Top 9 # Xem Nhiều Nhất Nét Độc Đáo Trong Phương Pháp Nghiên Cứu Của Menđen Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Phương Pháp Nghiên Cứu Di Truyền Của Menđen

1. Đậu Hà Lan Pisum sativum

Menđen đã rất may mắn khi chọn đối tượng thí nghiệm: Đậu Hà Lan Pisum sativum

Mendel bắt đầu kiểm tra sự khác nhau đa dạng của cây đậu Hà Lan trong những nghiên cứu của mình, về đặc tính di truyền và những tính trạng phù hợp cho các nghiên cứu của ông

2. Các tính trạng ở cây đậu Hà Lan

Ông đã kiểm soát được quá trình thụ phấn của cây, bằng cách chủ động đem phấn hoa từ cây này đến thụ phấn cho cây khác. Do ông đã biết rõ ràng nguồn gốc của thế hệ cha mẹ trong các thí nghiệm của mình. Cây đậu mà Mendel chọn làm đối tượng nghiên cứu là loại cây lưỡng tính, nó mang cả cơ quan sinh sản đực và cái trên cùng một hoa. Do đó nếu không có sự can thiệp từ bên ngoài thì sẽ xẩy ra quá trình tự thụ phấn. Mendel đã lấy phấn hoa ở cây này đem đến thụ phấn cho hoa ở cây khác, cây được thụ phấn đã được cắt bộ phận sinh sản đực. Đây chính là cách mà Mendel đã sử dụng trong một số thí nghiệm của ông.

Mendel đã tách các giống thuần chủng bằng cách thực hiện lặp đi lặp lại nhiều lần quá trình lai cùng dòng và tiến hành chọn lọc.

Phương pháp tư duy phân tích của vật lý: tách từng tính trạng ra để nghiên cứu.

Phương pháp toán học dùng toán sác xuất để phân tích các kết quả lai qua nhiều thế hệ.

3. Cơ chế di truyền

Cách đây hơn một trăm năm, người ta nhận ra rằng có rất nhiều đặc tính được di truyền từ bố mẹ sang con cái. Mặc dù điều này đã được ghi nhận một cách tổng quát từ thời nguyên thủy, nó vẫn thu hút một sự quan sát của một tu sĩ người Áo – người đã thực hiện thí nghiệm trên các cây đậu để làm sáng tỏ vấn đề. Gregor Mendel tiến hành phép lai giữa những cây đậu thuộc các dòng khác nhau. Một số cây đậu này cho hạt trơn, số khác cho hạt nhăn. Một số cây cao, trong khi số khác lại thấp. Một số cây nở hoa tím, số khác lại nở hoa trắng.

Mendel nhận thấy rằng, bằng một cách nào đó, thông tin quy định mỗi đặc tính này được truyền sang thế hệ tiếp theo. Và ông quan sát thấy mỗi tính trạng được truyền sang thế hệ kế tiếp một cách độc lập so với các tính trạng khác.

Kể từ thời Mendel, con người đã hiểu biết thêm rất nhiều về cách thức mà tính trạng được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Mỗi tính trạng đơn lẻ của cây đậu – cũng như của tất cả mọi sinh vật khác – được chứa đựng trong nhân của tế bào, trong những cấu trúc có tên gọi là nhiễm sắc thể. Hơn thế nữa, chúng ta còn phát hiện ra rằng mỗi tính trạng lại được quy định bởi một phần đặc biệt trong nhiễm sắc thể gọi là Gen.

Gen chính là nơi chứa các thông tin được chuyển tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chính gen quyết định các tính trạng của một sinh vật. các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng gen được cấu tạo từ DNA. Các phân tử RNA đóng vai trò phiên mã cho các thông tin mã hóa trong DNA, nhờ đó nhiều bộ phận trong tế bào được tạo thành.

4. Điểm mới trong phương pháp của Mendel

Chắc chắn Mendel không phải là người đầu tiên băn khoăn về hiện tượng di truyền ở sinh vật. Nhưng ông là người đầu tiên thành công trong nghiên cứu, đã đưa ra được 3 định luật di truyền cơ bản nhất của di truyền học. Sở dĩ như vậy vì phương pháp nghiên cứu của ông có những điểm mới sau:

– Tạo dòng thuần chủng:

Trước khi nghiên cứu ông đã tạo các dòng đậu thuần chủng hoàn toàn thủ công. Đó là cho các cây đậu dạng bố, mẹ (hướng tính trạng dự định nghiên cứu) tự thụ phấn liên tục để thu được dòng thuần.

– Xem xét từng cặp tính trạng tương phản:

Lai các cặp bố mẹ thuần chủng khác nhau về một hoặc vài cặp tính trạng tương phản rồi theo dõi các đời con cháu, phân tích sự di truyền của mỗi cặp tính trạng, trên cơ sở phát hiện quy luật di truyền chung của nhiều tính trạng.

– Sử dụng phép lai phân tích:

Đó là phương pháp đem lai cá thể cần phân tích kiểu gen với cá thể mang tính trạng lặn, sau đó phân tích kết quả lai. Trên cơ sở đó xác định được bản chất của sự phân li tính trạng là do sự phân li, tổ hợp của các nhân tố di truyền trong giảm phân và thụ tinh. Từ nhận thức này đã cho phép xây dựng được giả thiết giao tử thuần khiết.

– Dùng xác suất thống kê:

Ông sử dụng toán thống kê và lý thuyết xác suất để phân tích quy luật di truyền các tính trạng của bố mẹ cho các thế hệ sau.

Ngoài ra một điểm góp phần quan trọng vào thành công của Mendel đó là ông đã chọn đối tượng nghiên cứu phù hợp. Đậu Hà Lan có những ưu điểm sau đối với việc nghiên cứu di truyền:

– Thời gian sinh trưởng ngắn trong vòng 1 năm.

– Cây đậu Hà Lan có khả năng tự thụ phấn cao độ do cấu tạo của hoa, nên tránh được sự tạp giao trong lai giống.

Nét Độc Đáo Trong Văn Hóa Ẩm Thực Nhật Bản

Văn hóa ẩm thực Nhật Bản có gì độc đáo

Sự kết hợp, giao thoa của nhiều nền ẩm thực

Nét độc đáo của ẩm thực Nhật Bản được hình thành từ sự giao thoa của các nển ẩm thực. Đó chính là sự pha trộn tinh tế, hài hòa trong các món ăn của Nhật cùng các quốc gia khác trên thế giới. Vì vậy khi du lịch Nhật ngoài các món ăn truyền thống bạn sẽ thấy trong các khẩu phần ăn còn có thêm bánh mì, xúc xích,…

Triết lý ẩm thực

Trong văn hóa ẩm thực Nhật Bản, ở tất cả các món ăn đều được chế biến theo quy tắc” tam ngũ“. Nó được hiểu là:

Ngũ sắc: trắng – vàng – đỏ – xanh – đen

Ngũ vị: ngọt – chua – cay – đắng – mặn

Ngũ pháp: sống – ninh – nướng – chiên – hấp

Hầu như các món ăn Nhật đều không sử dụng gia vị, người đầu bếp chủ yếu tận dụng các hương vị tự nhiên có sẵn trong các món ăn như: cá, rong biển, gạo, đậu nành, rau.

Ý nghĩa văn hóa của các món ăn Nhật

Với người dân Nhật các món ăn đều mang ý nghĩa đặc biệt, như một lời chúc tốt lành muốn gửi đến thực khách thưởng thức nó. Ví dụ như:

Chúc về sức khỏe: món đậu phụ

Chúc thịnh vượng, sung túc: món Sushi cá trap biển

Chúc trường thọ: món Tempura; Các món tôm cũng tượng trưng cho sự trường thọ (người Nhật tin rằng lưng tôm càng cong thì càng trường thọ).

Chúc gia đình đông vui: món trứng cá tuyết nướng

Chúc kéo dài tuổi thọ, trừ tà khí: rượu sake

Rượu sake để trừ tà khí và kéo dài tuổi thọ

Dinh dưỡng trong các món ăn Nhật

Chế độ dinh dưỡng chuẩn ẩm thực của Nhật Bản được gọi là “ichi ju san sai“, có nghĩa là nghĩa là “1 súp, 3 món, ăn với cơm“, có từ thời Muromochi.

Trong văn hóa ẩm thực Nhật Bản, đậu nành là món không thể thiếu trong các bữa ăn và cùng với đó là các món được chế biến từ hải sản, rau củ,…các món này rất ít calo nhưng lại có giá trị dinh dưỡng cao, tốt cho sức khỏe.

Văn hóa bàn ăn

Trong các bữa ăn người dân Nhật cũng đề cao các quy chuẩn và phép tắc. Bạn có thể hình dung theo các giai đoạn sau:

+ Trước khi ăn, họ sẽ dùng thành ngữ “Itadakimasu – xin mời“, có hàm ý xin phép.

+ Sau khi ăn xong, họ dùng thành ngữ “Gochiso sama deshita – cảm ơn vì món ăn ngon”.

+ Nếu mòi rượu sake thi sẽ rót cho mọi người trước, cuối cùng mới rót cho mình. Ngoài rượu, người Nhật cũng sử dụng cả bia, rượu shochu trong bữa ăn.

Người dân Nhật Bản thích sử dụng chén dĩa có nhiều họa tiết bắt mắt, chất liệu chủ yếu là gốm và sơn mài. Các loại chén, dĩa cũng được sử dụng khác nhau theo các mùa khác nhau trong năm.

Sushi

Sushi là một trong những món ăn được người dân Nhật và du khách ưa thích. Theo văn hóa ẩm thực Nhật Bản món sushi ở Nhật sẽ được chế biến theo 4 mùa trong năm, mỗi mùa là mỗi món tương ứng khác nhau. Cụ thể như:

Mùa xuân: thời tiết dễ mát mẻ, trong tiết trời mùa xuân người dân Nhật thường ăn 5 món sushi hải sản là: sayori (từ cá biển); hama-guri (từ trai biển vỏ cứng); miru-gai (từ tôm, cua, trai, sò, vẹm; tori-gai (từ sò trứng Nhật);); kisu (từ cá biển đen Nhật).

Mùa hạ: ăn 4 món sushi hải sản là: aji (từ cá ngừ Nhật); uzuki (từ cá vược biển); awabi (từ bào ngư); anago (từ cá chình biển Nhật).

Mùa thu: ăn 3 món sushi hải sản là: kampachi (từ cá kampachi); saba ( từ cá thu); kohada (từ cá trích, cá mòi có chấm).

Mùa đông: thời tiết lạnh và có tuyết rơi người Nhật sẽ ăn 4 món sushi hải sản: ika (từ cá nục); aka-gai (từ trai biển lớn); hirame (từ cá bơn); tako (từ bạch tuộc)

Ngoài ra, người dân Nhật còn thường ăn các món sushi làm từ: nhím biển, cá ngừ, tôm hùm, trứng,…quanh năm.

Hiện nay, văn hóa ẩm thực Nhật Bản ngày càng nổi tiếng trên khắp thế giới. Nếu có dịp đến với xứ sở hoa anh đào, bạn đừng quên thưởng thức và cảm nhận nền ẩm thực độc đáo này. Bạn cũng có thể tham khảo các tour du lịch Nhật Bản của Du lịch Việt Nam để chọn cho mình một chuyến đi trải nghiệm ẩm thực nhiều thú vị.

Tìm Hiểu Về 10 Nét Độc Đáo Trong Văn Hóa Ẩm Thực Nhật Bản

Nhật Bản không chỉ được biết đến là một quốc gia chứa đựng những văn hóa truyền thống đa dang – đặc sắc, mà nổi tiếng với một văn hóa ẩm thực phong phú và đầy sắc màu. Văn hóa ẩm thực Nhật Bản vốn từ lầu đã nổi tiếng thế giới về sự cầu kỳ trong cách chế biến cũng như cách bài trí tỷ mỉ, tinh tế trong mỗi món ăn. Người Nhật thường không lạm dụng gia vị trong các món ăn, thay vào đó, họ tập trung vào sự tươi ngon, cái vị ngon ngọt tự nhiên của chính nguyên liệu làm nên món ăn đó. Nếu phải kể hết những nét độc đáo trong văn hóa ẩm thực Nhật Bản thì quả thật rất khó. Tuy nhiên, Sashimi Home xin phép được bật mí cho bạn đọc 10 điều thú vị về văn hóa ẩm thực của đất nước Mặt Trời mọc.

Những Nét Độc Đáo Trong Văn Hóa Ẩm Thực Nhật Bản

Nền Ẩm Thực Nhật Bản Được Công Nhận Bởi UNESCO

Có lẽ bạn đã từng được nghe, hay thậm chí đã được thưởng thức qua những món ăn tuyệt hảo được chế biến với những kĩ thuật đặc biệt của nền ẩm thực Pháp – nền ẩm thực đầu tiên được tổ chức văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) công nhận thì nay, nét truyền thống ẩm thực Nhật Bản đã được công nhận bởi UNESCO và thêm vào danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể.

Các món ăn Nhật Bản luôn được chia thành những phần nhỏ và những nguyên liệu không được nêm nếm quá nhiều gia vị nhằm giữ nguyên hương vị đặc trưng của nguyên liệu. Những người đầu bếp tài ba người Nhật lựa chọn nguyên liệu rất cẩn thận để có thể chọn ra được những loại tốt nhất, sau đó chế biến bằng những phương pháp tuy nhìn trông rất đơn giản những lại đòi hỏi những kỹ thuật sử dụng dao điêu luyện.

Ẩm thực Nhật Bản luôn luôn tuân thủ theo quy tắc “Tam Ngũ” bao gồm: ngũ pháp, ngũ sắc, ngũ vị – Ngũ pháp bao gồm: sống, ninh, hấp, chiên, nướng – Ngũ sắc bao gồm các màu: trắng, đen, đỏ, xanh, vàng – Ngũ vị bao gồm các vị: chua, cay, mặn, ngọt, đắng

Tuy rằng Sushi và Sashimi là nét đặc trưng của ẩm thực Nhật nhưng, trên thực tế nền ẩm thực ở xứ sở hoa Anh Đào còn đặc sắc hơn thế nữa. Một trong những món ăn mà ta không thể không nhắc tới có thể là bánh xèo Okonomiyaki, bánh Kabocha Chiffon, hay những món ăn đường phố đặc biệt nổi tiếng như Takoyaki, cơm nắm Onigiri, vầ bánh Wagashi.

Có lẽ với chúng ta thì một năm chỉ có 4 mùa nhưng, với những người đầu bếp Nhật Bản, họ luôn phải cân nhắc và suy nghĩ đến hàng chục mùa khác nhau để có thể chọn những nguyên liệu tươi ngon nhất. Khi đã chế biến một cách hoàn hảo, những món ăn sẽ được trang trí và bày biện một cách tỉ mỉ. Vậy nên ta có thể nói, món ăn Nhật Bản không chỉ là món ăn mà nó còn là cả một nghệ thuật.

Có Nhiều Nguyên Tắc vầ Nghi Thức Trong Ăn Uống

Có lẽ bạn đã từng nghe rằng người Nhật rất chú trọng những nghi thức. Sự thật thì, chính là vậy. Trong cách ứng xử hằng ngày hây thậm chí là những lễ nghi ẩm thực, người Nhật Bản luôn tuyệt đối tuân theo. Khi ăn, người Nhật luôn ‘phát ra những tiếng xì sụp’, điều mà chúng ta thường cho rằng là bất lịch sự, nhưng không, với người Nhật, đó là thái độ tỏ ra tôn trọng người đầu bếp cũng như thể hiện sự ngon miệng mà món ăng đem lại.

Trà đạo được xem như là một trong những hình thức nghê thuạt cao nhất ở đất nước Mặt Trời mọc cùng với thu pháp, âm nhạc. Nhắc đến trà đạo, ta không thể không nhắc tới trà xanh, thứ trà nổi tiếng của Nhật Bản. Khi người Nhật nói chung chung về trà, điều đó có nghĩa là họ đang nói đến trà xanh.

Người Nhật sử dụng bát đũa có nhiều hoa văn màu sắc. Họ quan niệm rằng một bữa ăn ngon thì không thể thiếu những bộ bát đĩa đẹp mắt, hơn nữa, họ cũng lựa chọn bát đĩa theo mùa.

Người Nhật luôn bắt đầu bữa ăn bằng những ngụm bia, rượu Shochu hay Sake.

Các món ăn thường được sắp xếp theo thứ tự: món khai vị Sashimi cá hồi, tôm, sò, cá ngừ… sẽ được thái lát mỏng cẩn thận và xếp trên những khay gỗ. Tiếp đó những món chiên hoặc nướng sẽ được dọn ra và kế đến là Sushi, món ăn bản sắc Nhật Bản. Thêm nữa, nếu bạn quan tâm đến cách thưởng thức món ăn của người Nhật, hãy đọc Cách ăn Sashimi chuẩn Phong cách Nhật và cách ăn Sushi.

Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Kinh Tế

Published on

Phương pháp nghiên cứu trong kinh tế

1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG BÁO CÁO MÔN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ ĐỀ CƯƠNG ĐỂ TÀI: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DOANH THU KINH DOANH TRÊN MẠNG XÃ HỘI HIỆN NAY CỦA SINH VIÊN Ở CẦN THƠ. GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS. NGUYỄN HỮU TÂM

2. TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG BÁO CÁO MÔN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ ĐỀ CƯƠNG ĐỂ TÀI: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DOANH THU KINH DOANH TRÊN MẠNG XÃ HỘI HIỆN NAY CỦA SINH VIÊN Ở CẦN THƠ. GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS. NGUYỄN HỮU TÂM NHÓM THỰC HIỆN: 1. Lê Thị Trúc Ly 1154010036 100% 2. Phan Thị Mỹ Hà 1154010016 100% 3. Châu Văn Linh 1154010035 100% 4. Phan Thanh Boal 1154010004 100% 5. Nguyễn Thị Diễm Kiều 1154010031 100%

3. 1. Lí do chọn đề tài: Tại Việt Nam Internet đang được sử dụng không chỉ với mục đích giải trí mà còn được giới trẻ tận dụng như một công cụ kinh doanh và kiếm tiền hiệu quả. Đó là kinh doanh trên mạng. Vốn ít, không tốn chi phí cho thuê mặt bằng và đóng thuế trong khi đó lại có thể chủ động về thời gian, bán hàng online (qua mạng) đang trở thành việc làm thêm hấp dẫn nhiều bạn trẻ, đặc biệt là các bạn sinh viên. Thêm vào đó, sinh viên thường có những ý tưởng sáng tạo các sản phẩm độc đáo, trưng bày trên gian hàng của mình hoặc kinh doanh các mặt hàng theo các dịp lễ tết, theo mùa vụ nên đôi khi mở một cửa hàng là không cần thiết. Kinh doanh online là lối ra tốt nhất và là xu hướng tất yếu. Trên các trang mua bán online ta có thể dễ dàng nhận thấy mặt hàng được các bạn sinh viên kinh doanh chủ yếu là các sản phẩm thời trang như: quần áo, giày dép, túi xách, mỹ phẩm…và các đồ hand-made độc, lạ. Lý giải điều này theo như các bạn sinh viên nhận định là vì khách hàng đang có xu hướng Online để tìm mua các sản phẩm này ngày càng nhiều, vừa tiết kiệm thời gian và công sức đi lại. Đồng thời các website mua bán online hỗ trợ khá tốt việc thanh toán và thể hiện tốt hình ảnh và nội dung sản phẩm. Trước đây, khái niệm kinh doanh trực tuyến hay Marketing Online khá mới lạ đối với hầu hết đại đa số các doanh nghiệp Việt Nam, nhưng một vài năm trở lại đây, bức tranh Thương Mại Điện Tử có những bước khởi sắc rõ rệt và phát triển như vũ bão. Với tình hình kinh doanh dày đặt như hiện nay của các bạn sinh viên thì việc đảm bảo cho doanh thu tăng trưởng nhanh chóng là một trong những yếu tố khá quan trọng để giúp loại hình kinh doanh này có thể tồn tại, trụ vững, phát triển và mang lại nguồn thu nhập khác cho sinh viên ở Cần Thơ hiện nay. Cũng vì lí do đó nhóm chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu kinh doanh trên mạng xã hội hi ện nay của sinh viên ở Cần Thơ” 2. Mục tiêu nghiên cứu: 2.1 Mục tiêu chung: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu của việc kinh doanh trên mạng hiện nay của Sinh viên ở địa bàn Cần Thơ và tìm ra các biện pháp giúp sinh viên Cần Thơ đạt được doanh thu cao hơn. 2.2 Mục tiêu cụ thể:

4. – Tìm hiểu thực trạng về tình hình kinh doanh trên mạng hiện nay của Sinh viên ở địa bàn Cần Thơ. – Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu của việc kinh doanh trên mạng hiện nay của Sinh viên ở địa bàn Cần Thơ. – Đề ra các biện pháp giúp sinh viên Cần Thơ đạt được doanh thu cao hơn. 3. Kiểm định gi ả thuyết và câu hỏi nghiên cứu: 3.1 Kiểm định giả thuyết: – Giá cả hàng hóa ảnh hưởng không nhiều đến doanh thu kinh doanh trên mạng hiện nay của Sinh viên ở địa bàn Cần Thơ. – Chất lượng hóa ảnh hưởng không nhiều đến doanh thu kinh doanh trên mạng hiện nay của Sinh viên ở địa bàn Cần Thơ. – Số lượng sinh viên kinh doanh trên mạng ở Cần Thơ hiện nay không nhiều. 3.2 Câu hỏi nghiên cứu: – Giá cả hàng hóa ảnh hưởng như thế nào đến doanh thu kinh doanh trên mạng hiện nay của Sinh viên ở địa bàn Cần Thơ? – Chất lượng ảnh hưởng như thế nào đến doanh thu kinh doanh trên mạng hiện nay của Sinh viên ở địa bàn Cần Thơ? – Số lượng sinh viên kinh doanh trên mạng ở Cần Thơ hiện nay ra sao? 4. Phạm vi nghiên cứu: 4.1 Phạm vi về không gian: – Đề tài được thực hiện ở Cần Thơ. 4.2 Phạm vi về thời gian: – Số liệu sử dụng trong đề tài là là số liệu năm 2013 và 2014. – Đề tài được thực hiện từ ngày 22/02/2014 đến ngày 22/08/2014. 4.3 Phạm vi về nội dung: