Chiến Tranh Lạnh Là Gì? Nguyên Nhân Và Hậu Quả Của Chiến Tranh Lạnh

--- Bài mới hơn ---

  • 10 Nguyên Nhân Khó Thở Bạn Nên Dè Chừng
  • Những Nguyên Nhân Nào Gây Ra Lũ Lụt Và Sạt Lở Đất?
  • Lũ Lụt Là Gì Và Vì Sao Lại Có Lũ Lụt Trên Thế Giới?
  • Lý Giải Nguyên Nhân Lũ Lụt Ở Miền Trung
  • Nguyên Nhân Lũ Lụt Lớn Ở Miền Trung (Trần Tiễn Khanh & Nguyễn Khoa Diệu
  • Trong lịch sử lớp 12, các bạn đã được học và tìm hiểu về chiến tranh lạnh. Vậy thực tế chiến tranh lạnh là gì? Nguyên nhân và hậu quả của cuộc chiến tranh lạnh diễn ra như thế nào? Tất cả những nội dung này, sẽ được bài viết của chúng tôi giải đáp cho bạn đọc.

    Chiến tranh lạnh là gì?

    Khi Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, Châu Âu có một bối cảnh bị tàn phá, suy yếu nặng nề trong sự tồn tại vai trò khá lu mờ của Pháp với Anh, còn Đức thì đang đổ nát và đứng trước sự chia cắt hai miền. Khi này Mỹ với Liên Xô nổi lên với một vai trò mới, họ là siêu cường quốc của thế giới về sự giàu có, hùng mạnh. Ngay khi này, hai quốc gia đã nhanh chóng nắm lấy quyền chi phối toàn hệ thống của chính trị quốc tế.

    Khi tìm hiểu về chiến tranh lạnh, nó được hiểu chính là thời kỳ căng thẳng về chính trị, quân sự của Mỹ và Liên Xô từ sau Chiến tranh thứ 2 kết thúc. Yếu tố của cuộc “chiến tranh” này chính là việc đối đầu sâu sắc về quyền lực, ý thức hệ của hai 2 nước. Trong đó, yếu tố “lạnh” là phản ánh cuộc chiến của Liên Xô với Mỹ là không dùng đến vũ khí “nóng – các loại vũ khí truyền thống” ở cuộc chiến này, thay vào đó chính là cuộc chạy đua về vũ trang và nổi lên là vũ khí hạt nhân.

    Thực tế, Chiến tranh lạnh chính là giai đoạn đầu tiên của lịch sử về sự tồn tại hệ thống lưỡng cực, nơi mà Mỹ với Liên Xô chính là hai đại diện. Mâu thuẫn của hai nước này, chính là đại diện cho mâu thuẫn của hai phe Xã hội chủ nghĩa (Liên Xô khởi xướng) với Tư bản chủ nghĩa (Mỹ đứng đầu).

    Chiến tranh lạnh đã có tác động toàn diện đến tất cả mọi mặt ở đời sống chính trị – kinh tế – văn hóa – xã hội của các quốc gia, trước khi mà các nước này tự xác định cho mình con đường đi dựa trên định hình về ý thức hệ. Chiến tranh lạnh kết thúc, cũng chứng kiến sự sụp đổ phe Xã hội chủ nghĩa. Đó là toàn bộ những gì các bạn cần hiểu về chiến tranh lạnh là gì? Tiếp theo nội dung của bài viết, sẽ là thông tin về nguyên nhân và hậu quả của cuộc chiến này.

    Nguyên nhân của chiến tranh lạnh

    Nguyên nhân chính dẫn tới cuộc chiến tranh lạnh là vì sự đối lập mục tiêu, chiến lược xây dựng thế giới của hai nước Mỹ với Liên Xô. Trong đó:

    Mỹ có chủ chương chính: Chống phá lại Liên Xô với phe Xã hội chủ nghĩa, chống lại phong trào cách mạng để mưu đồ sẽ là bá chủ thế giới; Mỹ xác định và lo ngại trước sự ảnh hưởng của Liên Xô cùng với các nước Đông Âu đến cục diện thế giới khi chứng kiến thắng lợi của Trung Quốc và chủ nghĩa xã hội đã trở thành một hệ thống của thế giới từ Đông Âu sang tới Đông Á; sau khi Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc Mỹ là nước tư bản giàu mạnh nhất, quốc gia này nắm độc quyền về vũ khí nguyên tử nên đã cho mình có quyền được phép lãnh đạo thế giới.

    Chủ chương của Liên Xô: là duy trì hòa bình – an ninh thế giới và ra sức bảo vệ thành quả mà chủ nghĩa xã hội đã có được, cũng như đẩy mạnh về phong trào cách mạng của các dân tộc trên thế giới.

    Chính sự đối lập này, đã là nguyên nhân để cuộc chiến tranh lạnh diễn ra. Trước sự đối lập về tư tưởng, cách thức xây dựng nền hòa bình thế giới giữa hai phe cũng có những biểu hiện cơ bản riêng.

    Phe Mỹ và những nước đế quốc: ráo riết chạy đua vũ trang, thực hiện tăng cường ngân sách cho quân sự cũng như thành lập ra các khối quân sự và các căn cứ quân sự để bao quanh lấy Liên Xô cùng với những nước xã hội chủ nghĩa; Đẩy mạnh gây ra các cuộc chiến tranh để đàn áp vào phong trào giải phóng dân tộc ở trên thế giới mà chiến tranh tại Việt Nam, với Triều Tiên chính là điển hình.

    Phe Liên Xô cùng các nước xã hội chủ nghĩa: buộc phải tăng cường về ngân sách quốc phòng, cũng như củng cố về khả năng phòng thủ của mình.

    Hậu quả của chiến tranh lạnh

    Thứ nhất, chiến tranh lạnh đã khiến cho thế giới luôn phải sống trong tình trạng căng thẳng, có lúc nó còn cho thấy thế giới đang phải đứng trước nguy cơ sẽ bùng nổ ra cuộc chiến tranh thế giới mới.

    Thứ hai, để sản xuất ra vũ khí hủy diệt, việc xây dựng lên hàng ngàn căn cứ quân sự các nước đã phải chi ra lượng tiền khổng lồ cùng với sức người. Các nước của hai phe thì phung phí tiền của, nhân loại thì lại phải gánh chịu biết bao khó khăn, khổ cực vì đói nghèo, thiên tai, dịch bệnh, vấn đề về môi trường,…

    Chiến tranh lạnh kết thúc, khi cả đôi bên đã quá mệt mỏi và tiêu tốn nhiều tiền của. Trong đó, chứng kiến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở các Liên Xô và các nước Đông Âu. Cục diện thế giới mới được hình thành, kéo theo đó là sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới từ chính trị, kinh tế đến văn hóa xã hội.

    Từ thông tin bài viết, các bạn đã hiểu chiến tranh lạnh là gì? Cũng như những kiến thức cơ bản nhất về nguyên nhân, hậu quả của cuộc chiến tranh này rồi chứ ạ. Một cuộc chiến kéo dài trên 40 năm, thành quả về sự phát triển vũ khí hạt nhân thì ít mà hậu quả về nền kinh tế, xã hội cùng sự khổ cực của đời sống người nhân thì nhiều. Nhưng sự kết thúc của cuộc chiến tranh này, đã mở ra một trang mới cho toàn thế giới về sự phát triển chung. Hy vọng, nội dung bài viết sẽ giúp cho bạn đọc củng cố thêm cho mình nền kiến thức về lịch sử thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Nguyên Nhân Kinh Nguyệt Không Đều Ở Nữ Giới Cần Biết
  • Không Có Tim Thai Và Những Nguyên Nhân Phổ Biến Mẹ Cần Biết
  • Nguyên Nhân Không Có Tim Thai Và Cách Giải Quyết
  • Nguyên Nhân Cái Chết Của Steve Jobs
  • Hé Lộ Nguyên Nhân Khiến Song Hye Kyo Và Song Joong Ki Ly Hôn
  • Sự Kiện Nào Kết Thúc Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai?

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiện Tượng Ứ Giọt Và Rỉ Nhựa
  • 5 Nguyên Nhân Hàng Đầu Dẫn Đến Thế Chiến Thứ Nhất
  • Những Nguyên Nhân Dẫn Đến Cái Chết Oan Uổng Của Vũ Nương
  • Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa Gdcd 11
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Gdcd Lớp 11 Bài 4: Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa (Phần 1)
  • Đâu là nguyên nhân quan trọng nhất góp phần kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2?

    Ngày 30/06/2007, ông Fumio Kyuma, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản trong bài nói chuyện tại một trường đại học ở Tokyo cho rằng việc Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống thành phố HiroshimaNagasaki “có thể khiến Tokyo đầu hàng, từ đó ngăn Liên Xô tuyên chiến với Nhật” và là “chuyện không thể tránh khỏi để chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ hai”. Ông còn nói thêm rằng những vụ ném bom đó “là việc không thể đừng được”.

    Tuyên bố của ông Fumio Kyuma không chỉ gây bất bình trong dư luận xã hội ở Nhật Bản mà còn phủ nhận sự thật lịch sử về một trong những cuộc chiến tranh vĩ đại nhất của nhân loại nhằm tiêu diệt chủ nghĩa phát xít và diệt chủng. Thời gian qua, một số tờ báo ở Mỹ và một số nước Phương Tây cũng cho rằng hai quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống Hirosima và Nagasaki ngày 6 và ngày 9/8/1945 “có ý nghĩa quyết định kết thúc cuộc chiến tranh thế giới đẫm máu nhất trong lịch sử loài người”. Họ còn cho rằng “Liên Xô không cần tham chiến ở Viễn Đông vì Mỹ và đồng minh hoàn toàn có khả năng đánh bại quân Nhật”.

    Vậy, sự thật thế nào?

    Chứng cứ lịch sử thứ nhất, chính Tổng thống Mỹ, ông Roosevelt và Thủ tướng Anh, ông Churchill, trong các cuộc Hội nghị với Stalin, người đứng đầu nhà nước Liên Xô, ở Teheran năm 1943 và Yanta năm 1944 đã đề nghị Liên Xô mở chiến dịch tiến công quân Nhật. Stalin đã cam kết, Liên Xô sẽ thực hiện yêu cầu đó của chính phủ Mỹ và Anh. Tại Hội nghị ở Potsdam năm 1945, Tổng thống Mỹ Harry Truman, người kế nhiệm ông Roosevelt, cũng nhận được lời cam kết của Stalin rằng Hồng quân Liên Xô sẽ tiến hành chiến dịch tiến công đội quân Quan Đông của Nhật sau 3 tháng kể từ khi phát xít Đức đầu hàng. Đêm ngày 8 rạng sáng ngày 9/8/1945, Hồng quân Liên Xô mở chiến dịch tiến công tuyến phòng ngự của quân đội Nhật Bản ở Mãn Châu Lý. Các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự biết rất rõ vì sao Mỹ lại kiên quyết đề nghị Liên Xô tham chiến chống phát xít Nhật. Tháng 8/1945, quân đội Nhật ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương vẫn còn đông tới khoảng 7 triệu người, với 10.000 máy bay, 500 tầu chiến. Quân đội đồng minh chỉ có khoảng 1,8 triệu người và 5.000 máy bay. Nếu như Liên Xô không tham chiến với quân Nhật thì các lực lượng chủ yếu và thiện chiến nhất của đội quân Quan Đông có thể tập trung mũi nhọn chống lại Mỹ và lúc đó cuộc chiến tranh sẽ không chỉ kéo dài 1 tháng, mà ít nhất là 1 hoặc 2 năm với tổn thất mà quân Mỹ phải chịu đựng sẽ vượt quá con số 1 triệu người. Bộ Quốc phòng Mỹ đã từng khẳng định với tổng thống Mỹ về khả năng đó. Bản thân Tổng thống Mỹ Harry Truman lúc đầu cũng chưa nhìn thấy hết ý nghĩa của việc Liên Xô phải tham chiến chống Nhật, nhưng các tướng lĩnh ở Lầu Năm Góc đã thuyết phục được ông.

    Chứng cứ lịch sử thứ hai, việc đập tan đội quân Quan Đông của Nhật, giải phóng khu vực Mãn Châu Lý ở Đông Bắc của Trung Quốc và Triều Tiên, đã đập tan cơ sở kinh tế quân sự của Nhật Bản ở Châu Á và địa bàn tiến công của Nhật Bản nhằm vào Liên Xô và Mông Cổ, tạo điều kiện cho những người yêu nước ở Trung Quốc giải phóng đất nước họ. Ngoài ra, quân đội Liên Xô còn có nhiệm vụ bảo đảm an ninh cho biên giới Viễn Đông. Trong suốt 1.415 ngày cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại, Liên Xô buộc phải duy trì 40 sư đoàn tinh nhuệ dọc tuyến biên giới đó, trong khi những lực lượng này rất cần cho họ trên mặt trận Xô – Đức, đặc biệt là trong thời gian diễn ra các chiến dịch ở ngoại ô Moscow, ở Stalingrad và ở Kursk. Một số nhà nghiên cứu Phương Tây khẳng định sai sự thật rằng quân Nhật không hành động gì dọc biên giới Liên Xô và không có ý định tiến công Liên Xô. Đội quân Quan Đông của Nhật đã nhiều lần khiêu khích vũ trang, xâm phạm biên giới trên bộ và trên biển của Liên Xô, máy bay của chúng thường xuyên xâm phạm không phận Liên Xô. Từ năm 1941 đến năm 1945, đã có trên 1.000 lần quân Nhật xâm phạm lãnh thổ Liên Xô. Phía Nhật Bản đã có 178 lần bắt giữ tàu buôn của Liên Xô và đánh chìm 18 tầu trong số đó.

    Chiến dịch tiến công chiến lược của Hồng quân Liên Xô nhằm vào Mãn Châu Lý ở Viễn Đông kéo dài từ ngày 9/8/1945 đến ngày 2/9/1945 là một trong những trang sử oai hùng nhất trong lịch sử nghệ thuật quân sự thế giới. Chiến dịch triển khai với chính diện kéo dài 5.000 km, sâu 200-800 km, trên một chiến trường vô cùng phức tạp gồm địa hình sa mạc, thảo nguyên, đồi núi, đầm lầy, băng tuyết, có nhiều con sông lớn đi qua như sông Amur và sông Dương Tử. Hồng quân Liên Xô đã đập tan đội quân Quan Đông mạnh nhất và đông nhất của Nhật Bản ở Mãn Châu Lý đông tới hàng triệu người, với 1.115 xe tăng, 5.360 pháo, 1.800 máy bay chiến đấu và 25 tàu chiến cùng với một hệ thống công sự bằng bê tông chằng chịt nối liền với nhau bởi hệ thống giao thông hào ngầm dưới đất chứa nguồn dự trữ lương thực và nước đủ để hàng triệu binh sỹ chiến đấu liên tục trong nhiều tháng. Hồng quân Liên Xô đã tiêu diệt 84.000 lính và sỹ quan Nhật Bản, bắt làm tù binh khoảng 700.000 lính Nhật. Ít có chiến dịch nào trong Chiến tranh thế giới thứ hai giành được chiến thắng vang dội như thế.

    Cuộc tiến công chiến lược ở Mãn Châu Lý không chỉ thể hiện sức mạnh ngày càng lớn của Hồng quân Liên Xô tích luỹ được vào cuối Chiến tranh thế giới thứ hai mà còn chứng tỏ nghệ thuật quân sự ưu việt của các tướng lĩnh Liên Xô, thể hiện trước hết ở việc cấp tốc di chuyển 400.000 chiến sỹ và sỹ quan, trên 7.000 pháo và 1.100 máy bay từ mặt trận phía Tây sang phía Đông với sự hỗ trợ của 136.000 toa tàu mà tình báo Nhật Bản không phát hiện được mặc dù chúng có mạng lưới điệp báo rất mạnh ở Viễn Đông. Khi Bộ chỉ huy Liên Xô lập kế hoạch mở đầu tiến công quân Nhật vào đêm ngày 8, rạng sáng ngày 9/8/1945, viên chỉ huy tình báo Tập đoàn quân số 5 của Nhật Bản báo cáo tin này cho Tư lệnh Yamada, thì viên tướng này đã viết nhận xét vào bản báo cáo của người chỉ huy tình báo Nhật những dòng sau đây: “Chỉ có người nào điên rồ mới quyết định tiến công vào Primorie vào tháng 8 trong thời tiết mưa dầm và mọi con đường đều không thể đi lại được”. Nhưng Hồng quân Liên Xô đã quyết định tiến công và giành chiến thắng với vô vàn gian khổ và có sự giúp đỡ không nhỏ của người dân Trung Quốc. Không có ai ép buộc người dân Trung Quốc phải giúp đỡ Hồng quân Liên Xô, nhưng do sống dưới ách tàn bạo của phát xít Nhật nên khi gặp những đoàn quân giải phóng, họ nhất loạt ra đường cùng kéo pháo, xe tăng và trang thiết bị mắc kẹt trên những đoạn đường lầy lội bùn đất trong thời tiết mưa dầm mùa thu.

    Ngày 2/9/1945, tuần dương hạm của Mỹ “Mitsuri” đậu trên Vịnh Tokyo chứng kiến đại diện toàn quyền của chính phủ Nhật Bản ký kết Hiệp ước đầu hàng hoàn toàn và vô điều kiện trước đại diện các nước đồng minh chống phát xít là Liên Xô và Mỹ, đánh dấu thời điểm cuối cùng kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai kéo dài gần 6 năm và làm thiệt mạng hơn 50 triệu người. Liên Xô cùng với các nước đồng minh đã chiến thắng trong cuộc chiến này. Nhân đây, có thể rút ra một bài học chủ chốt từ cuộc chiến này là: các nước dẫn đầu thế giới chỉ có thể chiến thắng tội ác khi hợp lực với nhau, dù đó là chủ nghĩa phát xít Đức, chủ nghĩa quân phiệt Nhật, hoặc ngày nay là chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Không có sự đoàn kết đó thì không thể chiến thắng tội ác trên quy mô toàn cầu./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Nhân, Kết Quả Và Sự Thật Sửng Sốt Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ 2
  • Triệu Chứng Chảy Máu Mũi, Nguyên Nhân Và Cách Chữa Trị
  • Chảy Máu Mũi: Nguyên Nhân Và Cách Xử Trí Hiệu Quả
  • Nguyên Nhân Và Cách Xử Lý Nhanh Khi Bị Chảy Máu Mũi
  • Tránh Biến Chứng “chảy Máu Mũi” Mùa Lạnh
  • Nguyên Nhân Kết Quả Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất (1914

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Nhân Dẫn Đến Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất?nguyen Nhan Nao Dan Den Chien Tranh The Gioi Thu Nhat
  • Lịch Sử 11 Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
  • Bài 13. Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
  • Nguyên Nhân Nào Dẫn Đến Cái Chết Bi Thảm Của Vũ Nương?
  • Suy Nghĩ Về Nguyên Nhân Cái Chết Của Vũ Nương
  • Do mâu thuẫn giữa các nước về vấn đề thuộc địa dẫn đến sự hình thành 2 khối quân sự kình địch nhau là Liên minh Đức, Áo – Hung và Hiệp ước Anh – Pháp – Nga. Hai khối này ráo riết chạy đua vũ trang, tích cực chuẩn bị chiến tranh, để chia lại thuộc địa, làm bá chủ thế giới.

    I. Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh:

    – Sự phát triển không đồng đều của tư bản chủ nghĩa.

    – Ngược lại Anh , Pháp nhiều thuộc địa và thế giới đã phân chia xong.

    – Đế quốc thuộc địa: các cuộc chiến tranh đế quốc:

    +Mỹ – Tây Ban Nha 1898:Mỹ chiếm Cu ba và Phi líp pin.

    + Anh và Bô ơ 1899-1902àAnh thôn tính 2 nước của người Bô ơ sát nhập vào Nam Phi.

    -Mâu thuẫn giữa các nước về vấn đề thuộc địa dẫn đến sự hình thành 2 khối quân sự kình địch nhau là Liên minh Đức , Áo- Hung và Hiệp ước Anh-Pháp -Nga.

    -Hai khối này ráo riết chạy đua vũ trang , tích cực chuẩn bị chiến tranh, để chia lại thuộc địa , làm bá chủ thế giới.

    * Duyên cớ của chiến tranh của chiến tranh:

    – Ngày 28-6- 1914 thái tử Áo – Hung bị phần tử khủng bố ở Xéc- bi ám sát. Nhân cớ đó, Đức , Áo -Hung gây chiến.

    II. NHỮNG DIỄN BIẾN CHÍNH CỦA CHIẾN SỰ

    – Ngày 28-7-1914 Áo -Hung tuyên chiến với Xéc bi.

    – Ngày 1-8 Đức tuyên tuyên chiến Nga

    – Ngày 3-8 tuyên chiến với Pháp .

    – Ngày 4-8 tuyên chiến với Đức , chiến tranh bùng nổ và nhanh chóng thành chiến tranh thế giới ..

    1 Giai đọan thứ nhất (1914-1916)

    – Lúc đầu Đức tập trung lực lượng ở phía Tây nhằm đánh bại Pháp, Pa ri bị uy hiếp.

    -Nhưng ở phía Đông quân Nga tấn công quân Đức cứu nguy cho Pháp , từ năm 1916 cả 2 phe ở thế cầm cự .

    * Gọi là chiến tranh thế giới :

    Chiến tranh lan ra cả thế giới ,lôi cuốn 38 nước vào vòng chiến , kéo thuộc địa tham chiến ,Pháp mộ 300.000 lính thuộc địa chủ yếu ở Việt Nam .

    2/ Giai đoạn II (1917-1918)

    – Tháng 4-1917 Mỹ tham chiến về phe Hiệp ước.

    – Ngày 7-11-1917 Cách mạng tháng Mười Nga Nga thắng lợi , Nga rút khỏi chiến tranh .

    – Ngày 7-1918 Anh – Pháp phản công.

    – Ngày 9-1918 Anh -Pháp- Mỹ tổng tấn công ,đồng minh của Đức đầu hàng.

    – Ngày 9-11-1918 cách mạng Đức bùng nổ, lật đổ nền quân chủ.

    – Ngày 11-11-1918 Đức hàng không điều kiện , Đức ,Áo -Hung thất bại hoàn toàn.

    III. KẾT CỤC CỦA CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT

    – Gây thảm họa cho nhân loại: 10 triệu người chết ,20 triệu ngưới bị thương.

    – Thành phố làng mạc bị phá hủy; chiến phí 85 tỷ đô la.

    – Các nước thắng trận thu lợi lớn, bản đồ thế giới được chia lại.

    – Cao trào Cách mạng vô sản phát triển, nhân dân thuộc địa thức tỉnh đó là Cách mạng tháng Mười Nga.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
  • Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
  • Chiến Tranh Thế Giới Lần 1: Nguyên Nhân
  • Nguyên Nhân Và Tính Chất Của Cuộc Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất
  • Nguyên Nhân, Diễn Biến, Tính Chất Và Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
  • “chiến Tranh Lạnh” Giữa Hai Nước Mỹ Và Liên Xô

    --- Bài mới hơn ---

  • Hãy Cẩn Thận Khi Bé Bị Vàng Da!
  • Làm Gì Khi Bé Bị Vàng Da?
  • Nguyên Nhân Bị Vàng Da Ở Trẻ Sơ Sinh? Cách Phân Biệt Vàng Da Sinh Lý Và Bệnh Lý
  • Trẻ Em Bị Vàng Da Là Bệnh Gì? Dấu Hiệu, Cách Chữa Và Phòng Tránh
  • Trẻ Bị Vàng Da Nguyên Nhân Do Đâu?
  • Hỏi : “Chiến tranh lạnh” giữa hai nước Mỹ và Liên Xô chấm dứt như thế nào?

    Việc chấm dứt “chiến tranh lạnh”đã có tác động đến các mối quan hệ quốc tế như thế nào?

    (Câu hỏi thuộc chương trình Lịch sử – dành cho ôn thi HSG, TN THPT, CĐ ĐH môn Lịch Sử)

    Trả lời:

    Tại sao Xô – Mỹ chấn dứt cuộc “chiến tranh lạnh”

    – Cuộc “chiến tranh lạnh”kéo dài trên 40 năm đã làm cho 2 nước bị suy giảm nhiều về kinh tế, khoa học – kỹ thuật và đặc biệt, vị trí quôc tế của hai nước này bị giảm sút nhiều về mọi mặt, đang đứng trước những thử thách của sự phát triển của thế giới mới.

    – Nhật, Tây Âu vươn lên mạnh mẽ, đã trở thành đối thủ cạnh tranh, thách thức của Mỹ và LX.

    – Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và sự giao lưu quốc tế về kinh tế thương mại và văn hóa ngày càng phát triển rộng rãi.

    – Cuộc “chiến tranh kinh tế” mang tính toàn cầu đòi hỏi phải có cục diện ổn định, đối thoại và hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình.

    2. Cuộc “chiến tranh lạnh” giữa hai nước Xô – Mỹ đã chấm dứt như thế nào ?

    – Từ nửa sau thập niên 80, quan hệ quốc tế, xuất hiện xu thế mới, từ đối đầu sang đối thoại hợp tác trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi và cùng tồn tại hòa bình.

    – Xu thế này bắt đầu từ quan hệ Xô – Mỹ rồi dần dần mở rộng ra các mối quan hệ Đông – Tây, mối quan hệ giữa 5 ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an.

    – Liên Xô và Mỹ đã mở nhiều hội nghị cấp cao để:

    Thỏa thuận giảm một bước quan trọng trong cuộc chạy đua vũ trang.

    Từng bước chấm dứt cục diên ” chiến tranh lạnh” giữa hai nước.

    Cùng hợp tác với nhau, giải quyết các vụ tranh chấp và xung đột quốc tế (1987 kí hiệp ước INF: thủ tiêu tên lửa tầm trung ở châu Âu, giải quyết xung đột ở Afghanistan, Nam Phi, Campuchia, Nicaragua….).

    – Cuối 1989, tại cuộc gặp không chính thức giữa Bush và Gorbachev ở đảo quốc Malta, Xô – Mỹ tuyên bố chấm dứt cuộc ” chiến tranh lạnh” mở ra thời kỳ sau

    “chiến tranh lạnh”.

    – Như vậy, thời kỳ ” chiến tranh lạnh” đã chấm dứt, quan hệ quốc tế bước sang thời kỳ mới.

    3. Tác động của việc chấm dứt ” chiến tranh lạnh” đối với các mối quan hệ quốc tế.

    Việc chấm dứt ” chiến tranh lạnh” giữa Liên Xô và Mỹ tạo nên biến chuyển quan trọng trong quan hệ quốc tế và cục diện chính trị thế giới:

    Quan hệ giữa 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an đã chuyển từ đối đầu sang đối thoại, thỏa hiệp, hợp tác, giải quyết những tranh chấp xung đột quốc tế.

    Khối Varsava tự giải thể (3/1991) nên không còn khối quân sự đối đầu nhau.

    Các tranh chấp, xung đột khu vực chuyển dần sang giải quyết bằng đối thoại, hợp tác như Xô – Mỹ hợp tác, thỏa hiệp giải quyết các vụ xung đột khu vực:, NamPhi, Afghanistan, Trung Đông, Campuchia, Nicaragua…..

    Liên Xô không can thiệp vào Đông Âu, chấm dứt việc thực hiện những cam kết với các nước XHCN.

    CTV Bản tin tư vấn – Nhà giáo Dương Việt Á

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Thay Đổi Của Quan Hệ Quốc Tế Sau Chiến Tranh Lạnh
  • Thắt Chặt Quản Lý Nhà Nước Mới Mong Giảm Được Tngt
  • Tổng Hợp Kiến Thức Về Quần Thể (Phần 2)
  • Cuộc Sống Không Phải Là Cuộc Đua
  • Giới Thiệu Tạp Chí Kinh Tế Và Dự Báo Số 36 (753)
  • Chiến Tranh Thế Giới Lần 1: Nguyên Nhân

    --- Bài mới hơn ---

  • Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
  • Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
  • Nguyên Nhân Kết Quả Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất (1914
  • Nguyên Nhân Dẫn Đến Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất?nguyen Nhan Nao Dan Den Chien Tranh The Gioi Thu Nhat
  • Lịch Sử 11 Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
  • Nguyên nhân cuộc chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử hào hùng 11

    Nguyên nhân cuộc chiến tranh thế giới thứ một là gì? Nguyên nhân cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất như nào? Chắc chắn khi nhắc tới một đại chiến nào đó ai cũng muốn biết được nguyên nhân sâu xa dẫn tới cuộc xung đột. Các cường quốc có nhiều xích mích từ lâu nhưng không thể xử lý trong hòa bình. Đặc biệt quan trọng vào thời gian từ lúc cuối thế kỉ 19 – đầu thế kỉ 20 thì chủ nghĩa tư bản càng lớn mạnh và tỏ ra ngang tàng hơn trước đây nhiều.

    Lực lượng của nhiều nước đế quốc bắt đầu chênh lệch nhiều nên nước lớn mạnh nhất nổi lên tham vọng xâm chiếm vùng đất mới. Thực tế lãnh địa của nhiều nước phân chia trước đó không đồng đều. Đế quốc già như nước Anh, Pháp lại quá nhiều đất đai, thuộc địa. Đế quốc trẻ như Mỹ, Đức lại ít thuộc địa nên chúng lăm le muốn phân chia lại.

    Vì thế từ sâu bên trong các nước đã có ý đồ muốn nuốt chửng nhau, không bên nào nhượng bộ bên nào cả. Cho nên sau nhiều lần tranh cãi lớn và thỏa thuận hợp tác không thành, cuối cùng cùng nổ ra cuộc chiến tranh giữa các nước lớn vào thời điểm cuối thế kỉ 19.

    Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn tới cuộc chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử hào hùng 11, sự chênh lệch về lực lượng khiến cho xích mích càng căng thẳng khó xử lý. Trước lúc thế chiến lớn nổ ra đã có hàng loạt các cuộc đụng độ nhỏ. Như cuộc chiến tranh giữa Nhật Bản và Trung Quốc, chiến trang giữa Tây Ban Nha và nước Mỹ,…

    Tình thế này tất yếu sẽ dẫn tới cuộc chiến tranh thế giới thứ 1 phát triển chóng mặt trên diện rộng để xử lý hoàn toàn những xích mích. Những tranh đấu, âm mưu, thù hằn được ấp ủ từ nhiều năm giữa các đế quốc, khiến cho những vùng lân cận bị tác động nặng.

    Nguyên cớ để phát triển chóng mặt cuộc chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử hào hùng 11 là vào năm 1914 Hoàng thân thừa kế ngai vị Áo – Hung bị giết hại ngay tại Bô-xni-a (Xéc bi). Đó là một điều không thể đồng ý và làm nguôi ngoai sự căm phẫn của người dân nước Áo – Hung.

    Nguyên nhân sâu xa dẫn tới thế chiến lần thứ một là gì?

    Diễn biến cuộc chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử hào hùng 11 (Cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất)

    Các nước bắt nguồn vào sẵn sàng chuẩn bị lực lượng, trang bị vũ khí hạng nặng và tập trung chuyên sâu trong tâm thế sẵn sàng chiến đấu. Trong cuộc đua này, nước là người hiếu chiến nhất và rõ ràng muốn cướp thật nhiều thuộc địa để mở rộng lãnh thổ. Đức đã liên kết với Áo và Hung, Ý để thành lập phe liên minh.

    Bên đối kháng, nước Anh liên kết với Nga, Pháp ký nhiều hiệu ước thành lập Phe Hiệp Ước. Đến đầu thế kỉ 20 thì Châu Âu đã tạo nên 2 khối quân sự chiến lược mạnh đối đầu kịch liệt, tranh giành nhau, điên cuồng chạy đua vũ trang. Nhằm chia lại thế giới, người dân khắp nơi lo lắng vì tác động của cuộc chiến tranh thế giới thứ 1.

    Đến đầu xuân năm mới 1914, các nước về cơ bản đã sẵn sàng chuẩn bị xong lực lượng để tham gia đại chiến. Ngày 28.6.1914, Áo – Hung tập trung chuyên sâu quân đội tại Bô-xni-a sẵn sàng tấn công để trả thù. Nhân đó, Đức hùa theo liên kết Áo tuyên chiến với Xéc – bi. Vậy là phát triển chóng mặt cuộc chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử hào hùng 11.

    Giai đoạn thứ nhất (1914 – 1916)

    Ngày 1-3/8/1914, Đức thẳng thừng tuyên chiến với Nga, Pháp. Ngày 4/8 nước Anh tuyên chiến với Đức, ngọn lửa cuộc chiến tranh phát triển chóng mặt ở khắp nơi. Nước Đức hung bạo tập trung quân đội tấn công khu vực phía Tây Châu Âu, âm mưu nắm trọn nước Pháp. Nga tấn công mãnh liệu phía Đông Đức nên Pháp được giải nguy.

    Giai đoạn thứ hai (1917 – 1918)

    Tới 2/1917, tại nước Nga diễn ra cuộc cách mệnh tháng 2 buộc đế quốc Mỹ nhảy vào đứng về phe Hiệp Ước. Phe liên minh liên tiếp bị vượt mặt vì bên Hiệp ước quá mạnh. Trong thời gian cuối năm 1917, phe Hiệp Ước tấn công buộc liên minh của Đức đầu hàng. Tới 11//11/1918, Đức đầu hàng phe liên minh vô xét tuyển. Cuộc chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử hào hùng 11 kết thúc phe Liên minh hoàn toàn thất bại.

    Trận chiến giữa các nước diễn ra khốc liệt

    Hậu quả của cuộc chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử hào hùng 11

    Hậu quả của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất là gì? Cuộc chiến tranh thế giới thứ 1 kết thúc để lại nhiều hệ quả nặng nề ở nhiều nước không chỉ riêng các nước tham gia trận chiến. Theo thống kê cho thấy hơn 10 triệu người dân thiệt mạng, hơn 20 triệu người bị thương nặng. Nhà cửa, các công trình xây dựng lớn nhỏ bị phá bỏ, chìm trong khói lửa.

    Người dân tang thương đói khổ, mất nhà tha hương khắp nơi. Các nước còn nợ nhau khối tiền khổng lồ cần được trả sau đó lâu dài. Gây tổn thất nặng nề tới nền kinh tế thị trường của nhiều quốc gia mà cho tới nhiều năm về sau mất thời gian phục hồi. Thiệt hại tài sản tới hàng trăm ngàn tỷ đô la.

    Map thế giới được phân chia lại mới, các nước phe liên minh giành nhiều thắng lợi. Nhiều quốc gia ở Châu Âu thành con nợ lớn của đế quốc Mỹ. Thực chất đại chiến này sẽ không xử lý được triệt để xích mích giữa các nước mà còn khiến thù hận sâu hơn.

    Tính chất của cuộc chiến tranh thế giới thứ 1 lịch sử hào hùng 11

    • Đây là đại chiến tranh nhằm tranh giành thuộc địa giữa các nước đế quốc, chỉ đem lại lợi nhuận cho giai cấp tư sản nắm quyền.
    • Tính chất của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất còn là một đại chiến tranh xâm lược và cướp đoạt lãnh thổ, thuộc địa của đối phương.
    • Là đại chiến tranh đế quốc phi nghĩa cả hai phe tham chiến
    • Hậu quả của cuộc chiến tranh thế giới thứ một là hết sức nặng nề cả về người và của.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Nhân Và Tính Chất Của Cuộc Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất
  • Nguyên Nhân, Diễn Biến, Tính Chất Và Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
  • Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất: Nguyên Nhân, Diễn Biến, Hậu Quả, Tính Chất
  • Chiến Tranh Thế Giới Thứ 1 Lịch Sử 11: Nguyên Nhân, Diễn Biến, Tính Chất
  • Nguyên Nhân Thường Gặp Gây Chảy Máu Mũi Và Cách Xử Lý
  • Nguyên Nhân, Kết Quả Và Sự Thật Sửng Sốt Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Kiện Nào Kết Thúc Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai?
  • Hiện Tượng Ứ Giọt Và Rỉ Nhựa
  • 5 Nguyên Nhân Hàng Đầu Dẫn Đến Thế Chiến Thứ Nhất
  • Những Nguyên Nhân Dẫn Đến Cái Chết Oan Uổng Của Vũ Nương
  • Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa Gdcd 11
  • Nguyên nhân của Chiến tranh thế giới thứ 2

    Lúc này các nước đế quốc bắt đầu dần dần hình thành nên hai khối đối kịch nhau, một bên gồm Pháp – Anh – Mỹ, một bên là Nhật Bản – Ý – Đức. Hai khối này có mâu thuẫn với nhau vô cùng gây gắt về vấn đề thị trường, thuộc địa nhưng cả hai cùng có chung kẻ thù muốn tiêu diệt là Liên Xô.

    Theo đó, khối Pháp – Anh – Mỹ đã thực hiện đường lối thỏa hiệp, nhượng bộ với mục tiêu để khối phát xít Nhật Bản – Ý – Đức chĩa mũi nhọn của cuộc chiến tranh này về phía Liên Xô. Với chính sách thỏa hiệp này, khi thực hiện xát nhập Áo vào Đức, Hít – Le chiếm luôn Tiệp Khắc vào tháng 3 năm 1939, nhưng từng đó là chưa đủ sức mạnh để đánh Liên Xô nên Hít – Le đã quyết tâm tấn công thêm các nước Châu Âu trước.

    Ngày 1 tháng 9 năm 1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan. Sau đó, Pháp và Anh tuyên chiến với phát xít Đức từ đây Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ. Thời gian diễn ra cuộc chiến tranh này kéo dài trong 6 năm, ở tất cả các mặt trận và phần lớn các nước trên thế giới, nên hậu quả của nó để lại cũng vô cùng khốc liệt cho nền kinh tế, người dân thế giới. Các bạn hãy đến với phần tiếp theo của bài viết, để nắm được kết quả của cuộc chiến

    Kết quả của Chiến tranh thế giới thứ 2

    Cuộc đối đầu và chiến đấu của hai phe Phát xít với phe Đồng Minh đã diễn ra trong 6 năm, bắt đầu từ năm 1939 đến năm 1945 với thắng lợi cuối cùng thuộc về phe Đồng Minh mà lực lượng chủ chốt là Mỹ, Anh, Liên Xô. Phe Phát Xít nhận thất bại nặng nề, sự tổn thất to lớn về cả người và tài sản của 3 quốc gia chính là Ý, Đức, Nhật. Với thất bại này, nước Đức bị chia thành Tây Đức và Đông Đức.

    Hậu quả mà chiến tranh thế giới thứ 2 để lại hậu quả vô cùng khủng khiếp, nghiêm trọng và ảnh hưởng tới hầu hết các quốc gia trên thế thế giới.

    • Cuộc chiến đã kéo hơn 70 quốc gia tham gia vào, có tới 1700 triệu người bị ảnh hưởng chiến tranh, làm cho trên 60 triệu người chết trong đó có hơn nửa là người dân bình thường. Có trên 90 triệu người bị thương, với con số này cho thấy thiệt hại của lớn hơn 10 lần so với Chiến tranh thế giới thứ nhất.
    • Nền kinh tế của các nước chiến tranh đi qua đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
    • Có đến hàng triệu người dân Châu Âu bị mất nhà cửa, tất cả các quốc gia đều phải chịu thiệt hại vô cùng nặng nề từ chiến tranh.

    Những sự thật sửng sốt về Chiến tranh thế giới thứ 2

    Chiến tranh thế giới thứ 2 được đánh giá là cuộc chiến khốc liệt, tàn bạo nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh thế giới. Bên cạnh những con số tổng hợp về thương vong, thiệt hại thì còn nhiều sự thật khác chưa được công bố nhiều trong sách giáo khoa Lịch sử ở các cấp học về Chiến tranh thế giới thứ 2. Để am hiểu, có nhiều thông tin về cuộc chiến này các bạn cần nắm thêm thông tin sau.

    Thứ nhất, trong Chiến tranh thế giới thứ 2 thì Canada chính là quốc gia thực hiện việc sản xuất nhiều xe oto tải nhất thế giới. Trong đó, có hàng loạt nhà máy sản xuất oto tải của Mỹ chuyển sang Canada hoạt động, vì những nhà máy của Mỹ khi này đang bận lắp ráp xe tăng. Được biết lượng xe tải mà quốc gia này sản xuất lớn hơn nhiều lượng xe tải của ba nước Đức – Nhật – Ý gộp lại.

    Thứ hai, từ nguồn thống kê của những nhà sử học Đức sau Thế chiến thứ 2, phát xít Đức đã mất tổng cộng 4429875 người lính, trong đó có tới 80% lính Đức thương vong là do Liên Xô gây ra. Con số này chưa bao gồm có dân thường.

    Thứ tư, ở cuộc bao vây Leningrad với 900 ngày đêm số dân thường thiệt mạng lên tới con số 3,4 triệu người. Trong khi đó, số quân đội Mỹ bị hy sinh, mất tính với thương vong ở toàn cuộc chiến này thì chỉ chiếm khoảng 1 triệu người, chỉ bằng 1/3.

    Thứ năm, trong trận tham chiến Trân Châu Cảng, số nữ ý tá của quân đội Mỹ là 1000 người, sau chiến tranh thì con số tăng lên 60000 người và có đến 1% số đó là những y tá da màu. Thế nhưng có một điểm lưu ý cần nhắc tới là thời gian này, nạn phân biệt chủng tộc tại Mỹ còn rất phổ biến.

    Thứ sáu, ở trận tấn công vào Phần Lan của quân đội Liên Xô năm 1939, con số thương vong mà Liên Xô phải hứng chịu là 1 triệu người, con số thương vong của Phần Lan chỉ là 70000 người. Con số thương vong này, được đánh giá là có mức chênh lệch lớn nhất ở trong lịch sử của chiến tranh nhân loại.

    Thứ bảy, trong mùa đông 1941 thống kê số lính Đức bị thương, tử vong vì bỏng lạnh nhiều hơn rất nhiều con số binh lính của Đức bị thương vong vì chiến đấu với Liên Xô.

    Thứ tám, kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, thì trung bình mỗi ngày người ta phát hiện ra ở Đức có 15 quả bom. Con số đó tăng lên 5500 quả mỗi năm.

    Thứ chín, trong Chiến tranh thế giới thứ 2 Mỹ và New Zealand đã cùng nhau thử nghiệm bí mật “bom tạo sóng thần”. Theo những tài liệu nghiên cứu về vấn đề này cho biết, đã có 10 vụ nổ được thử nghiệm với một quy mô lớn thực hiện ở ngoài khơi, nó có khả năng gây ra được những cơn sóng thần có tầm cao lên đến 10m, có thể phá hủy được một thành phố ở ven biển.

    Đó là những thông tin cơ bản về nguyên nhân, kết quả và những sự thật sửng sốt của Chiến tranh thế giới thứ 2 mà bài viết này cung cấp cho bạn đọc. Hy vọng, đó là những nội dung giúp các bạn có thêm những kiến thức về cuộc chiến này, giúp cho kiến thức lịch sử của các bạn được nâng lên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triệu Chứng Chảy Máu Mũi, Nguyên Nhân Và Cách Chữa Trị
  • Chảy Máu Mũi: Nguyên Nhân Và Cách Xử Trí Hiệu Quả
  • Nguyên Nhân Và Cách Xử Lý Nhanh Khi Bị Chảy Máu Mũi
  • Tránh Biến Chứng “chảy Máu Mũi” Mùa Lạnh
  • Những Cách Khắc Phục Khi Chó Bị Chảy Máu Mũi
  • Thế Nào Là “chiến Tranh”, “chiến Tranh Chính Nghĩa”, “chiến Tranh Phi Nghĩa”

    --- Bài mới hơn ---

  • Thế Nào Là Chiến Tranh Phi Nghĩa
  • Phân Biệt Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức
  • Phân Biệt Cổ Phiếu Và Trái Phiếu Theo Luật Chứng Khoán
  • Dấu Hiệu Nhận Biết Danh Từ, Tính Từ, Trạng Từ, Động Từ Trong Tiếng Anh
  • Phân Biệt Danh Từ Không Đếm Được Và Danh Từ Đếm Được
  • Bàn về Chiến tranh, chủ nghĩa Mác- Lê Nin đã viết: “Chiến tranh không bao giờ xuất hiện như một cái gì riêng biệt, mà nó là một hiện tượng xã hội cụ thể”.Cho dù chiến tranh mang một màu sắc chính trị nào đi chăng nữa thì nó vẫn là kẻ thù số một của con người, bởi nó luôn đe dọa sự sống của loài người.

    Chiến tranh là một hiện tượng xã hội , chính trị được thể hiện ở cuộc đấu tranh vũ trang giữa các nước hoặc giữa liên minh các nước. Mọi cuộc chiến tranh xét về bản chất xã hội đều là sự tiếp tục chính trị bằng bạo lực. Về mục đích chiến tranh có thể phân ra thành chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa.

    2. Thế nào là chiến tranh chính nghĩa

    “Chiến tranh chính nghĩa là cuộc chiến tranh của các dân tộc bị áp bức tiến hành để giải phóng dân tộc thoát khỏi sự thống trị của nước ngoài hoặc chiến tranh chống xâm lược bảo vệ nền độc lập tự do, tiến bộ xã hội”.

    Ví dụ1: Cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ của nhân dân Việt Nam. Đây là cuộc chiến tranh chính nghĩa mang tính chất là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Cuộc kháng chiến thắng lợi đã giải phóng hoàn toàn đất nước ta khỏi ách xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, đất nước ta giành được độc lập hoàn toàn. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã cổ vũ, thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển mạnh mẽ, làm suy yếu hoàn toàn chủ nghĩa đế quốc.

    Các cuộc chiến tranh lớn nhất, ác liệt nhất, có sức hủy diệt và tàn phá sự sống của loài người nhất là hai cuộc chiến tranh thế giới I ( 1914-1918) và Chiến tranh thế giới II ( 1939- 1945). Nguyên nhân nổ ra mỗi cuộc chiến tranh là do mâu thuẫn chính trị không thể điều hòa được, buộc phải dùng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn giữa các phe phái trong cùng một nước hoặc giữa các quốc gia với nhau, giữa liên minh quốc gia này với liên minh quốc gia khác.Sự tiến hành bất kì cuộc chiến tranh nào cũng đều do đường lối chính trị của các nước tham chiến quyết định. Ví dụ như : Đức phát động cuộc Chiến tranh thế giới thứ II với âm mưu bá quyền, thống trị nô dịch các dân tộc khác trên thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Phân Biệt Các Loại Mụn Và Cách Điều Trị Hiệu Quả Nhất
  • Phân Biệt Các Loại Mụn Và Cách Chữa Trị
  • Cách Phân Biệt Nước Tẩy Trang Bioderma Thật Và Giả Dành Cho Các Tín Đồ Làm Đẹp
  • Phân Biệt Bếp Từ, Bếp Điện Từ, Bếp Hồng Ngoại
  • Phân Biệt Bếp Từ Và Bếp Điện Từ Và Bếp Hồng Ngoại
  • Những Thay Đổi Của Quan Hệ Quốc Tế Sau Chiến Tranh Lạnh

    --- Bài mới hơn ---

  • “chiến Tranh Lạnh” Giữa Hai Nước Mỹ Và Liên Xô
  • Hãy Cẩn Thận Khi Bé Bị Vàng Da!
  • Làm Gì Khi Bé Bị Vàng Da?
  • Nguyên Nhân Bị Vàng Da Ở Trẻ Sơ Sinh? Cách Phân Biệt Vàng Da Sinh Lý Và Bệnh Lý
  • Trẻ Em Bị Vàng Da Là Bệnh Gì? Dấu Hiệu, Cách Chữa Và Phòng Tránh
  • Khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, quan hệ của phe Đồng minh trong chiến tranh đã nhanh chóng chuyển thành những mâu thuẫn đối đầu trực tiếp giữa hai khối Đông – Tây. Nguyên nhân khiến cho mâu thuẫn này xuất hiện là do tham vọng và âm mưu muốn làm bá chủ thế giới của đế quốc Mỹ.

    Vào năm 1947, học thuyết Truman được ra đời và công bố chính thức, khởi đầu cho một chính sách chống Liên Xô mới và là sự khởi nguồn cho cuộc Chiến tranh lạnh. Nội dung của học thuyết này khẳng định rằng sự tồn tại của Liên Xô chính là mối nguy cơ lớn đe dọa tới Mỹ và đề nghị viện trợ khẩn cấp cho Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp. Lời đề nghị này với mục đích nhằm biến hai nước này thành căn cứ quan trọng để chống lại Liên Xô cũng như các nước dân chủ nhân dân Đông Âu. Từ đây, những thay đổi trong quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh bắt đầu được hình thành.

    Sự đối lập về mục tiêu và chiến lược giữa Liên Xô và Mỹ đã dẫn tới tháng 6 năm 1947, Mỹ quyết định thực hiện kế hoạch Mác San nhằm phục hưng các nước tư bản chủ nghĩa Tây Âu. Tiếp đó, đến tháng 1 năm 1949, Liên Xô và các nước Đông Âu đã tiến hành thành lập Hội đồng tương trợ về kinh tế. Việc thành lập này đã tạo nên sự phân chia đối lập rõ ràng về kinh tế cũng như chính trị ở Châu Âu.

    Không đứng yên trước động thái này, năm 1949, Mỹ cũng đã thành lập khối NATO để nhằm mục đích chống lại Liên Xô và các nước Đông Âu. Sau đó, vào năm 1955, Liên Xô cùng với các nước Đông Âu cũng thành lập khối Vacsava để phòng thủ với mưu đồ của Mỹ. Bắt đầu từ đây, cục diện 2 phe chính thức được xác lập và chiến tranh lạnh bao trùm toàn thế giới. Vì vậy, sự biến chuyển trong quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh có nguyên nhân bắt nguồn từ đây.

    Xu thế hòa hoãn Đông – Tây và dấu hiệu chấm dứt chiến tranh lạnh

    Quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh có nhiều thay đổi khiến lịch sử thế giới ngỡ ngàng. Tuy nhiên, để có được điều đó thì xu thế hòa hoãn Đông – Tây và chiến tranh lạnh chấm dứt chính là cơ sở chính. Vào đầu thập kỉ 90, xu hướng hòa hoãn Đông – Tây đã bắt đầu có sự xuất hiện với những biểu hiện cụ thể như:

    • Ngày 9 – 11 -1972, Đông Đức – Tây Đức đã chính thức cùng nhau ký Hiệp định về những cơ sở quan hệ hai nước giúp cho mối quan hệ giữa hai quốc gia này chuyển sang giai đoạn mới tích cực hơn.
    • Cũng trong năm 1972, hai cường quốc Liên Xô – Mỹ đã ký hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược.
    • Tiếp đó, vào tháng 8 – 1975 33 nước châu Âu cùng với Mỹ và Canada đã cùng nhau ký Định ước Henxinki – Hiệp ước an ninh và hợp tác châu Âu. Nội dung định ước này khẳng định những nguyên tắc chính, cơ bản trong quan hệ giữa các quốc gia nhằm mục đích đảm bảo an ninh châu Âu cùng với sự hợp tác giữa các nước này.
    • Chuyển sang đầu những năm 70, hai cường quốc Xô – Mỹ đã bắt đầu có những cuộc gặp gỡ cấp cao đầu tiên.
    • Tháng 12/1989 tại cuộc gặp gỡ cấp cao giữa Liên Xô và Mỹ, hai quốc gia này đã cùng tuyên bố chính thức chấm dứt Chiến Tranh lạnh và phá hủy bức tường Berlin trước sự chứng kiến của người dân. Đồng thời cũng từ đây, quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh bắt đầu có những sự thay đổi đáng kể.

    Nguyên nhân dẫn đến sự chấm dứt của Chiến tranh lạnh

    • Cuộc chiến tranh lạnh diễn ra đã làm suy giảm đáng kể thế mạnh của Liên Xô – Mỹ
    • Bên cạnh đó, Tây Âu và Nhật bản cũng nhờ cơ hội này đã có sự vươn lên và trở thành đối thủ đáng gờm khiến Liên Xô và Mỹ. Điều này cũng khiến Xô – Mỹ thấy rằng cần phải tránh tình trạng đối đầu với hai quốc gia này để tạo sự ổn định và có cơ sở củng cố vị thế của mình trên trường quốc tế.
    • Không những thế, trong cuộc chiến tranh này, Liên Xô đã phải chịu những hậu quả nặng nề và rơi vào khủng hoảng trầm trọng.

    Những thay đổi tích cực trong quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh là điều có thể nhận thấy một cách dễ dàng. Cụ thể, nó được biểu hiện như sau:

    • Quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh đã giúp Liên Xô và Mỹ cải thiện mối quan hệ một cách tích cực cũng như tạo ra những chuyển biến quan trọng trong cục diện thế giới.
    • Cùng với đó, quan hệ giữa 5 quốc gia: Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc cũng có những chuyển biến tích cực đó là chuyển từ thế đối đầu sang đối thoại, hợp tác và thương lượng nhằm giải quyết mọi xung đột, tranh chấp trong hòa bình.
    • Đồng thời, các khối quân sự đối đầu cũng không còn tồn tại trong quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh. Nhờ đó, các vụ tranh chấp cũng như xung đột đều được các quốc gia giải quyết bằng phương pháp hòa bình.

    chiến tranh lạnh là gì lịch sử 12 em có suy nghĩ gì về chiến tranh lạnh quan hệ quốc tế trong và sau thời kỳ chiến tranh lạnh quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh có đặc điểm gì trật tự thế giới được thiết lập sau chiến tranh lạnh là đặc điểm quan hệ quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ 2 xu thế chính trong quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh là chiến tranh lạnh kết thúc mở ra điều kiện gì cho quan hệ quốc tế tìm hiểu đặc điểm về quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh lịch sử 12 Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thắt Chặt Quản Lý Nhà Nước Mới Mong Giảm Được Tngt
  • Tổng Hợp Kiến Thức Về Quần Thể (Phần 2)
  • Cuộc Sống Không Phải Là Cuộc Đua
  • Giới Thiệu Tạp Chí Kinh Tế Và Dự Báo Số 36 (753)
  • Www.honviet.com. Phim Tư Nhân Trên Sóng Truyền Hình: Cạnh Tranh Hay Giành Giật?
  • Nguyên Nhân Dẫn Tới Chiến Tranh Thế Giới Thứ 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Nguyên Nhân Dẫn Đến Cái Chết Của Vũ Nương Trong Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Nêu Những Nguyên Nhân Dẫn Đến Tai Nạn Giao Thông? Nguyên Nhân Nào Là Chủ Yếu? Vì Sao
  • Trẻ Sơ Sinh Bị Vàng Da: Dấu Hiệu Và Cách Chữa Trị Vàng Da Ở Trẻ
  • Phân Biệt Vàng Da Sơ Sinh Sinh Lý Và Vàng Da Bệnh Lý
  • Trẻ Sơ Sinh Bị Trớ Hay Ọc Sữa: Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục
  • Chiến tranh thế giới thứ 1 hay còn được gọi là đại chiến thế giới thứ nhất hoặc thế chiến 1, là một trong những cuộc chiến tranh khốc liệt, mang nhiều hậu quả nặng nề với quy mô rộng nhất trong các cuộc chiến tranh. Vậy nguyên nhân nào dẫn tới cuộc đại chiến tàn khốc này?

    Nguyên nhân nào gây ra chiến tranh thế giới thứ 1?

    Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh thế giới thứ 1 bắt nguồn từ quan hệ quốc tế nhiều mâu thuẫn. Mâu thuẫn này đến từ việc chủ nghĩa tư bản phát triển không đồng đều, sự sở hữu thuộc địa của các nước đế quốc cũng không đồng đều.

    Sự chênh lệch về lực lượng cũng như số lượng thuộc địa sở hữu giữa các đế quốc gây mâu thuẫn sâu sắc, đặc biệt là vấn đề thuộc địa. Và trước khi xảy ra chiến tranh thế giới thứ 1 thì đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh nhỏ nhằm tranh giành thuộc địa như chiến tranh giữa Nhật Bản và Trung Quốc, chiến tranh giữa Mỹ và Tây Ban Nha,…

    Cuộc chạy đua tranh giành thuộc địa diễn ra ngày càng nhiều hơn, và với tham vọng của mình, Đức đã cùng một số nước khác (Italia, Áo – Hung,…) liên kết lại với nhau thành phe “Liên Minh” với mưu đồ chiến tranh nhằm giành thuộc địa. Trước tình hình đó, Anh cũng đã lôi kéo, kí hiệp ước với các nước Pháp, Nga và tạo nên phe “Hiệp ước” đối phó với Đức và đồng minh.

    Lược đồ chiến tranh thế giới thứ nhất gồm ba nhóm nước: Các nước trung lập, các nước theo phe “Liên Minh” và các nước theo phe “Hiệp ước”. Các nước giữ được vị trí trung lập không nhiều, hầu hết các nước đế quốc nhỏ khác và các nước thuộc địa đều bị kéo vào cuộc chiến tàn khốc này.

    Hai phe quân sự “Liên Minh” và “Hiệp Ước” ngày càng đối đầu gay gắt, thi nhau ráo riết để chạy đua vũ trang mà đứng đầu là các nước đế quốc lớn với âm mưu cướp đoạt lãnh thổ, giành lấy thuộc địa của nhau. Có thể thấy cuộc chiến tranh phân chia lại thuộc địa là khó có thể tránh được.

    Nguyên nhân sâu xa đưa tới chiến tranh thế giới thứ 1

    Thực tế, nguyên nhân sâu xa dẫn tới chiến tranh thế giới thứ nhất đó là sự phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản. Thêm vào đó là mâu thuẫn sâu sắc về vấn đề thuộc địa giữa các đế quốc: các đế quốc trẻ như Đức, Nhật Bản, Mỹ nắm giữ ít thuộc địa, trong khi những đế quốc lâu đời như Anh, Pháp hay Nga lại có trong tay nhiều thuộc địa. Điều này dẫn tới mâu thuẫn, sự không bằng lòng giữa các đế quốc về sở hữu thuộc địa mà trước tiên đó là mâu thuẫn giữa Đức và Anh.

    Sự phát triển chênh lệch của chủ nghĩa tư bản cùng mâu thuẫn thuộc địa gay gắt giữa các đế quốc dẫn tới tham vọng tranh giành, phân chia lại thị trường thuộc địa. Đây là nguyên nhân sâu xa dẫn tới cuộc đại chiến thế giới lần 1.

    Nguyên nhân trực tiếp châm ngòi chiến tranh thế giới thứ 1 là gì?

    Nguyên nhân trực tiếp cho cuộc chiến tranh tàn khốc này là sự xuất hiện của hai phe quân sự “Liên Minh” và “Hiệp Ước” đối đầu, tranh giành nhau. Hai phe đế quốc này thi nhau chạy đua vũ trang với tham vọng phân chia lại thuộc địa, làm chủ thế giới. Đến khoảng năm 1914 thì các nước đế quốc đã cơ bản chuẩn bị xong về vũ trang, quân sự để sẵn sàng cho cuộc chiến tranh giành thuộc địa.

    Vậy vì sao chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, duyên cớ do đâu?

    Ngòi lửa chiến tranh đó là sự kiện Thái tử Áo bị ám sát bởi Xéc-bi trong một cuộc tập trận của Áo – Hung tổ chức tại thủ đô của Booxxnia. Sự kiện này đã tạo cơ hội cho Đức ép Áo tuyên chiến với Xéc-bi, sau đó là một loạt các lời tuyên chiến khác, dẫn tới cuộc đại chiến thế giới nổ ra mạnh mẽ.

    Chiến tranh thế giới thứ nhất vô cùng tàn khốc, cuộc chiến này đã để lại những hậu quả nặng nề: hơn 10 triệu người thiệt mạng, hơn 20 triệu người khác bị thương cùng những món nợ của các nước Châu Âu với Mỹ, chưa kể những thiệt hại cho sự phát triển của nhân loại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chảy Máu Cam (Chảy Máu Mũi): Nguyên Nhân, Cách Xử Trí Tại Nhà
  • Chảy Máu Mũi: Nguyên Nhân, Cách Xử Lý Và Phòng Ngừa
  • Nguyên Nhân, Ý Nghĩa Cái Chết Của Nhân Vật Lão Hạc
  • Nguyên Nhân Nào Dẫn Tới Chậm Kinh Ở Nữ Giới
  • Nguyên Nhân Chậm Kinh Nguyệt Ở Chị Em Phụ Nữ
  • Chiến Tranh Lạnh Trong Lịch Sử Xung Đột Thế Kỷ 20 (Phần 2)

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Câu Hỏi Trắc Nghiệm Chủ Đề Các Nước Đông Nam Á
  • Các Nguyên Nhân Gây Tình Trạng Khó Thở
  • Nguyên Nhân Gây Khó Thở Khi Ngủ Và Cách Khắc Phục
  • Tìm Nguyên Nhân, Giải Pháp Khắc Phục Lũ Lụt Ở Miền Trung
  • Khái Niệm Lạm Phát Là Gì? Nguyên Nhân Gây Ra Lạm Phát
  • Khrushchev quyết định cần đẩy Mỹ ra khỏi Berlin và đạt được một dàn xếp cuối cùng đối với Chiến tranh thế giới lần thứ hai nhằm giúp Liên Xô củng cố sự kiểm soát của mình ở Đông Âu và bắt đầu tận dụng lợi thế của quá trình phi thực dân hóa ở Thế giới thứ ba. Nhưng những nỗ lực và cách Khrushchev đàm phán với Mỹ lại khiến người ta liên tưởng tới cách hoàng đế nước Đức tìm cách buộc Anh đàm phán những năm trước 1914, đầy hăm dọa và lừa dối. Những nỗ lực đòi Mỹ chấp nhận các điều khoản của Liên Xô đã phản tác dụng. Khrushchev đã thất bại trong cuộc khủng hoảng 1958 -1961 ở Berlin và cả trong cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba năm 1962.

    Như chúng ta sẽ thấy ở phần sau, Liên Xô và Mỹ đã tiến quá sát tới bờ vực của chiến tranh hạt nhân trong cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba đến mức hai bên phải điều chỉnh mối quan hệ song phương sang một giai đoạn mới. Từ 1963 đến 1978, mối quan hệ đã bớt căng thẳng và hai bên dần dần đi vào thời kỳ hòa dịu. Sau khủng hoảng tên lửa ở Cuba, các cuộc đàm phán kiểm soát vũ khí đã dẫn tới sự ra đời Hiệp ước cấm thử vũ khí nguyên tử hạn chế nhằm ngăn ngừa các thử nghiệm hạt nhân trong khí quyển vào năm 1963 và Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí nguyên tử (NPT) vào năm 1968. Thương mại song phương bắt đầu dần phát triển, tình trạng hòa dịu dường như được mở rộng. Chiến tranh Việt Nam cũng đã khiến Mỹ chú ý nhiều hơn tới mối đe dọa đến từ chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc.

    Từ 1969 đến 1974, chính quyền Nixon đã sử dụng tình trạng hòa dịu như một phương tiện nhằm theo đuổi các mục tiêu của chính sách ngăn chặn. Sau khủng hoảng tên lửa Cuba, Liên Xô khởi động việc phát triển vũ trang và đạt được mức cân bằng về vũ khí nguyên tử với Mỹ. Chiến tranh Việt Nam đã dẫn tới tình trạng thất vọng của công luận Mỹ về chính sách can thiệp trong Chiến tranh lạnh. Chiến lược của Nixon gồm 4 điểm chính: (1) thương lượng một hiệp ước kiểm soát vũ khí chiến lược với Liên Xô để chốt khối lượng vũ khí nguyên tử của hai nước ở mức tương đối cân bằng; (2) khai thông quan hệ ngoại giao với Trung Quốc và từ đó tạo ra thế cân bằng quyền lực ba bên ở Châu Á (chứ không đẩy Liên Xô và Trung Quốc tới chỗ liên minh với nhau); (3) tăng cường thương mại từ đó sử dụng chiến lược “củ cà rốt” bên cạnh “cây gậy” trong mối quan hệ với Liên Xô; và (4) sử dụng các “kết nối” để gắn kết những phần khác nhau trong chính sách. Đỉnh cao của giai đoạn hòa dịu là những năm 1972-1973, nhưng không kéo dài được bao lâu.

    Chiến tranh Trung Đông 1973 và sự giúp đỡ của Liên Xô cho phong trào chống phương Tây ở Châu Phi dẫn tới cảm giác Mỹ bị lừa dối. Môi trường chính trị trong nước của Mỹ cũng góp phần làm tình trạng hòa dịu suy yếu khi những nhà lập pháp Mỹ như Thượng Nghị sĩ Henry Jackson cố gắng gắn vấn đề thương mại với vấn đề nhân quyền ở Liên Xô, như vấn đề Liên Xô đối xử với người Do Thái. Năm 1975 khi Bồ Đào Nha trao trả độc lập cho Angola và Mozambique, Liên Xô đã giúp đưa quân Cuba sang các nước này nhằm duy trì các chính phủ thân cộng ở đây. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống 1976, Gerald Ford không bao giờ sử dụng từ “hòa dịu.” Người kế nhiệm ông là Jimmy Carter cố gắng tiếp tục kéo dài thời kỳ hòa dịu với Liên Xô trong suốt 2 năm đầu nhiệm kì, nhưng Liên Xô và Cuba lại can thiệp vào cuộc nội chiến ở Ethiopia, đồng thời Liên Xô tiếp tục phát triển sức mạnh quân sự, và vào tháng 12/1979 Liên Xô giáng một đòn kết thúc thời kỳ hòa dịu bằng cách đưa quân vào Afghanistan.

    Nhưng tại sao nó lại kết thúc? Nhiều người lập luận rằng chính chính sách ngăn chặn đã phát huy tác dụng. Ngay sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc George Kennan đã cho rằng nếu Mỹ có thể ngăn cản được Liên Xô bành trướng thế lực thì Liên Xô sẽ không thể nuôi dưỡng được hệ tư tưởng của mình và chủ nghĩa cộng sản sẽ dần dần suy yếu. Các tư tưởng mới rồi sẽ xuất hiện, người ta sẽ thấy rằng chủ nghĩa cộng sản không phải là trào lưu của tương lai và lịch sử sẽ không tiếp tục đứng về phía họ. Trong một chừng mực nào đó, Kennan đã đúng. Sức mạnh quân sự của Mỹ giúp ngăn chặn Liên Xô bành trướng trong khi quyền lực mềm về văn hóa, giá trị và tư tưởng của Mỹ đã làm xói mòn hệ tư tưởng cộng sản. Nhưng câu hỏi về thời điểm vẫn còn đó, tại sao lại là năm 1989? Tại sao cuộc chiến lại kéo dài đến bốn thập kỷ? Tại sao lại tốn nhiều thời gian để kết thúc như thế? Hay tại sao nó không kéo dài thêm 10 năm nữa? Có lẽ chính sách ngăn chặn đã phát huy tác dụng nhưng điều đó vẫn chưa đủ để giải đáp tất cả các câu hỏi trên.

    Một cách giải thích khác đi theo hướng “sự bành trướng quá mức của các đế chế.” Nhà sử học Paul Kennedy của Đại học Yale lập luận rằng các đế chế đã bành trướng quá mức cho đến khi sự bành trướng này làm xói mòn sức mạnh của nội tại của chính họ. Liên Xô là trường hợp như vậy khi đầu tư hơn ¼ nền kinh tế của mình cho hoạt động quốc phòng và ngoại giao (trong khi Mỹ chỉ đầu tư vào đó 6% vào những năm 1980). Nhưng Kennedy cũng nói rằng không một đế chế đa quốc gia bành trướng quá mức nào trong lịch sử từng tự sụp đổ cho đến khi bị đánh bại hay suy yếu trong một cuộc chiến tranh lớn giữa các cường quốc. Một cách giải thích thứ ba là việc Mỹ xây dựng lực lượng quân sự vào thập niên 1980 đã buộc Liên Xô phải đầu hàng trong Chiến tranh lạnh. Ở chừng mực nào đó đúng là những chính sách của Tổng thống R. Reagan đã khiến Liên Xô phải dàn trải sức mạnh quá mức, tuy nhiên đây cũng chưa phải là câu trả lời đầy đủ. Suy cho cùng thì những giai đoạn Mỹ phát triển sức mạnh quân sự trước kia đã không đem lại tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến như thế. Vậy tại sao lại là 1989? Chúng ta phải đi tìm những nguyên nhân sâu xa hơn bởi vì nếu cho rằng chính sách và luận điệu của người Mỹ vào những năm 1980 là nguyên nhân chính dẫn đến sự suy yếu của Liên Xô có lẽ chẳng khác nào nói một con gà trống luôn cho rằng chính tiếng gáy của nó đã gọi mặt trời thức giấc, một ví dụ khác về sai lầm trong việc đưa ra các lập luận nhân quả.

    Chính sách đối ngoại của Gorbachev, cái mà ông gọi là “tư duy mới,” cũng đã góp phần dẫn đến việc kết thúc Chiến tranh lạnh. Chính sách này có hai yếu tố rất quan trọng. Một là việc thay đổi tư tưởng mà các nhà kiến tạo nhấn mạnh, như về khái niệm an ninh chung vốn có thể hóa giải được thế tiến thoái lưỡng nan trong an ninh bằng cách cùng nhau tham gia đảm bảo an ninh. Gorbachev và những phụ tá của ông đã nói rằng trong một thế giới nơi mà sự phụ thuộc lẫn nhau đang gia tăng thì an ninh không phải là một trò chơi có tổng bằng không và tất cả có thể đều được lợi thông qua hợp tác. Sự tồn tại của các mối đe dọa hạt nhân có nghĩa là cả thế giới có nguy cơ bị hủy diệt nếu sự cạnh tranh vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Thay vì cố gắng chạy đua có được càng nhiều vũ khí nguyên tử càng tốt, Gorbachev đã cho ra đời học thuyết “vừa đủ,” theo đó chỉ cần một số lượng vũ khí nguyên tử tối thiểu nhằm tự vệ. Những khía cạnh khác trong sự thay đổi chính sách đối ngoại của Gorbachev là quan điểm của ông cho rằng chủ nghĩa bành trướng là có hại nhiều hơn có lợi. Việc Liên Xô kiểm soát Đông Âu tốn kém quá nhiều mà đem lại quá ít lợi ích, và việc xâm lược Afghanistan cũng là một thảm họa đắt giá. Áp đặt một hệ thống theo chủ nghĩa cộng sản lên các quốc gia láng giềng nhằm đảm bảo an ninh cho Liên Xô không còn là một việc làm cần thiết nữa.

    Nhưng một câu hỏi vẫn chưa được giải đáp, “Tại sao lại là năm 1989? Tại sao lại dưới thời Gorbachev?” Trong một chừng mực nào đó, Gorbachev là một tai nạn của lịch sử. Vào đầu những năm 1980, ba nhà lãnh đạo lão thành của Liên Xô lần lượt qua đời. Chỉ tới năm 1985 thì thế hệ trẻ hơn, những người trưởng thành dưới thời của Khrushchev, thường được gọi là “thế hệ 1956,” mới nắm được cơ hội của mình. Nhưng nếu các thành viên trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô chọn một người có chủ trương cứng rắn chứ không phải Gorbachev vào năm 1985 thì có thể đất nước Liên Xô đang suy yếu kia có thể còn tiếp tục tồn tại thêm 10 năm nữa. Liên Xô sẽ không sụp đổ nhanh chóng đến vậy. Cá tính của Gorbachev đã góp phần lý giải vấn đề thời gian.

    Đối với các nguyên nhân gián tiếp, Kennan và Kennedy đều có thể được nhắc tới ở đây. Hai nguyên nhân gián tiếp quan trọng đó là quyền lực mềm của các tư tưởng tự do, được nhấn mạnh trong thuyết kiến tạo, và sự dàn trải sức mạnh quá mức của Liên Xô như lập luận của các nhà hiện thực. Các tư tưởng về tự do dân chủ và tư duy mới mà Gorbachev vận dụng là các tư tưởng của phương Tây mà thế hệ 1956 đã đón nhận. Một trong những kiến trúc sư chủ chốt của perestroika và glasnost, Aleksandr Yakovlev, từng là một sinh viên tham gia chương trình trao đổi ở Mỹ và đã bị các học thuyết về chủ nghĩa đa nguyên kiểu Mỹ cuốn hút. Sự phát triển của các mối liên lạc và giao tiếp xuyên quốc gia đã giúp xuyên thủng bức mành sắt và giúp văn hóa đại chúng phương Tây cùng các tư tưởng tự do lan tỏa. Sự phát triển kinh tế của các nước phương Tây cũng mang lại sức lôi cuốn lớn. Trong khi sức mạnh quân sự giúp ngăn chặn xu hướng bành trướng của Liên Xô thì chính sức mạnh mềm đã làm xói mòn hệ tư tưởng cộng sản đằng sau bức mành sắt. Khi sụp đổ vào năm 1989, Bức tường Berlin không phải bị tác động bởi đạn pháo, mà bởi những nhát búa và những chiếc máy ủi của chính những người dân.

    Về việc dàn trải sức mạnh quá mức, ngân sách khổng lồ dành cho quốc phòng đã bắt đầu ảnh hưởng lên các mặt khác của đời sống xã hội Liên Xô. Hệ thống chăm sóc y tế suy giảm và tỉ lệ tử vong ở Liên Xô đã gia tăng (Liên Xô là nước phát triển duy nhất xảy ra tình trạng này). Cuối cùng, ngay cả quân đội cũng nhận ra gánh nặng bắt nguồn từ việc dàn trải sức mạnh quá mức. Năm 1984, nguyên soái Ogarkov, tổng tham mưu trưởng quân đội Liên Xô, nhận ra rằng Liên Xô cần một nền tảng kinh tế dân sự tốt hơn và được tiếp cận nhiều hơn với công nghệ và thương mại của phương Tây. Nhưng trong suốt thời kỳ trì trệ đó, những nhà lãnh đạo bảo thủ đã không sẵn lòng lắng nghe và Ogarkov đã bị buộc phải rời khỏi vị trí của mình.

    Do đó, những nguyên nhân gián tiếp nêu trên là quan trọng, mặc dù rốt cuộc chúng ta vẫn phải xem xét các nguyên nhân sâu xa, bao gồm sự suy giảm ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa (giải thích theo thuyết kiến tạo) và sự thất bại của nền kinh tế Liên Xô (giải thích theo thuyết hiện thực). Việc mất uy tín lãnh đạo của chủ nghĩa cộng sản trong thời kỳ hậu Chiến tranh thế giới lần thứ hai là khá nghiêm trọng. Ở giai đoạn đầu tiên, ngay sau năm 1945, chủ nghĩa cộng sản thực sự có sức hút rộng rãi. Nhiều chiến sĩ cộng sản đã dẫn dắt phong trào kháng chiến chống chủ nghĩa phát xít ở Châu Âu, và nhiều người tin rằng chủ nghĩa cộng sản là trào lưu của tương lai. Liên Xô đã tạo ra được rất nhiều quyền lực mềm từ ý thức hệ cộng sản nhưng họ đã nhanh chóng lãng phí điều này. Quyền lực mềm của Liên Xô bị suy giảm dần dần bởi quá trình phi-Stalin-hóa vào năm 1956, năm những sai lầm của ông được phơi bày; bởi việc đàn áp ở Hungary năm 1956, ở Tiệp Khắc năm 1968 và ở Ba Lan năm 1981; cũng như bởi sự gia tăng truyền bá xuyên quốc gia các lý tưởng tự do. Mặc dù trên lý thuyết thì chủ nghĩa cộng sản hướng tới việc thiết lập bình đẳng giai cấp, nhưng những người kế thừa tư tưởng của Lênin lại nuôi dưỡng quyền lực trong nước thông qua hệ thống an ninh quốc gia tàn khốc với những trại cải tạo, trại lao động, kiểm duyệt gắt gao và sử dụng những người chỉ điểm. Mạng lưới kiểm soát hà khắc đã khiến người dân Liên Xô mất niềm tin vào hệ thống chính quyền và điều này được thể hiện qua dòng chảy văn chương phản kháng ngầm cũng như sự chống đối gia tăng của các nhà hoạt động vì nhân quyền.

    Bên cạnh đó, kinh tế Liên Xô cũng đã suy giảm, phản ánh khả năng ngày càng hạn chế của hệ thống kế hoạch tập trung trong việc đối phó với những thay đổi của nền kinh tế thế giới. Stalin đã tạo ra một hệ thống chỉ đạo kinh tế tập trung hóa trong đó nhấn mạnh nền công nghiệp nặng. Hệ thống này rất thiếu linh hoạt và kém hiệu quả, đồng thời có xu hướng níu giữ lao động chứ không chuyển lao động sang những ngành công nghiệp dịch vụ đang rất phát triển. Như nhà kinh tế học Joseph Schumpeter đã chỉ ra, chủ nghĩa tư bản mang tính sáng tạo cao, luôn phản ứng linh hoạt với các làn sóng lớn của sự thay đổi về kỹ thuật. Vào cuối thế kỷ 20, thay đổi cơ bản về kỹ thuật của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba chính là vai trò ngày càng gia tăng của thông tin với tư cách là một nguồn lực khan hiếm nhất trong nền kinh tế. Hệ thống của Liên Xô rất yếu kém trong việc xử lý thông tin. Tính bí mật của hệ thống chính trị cũng có nghĩa là dòng chảy thông tin bị ngưng trệ và chậm chạp.

    Trái ngược với cách mà hầu hết lịch sử được ghi lại, các nhà sử học nghiên cứu về Chiến tranh lạnh cho tới cuối những những năm 1980 vẫn thường xuyên chạy theo sự kiện chứ không phải ngồi lại để miêu tả lại sự kiện sau khi nó đã hoàn thành. Chúng ta không có cách nào có thể biết được kết quả cuối cùng, và chúng ta cũng chỉ có thể xác định được động cơ của một số chứ không phải tất cả các bên tham gia chủ chốt… Giờ thì chúng ta mới biết. Hay ít nhất là giờ chúng ta biết được nhiều hơn so với trước kia. Chúng ta sẽ không bao giờ biết được toàn bộ câu chuyện: chúng ta không có được câu chuyện đầy đủ cho bất kỳ sự kiện lịch sử nào, cho dù sự kiện đó đã diễn ra cách đây bao lâu. Các sử gia cũng chỉ có thể khôi phục lại những gì đã thực sự diễn ra trong quá khứ tương tự như những bản đồ miêu tả lại địa hình trên thực tế. Nhưng chúng ta có thể diễn giải cho quá khứ, giống như những nhà kỹ thuật bản đồ vẽ lại địa hình một cách tương đối. Và nhờ sự kết thúc của Chiến tranh lạnh cùng với sự giải mật một số liệu của Liên Xô cũ, Đông Âu và Trung Quốc chúng ta mới có thể kéo những mô tả lịch sử của chúng ta xích lại gần hơn với những gì diễn ra trên thực tế. – John L. Gaddis, “Lịch sử mới về Chiến tranh lạnh”

    Vũ khí nguyên tử đã thay đổi bản chất chiến tranh nhưng không thay đổi cách tổ chức thế giới. Một thế giới vô chính phủ sẽ tiếp tục tồn tại trong kỷ nguyên hạt nhân. Năm 1946, khi Mỹ đưa ra kế hoạch Baruch nhằm thiết lập việc kiểm soát vũ khí nguyên tử quốc tế, Liên Xô xem đó như một âm mưu khác của Mỹ. Sau thất bại này, Albert Einstein phàn nàn rằng mọi thứ đã thay đổi ngoại trừ tư duy của chúng ta. Có lẽ trong giai thoại này người ta cho rằng ông muốn nói “vật lý đơn giản hơn chính trị.”

    Có cả lý do quân sự và chính trị giải thích cho việc tại sao vũ khí nguyên tử không gây tác động mạnh ngay sau năm 1945. Những loại vũ khí nguyên tử nguyên sơ không có sức tàn phá nhiều hơn so với những vũ khí truyền thống nguy hiểm nhất được sử dụng hàng loạt. Trận oanh tạc bom lửa thành phố Dresden của Đức năm 1945 khiến nhiều người thiệt mạng hơn so với vụ đánh bom nguyên tử ở Hiroshima. Dù một vũ khí nguyên tử có thể có tác dụng bằng với cả một đợt không kích bằng bom thông thường, nhưng thời gian đầu Mỹ không có nhiều vũ khí nguyên tử đến vậy. Mỹ chỉ có hai quả bom nguyên tử vào năm 1947 và 50 quả vào năm 1948. Nhiều nhà hoạch định chiến lược quân sự nghĩ rằng bom nguyên tử không hoàn toàn khác biệt mà chỉ là một sự nâng cấp sức công phá của vũ khí thông thường mà thôi.

    Sự đối đầu Mỹ – Xô nổi lên cũng làm chậm thay đổi tư duy chính trị. Liên Xô không tin tưởng Liên Hiệp Quốc vì tổ chức này phụ thuộc quá nhiều vào Mỹ. Mỹ cũng không thể ép buộc Liên Xô hợp tác vì Châu Âu đã bị biến thành con tin giữa Mỹ và Liên Xô. Nếu Mỹ đe dọa tấn công hạt nhân, Liên Xô có thể đe dọa xâm lược Châu Âu bằng các lực lượng thông thường. Kết quả là một sự bế tắc. Những tác động vật lý mang tính cách mạng của công nghệ hạt nhân ban đầu không đủ để thay đổi cách các quốc gia hành xử trong một hệ thống vô chính phủ.

    Giai đoạn thứ hai của cách mạng hạt nhân diễn ra năm 1952 khi bom hydro được thử nghiệm lần đầu tiên. Bom hydro (hay còn gọi là bom H) sử dụng năng lượng nhiệt hạch được tạo ra khi các nguyên tử kết hợp lại với nhau, thay vì tách ra khỏi nhau như trong bom phân hạch thời kỳ trước đó. Bom H làm gia tăng mạnh mẽ sức phá hủy của một vũ khí đơn lẻ. Vụ nổ nhân tạo lớn nhất trên bề mặt trái đất diễn ra vào năm 1961 khi Liên Xô cho nổ một quả bom hydro 60 megaton, gấp 20 lần tất cả sức mạnh thuốc nổ được dùng trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

    Trớ trêu là thay đổi quan trọng hơn đi kèm với sự phát triển của bom H là khả năng thu nhỏ. Công nghệ nhiệt hạch giúp bom H có thể chứa đựng sức mạnh tàn phá khủng khiếp trong những thiết bị kích thước rất nhỏ. Những hệ thống chuyên chở bom nguyên tử thời kỳ sơ khai phải tăng kích thước và đòi hỏi nhiều không gian hơn khi những quả bom cũng trở nên lớn hơn. Máy bay ném bom B-36 là một máy bay lớn gồm tám động cơ cùng một khoang lớn để chứa chỉ một quả bom. Ngược lại, một quả bom H có cùng khả năng phá hủy có kích thước nhỏ hơn nhiều. Sau khi một quả bom H được gắn vào đầu tên lửa đạn đạo, chiến tranh hạt nhân xuyên lục địa có thể diễn ra trong vòng chỉ 30 phút so với 8 giờ để một máy bay B-36 có thể bay cùng khoảng cách như vậy.

    Việc gia tăng sức phá hủy của bom H cũng ảnh hưởng sâu sắc tới hệ quả của chiến tranh hạt nhân. Giờ đây chiến tranh sẽ không còn được coi chỉ là việc mở rộng chính trị bằng các phương tiện khác. Karl von Clausewitz (1780-1831), một vị tướng và một chiến lược gia quân sự người Áo thế kỷ 19, nói rằng chiến tranh là một hoạt động chính trị và do đó ông nhấn mạnh chiến tranh tận diệt là một điều ngớ ngẩn. Sức tàn phá khủng khiếp của vũ khí nguyên tử có nghĩa là giờ đây phương tiện quân sự đã trở nên quá chênh lệch so với tất cả mục tiêu chính trị mà một đất nước có thể theo đuổi. Sự chênh lệch giữa mục tiêu và phương tiện khiến người ta không dám sử dụng vũ khí nguyên tử, thứ vũ khí “tối thượng,” trong phần lớn các tình huống. Vũ khí nguyên tử đã không được sử dụng kể từ năm 1945, cho nên đã tồn tại quan điểm xem vũ khí nguyên tử chỉ là để phô trương sức mạnh mà thôi. Thực tế vũ khí nguyên tử quá mạnh, quá khủng khiếp.

    Bom H đã gây nên năm ảnh hưởng chính trị quan trọng dù nó không thể biến đổi tình trạng vô chính phủ mà trong đó thế giới tồn tại. Trước hết, nó làm hồi sinh khái niệm chiến tranh hạn chế. Nửa đầu thế kỷ 20 chứng kiến sự thay đổi từ chiến tranh giới hạn của thế kỷ 19 sang hai cuộc chiến tranh thế giới, những cuộc chiến đã cướp đi mạng sống hàng chục triệu người. Vào giữa thế kỷ, các nhà phân tích xem thế kỷ 20 là “thế kỷ của chiến tranh toàn diện.” Nhưng chiến tranh trong nửa sau thế kỷ 20 lại giống các cuộc chiến tranh cũ của thế kỷ 18 và 19 hơn. Ví dụ, các cuộc chiến tranh ở Việt Nam và Triều Tiên khiến hơn 55.000 người Mỹ chết nhưng các cuộc chiến này vẫn là những cuộc chiến giới hạn về phạm vi và quy mô. Ở Việt Nam và Afghanistan, Mỹ và Liên Xô chấp nhận thất bại mà không sử dụng vũ khí nguyên tử.

    Thứ hai, các cuộc khủng hoảng thay thế chiến tranh trung tâm trở thành “khoảnh khắc sự thật.” Trong quá khứ, chiến tranh là lúc để lật ngửa mọi lá bài. Nhưng trong kỷ nguyên nguyên tử, chiến tranh gây nên sức tàn phá quá lớn và những khoảnh khắc sự thật kiểu cũ trở nên quá nguy hiểm. Trong suốt Chiến trang lạnh, khủng hoảng Berlin, khủng hoảng tên lửa Cuba và khủng hoảng Trung Đông vào đầu những năm 1970 đóng vai trò tương tự như chiến tranh, là khoảng thời gian chứng kiến tương quan lực lượng thực sự về sức mạnh quân sự. Thứ ba, vũ khí nguyên tử khiến cho răn đe trở thành chiến lược chủ chốt. Giờ đây điều quan trọng là tổ chức sức mạnh quân đội nhằm làm cho đối phương lo sợ khiến họ không dám tấn công. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mỹ dựa vào khả năng huy động và dần dần xây dựng một cỗ máy chiến tranh sau khi chiến tranh đã bắt đầu, nhưng cách tiếp cận đó sẽ không còn hiệu quả khi chiến tranh hạt nhân có thể diễn ra chóng vánh trong vài giờ đồng hồ.

    John L. Gaddis, “The New Cold War History”, Foreign Policy Research Institute Footnotes 5:5 (6/1998).

    [3] United States Catholic Conference, “The Challenge of Peace: God’s Promise and Our Response,” Origins 13:1 (19/5/1983), trang 1.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Nhân Kinh Nguyệt Không Đều Do Đâu?
  • 10 Nguyên Nhân Dẫn Đến Kinh Nguyệt Không Đều Thường Gặp Nhất
  • Kinh Nguyệt Không Đều: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Cách Khắc Phục
  • Những Nguyên Nhân Gây Ra Tình Trạng Kinh Nguyệt Không Đều ?
  • Nguyên Nhân Kinh Nguyệt Không Đều Và Cách Điều Trị