Kinh Tế Nhật Bản Và Sự Phát Triển “Thần Kỳ” Sau Thế Chiến Thứ 2

--- Bài mới hơn ---

  • Đột Biến Gen Là Gì?
  • Động Lực Nào Thúc Đẩy Quá Trình Chuyển Biến Từ Vượn Thành Người?
  • Sự Phát Triển Kinh Tế Của Mỹ (1945
  • Vì Sao Quần Áo Đang Mặc Bị Mốc, Một Số Mẹo Hay Tẩy Mốc Hiệu Quả/ Giặt Là Nhật Bản
  • Top 7 Cách Tẩy Quần Áo Màu Bị Mốc Đen
  • Là quốc gia bại trận, sau Chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản lâm vào khủng hoảng trầm trọng, đặc biệt là về kinh tế. Để giải quyết vấn đề này, nước Nhật đã tiến hành cải cách ruộng đất, cải tổ công ty và cải thiện điều kiện làm việc của công nhân…Điều này đem đến sự phát triển “thần kỳ” của kinh tế Nhật Bản trong giai đoạn 1951-1973. Cùng tìm hiểu chi tiết vấn đề này qua bài viết sau.

    Sau Chiến tranh thế giới thứ 2 – nền kinh tế Nhật như thế nào?

    Chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc, nền kinh tế nước Nhật lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng; thiếu năng lượng, lạm phát kinh tế, vấn nạn thất nghiệp…Đất nước Nhật Bản bị quân đội Mỹ chiếm đóng.

    Hầu hết các cơ sở sản xuất đều được chuyển sang sản xuất phục vụ chiến tranh, trong đó phần lớn bị phá hủy trong cuộc chiến. 6 triệu lính và người dân Nhật từ khắp các vùng chiến sự ở Thái Bình Dương quay trở về nước, Chính phủ nước này phải đối diện với gánh nặng – thất nghiệp.

    Nhật là nước bại trận và chịu hậu quả nặng nề từ chiến tranh thế giới thứ 2

    • Giải thể các nhóm Zaibatsu: Việc này nhằm tiêu diệt sức mạnh quân sự của Nhật, xóa bỏ quyền kiểm soát của một số công ty lớn trong nền kinh tế.
    • Đồng thời, thực hiện cải tổ các công ty theo hướng phu tập trung hóa. Giải pháp này đã tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ cho tất cả các ngành công nghiệp và thúc đẩy cơ chế thị trường hoạt động mạnh,
    • Giải quyết vấn đề việc làm: Thực hiện cải thiện điều kiện làm việc, tăng lương cho công nhân. Đặc biệt, thực hiện dân chủ hóa lao động.
    • Trong khoảng thời gian từ 1945-1947, 3 đạo luật đã được ban hành là Luật công đoàn, Luật tiêu chuẩn lao động và Luật điều chỉnh các quan hệ lao động.
    • Cải cách ruộng đất: Quy định địa chủ chỉ được giữ lại một phần ruộng đất, tối đa là 5ha, giảm xuống còn 1ha. Phần còn lại nhà nước sẽ mua và chuyển nhượng cho những nông dân không có ruộng đất.

    Sự phát triển thần kỳ của kinh tế Nhật Bản sau thế chiến thứ 2

    Với “tinh thần nước Nhật” và sự đồng lòng của toàn thể nhân dân “xứ Phù Tang”, khoảng 20 năm sau chiến tranh (1951-1973), nền kinh tế Nhật Bản phát triển với tốc độ chóng mặt. Nhiều nhà kinh tế thế giới coi đây là sự phát triển “thần kỳ” của nền kinh tế Nhật Bản.

    Từ một đống đổ nát sau chiến tranh, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ 2 trong thế giới tư bản sau Mỹ. Cụ thể:

    Tốc độ phát triển kinh tế tăng nhanh

    Từ 1952- 1973, tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc dân thực tế của Nhật Bản ở mức cao nhất trong các nước tư bản. So với thời điểm năm 1950, năm 1973 giá trị tổng sản phẩm trong nước tăng hơn 20 lần, từ 20 tỷ USD lên 402 tỷ USD, vượt Anh, Pháp và CHLB Đức.

    Từ 1951- 1973, kinh tế Nhật Bản bước vào sự phát triển thần kỳ

    Tốc độ phát triển công nghiệp thời kỳ 1950-1960 là 15,9%; từ 1960-1969 là 13,5%. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng từ 4,1 tỷ USD năm 1950 lên 56,4 tỷ USD năm 1969.

    Các ngành công nghiệp phát triển và đẩy mạnh

    Những ngành công nghiệp then chốt đã tăng lên với nhịp độ nhanh. Mặc dù Nhật hầu như không có mỏ dầu, xong lại đứng đầu các nước tư bản về nhập và chế biến dầu thô. Riêng năm 1971 đã nhập tới 186 triệu tấn dầu thô; công nghiệp sản xuất thép năm 1950 là 4,8 triệu tấn, đến năm 1973 là 117 triệu tấn.

    Năm 1960, ngành công nghiệp ô tô của Nhật đứng hàng thứ 6 trong thế giới tư bản và đến năm 1967 vươn lên hàng thứ 2 sau Mỹ.

    Công nghiệp đóng tàu đến những năm 1970 chiếm 50% tổng số tàu biển và có sáu trong mười nhà máy đóng tàu lớn nhất thế giới tư bản.

    Sự phát triển nhanh của  một số ngành kinh tế lớn đã làm thay đổi nhanh cơ cấu ngành sản xuất của Nhật Bản. Tỷ trọng các ngành nông-lâm-ngư nghiệp giảm đi đáng kể. Thay vào đó là sự tăng trưởng trong ngành công nghiệp, dịch vụ.

    Đến nay, Nhật đã vươn lên trở thành “con rồng châu Á” với nền kinh tế phát triển mạnh mẽ

    Hiện nay, Nhật Bản đang là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế hàng đầu châu Á và thế giới, được ví như “con rồng châu Á”. Để đáp ứng nhu cầu phát triển nền kinh tế, Nhật đã và đang đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động từ nhiều quốc gia trong khu vực, trong đó, Việt Nam là một trong những thị trường chủ lực.

     “Yếu tố” nào đem đến sự phát triển thần kỳ của kinh tế Nhật?

    Phát huy vai trò của nhân tố con người

    Sự phát triển “thần kỳ” của kinh tế Nhật Bản phải để đến yếu tố đầu tiên là con người. Kế thừa nền giáo dục của thời kỳ trước, từ sau thế chiến thứ hai, Nhật đã phổ cập hệ giáo dục 9 năm. Trên cơ sở đó, người Nhật chú trọng đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề, có đủ khả năng nắm bắt và sử dụng kỹ thuật, công nghệ mới.

    Sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế- đầu tiên phải kể đến yếu tố con người

    Thêm đó, đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật của Nhật Bản khá đông đảo, có chất lượng cao, góp phần đắc lực vào bước phát triển nhảy vọt về kỹ thuật và công nghệ của đất nước.

    Các nhà quản lý kinh doanh cũng được đánh giá là những người nhạy bén, biết nắm bắt thị trường và đổi mới phương pháp kinh doanh, đem đến những thắng lợi của công ty Nhật trên trường quốc tế.

    Duy trì mức tích lũy và sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả

    “Đất nước mặt trời mọc” được coi là nước có tỷ lệ tích lũy vốn cao nhất trong những nước tư bản phát triển. Tỷ lệ tích lũy vốn thường xuyên của giai đoạn 1052-1973 khoảng 30-35% thu nhập quốc dân.

    Trong đó, tỷ lệ đầu tư vào tư bản cố định trong tổng sản phẩm xã hội của Nhật Bản cao. Đây là một trong những nhân tố quyết định, đảm bảo cho nền kinh tế Nhật phát triển với tốc độ cao.

    Về sử dụng vốn, Nhật cũng là một nước sử dụng vốn táo bạo và có hiệu quả. Tại Nhật Bản, nhiều ngân hàng thương mại chấp nhận cho vay đến 95% tổng số vốn. Biện pháp có phần mạo hiểm này tạo điều kiện tăng nhanh số vốn chuyển vào sản xuất kinh doanh.

    Những yếu tố quan trọng khác

    Bên cạnh đó, còn có những yếu tố khác như:

    • Tiếp cận và ứng dụng nhanh những tiến bộ khoa học – kỹ thuật
    • Chú trọng vai trò điều tiết của kinh tế Nhà nước
    • Mở rộng thị trường trong nước và ngoài nước
    • Kết hợp khéo léo cấu trúc kinh tế hai tầng
    • Đẩy mạnh hợp tác với Mỹ và các nước khác

    TƯ VẤN XKLĐ NHẬT BẢN 24/7

    HỖ TRỢ TƯ VẤN TRỰC TUYẾN VÀ THỦ TỤC ĐĂNG KÝ THAM GIA

    HOTLINE: 091.858.2233 (Hỗ trợ tư vấn 24/7 qua: Call, Message, Zalo, SMS)

    Nếu không tiện nói chuyện qua điện thoại hoặc nhắn tin ngay lúc này, bạn có thể YÊU CẦU GỌI LẠI bằng việc nhập số điện thoại vào form bên dưới để được cán bộ tư vấn của công ty liên lạc hỗ trợ.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Xử Lý Tình Trạng Bất Thường Ở Đàn Ong
    • Hướng Dẫn Sửa Lỗi Outlook Không Nhận Được Mail Nhanh Nhất
    • Ocd Là Gì? Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
    • Oan Và Sai Trong Tố Tụng Hình Sự
    • Lở Miệng (Nhiệt Miệng)
    • Sự Kiện Nào Kết Thúc Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai?

      --- Bài mới hơn ---

    • Hiện Tượng Ứ Giọt Và Rỉ Nhựa
    • 5 Nguyên Nhân Hàng Đầu Dẫn Đến Thế Chiến Thứ Nhất
    • Những Nguyên Nhân Dẫn Đến Cái Chết Oan Uổng Của Vũ Nương
    • Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa Gdcd 11
    • Bài Tập Trắc Nghiệm Gdcd Lớp 11 Bài 4: Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa (Phần 1)
    • Đâu là nguyên nhân quan trọng nhất góp phần kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2?

      Ngày 30/06/2007, ông Fumio Kyuma, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản trong bài nói chuyện tại một trường đại học ở Tokyo cho rằng việc Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống thành phố HiroshimaNagasaki “có thể khiến Tokyo đầu hàng, từ đó ngăn Liên Xô tuyên chiến với Nhật” và là “chuyện không thể tránh khỏi để chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ hai”. Ông còn nói thêm rằng những vụ ném bom đó “là việc không thể đừng được”.

      Tuyên bố của ông Fumio Kyuma không chỉ gây bất bình trong dư luận xã hội ở Nhật Bản mà còn phủ nhận sự thật lịch sử về một trong những cuộc chiến tranh vĩ đại nhất của nhân loại nhằm tiêu diệt chủ nghĩa phát xít và diệt chủng. Thời gian qua, một số tờ báo ở Mỹ và một số nước Phương Tây cũng cho rằng hai quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống Hirosima và Nagasaki ngày 6 và ngày 9/8/1945 “có ý nghĩa quyết định kết thúc cuộc chiến tranh thế giới đẫm máu nhất trong lịch sử loài người”. Họ còn cho rằng “Liên Xô không cần tham chiến ở Viễn Đông vì Mỹ và đồng minh hoàn toàn có khả năng đánh bại quân Nhật”.

      Vậy, sự thật thế nào?

      Chứng cứ lịch sử thứ nhất, chính Tổng thống Mỹ, ông Roosevelt và Thủ tướng Anh, ông Churchill, trong các cuộc Hội nghị với Stalin, người đứng đầu nhà nước Liên Xô, ở Teheran năm 1943 và Yanta năm 1944 đã đề nghị Liên Xô mở chiến dịch tiến công quân Nhật. Stalin đã cam kết, Liên Xô sẽ thực hiện yêu cầu đó của chính phủ Mỹ và Anh. Tại Hội nghị ở Potsdam năm 1945, Tổng thống Mỹ Harry Truman, người kế nhiệm ông Roosevelt, cũng nhận được lời cam kết của Stalin rằng Hồng quân Liên Xô sẽ tiến hành chiến dịch tiến công đội quân Quan Đông của Nhật sau 3 tháng kể từ khi phát xít Đức đầu hàng. Đêm ngày 8 rạng sáng ngày 9/8/1945, Hồng quân Liên Xô mở chiến dịch tiến công tuyến phòng ngự của quân đội Nhật Bản ở Mãn Châu Lý. Các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự biết rất rõ vì sao Mỹ lại kiên quyết đề nghị Liên Xô tham chiến chống phát xít Nhật. Tháng 8/1945, quân đội Nhật ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương vẫn còn đông tới khoảng 7 triệu người, với 10.000 máy bay, 500 tầu chiến. Quân đội đồng minh chỉ có khoảng 1,8 triệu người và 5.000 máy bay. Nếu như Liên Xô không tham chiến với quân Nhật thì các lực lượng chủ yếu và thiện chiến nhất của đội quân Quan Đông có thể tập trung mũi nhọn chống lại Mỹ và lúc đó cuộc chiến tranh sẽ không chỉ kéo dài 1 tháng, mà ít nhất là 1 hoặc 2 năm với tổn thất mà quân Mỹ phải chịu đựng sẽ vượt quá con số 1 triệu người. Bộ Quốc phòng Mỹ đã từng khẳng định với tổng thống Mỹ về khả năng đó. Bản thân Tổng thống Mỹ Harry Truman lúc đầu cũng chưa nhìn thấy hết ý nghĩa của việc Liên Xô phải tham chiến chống Nhật, nhưng các tướng lĩnh ở Lầu Năm Góc đã thuyết phục được ông.

      Chứng cứ lịch sử thứ hai, việc đập tan đội quân Quan Đông của Nhật, giải phóng khu vực Mãn Châu Lý ở Đông Bắc của Trung Quốc và Triều Tiên, đã đập tan cơ sở kinh tế quân sự của Nhật Bản ở Châu Á và địa bàn tiến công của Nhật Bản nhằm vào Liên Xô và Mông Cổ, tạo điều kiện cho những người yêu nước ở Trung Quốc giải phóng đất nước họ. Ngoài ra, quân đội Liên Xô còn có nhiệm vụ bảo đảm an ninh cho biên giới Viễn Đông. Trong suốt 1.415 ngày cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại, Liên Xô buộc phải duy trì 40 sư đoàn tinh nhuệ dọc tuyến biên giới đó, trong khi những lực lượng này rất cần cho họ trên mặt trận Xô – Đức, đặc biệt là trong thời gian diễn ra các chiến dịch ở ngoại ô Moscow, ở Stalingrad và ở Kursk. Một số nhà nghiên cứu Phương Tây khẳng định sai sự thật rằng quân Nhật không hành động gì dọc biên giới Liên Xô và không có ý định tiến công Liên Xô. Đội quân Quan Đông của Nhật đã nhiều lần khiêu khích vũ trang, xâm phạm biên giới trên bộ và trên biển của Liên Xô, máy bay của chúng thường xuyên xâm phạm không phận Liên Xô. Từ năm 1941 đến năm 1945, đã có trên 1.000 lần quân Nhật xâm phạm lãnh thổ Liên Xô. Phía Nhật Bản đã có 178 lần bắt giữ tàu buôn của Liên Xô và đánh chìm 18 tầu trong số đó.

      Chiến dịch tiến công chiến lược của Hồng quân Liên Xô nhằm vào Mãn Châu Lý ở Viễn Đông kéo dài từ ngày 9/8/1945 đến ngày 2/9/1945 là một trong những trang sử oai hùng nhất trong lịch sử nghệ thuật quân sự thế giới. Chiến dịch triển khai với chính diện kéo dài 5.000 km, sâu 200-800 km, trên một chiến trường vô cùng phức tạp gồm địa hình sa mạc, thảo nguyên, đồi núi, đầm lầy, băng tuyết, có nhiều con sông lớn đi qua như sông Amur và sông Dương Tử. Hồng quân Liên Xô đã đập tan đội quân Quan Đông mạnh nhất và đông nhất của Nhật Bản ở Mãn Châu Lý đông tới hàng triệu người, với 1.115 xe tăng, 5.360 pháo, 1.800 máy bay chiến đấu và 25 tàu chiến cùng với một hệ thống công sự bằng bê tông chằng chịt nối liền với nhau bởi hệ thống giao thông hào ngầm dưới đất chứa nguồn dự trữ lương thực và nước đủ để hàng triệu binh sỹ chiến đấu liên tục trong nhiều tháng. Hồng quân Liên Xô đã tiêu diệt 84.000 lính và sỹ quan Nhật Bản, bắt làm tù binh khoảng 700.000 lính Nhật. Ít có chiến dịch nào trong Chiến tranh thế giới thứ hai giành được chiến thắng vang dội như thế.

      Cuộc tiến công chiến lược ở Mãn Châu Lý không chỉ thể hiện sức mạnh ngày càng lớn của Hồng quân Liên Xô tích luỹ được vào cuối Chiến tranh thế giới thứ hai mà còn chứng tỏ nghệ thuật quân sự ưu việt của các tướng lĩnh Liên Xô, thể hiện trước hết ở việc cấp tốc di chuyển 400.000 chiến sỹ và sỹ quan, trên 7.000 pháo và 1.100 máy bay từ mặt trận phía Tây sang phía Đông với sự hỗ trợ của 136.000 toa tàu mà tình báo Nhật Bản không phát hiện được mặc dù chúng có mạng lưới điệp báo rất mạnh ở Viễn Đông. Khi Bộ chỉ huy Liên Xô lập kế hoạch mở đầu tiến công quân Nhật vào đêm ngày 8, rạng sáng ngày 9/8/1945, viên chỉ huy tình báo Tập đoàn quân số 5 của Nhật Bản báo cáo tin này cho Tư lệnh Yamada, thì viên tướng này đã viết nhận xét vào bản báo cáo của người chỉ huy tình báo Nhật những dòng sau đây: “Chỉ có người nào điên rồ mới quyết định tiến công vào Primorie vào tháng 8 trong thời tiết mưa dầm và mọi con đường đều không thể đi lại được”. Nhưng Hồng quân Liên Xô đã quyết định tiến công và giành chiến thắng với vô vàn gian khổ và có sự giúp đỡ không nhỏ của người dân Trung Quốc. Không có ai ép buộc người dân Trung Quốc phải giúp đỡ Hồng quân Liên Xô, nhưng do sống dưới ách tàn bạo của phát xít Nhật nên khi gặp những đoàn quân giải phóng, họ nhất loạt ra đường cùng kéo pháo, xe tăng và trang thiết bị mắc kẹt trên những đoạn đường lầy lội bùn đất trong thời tiết mưa dầm mùa thu.

      Ngày 2/9/1945, tuần dương hạm của Mỹ “Mitsuri” đậu trên Vịnh Tokyo chứng kiến đại diện toàn quyền của chính phủ Nhật Bản ký kết Hiệp ước đầu hàng hoàn toàn và vô điều kiện trước đại diện các nước đồng minh chống phát xít là Liên Xô và Mỹ, đánh dấu thời điểm cuối cùng kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai kéo dài gần 6 năm và làm thiệt mạng hơn 50 triệu người. Liên Xô cùng với các nước đồng minh đã chiến thắng trong cuộc chiến này. Nhân đây, có thể rút ra một bài học chủ chốt từ cuộc chiến này là: các nước dẫn đầu thế giới chỉ có thể chiến thắng tội ác khi hợp lực với nhau, dù đó là chủ nghĩa phát xít Đức, chủ nghĩa quân phiệt Nhật, hoặc ngày nay là chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Không có sự đoàn kết đó thì không thể chiến thắng tội ác trên quy mô toàn cầu./.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Nguyên Nhân, Kết Quả Và Sự Thật Sửng Sốt Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ 2
    • Triệu Chứng Chảy Máu Mũi, Nguyên Nhân Và Cách Chữa Trị
    • Chảy Máu Mũi: Nguyên Nhân Và Cách Xử Trí Hiệu Quả
    • Nguyên Nhân Và Cách Xử Lý Nhanh Khi Bị Chảy Máu Mũi
    • Tránh Biến Chứng “chảy Máu Mũi” Mùa Lạnh
    • Nguyên Nhân Dẫn Tới Chiến Tranh Thế Giới Thứ 1

      --- Bài mới hơn ---

    • Những Nguyên Nhân Dẫn Đến Cái Chết Của Vũ Nương Trong Chuyện Người Con Gái Nam Xương
    • Nêu Những Nguyên Nhân Dẫn Đến Tai Nạn Giao Thông? Nguyên Nhân Nào Là Chủ Yếu? Vì Sao
    • Trẻ Sơ Sinh Bị Vàng Da: Dấu Hiệu Và Cách Chữa Trị Vàng Da Ở Trẻ
    • Phân Biệt Vàng Da Sơ Sinh Sinh Lý Và Vàng Da Bệnh Lý
    • Trẻ Sơ Sinh Bị Trớ Hay Ọc Sữa: Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục
    • Chiến tranh thế giới thứ 1 hay còn được gọi là đại chiến thế giới thứ nhất hoặc thế chiến 1, là một trong những cuộc chiến tranh khốc liệt, mang nhiều hậu quả nặng nề với quy mô rộng nhất trong các cuộc chiến tranh. Vậy nguyên nhân nào dẫn tới cuộc đại chiến tàn khốc này?

      Nguyên nhân nào gây ra chiến tranh thế giới thứ 1?

      Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh thế giới thứ 1 bắt nguồn từ quan hệ quốc tế nhiều mâu thuẫn. Mâu thuẫn này đến từ việc chủ nghĩa tư bản phát triển không đồng đều, sự sở hữu thuộc địa của các nước đế quốc cũng không đồng đều.

      Sự chênh lệch về lực lượng cũng như số lượng thuộc địa sở hữu giữa các đế quốc gây mâu thuẫn sâu sắc, đặc biệt là vấn đề thuộc địa. Và trước khi xảy ra chiến tranh thế giới thứ 1 thì đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh nhỏ nhằm tranh giành thuộc địa như chiến tranh giữa Nhật Bản và Trung Quốc, chiến tranh giữa Mỹ và Tây Ban Nha,…

      Cuộc chạy đua tranh giành thuộc địa diễn ra ngày càng nhiều hơn, và với tham vọng của mình, Đức đã cùng một số nước khác (Italia, Áo – Hung,…) liên kết lại với nhau thành phe “Liên Minh” với mưu đồ chiến tranh nhằm giành thuộc địa. Trước tình hình đó, Anh cũng đã lôi kéo, kí hiệp ước với các nước Pháp, Nga và tạo nên phe “Hiệp ước” đối phó với Đức và đồng minh.

      Lược đồ chiến tranh thế giới thứ nhất gồm ba nhóm nước: Các nước trung lập, các nước theo phe “Liên Minh” và các nước theo phe “Hiệp ước”. Các nước giữ được vị trí trung lập không nhiều, hầu hết các nước đế quốc nhỏ khác và các nước thuộc địa đều bị kéo vào cuộc chiến tàn khốc này.

      Hai phe quân sự “Liên Minh” và “Hiệp Ước” ngày càng đối đầu gay gắt, thi nhau ráo riết để chạy đua vũ trang mà đứng đầu là các nước đế quốc lớn với âm mưu cướp đoạt lãnh thổ, giành lấy thuộc địa của nhau. Có thể thấy cuộc chiến tranh phân chia lại thuộc địa là khó có thể tránh được.

      Nguyên nhân sâu xa đưa tới chiến tranh thế giới thứ 1

      Thực tế, nguyên nhân sâu xa dẫn tới chiến tranh thế giới thứ nhất đó là sự phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản. Thêm vào đó là mâu thuẫn sâu sắc về vấn đề thuộc địa giữa các đế quốc: các đế quốc trẻ như Đức, Nhật Bản, Mỹ nắm giữ ít thuộc địa, trong khi những đế quốc lâu đời như Anh, Pháp hay Nga lại có trong tay nhiều thuộc địa. Điều này dẫn tới mâu thuẫn, sự không bằng lòng giữa các đế quốc về sở hữu thuộc địa mà trước tiên đó là mâu thuẫn giữa Đức và Anh.

      Sự phát triển chênh lệch của chủ nghĩa tư bản cùng mâu thuẫn thuộc địa gay gắt giữa các đế quốc dẫn tới tham vọng tranh giành, phân chia lại thị trường thuộc địa. Đây là nguyên nhân sâu xa dẫn tới cuộc đại chiến thế giới lần 1.

      Nguyên nhân trực tiếp châm ngòi chiến tranh thế giới thứ 1 là gì?

      Nguyên nhân trực tiếp cho cuộc chiến tranh tàn khốc này là sự xuất hiện của hai phe quân sự “Liên Minh” và “Hiệp Ước” đối đầu, tranh giành nhau. Hai phe đế quốc này thi nhau chạy đua vũ trang với tham vọng phân chia lại thuộc địa, làm chủ thế giới. Đến khoảng năm 1914 thì các nước đế quốc đã cơ bản chuẩn bị xong về vũ trang, quân sự để sẵn sàng cho cuộc chiến tranh giành thuộc địa.

      Vậy vì sao chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, duyên cớ do đâu?

      Ngòi lửa chiến tranh đó là sự kiện Thái tử Áo bị ám sát bởi Xéc-bi trong một cuộc tập trận của Áo – Hung tổ chức tại thủ đô của Booxxnia. Sự kiện này đã tạo cơ hội cho Đức ép Áo tuyên chiến với Xéc-bi, sau đó là một loạt các lời tuyên chiến khác, dẫn tới cuộc đại chiến thế giới nổ ra mạnh mẽ.

      Chiến tranh thế giới thứ nhất vô cùng tàn khốc, cuộc chiến này đã để lại những hậu quả nặng nề: hơn 10 triệu người thiệt mạng, hơn 20 triệu người khác bị thương cùng những món nợ của các nước Châu Âu với Mỹ, chưa kể những thiệt hại cho sự phát triển của nhân loại.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Chảy Máu Cam (Chảy Máu Mũi): Nguyên Nhân, Cách Xử Trí Tại Nhà
    • Chảy Máu Mũi: Nguyên Nhân, Cách Xử Lý Và Phòng Ngừa
    • Nguyên Nhân, Ý Nghĩa Cái Chết Của Nhân Vật Lão Hạc
    • Nguyên Nhân Nào Dẫn Tới Chậm Kinh Ở Nữ Giới
    • Nguyên Nhân Chậm Kinh Nguyệt Ở Chị Em Phụ Nữ
    • Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất

      --- Bài mới hơn ---

    • Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
    • Nguyên Nhân Kết Quả Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất (1914
    • Nguyên Nhân Dẫn Đến Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất?nguyen Nhan Nao Dan Den Chien Tranh The Gioi Thu Nhat
    • Lịch Sử 11 Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
    • Bài 13. Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
      • Mâu thuẫn vốn có giữa các nước đế quốc cầm đầu ở châu Âu về sự phát triển không đồng đều
      • Sự phân chia không tương xứng về thuộc địa giữa các nước đế quốc. Anh và Pháp (các nước đế quốc già) chiếm hầu hết các thuộc địa. Trong khi Đức, Mĩ (các đế quốc trẻ) lại ít thuộc địa
        Ngày 28 tháng 6 năm 1914, thái tử Ao-Hung bị phần tử người Serbia ám sát. Đây được coi là sự kiện “giọt nước tràn ly” để các nước đế quốc tranh giành và phân chia lại thuộc địa trên thế giới.

      Diễn biến chính của chiến tranh thế giới thứ nhất

      • Ngày 28 tháng 07 năm 1914: Áo-Hung tuyên chiến với Xecbi
      • Ngày 03 tháng 08 năm 1914: Đức tuyên chiến với Pháp
      • Ngày 04 tháng 08 năm 1914: Anh tuyên chiến với Đức
      • Pari của Pháp bị uy hiếp bởi Đức tập trung lực lượng ở phía Tây nhằm mục đích đánh bại Pháp
      • Nga cứu nguy cho Pháp khi tấn công quân Đức ở phía Đông
      • Từ năm 1916, cả hai phe ở thế cầm cự
      • 4/1917, Mỹ chính thức tham gia vào phe hiệp ước
      • Ngày 7 tháng 11 năm 1917, Nga chính thức rút khỏi chiến tranh do giành được Cách mạng tháng 10 Nga
      • Tháng 7 năm 1918, Anh với Pháp phản công
      • Năm 1918 vào tháng 9, ba nước Anh Pháp Mỹ tổng tiến công, Đức và các nước đồng minh đầu hàng
      • Ngày 9 tháng 11 năm 1918, Cách mạng tại Đức bùng nổ, lật đổ nền dân chủ tại đất nước này
      • Ngày 11 tháng 11 năm 1918, quân Đức đầu hàng vô điều kiện, cùng lúc đó Áo-Hung cũng thất bại

      Chiến sự này được gọi là chiến tranh thế giới là bởi có 38 nước đế quốc lao vào cuộc chiến để tranh giành đấu đá đòi quyền lợi. Qua diễn biến của chiến sự, chúng ta cũng có thể biết được diễn biến chính của giai đoạn thứ nhất cũng như giai đoạn thứ hai của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất diễn ra như nào.

      Hậu quả của chiến tranh thế giới thứ nhất

      Sau thời gian căng thẳng chiến đâu giữa hai phe Liên minh và Hiệp ước, cuối cùng phe Liên minh đã thất bại, gây nên những hậu quả nghiêm trọng, những thiệt hại vô cùng nặng nề cho các nước tham gia.

      • Thảm họa cho nhân loại: Với 10 triệu người hi sinh, 20 triệu người bị thương
      • Nhiều địa danh bị phá hủy, thành phố, làng mạc bị tàn phá gây thiệt hại nhiều tỷ đô la
      • Bản đồ thế giới bị phân chia lại, các nước thắng trận thu lợi lớn
      • Nhiều nước châu Âu đã trở thành con nợ của nước Mỹ
      • Cuộc chiến sự này thực sự không giải quyết được mâu thuẫn giữa các nước đế quốc mà còn khiến mâu thuẫn đó dâng ngày một cao hơn.
      • Cách mạng vô sản dẫn đến cao trào, nhân dân lao động ở nhiều thuộc địa thức tỉnh và nhận thức được việc đấu tranh.
      • Các nước châu Âu bị tụt hậu, mất đi vai trò đang đảm đương trong 300 năm qua, chuyển dần sang cho Bắc Mỹ
      • Kết cục của chiến tranh thế giới thứ nhất và trật tự sau chiến tranh thế giới thứ nhất:

      Bài học rút ra từ chiến tranh thế giới thứ nhất

      Cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất cũng như cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đều dẫn đến các bài học lịch sử mà toàn nhân loại ghi nhớ. Những bài học này vẫn luôn còn nguyên giá trị.

      • Chủ nghĩa ích kỉ và tham vọng ở phạm vi quốc tế hay quốc gia đều sẽ dần đến những xung đột đối kháng, ngấm ngầm, khi chiến tranh nổ ra thì đều gây nên những hậu quả và thiệt hại nặng nề cho các nước tham gia.
      • Tốc độ tàn phá của chiến tranh là vô cùng khủng khiếp mà không ai có thể dự tính trước hết được các hậu quả của nó, đặc biệt trong điều kiện các mối quan hệ chặt chẽ cũng như sự phát triển của kinh tế, của công nghiệp cao
      • Yếu tố lợi ích quốc gia là cực kì quan trọng, luôn song hành và đi cùng với quyền lợi chính đáng của đất nước đó. Nếu các quốc gia không tôn trọng, bình đẳng lẫn nhau thì tình hình quốc tế không thể ổn định được.
      • Mâu thuẫn trong phạm vi quốc tế hay quốc gia cần được giải quyết kịp thời trong hòa bình, tránh gây nên những xung đột với các sự kiện trực tiếp. Một đất nước bị dồn vào chân tường khi mà lợi ích đang bị xâm hại nghiêm trọng sẽ gây ảnh hưởng đến hòa bình của thế giới.

      Tính chất của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất

      Để hiểu rõ hơn về hậu quả của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, chúng ta cần nắm được tính chất, bản chất của chiến sự này:

      • Đây là cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa giữa các nước tham chiến
      • Là cuộc chiến giành quyền lợi và thuộc địa của các nước đế quốc, tuy nhiên chỉ mang lại lợi nhuận cho giai cấp tư sản
      • Là cuộc chiến xâm lược nhằm đánh chiếm thuộc địa, lãnh thổ của đối phương

      Để hiểu hơn về nguyên nhân, diễn biến, tính chất quy mô, ý nghĩa cũng như hậu quả của chiến tranh thế giới thứ nhất, chúng ta cùng lập niên biểu về các sự kiện lớn của chiến sự này

      Please follow and like us:

      --- Bài cũ hơn ---

    • Chiến Tranh Thế Giới Lần 1: Nguyên Nhân
    • Nguyên Nhân Và Tính Chất Của Cuộc Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất
    • Nguyên Nhân, Diễn Biến, Tính Chất Và Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
    • Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất: Nguyên Nhân, Diễn Biến, Hậu Quả, Tính Chất
    • Chiến Tranh Thế Giới Thứ 1 Lịch Sử 11: Nguyên Nhân, Diễn Biến, Tính Chất
    • Nguyên Nhân Dẫn Đến Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất?nguyen Nhan Nao Dan Den Chien Tranh The Gioi Thu Nhat

      --- Bài mới hơn ---

    • Lịch Sử 11 Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
    • Bài 13. Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
    • Nguyên Nhân Nào Dẫn Đến Cái Chết Bi Thảm Của Vũ Nương?
    • Suy Nghĩ Về Nguyên Nhân Cái Chết Của Vũ Nương
    • Cạnh Tranh Không Lành Mạnh Là Gì ? Các Văn Bản Hướng Dẫn Hành Vi Cạnh Tranh Không Lành Mạnh?
    • Sự phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX đã làm so sánh lực lượng giữa các nước đế quốc thay đổi. Các đế quốc phát triển sớm – đế quốc “già” (Anh. Pháp)… kinh tế phát triển chậm lại, nhưng lại có nhiều thuộc địa. Còn các đế quốc mới ra đời – đế quốc “trẻ” như Đức, Mĩ, Nhật lại phát triển kinh tế nhanh, nhưng có ít thuộc địa. Vì vậy, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc “già” và “trẻ” về thuộc địa là hết sức gay gắt. Cho nên các đế quốc Đức. Mĩ. Nhật tích cực chuẩn bị một kế hoạch gây chiến tranh đế eiành giột thuộc địa.

      – Vào cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX đã diễn ra cuộc chiến tranh Mĩ – Tây Ban Nha ( 1898). .VÍT chiếm lại Phi-líp-pin và Cu-ba của Tây Ban Nha : Chiến tranh Anh – Bỏ-Ơ (1899 – 1902). Anh thôn tính hai quốc gia của người Bỏ-Ơ : Chiến tranh Nga – Nhật ( 1904 – 1905). Nhật đánh bật Nga ra khỏi bán dáo Triểu Tièn và Đông Bắc Trung Quốc.

      – Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc trở nén hết sức gay gắt dẫn đến hình thành hai khối quân sự đối lập là : khối Liên minh Đức – Áo-Hung (1882) và khối Hiệp ước Anh – Pháp – Ngà ( 1907). Hai khối này tích cực chạy đua vũ trang và chuẩn bị chiến tranh để giành giật thuộc địa của nhau. Đây chính là nguyên nhân sâu xa của cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất.

      Nguyên nhân trực tiếp, bắt đầu từ việc Thái tử Phéc-đi-năng của đế quốc Áo Hung bị một người Xéc-bi ám sát ngày 28 – 6 – 1914. Đế quốc Đức – Áo liền chớp lấy thời cơ đó để gây ra cuộc chiến tranh.

      Sự phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX đã làm so sánh lực lượng giữa các nước đế quốc thay đổi. Các đế quốc phát triển sớm – đế quốc “già” (Anh. Pháp)… kinh tế phát triển chậm lại, nhưng lại có nhiều thuộc địa. Còn các đế quốc mới ra đời – đế quốc “trẻ” như Đức, Mĩ, Nhật lại phát triển kinh tế nhanh, nhưng có ít thuộc địa. Vì vậy, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc “già” và “trẻ” về thuộc địa là hết sức gay gắt. Cho nên các đế quốc Đức. Mĩ. Nhật tích cực chuẩn bị một kế hoạch gây chiến tranh đế eiành giột thuộc địa.

      – Vào cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX đã diễn ra cuộc chiến tranh Mĩ – Tây Ban Nha ( 1898). .VÍT chiếm lại Phi-líp-pin và Cu-ba của Tây Ban Nha : Chiến tranh Anh – Bỏ-Ơ (1899 – 1902). Anh thôn tính hai quốc gia của người Bỏ-Ơ : Chiến tranh Nga – Nhật ( 1904 – 1905). Nhật đánh bật Nga ra khỏi bán dáo Triểu Tièn và Đông Bắc Trung Quốc.

      – Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc trở nén hết sức gay gắt dẫn đến hình thành hai khối quân sự đối lập là : khối Liên minh Đức – Áo-Hung (1882) và khối Hiệp ước Anh – Pháp – Ngà ( 1907). Hai khối này tích cực chạy đua vũ trang và chuẩn bị chiến tranh để giành giật thuộc địa của nhau. Đây chính là nguyên nhân sâu xa của cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất.

      Nguyên nhân trực tiếp, bắt đầu từ việc Thái tử Phéc-đi-năng của đế quốc Áo Hung bị một người Xéc-bi ám sát ngày 28 – 6 – 1914. Đế quốc Đức – Áo liền chớp lấy thời cơ đó để gây ra cuộc chiến tranh.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Nguyên Nhân Kết Quả Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất (1914
    • Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
    • Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
    • Chiến Tranh Thế Giới Lần 1: Nguyên Nhân
    • Nguyên Nhân Và Tính Chất Của Cuộc Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất
    • 4 Nguyên Nhân Của Sự Phát Triển Thần Kì Nhật Bản Sau Thế Chiến Thứ Ii

      --- Bài mới hơn ---

    • Vì Sao Nhật Bản Có Thể Phát Triển Từ Trong Đổ Nát Chiến Tranh?
    • Mô Hình Kinh Tế Keiretsu
    • Giải Đáp: Bệnh Viêm Âm Đạo Và Viêm Lộ Tuyến Tử Cung Có Giống Nhau Không?
    • Buồng Trứng Đa Nang Và U Nang Buồng Trứng Giống Và Khác Nhau Thế Nào?
    • Sự Khác Biệt Giữa Bệnh Thoái Hóa Khớp Và Viêm Khớp Dạng Thấp
    • Sau thế chiến II, nền kinh tế Nhật Bản ở trong thời gian mò mẫm để tìm ra con đường vực dậy từ tình trạng hỗn loạn do sự thất bại sau chiến tranh để lại. Đúng thời kì đó một cơ hội vàng đã đến với Nhật bản – nhu cầu khí tài cực lớn trong chiến tranh liên Triều. Nhờ đó nền kinh tế đã được vực dậy từ nửa cuối những năm 1950 đến thập niên 60, đánh dấu sự mở đầu của giai đoạn phát triển thần kì. Trong khoảng thời gian 1955 đến năm 1970, tỉ lệ tăng trưởng thực chất GNP trung bình hàng năm đạt tới 9.8%, nền kinh tế Nhật Bản thực sự bước vào thời đại “Phát triển kinh tế cao độ” được ví như là một truyền thuyết trong lịch sử phát triển kinh tế đất nước.

      Nền kinh tế Nhật Bản sau thời kì phát triển cao độ đó vẫn có những bước phát triển bền vững và đến ngày nay đã biến nước Nhật trở thành một cường quốc kinh tế của thế giới. Sự thành công của mô hình phát triển kinh tế Nhật Bản dần thu hút được sự quan tâm đặc biệt trong thế giới tự do sau chiến tranh. Có không ít các quốc gia đang phát triển ấn tượng với mô hình phát triển của Nhật bản, lấy đó làm hình mẫu để đưa ra các sách định trong chính sách phát triển kinh tế đất nước.

      Nhưng nhìn nhận khách quan, chúng ta phải thấy và không được quên rằng nước Nhật đã hội tụ được những điều kiện cần thiết để thực hiện thành công giai đoạn phát triển thần kì đó. Nhìn những quốc gia đang phát triển bắt chước mô hình Nhật Bản mà không thu được thành công thì chắc rằng họ đã không hội tụ đủ những điều kiện đặc thù làm tiền đề này.

      Vậy những điều kiện của sự phát triển kinh tế thần kì của Nhật Bản là gì? Đâu là bí quyết trong sự thành công đó? Thực tế, đã có rất nhiều nguyên nhân hợp lại một cách hoàn hảo trong điều kiện thời gian và không gian tại thời điểm đó. Trong bài này, để tiện phân tích sẽ đề cập tới 4 từ khóa tựa như “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” là: Con người – Vật chất – Tiền – Thời kì

      1. Điều kiện thứ nhất của sự phát triển thần kì – Con người

      Con người ở đây chính là sức lao động. Nước Nhật sau chiến tranh có nguồn lao động rẻ nhưng chất lượng rất cao. Tức là với một vốn kĩ thuật sản xuất nhất định có thể đưa ra những sản phẩm giá thành rẻ do giá nhân công rẻ. Đặc biệt hơn nữa là với phong trào sinh con (baby boom) sau chiến tranh, thì tới những năm thập niên 60 nước Nhật đã có được một thế hệ với nguồn năng lượng dồi dào, sức lao động có thừa.

      – Chú thích thêm : Trong giai đoạn này, mọi tầng lớp trong mỗi công ty đều coi công ty chính là nhà của mình, người ta làm trong một công ty từ tuổi thanh niên đến khi về già. Ngay cả bây giờ khi tiếp xúc với người khác họ vẫn dùng cách gọi công ty mình làm việc là: uchi no kaishya – công ty nhà tôi .

      2. Điều kiện thứ hai của sự phát triển thần kì – Vật chất

      Vật chất ở đây chính là việc sản xuất. Sau những năm 1950, trong những nghành sản xuất chủ chốt, các công ty đã mở rộng việc cạnh tranh lẫn nhau bằng việc đưa những kĩ thuật mới từ Âu – Mỹ hay trực tiếp nghiên cứu phát triển những sản phẩm mới, cải tiến kĩ thuật cũ. Nhờ đó việc đầu tư thiết bị với những kĩ thuật mới thu được được thực hiện khắp nơi. Đây là một phần trong cuộc cạnh tranh phá giá trong bối cảnh một vài công ty lớn thâu tóm một lĩnh vực kinh doanh nào đó. Ngoài ra những ngành công nghiệp mới như: công nghiệp hóa học nặng, cộng nghiệp điện tử, công nghiệp sản phẩm lâu bền (ô tô, đồ điện dân dụng …) ngày càng được phát triển và dần trở thành những ngành công nghiệp quan trọng của Nhật Bản. Trong thời kì phát triển thần kì này, ba mặt hàng trọng điểm là tivi, máy giặt, tủ lạnh trở thành biểu tượng cho sự phổ cập nhanh chóng của các mặt hằng lâu bền đến mức người ta đã gọi đây là 3 thần khí để miêu tả mặt tiêu dùng của xã hội Nhật bản thời bấy giờ. Thêm nữa, trong thời kì này nền sản xuất số lượng lớn với hiệu suất cao được xác lập, các sản phẩm của Nhật bản với giá thành hạ và chất lượng được cải thiện đã xâm nhập nhanh chóng vào các thị trường nước ngoài chứ không chỉ trong nước.

      3. Điều kiện thứ ba của sự phát triển thần kì – Tiền

      Tiền ở đây chính là vấn đề tài chính doanh nghiệp, như hệ thống ngân hàng giao dịch chính hay sự ổn định hóa của các cổ đông lớn. Các công ty xí nghiệp có những hợp đồng liên kết giao dịch dài hạn đặc biệt với một ngân hàng nhất định để đảm bảo nguồn đầu tư tư bản ổn định trong thời gian dài, không cần hồi trả ở những thời điểm khó khăn, thay vào đó mọi quyết toán của công ty phải được thực hiện bằng tài khoản của ngân hàng đó và có trách nhiệm cung cấp thông tin cần thiết cho ngân hàng. Vấn đề thiếu vốn đầu tư của doanh nghiệp và sự cạnh tranh giữa các ngân hàng làm cho mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng trở nên hai bên đều phụ thuộc lẫn nhau.

      Những doanh nghiệp tiêu biểu của Nhật thời kì đó có thể kể đến SONY hay HONDA thời kì đầu đã rất khó khăn về vốn, nhưng họ đã nhận được những khoản đầu tư rất lớn để phát triển nhanh chóng và lớn mạnh như ngày nay. Hệ thống ngân hàng chính đã phát huy hiệu quả trong việc đào tạo những doanh nghiệp sở hữu những kĩ thuật có triển vọng, cho thấy một mặt đặc trưng về tài chính của thời kì phát triển kinh tế cao độ của Nhật. Thêm nữa, các ngân hàng chính trở thành trung tâm trong việc sở hữu cổ phần lẫn nhau giữa các công ty, góp phần làm cho thành phần cổ đông ổn định. Nhờ thế mà đội ngũ lãnh đạo việc kinh doanh có thể an tâm để tập trung cho việc phát triển công ty.

      4. Điều kiện thứ tư của sự phát triển thần kì – Thời cơ

      Năm 1949 nước Nhật đưa ra chính sách tài chính mang tên Dodge Line nhằm mục đích hướng tới một nền kinh tế tự lập và ổn định đặt trọng tâm vào các vấn đề cơ sở hạ tầng, chấn hưng xuất khẩu, hạn chế tiêu dùng trong nước. Nhờ chính sách này mà vấn đề về cơ sở hạ tầng sau thế chiến được giải quyết, tỉ giá đồng đô la cũng được cố định ở mức 1 đô la = 360 yên. Ngay năm tiếp theo – năm 1950, chiến tranh Triều Tiên nổ ra, với tỉ giá đồng yên rẻ (360 yên) và nhu cầu mặt hàng nhu yếu phẩm từ Triều Tiên cực lớn, nền kinh tế Nhật Bản đã phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng vượt qua mức trước thế chiến II. Thời điểm đó, việc coi chính sách công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu chưa được nhận thức đúng đắn như một chiến lược phát triển kinh tế nên việc Nhật Bản thực hiện từ sớm chính sách này chính là chìa khóa của sự thành công trong phát triển kinh tế, bởi điều đó đem lại may mắn là không có đối thủ cạnh tranh trong xuất khẩu. So với hiện nay, các nước đưa ra những chiến lược hướng đến xuất khẩu tương tự nhau nên việc xuất khẩu không được khả quan như dự tính.Trong bối cảnh như vậy, các điều kiện có lợi cho phát triển về “Con người”, “Vật chất”, “Tiền” đạt được cùng lúc tạo ra một điều kiện tổng hợp đã giúp kinh tế Nhật Bản thành công với sự phát triển thần kì.

      Qua đây chúng ta cần nhận rõ không chỉ nhìn vào sự phát triển kinh tế, những kĩ thuật siêu việt của Nhật Bản hiện, mà cần phải tìm hiểu ngọn nguồn của sự phát triển đó. Sự khác nhau về bối cảnh xã hội và cơ hội (chiến tranh liên Triều) mang lại sự thuận lợi hay khó khăn trong việc phát triển kinh tế. Theo sự nhìn nhận của người viết, bốn nguyên nhân trên mới chỉ là điều kiện để nước Nhật bắt đầu một cuộc phát triển thần kì. Để định hướng và điều chỉnh hướng đi cho nền kinh tế trong quá trình phát triển đó có những chính sách kịp thời và nhất quán nữa. Và đặc biệt trong lĩnh vực kĩ thuật sản xuất, đức tính chung của người kĩ sư Nhật Bản là : làm đến cùng, không bằng lòng với kĩ thuật hiện tại, luôn luôn có ý thức cải tiến bằng suy nghĩ của bản thân không sao chép, tạo bản sắc của công ty trong mỗi sản phẩm đã đưa kĩ thuật made in Japan lên đỉnh cao thế giới như ngày hôm nay.

      Người dịch: Trần Đăng Phong

      --- Bài cũ hơn ---

    • Còn Lâu Trung Quốc Mới Bắt Chước Được Mỹ Sau Thế Chiến Lần 2
    • Tìm Hiểu Nét Tương Đồng Và Khác Nhau Của Phật Giáo Và Thiên Chúa Giáo
    • Pr Là Gì? Quảng Cáo Là Gì? 10 Sự Khác Nhau Giữa Quảng Cáo Và Pr
    • Những Khác Biệt Giữa Học Đại Học Và Học Phổ Thông
    • The Gunpowder Empires: Ottoman, Safavid Và Mughal
    • Nguyên Nhân Và Tính Chất Của Cuộc Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất

      --- Bài mới hơn ---

    • Chiến Tranh Thế Giới Lần 1: Nguyên Nhân
    • Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
    • Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
    • Nguyên Nhân Kết Quả Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất (1914
    • Nguyên Nhân Dẫn Đến Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất?nguyen Nhan Nao Dan Den Chien Tranh The Gioi Thu Nhat
    • I. Nguyên nhân và tính chất của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất

      1. Nguyên nhân

      Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất là kết quả tất nhiên của sự phát triển kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản thế giới vào những năm đầu thế kỷ XX. Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển tới giai đoạn mới – giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.

      Quy luật phát triển không đều giữa các nước tác động mạnh mẽ vào các mặt của đời sống xã hội. Một số nước đi vào con đường tư bản chủ nghĩa muộn, nhưng phát huy được những lợi thế riêng và lợi dụng được những thành tựu khoa học kỹ thuật nên đã có độ tăng trưởng nhảy vọt, vượt qua các nước tư bản cũ. Vào năm 1860, Anh và Pháp đứng đầu và thứ hai trong nền sản xuất công nghiệp thế giới, nhưng đến năm 1913, Mỹ và Đức lại chiếm địa vị đó.

      Những nước phát triển sau cần có thị trường trong khi những nước đi trước tuy đã chiếm một số lớn thuộc địa, nhưng vẫn muốn chiếm thêm thị trường mới. Nhưng thế giới đã bị chia xong, không còn có “chỗ trống” như trong thế kỷ trước đây nữa. Do đó, nổ ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa các nước đế quốc để giành giật của nhau thị trường, thuộc địa và phân chia lại thế giới. Những cuộc đấu tranh ấy đã bắt đầu diễn ra từ những năm cuối của thế kỷ XIX và đầu thế kỷ thứ XX: chiến tranh Mỹ-Tây Ban Nha (1898), chiến tranh Anh-Bôơ (1899-1902), chiến tranh Nga-Nhật (1904-1905).

      Sự tranh giành thị trường và thuộc địa giữa các nước đế quốc tất yếu đưa đến việc gây chiến tranh với nhau để chia lại đất đai trên thế giới. Đế quốc Đức hung hăng nhất vì Đức có tiềm lực kinh tế và quân sự nhưng lại có ít thuộc địa. Từ đó, ở châu Âu hình thành 2 tập đoàn gây chiến, chống đối nhau: một bên là Đức, Áo – Hung và Thổ Nhĩ Kỳ; một bên là Anh, Pháp, Nga. Cả hai tập đoàn đều ôm mộng xâm lược và điên cuồng chạy đua vũ trang.

      Khi phát động chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đế quốc Đức muốn tiêu diệt kẻ kình địch của mình là Anh, Pháp và Bỉ để chiếm thuộc địa của các nước đó, làm suy yếu Nga hoàng, giật lấy Ba Lan, Ucraina và miền gần biển Ban Tích; Áo-Hung thì muốn chiếm Xécbi; Thổ thì mơ tưởng xâm chiếm miền Tơrăng Cápca của Nga. Còn phe đối lập thì Anh muốn đánh tan Đức, để tiêu diệt kẻ địch thủ nguy hiểm nhất trên thị trường thế giới, giật của Thổ miền Mêdôpôtami và Palétxtin, củng cố địa vị của mình ở Ai Cập; Pháp mong lấy lại miền Andát và Lôren đã bị Đức chiếm trước đây và xâm chiếm khu vực sông Xarơ; Nga muốn sáp nhập Galixi vào mình, phân chia Thổ Nhĩ Kỳ, xâm chiếm Côngxtăngtinốp và eo biển HắcHải.

      Nhật tham chiến đứng về phía Anh với mục đích chiếm các thuộc địa của Đức ở Thái Bình Dương và lợi dụng cuộc tranh chấp giữa các nước đế quốc để củng cố địa vị ở Trung Quốc. Ý lúc đầu ngả nghiêng giữa hai khối, đã tham gia liên minh Đức và Áo-Hung sau được Anh-Pháp-Nga hứa hẹn nhiều nên ngả theo. Còn Mỹ làm giàu rất nhanh trong cuộc chiến tranh này, giữ thái độ “trung lập”, mãi đến năm 1917 mới tham chiến. Mỹ bí mật bán vũ khí cho hai phe và lợi dụng sự kiệt quệ của hai bên để buộc các nước tham chiến ký một hòa ước phù hợp với tham vọng làm bá chủ thế giới của Mỹ.

      Như vậy là cuộc chiến tranh giữa các nước đế quốc bắt nguồn từ quy luật phát triển về kinh tế, chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa và đã được chuẩn bị trong nhiều năm. Nguyên nhân cơ bản của cuộc chiến tranh là do mâu thuẫn giữa các đế quốc, chủ yếu là mâu thuẫn giữa đế quốc Đức và đế quốc Anh.

      Ngoài mục đích phân chia lại thị trường, các nước đế quốc gây ra cuộc chiến tranh còn có một âm mưu khác: cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1900 ở châu Âu và cuộc Cách mạng 1905 ở Nga làm cho những mâu thuẫn xã hội trong các nước tư bản ngày càng trở nên gay gắt. Phong trào đấu tranh của công nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ. Giai cấp tư sản các nước đế quốc gây ra chiến tranh nhằm đánh lạc hướng chú ý của công nhân đối với các vấn đề chính trị và xã hội trong nước, tuyên truyền chủ nghĩa sô-vanh để ngăn cản sự phát triển của phong trào cách mạng trong nước, đàn áp giai cấp vô sản, chia rẽ phong trào công nhân thế giới. Giai cấp cầm quyền các nước đều muốn lợi dụng chiến tranh để đàn áp phong trào cách mạng và phong trào giải phóng dân tộc.

      Cuộc chiến tranh do các nước đế quốc chuẩn bị và tiến hành nhằm giành giật thuộc địa của nhau là một cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa mang tính chất phi nghĩa, phản động. Nó là sự kế tục chính sách cướp bóc, nô dịch bằng thủ đoạn bạo lực đối với nhân dân các nước khác.

      Về tính chất của cuộc chiến tranh này, Lênin đã chỉ rõ như sau:

      “Về cả hai phía, cuộc chiến tranh đó đều là chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, điều đó hiện nay không còn phải bàn cãi gì nữa. (…) Chiến tranh vô luận là do giai cấp tư sản Đức hoặc do giai cấp tư sản Anh-Pháp tiến hành, cũng đều nhằm mục đích cướp bóc các nước khác, bóp nghẹt các dân tộc nhược tiểu, thống trị thế giới về mặt tài chính, chia và chia lại thuộc địa, cứu chế độ tư bản chủ nghĩa đang giãy chết, bằng cách lừa bịp và chia rẽ công nhân các nước”

      Như vậy, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất đứng về cả hai phe tham chiến mà xét thì đều là chiến tranh ăn cướp, chiến tranh đế quốc, hậu quả của sự phát triển các lực lượng kinh tế, chính trị trên nền tảng chủ nghĩa tư bản độc quyền.

        V.Lênin: “Thư từ nước ngoài gửi về” Toàn tập. Tập 31. NXB Tiến bộ Mátxcơva 1981. tr.18. In nghiêng trong nguyên bản.

      Tác phẩm, tác giả, nguồn

      • Tác phẩm: Lịch sử thế giới cận đại
      • Tác giả: Vũ Dương Ninh – Nguyễn Văn Hồng
      • Nhà xuất bản Giáo dục
      • Ebook:TVE-4U.org

      --- Bài cũ hơn ---

    • Nguyên Nhân, Diễn Biến, Tính Chất Và Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
    • Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất: Nguyên Nhân, Diễn Biến, Hậu Quả, Tính Chất
    • Chiến Tranh Thế Giới Thứ 1 Lịch Sử 11: Nguyên Nhân, Diễn Biến, Tính Chất
    • Nguyên Nhân Thường Gặp Gây Chảy Máu Mũi Và Cách Xử Lý
    • Chảy Máu Mũi Ở Mèo
    • Nguyên Nhân Kết Quả Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất (1914

      --- Bài mới hơn ---

    • Nguyên Nhân Dẫn Đến Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất?nguyen Nhan Nao Dan Den Chien Tranh The Gioi Thu Nhat
    • Lịch Sử 11 Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
    • Bài 13. Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
    • Nguyên Nhân Nào Dẫn Đến Cái Chết Bi Thảm Của Vũ Nương?
    • Suy Nghĩ Về Nguyên Nhân Cái Chết Của Vũ Nương
    • Do mâu thuẫn giữa các nước về vấn đề thuộc địa dẫn đến sự hình thành 2 khối quân sự kình địch nhau là Liên minh Đức, Áo – Hung và Hiệp ước Anh – Pháp – Nga. Hai khối này ráo riết chạy đua vũ trang, tích cực chuẩn bị chiến tranh, để chia lại thuộc địa, làm bá chủ thế giới.

      I. Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh:

      – Sự phát triển không đồng đều của tư bản chủ nghĩa.

      – Ngược lại Anh , Pháp nhiều thuộc địa và thế giới đã phân chia xong.

      – Đế quốc thuộc địa: các cuộc chiến tranh đế quốc:

      +Mỹ – Tây Ban Nha 1898:Mỹ chiếm Cu ba và Phi líp pin.

      + Anh và Bô ơ 1899-1902àAnh thôn tính 2 nước của người Bô ơ sát nhập vào Nam Phi.

      -Mâu thuẫn giữa các nước về vấn đề thuộc địa dẫn đến sự hình thành 2 khối quân sự kình địch nhau là Liên minh Đức , Áo- Hung và Hiệp ước Anh-Pháp -Nga.

      -Hai khối này ráo riết chạy đua vũ trang , tích cực chuẩn bị chiến tranh, để chia lại thuộc địa , làm bá chủ thế giới.

      * Duyên cớ của chiến tranh của chiến tranh:

      – Ngày 28-6- 1914 thái tử Áo – Hung bị phần tử khủng bố ở Xéc- bi ám sát. Nhân cớ đó, Đức , Áo -Hung gây chiến.

      II. NHỮNG DIỄN BIẾN CHÍNH CỦA CHIẾN SỰ

      – Ngày 28-7-1914 Áo -Hung tuyên chiến với Xéc bi.

      – Ngày 1-8 Đức tuyên tuyên chiến Nga

      – Ngày 3-8 tuyên chiến với Pháp .

      – Ngày 4-8 tuyên chiến với Đức , chiến tranh bùng nổ và nhanh chóng thành chiến tranh thế giới ..

      1 Giai đọan thứ nhất (1914-1916)

      – Lúc đầu Đức tập trung lực lượng ở phía Tây nhằm đánh bại Pháp, Pa ri bị uy hiếp.

      -Nhưng ở phía Đông quân Nga tấn công quân Đức cứu nguy cho Pháp , từ năm 1916 cả 2 phe ở thế cầm cự .

      * Gọi là chiến tranh thế giới :

      Chiến tranh lan ra cả thế giới ,lôi cuốn 38 nước vào vòng chiến , kéo thuộc địa tham chiến ,Pháp mộ 300.000 lính thuộc địa chủ yếu ở Việt Nam .

      2/ Giai đoạn II (1917-1918)

      – Tháng 4-1917 Mỹ tham chiến về phe Hiệp ước.

      – Ngày 7-11-1917 Cách mạng tháng Mười Nga Nga thắng lợi , Nga rút khỏi chiến tranh .

      – Ngày 7-1918 Anh – Pháp phản công.

      – Ngày 9-1918 Anh -Pháp- Mỹ tổng tấn công ,đồng minh của Đức đầu hàng.

      – Ngày 9-11-1918 cách mạng Đức bùng nổ, lật đổ nền quân chủ.

      – Ngày 11-11-1918 Đức hàng không điều kiện , Đức ,Áo -Hung thất bại hoàn toàn.

      III. KẾT CỤC CỦA CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT

      – Gây thảm họa cho nhân loại: 10 triệu người chết ,20 triệu ngưới bị thương.

      – Thành phố làng mạc bị phá hủy; chiến phí 85 tỷ đô la.

      – Các nước thắng trận thu lợi lớn, bản đồ thế giới được chia lại.

      – Cao trào Cách mạng vô sản phát triển, nhân dân thuộc địa thức tỉnh đó là Cách mạng tháng Mười Nga.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Bài 6: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
    • Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
    • Chiến Tranh Thế Giới Lần 1: Nguyên Nhân
    • Nguyên Nhân Và Tính Chất Của Cuộc Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất
    • Nguyên Nhân, Diễn Biến, Tính Chất Và Hậu Quả Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất
    • 5 Nguyên Nhân Hàng Đầu Dẫn Đến Thế Chiến Thứ Nhất

      --- Bài mới hơn ---

    • Những Nguyên Nhân Dẫn Đến Cái Chết Oan Uổng Của Vũ Nương
    • Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa Gdcd 11
    • Bài Tập Trắc Nghiệm Gdcd Lớp 11 Bài 4: Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa (Phần 1)
    • Tìm Hiểu Về Mô Hình 5 Áp Lực Cạnh Tranh Của Michael Porter
    • Tranh Chấp Giải Quyết Bảo Hiểm, Ai Là Người Thiệt Thòi?
    • Các quốc gia trên khắp thế giới luôn thực hiện các thỏa thuận phòng thủ lẫn nhau với các nước láng giềng, những hiệp ước có thể kéo họ vào trận chiến. Các hiệp ước này có nghĩa là nếu một quốc gia bị tấn công, các định phải bảo vệ họ. Trước khi bắt đầu, các liên minh sau đã tồn tại:

      Khi Áo-Hungary tuyên chiến với Serbia, Nga đã tham gia để bảo vệ Serbia. Đức, thấy rằng Nga đang vận động, đã tuyên chiến với Nga. Pháp sau đó đã bị cầm hòa trước Đức và Áo-Hungary. Đức tấn công Pháp bằng cách hành quân qua Bỉ kéo Anh vào cuộc chiến. Sau đó, Nhật Bản tham chiến để hỗ trợ đồng minh Anh. Sau đó, Ý và Hoa Kỳ sẽ đứng về phía Đồng minh (Anh, Pháp, Nga, v.v.).

      Chủ nghĩa đế quốc là khi một quốc gia gia tăng quyền lực và sự giàu có của họ bằng cách đưa các lãnh thổ bổ sung vào quyền kiểm soát của họ, thường mà không cần hoàn toàn thuộc địa hoặc tái định cư chúng. Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, một số quốc gia châu Âu đã đưa ra các tuyên bố chủ nghĩa đế quốc cạnh tranh ở châu Phi và các khu vực của châu Á, khiến họ trở thành những điểm tranh chấp. Do nguồn nguyên liệu thô mà những khu vực này có thể cung cấp, căng thẳng xung quanh việc quốc gia nào có quyền khai thác những khu vực này tăng cao. Sự cạnh tranh ngày càng tăng và mong muốn có được những đế chế lớn hơn đã dẫn đến sự gia tăng đối đầu đã góp phần đẩy thế giới vào Thế chiến thứ nhất.

      Khi thế giới bước vào thế kỷ 20, một cuộc chạy đua vũ trang đã bắt đầu, chủ yếu dựa trên số lượng tàu chiến của mỗi quốc gia và quy mô quân đội ngày càng tăng của họ – các quốc gia bắt đầu đào tạo ngày càng nhiều thanh niên của họ để chuẩn bị cho trận chiến. Bản thân các tàu chiến đã tăng kích thước, số lượng pháo, tốc độ, phương thức đẩy và chất lượng giáp, bắt đầu từ năm 1906 với sớm bị loại khi Hải quân Hoàng gia Anh và Kaiserliche Marine nhanh chóng mở rộng hàng ngũ với các tàu chiến ngày càng hiện đại và mạnh mẽ.

      Đến năm 1914, Đức có gần 100 tàu chiến và hai triệu binh sĩ được huấn luyện. Anh và Đức đều tăng cường hải quân của họ trong khoảng thời gian này. Hơn nữa, đặc biệt là ở Đức và Nga, việc thành lập quân đội bắt đầu có ảnh hưởng lớn hơn đến chính sách công. Sự gia tăng chủ nghĩa quân phiệt này đã đẩy các quốc gia tham chiến vào cuộc chiến.

      Phần lớn nguồn gốc của cuộc chiến là dựa trên mong muốn của các dân tộc Slav ở Bosnia và Herzegovina không còn là một phần của Áo-Hungary mà thay vào đó là một phần của Serbia. Cuộc nổi dậy mang tính dân tộc và sắc tộc cụ thể này đã trực tiếp dẫn đến vụ ám sát Archduke Ferdinand , đây là sự kiện khiến chiến tranh bùng nổ.

      Nhưng nhìn chung, chủ nghĩa dân tộc ở nhiều quốc gia trên khắp châu Âu không chỉ góp phần khởi đầu mà còn góp phần kéo dài cuộc chiến trên khắp châu Âu và sang châu Á. Khi mỗi quốc gia cố gắng chứng tỏ sự thống trị và sức mạnh của mình, cuộc chiến càng trở nên phức tạp và kéo dài.

      ngay lập tức của Chiến tranh thế giới thứ nhất khiến các mục nói trên phát huy tác dụng (liên minh, chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa dân tộc) là vụ ám sát Archduke Franz Ferdinand của Áo-Hungary. Vào tháng 6 năm 1914, một nhóm khủng bố theo chủ nghĩa dân tộc Serbia được gọi là Bàn tay đen đã cử các nhóm đến ám sát Archduke. Nỗ lực đầu tiên của họ đã thất bại khi một người lái xe tránh được một quả lựu đạn ném vào xe của họ. Tuy nhiên, sau ngày hôm đó, một người theo chủ nghĩa dân tộc Serbia tên là Gavrilo Princip đã bắn Archduke và vợ của anh ta khi họ đang lái xe qua Sarajevo, Bosnia, một phần của Áo-Hungary. Họ chết vì vết thương của họ.

      Vụ ám sát nhằm phản đối việc Áo-Hungary có quyền kiểm soát khu vực này: Serbia muốn tiếp quản Bosnia và Herzegovina. Vụ ám sát Ferdinand dẫn đến việc Áo-Hungary tuyên chiến với Serbia. Khi Nga bắt đầu vận động để bảo vệ liên minh với Serbia, Đức đã tuyên chiến với Nga. Do đó, bắt đầu mở rộng chiến tranh bao gồm tất cả những người tham gia vào các liên minh phòng thủ lẫn nhau.

      Chiến tranh thế giới thứ nhất đã chứng kiến ​​sự thay đổi trong chiến tranh, từ phong cách đấu tay đôi của các cuộc chiến tranh cũ sang việc sử dụng vũ khí sử dụng công nghệ và loại bỏ cá nhân khỏi cận chiến. Cuộc chiến có thương vong cực kỳ cao với hơn 15 triệu người chết và 20 triệu người bị thương. Bộ mặt của chiến tranh sẽ không bao giờ giống nhau nữa.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Hiện Tượng Ứ Giọt Và Rỉ Nhựa
    • Sự Kiện Nào Kết Thúc Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai?
    • Nguyên Nhân, Kết Quả Và Sự Thật Sửng Sốt Của Chiến Tranh Thế Giới Thứ 2
    • Triệu Chứng Chảy Máu Mũi, Nguyên Nhân Và Cách Chữa Trị
    • Chảy Máu Mũi: Nguyên Nhân Và Cách Xử Trí Hiệu Quả
    • 100 Năm Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất

      --- Bài mới hơn ---

    • Suy Nghĩ Về Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất
    • Tại Sao Cuộc Khởi Nghĩa Yên Thế Tồn Tại 30 Năm?
    • Hướng Dẫn Cách Sửa Lỗi Không Gửi Được Tin Nhắn Trên Điện Thoại Android
    • Sửa Lỗi Không Gửi Được Tin Nhắn Trên Hệ Điều Hành Ios Và Android
    • Tại Sao Không Thể Quên Em?
    • Cách đây 100 năm, ngày 4/8/1914, Đức xâm lược Bỉ, đánh dấu sự khởi đầu của Chiến tranh thế giới lần thứ nhất . Kéo dài trong 4 năm, từ tháng 8/1914 đến tháng 11/1918, đây là một trong những cuộc chiến tranh quyết liệt, quy mô to lớn nhất trong lịch sử nhân loại, với sức tàn phá khủng khiếp về vật chất và ảnh hưởng sâu sắc về tinh thần.

      Nguyên nhân và hậu quả

      Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất là kết quả của sự phát triển kinh tế chính trị của chủ nghĩa tư bản thế giới vào những năm đầu thế kỷ XX. Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển tới giai đoạn mới – giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Sự tranh giành thị trường và thuộc địa giữa các nước đế quốc tất yếu dẫn đến chiến tranh để chia lại đất đai trên thế giới.

      Ngoài mục đích phân chia lại thị trường, các nước đế quốc gây chiến để đàn áp phong trào đấu tranh của công nhân trong các nước đế quốc, và đàn áp phong cách mạng và phong trào giải phóng dân tộc.

      Những hình ảnh về cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất.

      Và chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã xảy ra giữa hai khối liên minh quân sự được hình thành sau thế kỷ XIX: một bên là liên minh ba cường quốc, gồm: đế quốc Anh – Pháp – Nga, hay được gọi là khối hiệp ước Entente ba bên, sau này còn thêm Mỹ và một số nước khác tham gia; bên kia là phe Liên minh ba nước, hay còn gọi là Liên minh trung tâm, gồm đế quốc Đức, đế chế Áo – Hung.

      Lợi dụng sự việc Đại công tước Franz Ferdinand của Áo – Hung bị một phần tử dân tộc chủ nghĩa người Serbia ám sát tại Sarajevo ngày 28-6-1914, Hoàng đế Wilhelm II của Đức, con người có khát vọng chiến tranh, đã hứa chi viện cho Áo-Hung để cùng trừng phạt Serbia. Sau đó, ngày 28/7/1914, Áo-Hung đã tuyên chiến với Serbia. Đêm hôm đó, quân Áo nã pháo vào thủ đô Belgrade, làm hơn 5.000 người dân bị thiệt mạng.

      Sa hoàng Nga Nikolai II lập tức phát động binh lính. Đức gửi tối hậu thư cho Nga – Pháp yêu cầu đình chỉ việc chi viện, nhưng đều bị Nga – Pháp cự tuyệt. Ngày 1/8/1914, Đức tuyên chiến với Nga, và ngày 3/8 đã tuyên chiến với Pháp. Ngày 4/8/1914, Đức vượt biên giới tấn công Bỉ, đánh dấu sự khởi đầu của Chiến tranh thế giới lần thứ nhất.

      Cùng ngày Đức xâm lược Bỉ, Anh tuyên chiến với Đức. Ngày 6/8, Áo – Hung tuyên chiến với Nga. Sau đó, các nước Italy, Romania, Nhật, Mỹ lần lượt tham chiến. Cuộc chiến lan ra ở ba châu lục lớn, với 33 nước tham chiến.

      Quân Mỹ tham chiến tại nước Pháp năm 1918.

      Đây là lần đầu tiên thế giới biết đến một kiểu chiến tranh tổng lực, chiến tranh toàn diện. Chiến tranh diễn ra không những ác liệt trên bộ, trên không, trên biển, mà các bên còn thực hiện bao vây bóp nghẹt kinh tế của nhau, thử thách tiềm lực kinh tế và sức mạnh tinh thần của đối phương. Sau hơn 4 năm chiến tranh, ngày 11/11/1918, Đức và các nước cùng phe đã phải đầu hàng vô điều kiện.

      Cuộc chiến làm 13,6 triệu người chết và khoảng 20 triệu người bị tàn phế. Nhiều thành phố, làng mạc, đường sá, cầu cống, nhà máy bị phá hủy. Thiệt hại vật chất lên tới 338 tỷ USD. Số tiền các nước tham chiến chi phí cho chiến tranh vào khoảng 85 tỉ USD.

      Ngoài sự thiệt hại về người và vật chất, cuộc chiến tranh này còn gây tổn thương về tâm lý cho nhiều thế hệ tại châu Âu. Cuộc chiến cũng làm cho châu Âu tụt hậu và vai trò lãnh đạo mà châu Âu đảm đương trong hơn 300 năm đã dần dần chuyển sang bên kia đại dương cho nước Mỹ.

      Những bài học

      Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã kết thúc được 100 năm; cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, mà theo một số nhà nghiên cứu đó chỉ là sự tiếp nối của Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đã kết thúc 69 năm, song những bài học của hai cuộc chiến đến nay vẫn còn nguyên giá trị lịch sử:

      Một là, thế giới đã đi vào giai đoạn phát triển kinh tế, văn hoá, chính trị có trình độ cao. Ở mức trình độ đó, thế giới không thể còn chỗ cho chủ nghĩa đế quốc và các loại chủ nghĩa nước lớn trắng trợn. Với các quan hệ quốc tế chặt chẽ và quyền lợi đan xen thì chủ nghĩa ích kỷ ở phạm vi quốc gia và quốc tế tất yếu dẫn đến xung đột đối kháng, và chiến tranh thì đều thiệt hại cho tất cả các bên. Chính vì vậy, ngay sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, các nước đã đồng lòng tổ chức ra Hội quốc liên (nay là Liên hợp quốc) để điều hoà các quan hệ quốc tế trên cơ sở các bên cùng chấp nhận được.

      Lính Áo trên chiến trường.

      Hai là, trong điều kiện các mối quan hệ chặt chẽ của thế giới, của công nghệ cao, của qui mô toàn cầu, với tốc độ tàn phá khủng khiếp của chiến tranh thì “không ai có thể có lợi trong cuộc chiến tranh nếu nổ ra, thậm chí là chiến tranh khu vực”.

      Ba là, yếu tố dân tộc quốc gia có động lực rất lớn và các quyền lợi chính đáng của nó phải được tôn trọng. Tình hình quốc tế không thể yên ổn nếu dựa trên cơ sở không tôn trọng tình cảm, quyền lợi chính đáng của quốc gia, dân tộc. Một dân tộc bị dồn vào thế cùng đường sẽ phản ứng rất quyết liệt gây hậu họa cho hoà bình thế giới.

      Hiện nay, tuy đã có nhiều cuộc chiến tranh khu vực nổ ra và đã có lúc thế giới bên bờ vực chiến tranh, nhưng về cơ bản hoà bình thế giới vẫn được giữ vững và chưa thấy có dấu hiệu của một đại chiến mới. Điều đó cho thấy ít nhiều thì nhân loại cũng đã rút được các bài học chính trị của hai cuộc đại chiến, đã biết hoá giải các mâu thuẫn bằng hoà bình.

      Về cơ bản hoà bình thế giới vẫn được giữ vững, nhưng hiện nay ở một số khu vực, một số nước trên thế giới, máu của người dân vẫn đổ, những đồng tiền đóng thuế của họ vẫn bị quăng vào những việc làm hết sức phi lý – đó là chiến tranh. Hãy để “bóng ma của chiến tranh”trong một tương lai gần chỉ còn là “dĩ vãng” đối với nhân loại.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Tại Sao View Youtube Không Tăng? Đóng Băng View Là Như Thế Nào?
    • Hàng Xách Tay Là Gì, Là Như Thế Nào Và Tại Sao Lại Rẻ?
    • Xây Dựng Thương Hiệu Cá Nhân: “tại Sao?” Và “như Thế Nào?”
    • Quản Lí Lớp Học: Tại Sao Và Như Thế Nào?
    • Máy Tính Không Nhận Đủ Ram? Tại Sao Lại Như Thế?
    • Web hay
    • Links hay
    • Push
    • Chủ đề top 10
    • Chủ đề top 20
    • Chủ đề top 30
    • Chủ đề top 40
    • Chủ đề top 50
    • Chủ đề top 60
    • Chủ đề top 70
    • Chủ đề top 80
    • Chủ đề top 90
    • Chủ đề top 100
    • Bài viết top 10
    • Bài viết top 20
    • Bài viết top 30
    • Bài viết top 40
    • Bài viết top 50
    • Bài viết top 60
    • Bài viết top 70
    • Bài viết top 80
    • Bài viết top 90
    • Bài viết top 100