Bài Dự Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Phú Thọ

--- Bài mới hơn ---

  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu 70 Năm Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Lào Cai
  • Gợi Ý Trả Lời Câu Hỏi Cuộc Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Bình Dương (1975
  • Đáp Án Cuộc Thi Tìm Hiểu Các Di Tích Việt Nam Tỉnh Sóc Trăng Cac Di Tich Bao Gom Doc
  • Những Sự Thật Kinh Ngạc Trong Lịch Sử Thế Giới
  • Những Cuộc Chiến Làm Thay Đổi Cả Lịch Sử Thế Giới
  • BÀI THI

    TÌM HIỂU LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ (1940-2015)

    Họ và tên: Nguyễn Thanh Nam

    Chức vụ: Bí thư chi bộ

    Chi bộ trường tiểu học Minh Đài

    Câu 1: Hãy cho biết các chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên được thành lập trên địa bàn tỉnh Phú Thọ là những chi bộ nào? Ở đâu? Thời gian thành lập?

    Trả lời: 04 chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên được thành lập trên địa bàn tỉnh Phú Thọ vào cuối năm 1939, đầu năm 1940, gồm:

    – Chi bộ Cát Trù – Thạch Đê, còn gọi là chi bộ Đọi Đèn (Cẩm Khê).

    – Chi bộ Thái Ninh (Thanh Ba).

    – Chi bộ Phú Hộ (Lâm Thao, nay thuộc thị xã Phú Thọ).

    – Chi bộ Nhà máy bột giấy Việt Trì.

    Câu 2: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ được thành lập vào thời gian nào, ở đâu, do ai làm Bí thư? Hãy nêu ý nghĩa của sự kiện trên?

    Trả lời: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ được thành lập vào tháng 3 năm 1940, do Xứ ủy Bắc Kỳ quyết định. Đảng bộ tỉnh lâm thời (lúc đó gọi là Ban cán sự Đảng tỉnh) được lập ra trên cơ sở 4 chi bộ đầu tiên trên địa bàn tỉnh. Ban Chấp hành lâm thời (Tỉnh ủy lâm thời) do Xứ ủy chỉ định gồm 5 ủy viên; đồng chí Đào Duy Kỳ được phân công làm Bí thư. Hội nghị thành lập Đảng bộ tỉnh được tổ chức tại nhà ông Nguyễn Văn Ngân (tức ông Ký Hai), ấp Cẩm Sơn (nay thuộc xã Liên Hoa, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ).

    * Ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng bộ tỉnh Phú Thọ:

    – Hội nghị thống nhất các chi bộ Đảng Cộng sản trong tỉnh vào tháng 3 năm 1940 có ý nghĩa chính trị rất quan trọng, thể hiện sự lớn mạnh của phong trào cách mạng ở địa phương từ sau khi các chi bộ đảng đầu tiên của tỉnh được thành lập.

    – Là mốc son đánh dấu sự ra đời của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ. Từ đây, phong trào cách mạng tỉnh Phú Thọ đã có tổ chức Đảng Cộng sản trực tiếp lãnh đạo, từng bước đưa các hoạt động xây dựng và tổ chức lực lượng đấu tranh chống Pháp – Nhật và tay sai thành cao trào rộng khắp trong toàn tỉnh, tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.

    Câu 3: Từ khi thành lập đến nay, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã trải qua bao nhiêu kỳ Đại hội? Thời gian, địa điểm tổ chức Đại hội? Kể tên các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy qua các thời kỳ?

    Trả lời: Từ khi thành lập đến nay, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã trải qua 17 kỳ Đại hội:

    – Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I, nhiệm kỳ 1947-1949 được tổ chức đầu tháng 1 năm 1947, tại xã Cát Trù, huyện Cẩm Khê.

    – Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ II, nhiệm kỳ 1949-1950 được tổ chức từ ngày 30/6 đến ngày 9/7/1949, tại xã Yên Kỳ, huyện Hạ Hòa.

    – Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ III, nhiệm kỳ 1951-1958 được tổ chức từ ngày 30/3 đến ngày 6/4/1951, tại xã Văn Lang, huyện Hạ Hòa.

    – Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ IV, nhiệm kỳ 1959-1961 được tổ chức từ ngày 26/1 đến ngày 3/2/1959, tại thị xã Phú Thọ.

    – Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ V, nhiệm kỳ 1961-1963 được tổ chức qua 2 vòng:

    + Vòng I: Từ ngày 23/6 đến ngày 1/7/1960.

    + Vòng II: Từ ngày 22/2 đến ngày 2/3/1961.

    + Địa điểm tổ chức tại thị xã Phú Thọ.

    – Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ VI, nhiệm kỳ 1963-1968 được tổ chức từ ngày 17 đến ngày 22/5/1963, tại thị xã Phú Thọ.

    – Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú lần thứ VII, nhiệm kỳ 1971-1976 được tổ chức từ ngày 28/4 đến ngày 5/5/1971, tại huyện Vĩnh Tường (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc).

    – Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú lần thứ VIII, nhiệm kỳ 1976-1977 được tổ chức qua 2 vòng:

    + Vòng I: Từ ngày 5 đến ngày 11/4/1976.

    + Vòng II: Từ ngày 11 đến ngày 18/11/1976.

    + Địa điểm tổ chức tại thành phố Việt Trì.

    – Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú lần thứ IX, nhiệm kỳ 1977-1979 được tổ chức từ ngày 25/4 đến ngày 1/5/1977, tại thành phố Việt Trì.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thi Tìm Hiểu Lịch Sử, Văn Hóa Dân Tộc “tự Hào Việt Nam” Lần Thứ Iii
  • Lịch Sử Áo Dài Việt Nam Qua Các Thời Kỳ
  • Lịch Sử Phát Triển Của Áo Dài Việt Nam
  • Lịch Sử Máy Tính: Sơ Lược Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Của Máy Tính
  • Tìm Hiểu Lịch Sử Phát Triển Của Mạng Máy Tính
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam, Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Bình Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu 80 Năm Lịch Sử Vẻ Vang Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Và Đảng Bộ Địa Phương
  • Di Tích Lịch Sử Nhà Tù Sơn La
  • Thanh Niên Nói Gì Về Cuộc Thi Tìm Hiểu ‘lịch Sử Tỉnh Nghệ An 990 Năm Hình Thành Và Phát Triển’?
  • Nguồn Gốc, Ý Nghĩa, Sự Tích Của Tết Trung Thu Hay Rằm Tháng 8
  • Tìm Hiểu Về Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Của Tết Trung Thu
  • Cuộc thi “Tìm hiểu Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Bình Định” được tổ chức nhằm hướng tới kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; 45 năm giải phóng tỉnh Bình Định, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước chào mừng Đại hội đảng các cấp.

    Bài dự thi Tìm hiểu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam,

    lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định

    A. CÂU HỎI

    Câu 1: Đảng Cộng sản Việt Nam do ai sáng lập, vào thời gian nào và được thành lập trên cơ sở hợp nhất những tổ chức tiền thân nào?

    Câu 2: Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam trải qua bao nhiêu kỳ Đại hội, vào thời gian nào, tại đâu? Nêu tên các đồng chí Tổng Bí thư (hoặc Bí thư thứ nhất) của Đảng từ khi Đảng ta được thành lập đến nay?

    Câu 3: Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động vào ngày tháng năm nào? Nội dung chủ yếu các chuyên đề hàng năm đã học tập, quán triệt và làm theo từ khi Đảng ta phát động đến nay?

    Câu 4: Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Bình Định có bao nhiêu chi bộ Đảng Cộng sản được thành lập? Nêu tên và thời gian thành lập? Ai làm Bí thư?

    Câu 5: Tỉnh ủy lâm thời Bình Định thành lập vào thời gian nào? Các đồng chí ủy viên? Ai làm bí thư?

    Câu 6: Trình bày diễn biến cuộc khởi nghĩa giành chính quyền toàn tỉnh Bình Định trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945?

    Câu 7: Nêu diễn biến và ý nghĩa lịch sử của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng toàn tỉnh Bình Định (31/3/1975)?

    Câu 8: Từ khi thành lập đến nay Đảng bộ tỉnh Bình Định (cả giai đoạn tỉnh Bình Định và tỉnh Quảng Ngãi sát nhập thành tỉnh Nghĩa Bình 1975 – 1989) đã tiến hành mấy kỳ Đại hội? Nêu rõ thời gian từng kỳ Đại hội? Ở đâu? Ai làm Bí thư?

    Câu 9: Nêu những kinh nghiệm chủ yếu của Đảng bộ tỉnh Bình Định trong chặng đường 30 năm thực hiện nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa và công cuộc đối mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đường lối của Đảng (1975 – 2005)?

    Câu 10: Qua nghiên cứu, tham gia Cuộc thi “Tìm hiểu Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định”, anh/chị có những đề xuất, kiến nghị gì trong thời gian tới góp phần xây dựng Đảng bộ tỉnh Bình Định trong sạch, vững mạnh, xây dựng quê hương Bình Định ngày càng giàu đẹp, văn minh? (viết không quá 1.000 từ).

    B. CÂU TRẢ LỜI Câu 1:

    – Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập lãnh đạo và rèn luyện vào ngày 03/02/1930 . Tám thập kĩ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã tiến hành Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, xoá bỏ hoàn toàn chế độ thực dân phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc.

    – Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam:

    Cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản đã nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một Đảng Cộng sản thống nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào cộng sản ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã chủ động tổ chức và chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 7/2/1930.

    Hội nghị đã quyết định hợp nhất các tổ chức Đảng (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như là một Đại hội thành lập Đảng. Những văn kiện được thông qua tại Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc chủ trì chính là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch hằng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng.

    Câu 2:

    89 năm kể từ khi thành lập đến nay (3/2/1930 – 3/2/2019), Đảng ta đã trải qua 12 kỳ Đại hội, mỗi kỳ Đại hội của Đảng đều gắn với những giai đoạn lịch sử, những thắng lợi, những thành tựu và những bài học kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam.

    Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ I

    Diễn ra từ ngày 28 đến ngày 31 – 3 – 1935 tại phố Quan Công, Ma Cao (Trung Quốc). Tham dự có 13 đại biểu chính thức thay mặt cho 500 đảng viên trong nước và các Đảng bộ ở nước ngoài. Ban Chấp hành Trung ương gồm 9 ủy viên chính thức và 4 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư.

    Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ II

    Diễn ra từ ngày 11-19/2/1951 tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. , bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư.

    Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ III

    Diễn ra từ ngày 5-10/9/1960 tại Hà Nội. Có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

    Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IV

    Diễn ra từ ngày 14-20/12/1976 tại Hà Nội. Bộ Chính trị gồm 14 đồng chí. Đồng chí Lê Duẩn tiếp tục làm Tổng Bí thư.

    Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ V.

    Diễn ra từ ngày 27-31/3/1982 tại Hà Nội. Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên chính thức, 2 ủy viên dự khuyết, Ban bí thư gồm 10 đồng chí, đồng chí Lê Duẫn được bầu lại giữ chức vụ Tổng Bí thư.

    Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VI.

    Diễn ra từ ngày 15-18/12/1986 tại Hà Nội. Có 1129 Đảng viên tham dự, thay mặt cho gần 1.9 triệu Đảng viên cả nước. Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên chính thức, 1 dự khuyết. Ban Bí thư gồm 13 đồng chí, đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư.

    Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VII.

    Diễn ra từ ngày 24-27/6/1991 tại Hà Nội. Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên (Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 Key VII tháng 11/1993 đã bầu bổ sung thêm 4 ủy viên Bộ Chính trị). Đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư.

    Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VIII.

    Đại hội diễn ra từ ngày 28/6-1/7/1996 tại Hà Nội. Đồng chí Đỗ Mười được bầu lại làm Tổng Bí thư (sau đó, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 Key VIII – tháng 12/1997, đồng chí Lê Khả Phiêu đã được bầu làm Tổng Bí thư).

    Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX.

    Đại hội diễn ra từ ngày 19-22/4/2001 tại Hà Nội. Bộ Chính trị gồm 13 đồng chí, Ban Bí thư gồm 9 đồng chí. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

    Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ X.

    Đại hội diễn ra từ ngày 18-25/4/2006 tại Thủ đô Hà Nội. Bộ Chính trị gồm 14 thành viên và Ban Bí thư có 8 thành viên. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Key X.

    Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XI

    Đại hội lần thứ XI của Đảng chính thức diễn ra từ ngày 12 đến 19/01/2011 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình với sự tham dự của 1.377 đại biểu . Bộ Chính trị gồm 14 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng được bầu làm Tổng bí thư.

    Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII: Diễn ra từ 20/1 – 28/1/2016. Chiều ngày 27 tháng 01 năm 2022, ông Nguyễn Phú Trọng đã tái đắc cử chức vụ Tổng Bí thư.

    Câu 3: Ngày 07/11/2006, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 06-CT/TW về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với mục đích làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng, toàn dân, Start từ ngày 03/02/2007 và tổng kết vào ngày 03/02/2011, có sơ kết hàng năm vào dịp sinh nhật Bác (19/5).

    Để tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 14/05/2011 về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nhằm phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện cuộc vận động trong thời gian qua. Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị khoá XI về “Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã đạt được kết quả bước đầu, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị khoá XI về “Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/05/2016 về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với 5 nội dung:

    1- Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

    2- Tổ chức học tập, quán triệt và tuyên truyền sâu rộng, thường xuyên, liên tục và có hệ thống bằng nhiều hình thức phong phú, sinh động các nội dung chủ yếu về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân

    3- Đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng,

    4- Lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc triển khai thực hiện theo phương châm trên trước, dưới sau; trong trước, ngoài sau; học đi đôi với làm theo, chú trọng việc làm theo bằng những hành động và việc làm cụ thể. Xây dựng, tổng kết và nhân rộng những điển hình tiên tiến về làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, kết hợp giữa “xây” với “chống”.

    5- Tiếp tục chỉ đạo biên soạn chương trình, giáo trình về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để giảng dạy trong hệ thống giáo dục quốc dân và các học viện, trường chính trị, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp, bảo đảm phù hợp với từng cấp học, bậc học và với yêu cầu giáo dục, đào tạo.

    Câu 4: Khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (tháng 9.1939), phong trào cách mạng trong toàn quốc cũng như ở Bình Định chuyển vào hoạt động bí mật. Từ năm 1939 đến năm 1945, một số cán bộ Đảng đến Bình Định hoạt động gây cơ sở, các chi bộ Đảng được thành lập, Mặt trận Việt Minh và Ban cán sự Đảng của tỉnh được ra đời.

    Bình Định là tỉnh có phong trào cách mạng phát triển khá sớm. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các cơ sở Đảng ở Bình Định được thành lập: Chi bộ Nhà máy đèn Quy Nhơn (3.1930); Chi bộ Cửu Lợi, Tam Quan, Hoài Nhơn (8.1930), Chi bộ Trường Quốc học, Quy Nhơn (11.1930).

    Cuối năm 1938, Tỉnh ủy lâm thời Bình Định được củng cố gồm 3 đồng chí: Trần Lung, Trần Tín và Nguyễn Văn, do Trần Lung làm Bí thư. Khoảng tháng 9.1939, Chi bộ Cộng sản đầu tiên của công nhân đường sắt Bình Định được thành lập, do đồng chí Nguyễn Đình Thụ làm Bí thư.

    Tháng 6.1940, Xứ ủy Trung Kì cử Trần Văn Ngoạn về Quy Nhơn giúp địa phương khôi phục cơ sở Đảng và phong trào quần chúng. Cuối năm 1940, Chi bộ Đảng được thành lập trong công nhân xưởng mộc Hiệp Thành (phường Đống Đa, Quy Nhơn) gồm 5 đảng viên do đồng chí Trần Văn Ngoạn làm Bí thư.

    Đầu năm 1943, tại Nhà lao Quy Nhơn, một Chi bộ Đảng được thành lập, do đồng chí Võ Xán làm Bí thư.

    Câu 5: Cuối năm 1938, Tỉnh ủy lâm thời Bình Định được củng cố gồm 3 đồng chí: Trần Lung, Trần Tín và Nguyễn Văn, do Trần Lung làm Bí thư. Đầu năm 1939, trước đòi hỏi mới của phong trào công nhân đường sắt, Xứ ủy Trung Kì xúc tiến một số biện pháp nhằm củng cố phong trào công nhân xe lửa đoạn Diêu Trì – Tháp Chàm. Khoảng tháng 9.1939, Chi bộ Cộng sản đầu tiên của công nhân đường sắt Bình Định được thành lập, do đồng chí Nguyễn Đình Thụ làm Bí thư.

    Câu 6: Tại Bình Định, tối 13/8/1945, khi nhận được tin Nhật đầu hàng, Ủy ban vận động Việt Minh họp khẩn cấp tại ga Quy Nhơn. Hội nghị nhận định tình thế cách mạng đã xuất hiện, song việc chuẩn bị chưa đầy đủ. Cho nên, một mặt phải nhanh chóng tập hợp lực lượng, cử người gặp Ủy ban vận động cứu quốc tỉnh bàn kế hoạch phối hợp. Mặt khác, điều tra lại tình hình địch, nhất là nắm chắc thái độ, phản ứng của sĩ quan Nhật và tỉnh trưởng bù nhìn. Tuy chưa nhận được lệnh khởi nghĩa của Trung ương, nhưng căn cứ chỉ thị ngày 12/3/1945, hội nghị chủ trương: Dù tình hình nào cũng phải kịp thời phát động quần chúng vùng lên giành chính quyền trước khi quân Đồng minh đến địa phương. Hội nghị quyết định lập Ủy ban khởi nghĩa do đồng chí Võ Xán lãnh đạo, lập Đội tự vệ cứu quốc tập trung, thông báo tin Nhật đầu hàng Đồng minh cho các nhóm thanh niên yêu nước An Khê, Pleiku và Kon Tum.

    Tại An Sơn, Hoài Nhơn, ngày 18/8/1945, Ủy ban vận động cứu quốc tỉnh họp nhận định: “Quần chúng và cán bộ thì sôi nổi và quyết tâm song phong trào so với các nơi khác còn yếu”. Hội nghị quyết định lập Ủy ban khởi nghĩa tỉnh, do đồng chí Trần Quang Khanh làm Trưởng ban. Ngày 21/6/1945, thường trực Ủy ban vận động cứu quốc tỉnh ra “chỉ thị sắt” đề ra một số chủ trương và biện pháp xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa.

    Trước thời cơ chiến lược, hai tổ chức Việt Minh trong tỉnh không chỉ chưa thống nhất lực lượng, mà còn có những nhận định và chủ trương khác nhau về khởi nghĩa tại địa phương. Do đó, cuộc khởi nghĩa toàn tỉnh cũng có cách khác nhau. Ngày 31/8/1945, tại Diêu Trì, Tuy Phước cuộc họp liên tỉnh giữa đại biểu Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Nguyễn Huệ với đại biểu Ủy ban vận động cứu nước tỉnh do đồng chí Trần Lương chủ trì. Đây là Hội nghị để củng cố sự đoàn kết nội bộ lực lượng cách mạng, thể hiện tinh thần trách nhiệm và ý thức đặt lợi ích cách mạng trên quyền lợi bộ phận của các tổ chức Việt Minh. Ngày 3/9/1945 tại sân vận động Quy Nhơn, với hơn 1000 tự vệ cứu quốc và tự vệ sắt tham gia mít tinh chào mừng thắng lợi cuộc khởi nghĩa toàn tỉnh. Trong ngày hội thắng lợi, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời mới của tỉnh lấy tên Tăng Bạt Hổ được thành lập, do đồng chí Trần Quang Khanh làm Chủ tịch.

    Hơn một tuần lễ (23/8 – 31/8/1945), trước cơn bão táp của quần chúng, bộ máy chính quyền của đế quốc và phong kiến từ làng xã đến huyện, tỉnh bị sụp đổ hoàn toàn, âm mưu phá hoại của bọn phản động bị đập tan, nhân dân Bình Định đã vùng lên giành chính quyền toàn tỉnh thắng lợi.

    Câu 7: Bình Định là tỉnh duyên hải miền Trung Trung bộ, nối với Quảng Ngãi ở phía Bắc và Phú Yên ở phía Nam bằng đường số 1, với Gia Lai ở phía Tây bằng đường số 19. Sau khi Buôn Ma Thuật thất thủ, trên đường 19, địch tổ chức phòng ngự thành từng cụm, từng tuyến từ Phú Phong đến Phú An, trung tâm là cụm căn cứ Lai Nghi. Chúng còn lập hệ thống phòng thủ dọc theo bờ biển từ Diêu Trì đến đèo Cù Mông, đồng thời di chuyển một bộ phận về phía sau xây dựng tuyến phòng ngự mới tại Đèo Cả.

    Liên tiếp trong tháng 3-1975, các đơn vị chủ lực Quân khu 5 cùng lực lượng vũ trang địa phương tiến công các cụm phòng ngự của địch trên đường số 1 cả từ hai phía Bắc, Nam và trên đường 19, loại khỏi vòng chiến đấu một bộ phận Sư đoàn 22 quân ngụy. Quân và dân địa phương tiến công và nổi dậy, tiêu diệt và bức rút hàng chục chốt điểm, giải phóng phần lớn nông thôn các huyện Phù Cát, An Nhơn, Hoài Nhơn, Tuy Phước, Bình Khê, Tam Quan, Bồng Sơn, Phù Mỹ.

    5 giờ sáng 31-3-1975, Quân Giải phóng đồng loạt tấn công các tuyến phòng ngự vòng ngoài của địch đánh chiếm Lai Nghi, Phú Phong, núi Trà Lam Sơn, Đập Đá. 20 giờ ngày 31-3, các cánh quân của ta tiến vào thị xã Quy Nhơn. Số quân địch trấn giữ các căn cứ trong nội ô tổ chức kháng cự không thành công, tìm đường tháo chạy. Tỉnh Bình Định hoàn toàn giải phóng.

    Thắng lợi to lớn, toàn diện và triệt để của Đảng bộ, quân và dân Bình Định là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố. Bên cạnh đường lối đúng đắn và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự chi viện to lớn và có hiệu quả của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, sự hỗ trợ và hợp đồng chặt chẽ của các chiến trường, sự đóng góp máu xương của hàng vạn cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 3 Sao Vàng và con em đồng bào khắp mọi miền đất nước, còn bắt nguồn từ những nhân tố nội tại hết sức quan trọng. Đó là sự kế thừa tinh thần quật khởi của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn để khơi dậy và phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí căm thù giặc sâu sắc, ý chí tự lực tự cường của Đảng bộ, quân và dân Bình Định với quyết tâm “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ, không có gì quý hơn độc lập tự do” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy. Đó còn là truyền thống đoàn kết nhất trí trong Đảng bộ và nhân dân đã được vun đắp và phát huy cao độ trong quá trình tiến hành hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, Đảng với dân một lòng, quân với dân một ý chí, tình đồng chí, nghĩa đồng bào, thủy chung son sắt, cùng đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, sống chết có nhau trong hoàn cảnh khó khăn gian khổ và ác liệt cũng như lúc giành được thắng lợi.

    Câu 8: Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ I

    Ngày 22/1/1947, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ nhất khai mạc tại thành Bình Định (An Nhơn).Đại hội bầu Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 13 đồng chí, do đồng chí Trần Lê làm bí thư.

    Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ II

    Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ II họp vào tháng 2/1949, tại thôn Dương Liễu, xã Mỹ Lợi, huyện Phù Mỹ. Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 19 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Văn được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.

    Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ III

    Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ III họp tháng 3/1950 tại trại Thiếu nhi Bác Hồ xã Cát Hanh, huyện Phù Cát.Trên cơ sở phân tích tình hình, đại hội đề ra những nhiệm vụ cụ thể trong năm 1950 và bầu Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 13 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Văn được bầu lại làm Bí thư Tỉnh ủy.

    Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ IV

    Đảng bộ tỉnh lần thứ IV, họp tháng 12/1952 tại Đức Long, xã Ân Đức, huyện Hoài ÂnĐại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 19 đồng chí do đồng chí Trần Quang Khanh làm Bí thư.

    Cuối năm 1952, đồng chí Ngô Đức Đệ, Ủy viên Thường vụ khu ủy V, làm Bí thư thay đồng chí Trần Quang Khanh.

    Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ V

    Tháng 6/1960 tại Tu-kơ-Roong (Vĩnh Thạnh) Đảng bộ Bình Định tổ chức đại hội đại biểu lần thứ V (lần thứ nhất trong kháng chiến chống Mỹ). Đại hội bầu Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 11 đồng chí (có 2 dự khuyết, 1 dân tộc thiểu số). Đồng chí Trần Quang Khanh, Khu ủy viên được bầu làm Bí thư.

    Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ VI

    Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VI họp từ ngày 20 đến ngày 25/11/1964 tại thôn Nghĩa Nhơn, xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân. Giữa năm 1967, đồng chí Trần Quang Khanh chuyển công tác về Khu ủy, đồng chí Nguyễn Trung Tín làm Bí thư Tỉnh ủy.

    Tháng 4/1968, đồng chí Đặng Thành Chơn (Tám Lý) ở khu ủy về làm Bí thư.

    Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ VII

    Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII họp vào Trung tuần tháng 11/1968 tại Trường Ðảng tỉnh bên bờ suối Kà Xom (Vĩnh Thạnh). Hơn 150 đại biểu thay mặt cho 4.974 đảng viên của 380 chi bộ, Đảng bộ cơ sở về dự.Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm có 22 đồng chí (20 chính thức, 2 dự khuyết, 1 dân tộc ít người, 1 nữ). Đồng chí Đặng Thành Chơn được bầu làm Bí thư.

    Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ VIII

    Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII họp từ ngày 10/10 đến ngày 14/10/1986 tại Quy Nhơn, Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 65 đồng chí (50 ủy viên chính thức, 15 ủy viên dự khuyết). Ban Thường vụ Tỉnh ủy có 14 đồng chí. Đồng chí Đỗ Quang Thắng được bầu làm Bí thư.

    Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ IX

    Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX họp từ ngày 6 đến 12/11/1973 tại làng K10, xã Vĩnh Kim, huyện Vĩnh Thạnh. Đồng chí Nguyễn Trung Tín được bầu làm Bí thư.Tháng 2/1976 Tỉnh Bình Định và tỉnh Quảng Ngãi được sát nhập thành tỉnh Nghĩa Bình Sau khi hợp nhất tỉnh, Thường vụ Khu ủy V có Nghị quyết công nhận Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm có 31 đồng chí (chưa kể 8 đồng chí quân sự còn chờ ý kiến quân khu ủy), đồng chí Võ Hanh (tức Võ) làm Bí thư Tỉnh ủy kiêm Trưởng ban Kiểm tra Đảng.

    Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ X

    Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghĩa Bình lần thứ nhất (tỉnh Bình Định lần thứ X) họp từ ngày 10/10 đến ngày 20/10/1976 và từ ngày 23 đến ngày 27/3/1977 tại Quy Nhơn. Đại hội bầu Ban Chấp hành gồm 35 đồng chí (có 2 ủy viên dự khuyết), Ban Thường vụ gồm 9 đồng chí. Đồng chí Võ Văn Đinh được bầu làm Bí thư.

    Tháng 3/1978, đồng chí Nguyễn Quang Lâm, Ủy viên Trung ương Đảng (Key IV) về làm Bí thư thay đồng chí Võ Văn Đinh.

    Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XI

    Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XI (tỉnh Nghĩa Bình lần thứ II) họp từ 7 đến 11/11/1979 tại Quy Nhơn.Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 45 đồng chí (có 4 ủy viên dự khuyết). Đồng chí Nguyễn Quang Lâm (Tám Tú) được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.

    Tháng 1/1981, đồng chí Trần Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng, về làm Bí thư Tỉnh ủy.

    Tháng 5/1982, đồng chí Võ Trung Thành (Năm Vinh), Ủy viên Trung ương Đảng, về làm Bí thư Tỉnh ủy.

    Tháng 8/1982, đồng chí Đỗ Quang Thắng làm Bí thư Tỉnh ủy thay đồng chí Võ Trung Thành từ trần.

    Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XII

    Họp từ ngày 31/1/1983 đến ngày 05/2/1983 tại Quy Nhơn. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 47 đồng chí (2 đồng chí dự khuyết). Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 15 đồng chí. Đồng chí Đỗ Quang Thắng được bầu làm Bí thư.

    Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XIII

    Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII họp từ ngày 10/10 đến ngày 14/10/1986 tại Quy Nhơn, Để lãnh đạo các mặt kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và xây dựng Đảng của Đảng bộ Bình Định, ngày 4/4/1989, Bộ Chính trị ra quyết định số 612- QĐ/TW điều đồng chí Nguyễn Trung Tín, Ủy viên Trung ương Đảng – Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng về làm Bí thư Tỉnh ủy Bình Định.

    Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XIV

    Họp từ ngày 23/4 đến ngày 26/4/1991 tại thành phố Quy Nhơn Hội nghị đã bầu bổ sung 5 đồng chí vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Key XIV (Đặng Ngọc Biển, Nguyễn Minh Lân, Tống Nhuệ, Phạm Văn Thanh, Nguyễn Hữu Thiên).

    Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XV

    Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV họp từ ngày 7 đến ngày 9/5/1996 tại thành phố Quy Nhơn.Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 47 đồng chí. Đồng chí Tô Tử Thanh được bầu làm Bí thư.

    Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XVI

    Đại hội diễn ra từ ngày 7 đến 10/2/2001 tại Quy Nhơn, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI có 47 đồng chí, BCH bầu đồng chí Mai Ái Trực làm Bí thư.

    Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XVII

    Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XVII diễn ra từ ngày 16 – 18.11.2005 tại Quy Nhơn , Đồng chí Nguyễn Xuân Dương tiếp tục được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy,

    Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XVIII

    Dễn ra từ ngày 27 – 29.10.2010 tại Quy Nhơn , Đồng chí Nguyễn Văn Thiện được bầu giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy

    Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XIX

    Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XIX sẽ diễn ra trong 3 ngày, từ ngày 14 – 16.10.2015, trong đó phiên trù bị diễn ra vào lúc 15 giờ ngày 14.10, đại hội chính thức diễn ra trong 2 ngày 15 – 16.10; địa điểm tổ chức Đại hội là Hội trường Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh (TP Quy Nhơn). Đồng chí Nguyễn Thanh Tùng được bầu giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy.

    …………..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sách Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Các Kỳ Đại Hội
  • Sách Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam 1930
  • Lịch Sử Ra Đời Của Máy Tính Cá Nhân
  • Quá Trình Hình Thành Máy Tính Ngày Nay Như Thế Nào?
  • Đáp Án Kỳ 2 Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Văn Hóa, Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Quảng Nam
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Thành Phố Đà Nẵng

    --- Bài mới hơn ---

  • Giúp Tham Gia Cuộc Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng
  • Hơn 85.000 Người Tham Gia Cuộc Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Tuần Thứ 15
  • Hướng Dẫn Tham Gia Cuộc Thi Tìm Hiểu Lịch Sử “90 Năm
  • Lịch Sử Về Người Bí Thư Chi Bộ Đảng Cộng Sản Đầu Tiên Huyện Thiệu Hóa
  • Thiệu Hóa Tổng Kết Và Trao Giải Cuộc Thi “tìm Hiểu Lịch Sử Quan Hệ Đặc Biệt Việt Nam
  • Thứ sáu – 20/10/2017 08:00

    Thành phố Đà Nẵng được ra đời từ lâu với tên gọi là Tourane và trở thành nhượng địa của Pháp vào năm 1888. Từ khi có Đảng ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng; nhân dân thành phố Đà Nẵng đã khởi nghĩa và giành được được nhiều thắng lợi mà đỉnh cao là Cách mạng tháng 8 năm 1945 (vào ngày 26/8/1945) và Đại thắng mùa xuân 1975 vào ngày 29/3/1975.

    Thành phố Đà Nẵng được ra đời từ lâu với tên gọi là Tourane và trở thành nhượng địa của Pháp vào năm 1888. Từ khi có Đảng ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng; nhân dân thành phố Đà Nẵng đã khởi nghĩa và giành được được nhiều thắng lợi mà đỉnh cao là Cách mạng tháng 8 năm 1945 (vào ngày 26/8/1945) và Đại thắng mùa xuân 1975 vào ngày 29/3/1975. “…Đà Nẵng quê ta ơi, hôm nay giải phóng rồi!…” Sau hòa bình, đất nước hồi sinh; đà nẵng quê mình cũng được khắc phục hậu quả của chiến tranh, từng bước tiến triển… song sự đổi thay và phát triển của thành phố có tính đột phá là thời điểm từ khi chia tách tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng thành hai đơn vị hành chánh trực thuộc trung ương (tháng 01/1997). Đà Nẵng bức phá đi lên, vươn mình lớn dậy như “Phù Đổng Thiên Vương” mà khởi đầu bằng những nhịp cầu nối đôi bờ bên dòng Sông Hàn thơ mộng… Chiếc cầu quay Sông Hàn – cầu của lòng dân ý Đảng; cầu đã xóa tan đi khoảng cách giàu – nghèo; xóa nhà tạm, nhà chồ bên bờ Đông Sông Hàn; Xóa khoảng cách sang-hèn (con gái quận ba không bằng bà già quận nhất). Đà Nẵng lại tiếp tục lớn lên bằng những con đường mới mở; bằng những công trình vươn tới những tầm cao… Từ một thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc trung ương, rồi trở thành Đô thị loại I. Đây là bước phát triển nhảy vọt của Đà Nẵng! Bằng những quyết sách của Đảng, thành phố đã không ngừng lớn mạnh, trưởng thành; bằng các chương trình hành động mang tính nhân văn, nhân đạo, nhân sinh như Chương trình thành phố “5 không”; “3 có”; Đà Nẵng đã vươn mình lớn dậy và đã dần trở thành thành phố an bình và đáng sống. Ấn tượng nhất là giai đoạn “15 năm thành phố trực thuộc trung ương” ( 1997-2012).

    Nhìn lại trang lịch sủ Đảng bộ thành phố Đà Nẵng 85 năm qua (1925-2015) thì khoảng thời gian từ năm 1997 đến năm 2022 (18 năm từ ngày thành phố trực thuộc trung ương) là 18 năm thành phố phát triển rực rỡ nhất- đẹp như tuổi 18; tuổi trưởng thành của thiếu niên, tuổi khởi đầu của thanh niên- đẹp như “Sông Hàn tuổi 18” mà các nhà thi ca đã viết: “ta có một Sông Hàn 18 tuổi, như em sáng nay duyên dáng áo học trò; sông mở cửa đưa cánh buồm theo gió, sông mang hồn thành phố đến khơi xa…”; 18 năm qua là một phong trào phát triển; là sự kiện lịch sử đột phá của thành phố phố Đà Nẵng; chắc hẳn rằng sẽ để lại dấu ấn lịch sử khó phai mờ trên trang sử vàng của lịch sử Đảng bộ thành phố Đà Nẵng. Sự kiện đã cho thấy sự lãnh đạo tài tình, linh hoạt, sáng tạo của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng mà then chốt là sự quan tâm đúng mức và kịp thời của Trung ương Đảng bằng việc tăng cường đầu tư sự lãnh đạo của Đảng qua công tác điều động đồng chí Trương Quang Được; đồng chí Phan Diễn về làm bí thư Đảng bộ thành phố Đà Nẵng. Cùng với phong trào, sự kiện lịch sử đáng ghi nhớ đó; có một nhân vật luôn gắn liền với sự phát triển đi lên của thành phố đã để lại dấu ấn khó phai mờ trong lòng người dân Đà Nẵng. Đó cũng là kết quả được hội tụ từ tinh hoa của mảnh đất và con người Đà Nẵng trung dũng, kiên cường – Nguyễn Bá Thanh; Như lời tuyên bố tại buổi lễ kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng thành phố Đà Nẵng của Cố Bí thư Nguyễn Bá Thanh: “…Cái được lớn nhất trong hơn 10 năm qua là được lòng dân…”; câu nói của đồng chí đã được khẳng định như một chân lý được minh chứng trong ngày 30 tết năm ấy (nhằm ngày 18/02/2015)…Hàng vạn người dân thành phố Đà Nẵng và cả nước đã hướng về đồng chí Nguyễn Bá Thanh với tất cả tấm lòng tiếc thương vô hạn và kính cẩn nghiêng mình trước vong linh của Người. Đất trời Đà Nẵng ngảy 30 tết năm ấy đã tuôn mưa…với cái mưa của Trời đất và nước mắt của lòng dân. Đà Nẵng thật đáng tự hào đã có được một nhân vật như vậy! để hôm nay và mai sau người dân sẽ hát mãi những bản tình ca Đà Nẵng: ” Đà Nẵng thành phố tôi yêu, yêu suốt cuộc đời như tôi yêu người thương yêu nhất. Đà Nẵng thành phố của tình yêu…”

    Là công dân của thành phố Đà Nẵng, ai cũng có quyền tự hào về thành phố đáng yêu của mình; càng tự hào ta càng thấy công lao của Đảng, của những người có công xây dựng; càng thấy trách nhiệm của mình trong việc góp phần xây dựng thành phố Đà Nẵng ngày càng giàu đẹp, An bình, văn minh, hiện đại; giải pháp quan trọng nhất theo tôi vẫn là yếu tố con người. Thành phố cần có những người có tài, có tâm, có tầm…cỡ như Nguyễn Bá Thanh! Đối với Đảng, tôi rất tâm đắc và tin tưởng rằng: Bằng Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Đảng trung ương; Đảng địa phương và toàn dân hãy tích cực hưởng ứng và thực hiện thật tốt, thật công minh trên mãnh đất quê mình Đà Nẵng; chắc hẳn rằng Đà Nẵng sẽ tiếp tục cất cánh bay lên như Phù Đổng Thiên Vương ở tuổi 18!

    Nguyễn Thùy

    Trường tiểu học số 2 Hòa Nhơn

    Tác giả bài viết: NGUYỄN THÙY

    Nguồn tin: hoạt động

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thông Báo Thể Lệ Cuộc Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Bình Dương (1975
  • Phát Động Cuộc Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ, Lịch Sử Truyền Thống Cách Mạng Tỉnh Bình Dương Năm 2022
  • Những Thành Công Từ Cuộc Thi Tìm Hiểu “lịch Sử, Truyền Thống Cách Mạng Thành Phố Quy Nhơn”
  • Trên 1 Triệu Lượt Người Tiếp Cận Cuộc Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Bình Phước
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Thanh Hóa Đạt Giải Cấp Tỉnh
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu 70 Năm Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Lào Cai

    --- Bài mới hơn ---

  • Gợi Ý Trả Lời Câu Hỏi Cuộc Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Bình Dương (1975
  • Đáp Án Cuộc Thi Tìm Hiểu Các Di Tích Việt Nam Tỉnh Sóc Trăng Cac Di Tich Bao Gom Doc
  • Những Sự Thật Kinh Ngạc Trong Lịch Sử Thế Giới
  • Những Cuộc Chiến Làm Thay Đổi Cả Lịch Sử Thế Giới
  • Tìm Hiểu Về Lịch Sử Hồ Gươm
  • BÀI DỰ THI

    “TÌM HIỂU LỊCH SỬ 70 NĂM ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI (1947-2017)”

    Câu hỏi:

    Câu 1. Trình bày hoàn cảnh, ý nghĩa lịch sử của sự ra đời Đảng bộ tỉnh Lào Cai?

    Câu 2. Trình bày những sự kiện, mốc lịch sử quan trọng phản ánh sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Lào Cai đối với phong trào cách mạng địa phương trong 70 năm qua?

    Câu 3. Từ khi thành lập đến nay, Đảng bộ tỉnh Lào Cai đã tổ chức bao nhiêu kỳ đại hội? Nêu thời gian tổ chức các kỳ đại hội; họ và tên của các đồng chí trong Ban chấp hành Đảng bộ, Bí thư Tỉnh ủy từ khi thành lập đến nay?

    Câu 4. Trình bày những nét nổi bật trong công tác xây dựng Đảng bộ tỉnh từ năm 1947 đến năm 2022. Phân tích ý nghĩa của những những kết quả đạt được trong công tác xây dựng Đảng bộ tỉnh qua các thời kỳ lịch sử?

    Câu 5. Để Lào Cai trở thành tỉnh phát triển của Khu vực Tây Bắc, bản thân phải làm gì để góp phần xây dựng Đảng bộ tỉnh Lào Cai ngày càng trong sạch vững mạnh (không quá 3.000 từ)?

    Trả lời:

    Câu 1. Hoàn cảnh, ý nghĩa lịch sử của sự ra đời Đảng bộ tỉnh Lào Cai:

    1. Thành lập Ban cán sự Đảng Lào Cai

    Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng nước ta, chấm dứt thời kì khủng hoảng về đường lối kéo dài kể từ khi thực dân Pháp xâm lược. Sau khi ra đời, Đảng ta đã đề ra đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc theo lập trường vô sản và khẳng định vai trò lãnh đạo Đảng đối với cách mạng Việt Nam.

    Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, tình hình chính trị – xã hội ở Lào Cai diễn biến hết sức phức tạp. Theo hiệp ước đồng minh, quân đội Tưởng Giới Thạch vào miền Bắc làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật. Trong khi chưa giành được chính quyền cách mạng cấp tỉnh thì Nhân dân Lào Cai lại phải đối phó ngay với quân đội Tưởng Giới Thạch và bè lũ Việt Nam Quốc dân Đảng phản động. Trong vòng một năm chiếm đóng ở Lào Cai (từ tháng 11-1945 đến tháng 11-1946), bọn Quốc dân Đảng đã phá hoại thành quả của nhân dân vừa mới giành được, khủng bố những người theo xu hướng Việt Minh, ngoài ra, chúng còn thu nhiều loại thuế, bắt nhân dân nộp lương thực, thực phẩm để nuôi quân; tung tiền giả ra trao đổi mua bán làm rối loạn thị trường…

    Do sự phát triển của phong trào cách mạng ở Lào Cai, nhiều tổ chức yêu nước theo xu hướng Việt Minh đã được hình thành, trước tình hình đó cần phải có tổ chức đảng đứng ra lãnh đạo các phong trào ở địa phương. Với chủ trương hòa để tiến của Trung ương, trung tuần tháng 10-1945, Xứ ủy Bắc Kỳ và Kỳ Bộ Việt Minh Bắc Kỳ cử một đoàn cán bộ lên Lào Cai, với nhiệm vụ tranh thủ lúc Tưởng Giới Thạch chưa lập chính quyền tay sai, xúc tiến nhanh việc tổ chức chính quyền và các đoàn thể quần chúng gây dựng cơ sở cách mạng. Đoàn lên mang theo thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh (18-10-1945). Trong thư Người thông báo cho đồng bào Lào Cai biết Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã thành công trong cả nước và Người thăm hỏi động viên nhân dân các dân tộc Lào Cai cùng nhau hăng hái đứng lên phấn đấu để củng cố nền độc lập của nước nhà.

    Đầu tháng 9-1946, Xứ ủy quyết định thành lập Ban cán sự Đảng tỉnh Lào Cai gồm ba đồng chí, đồng chí Ngô Minh Loan làm Trưởng ban (có lúc gọi là Bí thư) đồng chí Lê Thanh và Đào Đình Bảng làm ủy viên. Sự kiện Ban cán sự Đảng tỉnh Lào Cai được thành lập đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Cách mạng của Nhân dân Lào Cai. Từ đây Lào Cai đã có tổ chức Đảng lãnh đạo, là động lực to lớn thúc đẩy quần chúng đứng lên đấu tranh giải phóng quê hương.

    Câu 2. Trình bày những sự kiện, mốc lịch sử quan trọng phản ánh sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Lào Cai đối với phong trào cách mạng địa phương trong 70 năm qua:

    1. Giải phóng Lào Cai lần thứ nhất (11-1946)

    Ngày 04/10/1946, Ban cán sự Đảng đã tổ chức cuộc họp với chỉ huy các đơn vị bộ đội chủ lực để bàn kế hoạch chi tiết về chiến dịch giải phóng Lào Cai. Ngày 26/10/1946, các cánh quân chủ lực của ta bắt đầu tiến công đánh bọn Quốc dân Đảng ở Phố Lu (Bảo Thắng), tham gia cùng với lực lượng vũ trang Cách mạng còn có quân của các thổ ty, sau 3 ngày

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Phú Thọ
  • Thi Tìm Hiểu Lịch Sử, Văn Hóa Dân Tộc “tự Hào Việt Nam” Lần Thứ Iii
  • Lịch Sử Áo Dài Việt Nam Qua Các Thời Kỳ
  • Lịch Sử Phát Triển Của Áo Dài Việt Nam
  • Lịch Sử Máy Tính: Sơ Lược Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Của Máy Tính
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Thanh Hóa Đạt Giải Cấp Tỉnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Trên 1 Triệu Lượt Người Tiếp Cận Cuộc Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Bình Phước
  • Những Thành Công Từ Cuộc Thi Tìm Hiểu “lịch Sử, Truyền Thống Cách Mạng Thành Phố Quy Nhơn”
  • Phát Động Cuộc Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ, Lịch Sử Truyền Thống Cách Mạng Tỉnh Bình Dương Năm 2022
  • Thông Báo Thể Lệ Cuộc Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Bình Dương (1975
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Thành Phố Đà Nẵng
  • ĐẢNG BỘ PHƯỜNG TRUNG SƠN

    CHI BỘ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRUNG SƠN

    BÀI DỰ THI “TÌM HIỂU LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ VÀ TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN THANH HÓA” Học sinh: Lê Văn Trung Lớp: 9C Trường: THCS Trung Sơn

    Năm học 2022 – 2022

    Câu 1: Đảng bộ Cộng sản tỉnh Thanh hóa được thành lập như thế nào? Từ khi thành lập đến nay, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành bao nhiêu kỳ Đại hội? Họ tên những đồng chí Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch UBND tỉnh qua các thời kì. Trả lời * Sự thành lập Đảng bộ Cộng sản tỉnh Thanh hóa:

    – Sự thành lập Đảng bộ: Ngày 3-2-1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời. Sau khi Đảng ra đời, Xứ uỷ Bắc kỳ rất quan tâm đến việc thành lập tổ chức Cộng sản ở Thanh Hoá. Được sự chỉ đạo của Xứ uỷ, đồng chí Nguyễn Doãn Chấp đã về Thanh Hoá bắt mối liên lạc với các hội viên Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên ở các huyện Đông Sơn, Thiệu Hoá, Thọ Xuân và xúc tiến việc thành lập các chi bộ cộng sản.

    – Cuối tháng 6 năm 1930 chi bộ cộng sản đầu tiên được thành lập ở Hàm Hạ (nay thuộc xã Đông Tiến – Đông Sơn).

    – Đầu tháng 7 năm 1930, chi bộ cộng sản thứ hai ra đời ở Phúc Lộc, Thiệu Hoá (nay là xã Thiệu Tiến).

    – Giữa tháng 7 năm 1930 tại làng Yên Trường (Thọ Lập-Thọ Xuân) chi bộ cộng sản thứ 3 ra đời.

    – Như vậy chỉ trong một thời gian ngắn ở Thanh Hoá đã có ba chi bộ cộng sản ra đời.

    – Ngày 29/7/1930 dưới sự chỉ đạo của Xứ uỷ Bắc kỳ, Hội nghị thành lập Đảng bộ Đảng cộng sản tỉnh Thanh Hoá đ ược tiến hành dưới sự chủ trì của đồng chí Lê Doãn Chấp tại nhà đồng chí Lê Văn Sĩ (làng Yên Trường -Thọ Xuân).

    – Sự ra đời của Đảng bộ Đảng cộng sản ThanhHoá đã chứng tỏ sự trưởng thành về ý thức chính trị của quần chúng công nông. Từ đây trở đi nhân dân Thanh Hoá đã có một tổ chức chân chính trực tiếp lãnh đạo, mở ra thời kỳ phát triển của phong trào cách mạng trong tỉnh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, phong trào cách mạng Thanh Hoá trở thành một bộ phận hữu cơ của cách mạng Việt Nam.

    *Từ khi thành lập đến nay, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành 18 kỳ Đại hội :

    – Đại hội lần I: 1948 -1949

    – Đại hội lần II: 1949 -1950

    – Đại hội lần III: 1950 -1952

    – Đại hội lần IX: 1977 – 1979

    – Đại hội lần X: 1979 -1983

    – Đại hội lần XI: 1983 -1986

    – Đại hội lần XII: 1986 – 1991

    – Đại hội lần XIII: 1991 – 1996

    – Đại hội lần XIV: 1996 – 2001

    – Đại hội lần XV: 2001 – 2005

    – Đại hội lần XVI: 2005 – 2010

    – Đại hội lần XVII: 2010 – 2022

    – Đại hội lần XVIII: 2022 – nay

    * Các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch UBND tỉnh qua các thời kì. Giai đoạn 1948 – nay Đồng chí Nguyễn Đình Xứng – Phó Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa Ông Trịnh Văn Chiến Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa Hình ảnh học sinh Trường THCS Trung Sơn – TP Sầm Sơn thăm khu Tưởng niệm Chi bộ Đảng đầu tiên của Thành phố Sầm Sơn – Tỉnh Thanh Hóa Câu 2: Cuộc đấu tranh giành chính quyền của nhân dân Thanh Hóa trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 diễn ra như thế nào? Liên hệ cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở xã, thị trấn nơi em sinh sống? Trả lời: * Khởi nghĩa giành chính quyền ở Thanh Hoá tháng Tám năm 1945:

    – Ngày 14 tháng 8 năm 1945 chính phủ Nhật tuyên bố đầu hàng đồng minh không điều kiện. Lúc này phong trào cách mạng ở Thanh Hoá đang phát triển mạnh mẽ, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện Hoằng Hoá đã thắng lợi.

    – Điều kiện khách quan, chủ quan cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở Thanh Hoá đã chín muồi.

    – Trước tình hình đó, Tỉnh uỷ đã triệu tập Hội nghị mở rộng vào ngày 14/8/1945 tại làng Mao Xá (Thiệu Toán). Hội nghị nhận định tình hình cách mạng trong tỉnh, quyết định chủ trương biện pháp sẵn sàng phát động nhân dân nổi dậy giành chính quyền.

    – Hội nghị Tỉnh uỷ đã quyết định thành lập Uỷ ban khởi nghĩa và Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh, phủ, huyện. Đồng chí Lê Tất Đắc được cử làm chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa và Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh. Để hạn chế đổ máu và nhanh chóng khởi nghĩa giành thắng lợi. Hội nghị đã sử dụng sách lược khôn khéo: Gửi thư của mặt trận Việt minh cho Nhật, yêu cầu chúng không can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam, rút hết quân đội ở các đồn bốt, cơ sở về nhà Giòng thị xã Thanh Hoá để hồi hương an toàn.

    – Ngày 17 tháng 8, Chỉ thị khởi nghĩa của tỉnh được triển khai rộng khắp cơ sở. Bọn Nhật đã chấp thuận yêu cầu của mặt trận Việt Minh. Bộ máy chính quyền địch ở tỉnh lị tan rã từng mảnh.

    – Dưới sự lãnh đạo của các cấp bộ Đảng và mặt trận Việt minh, quần chúng nhândân các huyện đã rầm rộ xuống đường khởi nghĩa giành chính quyền.

    – Tính đến rạng sáng ngày 19-8-1945, quần chúng khởi nghĩa đã làm chủ các huyện Hậu Lộc, Hà Trung, Nga Sơn, Quảng Xương, Thạch Thành, Vĩnh Lộc, Thiệu Hoá, Yên Định, Thọ Xuân.

    – Chiều ngày 19 tháng 8 cuộc khởi nghĩa thắng lợi ở Đông Sơn.

    – Ngày 20/8 lực lượng khởi ở Tĩnh Gia giành chính quyền về tay nhân dân.

    – Ngày 21 tháng 8 hai huyện Nông Cống và Cẩm Thuỷ cũng giành được thắng lợi trong khởi nghĩa.

    – Đúng 8 giờ sáng, lực lượng quần chúng tuần hành cùng bốn chiếc xe khách chở Ban chỉ đạo và lực lượng tự vệ. Từ Lò Chum, lên đến Trường Thi, lực lượng khởi nghĩa đổ về chùa Hai Voi và toả đi chiếm trại Bảo an binh, dinh tỉnh trưởng… đi tới đâu lực lượng khởi nghĩa thu hút thêm lực lượng nhân dân tới đó, kẻ thù hoàn toàn bị áp đảo trước sức mạnh của quần chúng khởi nghĩa. Chiều ngày 20 tháng 8 thị xã Thanh Hoá hoàn toàn thuộc về cách mạng. Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời thị xã Thanh Hoá ra mắt nhân dân.

    – Đến ngày 21-8 về cơ bản cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Thanh Hoá đã giành được thắng lợi.

    – Đối với 6 châu miền núi, tỉnh uỷ chỉ đạo giành chính quyền bằng phương pháp hoà bình.

    – Ngày 23 tháng 8 năm 1945, trong không khí tưng bừng phấn khởi của hàng vạn nhân dân thị xã và các phủ huyện lân cận, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh đã ra mắt đồng bào, đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn củ

    – Ngày 23 tháng 8 năm 1945, trong không khí tưng bừng phấn khởi của hàng vạn nhân dân thị xãvà các phủ huyện lân cận, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh đã ra mắt đồng bào, đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn của công cuộc khởi nghĩa giành chính quyền của tỉnh nhà.

    – Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 ở Thanh Hoá là kết quả của sự vận dụng linh hoạt chủ động sáng tạo những chủ trương nghị quyết Trung ương Đảng của Đảng bộ Thanh Hóa vào tình hình cụ thể trong tỉnh.

    – Đảng bộ đã xây dựng được một đội quân cách mạng đông đảo ở nhiều địa phương, bao gồm lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang qua các thời kỳ mặt trận phản đế cứu quốc, mặt trận Việt minh và cao trào kháng Nhật cứu nước. Nhờ vậy khi thời cơ cách mạng đến, nhân dân Thanh Hoá nhanh chóng vùng dậy giành chính quyền. Thắng lợi to lớn này là kết quả của truyền thốngđấu tranh yêu nước của nhân dân được Đảng lãnh đạo.

    – Cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng tám (1945) đã diễn ra nhanh chóng và kết thúc thắng lợi. Chính quyền cách mạng nhân dân đã được thành lập. Thắng lợi to lớn này đã đưa nhân dân các dân tộc Thanh Hoá từ địa vị nô lệ, thoát khỏi ách thống trị của bọn thực dân phong kiến và trở thành người chủ thực sự của quê hương. Cuộc khởi nghĩa tháng tám ở Thanh Hoá đã góp phần cùng với nhân dân cả nước làm nên thắng lợi vĩ đại của cách mạng tháng Tám, đưa tới sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, ghi một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc.

    * Liên hệ cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở xã, thị trấn nơi em sinh sống:

    – Sau khi đàn áp đẫm máu các phong trào đấu tranh yêu nước theo khuynh hướng tư tưởng phong kiến và tư sản, thực dân Pháp buộc triều đình nhà Nguyễn dâng đát nước ta cho chúng. Chúng đặt ra chính sách cai trị vô cùng dã man, tàn bạo và cực kỳ phản động nhằm đè bẹp ý chí yêu nước chóng thực dân Pháp của dân tộc ta để dễ bề vơ vét tài nguyên và bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy, thỏa mãn lòng tham vô đáy của chúng.

    – Về chính trị: Chúng thực hiện chính sách chia để trị, chia đất nước ta thành 3 kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ), chia rẽ dân tộc, tôn giáo, phân biệt miền xuôi, miền núi, miền biển làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân để dễ bề cai trị.

    Thanh Hóa thuộc Trung Kỳ nằm trong chế độ bảo hộ của Thực dân Pháp do Triều đình phong kiến nhà Nguyễn trực tiếp cai trị. Nhưng bên cạnh bộ máy quan lại, chức sắc phong kiến, Thực dân pháp đặt một tòa Công Sứ được gọi là cơ quan bảo hộ nhưng thực chất mọi quyền hành đều do chúng nắm giữ. Bộ máy cai trị của nhà Nguyễn từ tỉnh đến phủ, huyện, làng, xã là đội quân tay sai của Thực dân Pháp. Vì vậy, nhân dân trong tỉnh phải chịu cảnh đè nén, áp bức gấp đôi của chính quyền thực dân Pháp và chính quyền Phong kiến.

    Dưới thời Pháp thuộc, khu vực Sầm Sơn được gọi là vùng Tam xã, bát thôn (3 xã, 8 thôn) có tên trẩy Cung Thượng thuộc các tổng khác, nhưng Sầm Sơn là địa bàn có vị trí chiến lược trọng yếu, khu vực nhỉ mát tắm biển lý tưởng của quan lại thực dân và phong kiến (Bảo Đại cũng xây dinh thự riêng ở Sầm Sơn) nên thực dân Pháp đặt ra một tổ chức mang tính chất trị sự nhằm bảo vệ trông coi các dinh thự nghỉ mát ở Sầm Sơn Thượng. trên dãy núi Trường Lệ, thực dân Pháp xây một đồn lính kiên cố án ngữ vùng biển và làm nhiệm vụ bảo vệ khu vực Sầm Sơn. Về thực chất bộ máy cai trị của triều đình phong kiến ở tổng Cung Thượng là bộ máy tay sai của thực dân Pháp.

    Về kinh tế: Thực dân Pháp thực hiện chính sách vơ vét tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt, thu lợi nhuận tối đa. Chúng đã tước đoạt của nhân dân tỉnh ta hàng vạn hecta ruộng đất, lập đồn điền, xây dựng các công trình quân sự, khai thác lâm sản, khoáng sản quý hiếm, đưa về chính quốc, và xuất khẩu. Chúng đạt ra hàng ngàn thứ thuế vô lý để vơ vét tiền của, vô lý nhất là thuế thân đánh vào nam giới từ 18 tuổi trở lên. Mỗi xuất thuế phải nộp từ 3 – 3,5 đồng bạc Đông Dương, tương đương với 3 tạ thóc. Chúng độc quyền xuất khẩu, buôn bán muối, rượu, hạn chế phát triển công nghiệp nhằm kìm hãm kinh tế nước ta trong đó có khu vực Thanh Hóa trong đói nghèo, lạc hậu.

    Tại Sầm Sơn, Phần lớn cư dân sinh sống bằng nghề đánh bắt hải sản, một bộ phận sản xuất nông nghiệp. một bộ phận làm nghề thủ công và buôn bán, chế biến hải sản. Các nghề thủ công chủ yếu làm dịch vụ cho đánh bắt hải sản. Năm 1906, thực dân Pháp cho làm đường số 8 dài 16 km, nối Thị xã Thanh Hóa với Sầm Sơn và xây dựng nhiều dinh thự sang trọng trên dãy núi Trường Lệ để làm nơi nghỉ dưỡng.

    Mùng 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp, TW Đảng ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” chỉ đạo phong trào cách mạng trong cả nước . Đầu tháng 4 năm 1945, Tỉnh ủy tổ chức hội nghị quán triệt và triển khai Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của Trung ương Đảng . Tỉnh ủy tiếp tục chủ trương phát động phong trào đấu tranh chống thuế, phát động phong trào phát kho thóc của giặc Nhật và tay sai, cứu đói cho dân, đẩy mạnh công tác truyên truyền vũ trang vạch mặt phát xít Nhật và bọn tay sai.Phát động phong trào sắm vũ khí, đuổi thù chung, chuẩn bị điều kiện khởi nghĩa và chỉ đạo thành lập Ủy ban Giải phóng cấp huyện, cấp tỉnh.

    Đầu năm 1945, giặc Nhật tăng cường lực lượng phòng thủ nơi xung yếu trong tỉnh. Riêng khu vực Sầm Sơn, chúng điều động thêm một trung đội lính Nhật và một trung đội lính Bảo an về chốt giữ khu vực tòa Sứ (gần đền Độc Cước) được tăng cường lực lượng, bọn phản động tay sai Nhật ra sức tuyên truyền cưỡng ép nhân dân đi phu, đi lính và nộp thóc cho Nhật. Trong khi đó hàng trăm người dân Sầm Sơn, hàng ngàn người dân Thanh Hóa chết đói. Chỉ tính riêng tám tháng đầu năm 1945 khu vực Quảng Xương trong đó có Sầm Sơn có đến 3324 nghìn người chết đói.

    Để cứu đói cho dân, lực lượng Việt Minh nguyện đã tổ chức đấu tranh chống thuế bảo vệ mùa màng, chống cướp bông, cướp thóc, vừa phát động phong trào phá kho thóc của giặc và tay sai chia cho người đói, vận động những gia đình giàu có cho dân vay thóc. Phong trào phá kho thóc của Nhật cứu đói đã phát triển sâu rộng trên địa bàn toàn huyện. Tính đến tháng 7/1945 công cuộc khởi nghĩa diễn ra khẩn trương sôi động trên địa bàn toàn tỉnh. Nhiều làng xã đã tiến hành khởi nghĩa từng phần giành thắng lợi

    Trước sự phát triển mau lẹ của phong trào cách mang từ 13 – 16/8/1945, Tỉnh ủy tiến hành Hội nghị đánh giá tình hình và quyết định phát động toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên địa bàn toàn tỉnh.

    Tại khu vực Quảng Xương, tháng 6/1945 đồng chí Lưu Công Hòa thay thế đồng chí Đinh Chương Lân phụ trách khu vực Quảng Xương, Sầm Sơn. Đồng chí đã cùng các đồng chí trong Ủy ban Việt Minh huyện Quảng Xương tích cực tổ chức đấu tranh, chuẩn bị điều kiện giành chính quyền. Sau khi nhận được lệnh khởi nghĩa của Tỉnh ủy, Ủy ban Việt Minh huyện đã tổ chức Hội nghị tại nhà ông Bớc do đồng chí Lưu Công Hòa chủ trì. Hội nghị đã phân tích tình hình ở Quảng Xương và Sầm Sơn quán triệt tinh thần chỉ đạo của Tỉnh ủy đề ra phương châm hành động là: thống nhất hành động của các lực lượng cách mạng, tổ chức chỉ đạo khởi nghĩa nhanh gọn, tránh đổ máu, hy sinh, sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang, tạo ra sức mạnh tổng hợp đè bẹp ý chí phản kháng của quân thù trừng trị bọn nội phản…

    Theo kế hoạch vào hồi 21 giờ ngày 18/08/1945, lực lượng tự vệ làng Lương Trung, làng Triều Dương , làng Cá Lập và Hải Thôn phối hợp với tự vệ các Làng Nho Quan, Hòa Chúng, Đài Thọ do đồng chí Vũ Đức Linh và Đới Sĩ Thân chỉ huy hành quân đánh chiếm huyện lỵ. Trước khí thế áp đảo của hàng vạn quần chúng và tự vệ, huyện trưởng Lê Nguyên Khang phải nộp ấn tín tài liệu, vũ khí đầu hàng. Lực lượng tự vệ đánh chiếm đồn Ghép, buộc địch đem toàn bộ vũ khí ra hàng cách mạng vào rạng sáng ngày 19/8. sau khi đánh chiếm huyện lỵ và đồn Ghép, lực lượng tự vệ do đồng chí Vũ Đúc linh đã chỉ huy hành quân về Sầm Sơn phối hợp với lực lượng của đồng chí Hà Viết Phiên đánh chiếm các vị trí quan trọng ở Sầm Sơn, bắt gọn các phần tử phản động do Hoàng Thăng Doan cầm đầu vào đêm 19/8/1945. Trước khí thế của cách mạng, vào 3 giờ sáng ngày 20/8/1945, trung đội lính Nhật ở Sầm Sơn buộc phải rút về khu vực nhà Dòng thành phố Thanh Hóa. Sáng ngày 20/8/1945, ủy ban Khởi nghĩa khu vực Sầm Sơn huy động lực lượng tự vệ bao vây đánh chiếm dinh Bang Tá và Đồn Bảo an binh, Sở Dây Thép (bưu điện) và lung bắt bọn địch chạy trốn. Để buộc Đồn Bảo an binh đầu hang, đồng chí Vũ Đức Linh bắt tên Hà Huy Chương ra lệnh cho binh lính đầu hàng cách mạng. Lực lượng tự vệ đã thu 25 súng trường và quân trang, quân dụng.

    Khởi nghĩa thắng lợi, nhân dân Sầm Sơn từ than phận kẻ nô lệ mất nước đã trở thành chủ nhân của quê hương mình. Vào hồi 12 giờ ngày 20/8/1945, đồng chí Lưu Công Hòa thay mặt Việt Minh huyện Quảng Xương công bố danh sách ủy ban Cách mạng lâm thời khu vực Sầm Sơn gồm các đồng chí sau đây:

    1.Đồng chí Lưu Công Hòa, Chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời Sầm Sơn

    2.Đồng chí Cao Xuân Dị, Phó Chủ tịch

    3.Đồng chí Vũ Đức Linh, Ủy viên phụ trách quân sự.

    4.Đồng chí Phạm Văn Ga, Ủy viên phụ trách tài chính.

    5.Đồng chí Nguyễn Văn Tịnh, Ủy viên phụ trách giao thông, tuyên truyền.

    6.Đồng chí Nguyễn Văn Cương, Ủy viên

    7.Đồng chí Nguyễn Văn Yên, Ủy viên.

    25/8/1945, Ủy ban Cách mạng lâm thời khu vực Sầm Sơn ra mắt quốc dân đồng bào tại sân vận động Sầm Sơn trong tiếng hoan hô vang dậy của hàng ngàn quần chúng.

    Hơn 80 năm mất nước nô lệ, quyền sống, quyền làm người bị chà đạp, sống trong gông cùm, xiềng xích.

    Cách mạng tháng 8/1945 thành công, là kết quả tất yếu của các phong trào đấu tranh lien tục bền bỉ của nhân dân Sầm Sơn, nhân dân Thanh Hóa và toàn dân tộc Sầm Sơn, nhân dân Thanh Hóa và toàn dân tộc Việt Nam thắng lợi của cách mạng tháng 8 là thắng lợi của truyền thống chống giặc ngoại xâm kiên cường, bất khuất được hun đúc từ hàng ngàn năm lịch sử của cha ông ta. Truyền thống đó được phát huy cao độ kể từ khi có sự lãnh đạo cảu Đảng cộng sản Việt Nam, trong cách mạng tháng 8/1945 đánh đổi chính quyền thực dân phong kiến, xác lập chính quyền cách mạng, xác lập chế độ dân chủ nhân dân. Thắng lợi đó là thắng lợi của phương pháp, của nghệ thuật khởi nghĩa sáng tạo, linh hoạt, khiên quyết, mềm dẻo. Kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, phân hóa, cô lập quân thù cao độ và dùng áp lực của cách mạng quần chúng dành chính quyền nhanh chóng, trọn vẹn, không đổ máu, hi sinh. Cách mạng tháng 8/1945 ở khu vực Sầm Sơn thắng lợi đã góp phần cùng cả tỉnh, cả nước dành chính quyền về tay nhanh dân, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên đọc lập dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội trên quê hương đất nước, đó là điều kiện cơ bản tiến tới thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở khu vực Sầm Sơn.

    Đồng chí Võ Mạnh Sơn, Phó bí thư thường trực Thành ủy – Thành phố Sầm Sơn Đồng chí Lê Ngọc Chiến, Phó Bí thư Thị ủy, Chủ tịch UBND thành phố Sầm Sơn bỏ phiếu bầu cử HĐND các cấp và bỏ phiếu bầu cử Quốc hội Câu 3: Nhân dân Thanh Hóa đã làm gì để bảo vệ quê hương và làm tròn nghĩa vụ hậu phương với cách mạng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Trả lời:

    * Những việc làm của Nhân dân Thanh Hóađể bảo vệ quê hương trong cuộc kháng chiến trong cuộc kháng chiến chống Mĩ

    + Giữ vững mạch máu giao thông Bắc- Nam

    – Ở vào vị trí chiến lược quan trọng, là địa bàn nối liền khúc ruột miền Trung, Thanh Hoá đã trở thành mục tiêu trọng điểm bắn phá của đế quốcMỹ.

    – Trong 2 ngày 3 và 4 – 4 – 1965 Mỹ đã huy động 455 lượt máy bay các loại, năm 627 quả bom phá và 58 bom nổ chậm, bắn hàng trăm tên lửa, rốc két xuống các trọng điểm ở Thanh Hoá. Riêng Hàm Rồng, Mỹ ném 350 quả bom, bắn 149 tên lửa, rốc két nhằm cắt đứt mạch máu giao thông, chặn đường chi viện cho miền Nam.

    – Phát huy thắng lợi Lạch Trường, trong 2 ngày 3 và 4-4-1965, được sự phối hợp của bộ đội phòng không và không quân, quân và dân Thanh Hoá đã dũng cảm chiến đấu bắn rơi 47 máy bay phản lực của Mỹ, bảo vệ vững chắc cầu Hàm Rồng, cầuLèn.

    – Kết thúc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965-1968), quân dân Thanh Hoá đã bắn rơi 276 máy bay, bắn cháy 26 tàu chiến, bắn chìm 5 tàu biệt kích, góp phần cùng quân dân miền bắc buộc Mỹ phải ngừng leo thang chiến tranh phá hoại ra miềnBắc.

    * Chi viện sức người sức của cho cách mạng miềnNam

    Nằm trong vùng trọng điểm ném bom bắn phá của đế quốc Mỹ, ThanhHoá là một trong những địa phương thiệt hại nhiều nhất ở miền Bắc. Trong hai lần leo thang bắn phá miền Bắc, Mỹ đã ném bom xuống Thanh Hoá 20 vạn tấn bom các loại, 34.809 qủa đạn của hải quân Mỹ bắn phá trên biển. Bình quân mỗi km2 phải chịu 19,7 tấn bom, mỗi người dân phải chịu 220kg.

    – Nhưng bom đạn Mỹ không làm nhụt chí người xứ Thanh. Dưới sự lãnh đạo của tỉnh uỷ Thanh Hoá, nhân dân tỉnh ta đã vươn mình đứng dậy làm tròn nghĩa vụ cứu quốc một cách vẻvang.

    – 21nămkhángchiến,ThanhHoáđãcó227.082ngườigianhậpquânđội, bằng 10,15 dân số toàn tỉnh.

    – Những người con ưu tú của nhân dân Thanh Hoá với truyền thống “Lam Sơn”, “Hàm Rồng” đã hiến cả tuổi thanh xuân và máu xương của mình cho sự nghiệp giải phóng miền Nam. Dọc theo Trường Sơn, trên khắp các chiến trường miền Namđều có mặt những người con quêThanh.

    – Thanh niên với phong trào “ba sẵn sàng” luôn xung phong đi đầu trong lao động sản xuất và chiến đấu. Tuổi nhỏ với phong trào “Trần Quốc Toản” đã hăng hái “mang mũ rơm đi học đường dài” lại tích cực tham gia gieo cấy, chăm bón, gặt hái, giúp đỡ các gia đình thương binh liệtsĩ…

    – Với tinh thần “mỗi người làm việc bằng hai”, “thóc không thiếu một cân”, “tất cả vì miền Nam ruột thịt”… nhân dân Thanh Hoá đã chắt chiu để góp sức mình cho kháng chiến. Góp gió thành bão, chính công sức của đồng bào Thanh Hoá đã góp phần làm nên cơn bão táp cách mạng cuồn cuộn triều dâng thác đổ cuốnphăng đồn bốt Mỹ- Nguỵ, giải phóng miền Nam, thống nhất đấtnước.

    * Nhân dân Thanh Hóa đã làm tròn nghĩa vụ hậu phương với cách mạng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.

    Thực hiện đường lối chung của toàn Đảng, Đảng bộ Thanh Hoá đã tổchức, lãnh đạo toàn dân trong tỉnh khắc phục hậu quả chiến tranh và thiên tai, khôi phục phát triển kinh tế – văn hoá đạt được những thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá.

    Tháng 9- 1954, Tỉnh uỷ đã chỉ đạo các địa phương tu sửa nâng cấp đê Bái Thượng, hệ thống thuỷ nông sông Chu, tu sửa đường 1A, đường thị xã – Bái Thượng – Eo Lê – Bá Thước và làm mới 460 km đường nội tỉnh, 340 cầu, 34 phà. Tháng 11-1955, xây dựng tuyến đường 217A, sau đó xây dựng tuyến đường 217B giúp nước bạn Lào… khôi phục lại thị xã Thanh Hoá và các trung tâm huyện, thị trong tỉnh.

    – Sau 3 năm khôi phục và phát triển kinh tế – văn hoá, tính đến cuối năm 1960, toàn tỉnh đã xây dựng được 4.930 HTX nông nghiệp (chiếm 915 tổng số hộ nông dân) và 313 HTX tiểu thủ công nghiệp (chiếm 70% hộ thủ công và tiểu thương toàn tỉnh), đưa 96 hộ tư sản công- thương vào các công ty hợp doanh. Xây dựng quan hệ sản xuất mới, bước đầu xây dựng được một số cơ sở sản xuất công nghiệp mới trongtỉnh.

    tổchứccácphongtràothiđualàmthuỷlợi,phânbón,ứngdụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp.

    – Năm 1964, tổng sản lượng lương thực toàn tỉnh đạt 562 ngàn tấn, ngư nghiệp đánh bắt được từ 20- 30 ngàn tấn cá, lâm nghiệp khai thác được hàng vạn m3 gỗ, luồng, tre, nứa. Xây dựng được 106 cơ sở sản xuất quốc doanh và công ty hợp doanh, 1.241 cơ sở tiểu thủ công nghiệp, 149 điểm cơ khí nhỏ phục vụ nông nghiệp.

    xây dựng, nâng cấp 598 trường phổ thông cấp I, 293 trường cấp II, 13 trường cấp III, xoá mù chữ cho 95% đồng bào miền xuôi và 74% đồng bào miền núi. Xây dựng 95 bệnh viện tuyến huyện và tỉnh, 500 trạm xáxã.

    – Phong trào xây dựng nếp sống mới và văn hoá – văn nghệ phát triển mạnh phục vụ đời sóng tinh thần cho nhân.

    Hình ảnh hậu phương miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mĩ Câu 4: Em hãy cho biết, Đại hội đại biểu lần thứ mấy của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa là Đại hội mở đầu thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam ? Những nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu có ý nghĩa quyết định nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế – xã hội và quốc phòng – an ninh mà nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần này đề ra ? Trả lời:

    Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XII (từ ngày 23- 29/10/1986)

    Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XII diễn ra từ ngày 23- 29/10/1986 tại Hội trường 25B của tỉnh. Đại hội đã đóng góp ý kiến cho Dự thảo Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đánh giá tình hình hoạt động trong nhiệm kỳ XI, xác định phương hướng, nhiệm vụ, triển khai sự nghiệp đổi mới và bầu ban chấp hành nhiệm kỳ mới.

    Đại hội nhất trí đánh giá, trong 3 năm (1983-1985) ta có những chuyển biến tiến bộ trên nhiều mặt sản xuất, đời sống, văn hoá, xã hội. Nổi bật là sản xuất nông nghiệp có bước phát triển tương đối toàn diện với tốc độ khá, đặc biệt giành thắng lợi lớn về sản xuất lương thực và nắm lương thực (đạt 80 vạn tấn năm 1985). Cơ sở vật chất kỹ thuật nhiều ngành kinh tế, văn hoá được tăng cường; tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân 7%/năm (so với thời kỳ 1976- 1980 tăng 1%).

    Cán bộ, đảng viên và đồng bào các dân tộc trong tỉnh đã nâng cao tinh thần cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn phá hoại nhiều mặt của địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang, sẵn sàng chiến đấu ở các tuyến biên giới, bờ biển; phát hiện và ngăn chặn kịp thời nhiều vụ vượt biển trốn ra nước ngoài, âm mưu nhen nhóm tổ chức phản động, chống chiến tranh tâm lý của địch, chi viện tỉnh Hủa Phăn (Lào).

    Công tác xây dựng Đảng đã bám sát nhiệm vụ chính trị và kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng – an ninh, xây dựng tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh, đấu tranh chống tiêu cực, đoàn kết nội bộ, tăng cường đội ngũ cán bộ chủ chốt từ tỉnh đến cơ sở.

    Đại hội xác định phương hướng nhiệm vụ là: Từ lương thực, xuất khẩu, sản xuất hàng hóa phong phú, đa dạng mà đi lên. Xây dựng cơ cấu kinh tế sát hợp. Gắn phát triển kinh tế với xã hội, coi trọng chiến lược xây dựng con người, lấy giáo dục phổ thông và bảo vệ sức khỏe làm cơ bản. Thực hiện đường lối quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, lấy dân làm gốc, lấy cơ sở làm nền tảng, lấy sức mạnh tại chỗ là chính. Tập trung sức mạnh tổng hợp, khai thác tiềm năng sức mạnh của 4 vùng kinh tế. Trọng điểm là khai thác thế mạnh trung du – miền núi, tăng cường đầu tư khai thác kinh tế biển, tạo thế đi lên vững chắc của đồng bằng…

    Khẩu hiệu hành động là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và ý chí cách mạng tiến công, đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức và cán bộ, tiếp cận tiến bộ khoa học hiện đại, thực hiện cơ chế quản ly mới, sáng tạo cách làm, đi lên với tốc độ nhanh, năng suất, chất lượng và hiệu quả.”

    Đại hội bầu Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XII gồm 54 đồng chí chính thức và 18 đồng chí dự khuyết. Ban chấp hành Đảng bộ đã bầu 15 đồng chí vào Ban thường vụ Tỉnh ủy, Bầu đồng chí Hà Trọng Hòa làm Bí thư Tỉnh ủy; đồng chí Quách Lê Thanh làm phó Bí thư trực Đảng; đồng chí Hà Văn Ban làm phó Bí thư phụ trách chính quyền; đồng chí Vũ Thế Giao làm phó Bí thư, trưởng ban tổ chức Tỉnh ủy.

    Câu 5: Trình bày cảm nhận của bản thân về những thay đổi chuyển biến của tỉnh Thanh Hóa sau 32 năm thực hiện công cuộc đổi mới. Là học sinh phổ thông em phải làm gì để góp phần xây dựng tỉnh Thanh Hóa trở thành tỉnh ” kiểu mẫu” như sinh thời Bác Hồ từng căn dặn. Trả lời:

    Trên từng bước đường kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong mỗi chiến công, mọi thành quả của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thanh Hóa đều có nguồn sức mạnh vô biên, chỗ dựa tinh thần vững chắc, soi đường, chỉ lối của tư tưởng Hồ Chí Minh. Hình ảnh của vị Lãnh tụ trong những lần về với cán bộ và nhân dân tỉnh Thanh Hóa mãi mãi là hình ảnh cao đẹp; tư tưởng, đạo đức, phong cách sáng ngời của Người luôn tỏa sáng và là niềm tin để rất nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân Thanh Hóa quyết tâm phấn đấu trở thành tỉnh “kiểu mẫu”.

    Tiếp nối và phát huy truyền thống tốt đẹp của lịch sử dân tộc và niềm tự hào về vùng đất “địa linh nhân kiệt”, quê hương của “Tam vương, nhị chúa”, của văn hiến và khoa bảng, bằng việc vận dụng và ban hành những cơ chế, chính sách phù hợp, sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Thanh Hóa đã đoàn kết một lòng, nỗ lực phấn đấu, năng động, sáng tạo, phát huy tốt những tiềm năng, lợi thế, khơi dậy mạnh mẽ các nguồn lực, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực.

    Trên cơ sở này, tỉnh Thanh Hóa xây dựng chương trình trọng điểm, đó là tổ chức thực hiện quyết liệt, có hiệu quả 5 chương trình trọng tâm, 4 khâu đột phá và các nghị quyết, kết luận, cơ chế, chính sách đã ban hành, rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch các ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu cho phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

    Thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với thực hiện có hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, thực hiện có hiệu quả Kết luận số 46 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 02 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trên địa bàn tỉnh.

    Quan tâm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất phát huy tối đa năng lực hiện có, đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh cơ cấu lại và phát triển ngành dịch vụ, trong đó tập trung phát triển nhanh các dịch vụ có giá trị gia tăng cao.

    Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tiếp tục giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh; chủ động nắm chắc tình hình cơ sở, nhất là tuyến biên giới, trên biển và các địa bàn trọng điểm để kịp thời xử lý các tình huống phát sinh, không để bị động, bất ngờ.

    Tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đảng viên. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp; siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của bộ máy chính quyền từ tỉnh đến cơ sở.

    – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Thanh Hóa những tình cảm đặc biệt và đã bốn lần về thăm tỉnh nhà. Trong những lần về thăm, Bác Hồ đã khen ngợi “Tỉnh Thanh có tiếng là văn vật, một tỉnh đất rộng, dân đông, có điều kiện để thành một tỉnh giàu đẹp và kiểu mẫu, nhân dân có truyền thống đấu tranh anh dũng và cần cù lao động…”.

    Đặc biệt, cách đây vừa tròn 70 năm, trong những ngày tháng gian khổ, ác liệt khi toàn quốc vừa bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trong buổi nói chuyện với lãnh đạo tỉnh, các đại biểu nhân sĩ, trí thức, cùng đông đảo nhân dân vào tối ngày 20/02/1947, Bác mong muốn Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Thanh Hóa “phải trở nên một tỉnh kiểu mẫu”.

    Khắc sâu lời dạy của Bác, trong hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhân dân các dân tộc tỉnh Thanh Hóa đã khắc phục khó khăn, gian khổ, đẩy mạnh lao động sản xuất, tích cực tham gia kháng chiến, kiến quốc, vừa kiên cường chiến đấu bảo vệ quê hương, vừa tích cực đóng góp sức người, sức của chi viện cho chiến trường, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước…

    Qua hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng bộ, quân và dân Thanh Hóa đã đoàn kết một lòng, nỗ lực phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa Thanh Hóa ra khỏi tình trạng tỉnh nghèo, kém phát triển, trở thành một trong những trung tâm kinh tế, văn hoá, giáo dục – đào tạo của khu vực Bắc Trung bộ.

    Những kết quả đạt được của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Thanh Hóa trong 70 năm qua đã làm thay đổi diện mạo của tỉnh, tạo tiền đề vững chắc để Thanh Hóa tiếp tục đổi mới, phát triển nhanh và bền vững hơn trong những năm tới.

    Là địa phương có điều kiện tự nhiên phong phú, nằm ở vị trí quan trọng, nơi cửa ngõ giao lưu giữa các tỉnh Bắc Trung bộ và Bắc bộ, Thanh Hóa cần cần huy động các nguồn lực để phát triển nhanh, đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội; đầu tư có trọng tâm, trọng điểm các công trình hạ tầng quan trọng, có tính then chốt về giao thông, thủy lợi, điện.

    Thanh Hóa cần tiếp tục chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, hiện đại trên cơ sở ứng dụng những tiến bộ khoa học – công nghệ vào sản xuất; quan tâm thu hút các dự án đầu tư có tính kết nối liên vùng nhằm tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội; liên kết hợp tác phát triển với các địa phương trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và Bắc Trung bộ, phát huy cao nhất tiềm năng, lợi thế của từng tỉnh, thành phố và của toàn vùng.

    Tỉnh Thanh Hóa ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp, sản phẩm có hàm lượng trí tuệ, giá trị gia tăng cao; đẩy mạnh xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng các mặt hàng có chất lượng cao; đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp theo hướng hiện đại, chuyển dịch mạnh lao động nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ; thu hút các nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nông nghiệp công nghệ cao gắn với xây dựng nông thôn mới.

    Đi cùng với đó, Thanh Hóa phải chú trọng công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch du lịch; gắn phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ với phát triển du lịch để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế phát triển nhanh, bền vững. Muốn làm tốt các nhiệm vụ này, tỉnh Thanh Hóa cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng giáo dục và dạy nghề; quan tâm đầu tư cho khoa học – công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển và công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

    Thanh Hóa quan tâm tăng cường quốc phòng – an ninh, gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại; tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác với các địa phương của nước bạn Lào, góp phần xây dựng biên giới Việt – Lào hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển. Tỉnh Thanh Hóa cần tập trung làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh.

    Thanh Hóa tiếp tục thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI, XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (Khóa XII) về đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

    Cùng với đó phải chú trọng đẩy mạnh cải cách hành chính, phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu chính đáng của người dân và doanh nghiệp nhằm xây dựng bộ máy chính quyền hiệu lực, hiệu quả, đội ngũ cán bộ, công chức liêm chính, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân.

    Trên từng bước đường kháng chiến xây dựng bảo vê tổ quốc trong mỗi tiến công mọi thành quả của Đảng bộ chính quyền va nhân dân Thanh Hóa trong đó luôn có hình ảnh Bác Hồ.Đo không chỉ thể hiên tình cảm sâu nặng Bác dành cho Đảng bộ mà còn là niềm vui va sự gửi gắm của Bác đối với tỉnh Thanh Hóa là một tỉnh rất rộng ,những người nông dân có truyền thống anh dũng đấu tranh và cần cù lao động sẽ trở thành hâu phương vững chắc của cuôc kháng chiến trường kỳ .Để thưc hiện nhiêm vụ cao cả đó Bác yêu cầu Thanh Hóa phải trở thành 1 tỉnh kiểu mẫu làm sao cho mọi mặt chính trị ,kinh tế quân sự phải là kiểu mẫu làm một làng kiểu mẫu môt tỉnh kiểu mẫu và Người đã khẳng định rằng :”quyết tâm làm thì sẽ thành kiểu mẫu ”

    Vâng theo lời Bác dạy với niềm vinh dự và tự hào Đảng bộ quân và dân các dân tộc Thanh Hóa đã đồng lòng đoàn kết quyết tâm vừa đánh trả cuộc tấn công càn quét của địch bảo vệ vững chắc hậu phương giúp đỡ đùm bọc đồng bào tản cư vừa xây dựng hậu phương phát triển về mọi mặt chính trị quân sự kinh tế văn hóa xã hội tập trung cao nhất sưc người sức củacho tiền tuyến và tham gia giúp đỡ .Trong chín năm kháng chiến từ hậu phương Thanh Hóa hàng triệu tấn lương thực thực phẩm dược cung cấp cho tiền tuyến 57 nghìn thanh niên tòng quân nhập ngũ hơn 1 triệu dân công hỏa tuyến duọc huy dộng ngày đêm vận chuyển lương thực thực phẩm vũ khí phục vụ chiến trường góp phần cung toan quan toàn dân làm nên chiến thắng Điên Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu

    Ghi nhận nhũng công lao to lớn của Đảng bộ quân và dân các dân tộc tỉnh Thanh Hóa . Đảng và nhà nước đa tặng thưởng huân chương sao vàng lực lượng vũ trang tỉnh Thanh Hóa dược phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân . Đã có 4.208 bà mẹ được phong tặng và truy tặng danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân 13 tap the va 6 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động

    Thực hiện di huấn thiêng liêng của Người Thanh Hóa đã và đang dần trở thành một trong nhũng trung tâm kinh tế . Về văn hóa xã hội, giáo dục quốc phòng trở nên mạnh nhất của cả nước. Mới bước đi lên của tỉnh nhà Đảng bộ chinh quyền và nhân dân Thanh Hóa luôn khắc sâu những lời khen ngợi dặn dò phê bình cũng như sự chi đạo ân cân của Bác. Qua 30 năm tiến hành công cuộc dổi mới đất nước trong bối cảnh thời cơ thuận lợi khó khăn thử thách dan xen song với truyền thống doàn kết va cách mạng tỉnh ta đã đạt được những thàmh tựu quan trọng và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tinh luôn ở mức cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, sản xuất nông nghiệp phát triển theo huong nâng cao năng xuất chất lượng hiệu quả.

    T ừ m ột t ỉ nh th ườ ng xuy ên th iế u lương th ự c qua nhiều n ă m Thanh H ó a kh ô ng nh ữ ng đả m b ả o v ữ ng chắc v ề l ươ ng thực m à còn có 1 ph ầ n l ươ ng th ự c hàng h ó a các vùng s ả n xu ấ t c â y nguy ê n li ệ u phát triển ổ n địn h c ơ g i ớ i hóa trong nông nghiệp được đẩ y m ạ nh. Một s ố vùng s ả n xu ấ t n ô ng ngh iệ p ứ ng d ụ ng c ô ng ngh ệ cao và nhiều trang tr ạ i chăn nuôi tập trung h ì nh th à nh. Ch ươ ng tr ì nh x â y d ự ng n ô ng th ô n m ớ i tr ở th à nh phong tr à o s â u r ộ ng v à đạ t k ế t qu ả t í ch c ự c trong nhi ề u n ă m qua b ộ m ă t n ô ng th ô n c ó nhi ề u đổi m ớ i . S ả n xu ấ t nông nghi ệ p t ă ng tr ườ ng cao, l à t ỉ nh d ẫ n đầ u c ả n ướ c v ề s ả n l ượ ng xi m ă ng m í a đườ ng va nh iề u s ả n ph ẩ m c ôn g ngh iệ p kh á c c á c khu c ô ng ngh iệ p khu kinh tế Nghi S ơ n đượ c th à nh l ậ p v à ph á t tr iể n m ô t s ố ngành c ô ng nghiệp then chốt cua tỉnh nh ư sản xu ấ t vật liệu nhi ệ t điện , lọc hóa dầu được hình thành và ngày càng phát triển mạnh. Các ngành dịch vụ luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cũng khá cao. Môi trường đầu t ư kinh doanh được c ải th iện m ạnh m ẽ . Nhiều dự án lón đầu tư phaát triển hạ tầng kinh tế xã hội kỹ thuật đã hoàn thành và đang được đầu tư, cá vai trò quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của tỉnh được triển khai va thực hiện. điển hình như dự án lọc hóa dầu Nghi Sơn với tổng mức đầu tư 9,3 tỷ USD, lớn nhất nước ta từ trước đến nay, nhiều công trình hạ tầng giao thông thủy lợi đã hoàn thành va đưa vào sử dụng nhiều dự án quy mô lớn đang được đầu tư đã tạo diện mạo mới trên con đương hướng tới đích cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiên đại vào năm 2030 thu ngân sách năm 2022 đạt gấp 3 lân so với năm 2010 là một kì tích rất đáng tự hào và khâm phục của sự phát triển vươt bậc về kinh tế của tỉnh . Các hoạt động văn hóa xã hội chuyển biến tích cực theo hướng nâng cao chất lượng và đẩy mạnh thực hiên xã hội hóa, nhiều thế hệ học sinh vận động viên của tỉnh Thanh Hóa đã đạt thành tích cao trong kì thi Ô-lim-pic quốc gia, quốc tế và luôn duy trì ở vị trí tốp đầu. Quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội luôn được giữ vững công tác xây dưng Đảng về hệ thống chính trị đươc tăng cường. Chỉ tính riêng giai đoạn 2010-2015 tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 11,4% cao nhất trong 30 năm đổi mới. Năm 2022 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 9,05% vượt mục tiêu kế hoạch đề ra và cao nhât khu vực Bắc Trung Bộ. Những thành tựu đó đã và đang tạo thời cơ vận hội mới mở ra tương lai tốt đẹp và là tiền đề vững chắc để tỉnh ta thực hiên thắng lợi mục tiêu phấn đấu Thanh Hóa trở thành tỉnh khá của cả nước và đều đặn năm 2030 cơ bản trở thành tỉnh công nghiêp theo hướng hiện đại

    Để xứng đáng với tình cảm đặc biệt mà Bác dành cho Đảng bộ chính quyền và dân Thanh Hóa ta cần tập trung đẩy mạnh quán triệt sâu sắc thực hiện vào mục tiêu sớm xây dựng Thanh Hóa trở thành tỉnh “kiểu mẫu” . Thực hiện quyết liệt có hiệu quả các nghị quyết kết luận cơ chế chính sách đã ban hành rà soát điều chỉnh bổ sung quy hoạch các ngành lĩnh vực sản phẩm chủ yếu cho phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Thực hiện quyết liệt đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với thực hiện có hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới . Tập trung lãnh đạo chỉ đạo quyết liệt thưc hiện có hiệu quả kết luận số 46 của ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về tiếp tục thực hiện nghị quyết số 02 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện môi trường đầu tư kinh doanh trên địa bàn tỉnh.

    Tâp trung nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Tiếp tục giữ vững an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội tăng cường củng cố quốc phòng an ninh chủ động nắm chắc tình hình cơ sở nhất là tuyến biên giới trên biển và các địa bàn trọng điểm để kịp thời xử lí các tình huống phát sinh không để bị động bất ngờ.

    Hình ảnh cầu Hàm Rồng trong những năm chiến tranh Hình ảnh Thanh Hóa bị tàn phá trong cuộc kháng chiến chống Mĩ Hình ảnh khu công nghiệp Nghi Sơn – Tĩnh Gia – Thanh Hóa Hình ảnh Thanh Hóa (TP Sầm Sơn) sau 32 năm đổi mới Hình ảnh Thành phố Thanh Hóa sau 32 năm đổi mới .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cuộc Thi “tìm Hiểu Pháp Luật Về Phòng, Chống Tham Nhũng” Năm 2022
  • Hiến Pháp 2013: Câu Hỏi Trắc Nghiệm, Câu Hỏi Và Đáp Án Cuộc Thi Tìm Hiểu Về Hiến Pháp 2013
  • Phát Động Cuộc Thi Trực Tuyến Tìm Hiểu Kiến Thức Pháp Luật Năm 2022
  • Tìm Hiểu Về Ngày Pháp Luật Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: Ngày Pháp Luật Việt Nam
  • Kinh Doanh Tài Chính Và Những Kiến Thức Cơ Bản Về Kinh Doanh Tài Chính
  • Bài Dự Thi Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Bình Dương

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Đồng Nai: Bí Ẩn Của Mộ Cự Thạch Hàng Gòn
  • Văn Hóa Của Đồng Nai Được Nhà Nước Xếp Hạng
  • Nguồn Lực Để Phát Triển
  • Những Điểm Đến Thú Vị Tại Biên Hòa
  • Những Chặng Đường Lịch Sử”
  •  

        Trường tiểu học Thanh An- Dầu Tiếng- Bình Dương

        Họ và tên : Biện thanh Liêm

        Chức vụ:  Hiệu trưởng -  Công đoàn viên

        Số điện thoại: 0919. 332609

     

     

    BÀI DỰ THI

    TÌM HIỂU LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH DƯƠNG (1975-2010)

    ****

    Câu 1: Anh (chị) cho biết, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Sông Bé lần thứ nhất được tổ chức vào thời gian nào? Nhiệm vụ bức thiết của Đảng bộ, quân và dân tỉnh Sông Bé trong kế hoạch 5 năm (1976 -1980) mà Đại hội đại biểu lần thứ nhất của tỉnh đã xác định là gì ?

    Trả lời:

         Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Sông Bé lần thứ I họp tại Thị xã Thủ Dầu Một. Đại hội được tổ chức hai vòng:

    – Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Sông Bé lần thứ I là sự kiện chính trị quan trọng nhất của địa phương – diễn ra trong hoàn cảnh sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta toàn thắng, đất nước thống nhất, cả nước bước vào giai đoạn mới – giai đoạn hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    * Nhiệm vụ của Đảng bộ, quân, dân trong kế hoạch 5 năm (1976-1980)

    – Tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo toàn diện của các cấp bộ Đảng, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động và kiện toàn thêm một bước tổ chức chính quyền nhân dân các cấp.

    – Nắm vững và thực hiện tốt ba cuộc cách mạng, nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế, văn hóa, đẩy lên một bước phong trào thi đua lao động XHCN, cần kiệm xây dựng nhà nước. Lấy sản xuất nông nghiệp làm trung tâm, hoàn thành căn bản việc cải tạo xã hội chủ nghĩa.

    – Tiếp tục trấn áp bọn phản cách mạng, ra sức củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội ở cả nội địa và biên giới.

    – Xây dựng Đảng, chính quyền và đoàn thể ngày càng vững mạnh về số lượng cũng như chất lượng.

    Câu 2: Anh (chị) cho biết, Đại hội đại biểu lần thứ mấy của Đảng bộ tỉnh là Đại hội mở đầu thực hiện đường lối đổi mới của Đảng cộng sản ViệtNam; thời gian tiến hành đại hội ?

    Trả lời:

    – Đại hội lần thứ IV của Đảng bộ tỉnh là Đại hội mở đầu thực hiện đường lối đổi mới của Đảng cộng sản ViệtNam.

    * Thời gian tiến hành Đại hội

    Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh Sông Bé lần thứ IV họp từ ngày 28/10- 01/11/1986 tại Thị xã Thủ Dầu Một. Về dự Đại hội có 358 đại biểu, thay mặt cho hơn 10.500 đảng viên trong toàn tỉnh. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệp kỳ IV (11/1986-12/1991) gồm 58 đồng chí, trong đó có 13 đồng chí là ủy viên dự kuyết. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 14 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Văn Luông tiếp tục được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy. Đồng chí Lê Văn Thâm được bầu làm Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy. Đồng chí Trần Ngọc Khanh được bầu làm Phó bí thư Tỉnh ủy – Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.

    Ngày 31/10/1989 đồng chí Trần Phong (Nguyễn Minh Triết) được Ban Bí thư chuẩn y giữ chức Phó Bí thư tỉnh ủy Sông Bé theo quyết định 791-NQNS/TW

    -       Đại hội Đại biểu lần thứ IV của Đảng bộ tỉnh là Đại hội đổi mới cách suy nghĩ, cách làm; đổi mới tư duy kinh tế; đổi mới phong cách làm việc gắn bó với quần chúng; đổi mới tổ chức cán bộ và hành động theo quy luật, giải phóng cho kỳ được lực lượng sản xuất hiện có, khai thác và phát huy mọi tiềm năng của tỉnh để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, ổn định tình hình kinh tế, xã hội, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân trong tỉnh .

    Câu 3: Anh (chị) hãy nêu những nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu có ý nghĩa quyết định nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng những năm 1986-1990 mà nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ IV đã đề ra?

    Trả lời:

    * 5 nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu quyết định tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng là:

    -       Kiên quyết điều chỉnh, bố trí cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư theo hướng thực sự lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, gắn sản xuất với chế biến nhằm giải quyết một các hợp lý yêu cầu lương thực, thực phẩm tại chỗ, tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu, đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng phù hợp với nguyên liệu địa phương. Phấn đấu ổn định và cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân. Đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về chữa bệnh, đi lại, học hành, hưởng thụ văn hóa.

    -       Tạo sự chyển biến mạnh mẽ về mặt xã hội, tích cực thực hiện việc phân bổ lao động có việc làm, thực hiện mức sống công bằng, hợp lý, giảm hẳn sự chênh lệch giữa các nhóm dân cư, xây dựng quan hệ xã hội và nếp sống lành mạnh, khắc phục các hiện tượng tiêu cực, động viên mọi người nhất là thanh niên hăng hái lao động sáng tạo, sống có văn hóa, có lý tưởng, gắn bó với tiền đồ của cách mạng và Tổ quốc.

    -       Tạo sự tích lũy kinh tế địa phương và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, xây dựng thêm cơ sở vật chất của CNXH, xây dựng có mục tiêu, có trọng điểm, bảo đảm đầu tư có hiệu quả, nhanh chóng thu hồi vốn.

    -       Đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quan hệ sản xuất, làm cho kinh tế XHCN thực sự chiếm vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân; cải tạo và sử dụng hết khả năng các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ với thành phần kinh tế XHCN tạo ra sức mạnh tổng hợp lớn, có hiệu quả cao. Hình thành đồng bộ cơ chế mới, thiết lập trật tự kỷ cương trong quản lý kinh tế, xã hội.

    -       Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh, làm cho hai mặt không ngừng lớn mạnh, trên cơ sở phong trào an ninh quốc phòng toàn dân, tích cực giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, làm tròn nghĩa vụ với cả nước và quốc tế được giao.

    Câu 4: Anh (chị) hãy nêu tóm tắt những nhiệm vụ chủ yếu của tỉnh trong việc tổ chức thực hiện “Ba chương trình kinh tế” những năm 1986-1990?

    Trả lời:

    * Nội dung 3 chương trình kinh tế là:

    Lương thực; thực phẩm; hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.

          * Những nhiệm vụ chủ yếu của tỉnh tổ chức thực hiện 3 chương trình kinh tế:

    Đầu năm 1987, Tỉnh ủy thành lập Ban Chỉ đạo 3 chương trình mục tiêu lớn của tỉnh, gồm 7 đồng chí, do đồng chí Phó bí thư, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Trưởng ban; giao nhiệm vụ cho Ủy ban nhân dân tỉnh và các đồng chí Tỉnh ủy viên phụ trách các ngành, tiến hành xây dựng kế hoạch, chương trình hành động thiết thực nhằm thực hiện 3 chương trình mục tiêu lớn của tỉnh đạt kết quả; Tỉnh chỉ đạo xây dựng phương án thâm canh vùng lúa năng xuất cao ở hai huyện Tân Uyên, Bến Cát; tu bổ, xây dựng các công trình thủy lợi phục vụ theo yêu cầu sản xuất tại địa phương.

    * Ý nghĩa việc thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn

    – Chương trình lương thực, thực phẩm không thể tách rời phát triển nông nghiệp toàn diện. Ngoài những cây con phục vụ trực tiếp nhu cầu thực phẩm như đã nói ở trên, chúng ta khuyến khích phát triển mạnh cây công nghiệp, trồng rừng để khai thác những tiềm năng to lớn của nền công nghiệp nhiệt đới theo thế mạnh của từng vùng, tạo ra nguồn sản phẩm hàng hóa đề trao đổi lấy lương thực, khắc phục khuynh hướng giải quyết lương thực theo lối khép kín, đồng thời tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nhất là tăng nhanh những sản phẩm có giá trị xuất khẩu.

    – Về hàng tiêu dùng: Phát triển sản xuất hàng tiêu dùng là một chương trình lớn, không chỉ có ý nghĩa cấp bách trước mắt, mà còn có ý nghĩa lâu dài và cơ bản. Đó là điều kiện để bảo đảm các nhu cầu đời sống hàng ngày của nhân dân. Cùng với lương thực, thực phẩm, bảo đảm tái sản xuất sức lao động; đồng thời đây cũng là lĩnh vực thu hút hàng triệu lao động, giải quyết việc làm cho nhân dân, từ đó tạo nguồn tích lũy và nguồn xuất khẩu quan trọng.

    – Đối với hàng xuất khẩu: là mũi nhọn có ý nghĩa quyết định đối với nhiều mục tiêu kinh tế trong 5 năm (1986-1990) đồng thời cũng là khâu chủ yếu của toàn bộ các quan hệ kinh tế đối ngoại, xuất khẩu phải trở thành mối quan tâm hàng đầu của tất cả các ngành, các cấp. Nhiệm vụ đặt ra là tăng nhanh khối lượng hàng xuất khẩu, đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu, khắc phục cung cách làm ăn kém hiệu quả, tình trạng phát tán lộn xộn, gây thiệt hại cả thị trường trong nước lẫn nước ngoài.

    Đặc biệt đối với nước ta, từ nền nông nghiệp sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN việc sử dụng đúng đắn các hình thức quan hệ kinh tế đối ngoại để tranh thủ các yếu tố vật chất, kỹ thuật của các nước tiên tiến, nhanh chóng cải tạo nền kinh tế cũ, xây dựng nền kinh tế mới XHCN là hết sức quan trọng.

    Câu 5 : Anh (chị) trình bày những phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và chủ trương của Đảng bộ Sông Bé về quốc phòng an ninh giai đoạn 1991-1995 ?

    Trả lời:

    * Phương hướng nhiệm vụ chủ yếu về kinh tế trong 5 năm (1991-1995)

    – Ổn định và phát triển kinh tế.

    – Bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế.

    – Từng bước xây dựng cơ cấu kinh tế mới theo yêu cầu công nghiệp hóa.

    – Vận hành thông suốt cơ chế quản lý mới.

    Phương hướng trên đặt ra việc phát triển kinh tế, “ thực hiện tổng thể mục tiêu đạt mức sống khá giả” là nhiệm vụ hàng đầu. Xác định chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển đất nước. Tư tưởng chiến lược cho phát triển tỉnh Sông Bé bền vững.

    + Phát triển đi liền tăng trưởng kinh tế với giải quyết các mục tiêu cơ bản về xã hội.

    + Đầu tư mạnh cho phát triển cơ sở hạ tầng. Chiến lược phát triển kinh tế phải đạt yêu cầu bảo vệ và phát triển nguồn rừng.

    + Giúp đỡ và hướng dẫn người dân tạo thu nhập, khuyến khích phát triển đa dạng các loại hình sản xuất trên cơ sở phát huy tiềm năng của từng ngành, từng vùng.

    + Phát triển giáo dục, nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực, tạo điều kiện cho người dân tiếp thu khoa học, kỹ thuật và công nghệ.

    + Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động .

    (Tham khảo trang 322 – 323- LSĐ Bình Dươnng 1975-2010 và nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ VI.

        * Những chủ trương của Đảng bộ Sông Bé về quốc phòng- an ninh (1991-1995)           

    – Các cấp ủy và chính quyền địa phương đã làm tốt việc phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong việc giáo dục quốc phòng toàn dân, trong đó xây dựng lực lượng ba thứ quân, theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại”.

    – Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có những quyết sách mới, bảo đảm mọi điều kiện cho việc học tập, bồi dưỡng kiến thức quân sự, quốc phòng cho cán bộ chủ chốt từ cơ sở đến cấp tỉnh.

    – Tỉnh đã chi hàng tỷ đồng để xây dựng các công trình phục vụ sẵn sàng chiến đấu; các công trình phục vụ sinh hoạt, học tập, huấn luyện bộ đội như các khu doanh trại khang trang, hệ thống điện, đường, sân bóng đá, bóng chuyền …tạo điều kiện cho các chiến sĩ được học tập, rèn luyện …

    – Công tác xây dựng Đảng trong quân đội cũng được chú trọng; đẩy mạng công tác giáo dục quốc phòng rộng rãi trong nhân dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân và phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

    – Quan tâm công tác bảo vệ an ninh nội bộ, bảo vệ Đảng bảo vệ chính quyền. Thực hiện tốt các nghị định của Chính phủ về trật tự an toàn giao thông đường bộ, giao thông đô thị.

    – Công tác an ninh nội chính được đảng bộ thường xuyên theo dõi và trực tiếp lãnh đạo việc thụ lý, thi hành án đúng luật, hạn chế số vụ tồn đọng kéo dài.

    – Đảng bộ quan tâm chỉ đạo công tác chống tham nhũng, chống buôn lậu.

            + Nhiệm vụ đối với quốc phòng và an ninh Tổ quốc : Mỗi thanh niên rất cần nắm chắc mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng nền QPTD trong thời kỳ mới, đó là: bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; chủ động đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân.

    Tăng cường QP-AN là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, trong đó quân đội nhân dân, công an nhân dân là lực lượng nòng cốt. Thanh thiếu niên, sinh viên học sinh cần nhận thức rõ và thực hiện :

    + Học tập quân sự, chính trị, rèn luyện thể lực do trường lớp và các hoạt động đoàn, địa phương tổ chức.

    + Chấp hành nghĩa vụ về đăng ký nghĩa vụ quân sự.

    + Thường xuyên kiểm tra sức khỏe và chấp hành nghiêm chỉnh lệnh gọi nhập ngũ…

    Câu 6: Sau khi tách tỉnh (01/1/1997), thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng, Bình Dương có những điều kiện thuận lợi gì? Thuận lợi nào có ý nghĩa quyết định cho việc phát triển kinh tế?

    Trả lời:

    * Những điều kiện thuận lợi cơ bản

    – Bình Dương là tỉnh có tiềm năng về tài nguyên, nhân lực, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam; có vị trí địa lý thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học- kỹ thuật với các tỉnh liên vùng, ngoài vùng và cả quốc tế.

    – Cơ sở hạ tầng về điện, đường giao thông, thông tin liên lạc, bệnh viện, trường học… đã bước đầu phát triển. Các khu công nghiệp ngày càng thu hút được nhiều vốn đầu tư, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa. Nông nghiệp nông thôn có bước chuyển biến. Tỉnh có quan hệ kinh tế, thương mại với nhiều đối tác trong và ngoài nước.

    – Hệ thống chính trị tương đối vững mạnh. Đảng bộ tỉnh đoàn kết thống nhất, có nhiều kinh nghiệm quý cả trong lãnh đạo chiến đấu và xây dựng, nhất là trong những năm đổi mới……

    – Nhân dân Bình Dương có truyền thống yêu nước và cách mạng, lao động cần cù sáng tạo, có tinh thần đoàn kết, vượt khó khăn, một lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt và đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam….

           – Các lĩnh vực văn hóa- xã hội có bước chuyển biến tích cực. Đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể. Văn hóa, giáo dục, y tế đạt được những tiến bộ bước đầu.

    * Thuận lợi có ý nghĩa quyết định cho việc phát triển kinh tế  là:

    – Quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, tỉnh có Nghị quyết Đại hội VII của Đảng và các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2,3 (Khóa VII ).

    – Các cơ chế và chính sách về kinh tế – xã hội đang dần dần hoàn thiện. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã thu được những kết quả nhất định. Tạo cơ sở để tiếp tục phát triển.

    – Nền kinh tế nhiều thành phần đang phát triển đúng hướng và có tăng trưởng với tốc độ cao và toàn diện. Cơ cấu chuyển dịch theo hướng tích cực. Cơ sở vật chất của tỉnh được tăng cường đầu tư theo hướng hiện đại, đảm bảo và phát triển nhanh.

    Câu 7: Hãy trình bày tóm tắt những thành tựu về phát triển kinh tế, văn hóa- xã hội của tỉnh giai đoạn ( 2001 -2005) ?

    Trả lời:

    * Những thành tựu về phát triển kinh tế từ 2001-2005 trên từng lĩnh vực

    -   Về công nghiệp: Trong những năm 2001-2005, nhờ kiên trì thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, công nghiệp Bình Dương phát triển nhanh, đóng góp nhiều nhất vào mức tăng trưởng của nền kinh tế tỉnh nhà, tạo được bước phát triển đột phá; trở thành một địa phương có nhiều khu công nghiệp và nhiều cụm công nghiệp. Đến năm 2005 toàn tỉnh có 16 khu công nghiệp với tổng diện tích trên 3.200 ha, thu hút 1.890 dự án trong nước với tổng số vốn đạt 15.733 tỷ đồng và 1.076 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn là 2.259tỷ USD.

    + Cùng với phát triển công nghiệp, các ngành tiểu thủ công nghiệp cũng phát triển giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động nông nghiệp, nông thôn.

    -   Về nông nghiệp: 

    Nhờ phát huy nội lực bộ mặt nông nghiệp Bình Dương đã có sự thay đổi rõ nét. Dù tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh giảm dần từ 15,1% năm 2001 xuống còn 8% năm 2005, nhưng do áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật nên giá trị tuyệt đối của sản xuất nông nghiệp vẫn tăng khá. Ngành chăn nuôi tuy có khó khăn do giá cả không ổn định, do dịch cúm gia cầm … nhưng vẫn tiếp tục khẳng định là ngành có tốc độc tăng trưởng nhanh, bình quân hàng năm tăng 13,7% và từng bước tăng tỷ trọng trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Đến năm 2005, lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ 25% trong cơ cấu lao động chung của tỉnh. Giá trị sản xuất nông -lâm – ngư nghiệp tăng 6,3%; trong đó nông nghiệp tăng 6,1%, lâm nghiệp tăng 4,8% và ngư nghiệp tăng 8%. Cụ thể trên các ngành:

    + Trong trồng trọt đã chuyển dịch cơ cấu cây trồng từ lương thực sang các cây trồng khác như cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm như cao su, điều… Giá trị trồng trọt từ năm 2001-2005 tăng liên tục ở mức cao, đặc biệt là cây nguyên liệu cho công nghiệp và chế biến nông sản xuất khẩu.

    + Sản xuất lâm nghiệp có sự chuyển biến mạnh từ chỗ dựa vào các đơn vị quốc doanh khai thác rừng, đã chuyển hẳn sang quản lý bảo vệ và phát triển vốn rừng…Cơ chế công – nông – lâm kết hợp đã phát huy hiệu quả trong việc khai thác, sử dụng rừng.

    – Về chăn nuôi:

    + Mô hình chăn nuôi công nghiệp tập trung theo lối trang trại với quy mô lớn phát triển khá  nhanh. Tập trung ở các huyện Thuận An, Dĩ An, thị xã Thủ ầu Một.

    + Chăn nuôi thủy sản cũng phát triển khá, diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2001 có 224 ha, năm 2005 đạt 351 ha. Sản lượng năm 2001 đạt 248 tấn năm 2005 tăng lên 2.583 tấn. Giá trị sản xuất năm 2001 đạt 7.970 triệu đồng, năm 2005 đạt 49.321 triệu đồng.

    – Hoạt động thương mại – dịch vụ- du lịch của tỉnh cũng có bước phát triển khá.     

    + Kinh doanh thương mại diễn ra sôi động, trên địa bàn tỉnh có 256 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, trên 12.333 hộ kinh doanh cá thể, mức lưu chuyển hàng hóa đạt được trên 2.698 tỷ đồng, chiếm 66,9% tổng mức hàng hóa lưu chuyển hàng hóa chung của toàn tỉnh.

    + Hoạt động dịch vụ như du lịch, ăn uống, vận tải, bưu chính viễn thông … chuyển biến tích cực theo hướng ngày càng đa dạng. Tổng giá trị các ngành dịch vụ tăng bình quân 15,5% /năm, góp phần quan trọng vào chuyển dịch kinh tế của tỉnh; các ngành dịch vụ phát triển đa dạng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

    + Các hoạt động ngoại thương có nhiều khởi sắc, từ 2001 2005, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng cao và liên tục. Tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 42,4%. Năm 2005 đạt 3 tỷ 100 triệu USD, tăng gấp 5,8 lần so với năm 2000.

    + Thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một thành công lớn trong quan hệ đối ngoại của tỉnh, đứng thứ 4 cả nước. Từ 2001 – 2005 đã thu hút được 16.019,4 tỷ đồng vốn đầu tư trong nước và có 705 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đầu tư là 2 tỷ 625 triệu USD.

    + Hoạt động tín dụng, ngân hàng, tài chính: Tốc độ tăng trưởng huy động vốn bình quân hàng năm đạt từ 29-31%, tăng trưởng tín dụng từ 7-29%. Các dịch vụ tài chính, bảo hiểm có bước phát triển khá so với giai đoạn 1996-2000. (Tham khảo trang 492 đến 513- LSĐ Bình Dương 1975-2010) .

    * Những thành tựu trên lĩnh vực văn hóa – xã hội từ 2001-2005

    – Trên lĩnh vực giáo dục – đào tạo: Hệ thống  giáo dục đã phát triển khá ổn định và phân bố đều khắp từ thị xã, thị trấn đến các vùng sâu, vùng xa với trên 262 trường giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, bổ túc văn hóa và các trường chuyên nghiệp dạy nghề. Đội ngũ giáo viên các ngành học, bậc học ngày càng tăng về số lượng và chuẩn hóa về chất lượng. Hàng năm, tỉnh đầu tư ngân sách cho giáo dục luôn duy trì ở mức 16-18% tổng chi toàn tỉnh.

    + Năm 2005, trên toàn tỉnh không còn phòng học tạm, đã đầu tư xây dựng 32,5% số trường có phòng học lầu. Năm 2000, toàn tỉnh chỉ có một trường tiểu học đạt chuẩn, đến năm 2005 toàn tỉnh có 27 trường đạt chuẩn quốc gia. Tháng 12-2003, tỉnh đạt chuẩn quốc gia về công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở (sớm hơn kế hoạch 2 năm).

    + Các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ tăng gấp 4 lần  so với trước.

    – Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân: mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở được tăng cường về vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ. Đến năm 2005, tòan tỉnh có 9 bệnh viện, 6 phòng khám đa khoa khu vực và 89 trạm y tế xã, phường, thị trấn, trong đó có 62 trạm đạt chuẩn quốc gia về y tế (69,6%), 77 trạm y tế có bác sĩ (86,5%). Mỗi khu ấp đề có nhân viên y tế cộng đồng. Số giường bệnh ở cả 3 tuyến trong toàn tỉnh năm 2000 là 1.184 giường, năm 2005 là 1.750 giường; tỷ lệ giường bệnh là 20 giường /1 vạn dân.  Đến năm 2005, toàn ngành cò 430 bác sĩ và người có trình độ trên đại học; 467 y sĩ, kỹ thuật viên, 481 y tá, hộ lý; số y, bác sĩ 10/1 vạn dân.

    – Các hoạt động văn hóa – thông tin, thể dục- thể phát triển, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân.

    + Các chương trình phát thanh – truyền hình ngày càng phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu được thông tin và giải trí của nhân dân. Năm 2005, hệ thống phát thanh – truyền hình, truyền thanh của tỉnh có 97 đơn vị gồm: 1 đài phát tranh truyền hình, 7 đài truyền thanh huyện, thị xã và 89 trạm truyền thanh xã phường, thị trấn.

    + Mạng lưới thông tin, báo chí ngày càng mở rộng , đặc biệt là tờ tin của các cơ quan phục vụ nhiệm vụ chính trị như: Báo Bình Dương đã phát triển thêm báo điện tử và trở thành nhật báo. Tạp chí của Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh đựơc xuất bản, làm phong phú thêm các loại hình thông tin của mọi tầng lớp nhân dân.

    + Hoạt động thể dục – thể thao được xã hội hóa, thể dục thể thao quần chúng đã phát triển rộng khắp trên địa bàn tỉnh và trở thành phong trào rộng khắp trong các cơ quan đơn vị, các địa phương. Số người tham gia luyện tập, rèn luyện sức khỏe thường xuyên  chiếm trên 20% dân số, có khoảng 12,6% hộ gia đình tham gia thể thao thường xuyên. Đáng chú ý là thể thao thành tích cao tiến tục đựơc giữ vững được vị trí như: bóng đá, bóng bàn, Judo, điền kinh, thể dục thể hình, cờ vua…đã đạt nhiều thành tích cao trong các cuộc thi đấu ở trong nước và quốc tế. Từ năm 2001-2005, đạt trên 570 huy chương các loại, trong đó có 140 huy chương vàng và 79 huy chương bạc (có 96 huy chương tại các giải thi đấu quốc tế). Số vận động viên cấp 1 có 36 người.

    – Công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống nhân dân: trong 5 năm (2001-2005) đã huy động hơn 626 tỷ đồng từ nhiều nguồn vốn cho các đối tượng nghèo vay, góp phần giảm trên 11.000 hộ nghèo (hoàn thành chỉ tiêu trước 2 năm so với kế hoạch). Bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho khoảng 33.000 lao động. Chú trọng việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn và bộ đội xuất ngũ. Tỷ lệ lao động qua đạo tạo đạt 38%.

    + Phong trào “Uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa”, quỹ “ Ngày vì người nghèo” được nhân dân hưởng ứng. Đã vận động nhiều nguồn vốn xây dựng được 1.048 căn và sử chữa 407 căn nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách với tổng kinh phí gần 22 tỷ đồng, trao tặng nhiều sổ tiết kiện và 5.038 căn nhà đại đoàn kết trị giá 25,8 tỷ đồng. Tham khảo trang từ 514 đến 530 – Lịch sử Đảng bộ Bình Dương 1975-2010.

    Câu 8: Hãy trình bày tóm tắt những bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội của Đảng bộ Bình Dương thời kỳ 1975-2010.

    Trả lời:

    * Những bài học kinh nghiệm

    1- Đoàn kết thống nhất trong Đảng, trước hết là quan hệ đoàn kết trong các Ban Thường vụ, các cấp ủy là yếu tố quan trọng hàng đầu, quyết định chất lượng lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ và chính quyền trong toàn bộ tiến trình phát triển kinh tế – xã hội.

    2- Quá trình Đảng lãnh đạo cũng là quá trình luôn tìm tòi, xây dựng phương thức lãnh đạo thích hợp của Ban Thường vụ và các cấp ủy trong toàn bộ hệ thống chính trị.

    3- Trân trọng và phát huy những lợi thế so sánh trong thiên thời địa lợi và nhân hòa; khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tổng hợp.

    4- Trong lãnh đạo phát triển kinh tế – xã hội, đề cao và tuân thủ 5 nguyên tắc phát triển: Phát triển nhanh gắn với ổn định và bền vững. Phát triển kinh tế gắn với tiến bộ văn hóa và công bằng xã hội. Công nghiệp gắn với dịch vụ và đô thị, mở đường cho nông nghiệp và nông thôn phát triển. Xây dựng đồng bộ 3 loại hạ tầng: hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng văn hóa – xã hội và hạ tầng về các thể chế tài chính, tín dụng. Không xem nhẹ hoặc hy sinh bất kỳ lợi ích nào của người dân, lấy cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu cuối cùng hướng đến phát triển.

    5- Thời kỳ mới, cán bộ mới. Khoan dung, trách nhiệm, quan tâm chăm sóc, bồi dưỡng các thế hệ kế thừa.

    6- Gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế – xã hội với quốc phòng an ninh. Luôn chủ động trên mọi mặt trận quốc phòng,an ninh trong điều kiện mới.

    Câu 9:  Nêu cảm nghĩ của ông (bà), anh (chị) sau khi đọc cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Dương (1975-2010) và cho biết điều tâm huyết của mình muốn góp ý với lãnh đạo tỉnh nhằm xây dựng và phát triển Bình Dương trong tương lai trở thành địa phương giàu, đẹp, văn minh, hiện đại ?

    Trả lời:

           Trong suốt chiều dài lịch sử, nhất là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng bộ và nhân dân Bình Dương đã một lòng đi theo Đảng, vượt qua mọi gian nan thử thách, giành thắng lợi vẻ vang trong chiến đấu chống ngoại xâm cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tổng kết lại những trang sử hào hùng của Đảng bộ và nhân dân Bình Dương là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết cho cả hiện tại lẫn tương lai. Tỉnh ủy Bình Dương tổ chức phát hành cuốn sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Dương thời kỳ 1975-2010. Đây là cuốn sách viết về quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh trong sự nghiệp xây dựng và phát triển tỉnh nhà trong 35 năm qua . Suốt 35 năm xây dựng và phát triển, Đảng bộ và nhân dân Bình Dương đã nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh, vượt qua mọi khó khăn, thử thách để vươn lên thành một tỉnh năng động trong thu hút đầu tư cả trong nước và nước ngoài, chuyển đổi từ một tỉnh nông nghiệp thành một tỉnh công nghiệp tiêu biểu của cả nước.

          Việc biên soạn, phát hành tập Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Dương (1975-2010) góp phần giáo dục, động viên các thế hệ hôm nay và mai sau; ghi nhận công lao của các thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân Bình Dương trong 35 năm qua; rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm vận dụng vào quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời góp phần làm phong phú thêm lịch sử của toàn Đảng trong một thời kỳ mà tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động và thách thức nhưng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã vượt qua và giành được những thắng lợi có ý nghĩa thời đại sâu sắc, đưa đất nước ta ngày càng phát triển mạnh mẽ và có vị trí cao trên trường quốc tế.

         Đặc biệt, việc phát hành cuốn sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Dương (1975-2010) vào dịp kỷ niệm 66 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 càng có ý nghĩa nhằm phát huy những thắng lợi của tỉnh nhà trong 35 năm qua mà lịch sử đã ghi nhận. Từ đó, tạo niềm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh, động viên mọi người hăng hái vượt qua những trở ngại, thử thách, tiếp tục giành những thắng lợi mới trong những giai đoạn lịch sử tiếp theo. Công trình này là một bức tranh tổng thể các phong trào cách mạng của quần chúng trên mọi lĩnh vực; sự nỗ lực của các cấp ủy, chính quyền và quần chúng nhân dân đã vượt qua vô vàn gian khó, thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng; những bài học kinh nghiệm có giá trị cho cả hiện tại và tương lai từ thực tiễn hoạt động trong 35 năm, qua 9 kỳ đại hội của Đảng bộ Tỉnh. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Dương vẫn đang tiếp nối, hứa hẹn những thành tựu mới.

           Nhìn lại quảng thời gian đã qua, Bình Dương thật sự đột phá vượt bậc từ thuần nông đi lên công nghiệp hóa (CNH). Từ CNH Sóng Thần đến KCN Việt Nam- Singapo (VSIP) với “Đại lộ Bình Dương” đã là một bước tiến vượt trội. Nhiều khu công nghiệp, đô thị, nhà cửa, trường học, nhà hàng… mọc lên hàng loạt. Cái được dễ thấy của Bình Dương là những tòa nhà cao tầng mọc lên ngày càng nhiều; là dòng người nối đuôi nhau ra về từ các khu công nghiệp sau một ngày làm việc. Cái được từ quá trình phát triển công nghiệp là làm thay đổi nhanh đời sống người dân cả vật chất lẫn tinh thần, làm cho bộ mặt đô thị thay đổi từng ngày. Bình Dương cũng đã và đang thực hiện những công trình nhà ở xã hội, cư xá công nhân để giữ chân người lao động; xây thêm trường học để đáp ứng nhu của con em công nhân …

    Song song đó thì Bình Dương vẫn còn nhiều yếu kém như thiếu chỗ ở cho người dân, công nhân lao động, thiếu thư viện, nhà văn hóa, rạp chiếu phim… cho người dân lao động nơi đây. Những người đã góp phần không nhỏ công sức của mình, làm giàu cho đất nước như ngày hôm nay. Không chỉ thế, thêm vào đó chúng ta cần phải nhìn lại, đánh giá và khắc phục những gì đã và còn chưa làm tốt? Kinh tế công nghiệp đã thật sự bền vững với môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân chưa? Sự phát triển nguồn nhân lực và chất lượng đào tạo nguồn nhân lực có theo kịp với sự phát triển của xã hội?… Những hạn chế nêu trên chủ yếu xuất phát bởi nền hành chính của tỉnh còn thiếu tập trung, vận hành chưa khoa học và không mang yếu tố thân thiện với người dân. Nếu không nhanh chóng khắc phục, sẽ trở thành lực cản của sự phát triển và Bình Dương có thể tụt hậu vì yếu tố này.

        

     

                                                                   Thanh An , ngày 12 tháng 5 năm 2012

                                                                                         Người viết

     

     

     

                                                                                       Biện Thanh Liêm

                                                                           

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phần Ii Đảng Bộ Tỉnh Thủ Dầu Một Thành Lập Và Lãnh Đạo Cuộc Đấu Tranh Giành Chính Quyền (1930
  • Lịch Sử & Ý Nghĩa Ngày Thành Lập Quân Đội Nhân Việt Nam 22
  • Lịch Sử Và Ý Nghĩa Ngày Thành Lập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam 22
  • Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển
  • Nguồn Gốc Của Áo Dài Việt Nam (Phần 1)
  • Gần 33.000 Bài Dự Thi Tìm Hiểu 80 Năm Lịch Sử Vẻ Vang Đảng Bộ Tỉnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhân Vật Kiếm Tìm Trong Tiểu Thuyết Việt Nam Từ 1986 Đến 2000
  • Kiếp Nào Ta Cũng Tìm Thấy Nhau
  • Hành Trình Tìm Về Địa Chỉ Đỏ
  • 3 Phương Pháp Học Sách Lịch Sử Lớp 7 Dễ Dàng
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4 Theo Mô Hình Dạy Học Mới Vnen
  • Sáng 11-11, Ban tổ chức, Ban giám khảo, Tổ giúp việc Cuộc thi tìm hiểu 80 năm lịch sử vẻ vang Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (23-11-1940 – 23-11-2020) và Giải báo chí về xây dựng Đảng tỉnh Đắk Lắk lần thứ II năm 2022 đã tổ chức cuộc họp đánh giá kết quả Cuộc thi, Giải Báo chí , góp ý dự thảo báo cáo tổng kết và công tác chuẩn bị cho lễ trao giải.

    Đồng chí Phạm Minh Tấn, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy chủ trì cuộc họp.

    Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Phạm Minh Tấn phát biểu ý kiến tại cuộc họp

    Sau hơn 9 tháng triển khai Cuộc thi tìm hiểu 80 năm lịch sử vẻ vang Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk, Ban tổ chức cuộc thi của tỉnh đã tiếp nhận 32.956 bài dự thi của các tập thể và cá nhân đến từ các cơ quan, đơn vị, địa phương trong và ngoài tỉnh. Một số đơn vị, địa phương có số lượng bài dự thi nhiều là: huyện Krông Pắc (6.288 bài), Trường Đại học Tây Nguyên (3.750 bài), huyện Ea Kar (3.417 bài)…

    Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Trịnh Dũng trình bày Dự thảo báo cáo tổng kết Cuộc thi tìm hiểu 80 năm lịch sử vẻ vang Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk

    Đối với Giải báo chí về xây dựng Đảng tỉnh lần thứ II năm 2022, Ban tổ chức giải đã tiếp nhận 84 tác phẩm báo chí gồm thể loại báo in, báo điện tử, truyền hình, phát thanh.

    Nguyễn Xuân

    Tổng Biên tập Báo Đắk Lắk Đinh Xuân Toản đóng góp ý kiến tại cuộc họp

    Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Phạm Minh Tấn đề nghị Ban tổ chức cuộc thi và Ban tổ chức giải cần tiếp thu các ý kiến góp ý của các thành viên để hoàn thiện báo cáo đánh giá về Cuộc thi tìm hiểu 80 năm lịch sử vẻ vang Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk và Giải báo chí về xây dựng Đảng tỉnh Đắk Lắk lần thứ II; xem xét lại các giải cho phù hợp, đúng điều lệ quy định; chuẩn bị chu đáo các điều kiện để trao giải nhân dịp Lễ mít tinh kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Đảng bộ tỉnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kết Quả Cuộc Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Tuần Thứ 14
  • Lịch Sử Kiến Trúc Việt Nam Và Phương Đông Qua Các Thời Kỳ (Thời Cổ Đại
  • Khu Di Tích Quốc Gia Đặc Biệt Pác Bó
  • Tham Quan Tìm Hiểu Khu Di Tích Pác Bó Cao Bằng
  • Di Tích Quốc Gia Đặc Biệt Pác Bó
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Lịch Sử “công Đoàn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Các Kỳ Đại Hội
  • Tìm Hiểu Về Di Tích Lịch Sử Nhà Tù Côn Đảo Khi Mua Vé Máy Bay Hà Nội Côn Đảo
  • Tìm Hiểu Đạo Cao Đài
  • Lịch Sử Phát Triển Của Máy Tính Điện Tử Đầu Tiên Và Những Phát Minh Của Việt Nam
  • Tìm Hiểu Lịch Sử Phát Triển Của Mạng Máy Tính
  • Gợi ý trả lời câu hỏi cuộc thi Tìm hiểu lịch sử “Công đoàn Việt Nam – 90 năm một chặng đường”

    BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ”CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM – 90 NĂM MỘT CHẶNG ĐƯỜNG”

    Họ và tên: …………………………………………

    Đơn vị công tác: ……………………………….

    Số điện thoại liên hệ: …………………………

    Phần thứ I. Tìm hiểu (10 điểm)

    Câu 1. Anh (Chị) hãy trình bày sự ra đời của tổ chức Công đoàn Việt Nam và ý nghĩa của sự kiện này? (4 điểm)

    Trả lời:

    Dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp lần thứ I (1897-1914), giai cấp công nhân Việt Nam ra đời và phát triển nhanh chóng trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ II (1918-1930). Do bị cả thực dân và phong kiến bóc lột hà khắc, giai cấp công nhân Việt Nam đã vùng lên đấu tranh mạnh mẽ. Từ trong đấu tranh đã hình thành tính giai cấp và những người công nhân tập hợp lại thành tổ chức như các hội: Ái hữu, Tương tế, Phường hội, Nghiệp đoàn, Công hội… Đây chính là những tổ chức công đoàn sơ khai đầu tiên và có ở nhiều nơi. Sau đó, tổ chức Công hội Ba Son do đồng chí Tôn Đức Thắng thành lập năm 1920 tại xưởng Ba Son đã có ảnh hưởng lớn trong khu vực Sài Gòn, Chợ Lớn. Song, Công hội này tồn tại trong thời gian ngắn và chưa có chính cương, điều lệ.

    Từ năm 1925 đến 1928, nhiều Công hội bí mật đã hình thành do sự hoạt động mạnh mẽ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đặc biệt, từ năm 1928, khi kỳ bộ Bắc kỳ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên chủ trương thực hiện “Vô sản hoá” thì phong trào đấu tranh của công nhân Việt Nam ngày càng sôi nổi, thúc đẩy sự phát triển của tổ chức công hội lên một bước mới cả về hình thức và nội dung hoạt động. Năm 1929, là thời điểm phong trào công nhân và hoạt động công hội ở nước ta phát triển sôi nổi nhất, đặc biệt là ở miền Bắc. Các cuộc đấu tranh của công nhân nổ ra liên tục ở nhiều xí nghiệp, có sự phối hợp chặt chẽ và thống nhất hành động giữa các cuộc đấu tranh ở xí nghiệp này với xí nghiệp khác trong cùng một địa phương và giữa địa phương này với địa phương khác trong toàn xứ. Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân và tổ chức công hội đòi hỏi phải có một tổ chức Mác xít, một Đảng thực sự Cách mạng của giai cấp công nhân có khả năng tập hợp, lãnh đạo công nhân đấu tranh giành độc lập tự do. Tháng 3/1929, chi bộ cộng sản đầu tiên được thành lập ở Hà Nội. Tiếp đến, ngày 17/6/1929, Đông Dương cộng sản Đảng ra đời.

    Để đáp ứng yêu cầu cấp thiết của công tác vận động công nhân và tăng cường sức mạnh cho tổ chức Công hội đỏ, Ban chấp hành Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng quyết định triệu tập đại hội thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ vào ngày 28/7/1929, tại số nhà 15 phố Hàng Nón – Hà Nội. Đại hội đã bầu đồng chí Nguyễn Đức Cảnh là người đứng đầu Ban Chấp hành lâm thời Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ.

    Sự kiện thành lập Tổng Công hội đỏ miền Bắc Việt Nam là một mốc son chói lọi trong lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam. Lần đầu tiên giai cấp công nhân Việt Nam có một đoàn thể Cách mạng rộng lớn, hoạt động có tôn chỉ, mục đích, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo công nhân lao động. Chính vì ý nghĩa đó, theo đề nghị của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ chính trị TW Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định lấy ngày 28/7/1929 là ngày truyền thống của tổ chức Công đoàn Việt Nam.

    Câu 2. Anh (Chị) hãy nêu những chức năng cơ bản của tổ chức công đoàn. Anh (Chị) quan tâm chức năng nào nhất? Vì sao? (2 điểm)

    Trả lời:

    Công đoàn Việt Nam có ba chức năng cơ bản sau:

    Một là, Công đoàn đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động; có trách nhiệm tham gia với Nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động.

    Ba là, Công đoàn có trách nhiệm tổ chức, giáo dục, động viên người lao động phát huy vai trò làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và phát triển bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Giáo dục công đoàn là làm cho NLĐ nhận thức được đầy đủ trách nhiệm của công dân, nâng cao ý thức phấn đấu, bồi dưỡng kiến thức, năng lực nghề nghiệp, kiến thức pháp luật để từ đó củng cố kỉ luật lao động, xây dựng ý thức tự nguyện, tự giác trong lao động. Đồng thời, công đoàn giáo dục NLĐ vững tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã lựa chọn, luôn tỉnh táo, cảnh giác đấu tranh với những khuynh hướng sai lầm, cơ hội.

    Chức năng của Công đoàn là một chính thể, một hệ thống đồng bộ, đan xen tương tác lẫn nhau. Trong đó, chức năng bảo vệ quyền, lợi ích người lao động mang ý nghĩa trung tâm – mục tiêu hoạt động công đoàn. Bởi vì, từ các chức năng này sẽ định ra các nhiệm vụ cụ thể của Công đoàn. Đây là chức năng cơ bản và trọng tâm hàng đầu của tổ chức công đoàn trong cơ chế thị trường hiện nay. Sở dĩ xác định như vậy bởi vì lợi ích, trước hết là lợi ích vật chất là mục tiêu và động lực trực tiếp cho mọi hành vi của con người. Chính vì vậy, người lao động gia nhập công đoàn trước hết và chủ yếu là để được chăm lo về đời sống, để được bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của họ sau mới đến vấn đề khác. Chức năng bảo vệ hiện nay còn được xác định là chức năng hàng đầu còn vì ở chỗ nhà nước ta đang thực hiện chính sách hội nhập kinh tế, tất yếu dẫn đến sự ra đời của nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau. Quan hệ lao động giữa NLĐ và NSDLĐ trong các đơn vị này là quan hệ trao đổi, mua bán sức lao động nên khó tránh khỏi sự lạm dụng, bắt buộc. Do vậy, sự tham gia của tổ chức đại diện lao động – tổ chức công đoàn nhằm tạo ra tương quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ là hết sức cần thiết.

    Câu 3. Theo Anh (chị) tổ chức công đoàn cùng với cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ gì để góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước? (4 điểm)

    Trả lời:

    Trong thời kỳ hội nhập và thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam, tổ chức công đoàn cùng với cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau:

    Một là, Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, thường xuyên tổ chức đối thoại giữa chủ sử dụng lao động với người lao động, xây dựng mối quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp. Cụ thể, Công đoàn Nhà trường cần thực hiện tốt quy chế dân chủ trong đơn vị, phối hợp với chính quyền đồng cấp xây dựng định mức và điều chỉnh Quy chế chi tiêu nội bộ; xây dựng nội quy, quy chế đảm bảo dân chủ, công khai; phối hợp tổ chức tốt Hội nghị Cán bộ, Viên chức năm học.

    Hai là, Tuyên truyền sâu rộng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết, chủ trương công tác công đoàn; giáo dục truyền thống cách mạng tốt đẹp của giai cấp công nhân Việt Nam, nêu cao tinh thần làm chủ đất nước trong quá trình CNH, HĐH. Cụ thể, Công đoàn Trường thông qua nhiều hình thức thiết thực, phù hợp, phối hợp với chuyên môn, chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, vận động NGNLĐ thực hiện nghiêm túc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của Tổng LĐLĐ Việt Nam, các chương trình công tác công đoàn của CĐ Ngành, thực hiện nghiêm túc chỉ thị nhiệm vụ năm học nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, tư tưởng, rèn luyện tu dưỡng đạo đức lối sống gắn với việc thực thi pháp luật, nâng cao văn hoá nhà giáo, giữ vững kỷ cương, đẩy lùi hiện tượng tiêu cực trong giáo dục, nhân rộng điển hình tiên tiến. Tiếp tục thực hiện chủ trương xây dựng môi trường công tác chuyên nghiệp, thân thiện của Nhà trường, góp phần xây dựng và quảng bá hình ảnh của Nhà trường đến xã hội. Tạo điều kiện, động viên cán bộ, NGNLĐ tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tích cực tham gia thực hiện chủ trương về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”.

    Ba là, Tham gia thanh tra giám sát chế độ, chính sách, thực hiện lương, thưởng, ăn ca, BHXH, BHYT… của người sử dụng lao động đối với NLĐ. UBKT Công đoàn Trường hoạt động, thực hiện nhiệm vụ theo quy chế làm việc và kế hoạch, chương trình công tác năm học đã tham mưu, giúp Ban Chấp hành, Ban Thường vụ thực hiện công tác kiểm tra toàn diện và kiểm tra việc chấp hành Điều lệ công đoàn, thực hiện kiểm tra đồng cấp và 50% các công đoàn bộ phận, tổ công đoàn trực thuộc. Hoạt động kiểm tra công đoàn không chỉ làm tốt nhiệm vụ kiểm tra mà còn là một kênh tuyên truyền, hướng dẫn nghiệp vụ công đoàn hiệu quả,

    Năm là, Tích cực quan tâm, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho cán bộ công đoàn, CNLĐ; tổ chức ôn lý thuyết, luyện tay nghề, thi thợ giỏi, thi nâng bậc thường xuyên cho CNLĐ. Cụ thể, Công đoàn Trường tích cực tham gia điều chỉnh quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo có trình độ cao đáp ứng yêu cầu về số lượng, cơ cấu, chất lượng theo hướng chuẩn hóa, đúng quy hoạch, kế hoạch; bố trí sắp xếp đội ngũ NGNLĐ hợp lý và phù hợp với thực tiễn. Công đoàn tham mưu, phối hợp với chuyên môn Nhà trường xây dựng chế độ hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện cho giáo viên học tập nâng cao trình độ theo các chuẩn quy định, tổ chức các Hội thi Giáo viên dạy giỏi, GVCN giỏi.

    Bảy là, Chủ động, tham gia tuyên truyền về chế độ, chính sách pháp luật cho người lao động; góp phần giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc, cấp bách trong công nhân, người lao động như: việc làm, tiền lương, thu nhập, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; xây dựng nhà ở, bệnh xá tại các khu công nghiệp, đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa, khu vui chơi giải trí, nhà trẻ nơi có đông công nhân, người lao động làm việc; chăm lo công tác bồi dưỡng, giới thiệu đoàn viên công đoàn, công nhân ưu tú trong các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài cho Đảng xem xét, kết nạp. Trong Nhà trường, Công đoàn tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, NGNLĐ trong tu dưỡng rèn luyện phẩm chất, đạo đức lối sống, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tiếp tục sửa đổi lề lối, thói quen, xây dựng phong cách làm việc chuyên nghiệp, môi trường thân thiện. vận động cán bộ, NGNLĐ thực hiện nghiêm các quy định, quy chế chuyên môn; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đồng thời làm tốt công tác thi đua, biểu dương khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác. Xây dựng và tổ chức thực hiện những giải pháp thiết thực, hiệu quả nhằm thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống, đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đội ngũ cán bộ, NGNLĐ; tham gia quản lý, xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định.

    Phần thứ II. Tự luận (10 điểm)

    Anh (Chị) hãy viết một bài tự luận: Đề xuất mô hình, đổi mới phương pháp hoạt động Công đoàn trong giai đoạn hiện nay hoặc những kỷ niệm sâu sắc hay những tấm gương tiêu biểu lao động giỏi, lao động sáng tạo, gương điển hình tiên tiến của tập thể và cá nhân trong phong trào công nhân, viên chức lao động và hoạt động Công đoàn; cảm nhận về tổ chức Công đoàn.

    Thực hiện Chương trình toàn khóa của Ban Chấp hành Liên đoàn Lao động huyện (khoá VII); Ban Thường vụ LĐLĐ huyện Ninh Sơn đã xác định chương trình công tác trọng tâm năm học 2022-2019, Công đoàn cơ sở trường Trần Quốc Toản đã phát động phong trào thi đua “Hai tốt”. Trong năm học 2022 – 2022, gương sáng của phong trào này là thầy Phạm Văn Hiền. Sinh năm 1979, so với độ tuổi bình quân của trường, thầy Hiền là giáo viên trẻ, đầy nhiệt huyết. Đồng nghiệp trong trường thường nói: thầy Hiền là người “đa tài, đa năng”. Thật vậy, trong bất kì lĩnh vực nào, từ công tác chuyên môn đến công tác đoàn thể, công tác công đoàn, thầy Hiền luôn là người tiên phong, có năng lực.

    Năm 2022, với tài năng và đức độ, thầy được tín nhiệm bầu vào Ban chấp hành công đoàn, nhiệm kì 2022 – 2022, với cương vị là Phó chủ tịch Công đoàn.

    Trong công tác công đoàn, thầy Hiền luôn trăn trở tìm ra nhiều cách thức tổ chức các hoạt động công đoàn, tạo sự gắn kết thân thiết giữa các thành viên trong công đoàn, để công đoàn thật sự là mái ấm chung cho mọi người. Thầy nói: Qua hoạt động tập thể, mới hiểu hết tâm tư nguyện vọng của công đoàn viên, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc trong cuộc sống đời thường cũng như trong công tác chuyên môn, một tập thể đoàn kết vững mạnh thì việc gì cũng thành công. Trong năm học, thầy Hiền cùng BCH Công đoàn đã tổ chức thành công các buổi tọa đàm 20/11, 8/3 đầy ý nghĩa, tham quan hè 2022 “Con đường di sản miền Trung” thật bổ ích và đầy tình thân; Cùng với Đoàn trường tổ chức thành công các cuộc thi: rung chuông vàng tháng 12, Hội trại 26/3. Qua các buổi sinh hoạt ngoại khóa chúng tôi càng thấy rõ hơn sự nhiệt tình, sự hy sinh, sự lo lắng vô cùng đáng yêu của thầy, càng gắn kết nhau hơn, thương yêu nhau hơn, cùng chia sẻ niềm vui, nổi buồn trong cuộc sống, càng hiểu nhau hơn! Không buổi sinh hoạt nào mà không có gương mặt thầy, thầy vừa là hậu phương vững chắc, vừa là MC đa tài, linh hoạt ứng biến trong mọi tình huống.

    Trong công tác chuyên môn, thầy Hiền là giáo viên rất có năng lực. Là Tổ trưởng chuyên môn, đồng thời là giáo viên dạy Tiếng Anh, thầy Hiền luôn quan tâm giúp đỡ đồng nghiệp, không chỉ ở chuyên môn Tiếng Anh mà còn hỗ trợ rất nhiệt tình cho giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, hỗ trợ việc soạn giảng PowerPoint, kịp thời khắc phục hư hỏng của máy móc,… Trong các hoạt động phong trào, thầy Hiền luôn là thành viên tích cực hỗ trợ, là người đứng sau hậu trường – sự hi sinh thầm lặng, không có thầy thì các cuộc thi khó mà thành công được, như cuộc thi GVCN giỏi, thi GVDG, Thi “kể chuyện theo sách”, kể chuyện Bác Hồ…., với kịch bản dàn dựng công phu, hỗ trợ trình chiếu, âm thanh, ánh sáng,…

    Trong dạy học, thầy được sự tín nhiệm của học sinh và phụ huynh. Trong năm học 2022-2019, thầy đạt giải khuyến khích GVDG cấp tỉnh. Thành tích bồi dưỡng học sinh giỏi cũng đáng tự hào, năm nào cũng có HSG cấp huyện.

    Giỏi nhưng không khoe khoang, âm thầm hoàn thành sứ mệnh được giao là một phẩm chất vô cùng đáng quý ở thầy Hiền. Chính vì vậy, năm học 2022-2019, thầy Hiền thật xứng đáng với danh hiệu “Cán bộ công đoàn xuất sắc” cấp huyện.

    Đạt được những thành tích trên là cả một sự nổ lực vô cùng lớn của bản thân cá nhân thầy Hiền nhưng không thể không nhắc đến đó là tổ chức Công đoàn trường luôn có sự động viên, khích lệ, tạo điều kiện tốt nhất để thầy Hiền phát huy năng lực, sở trường của bản thân. Đây là một tấm gương tiêu biểu cần được tuyên dương và nhân rộng trong ngành giáo dục nói chung và Công đoàn trường Trần Quốc Toản nói riêng. Tổ chức Công đoàn Nhà trường phải luôn giữ vững danh hiệu: “Đoàn kết, kỹ cương, tình thương, trách nhiệm”, luôn biết sẻ chia những buồn vui, những lo toan trong cuộc sống đầy khó khăn và phức tạp của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tổ chức Công đoàn phải thật sự là mái ấm của mọi công đoàn viên.

    ……., ngày ….. tháng …… năm 2022

    Người dự thi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ
  • Phát Động Cuộc Thi Trực Tuyến Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Quảng Nam
  • Đáp Án Kỳ 3 Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Văn Hóa, Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Quảng Nam
  • Đáp Án Kỳ 1 Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Văn Hóa, Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Quảng Nam
  • Thông Báo Cuộc Thi Viết “tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Bến Tre (1930
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu 80 Năm Lịch Sử Vẻ Vang Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Và Đảng Bộ Địa Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • Di Tích Lịch Sử Nhà Tù Sơn La
  • Thanh Niên Nói Gì Về Cuộc Thi Tìm Hiểu ‘lịch Sử Tỉnh Nghệ An 990 Năm Hình Thành Và Phát Triển’?
  • Nguồn Gốc, Ý Nghĩa, Sự Tích Của Tết Trung Thu Hay Rằm Tháng 8
  • Tìm Hiểu Về Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Của Tết Trung Thu
  • Phát Động Cuộc Thi Tìm Hiểu Lịch Sử “tỉnh Trà Vinh
  • ham dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức, 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho hơn 761.000 đảng viên trong cả nước. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 19 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết. Ban chấp hành đã cử ra Bộ Chính trị gồm có 7 ủy viên chính thức và một ủy viên dự khuyết. Đồng chí Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng. Đồng chí Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư. * Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III TBT Lê Duẩn Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III diễn ra tại Hà Nội từ ngày 5 đến 10-09-1960. Tham dự Đại hội có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết thay mặt hơn 50 vạn đảng viên trong cả nước. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương mới của Đảng gồm 47 ủy viên chính thức và 31 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 11 ủy viên chính thức và hai ủy viên dự khuyết. Đồng chí Hồ Chí Minh được bầu lại làm Chủ tịch Đảng, đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng. * Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV: TBT Lê Duẩn Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV: Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV họp từ ngày 14 đến ngày 20-12-1976, tại thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có 1.008 đại biểu thay mặt hơn 1.550.000 đảng viên cả nước. Đại hội quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua điều lệ mới của Đảng gồm 11 chương và 59 điều. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 101 ủy viên chính thức, 32 ủy viên dự khuyết. Bộ Chính trị gồm 14 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư * Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V: TBT Lê Duẩn Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng diễn từ ngày 27 đến 31 03-1982, tại Hà Nội. Tham dự Đại hội có 1.033 đại biểu, thay mặt hơn 1.727.000 đảng viên hoạt động trong 35.146 đảng bộ cơ sở. Đến dự Đại hội có 47 đoàn đại biểu quốc tế. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 116 ủy viên chính thức và 36 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên chính thức. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư (đồng chí Lê Duẩn giữ cương vị Tổng Bí thư đến khi từ trần ngày 10-07-1986). + Hội nghị BCH TW Đảng (14-07-1986) đã bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư thay đồng chí Lê Duẫn. * Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI: TBT Nguyễn Văn Linh Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã họp từ ngày 15 đến 18-12-1986, tại Hà Nội. Tham Đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng. Có 32 đoàn đại biểu quốc tế đến dự Đại hội. Đại hội quyết định bổ sung và sửa đổi một số điểm cụ thể trong Điều lệ Đảng cho phù hợp với tình hình mới; và bầu Ban Chấp hành Trung ương khoá VI, gồm 124 ủy viên chính thức và 49 ủy viên dự khuyết, bầu Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên chính thức và một ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư. Các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ được mời làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. * Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII: TBT Đỗ Mười Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 24 đến ngày 27-06-1991. Dự Đại hội có 1176 đại biểu đại diện cho 2.155.022 đảng viên cả nước và các đại biểu từ các nước anh em về dự Đại hội. Đại hội đã thông qua Điều lệ của Đảng (sửa đổi). Điều lệ gồm 12 chương, 47 điều. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương (khoá VII) gồm 146 uỷ viên. Hội nghị thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) đã bầu Bộ Chính trị gồm 13 uỷ viên. Đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. * Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII: TBT Lê Khả Phiêu Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra từ ngày 28-06 đến 01-07-1996, tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội. Dự Đại hội có 1.198 đảng viên đại diện cho gần 2 triệu 130 nghìn đảng viên trong cả nước. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII bao gồm 170 uỷ viên. Đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư. Các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị lần thứ 4 BCH TW Đảng khóa VIII: (22 - 29-12-1997) đã bầu đồng chí Lê Khả Phiêu giữ chức vụ Tổng Bí thư thay đồng chí Đỗ Mười. * Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX: TBT Nông Đức Mạnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng họp tại Hà Nội từ ngày 19 đến 22 tháng 4 năm 2001, với sự tham gia của 1.168 đại biểu là những đảng viên ưu tú đại diện cho 2.479.719 đảng viên trong cả nước. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương khoá IX gồm 150 uỷ viên. Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 13 đồng chí, Ban Bí thư gồm 9 đồng chí. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. * Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X: TBT Nông Đức Mạnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 18-04-2006 đến ngày 25-04-2006 tại Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có 1.176 đại biểu thay mặt cho hơn 3,1 triệu đảng viên trong toàn Đảng. Trong đó có 144 đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, 1023 đại biểu được bầu cử từ đại hội các Đảng bộ trực thuộc Trung ương và 9 đại biểu của Đảng bộ ngoài nước do Trung ương chỉ định theo quy định của Điều lệ Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X gồm 160 Uỷ viên chính thức và 21 Uỷ viên dự khuyết. Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã bầu Bộ Chính trị gồm 14 đồng chí, Ban Bí thư Trung ương Đảng gồm 8 đồng chí. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X. Hình ảnh các Tổng bí thư qua các thời kì TBT Trần Phú TBT Lê Hồng Phong TBT Hà Huy Tập TBT Nguyễn Văn Cừ (10/1930-4/1931) (3/1935 - 6/1936) (7/1936 - -3/19380) (3/1938 - 1/1940) TBT Trường Chinh Hồ Chí Minh TBT Lê Duẩn TBT Nguyễn Văn Linh (5/1941 - 9/1956) & (10/1956 - 9/1960) (9/1960 - 7/1986) (12/1986 - 6/1991) (7/1986 - 12/1986) TBT Đỗ Mười TBT Lê Khả Phiêu TBT Nông Đức Mạnh (6/1991 - 12/1997) (12/1997 - 4/2001) (4/2001 đến nay.) Trả lời: a. Chỉ thị số 06 - CT/TW ngày 07-11-2006 của Bộ Chính trị về việc tổ chức cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đã quyết định tổ chức phát động CVĐ "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân vào ngày 03-02-2007 tới hết nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng. Nhằm tạo ra sự nhận thức sâu sắc, sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, thanh niên, học sinhnâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. óChủ đề của CVĐ bộ chính trị phát động qua các năm với những nội dung sau: - Chủ đề CVĐ năm 2007: "Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay"; nghiên cứu các tác phẩm "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân" và "Di chúc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh b. Quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục thế hệ trẻ: * Giáo dục thế hệ trẻ trở thành những công dân tốt, trở thành lực lượng kế tục sự nghiệp cách mạng vừa "hồng" vừa "chuyên". * Giáo dục thế hệ trẻ một cách toàn diện: - Giáo dục về đạo đức. - Giáo dục lý tưởng cách mạng. - Giáo dục nâng cao trình độ văn hóa, kỹ thuật. * Phương châm giáo dục thế hệ trẻ trong tư tưởng Hồ Chí Minh: - Học đi đôi với hành, giáo dục gắn liền với xã hội. - Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. * Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục thế hệ trẻ. - Giáo dục thế hệ trẻ là một khoa học. - Phải kết hợp học tập với việc chơi, giáo dục gắn liền với thi đua. - Phải phát huy ý thức tự giáo dục, tự rèn luyện. - Giáo dục thế hệ trẻ phải thực hiện phương pháp nên gương. Câu 4: Đảng bộ tỉnh Quảng Trị được thành lập vào thời gian nào, ở đâu, do ai làm Bí thư? Hãy nêu ý nghĩa của sự kiện trên? Trả lời: Ngày 21-4-1930, Hội nghị thành lập Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị được tổ chức tại nhà ông Nguyễn Phu làng Đại Hào (Triệu Phong). Hội nghị đã nhất trí bầu Ban chấp hành lâm thời gồm 03 đồng chí. Đồng chí Lê Thế Tiết được cử làm Bí thư. * Ý nghĩa sự ra đời Đảng bộ tỉnh Quảng Trị: - Đảng bộ tỉnh Quảng Trị ra đời là sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu bước phát triển và trưởng thành của phong trào đấu tranh cách mạng ở Quảng Trị nói riêng và cả nước nói chung. - Đảng bộ tỉnh Quảng Trị ra đời tạo điều kiện thuận lợi cho sự lãnh, chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất từ huyện đến tỉnh và Trung ương. - Đảng bộ tỉnh Quảng Trị ra đời là cơ sở để cho Đảng bộ lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, góp phần vào thắng lợi chung của của cách mạng Việt Nam. Câu 5: Đảng bộ huyện Hải Lăng ra đời vào thời gian nào, khi đó có mấy chi bộ Đảng và tính đến nay có mấy Chi, Đảng bộ trực thuộc Huyện uỷ (tính đến 30-10-2009)? Từ khi thành lập đến nay, Đảng bộ huyện Hải Lăng (cả Đảng bộ huyện Triệu Hải cũ) đã trải qua mấy kỳ Đại hội, được tổ chức vào thời gian nào? Trả lời: Đảng bộ huyện Hải Lăng được thành lập vào cuối năm 1930 do đồng chí Trần Ngọc Hoành làm Bí thư. Trước khi ra đời, Đảng bộ huyện Hải Lăng 04 chi bộ gồm: Chi bộ Thượng Xá do đ/c Lê Quê làm Bí thư; Chi bộ Phú Long do đ/c Nguyễn Bá Sam làm Bí thư; Chi bộ Long Hưng do đ/c Trần Ngọc Hoành làm Bí thư và Chi bộ Quy Thiện - Ngô Xá (Chi bộ ghép). Tính đến nay có 56 Chi, Đảng bộ trực thuộc Huyện uỷ * Từ khi thành lập đến nay, Đảng bộ huyện Hải Lăng (cả Đảng bộ huyện Triệu Hải cũ) đã trãi qua 13 kỳ Đại hội. - Đại hội Đảng bộ huyện Hải Lăng lần thứ I diễn ra cuối năm 1948 tại Khe Cheng - Hướng Hóa. Đại hội bầu BCH Đảng bộ gồm 6 ủy viên, đồng chí Phan Giá được bầu làm Bí thư Huyện ủy. - Đại hội Đảng bộ huyện Hải Lăng lần thứ II diễn ra vào tháng 1001949 tại Tân Điền. Đại hội bầu BCH Đảng bộ gồm 11 ủy viên, đồng chí Hoàng Tiết được bầu làm Bí thư. - Đại hội Đảng bộ huyện Hải Lăng lần thứ III diễn ra vào ngày 28-07-1965 tại Ba Đa. Đại hội bầu ra BCH Đảng bộ huyện gồm 11 ủy viên, đồng chí Lê Xuân Hòa được bầu làm Bí thư Huyện ủy. - Đại hội Đảng bộ huyện Hải Lăng khóa IV diễn ra từ ngày 15 đến ngày 17-10-1973. Đại hội bầu BCH gồm 17 đồng chí, đồng chí Võ Thanh Bình giữ chức Quyền Bí thư kiêm chủ tịch huyện. - Đại hội Đảng bộ Huyện Hải Lăng lần thứ V được tổ chức từ ngày 27 đến ngày 30-4-1977 tại Diên Sanh. Đại hội đã bầu ra BCH Đảng bộ huyện gồm 27 Uỷ viên chính thức, 02 Uỷ viên dự khuyết. Hội nghị BCH Đảng bộ huyện lần thứ I đã bầu BTV Huyện ủy gồm 09 đồng chí; đồng chí Lê Văn Hoan được bầu làm Bí Thư. - Đại hội Đảng bộ huyện Hải Lăng lần thứ VI diễn ra từ ngày 10 đến ngày 13-01-1980 tại Thị trấn Triệu Hải (Thị xã Quảng Trị). Đại hội đã bầu ra BCH Đảng bộ gồm 33 ủy viên chính thức, 02 ủy viên dự khuyết; Ban Thường vụ có 11 đồng chí, đồng chí Lê Văn Hoan được bầu làm Bí thư. - Đại hội Đảng bộ huyện Hải Lăng lần thứ VII diễn ra từ ngày 08 đến ngày 13-11-1982 tại Thị trấn Triệu Hải (Thị xã Quảng Trị). Đại hội đã bầu BCH Đảng bộ gồm 33 ủy viên chính thức, 02 ủy viên dự khuyết; Ban Thường vụ Huyện ủy gồm 11 đồng chí. Đồng chí Lê Văn Hoan được bầu làm Bí Thư. - Đại hội Đảng bộ huyện Hải Lăng lần thứ VIII được tổ chức vào tháng 9-1986 tại thị trấn Triệu Hải (Thị xã Quảng Trị). Đại hội đã bầu ra BCH Đảng bộ gồm 39 đồng chí, 10 ủy viên dự khuyết; Ban Thường vụ Huyện ủy gồm 12 đồng chí; đồng chí Dương Quang Lưu được bầu làm Bí thư. - Đại hội Đảng bộ huyện Hải Lăng lần thứ IX diễn ra vào tháng 01-1989. Đại hội bầu ra BCH khóa mới gồm 35 ủy viên chính thức, 06 ủy viên dự khuyết; Ban Thường vụ gồm 11 đồng chí, đồng chí Văn Viết Hóa được bầu làm Bí thư. Đảng bộ huyện Triệu Hải tiếp tục làm nhiệm vụ lãnh đạo cho đến khi huyện Triệu Hải tách ra thành 02 huyện Triệu Phong và Hải Lăng vào ngày 01-5-2009. - Đại hội Đảng bộ huyện Hải Lăng khóa X diễn ra vào tháng 9-1991 tại thị trấn Hải Lăng. Đại hội bầu ra BCH Đảng bộ gồm 24 đồng chí, BTV gồm 07 đồng chí; đồng chí Lê Khước được bầu làm Bí thư. - Đại hội Đảng bộ huyện Hải Lăng khóa XI diễn ra vào tháng 3-1996 tại thị trấn Hải Lăng. Đại hội bầu ra BCH Đảng bộ huyện gồm 35 đồng chí, BTV gồm 11 đồng chí. Đồng chí Lê Khước được bầu làm Bí thư. - Đại hội Đảng bộ huyện Hải Lăng khóa XII diễn ra vào tháng 10-2000 tại Thị Trấn Hải Lăng, Đại hội đã bầu BCH Đảng bộ gồm 37 đồng chí, BTV gồm có 11 đồng chí. Đồng chí Văn Ngọc Hùng được bầu làm Bí thư. - Đại hội Đảng bộ huyện Hải Lăng khóa XIII diễn ra vào tháng 10-2005 tại Thị trấn Hải Lăng, Đại hội đã bầu BTV gồm có 11 đồng chí. Đồng chí Phạm Đức Châu được bầu làm Bí thư. Câu 6: Tính đến nay (31-10-2009) huyện Hải Lăng có bao nhiêu tập thể và cá nhân được phong, truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT? Hãy nêu tên các tập thể và cá nhân Anh hùng? Trả lời: Tính đến nay (31-10-2009) huyện Hải Lăng có 19 đơn vị tập thể và 07 cá nhân được phong, truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang. a. Về tập thể gồm: xã Hải Thượng; LLVT xã Hải Phú; Ban an ninh xã Hải Phú; xã Hải Vĩnh; xã Hải Lâm; xã Hải An; xã Hải Khê, xã Hải Trường; xã Hải Sơn; xã Hải Tân; xã Hải Chánh; xã Hải Ba; xã Hải Quế; xã Hải Xuân; xã Hải Hòa; xã Hải Dương; Nhân dân và LLVT huyện Hải Lăng; Ban An ninh huyện Hải Lăng; Đồn Biên phòng 212 (Mỹ Thủy - Hải An). b. Cá nhân: - Liệt sĩ Phan Thanh Chung (Xã Hải Thượng) - Liệt Sĩ Trần Thị Tâm (Xã Hải Khê) - Liệt sĩ Mai Văn Toàn (Xã Hải Ba) - Liệt sĩ Lê Thị Tuyết (Xã Hải Xuân) - Đồng chí Võ Thị Xuân (Xã Hải Phú) - Đồng chí Võ Thiết (Xã Hải Trường) - Đồng chí Trần Hữu Thủy (Xã Hải Phú) Câu 7: Trình bày những thành tựu nổi bật về kinh tế - xã hội, quốc phòng- an ninh từ ngày thành lập huyện (1/5/1990) đến nay? Trả lời: Từ khi chia tách huyện Triệu Hải thành 02 huyện Triệu Phong và Hải Lăng (01/5/1990), dưới sự lãnh, chỉ đạo của BCH Đảng bộ, sự điều hành của chính quyền, sự phối hợp của các ban ngành đoàn thể, trong việc phát triển kinh tế-xã hội nên những năm qua nền kinh tế -xã hội, an ninh quốc phòng của huyện nhà đã đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực. * Trên lĩnh vực kinh tế: + Nông nghiệp đạt được nhiều tiến bộ mới, đã áp dụng các tiến bộ khoa học kỷ thuật, công nghệ vào sản xuất, nuôi trồng, chế biến tạo ra sản phẩm có chất lượng. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp có chuyển biến tích cực, giá trị sản xuất canh tác tăng từ 15,5 triệu đồng năm 2002 lên 31,4 triệu đồng/ha năm 2008. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người năm 2008 đạt trên 7,65 triệu đồng/năm (năm 2002 là 3,5 triệu đồng). + Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có sự chuyển biến đáng kể, đã tạo thêm nhiều sản phẩm mới và giải quyết việc làm cho người lao động. Tính đến tháng 6/2009, trên đại bàn toàn huyện có 13 doanh nghiệp đã thực hiện và đăng ký đầu tư sản xuất về công nghiệp, trong đó có 06 doanh nghiệp đã đi vào sản xuất, tỷ trọng ngành công nghiệp trong cơ cấu kinh tế năm 2006 là 7%, năm 2007 là 8%, năm 2008 là 7,7% (mục tiêu đến năm 2010 chiếm tỷ lệ từ 10-12%). Các làng nghề, cụm CN-TTCN, TMDV được định hướng quy hoạch và đi vào hoạt động có hiệu quả như cụm Công nghiệp Diên Sanh; cụm CN-TTCN và TMDV Hải Thượng, Hải Trường...các ngành nghề truyền thống được phát triển và mở rộng, các nghề mới được du nhập nhằm giải quyết việc làm cho thanh niên. Các dịch vụ du lịch trên tuyến La Vang - Khu du lịch sinh thái Trằm Trà Lộc - Bãi tắm Mỹ Thủy từng bước được hình thành, thu hút ngày càng đông du khách. Kết cấu hạ tầng nông thôn: điện, đường, trường, trạm, công trình thủy lợi, nước sạch, trụ sở làm việc, các công trình văn hóa-phúc lợi xã hội được đầu tư xây dựng. * Trên lĩnh vực VH-XH: Về VH-XH có những chuyển biến tích cực, sự nghiệp giáo dục đào tạo có nhiều tiến bộ, tỷ lệ huy động các cháu trong độ tuổi vào nhà trẻ năm 2008 đạt 27,9% (năm 2002 là 6%); Mẫu giáo đạt 84,3% (năm 2002 là 68%); Tiểu học 99,8% (năm 2002 là 99%); THCS đạt 99% (năm 2002 là 99%). Huyện được công nhận đạt chuẩn giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và đạt chuẩn quốc gia về phổ cập THCS. Xây dựng đề án phổ cập THPT trên địa bàn huyện và chỉ đạo triển khai tại Hải Phú, Hải Thượng và Thị Trấn Hải Lăng. Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia được tập trung chỉ đạo, đến nay có 5/20 trường MN, 18/23 trường Tiểu học và 4/18 trường THCS đạt chuẩn quốc gia (năm 2002 là 12 trường kể cả 3 cấp học). + Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được quan tâm, công tác khám chữa bệnh có nhiều chuyển biến tích cực. Hiện nay có 9 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, có 50% trạm y tế xã, thôn có bác sĩ; 100% trạm y tế có nữ hộ sinh và cán bộ y tế cộng đồng kịp thời phòng bệnh, dập dịch có hiệu quả. Huyện đã ban hành đề án thôn không có người sinh con thứ ba trở lên, có 54 thôn đăng ký phát động. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng chiếm 17,9% (giảm 7,1% so với năm 2002); tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,02% (giảm 0,19% so với năm 2002). Hệ thống thông tin đại chúng phát triển nhanh chóng. Hiện nay có 100% HTX SXNN có trạm truyền thanh, các phương tiện nghe nhìn tăng từ 45,4% năm 2002 lên 92% năm 2008, bình quân có 15 máy điện thoại/100 dân. Thực hiện tốt chế độ ưu đãi đối với những người có công, gia đình thương binh liệt sĩ. Toàn huyện đã xây dựng được 469 ngôi nhà tình nghĩa (tăng 388 nhà so với năm 2002). Đã xây dựng đề án xóa nhà tạm bợ, dột nát cho người nghèo; xây dựng được 1.190 nhà đại đoàn kết, số hộ nghèo giảm còn 18,06%; mỗi năm tạo việc làm mới cho khoảng 700-800 lao động. Phong trào "TDĐKXDĐSVH" được triển khai sâu rộng tạo nên những chuyển biến mới góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội, các tập tục lạc hậu, mê tín dị đoan, chung tay góp sức xây dựng bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh tại địa phương. Đề án xây dựng huyện điển hình văn hóa đã góp phần quan trọng trong việc đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị. Cán bộ, đảng viên và nhân dân đã tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh. Mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ngày càng được thắt chặt; Quy chế dân chủ cơ sở được triển khai tích cực, quyền làm chủ của người dân ngày càng được phát huy. + Vận dụng sáng tạo đường lối quân sự của Đảng, Đảng bộ và nhân dân huyện nhà đã coi trọng việc kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội với củng cố an ninh quốc phòng; vừa tiếp tục xây dựng lực lượng vũ trang tập trung, vừa tập trung xây dựng LLVT các xã, đơn vị, cơ quan nhằm hình thành thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng phương án phòng thủ sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của kẻ thù. Phong trào quần chúng bảo vệ ANTQ được đẩy mạnh và đi vào chiều sâu. Thường xuyên giáo dục cho cán bộ và nhân dân nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, qua đó nhận thức sâu sắc về âm mưu, bản chất chống phá của các thê lực thù địch. Kịp thời nắm bắt tình hình và giải quyết tốt các vướng mắc từ cơ sở, ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, an ninh chính trị và trật tự ATXH được đảm bảo. + Các hoạt động VHVN-TDTT được chú trọng phát triển với nhiều hình thức phong phú đa dạng nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Ngoài ngày hội văn hóa 19/3 của huyện thì các hoạt động VHVN được tổ chức thường xuyên tại các địa phương, đơn vị nhân các ngày lễ lớn của Đảng, dân tộc, quê hương. + Ngoài ngày hội thể thao của huyện, hoạt động TDTT được tổ chức thường xuyên tại các địa phương, đơn vị thu hút ngày càng đông các đối tượng, lứa tuổi tham gia, hình thức tổ chức ngày càng đa dạng, phong phú. Các hoạt động VHVN-TDTT người khuyết tật, hoạt động thể thao người cao tuổi đã có bước phát triển mới. + Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" được triển khai sâu rộng đến cán bộ, đảng viên và nhân dân tạo nên bước chuyển biến về đạo đức, lối sống, ý thức trách nhiệm, ngày càng xuất hiện nhiều tấm gương tập thể và cá nhân, các gương điển hình làm theo lời Bác trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Câu 8: Đồng chí hãy cho biết những suy nghĩ,cảm xúc của bản thân về Đảng bộ Huyện Hải Lăng qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, đồng thời vui lòng đóng góp ý kiến của bản thân với Đảng bộ để góp phần xây dựng Đảng bộ huyện phát triển ngày càng vững mạnh trước yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH quê hương, đất nước? Trả lời: Qua 80 năm hình thành và phát triển, Đảng bộ huyện Hải Lăng đã từng bước đi lên đưa nhân dân thoát khỏi cảnh đói nghèo-cơ cực và cũng đã định hướng cho nhân dân đi theo con đường XHCN mà Đảng đã đề ra. Trong 80 năm đó, Huyện Hải Lăng đã chiến đấu chống lại 2 thế lực xâm lược lớn là:Thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Với tinh thần chiến đấu ngoan cường cùng với sự tuyên truyền tư tưởng cách mạng đến từng tầng lớp nhân dân có hiệu quả đã góp phần vào việc giải phóng Huyện Hải Lăng nói riêng(vào ngày 19-3-1975) và giải phóng miền N

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam, Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Bình Định
  • Sách Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Các Kỳ Đại Hội
  • Sách Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam 1930
  • Lịch Sử Ra Đời Của Máy Tính Cá Nhân
  • Quá Trình Hình Thành Máy Tính Ngày Nay Như Thế Nào?
  • Thể Lệ Thi Tìm Hiểu 90 Năm Lịch Sử Đảng

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu 70 Năm Lịch Sử Đảng Bộ Đắk Lắk Và 35 Năm Chiến Thắng Buôn Ma Thuột
  • Trao Giải Lần Thứ 2 Cuộc Thi Tìm Hiểu 90 Năm Lịch Sử Đảng
  • Kết Quả Tuần Thứ Nhất Cuộc Thi Trắc Nghiệm Trực Tuyến “tìm Hiểu 90 Năm Truyền Thống Vẻ Vang Của Đảng Bộ Tỉnh Thanh Hóa”
  • Tìm Hiểu Lịch Sử 90 Năm Đảng Cộng Sản Việt Nam: Sức Lan Tỏa Sâu, Rộng Của Một Cuộc Thi Nhiều Ý Nghĩa
  • Cuộc Thi Tìm Hiểu ’90 Năm
  • Thể Lệ Thi Tìm Hiểu 90 Năm Lịch Sử Đảng, Đáp án Cuộc Thi Tìm Hiểu 90 Năm Lịch Sử Đảng Tuần 9, Phấn Đấu Rèn Luyện Để Xứng Đáng Với Danh Hiệu Đảng Viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, Toi La 1 Nv Nganh Điên Lam Gi Va Phân Đâu Nhu Thê Nao Đe Sung Đang Voi Danh Hieu Dang Viên Dcxvn, Lịch Sử Đạo Hiếu Việt Nam, Không Ngừng Phấn Đấu Và Rèn Luyện De Xứng Đáng Với Danh Hiệu Đảng Viên Liên Hệ Bản Thân, Tìm Hiểu Lịch Sử Truyền Thống 70 Năm Công Đoàn Quốc Phòng, De Cuong Cuoc Thi Tim Hieu Lich Su 70 Nam Cong Doan Quoc Phong, Bài Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Truyền Thống 70 Năm Công Đoàn Quốc Phòng, Thủ Tục Đăng Ký Phù Hiệu Xe Tải, Bản Đăng Ký Danh Hiệu Thi Đua, Thủ Tục Cấp Huy Hiệu 30 Năm Tuổi Đảng, Bộ Luật Dân Sự Đang Có Hiệu Lực, Mẫu Tờ Khai Huy Hiệu Đảng, Hồ Sơ Huy Hiệu Đảng Muộn, Thủ Tục Đăng Ký Thương Hiệu, Thủ Tục Đăng Ký Bảo Hộ Nhãn Hiệu, Mẫu Đơn Đăng Ký Nhãn Hiệu, Mẫu Đơn Đăng Ký Bảo Hộ Nhãn Hiệu, Thủ Tục Làm Huy Hiệu 30 Năm Tuổi Đảng, Rút Đơn Đăng Ký Nhãn Hiệu, Đơn Đăng Ký Nhãn Hiệu, Lịch Sử Đảng Bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam Tỉnh Khánh Hòa (1930 – 1975), Hướng Dẫn Thủ Tục Xét Tặng Huy Hiệu Đảng, Bài Thi Tìm Hiểu Nghị Quyết 12 Của Đảng, Mau To Trinh Tang Huy Hieu Dang, Thủ Tục Đăng Ký Nhãn Hiệu Sản Phẩm, Mẫu Đơn Đăng Ký Quốc Tế Nhãn Hiệu, Thủ Tục Đăng Ký Bản Quyền Thương Hiệu, Mẫu Tờ Khai Sửa Đổi Đơn Đăng Ký Nhãn Hiệu, Tờ Khai Đăng Ký Nhãn Hiệu, Mẫu Tờ Khai Đăng Ký Nhãn Hiệu, Biểu Mẫu Đăng Ký Danh Hiệu Thi Đua, Mẫu Bìa Bài Dự Thi Tìm Hiểu Nghị Quyết Đại Hội Đảng, Mẫu Đơn Đăng Ký Nhãn Hiệu Mới Nhất, Bản Đăng Ký Danh Hiệu Thi Đua Cá Nhân, Bản Đăng Ký Xây Dựng Danh Hiệu Gia Đình Văn Hóa, Lời Phát Biểu Nhận Huy Hiệu Đảng, Giải Trình Chậm Hồ Sơ Huy Hiệu Đảng, Tờ Trình Tặng Huy Hiệu 30 Năm Tuổi Đảng, Lời Phát Biểu Khi Nhận Huy Hiệu Đảng, Giấy ủy Quyền Đăng Ký Nhãn Hiệu, To Trinh De Nghi Tang Huy Hieu Dang, Mẫu Tờ Trình Đề Nghị Tặng Huy Hiệu Đảng, Bản Đăng Ký Danh Hiệu Thi Đua Cá Nhân Năm 2022, Mẫu Đơn Đăng Ký – 09 Mẫu Nhãn Hiệu Giống Nhau, Mẫu Đơn Đề Nghị Truy Tặng Huy Hiệu Đảng, Bài Phát Biểu Nhận Huy Hiệu 30 Năm Tuổi Đảng, Hiệu Lực Quyết Định Kỷ Luật Đảng Viên, Tờ Trình Truy Tặng Huy Hiệu 30 Năm Tuôi Đảng, Lời Phát Biểu Nhận Huy Hiệu 30 Năm Tuổi Đảng, Bạn Đang Lái Xe Trong Khu Vực Độ Thị Lúc 22h30 Tối Và Cần Vượt Một Xe Khác, Bạn Cần Báo Hiệu Như, Đáp án Tìm Hiểu 90 Năm Ngày Truyền Thống Ngành Tuyên Giáo Của Đảng, Văn Bản Đề Nghị Hiệu Đính Thông Tin Giấy Chứng Nhận Đăng Ký Đầu Tư, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ, Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ, Thể Lệ Cuộc Thi Tìm Hiểu 90 Năm Ngày Truyền Thống Ngành Tuyên Giáo Của Đảng, Bạn Đang Lái Xe Phía Trước Có Một Xe Cảnh Sát Giao Thông Không Phát Hiện Tín Hiệu ưu Tiên, Bạn Đang Lái Xe Phía Trước Có Một Xe Cứu Thương Phát Tín Hiệu ưu Tiên Bạn Có Được Phép Vượt Không, Luận Văn Tác Động Của Phong Cách Lãnh Đạo Chuyển Dạng Đến Hiệu Quả Công Việc Của Lực Lượng Kiểm Lâm , Luận Văn Tác Động Của Phong Cách Lãnh Đạo Chuyển Dạng Đến Hiệu Quả Công Việc Của Lực Lượng Kiểm Lâm, Nhóm Hiệu Quả Giúp Các Thành Viên Làm Việc Với Nhau Hiệu Quả Hơn So Với Làm … Những Yếu Tố Của Nhó, Nhóm Hiệu Quả Giúp Các Thành Viên Làm Việc Với Nhau Hiệu Quả Hơn So Với Làm … Những Yếu Tố Của Nhó, Trong Phan Mem Powerpoint De Tap Hieu Ung Cho Van Ban Em Chon Doi Tuong Chua Van Ban Can Tao Hieu Un, Để Báo Hiệu Cho Xe Phía Trước Biết Mô Tô Của Bạn Muốn Vượt, Bạn Phải Có Tín Hiệu Như Thế Nào, Khi Đèn Tín Hiệu Màu Đỏ Đã Bật Sáng Hoặc Có Tiếng Chuông Báo Hiệu, Người Tham Gia Giao Thông Phải Dừ, Khi Đèn Tín Hiệu Màu Đỏ Đã Bật Sáng Hoặc Có Tiếng Chuông Báo Hiệu, Người Tham Gia Giao Thông Phải Dừ, Tại Khu Vực Không Có Đèn Báo Hiệu Hoặc Biển Báo Hiệu, Người Lái Xe Phải Xử Lí Như Thế Nào, Tại Nơi Có Biển Hiệu Cố Định Lại Có Báo Hiệu Tạm Thời Thì Người Tham Gia Giao Thông Phải Chấp Hành, Tp Hcm Góp ý Xay Dung Nha Nuoc Quan Ly Hieu Luc Hieu Qua Cho Dai Hoi Xiii, Những Ký Hiệu Hàng Hóa Dưới Đây, Ký Hiệu Nào Chống Mưa, Đáp án Đề 90 Năm Lịch Sử Đảng, Mẫu Lý Lịch Xin Vào Đảng, Lịch Sử Đảng, Mẫu Sơ Yếu Lý Lịch Xin Vào Đảng, Mẫu Lý Lịch Vào Đảng, Mẫu Lý Lịch Đăng Ký Kết Hôn, Mẫu Lý Lịch Đảng M5, Lý Lịch Vào Đảng Mẫu, Mẫu Sơ Yếu Lý Lịch Đảng, Mẫu Sơ Yếu Lý Lịch Kết Nạp Đảng, Mẫu Lý Lịch Kết Nạp Đảng, Mẫu Sơ Yếu Lý Lịch Vào Đảng, Lý Lịch Đơn Xin Vào Đảng, Tóm Tắt Lý Lịch Xin Vào Đảng, Đổi Mới Lịch Sử Đảng, Mẫu Hồ Sơ Lý Lịch Đảng, Mẫu Lý Lịch Đơn Xin Vào Đảng, Biển Nào Báo Hiệu Giao Nhau Có Tín Hiệu Đèn, Giấy Đề Nghị Cấp Phù Hiệu Biển Hiệu, Mẫu 2 Lý Lịch Của Người Xin Vào Đảng, So Yeu Ly Lich Dang Vien Mau 1, Sơ Yếu Lý Lịch Đảng Viên Mẫu 2, Mẫu 1 Lý Lịch Đảng Viên, Lịch Học Cao Đẳng Xây Dựng Số 1, Đơn Đăng Ký Lý Lịch Tư Pháp, Lịch Học Trường Cao Đẳng Y Tế, Mẫu 2 Knd Lý Lịch Của Người Xin Vào Đảng, Tài Liệu 90 Năm Lịch Sử Đảng, Mẫu Lý Lịch Của Đảng Viên,

    Thể Lệ Thi Tìm Hiểu 90 Năm Lịch Sử Đảng, Đáp án Cuộc Thi Tìm Hiểu 90 Năm Lịch Sử Đảng Tuần 9, Phấn Đấu Rèn Luyện Để Xứng Đáng Với Danh Hiệu Đảng Viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, Toi La 1 Nv Nganh Điên Lam Gi Va Phân Đâu Nhu Thê Nao Đe Sung Đang Voi Danh Hieu Dang Viên Dcxvn, Lịch Sử Đạo Hiếu Việt Nam, Không Ngừng Phấn Đấu Và Rèn Luyện De Xứng Đáng Với Danh Hiệu Đảng Viên Liên Hệ Bản Thân, Tìm Hiểu Lịch Sử Truyền Thống 70 Năm Công Đoàn Quốc Phòng, De Cuong Cuoc Thi Tim Hieu Lich Su 70 Nam Cong Doan Quoc Phong, Bài Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Truyền Thống 70 Năm Công Đoàn Quốc Phòng, Thủ Tục Đăng Ký Phù Hiệu Xe Tải, Bản Đăng Ký Danh Hiệu Thi Đua, Thủ Tục Cấp Huy Hiệu 30 Năm Tuổi Đảng, Bộ Luật Dân Sự Đang Có Hiệu Lực, Mẫu Tờ Khai Huy Hiệu Đảng, Hồ Sơ Huy Hiệu Đảng Muộn, Thủ Tục Đăng Ký Thương Hiệu, Thủ Tục Đăng Ký Bảo Hộ Nhãn Hiệu, Mẫu Đơn Đăng Ký Nhãn Hiệu, Mẫu Đơn Đăng Ký Bảo Hộ Nhãn Hiệu, Thủ Tục Làm Huy Hiệu 30 Năm Tuổi Đảng, Rút Đơn Đăng Ký Nhãn Hiệu, Đơn Đăng Ký Nhãn Hiệu, Lịch Sử Đảng Bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam Tỉnh Khánh Hòa (1930 – 1975), Hướng Dẫn Thủ Tục Xét Tặng Huy Hiệu Đảng, Bài Thi Tìm Hiểu Nghị Quyết 12 Của Đảng, Mau To Trinh Tang Huy Hieu Dang, Thủ Tục Đăng Ký Nhãn Hiệu Sản Phẩm, Mẫu Đơn Đăng Ký Quốc Tế Nhãn Hiệu, Thủ Tục Đăng Ký Bản Quyền Thương Hiệu, Mẫu Tờ Khai Sửa Đổi Đơn Đăng Ký Nhãn Hiệu, Tờ Khai Đăng Ký Nhãn Hiệu, Mẫu Tờ Khai Đăng Ký Nhãn Hiệu, Biểu Mẫu Đăng Ký Danh Hiệu Thi Đua, Mẫu Bìa Bài Dự Thi Tìm Hiểu Nghị Quyết Đại Hội Đảng, Mẫu Đơn Đăng Ký Nhãn Hiệu Mới Nhất, Bản Đăng Ký Danh Hiệu Thi Đua Cá Nhân, Bản Đăng Ký Xây Dựng Danh Hiệu Gia Đình Văn Hóa, Lời Phát Biểu Nhận Huy Hiệu Đảng, Giải Trình Chậm Hồ Sơ Huy Hiệu Đảng, Tờ Trình Tặng Huy Hiệu 30 Năm Tuổi Đảng, Lời Phát Biểu Khi Nhận Huy Hiệu Đảng, Giấy ủy Quyền Đăng Ký Nhãn Hiệu, To Trinh De Nghi Tang Huy Hieu Dang, Mẫu Tờ Trình Đề Nghị Tặng Huy Hiệu Đảng, Bản Đăng Ký Danh Hiệu Thi Đua Cá Nhân Năm 2022, Mẫu Đơn Đăng Ký – 09 Mẫu Nhãn Hiệu Giống Nhau, Mẫu Đơn Đề Nghị Truy Tặng Huy Hiệu Đảng, Bài Phát Biểu Nhận Huy Hiệu 30 Năm Tuổi Đảng, Hiệu Lực Quyết Định Kỷ Luật Đảng Viên, Tờ Trình Truy Tặng Huy Hiệu 30 Năm Tuôi Đảng,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thể Lệ Cuộc Thi Tìm Hiểu 90 Năm Lịch Sử Vẻ Vang Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Và Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Bình Dương
  • Thể Lệ Cuộc Thi Tìm Hiểu 80 Năm Lịch Sử Vẻ Vang Đảng Bộ Tỉnh Đắk Lắk (23/11/1940
  • Thể Lệ Cuộc Thi Tìm Hiểu 80 Năm Lịch Sử Vẻ Vang Đảng Bộ Tỉnh Đắk Lắk (23
  • Kế Hoạch Tổ Chức Cuộc Thi Tìm Hiểu 90 Năm Ngày Truyền Thống Ngành Tuyên Giáo Của Đảng
  • Thể Lệ Cuộc Thi Trực Tuyến Tìm Hiểu Lịch Sử 90 Năm Đảng Bộ Thành Phố Hà Nội
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100