khi chỉ là một góc khuất rất nhỏ của cuộc sống, thứ mà đôi khi bị người ta cho là vô nghĩa trong xã hội phong kiến. Các tác phẩm văn học trung đại chủ yếu dùng để bày tỏ chí, tỏ lòng.

    – Nghệ thuật:

    + Mang tính ước lệ, tượng trưng, có các điển tích cổ điển. Các tác phẩm văn học trung đại mang đậm phong cách cổ xưa, tuân theo cái truyền thống, sắp đặt sẵn, không có quan điểm cá nhân trong bài viết.

    + Mang tính chất quy phạm: Mang tính bó buộc, có quy luật vần chắc chặt chẽ (thơ), hịch, cáo, chiếu,…

    + Thể loại: Ngoài các thể loại được tuân theo quy luật chặt chẽ trên, văn học trung đại còn bao gồm nhiều thể loại truyền thống như: ca dao, tục ngữ,…

    Nhìn chung, văn học hiện đại và văn học trung đại có những cách nhìn nhận khác nhau, mang hai màu sắc hoàn toàn khác nhau, phù hợp với tiến trình phát triển của lịch sử. Nếu như văn học trung đại bị bó hẹp trong niêm luật, gò bó, không thể hiện được cái tôi cá nhân thì văn học hiện đại lại như một luồng gió mới thổi vào văn học Việt Nam, mang lại những sắc thái mới, tiếng nói mới, phá bỏ mọi sự gò bó và cái tôi cá nhân được thể hiện một cách rõ ràng nhất. Giá trị của văn học trung đại không thể phủ nhận. Tuy nhiên, nó không còn phù hợp với xu hướng hiện tại thì tự khắc nó sẽ phải nhường chỗ cho sự phát triển cho văn học hiện đại.

    Đội ngũ gia sư Văn hy vọng rằng bài viết trên sẽ mang lại nhiều kiến thức bổ ích cho các em học sinh trong quá trình học tập. Chúc các em học tập thật tốt và vượt qua các kì thi một cách xuất sắc!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Hành Dell U2417H: Xài Chán Chê Được Đổi Model U2419H
  • Tìm Hiểu Giao Thức Tcp Và Udp
  • Sự Khác Nhau Giữa Giao Thức Tcp Và Udp
  • Unity Và Con Đường Game Dev: Tôi Đã Chọn Unity Như Thế Nào? (Phần 2)
  • Unity 5 Và Unreal Engine 4
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100