Phương Pháp Giải Một Số Bài Toán Về Toàn Mạch Ví Dụ Và Bài Tập

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Vật Lí 11
  • Giải Bài Tập Bài 11: Phương Pháp Giải Một Số Bài Toán Về Toàn Mạch
  • Lý Thuyết Vật Lý 11: Bài 11. Phương Pháp Giải Một Số Bài Toán Về Toàn Mạch
  • Giải Lý Lớp 11 Bài 11: Phương Pháp Giải Một Số Bài Toán Về Toàn Mạch
  • Bài 11. Phương Pháp Giải Một Số Bài Toán Về Toàn Mạch
  • Bài viết này sẽ hệ thống các phương pháp giải một số bài toán về toàn mạch trong đó mạch điện có thể chỉ gồm một nguồn cùng các điện trở mắc nối tiếp, điện trở mắc nối tiếp bóng đèn, song song bóng đèn hay mạch gồm nhiều nguồn mắc hỗn hợp đối xứng,...

    I. Những lưu ý trong phương pháp giải toán toàn mạch

    1. Toàn mạch là mạch điện gồm một nguồn điện có suất điện động ξ và điện trở trong r, hoặc gồm nhiều nguồn điện được ghép thành bộ nguồn có suất điện động ξ b, điện trở trong r b và mạch ngoài gồm các điện trở.

    → Cần phải nhận dạng loại bộ nguồn và áp dụng công thức tương ứng để tính suất điện động và điện trở trong của bộ nguồn.

    2. Mạch ngoài của toàn mạch có thể là các điện trở hoặc các vật dẫn được coi như các điện trở (ví dụ như các bóng đèn dây tóc) nối liền hai cực của nguồn điện.

    → Cần phải nhận dạng và phân tích xem các điện trở này được mắc với nhau như thế nào (nối tiếp hay song song). Từ đó áp dụng định luật Ôm đối với từng loại đoạn mạch tương ứng cũng như tính điện trở tương đương của mỗi đoạn mạch và của mạch ngoài.

    3. Áp dụng định luật Ôm đối với toàn mạch để tính cường độ dòng điện mạch chính, suất điện động của nguồn điện hay của bộ nguồn, hiệu điện thế mạch ngoài, công và công suất của nguồn điện, điện năng tiêu thụ của một đoạn mạch,… mà bài toán yêu cầu.

    4. Các công thức cần sử dụng:

    II. Bài tập ví dụ một số dạng toán toàn mạch

    b) Tính cường độ dòng điện I chạy qua nguồn điện và hiệu điện thế mạch ngoài U.

    c) Tính hiệu điện thế U 1 giữa hai đầu điện trở R 1.

    a) Điện trở mạch ngoài là: R N = R 1 + R 2 + R 3 = 5 + 10 + 3 = 18 (Ω).

    b) Áp dụng định luật Ôm cho toàn mạch, ta có:

    – Cường độ dòng điện chạy qua nguồn điện là:

    ⇒ Hiệu điện thế mạch ngoài là: U = I.R N = 0,3.18 = 5,4 (V).

    b) Tính công suất P ng và hiệu suất H của nguồn điện khi đó.

    a) Điện trở của mỗi đèn là:

    ⇒ Điện trở tương đương của mạch khi đó là:

    ⇒ Hiệu điện thế mạch ngoài là: U N = I.R N = 1,25.9,6 = 12 (V).

    – Cường độ dòng điện trong mỗi nhánh là:

    – Cường độ dòng điện qua mỗi đèn là:

    – Cường độ dòng điện định mức qua mỗi đèn là:

    – Như vậy ta thấy khi R b = 8(Ω) thì cường độ dòng thực tế qua mỗi bóng đèn bằng với cường độ định mức của mỗi bóng, do đó các đèn sáng bình thường.

    b) Công suất của nguồn điện khi đó là P ng = ξ.I = 12,5.1,25 = 15,625 (W).

    ⇒ Hiệu suất là H = (U n/ξ).100% = (12/12,5).100% = 0,96.100% = 96%.

    Có tám nguồn điện cùng loại với cùng suất điện động E = 1,5 V và điện trở trong r = 1 Ω. Mắc các nguồn này thành bộ nguồn hỗn hợp đối xứng gồm hai dãy song song để thắp sáng bóng đèn loại 6V – 6W.

    Coi rằng bóng đèn có điện trở như khi sáng bình thường.

    a) Vẽ sơ đồ mạch điện kín gồm bộ nguồn và bóng đèn mạch ngoài.

    b) Tính cường độ I của dòng điện thực sự chạy qua bóng đèn và công suất điện P của bóng đèn khi đó.

    – Áp dụng định luật Ôm cho toàn mạch, ta có cường độ dòng điện chạy qua đèn là:

    – Công suất của bóng đèn là: P = I 2.R = (0,75) 2.6 = 3,375 (W).

    c) Công suất của bộ nguồn là: P ng = ξ.I = 6.0,75 = 4,5 (W);

    – Do các nguồn giống nhau nên công suất của mỗi nguồn là: P i = P ng/8 = 4,5/8 = 0,5625 (W);

    – Cường độ dòng điện qua mỗi nguồn là: I i = I/2 = 0,75/2 = 0,375(A).

    ⇒ Hiệu điện thế U i giữa hai cực của mỗi nguồn: U i = ξ – I.r = 1,5 – 0,375.1 = 1,125 (V).

    III. Một số Bài tập vận dụng phương pháp giải bài toán toàn mạch

    b)Tính cường độ dòng điện chạy qua mỗi điện trở mạch ngoài.

    ⇒ Cường độ dòng điện qua mỗi điện trở:

    b) tính công suất tiêu thụ điện của mỗi điện trở.

    c) Tính công suất của mỗi ắc quy và năng lượng mà mỗi ắc quy cung cấp trong 5 phút.

    a) Tính cường độ dòng điện chạy trong mạch.

    – Ta cũng thấy 2 điển trở R 1 và R 2 được mắc nối tiếp nên điện trở tương đương của mạch ngoài gồm hai điện trở mắc nối tiếp là: R N = R 1 + R 2 = 4 + 8 = 12(Ω).

    – Áp dụng định luật Ôm cho toàn mạch, ta có:

    b) Vì 2 điện trở ghép nối tiếp với nguồn nên I 1 = I 2 = I = 1,5A

    ⇒ Công suất tiêu thụ của mỗi điện trở R 1, R 2 tương ứng là:

    c) Công suất của mỗi ắc quy cung cấp :

    – Năng lượng mỗi ắc quy cung cấp trong 5 phút:

    W ng(1) = P ng(1).t = 18.5.60 = 5400J

    – Kết luận: a) I = 1,5A; b) P 1 = 9W; P 2 = 18W; c) P ng(1) = 18W; P ng(2) = 9W; W ng(1) = 5400J; W ng(2) = 2700J.

    b) Điện trở x phải có trị số là bao nhiêu để công suất tiêu thụ ở điện trở này là lớn nhất? Tính công suất lớn nhất đó.

    a) Tính điện trở x để công suất tiêu thụ ở mạch ngoài là lớn nhất.

    – Mạch ngoài gồm điện trở R mắc nối tiếp với điển trở x, nên ta có điện trở tương đương là: R N = R + x = (0,1 + x) (Ω).

    – Công suất tiêu mạch ngoài là:

    – Như vậy, để công suất P lớn nhất (P max) thì mẫu số phải là nhỏ nhất (min), tức là:

    b) Công suất tiêu thụ trên điện trở x:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Review Sách Phương Pháp Giáo Dục Montessori
  • Phương Pháp Ăn Kiêng Keto Giảm Cân Hiệu Quả
  • Giảm Cân Theo Phương Pháp Keto Nhẹ Nhàng, Hiệu Quả
  • Tìm Hiểu Tất Tật Về Giảm Cân Theo Phương Pháp Keto Và Cách Áp Dụng
  • 11 Quy Tắc Vàng Của Glenn Doman Khi Bắt Đầu Giáo Dục Trẻ
  • Ví Dụ Về Phương Pháp So Sánh Trực Tiếp

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp 3 Phương Pháp Làm Bài Văn Nghị Luận Văn Học So Sánh Chuẩn Nhất
  • Thực Hành Psmatch2 Và Teffects
  • So Sánh Công Nghệ Xử Lý Nước Thải Hiếu Khí Và Kỵ Khí * Vật Tư Tiêu Hao, Nông Nghiệp, Thủy Sản, Môi Trường,…
  • Các Phương Pháp Xác Định Chi Phí Để Định Giá Bất Động Sản
  • Học Giao Tiếp Tiếng Nhật Với Phương Pháp Shadowing
  • (Nguồn: Thông tư sô 14512007ITT-BTC ngày 06!Ì2I2007

    Áp dụng phương pháp so sánh trực tiếp để xác định giá đất (để đơn giản và dễ hiểu, ví dụ này chỉ giới thiệu phương pháp so sánh trực tiếp để xác định giá đất của thửa đất, khu đất cần định giá với một thửa đất, khu đất so sánh).

    Giả định trong quá trình định giá khu đất ở có diện tích 20.000m2 thuộc một đô thị loại V (kí hiệu là khu đất B), cơ quan định giá đã thu thập được thông tin về một khu đất liền kề có diện tích 25.000m2 có thể so sánh được với khu đất cần định giá đã được tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất thành công để đầu tư xây dựng nhà ở (kí hiệu là khu đất A) diễn ra trong khoảng thời gian gần nhất với thời điểm xác định giá khu đất B. Tổng số tiền thu được từ đấu giá khu đất A là 125 tỷ đồng, tính ra đơn giá một mét vuông là 5,0 triệu đồng (5 triệu đ/m2).

    Với tất cả thông tin thu thập được cơ quan định giá tiến hành so sánh giữa khu đất A và khu đất B như sau:

    Trên cơ sở mức giá đấu giá thành công của khu đất A là 125 tỷ đồng so sánh để định giá cho khu đất B, mức giá của khu đất B sẽ bị giảm:

    – Chiều rộng mặt tiền: B kém A: 2 điểm, giảm 10% = 12,5 tỷ đồng

    – Chiều sâu của khu đất: B kém A: 1 điểm, giảm 5% = 6,25 tỷ đồng

    – Giao thông: B kém A: 1,5 điểm, giảm 7,5% = 9,375 tỷ đồng

    Tổng sô’ giảm giá do khác biệt B kém A: 28,125 tỷ đồng

    B sẽ được cộng thêm:

    – Độ bụi: B hơn A: 1 điểm, tăng 5% = 6,25 tỷ đồng

    Tống số tăng giá do khác biệt B hơn A: 6,25 tỷ đồng

    Giá khu đất A dược điều chỉnh lại (kí hiệu là A’) theo những yếu tố khác biệt của khu đất B được tính toán như sau: A’ = 125 – 28,125 + 6,25 = 103,125 (tỷ đồng)

    Tính ru đơn giá một mét vuông lù: 103.125 triệu đồng : 25.000 m2 = 4,125 triệu đ/m2.

    Tương tự, giả sử cơ quan định giá lựa chọn được thêm 2 khu đất c và D nữa để so sánh với khu đất B. Kết quả phân tích, so sánh đã xác định được đơn giá của khu đất c đã điều chính theo các yếu tố của khu đất B là 4,5 triệu đ/m2 và của khu đất D đã điểu chính là 4,05 triệu đ/m2.

    Đơn giá khu đất B được xác định bằng cách lấy mức giá trung bình của 3 mức giá đã điểu chỉnh ở trên: (4,125 + 4,5 + 4,05): 3 = 4,225 (triệu đ/m2).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xác Định Giá Trong Giao Dịch Liên Kết
  • Nội Dung Chính Của Thông Tư 41/2017/tt
  • Các Môn Học Thuộc Bộ Môn Kỹ Thuật Ô Tô
  • So Sánh Các Phương Pháp Kiểm Tra Không Phá Hủy Khác Nhau
  • Đồ Án Tốt Nghiệp Cơ Điện Tử Thiết Kế Chế Tạo Mô Hình Hệ Thống Lắp Ráp Tự Động
  • Một Vài Ví Dụ Minh Họa Về Phân Tích Swot

    --- Bài mới hơn ---

  • Tải Về 33 Bài Thực Hành Theo Phương Pháp Shichida Sách Miễn Phí Pdf * Thư Viện Sách Hướng Dẫn
  • Tìm Hiểu Phương Pháp Giáo Dục Sớm Shichida Cho Trẻ Sơ Sinh Của Người Nhật
  • Cách Phát Triển Giác Quan Não Phải Cho Trẻ Sơ Sinh Theo Phương Pháp Shichida Hiệu Quả
  • Bạn Biết Gì Về Phương Pháp Giáo Dục Sớm Của Nhật Bản
  • 33 Bài Học Theo Phương Pháp Shichida Giúp Trẻ Phát Triển Trí Não Thiên Tài
  • Tất cả các ví dụ phân tích SWOT của chúng tôi đều dựa trên các doanh nghiệp thực mà chúng tôi đã giới thiệu trong bộ sưu tập các kế hoạch kinh doanh ví dụ miễn phí .

    Các phân tích SWOT được chia thành ba phần: Đầu tiên, chúng tôi giới thiệu nhanh cho bạn về những gì công ty nói về (và nếu bạn muốn biết thêm về họ, bạn luôn có thể đọc kế hoạch kinh doanh hoàn chỉnh của họ);

    Phân tích ví dụ SWOT: Nhà máy bia Sedibeng

    Sản phẩm của họ là bia thủ công truyền thống, nhắm vào cổ áo trắng và cả tầng lớp lao động Batswana.

    Lợi thế thị trường chính của Sedibeng là văn hóa công ty của họ, xây dựng thương hiệu chất lượng nhất quán, các công thức nấu bia truyền thống và cam kết phân phối nông thôn.

    Phân tích SWOT cho nhà máy bia Sedibeng

    Vốn cổ phần : chúng tôi đã thiết lập và duy trì một cơ sở vốn mạnh mẽ

    Chiến dịch tiếp thị tích cực và tập trung với các mục tiêu và chiến lược rõ ràng

    Nhóm quản lý : Chúng tôi có nhiều kinh nghiệm về bí quyết sản phẩm và kinh doanh

    O – Opportunities : Lợi Thế

    Chiến lược tiềm năng cho tăng trưởng

    Xây dựng sự hiện diện trực tuyến . Xây dựng và học cách quản lý một trang web cơ bản có thể là một tài sản tiếp thị khổng lồ cho Sedibeng. Hoạt động mà không có trang web ngày càng hiếm, và bỏ qua điểm yếu này quá lâu có thể gây ra hậu quả tai hại.

    Huấn luyện nhân viên. Phát triển một nhân viên hiệu quả trong quá trình đào tạo và chương trình đào tạo sẽ ngày càng quan trọng đối với khả năng phát triển và quản lý văn hóa của công ty.

    Sự bành trướng. Cơ hội kinh doanh tiềm năng cho Nhà máy bia Sedibeng là hoạt động xuất khẩu được chính phủ trợ cấp, lý tưởng là nhắm vào các thị trường ở các nước láng giềng rất giống với thị trường mục tiêu của họ ở Botswana để chiến dịch tiếp thị mạnh mẽ của Sedibeng có thể nhất quán.

    Đây là một lĩnh vực trong đó là một công ty địa phương nhỏ có thể là một lợi thế lớn, nhưng nghiên cứu thị trường quốc tế và nhiều thông tin hơn về các sáng kiến ​​xuất khẩu của chính phủ là bắt buộc.

    Phân tích ví dụ SWOT: Bounty thực vật

    Trang trại thuộc sở hữu gia đình này đã tồn tại được hai năm, ban đầu hoạt động như một sở thích của các chủ sở hữu, người đã được đào tạo về sinh học thực vật, chứ không phải là một doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận.

    Phân tích SWOT cho Botan Bounty

    S- Strengths : điểm mạnh

    • Chất lượng tốt : Chúng tôi sản xuất cây trồng có thành phần hoạt chất cao.
    • Cây dễ bán : Chúng tôi sản xuất cây trồng khỏe mạnh với tỷ lệ cao ( dễ bán )
    • Kinh nghiệm : Đồng sở hữu có sự kết hợp mạnh mẽ giữa phát triển kinh doanh và kinh nghiệm làm vườn

    W – Weaknesses : Điểm yếu

    O – Opportunities : Lợi Thế

    T – Threats : Mối đe dọa

    Chiến lược tiềm năng cho tăng trưởng

    Lời chứng thực của khách hàng . Botan Bounty cần thiết lập danh tiếng của mình như một nhà trồng dược liệu có hiệu quả cao. Là một cách hiệu quả và rẻ tiền là dựa vào lời chứng thực của khách hàng trung thành trong chiến lược tiếp thị của công ty.

    Mối quan hệ kênh bán hàng . Botan Bounty cũng cần thiết lập một kênh bán hàng mạnh mẽ với các nhà sản xuất bổ sung thảo dược, nên đầu tư nhiều năng lượng để xây dựng các mối quan hệ đó và thiết lập Botan Bounty như một nhà cung cấp đáng tin cậy.

    Ví dụ phân tích SWOT: UPer Crust Pies

    Công ty đang có kế hoạch mở địa điểm đầu tiên tại trung tâm thành phố Yubetchatown và rất tập trung vào phát triển mô hình kinh doanh giúp dễ dàng mở rộng nhanh chóng và điều đó mở ra khả năng nhượng quyền thương mại.

    Phân tích SWOT cho UPer Crust Pies

    S – Strengths : Điểm mạnh

    W – Weaknesses : Điểm yếu

    O – Opportunities : Lợi thế

    • Tăng trưởng diện tích: Yubtchatown đang tăng trưởng 8,5% mỗi năm
    • Gia đình lao động có trẻ em: Dân số ngày càng tăng, cả về số lượng và lựa chọn thực phẩm tiện lợi. Gia đình hai thu nhập có ít thời gian hơn để chuẩn bị một bữa ăn

    T – Threats : Mối đe dọa

    Chiến lược tiềm năng cho tăng trưởng

    Tạo một kế hoạch tiếp thị . Bởi vì UPer Crust Pies muốn thực hiện một chiến lược tiếp thị cụ thể như vậy, nhắm mục tiêu vào các gia đình lao động bằng cách nhấn mạnh rằng lựa chọn bữa tối của họ vừa lành mạnh vừa thuận tiện, công ty nên phát triển một kế hoạch tiếp thị .

    Khai trương mạnh mẽ sẽ giúp thiết lập danh tiếng của cửa hàng, do đó, điều cần thiết là nhóm UPer Crust Pies cảm thấy sẵn sàng cho ngày đầu tiên.

    Nếu nhóm quản lý cảm thấy không chuẩn bị trước đám đông lớn tiềm năng, thì việc mở mềm mềm (như mở thử chỉ mời cung cấp bữa ăn miễn phí để đổi lấy phản hồi) có thể là một lựa chọn thông minh.

    Phân tích ví dụ SWOT: Mũ cổ điển của Haley

    Mặc dù công việc kinh doanh là mới, chủ sở hữu Haley Truit đã là một thợ làm bánh trong nhiều năm. Cô điều hành Mũ cổ điển của Haley thông qua một cửa hàng Etsy và hy vọng rằng nó sẽ thành công đủ để cô có thể bỏ công việc khác và điều hành công ty mơ ước của mình toàn thời gian.

    Phân tích SWOT cho Mũ Vintage của Haley

    S – Strength : Điểm mạnh

    W – Weaknesses : Điểm yếu

    • Người sáng lập phải làm mọi thứ ở thời điểm hiện tại
    • Người sáng lập không có nền tảng tiếp thị.

    O – Opportunities : Lợi thế

    T – Threat : Đe dọa

    Chiến lược tiềm năng cho tăng trưởng

    Tài nguyên và giáo dục . Mũ cổ điển của Haley nên tận dụng tối đa các cơ hội có sẵn với tư cách là người bán Etsy; những cơ hội đó là một phần của những gì công ty đang trả cho Etsy để cung cấp.

    Hợp tác với các nhà cung cấp thời trang cổ điển khác trên Etsy có thể giúp Haley giải quyết vấn đề thiếu nền tảng tiếp thị của cô.

    Cô được xác định là một công ty lớn yếu kém, có thể cõng những nỗ lực tiếp thị của đối tác, hoặc học hỏi từ một đối tác sẵn sàng tư vấn cho cô.

    Haley cũng có thể tự dạy mình bằng cách khám phá các tài nguyên tiếp thị trực tuyến miễn phí trên Etsy , Bplans và các nơi khác.

    Thuê một thực tập sinh . Chuyên môn của Haley là một thợ làm bánh làm cho cô ấy trở thành một ứng cử viên tuyệt vời để thuê người học việc hoặc thực tập, và phát triển chương trình học nghề có thể giúp công ty mở rộng giá rẻ năng lực sản xuất và hỗ trợ tăng doanh số bán hàng với những nỗ lực tiếp thị mở rộng.

    Phân tích SWOT ví dụ: Tái chế nhựa

    Công ty muốn tận dụng một trong những sản phẩm tăng trưởng cao nhất của ngành công nghiệp tái chế, polyetylen terephthalate (của PET PET), được tìm thấy trong các chai nước giải khát và nước uống sau khi tiêu dùng bằng cách thành lập nhà máy tái chế PET đầu tiên của miền tây Hoa Kỳ.

    Vật liệu tái chế từ nhà máy PET sau đó sẽ được chuyển đến Bộ phận đóng gói nhựa tái chế hoàn toàn mới, nơi sẽ sản xuất nhựa tấm ép để bán cho các nhà sản xuất.

    Phân tích SWOT cho nhựa tái chế

    S – Strengths : Điểm mạnh

    W – Weaknesses : Điểm yếu

    • Chi phí rất cao khi mở nhà máy PET phải cần nhà đầu tư và đi vay.
    • Cơ sở tái chế và phân loại phải được xây dựng trước khi chúng tôi có thể bắt đầu xử lý nhựa.

    O – Opportunities : Lợi thế

    • Cơ sở tái chế PET ban đầu sẽ có công suất 46 triệu bảng, nhưng lượng vật liệu chai tái chế hàng năm hiện tại ở CA, OR và WA là hơn 2000 lbs.
    • R&D : Tiềm năng cho các mục đích sử dụng khác của tái chế PET theo sản phẩm.

    T – Threats : Đe dọa

    • Bất cư khi nào chính phủ được cập nhật, chúng tôi cần phát triển các giải pháp tái chế khả thi về mặt kỹ thuật và kinh tế đáp ứng các yêu cầu chuẩn.
    • Mô hình kinh doanh của chúng tôi phụ thuộc vào PET. Nếu việc sử dụng chai PET giảm hoặc trỏ nên lỗi thời, chúng tôi sẽ mất nguồn cung.

    Chiến lược tiềm năng cho tăng trưởng

    Vì đó là bước đầu tiên của doanh thu. Họ phải bảo đảm kinh phí trước khi bắt đầu xây dựng và họ phải hoàn thành xây dựng trước khi họ có thể bắt đầu các hoạt động tái chế tạo doanh thu và sản xuất vật liệu đóng gói là điều cốt yếu.

    May mắn thay, họ đã viết kế hoạch kinh doanh của mình, thường được yêu cầu bởi các nhà cho vay và nhà đầu tư tiềm năng.

    Thuê để tăng trưởng . Tái chế nhựa có thể muốn xem xét thêm một nhóm nghiên cứu và phát triển, để điều tra các khả năng sản phẩm mới và giữ cho hoạt động của công ty được chuẩn bị tốt cho bất kỳ thay đổi nào trong các quy định môi trường của tiểu bang hoặc liên bang.

    Phân tích ví dụ SWOT: Novoculi

    Các kỹ thuật khúc xạ hiện nay như LASIK, đòi hỏi phải phá hủy một phần của lớp biểu mô bảo vệ qua giác mạc của mắt và kèm theo các biến chứng do mất khả năng bảo vệ này.

    Phân tích SWOT cho Novoculi

    S – Strength : Điểm mạnh

    W – Weaknesses : Điểm yếu

    O – Opportunities : Lợi thế

    T – Threats : Đe dọa

    Chiến lược tiềm năng cho tăng trưởng

    Tiếp cận vốn khởi nghiệp . Novoculi cần điều tra các lựa chọn của mình để có được vốn .

    Mối quan hệ với các nhà phân phối . Một điểm yếu có thể ngăn cản các nhà đầu tư là sự thiếu quan hệ của Novoculi với cộng đồng phân phối thiết bị y tế.

    Một ý tưởng tuyệt vời không có giá trị gì nếu nó không thể được thực hiện tốt, và một chìa khóa để thực hiện, trong trường hợp này, là một kênh phân phối và bán hàng mạnh mẽ.

    Novoculi sẽ phải tìm ra cách xây dựng mối quan hệ với các nhà phân phối thiết bị y tế, cho dù điều đó có nghĩa là tham dự các hội nghị công nghiệp đắt tiền, thúc đẩy mối quan hệ nghiên cứu với các tổ chức như Đại học Stanford, hoặc phát triển các ưu đãi cho các nhà phân phối.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Ma Trận Swot Chi Tiết Cụ Thể
  • Hướng Dẫn Phân Tích Ma Trận Swot 2022
  • Phân Tích Mô Hình Swot Trong Kinh Doanh Trực Tuyến
  • Hướng Dẫn Phân Tích Swot Trong Kinh Doanh Hiệu Quả Nhất 2022
  • Swot Là Gì? Tìm Hiểu Về Mô Hình Swot Trong Kinh Doanh Online
  • Từ Láy – Từ Ghép Là Gì? Một Số Ví Dụ Minh Họa

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tập Nguyên Lý Kế Toán (Phần 2)
  • Phân Tích Cơ Cấu Tài Sản Và Nguồn Vốn Của Doanh Nghiệp
  • Đánh Giá Tài Sản Và Nguồn Vốn Trong Bảng Cân Đối Kế Toán
  • Phân Biệt Thông Dịch Và Biên Dịch
  • Cách Phân Biệt Tiền Giả 500 Nghìn Trong “Nháy Mắt”
  • Định nghĩa từ ghép và từ láy

    Từ ghép là gì?

    Khái niệm: Từ ghép là từ phức tạo ra bằng cách ghép các tiếng có quan hệ về nghĩa với nhau.

    Từ ghép được chia làm 2 loại đó là từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập.

    Ví dụ: bàn ghế, sách vở, thầy cô, ông nội, ba mẹ, bà ngoại…

    Phân loại từ ghép

    + Từ ghép chính phụ: trong từ ghép được chia làm từ chính và từ phụ, từ phụ có nhiệm vụ giúp bổ sung nghĩa cho từ chính. Thông thường từ chính sẽ được trước còn từ phụ đi theo sau bổ nghĩa cho từ chính, nghĩa của từ ghép chính phụ thường hẹp.

    Ví dụ:

    – Xe máy: Xe là tiếng chính còn “đạp” là tiếng phụ

    – Bút máy: Bút là tiếng chính còn “máy” là tiếng phụ

    – Vàng hoe: vàng là tiếng chính còn hoe là tiếng phụ

    – Ông ngoại: Ông là tiếng chính còn ngoại là tiếng phụ

    + Từ ghép đẳng lập sẽ không có phân biệt từ nào chính từ nào phụ. Thông thường nghĩa của từ ghép đẳng lập rộng hơn so với các từ đơn lẻ.

    Ví dụ:

    – Quần áo: hai tiếng đều bình đẳng nhau về nghĩa

    – Nhà cửa

    -Sách vở

    -Vợ chồng

    Công dụng:

    – Sử dụng các từ ghép giúp cho người viết, người nói diễn đạt ý nghĩa các từ ngữ cần được sử dụng trong câu văn và lời nói của mình.

    -Giúp cho người đọc, người nghe hiểu rõ ý nghĩa mà người viết, người đọc diễn đạt một cách chính xác mà không cần suy đoán.

    Ví dụ về từ ghép

    – Từ ghép chính phụ: đỏ lòe, xanh um, mát mẻ, tàu hoả, sân bay,…

    – Từ ghép đẳng lập: quần áo, bàn ghế, nhà cửa, cỏ cây, ông bà,…

    Từ láy là gì?

    – Là từ được tạo thành bởi các tiếng giồng nhau về vần, thường từ trước là tiếng gốc và từ sau sẽ láy âm hoặc vần của tiếng gốc.

    – Các tiếng đó có thể là một tiếng hoặc cả hai tiếng đều không có nghĩa nhưng khi ghép lại tạo thành một từ có nghĩa.

     

    Phân loại từ láy

    Phân loại thành 2 dạng dựa trên cấu trúc trùng lặp và các bộ phận được lặp:

    – Từ láy bộ phận: các tiếng sẽ có sự giống nhau về vần, phụ âm đầu.

    + Từ láy vần: Các vần được láy với nhau

    Ví dụ:

    • Tím lịm: láy vần “im”
    • Liêu xiêu: láy vần “iêu”
    • Tào lao: láy vần “ao”

    + Láy âm tiết đầu: âm tiết đầu tiên của hai từ được láy với nhau

    Ví dụ:

    • Long lanh: láy âm đầu là “l”
    • Thoang thoảng: láy âm đầu là “th”
    • Mênh mang, mênh mông: láy âm đầu là “m”

    – Từ láy toàn bộ: tiếng sẽ được lặp lại toàn bộ, tuy nhiên cũng có sự thay đổi thanh điệu, phụ âm cuối để mang lại sự hài hòa âm thanh khi nói hoặc viết.

    Ví dụ:

    • Trăng trắng, long lỏng, đu đủ, mơn mởn, đo đỏ, hồng hồng…: láy toàn bộ có thay đổi thanh sắc cuối để hài hòa hơn.
    • Xa xa, xanh xanh, hồng hồng, rưng rưng…: láy toàn bộ để tạo cảm giác mạnh hơn.

    Công dụng:

    Từ láy được sử dụng để tạo âm điệu và sắc thái biểu cảm cho từ ngữ, ngoài ra còn biểu đạt tâm trạng, cảm xúc của người nói, người viết.

    Đặc biệt trong thơ ca và văn chương, từ láy được sử dụng như một biện pháp nghệ thuật để đạt được ý đồ của tác giả một cách chính xác nhất.

    Ví dụ:

    • Cô bé có gương mặt bầu bĩnh đáng yêu: từ láy “bầu bĩnh” dùng để miêu tả khuôn mặt cô gái thể hiện sự yêu thích
    • Bầu trời trong xanh với những đám mây lững lờ trôi: từ láy “lững lờ” thể hiện khung cảnh thanh bình yên ả

    Ví dụ về từ láy

    – Từ láy bộ phận: lao xao, rung rinh, lảo đảo, nhấp nháy…

    – Từ láy toàn bộ: khăng khăng, xa xa, xanh xanh,…trường hợp đặc biệt thay đổi thanh điệu, phụ âm cuối ví dụ như: dửng dưng, thoang thoảng, thăm thẳm….

    Cách phân biệt từ láy và từ ghép

    Trong một số trường hợp, từ ghép bị chuyển hóa thành từ láy âm. Vậy cách nào để phân biệt chính xác hai từ loại này? Thông thường có 3 cách để phân biệt:

    – Cách 1: Phân biệt từ láy âm là từ ghép nghĩa: Nếu từ láy âm mà một trong hai từ thuộc từ Hán Việt thì từ đó là từ ghép

    – Cách 2: Một số từ ghép thuần việt gồm hai âm tiết khác nhau thì không thể là từ láy.

    – Cách 3: Phân biệt qua cách đảo từ: hai từ có thể đảo cho nhau và có nghĩa thì đó là từ ghép.

    Thuật Ngữ –

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Từ Láy – Từ Ghép: Một Số Trường Hợp Cần Lưu Ý
  • Tài Liệu Phân Biệt Từ Đơn
  • Từ Láy Là Gì? Các Dạng Từ Láy Khác Nhau Và Ví Dụ Minh Họa
  • 7 Điểm Để Phân Biệt Son Mac Thật Giả – Dễ Như Ăn Ớt
  • 7 Cách Nhận Biết Son Mac Thật Giả Nhái Kém Chất Lượng Đầy Đủ Nhất
  • Ví Dụ Về Phương Pháp Định Giá Đất So Sánh Trực Tiếp

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Đất Và Phương Pháp Xác Định Giá Đất
  • Điểm Danh 5 Phương Pháp Định Giá Đất Bất Động Sản
  • Phương Pháp Thẩm Định Giá Bất Động Sản
  • Các Phương Pháp Thẩm Định Giá Bất Động Sản Hiện Hành
  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Thực Vật
  • Một ví dụ về phương pháp so sánh trực tiếp được trích từ Phụ lục 1 của Thông tư 36/2014/TT-BTNMT

    Nội dung ví dụ:

    Thửa đất cần định giá là thửa đất ở tại đô thị loại IV, giáp mặt đường Nguyễn Văn A, gần chợ, trường học, bệnh viện, tập trung đông dân cư, có diện tích 100m2 (kí hiệu là thửa đất A), đường nhựa, mặt cắt (bao gồm cả vỉa hè) 15m. Việc xác định giá của thửa đất A theo phương pháp so sánh trực tiếp thực hiện như sau:

    Thời điểm xác định giá đất: tháng 6 năm 2014.

    Khảo sát thị trường, thu thập được thông tin về giá đất của 03 thửa đất ở (kí hiệu là thửa đất B, C và D) tại cùng đô thị trên đã chuyển nhượng thành công trong khoảng thời gian 2 năm đến thời điểm xác định giá, có đặc điểm tương tự với thửa đất A. Giả sử trong thời gian từ tháng 3 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014, giá đất ở phổ biến trên thị trường tại đô thị loại IV không có biến động.

    Tiến hành thu thập các thông tin của 03 thửa đất so sánh B, C, D:

    Khảo sát thị trường, thu thập được các thông tin:

    – Thửa đất tiếp giáp mặt đường Nguyễn Văn A hơn thửa đất tiếp giáp mặt đường Nguyễn Văn B là 4%; hơn thửa đất tiếp giáp mặt đường Nguyễn Văn C là 2%.

    – Thửa đất tiếp giáp với đường có mặt cắt rộng 15m hơn thửa đất tiếp giáp với đường có mặt cắt rộng 10m là 5%; kém hơn thửa đất tiếp giáp với 2 đường có mặt cắt rộng 15m và 6m là 10%.

    – Thửa đất có kích thước mặt tiền 10m hơn thửa đất có mặt tiền 7m là 5%, hơn thửa đất có mặt tiền 6m là 6%.

    – Thửa đất có chiều sâu 10m hơn thửa đất có chiều sâu 15m là 2%.

    – Thửa đất thuộc khu vực cấp nước sạch tốt hơn thửa đất thuộc khu vực cấp nước sạch kém ổn định là 2%.

    1. Phân tích, so sánh, điều chỉnh mức giá do các yếu tố khác biệt của các thửa đất so sánh với thửa đất cần định giá
    2. a) Phân tích, so sánh để lựa chọn các yếu tố giống nhau và khác biệt giữa các thửa đất so sánh với thửa đất cần định giá.

    Kết quả phân tích cho thấy thửa đất cần định giá và 03 thửa đất so sánh có 03 yếu tố giống nhau (mục đích sử dụng, không có tài sản gắn liền với đất, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), 05 yếu tố khác biệt (vị trí; giao thông; diện tích, kích thước; các yếu tố hạ tầng khác).

      b) Điều chỉnh mức giá do các yếu tố khác biệt của các thửa đất so sánh với thửa đất cần định giá.

    – Điều chỉnh mức giá do yếu tố khác biệt về vị trí: thửa đất A bằng thửa đất D (tiếp giáp mặt đường Nguyễn Văn A), hơn thửa đất B (tiếp giáp mặt đường Nguyễn Văn B) là 4%, hơn thửa đất C (tiếp giáp mặt đường Nguyễn Văn C) là 2%.

    Giá đất của thửa đất cần định giá A và thửa đất D là 100% thì giá đất của thửa đất B là 96%, giá đất của thửa đất C là 98%.

    Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất B là:

    Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất C là:

    – Điều chỉnh mức giá do yếu t khác biệt về giao thông: thửa đất A bằng thửa đất C (cùng tiếp giáp với đường có mặt cắt rộng 15m), hơn thửa đất B (tiếp giáp với đường có mặt cắt rộng 10m) là 5%, kém hơn thửa đất D (tiếp giáp với 2 đường có mặt cắt rộng 15m và 6m) là 10%.

    Giá đất của thửa đất cần định giá A và thửa đất C là 100% thì giá đất của thửa đất B là 95%, giá đất của thửa đất D là 110%.

    Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất B là:

    Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất D là:

    Điều chnh mức giá do yếu tố khác biệt về diện tích, kích thước: thửa đất A bằng thửa đất B (cùng có kích thước mặt tiền 10m), hơn thửa đất C (có kích thước mặt tiền 7m) là 5%, hơn thửa đất D (có kích thước mặt tiền 6m) là 6%.

    Thửa đất A và thửa đất C (có chiều sâu 10m) hơn thửa đất B và thửa đất D (có chiều sâu 15m) là 2%.

    Giá đất của thửa đất cần định giá A là 100% thì giá đất của thửa đất B là 98%, giá đất của thửa đất C là 95%, giá đất của thửa đất D là 92%.

    Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất B là:

    Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất C là:

    Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất D là:

    – Điều chỉnh mức giá do yếu tố khác biệt về hạ tầng khác:

    Cấp nước sạch: thửa đất A bằng thửa đất D (thuộc khu vực cấp nước tốt) hơn thửa đất B và thửa đất C (thuộc khu vực cấp nước kém ổn định) là 2%.

    Giá đất của thửa đất cần định giá A và thửa đất D là 100% thì giá đất của thửa đất B và thửa đất C là 98%.

    Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất B và thửa đất C là:

    Tỷ lệ chênh lệch giữa giá đất của thửa đất cần định giá A với giá đất ước tính theo thửa đất so sánh B là:

    Tương tự có tỷ lệ chênh lệch giữa giá đất của thửa đất cần định giá A với giá đất ước tính theo thửa đất C và thửa đất D lần lượt là -1,97% và 1,27%.

    Do đó, giá đất của thửa đất cần định giá A bảo đảm chênh lệch với các giá đất ước tính không quá 10%.

    Kết luận: Giá đất của thửa đất cần định giá A là 34,30 triệu đồng/m 2

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Và Lựa Chọn Đối Tượng So Sánh Độc Lập
  • Phương Pháp So Sánh Giá Giao Dịch Độc Lập
  • Kỹ Thuật Định Giá Doanh Nghiệp Nhanh Bằng P/e Và Ev/ebitda
  • P/e Là Gì? Tìm Hiểu P/e Từ A Đến Z
  • Thẩm Định Giá Doanh Nghiệp Theo Phương Pháp So Sánh Dựa Vào Tỷ Số P/b
  • Một Số Biện Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Dạy Học Nhằm Phát Huy Tính Tích Cực, Chủ Động, Sáng Tạo Của Học Sinh Thcs Trong Việc Học Phân Môn Vẽ Tranh
  • Phương Pháp Dạy Học Theo Nhóm
  • Gợi Ý Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Phổ Biến
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Ở Tiểu Học
  • Phương Pháp Dạy Học Kể Chuyện Học Sinh Tiểu Học
  • Các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập luôn là những phương pháp quan trọng trong dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, chẳng hạn như kỹ thuật mở bài, kỹ thuật trình bày, giải thích trong khi thuyết trình, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập. Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, đặc biệt là những phương pháp và kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh. Chẳng hạn có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề.

    Không có một phương pháp dạy học toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu và nội dung dạy học. Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những ưu, nhựơc điểm và giới hạn sử dụng riêng. Vì vậy việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học. Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạy học cá thể là những hình thức xã hội của dạy học cần kết hợp với nhau, mỗi một hình thức có những chức năng riêng. Tình trạng độc tôn của dạy học toàn lớp và sự lạm dụng phương pháp thuyết trình cần được khắc phục, đặc biệt thông qua làm việc nhóm.

    Trong thực tiễn dạy học ở trường trung học hiện nay, nhiều giáo viên đã cải tiến bài lên lớp theo hướng kết hợp thuyết trình của giáo viên với hình thức làm việc nhóm, góp phần tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh. Tuy nhiên hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới hạn ở việc giải quyết các nhiệm vụ học tập nhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà còn có những hình thức làm việc nhóm giải quyết những nhiệm vụ phức hợp, có thể chiếm một hoặc nhiều tiết học, sử dụng những phương pháp chuyên biệt như phương pháp đóng vai, nghiên cứu trường hợp, dự án. Mặt khác, việc bổ sung dạy học toàn lớp bằng làm việc nhóm xen kẽ trong một tiết học mới chỉ cho thấy rõ việc tích cực hoá “bên ngoài” của học sinh. Muốn đảm bảo việc tích cực hoá “bên trong” cần chú ý đến mặt bên trong của phương pháp dạy học, vận dụng dạy học giải quyết vấn đề và các phương pháp dạy học tích cực khác.

    Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải quyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề. Học được đặt trong một tình huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức. Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của học sinh.

    Các tình huống có vấn đề là những tình huống khoa học chuyên môn, cũng có thể là những tình huống gắn với thực tiễn. Trong thực tiễn dạy học hiện nay, dạy học giải quyết vấn đề thường chú ý đến những vấn đề khoa học chuyên môn mà ít chú ý hơn đến các vấn đề gắn với thực tiễn. Tuy nhiên nếu chỉ chú trọng việc giải quyết các vấn đề nhận thức trong khoa học chuyên môn thì học sinh vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình huống thực tiễn. Vì vậy bên cạnh dạy học giải quyết vấn đề, lý luận dạy học còn xây dựng quan điểm dạy học theo tình huống.

    Phương pháp nghiên cứu trường hợp là một phương pháp dạy học điển hình của dạy học theo tình huống, trong đó học sinh tự lực giải quyết một tình huống điển hình, gắn với thực tiễn thông qua làm việc nhóm.

    Vận dụng dạy học theo các tình huống gắn với thực tiễn là con đường quan trọng để gắn việc đào tạo trong nhà trường với thực tiễn đời sống, góp phần khắc phục tình trạng giáo dục hàn lâm, xa rời thực tiễn hiện nay của nhà trường phổ thông.

    Tuy nhiên, nếu các tình huống được đưa vào dạy học là những tình huống mô phỏng lại, thì chưa phải tình huống thực. Nếu chỉ giải quyết các vấn đề trong phòng học lý thuyết thì học sinh cũng chưa có hoạt động thực tiễn thực sự, chưa có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành.

    Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt động trí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau. Trong quá trình học tập, học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm hành động, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động tay chân. Đây là một quan điểm dạy học tích cực hoá và tiếp cận toàn thể. Vận dụng dạy học định hướng hành động có ý nghĩa quan trong cho việc thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội.

    Dạy học theo dự án là một hình thức điển hình của dạy học định hướng hành động, trong đó học sinh tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với các vấn đề thực tiễn, kết hợp lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể công bố. Trong dạy học theo dự án có thể vận dụng nhiều lý thuyết và quan điểm dạy học hiện đại như lý thuyết kiến tạo, dạy học định hướng học sinh, dạy học hợp tác, dạy học tích hợp, dạy học khám phá, sáng tạo, dạy học theo tình huống và dạy học định hướng hành động.

    Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học. Việc sử dụng các phương tiện dạy học cần phù hợp với mối quan hệ giữa phương tiện dạy học và phương pháp dạy học. Hiện nay, việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông từng bước được tăng cường. Tuy nhiên các phương tiện dạy học tự làm của giáo viên luôn có ý nghĩa quan trọng, cần được phát huy.

    Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện dạy học trong dạy học hiện đại. Đa phương tiện và công nghệ thông tin có nhiều khả năng ứng dụng trong dạy học. Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng như các phương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử (E-Learning). Phương tiện dạy học mới cũng hỗ trợ việc tìm ra và sử dụng các phương pháp dạy học mới. Webquest là một ví dụ về phương pháp dạy học mới với phương tiện mới là dạy học sử dụng mạng điện tử, trong đó học sinh khám phá tri thức trên mạng một cách có định hướng.

    Kỹ thuật dạy học là những cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học. Có những kỹ thuật dạy học chung, có những kỹ thuật đặc thù của từng phương pháp dạy học, ví dụ kỹ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại. Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như “động não”, “tia chớp”, “bể cá”, XYZ, Bản đồ tư duy…

    Phương pháp dạy học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học. Vì vậy bên cạnh những phương pháp chung có thể sử dụng cho nhiều bộ môn khác nhau thì việc sử dụng các phương pháp dạy học đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn. Các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn được xây dựng trên cơ sở lý luận dạy học bộ môn. Ví dụ:

    • thí nghiệm là một phương pháp dạy học đặc thù quan trọng của các môn khoa học tự nhiên;
    • các phương pháp dạy học như trình diễn vật phẩm kỹ thuật, làm mẫu thao tác, phân tích sản phẩm kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật, lắp ráp mô hình, các dự án là những phương pháp chủ lực trong dạy học kỹ thuật;
    • phương pháp “Bàn tay nặn bột” đem lại hiệu quả cao trong việc dạy học các môn khoa học;…

    Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hoá, phát huy tính sáng tạo của học sinh. Có những phương pháp nhận thức chung như phương pháp thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, phương pháp tổ chức làm việc, phương pháp làm việc nhóm, có những phương pháp học tập chuyên biệt của từng bộ môn. Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập cho học sinh các phương pháp học tập chung và các phương pháp học tập trong bộ môn.

    Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan. Mỗi giáo viên với kinh nghiệm riêng của mình cần xác định những phương hướng riêng để cải tiến phương pháp dạy học và kinh nghiệm của cá nhân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn: Phương Pháp Dạy Học Trong Dạy Học Hóa Học Lớp 10
  • Phương Pháp Dạy Học Hóa Học 2
  • 5 Phương Pháp Dạy Học Hiệu Quả Được Nhiều Giáo Viên Áp Dụng
  • Mot So Pp Day Hoc Hien Dai
  • So Sánh Các Phương Pháp Dạy Học Truyền Thống Và Hiện Đại
  • Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức, Từ Đó Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Từ Quan Điểm Duy Vật Biện Chứng Về Vật Chất, Ý Thức, Mối Quan Hệ Giữa Vật Chất Và Ý Thức Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Cơ Bản?
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10 Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng ( Tiết 1)
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật…
  • Giải Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • 1. Khái lược về phép biện chứng và phép biện chứng duy vật

    Thuật ngữ biện chứng (Dialektika) theo tiếng Hy Lạp cổ đại có nghĩa gốc là nghệ thuật tranh luận. Nói cách khác người Hy Lạp cổ đại hiểu phép biện chứng là nghệ thuật phát hiện ra mâu thuẫn trong lập luận của đối phương để bắt đối phương phải chấp nhận lập luận của mình. Theo quan niệm của người Hy Lạp cổ đại, đã là tri thức đúng, đã là chân lý thì không thể có mâu thuẫn. Nấu trong lập luận có mâu thuẫn thì không phải là chân lý. Do vậy quá trình giải quyết mâu thuẫn thông qua tranh luận chính là quá trình nhận thức vận động đến chân lý. Quan niệm này về sau đã được mở rộng thêm đem lại cho phép biện chứng một ý nghĩa mới, đó là sự nhận thức đối tượng trong những tính quy định đối lập nhau, hay sự phát hiện ra tính thống nhất của các mặt đôi lập – một phương pháp vận động của tư duy để đi đến chân lý.

    Sở dĩ nghệ thuật tranh luận ở thời kỳ cổ đại được gọi là phép biện chứng vì ở thời kỳ đó trình độ sản xuất và khoa học còn rất thấp kém, người ta chưa có điều kiện, phương tiện tiến hành thí nghiệm, thực nghiệm để kiểm tra chân lý, mà chỉ có thể kiểm nghiệm chân lý qua tranh luận. Cũng vì thế mà ở Hy Lạp cổ đại khả năng tranh luận được coi là một năng lực cần thiết, không thể thiếu được của nhà triết học, một khoa học để phát triển nhận thức của mình. Mỗi nhà triết học Hy Lạp cổ đại thường là một nhà hùng biện, một nhà diễn thuyết tài năng. Neu thiếu khả năng tranh luận thì khó có thể trở thành nhà triết học được. Vì những lẽ đó người Hy Lạp cổ đại coi nghệ thuật tranh luận là phép biện chứng, hay nói khác đi phép biện chứng là nghệ thuật tranh luận để tìm ra chân lý.

    Hêraclit (540 – 475 TCN) là người nêu ra tư tưởng biện chứng sớm nhất ở Hy Lạp thời kỳ cổ đại. ông có quan niệm khá rõ về vận động và phát triển. Nhưng người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “phép biện chứng” theo nghĩa nghệ thuật tranh luận lại là Xôcrát (469 – 399 TCN). Ồng cũng là một nhà triết học của Hy Lạp cổ đại. về sau Platôn, học trò của Xôcrát coi phép biện chứng là nghệ thuật đối thoại dưới hình thức hỏi – đáp để phân biệt và liên kết các khái niệm nhằm đạt đến định nghĩa đúng đắn các khái niệm đó.

    Cùng với sự phát triển của nhận thức và thực tiễn, thuật ngữ phép biện chứng ngày càng được bổ sung nhiều nội dung mới. Đến thế kỷ XVIII, phép biện chứng đã được các nhà triết học cổ điển Đức tiêu biểu như: Kantơ, Phichtơ, Selinh và đặc biệt là Hêghen phát triển thành học thuyết về sự phát triển. Hêghen (1770 – 1834) – một nhà triết học duy tâm khách quan vĩ đại của Đức đã phát triển một cách toàn diện phép biện chứng. Ông đã nghiên cứu lịch sử phát triển triết học thế giới từ cổ đại đến thế kỷ XVIII, phê phán các quan điểm siêu hình và kế thừa những tư tưởng biện chứng trong lịch sử, xây dựng phép biện chứng thành học thuyết về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc và toàn diện nhẩt. Trong phép biện chứng của Hêghen đã có một hệ thống hoàn chỉnh những phạm trù, quy luật của phép biện chứng, phản ánh khái quát toàn diện quá trình vận động phát triển của thế giới. Nhưng vỉ thế giới quan của Hêghen là duy tâm, tức là ông không thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập với tư duy, ý thức, mà trái lại ông cho rằng chính tư duy, ý thức tự vận động là nguyên nhân sinh ra thế giới vật chất; các phạm trù, khái niệm nói về các sự vật được hình thành trong lĩnh vực tư duy thuần túy, có đời sống riêng, tồn tại trước khi các sự vật trong hiện thực khách quan tồn tại. Giới tự nhiên và lịch sử chỉ là tồn tại khác của tư duy, ý thức, chỉ là một giai đoạn phát triển của tư duy, ý thức. Do vậy phép biện chứng của Hêghen thực chất mới chỉ là phép biện chứng của quá trình vận động phát triển của tinh thần, của ý niệm (theo nhận xét của c. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin), chưa phải là phép biện chứng của chính quá trình vận động của tự nhiên và xã hội. Và cũng vì vậy phép biện chứng này, mặc dù nó đã nắm được những mối liên hệ cơ bản của thế giới (Lênin cho là Hêghen đã đoán được những mối liên hệ của thế giới), nhưng còn nhiều hạn chế, về cơ bản còn có tính chất gò ép, thần bí cần phải khắc phục.

    Mác và Ph. Ảngghen sau đó là V.I. Lênin đã kế thừa và phát triển một cách sáng tạo những giá trị của lịch sử triết học của nhân loại, đặc biệt là phép biện chứng – “hạt nhân họp lý” trong triết học của Hêghen, cải tạo một cách duy vật phép biện chứng duy tâm của Hêghen, làm cho nó trở thành phép biện chứng duy vật, thực sự là một học thuyết khoa học về những quy luật chung nhất, phổ biến nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng theo đúng nghĩa hiện đại của nó.

    Phép biện chứng nghiên cứu các sự vật, hiện tượng trong sự liên hệ tác động qua lại lẫn nhau và trong sự vận động, phát triển. Lênin còn căn cứ vào những yếu tố đặc trưng của phép biện chứng để định nghĩa phép biện chứng, ông viết:

    “1) Định nghĩa của khái niệm từ bản thân khái niệm [bản thân sự vật phải được xem xét trong những quan hệ của nó và trong sự phát triển của nó];

    2) tính mâu thuẫn trong bản thân sự vật (cái khác của bản thân nó), những lực lượng và những khuynh hướng mâu thuẫn trong mọi hiện tượng;

    3) sự kết hợp phân tích và tổng hơp.

    Xem chừng, đó là những yếu tố của phép biện chứng”;.

    Lênin còn trình bày các yếu tố cơ bản trên thành 16 yếu tố cụ thể và sau đó ông viết: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm”.

    Phép biện chứng đối lập với phép siêu hình.

    Phép siêu hình hiện nay được hiểu là phương pháp xem xét các sự vật trong trạng thái đứng im và tách rời khỏi mối liên hệ chung với các sự vật và hiện tượng khác, nhưng thuật ngữ phép siêu hình có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp ở thời kỳ cổ đại. Theo nghĩa gốc của tiếng Hy Lạp cổ đại, siêu hình (mêtaphizika – cái phía sau vật lý) là một môn triết học, nghiên cứu những hiện tượng siêu cảm giác, những cái thuộc về bản chất, đằng sau cái vật lý. Đến thế kỷ IV – III TCN người Hy Lạp đã tách riêng các hiện tượng tâm lý, cảm giác ra khỏi cái vật lý để nghiên cứu. Arixtốt quan niệm vật lý học nghiên cứu những vật thể hữu hình (có hình dạng, thể tích và có sức nặng) có thể cảm nhận được bằng cảm giác. Còn triết học nghiên cứu những hiện tượng mà con người không thể cảm nhận được bằng cảm giác mà phải bằng tư duy trừu tượng, đó là những hiện tượng “sau vật lý”, tức là những cái thuộc về bản chất của sự vật, những hiện tượng thuộc về tinh thần, ý thức. Vì vậy về sau, Ăng-đrô-nhich Rô-đô-xki (thế kỷ I TCN) đã gọi những tác phẩm triết học của Arixtốt chỉ nghiên cứu nhũng hiện tượng siêu cảm giác là siêu hình học. Quan niệm coi siêu hình học là triết học còn khá phổ biến trong các nhà khoa học thế kỷ XVII – XVIII. Tuy nhiên về sau trong quan niệm của các nhà triết học cận đại và hiện đại, như quan niệm của Hêghen, nhất là của Mác và Ảngghen, siêu hình được hiểu là một phương pháp nhận thức, phương pháp tư duy đối lập với phương pháp biện chứng. Nếu phương pháp biện chúng xem xét các sự vật trong sự liên hệ, tác động qua lại nhau và trong sự vận động phát triển thì phương pháp siêu hình xem xét các sự vật trong sự tách rời nhau một cách hoàn toàn và không có sự vận động phát triển. Phép siêu hình không thừa nhận một sự vật vừa tồn tại vừa không tồn tại, vừa là bản thân nó, vừa là một sự vật khác. Đối với phép siêu hình, “một sự vật hoặc là tồn tại, hoặc là không tồn tại”, “cái khắng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẫn nhau; nguyên nhân và kết quả cũng đối lập hẳn với nhau”.

    Tuy đối lập với phép biện chứng nhưng phép siêu hình cũng có ý nghĩa tích cực nhất định của nó trong lịch sử. Do đi sâu nghiên cứu từng sự vật, hiện tượng riêng lẻ, nên trong lịch sử đã có thời kỳ phép siêu hình đóng vai trò quan trọng trong việc tích luỹ kiến thức, đem lại cho loài người nhiều tri thức mới, nhiều hiểu biết về thế giới hơn so với phép biện chứng cổ đại. Vì thế phép siêu hình đã đẩy lùi được phép biện chứng tự phát, đã trở thành một phương pháp nhận thức chủ yếu (chiếm ưu thế) ở thế kỷ XVII – XVIII so với phép biện chứng tự phát.

    Đến cuối thế kỷ XVIII, phép siêu hình lâm vào tình trạng khủng hoảng, không còn phù họp với tình hình phát triển khá mới mẻ và ở trình độ cao của khoa học tự nhiên lúc này. Phép siêu hình lchông cho phép khái quát được những quy luật vận động, phát triển chung của thế giới. Các khoa học cụ thể vẫn tồn tại tách rời nhau, cô lập nhau, chưa tìm thấy mối liên hệ thực sự giữa chúng. Các học thuyết giải thích về thế giới đều trở thành những học thuyết giáo điều. Đây là một trở ngại cho sự phát triển của nhận thức khoa học. Trở ngại này đã được phép biện chứng duy tâm Đức khắc phục, đẩy lùi được phép siêu hình một bước quan trọng. Hêghen là người đã đối lập phép biện chứng với phép siêu hình và phê phán quyết liệt phép siêu hình, chỉ ra những hạn chế khuyết điểm của nó, đồng thời ông đã khái quát được hệ thống phạm trù, quy luật của phép biện chứng. Tuy nhiên phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm, bản thân nó còn nhiều hạn chế, do vậy, sự phê phán đối với phép siêu hình cũng chưa triệt để. Chỉ đến khi phép biện chứng duy vật ra đời, khắc phục những hạn chế của phép biện chứng duy tâm của Hê-ghen, mới phê phán một cách triệt để phép siêu hình.

    Hiện nay theo quan điếm macxit, phép siêu hình là một phương pháp nhận thức không khoa học, nó xem xét sự vật một cách phiến diện, một chiều, đối lập với phép biện chứng duy vật. Với sự phát triển của nhận thức khoa học yà thực tiễn xã hội hiện nay, chỉ có phép biện chứng duy vật mới là công cụ thích hợp để nhận thức và cải tạo thế giới. Ngay từ những năm 70 của thế kỷ XIX, khi đánh giá vai trò của phép biện chứng đối với sự phát triển của khoa học tự nhiên, Ph. Ăngghen đã viết: “Một quan niệm đúng đắn về vũ trụ, về sự phát triển của vũ trụ và sự phát triển của loài người, cũng như về sự phản ánh của sự phát triển ấy vào trong đầu óc con người chỉ có thể có được bằng con đường biện chứng, với sự chú ý thường xuyên đến những tác động qua lại phổ biến giữa sự phát sinh và sự tiêu vong, giữa sự biến đổi tiến bộ và sự biến đổi thụt lùi”.

    Sự đối lập giữa phép biện chứng và phép siêu hình thể hiện trên các mặt sau:

    Phép siêu hình cho rằng các sự vật là hoàn toàn đồng nhất, không có khác biệt, không có mâu thuẫn, trái lại phép biện chúng cho rằng sự vật, hiện tượng nào cũng bao gồm những khác biệt, bao gồm những mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng.

    Phép siêu hình cho rằng các sự vật hoàn toàn tách rời nhau, các sự vật đơn giản chỉ nằm cạnh nhau, không có liên hệ với nhau, hoặc nếu có liên hệ thì liên hệ đó chỉ là bề ngoài và có tính chất ngẫu nhiên; trái lại phép biện chứng cho rằng các sự vật hiện tượng trong thế giới có liên hệ với nhau, phụ thuộc, quy định và chuyển hoá lẫn nhau, không có sự vật nào tồn tại trong sự biệt lập. Các sự vật không phải chỉ đơn giản nằm cạnh nhau.

    Phép siêu hình chỉ thừa nhận hình thức vận động cơ học, nguyên nhân của sự vận động là do lực tác động từ bên ngoài, do sự xung đột của những lực lượng đổi lập ở bên ngoài sự vật quyết định. Trái lại phép biện chứng cho vận động là sự biến đổi nói chung của các sự vật, vận động cơ học chỉ là một trong những hình thức vận động của sự vật. Vận động là sự tự vận động của vật chất. Nguyên nhân của sự vận động là do sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hoặc sự tác động giữa sự vật này với sự vật khác quyết định. Vận động là phương thức tồn tại của vật chất, gắn liền với vật chất, không có vận động thuần tuý bên ngoài vật chất.

    Phép siêu hình phủ nhận sự phát triển, hoặc họ cho rằng phát triển chỉ là sự tăng, giảm đơn thuần về lượng, không có sự thay đổi về chất, nghĩa là không có sự ra đời cái mới về chất so với cái cũ. Trái lại phép biện chứng cho rằng phát triển là sự vận động theo xu hướng tiến bộ. Đây là quá trình tự phát triển của sự vật. Quá trình này rất phức tạp, diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, bao hàm cả sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất, là quá trình cái mới về chất ra đời thay thế cho cái cũ.

    Phép siêu hình cho rằng trong sự vận động của sự vật, không có tính định hướng, do vậy không có cái mới, cái tiến bộ thay thế cho cái cũ, cái lạc hậu. Vì vậy khi xem xét thế giới, quan điểm siêu hình cho rằng các loài động vật, thực vật từ xưa đến nay đều vẫn như vậy. số lượng các chủng loại không có gì thay đổi chỉ có số lượng cá thể trong từng loài là tăng lên hoặc giảm đi thôi. Trái lại phép biện chứng cho rằng trong sự vận động, phát triển của sự vật, sẽ xác định một xu hướng vận động, tiến từ thấp đến cao. Chẳng hạn quá trình tiến hoá của các loài động vật, thực vật chính là một xu hướng tiến bộ của các loài động vật, thực vật thông qua quá ừình vận động biến đổi của thế giới sinh vật.

    1.2. Các hình thức lịch sử của phép biện chứng

    Những tài liệu lịch sử triết học cho thấy ngay từ thế kỷ thứ VI và V trước công nguyên, trong nền văn hoá cổ đại ở Ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp đã xuất hiện tư tưởng biện chứng. Những nhà tư tưởng ở Hy Lạp cổ đại đã phát triển phép biện chứng cổ đại lên đỉnh cao. Chính thuật ngữ “phép biện chứng” đã được sáng tạo ra trong nền văn hoá Hy Lạp cổ đại. Từ khi ra đời đến nay trải qua hơn 2500 năm, phép biện chứng đã được phát triển, bổ sung nhiều nội dung mới và đã tồn tại dưới những hình thức khác nhau trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, trong đó có ba hình thức lịch sử chủ yếu sau:

    Phép biện chứng tự phát, sơ khai ở thời kỳ cổ đại.

    Phép biện chứng duy tâm khách quan trong triết học của Hêghen.

    Phép biện chứng duy vật trong triết học Mác – Lênin.

    a) Phép biện chứng tự phát, sơ khai

    Phép biện chứng tự phát, sơ khai xuất hiện sớm trong triết học Ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp cổ đại.

    Trong thuyết Ngũ hành lại cho rằng sự tác động lẫn nhau của năm yếu tố: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ theo hướng tương sinh (cái này sinh cái kia, cái này tạo điều kiện cho cái kia phát triển) và tương khắc (cái này chế ngự, kìm hãm cái kia) làm cho các sự vật trong thế giới sinh – diệt, biến hoá không ngừng theo nhũng chu trình nhất định. Thuyết Ngũ hành còn đưa ra những tính năng khác cho 5 yếu tố vật chất ban đầu để giải thích các hiện tượng tự nhiên như: Ngũ sắc (Vàng – Trắng – Đen – Xanh – Đỏ); Bốn mùa (Điều hoà bốn mùa – Thu – Đông – Xuân – Hạ); Bốn phương (Ở giữa – Tây – Bắc – Đông – Nam) v.v. Quan niệm trên đã giải thích nhiều hiện tượng, quá trình trong tự nhiên một cách biện chứng, thấy được tính chất đa chiều của quá trình biến đổi của các sự vật (có tương sinh và có tương khắc), nhưng giải thích còn mộc mạc và đơn giản, trong đó các yếu tố là nguyên nhân của sự vận động còn mang tính chất cảm tính, tưởng tượng và gán ghép cho sự vật, mà chưa được chứng minh một cách khoa học.

    Trong triết học Hy Lạp cổ đại, tư tưởng biện chứng tự phát được thế hiện trong quan điểm về thế giới của các nhà triết học tiêu biểu như: Hêraclit, Xôcrát, Platôn, Arixtốt V.V., trong đó đặc sắc nhất là quan điểm của Hêraclit. ông coi thế giới luôn vận động biến đổi phát triển không ngừng. Không có cái gì tồn tại mãi, mọi vật đều trôi đi, không có cái gì xảy ra lần thứ hai mặc dù có sự kế thừa nhất định, cho nên ông nói: Không ai tắm hai lần trong cùng một dòng sông. Ảngghen cho rằng ở thời kỳ này “tư duy biện chứng xuất hiện với tính cách thuần phác, tự nhiên của nó” 7. Đây là phép biện chứng dựa trên sự cảm nhận trực tiếp của con người về thế giới xung quanh. Những kết luận rút ra từ sự cảm nhận trực tiếp đó chưa có căn cứ khoa học, mới chỉ là những yếu tố biện chứng mộc mạc, thô sơ, mới chỉ là những quan niệm biện chứng tự phát, ngây thơ, chưa phải là một hệ thống quan điểm lý luận chặt chẽ của phép biện chứng. Tính chất tự phát ngây thơ là đặc điểm chủ yếu của phép biện chứng cổ đại.

    Tính chất tự phát thể hiện ở chỗ các nhà triết học thời cổ đại chưa có chủ định nghiên cứu phép biện chứng, chưa lấy chính phép biện chứng, (tức sự biến đổi của thế giới) làm đối tượng nghiên cứu của mình, mà chủ yếu họ nghiên cứu sự tồn tại của tự nhiên nhằm xây dựng bức tranh chung về thế giới và chỉ ra được nguồn gốc của nó. Trong khi giải quyết nhiệm vụ đó thì nhân tiện họ nói đến phép biện chứng. Vì thế phép biện chứng cổ đại chỉ nêu lên được một số quan niệm biện chứng thô sơ, mộc mạc. Đó là những yếu tố biện chứng lẻ tẻ, rời rạc, có tính chất ẩn dụ, chưa thành một hệ thống hoàn chỉnh với những phạm trù, quy luật khái quát thống nhất với nhau. Do đó nó chưa đủ sức chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người và chưa có cơ sở khoa học để hướng dẫn việc nghiên cứu bản thân phép biện chứng một cách tự giác.

    Tính ngây thơ thể hiện ở chỗ những kết luận của nó thường được rút ra từ sự cảm nhận trực tiếp thế giới xung quanh con người cổ đại. Sự cảm nhận đó phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện và hoàn cảnh sống cụ thể của con người ở thời kỳ cổ đại. Chẳng hạn Ta-lét khi cảm nhận được vai trò quan trọng của nước đối với cuộc sống của con người và thế giới sinh vật, đã cho rằng nước là cơ sở đầu tiên của thế giới. Mọi cái đều được sinh ra từ nước và khi phân huỷ lại trở thành nước. Hê-ra-clít trong điều kiện sống của mình (như thế nào đó), đã nhận thấy vai trò to lớn của lửa, nên đã có quan niệm cho rằng lửa là bản nguyên đầu tiên của thế giới; hoặc do vai trò to lớn của các dòng sông đối với sản xuất nông nghiệp của người cổ đại, nên Hê-ra-clít đã chú ý nhiều đến dòng sông và có tư tưởng cho rằng sự vận động của thế giới khách quan giống như dòng sông, ông đã có những câu nói nổi tiếng, thế hiện tư tưởng biện chứng sâu sắc như: “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông”, (hoặc như quan niệm về sắc và Danh của Phật giáo, hay Âm – Dương của triết học Trung Quốc). Đây là những quan niệm rất biện chứng, tuy nhiên còn thô sơ, rời rạc, mói chỉ là những liên hệ bề ngoài, chưa phải là những hiểu biết sâu sắc về bản chất của sự vật và hiện tượng. Vì vậy phép biện chứng thời kỳ này chưa có tính chất khoa học, còn đơn giản, rời rạc, chưa thành hệ thống lý luận. Mặc dù vậy phép biện chứng tự phát thời kỳ cổ đại vẫn có giá trị trong việc bảo vệ quan niệm vô thần, chống lại những quan niệm tôn giáo và phép siêu hình cổ đại.

    b) Phép biện chứng duy tâm khách quan

    Từ cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, do yêu cầu của sản xuất’ trong xã hội tư bản nên khoa học tự nhiên có bước phát triển mới. Ở Đức thời kỳ này giai cấp tư sản cũng ra sức đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học tự nhiên phục vụ sự phát triển kinh tế nhằm thu lợi nhuận cao. Vì vậy nước Đức vào thời kỳ này đã đạt được nhiều thành tựu khoa học. Những thành tựu khoa học này là cơ sở để đi đến những khái quát mới cả về nội dung và hình thức của phép biện chứng. Do những điều kiện lịch sử đặc biệt của nước Đức ở thế kỷ XVIII, phép biện chứng thời kỳ này mang một hình thức mới. Đó là phép biện chứng duy tâm khách quan của triết học cổ điển Đức, bắt đầu từ Kantơ qua Phichtơ, Selinh và đạt đỉnh cao trong triết học của Hêghen.

    Đặc điểm của phép biện chứng duy tâm khách quan trong triết học của Hêghen là:

    Thứ nhất, khác với phép biện chứng sơ khai thời kỳ cổ đại, phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen đã hướng vào nghiên cứu chính phép biện chứng, nghĩa là hướng vào việc xây dựng lý luận về chính quá trình vận động và phát triển. Do vậy nó không còn là những tư tưởng biện chứng lẻ tẻ, rời rạc, mộc mạc như ở thời kỳ cổ đại, mà là một hệ thống quan điểm khá hoàn chỉnh về sự vận động và phát triển. Trong phép biện chứng của mình, Hêghen đã xây dựng được hệ thống các phạm trù, khái niệm, quy luật quan hệ chặt chẽ với nhau, phản ánh khái quát quá trình phát triển. Trước hết là quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại và quy luật phủ định của phủ định, làm sâu sắc thêm quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (hay quy luật mâu thuẫn).

    Thứ hai, các phạm trù, quy luật trong phép biện chứng của Hêghen bao quát cả ba lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó là kết quả của quá trình phát triển tư duy duy lý, khái quát quá trình phát triển của nhận thức, khái quát những thành tựu của khoa học tự nhiên và lịch sử.

    Thứ ba, phép biện chứng của Hêghen dựa trên quan điểm duy tâm về thế giới, nghĩa là quan điểm cho rằng thế giới được sinh ra từ tinh thần. Theo đó, các quá trình tự nhiên và xã hội chỉ là biểu hiện của các quá trình tư duy. Những khái niệm, phạm trù, quy luật của phép biện chứng không phải là sự phản ánh khái quát các mối quan hệ của hiện thực khách quan, mà nó có đời sống riêng, tồn tại trước và độc lập với ‘thế giới vật chất. Do vậy về bản chất phép biện chứng này mới là phép biện chứng của ý niệm, nó còn nhiều nội dung có tính chất gò ép, thần bí, không phù họp với thực tiễn xã hội, với hiện thực khách quan và nhận thức khoa học hiện đại.

    Như vậy phép biện chứng dưới hình thức duy tâm khách quan trong triết học của Hêghen là một bước tiến lớn so với phép biện chứng tự phát thời kỳ cổ đại. Nhưng nó chưa thực sự khoa học, còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn xã hội, điều đó đòi hỏi phải phát triển hơn.

    c) Phép biện chứng duy vật (còn gọi là phép biện chứng mácxit)

    Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, kế thừa có phê phán chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong lịch sử triết học, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật của Phơbách và phép biện chứng của Hêghen, khái quát những thành tựu của khoa học hiện đại và thực tiễn xã hội, Mác và Ăngghen đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đem lại cho phép biện chúng một hình thức mới về chất, đó là phép biện chứng duy vật. Sau này, phép biện chứng duy vật được Lênin phát triển và hoàn thiện thêm. Đây là hình thức họp lý và hiện đại nhất của phép biện chúng.

    Phép biện chúng duy vật có những đặc điểm sau:

    Thứ nhất, về cơ sở thế giới quan, phép biện chứng duy vật dựa trên quan điểm duy vật về thế giới, thừa nhận thế giới vật chất là vô cùng, vô tận, tồn tại khách quan và vĩnh viễn, không do ai sáng tạo ra, không mất đi, các bộ phận của thế giới quan hệ chặt chẽ với nhau, vận động phát triển không ngừng theo những quy luật vốn có của nó. Phép biện chứng duy vật không những đối lập căn bản với phép biện chứng duy tâm mà còn đổi lập với phép siêu hình. Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng khoa học.

    Thứ hai, về cấu trúc, phép biện chứng duy vật bao gồm một hệ thống những nguyên lý, phạm trù, quy luật chung nhất, phản ánh sự vận động phát triển của cả tự nhiên, xã hội và tư duy, khác với phép biện chứng tự phát thời kỳ cổ đại chưa xây dựng được bộ máy các phạm trù trừu tượng để phản ánh hiện thực khách quan một cách toàn diện và sâu sắc. Khác với các phạm trù của phép biện chứng duy tâm, các phạm trù của phép biện chứng duy vật không phải là những thực thể tinh thần tồn tại trước nhũng sự vật và mối liên hệ giữa các sự vật của hiện thực khách quan, mà là kết quả của quá trình phản ánh khái quát, trừu tượng các mối liên hệ của hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người. Các phạm trù của phép biện chứng duy vật là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, chúng có nội dung khách quan và hình thức thể hiện có tính chất chủ quan. Các phạm trù được hình thành trong quá trình con người nhận thức và cải tạo thế giới.

    Thứ ba, những quy luật của phép biện chứng duy vật vừa là quy luật của thế giới khách quan vừa là quy luật của nhận thức. Nó là sự thống nhất (trên cơ sở thừa nhận vật chất là tính thứ nhất) giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic biện chứng. Nghĩa là những quy luật của phép biện chứng không phải chỉ là những quy luật của riêng tư duy, riêng tồn tại, hay của riêng sự phản ánh tồn tại vào tư duy, mà là sự thống nhất của cả ba quá trình đó. 5

    Thứ tư, phép biện chứng duy vật không phải là những khẳng định có tính chất giáo điều, trừu tượng, mà là những khẳng định, những luận điểm luôn gắn với thực tiễn, luôn được bổ sung phát triển cùng với sự phát triển của thực tiễn. Do vậy phép biện chứng duy vật vừa có tính cách mạng vừa có tính khoa học, vừa có tính tự giác cao, nó có tác dụng quan trọng trong việc chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người.

    2. Nội dung cơ bản và ý nghĩa phương pháp luận của phép biện chứng duy vật.

    Chúng ta biết lý luận là tri thức được hình thành từ sự khái quát kinh nghiệm và thực tiễn, nhưng không hình thành một cách tự phát từ kinh nghiệm, thực tiễn và không phải mọi lý ỉuận đều trực tiếp xuất phát từ kinh nghiệm và thực tiễn. Sự ra đời và phát triển của các hệ thống lý luận có tính độc lập tương đối so với sự phát triển kinh nghiệm và thực tiễn. Đặc trưng căn bản của lý luận so với kinh nghiệm là tính hệ thống, tính trừu tượng, tính đúng đắn, sâu sắc, khái quát cao của lý luận. Bất kỳ lý luận nào cũng là một hệ thống các quan điểm, các phạm trù, quy luật liên hệ chặt chẽ với nhau, quy định lẫn nhau, phản ánh những mối liên hệ bản chất của sự vật và hiện tượng.

    2.1. Nội dung lý luận và ý nghĩa phương pháp luận của hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật

    a) Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

    Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến phản ánh khái quát một tính chất chung và cơ bản của mọi sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất. Sự phản ánh khái quát này được thể hiện dưới hình thức hệ thống các khái niệm và luận giải về tính chất của các khái niệm đó. Trước hết, đó là khái niệm liên hệ.

    Khái niệm liên hệ được định nghĩa là sự tác động qua lại, sự phụ thuộc, quy định và chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật hoặc giữa các mặt, các yếu tổ cấu thành nên sự vật. Không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại trong thể giới mà không nằm trong sự phụ thuộc vào các sự vật khác, tức là nằm trong các mối liên hệ chung. Điều này được chứng minh không phải chỉ bằng sự quan sát thông thường, trực tiếp hàng ngày mà cả bằng những nghiên cứu khoa học, những khái quát của các hệ thống triết học trong lịch sử. Thí dụ, sự phụ thuộc của cơ thể sống vào môi trường là mối liên hệ dễ nhận thấy nhất. Một cơ thể thực vật hoặc động vật, muốn sống, sinh trưởng cần phải có các yếu tố nước, các khoáng chất trong nước và đất, ánh sáng mặt trời, nhiệt độ v.v. Thiếu các yếu tố của môi trường nêu trên các cơ thể sống không thể tồn tại và phát triển được. Một thí dụ khác, trong nền sản xuất hàng hoá, giữa những người sản xuất hàng hoá khác nhau có sự phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ. Người sản xuất sợi phụ thuộc rất nhiều vào người sản xuất bông và người dệt vải, người tiêu thụ vải.

    Tư tưởng về mối liên hệ giữa các sự vật được phản ánh trong các hệ thống triết học ở các giai đoạn lịch sử khác nhau với những hình thức diễn đạt khác nhau như: Ở Trung Quốc cổ đại, phái Âm – Dương nêu lên tư tưởng về sự tác động qua lại giữa hai lực lượng đối lập nhau Âm – Dương làm cho mọi vật biến đổi. Ở Ấn Độ, tư tưởng của đạo Phật về sự kết họp giữa sắc – Danh, Nhân – Duyên làm cho các vật ra đời, tồn tại và biến đi. Trong triết học Hy Lạp cổ đại, tư tưởng của Hêraclit về sự chuyển hoá từ các mặt ẩm ướt sang khô ráo và ngược lại làm cho các vật chuyển hoá không ngừng từ vật này sang vật kia v.v. Tư tưởng về mối liên hệ trong các hệ thống triết học thời kỳ Phục hưng, Khai sáng và thời kỳ cận đại ở Tây Âu mà tiêu biểu nhất là trong triết học của Hêghen càng sâu sắc hơn. Hêghen không chỉ chú ý đến trạng thái tồn tại nhất thời của sự vật mà điều chủ yếu được ông chú ý đến là các mối liên hệ, sự chuyển hoá từ sự vật này sang sự vật kia. Theo ông, nhận thức về sự vật mà không nhận thức được các mối liên hệ của nó, những sự phụ thuộc của nó vào các sự vật khác thì chưa thế nhận thức được thực chất của sự vật. Như vậy khái niệm liên hệ trong phép biện chứng duy vật là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài của con người, là sự tổng kết kinh nghiệm lịch sử và nâng lên thành lý luận của con người, chứ không phải là sự sáng tạo có tính chất ngẫu nhiên, thuần túy chủ quan của ý thức con người.

    Tính chất của các mối liên hệ

    Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến còn khẳng định các tính chất của mối liên hệ, đó là: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng của các mối liên hệ.

    Tính khách quan nghĩa là các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng là cái vốn có của thế giới vật chất, do tính vật chất của thế giới quy định, không phụ thuộc vào ý thức của con người, không phải do lực lượng thần thánh nào đó sáng tạo ra. Thí dụ, sự phụ thuộc của cơ thể sinh vật vào môi trường, khi môi trường thay đổi thì cơ thể sinh vật cũng phải thay đổi để thích ứng với môi trường. Mối liên hệ đó không phải do ai sáng tạo ra, mà là cái vốn có của thế giới vật chất. Khẳng định tính khách quan của các mối liên hệ là nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật, đế phân biệt với phép biện chứng duy tâm. Trong phép biện chứng duy tâm, các sự vật và mối liên hệ giữa các sự vật trong hiện thực khách quan được xem là do tinh thần sáng tạo ra. Thí dụ, trong phép biện chứng duy tâm người ta cho rằng khái niệm lực phải có trước rồi mới có các lực trên hiện thực như lực hút của trái đất, lực đẩy của lò xo. Lực hút của trái đất, lực đàn hồi của lò xo chỉ là biểu hiện của khái niệm lực do tư duy sáng tạo ra. Phép biện chứng duy vật cho rằng lực hút của trái đất và lực đàn hồi của lò xo là vốn có của thế giới vật chất. Đó là những mối liên hệ khách quan của các sự vật mà con người nhận thức được bằng tư duy của mình,

    Tính phổ biến của mối liên hệ có hai nghĩa: Một là, mọi sự vật, hiện tượng, quá trình hoặc mọi yếu tố cấu thành nên sự vật đều nằm trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng, các yếu tố khác, không có sự vật, hiện tượng nào, yếu tố nào tồn tại trong sự biệt lập hoàn toàn. Hai là, có những mối liên hệ chung tồn tại trong thế giới vật chất, tác động lên mọi sự vật, mọi quá trình biến đổi của các sự vật. Thí dụ, theo mức độ hiểu biết của chúng ta hiện nay, mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng, nguyên nhân và kết quả, nộỉ dung và hình thức, bản chất và hiện tượng, lượng và chất, v.v. Đều là những mối liên hệ chung tồn tại trong mọi sự vật, mọi quá trình.

    Tính đa dạng của các mối liên hệ: Thể hiện ở chỗ sự vật khác nhau có các mối liên hệ khác nhau. Thí dụ, các loài cá, chim, thú đều có quan hệ với nước, nhưng cá quan hệ với nước khác với chim và thú. Cá sống thường xuyên trong nước, không có nước thường xuyên cá không thể tồn tại được, nhưng các loài chim và thú lại không thể sống trong nước thường xuyên được. Có loài cá sống trong nước ngọt, có loài cá sống trong nước mặn. Tính đa dạng của các mối liên hệ còn thể hiện ở chỗ: một sự vật đồng thời tồn tại nhiều mối liên hệ, mỗi mối liên hệ của sự vật có vai trò khác nhau đối với sự tồn tại của sự vật, chẳng hạn có mối liên hệ bên trong, có mối liên hệ bên ngoài, có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp, có mối liên hệ cơ bản quyết định sự tồn tại của sự vật, có mối liên hệ không cơ bản, không quyết định đến sự tồn tại của các sự vật, có mối liên hệ là nguyên nhân, có mối liên hệ là kết quả, có mối liên hệ tất nhiên, có mối liên hệ ngẫu nhiên v.v. Các mối liên hệ của sự vật quan hệ với nhau và có thể chuyến hoá cho nhau, lúc này, trong phạm vi này một mối quan hệ nào đấy đóng vai trò là nguyên nhân, hay là mối liên hệ bên trong, nhưng lúc khác, trong phạm vi khác chính mối quan hệ đó lại đóng vai trò là kết quả, hay là mọi liên hệ bên ngoài. Thí dụ, quan hệ giữa người chủ sở hữu với người công nhân xét trong phạm vi sản xuất của xí nghiệp thuộc quyền người chủ, thì đó là quan hệ trong nội bộ của quá trình sản xuất của xí nghiệp. Nhưng xét trong phạm vi sản xuất của xí nghiệp khác, hoặc trong phạm vi sản xuất và sinh hoạt của gia đình người công nhân, thì quan hệ giữa người chủ và người công nhân kia lại là mối liên hệ bên ngoài. Có thể chỉ ra nhiều thí dụ khác nữa về môi liên hệ và sự chuyển hoá giữa các mối liên hệ của các sự vật. Sự liên hệ-phổ biến giữa các sự vật và hiện tượng rõ ràng là đặc trưng phổ biến nhất của thế giới vật chất.

    Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi: Một là, phải xem xét tất cả các mối liên hệ của sự vật, không loại trừ một mối liên hệ nào. Yêu cầu này trễn thực tế khó thực hiện được, bởi vì sự vật có vô vàn các mối liên hệ. Trong khi đó nhận thức của con người tại một thời điểm nhất định nào đó bao giờ cũng bị giới hạn bởi điều kiện lịch sử cụ thể, không thể nhận thức được tất cả các mối liên hệ của sự vật. Muốn nhận thức đưọc tất cả các mối liên hệ của sự vật phải trải qua lịch sử lâu dài của nhận thức. Nhưng cần thiết đặt ra yêu cầu này để đòi hỏi chủ thể phải xem xét nhiều mặt của sự vật, tránh rơi vào sai lầm phiến diện. Hai là, phải phân loại được các mối liên hệ, nghĩa là trong tổng số các mối liên hệ của sự vật phải rút ra được đâu là các mối liên hệ bản chất, chủ yếu, đâu là nguyên nhân và đâu là kết quả. Yêu cầu này đòi hỏi con người phải tìm hiểu sâu sắc các mối liên hệ, so sánh, đánh giá vị trí, vai trò các mối liên hệ của sự vật, từ đó giúp con người tránh rơi vào quan điểm dàn đều, liệt kê các sự kiện, các mối liên hệ, không đi sâu nhận thức được bản chất của sự vật. Ba là, từ việc rút ra các mối liên hệ bản chất của sự vật con người lại phải đặt mối liên hệ bản chất đó trong tổng thể các mối liên hệ của sự vật, xem xét sự vật một cách thực tế trong tiến trình vận động lịch sử cụ thể của sự vật, tức là phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi nhận thức và hoạt động thực tiễn. Yêu cầu này giúp con người tránh rơi vào sai lầm siêu hình, kinh nghiệm xa rời thực tế.

    b) Nguyên lý về sự phát triển

    Khái niệm phát triển: Nguyên lý về sự phát triển phản ánh một đặc tính chung, khách quan của thế giới vật chất, đó là: mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới luôn vận động, biến đổi không ngừng và thông qua sự vận động, biến đổi đó, sẽ xác định một xu hướng vận động đi lên nhất định, đó là sự phát triển.

    Vậy ta có thể định nghĩa phát triển là khái niệm phản ánh xu hướng vận động đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan, ở đây những từ: “thấp”, “cao”, “đơn giản”, “phức tạp”, “chưa hoàn thiện”, “hoàn thiện hơn” được hiểu theo nghĩa khái quát, không phải theo nghĩa đen của các từ này.

    Theo định nghĩa trên, khái niệm phát triển nằm trong khái niệm vận động, nói lên một xu hướng vận động nhất định của thế giới vật chất. Thí dụ, sự tiến hoá của thế giới động vật là một xu hướng biến đối của các loài động vật hình thành nhờ vô vàn nhũng sự biến đổi của các loài động vật dưới tác động qua lại giữa môi trường và cơ thể qua một thời gian rất lâu dài; sự thay thế các phương thức sản xuất và các hình thái kinh tế – xã hội trong lịch sử cũng diễn ra theo xu hướng đi lên, hình thái kinh tế – xã hội sau hoàn thiện hơn hình thái kinh tế – xã hội trước, đó cũng là sự phát triển. Sự phát triển các môn khoa học và các lý thuyết khoa học trong lịch sử cũng là xu hướng vận động đi lên của nhận thức khoa học v.v. Đó là những quá trình phát triển cụ thể của thế giới vật chất. Nguyên lý về sự phát triển có quan hệ mật thiết với nguyên lý về mối liên liên hệ phổ biến. Không có liên hệ thì không có sự vận động, biến đổi, chuyển hoá từ sự vật này thành sự vật khác và không thể có phát triển. Phát triển là một hình thức của sự liên . hệ, đó là liên hệ giữa cái mới, cái tiến bộ với cái cũ.

    Tính chất của sự phát triển. Không phải chỉ có phép biện chứng duy vật mới đưa ra quan niệm về phát triển. Chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy tâm cũng đưa ra quan niệm về phát triển, nhưng khác căn bản với quan niệm của phép biện chứng duy vật. Để phân biệt nội dung khái niệm phát triển trong phép biện chứng duy vật với phát triển trong quan niệm của chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy tâm, nguyên lý về sự phát triển nêu lên các tính chất của sự phát triển đó là: tính khách quan, tính phổ biến và tính phức tạp của sự phát triển.

    Sự phát triển có tính khách quan nghĩa là xu hướng vận động đi lên của các sự vật trong thế giới vật chất là xu hướng chung, vốn có của thế giới vật chất, không do ai sáng tạo ra, không phải là sự sáng tạo của thần thánh, thượng đế như quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, hay tôn giáo nêu ra. Nguyên nhân của xu hướng vận động đi lên là do sự tác động giữa các sự vật của thể giới vật chất quyết định. Thí dụ, sự tiến hoá của thế giới động vật là xu hướng khách quan của sự vận động của các loài động vật. Nguyên nhân của sự tiến hoá của thế giới động vật là do sự tác động giữa cơ thể động vật và môi trường. Điều này đã được những nghiên cứu của các nhà khoa học tự nhiên chứng minh. Sự tiến bộ của các phương thức sản xuất, của các hình thái kinh tế – xã hội là xu hướng vận động khách quan của xã hội loài người. Nguyên nhân của sự tiến bộ xã hội là do các hoạt động của con người, nghĩa ià do sự tác động giữa con người với tự nhiên và sự tác động giữa con người với con người tuân theo những quy luật khách quan quyết định, không phải do thần thánh hay do ý muốn chủ quan thuần tuý của con người quyết định.

    Tính chất phổ biến của sự phát triển nghĩa là sự phát triển đi lên là xu hướng chung của thế giới vật chất. Điều này thể hiện ở chỗ: cả trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy đều tồn tại quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Những tài liệu của các ngành khoa học cụ thể trong các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy đều chứng minh điều này. Thí dụ, trong tự nhiên có quá trình tiến hoá của động vật; trong xã hội có quá trình tiến bộ của kỹ thuật sản xuất, tiến bộ của tổ chức, quản lý quá trình sản xuất, tiến bộ của các chế độ chính trị; trong tư duy, ý thức có sự tiến bộ của nhận thức khoa học, của khả năng SU) luận, phán đoán, dự báo khoa học, y.v. Tuy nhiên sự phát triển không phải là một quá trình đơn giản mà là quá trình rất phức tạp.

    Tỉnh chất phức tạp của sự phát triển thể hiện ở chỗ mỗi sự vật, hiện tượng khác nhau có quá trình phát triển khác nhau. Thí dụ sự phát triển của các loài động vật được thực hiện thông qua sự sinh trưởng, sự di truyền và biến dị của các cá thể động vật trong quan hệ với môi trường, và thể hiện ra dưới hình thức tiến hoá của động vật. Quá trình đó làm cho cơ thể động vật có cấu trúc hoàn thiện hơn, thích ứng tốt hơn với môi trường xung quanh. Quá trình tiến hoá của động vật lại khác với quá trình phát triển của xã hội. Trong xã hội, xu hướng phát triển được xác định thông qua vô số các sự biến xã hội như đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, đấu tranh cải tạo tự nhiên, nghiên cứu khoa học, phát triển sản xuất v.v. làm cho xã hội ngày càng hoàn thiện hơn, chuyển biến từ hình thái kinh tế – xã hội thấp lên hình thái kinh tế – xã hội cao hơn, xây dựng được các thiết chế xã hội đảm bảo cho con người có cơ hội tốt hon để phát huy năng lực hoạt động, sáng tạo của mình. Tính phức tạp của sự phát triển còn thể hiện ở chỗ, quá trình phát triển bao hàm cả sự thay đổi về chất và sự thay đổi về lượng, bao hàm cả sự thụt lùi tạm thời, cả sự kế thừa, lặp lại cái cũ. Quá trình phát triển không đơn giản diễn ra theo con đường thẳng, mà theo con đường quanh co, phức tạp, con đường xoáy ốc theo chiều hướng đi lên.

    Để phân biệt quan điểm của phép biện chứng duy vật với quan điểm duy tâm siêu hình về phát triển, V.I. Lênin viết: “Hai quan niệm cơ bản (hay là hai quan niệm có thể có? hay là hai quan niệm đã thấy trong lịch sử) về sự phát triển (sự tiến hoá): sự phát triển coi như là giảm đi và tàng lên, như là lặp lại, và sự phát triển coi như là sự thống nhất của các mặt đối lập (sự phân đôi của cái thống nhất thành những mặt đối lập bài trừ lẫn nhau và mối quan hệ lẫn nhau giữa các mặt đối lập ấy)”. “Quan niệm thứ nhất là chết cứne, nehèo nàn. khô khan. Quan niệm thứ hai là sinh động. Chỉ có quan niệm thứ hai mới cho ta chìa khóa của “sự tự vận động” của tất thảy mọi cái đang tồn tại; chỉ có nó mới cho ta chìa khóa của những “bước nhảy vọt”, của sự “gián đoạn của tính tiệm tiến”, của sự “chuyển hoá thành mặt đối lập”, của sự tiêu diệt cái cũ và sự nảy sinh cái mới’ w.

    Do quá trình phát triển rất phức tạp. Mỗi sự vật khác nhau, điều kiện lịch sử khác nhau quá trình phát triển (sự thay thế cái cũ bằng cái mới, cái tiến bộ) lại diễn ra dưới các hình thức cụ thể khác nhau. Do vậy phải có quan điểm lịch sử cụ thể, luôn xuất phát từ hiện thực khách quan, căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể để xác định các hình thức phát triển cho phù họp với từng sự vật trong những điều kiện ỊỊch sử khác nhau. Không được áp dụng một cách máy móc hình thức phát triển của sự vật này cho sự vật khác.

    Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật phản ánh những tính chất biện chứng chung nhất của thế giới. Những tính chất chung này lại được bổ sung cụ thể hơn trong nội dung lý luận của các cặp phạm trù và các quy luật của phép biện chứng duy vật, từ đó lại có thể rút ra những ý nghĩa phương pháp luận mới, làm cho phép biện chứng duy vật càng có nội dung phong phú, sinh động, phù hợp với cuộc sống và có giá trị hơn đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người.

    – Các cặp phạm trù cái riêng và cái chung, hiện tượng và bản chất, ngẫu nhiên và tất nhiên phản ánh mối liên hệ giữa một bên là các mặt, các quá trình có đặc tính tương đối ổn định, không trực tiếp biểu hiện ra bên ngoài một cách đầy đủ với một bên là các mặt, các quá trình thưòng xuyên biến đổi, trực tiếp bộc lộ ra của các sự vật trong hiện thực khách quan. Những cặp phạm trù này đồng thời cũng thể hiện cấp độ nhận thức của con người ngày càng đi vào chiều sâu của thế giới vật chất, phản ánh được những mối liên hệ phức tạp và sâu sắc của các sự vật trong thế giới vật chất.

    Định nghĩa: Phạm trù cái riêng dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình, một kết cấu vật chất nhất định nào đó. Thí dụ, một ngôi nhà cụ thể, một cái bàn cụ thể, một cái cây, một lóp học cụ thể v.v. đó là những cái riêng.

    Phạm trù cái chung dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những quá trình được lặp lại trong nhiều sự vật hiện tượng riêng lẻ. Thí dụ, màu xanh là cái chung của những chiếc lá eây; sống dưới nước, thở bằng mang là cái chung của các loài cá; có tư duy, ý thức và lao động sáng tạo là cái chung của con người, v.v.

    Phạm trù cái đơn nhất dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính (trong một giới hạn nhất định), tồn tại chỉ ở một cái riêng nào đó, ngoài ra không tồn tại ở bất kỳ một cái riêng khác nào nữa. Thí dụ, trong phạm vi nhất định, vân tay của mỗi người có thể được xem là cái đon nhất của mỗi người. Nếu mở rộng phạm vi hơn nữa thì điều đó có thể không còn đúng. Cái đơn nhất ở phạm vi này (chẳng hạn trong phạm vi 1000 người), có thể trở thành cái chung ở phạm vi khác (chẳng hạn trong phạm vi 1001 người).

    Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng

    Trong lịch sử triết học đã có những nhà triết học thuộc trường phái Duy Danh (ở thời kỳ trung cổ) chỉ thừa nhận cái riêng tồn tại thực tế, còn cái chung chỉ là những danh từ trống rỗng do con người đặt ra. Quan niệm này đã đi đến chỗ phủ nhận mọi nội dung khách quan của các khái niệm, phạm trù và quy luật. Bên cạnh đó lại có những nhà triết học thuộc trường phái Duy Thực (ở thời kỳ trung cổ) chỉ thừa nhận cái chung tồn tại thực tế, còn cái riêng chỉ là biểu hiện nhất thời của cái chung, do cái chung quyết định. Quan điểm này đi đến chỗ phủ nhận mọi tính hiện thực của các sự vật hiện tượng thông thường mà con người có thể cảm nhận được bằng các giác quan của mình. Cả hai quan điểm trên đều không đúng, đều chưa thấy mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung.

    Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, cái riêng và cái chung đều tồn tại khách quan và gắn bó chặt chẽ với nhau, quan hệ biện chứng với nhau, thể hiện ở chỗ:

    Không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái riêng. Cái chung phải tồn tại thông qua cái riêng. Thí dụ, sự thở bằng .mang là cái chung của loài cá, nhưng không có sự thở bằng mang bên ngoài con cá cụ thể. Ý thức là cái chung của con người, nhưng không có ý thức tồn tại bên ngoài hoạt động tinh thần của một người cụ thể.

    Cái riêng không tồn tại tách rời cải chung mà tồn tại trong mối liên hệ với cái chung. Bởi vì nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đó khẳng định mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Khi liên hệ giữa sự vật, hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác các sự vật sẽ chuyến hoá lẫn nhau và tất yếu sẽ tạo nên cái chung giữa chúng. Nếu cho rằng có một cái riêng nào đó không có cái chung với bất kỳ một cái riêng nào khác thì như vậy cái riêng đó không có mối liên hệ nào với cái khác. Điều đó là trái với nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Do vậy, mọi cái riêng đều bao chứa cái chung. Thí dụ, mọi sinh vật sống đều phải có quá trình trao đổi chất với môi trường. Mọi người, muốn sổng đều phải ăn* mặc, đi lại, hoạt động, v.v.

    Cái riêng đa dạng hơn cái chung, cái chung sâu sắc hơn cái riêng. Xét về hình thức tồn tại cái riêng ià một kết cấu vật chất cụ thế có tính toàn vẹn, bao gồm nhiều mặt, phong phú hem cái chung và thường xuyên có những mặt, yếu tố biến đổi, còn cái chung là một bộ phận của cái riêng, nghèo nàn hơn cái riêng, ổn định hơn cái riêng bởi vì cái chung được lặp lại ở nhiều cái riêng, do đó cái chung có thể gần với cái bản chất. Với ý nghĩa đó, cái chung sâu sắc hơn cái riêng.

    Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyến hoá cho nhau trong quá trình vận động phát triển của các sự vật. Thí dụ, quá trình lai tạo giống lúa trong phòng thí nghiệm, tại một thời điểm nào đó, người ta tạo ra được một hạt gống có đặc tính cho năng suất cao, có chất dinh dưỡng tốt. Đặc tính đó là một cái đơn nhất trong một cái riêng. Người ta tiếp tục nhân rộng hạt giống đó để đặc tính cho năng suất cao tồn tại trong nhiều cá thể, khi đó cái đon nhất đó chuyển hoá thành cái chung.

    Cái chung không tồn tại bên ngoài cái riêng, mà tồn tại thông qua cái riêng, do vậy để nhận thức được cái chung, con người phải đi từ nhận thức cái riêng, qua nhiều cái riêng rồi mới đi đến nhận thức được cái chung.

    Tuy nhiên quá trình nhận thức không phải chỉ vận động một chiều từ cái riêng đến cái chung mà còn vận động từ cái chung đến cái riêng, dựa vào cái chung để đi đến nhận thức cái riêng. Khi đó phải căn cứ vào cái riêng để vận dụng cái chung cho thích họp, không thể áp đặt một cách máy móc cái chung cho mọi cái riêng mà không căn cứ vào đặc điểm cái riêng. Nguyên tắc phương pháp luận trên cũng khẳng định rằng quá trình nhận thức phải kết họp giữa phương pháp phân tích và tổng hợp một cách chặt chẽ.

    Trong quá trình vận động của sự vật cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hoá cho nhau, nên con người có thể chủ động tạo ra điều kiện để biến cái đon nhất có lợi thành cái chung, và biến cái chung bất lợi thành cái đơn nhất.

    Định nghĩa. Hiện tượng và bản chất là hai mặt của sự vật. Nhận thức sự vật trước hết con người nhận thức được những biểu hiện, những đặc tính bề ngoài của sự vật khi sự vật tác động vào các giác quan của con người, đó là hiện tượng.

    Vậy, hiện tượng là phạm trù chỉ những mặt, những mối liên hệ bề ngoài của sự vật mà con người có thể nhận thức được bằng cảm giác. Bản chất là phạm trù chỉ những mặt, những mối liên hệ tương đổi ổn định, ẩn giấu bên trong, sau hiện tượng, quy định sự tồn tại và phát triển của sự vật. Bằng cảm giác, con người chưa nhận thức được bản chất của sự vật. Thuật ngữ “bên trong, sau hiện tượng” không nên hiểu một cách cơ học, máy móc theo nghĩa đen của từ này như một vật được bao bọc bởi lóp vỏ bên ngoài, mà phải hiểu theo nghĩa bóng, nghĩa khái quát, tức phải bằng tư duy trừu tượng mới có thể nhận thức được bản chất. Thí dụ, quan sát một bệnh nhân ta có thể thấy những biểu hiện bên ngoài như sốt, kèm theo ho và đau họng. Bản chất của những hiện tượng đó là gì? Phải qua nghiên cứu nhiều hiện tượng, phân tích, so sánh, tổng họp rồi người ta mới nhận thức được bản chất của sốt, ho, đau họng của bệnh nhân là do một loại vi khuẩn nào đó xâm nhập vào cơ thể qua họng của bệnh nhân làm cho các tế bào họng bị tổn thương, tấy đỏ bệnh nhân cảm thấy đau họng và ho. Sự đề kháng của cơ thể chống sự xâm nhập của vi khuẩn một cách bất thường làm cho cơ thế có hiện tượng sốt.

    Mối quan hệ biện chứng giữa hiện tượng và bản chất

    Hiện tượng và bản chất là hai mặt vốn có của sự vật, quan hệ biện chứng với nhau, không tồn tại tách rời nhau.

    Bản chất hiện ra, hiện tượng thể hiện bản chất. Bản chất không phải là cái tách rời hiện tượng, bị hiện tượng che lấp, giống như cái hạt bị lóp vỏ bên ngoài che lấp. Bản chất bao giờ cũng được thể hiện ra ở hiện tượng, nhưng không hiện ra hoàn toàn ở một hiện tượng. Hiện tượng là sự thể hiện của bản chất, nhưng mỗi hiện tượng không thể hiện toàn bộ bản chất, thậm chí còn rất sai iệch với bản chất. Cho nên bản chất và hiện tượng không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Hiện tượng và bản chất vừa đồng nhất, vừa khác biệt.

    Bản chất là mặt ổn định hơn hiện tượng và có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của sự vật. Hiện tượng là mặt thường xuyên biến đổi, đồng thời hiện tượng cũng đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật. Mác đã nghiên cứu mối quan hệ giữa giá trị và giá cả của hàng hoá. Giá cả hàng hoá lên xuống xoay quanh giá trị, đó là biểu hiện của sự hoạt động của quy luật giá trị. Lợi nhuận bình quân là biểu hiện của quy luật giá trị thặng dư của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa trong giai đoạn tự do cạnh tranh, còn quy luật lợi nhuận độc quyền cao là biểu hiện của quy luật giá trị thặng dư của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa giai đoạn độc quyền.

    Nhận thức của con người không thể chỉ dừng lại ở việc phản ánh những biểu hiện bề ngoài của sự vật, mà phải tiến tới nhận thức được những mối liên hệ bản chất của sự vật.

    Không nên đồng nhất hiện tượng với bản chất, chỉ căn cứ vào một hiện tượng, hoặc một vài hiện tượng bề ngoài để đánh giá bản chất của một sự vật nào đó.

    Nhưng bản chất lại chỉ tồn tại thông qua hiện tượng. Do vậy muốn nhận thức được bản chất của sự vật, con người phải bắt đầu từ nhận thức các hiện tượng, nghiên cứu, phân tích, so sánh nhiều hiện tượng, rồi mới đi đến nhận thức được bản chất của sự vật, và từ bản chất cấp chưa sâu sắc tiến đến nhận thức bản chất cấp sâu sắc hơn.

    Bản chất là mặt ổn định hơn hiện tượng và quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật. Nhưng bản chất không phải là cái bất biến, mà vẫn có sự biến đổi ở một giới hạn nhất định do nhũng biến đổi của hiện tượng đưa đến. Do vậy trong thực tiễn, muốn biến đổi bản chất của sự vật có thể tạo ra nhũng điều kiện để biến đổi các hiện tượng, rồi từ hiện tượng biến đổi sẽ dẫn đến biến đổi được bản chất. Chẳng hạn muốn cải tạo một tật xấu nào đấy của con người, cần tạo ra những điều kiện để những biểu hiện của tật xấu đó không được thực hiện, dần dần tật xấu đó có thể sẽ biến đổi.

    c) Tất nhiên và ngẫu nhiên

    Định nghĩa: Tất nhiên là những sự vật, hiện tượng, quá trình do nhũng mối liên hệ bản chất, do những nguyên nhân cơ bản, bên trong sự vật quy định và trong nhũng điều kiện nhất định nó phải xảy ra như thế này chứ không thể khác được. Thí dụ, tung một vật nặng lên cao trên bề mặt trái đất, nhất định nó sẽ rơi xuống bề mặt trái đất; nước nhất định ciịậy từ nơi cao xuống nơi thấp, trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh sản xuất, kinh doanh nhất định có người gặp nhiều thuận lợi, giàu lên, và có người chẳng may gặp rủi ro bị thua lỗ, phá sản v.v.

    Ngẫu nhiên là những sự vật, hiện tượng, quá trình do mối liên hệ không bản chất, do nguyên nhân, hoàn cảnh bên ngoài quy định và trong điều kiện nhất định nó có thể xảy ra có thể không, có thể xảy ra thế này, có thể xảy ra thế khác. Thí dụ, tung con xúc xắc xuống đất có thể mặt 6 lỗ xấp xuống đất có thể mặt 1 lỗ, 2 lỗ v.v. xấp xuống. Điều đó do rất nhiều yếu tố khác nhau quyết định, đó là cái ngẫu nhiên; hay việc mua một chiếc vé xổ số có trúng thưởng hay không cũna là cái ngẫu nhiên, bởi vì số trúng thưởng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố bên ngoài.

    Tất nhiên và ngẫu nhiên đều có nguyên nhân. Không phải chỉ có cái tất nhiên mới có nguyên nhân còn cái ngẫu nhiên không có nguyên nhân, và cũng không phải cái ngẫu nhiên là cái con người chưa nhận thức được nguyên nhân của nó, khi con người nhận thức được nguyên nhân của một sự vật, hiện tượng nào đó thì lập tức sự vật, hiện tượng đó biến thành cái tất nhiên. Cái ngẫu nhiên tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào việc con người nhận thức được hay không nhận thức được nguyên nhân của nó.

    Mối quan hệ biện chứng giữa cái tất nhiên và ngẫu nhiên

    Quan điểm siêu hình tách rời cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên. Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng: tất nhiên và ngẫu nhiên có quan hệ biện chứng với nhau. Điều đó thể hiện ở chỗ: Tất nhiên và ngẫu nhiên không thể tồn tại tách rời nhau. Không có cái tất nhiên thuần tuý tồn tại ngoài cái ngẫu nhiên, cũng như không có cái ngẫu nhiên thuần tuý tồn tại mà không bao chứa cái tất nhiên. Tất nhiên thể hiện sự tồn tại của mình, hay vạch đường đi cho mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên. Ngẫu nhiên là hình thức thể hiện của cái tất nhiên. Thí dụ, mỗi lần quay xổ số sẽ có một con số trúng thưởng, đó là cái tất nhiên. Nhưng con số trúng thưởng đó cụ thể là con số nào, điều đó được thể hiện qua kết quả quay để có một số cụ thể xuất hiện, số cụ thể đó là cái ngẫu nhiên. Như vậy cái tất nhiên (ở đây là phải có một số trúng thưởng) không tồn tại bên ngoài cái ngẫu nhiên, mà phải thông qua cái ngẫu nhiên (ở đây là một số cụ thể nào đó) để thể hiện sự tồn tại của mình. Cái ngẫu nhiên là hình thức thể hiện của cái tất nhiên.

    Phạm trù tất nhiên và phạm trù bản chất, phạm trù quy luật có quan hệ với nhau, nhưng không đồng nhất với nhau. Chúng đều phản ánh những mối liên hệ chung có tính ổn định tương đối và có vai trò quyết định đến sự tồn tại, phát triển của sự vật. Tuy nhiên cấp độ chung và cấp độ sâu sắc, chi phối sự vận động biến đổi của sự vật thì khác nhau. Điều đó đòi hỏi tư duy con người phải có sự phát triển ở mức độ khác nhau mới nhận thức được.

    * Ý nghĩa phương pháp luận

    Từ lý luận về mối quan hệ biện chúng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên như vậy, có thể rút ra nguyên tắc phương pháp luận:

    Thứ nhất, muốn nhận thức được sự vật phải nhận thức được cả những mối liên hệ tất nhiên, cả những mối liên hệ ngẫu nhiên của sự vật.

    Thứ hai, muốn nhận thức được cái tất nhiên phải thông qua việc nhận thức nhiều cái ngẫu nhiên, tiến từ nhận thức cái ngẫu nhiên đến nhận thức cái tất nhiên.

    Thứ ba, vì cái tất yếu là cái do những mối liên hệ bản chất, do nguyên nhân bên trong quy định, còn cái ngẫu nhiên là cái do những yếu tố không bản chất chi phổi, nên khi xác định phương hướng hoạt động phải dựa vào cái tất yếu, không nên dựa vào cái ngẫu nhiên. Tuy nhiên cũng cần phải tính đến các yếu tố ngẫu nhiên để chuẩn bị nhiều phương án xử lý, tránh bị động trong hoạt động thực tiễn.

    Lý luận về các cặp phạm trù cái riêng và cái chung, hiện tượng và bản chất, ngẫu nhiên và tất nhiên là cơ sở phương pháp luận của các phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, khái quát hoá, trừu tượng hoá để con người phản ánh được một cách có hệ thống những mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan.

    – Cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả, khả năng và hiện thực phản ánh sự kế tiếp nhau về mặt thời gian, quá trình sản sinh ra nhau của các sự vật, hiện tượng trong thế giới.

    Định nghĩa: Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa sự vật này với sự vật khác để sinh ra một biến đổi nào đó. Thí dụ, sự tác động của từ trường vào khung dây dẫn là nguyên nhân sinh ra dòng điện trong dây dẫn. Sự tác động của dòng điện với dây tóc bóng đèn là nguyên nhân sinh ra ánh sáng của bóng đèn. Sự tác động giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là nguyên nhân làm cho các phương thức sản xuất thay đổi trong lịch sử, v.v.

    Kết quả là phạm trù chỉ sự biển đổi do sự tác động giữa sự vật này với sự vật khác hoặc giữa các mặt trong cùng một sự vật gây ra. Thí dụ, bóng đèn phát sáng là kết quả của sự tác động của dòng điện với dây tóc bóng đèn; Sự thay đổi quan hệ sản xuất lỗi thời bằng quan hệ sản xuất mới là kết quả của sự tác động giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong phương thức sản xuất cũ, mà biểu hiện của nó là cuộc đấu tranh giữa các giai cấp gắn với phương thức sản xuất đó, v.v.

    Cần phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ và điều kiện. Nguyên cớ là những sự vật, hiện tượng, quá trình xảy ra trước kết quả, không sinh ra kết quả, nhưng con người coi nó là nguyên nhân. Thí dụ, những lực lượng thù địch nước ngoài thường lợi dụng một số thông tin sai lầm, hoặc một số hành động quá khích gây mất trật tự trong nước ta. Họ coi đó là sự vi phạm nhân quyền, sự vi phạm dân chủ của Nhà nước ta để can thiệp vào công việc nội bộ của chúng ta. Thật ra, nguyên nhân đưa đến việc các thế lực thù địch muốn can thiệp vào công việc nội bộ của chúng ta là những lợi ích cục bộ của họ đối lập với lợi ích chung của cả dân tộc, đối lập với chế độ xã hội chủ nghĩa. Họ muốn chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, lôi kéo một số người chưa hiểu biết, ngăn cản sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Điều kiện là những sự vật, hiện tượng, quá trình xảy ra đồng thời với nguyên nhân, nhưng không sinh ra kết quả mà chỉ tác động vào nguyên nhân để nguyên nhân phát huy tác dụng sinh ra kết quả. Thí dụ, chất xúc tác trong các phản ứng hoá học là điều kiện để các chất hoá học tác động với nhau tạo ra phản ứng hoá học. Nhiệt độ, áp suất, độ dưỡng khí trong lò ấp trứng gà không phải là nguyên nhân, mà là điều kiện để tế bào phôi trong quả trứng hoạt động tạo thành con gà. Môi trường tự nhiên thuận lợi là điều kiện để sản xuất của xã hội phát triển.

    Mối quan hệ biện chímg giữa nguyên nhân và kết quả

    Phép biện chứng duy vật cho rằng nguyên nhân và kết quả tồn tại khách quan, không phải do thói quen, cảm giác của con người quyết định, cũng không phải do tinh thần thế giới sáng tạo ra. Bởi vì mọi sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan đều tồn tại trong mối liên hệ, sự tác động lẫn nhau và sự vận động biến đổi. Như thế nghĩa là sự vật tồn tại luôn tạo ra nguyên nhân và kết quả. Nguyên nhân và kết quả là cái cố hữu của hiện thực khách quan, là một tính quy định vốn có của thế giới vật chất, gắn liền với mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan.

    Nguyên nhân và kết quả quan hệ biện chứng với nhau không tách rời nhau. Nguyên nhân sinh ra kết quả, xuất hiện trước kết quả về mặt thời gian và quyết định kết quả. Tuy nhiên không phải mọi sự vật xuất hiện trước đều là nguyên nhân của những sự vật xuất hiện sau, chỉ có sự vật xuất hiện trước nào sinh ra sự vật sau mới là nguyên nhân và kết quả của nhau. Thí dụ, hiện tượng gà gáy xuất hiện trước mặt trời mọc, nhưng gà gáy không phải là nguyên nhân của mặt trời mọc. Mùa xuân xuất hiện đầu tiên trong năm, nhưng không phải là nguyên nhân của mùa hè, mùa thu và mùa đông. Hiện tượng sốt của bệnh nhân có thể xuất hiện trước hiện tượng ho và đau họng, nhưng sốt không phải là nguyên nhân của ho và đau họng, mà chính viêm họng mới là nguyên nhân của cả ho, đau họng và sốt của bệnh nhân. Quan hệ hàm số không phải luôn luôn là quan hệ nguyên nhân và kết quả bởi vì các phần tử của hai tập hợp quan hệ với nhau qua một hàm số không phải lúc nào cũng là nguyên nhân và kết quả của nhau, v.v.

    Kết quả nào cũng do nguyên nhân nhất định sinh ra, kết quả phụ thuộc vào nguyên nhân. Tuy nhiên quá trình nguyên nhân sinh ra kết quả rất phức tạp. Một nguyên nhân không phải trong mọi hoàn cảnh đều sinh ra kết quả như nhau. Ngược lại, một kết quả không phải chỉ do một nguyên nhân duy nhất sinh ra. Trong cùng một lúc có thể có nhiều nguyên nhân cùng tác động. Neu các nguyên nhân tác động cùng chiều thì sự xuất hiện kết quả thuận lợi, càng đẩy nhanh sự xuất hiện kết quả. Ngược lại, nếu nguyên nhân tác động không cùng chiều thì việc xuất hiện kết quả sẽ gặp trở ngại và có thể tạo ra những kết quả trái ngược hẳn với trường hợp các nguyên nhân tác động cùng chiều.

    Nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng kết quả lại tác động trở lại nguyên nhân làm cho nguyên nhân biến đổi. Như vậy, nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hoá cho nhau trong quá trình vận động và phát triển của sự vật. Đối với sự vận động của thế giới vật chất nói chung không có nguyên nhân và kết quả cuối cùng.

    * Ý nghĩa phương pháp luận

    Từ lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả nêu trên có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận:

    Thứ nhất, kết quả do nguyên nhân quyết định, do vậy muốn tạo ra một sự vật hiện tượng nào đấy phải nhận thức được nguyên nhân của sự vật đó.

    Thứ hai, nguyên nhân xuất hiện trước kết quả, do vậy muốn nhận thức nguyên nhân của một sự vật nào đấy phải nghiên cúm sự tác động giữa những sự vật xuất hiện trước sự vật đang cần tìm nguyên nhân.

    Thứ ba, nguyên nhân sinh ra kết quả còn phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, do vậy trong hoạt động thực tiễn con ngưòi có thể chủ động tác động vào điều kiện để làm cho nguyên nhân phát huy tác dụng tạo ra kết quả theo nhu cầu của con người.

    Thứ tư, kết quả có thể tác động trở lại nguyên nhân làm cho nguyên nhân biến đổi, phát huy tác dụng, do vậy trong thực tế có thể lợi dụng kết quả đã đạt được để thúc đẩy quá trình hoạt động của nguyên nhân tạo ra kết quả mới theo yêu cầu của con người.

    Định nghĩa: Hiện thực là phạm trù chỉ những sự vật, hiện tượng, quá trình đang có trên thực tế. Còn khả năng là phạm trù chỉ những sự vật, hiện tượng, hiện chưa có, chưa tồn tại trên thực tế, mà mới tồn tại ở dạng tiềm năng hay mầm mống, nhưng sẽ trở thành hiện thực (tức tồn tại trên thực tế) trong tương lai với những điều kiện nhất định.

    Thí dụ, hôm nay, trong lúc này “mỗi chúng ta” với tư cách là một người bình thường đang sống, đang hoạt động, có thể đi lại, ăn uống, suy nghĩ v.v. đó là hiện thực. Nhưng ngày mai, lúc khác “mỗi chúng ta” có thể biến đổi thành một con người khác, già, yếu, bệnh tật v.v. nhưng hiện tại “cái con người khác đó” chưa tồn tại trên thực tế, mà mới tồn tại ở dạng tiềm năng, hay mới có những yếu tố của cái sự vật thực tế. Chỉ trong tương lai, với những điều kiện nhất định “cái con người khác đó” mới tồn tại thực tế, đó là khả năng. Với nghĩa đó, phạm trù khả năng chỉ sự vật chưa tồn tại trên thực tế, hay chưa có thực, mà chỉ là những yếu tố, những mầm mống của “sự vật trong tương lai” nằm trong cái hiện thực. Các yếu tố đó khác với sự vật hiện thực được phản ánh trong phạm trù hiện thực.

    Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực

    Hiện thực bao hàm trong mình những yếu tố, những mầm mong để thay thế nó bằng cái khác, tức hiện thực là cơ sở của khả năng. Khả năng có nguồn gốc, mầm mống từ hiện thực. Sự vật nào cũng là một cái hiện thực tại thời điểm này, đồng thời bao hàm trong nó các yếu tố làm cơ sở để chuyển hoá thành sự vật khác, nghĩa là sự vật nào cũng chứa đựng khả năng. Thí dụ, đứa trẻ mới sinh với các cơ quan thính giác, thị giác v.v. bình thường, nhưng chưa biết nói, đó là hiện thực. Đứa trẻ biết nói khi đó chưa tồn tại trên thực tế, mà chỉ có các yếu tố để có thể hình thành nên đứa trẻ biết nói trong tương lai. Đứa trẻ biết nói trong tương lai đó là khả năng. Như vậy, khả năng có mầm mong trong hiện thực. Hiện thực chứa đụng khả năng.

    Quá trình vận động của sự vật làm cho khả năng chuyến hoá thành hiện thực, làm cho những yếu tố, mầm mống của cái mới nằm trong hiện thực biến thành “hiện thực mới”. Trong cái “hiện thực mới” lại xuất hiện khả năng mới. Vì vậy có thể nói sự vận động phát triến của sự vật bao hàm trong nó sự chuyển hoá khả năng thành hiện thực và sự nảy sinh khả năng mới từ hiện thực mới.

    Thứ nhất, để chủ động cải biến một sự vật nào đó phải nhận thức được những khả năng biến đổi của sự vật, nhưng muốn nhận thức được khả năng biến đổi của sự vật, nhất thiết phải dựa vào hiện thực, nghiên cứu những sự vật tồn tại hiện thực, không thể dựa vào cái chưa có, chưa xuất hiện.

    Thứ hai, quá trình khả năng biến thành hiện thực rất phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, do vậy muốn biến khả năng thành hiện thực phải căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thế đế tác động vào những yếu tố hiện thực.

    Cặp phạm trù nội dung và hình thức phản ánh mối quan hệ giữa các yếu tố cẩu thành nên sự vật và phương thức kết họp các yếu tố đó thành một cơ cấu, hay một hệ thống tương đối hoàn chỉnh và ổn định nhất định.

    Định nghĩa: Nội dung là phạm trù chỉ tổng số các yếu tố, các mặt, các quá trình cấu thành nên sự vật, hiện tượng. Hình thức là phạm trù chỉ phương thức kết hợp các yếu tố của sự vật, là hệ thống các mối liên hệ tương đối ổn định giữa các mặt, các yếu tố của sự vật. Thí dụ, trong một tác phẩm văn học những sự kiện, những con người hiện thực được phản ánh trong tác phẩm là nội dung của tác phẩm, còn phương thức phản ánh các sự kiện, phương thức thể hiện tính cách các nhân vật trong tác phẩm là hình thức. Hoặc một ví dụ đơn giản khác:

    Trong mâm cơm bao gồm các món ăn như rau, đậu, thịt, cá, cơm, canh, đó là nội dung của mâm cơm. Sự bày biện, kết hợp các món theo những tỷ lệ nhất định, đó là hình thức của mâm cơm. Một sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất giữa mặt nội dung và mặt hình thức.

    Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức

    Nội dung và hình thức tồn tại khách quan, nhưng không tách ròi nhau. Không có nội dung thuần tày và hình thức thuần túy tồn tại tách rời nhau trên thực tế. Nội dung và hình thức là hai mặt của sự vật gắn bó chặt chẽ với nhau. Bất kỳ nội dung nào cũng tồn tại trong một hình thức nhất định và bất kỳ hình thức nào cũng là hình thức của một nội dung nhất định. Một nội dung có thể được thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau và một hình thức cũng có thể thể hiện nhiều nội dung khác nhau.

    Tuy nhiên giữa nội dung và hình thức có sự khác biệt nhau ở chỗ: Hình thức là mặt ổn định hơn nội dung, ít biến đổi hon nội dung. Nội dung là mặt không ổn định, mặt thường xuyên biến đổi của sự vật. Sự biến đổi của hình thức do sự biến đổi của nội dung quyết định. Ngược lại hình thức có tính độc lập tương đối so với nội dung và tác động đến sự biến đổi của nội dung. Hình thức không phù họp với nội dung sẽ ngăn cản nội dung phát triển, ngược lại nếu hình thức phù họp với nội dung sẽ tạo điều kiện thúc đẩy nội dung phát triển. Nội dung và hình thức quan hệ biện chứng với nhau trong suốt quá trình vận động và phát triển của sự vật. Thí dụ, các yếu tố con người, đối tượng lao động, công cụ lao động, con người dùng công cụ để tác động vào đối tượng lao động, đó là nội dung của quá trình lao động sản xuất. Cách thức (hay hình thức) con ngưòi sử dụng công cụ để tác động vào đối tượng lao động như thế nào, đó là hình thức của quá trình lao động. Nếu hình thức kết họp không thích họp sẽ không phát huy được năng lực của các yếu tố con người, công cụ lao động và đối tượng lao động. Neu cách thức kết hợp thích họp sẽ nâng cao được hiệu quả của quá trình lao động, tức làm cho nội dung phát triển.

    * Ý nghĩa phương pháp luận

    Từ lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức nêu trên có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận sau:

    Vì nội dung quyết định hình thức, nhưng hình thức có tính độc lập tương đối và tác động tích cực đến sự biến đổi của nội dung, nên để thúc đẩy sự vật phát triển phải biết tạo ra hình thức kết hợp các yếu tố của bản thân sự vật một cách phù hợp.

    Nhưng muốn xác định được hình thức thích hợp vói nội dung phải căn cứ vào ciiính nội dung, phải tìm hiểu rõ những yểu tồ cấu thành nên sự vật, vị trí, vai trò của các yếu tố đó, từ đó mói tìm ra hình thức thích họp với nội dung.

    Đây chính là cơ sở phương pháp luận của nguyên tắc xác định hình thức xuất phát từ nội dung, xác định phương pháp hoạt động xuất phát từ bản thân nội dung đối tượng, tránh chủ nghĩa hình thức trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, tách rời hình thức khỏi nội dung, tuyệt đối hoá vai trò của hình thức, không thấy vai trò của nội dung đối với hình thức.

    2.3. Nội dung lý luận và ý nghĩa phương pháp luận của ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

    Nội dung lý luận của ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật là sự phát triển sâu sắc hơn nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển, chỉ ra nguồn gốc, động lực, cách thức và xu hướng vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới, từ đó làm phong phú hơn nguyên tắc phương pháp luận của hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật.

    a) Quy luật chuyến hoá từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại

    Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại là một quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, chỉ ra mối quan hệ, sự chuyển hoá giữa hai mặt, hai tính quy định vốn có của sự vật là chất và lượng. Từ đó nói lên phương thức biến đổi, phát triển từ sự vật này sang sự vật khác của hiện thực khách quan.

    Định nghĩa chất và lượng

    Từ lâu, khi nhận thức và cải tạo thế giới con người đó nhận thấy: Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất đều tồn tại trong không gian và thời gian nhất định, có những đặc điểm nhất định để phân biệt nó với cái khác, người ta gọi đó là tính quy định về chất của sự vật. Đồng thời mọi sự vật không tồn tại mói mà sẽ mất đi để sự vật mới ra đời. Sự vật mới và sự vật cũ khác nhau về chất. Sự mất đi của sự vật cũ có nguồn gốc từ sự thay đổi dần dần những yếu tố nào đó trong chính nó mà chúng ta không nhận ra được ngay. Chỉ đến mức độ nào đó sự biến đổi của những yếu tố đó mới được bộc lộ. Cái mặt thay đổi âm thầm, không nhận ra đó người ta gọi là lượng của sự vật. Vậy mọi sự vật đồng thời tồn tại hai mặt, hay hai tính quy định là chất và lượng. Sự thay đổi về chất của sự vật bắt nguồn từ sự thay đổi dần dần về lượng. Bằng kinh nghiệm con người đó nhận ra mối quan hệ giữa hai mặt chất và lượng của sự vật và diễn đạt mối quan hệ đó bằng nhiều cách khác nhau. Thí dụ, ông cha ta thường nói: có công mài sắt, có ngày nên kim; một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao; tích gió thành bão v.v. Tuy nhiên chất và lượng là gì, quan hệ với sự vật như thế nào và cơ cấu tác động giữa chất và lượng như thế nào để quy định sự vận động biến đổi của sự vật, cần luận giải một cách có hệ thống mới đảm bảo tính khái quát khoa học của quy luật. Để thực hiện điều đó trước hết cần định nghĩa khái quát về chất và lượng.

    Chất là một tính quy định vốn có của sự vật, là tổng họp hữu cơ các thuộc tính của sự vật nói lên sự vật là gì, để phân biệt sự vật này với sự vật khác trong một mối quan hệ nhất định. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chất có những tính chất sau:

    Chất là tính quy định khách quan, gắn liền với sự vật, là mặt tương đối ổn định, đặc trưng cho sự vật trong một quan hệ nhất định. Không có chất thuần túy tồn tại bên ngoài sự vật. Chất không phải do tư duy con người sáng tạo ra rồi gán cho sự vật.

    Chất và thuộc tính của sự vật có quan hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi sự vật đều là tổng họp của rất nhiều thuộc tính, đó là những đặc tính vốn có của sự vật được bộc lộ ra thông qua sự tác động giữa sự vật này với sự vật khác. Thí dụ, nước có các thuộc tính như: chất lỏng, lthông màu, không mùi, không vị, đóng băng ở 0°c, hoá hơi ở 100°c, công thức hoá học H 20, hoà tan được đường, muối, rượu v.v. Chất không đồng nhất với thuộc tính của sự vật, nhưng chất phụ thuộc vào thuộc tính, là tổng hợp các thuộc tính nói lên sự vật là gì, phân biệt với sự vật khác trong một mối quan hệ nhất định. Cácli thức kết hợp các thuộc tính, các yếu tố của sự vật khác nhau cũng làm cho sự vật có chất khác nhau. Sự vật có nhiều thuộc tính và có nhiều mối quan hệ. Có thể trong mối quan hệ này, thuộc tính này giữ vai trò căn bản, quy định chất của sự vật, nhưng trong mối quan hệ khác, thì thuộc tính khác lại giữ vai trò quyết định. Thí dụ, để phân biệt nước với rượu, hoặc giấm, các thuộc tính không mùi, không vị, công thức phân tử H 2 0 v.v. là thuộc tính căn bản quy định chất của nước trong quan hệ với rượu, giấm. Nhung trong quan hệ giữa nước ở trạng thái lỏng với nước đá và hơi nước, thì thuộc tính lỏng của nước là thuộc tính căn bản quy định chất của nước ở trạng thái lỏng, phân biệt với nước ở trạng thái hơi (hơi nước) và trạng thái rắn (nước đá). Như vậy, sự phân biệt giữa chất và thuộc tính chỉ có ý nghĩa tương đối.

    Sự vật có nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính có thể là chất của sự vật trong một mối quan hệ nhất định. Do vậy sự vật không phải chỉ có một tính quy định về chất mà có nhiều tính quy định về chất. Ăngghen nói: không có chất thuần túy tồn tại, chỉ có sự vật có chất, hon nữa sự vật có vô vàn chất mới tồn tại. Tương ứng với tính quy định về chất của sự vật có tính quy định về lượng.

    Lượng là một tính quy định vốn có của sự vật về phương diện: quy mô, trình độ phát triển của sự vật, số lượng các yếu tố, các thuộc tính cẩu thành nên sự vật, tốc độ, nhịp điệu phát triển của sự vật, mức độ cao thấp, đậm nhạt, to nhỏ của nhiệt độ, màu sắc và kích thước của sự vật v.v. và thường được biểu thị bằng con số và đại lượng. Thí dụ, nhiệt độ của nước ở trạng thái lỏng có thể là l°c, có thể 20°c, 30°c v.v. Trọng lượng riêng của nước là lkg/dm 3, tốc độ của một đoàn tàu là 100 km/giờ v.v. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng tính quy định về lượng có những tính chất sau:

    Tính quy định về lượng là cái vốn có của sự vật, tồn tại khách quan ừong sự vật, được tư duy của con người nhận thức, phản ánh, chứ không phải được tư duy của con người sáng tạo ra rồi đưa vào sự vật.

    Tính quy định về lượng không ổn định và không đặc trưng cho sự vật như tính quy định về chất. Tuy nhiên sự phân biệt giữa chất và lượng cũng chỉ có ý nghĩa tương đối. Trong mối quan hệ này một thuộc tính nào đấy của sự vật có thể giữ vai trò là chất, đặc trung cho sự vật, nhưng chuyển sang mối quan hệ khác thì thuộc tính đó lại chỉ là một yếu tố quy định mức độ phát triển của sự vật, như là mặt lượng của sự vật. Thí dụ, trong quan hệ giữa các trạng thái nước đá, nước lỏng, hơi nước thì tính lỏng của nước là một tính quy định về chất, đặc trưng cho nước ở trạng thái lỏng. Nhung trong mối quan hệ giữa nước với rượu, hay với giấm thì tính lỏng không đặc trưng cho nước mà chỉ là một trong những thuộc tính của nước. Xét về số lượng các thuộc tính thì đó là một một yếu tố của lượng.

    Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng

    Tính quy định về chất phản ánh mặt tương đối ổn định của sự vật. Tính quy định về lượng phản ánh mặt thường xuyên biến đổi của sự vật. Hai mặt chất và lượng có tính chất trái ngược nhau, nhưng quan hệ chặt chẽ với nhau tạo nên một mâu thuẫn biện chứng của sự vật. Sự tác động giữa chất và lượng làm cho lượng biến đổi trướCj vì lượng là mặt không ổn định như tỉnh quy định về chất. Sự thay đổi của lượng bằng cách tăng hoặc giảm dần và trong một giới hạn nhất định chưa làm cho chất của sự vật biến đổi. Khi đó sự vật vẫn là nó, chưa chuyển nhất định nào đó mới làm cho chất của sự vật biến đổi. Khi đó sự vật cũ chuyển sang sự vật mới.

    Giới hạn trong đó sự biến đổi về lượng chưa làm cho chất của sự vật biến đổi được gọi là “độ”. Mỗi sự vật trong một quan hệ nhất định nào đó có một “độ nhất định”. Chỉ khi sự biến đổi của lượng đạt đến giới hạn của “độ” mới xảy ra sự biến đổi về chất của sự vật.

    Thời điểm ở đó sự biến đổi về lượng chuyển hoá thành sự biến đổi về chất của sự vật được gọi là điểm nút. Sự biến đổi về chất tại điểm nút được gọi là bước nhảy.

    Có nhiều hình thức bước nhảy khác nhau như: bước nhảy nhanh, bước nhảy chậm, bước nhảy bộ phận, bước nhảy toàn bộ, bước nhảy lớn, bước nhảy nhỏ. Mỗi sự vật có các hình thức bước nhảy khác nhau. Thông qua bước nhảy sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời. Trong sự vật mới lại có tính quy định về chất và lượng mới. Quá trình tác động giữa chất và lượng mới lại diễn ra theo cách thức nói trên làm cho sự vật vận động biến đổi không ngừng trong đó có sự xen kẽ giữa quá trình thay đổi dần dần về lượng và bước nhảy vọt về chất.

    Sự biến đổi của chất là do sự biến đổi của lượng quyết định. Nhưng khi chất mới ra đời sẽ tác động đến sự thay đổi về lượng, làm cho quy mô, nhịp độ biến đổi của lượng thay đổi. Thí dụ, trong phương thức sản xuất phong kiến cũ, do quan hệ sản xuất lạc hậu, không phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nên đó không tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển. Khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, do quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phù họp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nên đó làm cho lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản phát triển rất nhanh với quy mô rất lớn.

    * Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật

    Thứ nhất, phải tôn trọng tính tất yếu của sự tích luỹ thường xuyên về ỉượng, tạo điều kiện cho sự thay đổi về chất của sự vật. Không được phủ nhận vai trò của sự thay đổi về lượng đối với sự vận động phát triển của sự vật. Trong hoạt động thực tiễn, cần phải tránh thái độ chủ quan, duy ý chí, muốn thay đối về chất mà không tính đến sự thay đổi về lượng như thế nào.

    Thứ hai, phải thấy vai trò của sự thay đổi về chất đối với sự phát triển của sự vật khi sự thay đổi về lượng đạt đến giới hạn. Không có sự thay đổi về chất thì không thể thay thế sự vật cũ bằng sự vật mới và không thể thúc đẩy sự vật tiếp tục phát triển được. Do vậy trong hoạt động thực tiễn phải chống thái độ bảo thủ, trì trệ, không muốn thay đổi về chất khi điều kiện khách quan cho phép để thúc đẩy sự vật mới ra đời đó đầy đủ.

    Thứ ba, sự thay đổi về chất được thực hiện dưới các hình thức khác nhau tuỳ theo từng sự vật và điều kiện cụ thể khác nhau. Vì vậy phải vận dụng linh hoạt các hình thức bước nhảy để đẩy nhanh quá trình phát triển của sự vật, hoặc có thể chủ động giữ cho sự vật tồn tại nhằm phục vụ cho nhu cầu của con người. Thí dụ, để duy trì sức khỏe phải có chế độ ăn uống, nghỉ ngơi điều độ. Ản uống thiếu hoặc thừa chất đạm sẽ gây bệnh, hại cho sức khỏe. Để chữa khỏi một bệnh nào đấy phải dùng thuốc đủ liều, nếu dùng không đủ liều hoặc dùng quá liều đều không tốt, có thể không khỏi bệnh, hoặc có thể lại đưa đến hậu quả có hại mới. Trong lĩnh vực xã hội hình thức bước nhảy về chất rất phức tạp, bởi vì mọi sự biến đổi xã hội đều phải thông qua hoạt động của con người. Do những lực lượng xã hội có những lợi ích khác nhau, trong xã hội có giai cấp đối kháng có thể có những lợi ích đối lập nhau, nên hoạt động của họ có xu hướng trái ngược nhau, tạo ra những yếu tố làm cho bước nhảy về chất không diễn ra một cách tự phát như trong tự nhiên.

    b) Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

    Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập nói lên nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động và phát triển. V.I. Lênin còn cho rằng quy luật này là hạt nhân của phép biện chứng, óng viết: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chúng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm”.

    Khái niệm mặt đối lập, mâu thuẫn, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

    Quá trình hoạt động thực tiễn và nhận thức đó cho thấy: Mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trong hiện thực khách quan đều bao chứa những mặt, những yếu tố, những thuộc tính có đặc điểm trái ngược nhau, nhưng quan hệ chặt chẽ với nhau. Những mặt, những yếu tố có đặc điểm trái ngược nhau đó được gọi là mặt đối lập. Thí dụ, một nguyên tử có điện tử mang điện tích âm và hạt nhân mang điện tích dương. Điện tử và hạt nhân là hai mặt đối lập kết hợp với nhau tạo thành nguyên tử. Một vật chuyển động luôn có lực đẩy và lực cản tác động trái chiều nhau. Một cơ thể sống luôn phải thực hiện hai quá trình trái ngược nhau: hấp thụ các chất dinh dưỡng từ môi trường vào cơ thế và đào thải ra môi trường những chất từ cơ thể. Hai quá trình trái ngược nhau đó cũng là hai mặt đối lập của một cơ thể sống. Di truyền và biến dị cũng là hai quá trình đối lập nhau của sự phát triển của thế giới sinh vật. Các mặt đối lập của sự vật tồn tại khách quan. Hai mặt đối lập của sự vật vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng của sự vật. Mâu thuẫn biện chứng là một hiện tượng khách quan và phổ biến của thế giới (cả tự nhiên, xã hội và tư duy).

    Mâu thuẫn tồn tại khách quan vì nó được tạo ra từ sự kết họp các mặt đối lập vốn có của sự vật, không do ai sáng tạo ra và không phụ thuộc vào ý thức của con người. Dù con người có nhận thức được hay không thì mâu thuẫn vẫn tồn tại. Thí dụ, sự thống nhất và đấu tranh giữa di truyền và biến dị trong quá trình phát triển của động, thực vật là quá trình khách quan, vốn có của thế giới sinh vật đó tồn tại rất lâu trước khi con người xuất hiện.

    Mâu thuẫn là một hiện tượng phổ biến vì không có sự vật, hiện tượng, quá trình nào không chứa đựng mâu thuẫn. Ăngghen nói, ngay sự vận động đơn giản nhất là sự thay đổi vị trí của sự vật trong không gian cũng là một mâu thuẫn, bởi vì trong cùng một lúc sự vật vừa ở một vị trí vừa không ở vị trí đó, vừa ở vị trí kề bên, đó là một mâu thuẫn. Mâu thuẫn đó luôn được giải quyết, nhưng đồng thời lại luôn xuất hiện đã đẩy sự vật vận động từ vị trí này sang vị trí khác. Những hình thức vận động phức tạp hơn như sự sống, hay như vận động xã hội thì lại càng phải có mâu thuẫn.

    Sự vật là một kết cấu phức tạp, không phải chỉ có một mâu thuẫn, mà có nhiều mâu thuẫn. Mỗi mâu thuẫn có hình thức thể hiện, có quá trình biến đổi và có vai trò khác nhau đối với sự vận động phát triển của sự vật.

    Sự vận động của mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động phát triển của sự vật

    Một mâu thuẫn bao gồm hai mặt đối lập. Hai mặt đối lập của một mâu thuẫn vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh với nhau. Thống nhất của hai mặt đổi lập có ba nghĩa: một là, sự nương tựa vào nhau, ràng buộc nhau, sự cùng tồn tại của hai mặt đối lập, mặt này làm tiền đề tồn tại cho mặt kia; hai là, sự đồng nhất giữa hai mặt đối lập, nhờ sự đồng nhất mà hai mặt có thể chuyển hoá cho nhau; ba là, sự dung hoà giữa hai mặt đối lập, hai mặt đối lập có sự tác động ngang nhau. Thống nhất của hai mặt đối lập có xu hướng chủ đạo là giữ cho hai mặt đối lập tạm thời ổn định. Điều đó làm cho sự vật tạm thời tồn tại và tạm thời đứng im.

    Đồng thời với sự thống nhất, hai mặt đối lập trong mâu thuẫn biện chứng còn thường xuyên đấu tranh với nhau. Đấu tranh của hai mặt đối lập là sự tác động qua lại giữa chúng theo xu hướng bài trừ, phủ định nhau, sự thúc đẩy nhau biến đổi.

    Đấu tranh của hai mặt đối lập có xu hướng chủ đạo là làm cho các mặt đổi lập biển đổi. Nhưng sự biến đổi của hai mặt đổi lập trong phạm vi nhất định chưa phá vì sự thống nhất giữa hai mặt đối lập, nên mâu thuẫn của sự vật vẫn tồn tại và sự vật vẫn chưa biến thành sự vật khác. Trong phạm vi sự thống nhất giữa hai mặt đối lập, đấu tranh của hai mặt đối lập diễn ra thường xuyên làm cho hai mặt đối lập biến đổi theo chiều hướng trái ngược nhau, điều đó dẫn đến sự thay đổi trạng thái của mâu thuẫn. Ở trạng thái đầu tiên của mâu thuẫn, hai mặt đối lập chủ yếu còn thống nhất với nhau, mâu thuẫn biểu hiện ra chỉ như là sự khác biệt giữa hai mặt đối lập. Sự khác biệt của hai mặt đối lập ngày một tăng do sự đấu tranh của hai mặt đối lập vẫn tiếp diễn, làm cho mâu thuẫn chuyển từ trạng thái khác biệt sang trạng thái đối lập. Ớ trạng thái đối lập sự thống nhất của hai mặt đối lập vẫn được duy trì, nhưng sự đấu tranh của hai mặt đối lập trở nên gay gắt hơn, mâu thuẫn trở nên căng thẳng hơn. Sự đấu tranh của hai mặt đối lập tiếp tục tăng cao đến mức hai mặt đối lập không còn có thể nương tựa vào nhau được nữa, đòi hỏi phải phá vì sự thống nhất giữa hai mặt đối lập. Khi đó mâu thuẫn chuyển sang trạng thái chuyển hoá. Trong trạng thái chuyến hoá, hai mặt đối lập không còn nương tựa vào nhau mà đều chuyển hoá thành các mặt đối lập mới.

    Tùy theo mỗi sự vật và tùy điều kiện hoàn cảnh khác nhau, hình thức chuyển hoá của các mặt đối lập có sự khác nhau. Thông qua bước chuyến hoá, sự thống nhất giữa hai mặt đối lập cũ mất đi để hình thành nên sự thống nhất mới. Tương ứng với điều đó là sự vật cũ mất đi và hình thành sự vật mới. Trong sự vật mới lại có những mặt đối lập để tạo thành mâu thuẫn mới. Quá trình thống nhất và đấu tranh của hai mặt đối lập trong mâu thuẫn mới tiếp tục diễn ra để đẩy mâu thuẫn phát triển đến mức độ nhất định, ở đó lại xảy ra sự chuyển hoá làm cho sự vật mới đó chuyển sang sự vật mới khác. Đó là quy luật vận động của mâu thuẫn. Rõ ràng là sự vận động của mâu thuẫn (sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập) là nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động, phát triển của sự vật.

    Đấu tranh của các mặt đối lập diễn ra thường xuyên, quy định sư vận động thường xuyên của sự vật. Thống nhất của các mặt đối lập nhất định của sự vật tồn tại trong những điều kiện nhất định, tức sự thống nhất của các mặt đối lập là có tính chất tương đối. Thống nhất của các mặt đối lập của sự vật quy định đến sự đứng im tương đối của sự vật.

    Lý luận về quy luật mâu thuẫn còn chỉ ra rằng: sự vật không phải chỉ có một mâu thuẫn mà có nhiều mâu thuẫn. Mồi mâu thuẫn có vị trí vai trò khác nhau đối với sự vận động, biến đổi của sự vật. Do vậy cần phân biệt một số loại mâu thủẫn như: mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài; mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản; mâu thuẫn chủ yếu và thứ yếu; trong xã hội có giai cấp thì có mâu thuẫn đổi kháng và không đối kháng.

    * Ý nghĩa phương pháp luận

    Thứ nhất, phải xuất phát từ bản thân sự vật, phân tích mối liên hệ giữa các mặt, các yếu tố cấu thành nên sự vật để tìm ra mâu thuẫn của chính sự vật. Không có sự vật hiện tượng nào là hoàn toàn thuần nhất, không có mâu thuẫn. Vì vậy Lênin nói: Phân đôi cái thống nhất và nhận thức các bộ phận đổi lập của nó, đó là thực chất phép biện chứng.

    Thứ hai, sự vật có nhiều mâu thuẫn, mỗi mâu thuẫn có vị trí vai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của sự vật. Do vậy phải phân tích quá trình tác động giữa các mặt đối lập, mối liên hệ giữa sự tác động đó với sự vận động của sự vật để xác định được mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu của sự vật.

    Thứ ba, mâu thuẫn chỉ được giải quyết ở giai đoạn các mặt đổi lập xung đột gay gắt với nhau và phương thức giải quyết mâu thuẫn là các mặt đối lập phải tác động qua lại với nhau để tự chuyển hoá. Không được dùng ý chí chủ quan để thủ tiêu mâu thuẫn, điều hoà giữa các mặt đối lập, hoặc tuyệt đối hoá mặt này, gạt bỏ mặt kia.

    c) Quy luật phủ định của phủ định

    Quy luật phủ định của phủ định phản ánh khuynh hướng phát triển theo con đường xoáy ốc, phản ánh tính kế thừa, tính chu kỳ của sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan.

    Định nghĩa phủ định và phủ định biện chứng

    Nghiên cứu các sự vật hiện tượng trong thế giới xung quanh, chúng ta thấy không có sự vật hiện tượng nào trong thế giới tồn tại mãi. Sự vật nào cũng có quá trình ra đời, tồn tại, vận động, biến đổi và chuyển hoá sang sự vật hiện tượng khác. Triết học gọi sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác là sự phủ định. Trên thực tế có sự phủ định tự thân, có sự phủ định do các yếu tố bên ngoài quyết định. Sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác một cách tự thân được gọi là phủ định biện chứng. Thí dụ, có hàng trăm nghìn hạt thóc được nghiền nát thành bột, nấu chín và được tiêu hoá đi, đó không phải là phủ định biện chứng, nhưng có một hạt thóc rơi xuống đất, gặp điều kiện độ ẩm và nhiệt độ thích hợp, nó tự nảy mầm và chuyển hoá thành cây lúa. Đây là sự tự phủ định của hạt thóc, sự phủ định này được gọi là phủ định biện chứng.

    Tính chất của phủ định biện chứng

    Phủ định biện chứng có tính khách quan và tính kế thừa.

    Tính khách quan của phủ định biện chứng nghĩa là sự phủ định không do ai sáng tạo ra, không phụ thuộc vào ý thức của con người. Nguyên nhân của sự phủ định là do mâu thuẫn của bản thân sự vật quyết định, nghĩa là do sự tác động lẫn nhau giữa các mặt đối lập bên trong sự vật hoặc sự tác động lân nhau giữa sự vật này với sự vật khác quy định sự phủ định.

    Tính kế thừa nghĩa là sự phủ định biện chứng không xóa bỏ hoàn toàn cái cũ. Cái mới ra đời luôn giữ lại những yếu tố nhất định của cái cũ dưới hình thức mới. Nhờ tính kế thừa mà phủ định biện chứng liên kết cái mới với cái cũ. Cái mới ra đời trên cơ sở cái cũ, cái cũ là tiền đề cho sự ra đời cái mới.

    Phủ định của phủ định và sự phát triển theo con đưòng xoáy ốc

    Sự phát triển của các sự vật phải thông qua những lần phủ định biện chứng. Phủ định lần thứ nhất sự vật từ điểm xuất phát ban đầu chuyển sang cái mới đối lập với cái ban đầu. Cái mới, đối ỉập với cái ban đầu này không hoàn toàn loại bỏ cái xuất phát ban đầu, mà giữ lại những yếu tố nhất định của cái ban đầu dưới hình thức mới. Vì vậy cái đối lập (cái phủ định lần thứ nhất) với cái xuất phát ban đầu có quan hệ kế thừa nhau. Cái đối lập, đến lượt nó lại bị phủ định để sự vật chuyển sang cái mới khác. Quá trình phủ định biện chứng, tất yếu dẫn đến một sự phủ định mà qua đó đưa sự vật dường như quay lại điểm xuất phát ban đầu, nhưng trên cơ sở mới cao hơn. Đó là phủ định của phủ định.

    Tính chất phủ định của phủ định. Phủ định của phủ định cũng có tính khách quan và tính kế thừa vì nó được thiết lập từ sự phủ định biện chúng. Ngoài ra phủ định của phủ định còn có tính chất lặp lại cái ban đầu trên cơ mới, hay nói khác đi: đưa sự vật dường như quay lại điểm xuất phát ban đầu, nhưng trên cơ sở mới cao hơn về chất. Có tính chất này vì sự vật do phủ định của phủ định đưa đến là cái đã qua một số lần lọc bỏ. Sự phát triển hơn về chất đó phản ánh tính chất chu kỳ và xu hướng đi lên của sự phát triển.

    Phủ định của phủ định là sự kết thúc một chu kỳ phát triển của sự vật, đồng thời mở đầu cho một chu kỳ phát triển mới. Sự phát triến của sự vật thông qua những vòng khâu phủ định của phủ đinh như vậy sẽ tạo nên một con đường xoáy ổc theo chiều hướng đi lên. Con đường xoáy ốc là sự phản ánh khái quát quá trình phát triến đi lên của các sự vật, hiện tượng.

    Tuy nhiên trên thực tế quá trình phủ định của phủ định của mỗi sự vật diễn ra rất phức tạp và có các hình thức khác nhau: có thê một chu kỳ phát triển diễn ra nhanh hoặc chậm, có thể trải qua số lần phủ định biện chứng khác nhau để đi đến phủ định của phủ định v.v. Đó là nội dung quy luật phủ định của phủ định.

    * Ý nghĩa phương pháp luận

    Thứ hai, phải tôn trọng tính kế thừa của sự phát triển, từ đó phải có thái độ đúng đắn đối với cái cũ, không được phủ định sạch trơn, đồng thời cũng không được kế thừa nguyên xi cái cũ. Chẳng hạn, để xây dựng xã hội mới ở nước ta, phải biết kế thừa những giá trị truyền thống của dân tộc đã hình thành trong lịch sử, đồng thời phải biết loại bỏ những truyền thống không còn phù hợp và thay đổi những truyền thống cũ cho phù hợp với yêu cầu mới.

    Thứ ba, phải tôn trọng tính chu kỳ, tính lặp lại của sự phát triển. Điều đó đòi hỏi phải nghiên cứu lịch sử để có thể dự kiến, tiên đoán những hình thức cơ bản của tương lại.

    Thứ tư, quy luật phủ định của phủ định diễn ra dưới hình thức rất khác nhau ở các sự vật khác nhau. Quá trình phủ định của phủ định trong tự nhiên khác quá trình phủ định của phủ định trong xã hội. Trong tự nhiên quy luật diễn ra một cách tự phát, không phụ thuộc vào hoạt động của con người, nhưng phủ định của phủ định trong xã hội lại thông qua hoạt động có ý thức của con người, phụ thuộc vào hoạt động của con người. Nếu nhận thức được quy luật, con người có thể chủ động lợi dụng quy luật, phục vụ cho nhu cầu của con người. Do vậy phải căn cứ vào từng sự vật để vận dụng quy luật thích họp, có hình thức kế thừa, cải tạo cái cũ cho thích hợp, tạo điều kiện cho cái mới ra đời.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 The Gioi Quan Va Pp Luan Docx
  • Chuyên Đề 3: Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Hướng Dẫn Cha Mẹ Phương Pháp Dạy Con Học Tốt Môn Tiếng Anh 6
  • Web 5 Ngày: Nếu Muốn Thành Công, Hãy Xem 5 Video Này
  • Cảm Nhận Về Phương Pháp Học Tiếng Anh Của Trường Saint Thomas More
  • Nói Quá Là Gì, Ví Dụ Biện Pháp Nói Quá Lớp 8

    --- Bài mới hơn ---

  • Tự Tìm Hiểu Về Pháp Luân Công
  • Giáo Sư Nguyễn Lân Dũng Nói Gì Về Pháp Luân Công
  • Tìm Hiểu Nhanh Pháp Luân Công Qua 10 Câu Hỏi
  • Pháp Luân Công Ninh Bình, Hỗ Trợ Học Pháp Luân Công
  • Tìm Hiểu Pháp Lý Dự Án Kiến Thức Được Tổng Hợp Chi Tiết 2022
  • Trong các tác phẩm văn học hoặc trong đời sống ngày chắc chắn chúng ta thường bắt gặp việc sử dụng nói quá. Vậy nói quá là gì? tác dụng của biện pháp nói và các ví dụ về biện pháp tu từ này. Thông tin bài học hôm nay sẽ được chuyển tải ngay bên dưới.

    Nói quá là gì?

    Trên mạng có rất nhiều khái niệm về nói quá, về cơ bản tất cả đều đúng nhưng nên dựa vào SGK có tính chuẩn xác cao nhất. Theo SGK Văn 8 nói quá là một biện pháp tu từ nhằm phóng đại mức độ, quy mô, tính chất sự việc, hiện thường với mục đích chính là tạo ấn tượng, tạo điểm nhấn, tăng sức biểu cảm cho diễn đạt.

    Tác dụng của biện pháp nói quá

    Nói quá là phép tu từ thường dùng nhằm tạo ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

    Nói quá sử dụng trong khẩu ngữ hàng ngày như lo sốt vó, buồn nẫu ruột, tức sôi máu, vắt chân lên cổ, mệt đứt hơi…

    Không chỉ vậy phép tu từ nói quá còn dùng trong các tác phẩm văn học cụ thể như các bài ca dao, châm biếm, anh hùng ca.

    Bài toán khó quá nghĩ nát óc mà không ra.

    Tây Thi có vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành.

    Gần tới kì thi cuối kỳ, Nam lo sốt vó.

    Bị điểm kém, Hà khóc như mưa.

    “khóc như mưa” phép nói quá diễn tả khóc nhiều.

    Phân biệt nói quá và nói khoác

    Học sinh cần phân biệt rõ ràng giữa nói quá và nói khoác tránh nhầm lẫn khi sử dụng trong đời sống cũng như khi diễn đạt trong các bài tập làm văn.

    Nói quá: nói đúng sự thật (tích cực), là biện pháp cường điệu tạo ấn tượng, tăng biểu cảm.

    Nói khoác: nói sai sự thật (tiêu cực), mục đích khoe khoang là chính. Không những không có giá trị biểu cảm mà còn khiến người khác có thể hiểu nhầm, sai ý nghĩa.

    Như vậy, sau bài này học các em cần phải hiểu nói quá là gì? tác dụng và đưa ra được các ví dụ minh họa. Có như vậy mới sử dụng đúng cách và chuẩn xác nhằm tăng biểu cảm cho diễn đạt.

    Hướng dẫn soạn bài Nói quá

    I. Nói quá và tác dụng

    1. Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng

    Ngày tháng mười chưa cười đã tối

    Với câu “Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày”.

    2. Khi nói như vậy sẽ diễn tả cường điệu sự vật quá mức bình thường mục đích sẽ nhấn mạnh sự việc, hiện tượng đó. Như vậy sự vật hiện tượng không bị phóng đại quá mức nhưng vẫn có mục đích nhấn mạnh.

    II. Luyện tập

    1. a. Nói quá về sức người, nhưng rất đúng : bàn tay con người có thể biến sỏi đá thành cơm.

    b. Nhấn mạnh dù vết thương có đau vẫn có thể đi bất cứ đâu – đi lên đến tận chân trời.

    c. Nói quá về lời nói của con người của con người có quyền hành, sức mạnh mỗi lời nói ra là người khác phải nghe theo. “Thét ra lửa” nói về nhân vật Bá Kiến trong tác phẩm Chí Phèo.

    2. a. Ở nơi mà chó ăn đá gà ăn sỏi đến cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà.

    b. Nhìn thấy tội ác của giặc ai ai cũng bầm gan tím ruột.

    c. Cô Nam tính tình xởi lợi ruột để ngoài da.

    d, e Các em tự làm.

    3. Đặt câu có sẵn về nói quá:

    – Thúy Kiều có vẻ đẹp nghiên nước nghiêng thành.

    – Sơn Tinh thưở xưa dời non lấp biển.

    – Những chiến sĩ mình đồng da sắt.

    – Nghĩ đã nát óc mà vẫn chưa hiểu bài toán này.

    4. Tìm ra 5 thành ngữ có sử dụng biện pháp nói quá trong câu.

    – Khỏe như voi.

    – Nhanh như cắt.

    – Ngủ như heo

    – Hiền như đất.

    – Chậm như rùa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Thể Lực Nhanh Nhất Với 7 Bài Tập Đơn Giản Tại Nhà!
  • Chia Sẻ Bài Tập Tăng Cường Thể Lực Tại Nhà
  • Kế Hoạch Hưởng Ứng, Tham Gia Cuộc Thi “tìm Hiểu Pháp Luật Trực Tuyến” Năm 2022
  • Cuộc Thi Tìm Hiểu Pháp Luật Trên Internet “cùng Chung Tay Đẩy Lùi Dịch Covid
  • 10 Kênh Bán Hàng Online Uy Tín & Hiệu Quả Nhất 2022 (Miễn Phí)
  • Một Số Vấn Đề Phương Pháp Luận Và Phương Pháp Nghiên Cứu Về Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Chỉ Với 1 Bài Tập Đơn Giản, Bạn Không Cần Phải Phẫn Thuật Thẩm Mỹ Để Có Gương Mặt Quyến Rũ Hơn
  • Phương Pháp Mới Để Giao Dịch Kiếm Sống Pdf
  • Phương Pháp Mới Để Giao Dịch Kiếm Sống
  • : Phương Pháp Mới Để Giao Dịch Kiếm Sống
  • Download Ebook Phương Pháp Mới Để Giao Dịch Kiếm Sống Epub/prc/pdf/doc/txt
  • PGS, PTS. Hoàng Chí Bảo; GS. Nguyễn Đǎng Mạnh;

    GS, PTS. Đỗ Hữu Châu; PTS. Nguyễn Thanh Tuấn; PGS. Song Thành

    “Một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh” là một công trình khoa học ra đời đúng lúc, có giá trị khoa học, có những đề xuất mới đối với môn Hồ Chí Minh học ở nước ta.

    Công trình bắt đầu từ việc xác định hai khái niệm phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, nói như một nhà phương pháp luận học phương Tây, tác giả cuốn Động thái về nghiên cứu khoa học xã hội (Dynamique de la recherche en sciences sociales) tức là con đường lôgích của sự nghiên cứu mà nhiều người ứng dụng, bao gồm:

    – Hệ quan điểm vận dụng;

    – Thao tác luận trong nghiên cứu, tức hệ trình (ordre) về những biện pháp và cách làm cụ thể.

    Những luận thuyết tác giả đưa ra đều đúng, đã chỉ ra được tiến trình sáng tạo của sự nghiên cứu nhằm đạt được ý đồ khoa học đã được xác định.

    Từ đó, một ưu điểm thứ hai của công trình là xuất phát từ một đối tượng nghiên cứu đặc biệt, tác giả đã tiến lên một bước rất cần thiết là xác định những nguyên tắc phương pháp luận đặc thù của việc nghiên cứu Hồ Chí Minh. Đây là một vấn đề hoàn toàn mới.

    Hồ Chí Minh là một nhân vật vĩ đại, đứng về khoa học, có thể nói đó là một đối tượng nghiên cứu mang tính chất tổng thể: tư tưởng, hành động, nhân cách, đời sống riêng, trước tác về chính trị, báo chí, thơ ca, các hoạt động quốc tế,… Như vậy, phải có một phương pháp luận và phương pháp riêng mới nghiên cứu và làm rõ được tính chất kỳ vĩ toàn diện của Hồ Chí Minh.

    Các tác giả đã thực hiện được điều đó bằng sức suy tư, tìm tòi, tổng kết và đề xuất của mình. Từ những nguyên tắc phương pháp luận đặc thù của việc nghiên cứu, các tác giả đã vận dụng sinh động và nhất quán vào việc tìm hiểu và xác định các phương pháp liên ngành và chuyên ngành trong nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

    Các phương pháp nghiên cứu tiểu sử, thơ vǎn, ngôn ngữ,… của Hồ Chí Minh được tác giả trình bày khá tỉ mỉ, cụ thể với nhiều dẫn chứng phong phú, có chọn lọc, theo một lôgích khoa học chặt chẽ, có ý nghĩa chỉ dẫn thiết thực đối với những nhà nghiên cứu trẻ mới đi vào chuyên ngành này. Phương pháp luận liên ngành đã được vận dụng với một hiểu biết khá sâu sắc.

    Với những lý do trên, tôi đánh giá cao công trình này, một công trình chứa đựng nhiều tìm tòi, khám phá mới, có trình độ khái quát cao, một đóng góp rất bổ ích vào việc nghiên cứu Hồ Chí Minh đang được triển khai rộng rãi ở nước ta.

    Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

    Giáo sư, Viện sĩ. Hoàng Trinh

    Trong những nǎm gần đây, công tác nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã không ngừng được mở rộng và phát triển, cả về nội dung nghiên cứu lẫn quy mô nghiên cứu. Từ chức nǎng, nhiệm vụ của một cơ quan, thậm chí của một số ít người chuyên trách, đến nay nó đang trở thành mối quan tâm của toàn xã hội. Các ngành, các địa phương, các học viện và nhà trường, ít nhiều đã hình thành được những trung tâm nghiên cứu, tổ nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Bộ môn tư tưởng Hồ Chí Minh đã và sẽ được đưa vào giảng dạy trong nhà trường, trước hết là các trường Đảng và trường đại học, nên việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh có triển vọng trở thành một bộ môn khoa học chuyên ngành của khoa học xã hội nước ta.

    Do đó, cùng với việc đổi mới và nâng cao chất lượng công tác lý luận, việc cải tiến và nâng cao chất lượng nghiên cứu về Hồ Chí Minh cũng đang được đặt ra như một yêu cầu cấp bách.

    Trong mấy chục nǎm qua, thành tựu nghiên cứu về Hồ Chí Minh có thể nói là khá toàn diện và phong phú. ở Việt Nam, có lẽ chưa có một tác giả nào, một nhân vật lịch sử nào lại được giới nghiên cứu trong nước và nước ngoài quan tâm nghiên cứu nhiều như thế, với một khối lượng công trình, luận vǎn, bài báo,… to lớn đến như thế. Trong đó, có không ít những công trình có giá trị, được giới nghiên cứu thừa nhận, nhất là các công trình có tính chất tiểu sử (như các cuốn Hồ Chí Minh của J. Lacouture; Đồng chí Hồ Chí Minh của E. Cabêlép; Hồ Chí Minh với Trung Quốc của Hoàng Tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tiểu sử và sự nghiệp của Viện lịch sử Đảng; Hồ Chí Minh – biên niên tiểu sử của Viện Hồ Chí Minh, v.v.).

    Về nghiên cứu tư tưởng, đạo đức, phong cách … Hồ Chí Minh, trước hết phải kể đến những tác phẩm của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã viết về Người, như tác phẩm của các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Vǎn Đồng, Nguyễn Vǎn Linh, Đỗ Mười, Võ Nguyên Giáp,… trong đó có những công trình và luận vǎn, tuy công bố đã lâu, đến nay vẫn giữ nguyên giá trị.

    Trong dịp kỷ niệm lần thứ 100 nǎm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là từ sau Đại hội VII của Đảng ta đến nay, việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã được đẩy mạnh, số lượng tác phẩm và bài viết tǎng nhiều lần so với bất cứ thời kỳ nào trước đây.

    Những kết quả được công bố đã góp phần làm rõ thêm khái niệm và hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, giúp cho toàn Đảng, toàn dân có thêm tài liệu nghiên cứu, học tập để vận dụng tư tưởng của Người vào sự nghiệp đổi mới cũng như vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Mặc dù khẳng định những thành tựu đã qua là to lớn, nhưng điều dễ nhất trí là những gì chúng ta làm được cũng mới chỉ là bước đầu, còn rất nhỏ bé so với tầm vóc của Hồ Chí Minh, so với mong đợi của nhân dân và bạn bè trên thế giới, so với yêu cầu về công tác tư tưởng và lý luận của Đảng ta.

    Nhược điểm dễ thấy nhất là chất lượng nghiên cứu khoa học về Hồ Chí Minh chưa cao, còn ít những công trình chuyên khảo có giá trị tổng kết về mặt lý luận, đưa ra được những dự án lý thuyết, đóng góp vào việc hoạch định và lựa chọn những giải pháp kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước. Một số công trình và bài viết vẫn chưa vượt lên được trình độ chung đã có, chưa hoàn toàn khắc phục được những biểu hiện của chủ nghĩa sơ lược, chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa kinh nghiệm,… Do đó, tính khoa học, tính thuyết phục trong nghiên cứu chưa cao, chưa sâu, chưa thực đủ hấp dẫn đối với người đọc.

    Để cải tiến và nâng cao chất lượng nghiên cứu về Hồ Chí Minh, có nhiều vấn đề phải bàn, song trước mắt, có hai vấn đề cấp bách cần giải quyết:

    1. Đổi mới công tác tư liệu về Hồ Chí Minh

    Công tác này bao gồm công tác sưu tầm, bổ sung, xác minh và xã hội hoá hệ thống tư liệu đã có. Muốn nâng cao chất lượng nghiên cứu về Hồ Chí Minh trên phạm vi toàn xã hội, trước hết phải xây dựng được một hệ thống tư liệu đầy đủ, chính xác, đã qua xử lý khoa học và đến tay được đông đủ nhà nghiên cứu. (Bộ Hồ Chí Minh – toàn tập và bộ Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử đã đáp ứng phần nào yêu cầu trên). Tuy nhiên, hiện còn một bộ phận quan trọng tư liệu về Hồ Chí Minh vẫn chưa được sưu tầm và khai thác đầy đủ. Do đó, muốn cải tiến và nâng cao chất lượng nghiên cứu về Hồ Chí Minh thì một trong những công việc quan trọng đầu tiên là phải sưu tầm và khai thác được đầy đủ hệ thống tư liệu chính xác, bảo đảm tính khoa học và tính thuyết phục cao.

    2. Xác lập những nguyên tắc phương pháp luận, cải tiến và đổi mới phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh

    2.1. Lâu nay, các nhà khoa học từ các chuyên ngành khác nhau tham gia vào việc nghiên cứu Hồ Chí Minh, chủ yếu vận dụng kinh nghiệm phương pháp luận của chuyên ngành mình hoặc bước đầu tiến lên sử dụng phương pháp liên ngành ở một mức độ nào đó. Cách làm này đã đem lại những kết quả nhất định.

    Những thành tựu trong công tác nghiên cứu về Hồ Chí Minh đang góp phần hình thành một bộ môn khoa học chuyên ngành, nó có đối tượng nghiên cứu riêng nên cần có phương pháp nghiên cứu thích hợp với đối tượng ấy, dưới sự chỉ đạo của những nguyên tắc phương pháp luận mang tính đặc thù của bộ môn.

    Vì vậy, đã đến lúc cần sớm làm rõ những vấn đề mà thực tiễn nghiên cứu đang đặt ra:

    Một là, những nguyên tắc phương pháp luận chung chỉ đạo việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh là gì?

    Hai là, có hay không có những nguyên tắc mang tính đặc thù của chuyên ngành nghiên cứu Hồ Chí Minh học?

    Ba là, cần phân biệt các khái niệm sau đây để tránh lầm lẫn trong nghiên cứu:

    – Phương pháp luận của Hồ Chí Minh (của bản thân đối tượng nghiên cứu). Cơ sở phương pháp luận chung của chúng ta là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Vậy xây dựng những nguyên tắc phương pháp luận chỉ đạo việc nghiên cứu Hồ Chí Minh cũng cần phải xuất phát từ chính phương pháp luận của Hồ Chí Minh. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu thấu đáo.

    – Phương pháp hệ (metthodicat) nghiên cứu về Hồ Chí Minh nên gồm những phương pháp nào để chẳng những kết quả nghiên cứu phải hiện thực mà phương pháp nghiên cứu, con đường dẫn đến kết quả đó, cũng phải hiện thực. Nghĩa là trong nhiều phương pháp hiện có, cần lựa chọn những phương pháp nào được coi là thích hợp và có hiệu quả nhất.

    – Phương pháp luận nghiên cứu về Hồ Chí Minh như là những nguyên tắc lý thuyết có ý nghĩa chỉ đạo chuyên ngành Hồ Chí Minh học.

    Các khái niệm này hiện nay chưa được làm rõ và sử dụng thống nhất trong nghiên cứu.

    Bốn là, nếu đối tượng nghiên cứu quyết định phương pháp nghiên cứu, thì công việc trước hết của giới nghiên cứu là phải khám phá đầy đủ, chính xác đối tượng nghiên cứu – ở đây là Hồ Chí Minh – tức là phải tìm hiểu và làm rõ: bản chất, đặc điểm của con người, tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh là gì ? Vấn đề này mấy nǎm qua giới nghiên cứu đã có nhiều cố gắng nhưng đến nay vẫn chưa được lý giải thoả đáng.

    2.2. Cần cải tiến và đổi mới phương pháp nghiên cứu để có được hiệu quả cao. Chung quanh vấn đề này hiện đang có nhiều ý kiến khác nhau:

    Có ý kiến cho rằng, các phương pháp cũ vẫn cần được khai thác và vận dụng cho tốt hơn, nhưng muốn đạt chất lượng mới, cần có sự đổi mới về phương pháp nghiên cứu. Có đúng như vậy không ? Đổi mới trên cơ sở nào, theo phương hướng nào ? Có thể tiếp thu những kinh nghiệm gì của khoa học nghiên cứu về các vĩ nhân trên thế giới ? Thí dụ, sự ra đời của một vĩ nhân như Hồ Chí Minh, theo chúng ta vẫn quan niệm, là một tất yếu lịch sử, nếu không có Hồ Chí Minh thì nhất định sẽ có một người khác, nhanh hay chậm, “thích hợp ít hay nhiều, nhưng cuối cùng cũng xuất hiện”, như Mác nói. Như vậy, trong cùng một điều kiện lịch sử, trên đất Nghệ – Tĩnh, khả nǎng “Nam Đàn sinh thánh” không phải chỉ có một người, nhưng cuối cùng vĩ nhân đó lại chính là Hồ Chí Minh, chứ không phải là một người nào khác; điều đó đòi hỏi chúng ta phải lý giải một cách cụ thể đủ sức thuyết phục.

    Lại có ý kiến cho rằng, lâu nay ta nghiên cứu vĩ nhân mới chủ yếu tiếp cận từ quan điểm giai cấp, từ những nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật lịch sử, điều đó hoàn toàn đúng nhưng chưa đủ. Con người không chỉ là sự tổng hoà của các quan hệ với tự nhiên nữa. Trong nghiên cứu, ta thường mới chú trọng con người xã hội mà xem nhẹ con người tự nhiên, coi trọng con người công dân mà xem nhẹ con người cá thể, đề cao con người hành động mà bỏ qua con người tâm linh,… Nếu chỉ như thế, thì vẫn chưa hiểu được Hồ Chí Minh, một người cộng sản phương Đông. Thí dụ, chúng ta đều biết Hồ Chí Minh có nhiều dự báo đã được lịch sử chứng nghiệm là đúng. Lý giải rằng, đó là kết quả của việc Người đã nắm bắt được quy luật phát triển của lịch sử kết hợp với một vốn tri thức khoa học phong phú của thời đại nên đã dự kiến được bước đi của tương lai,… Điều đó là hoàn toàn đúng. Nhưng diễn biến cụ thể của lịch sử vốn ngoắt ngoéo và đầy bất ngờ. Chẳng hạn, trong khi các nguyên thủ của phe Đồng Minh tại Hội nghị Têhêrǎng nǎm 1943 dự kiến rằng, phải đến nǎm 1946 mới có khả nǎng đánh bại được lực lượng phát xít, kết thúc chiến tranh, thì Hồ Chí Minh tại Pác Bó nǎm 1941 đã viết: 1945 Việt Nam độc lập! Và lịch sử đã diễn ra đúng như vậy.

    Vì vậy, có người đề nghị: trên cơ sở nắm vững những nguyên tắc và phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, nên chǎng có thể tham khảo và vận dụng có mức độ các phương pháp như các phương pháp trực cảm, trực giác, phương pháp thông hiểu (comphention), v.v.

    Theo chúng tôi nghĩ, vấn đề không phải là được phép hay không được phép sử dụng phương pháp nào với ý nghĩa là một công cụ nghiên cứu, mà cái chính là sử dụng như thế nào, với giới hạn nào để đạt được chân lý khoa học, mà không rơi vào duy tâm, thần bí.

    Lại có ý kiến khác cho rằng, trong nghiên cứu Hồ Chí Minh, tác phẩm và vǎn bản là cần, nhưng không phải là cái quan trọng nhất, mà điều quan trọng hơn là phải tìm hiểu xem tư tưởng của Người đã đi vào thực tiễn như thế nào, đã xâm nhập vào quần chúng, đã tỏ sức mạnh vĩ đại trong cuộc sống ra sao, có thể mới đánh giá được hết những cống hiến, giá trị, tác dụng của tư tưởng của Người đối với dân tộc.

    Đây là một vấn đề thuộc quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu, đánh giá tư tưởng – đạo đức Hồ Chí Minh khi đi vào quần chúng, đã trở thành niềm tin, hy vọng, thành sức mạnh vượt qua đầu thù như thế nào ? ở hình thái dân dã, nhiều thế hệ người Việt Nam trước đây và hiện nay vẫn tôn thờ Hồ Chí Minh như một vị thánh. Càng trong hoàn cảnh khó khǎn, gian khổ, trong tra tấn tù đày,… đồng bào và chiến sĩ ta càng hướng về Bác Hồ, tìm thấy ở Người một sự tiếp sức kỳ diệu. Có thể nói, Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ cộng sản hiện đại duy nhất đã được huyền thoại hoá ngay từ khi đang còn sống. Từ lúc trẻ ngay ở Pháp, khi chưa có tên tuổi sự nghiệp gì lớn, các đồng chí cùng hoạt động với Nguyễn ái Quốc ở Pari, qua ánh mắt sáng rực, khuôn mặt thanh khiết, nếp sống khổ hạnh của Nguyễn ái Quốc, đã nghĩ rằng đó là một nhà cách mạng khác thường. Rồi bọn mật thám Pháp, qua các báo cáo theo dõi và nhận xét của chúng, cũng đã đóng góp vào việc huyền thoại hoá con người “có khả nǎng cắm cây thập tự cáo chung lên nền thống trị của Pháp ở Đông Dương”.

    Còn nhân dân Việt Nam và thế hệ thanh niên yêu nước ở những thập niên đầu thế kỷ XX đã biết đến Nguyễn ái Quốc qua lời giảng của Cụ Phan về một số câu sấm truyền. Đặc biệt là trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thì hình ảnh Hồ Chí Minh đã đem lại sức mạnh trong lòng đồng bào, chiến sĩ, đặc biệt là với các chiến sĩ tử tù nơi Côn Đảo. Không phải chỉ chúng ta mà nhiều bạn bè quốc tế đã thừa nhận Hồ Chí Minh là một nhân vật huyền thoại, một vị thánh của cách mạng.

    ở đây ta không bàn đến nguyên nhân, điều kiện xuất hiện của hiện tượng này, nhưng đó là một hiện tượng có thực. Giải hiện tượng huyền thoại hoá này để nhận chân con người, tư tưởng, nhân cách vǎn hoá Hồ Chí Minh như thế nào ? Giữa con người lịch sử – hiện thực và con người tượng trưng (symbol), chung đúc trong đó cả khát vọng, lương tâm, vinh dự của một dân tộc, phần nào là thực, phần nào là màu sắc lung linh của huyền thoại ?

    Vì là một đề tài rất lớn và khó, nên chuyên đề này không có tham vọng đặt ra và giải quyết toàn bộ những vấn đề đang nảy sinh trong thực tiễn nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Do khả nǎng và trình độ có hạn của các tác giả, chuyên đề này tự hạn chế ở mấy mục tiêu sau đây:

    Về lý luận, nghiên cứu để bước đầu xác lập những nguyên tắc phương pháp luận chung, các phương pháp liên ngành và chuyên ngành,… nhằm sơ bộ tìm ra một hệ phương pháp nghiên cứu thích hợp cho chuyên ngành Hồ Chí Minh học ở Việt Nam, từng bước đưa sự nghiệp nghiên cứu Hồ Chí Minh lên thành một bộ môn khoa học, khắc phục dần những nhược điểm và hạn chế hiện nay.

    Về thực tiễn, từ kết quả nghiên cứu về phương pháp, đưa ra những kiến nghị khôi phục lại tính chân thực lịch sử của trước tác Hồ Chí Minh, kiến nghị thử nghiệm và vận dụng tư tưởng, phương pháp Hồ Chí Minh vào sự nghiệp đổi mới của đất nước.

    Kết quả của công trình sẽ là một tài liệu đóng góp vào việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ đi vào chuyên ngành nghiên cứu Hồ Chí Minh, mở rộng đội ngũ, chuẩn bị cho việc triển khai các đề tài nghiên cứu về Hồ Chí Minh ở các giai đoạn sau.

    Phần thứ nhất

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ HỒ CHÍ MINH

    Chương I

    Một số vấn đề lý luận chung về phương pháp

    và phương pháp luận nghiên cứu

    Nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh là nghiên cứu tư tưởng, cuộc đời, sự nghiệp của Người nhằm làm sáng tỏ những cống hiến to lớn và ảnh hưởng sâu rộng của Người đối với dân tộc và đối với thế giới.

    Có tư tưởng Hồ Chí Minh xét về mặt lý luận mà nội dung cốt lõi, chỗ kết tinh và toả sáng của tư tưởng đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

    Có thời đại Hồ Chí Minh mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử Việt Nam xét về mặt thực tiễn. Đó là thời đại phát triển và thắng lợi của cách mạng Việt Nam cùng với ảnh hưởng của nó đối với phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đối với hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc.

    Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là trọng điểm nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Đây cũng là nội dung và phương hướng chủ đạo trong nghiên cứu chuyên ngành. Nó đặt nền móng cho sự ra đời bộ môn Hồ Chí Minh học với tư cách là một khoa học độc lập, nằm trong hệ thống các môn khoa học xã hội và nhân vǎn ở nước ta.

    I. Mối quan hệ giữa lý luận, phương pháp và phương pháp luận

    Lý luận (teorija), phương pháp (metod) và phương pháp luận (metodologija) là những khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau. Chúng thống nhất nhưng không đồng nhất.

    1. Lý luận (hay lý thuyết) theo chữ Hy Lạp: theoria, theorein – có nghĩa là quan sát, khảo sát, nghiên cứu. Lý luận là hệ thống các luận điểm gắn bó chặt chẽ với nhau về mặt lôgích, phản ánh bản chất, quy luật vận động và phát triển của khách thể được nghiên cứu.

    Điểm xuất phát của lý luận là thực tiễn. Những kết quả nghiên cứu dưới dạng khái quát hoá và trừu tượng hoá khoa học, sử dụng các khái niệm, phạm trù khoa học để xác lập hệ thống luận điểm và nguyên lý là để biểu thị bản chất, quy luật của đối tượng. Nó chỉ được coi là lý luận và trở thành lý luận nếu qua sự kiểm tra, đối chiếu trong thực tiễn nó tỏ ra phù hợp với thực tiễn.

    Lý luận, xét theo cách thức sản sinh ra nó, là sản phẩm của tư duy trừu tượng, là kết quả của những nỗ lực chủ quan của người nghiên cứu. Nǎng lực lý luận ở người có trình độ tư duy lý luận cao thống nhất ở hai mặt mâu thuẫn sau đây:

    Một mặt, nó không bám chắc vào thực tiễn cụ thể, sinh động, đứng vững trên mảnh đất hiện thực – ở đó có đối tượng, có khách thể nghiên cứu của mình để tiến hành mọi hoạt động nghiên cứu theo quan điểm thực tiễn và nhất quán với quan điểm thực tiễn. Đó là bảo đảm duy nhất chắc chắn cho lý luận được sinh ra một cách chân thực, khách quan, sống động, không rơi vào tình trạng tư biện, tính chất kinh viện, bệnh chủ quan và giáo điều.

    Mặt khác, nó có khả nǎng bứt ra, tách khỏi cái cụ thể ban đầu, vượt lên trên giới hạn của cái kinh nghiệm để hình thành lý luận, dùng lý luận như là công cụ để nhận thức, khám phá đối tượng ở phía bản chất vốn ẩn giấu bên trong, đằng sau các hiện tượng. Đây là khả nǎng phát hiện và sáng tạo của tư duy lý luận, là ưu thế riêng có của lý luận.

    Thực tiễn làm phát sinh lý luận. Gắn bó và bám sát thực tiễn sẽ làm cho lý luận phải vượt lên để khỏi bị lạc hậu, đồng thời nhờ thực tiễn mách bảo, gợi ý, thúc đẩy mà lý luận có được khả nǎng vượt trước để dẫn đường. Không có thực tiễn thì không có nội dung của lý luận. Nhưng không có tư duy lý luận và hoạt động nghiên cứu lý luận bởi sự nỗ lực của chủ thể thì lý luận cũng không thể hình thành, không thể “lý luận hoá thực tiễn” và “thực tiễn hoá lý luận” được.

    Thấu hiểu sự thống nhất và vai trò của lý luận cũng như của thực tiễn, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý tới luận điểm của Lênin: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”. Người còn khẳng định rằng: Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cǎn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, rằng, lý luận không gắn liền với thực tiễn là lý luận suông, thực tiễn không có lý luận là thực tiễn mù quáng.

    Lý luận không tồn tại dưới dạng những luận điểm riêng lẻ, rời rạc mà là một hệ thống chặt chẽ, có trật tự lôgích của các luận điểm đó. Tính hệ thống là một đặc trưng nổi bật của lý luận, là yêu cầu của tư duy lý luận. Tiếp cận hệ thống và phân tích hệ thống là một đặc trưng nổi bật của lý luận, là yêu cầu của tư duy lý luận. Tiếp cận hệ thống và phân tích hệ thống trong nghiên cứu khoa học xuất phát từ đòi hỏi đó.

    Là một hệ thống, lý luận còn được xem xét về mặt kết cấu. Nó bao gồm nhiều thành tố khác nhau nhưng quan trọng nhất là ba thành tố sau đây:

    Thứ nhất, các sự kiện khoa học đã tích luỹ được, kể cả nghiên cứu thực nghiệm.

    Thứ hai, tập hợp các quy tắc, suy lý lôgích và chứng minh được chấp nhận trong khuôn khổ của lý luận.

    Thứ ba, tập hợp các khái niệm, các nguyên lý cơ bản cùng các quy luật, định lý, các khẳng định, các hệ quả được suy ra từ cǎn cứ thực nghiệm, và từ các khái niệm, các nguyên lý cơ bản ấy bằng con đường suy lý lôgích và chứng minh tương ứng.

    Mỗi khoa học có lý luận và cơ sở lý luận riêng của nó. Vì vậy môn Hồ Chí Minh học muốn trở thành một bộ môn khoa học độc lập trước hết nó phải xây dựng được cơ sở lý thuyết về đối tượng nghiên cứu của mình.

    Để nghiên cứu về Hồ Chí Minh trước hết phải xây dưng được lý thuyết về đối tượng nghiên cứu của bộ môn; đó là toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách, lối sống, v.v. của Hồ Chí Minh. Lý thuyết đó bao gồm:

    – Hệ thống sự kiện có tính quy luật về đối tượng, nghĩa là nó phải phổ biến chứ không đơn nhất, phải phản ánh được bản chất chứ không phải hiện tượng bề ngoài, cái ngẫu nhiên phải là sự biểu hiện của cái tất nhiên. Đó là những sự kiện chính xác, đã qua giám định, xác minh khoa học về các giai đoạn của cuộc đời, hoạt động, trước tác của Hồ Chí Minh từ khi sinh ra đến khi từ biệt thế giới này. Những sự kiện đó được đặt trong mối quan hệ tương tác với quê hương, gia đình, dân tộc, thời đại,… Trong cuộc đời 79 mùa xuân của Hồ Chí Minh, có hơn 30 nǎm Người sống và hoạt động ở nước ngoài, lại đi vào huyền thoại từ rất sớm, ngay từ khi còn sống. Vì vậy, xác lập hệ thống sự kiện có tính quy luật về khách thể nghiên cứu ở đây quả là không đơn giản.

    – Những kết quả nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã đạt được trong mấy chục nǎm qua ở trong nước và nước ngoài, những nhận định, đánh giá chính thức của Đảng và Nhà nước ta về Hồ Chí Minh, những suy lý hợp lôgích của các nhà khoa học đã được khảo nghiệm qua thực tế, có thể chấp nhận được.

    – Hệ thống khái niệm, phạm trù như là công cụ, phương tiện của bộ môn để chiếm lĩnh đối tượng, cần sớm được làm rõ và chính xác hóa. Hệ thống khái niệm, phạm trù đó có thể ngày càng được mở rộng cùng với việc mở rộng các lĩnh vực nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, các khái niệm cơ bản phải sớm được trao đổi, đi tới nhất trí, làm định hướng cho nội dung và phương pháp nghiên cứu của bộ môn. Thí dụ: tư tưởng Hồ Chí Minh là gì ? (Tư tưởng hay học thuyết, chủ nghĩa ?). Tư tưởng Hồ Chí Minh có phải bao gồm những phạm trù: tư tưởng nhân vǎn, tư tưởng chính trị, tư tưởng kinh tế, tư tưởng quân sự, tư tưởng vǎn hoá, tư tưởng đạo đức,…? Đạo đức Hồ Chí Minh là gì ? Rồi phương pháp Hồ Chí Minh, phong cách Hồ Chí Minh, v.v..

    Tóm lại, có xây dựng được hệ thống lý thuyết về đối tượng nghiên cứu – ở đây là Chủ tịch Hồ Chí Minh – mới có thể từ đó bàn tiếp về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Hồ Chí Minh, bởi phương pháp hình thành từ lý luận; lý luận nào phương pháp ấy.

    2. Phương pháp được hiểu là cách thức đề cập tới hiện thực, cách thức nghiên cứu các hiện tượng của tự nhiên và của xã hội. Phương pháp là hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn xuất phát từ các quy luật vận động của khách thể được nhận thức. Như vậy, phương pháp là sự thống nhất giữa chủ quan và khách quan, nó không phải là phạm trù thuần tuý chủ quan do lý trí đặt ra mà xuất phát từ những quy luật vận động của khách thể đã được con người nhận thức.

    Cần chú ý là, bản thân các quy luật vận động của khách thể mới chỉ là cơ sở của phương pháp. Cơ sở lý luận trực tiếp của phương pháp không phải là các quy luật vận động của khách thể này mà là những quy luật đã được nhận thức, được diễn đạt thành lý luận. Do đó, lý luận là hạt nhân của phương pháp, là cái lõi mà từ đó hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh tạo nên nội dung của phương pháp được xây dựng.

    Tóm lại, phương pháp có nội dung sâu sắc. Nó bị quy định bởi đặc điểm, bản chất của khách thể đồng thời con người là chủ thể sáng tạo ra phương pháp. Cũng chính con người sử dụng phương pháp, mang nó vào hoạt động thực tiễn, dùng nó như một công cụ, một phương tiện để tác động vài đối tượng nhằm đạt tới mục tiêu hoạt động của mình. Nhờ có lý luận khoa học dẫn dắt mà hoạt động của con người trở nên tự giác chứ không mù quáng. Cũng nhờ có phương pháp gắn liền với lý luận mà con người tránh được những mò mẫm, tự phát và đạt được hiệu quả trong hoạt động. Cũng tồn tại như nhau trong môi trường tự nhiên nhưng con vật lệ thuộc tuyệt đối vào tự nhiên và bị bản nǎng, tập tính loài chi phối. Trong khi đó, con người chỉ lệ thuộc vào tự nhiên một cách tương đối. Nó vừa lấy cái có sẵn trong tự nhiên vừa nhào nặn, biến đổi tự nhiên, làm thêm ra và đem vào trong tự nhiên cái mà tự nhiên không có, như Mác nói, “Tự nhiên là thân thể vô cơ của con người” và con người còn “sáng tạo tạo ra một tự nhiên thứ hai như là tác phẩm nghệ thuật của chính mình”. Đó là quá trình nhân loại hoá tự nhiên bởi con người, do có ý thức chi phối bản nǎng. “Con người là một cây sậy trong tự nhiên nhưng là cây sậy có trí tuệ”. Trong định đề ấy của Pãtcan, trí tuệ là cái làm nên sức mạnh bản chất con người, nhờ nó, con người sản xuất ra lý luận, tư tưởng, đồng thời với sản xuất ra phương pháp.

    Như vậy, cũng như lý luận, phương pháp thuộc về nội dung khoa học, nó cũng ở cấp độ lý luận – tư tưởng chứ không phải là hình thức, là cái vỏ thuần tuý để biểu đạt tư tưởng. Phương pháp được xây dựng nên từ trình độ của lý luận chứ không phải bằng kinh nghiệm dù cho sự tích luỹ kinh nghiệm có một vai trò quan trọng to lớn trong sự hình thành phương pháp. Không có lý luận thì không có phương pháp khoa học. Cũng như vậy, kinh nghiệm phải được tổng kết một cách có lý luận, ở trình độ khoa học, được lý luân hoá mới tham dự vào sự hình thành phương pháp. Sự khéo léo, thuần thục do thói quen và kinh nghiệm tạo ra có thể mang ý nghĩa như những phương pháp , song nó thường chỉ dừng lại ở mức độ là những thao tác kỹ thuật thực hành và phạm vi của nó thường là hạn chế trong những tình huống, những giải pháp cụ thể, khó có thể vươn tới tính khái quát – phổ biến. Chỉ có vũ trang bằng lý luân, dựa trên một cơ sở lý luận vững chắc thì phương pháp mới trở thành phương pháp khoa học.

    Hệ thống các phương pháp là đa dạng, tuỳ theo sự phân loại khoa học; có những phương pháp riêng áp dụng trong phạm vi một bộ môn khoa học; có phương pháp chung cho một số bộ môn và có phương pháp phổ biến cho tất cả các bộ môn.

    Cùng với những phương pháp chung và riêng đó, phương pháp phổ biến trong nghiên cứu và nhận thức khoa học là phương pháp biện chứng. Đây là một phương pháp triết học mácxít đóng vai trò dẫn đường về thế giới quan và phương pháp luận trong nghiên cứu.

    Phương pháp biện chứng (dialekticheski metod) – đó là một hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễn, xuất phát từ lý luận biện chứng.

    Phương pháp biện chứng của triết học Mác là biện chứng duy vật, trong đó biện chứng của cái khách quan quy định biện chứng của cái chủ quan, tư duy biện chứng phản ánh tính biện chứng vốn có của bản thân cuộc sống. Phương pháp biện chứng duy vật ứng dụng trong nhận thức và nghiên cứu khoa học đòi hỏi người nghiên cứu phải nắm vững và sử dụng thành thạo lôgích biện chứng mà nội dung của nó là hệ thống các nguyên lý (mối liên hệ phổ biến và phát triển), các quy luật nói lên bản chất, cách thức và xu hướng vận động và phát triển và các cặp phạm trù của nhận thức luận (Chung – Riêng, Bản chất – Hiện tượng, Nhân – Quả, Khả nǎng – Hiện thực, Nội dung – Hình thức, Tất yếu – Ngẫu nhiên…). Từ những nguyên lý, quy luật và phạm trù đó, phương pháp biện chứng duy vật hình thành nên các quan điểm, các nguyên tắc chỉ đạo thế giới quan, phương pháp nhận thức và phương pháp tư tưởng mà tiêu biểu là quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển, quan điểm thực tiễn, tính khách quan, tính phê phán và kế thừa có chọn lọc,… trong xem xét các sự vật hiện tượng của thế giới. Nó là một thế giới chỉnh thể, vận động và phát triển trong mâu thuẫn, bằng mâu thuẫn. Nó là một hệ thống mở chứ không đóng kín; là một tập hợp những khái niệm, phạm trù động chứ không phải tĩnh. Tóm lại, nó là biện chứng chứ không phải siêu hình. Những đặc điểm nêu trên của phương pháp biện chứng duy vật với tư cách là một phương pháp phổ biến cũng đồng thời là nói ý nghĩa phổ quát của phương pháp này như là phương pháp luận.

    3. Cấp độ cao nhất của lý luận và phương pháp, ở trình độ khái quát sâu sắc nhất cái bản chất của cả lý luận lẫn phương pháp, là phương pháp luận (metodologija). Phương pháp luận là lý luận về các phương pháp nhận thức và cải tạo thực tiễn. Nó xứng đáng được gọi là học thuyết về phương pháp. Là khoa học về phương pháp, phương pháp luận biểu hiện ra như một hệ thống chặt chẽ các quan điểm, các nguyên lý chỉ đạo việc tìm kiếm, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp. Có thể khái quát mối quan hệ giữa phương pháp luận với các phương pháp như là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Tính thống nhất giữa lý luận, phương pháp và phương pháp luận là ở nguồn gốc, nội dung khách quan của nó, là ở sự chế ước lẫn nhau giữa khách quan và chủ quan, là sự chung đúc trong nó cả thế giới quan và hệ tư tưởng.

    Tóm lại, giữa lý luận với phương pháp và phương pháp luận có mối liên hệ nội tại và quy định lẫn nhau.

    Lý luận là hệ thống các tri thức, khái niệm và phạm trù, có chức nǎng vừa phản ánh, vừa dự báo bản chất, quy luật vận động, phát triển của khách thể nghiên cứu. Do đó, lý luận là cơ sở, là đường dây dẫn đến phương pháp. Người đầu tiên đề cập đến mối quan hệ này là Hêghen. Theo ông, lý luận được tóm tắt trong phương pháp, phương pháp là sự vận dụng của lý luận, lý luận nào, phương pháp ấy.

    Phương pháp là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực, cách thức điều chỉnh nhận thức và hoạt động của con người trong việc tiếp cận lý luận và khảo sát thực tế. Phương pháp hình thành từ lý luận, nhưng không phải một chiều. Lý luận đẻ ra phương pháp, phương pháp tác động trở lại lý luận, làm cho lý luận phát triển, hình thành lý luận mới; đến lượt nó, lý luận mới lại đẻ ra phương pháp mới.

    Phương pháp luận là phương thức luận giải, khái quát, lựa chọn và vận dụng các phương pháp, bảo đảm cho sự thiết lập mối quan hệ hài hoà giữa lý luận và phương pháp, giữa khách thể và chủ thể nghiên cứu. Do đó, cũng có thể nói phương pháp luận là cầu nối giữa lý luận và phương pháp.

    Đó là mối quan hệ ba chiều: giữa nhận thức về đối tượng nghiên cứu (lý luận) với công cụ tác động vào đối tượng (phương pháp) và những nguyên tắc lý thuyết giữ vai trò điều chỉnh, giúp cho quá trình tác động của công cụ vào đối tượng đạt được kết quả tối ưu (phương pháp luận).

    Để xâu chuỗi được mối quan hệ trên, cần làm rõ cấp độ của khái niệm nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học là một quá trình khảo sát, phân tích các sự kiện, các mặt, các hiện tượng; thông qua sự mô tả, phân loại và tập hợp các tư liệu và dữ liệu đã thu thập được mà tổng hợp và khái quát thành lý luận. Để tổng hợp và khái quát đúng, người nghiên cứu phải bắt đầu từ chỗ chǎm chú quan sát các hiện tượng, không coi thường và bỏ qua các chi tiết sinh động, cụ thể, những cái tưởng như riêng lẻ, rời rạc, bề ngoài và trên bề mặt của đối tượng, khách thể nghiên cứu. Vì vậy, quan sát khoa học là quá trình tiếp cận đối tượng của chủ thể. Nó mở đường đi tới những ý tưởng nghiên cứu và hình thành những tư tưởng, những luận điểm khoa học. Nó cũng đồng thời gợi ý và mách bảo người nghiên cứu biết chú tâm vào những sự kiện và hiện tượng tiêu biểu giữa vô số những sự kiện, hiện tượng khác, tìm ra mối liên hệ giữa chúng và những dấu hiệu cho phép xác định đặc điểm, đặc trưng hay thuộc tính nào đó của đối tượng sẽ bộc lộ ra trong vận động. Sự quan sát như vậy đòi hỏi ở chủ thể nghiên cứu khoa học một nǎng lực lựa chọn trong những cách (phương pháp) tiếp cận khác nhau để độc lập xác định cho mình một hướng đi, một cách (cũng tức là một phương pháp) tiếp cận mới phù hợp và có hiệu quả tới đối tượng.

    Nghiên cứu khoa học, theo một nghĩa nào đó mà xét, là tìm tòi và phát hiện cái mới, là sản xuất ra tri thức mới ở cấp độ tư tưởng – lý luận khoa học. Do vậy, bản chất của khoa học, của hoạt động nghiên cứu khoa học là sáng tạo, là sự phát triển không ngừng của trí tuệ.

    Thực tiễn phát triển của khoa học hiện đại đã cho thấy, kết quả sáng tạo cái mới trong nghiên cứu của nhà khoa học thường được ủ mầm từ những tìm tòi sáng tạo trong phương pháp tiếp cận (podkhodnyj metod) và ứng dụng phân tích hệ thống (sistemnyj analiz) như một phương pháp nghiên cứu. Điều này đặc biệt rõ và đang có ý nghĩa phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội, bao hàm cả nghiên cứu lý luận triết học xã hội và chính trị học là lĩnh vực có quan hệ trực tiếp gần gũi nhất với nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Trong quá trình tiếp cận đối tượng, người nghiên cứu thường phải huy động tổng hợp những hiểu biết của mình về kiến thức, phương pháp và kinh nghiệm, cả tư tưởng, lý luận lẫn vốn sống thực tiễn cùng những kỹ nǎng và kỹ xảo nghề nghiệp để tìm hiểu, nắm bắt và làm chủ đối tượng. Cùng với tư liệu và sự kiện được tập hợp để quan sát và phân tích, sự huy động tổng hợp những nhân tố nêu trên có trong vốn liếng khoa học của mình, giúp người nghiên cứu xây dựng các giả thuyết và lôgích nghiên cứu, chứng minh và kiểm tra các giả thuyết đó dựa trên thực tiễn đối tượng và thực tiễn đời sống nói chung.

    Lôgích nghiên cứu sau khi đã thực hiện trong thực tiễn, được kiểm tra, điều chỉnh bởi thực tiễn rồi được chính xác hoá lại và chuyển thành lôgích trình bày các tư tưởng khoa học.

    Hệ thống giả thuyết nghiên cứu sau khi được kiểm chứng bởi thực tiễn và đi qua các thao tác như chứng minh, so sánh, phân tích và tổng hợp để giữ lại cái đúng và bổ sung cái mới, loại bỏ cái không đúng hoặc chưa đủ cǎn cứ vững chắc, chưa có độ tin cậy cần thiết,… trở thành hệ thống các luận điểm khoa học cấu thành nội dung lý luận – tư tưởng khoa học như là sản phẩm nghiên cứu. Các Mác nói tới sự chuyển hoá này bằng tương quan giữa phương pháp nghiên cứu và phương pháp trình bày, giữa đời sống thực tiễn và lý luận, giữa hiện thực và tư tưởng. Tương quan này vừa thống nhất vừa mâu thuẫn, không phải lúc nào cũng trùng hợp, càng không có sự trùng hợp tuyệt đối.

    Trong bộ Tư Bản, Các Mác có một luận đề nổi tiếng: Nếu hiện tượng và bản chất của sự vật là nhất trí (trùng khít) với nhau thì tất thảy khoa học sẽ trở nên thừa. Trong Lời nói đầu tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen (1843), Các Mác đã hình dung rất rõ ràng: “Tư tưởng cố gắng biến thành hiện thực vẫn chưa đủ; bản thân hiện thực cũng phải cố sức hướng tới tư tưởng”.

    II. Phương pháp luận chung của khoa học xã hội và phương pháp luận nghiên cứu về Hồ Chí Minh (phương pháp luận chuyên ngành)

    Khoa học xã hội là một lĩnh vực hết sức rộng lớn bao gồm rất nhiều ngành (lĩnh vực) và chuyên ngành khoa học khác nhau, thậm chí trong mỗi chuyên ngành lại còn có thể phân nhỏ thành những bộ môn, những chuyên môn hẹp đi sâu nghiên cứu từng mặt, từng khía cạnh của đối tượng, nhưng cùng có chức nǎng chung là nghiên cứu về xã hội và con người. Theo nghĩa rộng, khoa học xã hội bao gồm cả khoa học nhân vǎn. Đây là một nhóm, cũng đồng thời là một hệ thống các môn khoa học về con người và những hoạt động tinh thần của con người, gắn liền với những phương thức đặc thù sáng tạo ra các giá trị tinh thần, vǎn hoá, nghệ thuật… gọi chung là khoa học nhân vǎn.

    Chúng ta thống nhất quy ước đặt khoa học nhân vǎn vào hệ thống chung của khoa học xã hội, cũng như nghiên cứu khoa học về Hồ Chí Minh với tư cách là một khoa học chuyên ngành nằm trong khoa học xã hội. Trong một tương lai không xa,” Hồ Chí Minh học” sẽ ra đời và phát triển không chỉ ở nước ta mà sẽ còn được chú ý ở nhiều nước trên thế giới. Chắc chắn sẽ có hàng loạt vấn đề đặt ra phải giải quyết về ngành khoa học này, từ đối tượng, chức nǎng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu, hệ thống khái niệm, phạm trù cho đến những hình thức biểu hiện, những khoa học đảm nhận nghiên cứu từng chuyên ngành hẹp của nó.

    Cơ sở lý luận chung nhất để giải quyết những vấn đề đó chính là xác lập mối quan hệ phương pháp luận giữa khoa học xã hội với khoa học chuyên ngành nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Trước hết cần làm sáng tỏ một số vấn đề chủ yếu nhất thuộc về phương pháp luận nghiên cứu khoa học xã hội.

    Thứ nhất, nghiên cứu khoa học xã hội phải dựa vững chắc và nhất quán với quan niệm duy vật lịch sử. Chủ nghĩa duy vật lịch sử với một hệ thống chặt chẽ các nguyên lý, các tư tưởng khoa học là nền tảng lý luận – phương pháp luận chung của tất cả khoa học xã hội. Đây là nguyên tắc chủ đạo, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình nghiên cứu.

    Mỗi nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng như của triết học Mácxít nói chung đều thống nhất trong bản thân nó ý nghĩa bản thể luận và nhận thức luận, đều vừa là nguyên tắc thế giới quan, vừa mang tính chất phương pháp luận. Nó đồng thời biểu đạt về hệ tư tưởng, trong đó có sự gắn bó và thống nhất hữu cơ giữa khoa học và chính trị, tức là giữa tính khoa học và tính đảng. Triết học và tất cả các môn khoa học xã hội, khác về cǎn bản với khoa học tự nhiên trên hai điểm chủ yếu là: Điểm khác thứ nhất là nghiên cứu quy luật và phát hiện ra quy luật xã hội cũng như vai trò của con người, của hoạt động thực tiễn đối với sự vận động, hoạt động của quy luật này. Nó khác xa với sự vận động của tự nhiên, và quy luật tự nhiên là có tính thuần tuý tự nhiên và tự phát. Điểm khác thứ hai là ngay từ khi ra đời, các khoa học xã hội đều mang tính giai cấp, đều phục vụ lợi ích giai cấp trong cuộc đấu tranh giai cấp. (Khoa học tự nhiên trong hình thức thuần tuý của nó không có tính chất này. Giai cấp hoặc lực lượng xã hội nào đó lợi dụng thành quả khoa học tự nhiên phục vụ cho lợi ích của mình là thuộc về vấn đề khác). Chính vì vậy, khoa học xã hội không thể và không bao giờ tách rời khỏi chính trị, khỏi hệ tư tưởng. Đấu tranh trong khoa học xã hội không bao giờ thuần tuý mang tính chất học thuật mà thường là gắn liền với hoặc dẫn tới đấu tranh về hệ tư tưởng và quan điểm chính trị.

    Đối với những nhà khoa học xã hội theo lập trường của chủ nghĩa Mác thì việc nắm lấy chủ nghĩa duy vật và biện chứng về lịch sử là nắm lấy công cụ nhận thức khoa học triệt để và vũ khí sắc bén nhất của đấu tranh về hệ tư tưởng, ý thức. Đây là một thực tế khách quan được kiến giải tường minh về lý luận và được chứng thực rõ ràng về mặt thực tiễn lịch sử. Nó tuyệt nhiên không phải là một thái độ thiên khiến và lập trường biệt phái như những sự xuyên tạc đã xảy ra.

    Như Lênin đã tổng kết: Chủ nghĩa duy vật lịch sử do Mác – Ǎngghen sáng lập ra là thành quả vĩ đại bậc nhất của tư tưởng khoa học. Lần đầu tiên nó đem lại trong lịch sử nhân loại một cách kiến giải khoa học hoàn toàn mới mẻ về bản chất của đời sống xã hội và phát hiện ra các quy luật khách quan của lịch sử, cái mà trước đó, xã hội học tư sản đã đẩy nó vào tình trạng hỗn độn, chất đống các sự kiện hoặc làm cho nó trở nên thần bí, có tính chất tôn giáo. Với quan niệm duy vật và biện chứng về lịch sử, Mác và Ǎngghen đã khắc phục được “ba cái quên” lớn nhất trong lịch sử triết học: quên điểm xuất phát, quên thế giới khách quan của chủ nghĩa duy tâm, và quên không biết đến con người (sự hoạt động của chủ thể) của chủ nghĩa duy vật trước Mác (siêu hình). Chủ nghĩa duy vật lịch sử đóng vai trò vũ trang phương pháp luận nghiên cứu cho khoa học xã hội. Nó được biểu hiện qua lý luận, học thuyết kinh điển trong di sản đồ sộ và uyên bác này mà trực tiếp và nổi bật là mấy nét tổng quát sau đây:

    – Vạch ra quy luật chung, phổ biến của mọi thời đại lịch sử là quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Trên cơ sở quy luật này, chủ nghĩa duy vật lịch sử nhìn nhận lịch sử như một quá trình lịch sử – tự nhiên. Và lý luận về phương thức sản xuất, về hình thái kinh tế xã hội đã làm sáng tỏ rằng, lôgích của cái tất yếu kinh tế đi xuyên qua mọi biến thiên của lịch sử, xét đến cùng, kinh tế là nhân tố quyết định của lịch sử. Triệt để và biện chứng hơn, các tác giả kinh điển còn nhìn thấy ở kinh tế cái vai trò quyết định cuối cùng chứ không phải duy nhất. Tư tưởng này phải được coi một trong những chìa khoá đối với người nghiên cứu khi đi vào giải phẫu cái cơ thể phức tạp là xã hội.

    – Vạch ra quy luật đấu tranh giai cấp như là sự phản ánh về mặt xã hội những mâu thuẫn của quan hệ kinh tế (của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất). Hơn nữa, chủ nghĩa duy vật lịch sử xem đấu tranh giai cấp là một động lực của sự phát triển xã hội có giai cấp. Dĩ nhiên, đấy là một trong nhiều động lực chứ không phải là động lực duy nhất, vĩnh viễn. Cách mạng cộng sản chủ nghĩa (theo cách nói của Mác) là có nội dung kinh tế, thâm sâu trong nội dung chính trị của nó. Biện chứng của kinh tế và chính trị, kinh tế và xã hội là biện chứng của phát triển trong cách mạng và trong tổ chức xã hội, kể cả tổ chức đời sống xã hội về lĩnh vực vǎn hoá – tinh thần.

    – Vạch ra lý luận về vai trò của quần chúng và của cá nhân đối với hoạt động lịch sử van hoá và vǎn minh. Lý luận này, lần đấu tiên xác lập vị thế chủ động, tích cực của quần chúng lao động (mà tiêu biểu là giai cấp vô sản cách mạng với sứ mệnh lịch sử thế giới của nó) như là một chủ thể của lịch sử. Đó là sự kết hợp giữa vai trò quyết định thuộc về quần chúng với cống hiến có tác dụng to lớn đặc biệt của lãnh tụ và các thiên tài, trong tiến trình lịch sử. Lý luận này đặt cơ sở niềm tin khoa học vào sức mạnh nhân dân trong cách mạng, đặc biệt là cách mạng vô sản. Nó tôn vinh con người lao động với tầm cao của chủ nghĩa nhân đạo hiện thực. Nó làm sáng tỏ bản chất của sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng giai cấp và nhân loại. Nó vạch ra mối liên hệ biện chứng giữa xã hội và cá nhân, giữa quần chúng và lãnh tụ trong chiến lược phát triển. Nó hướng tới mục tiêu thực hiện sự phát triển tự do và toàn diện của từng cá nhân, và sự phát triển của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển của tất cả, xem đó là mục đích tự thân của lịch sử.

    – Chủ nghĩa duy vật lịch sử, bao quát mọi sự vận động xã hội hiện thực đã khái quát lên nguyên lý về tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, đồng thời thể hiện tính nǎng động và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội. Gắn liền với nó là lý luận về con người hiện thực mang bản chất xã hội trong tính thống nhất với bản chất sinh học, về biện chứng giữa con người, nhân cách, cá nhân và cá thể với xã hội, với môi trường và hoàn cảnh, chỉ ra quy luật hình thành con người mới trong những thời đại lịch sử mới thông qua cải tạo và xây dựng…

    Đó là bốn nét tổng quát cǎn bản nhất của phương pháp luận duy vật lịch sử. Nó cho ta những sợi dây dẫn đường, cho ta kim cỉ nam hành động trong khi tiếp cận và giải quyết các vấn đề về con người, xã hội trong nghiên cứu khoa học xã hội.

    Thứ hai, nghiên cứu khoa học xã hội trên lập trường mác xít, trên quan điểm và phương pháp biện chứng duy vật đòi hỏi phải xuất phát từ hiện thực khách quan của đời sống vật chất và các quan hệ kinh tế để giải thích trạng thái hiện thực của ý thức tư tưởng và các quan hệ tinh thần. Nói rộng hơn, người nghiên cứu phải xử lý một cách biện chứng giữa quyết định luận kinh tế với quyết định luận xã hội trong sự phát triển của con người và xã hội.

    Thứ ba, nghiên cứu khoa học xã hội, đặc biệt là nghiên cứu lý luận và lịch sử tư tưởng phải tuân thủ phương pháp hệ thống, phải khảo sát mọi hiện tượng và quan hệ trong sự vận động, phát triển của nó và không nên quên rằng lôgích tư tưởng chỉ là sự phản ánh lôgích hiện thực, là tái hiện cái khách quan trong cái chủ quan mà thôi.

    Lênin đòi hỏi rằng, toàn bộ tinh thần của chủ nghĩa Mác, tất cả hệ thống của nó đều phải được nghiên cứu với yêu cầu là: Đối với mỗi nguyên lý đều phải khảo sát về mặt lịch sử, có liên hệ với các nguyên lý khác và có kinh nghiệm với kinh nghiệm lịch sử cụ thể. Chỉ như vậy mới nhận thức được một cách chân thực một tư tưởng khoa học, không chia cắt nó khỏi hoàn cảnh lịch sử, không cắt xén tuỳ tiện hoặc cô lập nó ra khỏi hệ thống để xuyên tạc nó.

    Mối liên hệ giữa lịch sử và tư tưởng cũng là mối liên hệ giữa đời sống hiện thực với ý thức tư tưởng. ở đó, mọi nghiên cứu về khoa học xã hội đòi hỏi sự thấm nhuần sâu sắc tinh thần tôn trọng thực tiễn, tôn trọng sự thật khách quan, sự “phân tích cụ thể một tình hình cụ thể”, hướng mọi sự phân tích đối tượng và sự kiện theo quan điểm toàn diện, lịch sử – cụ thể và quan điểm phát triển. Chính ở đây, Ǎngghen có một chỉ dẫn quan trọng là: “Lịch sử bắt đầu từ đâu thì quá trình tư duy cũng phải bắt đầu từ đó, và sự vận động tiếp tục của nó chẳng qua chỉ là sự phản ánh quá trình lịch sử dưới một hình thái trừu tượng và nhất quán về lý luận”.

    Để nắm được bản chất sự vật và phát hiện được quy luật sinh thành, phát triển của nó – mà đây là điểm cốt yếu của nghiên cứu khoa học xã hội, Lênin cho rằng, phải tránh sa lầy vào những chi tiết vụn vặt, biết vạch ra mối liên hệ lịch sử cǎn bản bên trong. Đó là cái quyết định sự phát triển và tự phát triển. Ông xem nó như là điều kiện quan trọng nhất của nghiên cứu. “Trong vấn đề thuộc về khoa học xã hội, phương pháp chắc chắn nhất và cần thiết nhất để thực sự có được thói quen xem xét vấn đề đó một cách đúng đắn và để không lạc hướng trong rất nhiều chi tiết, hoặc trong rất nhiều ý kiến đối lập nhau, điều kiện quan trọng nhất của một sự nghiên cứu khoa học là không nên quên mối liên hệ lịch sử cǎn bản; là xem xét mỗi vấn đề theo quan điểm sau đây: một hiện tượng nhất định đã xuất hiện trong lịch sử như thế nào, hiện tượng đó đã trải qua những giai đoạn phát triển chủ yếu nào, và đứng trên quan điểm của sự phát triển đó để xem xét hiện nay nó đã trở thành như thế nào…”.

    Thứ tư, nghiên cứu khoa học xã hội là nghiên cứu xã hội và loài người trong cơ cấu, tổ chức và các mối quan hệ của nó gắn với một thời đại lịch sử nhất định, với một chế độ kinh tế và chế độ chính trị xác định cùng với hệ tư tưởng chi phối xã hội và thời đại đó. Xét đến cùng, lợi ích và quyền lực của con người là điểm nhậy cảm nhất. Đó là vấn đề thường trực trong các quan hệ giai cấp, diễn ra trong xung đột và đấu tranh giai cấp. Do đó, mọi nghiên cứu về xã hội phải xuất phát từ đời sống hiện thực, từ các quan hệ lợi ích thực tiễn vật chất, từ quan hệ quyền lực kinh tế và chính trị để lý giải các quan hệ tư tưởng và đời sống tinh thần của con người và xã hội trên quan điểm giai cấp. Đi chệch khỏi quan niệm và quan điểm đó không tránh khỏi tính chất duy tâm về lịch sử, tính mơ hồ và sự không tưởng trong việc nhận thức bản chất thực sự của con người và xã hội, của vận động lịch sử. Về vấn đề này, trong tác phẩm Gia đình thần thánh (1845), Mác đã viết: Tư tưởng một khi đã tách rời khỏi lợi ích thì tự nó sẽ làm nhục bản thân nó. Và, hoạt động của lịch sử bởi con người trước hết là hoạt động sản xuất để thực hiện lợi ích, để tái sản xuất cao hơn các nhu cầu, để giải phóng và tǎng lên quyền lực của con người trước tự nhiên và lịch sử. Chính hoạt động đó đã quy định vai trò của quần chúng. Ông viết: Hoạt động lịch sử càng đi sâu thì khối quần chúng cũng sẽ mở rộng mà hoạt động lịch sử chính là sự nghiệp của họ.

    Nhận thức được điều đó là nhận thức được cái cǎn bản, sâu xa của lịch sử tức là nắm sự vật từ gốc và đối với con người, cái gốc chính là bản thân con người.

    Còn có nhiều điểm khác nữa trong lý luận – phương pháp luận duy vật lịch sử. Song đây là những vấn đề cốt yếu nhất chi phối trực tiếp tới nghiên cứu khoa học xã hội. Đây cũng là những vấn đề cần được vận dụng, cụ thể hoá trong phương pháp luận nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

    Vậy có hay không có một phương pháp luận nghiên cứu về Hồ Chí Minh ?

    Có ý kiến cho rằng: Phương pháp luận nghiên cứu về Hồ Chí Minh chính là phương pháp luận của các khoa học xã hội. Các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau, từ giác độ khoa học chuyên ngành của mình, vận dụng phương pháp luận của khoa học ấy để nghiên cứu từng lĩnh vực, từng chuyên đề, từng giai đoạn trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

    Tất nhiên, bằng con đường đó, thời gian qua, chúng ta đã đạt được những thành tựu nhất định. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì tình hình cũng không tiến triển hơn được bao nhiêu.

    Phương pháp luận nghiên cứu Hồ Chí Minh về cơ bản là thuộc phạm trù phương pháp luận của các khoa học xã hội. Các khoa học xã hội có cơ sở phương pháp luận chung cho nhận thức và hoạt động của nó là triết học Mác – Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử). Phương pháp luận nghiên cứu Hồ Chí Minh tất nhiên có vận dụng những nguyên tắc phương pháp luận của các khoa học xã hội như các nguyên tắc tính khách quan khoa học, tính toàn diện, tính hệ thống, nguyên tắc chủ nghĩa lịch sử, v.v. song không đồng nhất với nó.

    Mặt khác, phương pháp luận nghiên cứu Hồ Chí Minh, trong hệ thống cấu tạo các cấp độ của nó, cũng bao gồm sự vận dụng phương pháp luận của các khoa học cụ thể, chuyên biệt vào việc nghiên cứu từng lĩnh vực khác nhau trong di sản của Hồ Chí Minh, nhưng không phải là sự cộng lại giản đơn của các phương pháp đó.

    Vậy, phương pháp luận nghiên cứu Hồ Chí Minh được quy định bởi cái gì?

    Với trình độ và thành tựu hiện nay của khoa học nghiên cứu về các phương pháp, cho phép chúng ta vượt lên trên quan niệm cho rằng các khoa học chuyên ngành chỉ cần áp dụng phương pháp của phép biện chứng duy vật là đủ, không cần phải phát triển phương pháp luận riêng của mình. Quan niệm rằng chỉ triết học mới có phương pháp luận là quan niệm đã được khoa học vượt qua. Đa số các nhà khoa học ngày nay cho rằng, đối tượng quyết định phương pháp, và mỗi khoa học cụ thể, mỗi chuyên ngành nghiên cứu có phương pháp luận riêng của nó. Mỗi khoa học cụ thể là cả một hệ thống phức tạp, vừa kết cấu theo phương thẳng đứng, vừa theo phương nằm ngang, và trong mỗi hệ thống, lại có những tiểu hệ thống nhất định. Do đó, triết học không thể đóng vai trò phát hiện và nghiên cứu thay cho các khoa học cụ thể được, nghĩa là không thể xông vào bất cứ lĩnh vực nào và ở đâu cũng có thể đưa ra những kiến nghị đúng đắn, nếu không hiểu tường tận đối tượng đặc thù của khoa học chuyên biệt đó.

    Phương pháp luận của một bộ môn khoa học chuyên ngành trước hết phải được khảo sát trên thực tiễn trực tiếp của những công việc nghiên cứu cụ thể chứ không phải bằng cách rút ra một cách hợp lôgích những phương pháp từ những nguyên lý chung của triết học. Trong lĩnh vực phương pháp luận, thứ lý luận suông không gắn liền với đối tượng trực tiếp của một môn khoa học nhất định sẽ chỉ là một việc làm giáo điều và vô bổ.

    Như đã trình bày ở trên, nghiên cứu Hồ Chí Minh phải biết vận dụng thấu đáo và nhuần nhuyễn những nguyên tắc phương pháp luận chung của khoa học xã hội. Song, sự nghiệp nghiên cứu khoa học về Hồ Chí Minh chỉ có thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình, nếu nó biết xuất phát từ chính bản thân đối tượng và xây dựng được những nguyên tắc phương pháp luận cụ thể trên cơ sở lý thuyết về đối tượng đó.

    Tiểu sử – sự nghiệp – tư tưởng – lý luận,… của Chủ tịch Hồ Chí Minh đó là đối tượng nghiên cứu của chúng ta, một đối tượng có thể nói là đa dạng và phong phú bao gồm trong đó những vấn đề không phải chỉ thuộc về một khoa học mà của nhiều khoa học, không phải chỉ gồm một hệ thống mà nhiều hệ thống. Người vừa là một trong những tinh hoa vǎn hoá nhân loại, vừa là người khai sinh cho một thời đại mới trong lịch sử dân tộc: thời đại Hồ Chí Minh. Người vừa là nhà tư tưởng, nhà lý luận cách mạng, vừa là người tổ chức, vị chỉ huy của cách mạng; vừa là chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng dân tộc, vừa là nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; vừa là nhà chiến lược quân sự, nhà chính trị, nhà ngoại giao,… tài giỏi, vừa là nhà vǎn, nhà thơ, nhà báo,… xuất sắc.

    Về phương diện khoa học, Hồ Chí Minh là người mở đường và đặt cơ sở mácxít – lêninít cho sự phát triển của hầu hết các bộ môn khoa học xã hội chủ yếu ở nước ta. Ngay trong mỗi tác phẩm lớn của Người cũng bao gồm nhiều vấn đề, có thể trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau. Bản án chế thực dân Pháp có thể được nghiên cứu từ giác độ của nhà chính trị, nhà sử học, luật học, vǎn học, v.v.. Điều đó có nghĩa là để nghiên cứu tác phẩm của Hồ Chí Minh như một chỉnh thể cần có những công trình cụ thể, liên ngành. Khoa học, sau quá trình phân ngành, cũng đang diễn ra quá trình lập ngành. Nghiên cứu Hồ Chí Minh như là một nhà tư tưởng, nhà lý luận hoặc chỉ nghiên cứu một tác phẩm của Người như một chỉnh thể, cần thiết phải có những công trình liên ngành. Một khi các nhà khoa học cùng nghiên cứu một tác phẩm của Người thì cần có một phương pháp luận chung để làm việc đó. Từ nhu cầu thực tiễn đó, cần phải tìm tòi, trao đổi, tiến tới nhanh chóng xác lập được những nguyên tắc phương pháp luận chỉ đạo việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

    Những nguyên tắc đó, như đã phân tích ở trên, không phải là những nguyên tắc phương pháp luận của khoa học xã hội. Sự nghiệp nghiên cứu về Hồ Chí Minh ở nước ta đang phát triển như một chuyên ngành nghiên cứu cụ thể, có tổ chức nghiên cứu với những mục đích và nhiệm vụ xác định, có một đối tượng nghiên cứu xác định . Phương pháp luận nghiên cứu về Hồ Chí Minh phải xác lập được những nguyên tắc phương pháp luận của mình để giúp nhà nghiên cứu chiếm lĩnh được đối tượng về phương diện lý thuyết cũng như về phương diện thực hành, trên cơ sở đó mà hoàn thành được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra. Nội dung của vấn đề này sẽ được đề cập đến một cách cụ thể và chi tiết ở chương II.

    III. Mấy khái niệm cần phân biệt trong nghiên cứu về Hồ Chí Minh từ cách nhìn phương pháp luận

    Bàn về phương pháp luận nghiên cứu Hồ Chí Minh, để tránh nhầm lẫn, có một số khái niệm cần làm rõ và sử dụng thống nhất trong nghiên cứu. Vì vậy, cần thiết phải phân biệt:

    – Phương pháp luận của Hồ Chí Minh, tức là của bản thân đối tượng đang được nghiên cứu.

    – Phương pháp hệ (methodicat), tức hệ thống các phương pháp được chọn lọc, vận dụng vào nghiên cứu về Hồ Chí Minh, nghĩa là những công cụ tác động vào đối tượng được coi là thích hợp và có hiệu quả nhất.

    – Phương pháp luận nghiên cứu về Hồ Chí Minh, ở đây cũng chỉ quy ước như là những nguyên tắc lý thuyết có ý nghĩa chỉ đạo việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

    Mỗi khái niệm này có một nội dung riêng, đồng thời có mối liên hệ với nhau trong việc lĩnh hội, nghiên cứu cũng như giảng dạy, giáo dục, tuyên truyền về Hồ Chí Minh.

    1. Phương pháp luận của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng, nhà lý luận, đương nhiên Người có phương pháp luận của mình. Phương pháp luận của Hồ Chí Minh cũng bắt nguồn từ phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin mà ra, nhưng được vận dụng và chuyển hoá vào thực tiễn Việt Nam, để xử lý, giải quyết những vấn đề do thực tiễn Việt Nam đặt ra. Đó là phương pháp luận chỉ đạo Hồ Chí Minh trong nhận thức, trong đấu tranh cách mạng, trong các hoạt động lãnh đạo và quản lý, đối nội và đối ngoại mà Người phải xử lý trên cương vị lãnh tụ Đảng và nguyên thủ quốc gia; trong lĩnh vực hoạt động vǎn hoá – tinh thần, sáng tạo vǎn học nghệ thuật; trong vǎn hoá ứng xử của Người với tư cách một con người, như mọi người của đời thường, với tất cả những niềm vui và nỗi buồn, những dằn vặt đau khổ, những suy tư, chiêm nghiệm và hành động trước những hạnh phúc và bất hạnh của cuộc sống.

    Không nên quên một thực tế: Người là một nhà tư tưởng, nhà lý luận lớn, nhưng Người không coi học thuyết, chủ nghĩa, triết thuyết là cứu cánh. Người không để lại những trước tác lớn, đơn thuần bàn về lý luận và phương pháp luận. Đặc biệt là Người không dùng ngôn ngữ bác học, vǎn phong hàn lâm để biểu đạt ý tưởng của mình. Người quen nói và viết mộc mạc cho dân mình phần đông còn mù chữ, thất học hoặc học thức còn ít đều hiểu được. Thế nhưng mức độ sâu sắc của các ý tưởng của Người thì ngay các bậc học giả uyên thâm cũng vẫn phải ngạc nhiên. Giải thích thế nào về mức độ sâu sắc đó ? Cũng như vậy, trong lĩnh vực báo chí, Người là một nhà báo cách mạng nổi tiếng trên nhiều diễn đàn thế giới; trong vǎn học, Người là nhà thơ lớn đã đem vào trong thơ ca không ít những mẫu mực cổ điển. ấy thế mà Người chỉ xem những cái đó như là phương tiện cho tranh đấu; cảm xúc thi hứng của Người lớn lao như vậy, Người cũng chỉ xem nó là chuyện thoáng qua, như đi đường, tiện tay hái một nhành hoa ! Còn ở cương vị lãnh tụ, nguyên thủ quốc gia, Người vẫn chỉ coi mình là một công dân bình thường, một người lính vâng lệnh quốc gia ra mặt trận phục vụ dân chúng, nếu đồng bào cho nghỉ Người sẽ thanh thản sống trong gian nhà nhỏ để trồng rau, câu cá! Cũng như vậy, là một chính khách lớn của thế giới, đến ngay kẻ thù cũng phải kính phục và trọng nể, Người vẫn chỉ nhận mình là một người yêu nước, từ chối tất cả mọi huân chương, tước hiệu.

    Tất cả những điều tưởng như khó hiểu đó đã trở nên rõ ràng khi ta hiểu câu nói của Người: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ǎn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Đó là chỗ lớn lao nhất của Hồ Chí Minh. Cả cuộc đời của Người đã minh chứng cho điều chân thật sau đây: “Mỗi người có một nỗi khổ riêng. Cộng tất cả nỗi khổ đau của mọi người, của muôn nhà thì đó là nỗi đau của riêng tôi”. Đây là chỗ sâu sắc nhất của Hồ Chí Minh. Chung đúc lại, đủ hiểu vì sao, Hồ Chí Minh làm xúc động và có sức cảm hoá con người mãnh liệt đến như vậy. Phải dựa trên thực tiễn này mới có thể tìm thấy đâu là phương pháp luận của Hồ Chí Minh. Đó chính là phương pháp luận của sự nghiệp lớn, hành động lớn vì động cơ và mục tiêu cao cả nhất: Phương pháp luận của đấu tranh cách mạng vì độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội; vì giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng nhân loại cần lao. Vì sự nghiệp cao cả đó Hồ Chí Minh nguyện làm tất cả và dâng hiến tất cả. Chữ “DÂN” và “DÂN vận” của Hồ Chí Minh quy tụ tất cả mọi điều ấy. Đó là phương pháp luận của nhà triết học – hành động, nhà chính trị – thực tiễn và lãnh tụ sáng suốt của nhân dân. Người tìm đến chủ nghĩa Mác – Lênin, Người lựa chọn chủ nghĩa xã hội, chủ trương làm cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản là vì tìm thấy ở đấy con đường tốt nhất, hữu hiệu nhất để thực hành cái đạo lớn lao ấy.

    Do đó, có thể hình dung một vài nét trong phương pháp luận của Hồ Chí Minh như sau:

    – Xuất phát từ thực tiễn dân tộc (đất nước, lịch sử, con người Việt Nam), lấy mục tiêu độc lập của dân tộc, tự do của nhân dân, hạnh phúc của đồng bào làm chuẩn mực hành vi, thước đo của hoạt động, tiêu chuẩn của chân lý. Xuất phát từ mục tiêu đó mà xử lý hài hoà các mối quan hệ dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, tự lực và ngoại viện, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa nhân vǎn…

    – Thống nhất hữu cơ giữa lý luận và thực tiễn. Học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là nắm lấy tinh thần và phương pháp của nó để xử lý độc lập, sáng tạo mọi quan hệ với con người và công việc.

    – Thấu hiểu quy luật khách quan để hành động đúng đắn và thành công. Kiên trì nguyên tắc kết hợp với mềm dẻo, linh hoạt trong phương pháp. Chiến lược đúng phải có sách lược hay; khoa học kết hợp với nghệ thuật trong việc tạo thời cơ, chớp thời cơ; “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”; “Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ, kiên quyết không ngừng thế tiến công”; “Biến đại sự thành tiểu sự, biến tiểu sự thành vô sự”; “Thế và lực trong cách mạng và trong phát triển là ở Đại Đoàn kết”,…

    – Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội là do nhân dân tự làm lấy dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, mọi điều phải xuất phát từ dân, lấy dân làm gốc. Nói, viết sao cho giản dị, dễ hiểu cốt để quần chúng hiểu ngay và làm được; nắm cái tinh thần của sự vật, đi ngay vào cái cốt lõi của vấn đề. ở Hồ Chí Minh, những chân lý lớn của thời đại được hiện ra trong những câu nói giản dị và hàm súc.

    – Cán bộ là vốn quý của Đảng, của cách mạng. Cán bộ tốt quyết định tất cả. Muốn vậy phải rèn luyện cán bộ trong đấu tranh, hết lòng vì dân, vì nước, diệt trừ chủ nghĩa cá nhân, trau dồi đạo đức cách mạng, phải phát hiện và trọng dụng nhân tài qua thực tiễn và qua sự tín nhiệm của quần chúng,…

    Đó là một vài nét phác thảo sơ bộ về phương pháp luận của Hồ Chí Minh. Tuy Người không để lại cho chúng ta một công trình hoàn chỉnh nào về phương pháp luận, nhưng chúng ta có thể nghiên cứu và tìm ra phương pháp luận của Người từ hai hướng: dựa vào câu chữ (sách vở), gọi là tư tưởng – phương pháp; và dựa vào cách làm, lời dặn, gọi là hành động – phương pháp (chữ dùng của giáo sư Lê Trí Viễn).

    2. Hệ phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh (tức là các công cụ tác động vào đối tượng). Điều cần nói là, những phương pháp này không tự sản sinh ra, không tách rời chính đối tượng. Mức độ hiểu biết về đối tượng, yêu cầu nghiên cứu đối tượng sẽ quy định việc lựa chọn những phương pháp thích hợp. Đồng thời chủ thể sử dụng phương pháp phải đổi mới chính mình để đổi mới phương pháp đáp ứng yêu cầu tǎng tiến hiệu quả nghiên cứu. Tác dụng của phương pháp chỉ bộc lộ ra mặt tích cực của nó thông qua sáng tạo của chủ thể sử dụng phương pháp đó. Đây vừa là trình độ tư tưởng, nǎng lực khoa học vừa là trình độ kỹ thuật – công nghệ đạt được trong nghiên cứu. Tất cả các phương pháp và thao tác đã có và thường thấy như: phân tích, tổng hợp, khái quát và trừu tượng hoá, so sánh, hệ thống, điều tra xã hội học, thực nghiệm, nghiên cứu vǎn bản, hiện vật, thống kê, phân loại… đều có thể ứng dụng vào nghiên cứu chung và nghiên cứu loại biệt về Hồ Chí Minh. Cái quan trọng là nghệ thuật lựa chọn và xử lý phương pháp trong nghiên cứu.

    Có thể nói, toàn bộ triết học thâu tóm vào phương pháp. Mỗi bước tiến về khoa học được đánh dấu bằng một phương pháp mới. Do đó, sáng tạo về phương pháp là một sáng tạo lớn, có tầm cỡ trong nghiên cứu khoa học. Song đến lượt nó, áp dụng phương pháp nào nghiên cứu, lại đòi hỏi ở người nghiên cứu nǎng lực sáng tạo trong việc sử dụng phương pháp. Đòi hỏi ấy đang đặt ra và thử thách các nhà khoa học trong chuyên ngành nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

    3. Phương pháp luận nghiên cứu về Hồ Chí Minh là những nguyên tắc chỉ đạo việc nghiên cứu, mà những nguyên tắc này, ở cấp độ lý thuyết, sẽ được bàn kỹ ở chương sau.

    Chương II

    Những nguyên tắc phương pháp luận chung

    chỉ đạo việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh

    Nói nguyên tắc phương pháp luận nghiên cứu chính là nói cái chung, cái phổ biến ở trình độ bản chất, có tính ổn định và sự sâu sắc cần thiết đủ sức làm cơ sở dẫn dắt việc nghiên cứu đi tới mục tiêu đã định hướng. Việc vận dụng những nguyên tắc chung đó vào chuyên ngành nghiên cứu Hồ Chí Minh để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đã vạch ra còn tuỳ thuộc vào trình độ, kỹ nǎng của người nghiên cứu vốn rất khác nhau và tuỳ thuộc vào mức độ, phạm vi, giới hạn của mỗi đề tài cũng như những tình huống nghiên cứu cụ thể, xác định. Trong chương này, chúng tôi đề cập tới ba nguyên tắc cơ bản sau đây:

    – Nắm vững những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.

    – Quán triệt những quan điểm của Đảng và chỉ dẫn của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta trong nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

    – Kế thừa có hoặc chọn lọc kinh nghiệm và thành tựu của khoa học nghiên cứu về các vĩ nhân trên thế giới.

    I. Nắm vững những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

    Nguyên tắc này có tầm quan trọng hàng đầu đối với nghiên cứu khoa học, đặc biệt là nghiên cứu khoa học xã hội và nhân vǎn, trong đó có nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Về thực chất, đây là sự quán triệt tinh thần và phương pháp triết học mácxít vào công tác nghiên cứu.

    Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã luôn đề cao vai trò dẫn đường của lý luận Mác – Lênin đối với hoạt động thực tiễn. Người nhấn mạnh tới nét đặc sắc của chủ nghĩa Mác – Lênin là tính biện chứng, là khoa học và cách mạng, là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và thực tiễn. Lênin cũng xác định rằng, nếu chỉ dùng độc một từ thôi mà có thể nói lên được tiêu điểm của từ “duy vật lịch sử” của Mác, Ǎngghen thì từ đó chính là phép biện chứng. Theo Lênin, chủ nghĩa duy vật lịch sử là thành quả vĩ đại bậc nhất của lịch sử tư tưởng. Nếu xem chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là một thể thống nhất, cái này ở trong cái kia và ngược lại thì áp dụng triết học này vào nghiên cứu đời sống xã hội, con người, như nghiên cứu Hồ Chí Minh chẳng hạn, ta thấy đó chính là áp dụng quan niệm duy vật và biện chứng về lịch sử vào nghiên cứu Hồ Chí Minh. Lâu nay, cách nói tắt: quan niệm duy vật về lịch sử hay “chủ nghĩa duy vật lịch sử” thường dẫn đến chỗ không hiểu đầy đủ, dần dần trở thành hiểu sai theo khuynh hướng siêu hình, xa dần bản chất mácxít vốn là biện chứng. Trước Mác đã từng có thế giới quan duy vật, chủ nghĩa duy vật, mà tiêu biểu nhất là Phoiơbắc, một trong những đại biểu của nền triết học cổ điển Đức thế kỷ XIX. Ông đã có công lao to lớn trong việc khôi phục chủ nghĩa duy vật. Cũng đã từng có nhiều triết gia trước Mác đến được lịch sử với cách nhìn duy vật chủ nghĩa, nhưng phải đến Mác thì lịch sử mới được soi sáng bởi một thế giới quan khoa học hoàn bị, triệt để, đó là duy vật và biện chứng, tạo thành chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật. Phát kiến về bản chất của lịch sử của Mác sở dĩ có tính vạch thời đại vì ông đã lý giải một cách đúng đắn và triệt để bản chất của lịch sử, ông không chỉ thấy nhân tố kinh tế là quyết định cuối cùng, rằng xét đến cùng, mọi biến thiên của lịch sử đều có cǎn nguyên kinh tế (= CNDV) mà còn thấy kinh tế không phải là cái duy nhất quyết định lịch sử (= DVBC). Mác còn nhìn rất sâu phép biện chứng giữa vật chất và tinh thần, khách quan và chủ quan. Cũng như vậy, Lênin đã đem lý thuyết biện chứng đó soi vào thực tiễn cách mạng để vạch rõ sợi dây liên hệ giữa kinh tế và chính trị.

    Phải nhân chân lịch sử từ cơ sở triết học của nó là duy vật biện chứng, đặt tất cả mọi sự kiện, sự vật, hiện tượng, quá trình lịch sử dưới ánh sáng duy vật biện chứng để tìm cǎn nguyên, bản chất, động lực thúc đẩy nó. Đó là quan điểm và phương pháp mácxít. Vậy quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử bao gồm những nội dung, những yêu cầu gì? Cần phải có một hệ thống các quan điểm như thế nào để có thể xem mỗi quan điểm đó đồng thời là nguyên tắc, là phương pháp chỉ đạo việc nghiên cứu. Đó là

    1. Quan điểm khách quan

    Đây là điểm xuất phát xác định mọi quan điểm nghiên cứu về xã hội và lịch sử. Quan điểm này có cơ sở từ việc giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học, coi bản chất của thế giới là vật chất, là cái có trước, tồn tại độc lập với ý thức con người và ý thức con người có khả nǎng nhận thức, phản ánh cái vật chất khách quan ấy. Mác đã từng định nghĩa, ý thức con người ta chẳng qua chỉ là cái tồn tại được ý thức (tức là sự phản ánh tồn tại).

    Dưới ánh sáng của triết học Mác, phạm trù cái khách quan được cắt nghĩa tường minh trên cả hai phương diện Bản thể luận và Nhận thức luận. Theo Mác và Ǎngghen, cái khách quan là cái tồn tại bên ngoài con người, độc lập và không phụ thuộc vào ý thức, nhận thức của con người. Do đó, hoạt động nhận thức chủ thể phải bắt đầu từ chỗ có một đối tượng cho chủ thể nhận thức, cái đối tượng ấy tác động vào chủ thể, làm nảy sinh nhu cầu nhận thức của chủ thể. Kết luận phương pháp luận mà các ông rút ra là không thể giải thích tư tưởng của thời đại, ý niệm tư tưởng của con người mà lại cǎn cứ vào bản thân tư tưởng, ý niệm ấy. Đó là một thứ duy tâm lịch sử. Phải cắt nghĩa nó xuất phát từ toàn bộ hiện trạng, sự kiện, các quan hệ sản xuất – vật chất, cái trạng thái kinh tế đã dẫn đến sự phát sinh của tư tưởng đó. ở đây có biện chứng nhân – quả của đời sống hiện thực và hoạt động tư tưởng của con người.

    Tính khách quan bảo đảm cho mọi nghiên cứu đạt được sự chân thật, đúng đắn, đến gần với chân lý và quy luật. Do đó, chỉ những nghiên cứu nào tuân thủ tính khách quan mới có thể đem lại kết quả mang độ tin cậy. Nó xa lạ với những suy đoán chủ quan thoát ly thực tiễn, những kết quả không chân thực. Ǎngghen có nói một câu nổi tiếng: Hãy gọi tên sự vật đúng như bản thân nó. Đó chính là một đòi hỏi nghiêm ngặt trong việc tôn trọng tính khách quan của đời sống hiện thực. Yêu cầu tính khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng là khách quan trong xem xét nhận thức, đánh giá, phát hiện bản chất, quy luật; trong sự sinh thành, biến đổi, phát triển, chuyển hoá, tương tác biện chứng giữa các mặt, các sự vật, hiện tượng. Nó khác về bản chất với chủ nghĩa khách quan tư sản vốn là một chủ nghĩa tự nhiên, mô tả chất đống sự kiện, che lấp bản chất tất yếu bằng một sự mô tả tuỳ tiện các hiện tượng thứ yếu, vụn vặt.

    Một nét đặc sắc khác về nhận thức trong phạm trù cái khách quan là ở chỗ, triết học Mác tôn trọng cái khách quan trong tính thống nhất với việc đề cao nǎng lực chủ quan con người. Đây là biện chứng của sự thâm nhập, chuyển hoá lẫn nhau giữa cái khách quan và cái chủ quan theo lôgích phát triển. Nó là sự thống nhất hai mặt của cùng một quá trình: mặt thứ nhất, khách quan hoá chủ quan, đó là quá trình chính xác hoá kết quả tư duy và hành động, làm cho cái chủ quan ngày càng phù hợp hơn với cái khách quan, tri thức ngày càng đúng đắn hơn do phản ánh đúng đắn thế giới đối tượng khách quan. Mặt thứ hai, chủ quan hoá khách quan, đó là quá trình con người mở rộng phạm vi, đối tượng nghiên cứu, cái mà ta đã nói ở trên, rút ngắn khoảng cách giữa chủ thể và đối tượng, chủ thể tiến sát tới đối tượng, chiếm lĩnh đối tượng.

    Quan điểm khách quan có ý nghĩa sâu sắc đối với nghiên cứu các vĩ nhân, xem xét mối liên hệ xã hội – lịch sử của sự sản sinh ra các thiên tài, xem họ là sản phẩm của lịch sử, con đẻ của thời đại. Chúng ta thấy rất rõ điều này khi nghiên cứu các nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

    2. Quan điểm thực tiễn

    Lý luận nhận thức của triết học Mác – Lênin cho rằng, thực tiễn là nguồn gốc và động lực của nhận thức, là cơ sở và tiêu chuẩn của chân lý. Một trong những dấu hiệu cǎn bản chứng tỏ sự ra đời của triết học Mác như một cuộc cách mạng trong lịch sử triết học là ở chỗ, triết học Mác đã khẳng định và luận chứng đúng đắn, triệt để nhất vai trò và bản chất của thực tiễn. Quan điểm mácxít về thực tiễn thống nhất trong bản thân nó tính khách quan thuộc về nguồn gốc và nội dung của chân lý với tính nǎng động chủ quan, tính tích cực sáng tạo của chủ thể là con người trong hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn để đạt tới chân lý. Do đó, quan điểm thực tiễn, dưới ánh sáng của chủ nghĩa duy vật biện chứng là thực tiễn hoạt động của con người, một hoạt động vật chất cảm tính, có mục đích, có tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. Đó là thực tiễn và hoạt động thực tiễn của con người hiện thực trong sự phát triển. Nó khác về nguyên tắc với chủ nghĩa duy vật trực quan, tách rời nhận thức với hoạt động thực tiễn, trong đó, con người chỉ ở trong giới hạn của con người sinh vật, là những cá thể thụ động và thế giới đối tượng là tĩnh tại. Nó cũng đối lập với chủ nghĩa duy tâm về thực tiễn chỉ tuyệt đối hoá yếu tố tinh thần, tư tưởng; xem hoạt động thực tiễn chỉ là hoạt động tinh thần, hoạt động lý luận và con người chỉ là một con người ý thức.

    Có thể nói, quan hệ đầu tiên, khởi nguyên của con người đối với thế giới xung quanh là quan hệ thực tiễn. Con người hoàn toàn không bắt đầu từ chỗ họ đứng ở quan hệ lý luận với các đối tượng của thế giới bên ngoài mà là tác động một cách tích cực vào thế giới đó. Nhận thức là hoạt động đặc trưng của con người nhưng sự xuất hiện và bản chất của nhận thức chỉ có thể được hiểu một cách đúng đắn trong mối quan hệ của của con người với hoạt động thực tiễn. Không ở trong thực tiễn thì không có bất cứ một nhận thức nào được nảy sinh. Cũng như vậy, không có bất cứ một sự biến đổi tích cực nào của thực tiễn nếu không thông qua hoạt động của con người dựa trên cơ sở nhận thức khoa học (giác ngộ quy luật) về thực tiễn của bản thân nó. Lênin đã từ đó rút ra kết luận: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”.

    Tính chuẩn xác và hiện thực của lý luận đòi hỏi phải gắn liền lý luận với thực tiễn; lý luận phải ở trong thực tiễn và thường xuyên xuất phát từ nhu cầu nhận thức và cải tạo thực tiễn; mặt khác phải đặt tất cả mọi lý luận trong sự khảo nghiệm của thực tiễn và tổng kết thực tiễn để bổ sung và phát triển lý luận mới.

    Lý luận rọi sáng thực tiễn và thực tiễn kiểm tra, đánh giá lý luận. Thực tiễn thúc đẩy lý luận và lý luận cung cấp cơ sở khoa học cho mọi hành động cải tạo thực tiễn của con người. Lý luận một khi đã hình thành thì ổn định một cách tương đối. Thực tiễn thì thường xuyên biến đổi. Nó biến đổi nhanh hơn so với sự biến đổi của lý luận. Lênin đã khái quát bản chất mối quan hệ này của thực tiễn và lý luận trong nhận xét: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận) vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp”. Đại thi hào Gớt nói một cách hình ảnh rằng: mọi lý thuyết đều là màu xám còn cây đời thì mãi mãi xanh tươi.

    Hồ Chí Minh đến với lý luận bắt đầu từ hoạt động thực tiễn và nghiên cứu sâu sắc thực tiễn đã giúp Người tổng kết thành lý luận, có những phát hiện tư tưởng và lý luận mới mẻ, đầy sáng tạo. Câu nói nổi tiếng, phản ánh sự quan tâm sâu sắc của Người đối với lý luận và sự chú ý đặc biệt của Người tới thực tiễn và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn là: thống nhất lý luận với thực tiễn là bản chất của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn không có lý luận là thực tiễn mù quáng và lý luận không gắn với thực tiễn là lý luận suông. Người đòi hỏi lý luận phải gắn liền với thực tiễn và học phải đi đôi với hành. Hồ Chí Minh hình dung thấy lý luận, học thuyết, chủ nghĩa là cái cần thiết hàng đầu cho một đảng cách mạng tiên phong, nó như bàn chỉ nam cho con tầu trên biển. Do đó, học lý luận cốt thâu cái tinh thần và phương pháp của nó để ứng xử đúng, hành động phù hợp với hoàn cảnh. Người cũng biết rất rõ một nhược điểm lớn của cán bộ, đảng viên ta là yếu về lý luận. Song không thể vì mà học lý luận theo kiểu nhớ chữ, thuộc sách, xem lý luận là cứu cánh, lấy lý luận để giải thích lý luận. Người đòi hỏi phải đứng trên quan điểm thực tiễn mà đề cao, mà tôn trọng lý luận. Vì vậy chỉ có trên quan điểm thực tiễn của Hồ Chí Minh mới có thể vừa khắc phục chủ nghĩa hình thức và bệnh giáo điều, chủ nghĩa kinh nghiệm và thói thực dụng tầm thường, lại vừa khắc phục được bệnh sách vở, lý thuyết suông xa rời thực tiễn; phát huy tính độc lập tự chủ, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam để giải quyết đúng đắn các vấn đề của cách mạng Việt Nam. Không chỉ thấm nhuần thực tiễn trong công tác tư tưởng, lý luận, Hồ Chí Minh còn thường xuyên chú trọng thực tiễn, công việc thực tế hàng ngày và hiệu quả của hành động. Người coi tính thiết thực là một phẩm chất cần thiết trong tư duy và hành động của người cách mạng. Lập luận của Hồ Chí Minh là muốn thực sự phục vụ nhân dân, vì nhân dân thì nói và làm bất cứ cái gì cũng phải thiết thực, không phù phiếm, khoa trương.

    Sự tỉ mỷ, cụ thể trong công việc và cách thức giải quyết công việc, sự ân cần chu đáo trong quan hệ với con người của Hồ Chí Minh từ việc lớn đến việc nhỏ, đối với mọi người, mọi giới, mọi lứa tuổi… đã từ lâu trở thành nét bản chất và bản sắc riêng của Hồ Chí Minh. Bản chất và bản sắc đó có cơ sở sâu sắc trong nhận thức, trong đạo đức, lối sống và nhân cách của Hồ Chí Minh. Thấm nhuần quan điểm thực tiễn, vận dụng nhất quán quan điểm đó vào nghiên cứu Hồ Chí Minh là điều kiện để hiểu đúng bản chất đối tượng nghiên cứu.

    3. Quan điểm hệ thống và quan điểm phát triển

    Sự ra đời của phương pháp hệ thống – cấu trúc đánh dấu một bước thay đổi quan trọng trong tư duy khoa học. Xét trên ý nghĩa phương pháp luận, đây cũng là quan điểm tiếp cận và quan điểm nghiên cứu đối tượng. Đó là quan điểm hệ thống, phức hợp được áp dụng không chỉ trong nghiên cứu khoa học tự nhiên mà còn trong khoa học xã hội.

    Phương pháp hệ thống – cấu trúc xem xét sự vật, hiện tượng như một hệ thống có cấu trúc bên trong. Phương pháp này hình thành từ kết quả của sự thống nhất hai quan điểm: hệ thống và cấu trúc. Hệ thống là một tập hợp các yếu tố có liên hệ và tác động qua lại với nhau. Mỗi yếu tố chỉ tồn tại trong quan hệ với những yếu tố khác. Sự biến đổi của một yếu tố trong hệ thống sẽ gây nên sự biến đổi nhất định của những yếu tố khác của hệ thống, cũng như gây ảnh hưởng đến sự biến đổi của cả hệ thống nói chung.

    Chỉ ở trong hệ thống, sự vật mới biểu hiện ra là cái gì, mới có thể định tính được cái thuộc về bản chất của nó. Cũng chỉ ở trong hệ thống, mỗi yếu tố, mỗi bộ phận, mỗi mặt cấu thành của nó mới xác định được vị trí, vai trò, chức nǎng và tác dụng của chúng đối với những cái khác và đối với cả hệ thống. Nói một cách khác, mỗi phần tử chỉ xác lập ý nghĩa của nó ở trong hệ thống. Sự biệt lập, tách rời khỏi hệ thống làm mất đi ý nghĩa, làm suy yếu cái sức mạnh của nó, thậm chí có thể triệt tiêu cả ý nghĩa lẫn sức mạnh ấy. Cũng như vậy, sức mạnh của hệ thống được tạo ra từ sự tổng hợp các sức mạnh cá thể trong mối liên hệ với hệ thống, tức là từ một tổng hợp những lực tác động cùng chiều của các phần tử hợp thành. Hệ thống là đặc trưng bản chất của sự vật, là điều kiện tất yếu để sự vật vận động và bộc lộ bản chất. Cùng với tính hệ thống, sự vật vận động và biến đổi dù phức tạp như thế nào, đặc biệt là sự vận động xã hội – lịch sử, cuối cùng cũng tự vạch ra cho mình sự phát triển tiến lên không ngừng. Phát triển là khuynh hướng, xu hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới. Lênin nói tới hai quan niệm về sự phát triển, sự phát triển coi như là giảm đi và tǎng lên, như là lặp lại, và sự phát triển coi như là sự thống nhất của các mặt đối lập… Theo Lênin, quan niệm thứ nhất là chết cứng, nghèo nàn, khô khan. Quan niệm thứ hai là sinh động, nó cho ta chìa khoá của sự tự vận động, của những bước nhảy vọt, của sự gián đoạn tiệm tiến, của sự chuyển hoá thành mặt đối lập, của sự tiêu diệt cái cũ và nảy sinh ra cái mới .

    Quan điểm hệ thống và phát triển, đòi hỏi khi nghiên cứu các đối tượng, các quá trình xã hội phải có cái nhìn toàn diện, lịch sử cụ thể và phát triển. Các tác giả kinh điển của chủ nghĩa Mác đã đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa và vai trò phương pháp luận của các quan điểm này. Yêu cầu cơ bản của lôgích biện chứng là muốn thực sự hiểu được sự vật, cần thiết phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả sự liên hệ và “sự trung gian” của vật đó. Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xem tất cả mọi mặt sẽ phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng nhắc. Đó là yêu cầu hàng đầu của lôgích biện chứng.

    Vận dụng quan điểm phát triển vào việc nghiên cứu nhằm phát hiện cái mới về mặt lý luận, nhằm bổ sung và phát triển lý luận mácxít cho phù hợp với đà biến đổi của thực tiễn, Lênin cũng chỉ rõ: Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì xong xuôi hẳn hoặc bất khả xâm phạm. Trái lại chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng của môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống.

    Là một nhà mácxít sáng tạo, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng quan điểm hệ thống và quan điểm phát triển trong hoạt động lý luận và đấu tranh chính trị, trong chỉ đạo các công tác thực tiễn hàng ngày. Do đó, để hiểu đúng và đánh giá chính xác về Hồ Chí Minh, đặc biệt trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải ra sức trau dồi quan điểm phương pháp luận quan trọng này, mà bản thân Hồ Chí Minh đã là một mẫu mực trong tư duy lý luận và thực hành đấu tranh cách mạng. Nhờ nhất quán với quan điểm hệ thống, quan điểm phát triển, Người đã phát hiện từ rất sớm mối liên hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, giữa các mục tiêu của cách mạng dân tộc dân chủ với cách mạng xã hội chủ nghĩa, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

    Hồ Chí Minh với những đóng góp thiên tài về lý luận cách mạng giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân đã chứng tỏ tầm nhìn sâu rộng của Người trong khi phát hiện thấy mối liên hệ giữa cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước thuộc địa với phong trào vô sản ở ngay trong lòng các nước tư bản đế quốc (chính quốc). Người cũng thấy rõ từ cách tiếp cận hệ thống, chỉnh thể, tính tất yếu của đoàn kết quốc tế bởi sự gắn liền giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, phối hợp thành mặt trận chung giữa đoàn kết quốc tế với đoàn kết, đại đoàn kết dân tộc. Chỉ khi nào biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, như hình tượng của “một con chim hai cánh”, thì mới đủ sức chiến thắng chủ nghĩa tư bản thực dân, cùng một lúc chặt đứt hai cái vòi của con đỉa hút máu – một vòi ở chính quốc và một vòi ở các thuộc địa. Đồng thời với sự phân tích khoa học – thực tiễn và lịch sử – cụ thể, nhìn thấu suốt xu hướng phát triển của lịch sử trong thời đại cách mạng vô sản được mở ra từ Cách mạng Tháng Mười, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy ở Việt Nam, nhiệm vụ lịch sử hàng đầu là giải phóng dân tộc, giành lấy độc lập tự do, xem đó là tiền đề, điều kiện để giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng xã hội và con người. Tất cả những cuộc giải phóng ấy là để từng bước tiến tới chủ nghĩa xã hội; và chỉ có đặt cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo của cách mạng vô sản do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến theo mục tiêu chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản thì sự nghiệp cách mạng mới thành công. Người quyết định lựa chọn chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa xã hội vì tìm thấy ở học thuyết và con đường ấy các nhân tố đảm bảo tốt nhất, chắc chắn nhất, hợp quy luật lịch sử để thực hiện hoài bão, khát vọng lớn lao nhất: độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân, hoà bình hữu nghị và sự phồn vinh, hạnh phúc cho tất cả các dân tộc trên trái đất. Là một nhà chiến lược và sách lược xuất sắc nhất của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã sử dụng quan điểm hệ thống và phát triển để phân tích khoa học những chuyển biến qua từng thời kỳ lịch sử các mâu thuẫn, các tương quan và thế lực, những khả nǎng xuất hiện và chín muồi của tình thế và thời cơ cách mạng, của các nhân tố “Thiên thời, Địa lợi, Nhân hoà” để từ đó vạch ra khẩu hiệu đấu tranh, điều chỉnh biện pháp, lấy sự biến hoá khôn lường của các biện pháp để giành thế chủ động trong việc thực hiện nguyên tắc, mục tiêu phù hợp với từng hoàn cảnh, từng thời điểm. Hồ Chí Minh đã tỏ rõ trong thực tiễn sự vận động, biểu hiện của khoa học và nghệ thuật cách mạng. Chỉ đạo trực tiếp các cuộc đấu tranh giành và giữ chính quyền, các chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ và xã hội chủ nghĩa trong nhiều thập kỷ, Hồ Chí Minh đã làm nổi bật cả trong lý luận lẫn thực tiễn tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sự kết hợp trong chỉnh thể các vấn đề về mục tiêu, bản chất, động lực, bước đi và biện pháp (cách làm) của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

    Quan điểm hệ thống và phát triển đã đặt cơ sở cho những luận chứng của Hồ Chí Minh về xây dựng kinh tế gắn với phát triển vǎn hoá, bảo vệ an ninh quốc phòng; phát triển nông nghiệp, nông thôn với xây dựng công nghiệp và đời sống đô thị; giữa cải tạo và xây dựng; giữa sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước; giữa tập trung và dân chủ; giữa tổ chức bộ máy với chất lượng cán bộ; giữa pháp luật và kỷ luật với đoàn kết và dân chủ; giữa phát huy và bảo tồn truyền thống với cách tân, đổi mới theo hiện đại và thời đại… Câu thơ nổi tiếng của Người: “Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ, kiên quyết không ngừng thế tiến công” là sự thâu tóm muôn ý tưởng sâu sắc ấy.

    4. Quan điểm kết hợp cái lịch sử với cái lôgích và quan điểm so sánh

    Nhận thức khoa học đòi hỏi phải nắm được bản chất, quy luật của sự vật, đồng thời nắm lịch sử của sự vật, quá trình phát sinh, phát triển của nó.

    Mỗi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội đều có quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của nó. Quá trình đó biểu hiện ra trong toàn bộ tính cụ thể của nó, bao gồm cả những sự thay đổi và những bước quanh co của sự phát triển với những ngẫu nhiên phức tạp của hoàn cảnh nhiều hình vẻ. Đó chính là lịch sử của sự vật.

    Đối với lịch sử, tính quy luật của nó, có đặc điểm là: tính liên tục của những sự kiện, sự biến trong thời gian và quá trình, nó bao gồm cả những ngẫu nhiên. Phương pháp lịch sử đòi hỏi sự phản ánh trong tư duy quá trình lịch sử – cụ thể của sự phát triển đó. Phương pháp lịch sử còn đòi hỏi phải nắm lấy sự vận động lịch sử trong toàn bộ tính phong phú của nó, phải bám sát sự vật – đối tượng nghiên cứu, theo dõi mọi bước phát triển của nó theo trình tự thời gian. Nhưng đồng thời quá trình phát triển lịch sử của sự vật, dù có phức tạp, muôn vẻ và có nhiều ngẫu nhiên đến đâu thì bao giờ cũng bị chi phối bởi cái tất nhiên, cái chung, cái quy luật phổ biến, nội tại và khách quan của nó. Đó chính là lôgích khách quan của lịch sử của sự vật. Lôgích của tư duy, lý luận là phản ánh cái lôgích khách quan đó. Vì vậy, phương pháp lôgích là hình thức đặc biệt phản ánh quá trình lịch sử. Phương pháp lôgích phải vạch ra bản chất , tính tất nhiên, tính quy luật của sự vật, dưới hình thức lý luận trừu tượng và khái quát. So với phương pháp lịch sử, phương pháp lôgích có ưu thế hơn ở chỗ, nó không những phản ánh bản chất, tính tất nhiên, quy luật của sự vật mà đồng thời còn phản ánh được lịch sử phát triển của sự vật ở những nét chủ yếu.

    Nhờ vậy, phương pháp lôgích có khả nǎng kết hợp trong bản thân nó hai yếu tố của sự nghiên cứu: kết cấu (cấu trúc) của sự vật và lịch sử của nó trong sự thống nhất chặt chẽ của chúng.

    Phương pháp lôgích cũng phản ánh lịch sử nhưng phản ánh một cách tóm tắt, khái quát, với những mốc chính, những giai đoạn chủ yếu của sự phát triển chứ không bám sát chi tiết tiến trình các sự kiện lịch sử.

    Bộ Tư bản của Mác là một kiểu mẫu của sự phân tích lôgích đối với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Bằng sự phân tích lôgích, bằng một hệ thống khái niệm, phạm trù kinh tế, Mác đã vạch ra quy luật phát sinh, phát triển và dự báo sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản. Lênin nhận xét rằng, chính sự phân tích lôgích này đã giúp ta hình dung rõ lịch sử của chủ nghĩa tư bản và sự phân tích những khái niệm tóm tắt lịch sử ấy.

    Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgích trong sự kết hợp chỉnh thể của nó đã bao hàm cả phương pháp (quan điểm) so sánh, phân tích. Chúng là những phương pháp khác nhau nhưng thống nhất với nhau, quy định và biểu hiện lẫn nhau.

    Theo Ǎngghen, phương pháp lôgích không phải cái gì khác là phương pháp lịch sử, chỉ có điều là nó đã thoát khỏi những hình thức lịch sử và những ngẫu nhiên pha trộn. Lịch sử bắt đầu từ đâu, quá trình tư duy cũng phải bắt đầu từ đó. Và sự vận động tiếp tục thêm nữa của nó chẳng qua chỉ là sự phản ánh quá trình lịch sử dưới một hình thức trừu tượng và nhất quán về mặt lý luận. Nó là sự phản ánh đã được uốn nắn lại nhưng uốn nắn theo những quy luật mà bản thân quá trình lịch sử thực tế đã cung cấp, hơn nữa mỗi một nhân tố đều có thể xem xét ở cái điểm phát triển mà ở đó quá trình đạt tới chỗ hoàn toàn chín muồi, đạt tới cái hình thái cổ điển của nó.

    Cần nhấn mạnh rằng phương pháp lôgích là sự phân tích khoa học biện chứng của sự phát triển thực tế của sự vật chứ không phải rút một khái niệm này từ một khái niệm khác một cách tư biện Sự phù hợp giữa lôgích và lịch sử là một nguyên tắc phương pháp luận của lôgích biện chứng mácxít.

    Muốn hiểu bản chất, quy luật của sự vật thì phải hiểu lịch sử phát sinh, phát triển của nó. Ngược lại, chỉ có nắm được bản chất và quy luật của sự vật thì mới nhận thức được lịch sử của nó một cách đúng đắn.

    Dựng lại cái lôgích khách quan của sự phát triển của sự vật là nhiệm vụ của phương pháp lôgích. Muốn vậy, khi nghiên cứu sự vật phải bắt đầu từ hình thức phát triển tương đối hoàn thiện và chín muồi nhất của nó chứ không thể tuỳ tiện.

    Nếu lịch sử chính là bản thân cuộc sống thì lôgích là bản chất của cuộc sống do nghiên cứu lý luận chỉ ra

    Không có sự khác nhau về nguyên tắc giữa lịch sử và lôgích. Vấn đề đặt ra là ở chỗ sự kết hợp giữa chúng một cách nhuần nhuyễn trong nghiên cứu đối tượng sao cho đối tượng được hiện ra với một diện mạo lịch sử trung thực, đúng như bản thân nó và trong đó nổi bật lôgích về sự vận động, sinh thành, phát triển của nó.

    Phương pháp phân tích so sánh là sự hỗ trợ cần thiết làm nổi bật tính thống nhất giữa lịch sử và lôgích. Đó là sự so sánh giữa đối tượng này với đối tượng khác trong những điều kiện, hoàn cảnh xác định chi phối chúng, cho phép nhìn rõ nét tương đồng và sự khác biệt, nhận rõ những cái riêng có cùng một cái chung bản chất hoặc những dấu hiệu phân biệt cái riêng này với cái riêng khác.

    Phương pháp phân tích so sánh cũng có thể dựa trên những cái mốc của sự kiện và thời gian của cùng một cái trục vận động lịch sử để lần tìm ra sự phát triển khác nhau của cùng một đối tượng, chỉnh thể trong những thời điểm và hoàn cảnh khác nhau. Sự kết hợp lịch đại và đồng đại trong nghiên cứu sự phát triển của một đối tượng, của những đối tượng khác nhau trở nên cần thiết một cách khách quan. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với nghiên cứu quá trình hình thành tư tưởng, sự chuyển đổi thế giới quan của một nhân vật lịch sử, hoặc những cống hiến khác nhau của những nhân vật khác nhau trong cùng một thời đại cũng như trong những thời đại lịch sử khác nhau.

    Nghiên cứu Hồ Chí Minh nằm trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học các vĩ nhân, các danh nhân, cần đến sự ứng dụng những phương pháp này.

    Phương pháp lịch sử được ứng dụng vào đây cho phép vạch ra tiến trình các sự kiện hoạt động trong cuộc đời, tư tưởng, sự nghiệp Hồ Chí Minh, cho thấy quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của Người.

    Phương pháp lôgích cho phép hình dung những nhân tố khách quan và chủ quan, những ảnh hưởng qua lại của dân tộc, truyền thống, thời đại, vǎn hoá và lịch sử tạo nên giá trị, bản lĩnh, bản sắc, phong cách Hồ Chí Minh – một lãnh tụ kiểu mới của giai cấp vô sản trong thời đại cách mạng vô sản.

    Phương pháp so sánh cho phép vạch ra mối liên hệ chung – riêng, phổ biến và đặc thù giừa Hồ Chí Minh với các vĩ nhân, danh nhân vǎn hoá khác. ở đây, phương pháp so sánh trên cơ sở phân tích cụ thể một tình hình cụ thể cho phép nhân chân những đóng góp và cống hiến riêng có của Hồ Chí Minh đối với lịch sử…

    Đó là những nét đại thể về các quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử cần được áp dụng vào nghiên cứu Hồ Chí Minh.

    II. Quán triệt những quan điểm của Đảng và chỉ dẫn của các nhà lãnh đạo cao cấp trong nghiên cứu về Hồ Chí Minh

    Nghiên cứu về Hồ Chí Minh không những cần xuất phát từ các quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử mà còn phải quán triệt những chỉ dẫn của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, Những chỉ dẫn đó có trong các bài nói và viết, các phát biểu chính thức thành vǎn của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước nhân những lễ kỷ niệm ngày sinh hoặc ngày mất của Hồ Chí Minh. Đặc biệt là, cần chú ý khai thác những đánh giá về công hiến của Hồ Chí Minh qua tư tưởng và sự nghiệp của Người, những nhận xét, đánh giá về ảnh hưởng uy tín đạo đức nhân cách, lối sống, phong cách ứng xử vǎn hoá của Hồ Chí Minh đối với xã hội và các tầng lớp nhân dân qua các thời kỳ phát triển của cách mạng Việt Nam. Đây là những đánh giá chính thức và là quan điểm chính thống của Đảng ta đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh được ghi trong các vǎn kiện chính trị của Đảng, nhất là các vǎn kiện ở thời kỳ đổi mới, từ Đại hội VI, VII, VIII cho tới nay.

    Cùng ở trong hệ thống nguồn tài liệu này còn có các bài nghiên cứu, các công trình lý luận chính trị đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp về Hồ Chí Minh của các nhà lãnh đạo vốn là học trò và bạn chiến đấu của Người, cùng sống và hoạt động bên cạnh Người, có điều kiện hiểu biết khá cặn kẽ về cuộc đời Hồ Chí Minh; về những quan điểm, tư tưởng và lý luận của Người; về phương pháp công tác và quan hệ con người rất mực bao dung và nhân ái của Hồ Chí Minh.

    Nguồn tài liệu này cung cấp cho người nghiên cứu về Hồ Chí Minh không chỉ về mặt tư liệu khoa học mà còn cả những gợi mở về phương pháp luận, quan điểm và thái độ chính trị bảo đảm cho công việc nghiên cứu những định hướng đúng đắn, hữu ích. Việc nghiên cứu thấu đáo những tài liệu này để nắm vững nội dung tư tưởng và phương pháp trình bày, trên cơ sở đó tiến hành một sự phân loại, sắp xếp nguồn tài liệu theo vấn đề và theo thời gian, trong đó chú trọng khai thác những luận điểm lớn có ý nghĩa chỉ đạo nhận thức hoặc gợi mở phương hướng nghiên cứu, tìm tòi… cần được xem là một yêu cầu nghiêm túc cả về mặt tư tưởng chính trị lẫn chuyên môn, học thuật đối với người nghiên cứu trong tình hình hiện nay.

    Để thực hiện yêu cầu này, người nghiên cứu ngoài công phu lao động tìm tòi còn phải có nǎng lực phân tích và tổng hợp, hệ thống hoá và khái quát hoá cao. Về mặt thao tác nghiên cứu, không nên bỏ qua một nhận xét là, có một sự thâm nhập đồng thời những chỉ dẫn, gợi ý này cùng với sự thâm nhập các tác phẩm của Hồ Chí Minh (xét từ giới hạn nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh bằng phương pháp phân tích vǎn bản), hoặc khai thác sự kiện, niên biểu, tư liệu lịch sử, tư liệu vǎn học, tư liệu thực tiễn về Hồ Chí Minh (xét từ góc độ các lĩnh vực nghiên cứu khác, mang tính chuyên biệt về đối tượng – khách thể Hồ Chí Minh theo những hướng đích khác nhau của nghiên cứu. Thí dụ: Nghiên cứu biên niên tiểu sử, nghiên cứu tiểu sử khoa học, nghiên cứu các phương diện đạo đức, lối sống, vǎn hoá Hồ Chí Minh hay những tác động, ảnh hưởng của Hồ Chí Minh trong thực tiễn con người và lịch sử…). Sự thâm nhập này có tác động hỗ trợ, thúc đẩy, điều chỉnh lẫn nhau mà điều quan trọng đối với người nghiên cứu là, phải bắt đầu từ đó để tiến lên một cách độc lập, tự chủ và sáng tạo trong những lập luận, kiến giải riêng của mình.

    Càng nắm vững đối tượng càng phải vượt qua những sự mô tả bề ngoài về đối tượng ấy để vạch ra lôgích của những mối liên hệ bản chất về đối tượng. Càng tiếp cận với các nguồn tài liệu, những nhận xét, nhận định và kết luận về đối tượng càng phải đề phòng nguy cơ rơi vào sự khuôn sáo, cứng nhắc, thái độ lệ thuộc vào tài liệu và thụ động trước những lập luận đã có. Nó có thể dẫn tới tình trạng coi những chỉ dẫn vốn là một trong những điểm tựa gợi ý nghiên cứu thành những kết quả nghiên cứu, trong khi việc nghiên cứu của chính mình chỉ vừa mới bắt đầu.

    1. Mọi thắng lợi và thành tựu của cách mạng Việt Nam đều gắn liền mật thiết với tính đúng đắn, sáng tạo trong đường lối của Đảng, của tư tưởng Hồ Chí Minh. Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh mà những nét nổi bật và bao trùm là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao nǎng lực, trí tuệ, phát huy sức mạnh chiến đấu của Đảng, truyền thống đoàn kết của Đảng và của dân tộc… đó là những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng, của sự nghiệp đổi mới. Học tập tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh là một trong những vấn đè quan tâm hàng đàu của Đảng trên lĩnh vực công tác tư tưởng – lý luận, giáo dục và tuyên truyền của Đảng đối với toàn xã hội. Đó là cách đặt vấn dề của Đảng ta tại Đại hội VI – Đại hội mở đầu thời kỳ đổi mới, tạo ra bước ngoặt trong sự phát triển của cách mạng nước ta trong tình hình mới.

    2. Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta và của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện và hoàn cảnh lịch sử – cụ thể của nước ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành động lực tinh thần mạnh mẽ của sự phát triển xã hội ta, sự nghiệp đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vǎn minh. Đây là những nét chủ đạo được đề cập trong Cương lĩnh, Chiến lược, Vǎn kiện Đại hội VII và trong Nghị quyết các Hội nghị Trung ương (khoá VII) của Đảng.

    3. Kiên trì sự lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong đổi mới kinh tế – xã hội, gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội xây dựng chế độ mới do dân lao động làm chủ, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây là những định hướng của công tác tư tưởng và lý luận dược nêu lên trong Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị gần đây cùng với các Nghị quyết Trung ương về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh; về đổi mới và chỉnh đốn Đảng, về Đảng lãnh đạo Nha nước, về phát huy vai trò của nhân tố con người trong xây dựng kinh tế, phát triển vǎn hoá – giáo dục, xây dựng nông thôn, thực hiện từng bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá… Đó là sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    4. Trong hàng loạt các bài nói và viết của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng ta, từ các đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, Trường Chinh, Đỗ Mười, đến các đồng chí cố vấn Nguyễn Vǎn Linh, Phạm Vǎn Đồng, và nhiều đồng chí khác, đã gợi mở nhiều ý kiến phong phú về nghiên cứu, đánh giá tư tưởng Hồ Chí Minh, những nội dung cấu thành tư tưởng Hồ Chí Minh, vè phương pháp cách mạng, chiến lược đại đoàn kết, về xây dựng Đảng, Nhà nước và quân đội, về giáo dục con người, đào tạo cán bộ cách mạng, về đạo đức và lối sống theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Vì tất cả những lẽ đó, cần thiết phải khẳng định vị trí và tầm quan trọng của những quan diểm của Đảng được ghi trong các vǎn kiện, các chỉ dẫn của các nhà lãnh đạo cao cấp, trong hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận chung chỉ đạo việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Các khoa học lịch sử Đảng và xây dựng Đảng đã đề cập trực tiếp tới các vấn đề đã nêu trên. Bộ môn “Tư tưởng Hồ Chí Minh” với tư cách một môn khoa học đang trong quá trình hình thành, đặt nền móng cho sự ra đời một chuyên ngành khoa học mới – ” Hồ Chí Minh học” ở nước ta – chắc chắn sẽ hỗ trợ tích cực về công cụ và phương pháp nghiên cứu cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này.

    III- Kế thừa có chọn lọc những kinh nghiệm và thành tựu khoa học nghiên cứu về các vĩ nhân trên thế giới

    Hồ Chí Minh được thế giới thừa nhận là một danh nhân vǎn hoá. Hồ Chí Minh là một vĩ nhân của thế kỷ XX mà tên tuổi và sự nghiệp của người Người đã trở nên gần gũi, thân thiết đối với các dân tộc trên thế giới. Riêng đối với cách mạng Việt Nam và lịch sử dân tộc Việt Nam, công lao vĩ đại của Hồ Chí Minh là ở chỗ, Người đã mở ra cả một thời đại mới – thời đại Hồ Chí Minh. Đó là thời đại rực rõ nhất của dân tộc ta, đưa dân tộc ra tới độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử như vậy.

    Do đó, nói một cách ngắn gọn, nghiên cứu Hồ Chí Minh là nghiên cứu một vĩ nhân, một danh nhân vǎn hoá. ở nhiều nước trên thế giới, từ lâu đã ra đời khoa học nghiên cứu về các vĩ nhân. Khoa học này có những hình thái biểu hiện của nó dưới các dạng nghiên cứu tiểu sử, nghiên cứu học thuyết tư tưởng, nghiên cứu lịch sử cuộc đời và sự nghiệp. Trong lĩnh vực vǎn học nghệ thuật, các vĩ nhân và danh nhân còn là đối tượng của những sáng tạo để dựng nên các hình tượng trong tiểu thuyết lịch sử, trong sáng tác thơ ca và điện ảnh, âm nhạc, hội hoạ, điêu khắc…

    Đối với lĩnh vực nghiên cứu khoa học, việc tham khảo, kế thừa có chọn lọc những kinh nghiệm và thành tựu nghiên cứu nói ở đây chủ yếu là ở những công trình khảo cứu dưới góc độ lịch sử và lý luận.

    ở nước ta, tiếp cận tới những tác phẩm thuộc loại này còn rất mới, thường vấp phải không ít khó khǎn về tư liệu. Đó là chưa kể đến những khác biệt rất cǎn bản về thế giới quan, về lập trường chính trị và ý thức hệ của những nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học chuyên biệt này. Đối với một vĩ nhân, tức là cùng một đối tượng nghiên cứu, song tuỳ thuộc sự khác nhau ở chỗ đứng và cách nhìn mà mỗi học giả nghiên cứu lại có những lǎng kính rất khác nhau trong đánh giá và cam thụ. Vì vậy, nguyên tắc phương pháp luận cần phải đặt ra trong việc nghiên cứu, kế thừa có chọn lọc các kinh nghiệm và thành tựu của khoa học nghiên cứu về các vĩ nhân là quan điểm mácxít trong việc đánh giá vai trò cá nhân trong lịch sử. Quan điểm mácxit (duy vật lịch sử) thừa nhận vai trò, tác dụng của các cá nhân, ảnh hưởng quan trọng của các cá nhân thiên tìa, kiệt xuất trong tiến trình lịch sử, thậm chí trong những tình huống đặc biệt, họ có thể có những vai trò quyết định đối với tiến trình lịch sử. Song có hai điểm đặc biệt phải lưu ý:

    Một là, dù vĩ đại đến đâu các vĩ nhân cũng đều là con đẻ của một thời đại lịch sử nhất định. Là sản phẩm của lịch sử, ở thời đại mình, họ không thể không bị những quy định, những chế ước, những ràng buộc của chính lịch sử đó. Tài nǎng cũng như hạn chế của họ là sự phản ánh cái giới hạn của trình độ phát triển lịch sử đương thời của thời đại đã sản sinh ra họ. Do đó, tính chân thực, khách quan về mặt lịch sử đòi hỏi phải nghiên cứu các vĩ nhân với tư cách là một cá nhân, một con người hiện thực. Không nắm vững quan điểm lịch sử – cụ thể này có thể rơi vào tình trạng huyền thoại hoá (thổi phồng, tuyệt đối hoá, lý tưởng hoá) làm suy giảm tính hiện thực của đối tượng nghiên cứu. Nó còn có thể dẫn tới quan điểm sùng bái cá nhân, mang màu sắc tôn giáo, do đó không tái tạo được diện mạo lịch sử chân thực, mà còn xuyên tạc, bóp méo cá nhân đó. ở một khuynh hướng khác của sự thoát ly quan điểm lịch sử là tình trạng hiện đại hoá các nhân vật lịch sử. Nó có biểu hiện là đem các chuẩn mực đánh giá, các thước đo giá trị của thời kỳ hiện đại để đo lường các vĩ nhân của những thời kỳ trước đây, tạo ra những cách hiểu gượng ép, nhân tạo, thoát ky bối cảnh, điều kiện hiện thực vốn có của các vĩ nhân đó.

    Hai là, các cá nhân thiên tài, các vĩ nhân dù có đóng góp to lớn và xuất sắc đối với lịch sử thì vấn đề là ở chỗ, quyết định đối với tiến bộ lịch sử vẫn thuộc về vai trò của quần chúng nhân dân. ý nghĩa tích cực của những đóng góp của vĩ nhân phải được xác định ở sự liên hệ xã hội – nhân vǎn có trong tư tưởng, sự nghiệp và hành động của họ. Đó là cơ sở giá trị của họ, là cái bảo dảm cho sức sống và ảnh hưởng của họ trong nhân dân, trong vǎn hoá của nhân loại. Cũng phải từ cơ sở này để xem xét, giải thích những hạn chế thuộc về chủ quan và khách quan mà các vĩ nhân, dù là vĩ nhân cũng không thể vượt qua.

    Với những quan niệm đó, các công trình nghiên cứu về vĩ nhân của học giả này hay học giả khác, nhất là các học giả đứng trên lập trường tư tưởng tư sản cần được nghiên cứu và kế thừa chủ yếu ở mặt phương pháp và kỹ thuật, đặc biệt là phương pháp sưu tầm, khảo cứu, tập hợp tư liệu, sử liệu và phương pháp trình bày. Dĩ nhiên, có không ít những học giả tư sản tuy không cùng quan điểm, chính kiến với những người mácxít nhưng đã từng có những thành tựu đặc sắc trong nghiên cứu vĩ nhân. Sự trung thực đối với lịch sử, nhiều khi đem lại cho họ những phát hiện mới mẻ, có giá trị. Do đó, cũng chính quan điểm và phương pháp mácxít đòi hỏi người nghiên cứu phải tránh những định kiến chủ quan hẹp hòi, những thái độ biệt phái, cực đoan trong việc phủ nhận, khước từ các thành tựu nghiên cứu về vĩ nhân trong lĩnh vực khoa học này của thế giới. Việc chǎm chú khai thác, khảo cứu nó có thể giúp ích một cách đáng kể cho chúng ta trong nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

    Chương III

    Một số nguyên tắc phương pháp luận đặc thù

    về nghiên cứu Hồ Chí Minh

    Muốn trở thành một ngành khoa học có triển vọng, bộ môn tư tưởng Hồ Chí Minh, cần thiết phải tiến lên xây dựng được những nguyên tắc phương pháp luận riêng của mình, theo quan điểm: đối tượng nào, phương pháp ấy.

    I- Những khó khǎn trong nghiên cứu Hồ Chí Minh

    1. Về đối tượng nghiên cứu

    Như trên đã trình bày, chuyên ngành nghiên cứu Hồ Chí Minh lấy toàn bộ cuộc đời – sự nghiệp, tư tưởng – lý luận, đạo đức – phong cách – lối sống… của Hồ Chí Minh làm đối tượng nghiên cứu.

    Đây là một đối tượng vừa dễ, vừa khó. Cảm giác dễ là vì còn hình thức như chúng ta chỉ tập trung vào nghiên cứu có một con người, một vĩ nhân. Nhưng đây lại không phải là một đối tượng đơn nhất. Đảng ta đã đánh giá: cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời “vô cùng oanh liệt và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”.

    Người là một thiên tài đa diện: nhà yêu nước vĩ đại, nhà hoạt động quốc tế xuất sắc, chiến sĩ tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc, sứ giả của hoà bình và hữu nghị. Người vừa là nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà chiến lược quân sự, nhà ngoại giao, vừa là nhà vǎn, nhà thơ, nhà báo. UNESCO đã chung đúc lại, tôn vinh Người là “anh hùng giải phóng dân tộc và nhà vǎn hoá lớn”. Trong khoảng hơn 20 danh nhân vǎn hoá đã được tổ chức này ra nghị quyết kỷ niệm trên toàn thế giới kể từ nǎm 1978 tới nay, chưa có người nào được ghi nhận vừa là vĩ nhân, vừa là anh hùng giải phóng dân tộc, vừa là nhà vǎn hoá lớn như Hồ Chí Minh. Vì vậy, nghiên cứu Hồ Chí Minh thuộc loại nghiên cứu phức hợp, đa ngành, vừa theo từng chuyên môn hẹp (của nhiều khoa học) vừa phải đi tới một tổng luận chung nhằm làm sáng tỏ những giá trị đặc sắc của Hồ Chí Minh như một chính thể.

    Có thể hình dung bước đầu về đối tượng – khách thể nghiên cứu Hồ Chí Minh trên mấy phương diện sau đây:

    Thứ nhất, do bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội nên nghiên cứu về Hồ Chí Minh trước hết phải tìm hiểu toàn bộ các quan hệ xã hội chủ nghĩa của Người, từ quê hương, gia đình, nhà trường, xã hội, thời đại, …

    Thứ hai, nghiên cứu Hồ Chí Minh là nghiên cứu toàn diện và hệ thống về Người bao gồm:

    – Con người Hồ Chí Minh. Người là một nhà tư tưởng lớn, nhà lý luật kiệt xuất của dân tộc, của Đảng ta, của cách mạng Việt Nam, của phong trào giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản ở thế kỷ XX; một chính khách có tầm cỡ trong đời sống chính trị quốc tế, danh nhân vǎn hoá thế giới. Cùng với những đỉnh cao đã được lịch sử thừa nhận, Hồ Chí Minh lại là một con người gần gũi và thân thiết với mọi người trong đời thường. Điều đó là tǎng thêm sức hấp dẫn, truyền cảm của Hồ Chí Minh trong đời sống hiện thực và tôn vinh một cách thực chất giá trị nhân cách của Người cùng với những ảnh hưởng sâu rộng của nhân cách đó trong toàn xã hội, làm đậm nét hơn một chác chân thực và tự nhiên cái dấu ấn của thiên tài cá nhân đối với lịch sử. Con người Hồ Chí Minh gắn liền với cuộc đời – sự nghiệp – tư tưởng – đạo đức của Người, kết hợp giữa cội nguồn vǎn hoá – lịch sử của dân tộc với sự thâu thái tinh hoa của vǎn hoá nhân loại, với tác động và ảnh hưởng trực tiếp từ chủ nghĩa Mác – Lênin và thời đại cách mạng vô sả…, tất cả được chung đúc lại làm nên sự nghiệp Hồ Chí Minh. Sự nghiệp ấy lại trở thành sự nghiệp của Đảng, của dân tộc – một sự nhất quán hiếm thấy giữa con người và cuộc đời, tư tưởng và sự nghiệp – mà không phải một vĩ nhân nào cũng có thể đạt tới một sự thống nhất trọn vẹn như thế. Do đó, nét đặc trưng bao trùm con người Hồ Chí Minh là vĩ đại trong sự giản dị, một sự giản dị vĩ đại. Tính cao cả của sự thật này làm cho Hồ Chí Minh khi còn sống đã là một trong số hiếm hoi những nhân vật lỗi lạc được huyền thoại hoá, nhưng là huyền thoại để khẳng định chân giá trị của một con người lý tưởng, có thật trong đời chứ không phải một hiện tượng tôn giáo hoá, thần thánh hoá. Cũng như vậy, Hồ Chí Minh đã đi trọn lôgích cuộc đời mình để trở về cõi vĩnh hằng nhưng thực tế là Hồ Chí Minh vẫn sống mãi trong đời sống tâm thức của những người đang sống, trong sự nghiệp đang được dựng xây theo tư tưởng của Người.

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh: đó là một hệ thống lớn với nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực, bao quát sự chú ý sâu rộng và uyên bác của Người mà tiêu biểu nhất là tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó còn là tư tưởng về triết học, chính trị, quân sự, kinh tế, quản lý xã hội, giáo dục đào tạo con người, phát triển vǎn hoá và trau dồi đạo đức, nhân cách, là đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, là chiến lược và sách lược cách mạng nhằm đi tới một xã hội tốt đẹp cho con người và vì hạnh phúc, tự do của tất cả mọi người. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một thể nghiệm sinh động đầy sáng tạo, và vì sáng tạo mà Người có được những đóng góp quý báu vào sự phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học, cách mạng và hiện đại.

    – Đạo đức Hồ Chí Minh: Sự tu dưỡng và thực hành đạo đức cá nhân đồng thời làm hết sức minh để giáo dục đạo đức cho toàn xã hội là những điểm nổi trội trong nhân cách Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là người đề xướng và thực hành đạo đức cách mạng đồng thời là tấm gương tuyệt vời về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

    – Lối sống và phong cách Hồ Chí Minh: Lối sống và phong cách Hồ Chí Minh là biểu tượng đầy sức thu hút về sự liêm khiết, thanh cao, giản dị. Đó là một mẫu mực của lối ứng xử có vǎn hoá, có tác dụng giáo dục đối với mọi người một cách sâu sắc, tự nhiên. Lối sống và phong cách Hồ Chí Minh biểu hiện trong đời thường hàng ngày đã cảm hoá, thuyết phục và thu phục được lòng người bởi lẽ con người được yêu thương, tôn trọng và tin cậy. Tất cả những cái thật và cái đẹp ấy phản chiếu cái đúng và cái tốt từ Hồ Chí Minh lan toả ra xung quanh… Chính vì vậy Hồ Chí Minh làm sáng tỏ quan niệm “phong cách tức là người” và phong cách Hồ Chí Minh là một phong cách vǎn hoá Việt Nam. Trong hệ thống hoàn chỉnh và hoàn hảo ấy, con người – Tư tưởng – Đạo đức – Lối sống – Phong cách Hồ Chí Minh đem lại hình ảnh trọn vẹn về nhân cách Hồ Chí Minh – biểu tượng của chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, của chủ nghĩa nhân vǎn hiện đại, vừa thể hiện tinh thần thời đại, vừa thấm nhuần bản sắc Việt Nam.

    Thứ ba, nghiên cứu Hồ Chí Minh trong tính toàn diện và hệ thống những vấn đề lớn nêu trên (mà trong mỗi vấn đề đó, tự nó lại là một hệ thống cho phép khai thác vô số các vấn đề khác như một tập hợp các phân hệ) sẽ thấy Hồ Chí Minh là khách thể nghiên cứu. Trong khách thể này có nhiều đối tượng khác nhau: nghiên cứu tư tưởng với cấp độ lý luận, nghiên cứu đạo đức với cấp độ chuẩn mực và giá trị, nghiên cứu lối sống với cấp độ hành vi, ứng xử, hay nghiên cứu Con người – Tiểu sử – Sự nghiệp với cấp độ nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, thời đại… Cái khó và điều quan trọng là, dù nghiên cứu đối tượng Hồ Chí Minh hay nghiên cứu toàn bộ khách thể Hồ Chí Minh đều phải tìm ra mối liên hệ, tính thống nhất chỉnh thể, cái đã định hình thành giá trị và cả những cái còn đang phát triển, đang tiếp tục sinh thành trong cuộc sống, trong nhân dân.

    Thứ tư, nghiên cứu Hồ Chí Minh dù là nghiên cứu đối tượng hay khách thể thì những quá trình nghiên cứu này đều thống nhất – đồng nhất ở Hồ Chí Minh như một hiện tượng vǎn hoá độc đáo. Hồ Chí Minh là một vĩ nhân, một danh nhân vǎn hoá. Học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, theo gương đạo đức và nhân cách Hồ Chí Minh không phải dễ. Song, từ mỗi người bình thường đến toàn Đảng, toàn dân ta và các dân tộc, bạn bè anh em trên thế giới đều có thể và có nhu cầu học tập, noi gương Hồ Chí Minh. Trong thực tế đang nảy sinh hiện tượng: mỗi người đến với Hồ Chí Minh, trở về với Hồ Chí Minh để khám phá chính mình – dựa trên sự hiểu biết về Hồ Chí Minh theo cách của riêng mình.

    Nghiên cứu khoa học về Hồ Chí Minh, thông qua sự mẫn cảm của chủ thể nghiên cứu đối với đối tượng, khách thể của mình, phải sống và làm việc theo gương sáng của nhân cách Hồ Chí Minh. Đây thực là một động lực tinh thần to lớn cần được nhận thức và khai thác về sự phát triển của con người và xã hội Việt Nam trong hiện tại và trong tương lai.

    2. Về tư liệu nghiên cứu

    Như đã trình bày trong phần dẫn luận, công tác tư liệu học về Hồ Chí Minh những nǎm qua đã có những bước phát triển mới và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Bộ Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử gồm 10 với trên một vạn sự kiện đã qua thẩm định, xác minh khoa học, tuy không tránh khỏi những nhược điểm, song là bộ sách công cụ có thể tin cậy được. Việc xuất bản lần thứ hai bộ “Hồ Chí Minh – Toàn tập”, gồm 12 tập, được bổ sung thêm gần 3000 trang tư liệu mới, trong đó có nhiều tư liệu gốc lần đầu tiên được công bố, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà nghiên cứu ngày càng tiếp cận được những tư tưởng đích thực của Hồ Chí Minh, đặc biệt ở thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám 1945, giúp cho việc lý giải nguồn gốc, sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh có thêm cǎn cứ khoa học và sức thuyết phục cao hơn.

    Tuy nhiên, hiện nay còn một bộ phận tư liệu rất quan trọng về Hồ Chí Minh vẫn chưa có đủ điều kiện để sưu tầm và khai thác. Hồ Chí Minh của chúng ta có 30 nǎm sống ở nước ngoài, từng đặt chân lên khoảng 26 nước, hoạt động bí mật, đi Âu về á, đã nhiều lần phải thay tên đổi họ. Cho đến nay chúng ta vẫn chưa có điều kiện khảo sát kỹ nhiều giai đoạn trong tiểu sử của Người, thí dụ: Những nǎm 1912 – 1913 ở Mỹ, Người đã làm gì, có những hoạt động học hỏi, nghiên cứu gì ? Cả hai giai đoạn này chưa có điều kiện làm rõ.

    Như chúng ta đã biết, ngay từ lúc sinh thời, Hồ Chí Minh đã đi vào huyền thoại. Vậy trong các mẩu chuyện, sự kiện hiện có, cái gì là thật, cái gì là huyền thoại. Đất nước ta, dân tộc ta có truyền thống biết ơn những người có công với nước, nên thờ phụng rất nhiều các anh hùng cứu nước trong lịch sử, không riêng gì với lãnh tụ Hồ Chí Minh. Giải thích hiện tượng này như thế nào để đạt tới chân lý khoa học mà vẫn dung hợp được lòng ngưỡng mộ, kính yêu của nhân dân đối với lãnh tụ, vốn cũng là một tình cảm rất chân thực, quả là một việc không đơn giản, vì ở đây lôgích của huyền thoại không đi ngược lại lôgích của khoa học mà chỉ tạo đường viền cho nó nổi bật hơn mà thôi.

    Đương nhiên, hồi ký, mẩu chuyện, giai thoại,… không phải là tư liệu trực tiếp của khoa học tiểu sử, nhưng khi viết về thời niên thiếu của Hồ Chí Minh, các nhà viết tiểu sử không thể không biết đến chúng, vấn đề là xử lý và sử dụng chúng như thế nào được coi là phù hợp. Vì vậy có người bảo sự kiện này, chi tiết kia trong một giai thoại, hồi ký nào đó là không có thực. Nhưng khi Hồ Chí Minh đã trở thành biểu tượng của dân tộc rồi, đã đi vào đời sống tinh thần của dân tộc như một sức mạnh vật chất rồi thì phân biệt được giữa cái thực và cái huyền thoại khác nhau như thế nào, chúng ta phải xem xét và giải quyết nó như thế nào, đó cũng là một vấn đề của phương pháp luận nghiên cứu Hồ Chí Minh mà đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa hoàn toàn nhất trí với nhau.

    Một thí dụ khác: Hồ Chí Minh nói tương đối ít về tư tưởng nhà nước và pháp quyền, nhưng Người là biểu tượng của một nhà nước kiểu mới, nhà nước của dân, do dân, vì dân. Người đã khai sinh ra một nhà nước dân chủ, mà quyền lực là thuộc về nhân dân. Tư tưởng đó đã thấm sâu vào nhân dân, và nhân dân đòi hỏi chúng ta phải làm theo tinh thần đó. Có những vấn đề cụ thể mà Người chưa nói tới, nhưng dựa theo tư tưởng của Người mà nhân dân thêm thắt, bổ sung vào. Đây là chỗ để các nhà nghiên cứu phải lý giải: khi tư tưởng Hồ Chí Minh đi vào cuộc sống, thì được nhân dân tiếp nhận, bổ sung và phát triển như thế nào.

    Nói thế để thấy rằng, trước một đối tượng nghiên cứu như vậy đòi hỏi chúng ta phải dày công sưu tầm, xác minh, đối chiếu tư liệu một cách rất thận trọng. Cuộc đời của Hồ Chí Minh vốn đã vô cùng oanh liệt và phong phú, bất cứ một sự thêm thắt nào, dù chân thành đến đâu, cũng chỉ làm giảm vẻ đẹp chân thực vốn có của nó, hơn nữa còn có hại, tạo kẽ hở cho kẻ thù lợi dụng, xuyên tạc công việc nghiên cứu của chúng ta.

    3. Về cái khó của việc lĩnh hội và kiến giải di sản tư tưởng của các vĩ nhân

    Có tình hình là, cùng một mệnh đề lý luận thường có nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn đến những lập luận khác nhau. Vậy ai được xem là hiểu đúng, ai bị coi là hiểu sai ?

    Cần phải thấy rằng, tư tưởng của vĩ nhân vốn rất sâu sắc và uẩn súc, không phải một lúc có thể hiểu hết ngay được. Vả lại người trích dẫn và giải thích tư tưởng của vĩ nhân thường xuất phát từ những động cơ khác nhau, từ vốn sống, vốn hiểu biết riêng nên có khi hiểu đúng, khi hiểu chưa đúng, có khi còn ngộ nhận. Đó là nói về hạn chế do trình độ chủ quan của người nghiên cứu; nhưng cũng có thể do trình độ phát triển khách quan của xã hội, của thành tựu học thuật hôm nay mới cho phép hiểu đến mức ấy, các thế hệ sau sẽ đem lại những phát hiện mới, sâu hơn, đầy đủ hơn hoặc đảo ngược lại. Đó là chuyện bình thường trong khoa học, nêu lên để thấy hết cái khó của việc lĩnh hội và kiến giải những tư tưởng sâu sắc của vĩ nhân.

    Xuất phát từ quan điểm: nói và viết sao cho quần chúng có thể hiểu được, hiểu được để làm được, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn cách viết ngắn gọn, giản dị, thiết thực, hầu hết những khái niệm và thuật ngữ khó hiểu đều được thay thế bằng những từ ngữ thông thường. Tuy nhiên, do tư tưởng của Người là những chân lý lớn của thời đại được trình bày dưới một hình thức cô đọng, hàm súc, cho nên nó là sự giản dị sau khi đã phức tạp, là cụ thể sau khi đã khái quát, là cái chất phác, hồn nhiên sau khi đã tinh tế, cái đạm sau khi đã nồng, cho nên không phải câu nào, ý nào của Người cũng có thể lĩnh hội được ngay được sự sâu sắc của nó, một sự sâu sắc làm ngạc nhiên cả những bậc thức giả uyên thâm nhất. Vì vậy không có gì lạ, đến nay vẫn còn nhiều câu nói, mệnh đề của Người còn được hiểu khác nhau, chưa nói có lúc còn bị hiểu sai.

    Xin dẫn ra một câu nói của Người: “Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải đạp đổ Chính phủ ấy đi, và gây lên Chính phủ khác”. Câu này Người lấy ý trong “Tuyên ngôn độc lập” của nước Mỹ và được đưa vào cuốn Đường kách mệnh. Có ý kiến cho rằng: Người đưa câu này vào Đường kách mệnh là để kêu gọi nhân dân ta nổi lên làm cách mạng lật đổ chính phủ thực dân, phong kiến, lập nên chính phủ dân chủ cộng hoà. Câu đó không đúng với hoàn cảnh hiện nay khi chính quyền đã về tay nhân dân. Nếu bây giờ lại trích dẫn, đề cao câu này của Hồ Chí Minh, như thế là có tà tâm, ác ý! Hiểu như vậy có đúng không ? Thực ra, Người không chỉ nói câu này có một lần. Sau Cách mạng Tháng Tám, Người vẫn nhắc lại. Nǎm 1947, đến thǎm tỉnh Thanh Hoá, trong bài nói chuyện với đại biểu cán bộ, nhân dân trong tỉnh, Người đã dẫn lại ý đó: “Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ… Nếu Chính phủ làm hại dân, thì dân có quyền đuổi Chính phủ”. Bởi chính quyền đã là của dân rồi nên Người lại càng đề cao quyền lực của dân. Tất nhiên, chúng ta phải hiểu khái niệm “đuổi” (cũng như khái niệm “cách mạng xã hội”) với nhiều hình thức: có thể thông qua một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Chính phủ, diễn ra trong quốc hội của dân để bầu ra một chính phủ khác. Cũng có thể thông qua con đường phê bình, bãi miễn một vài thành viên nào đó của chính phủ nếu họ không còn đủ tư cách, không đủ trình độ xứng đáng để làm việc. Có rất nhiều hình thức và đã được ghi vào Hiến pháp, chỉ có điều là có thực thi hay không.

    Nói về đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh đến chuẩn mực “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”. Trong một cuộc hội thảo tại Hà nội, có người phát biểu: Cần kiệm liêm chính thì đúng quá rồi, còn tại sao lại phải chí công mà vô tư ? Chuẩn mực này liệu có còn đúng nữa không, nhất là ở thời kỳ đổi mới, mở cửa hiện nay, chúng ta đang đề cao vai trò cá nhân, động lực cá nhân, thừa nhận lợi ích chính đáng của cá nhân, vậy nhấn mạnh phải “chí công”, tất cả vì cộng đồng, vì tập thể mà phải “vô tư”, tức là quên cá nhân đi, như vậy thì có đúng không ?

    Đây là một cách hiểu rất sai lệch và thô thiển về chuẩn mực này, trái với tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, nguyên nhân là do hiểu sai khái niệm. Công và tư mà Người nói ở đây không phải là quan hệ tập thể và cá nhân. Chí công có nghĩa là phải rất mực công minh, chính trực, phải luôn luôn công bằng và công tâm (như người xưa vẫn gọi thượng đế là đấng chí công !). Còn vô tư tức là không được thiên tư, thiên vị (impartial), đã nắm luật pháp và xử theo luật thì không được có lòng riêng. Nó hoàn toàn khác với khái niệm vô ngã của Phật giáo, nghĩa là phải quên hẳn bản thân mình, phải xoá bỏ cá nhân đi !

    Còn quan hệ tập thể – cá nhân lại là một vấn đề khác. Đúng là Hồ Chí Minh rất đề cao chủ nghĩa tập thể và lên án chủ nghĩa cá nhân. Nhưng cần phân biệt cá nhân và chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một lối sống ích kỷ, nó chỉ thấy công lao của mình mà không thấy công lao của người khác, chỉ thấy khuyết điểm của người khác mà không thấy khuyết điểm của chính mình, đúng như chúa Jésus đã từng phê phán một số tông đồ hư hỏng, “chỉ thấy cái dằm nhỏ trong con mắt của người khác mà không thấy cả xúc gỗ lớn trong chính con mắt của ngươi!”. Do đó, Hồ Chí Minh viết: “Vết tích xấu nhất và nguy hiểm nhất do chế độ cũ để lại là chủ nghĩa cá nhân”. Trái lại, Người rất xem trọng cá nhân: “Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình… Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét lợi ích cá nhân và bảo đảm cho nó được thoả mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”.

    Hơn ai hết, Hồ Chí Minh rất có ý thức về bản lĩnh, bản sắc của cá nhân mình nên Người cũng rất chú ý phát huy vai trò của từng cá nhân. Người thấy “rừng” và thấy cả từng “cây”, Người không quên một ai cả.

    Một mệnh đề nổi tiếng khác của Hồ Chí Minh cũng chưa hoàn toàn được hiểu một cách đúng đắn. Trong Di chúc, Người cǎn dặn mỗi cán bộ, đảng viên “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Có người bǎn khoǎn: đã coi cán bộ là đầy tớ thì còn tư cách gì để có thể làm người lãnh đạo ? Khái niệm “đầy tớ” là do Người chuyển nghĩa từ hai chữ “công bộc” (quan giả dân chi công bộc). Nhưng Người không chỉ nhấn mạnh có một vấn đề công bộc mà nhấn mạnh cả về người lãnh đạo, khẳng định tư cách người lãnh đạo trước, người đày tớ sau. Cần hiểu đúng tinh thần Hồ Chí Minh: làm đày tớ với tư cách người lãnh đạo và làm lãnh đạo cũng chỉ như “người lính biết vâng lệnh quốc dân ra mặt trận”, trung thành, tận tuỵ như một người công bộc; nếu kết hợp được hài hoà cả hai vế, hai tinh thần ấy, thì đó là hình ảnh lý tưởng về người cán bộ cách mạng mà Người mong muốn.

    Nêu ra một vài thí dụ như vậy cũng chỉ nhằm nói lên một điều: tuy tư tưởng Hồ Chí Minh vốn được diễn đạt dưới một hình thức ngắn gọn, giản dị như vậy, nhưng để lĩnh hội, kiến giải được hết chiều sâu và sự tinh tế của những tư tưởng ấy, quả là không đơn giản. Chính vì vậy, công việc đó cần được soi sáng, dẫn đạo bởi một số nguyên tắc phương pháp luận nhất định.

    II. Đề xuất một số nguyên tắc mang tính đặc thù của việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh

    Những nguyên tắc này được vận dụng chung cho việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Song, dù nghiên cứu ở lĩnh vực nào, xét đến cùng cũng là để nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, bất kể đó là tư tưởng kinh tế, tư tưởng chính trị, tư tưởng đạo đức hay tư tưởng vǎn hoá – vǎn nghệ,…

    1. Phải xuất phát từ vǎn kiện, tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ những tư liệu, sự kiện lịch sử chính xác để bảo đảm tính chân thực, khách quan về bản thân đối tượng

    1.1. Nghiên cứu Hồ Chí Minh, nhất là nghiên cứu về tư tưởng, trước hết phải cǎn cứ vào vǎn kiện, tác phẩm của Người. Điều này tưởng không có gì mới. Vǎn bản không phải là điều quan trọng nhất, cái quan trọng hơn là phải xem người đời sau đã đọc và hiểu vǎn bản đó như thế nào.

    Tất nhiên nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với thực tiễn là phải tìm hiểu xem tư tưởng của Người đã đi vào quần chúng, được nhân dân tiếp nhận và đã tạo nên sức mạnh vật chất to lớn ra sao. Nhưng điều đó không có gì giống với quan điểm của trường phái herméneutique (chú giải học) ở phương Tây, nó chỉ chú trọng đến sự thông hiểu của đọc khi tiếp thu vǎn bản, nghĩa là xem cái quyết định là cái được tạo ra ở người đọc chứ không phải là cái đã có trong vǎn bản.

    Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh như là một bộ môn khoa học, trước hết phải xuất phát từ vǎn kiện, tác phẩm của Người. Nếu chỉ cǎn cứ vào sự thông hiểu của người đọc, thì như trên đã nói, đối với các mệnh đề kinh điển, mỗi người có thể hiểu khác nhau, thậm chí rất xa nhau. Vì vậy, để không rơi vào gán gép tuỳ tiện, thêu dệt chủ quan thì phải bám vào vật liệu khách quan, vào ngôn ngữ của vǎn bản đã biểu đạt cái tư tưởng vốn có của vĩ nhân. Đây là nguyên tắc đầu tiên, Trước nhất, tuy không phải là duy nhất. Nói như vậy không hề có ý định cổ vũ cho lối nghiên cứu “tầm chương trích cú”, bám vào câu chữ một cách máy móc, thô thiển. Nhưng cũng cần tránh lối nói “vo”, coi thường mọi trích dẫn, vẫn dễ gây nghi ngờ cho người nghe, người đọc, liệu đó có phải đích thực là tư tưởng Hồ Chí Minh. Hay chỉ là tư tưởng suy diễn, áp đặt chủ quan của nhà nghiên cứu.

    Thí dụ: Chủ tịch Hồ Chí Minh có tư tưởng về nhà nước pháp quyền không ? Đó là nhà nước của dân, do dân, vì dân hay là nhà nước “thân dân” ? Cǎn cứ vào đâu mà nói như vậy ?

    Chúng ta đã biết, nǎm 1919 đại diện cho một nhóm người Việt Nam yêu nước, khi đưa ra Yêu sách tám điểm gửi Hội nghị Vécxay, Nguyễn ái Quốc đã đòi phải bãi bỏ chế độ cai trị bằng sắc lệnh và thay vào đó bằng các đạo luật. Diễn ca điều thứ 7 của yêu sách này, Người đã viết “trǎm điều phải có thần linh pháp quyền !”. Sau khi chính quyền đã về tay nhân dân, Người lại viết: “Nước ta là một nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều là vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương đều do dân cử ra”. Như vậy là từ rất lâu rồi Người đã từng nói đến một nhà nước pháp quyền, của dân, do dân, vì dân rồi chứ không phải chúng ta đã “hiện đại hoá” tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với sự đổi mới hiện nay.

    Nếu cho rằng Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng một nhà nước “thân dân” thì đó là một sự cố tình gán gép, bởi vì tư tưởng “thân dân” thấp hơn tư tưởng về nhà nước của dân, do dân, vì dân của Người rất nhiều. Nhà nước của giai cấp thống trị, ở giai đoạn tích cực và tiến bộ, cũng chủ trương thân dân. Nhà nước phong kiến thời Lê Lợi, Lê Thánh Tông chủ trương thân dân, nhưng không phải là nhà nước của dân.

    Có người nói, khái niệm nhà nước của dân, do dân, vì dân đâu có phải là sáng tạo riêng của Hồ Chí Minh, nó là thành tựu của pháp quyền tư sản, có nguồn gốc từ các nhà triết học khai sáng. Đúng như vậy, nhưng cũng tư tưởng của Mác – Lênin, khi đã được Hồ Chí Minh tiếp nhận và thực hiện thì nó đã trở thành tư tưởng của Người rồi. Các nhà triết học khai sáng đề ra tư tưởng này khá sớm, nó là thành tựu của vǎn minh nhân loại, được giai cấp tư sản nắm lấy, nhưng chưa bao giờ thực hiện trong thực tế. Dưới chế độ tư bản, nhà nước bao giờ cũng nằm trong tay giai cấp tư sản. Cũng có lúc nó tuyên bố là nhà nước “vì dân”, nhưng làm sao có thể vì dân được nếu như nhà nước đó không phải là của dân, không do dân lập ra và có quyền bãi miễn ?

    Còn như nói Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đào tạo ra được một đội ngũ cán bộ nhà nước có tác phong quần chúng, rất gần dân và thân dân, … thì đó chỉ là phong cách người cán bộ nhà nước, một khía cạnh của mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân chứ chưa phải là tư tưởng về bản chất của một nhà nước kiểu mới (nhà nước của dân, do dân, vì dân).

    Như vậy, tính khách quan khoa học của việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi chúng ta trước hết phải dựa vào vǎn kiện, tác phẩm của Người. Để làm được điều này chúng ta còn gặp không ít khó khǎn vì cho đến nay một số tác phẩm của Hồ Chí Minh vẫn chưa tìm lại được: như Những người bị áp bức (Les opprimés), Con rồng tre (Le dragon en bambou), Nhật ký chìm tàu, Chủng tộc da đen, Khu vực đặc biệt, v.v.., nhiều bài báo Người viết cho tập san Inprékoorr, gửi từ Quảng Châu, qua Ban Phương Đông về Matxcơva, chưa được đǎng, nhiều bản thảo viết tay, nhiều ý kiến phát biểu ở các hội nghị,… đến nay vẫn chưa biết nằm ở đâu.

    Cái khó nữa là, trong những tài liệu của Người đã công bố, không kể những bài do chính tác giả sữa chữa lúc sinh thời, hoặc do cách dịch khác nhau,… có một số bài, vì nhiều lý do, đã được biên tập lạ, sửa chữa về chi tiết hoặc lược bớt một số câu, một số đoạn. Thí dụ, Tuyên ngôn độc lập, hiện có nhiều dị bản. Điều đó gây trở ngại cho việc tiếp tư tưởng đích thực của Người, cũng như trong việc nghiên cứu ngôn ngữ và vǎn phong Hồ Chí Minh. Việc xuất bản lần thứ hai bộ Hồ Chí Minh – Toàn tập với tinh thần khôi phục lại tính lịch sử của vǎn bản, hiệu đính lại các bản dịch và bổ sung thêm nhiều tài liệu mới,… là một cố gắng đáng kể trong việc khắc phục tình hình nói trên, tuy nhiên khó khǎn chưa phải đã hết.

    1.2 Dựa vào vǎn bản, sự kiện, câu trích dẫn đồng thời phải dựa vào bối cảnh xuất xứ của nó mà phân tích, đánh giá để không rơi vào suy diễn chủ quan, theo thiên kiến, từ phía này hay phía khác.

    Sự kiện Nguyễn Tất Thành viết đơn xin vào học Trường Thuộc địa Paris là điều có thật. Cần hiểu sự kiện này như thế nào ? Trong bối cảnh nào, do động cơ nào mà Nguyễn Tất Thành làm đơn xin vào học Trường Thuộc địa ? Một lá đơn ngắn được viết theo thể thức vǎn hành chính chưa thể nói được nhiều với chúng ta về tất cả những suy nghĩ của anh. Trong đơn có câu: “Tôi muốn trở thành có ích cho nước Pháp và cho đồng bào tôi, đồng thời muốn cho họ được hưởng những lợi ích của học thức” (Je désirerais deverin utile à la France vis-à-vis de mes compatriotes et pouvoir en même temps les faire profiter des bienfaits de I’ Instruction).

    Nếu đặt câu này trong ngữ cảnh của một lá đơn xin học và trong mục tiêu ban đầu mà anh đã nói rõ “sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi”, để “xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”, thì việc anh xin vào học Trường thuộc địa để hy vọng sau này giúp cho đồng bào mình được hưởng những lợi ích của học vấn, điều đó hoàn toàn nhất quán với mục tiêu anh đề ra cho mình khi rời Tổ quốc đi sang phương Tây.

    Sau nữa, thực tế lịch sử đã chỉ ra rằng không phải ai học xong Trường Thuộc địa cũng đều ra làm quan lại cho Pháp cả. Có người học xong đã chuyển qua học trường Beaux – Arts Paris để trở thành hoạ sĩ, như Lê Vǎn Miến; có người học xong về nước chỉ dạy học, nghiên cứu, viết vǎn như Bùi Kỷ, v.v.. Như vậy rõ ràng là những ai chỉ suy diễn, ngộ nhận bằng cách đánh đồng phương tiện với mục đích thì chỉ là sự xuyên tạc sự thật mà thôi.

    Như trên đã nói, quá trình tìm tòi chân lý của Hồ Chí Minh không phải là con đường thẳng tắp, giản đơn. Tư tưởng Hồ Chí Minh có quá trình hình thành và phát triển của nó. Vì vậy, việc nắm vững bối cảnh xuất xứ của sự kiện, vǎn bản, câu trích dẫn sẽ giúp cho người nghiên cứu tránh được những biện luận, suy diễn nhầm lẫn không đáng có. Chẳng hạn, có người đã dẫn câu nói nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” để chứng minh rằng Người đã phát hiện ra chân lý lớn đó của thời đại từ rất sớm, ngay từ đầu những nǎm 20 của thế kỷ này! Đúng là từ thực tiễn hoạt động chính trị của mình, Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh ngay từ những nǎm 20 đã có nhiều bài viết thể hiện tinh thần của quan điểm trên, nhưng câu vừa được trích dẫn thì mãi đến nǎm 1959 Người mới viết, trong lời tựa cho cuốn “Những bài nói và viết chọn lọc”, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Matxcơva xuất bản nǎm 1960. Lấy câu viết ở giai đoạn sau để diễn giải về tư tưởng của giai đoạn trước là một điều nên tránh, nếu muốn đảm bảo tính khách quan, chân thực lịch sử trong nghiên cứu, đánh giá.

    2. Phải tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh trong tính thống nhất giữa nói và viết, sống và làm; giữa tư tưởng – đạo đức và phương pháp – phong cách; giữa đời sống chung và đời sống riêng

    2.1. Nghiên cứu tư tưởng vĩ nhân phải dựa vào vǎn bản – những điều đã nói và viết – đó là điều trước nhất, nhưng không phải là duy nhất, quan trọng hơn còn phải xem họ đã sống và làm như thế nào. Bởi không phải một nhà tư tưởng, một nhà đạo đức nào cũng đạt tới sự nhất quán giữa nói và làm. Có người chỉ nói mà không làm, hoặc nói một đằng, làm một nẻo, nói thì hay làm lại dở.

    Hồ Chí Minh là một vĩ nhân đã đi chọn lôgích nhất quán của đời mình, đạt tới sự thống nhất cao độ giữa con người và sự nghiệp, tư tưởng và hành động, giữa thuyết giảng đạo đức và thực hành đạo đức, giữa ham muốn của cá nhân với ham muốn của cả dân tộc, giữa đời công và đời tư,…

    Người là một trí tuệ mẫn tiệp, có bút lực dồi dào và đã để lại cho chúng ta một khối lượng những trang viết không phải là nhỏ. Tuy nhiên, về cơ bản, Hồ Chí Minh là một nhà hiền triết hành động, tư tưởng của Người được thể hiện chủ yếu qua hành động. Nét đặc sắc ở nhà tư tưởng Hồ Chí Minh là nói ít làm nhiều, có làm được mới nói, có khi làm mà không nói. Do đó, cần thiết phải tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh qua hành động.

    Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh phải kết hợp tiếp cận vǎn bản với tiếp cận thực tế, phải tìm hiểu qua những việc làm và cách làm, qua hành động và ứng xử cụ thể từ việc lớn đến việc nhỏ, trong đời sống chung cũng như trong đời sống riêng, với người thân, bạn bè, đồng chí và kẻ thù,… Nói tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện trong những bài nói, bài viết của Người, mà còn thể hiện trong hoạt động phong phú, trong toàn bộ sự nghiệp vĩ đại mà Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta.

    Thí dụ: Trong kháng chiến chống Pháp, nhất là trong kháng chiến chống Mỹ, khi phong trào cộng sản và công nhân có sự mâu thuẫn và bất đồng về quan điểm, vì lợi ích dân tộc và nhằm khôi phục sự đoàn kết, thống nhất trong phong trào cộng sản quốc tế, nên có nhiều điều Người không thể nói ra, viết ra, nhưng Người vẫn làm theo quan điểm, đường lối của mình và hướng dẫn cho đồng chí, học trò của mình chỉ đạo thực hiện theo đường lối đó.

    Trong những trường hợp như trên, nếu chỉ tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh trên vǎn bản thì sẽ không đầy đủ và khó chính xác, mà phải tìm hiểu trong thực tiễn hành động, trong việc làm và cách làm của Người.

    Từ đó, một phương hướng nữa có thể và cần thiết phải kết hợp vận dụng, đó là tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh trong các tác phẩm của các đồng chí và học trò gần gũi đã được Người chỉ giáo, đã lĩnh hội, thấm nhuần và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực hoạt động của mình.

    Đồng chí Trường-Chinh đã cho biết có một số bài báo của đồng chí đã cǎn cứ vào những ý kiến, chỉ thị của Bác Hồ mà viết ra, như bài Mười chính sách của khu giải phóng. Các tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi, Bàn về cách mạng Việt Nam ,… đã được hoàn thành với sự trao đổi, góp ý, bổ sung của Hồ Chí Minh. Tìm hiểu tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh không thể không tìm hiểu sự quán triệt những tư tưởng đó trong các tác phẩm của đồng chí Võ Nguyên Giáp. Cũng như vậy, tìm hiểu tư tưởng vǎn hoá, tư tưởng về nhà nước và pháp luật của Hồ Chí Minh có thể tìm hiểu thêm qua các tác phẩm của đồng chí Phạm Vǎn Đồng với cương vị ban đầu là Phó thủ tướng rồi sau là Thủ tướng Chính phủ làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, nghĩa là có khoảng 20 nǎm hoạt động về nhà nước bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã quán triệt tư tưởng của Người về nhà nước trong công tác hàng ngày.

    2.2. Sự nhất quán trong đa dạng của nhân cách vǎn hoá Hồ Chí Minh được chi phối bởi một tư tưởng chỉ đạo nhất định, cần phát hiện ra tư tưởng cốt lõi đã quán xuyến toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp, tư tưởng và đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, đã liên kết chúng thành một hệ thống chặt chẽ, sâu sắc. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là phải tìm ra cho được các hạt nhân cơ bản đó, cái tâm “bất biến” đã chi phối hành động “vạn biến” của Hồ Chí Minh thành một khối thống nhất.

    Cái tâm bất biến đó chính là tư tưởng về sự gắn bó thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Điều này, chính Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Về nội dung viết mà các cô, các chú gọi là “đề tài”, thì tất cả các bài Bác viết chỉ có một “đề tài” là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.

    Đồng chí Lê Duẩn cũng viết: “Người là tượng trưng sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý tưởng độc lập, tự do với lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, giữa chủ nghĩa yêu nước nồng nàn với tinh thần quốc tế vô sản chân chính”.

    Có khi, ở một thời điểm nhất định, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ nhấn mạnh vào chín chữ vàng chói lọi: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, nhưng đúng như đồng chí Trường Chinh đã chỉ rõ: “Chân lý của dân tộc “không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã được Hồ Chủ tịch nâng lên ngang tầm của thời đại và mang một nội dung mới: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”.

    Việc xác định chính xác hạt nhân cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh có một ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng, nó trở thành phạm trù khởi điểm đồng thời cũng là phạm trù quy tụ cho mọi sự nghiên cứu, tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp và trước tác của Người. Đó là cơ sở tạo nên sự thống nhất giữa chủ nghĩa yêu nước với chân lý của thời đại là chủ nghĩa Mác – Lênin, giữa dân tộc với giai cấp, dân tộc và quốc tế, kháng chiến và kiến quốc, chống kẻ thù xâm lược và xây dựng chủ nghĩa xã hội, chiến đấu và sản xuất, cải tạo và xây dựng, v.v… Toàn cảnh bức tranh đa dạng, phong phú về tư tưởng và lý luận của Người được liên kết trên cái trục trung tâm đó; đồng thời tư tưởng cốt lõi, hạt nhân cơ bản đó cũng là ngọn đèn hướng đạo cho người nghiên cứu nhận thức, lĩnh hội được đúng đắn mọi chi tiết và khía cạnh cụ thể trong trước tác của Người. Không thấu suốt nguyên tắc đó trong nghiên cứu dễ rơi vào tản mạn, cục bộ. Xa rời nguyên tắc đó trong đánh giá, lý giải, cũng dễ rơi vào chủ quan, khiên cưỡng.

    Tóm lại, nắm vững nguyên tắc về tính thống nhất này sẽ giúp cho người nghiên cứu lý giải thành công mối quan hệ biện chứng giữa cái đa dạng và cái bất biến, giữa chiến lược và sách lược, giữa anh hùng giải phóng dân tộc và nhà vǎn hoá, giữa nhà chính trị thực tiễn và nhà thơ trữ tình, v.v. trong cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh.

    3. Phải tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự vận động, phát triển của cách mạng Việt Nam, trong mối quan hệ giữa lãnh tụ với quần chúng và gắn với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới hiện nay

    3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành và phát triển song song với quá trình vận động và phát triển của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đi lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong mối quan hệ với cách mạng thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh có nội dung lịch sử cụ thể của nó. Những điều Người nói thường rất cụ thể, trong hoàn cảnh cụ thể với những đối tượng cụ thể, nhằm đạt tới những yêu cầu cụ thể. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh không được thoát ly những điều kiện cụ thể đó.

    Thí dụ, từ sau khi hoà bình lập lại, miền Bắc nước ta đã bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, những vấn đề về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nói chung và xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ của nhà nước chuyên chính vô sản nói riêng đều là những vấn đề lý luận còn hết sức mới mẻ. Do chưa có kinh nghiệm bản thân, còn đang trên con đường tìm tòi, thể nghiệm, ta phải vừa làm, vừa học tập, tham khảo lý luận, kinh nghiệm, cách làm của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, trước hết là Liên Xô (cũ) và Trung Quốc. Đó cũng là điều bình thường, không tránh khỏi của một thời kỳ mới mẻ, đang khai phá.

    Vì vậy, khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, cần có sự phân tích khách quan, khoa học, gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể để tránh ngộ nhận, biến cái cá biệt, cái nhất thời thành cái phổ biến, cái cốt lõi; coi những điều đang tìm tòi, thể nghiệm là cái đã định hình, cái bản chất.

    Một lãnh tụ dù vĩ đại và sáng suốt đến đâu cũng chịu sự hạn chế của lịch sử, của thời đại cũng như cái hạn chế của đời sống một con người. Do biết chắt lọc, kế thừa những thành tựu tư tưởng – vǎn hoá của nhân loại mà Hồ Chí Minh trở thành lãnh tụ lỗi lạc của Đảng và dân tộc. Nhưng trí tuệ, thành tựu của thời đại mới phát triển đến đó, chưa thể mách bảo gì hơn thì không thể vì kính yêu lãnh tụ mà suy diễn, gán ghép cho Người những điều mà Người chưa nghĩ tới, chưa thực sự đặt ra và chín muồi trong tư tưởng của mình.

    Cũng như vậy, chỉ nên coi những tư tưởng của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là những phác thảo ban đầu, Người chưa bao giờ có ý định đưa ra một mô hình nào về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những cố gắng đi tìm trong tác phẩm của Hồ Chí Minh những giải pháp có sẵn cho những vấn đề của ta hiện nay chỉ là ảo tưởng. Người chỉ cung cấp cho ta một phương thức vận động tư duy, một phương pháp để phân tích thực tại xã hội, từ đó mà tự tìm ra những giải pháp cho các vấn đề hôm nay.

    Cần nhớ rằng, bản thân tư tưởng Hồ Chí Minh cũng vận động và phát triển. Thí dụ đầu những nǎm 20 của thế kỷ này, nhận định về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, Người viết: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới” 1 . Đến nǎm 1941, Hội nghị Trung ương lần thứ tám, dưới sự chủ toạ của Người, đã có sự phân tích và lập luận cụ thể: “… Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn nǎm cũng không đòi lại được”.

    Về những vấn đề lý luận của chủ nghĩa xã hội cũng vậy, nếu còn sống đến ngày hôm nay, trước thực tiễn mới, chắc rằng Người cũng có những tìm tòi và phát hiện mới. Điều đó hoàn toàn phù hợp với lôgích phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh là “hướng tới phía trước, tiến lên không ngừng”.

    3.2. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh còn phải tìm hiểu sự vận động và phát triển của nó trong đời sống tư tưởng, tình cảm và hành động cách mạng của quần chúng.

    Điều đó có nghĩa là phải chống khuynh hướng kinh viện chủ nghĩa, trách việc nghiên cứu tư tưởng và lý luận Hồ Chí Minh trong sự đóng kín của vǎn kiện, tác phẩm, không thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa lãnh tụ và quần chúng, giữa tư tưởng và lý luận cách mạng của Người với thực tiễn cách mạng của dân tộc và đất nước.

    Là người học trò trung thành của Mác và Lênin, Hồ Chí Minh nghiên cứu và phát biểu lý luận không chỉ để giải thích thế giới mà là để cải tạo thế giới. Người tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin không phải bằng con đường nhà trường và sách vở mà trong thực tiễn hoạt động cách mạng, từ nhu cầu cấp bách của việc tìm đường cứu nước. Như Người đã nói, “vừa làm công tác thực tế”, “vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin” và vận dụng lý luận vào tuyên truyền, giáo dục, tác động, thức tỉnh quần chúng. Người kịch liệt chống lại thứ lý luận chỉ dừng lại trên sách vở, “đề ra những luận cương dài dằng dặc và thông qua những nghị quyết rất kêu để sau đại hội đưa vào viện bảo tàng”. Mỗi suy nghĩ, mỗi lời nói của Người đều hướng tới quần chúng và nhằm mục đích đấu tranh cải tạo xã hội và con người. Vì vậy, “những chân lý giản dị mà sâu sắc đó, lúc thâm nhập vào quả tim và bộ óc của hàng triệu quần chúng đang chờ đợi nó, thì đó là sức mạnh vô địch, đó là chủ nghĩa anh hùng cách mạng”.

    Như vậy, nghiên cứu di sản tư tưởng của Hồ Chí Minh là phải nghiên cứu cả hai quá trình: quá trình hình thành, phát triển của chính nội dung tư tưởng đó và quá trình nó thâm nhập vào cán bộ, đảng viên, quần chúng, thức tỉnh, cổ vũ, tác động, giáo dục họ; nghĩa là nghiên cứu hiệu quả của lý luận khi thâm nhập vào quần chúng sẽ trở thành một sức mạnh vật chất như thế nào, như Mác đã nói.

    Ví như nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, nếu chỉ dừng lại ở việc thuyết minh hệ thống các khái niệm, phạm trù và chuẩn mực của đạo đức cách mạng, xác lập những hình thức và biện pháp giáo dục đạo đức mới, v.v. thì vẫn là chưa đủ nếu như không chứng minh được ý nghĩa, tác dụng, hiệu quả của những tư tưởng đạo đức đó trong việc đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện cả một đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng qua các giai đoạn cách mạng, từ vận động đấu tranh giành chính quyền, qua hai cuộc kháng chiến đến giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay.

    Cũng như vậy, trong việc nghiên cứu thơ vǎn Hồ Chí Minh, sẽ là không đúng nếu chỉ chú ý hoặc chú ý quá nhiều đến việc tìm hiểu một bộ phận thơ trữ tình, thơ nghệ thuật của Người mà, không chú ý hoặc chú ý không đúng mức đến bộ phận thơ cổ động, thơ chúc tết của Người. Loại thứ nhất, phần lớn được viết ra trong hoàn cảnh như Người nói, không biết làm gì thì “ngâm ngợi cho khuây”, thế thôi! Không ai chối cãi giá trị tư tưởng và nghệ thuật của một tập thơ vĩ đại “đã làm xáo trộn cả tâm hồn người đọc” như Nhật ký trong tù. Dù sao những bài thơ ấy chủ yếu được viết ra để tự nói với mình chứ không phải chủ yếu hướng tới người đọc. Trái lại, bộ phận thứ hai, thơ cổ động, thơ chúc tết, lại được Người viết ra với một công phu, dụng ý hẳn hoi, có lựa ý lựa lời, có tính toán hiệu quả ở người tiếp nhận. Điều này, Cố vấn Phạm Vǎn Đồng đã nói rõ: “Lúc đọc những lời kêu gọi cũng như các bài thơ chúc tết, Bác biết rằng đồng bào cả nước đều lắng nghe, Bác cũng biết rất rõ rằng đồng bào và chiến sĩ miền Nam càng lắng nghe Bác nói với tất cả tâm hồn mình, hình như Bác đang nói với mình”. Do đó, nghiên cứu bộ phận thơ này, chủ yếu không phải là nghiên cứu giá trị nghệ thuật của nó – dù là nghệ thuật tuyên truyền – mà là nghiên cứu mối quan hệ giữa động cơ sáng tác của lãnh tụ và hiệu quả, tác dụng của nó trong tư tưởng, tình cảm và hành động cách mạng của quần chúng, tức là không chỉ vận dụng phương pháp của vǎn học mà cả phương pháp của xã hội học.

    Tóm lại, thơ ca và vǎn chính luận của Hồ Chí Minh không dừng lại ở mức nhận thức và phản ánh, mà chủ yếu là nhằm để tác động, giáo dục. Nó là vũ khí sắc bén của người cách mạng, là một kênh thông tin quan trọng giữa lãnh tụ và quần chúng. Chỉ có vượt lên trên câu chữ, sách vở, nghiên cứu tư tưởng và lý luận của Hồ Chí Minh trong sự gắn bó với thực tiễn cách mạng, với đời sống tư tưởng, tình cảm của quần chúng, mới thấy được sức sống bất diệt của những tư tưởng ấy, mới thấy ” Hồ Chủ tịch vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”.

    3.3. Cuối cùng, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh không phải chỉ đáp ứng yêu cầu tổng kết, đánh giá, thẩm định những giá trị lịch sử đã qua, mà phải tính đến yêu cầu làm sống động các giá trị đó trong công cuộc đổi mới, phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Từ tư tưởng đích thực của Hồ Chí Minh, người nghiên cứu cần đề xuất được những gợi ý vận dụng những tư tưởng đó vào cuộc sống hiện nay. Nếu nghiên cứu chỉ dừng lại ở yêu cầu tìm hiểu tư tưởng của một vĩ nhân trong quá khứ, chỉ để khẳng định cái đã qua mà không làm cho nó hiện diện, sống thực, toả sáng với hôm nay, không chỉ ra được ý nghĩa “là cơ sở tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của chúng ta”, thì sự nghiên cứu đó là không đạt yêu cầu, xét về mặt phương pháp luận.

    Những điều trình bày trên mới chỉ là một số nét phác thảo ban đầu, về những nguyên tắc phương pháp luận có ý nghĩa đặc thù chỉ đạo việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng. Công việc đó, về cơ bản, mới chỉ là giai đoạn khởi động; các công trình nghiên cứu trọng điểm vẫn đang trên đường hoàn thiện để tiến tới xã hội hoá, vì vậy chúng ta vẫn chưa có điều kiện tổng kết những thành tựu và hạn chế của nó xét về mặt phương pháp luận. Những nguyên tắc được nêu lên ở chương này đã cố gắng trình bày trong sự liên hệ với thực tiễn nghiên cứu về Hồ Chí Minh những nǎm gần đây ở trong nước và ngoài nước. Một sự phân tích khoa học đầy đủ và sâu sắc hơn sẽ được bổ sung cùng với thành tựu và triển vọng của một bộ môn mới đang hình thành – bộ môn tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Phần thứ hai

    PHƯƠNG PHÁP LIÊN NGÀNH VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP

    CHUYÊN NGÀNH NGHIÊN CỨU VỀ HỒ CHÍ MINH

    Chương IV

    Phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Hồ Chí Minh

    ở nước ta, cho đến nay, phương pháp liên ngành vẫn còn là một hiện tượng mới mẻ của lĩnh vực phương pháp và phương pháp luận, mức độ phổ cập còn hạn chế, thực chất là chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn. Do đó, trước khi bàn việc vận dụng phương pháp liên ngành vào nghiên cứu Hồ Chí Minh, cần thiết thống nhất một số quan niệm cơ bản về thực chất, đặc điểm và phạm vi vận dụng của nó.

    I. Khái niệm về nghiên cứu liên ngành và phương pháp liên ngành

    1. Về nghiên cứu liên ngành

    Hiện tượng nghiên cứu liên ngành đã phát triển mạnh mẽ từ những nǎm 50 trở lại đây, nảy sinh từ thực tiễn phát triển của khoa học, khi các chuyên ngành hẹp không thể tự mình giải quyết được những vấn đề đặt ra nếu không liên hợp, kết hợp với các chuyên ngành khác. Đến nay, xu hướng liên ngành đã trở thành đối tượng nghiên cứu không thể bỏ qua của những người làm khoa học.

    Hiện tượng liên ngành đã được Ph. Ǎngghen tiên đoán từ cuối thế kỷ XIX. ở thời cổ đại, về cơ bản, khoa học chưa có sự phân ngành, nếu có, cũng chỉ như những yếu tố mà chưa thành một ngành. Các nhà khoa học có tên tuổi thời bấy giờ cũng đồng thời là các nhà bách khoa (như Pithagore vừa là nhà triết học, vừa là nhà toán học, thiên vǎn học, … Aristote vừa là nhà triết học, chính trị học, lôgích học, tu từ học, thi pháp học, vừa là nhà vật lý học, sinh vật học, v.v…). Điều đó cũng diễn ra ở phương Đông với tình trạng vǎn – sử – triết bất phân. Nhà nho kiêm cả y, lý, số…

    Bước sang thời trung, cận đại, thế giới không còn được nhìn như một tổng thể thống nhất mà đã được chia ra thành từng khối. Tri thức khoa học đã được phân hoá và hình thành các bộ môn khác nhau: toán, thiên vǎn, cơ, lý, hoá, sinh, sử, vǎn, kinh tế, tâm lý, ngôn ngữ,… Lịch sử phân ngành kéo dài cho đến cuối thế kỷ thứ XIX. Các khoa học lý thuyết đồ sộ cũng đã xuất hiện vào thời gian này.

    Sự phân ngành dữ dội, đã tạo ra những hạn chế: các chuyên ngành chỉ biết đi sâu vào cái riêng của ngành mình mà bỏ qua cái chung. Vì vậy, càng phân ngành, các nhà khoa học càng ít hiểu nhau. Do đó, Ph. Ǎngghen đã dự đoán: ở chỗ ráp ranh của phân ngành sẽ là liên ngành.

    ở thời kỳ hiện đại, sự phát triển như vũ bão của khoa học đã tạo ra yêu cầu khách quan là các ngành phải xích lại gần nhau, liên hợp với nhau, thâm nhập vào nhau. Khoa học hiện đại hình thành ba khối chuyên môn lớn: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân vǎn, khoa học kỹ thuật và công nghệ. Sự liên ngành diễn ra ở các mức độ khác nhau: có khi là hai ngành ráp ranh, kề cận nhau (cơ-lý, hoá-lý, hoá-sinh), có khi tới ba ngành (cơ-lý-toán, hoặc như khoa học Mác – Lênin gồm triết học, kinh tế – chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học), có khi còn nhiều hơn nữa, tới bốn, nǎm ngành, như trong tâm lý học hiện đại, điều khiển học, v.v…

    Sự liên ngành không chỉ diễn ra trong nội bộ một khối ngành mà còn diễn ra giữa khối ngành kia, như toán – kinh tế, toán – ngôn ngữ,… Xét về mức độ, sự hợp ngành cũng diễn ra ở hai mức: mức thấp, mức kết hợp là liên ngành (hay liên bộ môn) và mức cao là mức hợp ngành hay tích hợp (intégration) để tạo ra bộ môn mới.

    Hiện nay ở nước ta, nghiên cứu liên ngành mới bắt đầu ở mức thấp. Chương trình khoa học và công nghệ quốc gia về tư tưởng Hồ Chí Minh (KX.02) là một chương trình nghiên cứu liên ngành (ở mức thấp) nghĩa là các nhà khoa học thuộc nhiều bộ môn tham gia vào giải quyết các đề tài của chương trình bằng cách vận dụng phương pháp bộ môn của mình để tìm hiểu, lý giải một phương diện nào đó của đối tượng nghiên cứu vốn rất đa diện là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thực ra, nghiên cứu liên ngành như là một cấu trúc thực sự, sau khi có một cơ quan nghiên cứu làm đầu mối, một chương trình nghiên cứu làm nội dung vẫn chưa đủ, mà phải tiến lên xây dựng một lý thuyết chung mới nghiên cứu liên ngành được. Từ đó đẻ ra yêu cầu phải xây dựng phương pháp liên ngành.

    2. Phương pháp liên ngành

    Như trên đã nói, xuất phát từ yêu cầu mở rộng trường nhận thức của mỗi chuyên ngành, do quá đi sâu vào cái riêng của ngành mình mà làm cho nhiều cái riêng khác bị che mờ đi, không đủ sức bao quát được các hiện tượng phức tạp khác, vì vậy cần thiết phải liên ngành với nhau nhằm phát huy thế mạnh, khắc phục cái hạn chế của mỗi bên.

    Nhu cầu hợp tác nghiên cứu liên ngành đặt ra vấn đề phương pháp liên ngành. ở nước ta, vấn đề nghiên cứu liên ngành hưa thật phát triển nên vấn đề phương pháp liên ngành cũng chưa thể giải đáp một cách thật đầy đủ và sáng tỏ ngay được.

    Hiện nay, có hai xu hướng liên ngành cơ bản: liên ngành vì một ngành (đã có) và liên ngành vì hợp ngành (để hình thành một ngành mới). ở nước ta, nhất là trong khoa học xã hội, đang bắt đầu ở hướng thứ nhất. Do đó, để tìm hiểu về phương pháp liên ngành, ở đây giới thiệu hạn chế trong phạm vi liên ngành vì một ngành, nhằm vân dụng thiết thực vào việc nghiên cứu Hồ Chí Minh.

    2.1. Thực chất của phương pháp liên ngành (vì một ngành) là gì ? Nó có những đặc trưng và yêu cầu nào ? ở nước ta, đây là một vấn đề còn mới mẻ, đang trên đường thực nghiệm, nên cũng chỉ mới có điều kiện nêu ra một số nét ban đầu đẻ từ đó tìm cách vận dụng vào chuyên ngành Hồ Chí Minh học.

    Phương pháp nghiên cứu liên ngành (vì một ngành) do đối tượng nghiên cứu quyết định. Thực tế, có những đề tài không thể do một ngành nghiên cứu giải quyết được, mà đòi hỏi phải có sự nghiên cứu liên ngành. Thí dụ, để nghiên cứu về thời kỳ quá độ ( bao gồm các vấn đề quy luật phổ biến và đặc thù của thời kỳ quá độ, vấn đề phân kỳ thời kỳ quá độ, vấn đề giải quyết những khó khǎn, phức tạp về kinh tế – xã hội, đạo đức – lối sống,… trong thời kỳ quá độ, v.v..) đòi hỏi phải có sự tham gia nghiên cứu của nhiều ngành. Điều này càng rõ hơn khi tiếp cận các đề tài có tính toàn cầu như về thời đại hiện nay, về chiến tranh và hòa bình, về nguyên liệu – nǎng lượng và môi trường sinh thái, v.v..

    Trong những trường hợp đó, phương pháp liên ngành là phương thức tốt nhất để khai thác, tái hiện toàn bộ bản chất và quy luật của đối tượng nghiên cứu như là nó và như là ngoài nó.

    Thí dụ, việc sử dụng phương pháp liên ngành trong sử học xuất phát từ chỗ đối tượng của sử học là những sự kiện do con người sáng tạo ra, đã xảy ra trong quá khứ, có khi ở những thời đai rất xa xưa, trong mối quan hệ với tự nhiên, xã hội và giữa con người với nhau. Đó không phải là một đối tượng trực tiếp đang diễn ra mà là được tái hiện ra, nên không bao giờ đầy đủ. Vì vậy, để chiềm lĩnh được nó, một đối tượng phức tạp nhiều bộ phận, nhiều hệ thống, nên ngoài chi thức và phương pháp của bản thân sử học, nhà nghiên cứu cần phải vận dụng những chi thức và phương pháp ngoài sử học như triết học (đặc biệt là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), đường lối, quan điểm của Đảng, các nhà khoa học hỗ trợ khác như địa lý – lịch sử, xã hội học, tâm lý học, dân số học, v.v..

    Phương pháp liên ngành là phương pháp đưa cách thức, mô hình, lược đồ của ngành mình vận dụng vào nghiên cứu ngành khác và ngược lại. Nó là sự kết hợp, đan xen và bổ sung các phương pháp cho nhau giữa các ngành độc lập, nhằm phát huy cái mạnh, hạn chế cái nhược điểm của mỗi phương pháp.

    Tất nhiên, liên ngành không đơn thuần chỉ là cộng ngành, mà có sự điều chỉnh đậm, nhạt trong sử dụng các phương pháp tuỳ theo mỗi đề tài nghiên cứu. Thí dụ, để nghiên cứu những vấn đề đạo đức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chủ yếu phải vận dụng phương pháp của đạo đức học Mác – Lênin có kết hợp với phương pháp tâm lý học xã hội để lý giải diễn biến tâm lý con người sau chiến tranh, từ bao cấp sang cơ chế thị trường, với phương pháp điều tr xã hội học, phương pháp thống kê toán học, v.v.. Vì vậy, hội thảo chuyên gia là bước đi là bước đi cần thiết để lựa chọn khả nǎng đối tác trước khi bắt tay thực sự vào nghiên cứu liên ngành.

    Hiện nay, do sự phát triển của khoa học và do yêu cầu của thực tiễn đời sống, nghiên cứu liên ngành đang trở thành một hiện tượng phổ biến trong mỗi quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu. Việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế – xã hội (ngắn han, trung hạn và dài hạn) của mỗi quốc gia, cũng như việc giải quyết những vấn đề có tính toàn cầu của thời đại hiện nay (vấn đề cân bằng sinh thái, bùng nổ dân số, khủng hoảng lực lượng, nǎng lượng,…) đòi hỏi sự nhất thể hoá về nhận thức và hành động trong tất cả các quốc gia, khu vực và toàn nhan loại. Tập thể rộng lớn các nhà khoa học thế giới tham gia vào đó, làm việc với nhau trên cơ sở phương pháp liên ngành khoa học, sẽ đem lại cho nó một bước phát triển mới, cả về lý thuyết lẫn thực tiễn.

    2.2. Phương pháp liên ngành đòi hỏi nắm vững một số nguyên tắc chỉ đạo

    – Phải xác định rõ vai trò của chủ thể trong liên ngành: cái gì là trung tâm, ai giữ địa vị chủ đạo ? Liên ngành là sự tương tác giữa các chuyên ngành, nếu sự tương tác đó chịu lực chi phối của nhiều trung tâm khác nhau sẽ dẫn tới những kết quả khác nhau. Hai bộ môn khoa học gần kề nhau, như hóa và sinh, nếu hóa học là trung tâm thì sẽ tạo ra chuyên ngành mới là hóa – sinh, nếu sinh học đóng vai trò trung tâm thì sẽ tạo ra ngành mới là sinh – hóa.

    Trong trường hợp liên ngành vì một ngành thì phải lấy ngành sẵn có này làm trung tâm, xuất phát từ nhu cầu của ngành đó và cuối cùng tất cả đều quay về phục vụ cho ngành đó. Nếu liên ngành vì chuyên ngành nghiên cứu Hồ Chí Minh thì trung tâm tổ chức hợp tác liên ngành là bộ môn Hồ Chí Minh học. Các chuyên gia hợp tác như sử học, đạo đức học, xã hội học, vǎn học,… sẽ huy đông mọi tri thức và phương pháp của các ngành mình hướng vào phục vụ cho việc khám phá bản chất và quy luật của đối tượng nghiên cứu là con người, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức,… Hồ Chí Minh. Để làm được việc này, trung tâm đứng ra tổ chức sự hợp tác liên ngành phải có đội ngũ chuyên gia giỏi, nhất là cán bộ đầu ngành giỏi, để phân tích, chọn lọc tiếp thu và sử dụng được lợi thế của những phương pháp khác nhằm hoàn thiện cho phương pháp của chuyên ngành mình. Một ngành học non trẻ sẽ trưởng thành nhanh chóng khi biết hợp tác với các chuyên ngành khác.

    – Phải xác lập và nắm bắt những đặc thù của phương pháp chuyên ngành của mình để trong quá trình liên ngành, khi tiếp thu các chi thức và phương pháp của các ngành khác, không làm mất đi đặc trưng riêng củ chuyên ngành mình.

    Một chuyên ngành khoa học mới ra đời, hệ thống tri thức, ngôn ngữ, khái niệm của nó, thường chưa thể hoàn chỉnh ngay một lúc. Nghiên cứu chuyên ngành là sự giao thoa, tương tác giữa nhiều ngành, trong đó có những ngành cơ bản đã có bề dày lịch sử, có khả nǎng thâm nhập, tác động vào các ngành khác. Nếu không đứng vững và xuất phát từ đặc trưng của ngành mình thì chẳng những không hấp thụ được những cái hay, cái mạnh của ngành khác mà còn đánh mất vai trò, tác dụng của ngành mình, và như vậy thì nghiên cứu liên ngành cũng mất luôn ý nghĩa.

    Thí dụ, nghiên cứu đề tài “Con người và chính sách xã hội với con người” đã thu hút sự tham gia của rất nhiều ngành: triết học, xã hội học, đạo đức học, vǎn hoá học, tâm lý học, v.v.. Khi tham gia vào đề tài này, bộ môn Hồ Chí Minh phải xuất phát từ những quan điểm của Hồ Chí Minh về con người và những tư tưởng của Người về chính sách xã hội đối với con người. Từ khi có mặt trận Việt Minh, nhất là từ khi đứng đầu nhà nước của dân, do dân, vì dân, cho đến Di chúc để lại cho Đảng và Nhà nước ta, Người luôn luôn yêu cầu phải làm gì đối với con người sau khi chiến tranh kết thúc… Chỉ trên cơ sở đó, chuyên ngành Hồ Chí Minh mới có đóng góp cụ thể vào đề tài những kiến nghị cụ điều chỉnh, sửa đổi các chính sách cũ, đặt ra những chính sách mới có tính khả thi, theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh và phù hợp với tình hình thực tiễn nước ta.

    – Phải tuân thủ trình tự liên ngành từ gần đến xa, từ cùng khối đến khác khối, tức là phải xuất phát từ nhu cầu và đặc trưng của ngành mình mà lựa chọn đối tác.

    Chẳng hạn, toán học liên kết trước hết với khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ, sau đó mới dần dần lan sang khoa học xã hội và nhân vǎn. Ngay trong khoa học tự nhiên nó cũng bắt đầu từ các bộ môn gần kề: từ cơ học, đến vật lý học, sau mới đến hoá học rồi sinh học,…

    Chuyên ngành nghiên cứu Hồ Chí Minh thuộc khối khoa học xã hội và nhân vǎn, có mối liên hệ chặt chẽ với các bộ môn lý luận Mác – Lênin (triết học Mác – Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học, lịch sử Đảng, xây dựng Đảng,…) tiếp theo là với sử học, kinh tế học, tâm lý học, ngôn ngữ học, vǎn học,… Phương pháp thống kê toán học cũng có thể vận dụng trong phạm vi nhất định như để tìm hiểu tần số xuất hiện của những từ ngữ và mệnh đề nào đó trong ngôn ngữ Hồ Chí Minh.

    II. Vận dụng phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Hồ Chí Minh

    1. Cơ sở của phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Hồ Chí Minh

    Như đã trình bày, nghiên cứu về Hồ Chí Minh có thể và cần thiết phải sử dụng phương pháp liên ngành. Điều này do đặc điểm của đối tượng nghiên cứu quyết định.

    Nghiên cứu Hồ Chí Minh là nghiên cứu cả tiểu sử và sự nghiệp, tư tưởng và lý luận, phương pháp và phong cách, đạo đức và lối sống,… của Người. Hồ Chí Minh xuất hiện trên vũ đài lịch sử dân tộc và thời đại trong thế kỷ này với nhiều tư cách: Người là nhà yêu nước vĩ đại, anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam, chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới; nhà hoạt động xuất sắc của phong trào cộng sản và công nhân trong thế kỷ XX; vị sứ giả của hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc; nhà ngoại giao, nhà thương thuyết mềm mỏng, luôn luôn chủ trương giải quyết mọi xung đột bằng đối thoại hoà bình.

    Hồ Chí Minh để lại một sự nghiệp trước tác có thể nói là đồ sộ và phong phú về nhiều mặt. Người là nhà tư tưởng, nhà lý luận xuất sắc về chủ nghĩa thực dân và cách mạng giải phóng dân tộc, đồng thời có những cống hiến đặc sắc vào sự phát triển và làm phong phú chủ nghĩa Mác – Lênin trên nhiều lĩnh vực cụ thể. Người được tôn vinh là nhà vǎn hoá lớn, vừa kết tinh truyền thống vǎn hoá hàng ngàn nǎm của dân tộc mình vừa là sự thể hiện cho khát vọng của các dân tộc khác về nhân đạo và hoà bình.

    Hồ Chí Minh còn được coi là nhà thơ lớn của dân tộc, nhà vǎn sớm có những tìm tòi, đổi mới về thể loại và bút pháp; nhà báo cách mạng với hàng nghìn bài được công bố trên diễn đàn trong nước và nước ngoài, ở cả phương Đông lẫn phương Tây.

    Trên bình diện nhà tư tưởng, Hồ Chí Minh đã thể hiện tư tưởng của mình như một hệ thống, bao quát nhiều lĩnh vực: tư tưởng nhân vǎn, tư tưởng vǎn hoá, tư tưởng kinh tế, tư tưởng chính trị, tư tưởng quân sự, tư tưởng vǎn hoá – đạo đức,… trong mỗi lĩnh vực có thể tìm thấy những hệ thống nhỏ.

    Trước một đối tượng nghiên cứu đa dạng và phong phú nhiều mặt như vậy, không một tập thể và cá nhân nào có đủ nǎng lực bao quát hết để có thể riêng mình đưa ra được một bức tranh tổng thể về con người và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nghiên cứu Hồ Chí Minh ở trình độ lý luận cao đòi hỏi chúng ta còn phải phấn đấu nhiều hơn nữa, sâu hơn nữa. Có những vấn đề cảm giác rằng ai cũng có thể bàn đến được, nhưng có những lĩnh vực chuyên sâu, nếu người nghiên cứu không có trình độ lý luận, không có tư duy ở chiều sâu của lĩnh vực đó, không thể nghiên cứu có kết quả, ví như lĩnh vực tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

    Do đó, chỉ có đầu tư của toàn xã hội, có sự kết hợp nghiên cứu liên ngành, tập hợp những chuyên gia giỏi, có trình độ cao ở nhiều lĩnh vực cùng làm việc với nhau, sự nghiệp nghiên cứu về Hồ Chí Minh mới có thể nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả khoa học của mình.

    2. Khả nǎng và điều kiện nghiên cứu liên ngành

    Phương pháp liên ngành thuộc loại phương pháp khoa học hiện đại, mới phát triển mạnh ở phương Tây từ những nǎm 50 trở lại đây. ở phương Đông và Việt Nam, xét trên bình diện lý thuyết tuy nó là mới, nhưng trong thực tế vận dụng thì nó đã xuất hiện từ thời rất xa xưa. Như trên đã trình bày, thuyết “thiên – địa – nhân nhất thể” của Kinh Dịch đã chi phối tư duy phương Đông, làm cho quá trình phân ngành khoa học của phương Đông diễn ra rất chậm chạp. Tình trạng “vǎn – sử – triết bất phân” kéo dài làm cho tư duy khoa học của phương Đông cơ bản là tổng hợpvà liên ngành.

    ở Việt Nam, quan điểm “tam giáo đồng nguyên” (Nho, Phật, Lão) ngự trị trong suốt thời kỳ trung đại, đã chi phối cả tư duy bác học và tư duy dân gian cổ truyền, tạo thành truyền thống dung hoà vǎn hoá như là một hằng số lịch sử của tư duy Việt Nam trong quá khứ. Vì vậy, phương pháp liên ngành không phải là cái gì quá mới mẻ đối với chúng ta. Truyền thống bất phân đó có mặt trái là kìm hãm sự phát triển của khoa học nước ta – chủ yếu là khoa học xã hội và nhân vǎn – nó kéo dài tình trạng đào tạo theo hướng tổng hợp, người làm nghiên cứu có thể biết nhiều thứ nhưng không biết cái gì thật tỏ tường.

    Dù sao, tình trạng đó lại đồng cấu trúc (ở trình độ thấp) với khoa học hiện đại phương Tây, về liên hợp cũng như tích hợp khoa học. Do đó, xét về khả nǎng tổ chức nghiên cứu liên ngành là thuận lợi, sẽ không có tình trạng không hiểu nhau như các nhà khoa học ở phương Tây, cả về ngôn ngữ lẫn tri thức khoa học.

    Tuy nhiên, để tiến hành công việc trên, cần phải có một số điều kiện nhất định – dù mới chỉ ở mức liên ngành vì một ngành, liên ngành để nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

    Như trên đã nói, muốn liên ngành (vì một ngành) thì ngành đó phải đóng được vai trò trung tâm trong tổ chức nghiên cứu liên ngành, từ điểm xuất phát đến bước hồi quy. Hiện nay chúng ta vừa có lại vừa chưa có chuyên ngành nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

    Công tác nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã manh nha từ đầu những nǎm 50 với các bài viết của các đồng chí Trường-Chinh, Phạm Vǎn Đồng và một số người khác, trong đó bài “Hồ Chủ tịch, người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta” của đồng chí Trường-Chinh, đǎng trên báo Nhân Dân, số 1, ra ngày 11-3-1951, có thể coi là bài dẫn luận, định hướng cả về nội dung và phương pháp cho việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh phát triển về sau. Từ sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, công tác nghiên cứu giới thiệu về Người ngày càng được mở rộng cả ở trong nước và nước ngoài. Như vậy, việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh được bắt đầu từ khá sớm, đến khi được đặt ra như một bộ môn khoa học cũng đã trên 1/4 thế kỷ. Song đến nay, chưa thể nói chúng ta đã hoàn toàn có một bộ môn mới, môn Hồ Chí Minh học.

    Mỗi bộ môn mới ra đời, muốn trở thành một chuyên ngành khoa học độc lập, cần phải có những điều kiện sau đây:

    – Phải xác định rõ đối tượng nghiên cứu, trên cở sở đó phải xây dựng được chủ thuyết khoa học về đối tượng ấy.

    – Phải xây dựng được một hệ thống phương pháp nghiên cứu xuất phát từ đối tượng, phản ánh tính đặc thù của bộ môn (có vậy mới đủ khả nǎng tham gia vào nghiên cứu liên ngành).

    – Phải có một hệ thống khái niệm và phạm trù của bộ môn như là công cụ riêng, ngôn ngữ riêng để chiếm lĩnh đối tượng.

    – Sau cùng, phải có một trung tâm nghiên cứu, đào tạo, với những thiết chế phù hợp, tạo điều kiện cho nó hoạt động và phát triển.

    ở Chương I và rải rác trong các chương tiếp theo, đã trình bày những nét tổng quan về đối tượng nghiên cứu như là sự đúc kết lý luận về con người – sự nghiệp, tư tưởng – lý luận, đạo đức – lối sống, phương pháp – phong cách Hồ Chí Minh. Tuy còn những nét dị biệt khác nhau, nhưng trải qua nhiều cuộc hội thảo, giới nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã bước đầu thống nhất được với nhau những nội dung cơ bản, đặt cơ sở cho việc tiến tới xây dựng một lý luận khoa học về đối tượng, nhằm phản ánh chính xác bản chất và quy kuật của đối tượng.

    Cũng từ những thành tựu nghiên cứu đạt được trong những nǎm qua, chúng ta đã sơ bộ dựng lên được một hệ thống khái niệm và phạm trù của bộ môn, giúp cho người nghiên cứu có phương tiện chiếm lĩnh đối tượng. Những điều đang bàn về phương pháp ở đây là nỗ lực đầu tiên trên con đường khai phá, tìm tòi những nguyên tắc chung và những nguyên tắc phương pháp luận chuyên biệt chỉ đạo việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

    Việc chính thức đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào giảng dạy trong hệ thống các trường đảng và trường đại học đã khẳng định sự ra đời của một bộ môn mới, đánh dấu một giai đoạn mới của việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

    Tóm lại, đối chiếu những tiêu chuẩn nói trên, ở mỗi mặt chúng ta đều thấy đã xuất hiện những nhân tố nhất định, song còn mỏng mảnh và chưa thật chín, nên chưa thể nói, đến nay, đã có đủ điều kiện thực sự cho việc hình thành một chuyên ngành mới, chuyên ngành nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

    Hiện nay, cái yếu nhất của chuyên ngành này là sự đầu tư của xã hội vào công tác đào tạo, bồi dưỡng để hình thành một đội ngũ chuyên gia khoa học, đủ về số lượng, cao về chất lượng, đáp ứng được yêu cầu phát triển của bộ môn. Thiếu hụt nghiêm trọng nhất là không có nhiều chuyên gia giỏi. Nguyên nhân kém phát triển của một số ngành khoa học xã hội và nhân vǎn, bao gồm cả khoa học Mác – Lênin, đương nhiên là có nhiều, song xét từ góc độ phương pháp liên ngành, thì nguyên nhân chính là vì thiếu những chuyên gia đầu ngành thật giỏi, có kiến thức khoa học rộng lớn, có phương pháp và khả nǎng tổ chức hợp tác liên ngành.

    Đó là chỗ khó, nhưng cũng là điều kiện thành công của việc tổ chức nghiên cứu liên ngành.

    3. Phương pháp vận dụng phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Hồ Chí Minh

    Chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước về tư tưởng Hồ Chí Minh (KX. 02) là một chương trình nghiên cứu liên ngành. Trong toàn bộ 13 đề tài của Chương trình KX.02, không đề tài nào chỉ do một viện nghiên cứu chuyên ngành tự mình có thể giải quyết được trọn vẹn, sâu sắc mà không có những sự tham gia hợp tác của chuyên gia các ngành hữu quan.

    Thí dụ, đề tài số 1 là đề tài tổng quan về “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”. Những nội dung lớn mà đề tài phải giải quyết như: nguồn gốc và quá trình hình thành của tư tưởng Hồ Chí Minh; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng hệ thống chính trị (Đảng, Mặt trận, Quân đội, Nhà nước); về chiến lược và sách lược cách mạng, v.v. đều là những vấn đề lớn, mang tính tổng hợp, quan hệ đến nhiều ngành, triết học, sử học, vǎn hóa học, chính trị học, khoa học quân sự, v.v.. Chỉ có trên cơ sở hội thảo chuyên gia, tiến đến tổ chức nghiên cứu liên ngành thì mới làm sáng tỏ, có chiều sâu về mỗi nội dung lớn của đề tài nói trên.

    Từ thực tiễn nghiên cứu những nǎm qua, chúng tôi sơ bộ rút ra hai phương thức chính trong việc vận dụng phương pháp liên ngành vào nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

    3.1. Hợp tác chuyên gia nhiều ngành cùng nghiên cứu một đề tài cụ thể

    Đây là phương thức phổ biến, được hầu hết các đề tài vận dụng và đã đạt được kết quả nhất định.

    Thí dụ, để nghiên cứu đề tài “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”, trước hết cần tìm hiểu xem những nhân tố nào đã góp phần hình thành nên tư tưởng đó: truyền thống đạo đức dân tộc, tư tưởng đạo đức phương Đông (như đạo đức Nho giáo, Phật giáo, …) Trước khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh có nhiều nǎm sống ở các nước phương Tây, tiếp thu học thuyết đạo đức mácxít, Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh có chịu ảnh hưởng gì của tư tưởng đạo đức phương Tây ? (lòng thương người của Chúa Jésus, những yếu tố nhân đạo và dân chủ trong tư tưởng đạo đức của các nhà Khai Sáng,…). Ngoài ra, Người còn học hỏi và tiếp thu những gì trong nhân cách, đạo đức của những nhân vật lỗi lạc khác như Lênin, Gandhi, Tôn Dật Tiên,.. Để trả lời sáng tỏ những câu hỏi đó, cần có sự nghiên cứu, tìm hiểu và giải đáp bằng những cǎn cứ cụ thể, có sức thuyết phục của chuyên gia nhiều ngành, chứ không thể khẳng định một cách chung chung, võ đoán.

    Nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là để vận dụng vào việc xây dựng, giáo dục đạo đức mới, khắc phục những vấn đề nóng bỏng đang đặt ra trong đời sống đạo đức của xã hội ta hiện nay, khi mặt trái của cơ chế thị trường đang tác oai, tác quái, đang xâm nhập lũng đoạn, làm bǎng hoại không ít những giá trị truyền thống vǎn hóa – đạo đức – tinh thần của xã hội ta. Muốn đề xuất, kiến nghị được những phương án giải quyết hữu hiệu, khả thi về những vấn đề trên cần phải tiến hành điều tra cơ bản tình hình đạo đức trong một số tầng lớp xã hội cơ bản (cán bộ, đảng viên, thanh niên, công nhân, người buôn bán và dịch vụ, …), ở một số địa bàn khác nhau (thành phố lớn, khu công nghiệp, nông thôn, miền núi, vùng có đạo,…), tức là phải vận dụng phương pháp xã hội học kết hợp với phương pháp của khoa học hình sự. Để hình thành đạo đức mới, ngoài phát triển kinh tế là điều kiện cơ bản, phải nhấn mạnh đến vai trò rất quan trọng của các nhân tố ngoài kinh tế, phải kết hợp đồng bộ giữa kinh tế với luật pháp và giáo dục, tức là cần vận dụng các phương pháp của luật học, vǎn hóa học, của tổ chức và quản lý hành chính.

    Tóm lại, đạo đức là một nội dung lớn của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, hướng vào mục tiêu xây dựng xã hội công bằng, vǎn minh. Đó là một chiến lược tổng hợp, chỉ riêng các nhà nghiên cứu đạo đức học không đủ sức giải quyết nổi, mà cần có sự hợp tác liên ngành.

    3.2. Hợp tác chuyên gia để cùng nghiên cứu một tác phẩm cụ thể

    Trong các tác phẩm của Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta, Bản án chế độ thực dân Pháp là một tác phẩm lớn, đánh dấu một mốc lớn trong sự nghiệp trước tác của Người. Cuốn sách được viết bằng tiếng Pháp, gồm 12 chương và phần phụ lục Gửi thanh niên Việt Nam, do hiệu sách Lao động xuất bản, ở Paris, khoảng đầu nǎm 1926. Trần Dân Tiên kể lại rằng: “Ông Nguyễn chỉ viết một quyển sách duy nhất là quyển: Bản án kết tội chế độ thực dân Pháp; quyển này gồm những tài liệu chống thực dân Pháp, trích trong những sách của người Pháp viết để ở thư viện quốc gia”.

    Đứng về phương pháp nghiên cứu, biên soạn mà xét, tác giả đã vận dụng phương pháp đa ngành. Trước hết là phương pháp điều tra xã hội học. Để chuẩn bị luận cứ vững chắc cho bản án, tác giả đã tiến hành khảo sát, thu thập, chắt lọc thông tin từ một khối tư liệu khổng lồ, chủ yếu lại là những tài liệu, sách báo do chính người Pháp viết ra, đặc biệt là các số liệu cụ thể, những vǎn bản chính thức mà chủ nghĩa thực dân Pháp không thể chối cãi được. Không dừng lại ở các hiện tượng bề ngoài, tác giả đã đi sâu phân tích, so sánh, đối chiếu với nhiều nguồn tài liệu khác nhau để rút ra những thuộc tính bản chất của chủ nghĩa thực dân Pháp, giúp cho người đọc nhìn thấy hiển hiện cái địa ngục trần gian ở thuộc địa được che đậy dưới chiêu bài “khai hóa vǎn minh”. Tác phẩm trên còn là hình mẫu của việc vận dụng phương pháp hệ thống, được thể hiện trong cách xem xét xã hội thực dân – thuộc địa như là một cơ cấu tổng thể, từ các quan hệ kinh tế đến tổ chức chính trị – xã hội và vǎn hóa – tư tưởng. Chủ nghĩa thực dân cũng không được xem xét như là một hiện tượng đơn nhất, chỉ diễn ra ở Việt Nam, ở Đông Dương, mà còn là vấn đề của thời đại. Tác giả đã bóc trần tội ác của chúng ở khắp các thuộc địa khác trên thế giới như ở Angiêri, Tuynidi, Marốc, Xyri, Đahômây, Xuđǎng, Mađagátxca,… và cho thấy ở đâu những người lao động mất nước cũng cùng chung số phận, vì vậy tự nhiên là họ cùng đứng trong một chiến tuyến chống chủ nghĩa thực dân.

    Ngoài ra, chúng ta còn thấy tác giả sử dụng rất thành thạo các phương pháp lịch sử, trong việc mô tả các hiện tượng xã hội; phương pháp điển hình hóa của vǎn học trong việc khắc họa chân dung của những tên quan cai trị thực dân khét tiếng.

    Xét về nội dung, Bản án chế độ thực dân Pháp là bản cáo trạng đanh thép về tội ác của chế độ thực dân Pháp đối với các thuộc địa về các mặt kinh tế, chính trị, vǎn hóa, tư tưởng, … Tác phẩm cũng đề cập đến cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và mối quan hệ của nó đối với cách mạng vô sản ở chính quốc. Tóm lại, tác phẩm này là sự tổng hòa các tri thức chính trị, triết học, xã hội, lịch sử, vǎn học cùng với kinh nghiệm thực tiễn phong phú mà Nguyễn ái Quốc đã rút ra được trong suốt 15 nǎm đấu tranh của Người.

    Một tác phẩm có nội dung toàn diện và phong phú như thế, muốn lĩnh hội và kiến giải được đầy đủ, sâu sắc về nó, cần có tổ chức hợp tác nghiên cứu liên ngành. Trên thực tế, trong những nǎm qua đã từng có một cuộc hội thảo như vậy. Từ giác độ tri thức và phương pháp của ngành mình, các nhà nghiên cứu đã bước đầu đi vào tìm hiểu những giá trị từng mặt của tác phẩm: giá trị tố cáo, giá trị nhân đạo, giá trị ngôn ngữ và vǎn học,… hoặc đi vào từng nội dung khác nhau của như vấn đề nông dân, số phận người phụ nữ thuộc địa, vấn đề sử dụng nguồn tư liệu và vǎn bản của tác giả, v.v.. Tuy nhiên, đây mới chỉ là một cuộc hội thảo để kỷ niệm 60 nǎm ngày ra đời của tác phẩm. Một tác phẩm có giá trị về nhiều mặt như vậy cần được phối hợp tổ chức nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hơn trên cơ sở vận dụng phương pháp liên ngành.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẫu Đề Thi Và Đáp Án Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Cách Làm Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Tập 1
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Tập 2
  • Sách Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học
  • Ví Dụ Về Phương Pháp Định Giá Đất – Phương Pháp Chiết Trừ – Luật Sư Đỗ Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Lý Cơ Bản: Tách Chiết Adn Bằng Phenol
  • Tách Chiết Adn Từ Máu Ngoại Vi/ Máu Cuống Rốn
  • Phân Tích Định Tính Và Định Lượng Β
  • Kỹ Thuật Chiết Xuất “Xanh” – Nền Tảng Tạo Ra Các Hợp Chất Thiên Nhiên Chất Lượng Cao
  • Chiết Xuất Tinh Dầu Như Thế Nào?
  • Một ví dụ về phương pháp định giá đất chiết trừ trích từ phụ lục số 02 ban hành kèm thông tư 36/2014/TT-BTNMT

    Ví dụ phương pháp chiết trừ:

    Thửa đất cần định giá là một thửa đất ở tại thành phố A, giáp mặt đường nội bộ rộng 8m trong một khu đô thị mới, có diện tích 90m2 (mặt tiền 5m x chiều sâu 18m), trên thửa đất đã xây dựng nhà 3 tầng hoàn chỉnh. Việc xác định giá của thửa đất trên theo phương pháp chiết trừ thực hiện như sau:

    1. Khảo sát, thu thập thông tin

    Khảo sát thị trường, thu thập được thông tin về 03 bất động sản có đặc điểm tương tự với bất động sản cần định giá trong cùng khu đô thị trên. Để đơn giản, trong ví dụ này chỉ thực hiện ước tính giá đất của 01 bất động sản so sánh trong số 03 bất động sản đã giao dịch thành công.

    Các thông tin thu thập được của bất động sản so sánh đó là một ngôi nhà có diện tích mặt bằng là 100m2 (nhà 03 tầng, diện tích xây dựng mỗi tầng 75m2; mặt tiền 5m) nằm tiếp giáp đường nội bộ khác rộng 8m; giá bán bất động sản (nhà và đất) giao dịch thành công là 7.200 triệu đồng, thời điểm chuyển nhượng cách thời điểm hiện tại 6 tháng, trong thời gian này giá đất trên thị trường tương đối ổn định.

    Khi phân tích, so sánh mức giá do các yếu tố khác biệt giữa thửa đất của bất động sản so sánh với thửa đất của bất động sản cần định giá, xác định được tỷ lệ điều chỉnh mức giá là 6%.

    Khảo sát thực địa và thị trường thu thập được số liệu sau:

    – Đơn giá xây dựng ngôi nhà có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương theo giá thị trường hiện tại là 7 triệu đồng/m2 sàn (đơn giá trọn gói).

    – Ngôi nhà đã được sử dụng 12 năm; tuổi đời kinh tế dự kiến là 40 năm.

    1. Xác định giá trị hiện tại của tài sản gắn liền với đất của các bất động sản so sánh

    – Tổng diện tích sàn xây dựng của ngôi nhà: 75m2/tầng x 3 tầng = 225 m2.

    – Chi phí thay thế xây dựng mới ngôi nhà có diện tích và tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương:

    7 triệu đồng/m2 x 225 m2 = 1.575 triệu đồng.

    – Xác định giá trị hao mòn:

    + Tỷ lệ hao mòn: áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ hao mòn theo tuổi đời kinh tế:

    Tỷ lệ hao mòn của ngôi nhà=          1–Số năm sử dụng còn lạiTuổi đời kinh tế=          1          –28= 0,30 hoặc 30%40

    + Giá trị hao mòn: 1.575 triệu đồng x 30% = 472,5 triệu đồng

    – Giá trị hiện tại của ngôi nhà:

    1.575 triệu đồng – 472,5 triệu đồng = 1.102,5 triệu đồng

    1. Ước tính giá đất của bất động sản so sánh

    Giá trị đất của bất động sản so sánh là:

    7.200 triệu đồng – 1.102,5 triệu đồng = 6.097,5 triệu đồng

    Giá đất của bất động sản so sánh là:

    6.097,5 triệu đồng/100m2 = 60,975 triệu đồng/m2

    1. Ước tính giá đất của bất động sản cần định giá

    Tỷ lệ điều chỉnh mức giá do các yếu tố khác biệt giữa thửa đất của bất động sản so sánh với thửa đất của bất động sản cần định giá là 6%. Do đó giá đất ước tính của bất động sản cần định giá là:

    60,975 triệu đồng + (60,975 triệu đồng x 6%) = 64,634 triệu đồng/m2

    Làm tròn: 64,6 triệu đồng/m2

    Giả định có 02 bất động sản so sánh khác, áp dụng phương pháp xác định giá trị hiện tại của tài sản gắn liền với đất, xác định được giá đất lần lượt là: 58 triệu đồng/m2 và 65 triệu đồng/m2. Sau khi phân tích, so sánh mức giá do các yếu tố khác biệt giữa 02 thửa đất của 02 bất động sản so sánh này với thửa đất của bất động sản cần định giá, xác định được tỷ lệ điều chỉnh mức giá lần lượt là 7% và -2%.

    Từ đó, giá đất ước tính của bất động sản cần định giá theo giá đất của 02 bất động sản so sánh nêu trên là:

    58,0 triệu đồng + (58,0 triệu đồng x 7%) = 62,06 triệu đồng/m2

    65,0 triệu đồng + [65,0 triệu đồng x (-2%)] = 63,70 triệu đồng/m2

    1. Xác định giá đất của bất động sản cần định giá

    Giá đất của bất động sản cần định giá=64,6 + 62,06 + 63,70

    3

    =63,45 triệu đồng/m2

    Tỷ lệ chênh lệch giữa giá đất của bất động sản cần định giá với giá đất ước tính theo các bất động sản so sánh lần lượt là: -1,78% ; 2,24% và -0,39%.

    Do đó, giá đất của bất động sản cần định giá bảo đảm chênh lệch với các giá đất ước tính không quá 10%.

    Kết luận: Giá đất của bất động sản cần định giá là 63,45 triệu đồng/m2

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Tính Chiết Khấu Dòng Tiền Dưới Góc Nhìn Của Nđt Giá Trị Monish Panbrai – Cophieux
  • Sàng Lọc Ung Thư Cổ Tử Cung Bằng Phương Pháp Quan Sát Cổ Tử Cung Với Acid Acetic (Via) Tại Bắc Ninh Và Cần Thơ Năm 2013
  • Tổng Quan Các Phương Pháp Sàng Lọc Ung Thư Cổ Tử Cung
  • Phương Pháp Sàng Lọc Ung Thư Cổ Tử Cung
  • Quy Trình Sàng Lọc Ung Thư Cổ Tử Cung
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100