Chiến Tranh Lạnh Là Gì? Nguyên Nhân Và Hậu Quả Của Chiến Tranh Lạnh

--- Bài mới hơn ---

  • 10 Nguyên Nhân Khó Thở Bạn Nên Dè Chừng
  • Những Nguyên Nhân Nào Gây Ra Lũ Lụt Và Sạt Lở Đất?
  • Lũ Lụt Là Gì Và Vì Sao Lại Có Lũ Lụt Trên Thế Giới?
  • Lý Giải Nguyên Nhân Lũ Lụt Ở Miền Trung
  • Nguyên Nhân Lũ Lụt Lớn Ở Miền Trung (Trần Tiễn Khanh & Nguyễn Khoa Diệu
  • Trong lịch sử lớp 12, các bạn đã được học và tìm hiểu về chiến tranh lạnh. Vậy thực tế chiến tranh lạnh là gì? Nguyên nhân và hậu quả của cuộc chiến tranh lạnh diễn ra như thế nào? Tất cả những nội dung này, sẽ được bài viết của chúng tôi giải đáp cho bạn đọc.

    Chiến tranh lạnh là gì?

    Khi Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, Châu Âu có một bối cảnh bị tàn phá, suy yếu nặng nề trong sự tồn tại vai trò khá lu mờ của Pháp với Anh, còn Đức thì đang đổ nát và đứng trước sự chia cắt hai miền. Khi này Mỹ với Liên Xô nổi lên với một vai trò mới, họ là siêu cường quốc của thế giới về sự giàu có, hùng mạnh. Ngay khi này, hai quốc gia đã nhanh chóng nắm lấy quyền chi phối toàn hệ thống của chính trị quốc tế.

    Khi tìm hiểu về chiến tranh lạnh, nó được hiểu chính là thời kỳ căng thẳng về chính trị, quân sự của Mỹ và Liên Xô từ sau Chiến tranh thứ 2 kết thúc. Yếu tố của cuộc “chiến tranh” này chính là việc đối đầu sâu sắc về quyền lực, ý thức hệ của hai 2 nước. Trong đó, yếu tố “lạnh” là phản ánh cuộc chiến của Liên Xô với Mỹ là không dùng đến vũ khí “nóng – các loại vũ khí truyền thống” ở cuộc chiến này, thay vào đó chính là cuộc chạy đua về vũ trang và nổi lên là vũ khí hạt nhân.

    Thực tế, Chiến tranh lạnh chính là giai đoạn đầu tiên của lịch sử về sự tồn tại hệ thống lưỡng cực, nơi mà Mỹ với Liên Xô chính là hai đại diện. Mâu thuẫn của hai nước này, chính là đại diện cho mâu thuẫn của hai phe Xã hội chủ nghĩa (Liên Xô khởi xướng) với Tư bản chủ nghĩa (Mỹ đứng đầu).

    Chiến tranh lạnh đã có tác động toàn diện đến tất cả mọi mặt ở đời sống chính trị – kinh tế – văn hóa – xã hội của các quốc gia, trước khi mà các nước này tự xác định cho mình con đường đi dựa trên định hình về ý thức hệ. Chiến tranh lạnh kết thúc, cũng chứng kiến sự sụp đổ phe Xã hội chủ nghĩa. Đó là toàn bộ những gì các bạn cần hiểu về chiến tranh lạnh là gì? Tiếp theo nội dung của bài viết, sẽ là thông tin về nguyên nhân và hậu quả của cuộc chiến này.

    Nguyên nhân của chiến tranh lạnh

    Nguyên nhân chính dẫn tới cuộc chiến tranh lạnh là vì sự đối lập mục tiêu, chiến lược xây dựng thế giới của hai nước Mỹ với Liên Xô. Trong đó:

    Mỹ có chủ chương chính: Chống phá lại Liên Xô với phe Xã hội chủ nghĩa, chống lại phong trào cách mạng để mưu đồ sẽ là bá chủ thế giới; Mỹ xác định và lo ngại trước sự ảnh hưởng của Liên Xô cùng với các nước Đông Âu đến cục diện thế giới khi chứng kiến thắng lợi của Trung Quốc và chủ nghĩa xã hội đã trở thành một hệ thống của thế giới từ Đông Âu sang tới Đông Á; sau khi Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc Mỹ là nước tư bản giàu mạnh nhất, quốc gia này nắm độc quyền về vũ khí nguyên tử nên đã cho mình có quyền được phép lãnh đạo thế giới.

    Chủ chương của Liên Xô: là duy trì hòa bình – an ninh thế giới và ra sức bảo vệ thành quả mà chủ nghĩa xã hội đã có được, cũng như đẩy mạnh về phong trào cách mạng của các dân tộc trên thế giới.

    Chính sự đối lập này, đã là nguyên nhân để cuộc chiến tranh lạnh diễn ra. Trước sự đối lập về tư tưởng, cách thức xây dựng nền hòa bình thế giới giữa hai phe cũng có những biểu hiện cơ bản riêng.

    Phe Mỹ và những nước đế quốc: ráo riết chạy đua vũ trang, thực hiện tăng cường ngân sách cho quân sự cũng như thành lập ra các khối quân sự và các căn cứ quân sự để bao quanh lấy Liên Xô cùng với những nước xã hội chủ nghĩa; Đẩy mạnh gây ra các cuộc chiến tranh để đàn áp vào phong trào giải phóng dân tộc ở trên thế giới mà chiến tranh tại Việt Nam, với Triều Tiên chính là điển hình.

    Phe Liên Xô cùng các nước xã hội chủ nghĩa: buộc phải tăng cường về ngân sách quốc phòng, cũng như củng cố về khả năng phòng thủ của mình.

    Hậu quả của chiến tranh lạnh

    Thứ nhất, chiến tranh lạnh đã khiến cho thế giới luôn phải sống trong tình trạng căng thẳng, có lúc nó còn cho thấy thế giới đang phải đứng trước nguy cơ sẽ bùng nổ ra cuộc chiến tranh thế giới mới.

    Thứ hai, để sản xuất ra vũ khí hủy diệt, việc xây dựng lên hàng ngàn căn cứ quân sự các nước đã phải chi ra lượng tiền khổng lồ cùng với sức người. Các nước của hai phe thì phung phí tiền của, nhân loại thì lại phải gánh chịu biết bao khó khăn, khổ cực vì đói nghèo, thiên tai, dịch bệnh, vấn đề về môi trường,…

    Chiến tranh lạnh kết thúc, khi cả đôi bên đã quá mệt mỏi và tiêu tốn nhiều tiền của. Trong đó, chứng kiến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở các Liên Xô và các nước Đông Âu. Cục diện thế giới mới được hình thành, kéo theo đó là sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới từ chính trị, kinh tế đến văn hóa xã hội.

    Từ thông tin bài viết, các bạn đã hiểu chiến tranh lạnh là gì? Cũng như những kiến thức cơ bản nhất về nguyên nhân, hậu quả của cuộc chiến tranh này rồi chứ ạ. Một cuộc chiến kéo dài trên 40 năm, thành quả về sự phát triển vũ khí hạt nhân thì ít mà hậu quả về nền kinh tế, xã hội cùng sự khổ cực của đời sống người nhân thì nhiều. Nhưng sự kết thúc của cuộc chiến tranh này, đã mở ra một trang mới cho toàn thế giới về sự phát triển chung. Hy vọng, nội dung bài viết sẽ giúp cho bạn đọc củng cố thêm cho mình nền kiến thức về lịch sử thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Nguyên Nhân Kinh Nguyệt Không Đều Ở Nữ Giới Cần Biết
  • Không Có Tim Thai Và Những Nguyên Nhân Phổ Biến Mẹ Cần Biết
  • Nguyên Nhân Không Có Tim Thai Và Cách Giải Quyết
  • Nguyên Nhân Cái Chết Của Steve Jobs
  • Hé Lộ Nguyên Nhân Khiến Song Hye Kyo Và Song Joong Ki Ly Hôn
  • Bài 9. Quan Hệ Quốc Tế Trong Và Sau Thời Kì Chiến Tranh Lạnh Sbt Sử Lớp 12: Nguyên Nhân Dẫn Đến Sự Đối Đầu Xô

    --- Bài mới hơn ---

  • Vàng Da Sơ Sinh: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Em Bé Sơ Sinh Bị Vàng Da Có Nguy Hiểm Không
  • Bé 1 Tuổi Bị Vàng Da Nguyên Nhân Do Đâu Và Bao Lâu Thì Hết?
  • Bé Bị Vàng Da: Nguyên Nhân, Triệu Chứng & Trẻ Nên Ăn Gì Để Chữa Bệnh?
  • Trẻ Sơ Sinh Bị Vàng Da Bệnh Lý & Sinh Lý Và Cách Điều Trị
  • Bài 9: Quan hệ quốc tế trong và sau thời kì chiến tranh lạnh – SBT Sử lớp 12: Giải bài 1,2,3,4, 5,6, bài tập từ trang 38 – 41 Sách Bài Tập Sử lớp 12. Hãy điền chữ Đ vào ô □ trước câu đúng hoặc chữ S vào ô □ trước câu sai.; Nguyên nhân dẫn đến sự đối đầu Xô- Mĩ là gì ?

    Bài 1: 1. Sự kiện khởi đầu gây nên cuộc Chiến tranh lạnh là: Hãy khoanh tròn chữ cái trước ý đúng.

    A. sự ra đời “Học thuyết Truman”.

    B. sự ra đời “Kế hoạch Mácsan”.

    C. sự ra đời của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO).

    2. Nguyên nhân dẫn đến sự đối đầu Xô- Mĩ là:

    D. sự ra đời của Tổ chức Hiệp ước Vácsava.

    A. Mĩ nắm độc quyền về vũ khí nguyên tử.

    B. hai nước đối lập nhau về mục tiêu và chiến lưọc

    C. Liên Xô làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của Mĩ

    3. Tổ chức Hiệp ước Vácsava là:

    D. hai nước đều muốn độc quyền lãnh đạo thế giới.

    A. tổ chức hợp tác kinh tế của các nước )XHCN ở châu Âu.

    B. tổ chức liên minh phòng thủ về quân sự của các nước XHCN ở châu Âu

    C. tổ chức liên minh chính trị của các nước XHCN ở cháu Âu.

    4. Chiến tranh Triều Tiên diễn ra trong những năm:

    D. tổ chức liên minh về chính.trị và quản sự của các nước XHCN ở châu Âu.

    A. 1949- 1953. C. 1951 – 1954.

    5. Vĩ tuyến 17 trở thành giới tuyến quân sự tạm thời chia cắt hai miền Nam – Bắc Việt Nam được đưa ra tại :

    B. 1950- 1953. D. 1950- 1954.

    A. Hội nghị lanta.

    B. Hội nghị Pốtxđam.

    C. Hội nghị Mátxcơva.

    6. Xu thế hoà bình và hợp tác bắt đầu vào khoảng thời gian

    D. Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương.

    A. nửa đầu nhũng năm 70 của thế kỉ XX.

    B. nửa đầu những năm 80 của thế kỉ XX.

    C. nửa sau những năm 80 của thế kỉ XX

    7. Ý không phản ánh đúng hậu quả của Chiến tranh lạnh là:

    D. thập kỉ 90 của thế kỉ XX.

    A. thế giới luôn ở trong tình trạng căng thẳng, có lúc đứng trước nguy cơ bùng nổ cuộc chiến tranh thế giới mới.

    B. mối quan hệ đóng minh chống phát xít bị phá vỡ, thay vào đó là tình trạng đối đầu giữa hai cường quốc Xô – Mĩ.

    C. các nước phải chi phí một khối lượng khổng lổ vế tiến của và sức người để chạy đua vũ trang.

    8. Hai vị nguyên thủ đã cùng tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh là:

    D. chủ nghĩa khủng bố xuất hiện, đe doạ an ninh của các quốc gia.

    1. Chọn đáp án A

    2. Chọn đáp án B

    3. Chọn đáp án D

    4. Chọn đáp án B

    5. Chọn đáp án D

    6. Chọn đáp án A

    7. Chọn đáp án D

    Bài 2: Hãy điền chữ Đ vào ô □ trước câu đúng hoặc chữ S vào ô □ trước câu sai.

    8. Chọn đáp án D

    1. Tổng thống Mĩ Truman đế nghị viện trợ khẩn cấp 400 triệu USD cho Hi Lạp và Thổ Nhĩ Kì để biến hai nước này thành căn cứ tiền phương chống lại Liên Xô và các nước Đông Âu.

    3. Tháng 12 – 1989, hai cường quốc Mĩ – Xô tuyến bố chấm dứt tình trạng chiến tranh lạnh.

    1. Đ: Tổng thống Mĩ Truman đế nghị viện trợ khẩn cấp 400 triệu USD cho Hi Lạp và Thổ Nhĩ Kì để biến hai nước này thành căn cứ tiền phương chống lại Liên Xô và các nước Đông Âu.

    3. Đ: Tháng 12 – 1989, hai cường quốc Mĩ – Xô tuyến bố chấm dứt tình trạng chiến tranh lạnh.

    1. Ngày 9-11 -1972,

    2. Tháng 8- 1975,

    3.Năm 1985,

    4.Năm 1989,

    5.Ngày 28-6- 1991,

    6.Ngày 1-7-1991,

    a) Định ước Henxinki đuợc kí kết.

    b) Mĩ và Liên Xô tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh.

    c) Hội đồng tương trợ kinh tế tuyên bố giải thể.

    d) Tổ chức Hiệp ước Vácsava chấm dứt hoạt động.

    e)Hiệp định về những cơ sở của quan hệ giữa Đông Đức và Tây Đức.

    – Chiến tranh lạnh đã gây ra những hậu quả hết sức nặng nề :

    + Thế giới luôn ở trong tình trạng căng thẳng, có lúc đứng trước nguy cơ bùng nổ chiến tranh thế giới mới.

    + Các cường quốc đó chi một khối lượng khổng lồ tiền của và sức người để sản xuất các loại vũ khí huỷ diệt, xây dựng hàng ngàn căn cứ quân sự, trong khi nhân loại vẫn phải chịu bao khó khăn do đói nghèo, dịch bệnh, thiên tai…

    + Loài người phải chịu khó khăn do nghèo đói, ô nhiễm môi trường, bệnh tật gây ra…

    – Từ 1989 – 1991, chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu tan rã.

    – Ngày 28/6/1991, khối SEV giải thể

    – 01/07/1991, Tổ chức Varsava chấm dứt hoạt động.

    – Trật tự “hai cực” Yalta sụp đổ, phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô ở châu Âu và châu Á mất đi, ảnh hưởng của Mỹ cũng bị thu hẹp ở nhiều nơi.

    – Từ 1991, tình hình thế giới có nhiều thay đổi to lớn và phức tạp:

    + Trật tự hai cực I-an-ta sụp đổ.Một trật tự thế giới đang dần dần hình thành theo xu hướng đa cực.

    + Các quốc gia tập trung phát triển kinh tế

    + Mỹ đang ra sức thiết lập một trật tự thế giới “đơn cực” để làm bá chủ thế giới,nhưng không thực hiện được.

    + Sau “chiến tranh lạnh”, nhiều khu vực thế giới không ổn định, nội chiến, xung đột quân sự kéo dài (Ban-căng, châu Phi, Trung Á).

    – Sang thế kỷ XXI, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển đang diễn ra thì vụ khủng bố 11.09.2001 ở nước Mỹ đã đặt các quốc gia, dân tộc đứng trước những thách thức của chủ nghĩa khủng bố với những nguy cơ khó lường, gây ra những tác động to lớn, phức tạp với tình hình chính trị thế giới và trong quan hệ quốc tế.

    – Ngày nay, các quốc gia dân tộc vừa có những thời cơ phát triển thuận lợi, đồng thời vừa phải đối mặt với những thách thức vô cùng gay gắt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 11. Tây Âu Thời Hậu Kì Trung Đại
  • Bộ Gtvt Công Bố Nguyên Nhân 3 Ngày 4 Vụ Tai Nạn Đường Sắt
  • Nguyên Nhân Dẫn Đến Tai Nạn Giao Thông Là Gì? Có Mấy Nguyên Nhân Nguyên Nhân Là Phổ Biến Nhất?
  • Bài 9. Pháp Luật Với Sự Phát Triển Bền Vững Của Đất Nước Bai 4Cd11 Soan Moi Docx
  • Phương Án Nào Dưới Đây Lí Giải Nguyên Nhân Dẫn Đến Cạnh Tranh
  • Chiến Tranh Lạnh Trong Lịch Sử Xung Đột Thế Kỷ 20 (Phần 2)

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Câu Hỏi Trắc Nghiệm Chủ Đề Các Nước Đông Nam Á
  • Các Nguyên Nhân Gây Tình Trạng Khó Thở
  • Nguyên Nhân Gây Khó Thở Khi Ngủ Và Cách Khắc Phục
  • Tìm Nguyên Nhân, Giải Pháp Khắc Phục Lũ Lụt Ở Miền Trung
  • Khái Niệm Lạm Phát Là Gì? Nguyên Nhân Gây Ra Lạm Phát
  • Khrushchev quyết định cần đẩy Mỹ ra khỏi Berlin và đạt được một dàn xếp cuối cùng đối với Chiến tranh thế giới lần thứ hai nhằm giúp Liên Xô củng cố sự kiểm soát của mình ở Đông Âu và bắt đầu tận dụng lợi thế của quá trình phi thực dân hóa ở Thế giới thứ ba. Nhưng những nỗ lực và cách Khrushchev đàm phán với Mỹ lại khiến người ta liên tưởng tới cách hoàng đế nước Đức tìm cách buộc Anh đàm phán những năm trước 1914, đầy hăm dọa và lừa dối. Những nỗ lực đòi Mỹ chấp nhận các điều khoản của Liên Xô đã phản tác dụng. Khrushchev đã thất bại trong cuộc khủng hoảng 1958 -1961 ở Berlin và cả trong cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba năm 1962.

    Như chúng ta sẽ thấy ở phần sau, Liên Xô và Mỹ đã tiến quá sát tới bờ vực của chiến tranh hạt nhân trong cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba đến mức hai bên phải điều chỉnh mối quan hệ song phương sang một giai đoạn mới. Từ 1963 đến 1978, mối quan hệ đã bớt căng thẳng và hai bên dần dần đi vào thời kỳ hòa dịu. Sau khủng hoảng tên lửa ở Cuba, các cuộc đàm phán kiểm soát vũ khí đã dẫn tới sự ra đời Hiệp ước cấm thử vũ khí nguyên tử hạn chế nhằm ngăn ngừa các thử nghiệm hạt nhân trong khí quyển vào năm 1963 và Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí nguyên tử (NPT) vào năm 1968. Thương mại song phương bắt đầu dần phát triển, tình trạng hòa dịu dường như được mở rộng. Chiến tranh Việt Nam cũng đã khiến Mỹ chú ý nhiều hơn tới mối đe dọa đến từ chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc.

    Từ 1969 đến 1974, chính quyền Nixon đã sử dụng tình trạng hòa dịu như một phương tiện nhằm theo đuổi các mục tiêu của chính sách ngăn chặn. Sau khủng hoảng tên lửa Cuba, Liên Xô khởi động việc phát triển vũ trang và đạt được mức cân bằng về vũ khí nguyên tử với Mỹ. Chiến tranh Việt Nam đã dẫn tới tình trạng thất vọng của công luận Mỹ về chính sách can thiệp trong Chiến tranh lạnh. Chiến lược của Nixon gồm 4 điểm chính: (1) thương lượng một hiệp ước kiểm soát vũ khí chiến lược với Liên Xô để chốt khối lượng vũ khí nguyên tử của hai nước ở mức tương đối cân bằng; (2) khai thông quan hệ ngoại giao với Trung Quốc và từ đó tạo ra thế cân bằng quyền lực ba bên ở Châu Á (chứ không đẩy Liên Xô và Trung Quốc tới chỗ liên minh với nhau); (3) tăng cường thương mại từ đó sử dụng chiến lược “củ cà rốt” bên cạnh “cây gậy” trong mối quan hệ với Liên Xô; và (4) sử dụng các “kết nối” để gắn kết những phần khác nhau trong chính sách. Đỉnh cao của giai đoạn hòa dịu là những năm 1972-1973, nhưng không kéo dài được bao lâu.

    Chiến tranh Trung Đông 1973 và sự giúp đỡ của Liên Xô cho phong trào chống phương Tây ở Châu Phi dẫn tới cảm giác Mỹ bị lừa dối. Môi trường chính trị trong nước của Mỹ cũng góp phần làm tình trạng hòa dịu suy yếu khi những nhà lập pháp Mỹ như Thượng Nghị sĩ Henry Jackson cố gắng gắn vấn đề thương mại với vấn đề nhân quyền ở Liên Xô, như vấn đề Liên Xô đối xử với người Do Thái. Năm 1975 khi Bồ Đào Nha trao trả độc lập cho Angola và Mozambique, Liên Xô đã giúp đưa quân Cuba sang các nước này nhằm duy trì các chính phủ thân cộng ở đây. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống 1976, Gerald Ford không bao giờ sử dụng từ “hòa dịu.” Người kế nhiệm ông là Jimmy Carter cố gắng tiếp tục kéo dài thời kỳ hòa dịu với Liên Xô trong suốt 2 năm đầu nhiệm kì, nhưng Liên Xô và Cuba lại can thiệp vào cuộc nội chiến ở Ethiopia, đồng thời Liên Xô tiếp tục phát triển sức mạnh quân sự, và vào tháng 12/1979 Liên Xô giáng một đòn kết thúc thời kỳ hòa dịu bằng cách đưa quân vào Afghanistan.

    Nhưng tại sao nó lại kết thúc? Nhiều người lập luận rằng chính chính sách ngăn chặn đã phát huy tác dụng. Ngay sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc George Kennan đã cho rằng nếu Mỹ có thể ngăn cản được Liên Xô bành trướng thế lực thì Liên Xô sẽ không thể nuôi dưỡng được hệ tư tưởng của mình và chủ nghĩa cộng sản sẽ dần dần suy yếu. Các tư tưởng mới rồi sẽ xuất hiện, người ta sẽ thấy rằng chủ nghĩa cộng sản không phải là trào lưu của tương lai và lịch sử sẽ không tiếp tục đứng về phía họ. Trong một chừng mực nào đó, Kennan đã đúng. Sức mạnh quân sự của Mỹ giúp ngăn chặn Liên Xô bành trướng trong khi quyền lực mềm về văn hóa, giá trị và tư tưởng của Mỹ đã làm xói mòn hệ tư tưởng cộng sản. Nhưng câu hỏi về thời điểm vẫn còn đó, tại sao lại là năm 1989? Tại sao cuộc chiến lại kéo dài đến bốn thập kỷ? Tại sao lại tốn nhiều thời gian để kết thúc như thế? Hay tại sao nó không kéo dài thêm 10 năm nữa? Có lẽ chính sách ngăn chặn đã phát huy tác dụng nhưng điều đó vẫn chưa đủ để giải đáp tất cả các câu hỏi trên.

    Một cách giải thích khác đi theo hướng “sự bành trướng quá mức của các đế chế.” Nhà sử học Paul Kennedy của Đại học Yale lập luận rằng các đế chế đã bành trướng quá mức cho đến khi sự bành trướng này làm xói mòn sức mạnh của nội tại của chính họ. Liên Xô là trường hợp như vậy khi đầu tư hơn ¼ nền kinh tế của mình cho hoạt động quốc phòng và ngoại giao (trong khi Mỹ chỉ đầu tư vào đó 6% vào những năm 1980). Nhưng Kennedy cũng nói rằng không một đế chế đa quốc gia bành trướng quá mức nào trong lịch sử từng tự sụp đổ cho đến khi bị đánh bại hay suy yếu trong một cuộc chiến tranh lớn giữa các cường quốc. Một cách giải thích thứ ba là việc Mỹ xây dựng lực lượng quân sự vào thập niên 1980 đã buộc Liên Xô phải đầu hàng trong Chiến tranh lạnh. Ở chừng mực nào đó đúng là những chính sách của Tổng thống R. Reagan đã khiến Liên Xô phải dàn trải sức mạnh quá mức, tuy nhiên đây cũng chưa phải là câu trả lời đầy đủ. Suy cho cùng thì những giai đoạn Mỹ phát triển sức mạnh quân sự trước kia đã không đem lại tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến như thế. Vậy tại sao lại là 1989? Chúng ta phải đi tìm những nguyên nhân sâu xa hơn bởi vì nếu cho rằng chính sách và luận điệu của người Mỹ vào những năm 1980 là nguyên nhân chính dẫn đến sự suy yếu của Liên Xô có lẽ chẳng khác nào nói một con gà trống luôn cho rằng chính tiếng gáy của nó đã gọi mặt trời thức giấc, một ví dụ khác về sai lầm trong việc đưa ra các lập luận nhân quả.

    Chính sách đối ngoại của Gorbachev, cái mà ông gọi là “tư duy mới,” cũng đã góp phần dẫn đến việc kết thúc Chiến tranh lạnh. Chính sách này có hai yếu tố rất quan trọng. Một là việc thay đổi tư tưởng mà các nhà kiến tạo nhấn mạnh, như về khái niệm an ninh chung vốn có thể hóa giải được thế tiến thoái lưỡng nan trong an ninh bằng cách cùng nhau tham gia đảm bảo an ninh. Gorbachev và những phụ tá của ông đã nói rằng trong một thế giới nơi mà sự phụ thuộc lẫn nhau đang gia tăng thì an ninh không phải là một trò chơi có tổng bằng không và tất cả có thể đều được lợi thông qua hợp tác. Sự tồn tại của các mối đe dọa hạt nhân có nghĩa là cả thế giới có nguy cơ bị hủy diệt nếu sự cạnh tranh vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Thay vì cố gắng chạy đua có được càng nhiều vũ khí nguyên tử càng tốt, Gorbachev đã cho ra đời học thuyết “vừa đủ,” theo đó chỉ cần một số lượng vũ khí nguyên tử tối thiểu nhằm tự vệ. Những khía cạnh khác trong sự thay đổi chính sách đối ngoại của Gorbachev là quan điểm của ông cho rằng chủ nghĩa bành trướng là có hại nhiều hơn có lợi. Việc Liên Xô kiểm soát Đông Âu tốn kém quá nhiều mà đem lại quá ít lợi ích, và việc xâm lược Afghanistan cũng là một thảm họa đắt giá. Áp đặt một hệ thống theo chủ nghĩa cộng sản lên các quốc gia láng giềng nhằm đảm bảo an ninh cho Liên Xô không còn là một việc làm cần thiết nữa.

    Nhưng một câu hỏi vẫn chưa được giải đáp, “Tại sao lại là năm 1989? Tại sao lại dưới thời Gorbachev?” Trong một chừng mực nào đó, Gorbachev là một tai nạn của lịch sử. Vào đầu những năm 1980, ba nhà lãnh đạo lão thành của Liên Xô lần lượt qua đời. Chỉ tới năm 1985 thì thế hệ trẻ hơn, những người trưởng thành dưới thời của Khrushchev, thường được gọi là “thế hệ 1956,” mới nắm được cơ hội của mình. Nhưng nếu các thành viên trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô chọn một người có chủ trương cứng rắn chứ không phải Gorbachev vào năm 1985 thì có thể đất nước Liên Xô đang suy yếu kia có thể còn tiếp tục tồn tại thêm 10 năm nữa. Liên Xô sẽ không sụp đổ nhanh chóng đến vậy. Cá tính của Gorbachev đã góp phần lý giải vấn đề thời gian.

    Đối với các nguyên nhân gián tiếp, Kennan và Kennedy đều có thể được nhắc tới ở đây. Hai nguyên nhân gián tiếp quan trọng đó là quyền lực mềm của các tư tưởng tự do, được nhấn mạnh trong thuyết kiến tạo, và sự dàn trải sức mạnh quá mức của Liên Xô như lập luận của các nhà hiện thực. Các tư tưởng về tự do dân chủ và tư duy mới mà Gorbachev vận dụng là các tư tưởng của phương Tây mà thế hệ 1956 đã đón nhận. Một trong những kiến trúc sư chủ chốt của perestroika và glasnost, Aleksandr Yakovlev, từng là một sinh viên tham gia chương trình trao đổi ở Mỹ và đã bị các học thuyết về chủ nghĩa đa nguyên kiểu Mỹ cuốn hút. Sự phát triển của các mối liên lạc và giao tiếp xuyên quốc gia đã giúp xuyên thủng bức mành sắt và giúp văn hóa đại chúng phương Tây cùng các tư tưởng tự do lan tỏa. Sự phát triển kinh tế của các nước phương Tây cũng mang lại sức lôi cuốn lớn. Trong khi sức mạnh quân sự giúp ngăn chặn xu hướng bành trướng của Liên Xô thì chính sức mạnh mềm đã làm xói mòn hệ tư tưởng cộng sản đằng sau bức mành sắt. Khi sụp đổ vào năm 1989, Bức tường Berlin không phải bị tác động bởi đạn pháo, mà bởi những nhát búa và những chiếc máy ủi của chính những người dân.

    Về việc dàn trải sức mạnh quá mức, ngân sách khổng lồ dành cho quốc phòng đã bắt đầu ảnh hưởng lên các mặt khác của đời sống xã hội Liên Xô. Hệ thống chăm sóc y tế suy giảm và tỉ lệ tử vong ở Liên Xô đã gia tăng (Liên Xô là nước phát triển duy nhất xảy ra tình trạng này). Cuối cùng, ngay cả quân đội cũng nhận ra gánh nặng bắt nguồn từ việc dàn trải sức mạnh quá mức. Năm 1984, nguyên soái Ogarkov, tổng tham mưu trưởng quân đội Liên Xô, nhận ra rằng Liên Xô cần một nền tảng kinh tế dân sự tốt hơn và được tiếp cận nhiều hơn với công nghệ và thương mại của phương Tây. Nhưng trong suốt thời kỳ trì trệ đó, những nhà lãnh đạo bảo thủ đã không sẵn lòng lắng nghe và Ogarkov đã bị buộc phải rời khỏi vị trí của mình.

    Do đó, những nguyên nhân gián tiếp nêu trên là quan trọng, mặc dù rốt cuộc chúng ta vẫn phải xem xét các nguyên nhân sâu xa, bao gồm sự suy giảm ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa (giải thích theo thuyết kiến tạo) và sự thất bại của nền kinh tế Liên Xô (giải thích theo thuyết hiện thực). Việc mất uy tín lãnh đạo của chủ nghĩa cộng sản trong thời kỳ hậu Chiến tranh thế giới lần thứ hai là khá nghiêm trọng. Ở giai đoạn đầu tiên, ngay sau năm 1945, chủ nghĩa cộng sản thực sự có sức hút rộng rãi. Nhiều chiến sĩ cộng sản đã dẫn dắt phong trào kháng chiến chống chủ nghĩa phát xít ở Châu Âu, và nhiều người tin rằng chủ nghĩa cộng sản là trào lưu của tương lai. Liên Xô đã tạo ra được rất nhiều quyền lực mềm từ ý thức hệ cộng sản nhưng họ đã nhanh chóng lãng phí điều này. Quyền lực mềm của Liên Xô bị suy giảm dần dần bởi quá trình phi-Stalin-hóa vào năm 1956, năm những sai lầm của ông được phơi bày; bởi việc đàn áp ở Hungary năm 1956, ở Tiệp Khắc năm 1968 và ở Ba Lan năm 1981; cũng như bởi sự gia tăng truyền bá xuyên quốc gia các lý tưởng tự do. Mặc dù trên lý thuyết thì chủ nghĩa cộng sản hướng tới việc thiết lập bình đẳng giai cấp, nhưng những người kế thừa tư tưởng của Lênin lại nuôi dưỡng quyền lực trong nước thông qua hệ thống an ninh quốc gia tàn khốc với những trại cải tạo, trại lao động, kiểm duyệt gắt gao và sử dụng những người chỉ điểm. Mạng lưới kiểm soát hà khắc đã khiến người dân Liên Xô mất niềm tin vào hệ thống chính quyền và điều này được thể hiện qua dòng chảy văn chương phản kháng ngầm cũng như sự chống đối gia tăng của các nhà hoạt động vì nhân quyền.

    Bên cạnh đó, kinh tế Liên Xô cũng đã suy giảm, phản ánh khả năng ngày càng hạn chế của hệ thống kế hoạch tập trung trong việc đối phó với những thay đổi của nền kinh tế thế giới. Stalin đã tạo ra một hệ thống chỉ đạo kinh tế tập trung hóa trong đó nhấn mạnh nền công nghiệp nặng. Hệ thống này rất thiếu linh hoạt và kém hiệu quả, đồng thời có xu hướng níu giữ lao động chứ không chuyển lao động sang những ngành công nghiệp dịch vụ đang rất phát triển. Như nhà kinh tế học Joseph Schumpeter đã chỉ ra, chủ nghĩa tư bản mang tính sáng tạo cao, luôn phản ứng linh hoạt với các làn sóng lớn của sự thay đổi về kỹ thuật. Vào cuối thế kỷ 20, thay đổi cơ bản về kỹ thuật của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba chính là vai trò ngày càng gia tăng của thông tin với tư cách là một nguồn lực khan hiếm nhất trong nền kinh tế. Hệ thống của Liên Xô rất yếu kém trong việc xử lý thông tin. Tính bí mật của hệ thống chính trị cũng có nghĩa là dòng chảy thông tin bị ngưng trệ và chậm chạp.

    Trái ngược với cách mà hầu hết lịch sử được ghi lại, các nhà sử học nghiên cứu về Chiến tranh lạnh cho tới cuối những những năm 1980 vẫn thường xuyên chạy theo sự kiện chứ không phải ngồi lại để miêu tả lại sự kiện sau khi nó đã hoàn thành. Chúng ta không có cách nào có thể biết được kết quả cuối cùng, và chúng ta cũng chỉ có thể xác định được động cơ của một số chứ không phải tất cả các bên tham gia chủ chốt… Giờ thì chúng ta mới biết. Hay ít nhất là giờ chúng ta biết được nhiều hơn so với trước kia. Chúng ta sẽ không bao giờ biết được toàn bộ câu chuyện: chúng ta không có được câu chuyện đầy đủ cho bất kỳ sự kiện lịch sử nào, cho dù sự kiện đó đã diễn ra cách đây bao lâu. Các sử gia cũng chỉ có thể khôi phục lại những gì đã thực sự diễn ra trong quá khứ tương tự như những bản đồ miêu tả lại địa hình trên thực tế. Nhưng chúng ta có thể diễn giải cho quá khứ, giống như những nhà kỹ thuật bản đồ vẽ lại địa hình một cách tương đối. Và nhờ sự kết thúc của Chiến tranh lạnh cùng với sự giải mật một số liệu của Liên Xô cũ, Đông Âu và Trung Quốc chúng ta mới có thể kéo những mô tả lịch sử của chúng ta xích lại gần hơn với những gì diễn ra trên thực tế. – John L. Gaddis, “Lịch sử mới về Chiến tranh lạnh”

    Vũ khí nguyên tử đã thay đổi bản chất chiến tranh nhưng không thay đổi cách tổ chức thế giới. Một thế giới vô chính phủ sẽ tiếp tục tồn tại trong kỷ nguyên hạt nhân. Năm 1946, khi Mỹ đưa ra kế hoạch Baruch nhằm thiết lập việc kiểm soát vũ khí nguyên tử quốc tế, Liên Xô xem đó như một âm mưu khác của Mỹ. Sau thất bại này, Albert Einstein phàn nàn rằng mọi thứ đã thay đổi ngoại trừ tư duy của chúng ta. Có lẽ trong giai thoại này người ta cho rằng ông muốn nói “vật lý đơn giản hơn chính trị.”

    Có cả lý do quân sự và chính trị giải thích cho việc tại sao vũ khí nguyên tử không gây tác động mạnh ngay sau năm 1945. Những loại vũ khí nguyên tử nguyên sơ không có sức tàn phá nhiều hơn so với những vũ khí truyền thống nguy hiểm nhất được sử dụng hàng loạt. Trận oanh tạc bom lửa thành phố Dresden của Đức năm 1945 khiến nhiều người thiệt mạng hơn so với vụ đánh bom nguyên tử ở Hiroshima. Dù một vũ khí nguyên tử có thể có tác dụng bằng với cả một đợt không kích bằng bom thông thường, nhưng thời gian đầu Mỹ không có nhiều vũ khí nguyên tử đến vậy. Mỹ chỉ có hai quả bom nguyên tử vào năm 1947 và 50 quả vào năm 1948. Nhiều nhà hoạch định chiến lược quân sự nghĩ rằng bom nguyên tử không hoàn toàn khác biệt mà chỉ là một sự nâng cấp sức công phá của vũ khí thông thường mà thôi.

    Sự đối đầu Mỹ – Xô nổi lên cũng làm chậm thay đổi tư duy chính trị. Liên Xô không tin tưởng Liên Hiệp Quốc vì tổ chức này phụ thuộc quá nhiều vào Mỹ. Mỹ cũng không thể ép buộc Liên Xô hợp tác vì Châu Âu đã bị biến thành con tin giữa Mỹ và Liên Xô. Nếu Mỹ đe dọa tấn công hạt nhân, Liên Xô có thể đe dọa xâm lược Châu Âu bằng các lực lượng thông thường. Kết quả là một sự bế tắc. Những tác động vật lý mang tính cách mạng của công nghệ hạt nhân ban đầu không đủ để thay đổi cách các quốc gia hành xử trong một hệ thống vô chính phủ.

    Giai đoạn thứ hai của cách mạng hạt nhân diễn ra năm 1952 khi bom hydro được thử nghiệm lần đầu tiên. Bom hydro (hay còn gọi là bom H) sử dụng năng lượng nhiệt hạch được tạo ra khi các nguyên tử kết hợp lại với nhau, thay vì tách ra khỏi nhau như trong bom phân hạch thời kỳ trước đó. Bom H làm gia tăng mạnh mẽ sức phá hủy của một vũ khí đơn lẻ. Vụ nổ nhân tạo lớn nhất trên bề mặt trái đất diễn ra vào năm 1961 khi Liên Xô cho nổ một quả bom hydro 60 megaton, gấp 20 lần tất cả sức mạnh thuốc nổ được dùng trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

    Trớ trêu là thay đổi quan trọng hơn đi kèm với sự phát triển của bom H là khả năng thu nhỏ. Công nghệ nhiệt hạch giúp bom H có thể chứa đựng sức mạnh tàn phá khủng khiếp trong những thiết bị kích thước rất nhỏ. Những hệ thống chuyên chở bom nguyên tử thời kỳ sơ khai phải tăng kích thước và đòi hỏi nhiều không gian hơn khi những quả bom cũng trở nên lớn hơn. Máy bay ném bom B-36 là một máy bay lớn gồm tám động cơ cùng một khoang lớn để chứa chỉ một quả bom. Ngược lại, một quả bom H có cùng khả năng phá hủy có kích thước nhỏ hơn nhiều. Sau khi một quả bom H được gắn vào đầu tên lửa đạn đạo, chiến tranh hạt nhân xuyên lục địa có thể diễn ra trong vòng chỉ 30 phút so với 8 giờ để một máy bay B-36 có thể bay cùng khoảng cách như vậy.

    Việc gia tăng sức phá hủy của bom H cũng ảnh hưởng sâu sắc tới hệ quả của chiến tranh hạt nhân. Giờ đây chiến tranh sẽ không còn được coi chỉ là việc mở rộng chính trị bằng các phương tiện khác. Karl von Clausewitz (1780-1831), một vị tướng và một chiến lược gia quân sự người Áo thế kỷ 19, nói rằng chiến tranh là một hoạt động chính trị và do đó ông nhấn mạnh chiến tranh tận diệt là một điều ngớ ngẩn. Sức tàn phá khủng khiếp của vũ khí nguyên tử có nghĩa là giờ đây phương tiện quân sự đã trở nên quá chênh lệch so với tất cả mục tiêu chính trị mà một đất nước có thể theo đuổi. Sự chênh lệch giữa mục tiêu và phương tiện khiến người ta không dám sử dụng vũ khí nguyên tử, thứ vũ khí “tối thượng,” trong phần lớn các tình huống. Vũ khí nguyên tử đã không được sử dụng kể từ năm 1945, cho nên đã tồn tại quan điểm xem vũ khí nguyên tử chỉ là để phô trương sức mạnh mà thôi. Thực tế vũ khí nguyên tử quá mạnh, quá khủng khiếp.

    Bom H đã gây nên năm ảnh hưởng chính trị quan trọng dù nó không thể biến đổi tình trạng vô chính phủ mà trong đó thế giới tồn tại. Trước hết, nó làm hồi sinh khái niệm chiến tranh hạn chế. Nửa đầu thế kỷ 20 chứng kiến sự thay đổi từ chiến tranh giới hạn của thế kỷ 19 sang hai cuộc chiến tranh thế giới, những cuộc chiến đã cướp đi mạng sống hàng chục triệu người. Vào giữa thế kỷ, các nhà phân tích xem thế kỷ 20 là “thế kỷ của chiến tranh toàn diện.” Nhưng chiến tranh trong nửa sau thế kỷ 20 lại giống các cuộc chiến tranh cũ của thế kỷ 18 và 19 hơn. Ví dụ, các cuộc chiến tranh ở Việt Nam và Triều Tiên khiến hơn 55.000 người Mỹ chết nhưng các cuộc chiến này vẫn là những cuộc chiến giới hạn về phạm vi và quy mô. Ở Việt Nam và Afghanistan, Mỹ và Liên Xô chấp nhận thất bại mà không sử dụng vũ khí nguyên tử.

    Thứ hai, các cuộc khủng hoảng thay thế chiến tranh trung tâm trở thành “khoảnh khắc sự thật.” Trong quá khứ, chiến tranh là lúc để lật ngửa mọi lá bài. Nhưng trong kỷ nguyên nguyên tử, chiến tranh gây nên sức tàn phá quá lớn và những khoảnh khắc sự thật kiểu cũ trở nên quá nguy hiểm. Trong suốt Chiến trang lạnh, khủng hoảng Berlin, khủng hoảng tên lửa Cuba và khủng hoảng Trung Đông vào đầu những năm 1970 đóng vai trò tương tự như chiến tranh, là khoảng thời gian chứng kiến tương quan lực lượng thực sự về sức mạnh quân sự. Thứ ba, vũ khí nguyên tử khiến cho răn đe trở thành chiến lược chủ chốt. Giờ đây điều quan trọng là tổ chức sức mạnh quân đội nhằm làm cho đối phương lo sợ khiến họ không dám tấn công. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mỹ dựa vào khả năng huy động và dần dần xây dựng một cỗ máy chiến tranh sau khi chiến tranh đã bắt đầu, nhưng cách tiếp cận đó sẽ không còn hiệu quả khi chiến tranh hạt nhân có thể diễn ra chóng vánh trong vài giờ đồng hồ.

    John L. Gaddis, “The New Cold War History”, Foreign Policy Research Institute Footnotes 5:5 (6/1998).

    [3] United States Catholic Conference, “The Challenge of Peace: God’s Promise and Our Response,” Origins 13:1 (19/5/1983), trang 1.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Nhân Kinh Nguyệt Không Đều Do Đâu?
  • 10 Nguyên Nhân Dẫn Đến Kinh Nguyệt Không Đều Thường Gặp Nhất
  • Kinh Nguyệt Không Đều: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Cách Khắc Phục
  • Những Nguyên Nhân Gây Ra Tình Trạng Kinh Nguyệt Không Đều ?
  • Nguyên Nhân Kinh Nguyệt Không Đều Và Cách Điều Trị
  • Chiến Tranh Thế Giới Thứ 1 Lịch Sử 11: Nguyên Nhân, Diễn Biến, Tính Chất

    --- Bài mới hơn ---

  • Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất: Nguyên Nhân, Diễn Biến, Hậu Quả, Tính Chất
  • Nguyên Nhân, Diễn Biến, Tính Chất Và Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
  • Nguyên Nhân Và Tính Chất Của Cuộc Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất
  • Chiến Tranh Thế Giới Lần 1: Nguyên Nhân
  • Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
  • Nguyên nhân chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử 11 là gì? Nguyên nhân chiến tranh thế giới thứ nhất như nào? Chắc chắn khi nhắc tới một cuộc chiến nào đó ai cũng muốn biết được nguyên nhân sâu xa dẫn tới cuộc xung đột. Các cường quốc có nhiều mâu thuẫn từ lâu nhưng không thể giải quyết trong hòa bình. Đặc biệt vào thời gian từ cuối thế kỉ 19 – đầu thế kỉ 20 thì chủ nghĩa tư bản càng lớn mạnh và tỏ ra ngang tàng hơn trước nhiều.

    Lực lượng của các nước đế quốc bắt đầu chênh lệch nhiều nên nước lớn mạnh nhất nổi lên tham vọng xâm chiếm vùng đất mới. Thực tế lãnh địa của các nước phân chia trước đó không đồng đều. Đế quốc già như nước Anh, Pháp lại quá nhiều đất đai, thuộc địa. Đế quốc trẻ như Mỹ, Đức lại ít thuộc địa nên chúng lăm le muốn phân chia lại.

    Vì thế từ sâu bên trong các nước đã có ý đồ muốn nuốt chửng nhau, không bên nào nhượng bộ bên nào cả. Bởi thế sau nhiều lần tranh cãi lớn và thỏa thuận không thành, cuối cùng cùng nổ ra chiến tranh giữa các nước lớn vào cuối thế kỉ 19.

    Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn tới chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử 11, sự chênh lệch về lực lượng khiến cho mâu thuẫn càng căng thẳng khó giải quyết. Trước khi thế chiến lớn nổ ra đã có hàng loạt các cuộc đụng độ nhỏ. Như chiến tranh giữa Nhật Bản và Trung Quốc, chiến trang giữa Tây Ban Nha và nước Mỹ,…

    Từng trận nhỏ đã thiệt hại không hề ít, tiếp theo đó tần suất các cuộc xung đột nảy ra nhiều hơn nữa. Tình hình trên thế giới lúc đó các nước liên kết với nhau thành các nhóm bao gồm phe trung lập, phe liên minh và phe hiệp ước. Các nước trung lập không nhiều, đa phần đều bị lôi cuốn và kéo tham gia vào cuộc chiến.

    Tình thế này tất yếu sẽ dẫn tới chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử 11 bùng nổ trên diện rộng để giải quyết hoàn toàn những mâu thuẫn. Những tranh đấu, âm mưu, thù hằn được ấp ủ từ nhiều năm giữa các đế quốc, khiến cho những vùng lân cận bị ảnh hưởng nặng.

    Nguyên cớ để bùng nổ chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử 11 là vào năm 1914 Hoàng thân thừa kế ngai vị Áo – Hung bị ám sát ngay tại Bô-xni-a (Xéc bi). Đó là một điều không thể chấp nhận và làm nguôi ngoai sự căm phẫn của người dân nước Áo – Hung.

    Diễn biến chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử 11 (Chiến tranh thế giới thứ nhất)

    Các nước bắt đầu vào chuẩn bị lực lượng, trang bị vũ khí hạng nặng và tập kết trong tâm thế sẵn sàng chiến đấu. Trong cuộc đua này, nước là kẻ hiếu chiến nhất và rõ ràng muốn cướp thật nhiều thuộc địa để mở rộng lãnh thổ. Đức đã liên kết với Áo và Hung, Ý để thành lập phe liên minh.

    Bên đối kháng, nước Anh liên kết với Nga, Pháp ký nhiều hiệu ước thành lập Phe Hiệp Ước. Đến đầu thế kỉ 20 thì Châu Âu đã hình thành 2 khối quân sự mạnh đối đầu kịch liệt, tranh giành nhau, điên cuồng chạy đua vũ trang. Nhằm chia lại thế giới, người dân khắp nơi lo lắng vì ảnh hưởng của chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử 11.

    Đến đầu năm 1914, các nước về cơ bản đã chuẩn bị xong lực lượng để tham gia cuộc chiến. Ngày 28.6.1914, Áo – Hung tập kết quân đội tại Bô-xni-a sẵn sàng tấn công để trả thù. Nhân đó, Đức hùa theo liên kết Áo tuyên chiến với Xéc – bi. Vậy là bùng nổ chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử 11.

    Ngày 1-3/8/1914, Đức thẳng thừng tuyên chiến với Nga, Pháp. Ngày 4/8 nước Anh tuyên chiến với Đức, ngọn lửa chiến tranh bùng nổ ở khắp nơi. Nước Đức hung bạo tập trung quân đội tấn công khu vực phía Tây Châu Âu, âm mưu nắm trọn nước Pháp. Nga tấn công mãnh liệu phía Đông Đức nên Pháp được giải nguy.

    Từ 1916, chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử 11 bước vào giai đoạn cầm cự ở cả 2 phe. Các nước thêm thời gian chuẩn bị thêm nhiều loại vũ khí hiện đại, nhận viện trợ và tranh thủ lôi kéo thêm đồng mình. Thiệt hại từ hàng loạt cuộc chiến khiến khắp nơi hoang tàn đổ nát, người dân bị chết, bị thương.

    Tới 2/1917, tại nước Nga diễn ra cuộc cách mạng tháng 2 buộc đế quốc Mỹ nhảy vào đứng về phe Hiệp Ước. Phe liên minh liên tiếp bị đánh bại vì bên Hiệp ước quá mạnh. Cuối năm 1917, phe Hiệp Ước tấn công buộc đồng minh của Đức đầu hàng. Tới 11//11/1918, Đức đầu hàng phe đồng minh vô điều kiện. Chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử 11 kết thúc phe Liên minh hoàn toàn thất bại.

    Hậu quả của chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử 11

    Hậu quả của chiến tranh thế giới thứ nhất là gì? Chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử 11 kết thúc để lại nhiều hệ quả nặng nề ở nhiều nước không chỉ riêng các nước tham gia trận chiến. Theo thống kê cho thấy hơn 10 triệu người dân thiệt mạng, hơn 20 triệu người bị thương nặng. Nhà cửa, các công trình lớn nhỏ bị phá bỏ, chìm trong khói lửa.

    Người dân tang thương đói khổ, mất nhà tha hương khắp nơi. Các nước còn nợ nhau khối tiền khổng lồ cần được trả sau đó lâu dài. Gây tổn thất nặng nề tới nền kinh tế của các quốc gia mà cho tới nhiều năm về sau mất thời gian phục hồi. Thiệt hại tài sản tới hàng chục tỷ đô la.

    Bản đồ thế giới được phân chia lại mới, các nước phe đồng minh giành nhiều thắng lợi. Nhiều quốc gia ở Châu Âu thành con nợ lớn của đế quốc Mỹ. Thực chất cuộc chiến này không giải quyết được triệt để mâu thuẫn giữa các nước mà còn khiến thù hận sâu hơn.

    Các nước Châu Âu khắc phục thiệt hại, chấp nhận đi lùi với tiến độ thời đại rất nhiều. Nước Anh, Pháp, Mỹ mở rộng thêm thuộc địa, nước Đức mất hết thuộc địa. Cuộc cách mạng Nga thành công nhưng hậu quả chiến tranh để lại không hề nhỏ.

    Tính chất của chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử 11

    • Đây là cuộc chiến tranh nhằm tranh giành thuộc địa giữa các nước đế quốc, chỉ đem lại lợi nhuận cho giai cấp tư sản nắm quyền.
    • Tính chất của chiến tranh thế giới thứ nhất còn là cuộc chiến tranh xâm lược và cướp đoạt lãnh thổ, thuộc địa của đối phương.
    • Là cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa cả 2 phe tham chiến
    • Hậu quả của chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử 11 là hết sức nặng nề cả về người và của.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Nhân Thường Gặp Gây Chảy Máu Mũi Và Cách Xử Lý
  • Chảy Máu Mũi Ở Mèo
  • Chó Bị Chảy Máu Mũi Liên Tục Là Bệnh Gì? Cách Xử Lý Như Thế Nào?
  • Mèo Bị Chảy Máu Mũi, Nguyên Nhân, Cách Phòng, Điều Trị
  • Nguyên Nhân Chảy Máu Cam Do Đâu?
  • Nguyên Nhân Dẫn Tới Chiến Tranh Thế Giới Thứ 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Nguyên Nhân Dẫn Đến Cái Chết Của Vũ Nương Trong Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Nêu Những Nguyên Nhân Dẫn Đến Tai Nạn Giao Thông? Nguyên Nhân Nào Là Chủ Yếu? Vì Sao
  • Trẻ Sơ Sinh Bị Vàng Da: Dấu Hiệu Và Cách Chữa Trị Vàng Da Ở Trẻ
  • Phân Biệt Vàng Da Sơ Sinh Sinh Lý Và Vàng Da Bệnh Lý
  • Trẻ Sơ Sinh Bị Trớ Hay Ọc Sữa: Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục
  • Chiến tranh thế giới thứ 1 hay còn được gọi là đại chiến thế giới thứ nhất hoặc thế chiến 1, là một trong những cuộc chiến tranh khốc liệt, mang nhiều hậu quả nặng nề với quy mô rộng nhất trong các cuộc chiến tranh. Vậy nguyên nhân nào dẫn tới cuộc đại chiến tàn khốc này?

    Nguyên nhân nào gây ra chiến tranh thế giới thứ 1?

    Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh thế giới thứ 1 bắt nguồn từ quan hệ quốc tế nhiều mâu thuẫn. Mâu thuẫn này đến từ việc chủ nghĩa tư bản phát triển không đồng đều, sự sở hữu thuộc địa của các nước đế quốc cũng không đồng đều.

    Sự chênh lệch về lực lượng cũng như số lượng thuộc địa sở hữu giữa các đế quốc gây mâu thuẫn sâu sắc, đặc biệt là vấn đề thuộc địa. Và trước khi xảy ra chiến tranh thế giới thứ 1 thì đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh nhỏ nhằm tranh giành thuộc địa như chiến tranh giữa Nhật Bản và Trung Quốc, chiến tranh giữa Mỹ và Tây Ban Nha,…

    Cuộc chạy đua tranh giành thuộc địa diễn ra ngày càng nhiều hơn, và với tham vọng của mình, Đức đã cùng một số nước khác (Italia, Áo – Hung,…) liên kết lại với nhau thành phe “Liên Minh” với mưu đồ chiến tranh nhằm giành thuộc địa. Trước tình hình đó, Anh cũng đã lôi kéo, kí hiệp ước với các nước Pháp, Nga và tạo nên phe “Hiệp ước” đối phó với Đức và đồng minh.

    Lược đồ chiến tranh thế giới thứ nhất gồm ba nhóm nước: Các nước trung lập, các nước theo phe “Liên Minh” và các nước theo phe “Hiệp ước”. Các nước giữ được vị trí trung lập không nhiều, hầu hết các nước đế quốc nhỏ khác và các nước thuộc địa đều bị kéo vào cuộc chiến tàn khốc này.

    Hai phe quân sự “Liên Minh” và “Hiệp Ước” ngày càng đối đầu gay gắt, thi nhau ráo riết để chạy đua vũ trang mà đứng đầu là các nước đế quốc lớn với âm mưu cướp đoạt lãnh thổ, giành lấy thuộc địa của nhau. Có thể thấy cuộc chiến tranh phân chia lại thuộc địa là khó có thể tránh được.

    Nguyên nhân sâu xa đưa tới chiến tranh thế giới thứ 1

    Thực tế, nguyên nhân sâu xa dẫn tới chiến tranh thế giới thứ nhất đó là sự phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản. Thêm vào đó là mâu thuẫn sâu sắc về vấn đề thuộc địa giữa các đế quốc: các đế quốc trẻ như Đức, Nhật Bản, Mỹ nắm giữ ít thuộc địa, trong khi những đế quốc lâu đời như Anh, Pháp hay Nga lại có trong tay nhiều thuộc địa. Điều này dẫn tới mâu thuẫn, sự không bằng lòng giữa các đế quốc về sở hữu thuộc địa mà trước tiên đó là mâu thuẫn giữa Đức và Anh.

    Sự phát triển chênh lệch của chủ nghĩa tư bản cùng mâu thuẫn thuộc địa gay gắt giữa các đế quốc dẫn tới tham vọng tranh giành, phân chia lại thị trường thuộc địa. Đây là nguyên nhân sâu xa dẫn tới cuộc đại chiến thế giới lần 1.

    Nguyên nhân trực tiếp châm ngòi chiến tranh thế giới thứ 1 là gì?

    Nguyên nhân trực tiếp cho cuộc chiến tranh tàn khốc này là sự xuất hiện của hai phe quân sự “Liên Minh” và “Hiệp Ước” đối đầu, tranh giành nhau. Hai phe đế quốc này thi nhau chạy đua vũ trang với tham vọng phân chia lại thuộc địa, làm chủ thế giới. Đến khoảng năm 1914 thì các nước đế quốc đã cơ bản chuẩn bị xong về vũ trang, quân sự để sẵn sàng cho cuộc chiến tranh giành thuộc địa.

    Vậy vì sao chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, duyên cớ do đâu?

    Ngòi lửa chiến tranh đó là sự kiện Thái tử Áo bị ám sát bởi Xéc-bi trong một cuộc tập trận của Áo – Hung tổ chức tại thủ đô của Booxxnia. Sự kiện này đã tạo cơ hội cho Đức ép Áo tuyên chiến với Xéc-bi, sau đó là một loạt các lời tuyên chiến khác, dẫn tới cuộc đại chiến thế giới nổ ra mạnh mẽ.

    Chiến tranh thế giới thứ nhất vô cùng tàn khốc, cuộc chiến này đã để lại những hậu quả nặng nề: hơn 10 triệu người thiệt mạng, hơn 20 triệu người khác bị thương cùng những món nợ của các nước Châu Âu với Mỹ, chưa kể những thiệt hại cho sự phát triển của nhân loại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chảy Máu Cam (Chảy Máu Mũi): Nguyên Nhân, Cách Xử Trí Tại Nhà
  • Chảy Máu Mũi: Nguyên Nhân, Cách Xử Lý Và Phòng Ngừa
  • Nguyên Nhân, Ý Nghĩa Cái Chết Của Nhân Vật Lão Hạc
  • Nguyên Nhân Nào Dẫn Tới Chậm Kinh Ở Nữ Giới
  • Nguyên Nhân Chậm Kinh Nguyệt Ở Chị Em Phụ Nữ
  • Nguyên Nhân Dẫn Đến Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất?nguyen Nhan Nao Dan Den Chien Tranh The Gioi Thu Nhat

    --- Bài mới hơn ---

  • Lịch Sử 11 Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
  • Bài 13. Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
  • Nguyên Nhân Nào Dẫn Đến Cái Chết Bi Thảm Của Vũ Nương?
  • Suy Nghĩ Về Nguyên Nhân Cái Chết Của Vũ Nương
  • Cạnh Tranh Không Lành Mạnh Là Gì ? Các Văn Bản Hướng Dẫn Hành Vi Cạnh Tranh Không Lành Mạnh?
  • Sự phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX đã làm so sánh lực lượng giữa các nước đế quốc thay đổi. Các đế quốc phát triển sớm – đế quốc “già” (Anh. Pháp)… kinh tế phát triển chậm lại, nhưng lại có nhiều thuộc địa. Còn các đế quốc mới ra đời – đế quốc “trẻ” như Đức, Mĩ, Nhật lại phát triển kinh tế nhanh, nhưng có ít thuộc địa. Vì vậy, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc “già” và “trẻ” về thuộc địa là hết sức gay gắt. Cho nên các đế quốc Đức. Mĩ. Nhật tích cực chuẩn bị một kế hoạch gây chiến tranh đế eiành giột thuộc địa.

    – Vào cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX đã diễn ra cuộc chiến tranh Mĩ – Tây Ban Nha ( 1898). .VÍT chiếm lại Phi-líp-pin và Cu-ba của Tây Ban Nha : Chiến tranh Anh – Bỏ-Ơ (1899 – 1902). Anh thôn tính hai quốc gia của người Bỏ-Ơ : Chiến tranh Nga – Nhật ( 1904 – 1905). Nhật đánh bật Nga ra khỏi bán dáo Triểu Tièn và Đông Bắc Trung Quốc.

    – Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc trở nén hết sức gay gắt dẫn đến hình thành hai khối quân sự đối lập là : khối Liên minh Đức – Áo-Hung (1882) và khối Hiệp ước Anh – Pháp – Ngà ( 1907). Hai khối này tích cực chạy đua vũ trang và chuẩn bị chiến tranh để giành giật thuộc địa của nhau. Đây chính là nguyên nhân sâu xa của cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất.

    Nguyên nhân trực tiếp, bắt đầu từ việc Thái tử Phéc-đi-năng của đế quốc Áo Hung bị một người Xéc-bi ám sát ngày 28 – 6 – 1914. Đế quốc Đức – Áo liền chớp lấy thời cơ đó để gây ra cuộc chiến tranh.

    Sự phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX đã làm so sánh lực lượng giữa các nước đế quốc thay đổi. Các đế quốc phát triển sớm – đế quốc “già” (Anh. Pháp)… kinh tế phát triển chậm lại, nhưng lại có nhiều thuộc địa. Còn các đế quốc mới ra đời – đế quốc “trẻ” như Đức, Mĩ, Nhật lại phát triển kinh tế nhanh, nhưng có ít thuộc địa. Vì vậy, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc “già” và “trẻ” về thuộc địa là hết sức gay gắt. Cho nên các đế quốc Đức. Mĩ. Nhật tích cực chuẩn bị một kế hoạch gây chiến tranh đế eiành giột thuộc địa.

    – Vào cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX đã diễn ra cuộc chiến tranh Mĩ – Tây Ban Nha ( 1898). .VÍT chiếm lại Phi-líp-pin và Cu-ba của Tây Ban Nha : Chiến tranh Anh – Bỏ-Ơ (1899 – 1902). Anh thôn tính hai quốc gia của người Bỏ-Ơ : Chiến tranh Nga – Nhật ( 1904 – 1905). Nhật đánh bật Nga ra khỏi bán dáo Triểu Tièn và Đông Bắc Trung Quốc.

    – Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc trở nén hết sức gay gắt dẫn đến hình thành hai khối quân sự đối lập là : khối Liên minh Đức – Áo-Hung (1882) và khối Hiệp ước Anh – Pháp – Ngà ( 1907). Hai khối này tích cực chạy đua vũ trang và chuẩn bị chiến tranh để giành giật thuộc địa của nhau. Đây chính là nguyên nhân sâu xa của cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất.

    Nguyên nhân trực tiếp, bắt đầu từ việc Thái tử Phéc-đi-năng của đế quốc Áo Hung bị một người Xéc-bi ám sát ngày 28 – 6 – 1914. Đế quốc Đức – Áo liền chớp lấy thời cơ đó để gây ra cuộc chiến tranh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Nhân Kết Quả Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất (1914
  • Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
  • Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
  • Chiến Tranh Thế Giới Lần 1: Nguyên Nhân
  • Nguyên Nhân Và Tính Chất Của Cuộc Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất
  • Lịch Sử 11 Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 13. Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
  • Nguyên Nhân Nào Dẫn Đến Cái Chết Bi Thảm Của Vũ Nương?
  • Suy Nghĩ Về Nguyên Nhân Cái Chết Của Vũ Nương
  • Cạnh Tranh Không Lành Mạnh Là Gì ? Các Văn Bản Hướng Dẫn Hành Vi Cạnh Tranh Không Lành Mạnh?
  • Trắc Nghiệm Gdcd 11, Bài 4: Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hoá
  • Tóm tắt lý thuyết

    Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918)

    1. Quan hệ quốc tế cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX

    • Chủ nghĩa tư bản phát triển theo quy luật không đều làm thay đổi sâu sắc so sánh lực lượng giữa các đế quốc ở cuối XIX đầu XX.
    • Sự phân chia thuộc địa giữa các đế quốc cũng không đều. Đế quốc già (Anh, Pháp) nhiều thuộc địa. Đế quốc trẻ (Đức, Mĩ) ít thuộc địa.
    • Mâu thuẫn giữa các đế quốc về vấn đề thuộc địa nảy sinh và ngày càng gay gắt.
    • Các cuộc chiến tranh giành thuộc địa đã nổ ra ở nhiều nơi vào cuối thế kỷ XIX:

    Lược đồ Chủ nghĩa tư bản (thế kỷ XVI đến 1914)

    • Trong cuộc chạy đua giành giật thuộc địa, Đức là kẻ hiếu chiến nhất, lại ít thuộc địa. Đức đã cùng Áo – Hung, Italia thành lập “phe Liên Minh”, năm 1882 chuẩn bị chiến tranh chia lại thế giới.
    • Để đối phó Anh đã ký với Nga và Pháp những Hiệp ước tay đôi hình thành phe Hiệp ước (đầu thế kỉ XX).
    • Đầu thế kỉ XX ở châu Âu đã hình thành 2 khối quân sự đối đầu nhau, âm mưu xâm lược, cướp đoạt lãnh thổ và thuộc địa của nhau, điên cuồng chạy đua vũ trang, chuẩn bị cho chiến tranh, một cuộc chiến tranh đế quốc nhằm phân chia thị trường thế giới không thể tránh khỏi.

    Liên minh Hiệp ước

    (1882) (1890-1907)

      Hai khối quân sự ráo riết chạy đua vũ trang tích cực chuẩn bị chiến tranh

    Hai khối: màu đỏ khối Liên Minh, màu xanh khối Hiệp ước

    2. Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh

    • Nguyên nhân sâu xa
      • Sự phát triển không đều của các nước đế quốc ,mâu thuẫn giữa các đế quốc về thuộc địa ngày càng gay gắt (trước tiên là giữa đế quốc Anh với đế quốc Đức) là nguyên nhân cơ bản dẫn đến chiến tranh.
      • Sự tranh giành thị trường thuộc địa giữa các đế quốc với nhau.
    • Nguyên nhân trực tiếp
    • Sự hình thành hai khối quân sự đối lập, kình địch nhau.

    → Duyên cớ: 28/6/1914 Hoàng thân thừa kế ngôi vua Áo-Hung bị ám sát tại Bô-xni-a (Xéc bi)

      Đến năm 1914, sự chuẩn bị chiến tranh của 2 phe đế quốc cơ bản đã xong. Ngày 28.6.1914, Áo – Hung tổ chức tập trận ở Bô-xni-a. Thái tử Áo là Phơ-ran-xo Phéc-đi-nan đến thủ đô Bô-xni-a là Xa-ra-e-vô để tham quan cuộc tập trận thì bị một phần tử người Xéc-bi ám sát. Nhân cơ hội đó Đức hùng hổ bắt Áo phải tuyên chiến với Xéc-bi. Thế là chiến tranh đã được châm ngòi.

    Francois Ferdinand bị ám sát.

    Lược đồ Chiến tranh thế giới thứ nhất

    1. Giai đoạn thứ nhất (1914 – 1916)

    • Chiến tranh bùng nổ
      • 28/6/1914, Hoàng thân thừa kế ngôi vua Áo-Hung bị ám sát
      • 28/7/1914, Áo-Hung tuyên chiến với Xéc-bi.
      • 1/8/1914, Đức tuyên chiến với Nga.
      • 3/8/1914, Đức tuyên chiến với Pháp
      • 4/8/1914, Anh tuyên chiến với Đức.
    • Chiến tranh thế giới bùng nổ diễn ra trên 2 mặt trận Đông Âu và Tây Âu

    Quân Đức vào Pháp

      Những năm đầu Đức, Áo – Hung giữ thế chủ động tấn công. Từ cuối 1916 trở đi. Đức, Áo – Hung chuyển sang thế phòng ngự ở cả hai mặt trận Đông Âu, Tây Âu.

    2. Giai đoạn thứ 2 (1917 – 1918)

    • Hậu quả của chiến tranh
      • Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc với sự thất bại của phe Liên Minh, gây nên thiệt hại nặng nề về người và của.
      • 10 triệu người chết.
      • 20 triệu người bị thương.
      • Chiến phí 85 tỉ đô la.
      • Các nước Châu Âu là con nợ của Mỹ.
      • Bản đồ thế giới thay đổi.
    • Cách mạng tháng Mười Nga thành công đánh dấu bước chuyển lớn trong cục diện thế giới.
    • Tính chất: Chiến tranh thế giới thứ nhất là cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Nhân Dẫn Đến Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất?nguyen Nhan Nao Dan Den Chien Tranh The Gioi Thu Nhat
  • Nguyên Nhân Kết Quả Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất (1914
  • Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
  • Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
  • Chiến Tranh Thế Giới Lần 1: Nguyên Nhân
  • “chiến Tranh Lạnh” Giữa Hai Nước Mỹ Và Liên Xô

    --- Bài mới hơn ---

  • Hãy Cẩn Thận Khi Bé Bị Vàng Da!
  • Làm Gì Khi Bé Bị Vàng Da?
  • Nguyên Nhân Bị Vàng Da Ở Trẻ Sơ Sinh? Cách Phân Biệt Vàng Da Sinh Lý Và Bệnh Lý
  • Trẻ Em Bị Vàng Da Là Bệnh Gì? Dấu Hiệu, Cách Chữa Và Phòng Tránh
  • Trẻ Bị Vàng Da Nguyên Nhân Do Đâu?
  • Hỏi : “Chiến tranh lạnh” giữa hai nước Mỹ và Liên Xô chấm dứt như thế nào?

    Việc chấm dứt “chiến tranh lạnh”đã có tác động đến các mối quan hệ quốc tế như thế nào?

    (Câu hỏi thuộc chương trình Lịch sử – dành cho ôn thi HSG, TN THPT, CĐ ĐH môn Lịch Sử)

    Trả lời:

    Tại sao Xô – Mỹ chấn dứt cuộc “chiến tranh lạnh”

    – Cuộc “chiến tranh lạnh”kéo dài trên 40 năm đã làm cho 2 nước bị suy giảm nhiều về kinh tế, khoa học – kỹ thuật và đặc biệt, vị trí quôc tế của hai nước này bị giảm sút nhiều về mọi mặt, đang đứng trước những thử thách của sự phát triển của thế giới mới.

    – Nhật, Tây Âu vươn lên mạnh mẽ, đã trở thành đối thủ cạnh tranh, thách thức của Mỹ và LX.

    – Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và sự giao lưu quốc tế về kinh tế thương mại và văn hóa ngày càng phát triển rộng rãi.

    – Cuộc “chiến tranh kinh tế” mang tính toàn cầu đòi hỏi phải có cục diện ổn định, đối thoại và hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình.

    2. Cuộc “chiến tranh lạnh” giữa hai nước Xô – Mỹ đã chấm dứt như thế nào ?

    – Từ nửa sau thập niên 80, quan hệ quốc tế, xuất hiện xu thế mới, từ đối đầu sang đối thoại hợp tác trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi và cùng tồn tại hòa bình.

    – Xu thế này bắt đầu từ quan hệ Xô – Mỹ rồi dần dần mở rộng ra các mối quan hệ Đông – Tây, mối quan hệ giữa 5 ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an.

    – Liên Xô và Mỹ đã mở nhiều hội nghị cấp cao để:

    Thỏa thuận giảm một bước quan trọng trong cuộc chạy đua vũ trang.

    Từng bước chấm dứt cục diên ” chiến tranh lạnh” giữa hai nước.

    Cùng hợp tác với nhau, giải quyết các vụ tranh chấp và xung đột quốc tế (1987 kí hiệp ước INF: thủ tiêu tên lửa tầm trung ở châu Âu, giải quyết xung đột ở Afghanistan, Nam Phi, Campuchia, Nicaragua….).

    – Cuối 1989, tại cuộc gặp không chính thức giữa Bush và Gorbachev ở đảo quốc Malta, Xô – Mỹ tuyên bố chấm dứt cuộc ” chiến tranh lạnh” mở ra thời kỳ sau

    “chiến tranh lạnh”.

    – Như vậy, thời kỳ ” chiến tranh lạnh” đã chấm dứt, quan hệ quốc tế bước sang thời kỳ mới.

    3. Tác động của việc chấm dứt ” chiến tranh lạnh” đối với các mối quan hệ quốc tế.

    Việc chấm dứt ” chiến tranh lạnh” giữa Liên Xô và Mỹ tạo nên biến chuyển quan trọng trong quan hệ quốc tế và cục diện chính trị thế giới:

    Quan hệ giữa 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an đã chuyển từ đối đầu sang đối thoại, thỏa hiệp, hợp tác, giải quyết những tranh chấp xung đột quốc tế.

    Khối Varsava tự giải thể (3/1991) nên không còn khối quân sự đối đầu nhau.

    Các tranh chấp, xung đột khu vực chuyển dần sang giải quyết bằng đối thoại, hợp tác như Xô – Mỹ hợp tác, thỏa hiệp giải quyết các vụ xung đột khu vực:, NamPhi, Afghanistan, Trung Đông, Campuchia, Nicaragua…..

    Liên Xô không can thiệp vào Đông Âu, chấm dứt việc thực hiện những cam kết với các nước XHCN.

    CTV Bản tin tư vấn – Nhà giáo Dương Việt Á

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Thay Đổi Của Quan Hệ Quốc Tế Sau Chiến Tranh Lạnh
  • Thắt Chặt Quản Lý Nhà Nước Mới Mong Giảm Được Tngt
  • Tổng Hợp Kiến Thức Về Quần Thể (Phần 2)
  • Cuộc Sống Không Phải Là Cuộc Đua
  • Giới Thiệu Tạp Chí Kinh Tế Và Dự Báo Số 36 (753)
  • Chiến Tranh Thế Giới Lần 1: Nguyên Nhân

    --- Bài mới hơn ---

  • Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
  • Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
  • Nguyên Nhân Kết Quả Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất (1914
  • Nguyên Nhân Dẫn Đến Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất?nguyen Nhan Nao Dan Den Chien Tranh The Gioi Thu Nhat
  • Lịch Sử 11 Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
  • Nguyên nhân cuộc chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử hào hùng 11

    Nguyên nhân cuộc chiến tranh thế giới thứ một là gì? Nguyên nhân cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất như nào? Chắc chắn khi nhắc tới một đại chiến nào đó ai cũng muốn biết được nguyên nhân sâu xa dẫn tới cuộc xung đột. Các cường quốc có nhiều xích mích từ lâu nhưng không thể xử lý trong hòa bình. Đặc biệt quan trọng vào thời gian từ lúc cuối thế kỉ 19 – đầu thế kỉ 20 thì chủ nghĩa tư bản càng lớn mạnh và tỏ ra ngang tàng hơn trước đây nhiều.

    Lực lượng của nhiều nước đế quốc bắt đầu chênh lệch nhiều nên nước lớn mạnh nhất nổi lên tham vọng xâm chiếm vùng đất mới. Thực tế lãnh địa của nhiều nước phân chia trước đó không đồng đều. Đế quốc già như nước Anh, Pháp lại quá nhiều đất đai, thuộc địa. Đế quốc trẻ như Mỹ, Đức lại ít thuộc địa nên chúng lăm le muốn phân chia lại.

    Vì thế từ sâu bên trong các nước đã có ý đồ muốn nuốt chửng nhau, không bên nào nhượng bộ bên nào cả. Cho nên sau nhiều lần tranh cãi lớn và thỏa thuận hợp tác không thành, cuối cùng cùng nổ ra cuộc chiến tranh giữa các nước lớn vào thời điểm cuối thế kỉ 19.

    Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn tới cuộc chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử hào hùng 11, sự chênh lệch về lực lượng khiến cho xích mích càng căng thẳng khó xử lý. Trước lúc thế chiến lớn nổ ra đã có hàng loạt các cuộc đụng độ nhỏ. Như cuộc chiến tranh giữa Nhật Bản và Trung Quốc, chiến trang giữa Tây Ban Nha và nước Mỹ,…

    Tình thế này tất yếu sẽ dẫn tới cuộc chiến tranh thế giới thứ 1 phát triển chóng mặt trên diện rộng để xử lý hoàn toàn những xích mích. Những tranh đấu, âm mưu, thù hằn được ấp ủ từ nhiều năm giữa các đế quốc, khiến cho những vùng lân cận bị tác động nặng.

    Nguyên cớ để phát triển chóng mặt cuộc chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử hào hùng 11 là vào năm 1914 Hoàng thân thừa kế ngai vị Áo – Hung bị giết hại ngay tại Bô-xni-a (Xéc bi). Đó là một điều không thể đồng ý và làm nguôi ngoai sự căm phẫn của người dân nước Áo – Hung.

    Nguyên nhân sâu xa dẫn tới thế chiến lần thứ một là gì?

    Diễn biến cuộc chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử hào hùng 11 (Cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất)

    Các nước bắt nguồn vào sẵn sàng chuẩn bị lực lượng, trang bị vũ khí hạng nặng và tập trung chuyên sâu trong tâm thế sẵn sàng chiến đấu. Trong cuộc đua này, nước là người hiếu chiến nhất và rõ ràng muốn cướp thật nhiều thuộc địa để mở rộng lãnh thổ. Đức đã liên kết với Áo và Hung, Ý để thành lập phe liên minh.

    Bên đối kháng, nước Anh liên kết với Nga, Pháp ký nhiều hiệu ước thành lập Phe Hiệp Ước. Đến đầu thế kỉ 20 thì Châu Âu đã tạo nên 2 khối quân sự chiến lược mạnh đối đầu kịch liệt, tranh giành nhau, điên cuồng chạy đua vũ trang. Nhằm chia lại thế giới, người dân khắp nơi lo lắng vì tác động của cuộc chiến tranh thế giới thứ 1.

    Đến đầu xuân năm mới 1914, các nước về cơ bản đã sẵn sàng chuẩn bị xong lực lượng để tham gia đại chiến. Ngày 28.6.1914, Áo – Hung tập trung chuyên sâu quân đội tại Bô-xni-a sẵn sàng tấn công để trả thù. Nhân đó, Đức hùa theo liên kết Áo tuyên chiến với Xéc – bi. Vậy là phát triển chóng mặt cuộc chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử hào hùng 11.

    Giai đoạn thứ nhất (1914 – 1916)

    Ngày 1-3/8/1914, Đức thẳng thừng tuyên chiến với Nga, Pháp. Ngày 4/8 nước Anh tuyên chiến với Đức, ngọn lửa cuộc chiến tranh phát triển chóng mặt ở khắp nơi. Nước Đức hung bạo tập trung quân đội tấn công khu vực phía Tây Châu Âu, âm mưu nắm trọn nước Pháp. Nga tấn công mãnh liệu phía Đông Đức nên Pháp được giải nguy.

    Giai đoạn thứ hai (1917 – 1918)

    Tới 2/1917, tại nước Nga diễn ra cuộc cách mệnh tháng 2 buộc đế quốc Mỹ nhảy vào đứng về phe Hiệp Ước. Phe liên minh liên tiếp bị vượt mặt vì bên Hiệp ước quá mạnh. Trong thời gian cuối năm 1917, phe Hiệp Ước tấn công buộc liên minh của Đức đầu hàng. Tới 11//11/1918, Đức đầu hàng phe liên minh vô xét tuyển. Cuộc chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử hào hùng 11 kết thúc phe Liên minh hoàn toàn thất bại.

    Trận chiến giữa các nước diễn ra khốc liệt

    Hậu quả của cuộc chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử hào hùng 11

    Hậu quả của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất là gì? Cuộc chiến tranh thế giới thứ 1 kết thúc để lại nhiều hệ quả nặng nề ở nhiều nước không chỉ riêng các nước tham gia trận chiến. Theo thống kê cho thấy hơn 10 triệu người dân thiệt mạng, hơn 20 triệu người bị thương nặng. Nhà cửa, các công trình xây dựng lớn nhỏ bị phá bỏ, chìm trong khói lửa.

    Người dân tang thương đói khổ, mất nhà tha hương khắp nơi. Các nước còn nợ nhau khối tiền khổng lồ cần được trả sau đó lâu dài. Gây tổn thất nặng nề tới nền kinh tế thị trường của nhiều quốc gia mà cho tới nhiều năm về sau mất thời gian phục hồi. Thiệt hại tài sản tới hàng trăm ngàn tỷ đô la.

    Map thế giới được phân chia lại mới, các nước phe liên minh giành nhiều thắng lợi. Nhiều quốc gia ở Châu Âu thành con nợ lớn của đế quốc Mỹ. Thực chất đại chiến này sẽ không xử lý được triệt để xích mích giữa các nước mà còn khiến thù hận sâu hơn.

    Tính chất của cuộc chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử hào hùng 11

    • Đây là đại chiến tranh nhằm tranh giành thuộc địa giữa các nước đế quốc, chỉ đem lại lợi nhuận cho giai cấp tư sản nắm quyền.
    • Tính chất của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất còn là một đại chiến tranh xâm lược và cướp đoạt lãnh thổ, thuộc địa của đối phương.
    • Là đại chiến tranh đế quốc phi nghĩa cả hai phe tham chiến
    • Hậu quả của cuộc chiến tranh thế giới thứ một là hết sức nặng nề cả về người và của.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Nhân Và Tính Chất Của Cuộc Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất
  • Nguyên Nhân, Diễn Biến, Tính Chất Và Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
  • Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất: Nguyên Nhân, Diễn Biến, Hậu Quả, Tính Chất
  • Chiến Tranh Thế Giới Thứ 1 Lịch Sử 11: Nguyên Nhân, Diễn Biến, Tính Chất
  • Nguyên Nhân Thường Gặp Gây Chảy Máu Mũi Và Cách Xử Lý
  • 5 Nguyên Nhân Hàng Đầu Dẫn Đến Thế Chiến Thứ Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Nguyên Nhân Dẫn Đến Cái Chết Oan Uổng Của Vũ Nương
  • Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa Gdcd 11
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Gdcd Lớp 11 Bài 4: Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa (Phần 1)
  • Tìm Hiểu Về Mô Hình 5 Áp Lực Cạnh Tranh Của Michael Porter
  • Tranh Chấp Giải Quyết Bảo Hiểm, Ai Là Người Thiệt Thòi?
  • Các quốc gia trên khắp thế giới luôn thực hiện các thỏa thuận phòng thủ lẫn nhau với các nước láng giềng, những hiệp ước có thể kéo họ vào trận chiến. Các hiệp ước này có nghĩa là nếu một quốc gia bị tấn công, các định phải bảo vệ họ. Trước khi bắt đầu, các liên minh sau đã tồn tại:

    Khi Áo-Hungary tuyên chiến với Serbia, Nga đã tham gia để bảo vệ Serbia. Đức, thấy rằng Nga đang vận động, đã tuyên chiến với Nga. Pháp sau đó đã bị cầm hòa trước Đức và Áo-Hungary. Đức tấn công Pháp bằng cách hành quân qua Bỉ kéo Anh vào cuộc chiến. Sau đó, Nhật Bản tham chiến để hỗ trợ đồng minh Anh. Sau đó, Ý và Hoa Kỳ sẽ đứng về phía Đồng minh (Anh, Pháp, Nga, v.v.).

    Chủ nghĩa đế quốc là khi một quốc gia gia tăng quyền lực và sự giàu có của họ bằng cách đưa các lãnh thổ bổ sung vào quyền kiểm soát của họ, thường mà không cần hoàn toàn thuộc địa hoặc tái định cư chúng. Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, một số quốc gia châu Âu đã đưa ra các tuyên bố chủ nghĩa đế quốc cạnh tranh ở châu Phi và các khu vực của châu Á, khiến họ trở thành những điểm tranh chấp. Do nguồn nguyên liệu thô mà những khu vực này có thể cung cấp, căng thẳng xung quanh việc quốc gia nào có quyền khai thác những khu vực này tăng cao. Sự cạnh tranh ngày càng tăng và mong muốn có được những đế chế lớn hơn đã dẫn đến sự gia tăng đối đầu đã góp phần đẩy thế giới vào Thế chiến thứ nhất.

    Khi thế giới bước vào thế kỷ 20, một cuộc chạy đua vũ trang đã bắt đầu, chủ yếu dựa trên số lượng tàu chiến của mỗi quốc gia và quy mô quân đội ngày càng tăng của họ – các quốc gia bắt đầu đào tạo ngày càng nhiều thanh niên của họ để chuẩn bị cho trận chiến. Bản thân các tàu chiến đã tăng kích thước, số lượng pháo, tốc độ, phương thức đẩy và chất lượng giáp, bắt đầu từ năm 1906 với sớm bị loại khi Hải quân Hoàng gia Anh và Kaiserliche Marine nhanh chóng mở rộng hàng ngũ với các tàu chiến ngày càng hiện đại và mạnh mẽ.

    Đến năm 1914, Đức có gần 100 tàu chiến và hai triệu binh sĩ được huấn luyện. Anh và Đức đều tăng cường hải quân của họ trong khoảng thời gian này. Hơn nữa, đặc biệt là ở Đức và Nga, việc thành lập quân đội bắt đầu có ảnh hưởng lớn hơn đến chính sách công. Sự gia tăng chủ nghĩa quân phiệt này đã đẩy các quốc gia tham chiến vào cuộc chiến.

    Phần lớn nguồn gốc của cuộc chiến là dựa trên mong muốn của các dân tộc Slav ở Bosnia và Herzegovina không còn là một phần của Áo-Hungary mà thay vào đó là một phần của Serbia. Cuộc nổi dậy mang tính dân tộc và sắc tộc cụ thể này đã trực tiếp dẫn đến vụ ám sát Archduke Ferdinand , đây là sự kiện khiến chiến tranh bùng nổ.

    Nhưng nhìn chung, chủ nghĩa dân tộc ở nhiều quốc gia trên khắp châu Âu không chỉ góp phần khởi đầu mà còn góp phần kéo dài cuộc chiến trên khắp châu Âu và sang châu Á. Khi mỗi quốc gia cố gắng chứng tỏ sự thống trị và sức mạnh của mình, cuộc chiến càng trở nên phức tạp và kéo dài.

    ngay lập tức của Chiến tranh thế giới thứ nhất khiến các mục nói trên phát huy tác dụng (liên minh, chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa dân tộc) là vụ ám sát Archduke Franz Ferdinand của Áo-Hungary. Vào tháng 6 năm 1914, một nhóm khủng bố theo chủ nghĩa dân tộc Serbia được gọi là Bàn tay đen đã cử các nhóm đến ám sát Archduke. Nỗ lực đầu tiên của họ đã thất bại khi một người lái xe tránh được một quả lựu đạn ném vào xe của họ. Tuy nhiên, sau ngày hôm đó, một người theo chủ nghĩa dân tộc Serbia tên là Gavrilo Princip đã bắn Archduke và vợ của anh ta khi họ đang lái xe qua Sarajevo, Bosnia, một phần của Áo-Hungary. Họ chết vì vết thương của họ.

    Vụ ám sát nhằm phản đối việc Áo-Hungary có quyền kiểm soát khu vực này: Serbia muốn tiếp quản Bosnia và Herzegovina. Vụ ám sát Ferdinand dẫn đến việc Áo-Hungary tuyên chiến với Serbia. Khi Nga bắt đầu vận động để bảo vệ liên minh với Serbia, Đức đã tuyên chiến với Nga. Do đó, bắt đầu mở rộng chiến tranh bao gồm tất cả những người tham gia vào các liên minh phòng thủ lẫn nhau.

    Chiến tranh thế giới thứ nhất đã chứng kiến ​​sự thay đổi trong chiến tranh, từ phong cách đấu tay đôi của các cuộc chiến tranh cũ sang việc sử dụng vũ khí sử dụng công nghệ và loại bỏ cá nhân khỏi cận chiến. Cuộc chiến có thương vong cực kỳ cao với hơn 15 triệu người chết và 20 triệu người bị thương. Bộ mặt của chiến tranh sẽ không bao giờ giống nhau nữa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiện Tượng Ứ Giọt Và Rỉ Nhựa
  • Sự Kiện Nào Kết Thúc Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai?
  • Nguyên Nhân, Kết Quả Và Sự Thật Sửng Sốt Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ 2
  • Triệu Chứng Chảy Máu Mũi, Nguyên Nhân Và Cách Chữa Trị
  • Chảy Máu Mũi: Nguyên Nhân Và Cách Xử Trí Hiệu Quả