Kinh Tế Nhật Bản Và Sự Phát Triển “Thần Kỳ” Sau Thế Chiến Thứ 2

--- Bài mới hơn ---

  • Đột Biến Gen Là Gì?
  • Động Lực Nào Thúc Đẩy Quá Trình Chuyển Biến Từ Vượn Thành Người?
  • Sự Phát Triển Kinh Tế Của Mỹ (1945
  • Vì Sao Quần Áo Đang Mặc Bị Mốc, Một Số Mẹo Hay Tẩy Mốc Hiệu Quả/ Giặt Là Nhật Bản
  • Top 7 Cách Tẩy Quần Áo Màu Bị Mốc Đen
  • Là quốc gia bại trận, sau Chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản lâm vào khủng hoảng trầm trọng, đặc biệt là về kinh tế. Để giải quyết vấn đề này, nước Nhật đã tiến hành cải cách ruộng đất, cải tổ công ty và cải thiện điều kiện làm việc của công nhân…Điều này đem đến sự phát triển “thần kỳ” của kinh tế Nhật Bản trong giai đoạn 1951-1973. Cùng tìm hiểu chi tiết vấn đề này qua bài viết sau.

    Sau Chiến tranh thế giới thứ 2 – nền kinh tế Nhật như thế nào?

    Chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc, nền kinh tế nước Nhật lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng; thiếu năng lượng, lạm phát kinh tế, vấn nạn thất nghiệp…Đất nước Nhật Bản bị quân đội Mỹ chiếm đóng.

    Hầu hết các cơ sở sản xuất đều được chuyển sang sản xuất phục vụ chiến tranh, trong đó phần lớn bị phá hủy trong cuộc chiến. 6 triệu lính và người dân Nhật từ khắp các vùng chiến sự ở Thái Bình Dương quay trở về nước, Chính phủ nước này phải đối diện với gánh nặng – thất nghiệp.

    Nhật là nước bại trận và chịu hậu quả nặng nề từ chiến tranh thế giới thứ 2

    • Giải thể các nhóm Zaibatsu: Việc này nhằm tiêu diệt sức mạnh quân sự của Nhật, xóa bỏ quyền kiểm soát của một số công ty lớn trong nền kinh tế.
    • Đồng thời, thực hiện cải tổ các công ty theo hướng phu tập trung hóa. Giải pháp này đã tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ cho tất cả các ngành công nghiệp và thúc đẩy cơ chế thị trường hoạt động mạnh,
    • Giải quyết vấn đề việc làm: Thực hiện cải thiện điều kiện làm việc, tăng lương cho công nhân. Đặc biệt, thực hiện dân chủ hóa lao động.
    • Trong khoảng thời gian từ 1945-1947, 3 đạo luật đã được ban hành là Luật công đoàn, Luật tiêu chuẩn lao động và Luật điều chỉnh các quan hệ lao động.
    • Cải cách ruộng đất: Quy định địa chủ chỉ được giữ lại một phần ruộng đất, tối đa là 5ha, giảm xuống còn 1ha. Phần còn lại nhà nước sẽ mua và chuyển nhượng cho những nông dân không có ruộng đất.

    Sự phát triển thần kỳ của kinh tế Nhật Bản sau thế chiến thứ 2

    Với “tinh thần nước Nhật” và sự đồng lòng của toàn thể nhân dân “xứ Phù Tang”, khoảng 20 năm sau chiến tranh (1951-1973), nền kinh tế Nhật Bản phát triển với tốc độ chóng mặt. Nhiều nhà kinh tế thế giới coi đây là sự phát triển “thần kỳ” của nền kinh tế Nhật Bản.

    Từ một đống đổ nát sau chiến tranh, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ 2 trong thế giới tư bản sau Mỹ. Cụ thể:

    Tốc độ phát triển kinh tế tăng nhanh

    Từ 1952- 1973, tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc dân thực tế của Nhật Bản ở mức cao nhất trong các nước tư bản. So với thời điểm năm 1950, năm 1973 giá trị tổng sản phẩm trong nước tăng hơn 20 lần, từ 20 tỷ USD lên 402 tỷ USD, vượt Anh, Pháp và CHLB Đức.

    Từ 1951- 1973, kinh tế Nhật Bản bước vào sự phát triển thần kỳ

    Tốc độ phát triển công nghiệp thời kỳ 1950-1960 là 15,9%; từ 1960-1969 là 13,5%. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng từ 4,1 tỷ USD năm 1950 lên 56,4 tỷ USD năm 1969.

    Các ngành công nghiệp phát triển và đẩy mạnh

    Những ngành công nghiệp then chốt đã tăng lên với nhịp độ nhanh. Mặc dù Nhật hầu như không có mỏ dầu, xong lại đứng đầu các nước tư bản về nhập và chế biến dầu thô. Riêng năm 1971 đã nhập tới 186 triệu tấn dầu thô; công nghiệp sản xuất thép năm 1950 là 4,8 triệu tấn, đến năm 1973 là 117 triệu tấn.

    Năm 1960, ngành công nghiệp ô tô của Nhật đứng hàng thứ 6 trong thế giới tư bản và đến năm 1967 vươn lên hàng thứ 2 sau Mỹ.

    Công nghiệp đóng tàu đến những năm 1970 chiếm 50% tổng số tàu biển và có sáu trong mười nhà máy đóng tàu lớn nhất thế giới tư bản.

    Sự phát triển nhanh của  một số ngành kinh tế lớn đã làm thay đổi nhanh cơ cấu ngành sản xuất của Nhật Bản. Tỷ trọng các ngành nông-lâm-ngư nghiệp giảm đi đáng kể. Thay vào đó là sự tăng trưởng trong ngành công nghiệp, dịch vụ.

    Đến nay, Nhật đã vươn lên trở thành “con rồng châu Á” với nền kinh tế phát triển mạnh mẽ

    Hiện nay, Nhật Bản đang là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế hàng đầu châu Á và thế giới, được ví như “con rồng châu Á”. Để đáp ứng nhu cầu phát triển nền kinh tế, Nhật đã và đang đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động từ nhiều quốc gia trong khu vực, trong đó, Việt Nam là một trong những thị trường chủ lực.

     “Yếu tố” nào đem đến sự phát triển thần kỳ của kinh tế Nhật?

    Phát huy vai trò của nhân tố con người

    Sự phát triển “thần kỳ” của kinh tế Nhật Bản phải để đến yếu tố đầu tiên là con người. Kế thừa nền giáo dục của thời kỳ trước, từ sau thế chiến thứ hai, Nhật đã phổ cập hệ giáo dục 9 năm. Trên cơ sở đó, người Nhật chú trọng đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề, có đủ khả năng nắm bắt và sử dụng kỹ thuật, công nghệ mới.

    Sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế- đầu tiên phải kể đến yếu tố con người

    Thêm đó, đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật của Nhật Bản khá đông đảo, có chất lượng cao, góp phần đắc lực vào bước phát triển nhảy vọt về kỹ thuật và công nghệ của đất nước.

    Các nhà quản lý kinh doanh cũng được đánh giá là những người nhạy bén, biết nắm bắt thị trường và đổi mới phương pháp kinh doanh, đem đến những thắng lợi của công ty Nhật trên trường quốc tế.

    Duy trì mức tích lũy và sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả

    “Đất nước mặt trời mọc” được coi là nước có tỷ lệ tích lũy vốn cao nhất trong những nước tư bản phát triển. Tỷ lệ tích lũy vốn thường xuyên của giai đoạn 1052-1973 khoảng 30-35% thu nhập quốc dân.

    Trong đó, tỷ lệ đầu tư vào tư bản cố định trong tổng sản phẩm xã hội của Nhật Bản cao. Đây là một trong những nhân tố quyết định, đảm bảo cho nền kinh tế Nhật phát triển với tốc độ cao.

    Về sử dụng vốn, Nhật cũng là một nước sử dụng vốn táo bạo và có hiệu quả. Tại Nhật Bản, nhiều ngân hàng thương mại chấp nhận cho vay đến 95% tổng số vốn. Biện pháp có phần mạo hiểm này tạo điều kiện tăng nhanh số vốn chuyển vào sản xuất kinh doanh.

    Những yếu tố quan trọng khác

    Bên cạnh đó, còn có những yếu tố khác như:

    • Tiếp cận và ứng dụng nhanh những tiến bộ khoa học – kỹ thuật
    • Chú trọng vai trò điều tiết của kinh tế Nhà nước
    • Mở rộng thị trường trong nước và ngoài nước
    • Kết hợp khéo léo cấu trúc kinh tế hai tầng
    • Đẩy mạnh hợp tác với Mỹ và các nước khác

    TƯ VẤN XKLĐ NHẬT BẢN 24/7

    HỖ TRỢ TƯ VẤN TRỰC TUYẾN VÀ THỦ TỤC ĐĂNG KÝ THAM GIA

    HOTLINE: 091.858.2233 (Hỗ trợ tư vấn 24/7 qua: Call, Message, Zalo, SMS)

    Nếu không tiện nói chuyện qua điện thoại hoặc nhắn tin ngay lúc này, bạn có thể YÊU CẦU GỌI LẠI bằng việc nhập số điện thoại vào form bên dưới để được cán bộ tư vấn của công ty liên lạc hỗ trợ.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Xử Lý Tình Trạng Bất Thường Ở Đàn Ong
    • Hướng Dẫn Sửa Lỗi Outlook Không Nhận Được Mail Nhanh Nhất
    • Ocd Là Gì? Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
    • Oan Và Sai Trong Tố Tụng Hình Sự
    • Lở Miệng (Nhiệt Miệng)
    • Sự Kiện Nào Kết Thúc Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai?

      --- Bài mới hơn ---

    • Hiện Tượng Ứ Giọt Và Rỉ Nhựa
    • 5 Nguyên Nhân Hàng Đầu Dẫn Đến Thế Chiến Thứ Nhất
    • Những Nguyên Nhân Dẫn Đến Cái Chết Oan Uổng Của Vũ Nương
    • Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa Gdcd 11
    • Bài Tập Trắc Nghiệm Gdcd Lớp 11 Bài 4: Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa (Phần 1)
    • Đâu là nguyên nhân quan trọng nhất góp phần kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2?

      Ngày 30/06/2007, ông Fumio Kyuma, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản trong bài nói chuyện tại một trường đại học ở Tokyo cho rằng việc Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống thành phố HiroshimaNagasaki “có thể khiến Tokyo đầu hàng, từ đó ngăn Liên Xô tuyên chiến với Nhật” và là “chuyện không thể tránh khỏi để chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ hai”. Ông còn nói thêm rằng những vụ ném bom đó “là việc không thể đừng được”.

      Tuyên bố của ông Fumio Kyuma không chỉ gây bất bình trong dư luận xã hội ở Nhật Bản mà còn phủ nhận sự thật lịch sử về một trong những cuộc chiến tranh vĩ đại nhất của nhân loại nhằm tiêu diệt chủ nghĩa phát xít và diệt chủng. Thời gian qua, một số tờ báo ở Mỹ và một số nước Phương Tây cũng cho rằng hai quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống Hirosima và Nagasaki ngày 6 và ngày 9/8/1945 “có ý nghĩa quyết định kết thúc cuộc chiến tranh thế giới đẫm máu nhất trong lịch sử loài người”. Họ còn cho rằng “Liên Xô không cần tham chiến ở Viễn Đông vì Mỹ và đồng minh hoàn toàn có khả năng đánh bại quân Nhật”.

      Vậy, sự thật thế nào?

      Chứng cứ lịch sử thứ nhất, chính Tổng thống Mỹ, ông Roosevelt và Thủ tướng Anh, ông Churchill, trong các cuộc Hội nghị với Stalin, người đứng đầu nhà nước Liên Xô, ở Teheran năm 1943 và Yanta năm 1944 đã đề nghị Liên Xô mở chiến dịch tiến công quân Nhật. Stalin đã cam kết, Liên Xô sẽ thực hiện yêu cầu đó của chính phủ Mỹ và Anh. Tại Hội nghị ở Potsdam năm 1945, Tổng thống Mỹ Harry Truman, người kế nhiệm ông Roosevelt, cũng nhận được lời cam kết của Stalin rằng Hồng quân Liên Xô sẽ tiến hành chiến dịch tiến công đội quân Quan Đông của Nhật sau 3 tháng kể từ khi phát xít Đức đầu hàng. Đêm ngày 8 rạng sáng ngày 9/8/1945, Hồng quân Liên Xô mở chiến dịch tiến công tuyến phòng ngự của quân đội Nhật Bản ở Mãn Châu Lý. Các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự biết rất rõ vì sao Mỹ lại kiên quyết đề nghị Liên Xô tham chiến chống phát xít Nhật. Tháng 8/1945, quân đội Nhật ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương vẫn còn đông tới khoảng 7 triệu người, với 10.000 máy bay, 500 tầu chiến. Quân đội đồng minh chỉ có khoảng 1,8 triệu người và 5.000 máy bay. Nếu như Liên Xô không tham chiến với quân Nhật thì các lực lượng chủ yếu và thiện chiến nhất của đội quân Quan Đông có thể tập trung mũi nhọn chống lại Mỹ và lúc đó cuộc chiến tranh sẽ không chỉ kéo dài 1 tháng, mà ít nhất là 1 hoặc 2 năm với tổn thất mà quân Mỹ phải chịu đựng sẽ vượt quá con số 1 triệu người. Bộ Quốc phòng Mỹ đã từng khẳng định với tổng thống Mỹ về khả năng đó. Bản thân Tổng thống Mỹ Harry Truman lúc đầu cũng chưa nhìn thấy hết ý nghĩa của việc Liên Xô phải tham chiến chống Nhật, nhưng các tướng lĩnh ở Lầu Năm Góc đã thuyết phục được ông.

      Chứng cứ lịch sử thứ hai, việc đập tan đội quân Quan Đông của Nhật, giải phóng khu vực Mãn Châu Lý ở Đông Bắc của Trung Quốc và Triều Tiên, đã đập tan cơ sở kinh tế quân sự của Nhật Bản ở Châu Á và địa bàn tiến công của Nhật Bản nhằm vào Liên Xô và Mông Cổ, tạo điều kiện cho những người yêu nước ở Trung Quốc giải phóng đất nước họ. Ngoài ra, quân đội Liên Xô còn có nhiệm vụ bảo đảm an ninh cho biên giới Viễn Đông. Trong suốt 1.415 ngày cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại, Liên Xô buộc phải duy trì 40 sư đoàn tinh nhuệ dọc tuyến biên giới đó, trong khi những lực lượng này rất cần cho họ trên mặt trận Xô – Đức, đặc biệt là trong thời gian diễn ra các chiến dịch ở ngoại ô Moscow, ở Stalingrad và ở Kursk. Một số nhà nghiên cứu Phương Tây khẳng định sai sự thật rằng quân Nhật không hành động gì dọc biên giới Liên Xô và không có ý định tiến công Liên Xô. Đội quân Quan Đông của Nhật đã nhiều lần khiêu khích vũ trang, xâm phạm biên giới trên bộ và trên biển của Liên Xô, máy bay của chúng thường xuyên xâm phạm không phận Liên Xô. Từ năm 1941 đến năm 1945, đã có trên 1.000 lần quân Nhật xâm phạm lãnh thổ Liên Xô. Phía Nhật Bản đã có 178 lần bắt giữ tàu buôn của Liên Xô và đánh chìm 18 tầu trong số đó.

      Chiến dịch tiến công chiến lược của Hồng quân Liên Xô nhằm vào Mãn Châu Lý ở Viễn Đông kéo dài từ ngày 9/8/1945 đến ngày 2/9/1945 là một trong những trang sử oai hùng nhất trong lịch sử nghệ thuật quân sự thế giới. Chiến dịch triển khai với chính diện kéo dài 5.000 km, sâu 200-800 km, trên một chiến trường vô cùng phức tạp gồm địa hình sa mạc, thảo nguyên, đồi núi, đầm lầy, băng tuyết, có nhiều con sông lớn đi qua như sông Amur và sông Dương Tử. Hồng quân Liên Xô đã đập tan đội quân Quan Đông mạnh nhất và đông nhất của Nhật Bản ở Mãn Châu Lý đông tới hàng triệu người, với 1.115 xe tăng, 5.360 pháo, 1.800 máy bay chiến đấu và 25 tàu chiến cùng với một hệ thống công sự bằng bê tông chằng chịt nối liền với nhau bởi hệ thống giao thông hào ngầm dưới đất chứa nguồn dự trữ lương thực và nước đủ để hàng triệu binh sỹ chiến đấu liên tục trong nhiều tháng. Hồng quân Liên Xô đã tiêu diệt 84.000 lính và sỹ quan Nhật Bản, bắt làm tù binh khoảng 700.000 lính Nhật. Ít có chiến dịch nào trong Chiến tranh thế giới thứ hai giành được chiến thắng vang dội như thế.

      Cuộc tiến công chiến lược ở Mãn Châu Lý không chỉ thể hiện sức mạnh ngày càng lớn của Hồng quân Liên Xô tích luỹ được vào cuối Chiến tranh thế giới thứ hai mà còn chứng tỏ nghệ thuật quân sự ưu việt của các tướng lĩnh Liên Xô, thể hiện trước hết ở việc cấp tốc di chuyển 400.000 chiến sỹ và sỹ quan, trên 7.000 pháo và 1.100 máy bay từ mặt trận phía Tây sang phía Đông với sự hỗ trợ của 136.000 toa tàu mà tình báo Nhật Bản không phát hiện được mặc dù chúng có mạng lưới điệp báo rất mạnh ở Viễn Đông. Khi Bộ chỉ huy Liên Xô lập kế hoạch mở đầu tiến công quân Nhật vào đêm ngày 8, rạng sáng ngày 9/8/1945, viên chỉ huy tình báo Tập đoàn quân số 5 của Nhật Bản báo cáo tin này cho Tư lệnh Yamada, thì viên tướng này đã viết nhận xét vào bản báo cáo của người chỉ huy tình báo Nhật những dòng sau đây: “Chỉ có người nào điên rồ mới quyết định tiến công vào Primorie vào tháng 8 trong thời tiết mưa dầm và mọi con đường đều không thể đi lại được”. Nhưng Hồng quân Liên Xô đã quyết định tiến công và giành chiến thắng với vô vàn gian khổ và có sự giúp đỡ không nhỏ của người dân Trung Quốc. Không có ai ép buộc người dân Trung Quốc phải giúp đỡ Hồng quân Liên Xô, nhưng do sống dưới ách tàn bạo của phát xít Nhật nên khi gặp những đoàn quân giải phóng, họ nhất loạt ra đường cùng kéo pháo, xe tăng và trang thiết bị mắc kẹt trên những đoạn đường lầy lội bùn đất trong thời tiết mưa dầm mùa thu.

      Ngày 2/9/1945, tuần dương hạm của Mỹ “Mitsuri” đậu trên Vịnh Tokyo chứng kiến đại diện toàn quyền của chính phủ Nhật Bản ký kết Hiệp ước đầu hàng hoàn toàn và vô điều kiện trước đại diện các nước đồng minh chống phát xít là Liên Xô và Mỹ, đánh dấu thời điểm cuối cùng kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai kéo dài gần 6 năm và làm thiệt mạng hơn 50 triệu người. Liên Xô cùng với các nước đồng minh đã chiến thắng trong cuộc chiến này. Nhân đây, có thể rút ra một bài học chủ chốt từ cuộc chiến này là: các nước dẫn đầu thế giới chỉ có thể chiến thắng tội ác khi hợp lực với nhau, dù đó là chủ nghĩa phát xít Đức, chủ nghĩa quân phiệt Nhật, hoặc ngày nay là chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Không có sự đoàn kết đó thì không thể chiến thắng tội ác trên quy mô toàn cầu./.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Nguyên Nhân, Kết Quả Và Sự Thật Sửng Sốt Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ 2
    • Triệu Chứng Chảy Máu Mũi, Nguyên Nhân Và Cách Chữa Trị
    • Chảy Máu Mũi: Nguyên Nhân Và Cách Xử Trí Hiệu Quả
    • Nguyên Nhân Và Cách Xử Lý Nhanh Khi Bị Chảy Máu Mũi
    • Tránh Biến Chứng “chảy Máu Mũi” Mùa Lạnh
    • Nguyên Nhân Dẫn Tới Chiến Tranh Thế Giới Thứ 1

      --- Bài mới hơn ---

    • Những Nguyên Nhân Dẫn Đến Cái Chết Của Vũ Nương Trong Chuyện Người Con Gái Nam Xương
    • Nêu Những Nguyên Nhân Dẫn Đến Tai Nạn Giao Thông? Nguyên Nhân Nào Là Chủ Yếu? Vì Sao
    • Trẻ Sơ Sinh Bị Vàng Da: Dấu Hiệu Và Cách Chữa Trị Vàng Da Ở Trẻ
    • Phân Biệt Vàng Da Sơ Sinh Sinh Lý Và Vàng Da Bệnh Lý
    • Trẻ Sơ Sinh Bị Trớ Hay Ọc Sữa: Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục
    • Chiến tranh thế giới thứ 1 hay còn được gọi là đại chiến thế giới thứ nhất hoặc thế chiến 1, là một trong những cuộc chiến tranh khốc liệt, mang nhiều hậu quả nặng nề với quy mô rộng nhất trong các cuộc chiến tranh. Vậy nguyên nhân nào dẫn tới cuộc đại chiến tàn khốc này?

      Nguyên nhân nào gây ra chiến tranh thế giới thứ 1?

      Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh thế giới thứ 1 bắt nguồn từ quan hệ quốc tế nhiều mâu thuẫn. Mâu thuẫn này đến từ việc chủ nghĩa tư bản phát triển không đồng đều, sự sở hữu thuộc địa của các nước đế quốc cũng không đồng đều.

      Sự chênh lệch về lực lượng cũng như số lượng thuộc địa sở hữu giữa các đế quốc gây mâu thuẫn sâu sắc, đặc biệt là vấn đề thuộc địa. Và trước khi xảy ra chiến tranh thế giới thứ 1 thì đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh nhỏ nhằm tranh giành thuộc địa như chiến tranh giữa Nhật Bản và Trung Quốc, chiến tranh giữa Mỹ và Tây Ban Nha,…

      Cuộc chạy đua tranh giành thuộc địa diễn ra ngày càng nhiều hơn, và với tham vọng của mình, Đức đã cùng một số nước khác (Italia, Áo – Hung,…) liên kết lại với nhau thành phe “Liên Minh” với mưu đồ chiến tranh nhằm giành thuộc địa. Trước tình hình đó, Anh cũng đã lôi kéo, kí hiệp ước với các nước Pháp, Nga và tạo nên phe “Hiệp ước” đối phó với Đức và đồng minh.

      Lược đồ chiến tranh thế giới thứ nhất gồm ba nhóm nước: Các nước trung lập, các nước theo phe “Liên Minh” và các nước theo phe “Hiệp ước”. Các nước giữ được vị trí trung lập không nhiều, hầu hết các nước đế quốc nhỏ khác và các nước thuộc địa đều bị kéo vào cuộc chiến tàn khốc này.

      Hai phe quân sự “Liên Minh” và “Hiệp Ước” ngày càng đối đầu gay gắt, thi nhau ráo riết để chạy đua vũ trang mà đứng đầu là các nước đế quốc lớn với âm mưu cướp đoạt lãnh thổ, giành lấy thuộc địa của nhau. Có thể thấy cuộc chiến tranh phân chia lại thuộc địa là khó có thể tránh được.

      Nguyên nhân sâu xa đưa tới chiến tranh thế giới thứ 1

      Thực tế, nguyên nhân sâu xa dẫn tới chiến tranh thế giới thứ nhất đó là sự phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản. Thêm vào đó là mâu thuẫn sâu sắc về vấn đề thuộc địa giữa các đế quốc: các đế quốc trẻ như Đức, Nhật Bản, Mỹ nắm giữ ít thuộc địa, trong khi những đế quốc lâu đời như Anh, Pháp hay Nga lại có trong tay nhiều thuộc địa. Điều này dẫn tới mâu thuẫn, sự không bằng lòng giữa các đế quốc về sở hữu thuộc địa mà trước tiên đó là mâu thuẫn giữa Đức và Anh.

      Sự phát triển chênh lệch của chủ nghĩa tư bản cùng mâu thuẫn thuộc địa gay gắt giữa các đế quốc dẫn tới tham vọng tranh giành, phân chia lại thị trường thuộc địa. Đây là nguyên nhân sâu xa dẫn tới cuộc đại chiến thế giới lần 1.

      Nguyên nhân trực tiếp châm ngòi chiến tranh thế giới thứ 1 là gì?

      Nguyên nhân trực tiếp cho cuộc chiến tranh tàn khốc này là sự xuất hiện của hai phe quân sự “Liên Minh” và “Hiệp Ước” đối đầu, tranh giành nhau. Hai phe đế quốc này thi nhau chạy đua vũ trang với tham vọng phân chia lại thuộc địa, làm chủ thế giới. Đến khoảng năm 1914 thì các nước đế quốc đã cơ bản chuẩn bị xong về vũ trang, quân sự để sẵn sàng cho cuộc chiến tranh giành thuộc địa.

      Vậy vì sao chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, duyên cớ do đâu?

      Ngòi lửa chiến tranh đó là sự kiện Thái tử Áo bị ám sát bởi Xéc-bi trong một cuộc tập trận của Áo – Hung tổ chức tại thủ đô của Booxxnia. Sự kiện này đã tạo cơ hội cho Đức ép Áo tuyên chiến với Xéc-bi, sau đó là một loạt các lời tuyên chiến khác, dẫn tới cuộc đại chiến thế giới nổ ra mạnh mẽ.

      Chiến tranh thế giới thứ nhất vô cùng tàn khốc, cuộc chiến này đã để lại những hậu quả nặng nề: hơn 10 triệu người thiệt mạng, hơn 20 triệu người khác bị thương cùng những món nợ của các nước Châu Âu với Mỹ, chưa kể những thiệt hại cho sự phát triển của nhân loại.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Chảy Máu Cam (Chảy Máu Mũi): Nguyên Nhân, Cách Xử Trí Tại Nhà
    • Chảy Máu Mũi: Nguyên Nhân, Cách Xử Lý Và Phòng Ngừa
    • Nguyên Nhân, Ý Nghĩa Cái Chết Của Nhân Vật Lão Hạc
    • Nguyên Nhân Nào Dẫn Tới Chậm Kinh Ở Nữ Giới
    • Nguyên Nhân Chậm Kinh Nguyệt Ở Chị Em Phụ Nữ
    • Nguyên Nhân Kết Quả Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất (1914

      --- Bài mới hơn ---

    • Nguyên Nhân Dẫn Đến Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất?nguyen Nhan Nao Dan Den Chien Tranh The Gioi Thu Nhat
    • Lịch Sử 11 Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
    • Bài 13. Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
    • Nguyên Nhân Nào Dẫn Đến Cái Chết Bi Thảm Của Vũ Nương?
    • Suy Nghĩ Về Nguyên Nhân Cái Chết Của Vũ Nương
    • Do mâu thuẫn giữa các nước về vấn đề thuộc địa dẫn đến sự hình thành 2 khối quân sự kình địch nhau là Liên minh Đức, Áo – Hung và Hiệp ước Anh – Pháp – Nga. Hai khối này ráo riết chạy đua vũ trang, tích cực chuẩn bị chiến tranh, để chia lại thuộc địa, làm bá chủ thế giới.

      I. Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh:

      – Sự phát triển không đồng đều của tư bản chủ nghĩa.

      – Ngược lại Anh , Pháp nhiều thuộc địa và thế giới đã phân chia xong.

      – Đế quốc thuộc địa: các cuộc chiến tranh đế quốc:

      +Mỹ – Tây Ban Nha 1898:Mỹ chiếm Cu ba và Phi líp pin.

      + Anh và Bô ơ 1899-1902àAnh thôn tính 2 nước của người Bô ơ sát nhập vào Nam Phi.

      -Mâu thuẫn giữa các nước về vấn đề thuộc địa dẫn đến sự hình thành 2 khối quân sự kình địch nhau là Liên minh Đức , Áo- Hung và Hiệp ước Anh-Pháp -Nga.

      -Hai khối này ráo riết chạy đua vũ trang , tích cực chuẩn bị chiến tranh, để chia lại thuộc địa , làm bá chủ thế giới.

      * Duyên cớ của chiến tranh của chiến tranh:

      – Ngày 28-6- 1914 thái tử Áo – Hung bị phần tử khủng bố ở Xéc- bi ám sát. Nhân cớ đó, Đức , Áo -Hung gây chiến.

      II. NHỮNG DIỄN BIẾN CHÍNH CỦA CHIẾN SỰ

      – Ngày 28-7-1914 Áo -Hung tuyên chiến với Xéc bi.

      – Ngày 1-8 Đức tuyên tuyên chiến Nga

      – Ngày 3-8 tuyên chiến với Pháp .

      – Ngày 4-8 tuyên chiến với Đức , chiến tranh bùng nổ và nhanh chóng thành chiến tranh thế giới ..

      1 Giai đọan thứ nhất (1914-1916)

      – Lúc đầu Đức tập trung lực lượng ở phía Tây nhằm đánh bại Pháp, Pa ri bị uy hiếp.

      -Nhưng ở phía Đông quân Nga tấn công quân Đức cứu nguy cho Pháp , từ năm 1916 cả 2 phe ở thế cầm cự .

      * Gọi là chiến tranh thế giới :

      Chiến tranh lan ra cả thế giới ,lôi cuốn 38 nước vào vòng chiến , kéo thuộc địa tham chiến ,Pháp mộ 300.000 lính thuộc địa chủ yếu ở Việt Nam .

      2/ Giai đoạn II (1917-1918)

      – Tháng 4-1917 Mỹ tham chiến về phe Hiệp ước.

      – Ngày 7-11-1917 Cách mạng tháng Mười Nga Nga thắng lợi , Nga rút khỏi chiến tranh .

      – Ngày 7-1918 Anh – Pháp phản công.

      – Ngày 9-1918 Anh -Pháp- Mỹ tổng tấn công ,đồng minh của Đức đầu hàng.

      – Ngày 9-11-1918 cách mạng Đức bùng nổ, lật đổ nền quân chủ.

      – Ngày 11-11-1918 Đức hàng không điều kiện , Đức ,Áo -Hung thất bại hoàn toàn.

      III. KẾT CỤC CỦA CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT

      – Gây thảm họa cho nhân loại: 10 triệu người chết ,20 triệu ngưới bị thương.

      – Thành phố làng mạc bị phá hủy; chiến phí 85 tỷ đô la.

      – Các nước thắng trận thu lợi lớn, bản đồ thế giới được chia lại.

      – Cao trào Cách mạng vô sản phát triển, nhân dân thuộc địa thức tỉnh đó là Cách mạng tháng Mười Nga.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
    • Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
    • Chiến Tranh Thế Giới Lần 1: Nguyên Nhân
    • Nguyên Nhân Và Tính Chất Của Cuộc Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất
    • Nguyên Nhân, Diễn Biến, Tính Chất Và Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
    • Nguyên Nhân, Kết Quả Và Sự Thật Sửng Sốt Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ 2

      --- Bài mới hơn ---

    • Sự Kiện Nào Kết Thúc Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai?
    • Hiện Tượng Ứ Giọt Và Rỉ Nhựa
    • 5 Nguyên Nhân Hàng Đầu Dẫn Đến Thế Chiến Thứ Nhất
    • Những Nguyên Nhân Dẫn Đến Cái Chết Oan Uổng Của Vũ Nương
    • Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa Gdcd 11
    • Nguyên nhân của Chiến tranh thế giới thứ 2

      Lúc này các nước đế quốc bắt đầu dần dần hình thành nên hai khối đối kịch nhau, một bên gồm Pháp – Anh – Mỹ, một bên là Nhật Bản – Ý – Đức. Hai khối này có mâu thuẫn với nhau vô cùng gây gắt về vấn đề thị trường, thuộc địa nhưng cả hai cùng có chung kẻ thù muốn tiêu diệt là Liên Xô.

      Theo đó, khối Pháp – Anh – Mỹ đã thực hiện đường lối thỏa hiệp, nhượng bộ với mục tiêu để khối phát xít Nhật Bản – Ý – Đức chĩa mũi nhọn của cuộc chiến tranh này về phía Liên Xô. Với chính sách thỏa hiệp này, khi thực hiện xát nhập Áo vào Đức, Hít – Le chiếm luôn Tiệp Khắc vào tháng 3 năm 1939, nhưng từng đó là chưa đủ sức mạnh để đánh Liên Xô nên Hít – Le đã quyết tâm tấn công thêm các nước Châu Âu trước.

      Ngày 1 tháng 9 năm 1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan. Sau đó, Pháp và Anh tuyên chiến với phát xít Đức từ đây Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ. Thời gian diễn ra cuộc chiến tranh này kéo dài trong 6 năm, ở tất cả các mặt trận và phần lớn các nước trên thế giới, nên hậu quả của nó để lại cũng vô cùng khốc liệt cho nền kinh tế, người dân thế giới. Các bạn hãy đến với phần tiếp theo của bài viết, để nắm được kết quả của cuộc chiến

      Kết quả của Chiến tranh thế giới thứ 2

      Cuộc đối đầu và chiến đấu của hai phe Phát xít với phe Đồng Minh đã diễn ra trong 6 năm, bắt đầu từ năm 1939 đến năm 1945 với thắng lợi cuối cùng thuộc về phe Đồng Minh mà lực lượng chủ chốt là Mỹ, Anh, Liên Xô. Phe Phát Xít nhận thất bại nặng nề, sự tổn thất to lớn về cả người và tài sản của 3 quốc gia chính là Ý, Đức, Nhật. Với thất bại này, nước Đức bị chia thành Tây Đức và Đông Đức.

      Hậu quả mà chiến tranh thế giới thứ 2 để lại hậu quả vô cùng khủng khiếp, nghiêm trọng và ảnh hưởng tới hầu hết các quốc gia trên thế thế giới.

      • Cuộc chiến đã kéo hơn 70 quốc gia tham gia vào, có tới 1700 triệu người bị ảnh hưởng chiến tranh, làm cho trên 60 triệu người chết trong đó có hơn nửa là người dân bình thường. Có trên 90 triệu người bị thương, với con số này cho thấy thiệt hại của lớn hơn 10 lần so với Chiến tranh thế giới thứ nhất.
      • Nền kinh tế của các nước chiến tranh đi qua đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
      • Có đến hàng triệu người dân Châu Âu bị mất nhà cửa, tất cả các quốc gia đều phải chịu thiệt hại vô cùng nặng nề từ chiến tranh.

      Những sự thật sửng sốt về Chiến tranh thế giới thứ 2

      Chiến tranh thế giới thứ 2 được đánh giá là cuộc chiến khốc liệt, tàn bạo nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh thế giới. Bên cạnh những con số tổng hợp về thương vong, thiệt hại thì còn nhiều sự thật khác chưa được công bố nhiều trong sách giáo khoa Lịch sử ở các cấp học về Chiến tranh thế giới thứ 2. Để am hiểu, có nhiều thông tin về cuộc chiến này các bạn cần nắm thêm thông tin sau.

      Thứ nhất, trong Chiến tranh thế giới thứ 2 thì Canada chính là quốc gia thực hiện việc sản xuất nhiều xe oto tải nhất thế giới. Trong đó, có hàng loạt nhà máy sản xuất oto tải của Mỹ chuyển sang Canada hoạt động, vì những nhà máy của Mỹ khi này đang bận lắp ráp xe tăng. Được biết lượng xe tải mà quốc gia này sản xuất lớn hơn nhiều lượng xe tải của ba nước Đức – Nhật – Ý gộp lại.

      Thứ hai, từ nguồn thống kê của những nhà sử học Đức sau Thế chiến thứ 2, phát xít Đức đã mất tổng cộng 4429875 người lính, trong đó có tới 80% lính Đức thương vong là do Liên Xô gây ra. Con số này chưa bao gồm có dân thường.

      Thứ tư, ở cuộc bao vây Leningrad với 900 ngày đêm số dân thường thiệt mạng lên tới con số 3,4 triệu người. Trong khi đó, số quân đội Mỹ bị hy sinh, mất tính với thương vong ở toàn cuộc chiến này thì chỉ chiếm khoảng 1 triệu người, chỉ bằng 1/3.

      Thứ năm, trong trận tham chiến Trân Châu Cảng, số nữ ý tá của quân đội Mỹ là 1000 người, sau chiến tranh thì con số tăng lên 60000 người và có đến 1% số đó là những y tá da màu. Thế nhưng có một điểm lưu ý cần nhắc tới là thời gian này, nạn phân biệt chủng tộc tại Mỹ còn rất phổ biến.

      Thứ sáu, ở trận tấn công vào Phần Lan của quân đội Liên Xô năm 1939, con số thương vong mà Liên Xô phải hứng chịu là 1 triệu người, con số thương vong của Phần Lan chỉ là 70000 người. Con số thương vong này, được đánh giá là có mức chênh lệch lớn nhất ở trong lịch sử của chiến tranh nhân loại.

      Thứ bảy, trong mùa đông 1941 thống kê số lính Đức bị thương, tử vong vì bỏng lạnh nhiều hơn rất nhiều con số binh lính của Đức bị thương vong vì chiến đấu với Liên Xô.

      Thứ tám, kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, thì trung bình mỗi ngày người ta phát hiện ra ở Đức có 15 quả bom. Con số đó tăng lên 5500 quả mỗi năm.

      Thứ chín, trong Chiến tranh thế giới thứ 2 Mỹ và New Zealand đã cùng nhau thử nghiệm bí mật “bom tạo sóng thần”. Theo những tài liệu nghiên cứu về vấn đề này cho biết, đã có 10 vụ nổ được thử nghiệm với một quy mô lớn thực hiện ở ngoài khơi, nó có khả năng gây ra được những cơn sóng thần có tầm cao lên đến 10m, có thể phá hủy được một thành phố ở ven biển.

      Đó là những thông tin cơ bản về nguyên nhân, kết quả và những sự thật sửng sốt của Chiến tranh thế giới thứ 2 mà bài viết này cung cấp cho bạn đọc. Hy vọng, đó là những nội dung giúp các bạn có thêm những kiến thức về cuộc chiến này, giúp cho kiến thức lịch sử của các bạn được nâng lên.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Triệu Chứng Chảy Máu Mũi, Nguyên Nhân Và Cách Chữa Trị
    • Chảy Máu Mũi: Nguyên Nhân Và Cách Xử Trí Hiệu Quả
    • Nguyên Nhân Và Cách Xử Lý Nhanh Khi Bị Chảy Máu Mũi
    • Tránh Biến Chứng “chảy Máu Mũi” Mùa Lạnh
    • Những Cách Khắc Phục Khi Chó Bị Chảy Máu Mũi
    • 4 Nguyên Nhân Của Sự Phát Triển Thần Kì Nhật Bản Sau Thế Chiến Thứ Ii

      --- Bài mới hơn ---

    • Vì Sao Nhật Bản Có Thể Phát Triển Từ Trong Đổ Nát Chiến Tranh?
    • Mô Hình Kinh Tế Keiretsu
    • Giải Đáp: Bệnh Viêm Âm Đạo Và Viêm Lộ Tuyến Tử Cung Có Giống Nhau Không?
    • Buồng Trứng Đa Nang Và U Nang Buồng Trứng Giống Và Khác Nhau Thế Nào?
    • Sự Khác Biệt Giữa Bệnh Thoái Hóa Khớp Và Viêm Khớp Dạng Thấp
    • Sau thế chiến II, nền kinh tế Nhật Bản ở trong thời gian mò mẫm để tìm ra con đường vực dậy từ tình trạng hỗn loạn do sự thất bại sau chiến tranh để lại. Đúng thời kì đó một cơ hội vàng đã đến với Nhật bản – nhu cầu khí tài cực lớn trong chiến tranh liên Triều. Nhờ đó nền kinh tế đã được vực dậy từ nửa cuối những năm 1950 đến thập niên 60, đánh dấu sự mở đầu của giai đoạn phát triển thần kì. Trong khoảng thời gian 1955 đến năm 1970, tỉ lệ tăng trưởng thực chất GNP trung bình hàng năm đạt tới 9.8%, nền kinh tế Nhật Bản thực sự bước vào thời đại “Phát triển kinh tế cao độ” được ví như là một truyền thuyết trong lịch sử phát triển kinh tế đất nước.

      Nền kinh tế Nhật Bản sau thời kì phát triển cao độ đó vẫn có những bước phát triển bền vững và đến ngày nay đã biến nước Nhật trở thành một cường quốc kinh tế của thế giới. Sự thành công của mô hình phát triển kinh tế Nhật Bản dần thu hút được sự quan tâm đặc biệt trong thế giới tự do sau chiến tranh. Có không ít các quốc gia đang phát triển ấn tượng với mô hình phát triển của Nhật bản, lấy đó làm hình mẫu để đưa ra các sách định trong chính sách phát triển kinh tế đất nước.

      Nhưng nhìn nhận khách quan, chúng ta phải thấy và không được quên rằng nước Nhật đã hội tụ được những điều kiện cần thiết để thực hiện thành công giai đoạn phát triển thần kì đó. Nhìn những quốc gia đang phát triển bắt chước mô hình Nhật Bản mà không thu được thành công thì chắc rằng họ đã không hội tụ đủ những điều kiện đặc thù làm tiền đề này.

      Vậy những điều kiện của sự phát triển kinh tế thần kì của Nhật Bản là gì? Đâu là bí quyết trong sự thành công đó? Thực tế, đã có rất nhiều nguyên nhân hợp lại một cách hoàn hảo trong điều kiện thời gian và không gian tại thời điểm đó. Trong bài này, để tiện phân tích sẽ đề cập tới 4 từ khóa tựa như “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” là: Con người – Vật chất – Tiền – Thời kì

      1. Điều kiện thứ nhất của sự phát triển thần kì – Con người

      Con người ở đây chính là sức lao động. Nước Nhật sau chiến tranh có nguồn lao động rẻ nhưng chất lượng rất cao. Tức là với một vốn kĩ thuật sản xuất nhất định có thể đưa ra những sản phẩm giá thành rẻ do giá nhân công rẻ. Đặc biệt hơn nữa là với phong trào sinh con (baby boom) sau chiến tranh, thì tới những năm thập niên 60 nước Nhật đã có được một thế hệ với nguồn năng lượng dồi dào, sức lao động có thừa.

      – Chú thích thêm : Trong giai đoạn này, mọi tầng lớp trong mỗi công ty đều coi công ty chính là nhà của mình, người ta làm trong một công ty từ tuổi thanh niên đến khi về già. Ngay cả bây giờ khi tiếp xúc với người khác họ vẫn dùng cách gọi công ty mình làm việc là: uchi no kaishya – công ty nhà tôi .

      2. Điều kiện thứ hai của sự phát triển thần kì – Vật chất

      Vật chất ở đây chính là việc sản xuất. Sau những năm 1950, trong những nghành sản xuất chủ chốt, các công ty đã mở rộng việc cạnh tranh lẫn nhau bằng việc đưa những kĩ thuật mới từ Âu – Mỹ hay trực tiếp nghiên cứu phát triển những sản phẩm mới, cải tiến kĩ thuật cũ. Nhờ đó việc đầu tư thiết bị với những kĩ thuật mới thu được được thực hiện khắp nơi. Đây là một phần trong cuộc cạnh tranh phá giá trong bối cảnh một vài công ty lớn thâu tóm một lĩnh vực kinh doanh nào đó. Ngoài ra những ngành công nghiệp mới như: công nghiệp hóa học nặng, cộng nghiệp điện tử, công nghiệp sản phẩm lâu bền (ô tô, đồ điện dân dụng …) ngày càng được phát triển và dần trở thành những ngành công nghiệp quan trọng của Nhật Bản. Trong thời kì phát triển thần kì này, ba mặt hàng trọng điểm là tivi, máy giặt, tủ lạnh trở thành biểu tượng cho sự phổ cập nhanh chóng của các mặt hằng lâu bền đến mức người ta đã gọi đây là 3 thần khí để miêu tả mặt tiêu dùng của xã hội Nhật bản thời bấy giờ. Thêm nữa, trong thời kì này nền sản xuất số lượng lớn với hiệu suất cao được xác lập, các sản phẩm của Nhật bản với giá thành hạ và chất lượng được cải thiện đã xâm nhập nhanh chóng vào các thị trường nước ngoài chứ không chỉ trong nước.

      3. Điều kiện thứ ba của sự phát triển thần kì – Tiền

      Tiền ở đây chính là vấn đề tài chính doanh nghiệp, như hệ thống ngân hàng giao dịch chính hay sự ổn định hóa của các cổ đông lớn. Các công ty xí nghiệp có những hợp đồng liên kết giao dịch dài hạn đặc biệt với một ngân hàng nhất định để đảm bảo nguồn đầu tư tư bản ổn định trong thời gian dài, không cần hồi trả ở những thời điểm khó khăn, thay vào đó mọi quyết toán của công ty phải được thực hiện bằng tài khoản của ngân hàng đó và có trách nhiệm cung cấp thông tin cần thiết cho ngân hàng. Vấn đề thiếu vốn đầu tư của doanh nghiệp và sự cạnh tranh giữa các ngân hàng làm cho mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng trở nên hai bên đều phụ thuộc lẫn nhau.

      Những doanh nghiệp tiêu biểu của Nhật thời kì đó có thể kể đến SONY hay HONDA thời kì đầu đã rất khó khăn về vốn, nhưng họ đã nhận được những khoản đầu tư rất lớn để phát triển nhanh chóng và lớn mạnh như ngày nay. Hệ thống ngân hàng chính đã phát huy hiệu quả trong việc đào tạo những doanh nghiệp sở hữu những kĩ thuật có triển vọng, cho thấy một mặt đặc trưng về tài chính của thời kì phát triển kinh tế cao độ của Nhật. Thêm nữa, các ngân hàng chính trở thành trung tâm trong việc sở hữu cổ phần lẫn nhau giữa các công ty, góp phần làm cho thành phần cổ đông ổn định. Nhờ thế mà đội ngũ lãnh đạo việc kinh doanh có thể an tâm để tập trung cho việc phát triển công ty.

      4. Điều kiện thứ tư của sự phát triển thần kì – Thời cơ

      Năm 1949 nước Nhật đưa ra chính sách tài chính mang tên Dodge Line nhằm mục đích hướng tới một nền kinh tế tự lập và ổn định đặt trọng tâm vào các vấn đề cơ sở hạ tầng, chấn hưng xuất khẩu, hạn chế tiêu dùng trong nước. Nhờ chính sách này mà vấn đề về cơ sở hạ tầng sau thế chiến được giải quyết, tỉ giá đồng đô la cũng được cố định ở mức 1 đô la = 360 yên. Ngay năm tiếp theo – năm 1950, chiến tranh Triều Tiên nổ ra, với tỉ giá đồng yên rẻ (360 yên) và nhu cầu mặt hàng nhu yếu phẩm từ Triều Tiên cực lớn, nền kinh tế Nhật Bản đã phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng vượt qua mức trước thế chiến II. Thời điểm đó, việc coi chính sách công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu chưa được nhận thức đúng đắn như một chiến lược phát triển kinh tế nên việc Nhật Bản thực hiện từ sớm chính sách này chính là chìa khóa của sự thành công trong phát triển kinh tế, bởi điều đó đem lại may mắn là không có đối thủ cạnh tranh trong xuất khẩu. So với hiện nay, các nước đưa ra những chiến lược hướng đến xuất khẩu tương tự nhau nên việc xuất khẩu không được khả quan như dự tính.Trong bối cảnh như vậy, các điều kiện có lợi cho phát triển về “Con người”, “Vật chất”, “Tiền” đạt được cùng lúc tạo ra một điều kiện tổng hợp đã giúp kinh tế Nhật Bản thành công với sự phát triển thần kì.

      Qua đây chúng ta cần nhận rõ không chỉ nhìn vào sự phát triển kinh tế, những kĩ thuật siêu việt của Nhật Bản hiện, mà cần phải tìm hiểu ngọn nguồn của sự phát triển đó. Sự khác nhau về bối cảnh xã hội và cơ hội (chiến tranh liên Triều) mang lại sự thuận lợi hay khó khăn trong việc phát triển kinh tế. Theo sự nhìn nhận của người viết, bốn nguyên nhân trên mới chỉ là điều kiện để nước Nhật bắt đầu một cuộc phát triển thần kì. Để định hướng và điều chỉnh hướng đi cho nền kinh tế trong quá trình phát triển đó có những chính sách kịp thời và nhất quán nữa. Và đặc biệt trong lĩnh vực kĩ thuật sản xuất, đức tính chung của người kĩ sư Nhật Bản là : làm đến cùng, không bằng lòng với kĩ thuật hiện tại, luôn luôn có ý thức cải tiến bằng suy nghĩ của bản thân không sao chép, tạo bản sắc của công ty trong mỗi sản phẩm đã đưa kĩ thuật made in Japan lên đỉnh cao thế giới như ngày hôm nay.

      Người dịch: Trần Đăng Phong

      --- Bài cũ hơn ---

    • Còn Lâu Trung Quốc Mới Bắt Chước Được Mỹ Sau Thế Chiến Lần 2
    • Tìm Hiểu Nét Tương Đồng Và Khác Nhau Của Phật Giáo Và Thiên Chúa Giáo
    • Pr Là Gì? Quảng Cáo Là Gì? 10 Sự Khác Nhau Giữa Quảng Cáo Và Pr
    • Những Khác Biệt Giữa Học Đại Học Và Học Phổ Thông
    • The Gunpowder Empires: Ottoman, Safavid Và Mughal
    • 100 Năm Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất

      --- Bài mới hơn ---

    • Suy Nghĩ Về Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất
    • Tại Sao Cuộc Khởi Nghĩa Yên Thế Tồn Tại 30 Năm?
    • Hướng Dẫn Cách Sửa Lỗi Không Gửi Được Tin Nhắn Trên Điện Thoại Android
    • Sửa Lỗi Không Gửi Được Tin Nhắn Trên Hệ Điều Hành Ios Và Android
    • Tại Sao Không Thể Quên Em?
    • Cách đây 100 năm, ngày 4/8/1914, Đức xâm lược Bỉ, đánh dấu sự khởi đầu của Chiến tranh thế giới lần thứ nhất . Kéo dài trong 4 năm, từ tháng 8/1914 đến tháng 11/1918, đây là một trong những cuộc chiến tranh quyết liệt, quy mô to lớn nhất trong lịch sử nhân loại, với sức tàn phá khủng khiếp về vật chất và ảnh hưởng sâu sắc về tinh thần.

      Nguyên nhân và hậu quả

      Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất là kết quả của sự phát triển kinh tế chính trị của chủ nghĩa tư bản thế giới vào những năm đầu thế kỷ XX. Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển tới giai đoạn mới – giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Sự tranh giành thị trường và thuộc địa giữa các nước đế quốc tất yếu dẫn đến chiến tranh để chia lại đất đai trên thế giới.

      Ngoài mục đích phân chia lại thị trường, các nước đế quốc gây chiến để đàn áp phong trào đấu tranh của công nhân trong các nước đế quốc, và đàn áp phong cách mạng và phong trào giải phóng dân tộc.

      Những hình ảnh về cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất.

      Và chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã xảy ra giữa hai khối liên minh quân sự được hình thành sau thế kỷ XIX: một bên là liên minh ba cường quốc, gồm: đế quốc Anh – Pháp – Nga, hay được gọi là khối hiệp ước Entente ba bên, sau này còn thêm Mỹ và một số nước khác tham gia; bên kia là phe Liên minh ba nước, hay còn gọi là Liên minh trung tâm, gồm đế quốc Đức, đế chế Áo – Hung.

      Lợi dụng sự việc Đại công tước Franz Ferdinand của Áo – Hung bị một phần tử dân tộc chủ nghĩa người Serbia ám sát tại Sarajevo ngày 28-6-1914, Hoàng đế Wilhelm II của Đức, con người có khát vọng chiến tranh, đã hứa chi viện cho Áo-Hung để cùng trừng phạt Serbia. Sau đó, ngày 28/7/1914, Áo-Hung đã tuyên chiến với Serbia. Đêm hôm đó, quân Áo nã pháo vào thủ đô Belgrade, làm hơn 5.000 người dân bị thiệt mạng.

      Sa hoàng Nga Nikolai II lập tức phát động binh lính. Đức gửi tối hậu thư cho Nga – Pháp yêu cầu đình chỉ việc chi viện, nhưng đều bị Nga – Pháp cự tuyệt. Ngày 1/8/1914, Đức tuyên chiến với Nga, và ngày 3/8 đã tuyên chiến với Pháp. Ngày 4/8/1914, Đức vượt biên giới tấn công Bỉ, đánh dấu sự khởi đầu của Chiến tranh thế giới lần thứ nhất.

      Cùng ngày Đức xâm lược Bỉ, Anh tuyên chiến với Đức. Ngày 6/8, Áo – Hung tuyên chiến với Nga. Sau đó, các nước Italy, Romania, Nhật, Mỹ lần lượt tham chiến. Cuộc chiến lan ra ở ba châu lục lớn, với 33 nước tham chiến.

      Quân Mỹ tham chiến tại nước Pháp năm 1918.

      Đây là lần đầu tiên thế giới biết đến một kiểu chiến tranh tổng lực, chiến tranh toàn diện. Chiến tranh diễn ra không những ác liệt trên bộ, trên không, trên biển, mà các bên còn thực hiện bao vây bóp nghẹt kinh tế của nhau, thử thách tiềm lực kinh tế và sức mạnh tinh thần của đối phương. Sau hơn 4 năm chiến tranh, ngày 11/11/1918, Đức và các nước cùng phe đã phải đầu hàng vô điều kiện.

      Cuộc chiến làm 13,6 triệu người chết và khoảng 20 triệu người bị tàn phế. Nhiều thành phố, làng mạc, đường sá, cầu cống, nhà máy bị phá hủy. Thiệt hại vật chất lên tới 338 tỷ USD. Số tiền các nước tham chiến chi phí cho chiến tranh vào khoảng 85 tỉ USD.

      Ngoài sự thiệt hại về người và vật chất, cuộc chiến tranh này còn gây tổn thương về tâm lý cho nhiều thế hệ tại châu Âu. Cuộc chiến cũng làm cho châu Âu tụt hậu và vai trò lãnh đạo mà châu Âu đảm đương trong hơn 300 năm đã dần dần chuyển sang bên kia đại dương cho nước Mỹ.

      Những bài học

      Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã kết thúc được 100 năm; cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, mà theo một số nhà nghiên cứu đó chỉ là sự tiếp nối của Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đã kết thúc 69 năm, song những bài học của hai cuộc chiến đến nay vẫn còn nguyên giá trị lịch sử:

      Một là, thế giới đã đi vào giai đoạn phát triển kinh tế, văn hoá, chính trị có trình độ cao. Ở mức trình độ đó, thế giới không thể còn chỗ cho chủ nghĩa đế quốc và các loại chủ nghĩa nước lớn trắng trợn. Với các quan hệ quốc tế chặt chẽ và quyền lợi đan xen thì chủ nghĩa ích kỷ ở phạm vi quốc gia và quốc tế tất yếu dẫn đến xung đột đối kháng, và chiến tranh thì đều thiệt hại cho tất cả các bên. Chính vì vậy, ngay sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, các nước đã đồng lòng tổ chức ra Hội quốc liên (nay là Liên hợp quốc) để điều hoà các quan hệ quốc tế trên cơ sở các bên cùng chấp nhận được.

      Lính Áo trên chiến trường.

      Hai là, trong điều kiện các mối quan hệ chặt chẽ của thế giới, của công nghệ cao, của qui mô toàn cầu, với tốc độ tàn phá khủng khiếp của chiến tranh thì “không ai có thể có lợi trong cuộc chiến tranh nếu nổ ra, thậm chí là chiến tranh khu vực”.

      Ba là, yếu tố dân tộc quốc gia có động lực rất lớn và các quyền lợi chính đáng của nó phải được tôn trọng. Tình hình quốc tế không thể yên ổn nếu dựa trên cơ sở không tôn trọng tình cảm, quyền lợi chính đáng của quốc gia, dân tộc. Một dân tộc bị dồn vào thế cùng đường sẽ phản ứng rất quyết liệt gây hậu họa cho hoà bình thế giới.

      Hiện nay, tuy đã có nhiều cuộc chiến tranh khu vực nổ ra và đã có lúc thế giới bên bờ vực chiến tranh, nhưng về cơ bản hoà bình thế giới vẫn được giữ vững và chưa thấy có dấu hiệu của một đại chiến mới. Điều đó cho thấy ít nhiều thì nhân loại cũng đã rút được các bài học chính trị của hai cuộc đại chiến, đã biết hoá giải các mâu thuẫn bằng hoà bình.

      Về cơ bản hoà bình thế giới vẫn được giữ vững, nhưng hiện nay ở một số khu vực, một số nước trên thế giới, máu của người dân vẫn đổ, những đồng tiền đóng thuế của họ vẫn bị quăng vào những việc làm hết sức phi lý – đó là chiến tranh. Hãy để “bóng ma của chiến tranh”trong một tương lai gần chỉ còn là “dĩ vãng” đối với nhân loại.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Tại Sao View Youtube Không Tăng? Đóng Băng View Là Như Thế Nào?
    • Hàng Xách Tay Là Gì, Là Như Thế Nào Và Tại Sao Lại Rẻ?
    • Xây Dựng Thương Hiệu Cá Nhân: “tại Sao?” Và “như Thế Nào?”
    • Quản Lí Lớp Học: Tại Sao Và Như Thế Nào?
    • Máy Tính Không Nhận Đủ Ram? Tại Sao Lại Như Thế?
    • Nguyên Nhân Và Tính Chất Của Cuộc Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất

      --- Bài mới hơn ---

    • Chiến Tranh Thế Giới Lần 1: Nguyên Nhân
    • Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
    • Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
    • Nguyên Nhân Kết Quả Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất (1914
    • Nguyên Nhân Dẫn Đến Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất?nguyen Nhan Nao Dan Den Chien Tranh The Gioi Thu Nhat
    • I. Nguyên nhân và tính chất của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất

      1. Nguyên nhân

      Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất là kết quả tất nhiên của sự phát triển kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản thế giới vào những năm đầu thế kỷ XX. Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển tới giai đoạn mới – giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.

      Quy luật phát triển không đều giữa các nước tác động mạnh mẽ vào các mặt của đời sống xã hội. Một số nước đi vào con đường tư bản chủ nghĩa muộn, nhưng phát huy được những lợi thế riêng và lợi dụng được những thành tựu khoa học kỹ thuật nên đã có độ tăng trưởng nhảy vọt, vượt qua các nước tư bản cũ. Vào năm 1860, Anh và Pháp đứng đầu và thứ hai trong nền sản xuất công nghiệp thế giới, nhưng đến năm 1913, Mỹ và Đức lại chiếm địa vị đó.

      Những nước phát triển sau cần có thị trường trong khi những nước đi trước tuy đã chiếm một số lớn thuộc địa, nhưng vẫn muốn chiếm thêm thị trường mới. Nhưng thế giới đã bị chia xong, không còn có “chỗ trống” như trong thế kỷ trước đây nữa. Do đó, nổ ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa các nước đế quốc để giành giật của nhau thị trường, thuộc địa và phân chia lại thế giới. Những cuộc đấu tranh ấy đã bắt đầu diễn ra từ những năm cuối của thế kỷ XIX và đầu thế kỷ thứ XX: chiến tranh Mỹ-Tây Ban Nha (1898), chiến tranh Anh-Bôơ (1899-1902), chiến tranh Nga-Nhật (1904-1905).

      Sự tranh giành thị trường và thuộc địa giữa các nước đế quốc tất yếu đưa đến việc gây chiến tranh với nhau để chia lại đất đai trên thế giới. Đế quốc Đức hung hăng nhất vì Đức có tiềm lực kinh tế và quân sự nhưng lại có ít thuộc địa. Từ đó, ở châu Âu hình thành 2 tập đoàn gây chiến, chống đối nhau: một bên là Đức, Áo – Hung và Thổ Nhĩ Kỳ; một bên là Anh, Pháp, Nga. Cả hai tập đoàn đều ôm mộng xâm lược và điên cuồng chạy đua vũ trang.

      Khi phát động chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đế quốc Đức muốn tiêu diệt kẻ kình địch của mình là Anh, Pháp và Bỉ để chiếm thuộc địa của các nước đó, làm suy yếu Nga hoàng, giật lấy Ba Lan, Ucraina và miền gần biển Ban Tích; Áo-Hung thì muốn chiếm Xécbi; Thổ thì mơ tưởng xâm chiếm miền Tơrăng Cápca của Nga. Còn phe đối lập thì Anh muốn đánh tan Đức, để tiêu diệt kẻ địch thủ nguy hiểm nhất trên thị trường thế giới, giật của Thổ miền Mêdôpôtami và Palétxtin, củng cố địa vị của mình ở Ai Cập; Pháp mong lấy lại miền Andát và Lôren đã bị Đức chiếm trước đây và xâm chiếm khu vực sông Xarơ; Nga muốn sáp nhập Galixi vào mình, phân chia Thổ Nhĩ Kỳ, xâm chiếm Côngxtăngtinốp và eo biển HắcHải.

      Nhật tham chiến đứng về phía Anh với mục đích chiếm các thuộc địa của Đức ở Thái Bình Dương và lợi dụng cuộc tranh chấp giữa các nước đế quốc để củng cố địa vị ở Trung Quốc. Ý lúc đầu ngả nghiêng giữa hai khối, đã tham gia liên minh Đức và Áo-Hung sau được Anh-Pháp-Nga hứa hẹn nhiều nên ngả theo. Còn Mỹ làm giàu rất nhanh trong cuộc chiến tranh này, giữ thái độ “trung lập”, mãi đến năm 1917 mới tham chiến. Mỹ bí mật bán vũ khí cho hai phe và lợi dụng sự kiệt quệ của hai bên để buộc các nước tham chiến ký một hòa ước phù hợp với tham vọng làm bá chủ thế giới của Mỹ.

      Như vậy là cuộc chiến tranh giữa các nước đế quốc bắt nguồn từ quy luật phát triển về kinh tế, chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa và đã được chuẩn bị trong nhiều năm. Nguyên nhân cơ bản của cuộc chiến tranh là do mâu thuẫn giữa các đế quốc, chủ yếu là mâu thuẫn giữa đế quốc Đức và đế quốc Anh.

      Ngoài mục đích phân chia lại thị trường, các nước đế quốc gây ra cuộc chiến tranh còn có một âm mưu khác: cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1900 ở châu Âu và cuộc Cách mạng 1905 ở Nga làm cho những mâu thuẫn xã hội trong các nước tư bản ngày càng trở nên gay gắt. Phong trào đấu tranh của công nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ. Giai cấp tư sản các nước đế quốc gây ra chiến tranh nhằm đánh lạc hướng chú ý của công nhân đối với các vấn đề chính trị và xã hội trong nước, tuyên truyền chủ nghĩa sô-vanh để ngăn cản sự phát triển của phong trào cách mạng trong nước, đàn áp giai cấp vô sản, chia rẽ phong trào công nhân thế giới. Giai cấp cầm quyền các nước đều muốn lợi dụng chiến tranh để đàn áp phong trào cách mạng và phong trào giải phóng dân tộc.

      Cuộc chiến tranh do các nước đế quốc chuẩn bị và tiến hành nhằm giành giật thuộc địa của nhau là một cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa mang tính chất phi nghĩa, phản động. Nó là sự kế tục chính sách cướp bóc, nô dịch bằng thủ đoạn bạo lực đối với nhân dân các nước khác.

      Về tính chất của cuộc chiến tranh này, Lênin đã chỉ rõ như sau:

      “Về cả hai phía, cuộc chiến tranh đó đều là chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, điều đó hiện nay không còn phải bàn cãi gì nữa. (…) Chiến tranh vô luận là do giai cấp tư sản Đức hoặc do giai cấp tư sản Anh-Pháp tiến hành, cũng đều nhằm mục đích cướp bóc các nước khác, bóp nghẹt các dân tộc nhược tiểu, thống trị thế giới về mặt tài chính, chia và chia lại thuộc địa, cứu chế độ tư bản chủ nghĩa đang giãy chết, bằng cách lừa bịp và chia rẽ công nhân các nước”

      Như vậy, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất đứng về cả hai phe tham chiến mà xét thì đều là chiến tranh ăn cướp, chiến tranh đế quốc, hậu quả của sự phát triển các lực lượng kinh tế, chính trị trên nền tảng chủ nghĩa tư bản độc quyền.

        V.Lênin: “Thư từ nước ngoài gửi về” Toàn tập. Tập 31. NXB Tiến bộ Mátxcơva 1981. tr.18. In nghiêng trong nguyên bản.

      Tác phẩm, tác giả, nguồn

      • Tác phẩm: Lịch sử thế giới cận đại
      • Tác giả: Vũ Dương Ninh – Nguyễn Văn Hồng
      • Nhà xuất bản Giáo dục
      • Ebook:TVE-4U.org

      --- Bài cũ hơn ---

    • Nguyên Nhân, Diễn Biến, Tính Chất Và Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
    • Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất: Nguyên Nhân, Diễn Biến, Hậu Quả, Tính Chất
    • Chiến Tranh Thế Giới Thứ 1 Lịch Sử 11: Nguyên Nhân, Diễn Biến, Tính Chất
    • Nguyên Nhân Thường Gặp Gây Chảy Máu Mũi Và Cách Xử Lý
    • Chảy Máu Mũi Ở Mèo
    • Bài 13 : Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914

      --- Bài mới hơn ---

    • Android Không Bắt Được Wifi, Sửa Lỗi Điện Thoại Android Không Bắt Được
    • Vì Sao Trẻ Sơ Sinh Hay Vặn Mình, Gồng Mình Khi Ngủ Và Cách Chữa
    • Vì Sao Trẻ Sơ Sinh Hay Vặn Mình Và Ọc Sữa?
    • Vì Sao Trẻ Sơ Sinh Hay Vặn Mình?
    • Trẻ Sơ Sinh Hay Giật Mình
    • – Chủ nghĩa tư bản phát triển theo quy luật không đều làm thay đổi sâu sắc so sánh lực lượng giữa các đế quốc ở cuối XIX đầu XX.

      – Sự phân chia thuộc địa giữa các đế quốc cũng không đều. Đế quốc già (Anh, Pháp) nhiều thuộc địa. Đế quốc trẻ (Đức, Mĩ) ít thuộc địa.

      – Mâu thuẫn giữa các đế quốc về vấn đề thuộc địa nảy sinh và ngày càng gay gắt.

      – Các cuộc chiến tranh giành thuộc địa đã nổ ra ở nhiều nơi.

      + Chiến tranh Trung – Nhật (1894 – 1895).

      + Chiến tranh Mĩ – Tây Ban Nha (1989).

      + Chiến tranh Anh – Bô ơ (1899 – 1902).

      – Trong cuộc chạy đua giành giật thuộc địa, Đức là kẻ hiếu chiến nhất. Đức đã cùng Áo – Hung, Italia thành lập “phe liên minh”, năm 1882 chuẩn bị chiến tranh chia lại thế giới.

      – Để đối phó Anh đã ký với Nga và Pháp những Hiệp ước tay đôi hình thành phe Hiệp ước (đầu thế kỉ XX).

      – Cả 2 khối quân sự đối đầu điên cuồng chạy đua vũ trang, chuẩn bị chiến tranh chia lại thế giới, chiến tranh đế quốc không thể tránh khỏi.

      – Nguyên cớ trực tiếp của chiến tranh là do một phần tử Xéc-bi ám sát hoàng thân kế vị ngôi vua Áo – Hung.

      II Những diễn biến chính của chiến sự

      1. Giai đoạn thứ nhất của chiến tranh (1914 – 1916)

      III. Kết cục của Chiến tranh thế giới thứ nhất

      * Hậu quả của chiến tranh

      – Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc với sự thất bại của phe liên minh, gây nên thiệt hại nặng nề về người và của.

      + 10 triệu người chết.

      + 20 triệu người bị thương.

      + Tiêu tốn 85 tỉ đô la.

      – Cách mạng tháng Mười Nga thành công đánh dấu bước chuyển lớn trong cục diện thế giới.

      – Chiến tranh thế giới thứ nhất là cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa.

      * HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI

      1. Em hãy cho biết tình hình các nước đế quốc cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX?

      Trả lời

      – Một số nước đi vào con đường tư bản chủ nghĩa muộn, nhưng phát huy được những lợi thế riêng và lợi dụng được những thành tựu khoa học – kĩ thuật của các nước đi trước nên đã có tốc độ tăng trưởng nhảy vọt như Đức, Mĩ, Áo-Hung, vượt qua các nước tư bản “già” như Anh, Pháp.

      – Các nước đế quốc “trẻ” có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng nhưng lại ít thuộc địa, ngược lại, những đế quốc “già” thì chiếm số lớn thuộc địa. Đầu thế kỉ XX, thế giới đã phân chia xong, không còn “chỗ trống” nữa. Do đó, giữa các nước đế quốc đã nổ ra cuộc đấu tranh gay gắt để chia lại thị trường thuộc địa.

      2. Những biểu hiện nào cho thấy quy luật phát triển không đồng đều của các nước đế quốc?

      Trả lời

      Các nước Đức, Mĩ đi vào con đường tư bản chủ nghĩa muộn nhưng có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhưng lại ít thuộc địa, ngược lại những nước tư bản như Anh, Pháp tốc độ phát triển kinh tế chậm, nhưng chiếm phần lớn thuộc địa. Đây là quy luật phát triển không đồng đều giữa các nước đế quốc.

      3. Giữa các nước đế quốc đã diễn ra những cuộc chiến tranh đầu tiên nào?

      Trả lời

      Những cuộc chiến tranh đế quốc đầu tiên để tranh giành thuộc địa đã diễn ra là:

      – Chiến tranh Mĩ – Tây Ban Nha (1898) : Mĩ chiếm Cu Ba và Phi-lip-pin của Tây Ban Nha.

      – Chiến tranh Anh – Bô-ơ ( 1899-1902) : Anh thôn tính hai nước của người Bô – ơ, sáp nhập vào Nam Phi.

      – Chiến tranh Nga – Nhật ( 1904-1905).

      4. Nguyên nhân dẫn đến cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất ( 1914-1918)?

      Trả lời

      – Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc về vấn đề thuộc địa trở nên gay gắt, dẫn đến sự hình thành hai khối quân sự kình địch nhau.

      + Khối Liên minh gồm : Đức, Áo – Hung, Italia ra đời năm 1882.

      + Khối Hiệp ước gồm ba nước : Anh, Pháp, Nga hình thành năm 1907.

      – Hai khối này đều ráo riết chạy đua vũ trang và tích cực chuẩn bị chiến tranh, mong muốn thanh toán địch thủ của mình để chia lại thuộc địa, làm bá chủ thế giới.

      5. Duyên cớ nào trực tiếp dẫn đến chiến tranh?

      Trả lời

      Từ năm 1912, tình hình ở bán đảo Ban-căng trở nên căng thẳng. Ngày 28-6-1914, Thái tử Áo – Hung bị một phần tử khủng bố ở Xéc-bi ám sát. Bọn quân phiệt Đức, Áo – Hung chớp lấy cơ hội này gây chiến tranh.

      6. Vì sao gọi cuộc chiến tranh (1914-1918) là cuộc chiến tranh thế giới?

      Trả lời

      Cuộc chiến tranh (1914-1918) là cuộc chiến tranh thế giới vì:

      – Quy mô của cuộc chiến tranh này không chỉ dừng lại ở một nước, một khu vực mà lan ra toàn thế giới.

      – Cuộc chiến tranh đã lôi kéo hơn 30 nước vào cuộc chiến, gây hậu quả khác nhau đến tất cả các nước trên thế giới, kể các nước trung lập, các bên tham chiến.

      7. Những trận chiến trong những ngày đầu tiên của cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất?

      Trả lời

      – Ngày 28-7-1914 : Áo – Hung tuyên chiến với Xec – bi.

      – Ngày 1-8, Đức tuyên chiến với Nga.

      – Ngày 3-8, Đưc tuyên chiến với Pháp.

      – Ngày 4-8, Anh tuyên chiến với Đức. Chiến tranh bùng nổ và nhanh chóng trở thành chiến tranh thế giới.

      8. Trình bày diễn biến chính của giai đoạn thứ nhất ( 1914-1916)?

      Trả lời

      – Quân đội Đức tập trung lực lượng ở mặt trận phía Tây nhằm đánh bại quân Pháp một cách chớp nhoáng.

      – Pa-ri bị uy hiếp. Quân Pháp đang có nguy cơ bị tiêu diệt.

      – Ở mặt trận phía Đông, quân Nga lại tấn công quân Đức, cứu nguy cho Pháp.

      – Từ năm 1916, chiến tranh chuyển sang giai đoạn cầm cự ở cả hai phe.

      9. Giai đoạn thứ hai của cuộc Chiến tranh thế giới diễn ra như thế nào?

      Trả lời

      – Từ mùa xuân năm 1917, chiến sự chủ yếu diễn ra ở mặt trận Tây Âu, phe Hiệp ước phản công, phe Liên Minh thất bại và đầu hàng.

      – Ngày 7-11-1917, Cách mạng Tháng Mười thắng lợi ở Nga, Nhà nước Xô viết rút khỏi chiến tranh.

      – Tháng 7-1918, quân Anh, Pháp bắt đầu phản công.

      – Đếntháng 9-1918, quân Anh, Pháp, Mĩ tổng tấn công ở khắp các mặt trận. Các đồng minh của Đức lấn lướt đầu hàng.

      – Ngày 9-11-1918, cách mạng bùng nổ ở Đức, lật đổ nền quân chủ và thành lập chế độ cộng hòa

      – Ngày 11-11-1918, chính phủ mới ở Đức đầu hàng vô điều kiện. Chiến tranh thế giới kết thúc.

      10. Chiến tranh thế giới thứ nhất đã gây nên những hậu quả như thế nào?

      Trả lời

      – Chiến tranh thế giới thứ nhất đã gây ra nhiều tai họa cho nhân loại:

      + 10 triệu người chết, hơn 20 triệu người bị thương.

      + Nhiều thành phố, làng mạc, đường sá, cầu cống, nhà máy bị phá hủy

      + Số tiền các nước nước tham chiến chi phí cho chiến tranh lên tới khoảng 85 tỉ đô la.

      – Tuy nhiên, một kết quả quan trọng trong quá trình chiến tranh là phong trào cách mạng thế giới vẫn không ngừng phát triển, nổi bạt nhất là sự thành công của Cách mạng tháng Mười Nga và việc thành lập Nhà nước Xô viết, đánh dấu một bước chuyển biến lớn trong cực diện chính trị thế giới.

      11. Nêu kết cục của Chiến tranh thế giới thứ nhất đối với các nước đế quốc?

      Trả lời

      – Chiến tranh kết thúc đem lại lợi ích cho các nước đế quốc thắng trận.

      – Bản đồ thế giới được chia lại : Đức mất hết thuộc địa. Anh, Pháp, Mĩ mở rộng thêm thuộc địa của mình.

      12. Từ diễn biến và kết cục của Chiến tranh thế giới thứ nhất, em hãy cho biết tính chất của nó?

      Trả lời

      – Đây là cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, mang tính chất phi nghĩa, phản động, đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản cầm quyền.

      – Đây là cuộc chiến tranh ăn cướp, tốn phí và hậu quả nặng nề của nó đè nặng lên đời sống nhân dân lao động và nhân dân thuộc địa.

      13. Lập niên biểu những sự kiện chính của Chiến tranh thế giới thứ nhất theo mẫu?

      Trả lời

      28-7 đến 4-8-1914

      Áo – Hung tuyên chiến với Xec-bi, Đức tuyên chiến với Nga. Pháp tuyên chiến với Đức

      Cuối 1914

      Ưu thế thuộc về phe Liên Minh

      Cuối 1915

      Nga tấn công Đức ở phía Đông, kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Đức thất bại

      Năm 1916

      Cả hai phe chuyển sang thế phòng ngự

      Năm 1917

      Ưu thế thuộc về phe Hiệp ước, chiến sự chủ yếu ở mặt trận phía tây

      7-11-1917

      Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi. Nước Nga xô viết rút khỏi chiến tranh

      7-1918

      Phe Hiệp ước phản công, các đồng minh Đức đầu hàng

      9-11-1918

      Cách mạng bùng nổ ở Đức, chế độ quân chủ bị lật đổ, chế độ cộng hòa được thành lập

      11-11-1918

      Chính phủ Đức đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh kết thúc

      --- Bài cũ hơn ---

    • Trần Thế Trung Và Hành Trình Giành Vòng Nguyệt Quế Olympia
    • Mạng Xã Hội Dậy Sóng Vì Câu Chuyện Xúc Động Của Quán Quân Trần Thế Trung Ở Chung Kết Olympia
    • Tại Sao Châu Phi ‘giàu’ Nhưng Người Dân Lại Nghèo?
    • Soạn Bài Bức Tranh Của Em Gái Tôi
    • Câu 1: Nguyên Nhân Cuộc Khởi Nghĩa Yên Thế Câu 2: Vì Sao Khởi Nghĩa Yên Thế Lại Thất Bại Câu 3: Tại Sao Nói Cuộc Khởi Nghĩa Hương Kh
    • Bài 13. Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914

      --- Bài mới hơn ---

    • Nguyên Nhân Nào Dẫn Đến Cái Chết Bi Thảm Của Vũ Nương?
    • Suy Nghĩ Về Nguyên Nhân Cái Chết Của Vũ Nương
    • Cạnh Tranh Không Lành Mạnh Là Gì ? Các Văn Bản Hướng Dẫn Hành Vi Cạnh Tranh Không Lành Mạnh?
    • Trắc Nghiệm Gdcd 11, Bài 4: Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hoá
    • Bai Giang Dien Tu Bai 4. Canh Tranh Trong San Xuat Va Luu Thong Hang Hoa
    • LƯỢC ĐỒ CHÂU ÂU CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN NĂM 1914

      ĐỨC

      ÁO-HUNG

      Italia

      THỔNHĨ KỸ

      Bungari

      NGA

      PHÁP

      ANH

      Ailen

      Xec bi

      Hunggari

      Hy lạp

      Anbani

      NA UY

      THUY ĐIỂN

      Thụysĩ

      PhầnLan

      + Được Đức bật đèn xanh, ngày 23.7.1914 Áo-Hung gửi tối hậu thư cho Xec bi với những điều kiện rất nặng nề

      + Ngày 28.7, Áo- Hung tuyên chiến với XecBi

      + Ngày 30.7, Nga tổng động binh

      + Đêm 1.8, Đức tuyên chiến với Nga

      28/7/1914, Áo – Hung tấn công Xécbi

      – 1/8, Đức tấn công Nga

      3/8, Đức tấn công Pháp

      4/8, Anh tuyên chiến với Đức

      Chiến tranh bùng nổ

      Vì sao cuộc chiến tranh năm 1914-1918 lại gọi là cuộc chiến tranh thế giới?

      Lúc đầu chỉ có 5 cường quốc châu Âu tham gia, sau đó 38 nước trên thế giới bị lôi cuốn vào vòng chiến tranh. Chiến sự diễn ra chủ yếu tại Châu Âu

      THỔ NHĨ KỲ

      Nga tấn công Đông Phổ, Nam Áo.

      Pháp phản công từ Pari đến Vecđoong

      Xe tăng ” con quái vật” được bọc thép tấm, đạn bắn không thủng, dùng bánh xích vượt rào và vượt lên chướng ngại vật, ngoài ra xe tăng còn được trang bị pháo và súng máy. Anh Pháp có thứ vũ khí kinh khủng làm đảo lộn thế trận.

      XE TẰNG LẦN ĐẦU TIÊN ĐƯỢC ANH SỬ DỤNG TRONG CHIẾN TRANH THẾ THỨ NHẤT

      BÀI 13:CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT (1914 -1918 )

      I/ Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh

      II / Những diễn biến chính của chiến sự

      Cuộc chiến tranh diễn ra qua mấy giai đoạn ?

      1/ Giai đoạn 1: ( 1914 – 1916 )

      Tình hình chiến sự

      diễn ra như thế nào ?

      Ưu thế thuộc phe Liên minh chiến tranh lan nhanh toàn thế giới

      BÀI 13:CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT (1914 -1918 )

      I/ Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh

      II / Những diễn biến chính của chiến sự

      1/ Giai đoạn 1: ( 1914 – 1916 )

      Giai đoạn I: Năm 1914-1916 ưu thế thuộc về phe liên minh

      Từ năm 1916, chiến tranh chuyển sang giai đoạn cầm cự

      BÀI 13:CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT (1914 -1918 )

      I/ Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh

      II / Những diễn biến chính của chiến sự

      1/ Giai đoạn 1: ( 1914 – 1916 )

      2/ Giai đoạn 2: ( 1917 -1918 )

      THỔ NHĨ KỲ

      Bỉ

      1915, Đức -Áo Hung dồn lực lượng nhằm đè bẹp quân Nga

      1916, Đức bị bại trận ở Vecđoong (Pháp).

      Cách mạng Tháng 10 (1917) thành công

      4/1917, Mỹ tham chiến

      7/1918, Anh, Pháp tấn công Đức

      9,10 /1918, phe Hiệp ước phản công các mặt trận

      11/11/1918, Chính phủ Đức đầu hàng, chiến tranh kết thúc

      Sự chuyển biến chiến sự ở giai đoạn này diễn ra như thế nào?

      Từ mùa xuân năm 1917, chiến sự chủ yếu diễn ra ở mặt trận Tây Âu. Phe hiệp ước phản công, phe Liên minh thất bại và đầu hàng

      BÀI 13 :CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT (1914 -1918 )

      I/ Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh

      II / Những diễn biến chính của chiến sự

      1/ Giai đoạn 1: ( 1914 – 1916 )

      2/ Giai đoạn 2: ( 1917 -1918 )

      Từ năm 1917, chiến sự chủ yếu ở mặt trận Tây Âu

      Phe Hiệp ước phản công, phe Liên minh thất bại và đầu hàng

      Ngày 11/11/1918: Chính phủ Đức đầu hàng không điều kiện. Chiến tranh kết thúc với sự thất bại hoàn toàn thuộc về phe Đức-Áo-Hung

      BÀI 13:CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT (1914 -1918 )

      I/ Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh

      II / Những diễn biến chính của chiến sự

      1/ Giai đoạn 1: ( 1914 – 1916 )

      2/ Giai đoạn 2: ( 1917 -1918 )

      III / Kết cục của chiến tranh thế giới

      Để lại nhiều hậu quả cho nhân loại: 10 triệu người bị chết, hơn 25 triệu người bị thương

      Số tiền tham chiến chi phí cho chiến tranh lên tới khoảng 85 tỷ đô la

      Đây là cuộc chiến tranh phi nghĩa

      TRÒ CHƠI Ô CHỮ

      1

      1-Một cách nói về chủ nghĩa đế quốc

      2

      2 Nước Đức – Áo Hung thuộc khối nào .

      3

      3- Chiến tranh năm 1914- 1918 gọi là cuộc chiến tranh gì.

      4

      4-Tính chất của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất

      5

      5-Thời điểm Mĩ tham gia vào chiến tranh

      6

      6-Chiến tranh kết thúc với sự thất bại của các nước nào?

      7

      7-Đây là điều Loài người hằng mong muốn.

      CK

      CK – Thành ngữ dành cho kẻ hiếu chiến

      --- Bài cũ hơn ---

    • Lịch Sử 11 Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
    • Nguyên Nhân Dẫn Đến Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất?nguyen Nhan Nao Dan Den Chien Tranh The Gioi Thu Nhat
    • Nguyên Nhân Kết Quả Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất (1914
    • Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
    • Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
    • Web hay
    • Links hay
    • Guest-posts
    • Push
    • Chủ đề top 10
    • Chủ đề top 20
    • Chủ đề top 30
    • Chủ đề top 40
    • Chủ đề top 50
    • Chủ đề top 60
    • Chủ đề top 70
    • Chủ đề top 80
    • Chủ đề top 90
    • Chủ đề top 100
    • Bài viết top 10
    • Bài viết top 20
    • Bài viết top 30
    • Bài viết top 40
    • Bài viết top 50
    • Bài viết top 60
    • Bài viết top 70
    • Bài viết top 80
    • Bài viết top 90
    • Bài viết top 100
    • Chủ đề top 10
    • Chủ đề top 20
    • Chủ đề top 30
    • Chủ đề top 40
    • Chủ đề top 50
    • Chủ đề top 60
    • Chủ đề top 70
    • Chủ đề top 80
    • Chủ đề top 90
    • Chủ đề top 100
    • Bài viết top 10
    • Bài viết top 20
    • Bài viết top 30
    • Bài viết top 40
    • Bài viết top 50
    • Bài viết top 60
    • Bài viết top 70
    • Bài viết top 80
    • Bài viết top 90
    • Bài viết top 100