Nguyên Nhân Quan Trọng Nhất Cho Sự Phát Triển Thần Kỳ Ở Nhật Bản

--- Bài mới hơn ---

  • Điều Gì Tạo Nên Loài Người?
  • Nguồn Gốc Con Người, Thuyết Tiến Hóa
  • Vì Sao Quần Áo Đang Mặc Lại Bị Mốc, Mẹo Hay Đánh Bay Những Hạt Mốc Trên Quần Áo “sạch Tinh Như Áo Mới”
  • 13 Cách Tẩy Vết Mốc Trên Quần Áo Trắng, Màu Cực Hiệu Quả
  • 4 Nguyên Nhân Phổ Biến Gây Mốc Quần Áo
  • Câu 58. Trong những nguyên nhân dẫn đến sự phát triển “thần kì” của nền kinh tế Nhật Bản trong những năm 70 của thế kỉ XX, thì nguyên nhân nào là quan trọng nhất ? Vì sao ? Nguyên nhân đó có thể giúp ích gì cho các nước đang phát triển trong việc xây dựng nền kinh tế của mình ?

    Từ những kinh nghiệm của Nhật Bản có thể rút ra bài học kinh nghiệm gì cho Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước ? Hướng dẫn làm bài. * Trong những nguyên nhân dẫn đến sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản kể trên, thì nguyên nhân nào là quan trọng nhất ? Vì sao ?

    – Nguyên nhân quan trọng nhất để Nhật có bước phát triển thần kì về kinh tế là tận dụng được thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật.

    – Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai . Nhật hết sức coi trọng khoa học – kĩ thuật, vừa mua phát minh nước ngoài, vừa phát triển cơ sở nghiên cứu trong nước.

    – Nhật có hàng trăm viện khoa học – kĩ thuật tập trung nghiên cứu công nghiệp.

    – Do đó Nhật đứng đầu về trình độ phát triển khoa học – kĩ thuật, đặc biệt trong các ngành công nghiệp dân dụng.

    – Nhật Bản chú trọng cải cách giáo dục quốc dân để giữ vững bản sắc dân tộc.

    – Nhật Bản chú trọng cải cách giáo dục quốc dân để giữ vững bản sắc, truyền thống dân tộc, đào tạo những con người yêu nước có năng lực và ý chí vươn lên để thích nghi với sự biến đổi của thế giới.

    * Nguyên nhân nêu trên có thể giúp ích gì cho các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng trong việc xây dựng nền kinh tế ?

    Sự phát triển về khoa học – kĩ thuật là bài học kinh nghiệm, giúp các nước đang phát triển nhận rõ vai trò quan trọng của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật trong việc xây dựng nền kinh tế của mình, trong đó, yếu tố cơ bản là giáo dục vì con người là nhân tố quyết định cho sự phát triển kinh tế, con người được coi là công nghệ cao nhất để tiến đến nên kinh tế tri thức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Nhân Bị Phù Chân Ở Người Già Và Cách Phòng Tránh
  • Bệnh Phù Chân Voi Nguyên Nhân Và Triệu Chứng
  • 5 Nguyên Nhân Gây Bệnh Phù Chân Ở Người Già
  • 5 Nguyên Nhân Gây Phù Bàn Chân Và Mắt Cá Chân
  • Bệnh Phì Đại Tuyến Tiền Liệt: Nguyên Nhân, Dấu Hiệu & Điều Trị * Chao Bacsi
  • 4 Nguyên Nhân Của Sự Phát Triển Thần Kì Nhật Bản Sau Thế Chiến Thứ Ii

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Nhật Bản Có Thể Phát Triển Từ Trong Đổ Nát Chiến Tranh?
  • Mô Hình Kinh Tế Keiretsu
  • Giải Đáp: Bệnh Viêm Âm Đạo Và Viêm Lộ Tuyến Tử Cung Có Giống Nhau Không?
  • Buồng Trứng Đa Nang Và U Nang Buồng Trứng Giống Và Khác Nhau Thế Nào?
  • Sự Khác Biệt Giữa Bệnh Thoái Hóa Khớp Và Viêm Khớp Dạng Thấp
  • Sau thế chiến II, nền kinh tế Nhật Bản ở trong thời gian mò mẫm để tìm ra con đường vực dậy từ tình trạng hỗn loạn do sự thất bại sau chiến tranh để lại. Đúng thời kì đó một cơ hội vàng đã đến với Nhật bản – nhu cầu khí tài cực lớn trong chiến tranh liên Triều. Nhờ đó nền kinh tế đã được vực dậy từ nửa cuối những năm 1950 đến thập niên 60, đánh dấu sự mở đầu của giai đoạn phát triển thần kì. Trong khoảng thời gian 1955 đến năm 1970, tỉ lệ tăng trưởng thực chất GNP trung bình hàng năm đạt tới 9.8%, nền kinh tế Nhật Bản thực sự bước vào thời đại “Phát triển kinh tế cao độ” được ví như là một truyền thuyết trong lịch sử phát triển kinh tế đất nước.

    Nền kinh tế Nhật Bản sau thời kì phát triển cao độ đó vẫn có những bước phát triển bền vững và đến ngày nay đã biến nước Nhật trở thành một cường quốc kinh tế của thế giới. Sự thành công của mô hình phát triển kinh tế Nhật Bản dần thu hút được sự quan tâm đặc biệt trong thế giới tự do sau chiến tranh. Có không ít các quốc gia đang phát triển ấn tượng với mô hình phát triển của Nhật bản, lấy đó làm hình mẫu để đưa ra các sách định trong chính sách phát triển kinh tế đất nước.

    Nhưng nhìn nhận khách quan, chúng ta phải thấy và không được quên rằng nước Nhật đã hội tụ được những điều kiện cần thiết để thực hiện thành công giai đoạn phát triển thần kì đó. Nhìn những quốc gia đang phát triển bắt chước mô hình Nhật Bản mà không thu được thành công thì chắc rằng họ đã không hội tụ đủ những điều kiện đặc thù làm tiền đề này.

    Vậy những điều kiện của sự phát triển kinh tế thần kì của Nhật Bản là gì? Đâu là bí quyết trong sự thành công đó? Thực tế, đã có rất nhiều nguyên nhân hợp lại một cách hoàn hảo trong điều kiện thời gian và không gian tại thời điểm đó. Trong bài này, để tiện phân tích sẽ đề cập tới 4 từ khóa tựa như “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” là: Con người – Vật chất – Tiền – Thời kì

    1. Điều kiện thứ nhất của sự phát triển thần kì – Con người

    Con người ở đây chính là sức lao động. Nước Nhật sau chiến tranh có nguồn lao động rẻ nhưng chất lượng rất cao. Tức là với một vốn kĩ thuật sản xuất nhất định có thể đưa ra những sản phẩm giá thành rẻ do giá nhân công rẻ. Đặc biệt hơn nữa là với phong trào sinh con (baby boom) sau chiến tranh, thì tới những năm thập niên 60 nước Nhật đã có được một thế hệ với nguồn năng lượng dồi dào, sức lao động có thừa.

    – Chú thích thêm : Trong giai đoạn này, mọi tầng lớp trong mỗi công ty đều coi công ty chính là nhà của mình, người ta làm trong một công ty từ tuổi thanh niên đến khi về già. Ngay cả bây giờ khi tiếp xúc với người khác họ vẫn dùng cách gọi công ty mình làm việc là: uchi no kaishya – công ty nhà tôi .

    2. Điều kiện thứ hai của sự phát triển thần kì – Vật chất

    Vật chất ở đây chính là việc sản xuất. Sau những năm 1950, trong những nghành sản xuất chủ chốt, các công ty đã mở rộng việc cạnh tranh lẫn nhau bằng việc đưa những kĩ thuật mới từ Âu – Mỹ hay trực tiếp nghiên cứu phát triển những sản phẩm mới, cải tiến kĩ thuật cũ. Nhờ đó việc đầu tư thiết bị với những kĩ thuật mới thu được được thực hiện khắp nơi. Đây là một phần trong cuộc cạnh tranh phá giá trong bối cảnh một vài công ty lớn thâu tóm một lĩnh vực kinh doanh nào đó. Ngoài ra những ngành công nghiệp mới như: công nghiệp hóa học nặng, cộng nghiệp điện tử, công nghiệp sản phẩm lâu bền (ô tô, đồ điện dân dụng …) ngày càng được phát triển và dần trở thành những ngành công nghiệp quan trọng của Nhật Bản. Trong thời kì phát triển thần kì này, ba mặt hàng trọng điểm là tivi, máy giặt, tủ lạnh trở thành biểu tượng cho sự phổ cập nhanh chóng của các mặt hằng lâu bền đến mức người ta đã gọi đây là 3 thần khí để miêu tả mặt tiêu dùng của xã hội Nhật bản thời bấy giờ. Thêm nữa, trong thời kì này nền sản xuất số lượng lớn với hiệu suất cao được xác lập, các sản phẩm của Nhật bản với giá thành hạ và chất lượng được cải thiện đã xâm nhập nhanh chóng vào các thị trường nước ngoài chứ không chỉ trong nước.

    3. Điều kiện thứ ba của sự phát triển thần kì – Tiền

    Tiền ở đây chính là vấn đề tài chính doanh nghiệp, như hệ thống ngân hàng giao dịch chính hay sự ổn định hóa của các cổ đông lớn. Các công ty xí nghiệp có những hợp đồng liên kết giao dịch dài hạn đặc biệt với một ngân hàng nhất định để đảm bảo nguồn đầu tư tư bản ổn định trong thời gian dài, không cần hồi trả ở những thời điểm khó khăn, thay vào đó mọi quyết toán của công ty phải được thực hiện bằng tài khoản của ngân hàng đó và có trách nhiệm cung cấp thông tin cần thiết cho ngân hàng. Vấn đề thiếu vốn đầu tư của doanh nghiệp và sự cạnh tranh giữa các ngân hàng làm cho mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng trở nên hai bên đều phụ thuộc lẫn nhau.

    Những doanh nghiệp tiêu biểu của Nhật thời kì đó có thể kể đến SONY hay HONDA thời kì đầu đã rất khó khăn về vốn, nhưng họ đã nhận được những khoản đầu tư rất lớn để phát triển nhanh chóng và lớn mạnh như ngày nay. Hệ thống ngân hàng chính đã phát huy hiệu quả trong việc đào tạo những doanh nghiệp sở hữu những kĩ thuật có triển vọng, cho thấy một mặt đặc trưng về tài chính của thời kì phát triển kinh tế cao độ của Nhật. Thêm nữa, các ngân hàng chính trở thành trung tâm trong việc sở hữu cổ phần lẫn nhau giữa các công ty, góp phần làm cho thành phần cổ đông ổn định. Nhờ thế mà đội ngũ lãnh đạo việc kinh doanh có thể an tâm để tập trung cho việc phát triển công ty.

    4. Điều kiện thứ tư của sự phát triển thần kì – Thời cơ

    Năm 1949 nước Nhật đưa ra chính sách tài chính mang tên Dodge Line nhằm mục đích hướng tới một nền kinh tế tự lập và ổn định đặt trọng tâm vào các vấn đề cơ sở hạ tầng, chấn hưng xuất khẩu, hạn chế tiêu dùng trong nước. Nhờ chính sách này mà vấn đề về cơ sở hạ tầng sau thế chiến được giải quyết, tỉ giá đồng đô la cũng được cố định ở mức 1 đô la = 360 yên. Ngay năm tiếp theo – năm 1950, chiến tranh Triều Tiên nổ ra, với tỉ giá đồng yên rẻ (360 yên) và nhu cầu mặt hàng nhu yếu phẩm từ Triều Tiên cực lớn, nền kinh tế Nhật Bản đã phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng vượt qua mức trước thế chiến II. Thời điểm đó, việc coi chính sách công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu chưa được nhận thức đúng đắn như một chiến lược phát triển kinh tế nên việc Nhật Bản thực hiện từ sớm chính sách này chính là chìa khóa của sự thành công trong phát triển kinh tế, bởi điều đó đem lại may mắn là không có đối thủ cạnh tranh trong xuất khẩu. So với hiện nay, các nước đưa ra những chiến lược hướng đến xuất khẩu tương tự nhau nên việc xuất khẩu không được khả quan như dự tính.Trong bối cảnh như vậy, các điều kiện có lợi cho phát triển về “Con người”, “Vật chất”, “Tiền” đạt được cùng lúc tạo ra một điều kiện tổng hợp đã giúp kinh tế Nhật Bản thành công với sự phát triển thần kì.

    Qua đây chúng ta cần nhận rõ không chỉ nhìn vào sự phát triển kinh tế, những kĩ thuật siêu việt của Nhật Bản hiện, mà cần phải tìm hiểu ngọn nguồn của sự phát triển đó. Sự khác nhau về bối cảnh xã hội và cơ hội (chiến tranh liên Triều) mang lại sự thuận lợi hay khó khăn trong việc phát triển kinh tế. Theo sự nhìn nhận của người viết, bốn nguyên nhân trên mới chỉ là điều kiện để nước Nhật bắt đầu một cuộc phát triển thần kì. Để định hướng và điều chỉnh hướng đi cho nền kinh tế trong quá trình phát triển đó có những chính sách kịp thời và nhất quán nữa. Và đặc biệt trong lĩnh vực kĩ thuật sản xuất, đức tính chung của người kĩ sư Nhật Bản là : làm đến cùng, không bằng lòng với kĩ thuật hiện tại, luôn luôn có ý thức cải tiến bằng suy nghĩ của bản thân không sao chép, tạo bản sắc của công ty trong mỗi sản phẩm đã đưa kĩ thuật made in Japan lên đỉnh cao thế giới như ngày hôm nay.

    Người dịch: Trần Đăng Phong

    --- Bài cũ hơn ---

  • Còn Lâu Trung Quốc Mới Bắt Chước Được Mỹ Sau Thế Chiến Lần 2
  • Tìm Hiểu Nét Tương Đồng Và Khác Nhau Của Phật Giáo Và Thiên Chúa Giáo
  • Pr Là Gì? Quảng Cáo Là Gì? 10 Sự Khác Nhau Giữa Quảng Cáo Và Pr
  • Những Khác Biệt Giữa Học Đại Học Và Học Phổ Thông
  • The Gunpowder Empires: Ottoman, Safavid Và Mughal
  • Sự Phát Triển Thần Kỳ Của Du Lịch Nhật Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • 10 Nhà Hàng Tốt Nhất Ở Tokyo Và Tìm Hiểu Về Món Ăn Nhật Bản
  • Top 10 Món Ăn Nhật Bản Phải Thử Một Lần Trong Đời
  • Tìm Hiểu Về Món Ăn Nhật Bản Sử Dụng Nguyên Liệu Theo Mùa Tại Lớp Học Nấu Ăn “kanazawa Salon”!
  • Tìm Hiểu Về Mỹ Phẩm Dưỡng Và Làm Trắng Da Astalift Nhật Bản.
  • Tìm Hiểu Về Mỹ Phẩm Trắng Da Của Nhật
  • Trên thế giới, Nhật Bản trước đây vốn nổi tiếng là thị trường gửi khách mà ít chú trọng tới việc thu hút khách du lịch quốc tế đến do những nguyên nhân như: sự ưu tiên của Chính phủ cho phát triển các ngành công nghiệp – điện tử, giá cả các sản phẩm dịch vụ du lịch rất cao làm hạn chế lượng khách quốc tế đến Nhật Bản…

    Hiện nay, Nhật Bản chỉ đứng sau Trung Quốc về số lượng khách đi du lịch nước ngoài ở châu Á. Qua số liệu thống kê của ngành du lịch Nhật Bản từ năm 2000 trở lại đây, số lượng khách Nhật Bản đi du lịch nước ngoài thường dao động ở con số 14 triệu đến hơn 18 triệu khách/năm.

    Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Nhật Bản nổi lên là thị trường đón khách quốc tế có tốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc vì trước đó, Nhật Bản chưa bao giờ được xếp là cường quốc du lịch ở châu Á và thế giới xét ở góc độ đón khách quốc tế. Nhưng giờ đây, cả châu Á và thế giới sẽ phải có cách nhìn nhận khác về du lịch Nhật Bản.

    Số lượng khách quốc tế đến Nhật Bản luôn tăng mạnh qua các năm gần đây. Năm 2011, khi thảm họa xảy ra, số lượng khách quốc tế tới Nhật Bản chỉ khoảng 6,21 triệu khách; nhưng đến năm 2022 đã đạt ngưỡng 19,73 triệu khách, và tăng gần bốn lần so với 5,21 triệu khách đã đến thăm Nhật Bản vào năm 2003 khi Nhật Bản phát động chiến dịch “Visit Japan” (Đến thăm Nhật Bản).

    Chi tiêu của du khách nước ngoài cũng đạt con số kỷ lục là 3,48 nghìn tỷ yên, tăng 71,5% so với năm 2014. Điều này cũng có nghĩa riêng ngành du lịch đón khách quốc tế của Nhật Bản hiện nay đã tương đương với công nghiệp xuất khẩu ô tô của nước này. Năm 2022, cũng là năm đầu tiên trong vòng 45 năm trở lại đây, số lượng khách quốc tế đến Nhật Bản vượt qua con số khách Nhật Bản đi du lịch nước ngoài.

    Nếu xét mốc thời gian 5 năm, từ năm 2011 đến năm 2022 thì số khách tới Nhật Bản tăng hơn 300%, một con số thể hiện tốc độ tăng trưởng thần kỳ trong việc đón khách quốc tế đến của ngành Du lịch Nhật Bản. Vậy nguyên nhân nào cho sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản?

    Nguyên nhân của sự tăng trưởng

    Khi lý giải về nguyên nhân của sự tăng trưởng khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản, các chuyên gia du lịch và kinh tế nhìn chung đều có chung nhận định, Nhật Bản luôn là một trong những điểm đến lý tưởng về chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch.

    Tuy nhiên, trước thảm họa tháng 3/2011, du lịch chưa bao giờ được đánh giá đầy đủ là một ngành kinh tế tiềm năng, có ảnh hưởng lớn tới cán cân thương mại và kinh tế của Nhật Bản. Chỉ sau khi thảm họa xảy ra, Nhật Bản muốn xây dựng lại hình ảnh đất nước mình trong mắt bạn bè và du khách quốc tế, khi đó Chính phủ và chính quyền các địa phương (đặc biệt là ở các khu vực bị thảm họa) cũng như các doanh nghiệp du lịch của Nhật Bản mới xúc tiến và đẩy mạnh hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản thông qua các chương trình du lịch trọn gói, giá rẻ nhưng vẫn đảm bảo chất lượng tốt.

    Ngay sau khi trở thành Thủ tướng Nhật Bản (lần thứ hai) vào cuối năm 2012, ông Abe đã áp dụng một loạt các chiến lược tăng trưởng kinh tế (mà sau này được gọi là chính sách “Abenomics” – chính sách kinh tế của Abe) nhằm giúp vực dậy nền kinh tế lớn thứ ba thế giới sau thảm họa tháng 3/2011, với việc làm cho các thủ tục tài chính được dễ dàng, thuận lợi, cũng như làm suy yếu đồng yên Nhật để thuận lợi cho hoạt động giao thương – xuất khẩu hàng hóa Nhật Bản ra nước ngoài.

    Chính sách này ngay lập tức đã giúp cho giá cả hàng hóa và dịch vụ du lịch ở Nhật Bản rẻ hơn, qua đó thu hút được nhiều khách du lịch quốc tế tới thăm Nhật Bản, đặc biệt là khách du lịch quốc tế đến từ các thị trường châu Á như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và Đông Nam Á.

    Đi kèm với chính sách giảm giá đồng yên giúp cho hàng hóa dịch vụ du lịch rẻ hơn thì chính quyền của Abe thực hiện một loạt các chính sách phụ trợ nhằm tăng lượng khách quốc tế đến và tăng sự tiêu dùng của du khách như: cho thiết lập mạng lưới rộng lớn các của hàng miễn thuế (chỉ riêng năm 2022, số lượng cửa hàng miễn thuế tăng lên 3 lần, đạt con số 29.047 cửa hàng), hay như chính sách mở rộng và đa dạng các tuyến đường bay (chỉ tính riêng với thị trường Việt Nam, trước đây các chuyến bay nối Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh với Tokyo chỉ có thể thông qua sân bay Narita nằm ở ngoại vi Tokyo thì hiện nay ngoài sân bay Narita, du khách Việt Nam tới Tokyo còn có thể đến trực tiếp sân bay Haneda ở trong nội đô Tokyo…), thêm vào đó là chính sách giảm giá vé máy bay.

    Khi du lịch được nhìn nhận là một trong những lĩnh vực có thể giúp cho Nhật Bản phục hồi lại hình ảnh đất nước thì Chính phủ Nhật Bản cũng ngay lập tức nới lỏng chính sách nhập cảnh. Trong năm 2013, Nhật Bản đã thực hiện việc miễn thị thực 15 ngày cho các quốc gia ở Đông Nam Á như Thái Lan và Malaysia (trước đó thì công dân Indonesia, Brunei, Singapore đã được miễn thị thực nhập cảnh Nhật Bản).

    Cho đến tháng 12/2014, Nhật Bản miễn thị thực nhập cảnh cho 67 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng giúp lượng khách quốc tế đến Nhật Bản tăng trưởng nhanh, đặc biệt từ các quốc gia và vùng lãnh thổ như Hồng Kông, Đài Loan và các nước ASEAN.

    Chương trình Hành động năm 2022 nhằm mục đích để tăng sự chi tiêu của du lịch inbound lên con số 4 nghìn tỷ yên và tạo thêm 400.000 việc làm mới vào năm Nhật Bản đón được 20 triệu lượt khách quốc tế.

    Chính phủ Nhật cũng dành một nguồn ngân sách lớn cho hoạt động du lịch. Ví dụ ngân sách của Cơ quan Du lịch Nhật Bản năm 2022 là 10,39 tỷ yên, chia ra như sau: 8,45 tỷ yên cho các chính sách để thúc đẩy du lịch inbound; 0,63 tỷ yên để hỗ trợ sự phát triển của ngành Du lịch ở các khu vực; 0,06 tỷ yên để hỗ trợ ngành công nghiệp du lịch; 0,46 tỷ yên để phát triển hệ thống thống kê du lịch; và 0,48 tỷ yên để giúp tái tạo khu vực bị động đất ở Tohoku.

    Bên cạnh những nguyên nhân chủ quan của Nhật Bản thì cũng kể đến một số nguyên nhân khách quan như: Sau thảm họa tháng 3/2011, cả thế giới đã dành cho đất nước và con người Nhật Bản sự quan tâm, cảm thông và ngưỡng mộ vì ý chí và tinh thần vươn lên trong khó khăn.

    Rất nhiều khách du lịch đến với Nhật Bản để tận mắt được nhìn thấy sự phục hồi của nước Nhật sau thảm họa. Nhân cơ hội này, Nhật Bản đã tích cực thu hút các doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào đầu trao đổi sản phẩm du lịch.

    Cùng với đó, phải kể đến sự tiếp cận của các hãng hàng không giá rẻ tới thị trường Nhật Bản như Jetstar, Air Asia. Trước đây chỉ có các hãng hàng không cung cấp các dịch vụ đầy đủ và trọn gói khai thác các tuyến bay tới Nhật Bản, các hãng hàng không giá rẻ gần như vắng bóng vì không được khai thác tuyến và sử dụng sân bay, dẫn đến giá vé máy bay tới Nhật Bản thường rất cao, gây khó khăn cho thị trường khách du lịch đại chúng.

    Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

    Trên cơ sở phân tích và nhận định về thành quả cũng như nguyên nhân của sự phát triển du lịch Nhật Bản cho thấy, để du lịch phát triển tốt và bền vững, Nhật Bản đã tập trung và hướng vào giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề.

    Theo đó, Chính phủ của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe trong những năm gần đây đã rất chú trọng đến phát triển du lịch, coi phát triển du lịch là định hướng chiến lược và là quốc sách hàng đầu để chấn hứng nền kinh tế quốc gia (đặc biệt từ sau thảm họa động đất sóng thần tháng 3/2011) nên đã dành sự ưu tiên cho phát triển du lịch cả về cơ chế, chính sách, ngân sách đầu tư phát triển du lịch và sự phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch.

    Trên cơ sở coi du lịch là định hướng chiến lược, Chính phủ Nhật Bản đã chỉ đạo các Bộ, ngành hữu quan có sự liên thông và phối hợp chặt chẽ với ngành Du lịch để tổ chức và quản lý các hoạt động du lịch; tạo ra những chiến lược và sản phẩm du lịch tốt, có chất lượng cao; khai thác hiệu quả, đồng bộ tài nguyên du lịch, đem lại nguồn thu cho đất nước, tạo một vị thế nhất định với nước ngoài.

    Ngành Du lịch Nhật Bản đã xây dựng được chiến lược phát triển sản phẩm du lịch và các chiến dịch phát triển du lịch đặc thù và phù hợp với điều kiện hoàn cảnh nước mình, ví dụ như chương trình “Thăm Nhật Bản – Visit Japan”.

    Cùng với đó, ngành Du lịch Nhật Bản đã xây dựng kế hoạch phát triển ưu tiên cho phát triển du lịch có trọng điểm, với những mốc thời gian – giai đoạn cụ thể; đồng thời, rất coi trọng và đẩy mạnh hoạt động quảng bá du lịch, mạnh dạn đầu tư cho công tác phát triển thị trường của ngành Du lịch ra nước ngoài nói chung và ở một số thị trường trọng điểm…

    Trên cơ sở các bài học kể trên, thiết nghĩ, Việt Nam cần coi trọng công tác thúc đẩy phát triển du lịch trên cơ sở các chiến lược, kế hoạch phát triển du lịch đã có; tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho du khách quốc tế về mặt thủ tục, chất lượng dịch vụ du lịch, hàng rào thuế quan; tạo ra những sản phẩm độc đáo, đa dạng, hấp dẫn, riêng biệt để lôi cuốn sự chú ý của du khách; tăng cường tuyên truyền, quảng bá về du lịch; chú trọng xây dựng và chấn hưng hình ảnh đất nước thông qua du lịch, biến những bất lợi thành cơ hội để phát triển du lịch.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Học Nhật Bản Ngành Du Lịch
  • Du Lịch Nhật Bản Và Tìm Hiểu Các Lễ Hội Truyền Thống
  • Tìm Hiểu Về Các Lễ Hội Tại Nhật Bản
  • Tìm Hiểu Về Núi Lửa
  • Núi Lửa Là Gì? Tìm Hiểu Về Núi Lửa Là Gì?
  • Sự Phát Triển Của Xã Hội Nhật Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảng Giá Xe Vinfast 2022 02/2021
  • Bảng Giá Xe Vinfast 2022 Cập Nhật (02/2021)
  • Giới Thiệu Xe Vinfast Lux A2.0 Phiên Bản Cao Cấp Sang Trọng
  • Tìm Hiểu Mức Giá Xe Vinfast 4 Chỗ Hiện Nay Là Bao Nhiêu
  • Tìm Hiểu Xe Vinfast Fadil Màu Cam Hợp Mệnh Gì Nhất
  • Sự phát triển của xã hội Nhật Bản ngày nay đều có nguyên nhân sâu xa của nó. Không thể xây dựng một xã hội Nhật Bản phát triển trên một nền móng trống không. Trái lại nền tảng xã hội Nhật được xây dựng từ chính mỗi con người Nhật cần cù, chịu khó. Hãy thử điểm qua những việc người Nhật khiến bạn phải bất ngờ

    Xã hội Nhật Bản được xây dựng từ chính những trẻ em Nhật Bản

    1. Một xã hội Nhật Bản sạch sẽ được xây dựng từ chính những con người Nhật có ý thức giữ gìn vệ sinh xung quanh mình. Người Nhật dạy cho trẻ em tính sạch sẽ ngay từ khi bắt đầu đi học. Mỗi ngày trẻ em Nhật đều phải giành ra ít nhất 45 phút để cùng giáo viên dọn dẹp phòng học.

    2. Những người Nhật được rèn tính độc lập ngay từ khi còn rất nhỏ. Các bé học mẫu giáo tại Nhật được dạy cho cách tự đánh răng sau mỗi bữa ăn và chăm sóc sức khỏe bản thân. Điều này khó thấy được ở trẻ nhỏ Việt Nam chúng ta hiện nay.

    4. Mặc dù là một đất nước khan hiếm tài nguyên thiên nhiên và là “cái rốn” động đất tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, nhưng tất cả những điều đó không ngăn cản bước phát triển của Nhật Bản. Ngày nay đất nước Nhật đã giữ vững vị trí cường quốc kinh tế lớn thứ 2, thứ 3 thế giới trong nhiều năm liên tiếp.

    5. Chỉ cần 10 năm, thành phố Hirosima bị tàn phá bởi trận bom nguyên tử của Hoa Kỳ đã trở thành một thành phố phát triển kinh tế sôi động .

    6. Sự tôn trọng tính riêng tư cũng như tôn trọng văn hóa nơi cộng cộng củangười Nhật được thể hiện rõ nét tại những tuyến xe công cộng như xe buýt, tầu điện ngầm. Nếu bạn bước chân lên các phương tiện này, bạn sẽ thấy mọi người tự do đọc sách, nhắn tin, nghe nhạc thậm chí cả ngủ gật nhưng không một ai gây ồn ào, làm phiền người khác đó là xã hội Nhật Bản

    7. Mặc dù được cho là dân tộc giàu có nhất nhì thế giới, nhưng tại các gia đình Nhật hiện đại, bạn sẽ không bao giờ thấy hình ảnh của những người giúp việc (osin). Tất cả mọi việc trong gia đình đều do bàn tay người mẹ lo lắng, chăm sóc.

    8. Người Nhật cực kỳ tiết kiệm, điều này dễ nhận thấy nhất tại các nhà hàng tự chọn. Không một người Nhật nào lấy thừa thức ăn hay bỏ lãng phí đồ ăn đã được lấy ra. Có lẽ nhờ tính tiết kiệm như vậy mà người Nhật đã xây dựng nên một nước Nhật phồn vinh như ngày nay.

    9. Mỗi bữa ăn của người Nhật, đặc biệt là của học sinh, sinh viên, các trẻ em không bao giờ kết thúc trước 30 phút. Người Nhật nói rằng, khoảng thời gian đó là cần thiết để xây dựng những cơ thể khỏe mạnh, nhất là những chủ nhân tương lai của đất nước này.

    10. Tính đúng giờ của người Nhật trở nên nổi tiếng toàn thế giới. Chính vì vậy không ở đâu lập được con số kỉ lục: 7 giây mỗi năm cho vấn đề trễ tàu tại

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tình Hình Xã Hội Nhật Bản Hiện Nay Như Thế Nào?
  • Tìm Hiểu Chi Tiết Nguyên Nhân Xe Ô Tô Không Vào Được Số
  • Ô Tô Là Gì ? Nhận Biết Các Loại Xe Ô Tô, Lịch Sử Phát Triển
  • Ứng Dụng Phương Pháp Steam Trong Hoạt Động Ngoài Trời Cho Trẻ Mầm Non
  • Xu Hướng Áp Dụng Chương Trình Học Steam Vào Giáo Dục
  • Tìm Hiểu Lịch Sử Nhật Bản Và Sự Phát Triển Kinh Tế Thần Kỳ Của Nhật Bản Sau Chiến Tranh

    --- Bài mới hơn ---

  • 10 Điều Kiện Đi Xuất Khẩu Lao Động Nhật Bản 2022
  • Tất Tần Về Pháp Luật Nhật Bản Mà Người Lao Động Nước Ngoài Nên Biết
  • 11 Điều Quan Trọng Trong Luật Lao Động Nhật Bản
  • Mô Hình Tố Tụng Hình Sự Nhật Bản
  • Thời Tiết & Địa Lý
  • Lịch sử Nhật Bản

    1. Những nét cơ bản

       

    Từ trái sang phải: Vị trí của Nhật Bản (xanh lá) trên thế giới, Dấu triện chính phủ, Hoàng gia huy của Nhật Bản.

    Nhật Bản là một quốc gia hải đảo ở vùng Đông Á. Tọa lạc trên Thái Bình Dương, nằm bên rìa phía đông của Biển Nhật Bản, Biển Hoa Đông, Trung Quốc, bán đảo Triều Tiên và vùng Viễn Đông Nga, trải dài từ Biển Okhotsk ở phía bắc xuống Biển Hoa Đông và đảo Đài Loan ở phía nam. Chữ kanji trong quốc hiệu Nhật Bản nghĩa là “gốc của Mặt Trời”, và người ta thường gọi Nhật Bản bằng biệt danh “Đất nước Mặt Trời mọc”.

    Nhật Bản là một quần đảo núi lửa với khoảng 6.852 đảo. Diện tích  đất liền: 379.067 km², rộng thứ 62 trên thế giới. Lãnh hải: 3091 km². Nhật bản c hủ yếu nằm trong khu vực ôn đới với bốn mùa rõ rệt, nhưng có khí hậu khác biệt dọc theo chiều dài đất nước. Bốn hòn đảo lớn nhất là Honshu, Hokkaido, Kyushu và Shikoku chiếm khoảng 97% diện tích đất liền của nước này, nhưng phần nhiều chỉ là rừng và núi với nguồn tài nguyên khoáng sản rất hạn chế. Quần đảo được chia thành 47 tỉnh thuộc 8 vùng địa lý. Dân số Nhật Bản vào khoảng 126 triệu người, đứng thứ mười thế giới, tập trung chủ yếu ở các vùng đồng bằng nhỏ hẹp ven biển. Người Nhật chiếm khoảng 98,5% tổng dân số đất nước. Gần 9,1 triệu cư dân sống tại trung tâm Tokyo, thủ đô của đất nước, cũng là thành phố đông dân thứ tám trong khối OECD và là thành phố toàn cầu đứng hàng thứ tư thế giới. Vùng thủ đô Tokyo, bao gồm thủ đô và một vài tỉnh xung quanh nó, là đại đô thị lớn nhất thế giới với hơn 35 triệu dân và có nền kinh tế đô thị phát triển nhất hành tinh.

    Các nghiên cứu khảo cổ chỉ ra rằng đã có người định cư tại Nhật Bản từ thời Thượng kỳ đồ đá cũ. Những ghi chép đầu tiên đề cập đến quốc gia này nằm trong các thư liệu lịch sử Trung Hoa có từ thế kỷ thứ nhất Công Nguyên. Thoạt đầu chịu ảnh hưởng từ các vùng đất khác, chủ yếu là Đế quốc Trung Quốc, tiếp đến là giai đoạn tự cách ly, về sau thoát khỏi sự chi phối của thế giới phương Tây, đã hình thành những nét đặc trưng trong lịch sử và văn hóa Nhật Bản. Từ thế kỷ 12 đến năm 1868, Nhật Bản liên tục thuộc quyền cai trị của các quân nhân phong kiến shogun nhân danh Thiên hoàng. Quốc gia này bước vào quá trình cô lập kéo dài suốt nửa đầu thế kỷ 17, và chỉ kết thúc vào năm 1853 khi một hạm đội của Hoa Kỳ gây áp lực buộc Nhật Bản phải mở cửa với phương Tây. Gần hai thập kỷ nội chiến và bạo loạn đã xảy ra trước khi Thiên hoàng Minh Trị tái thiết lại đất nước trong vai trò nguyên thủ vào năm 1868 và khai sinh Đế quốc Nhật Bản, với Thiên hoàng trở thành biểu tượng thiêng liêng của dân tộc. Trong những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, những thắng lợi sau chiến tranh Thanh – Nhật, chiến tranh Nga – Nhật và Chiến tranh thế giới thứ nhất đã cho phép Nhật Bản mở rộng đế chế của mình và củng cố quyền lực của chủ nghĩa quân phiệt. Cuộc chiến tranh Trung – Nhật năm 1937 đã nhanh chóng lan rộng thành một phần của Chiến tranh thế giới thứ hai từ năm 1941, mà cuối cùng kết thúc vào năm 1945 sau vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Từ thời điểm bản Hiến pháp mới được ban hành năm 1947, Nhật Bản duy trì chế độ quân chủ lập hiến kết hợp dân chủ đại nghị, trong đó cơ quan lập pháp dân cử là Quốc hội Nhật Bản.

    Nhật Bản là nước thành viên của Liên Hợp Quốc, khối APEC, các nhóm G7, G8 và G20, đồng thời được xem như một cường quốc. Quốc gia này có nền kinh tế đứng hạng ba thế giới theo GDP danh nghĩa và hạng tư thế giới theo sức mua tương đương. Nó cũng đứng hạng tư hành tinh cả về kim ngạch nhập khẩu lẫn xuất khẩu. Mặc dù Nhật Bản đã chính thức từ bỏ quyền tuyên chiến, nước này vẫn sở hữu một lực lượng quân đội hiện đại có ngân sách cao thứ tám thế giới, được huy động với mục đích tự vệ và gìn giữ hòa bình. Nhật Bản là một nước phát triển với mức sống và Chỉ số phát triển con người rất cao, trong đó người dân được hưởng tuổi thọ cao nhất thế giới, đứng hạng ba trong số những quốc gia có tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh thấp nhất hành tinh, và vinh dự có số người đoạt giải Nobel nhiều nhất châu Á. Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu về Chỉ số thương hiệu quốc gia, hạng sáu trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2022 – 2022 và giữ vị trí cao nhất ở châu Á về Chỉ số hòa bình toàn cầu. Nhật Bản cũng là quốc gia châu Á đầu tiên đăng cai tổ chức Thế vận hội Mùa hè và Mùa Đông.

    Tên gọi

    Tên gọi Nhật Bản bắt nguồn từ cách phiên âm Hán – Việt, nước này có thể nhìn thấy Mặt Trời mọc đầu tiên ở Đông Á, trong tín ngưỡng theo truyền thuyết của người Nhật là Nữ thần Mặt Trời Amaterasu. Nhiều quốc gia khác cũng vì nguyên do đó mà thường miêu tả Nhật Bản là “Đất nước Mặt Trời mọc”.

    Nhật Bản còn có một mỹ danh trong cộng đồng người dùng tiếng Việt là “Xứ sở hoa anh đào”, vì cây hoa anh đào mọc trên khắp nước Nhật từ bắc xuống nam. Loài hoa “thoắt nở thoắt tàn” này được người Nhật đặc biệt yêu thích, phản ánh tính nhạy cảm, yêu cái đẹp, sống và chết đều quyết liệt của dân tộc họ. Một mỹ danh khác là “Đất nước hoa cúc” vì đóa hoa cúc 16 cánh giống như Mặt Trời đang tỏa chiếu là biểu tượng của Hoàng gia và là quốc huy Nhật Bản ngày nay. Nhật Bản còn được gọi là Phù Tang. Phù Tang, đề cập đến cây phù tang. Theo truyền thuyết cổ phương Đông, có một loài cây rỗng lòng gọi là Phù Tang hay Khổng Tang, là nơi thần Mặt Trời nghỉ ngơi trước khi du hành ngang qua bầu trời từ Đông sang Tây, do đó Phù Tang hàm nghĩa văn chương chỉ nơi Mặt Trời mọc.

    Vào thế kỷ 4, Nhật Bản đã lấy tên nước là Yamato, còn người Hán từ trước Công Nguyên đã gọi nước Nhật là Oa quốc (Oa quốc: nước lùn), người Nhật là Oa nhân (người lùn), gọi cướp biển người Nhật trên Biển Hoa Đông thời nhà Minh là Oa khấu (giặc lùn). Trước thời kỳ Heian, người Nhật vẫn chưa có chữ viết riêng và vẫn phải vay mượn chữ Hán nên Yamato được viết là wa. Về sau khi đã phát triển nên hệ thống ngôn ngữ cho riêng mình, người Nhật dùng hai chữ kanji (Đại Hòa) để ký âm chữ Yamato, thể hiện lòng tự tôn dân tộc. Năm 670, Yamato gửi một đoàn sứ bộ đến chúc mừng triều đình nhà Đường dưới thời vua Đường Cao Tông nhân dịp vừa bình định Triều Tiên, và từ đó đổi tên thành Nhật Bản, Nhật Bản. Kể từ sau cuộc Duy tân Minh Trị cho đến khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, quốc hiệu đầy đủ của Nhật Bản là Dai Nippon Teikoku (Đại Nhật Bản Đế quốc), Dai Nippon Teikoku, nghĩa là “Đế quốc Đại Nhật Bản”. Ngày nay quốc hiệu Nippon – koku hay Nihon – koku, Nippon – koku hay Nihon – koku có ý nghĩa tương đương về mặt nghi thức, với chữ koku nghĩa là “quốc gia”, “nước” hay “nhà nước” thay thế cho một miêu tả dài về ý thức hệ của chính phủ đất nước.

    Trong tiếng Anh, Nhật Bản được gọi là Japan, từ này xuất hiện ở phương Tây vào đầu giai đoạn mậu dịch Nanban. Phát âm tên quốc gia này bằng Tiếng Quan Thoại cổ hoặc có thể là tiếng Ngô cổ đã được Marco Polo ghi lại là Cipangu. Nhật Bản trong Tiếng Mã Lai cổ được gọi là Jepang, vay mượn từ tiếng địa phương ven biển miền nam Trung Quốc, có thể là tiếng Phúc Kiến hoặc Ninh Ba, và từ Mã Lai này đã được các thương nhân Bồ Đào Nha sử dụng vào thời Malacca ở thế kỷ 16. Đó là những người Bồ Đào Nha đầu tiên mang tên gọi này đến châu Âu.

    Xuất xứ dân tộc Nhật Bản

    Cho đến nay người ta vẫn chưa chắc chắn về xuất xứ và thời gian xuất hiện của những cư dân đầu tiên trên quần đảo Nhật Bản. Tuy nhiên, hầu hết các học giả đều cho rằng người Nhật đã có mặt tại quần đảo từ xa xưa và định cư liên tục từ đó cho đến thời nay. Những phát hiện trong nghiên cứu cổ vật, xương đã củng cố thêm sự nghi ngờ đối với thuyết trước kia cho rằng người Nhật là con cháu của những người xâm chiếm đến sau “thổ dân” Ainu và đã đẩy bộ tộc này ra khỏi quần đảo. Ngày nay, người ta tin rằng tổ tiên của người Nhật là những người đã làm nên đồ gốm mang tên Jomon. Những người này được biết là đã có mặt trên quần đảo ít nhất từ năm 5000 TCN, sau đó theo thời gian, pha trộn với các giống người khác, phát triển qua lịch sử thành dân tộc Nhật Bản ngày nay.

    Ngôn ngữ và phong tục của người Nhật gồm những thành tố văn hóa của cả phương Bắc lẫn phương Nam. Dưới góc độ sử dụng và cú pháp, rõ ràng tiếng Nhật thuộc hệ ngôn ngữ Altai của các dân tộc phía bắc lục địa châu Á, song trong từ vựng lại có nhiều từ gốc từ phía nam. Trong các tập quán và tín ngưỡng, ta thấy các lễ nghi gắn với văn hóa lúa nước vốn có nguồn gốc ở phía nam; còn huyền thoại lập nước bởi vị thần – ông tổ của nòi giống – từ thiên đường xuống hạ giới thì có nguồn gốc ở phía bắc. Vì vậy, người ta cho rằng dân cư ở đây có xuất xứ từ cả phương Bắc lẫn phương Nam, đến quần đảo Nhật Bản từ thời tiền sử và qua một quá trình hoà trộn các chủng tộc dần dần tạo ra dân tộc Nhật Bản.

    Các mốc Lịch sử

    – Từ 15.000 năm trước Công Nguyên, ở Nhật Bản đã có con người sinh sống.

    – Từ 13.000 năm trước Công Nguyên, người Nhật đã biết trồng lúa, làm đồ gốm, sống định cư.

    – Từ 300 năm trước Công Nguyên đã sử dụng đồ kim khí.

    – Từ thế kỷ thứ 3 đến giữa thế kỷ thứ 6, những nhà nước đầu tiên xuất hiện. Thần đạo phát triển khắp cả nước. Nước Nhật bắt đầu có tên gọi là Yamato.

    – Từ thế kỷ thứ 6 đến đầu thế kỷ thứ 8, một nhà nước tập quyền được thành lập và đóng đô ở Asuka (gần thành phố Nara ngày nay). Tên nước từ Yamato đổi thành Nhật Bản. Cũng trong khoảng thời gian này, thành lập nhà nước phong kiến Nhật, với cuộc cải cách Đại Hóa do Thiên hoàng Hiếu Đức đề xướng.

    – Giữa thế kỷ thứ 8, Phật giáo đã thiết lập cơ sở vững chắc ở Nhật Bản.

    – Từ thế kỷ thứ 9 đến cuối thế kỷ 12, các dòng họ quý tộc hùng mạnh ở Heian thay nhau nắm sức mạnh chính trị của đất nước, lấn át quyền lực của Thiên hoàng. Cuối thời này, tầng lớp võ sĩ bắt đầu hình thành và tranh giành quyền lực với các dòng tộc quý tộc.

    – Cuối thế kỷ 12 đến đầu thế kỷ 14, quyền lực thực sự nằm trong tay tầng lớp võ sĩ ở Kamakura. Vào các năm 1271 và 1281, các võ sĩ Nhật Bản với sự trợ giúp của bão và sóng thần đã đánh bại hải quân Nguyên – Mông định xâm lược nước mình.

    – Từ thế kỷ 14 đến cuối thế kỷ 16, nước Nhật trong tình trạng mất ổn định do nội chiến và chia rẽ, gọi là Thời kỳ Chiến quốc. Nhật Bản cũng từng tấn công bán đảo Triều Tiên và nhà Minh (Trung Quốc) trong thời kỳ này, nhưng thất bại.

    – Sau đó, nước Nhật có một thời kỳ thực hiện chính sách đóng cửa ổn định kéo dài ba thế kỷ dưới sự cai trị của Mạc phủ Tokugawa. Kinh tế, văn hóa và kỹ thuật có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Người phương Tây, khởi đầu là người Hà Lan, được phép giao thương với Nhật Bản thông qua một thương cảng nhỏ.

    – Giữa thế kỷ 19, với cuộc Minh Trị Duy Tân do Thiên hoàng Minh Trị đề xướng, Nhật mở cửa triệt để với phương Tây. Chế độ Mạc phủ và các phiên do đại danh đứng đầu bị bãi bỏ, quyền lực được tập trung tối cao trong tay Thiên hoàng. Năm 1868, Thiên hoàng Minh Trị dời đô từ Kyōto về Tōkyō. Công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ, đất nước phát triển, xâm chiếm Đài Loan, Lưu Cầu, đánh bại nhà Thanh, đế quốc Nga trong Chiến tranh Thanh-Nhật và Chiến tranh Nga-Nhật, xâm lược Triều Tiên. Theo Hiến pháp Đế quốc Nhật Bản được ban hành năm 1889, Nhật là nước theo chính thể quân chủ lập hiến với quyền uy tuyệt đối của Thiên hoàng, nắm toàn bộ quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp nhưng Hiến pháp cũng đã hạn chế ảnh hưởng quyền lực của Thiên hoàng.

    – Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Nhật đứng về phe Hiệp ước. Sang Chiến tranh thế giới thứ hai, quân phiệt Nhật đứng về phe Trục với Ý và Đức Quốc xã. Lần đầu tiên trong lịch sử, vào năm 1945, Nhật thất bại và phải chịu sự chiếm đóng của nước ngoài. Hoa Kỳ phụ trách việc chiếm đóng Nhật Bản, và cho tới nay Hạm đội 7 Hoa Kỳ vẫn đang đóng ở đảo Okinawa của Nhật.

    – Sau chiến tranh, Nhật tập trung phát triển kinh tế. Từ năm 1955 tới 1970 kinh tế tăng trưởng rất nhanh chóng. Cuối thập niên 1960, Nhật hoàn thành công cuộc công nghiệp hóa, trở thành một nước tư bản phát triển. Manh nha những dấu hiệu đình trệ kinh tế đầu tiên sau khủng hoảng dầu lửa đầu thập niên 1970. Bong bóng bất động sản vỡ khiến kinh tế lâm vào trì trệ từ 1990 tới nay.

    – Bước vào thế kỷ 21, Nhật Bản ưu tiên hơn đến những chính sách quốc gia để gia tăng vị thế về chính trị và quân sự trên trường quốc tế. Nâng cấp Cục phòng vệ quốc gia thành Bộ quốc phòng vào tháng 1 năm 2007.

    Địa lý

    Vị trí địa lý của Nhật Bản

    Nhật Bản nằm trên đường ranh giới giữa bốn mảng kiến tạo địa chất của Trái Đất. Nhưng quan trọng là mảng Thái Bình Dương đang tiến về phía mảng Âu – Á và chúi xuống dưới mảng này. Chuyển động này diễn ra không mấy êm ả và có thể dẫn tới những xung động đột ngột mà kết quả là động đất. Khi mảng Thái Bình Dương chìm xuống, các lớp trầm tích bề mặt vỡ ra và bị biến dạng. Thậm chí lớp vỏ đại dương cũng sẽ bị tan chảy thành dung nham dâng lên bề mặt, phun trào vô số các ngọn núi lửa. Sự phun trào núi lửa cùng với quá trình trầm tích tạo thành một chuỗi các hòn đảo nhiều núi – một dải đảo hình cung.

    Núi lửa

    Núi Phú Sĩ ở Nhật Bản.

    Ngọn núi lửa nổi tiếng nhất ở Nhật Bản là núi Phú Sĩ, mà người Nhật gọi là Fuji-san, cao 3776 m. Sự dốc đứng và dạng hình nón gần như hoàn hảo của ngọn núi biến nó thành một cảnh tượng kỳ thú có thể nhìn thấy từ Tokyo. Núi Phú Sĩ là một điểm du lịch được ưa thích và hàng năm có nhiều người leo lên ngọn núi này. Ngọn núi lửa này phun trào lần cuối vào năm 1707 và ngủ yên từ đó đến nay. Tuy nhiên, tháng 8 năm 2000, các nhà khoa học đã phát hiện có những chấn động nhẹ bên dưới núi Phú Sĩ. Các chấn động này đang được nghiên cứu kỹ lưỡng, nhưng cũng đủ để đưa ra lời cảnh báo.

    Khí sulfua bốc lên từ miệng Nakadake.

    Tất cả những ngọn núi lửa đang hoạt động ở Nhật Bản đều được giám sát nghiêm ngặt để có thể đưa ra lời cảnh báo sơ tán kịp thời như núi Aso, đảo Kyushu. Tại đây đã xảy ra nhiều đợt phun trào và một trong những đỉnh núi lửa chính, đỉnh Nakadake, vẫn tiếp tục phun khí sulfua và đôi lúc có những vụ nổ miệng núi lửa. Những màn khí lưu huỳnh bốc lên từ đá dung nham cổ đầy màu sắc và nước hồ trên miệng núi lửa ánh lên kỳ quái một màu xanh luôn sôi sục ở nhiệt độ 900°C.

    Động đất và sóng thần

    Vị trị địa lý của Nhật Bản khiến nước này là một trong những quốc gia xảy ra nhiều thiên tai nhất thế giới. Hai mối đe dọa nghiêm trọng nhất là động đất và sóng thần. Mỗi năm Nhật Bản phải chịu 7500 trận động đất nhẹ, riêng Tokyo có đến 150 trận. Hầu hết các trận động đất này quá nhẹ, không thể nhận ra, nhưng cũng có những trận động đất rất mạnh. Từ trận động đất Kanto chết chóc năm 1923, tới nay Nhật Bản đã phải trải qua 16 vụ động đất và sóng thần. Vụ sóng thần khủng khiếp gần đây nhất xảy ra ngày 11/03/2011 là hậu quả của trận động đất ngầm ngoài khơi Tohoku của Nhật Bản mạnh 9 độ richte, sóng thần cao nhất là 39m, đánh vào ven bờ Sendai làm cho cả thành phố và các khu vực xung quanh bị thiệt hại nặng nề, làm gần 16.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương và hơn 2.600 người mất tích.

    Trận động đất gây sóng thần ngày 11/3/2011 tại Nhật Bản xác định được từ số liệu của mạng lưới trạm địa chấn Việt Nam và lân cận.

    Phong cảnh thiên nhiên

    Hoa anh đào ở công viên Eboshiyama, thành phố Nanyo, Nhật Bản.

    Nhật Bản là một xứ sở có phong cảnh được coi là một trong những nơi đẹp nhất thế giới, được đánh giá là một trong 10 đất nước tuyệt vời nhất trên thế giới (năm 2010) và cũng là đại diện châu Á duy nhất có mặt trong danh sách này với bốn mùa thay đổi rõ rệt: mùa xuân với hoa anh đào nở dần từ nam lên bắc, mùa hè cây cối xanh mướt, mùa thu lá phong (momiji) đỏ thắm từ bắc xuống nam, mùa đông tuyết trắng tinh khôi. Núi Phú Sĩ (Fujisan) là ngọn núi cao nhất Nhật Bản, nằm giữa đồng bằng, lại có tuyết bao phủ nơi phần đỉnh núi, là nguồn cảm hứng của rất nhiều văn sĩ và thi sĩ cũng như của các văn nghệ sĩ, trong đó có các nhiếp ảnh gia và họa sĩ khắp bốn phương.

    Khí hậu

    Nhật Bản là quốc gia với hơn ba nghìn đảo trải dài dọc biển Thái Bình Dương của Châu Á. Các đảo chính chạy từ Bắc tới Nam bao gồm Hokkaidō, Honshū (đảo chính), Shikoku và Kyūshū. Quần đảo Ryukyu, bao gồm Okinawa, là một chuỗi các hòn đảo phía nam Kyūshū. Cùng với nhau, nó thường được biết đến với tên gọi “Quần đảo Nhật Bản”.

    Khoảng 70%-80% diện tích Nhật Bản là núi, loại hình địa lý không hợp cho nông nghiệp, công nghiệp và cư trú. Có điều này là do độ cao dốc so với mặt nước biển, khí hậu và hiểm họa lở đất gây ra bởi những cơn động đất, đất mềm và mưa nặng. Điều này đã dẫn đến một nền mật độ dân số rất cao tại các vùng có thể sinh sống được, chủ yếu nằm ở các vùng eo biển. Nhật Bản là quốc gia có mật độ dân số lớn thứ 30 trên thế giới.

    Vị trí nằm trên vành đai núi lửa Thái Bình Dương, nằm ở điểm nối của ba vùng kiến tạo địa chất đã khiến Nhật Bản thường xuyên phải chịu các dư trấn động đất nhẹ cũng như các hoạt động của núi lửa. Các cơn động đất có sức tàn phá, thường dẫn đến sóng thần, diễn ra vài lần trong một thế kỷ. Những cơn động đất lớn gần đây nhất là động đất Chūetsu năm 2004 và đại động đất Hanshin năm 1995. Vì các hoạt động núi lửa diễn ra thường xuyên nên quốc gia này có vô số suối nước nóng và các suối này đã và đang được phát triển thành các khu nghỉ dưỡng.

    Khí hậu Nhật Bản phần lớn là ôn hòa, nhưng biến đổi từ Bắc vào Nam. Đặc điểm địa lý Nhật Bản có thể phân chia thành 6 vùng khí hậu chủ yếu:

    – Hokkaidō: vùng cực bắc có khí hậu ôn hòa với mùa đông dài và lạnh, mùa hè mát mẻ. Lượng mưa không dày đặc, nhưng các đảo thường xuyên bị ngập bởi những đống tuyết lớn vào mùa đông.

    – Biển Nhật Bản: trên bờ biển phía tây đảo Honshū’, gió Tây Bắc vào thời điểm mùa đông mang theo tuyết nặng. Vào mùa hè, vùng này mát mẻ hơn vùng Thái Bình Dương dù đôi khi cũng trải qua những đợt thời tiết rất nóng bức do hiện tượng gió Phơn.

    – Cao nguyên trung tâm: Một kiểu khí hậu đất liền điển hình, với sự khác biệt lớn về khí hậu giữa mùa hè và mùa đông, giữa ngày và đêm. Lượng mưa nhẹ.

    – Biển nội địa Seto: Các ngọn núi của vùng Chūgoku và Shikoku chắn cho vùng khỏi các cơn gió mùa, mang đến khí hậu dịu mát cả năm.

    – Biển Thái Bình Dương: Bờ biển phía đông có mùa đông lạnh với ít tuyết, mùa hè thì nóng và ẩm ướt do gió mùa Tây Nam.

    – Quần đảo Tây Nam: Quần đảo Ryukyu có khí hậu cận nhiệt đới, với mùa đông ấm và mùa hè nóng. Lượng mưa nặng, đặc biệt là vào mùa mưa. Bão ở mức bình thường.

    Nhiệt độ nóng nhất đo được ở Nhật Bản là 40,9 °C – đo được vào 16 tháng 8 năm 2007.

    Mùa mưa chính bắt đầu từ đầu tháng 5 tại Okinawa; trên phần lớn đảo Honshū, mùa mưa bắt đầu từ trước giữa tháng 6 và kéo dài 6 tuần. Vào cuối hè và đầu thu, các cơn bão thường mang theo mưa nặng.

    Nhật Bản là quê hương của chín loại sinh thái rừng, phản ánh khí hậu và địa lý của các hòn đảo. Nó trải dài từ những rừng mưa nhiệt đới trên quần đảo Ryukyu và Bonin tới các rừng hỗn hợp và rừng ôn đới lá rụng trên các vùng khí hậu ôn hòa của các đảo chính, tới rừng ôn đới lá kim vào mùa đông lạnh trên các phần phía bắc các đảo.

      

    Nhật Bản nhìn từ không gian, tháng 5 năm 2003.

    Tài nguyên thiên nhiên

    Nhật Bản có rất ít tài nguyên thiên nhiên. Các khoáng sản như quặng sắt, đồng đỏ, kẽm, chì và bạc, và các tài nguyên năng lượng quan trọng như dầu mỏ và than đều phải nhập khẩu. Địa hình và khí hậu Nhật Bản khiến người nông dân gặp rất nhiều khó khăn, và vì quốc gia này chỉ trồng cấy được một số cây trồng như lúa gạo, nên khoảng một nửa số lương thực phải nhập khẩu từ nước ngoài.

    Nhật Bản có chín vùng sinh thái rừng để phản ánh rõ khí hậu và địa lý của cả đảo.Chúng bao gồm từ rừng ẩm lá rộng cận nhiệt ở Ryūkyū và quần đảo Ogasawara đến các khu rừng hỗn hợp lá rộng ôn đới trong nền khí hậu nhẹ của các đảo chính, và đến với các rừng lá kim ôn đới ở những phần lãnh thổ lạnh lẽo thuộc những hòn đảo miền bắc. Nhật Bản có hơn 90.000 loài động vật hoang dã, trong đó có gấu nâu, khỉ Nhật Bản, lửng chó Nhật Bản và kỳ giông khổng lồ Nhật Bản. Nước này đã thành lập một mạng lưới lớn các vườn quốc gia nhằm bảo vệ các quần động vật và thực vật quan trọng cũng như 37 vùng đất ngập nước ngập Ramsar. Bốn địa điểm đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới vì có giá trị nổi bật về mặt thiên nhiên.

    Chính trị Nhật Bản

    Nhật Bản là một nước theo hệ thống quân chủ lập hiến, quyền lực của Hoàng đế, vì vậy rất hạn chế. Theo hiến pháp, Thiên hoàng được quy định là một “biểu tượng của Quốc gia và của sự hòa hợp dân tộc” mang tính hình thức lễ nghi. Quyền điều hành đất nước chủ yếu được trao cho Thủ tướng và những nghị sĩ do dân bầu ra. Đương kim Thiên hoàng Akihito đứng đầu Hoàng gia Nhật Bản; con trai ông, Hoàng thái tử Naruhito, là người tiếp theo kế vị triều đại Ngai vàng Hoa cúc.

    Cơ quan lập pháp dân cử của Nhật Bản là Quốc hội, đặt trụ sở tại Chiyoda, Tokyo. Quốc hội hoạt động theo cơ chế lưỡng viện, trong đó Hạ viện, có 480 ghế, được cử tri bầu chọn sau mỗi bốn năm hoặc sau khi giải tán, và Thượng viện, có 242 ghế, được cử tri bầu chọn cho nhiệm kỳ sáu năm và cứ mỗi ba năm được bầu lại một nửa số thành viên. Quyền bầu cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu thuộc về mọi công dân Nhật Bản trên 18 tuổi không phân biệt nam-nữ, trong đó áp dụng phương thức bỏ phiếu kín tại tất cả đơn vị bầu cử. Các nghị sĩ quốc hội chủ yếu là người của Đảng Dân tiến có khuynh hướng tự do xã hội và Đảng Dân chủ Tự do có khuynh hướng bảo thủ. Đảng Dân chủ Tự do đã liên tiếp giành thắng lợi trong các cuộc tổng tuyển cử kể từ năm 1955, ngoại trừ hai giai đoạn từ năm 1993 đến 1994 và từ năm 2009 đến 2012. Đảng này chiếm 294 ghế trong Chúng Nghị viện và 83 ghế trong Tham Nghị viện.

    Thủ tướng Nhật Bản là người đứng đầu chính phủ do Quốc hội chọn ra từ các nghị sĩ thành viên và được Thiên hoàng sắc phong. Thông thường người đứng đầu một đảng chính trị chiếm đa số ghế trong Quốc hội sẽ được giới thiệu giữ chức Thủ tướng. Thủ tướng lãnh đạo nội các và có thể chỉ định hay bãi nhiệm Bộ trưởng Quốc vụ. Sau chiến thắng áp đảo của Đảng Dân chủ Tự do trong cuộc tổng tuyển cử năm 2012, Abe Shinzō thay thế Noda Yoshihiko giữ chức Thủ tướng từ ngày 26 tháng 12 năm 2012 và trở thành Thủ tướng Nhật Bản thứ sáu tuyên thệ nhậm chức trong vòng sáu năm của đất nước này. Mặc dù việc bổ nhiệm Thủ tướng được tiến hành một cách chính thức bởi Thiên hoàng, Hiến pháp Nhật Bản quy định những người được Thiên hoàng bổ nhiệm vào vị trí này đều phải theo sự chỉ định của Quốc hội.

    Mặc dù trong lịch sử đã từng chịu ảnh hưởng bởi luật pháp Trung Quốc, luật pháp Nhật Bản đã phát triển một cách độc lập trong thời Edo qua các thư liệu như Kujikata Osadamegaki. Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ 19, hệ thống tư pháp đã dựa sâu rộng vào luật châu Âu lục địa, nổi bật là Đức. Ví dụ: vào năm 1896, chính phủ Nhật Bản đã ban hành một bộ luật dân sự dựa theo bản thảo Bürgerliches Gesetzbuch Đức; bộ luật này vẫn còn hiệu lực đến ngày nay qua những sửa đổi thời hậu Chiến tranh thế giới thứ hai. Luật thành văn do Quốc hội soạn và được sự phê chuẩn của Thiên hoàng. Hiến pháp quy định Thiên hoàng ban hành những điều luật đã được Quốc hội thông qua, mà không trao cho vị vua quyền hạn cụ thể nào để bác bỏ dự luật. Hệ thống cơ quan tư pháp Nhật Bản chia thành bốn cấp bậc: Tòa án Tối cao, và ba cấp tòa án thấp hơn. Chánh Thẩm phán Tòa án Tối cao do Thiên hoàng sắc phong theo chỉ định của Quốc hội, trong khi các Thẩm phán Tòa án Tối cao do nội các bổ nhiệm. Trụ cột của pháp luật Nhật Bản gọi là Lục pháp,, Sáu bộ luật).

    Kinh tế

    Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954) phát triển cao độ (1955-1973) làm thế giới phải kinh ngạc. Người ta gọi đó là “Thần kì Nhật Bản”. Từ 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là một nước có nền kinh tế lớn đứng thứ ba trên thế giới (chỉ đứng sau Hoa Kỳ và Trung Quốc). Trước đây Nhật Bản luôn giành vị trí thứ hai về kinh tế nhưng đã bị Trung Quốc vượt qua từ đầu năm 2010. Tổng sản phẩm nội địa tính đến năm 2022 là 4.730.300 USD, GDP trên đầu người là 40,090 USD (2017), đứng thứ 3 thế giới và đứng thứ hai châu Á (sau Trung Quốc). Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới. Nhật Bản có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới. Đơn vị tiền tệ là: đồng yên Nhật.

    Nhật Bản đang xúc tiến 6 chương trình cải cách lớn trong đó có cải cách cơ cấu kinh tế, giảm thâm hụt ngân sách, cải cách khu vực tài chính và sắp xếp lại cơ cấu chính phủ,… Cải cách hành chính của Nhật được thực hiện từ tháng 1 năm 2001. Dù diễn ra chậm chạp nhưng cải cách đang đi dần vào quỹ đạo, trở thành xu thế không thể đảo ngược ở Nhật Bản và gần đây đã đem lại kết quả đáng khích lệ, nền kinh tế Nhật đã phục hồi và có bước tăng trưởng năm 2009 đạt trên 5%, quý I/2004 đạt 6%.

    Sở giao dịch chứng khoán Tokyo.

    Dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản, bán lẻ, giao thông, viễn thông tất cả đều là ngành công nghiệp lớn của Nhật Bản, Nhật Bản có năng lực rất lớn về công nghiệp, và đây là trụ sở của nhiều nhà sản xuất công nghệ tiên tiến bậc nhất thế giới về các sản phẩm xe có động cơ, trang thiết bị điện tử, công cụ máy móc, thép, phi kim loại, công nghiệp tàu thủy, hóa học, dệt may, thức ăn chế biến. Đây cũng là nơi đặt trụ sở của các tập đoàn đa quốc gia và nhiều mặt hàng thương mại trong lĩnh vực công nghệ và máy móc. Xây dựng từ lâu đã trở thành một trong những nền công nghiệp lớn nhất của Nhật Bản.

    Giáo dục

    Hệ thống tiểu học, trung và đại học được áp dụng ở Nhật như một trong các cải cách thời Minh Trị. Từ năm 1947, Nhật Bản áp dụng hệ thống giáo dục bắt buộc gồm tiểu học và trung học trong chín năm cho học sinh từ sáu đến mười lăm tuổi. Hầu hết sau đó đều tiếp tục chương trình trung học và theo MEXT, khoảng 75,9% học sinh tốt nghiệp phổ thông tiếp tục học lên bậc đại học, cao đẳng hay các chương trình trao đổi giáo dục khác.

    Giáo dục ở Nhật có tính cạnh tranh rất cao. Học sinh phải cố gắng thi đỗ vào các trường danh tiếng để đảm bảo có được việc làm tốt sau khi ra trường. Đặc biệt ở các kì thi tuyển sinh đại học có sự cạnh tranh rất quyết liệt giữa các thí sinh, điển hình là các kì thi tuyển của hai trường đại học cao cấp Tokyo và Kyoto. Chương trình đánh giá sinh viên quốc tế hợp tác OECD hiện xếp Nhật Bản ở vị trí thứ sáu thế giới về kĩ năng và kiến thức của học sinh mười sáu tuổi.

    Vào năm 1991 có hơn 2,1 triệu học sinh được nhận vào 507 trường đại học. Tại đây các sinh viên sẽ được đào tạo bốn năm cho cấp bậc cử nhân và sáu năm cho bậc chuyên gia (Tiến sĩ). Có hai loại đại học công lập chính là đại học quốc gia (96 trường) và đại học vùng (39 trường) – do tỉnh hay thành phố lập ra. Cũng theo ghi nhận vào 1991, đã có khoảng 372 trường cao đẳng công được thành lập và đưa vào hoạt động.

    Chi phí trung bình gồm học phí, phụ phí và sinh hoạt phí ở Nhật vào 1986 khoảng 1,4 triệu yên/năm (11.000 đô-la). Để hỗ trợ cho chi phí này, sinh viên được phép làm việc bán thời gian và vay từ Tổ chức học bổng của chính phủ, ngoài ra còn có nhiều tổ chức khác từ chính quyền địa phương, cơ quan phi lợi nhuận cũng góp phần không nhỏ về mặt tài chính hỗ trợ cho sinh viên.

    Theo Phụ san Giáo dục đại học của tạp chí Times, hai trường đại học được cho là danh giá nhất ở Nhật hiện nay là Đại học Tokyo và Đại học Kyoto.

    Ngân sách dành riêng cho công tác giáo dục năm 2005 là 5.733,3 tỉ yên (59 tỷ đô-la), chiếm 7% ngân sách quốc gia (82.182,9 tỉ yên) và chiếm 11.8% ngân sách cho các mục đích công. Hệ thống chiếu sáng cũng chiếm một phần đáng kể trong công tác phát triển cơ sở vật chất (161.3 tỉ yên). Ngân sách dành cho MEXT chủ yếu được chi dùng cho đổi mới công tác giáo dục, trợ giúp kinh phí cho các trường tư, cho vay học bổng và mở rộng các khóa giảng dạy về khoa học-công nghệ, các môn học về thể thao và văn hóa-mỹ thuật cũng được chú ý phát triển. Ngoài ra còn có các kế hoạch tăng lương cho giáo viên tiểu học công.

    Y tế

    Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở Nhật chủ yếu được cung cấp bởi chính quyền trung ương và địa phương. Chi phí cho các dịch vụ cá nhân này, vốn do một hội đồng chuyên trách của chính phủ thông qua, được cung cấp bởi hệ thống bảo hiểm sức khỏe áp dụng rộng rãi và công bằng trên cả nước. Những công dân không muốn sử dụng dịch vụ bảo hiểm của các công ty nơi họ làm việc có thể tham gia vào các loại hình bảo hiểm sức khỏe quốc gia do chính quyền địa phương theo dõi và điều hành. Từ năm 1973, tất cả người già đều được cung cấp miễn phí các loại hình bảo hiểm sức khỏe do chính phủ đài thọ, trong đó bệnh nhân được tùy chọn cơ sở họ muốn cùng các hình thức chăm sóc sức khỏe phù hợp nhất.

    Quốc phòng

    Hiện nay Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản của Nhật có 225.000 người, trong đó mạnh nhất là lực lượng hải quân. Với ngân sách 50 tỉ USD/năm (kể cả chi phí cho quân đội Mỹ ở Nhật Bản), chi tiêu quân sự của Nhật Bản đứng hàng thứ ba sau Mỹ – 400 tỷ, trên cả Nga – 15 tỷ. Từ năm tài khoá 2002, ngân sách quốc phòng Nhật đã vượt con số 1% GDP, vươn lên hàng thứ hai trên thế giới.

    Hướng phát triển quân đội Nhật Bản chủ yếu tập trung vào giảm số lượng nhưng tăng chất lượng, trang thiết bị, tăng khả năng cơ động, mở rộng phạm vi hoạt động của lực lượng phòng vệ Nhật Bản, tăng cường hợp tác với Mỹ, đồng thời đẩy nhanh các biện pháp củng cố an ninh, phòng ngừa, công khai về quốc phòng qua các hoạt động, diễn đàn chung về an ninh, giải trừ quân bị; trao đổi quân sự với các nước trong và ngoài khu vực.

    Nhân sự kiện khủng bố 11/9, Chính phủ và Quốc hội Nhật đã thông qua ba dự luật chống khủng bố gồm: Luật đặc biệt chống khủng bố, Luật sửa đổi Lực lượng phòng vệ và Luật sửa đổi Cục bảo an trên biển, cho phép Nhật lần đầu tiên sau Chiến tranh thế giới thứ hai được phép cử quân đội ra nước ngoài, hợp tác với Mỹ chống khủng bố. Nhật Bản đã đưa 600 binh sĩ sang Iraq thực hiện các hoạt động nhân đạo. Đây là bước chuyển mới trong chính sách quốc phòng của Nhật, từng bước tăng cường và mở rộng phạm vi hoạt động của Lực lượng phòng vệ.

    Tháng 1 năm 2007, Quốc hội Nhật Bản thông qua quyết định thành lập Bộ quốc phòng trên cơ sở Cục Phòng vệ trước đây, là bước tiến mới theo hướng giải thích lại hiến pháp và cho phép Nhật phòng thủ tập thể, đưa quân ra nước ngoài trong các chiến dịch giữ gìn hoà bình, giải quyết các xung đột khu vực.

    Dân số

    Đến tháng 7 năm 2010, dân số Nhật Bản hiện nay lên tới gần 127 triệu người, xếp hàng thứ 10 trên thế giới, phần lớn là đồng nhất về ngôn ngữ và văn hóa ngoại trừ thiểu số những công nhân nước ngoài, Zainichi Hàn Quốc, Zainichi Trung Quốc, người Philippines, người Nhật gốc Brasil. Tộc người chủ yếu là người Yamato cùng với các nhóm dân tộc thiểu số như người Ainu hay Ryūkyū.

    Dân cư Nhật Bản phân bố không đồng đều trong cả nước. Dân cư tập trung đông nhất ở Vành đai Thái Bình Dương. Có một số lý do giải thích tại sao mật độ dân cư ở Nhật Bản lại quá chênh lệch như vậy. Chỉ có 15% đất đai phù hợp cho việc xây dựng, vì vậy các khu dân cư chỉ giới hạn trong những khu vực tương đối nhỏ hẹp. Đất nông nghiệp cũng thiếu, do đó việc canh tác tập trung ở một vài đồng bằng ven biển. Ngoài ra, khí hậu là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến phân bố dân cư, vì miền Đông và miền Nam ấm áp và thích hợp cho việc định cư. Các miền này còn tiện lợi cho quan hệ thương mại với các nước khác trong vùng Thái Bình Dương và vì vậy cũng là các vùng công nghiệp nổi tiếng.

    Nhật Bản là một trong những nước có tuổi thọ dân số cao nhất thế giới, trung bình là 81,25 tuổi cho năm 2006. Tuy nhiên, dân số nước này đang lão hóa do hậu quả của sự bùng nổ dân số sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Năm 2004, 19,5% dân số Nhật trên 65 tuổi.

    Thay đổi dân số đã tạo ra các vấn đề xã hội, đặc biệt là sự suy giảm lực lượng lao động đồng thời gia tăng chi phí cho phúc lợi xã hội như vấn đề lương hưu. Do các vấn đề kinh tế và xã hội, nhiều người trẻ Nhật Bản hiện có xu hướng không kết hôn hoặc sinh con khi trưởng thành, khiến tỉ suất sinh đẻ đang giảm mạnh. Dân số nước Nhật Bản dự tính sẽ giảm xuống còn 100 triệu người vào năm 2050 và 64 triệu người vào năm 2100. Chính quyền và các nhà hoạch định dân số đang đau đầu để giải quyết vấn đề này.

    Nhập cư và gia tăng khuyến khích sinh đẻ đang được xem là giải pháp để cung cấp lực lượng lao động cho sự lão hóa của dân số nhằm duy trì sự phát triển của nền kinh tế khổng lồ lớn thứ hai trên thế giới.

    Cổng chào Shinto tại Fushimi Inari-taisha, Kyoto

    Khoảng 84% đến 96% dân số Nhật theo cả đạo Thần đạo và Phật giáo Đại thừa. Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo từ Trung Quốc cũng có ảnh hưởng đến niềm tin và tín ngưỡng của người Nhật. Có 1 triệu người Nhật theo Đạo Cơ Đốc. Thêm vào đó, từ giữa thế kỷ 19, rất nhiều đạo giáo đã xuất hiện ở Nhật Bản như Shinshūkyō và Tenrikyo; các tôn giáo này chiếm khoảng 3% dân số Nhật Bản.

    99% dân số nói tiếng Nhật. Đây là loại ngôn ngữ kết dính được phân biệt bởi một hệ thống các từ ngữ lễ giáo phản ánh xã hội tôn ti và trọng đạo đức của Nhật Bản, với các dạng động từ và từ vựng biểu hiện tính cách của người nói và người nghe. Tiếng Nhật đã vay mượn một lượng lớn từ vựng trong tiếng Hán và cả tiếng Anh (từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai). Hệ thống chữ viết sử dụng chữ Hán và hai loại chữ kana (bảng âm tiết dựa trên chữ tiếng Hán, giống như ký tự Latinh) và chữ số Ả Rập. Tiếng Ryūkyūan, một phần của hệ ngôn ngữ Nhật, được nói phần lớn ở Okinawa, chỉ có số ít người học ngôn ngữ này. Tiếng Ainu chỉ được sử dụng bởi một số ít người già bản địa còn sống tại Hokkaidō. Phần lớn các trường công và tư ở Nhật đều buộc học sinh phải học cả tiếng Nhật và tiếng Anh.

    Áp lực cuộc sống và nạn tự sát

    Xét về mặt xã hội, có xu hướng cha mẹ già ở lại nông thôn, còn con cái sau khi tốt nghiệp trung học, liền bỏ ra thành thị làm công nhân. Sự kiện này chia rẽ nơi cư trú của cha mẹ và con cái, và làm tan rã hạt nhân gia đình truyền thống. Dân cư ở nông thôn của Nhật ngày càng trở thành già nua, đồng thời kiêm thêm nghề khác. Trong khi đó ở thành thị, do nếp sống công nghiệp hóa cao độ, kết cấu gia đình ngày càng trở nên lỏng lẻo, quan hệ giữa các thành viên gia đình trở nên nhạt nhòa. Dân cư thành thị Nhật bị ví là “động vật kinh tế”, chỉ những con người hy sinh mọi niềm vui thú để chạy đua kiếm tiền đến mức gần như điên cuồng. Xã hội Nhật ngày càng có sự phân hóa sâu sắc về tuổi tác, văn hóa giữa thành thị và nông thôn.

    Do các áp lực cuộc sống ngày càng lớn, tỷ lệ tự sát tại Nhật Bản thuộc mức rất cao trên thế giới. Theo số liệu của cảnh sát quốc gia, ba phần tư số vụ tự tử trong năm 2007 là nam giới, và 60% là thất nghiệp, trong khi tỷ lệ tự tử ở cấp cao tăng lên. Chính phủ cho biết chỉ có 81 vụ tự tử trong năm 2007 là do làm việc quá sức hoặc căng thẳng, gây ra hiện tượng tử vong do làm việc quá sức, thông thường là do tình trạng thừa lao động. Tuy nhiên, cảnh sát quốc gia công nhận trong năm 2007 đã có 2.200 vụ tự sát xảy ra do vấn đề việc làm. Trong năm 2009, 6.949 người tự tử vì trầm cảm (21%), 1.731 người do những khó khăn của cuộc sống hàng ngày (5%) và 1.071 người do mất việc làm (3%).

    Năm 2012 đã có 29.442 người Nhật tự sát (tỷ lệ 18,5 vụ/100.000 dân), cao hơn nhiều so với mức 12,1 vụ của Mỹ, 7,8 vụ của Trung quốc và chỉ kém mức 28,9 vụ của Hàn Quốc. Tỷ lệ này cao hơn 60% so với trung bình thế giới.

    Trong năm 2008, một nghiên cứu chính phủ Nhật Bản cho thấy gần 1/5 người Nhật Bản từng nghiêm túc nghĩ về việc tự sát vào một số thời điểm trong cuộc sống của họ. Trong năm 2010, một nghiên cứu mới cho thấy rằng nạn tự sát ở Nhật Bản làm nền kinh tế tổn thất khoảng 2,7 tỉ yên mỗi năm.

    Tình trạng già hóa dân số

    Với tỷ lệ sinh thấp và tuổi thọ cao, tình trạng già hóa dân số một cách nhanh chóng thời gian gần đây trở thành vấn đề nghiêm trọng với Nhật. Dân số giảm liên tiếp kể từ năm 2007, trong khi số người cao tuổi lần đầu tiên chiếm 1/4 tổng dân số. Tới ngày 1-10-2013, dân số Nhật Bản đã giảm 0,17% (khoảng 217.000 người) xuống còn 127.298.000 người, trong đó tính cả người nước ngoài cư trú lâu dài tại Nhật Bản. Nhóm người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) tăng thêm 1,1 triệu người lên 31,9 triệu người, chiếm 25,1% dân số Nhật Bản. Trong khi đó, năm 2013, số ca sinh mới ở nước này giảm khoảng 6.000 ca so với 1 năm trước đó. Năm 2014, số lượng người già trên 65 tuổi đã cao gấp đôi so với số lượng trẻ em dưới 14 tuổi.

    Trước thực trạng già hóa dân số đáng báo động, Chính phủ Nhật Bản đưa ra cảnh báo, vào năm 2060 gần 40% dân số nước này là người cao tuổi. Tình trạng dân số già hóa không chỉ kéo theo gánh nặng về trợ cấp an sinh xã hội khi số người nhận lương hưu ngày một tăng, mà còn là trở ngại lớn với đà phục hồi tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản khi mà lực lượng lao động trẻ ngày càng ít đi.

    Văn hóa

    Văn hóa Nhật Bản là một trong những nền văn hóa đặc sắc nhất thế giới, văn hóa Nhật đã phát triển mạnh mẽ qua thời gian từ thời kỳ Jōmon cho tới thời kỳ đương thời, mà trong đó chịu ảnh hưởng cả từ văn hóa châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ. Nghệ thuật truyền thống Nhật Bản bao gồm các ngành nghề thủ công như ikebana, origami, ukiyo-e, đồ chơi, đồ gỗ sơn mài và gốm sứ; các môn nghệ thuật biểu diễn như bunraku, nhảy, kabuki, nō, rakugo, ngoài ra còn phải kể đến những nét đặc sắc truyền thống khác như trà đạo, Budō, kiến trúc, vườn Nhật và cả gươm Nhật. Ẩm thực Nhật Bản hiện nay là một trong những nền ẩm thực nổi tiếng nhất trên thế giới.

    Sự kết hợp của nghệ thuật in khắc gỗ truyền thống với văn hóa phương Tây đã dẫn đến sự ra đời của Manga, một thể loại truyện tranh nổi tiếng cả trong và ngoài nước Nhật. Sự ảnh hưởng của Manga đến thể loại hoạt hình đã dẫn đến sự phát triển thể loại hoạt hình đặc trưng của Nhật có tên gọi là Anime, nhờ sự phát triển vũ bão của Manga và Anime mà các trò chơi game video của Nhật cũng phát triển mạnh mẽ từ thập niên 1980.

    Âm nhạc của Nhật Bản đã mượn nhiều nhạc cụ và phong cách từ các quốc gia láng giềng và phát triển thêm các nét đặc trưng của Nhật, điển hình như đàn Koto được giới thiệu vào Nhật từ thế kỷ thứ 9 và 10, hay như thể loại kịch Nō từ thế kỷ 14 và âm nhạc dân gian đại chúng, với những cây đàn như shamisen, được truyền bá tới Nhật từ thế kỷ 16. Âm nhạc phương Tây, được giới thiệu vào Nhật cuối thế kỷ 19, giờ đã trở thành một phần nội tại quan trọng trong văn hóa Nhật Bản. Nước Nhật thời hậu chiến tranh thế giới thứ hai bị ảnh hưởng nặng nề bởi âm nhạc Mỹ và âm nhạc hiện đại châu Âu, điều này đã dẫn đến sự phát triển của dòng âm nhạc gọi là J-pop.

    Karaoke là hoạt động văn hóa phổ biến nhất ở Nhật. Từ tháng 11 năm 1993, cơ quan các hoạt động văn hóa đã tiến hành một cuộc thăm dò, kết luận rằng có nhiều người Nhật hát Karaoke hơn là tham gia vào các hoạt động văn hóa truyền thống như triết hoa hay trà đạo.

    Hanami dango là một loại bánh gạo làm từ bột gạo giống như mochi (một loại bánh khác cũng làm từ gạo). Thường được dùng với trà trong những buổi thưởng ngoạn hoa anh đào của người Nhật.

    Văn học

    Văn học Nhật Bản là một trong những nền văn học dân tộc lâu đời nhất và giàu có nhất thế giới nảy sinh trong môi trường nhân dân rộng lớn từ thuở bình minh của các bộ tộc Nhật Bản, rất lâu trước khi quốc gia Nhật Bản được thành lập. Chúng ta không biết ngọn nguồn của văn học thành văn Nhật Bản khởi điểm chính xác từ khi nào, chỉ có thể ước định qua những tác phẩm khởi nguyên của văn học Nhật Bản vẫn được đánh giá là kiệt tác cổ điển như Vạn diệp tập thế kỷ thứ 8, thi tuyển tập hợp 3 thế kỷ thi ca trước đó của Nhật Bản và các cuốn sử Cổ sự ký và Nhật Bản thư kỷ văn bản hóa các truyền thuyết, huyền thoại lập quốc Nhật Bản.

    Theo một số học giả có lẽ do ảnh hưởng của Âu châu luận, lịch sử văn học Nhật Bản có thể được chia ra 3 thời kỳ chính: Cổ đại, Trung cổ và Hiện đại, tương đương với cách phân kỳ lịch sử kinh điển thường gặp trong văn học phương Tây. Tuy nhiên, trong cuốn Nhật Bản văn học toàn sử do Tokyo Kodanshā xuất bản, văn học Nhật Bản được chia làm 6 thời kỳ ứng với 6 tập của cuốn sách: Thượng đại, Trung cổ, Trung thế, Cận thế, Cận đại và Hiện đại.

    Tôn giáo

    Các vị kami trong Thần đạo của Nhật Bản.

    Nhật Bản là nước có nhiều tôn giáo. Thần đạo, tôn giáo lâu đời nhất ở Nhật Bản, là sự phức hợp của những tín ngưỡng sơ khai ở Đông Á. Thần đạo có các vị thần được gọi là “kami” có thể ban phúc lành, chẳng hạn như một cuộc hôn nhân. Vào thế kỉ thứ 6, Phật giáo hệ phái Bắc Tông du nhập vào Nhật Bản qua Triều Tiên. Nghệ thuật và kiến trúc tinh tế của đạo Phật khiến cho tôn giáo này thu hút được sự quan tâm của triều đình lúc đó và Phật giáo trở thành quốc giáo của Nhật Bản. Đạo Phật nhanh chóng được truyền bá khắp Nhật Bản và nhiều tông phái Phật giáo đã ra đời và phát triển, trong đó nổi tiếng nhất ở phương Tây là Thiền tông (Zen). Thiên chúa giáo do người Bồ Đào Nha du nhập vào Nhật Bản năm 1549 và được khá nhiều người Nhật tin theo. Ngày nay ở Nhật không có một tôn giáo nào nổi trội và trên thực tế, có nhiều người Nhật cùng lúc tin theo nhiều tôn giáo khác nhau. Nhưng Phật giáo vẫn được xem là quốc giáo của Nhật Bản với khoảng 90 triệu tín đồ và ảnh hưởng của nó vô cùng to lớn, sâu sắc vào mọi mặt trong văn hóa, xã hội và lối sống của người Nhật.

    Hình ảnh

     

    Hōryū-ji (法隆寺)                                                                           Gusuku

      

    Thành Himeji (lâu đài hạc trắng)                                    Khu tưởng niệm Hòa bình Hiroshima

     

    Chùa Kinkakuji                                                                 Ginkaku-ji vào mùa đông

     

    Kōfuku-ji là một ngôi chùa cổ ở trung tâm Nara – Chọn Omikuji ở Đền Kasuga – Nara

     

    Thánh địa và đường hành hương vùng núi Kii – Làng lịch sử Shirakawa-go và Gokayama

      

    Đền Itsukushima                                                         Mỏ bạc Iwami Ginzan

     

    Vùng núi Shirakami                                                                         Công viên quốc gia Shiretoko

     

    Đền chùa Nikkō                                                                      Cây thông liễu (Sugi) ở Yakushima

    2. Nhật bản sau chiến tranh thế giới lần II

    2.1. Nhật Bản trong Chiến tranh Lạnh

    – Công lao của Tổng hành dinh lực lượng quân đội đồng minh (General Headquarters – GHQ)

    Bằng cách ký Tuyên bố Potsdam vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, sự chiếm đóng của GHQ (chủ yếu là Mỹ do tướng Douglas MacArthur lãnh đạo) bắt đầu, Đế quốc Nhật Bản đã được giải thể. Triều Tiên được chia hai và được chiếm đóng bởi Hoa Kỳ và Liên Xô. Quần đảo Ryukyu và vùng biển phía Nam đã do Hoa Kỳ quản lý, Đài Loan được đưa vào trong bản đồ của Trung Hoa Dân Quốc, vùng Sakhalin thuộc vào lãnh thổ Liên Xô.

    Thời gian chiếm đóng GHQ được gọi là “sự nhầm lẫn sau chiến tranh”, Nhật Bản đã được cai trị bởi các chính phủ nước ngoài tại thời điểm đầu tiên.

    Lúc đầu, GHQ cho phép bầu cử dân chủ đầu tiên. Kể từ 3 tháng 5 năm 1947, hiến pháp mới viết “chủ quyền của người dân” và “tự do ngôn luận và suy nghĩ”, được ban hành, Đế quốc Nhật Bản đã giải tán một cách hợp pháp.

    Các chính trị gia và các cựu quân nhân của Đế quốc Nhật Bản trong Chiến tranh Thế giới II đã bị xử trong Toà án Tokyo, bảy người đã bị tuyên án là tội phạm chiến tranh A-class. Trước khi diễn ra Tòa án Tokyo, có một vài chính trị gia đã tự tử, như là Fumimaro Konoe (Mất: 16 tháng 12 năm 1945).

    Các chính trị gia tối cao của Phe Trục: Adolf Hitler tự sát (Mất: 30 tháng 4 năm 1945), Victor Emmanuel III đã bị truất ngôi và bị đày (9 tháng 5 năm 1946).

    Tuy nhiên, chính trị gia tối cao của cựu Đế quốc Nhật Bản – Thiên hoàng Hirohito đã không bị truất ngôi. Ông thoát khỏi Toà án Tokyo và vẫn giữ được ngôi vị của mình hầu như là nhờ vào lòng thương xót của Douglas MacArthur.

    Sau khi xử tử bảy tội phạm chiến tranh A-class, các chính trị gia của cựu Đế quốc Nhật Bản đã được tha bổng sau khi tham gia vào các “khóa học đảo ngược”. Chính sách này được thực hiện đối với Nhật Bản như là “cơ sở của Chủ nghĩa chống cộng”.

    Người đứng đầu cơ quan GHQ là tướng Douglas MacAuthur. Trong 5 năm ngắn ngủi (1945-1950), GHQ đã thực thi nhiều chính sách quan trọng nhằm giải giáp quân đội Nhật, xóa bỏ chủ nghĩa quân phiệt, dân chủ hóa, phục hưng và tái thiết Nhật Bản. Các chính sách này tương đối hệ thống và toàn diện.

    – Về chính trị-xã hội: GHQ ban hành sắc lệnh đảm bảo nhân quyền (quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do thành lập hội…); cho phép Đảng cộng sản Nhật Bản trở lại hoạt động hợp pháp; khuyến khích thành lập và hỗ trợ hoạt động của công đoàn; công nhận và đảm bảo quyền tham gia bầu cử, ứng cử của phụ nữ; tiến hành truy bắt, xét xử tội phạm chiến tranh ; giải tán lực lượng “Cảnh sát đặc biệt” chuyên điều tra về tư tưởng của chính phủ quân phiệt trước đó… Hiến pháp mới được biên soạn và công bố ngày 3 tháng 11 năm 1946 đã đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình phi quân phiệt và dân chủ hóa Nhật Bản. Bản Hiến pháp mới với ba nguyên lý nền tảng (hòa bình, dân chủ, tôn trọng nhân quyền) đã đặt nền móng pháp lý vững chắc để tiến hành các cải cách sâu rộng trên nhiều lĩnh vực nhằm xây dựng nước Nhật Bản mới.

    – Về kinh tế: GHQ chỉ đạo chính phủ Nhật Bản thực hiện cải cách đất nông nghiệp. Các nhà nghiên cứu thường gọi đây là “cải cách chế độ sở hữu đất nông nghiệp” hoặc “giải phóng đất nông nghiệp”. Nội dung chủ yếu là chính phủ mua lại ruộng đất của địa chủ với giá rẻ và bán cho những người canh tác nhỏ. Chính sách này đã đem lại ruộng đất cho khoảng 70% những người canh tác nhỏ trên toàn quốc. Cuộc cải cách đã làm cho nông dân hăng hái sản xuất, nâng cao sản lượng, năng suất. Tuy nhiên mặt trái của nó là làm cho sự mở rộng quy mô kinh doanh trở nên khó khăn, làm suy giảm năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Nhật Bản. Bên cạnh đó, nó cũng gây ra nhiều vụ kiện, tranh chấp đất đai. Cùng với cải cách đất nông nghiệp, GHQ cũng ra sắc lệnh giải tán các Zaibatsu để dân chủ hóa và phi quân sự hóa nền kinh tế Nhật Bản.

    – Về giáo dục – văn hóa: GHQ tiến hành điều tra, nghiên cứu giáo dục Nhật Bản trước và trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Sứ đoàn giáo dục Mỹ (Tổ chức bao gồm các nhà giáo dục, các nhà khoa học của Mỹ) được cử tới Nhật. Sứ đoàn này với sự giúp đỡ của Ủy ban các nhà giáo dục Nhật Bản đã đưa ra bản báo cáo “Bản báo cáo của sứ đoàn giáo dục Mỹ”, một tài liệu cơ bản, quan trọng làm tiền đề cho cải cách giáo dục xây dựng nền giáo dục mới.

    Ngày 25 tháng 6 năm 1950, khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Nhật Bản đã trở thành hậu cần cho quân đội Mỹ. Và, 8 tháng 9 năm 1951, Liên minh Hiệp ước “Hiệp ước San Francisco” và quan hệ Mỹ – Nhật lần đầu tiên đã được ký kết và xác nhận, nó có hiệu lực từ ngày 28 tháng 4 năm 1952. Hiệu lực của Hiệp ước San Francisco đã kết thúc sự chiếm đóng của GHQ.

    – Chiếc ô hạt nhân của Hoa Kỳ:

    Khi Hiệp ước San Francisco enterd có hiệu lực, Nhật Bản đã trở thành một nước có chủ quyền chính thức. Tuy nhiên, do Hiệp ước Liên minh Mỹ – Nhật Bản lần thứ nhất, các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ đã rời Nhật Bản. Sau khi GHQ chiếm đóng, Nhật Bản chịu sự ảnh hưởng của quân đội Hoa Kỳ.

    Ngày 15 tháng 11 năm 1955, Đảng Dân chủ Tự do đã được thành lập, các “Hệ thống của năm 1955” được thành lập. “Hệ thống của năm 1955” là sự thống trị của hai đảng chính, Đảng Dân chủ Tự do và Đảng Xã hội Nhật Bản. Nhưng, Đảng Dân chủ Tự do là “chế độ đời đời”, Đảng Xã hội Nhật Bản là “vĩnh cửu đối lập”. “Hệ thống của năm 1955” kéo dài trên 38 năm cho đến năm 1993, sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh.

    Ngày 19 tháng 1 năm 1960, Tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower và Thủ tướng Nobusuke Kishi đã thỏa thuận các khoản trong Hiệp ước Liên minh Mỹ – Nhật Bản lần thứ hai. Họ từng là hai kẻ thù trong Chiến tranh Thế giới 2, tuy nhiên giờ đây họ đã quay sang bắt tay nhau nhằm xoá các bản án tội ác chiến tranh. Điều này tượng trưng cho “chiếc ô hạt nhân của Hoa Kỳ” và gửi đến Nhà Trắng trong cấu trúc chiến tranh lạnh của Nhật Bản.

    Trong thời gian giữa năm 1960, tăng trưởng kinh tế nhanh chóng đã được gọi là “thần kỳ” xảy ra. Olympic Tokyo được tổ chức vào năm 1964 và Triển lãm thế giới năm 1970 được tổ chức tại Osaka.

    2.2. Sau chiến tranh Lạnh

    Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu vào năm 1989 chấm dứt Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, Nhật Bản thời hậu chiến vẫn tiếp tục liên minh Mỹ – Nhật. Thời kỳ đó bắt đầu từ cuộc cách mạng ở Đông Âu cũng được gọi là “thời kỳ Heisei”.

    Năm 1993, “Hệ thống của năm 1955” sụp đổ, Đảng Dân chủ Tự do đã trở thành một đảng đối lập tại thời điểm đầu tiên. Từ năm 1990 đến những năm 2000, Nhật Bản bị suy thoái kéo dài được gọi là “thập kỷ mất mát”.

    – Hiệp ước Liên minh Mỹ – Nhật Bản

    Hiệp ước Liên minh Mỹ – Nhật Bản  có hai phiên bản: phiên bản của năm 1952 và phiên bản của năm 1960.

    Theo Hiệp ước Liên minh Mỹ – Nhật, rất nhiều quân đội Hoa Kỳ xác định vị trí ở Nhật Bản như các quận Kanagawa và quần đảo Ryukyu.

    – Chính trị

    Sự chuyển tiếp của các đảng chính trị chính như sau:

    – 1945-1955: Các đảng chính trị mọc lên như nấm (Nghề nghiệp của GHQ cho đến 1952)

    – 1955-1993: Hai đảng chính là Đảng Dân chủ Tự do và Xã hội (Hệ thống 1955)

    – 1993-2003: các đảng chính trị nhỏ và đảng Dân chủ Tự do có đột biến

    – 2003 – nay: Đảng Dân chủ và đảng Đảng Dân chủ Tự do và đảng nhỏ khác

    2.3. Sự phát triển kinh tế thần kỳ của Nhật Bản sau chiến tranh

    – Tái thiết kinh tế sau chiến tranh:

    Thời kỳ khôi phục kinh tế của Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai kéo dài từ năm 1945 đến 1953. Đây cũng là thời kỳ của những cuộc cải cách theo đề nghị của Lực lượng Đồng Minh đang quân quản Nhật Bản.

    Những cải cách: Cuối năm 1945, Tư lệnh Lực lượng Đồng mình Quân quản ra lệnh cải cách ruộng đất ở nông thôn. Cuộc cải cách ruộng đất này đã tạo ra cơ sở để tăng năng suất nông nghiệp và để ổn định các vùng nông thôn. Cũng trong năm 1945, lệnh giải tán các zaibatsu (các tập đoàn tài phiệt) được đưa ra. Năm 1947, Luật chống độc quyền được ban hành. Tiếp theo là luật thủ tiêu tình trạng tập trung quá mức sức mạnh kinh tế được ban hành bổ sung cho luật chống độc quyền. Những cải cách dân chủ hóa kinh tế này có tác dụng nâng cao vị trí của tư bản công nghiệp, khuyến khích tinh thần kinh doanh và đầu tư.

    Ổn định kinh tế: Do chiến tranh, sản xuất bị gián đoạn, thất nghiệp gia tăng, tổng cầu vượt tổng cung khiến cho lạm phát tăng tốc nhanh chóng. Nạn đói tuy được ngăn chặn nhờ phát chẩn khẩn cấp của lực lượng quân quản, song thức ăn tồi và thiếu đã gây ra nạn suy dinh dưỡng và ngộ độc ở nhiều nơi. Để khôi phục và ổn định kinh tế, chính phủ đã phải tiến hành phân phối lương thực, kiểm soát hành chính đối với giá cả, chống nạn đầu cơ, “đông lạnh” tiền gửi ngân hàng, đổi tiền, phát hành trái phiếu chính phủ, tập trung sức khôi phục và phát triển một số ngành ưu tiên như than, thép, phân bón, điện lực, v.v…

    Đường lối Dodge: Cuối năm 1948, chính phủ Mỹ cử Joseph Dodge sang Nhật Bản để điều hành nền kinh tế ở đây. Ông này chủ trương cân đối ngân sách thông qua hạn chế chi tiêu, ngừng kiểm soát giá, cố định tỷ giá hối đoái Yên Nhật/Dollar Mỹ là 360: 1. Nhờ đường lối này, nền kinh tế tự do được khôi phục, năng suất lao động ở Nhật Bản được nâng lên, lạm phát được khống chế, thậm chí còn đưa tới nguy cơ giảm phát. (Joseph Morrell Dodge (18/11/1890 – 2/12/1964) là chủ tịch Ngân hàng Detroit, hiện nay là Comerica . Ông từng là cố vấn kinh tế cho các chương trình ổn định kinh tế sau chiến tranh ở Đức và Nhật Bản , đứng đầu phái đoàn Mỹ tại Ủy ban Tư vấn Áo , và làm giám đốc Văn phòng của Tổng thống Dwight D. Eisenhower. Dodge hình thành các kế hoạch tái thiết kinh tế cho Tây Đức sau Chiến tranh thế giới II , và thực hiện cải cách tài chính vào năm 1948. Sau đó, ông chuyển tới Nhật Bản, đã soạn thảo một kế hoạch ổn định kinh tế khác, được biết đến với tên gọi “Dodge Line ” vào tháng 12 năm 1948, là cố vấn tài chính Cho Tư lệnh Tối cao về Quyền lực Đồng minh (SCAP), Tướng Douglas MacArthur).

    Ảnh hưởng của cuộc chiến tranh Triều Tiên: Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ vào tháng 6 năm 1950. Mỹ và Nhật Bản liền ký hiệp định hòa bình để Mỹ rảnh tay hơn đối phó với chiến sự. Những đơn đặt hàng của lực lượng quân sự Mỹ để cung cấp cho mặt trận Triều Tiên gần đó đã làm tăng tổng cầu của Nhật Bản. Nó tạo điều kiện cho Nhật Bản khắc phục một số lệch lạc của nền kinh tế, thúc đẩy tiêu dùng.

    – Kỷ nguyên tăng trưởng nhanh:

    Thời kỳ gần 20 năm từ năm 1955 đến năm 1973 là thời kỳ mà nền kinh tế Nhật Bản có tốc độ tăng trưởng rất cao. GDP thực tế theo giá so sánh hàng năm (năm gốc là 1965) của Nhật Bản trong thời kỳ này hầu hết đều có tốc độ tăng lên tới hai chữ số. Chính trong thời kỳ này, kinh tế Nhật Bản đã đuổi kịp các nền kinh tế tiên tiến của thế giới. Nếu vào năm 1950, GNP của Nhật còn nhỏ hơn của bất cứ nước phương Tây nào và chỉ bằng vài phần trăm so với của Mỹ, thì đến năm 1960 nó đã vượt qua Canada, giữa thập niên 1960 vượt qua Anh và Pháp, năm 1968 vượt Tây Đức. Năm 1973, GNP của Nhật Bản bằng một phần ba của Mỹ và lớn thứ hai trên thế giới.

    Những nhân tố tạo nên sự tăng trưởng nhanh chóng của Nhật Bản trong thời kỳ này gồm:

    – Nhân lực: Người Nhật có kỹ thuật cao từ thời Thiên hoàng Minh trị (thời kỳ này nước Nhật là Đế quốc Nhật Bản là nước công nghiệp phát triển), được thừa hưởng truyền thống giáo dục yêu lao động, làm việc theo nhóm, bắt kịp nhanh với cách mạng công nghệ. Trong lĩnh vực kỹ thuật sản xuất, đức tính chung của người Nhật Bản là: làm đến cùng, không bằng lòng với kĩ thuật hiện tại, luôn luôn có ý thức cải tiến bằng suy nghĩ của bản thân không sao chép, tạo bản sắc của công ty trong mỗi sản phẩm đã đưa kĩ thuật made in Japan lên đỉnh cao thế giới như ngày hôm nay. (Yếu tố NHÂN)

    – Chế độ chính trị và chiến lược kinh tế của Nhật sau chiến tranh được thiết lập dựa trên nền tảng của Mỹ do Tổng hành dinh các lực lượng đồng minh (GHQ) mà chủ yếu là Mỹ tiến hành, cùng với đường lối kinh tế của Joseph Dodge (Một chuyên gia kinh tế do Mỹ cử đến)  hướng tới một nền kinh tế tự lập và ổn định đặt trọng tâm vào các vấn đề cơ sở hạ tầng, chấn hưng xuất khẩu, hạn chế tiêu dùng trong nước. Nhờ chính sách này mà vấn đề về cơ sở hạ tầng sau thế chiến được giải quyết, tỉ giá đồng đô la cũng được cố định ở mức 1 đô la = 360 yên. Các chính sách trên đã giải phóng sức lao động, tạo sức bật cho nền kinh tế Nhật sau khi kết thúc chiến tranh. (Yếu tố ĐỊA)

    – Hiệp ước Mỹ – Nhật giúp cho Nhật giảm lệ thuộc vào Mỹ cùng với cuộc chiến tranh Triều tiên, sau đó là chiến tranh Việt Nam mà nước Nhật trở thành cơ sở hậu cần của quân đội Mỹ đã đẩy cầu của nền kinh thế tăng cao là một đòn bẩy kinh tế mạnh đối với Nhật. (Yếu tố THIÊN)

    Giai đoạn này nền kinh tế của Nhật Bản hội đủ ba yếu tố: Thiên thời + Địa lợi + Nhân hòa.

    Những vấn đề như cách mạng công nghệ, lao động rẻ lại có kỹ năng, khai thác được lao động dư thừa ở khu vực nông nghiệp, tỷ lệ để dành cao, đầu tư tư nhân cao, đồng yên Nhật được cố định vào dollar Mỹ với tỷ giá 360JPY/USD có lợi cho xuất khẩu của Nhật Bản, nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh, giá dầu lửa hãy còn rẻ, nguồn tài chính cho đầu tư ổn định nhờ chính sách của chính phủ giữ cho các ngân hàng khỏi bị phá sản, chính sách kinh tế vĩ mô (chủ yếu là chính sách tài chính) và chính sách công nghiệp được sử dụng tích cực, nhu cầu lớn từ Mỹ đối với hàng quân dụng do chiến tranh Việt Nam tạo ra.

    Trong kỷ nguyên tăng trưởng nhanh, Nhật Bản tiếp tục hoàn thành giai đoạn thay thế nhập khẩu tư liệu sản xuất trong khi vẫn đẩy mạnh xuất khẩu hàng tiêu dùng lâu bền và chuyển sang xuất khẩu máy móc như ô tô, thiết bị điện tử cao cấp như máy tính. Năm 1970, 72,4% kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản là nhờ các sản phẩm công nghiệp nặng và hóa chất. Tự tin vào năng lực cạnh tranh của mình, từ năm 1960, Nhật Bản bắt đầu tự do hóa thương mại. Năm 1963, Nhật Bản trở thành thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Năm 1964, Nhật Bản trở thành thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, câu lạc bộ của những quốc gia tiên tiến.

    Năm 1971, cú sốc Nixon (Cú sốc Nixon hay cú sốc đô la là một biện pháp kinh tế của Tổng thống Mỹ Richard Nixon. Ngày 15 tháng 8 năm 1971 đồng đô la Mỹ đã tụt giá xuống mức thấp nhất kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, Tổng thống Nixon đã tuyên bố Mỹ sẽ đơn phương phá giá đồng Đô-la, đình chỉ khả năng quy đổi của đồng đô la ra vàng, đồng thời áp đặt mức thuế đặc biệt 10% đối với hàng hóa nhập khẩu. Năm 1971, Mỹ tuyên bố phá giá USD từ 35 USD/ounce vàng thành 38 USD/ounce vàng, sau đó đồng đôla Mỹ tiếp tục sụt giảm so với tiền tệ các nước tư bản khác. Hệ thống tiền tệ thế giới Bretton woods bị tan vỡ. Những hành động này được biết đến như là “Cú sốc Nixon” chủ yếu nhằm vào Nhật Bản và Tây Âu, những nước tuy là đồng minh chiến lược của Mỹ nhưng ngày càng trở thành đối thủ cạnh tranh kinh tế với Mỹ) làm đồng yên tăng giá làm giảm thặng dư cán cân thanh toán của Nhật Bản. Năm 1973, chiến tranh Trung Đông lần thứ 4 bùng nổ là một trong những nguyên nhân dẫn tới cú sốc dầu lửa. Kinh tế Nhật Bản tăng trưởng âm trong năm 1974. Kỷ nguyên tăng trưởng nhanh chấm dứt.

    So sánh tốc độ tăng GNP bình quân đầu người của Nhật Bản giữa các thời kỳ.

    – Thời kỳ chuyển đổi:

    Thời kỳ này có đặc trưng là tốc độ tăng GDP không ổn định và nhìn chung thấp bằng nửa thời kỳ tăng trưởng nhanh. Một loạt cuộc khủng hoảng kinh tế đã xảy ra vào các năm 1973-1975, 1981-1982 và 1985-1986. Hai cuộc khủng hoảng đầu tiên có nguyên nhân chính là các cú sốc dầu lửa. Còn cuộc khủng hoảng thứ ba có nguyên nhân từ việc đồng Yên Nhật lên giá sau Thỏa ước Plaza.

    Là nước phụ thuộc gần như hoàn toàn vào dầu lửa nhập khẩu (mà giá dầu lại tăng vọt) và nhu cầu nước ngoài (mà thị trường nước ngoài cũng bị khủng hoảng), nên cuộc khủng hoảng 1973-1975 đã làm kinh tế Nhật Bản rơi vào tình trạng đình lạm sâu sắc. Mức độ khủng hoảng (căn cứ vào tốc độ tăng trưởng GDP thực tế và sản lượng công nghiệp) của Nhật Bản nghiêm trọng nhất trong các nước công nghiệp phát triển và nghiêm trọng hơn cả hồi Đại khủng hoảng. Những ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng như đóng tàu, luyện thép, hóa dầu, dệt, gia công kim loại bị khủng hoảng nặng nề.

    Tác động nghiêm trọng của cú sốc dầu lửa 1973-1975 đã khiến Nhật Bản phải tích cực triển khai chương trình tiết kiệm năng lượng, đồng thời chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng của khu vực dịch vụ. Trong khu vực chế tạo, giảm tỷ trọng của các ngành dùng nhiều năng lượng, tăng tỷ trọng của các ngành có hàm lượng tri thức cao (như sản xuất máy tính, máy bay, người máy công nghiệp, mạch tổ hợp,…), các ngành sản xuất theo mốt (quần áo chất lượng cao, đồ điện dân dụng, thiết bị nghe nhìn,…) và công nghiệp thông tin. Nhật Bản nhấn mạnh hơn nữa nghiên cứu khoa học cơ bản để có thể chuyển sang các ngành kinh tế mới.

    Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản ra nước ngoài tăng vọt với hai động lực chính là tận dụng nguồn nguyên liệu và năng lượng ở các địa bàn đầu tư là các nền kinh tế đang phát triển và chọc thủng hàng rào bảo hộ mậu dịch ở các địa bàn đầu tư là các nền kinh tế phát triển

    Nhờ những cải cách tích cực, Nhật Bản đã hồi phục sau khủng hoảng 1973-1975 và chỉ bị ảnh hưởng nhẹ trong cuộc khủng hoảng 1979-1981. Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế của Nhật Bản vẫn cao hơn của các nước công nghiệp phát triển khác.

    – Thời kỳ bong bóng kinh tế:

    Thời kỳ bong bóng kinh tế của Nhật Bản kéo dài 4 năm 3 tháng, từ tháng 12 năm 1986 đến tháng 2 năm 1991. Kinh tế Nhật Bản thời kỳ này có những đặc điểm như đồng Yên cao giá so với Dollar Mỹ, tốc độ tăng trưởng GDP thực tế cao, tỷ lệ lạm phát cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp, giá tài sản (bất động sản lẫn tài sản tài chính) cao, tiêu dùng mạnh.

    Đồng Yên tăng giá đã kích thích các xí nghiệp của Nhật Bản đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Nó cùng với việc người Nhật trở nên giàu hơn đã kích thích họ mua các tài sản của nước ngoài (chẳng hạn như mua xưởng phim của Mỹ, mua các tác phẩm hội họa nổi tiếng) và đi du lịch nước ngoài.

    Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác của Nhật Bản sau một thời gian dài đầu tư vào các xí nghiệp trong khu vực chế tạo thì đến thời kỳ này bắt đầu đầu tư vào các tài sản tài chính. Họ cũng tích cực cho vay đối với các dự án phát triển bất động sản. Họ còn sẵn sàng chấp nhận các tài sản tài chính và bất động sản làm thế chấp khi cho các xí nghiệp và cá nhân vay. Đây chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến các tổ chức tín dụng của Nhật Bản sau này mắc phải tình trạng nợ khó đòi khi bong bóng kinh tế và bong bóng giá tài sản vỡ.

    Năm 1989, Nhật Bản nâng thuế suất thuế tiêu dùng. Cùng năm Iraq xâm lược Kuwait dẫn đến Chiến tranh vùng Vịnh khiến giá dầu lửa tăng vọt. Tháng 10 năm 1990, Ngân hàng Nhật Bản thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt. Bong bóng kinh tế vỡ vào năm 1991 và bong bóng giá tài sản vỡ vào năm 1992.

    – Trì trệ kinh tế kéo dài:

    Sau khi bong bóng kinh tế vỡ đầu thập niên 1990, kinh tế Nhật Bản chuyển sang thời kỳ trì trệ kéo dài. Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân hàng năm của giai đoạn 1991-2000 chỉ là 0,5% – thấp hơn rất nhiều so với các thời kỳ trước.

    Có sự tranh luận về nguyên nhân khiến kinh tế Nhật Bản trì trệ liên tục hơn 10 năm.

    Một số tranh luận cho rằng nguyên nhân nằm ở phía cung của nền kinh tế, cụ thể là do tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng của Nhật Bản giảm sút. Những người theo trường phái trọng cung cho rằng: tất cả các yếu tố đầu vào là năng suất tổng nhân tố, tư bản, số lao động có việc làm, và thời gian lao động đều đồng loạt giảm là những nhân tố trực tiếp làm tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng của Nhật Bản giảm đi. Các chủ thể kinh tế không nhận thức kịp thời sự giảm sút của tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng, nên đã có xu hướng đầu tư thiết bị và thuê mướn lao động quá nhiều, gây ra hiện tượng dư cung.

    Những người theo trường phái trọng cầu (chủ nghĩa Keynes) cho rằng, nguyên nhân của trì trệ kinh tế ở Nhật Bản là do có khoảng cách giữa tổng cung và tổng cầu khiến cho mức tăng trưởng thực tế thấp hơn mức tăng trưởng tiềm năng. Trì trệ kéo dài là vì nền kinh tế liên tục nằm trong các pha suy thoái của những chu kỳ kinh tế (pha suy thoái có xu hướng dài hơn trong khi pha phục hồi có xu hướng ngắn đi). Chính những chính sách tài chính và tiền tệ kích cầu của Nhật Bản được tiến hành không đủ mức và không kịp thời đã khiến cho nền kinh tế Nhật Bản không thoát ra hẳn khỏi suy thoái do bong bóng kinh tế tan vỡ, và tiếp theo là rơi vào một vòng xoáy ác tính mà hậu quả tai hại là mắc vào cái bẫy thanh khoản và giảm phát.

    Nguồn:

    1. Lịch sử Nhật Bản. https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n

    2. https://thonsau.wordpss.com/2013/06/26/ghq-da-lam-gi-cho-nhat-ban/

    3. http://vietnamjapan.vn/lich-su-nhat-ban/lich-su-hinh-thanh-dat-nuoc-nhat-ban.aspx

    4. https://nipponkiyoshi.com/2014/12/14/tom-tat-lich-su-nhat-ban/

    5. http://dongdu.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=95:lch-s-nht-bn-qua-cac-thi-k&catid=45:gioi-thieu-ve-van-hoa-nhat-ban&Itemid=51

    CHIA SẺ BÀI VIẾT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Lý Do Người Nhật Bản Mặc Kimono
  • Tìm Hiểu 8 Loại Kimono Của Nhật Bản
  • Tìm Hiểu Về Kimono – Nét Văn Hoá Nhật Bản
  • Tìm Hiểu Về Kimono – Trang Phục Truyền Thống Của Nhật Bản
  • Những Điều Cần Biết Về Chương Trình Internship Nhật Bản
  • Kinh Tế Nhật Bản Và Sự Phát Triển “Thần Kỳ” Sau Thế Chiến Thứ 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Đột Biến Gen Là Gì?
  • Động Lực Nào Thúc Đẩy Quá Trình Chuyển Biến Từ Vượn Thành Người?
  • Sự Phát Triển Kinh Tế Của Mỹ (1945
  • Vì Sao Quần Áo Đang Mặc Bị Mốc, Một Số Mẹo Hay Tẩy Mốc Hiệu Quả/ Giặt Là Nhật Bản
  • Top 7 Cách Tẩy Quần Áo Màu Bị Mốc Đen
  • Là quốc gia bại trận, sau Chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản lâm vào khủng hoảng trầm trọng, đặc biệt là về kinh tế. Để giải quyết vấn đề này, nước Nhật đã tiến hành cải cách ruộng đất, cải tổ công ty và cải thiện điều kiện làm việc của công nhân…Điều này đem đến sự phát triển “thần kỳ” của kinh tế Nhật Bản trong giai đoạn 1951-1973. Cùng tìm hiểu chi tiết vấn đề này qua bài viết sau.

    Sau Chiến tranh thế giới thứ 2 – nền kinh tế Nhật như thế nào?

    Chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc, nền kinh tế nước Nhật lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng; thiếu năng lượng, lạm phát kinh tế, vấn nạn thất nghiệp…Đất nước Nhật Bản bị quân đội Mỹ chiếm đóng.

    Hầu hết các cơ sở sản xuất đều được chuyển sang sản xuất phục vụ chiến tranh, trong đó phần lớn bị phá hủy trong cuộc chiến. 6 triệu lính và người dân Nhật từ khắp các vùng chiến sự ở Thái Bình Dương quay trở về nước, Chính phủ nước này phải đối diện với gánh nặng – thất nghiệp.

    Nhật là nước bại trận và chịu hậu quả nặng nề từ chiến tranh thế giới thứ 2

    • Giải thể các nhóm Zaibatsu: Việc này nhằm tiêu diệt sức mạnh quân sự của Nhật, xóa bỏ quyền kiểm soát của một số công ty lớn trong nền kinh tế.
    • Đồng thời, thực hiện cải tổ các công ty theo hướng phu tập trung hóa. Giải pháp này đã tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ cho tất cả các ngành công nghiệp và thúc đẩy cơ chế thị trường hoạt động mạnh,
    • Giải quyết vấn đề việc làm: Thực hiện cải thiện điều kiện làm việc, tăng lương cho công nhân. Đặc biệt, thực hiện dân chủ hóa lao động.
    • Trong khoảng thời gian từ 1945-1947, 3 đạo luật đã được ban hành là Luật công đoàn, Luật tiêu chuẩn lao động và Luật điều chỉnh các quan hệ lao động.
    • Cải cách ruộng đất: Quy định địa chủ chỉ được giữ lại một phần ruộng đất, tối đa là 5ha, giảm xuống còn 1ha. Phần còn lại nhà nước sẽ mua và chuyển nhượng cho những nông dân không có ruộng đất.

    Sự phát triển thần kỳ của kinh tế Nhật Bản sau thế chiến thứ 2

    Với “tinh thần nước Nhật” và sự đồng lòng của toàn thể nhân dân “xứ Phù Tang”, khoảng 20 năm sau chiến tranh (1951-1973), nền kinh tế Nhật Bản phát triển với tốc độ chóng mặt. Nhiều nhà kinh tế thế giới coi đây là sự phát triển “thần kỳ” của nền kinh tế Nhật Bản.

    Từ một đống đổ nát sau chiến tranh, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ 2 trong thế giới tư bản sau Mỹ. Cụ thể:

    Tốc độ phát triển kinh tế tăng nhanh

    Từ 1952- 1973, tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc dân thực tế của Nhật Bản ở mức cao nhất trong các nước tư bản. So với thời điểm năm 1950, năm 1973 giá trị tổng sản phẩm trong nước tăng hơn 20 lần, từ 20 tỷ USD lên 402 tỷ USD, vượt Anh, Pháp và CHLB Đức.

    Từ 1951- 1973, kinh tế Nhật Bản bước vào sự phát triển thần kỳ

    Tốc độ phát triển công nghiệp thời kỳ 1950-1960 là 15,9%; từ 1960-1969 là 13,5%. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng từ 4,1 tỷ USD năm 1950 lên 56,4 tỷ USD năm 1969.

    Các ngành công nghiệp phát triển và đẩy mạnh

    Những ngành công nghiệp then chốt đã tăng lên với nhịp độ nhanh. Mặc dù Nhật hầu như không có mỏ dầu, xong lại đứng đầu các nước tư bản về nhập và chế biến dầu thô. Riêng năm 1971 đã nhập tới 186 triệu tấn dầu thô; công nghiệp sản xuất thép năm 1950 là 4,8 triệu tấn, đến năm 1973 là 117 triệu tấn.

    Năm 1960, ngành công nghiệp ô tô của Nhật đứng hàng thứ 6 trong thế giới tư bản và đến năm 1967 vươn lên hàng thứ 2 sau Mỹ.

    Công nghiệp đóng tàu đến những năm 1970 chiếm 50% tổng số tàu biển và có sáu trong mười nhà máy đóng tàu lớn nhất thế giới tư bản.

    Sự phát triển nhanh của  một số ngành kinh tế lớn đã làm thay đổi nhanh cơ cấu ngành sản xuất của Nhật Bản. Tỷ trọng các ngành nông-lâm-ngư nghiệp giảm đi đáng kể. Thay vào đó là sự tăng trưởng trong ngành công nghiệp, dịch vụ.

    Đến nay, Nhật đã vươn lên trở thành “con rồng châu Á” với nền kinh tế phát triển mạnh mẽ

    Hiện nay, Nhật Bản đang là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế hàng đầu châu Á và thế giới, được ví như “con rồng châu Á”. Để đáp ứng nhu cầu phát triển nền kinh tế, Nhật đã và đang đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động từ nhiều quốc gia trong khu vực, trong đó, Việt Nam là một trong những thị trường chủ lực.

     “Yếu tố” nào đem đến sự phát triển thần kỳ của kinh tế Nhật?

    Phát huy vai trò của nhân tố con người

    Sự phát triển “thần kỳ” của kinh tế Nhật Bản phải để đến yếu tố đầu tiên là con người. Kế thừa nền giáo dục của thời kỳ trước, từ sau thế chiến thứ hai, Nhật đã phổ cập hệ giáo dục 9 năm. Trên cơ sở đó, người Nhật chú trọng đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề, có đủ khả năng nắm bắt và sử dụng kỹ thuật, công nghệ mới.

    Sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế- đầu tiên phải kể đến yếu tố con người

    Thêm đó, đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật của Nhật Bản khá đông đảo, có chất lượng cao, góp phần đắc lực vào bước phát triển nhảy vọt về kỹ thuật và công nghệ của đất nước.

    Các nhà quản lý kinh doanh cũng được đánh giá là những người nhạy bén, biết nắm bắt thị trường và đổi mới phương pháp kinh doanh, đem đến những thắng lợi của công ty Nhật trên trường quốc tế.

    Duy trì mức tích lũy và sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả

    “Đất nước mặt trời mọc” được coi là nước có tỷ lệ tích lũy vốn cao nhất trong những nước tư bản phát triển. Tỷ lệ tích lũy vốn thường xuyên của giai đoạn 1052-1973 khoảng 30-35% thu nhập quốc dân.

    Trong đó, tỷ lệ đầu tư vào tư bản cố định trong tổng sản phẩm xã hội của Nhật Bản cao. Đây là một trong những nhân tố quyết định, đảm bảo cho nền kinh tế Nhật phát triển với tốc độ cao.

    Về sử dụng vốn, Nhật cũng là một nước sử dụng vốn táo bạo và có hiệu quả. Tại Nhật Bản, nhiều ngân hàng thương mại chấp nhận cho vay đến 95% tổng số vốn. Biện pháp có phần mạo hiểm này tạo điều kiện tăng nhanh số vốn chuyển vào sản xuất kinh doanh.

    Những yếu tố quan trọng khác

    Bên cạnh đó, còn có những yếu tố khác như:

    • Tiếp cận và ứng dụng nhanh những tiến bộ khoa học – kỹ thuật
    • Chú trọng vai trò điều tiết của kinh tế Nhà nước
    • Mở rộng thị trường trong nước và ngoài nước
    • Kết hợp khéo léo cấu trúc kinh tế hai tầng
    • Đẩy mạnh hợp tác với Mỹ và các nước khác

    TƯ VẤN XKLĐ NHẬT BẢN 24/7

    HỖ TRỢ TƯ VẤN TRỰC TUYẾN VÀ THỦ TỤC ĐĂNG KÝ THAM GIA

    HOTLINE: 091.858.2233 (Hỗ trợ tư vấn 24/7 qua: Call, Message, Zalo, SMS)

    Nếu không tiện nói chuyện qua điện thoại hoặc nhắn tin ngay lúc này, bạn có thể YÊU CẦU GỌI LẠI bằng việc nhập số điện thoại vào form bên dưới để được cán bộ tư vấn của công ty liên lạc hỗ trợ.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Xử Lý Tình Trạng Bất Thường Ở Đàn Ong
    • Hướng Dẫn Sửa Lỗi Outlook Không Nhận Được Mail Nhanh Nhất
    • Ocd Là Gì? Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
    • Oan Và Sai Trong Tố Tụng Hình Sự
    • Lở Miệng (Nhiệt Miệng)
    • Nhật Bản “đau Đầu” Vì… Du Lịch Phát Triển Mạnh

      --- Bài mới hơn ---

    • Chính Sách Phát Triển Du Lịch Nhật Bản Và Những Bài Học Cho Xây Dựng Chính Sách Phát Triển Du Lịch Việt Nam
    • Tìm Hiểu Du Học Nhật Bản Ngành Du Lịch
    • Tìm Hiểu Những Món Ăn Nhật Bản Độc Đáo
    • Tìm Hiểu 3 Món Ăn Kỳ Dị Ở Nhật Bản
    • 1001+ Món Ăn Nhật Bản Dễ Làm, Nổi Tiếng Nhất Hiện Nay
    • Nhật Bản đã trở thành một trong những điểm du lịch hàng đầu châu Á. (Nguồn: The Times)

      Những năm gần đây, chính sách chấn hưng kinh tế do Thủ tướng Abe Shinzo khởi xướng (Abenomics) đã giúp Nhật Bản chuyển mình trở thành một trong những điểm du lịch hàng đầu châu Á.

      Theo Sách trắng Du lịch Nhật Bản, năm 2022, quốc gia này đã đón hơn 31,19 triệu lượt khách quốc tế (tăng 8,7% so với năm 2022), đạt doanh thu gần 42,2 tỷ USD. Trong đó, hơn 50% du khách đến từ các nước châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam… Phần lớn, họ tập trung tham quan tại Tokyo, Osaka và Kyoto.

      Ngoài những cảnh quan hấp dẫn, các du khách rất ấn tượng bởi tinh thần “Omotenashi”, một trong những lợi thế cạnh tranh của Nhật Bản so với các thị trường du lịch khác trên toàn cầu.

      Tuy nhiên, đối với người dân nơi đây, đôi khi “omotenashi” lại không mang đến trải nghiệm tốt đẹp. Bởi du lịch phát triển mạnh sẽ kéo theo hàng loạt vấn đề khiến các nhà chức trách “đau đầu”.

      Những vấn đề “nhức nhối”

      Trong một chương trình của mình, MC nổi tiếng Takeshi Kitano chia sẻ, lượng khách du lịch tăng đột biến gây ra nhiều hệ lụy, đặc biệt là về văn hóa. Điều này khiến chính quyền và người dân địa phương đứng giữa hai lựa chọn là giữ gìn nét văn hóa truyền thống hoặc tiếp tục phát triển du lịch?

      Du lịch phát triển quá nhanh đồng nghĩa với cơ sở hạ tầng, dịch vụ bị quá tải. Khách sạn, nhà hàng, phương tiện công cộng không đáp ứng được nhu cầu của du khách và người dân địa phương. Từ đó, kéo theo tình hình trật tự an ninh xã hội tại Nhật Bản bị ảnh hưởng.

      Chợ Nishiki được mệnh danh là ” bếp ăn” của cố đô Kyoto – nơi có bề dày lịch sử 400 năm gần như hoàn toàn vắng bóng người dân địa phương bởi có quá nhiều du khách.

      Chủ của hàng hải sản 60 năm tuổi Nishiki Daimaru tại chợ Nishiki cho biết, 80% khách hàng là du khách nước ngoài. Những người này chỉ đến tham quan và mua một lượng nhỏ sashimi để ăn tại cửa hàng, kéo theo doanh thu của cửa hàng liên tục giảm trong mấy năm gần đây.

      Những cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, truyền thống hiếu khách của Nhật Bản đã thu hút rất nhiều khách du lịch đến đây. (Nguồn: AFP)

      Người dân địa phương chia sẻ, khách du lịch quá đông khiến họ luôn phải chen chúc trên các phương tiện giao thông, không gian sống trở nên chật chội hơn. Đồng thời, nhu cầu chỗ ở tăng cao, nhiều nhà nghỉ, khách sạn bất hợp pháp mọc lên, gây ra nhiều mối đe dọa cho sự an toàn của cư dân nơi đây.

      Mặt khác, khách nước ngoài cũng không hiểu rõ về phong tục địa phương. Cụ thể, việc phân loại rác kỹ càng theo tiêu chuẩn ở Nhật, hành động hút thuốc nơi công cộng hay trang phục không chỉnh tề đã gây ra nhiều bất tiện trong cuộc sống hàng ngày của người dân địa phương.

      Hiển nhiên, đây không phải nơi duy nhất chịu thiệt hại do sự vô ý thức này. Theo Mainichi, chính quyền tỉnh Tottori phải thường xuyên dọn dẹp để giữ gìn vẻ đẹp tự nhiên của đồi cát Tottori khi nó bị các du khách viết hoặc vẽ lên.

      Những lý do trên đã góp phần khiến người dân Nhật Bản có ấn tượng không tốt với người nước ngoài.

      Các biện pháp khắc phục

      Theo Asahi Shimbun, để khắc phục sự bất cập do du khách nước ngoài gây ra, một số địa phương đã tự thành lập các đội tình nguyện viên dọn dẹp vệ sinh công cộng, phân loại rác. Họ nhắc nhở du khách khi có những hành vi không phù hợp tại nơi công cộng như hút thuốc, gây mất trật tự…

      Chính phủ Nhật Bản cũng có những động thái để hạn chế những vấn đề tiêu cực này. Bắt đầu từ đầu năm 2022, khách du lịch quốc tế đến tham quan sẽ phải nộp thuế du lịch 1.000 yen (hơn 9 USD)/người. Số tiền thu được sẽ dùng cho việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và phương tiện công cộng.

      Khách nước ngoài trượt tuyết ở Niseko, Hokkaido. (Nguồn: Planetype)

      Tổng cục Du lịch Nhật Bản Nhật Bản cũng đã nỗ lực khuyến khích du khách khám phá các vùng nông thôn tại xứ sở mặt trời mọc thay vì đi theo tuyến du lịch “vàng” Tokyo, Kyoto và Osaka.

      Chính quyền một số thành phố còn hợp tác với trang web du lịch nổi tiếng TripAdvisor để giới thiệu cho du khách nước ngoài biết về các quy tắc ứng xử khi đến Nhật Bản.

      Trong bối cảnh du lịch phát triển mạnh sẽ đòi hỏi Chính phủ Nhật Bản cần phải đưa ra chính sách phát triển du lịch bền vững cũng như nâng cấp cơ sở hạ tầng để có thể giữ gìn nét đẹp văn hóa truyền thống, cũng như phát huy và khai thác hết tiềm năng của ngành công nghiệp “không khói” này.

      Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), cơ quan của Liên Hợp Quốc, có 1,4 tỷ lượt khách du lịch quốc tế trên khắp thế giới vào năm 2022. Lượng khách dự kiến tăng thêm 3-4% trong năm 2022. Trang South China Morning Post cho biết, một báo cáo của Liên minh châu Âu đã xác định 105 điểm đến gặp phải tình trạng quá tải khách du lịch. Responsible Travel, một công ty du lịch có trụ sở tại Anh, đã đưa ra bản đồ vượt mức bao gồm 98 điểm đến trên 63 quốc gia. Mới đây, Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới (WTTC) đã công bố báo cáo của một cuộc khảo sát có tên “Điểm đến 2030”. Trong 50 thành phố trên thế giới được khảo sát, có 20 thành phố sắp phải đối diện với vấn đề bùng nổ khách du lịch. Đáng chú ý có Bắc Kinh, Hong Kong (Trung Quốc), Dubai (UAE), Osaka, Tokyo (Nhật Bản), Singapore, Tp. Hồ Chí Minh, Bangkok (Thái Lan), Cape Town (Nam Phi), Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ), Jakarta (Indonesia), Seou (Hàn Quốc), Mexico (Mexico), New Delhi (Ấn Độ)…

      Tại sao Chiang Mai – “bông hồng phương Bắc” của Thái Lan không còn tỏa hương?

      TGVN. Thành phố phát triển vượt tầm kiểm soát, ô nhiễm không khí ở mức báo động là lý do khiến “bông hồng phương Bắc” của …

      Án tượng những tác phẩm đoạt giải cuộc thi Ảnh Du lịch 2022 của National Geographic

      National Geographic vừa mới công bố những người chiến thắng trong Cuộc thi ảnh Du lịch 2022 với 3 hạng mục chính là “Thành phố”, …

      Những lưu ý khi chụp ảnh ở Nhật Bản

      Tờ Japan Today đưa ra những nguyên tắc mà du khách nước ngoài cần lưu ý khi chụp ảnh tại Nhật Bản.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Những Lễ Hội Văn Hóa Của Nhật Bản Bạn Chưa Biết
    • Tìm Hiểu Về Lễ Hội Nhật Bản
    • Du Học Nhật Bản Và Tìm Hiểu Các Lễ Hội Độc Đáo Tại Nhật
    • Những Lễ Hội Tại Nhật Bản Phổ Biến Nhất Hiện Nay
    • 12 Lễ Hội Tại Nhật Bản 4 Mùa 〜 Khái Quát, Lịch Trình, Điểm Thăm Quan 〜
    • Vì Sao Nhật Bản Có Thể Phát Triển Từ Trong Đổ Nát Chiến Tranh?

      --- Bài mới hơn ---

    • Mô Hình Kinh Tế Keiretsu
    • Giải Đáp: Bệnh Viêm Âm Đạo Và Viêm Lộ Tuyến Tử Cung Có Giống Nhau Không?
    • Buồng Trứng Đa Nang Và U Nang Buồng Trứng Giống Và Khác Nhau Thế Nào?
    • Sự Khác Biệt Giữa Bệnh Thoái Hóa Khớp Và Viêm Khớp Dạng Thấp
    • Sự Khác Biệt Giữa Viêm Xương Khớp Và Viêm Khớp Dạng Thấp
    • Như các bạn đều biết, trong chiến tranh thế giới lần thứ II, Mỹ đã ném bom nguyên tử xuống hai thành phố Nagasaki và Hiroshima, các thành phố lớn khác như Tokyo, Osaka, Nagoya, Kobe, Kagoshima … cũng trở thành đống đổ nát sau các cuộc ném bom của không quân Mỹ. Thiệt hại của Nhật Bản trong chiến tranh được coi là thiệt hại lớn nhất trong lịch sử thế giới.

      Người dân Nhật Bản sau chiến tranh đã mất tất cả và họ đã đứng dậy từ đống đổ nát. Nhật Bản trở thành đống đổ nát nhưng người dân Nhật Bản đều mang trong mình niềm hy vọng và giấc mơ to lớn. Nhật Bản đã phổ cập giáo dục trên toàn quốc ngay từ thời Minh Trị Duy Tân. Và sau chiến tranh mọi người dân Nhật Bản đã tạo nên không khí mang tính văn hóa là “tất cả mọi người đều học tập”. Chế độ giáo dục được cải cách và phát triển một cách rõ rệt.

      Nhật Bản đã mất tất cả bởi chiến tranh nhưng tấm lòng của người dân Nhật Bản vẫn còn đó. Đó là lòng ham muốn học tập cao độ ở trong mỗi người dân. Nhật Bản đã xây dựng các trường đại học quốc lập mới trên tất cả các tỉnh thành. Tất cả các trường trung cấp chuyên nghiệp trước chiến tranh đều được đầu tư nâng cấp trở thành trường đại học. Sau chiến tranh, Nhật Bản nghèo khó về mặt vật chất nhưng các trường học không ngớt được đầu tư xây dựng. Đặc biệt là Nhật Bản đã tập trung cho công cuộc giáo dục thực nghiệm và giáo dục tri thức toàn diện.

      Trong thời đại mới, tất cả các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đều được hoàn thiện thể chế và nội dung giáo dục. Đến năm 1970, toàn bộ học sinh trong độ tuổi đi học đều tốt nghiệp trung học phổ thông. Nhờ học tập mà người dân Nhật Bản đã xây dựng lại đất nước từ trong đổ nát. Đồng thời với công cuộc giáo dục đào tạo, các phong trào tự nguyện của người dân được triển khai một cách tích cực để thực hiện một xã hội dân chủ. Mọi người dân Nhật Bản đều mang trong mình tấm lòng nhiệt huyết để xây dựng một xã hội mới từ trong đổ nát. Tất cả các tổ chức xã hội của công nhân, nông dân, hợp tác xã, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, các đoàn thể kinh tế, tổ chức các công ty vừa và nhỏ đều tích cực triển khai các hoạt động học tập tại các vùng miền, nơi làm việc với niềm tin tưởng mạnh mẽ: Sự nỗ lực trong học tập sẽ mang lại tất cả.

      HỌC PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT TRONG NÔNG NGHIỆP

      Với mục đích xây dựng đất nước Nhật Bản từ trong đổ nát sau chiến tranh, việc học tập của người dân Nhật Bản không chỉ bó hẹp trong giáo dục nhà trường. Công cuộc cải cách ruộng đất ở Nhật Bản xóa sạch tầng lớp địa chủ, tinh thần lao động của người nông dân tăng cao. Trước chiến tranh, các thuộc địa của Nhật Bản là nguồn cung cấp lương thực. Thảm bại trong chiến tranh thế giới lần thứ II khiến cho Nhật Bản mất toàn bộ thuộc địa và nạn khan hiếm lương thực, thiếu đói ngay sau chiến tranh trở nên vô cùng nghiêm trọng. Ngay tại thủ đô Tokyo, khắp mọi nơi trở thành vườn ruộng trồng trọt. Quảng trường rộng lớn trước tòa nhà Quốc hội Nhật Bản cũng biến thành ruộng.

      Tôi sinh ra và lớn lên tại Tokyo. Khi còn nhỏ bản thân tôi không chỉ làm ruộng mà còn nuôi hơn 100 con gà. Đối với trẻ con Nhật Bản thời ấy, chế độ ăn một bữa không mất tiền tại tất cả các trường học Nhật Bản trở thành bữa chính quan trọng. Thiếu gạo, thiếu đói diễn ra ngay tại trung tâm Tokyo. Thời đó, song song với việc khôi phục đất nước sau chiến tranh thì việc người dân trở về các vùng thôn quê để mua gom lương thực, thực phẩm là công việc sống còn.

      Mười năm sau chiến tranh, Nhật Bản đã tự cung cấp đủ lương thực, thực phẩm. Tinh thần lao động của người nông dân Nhật Bản làm năng suất trong sản xuất nông nghiệp vượt xa so với trước chiến tranh. Ở khắp tất cả các vùng miền Nhật Bản, phong trào học tập kỹ thuật canh tác nghiên cứu về giống cây trồng, chăn nuôi nở rộ. Thanh niên nông thôn đi đầu trong việc tìm tòi sáng tạo các phương pháp sản xuất trồng trọt và chăn nuôi mới.

      Tôi sinh năm 1944. Khi tôi học cấp I thì hầu như ngày nào cũng phải ra mảnh ruộng trong sân trường làm cỏ. Ngay sau chiến tranh, bom đạn không nổ vùi lấp trong sân trường. Khi phát hiện thì mọi công việc dọn vườn, làm ruộng đều dừng lại hoặc được hủy bỏ. Trường học thiếu thốn. Lớp học sáng, lớp học chiều. Chúng tôi đã cố gắng theo học và lao động vì tin rằng tương lai sẽ tươi sáng. Tuy vậy, đến những năm cuối cấp I cuộc sống khấm khá hơn, nên chúng tôi đã vừa được học vừa được chơi.

      CÁC CÔNG TY DẪN DẮT NỀN KINH TẾ NHẬT BẢN SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN THỨ II

      Nhiều công ty đã dẫn dắt sự phát triển kinh tế của Nhật Bản sau chiến tranh thế giới lần thứ II, đều xuất phát từ những nhà xưởng nhỏ bé và trở thành các tập đoàn lớn trên thế giới. Sony được thành lập vào năm 1946. Sony đã khởi đầu từ một căn phòng tồi tàn trên tầng ba trong cửa hàng bách hóa Shirogiya ở Tokyo. Cửa hàng bách hóa Shirogiya khi đó chỉ là một tòa nhà cháy đen còn trơ lại sau cuộc ném bom của không quân Mỹ. Tường bê tông quanh phòng rạn nứt, cửa sổ kính vỡ thông thống gió lùa.

      Người sáng lập Sony, ông Ibuka Masaru đã dựng bảng hiệu công ty ở căn phòng đó. Sony ra đời với mục đích giúp ích cho xã hội bằng việc sử dụng kỹ thuật của người sáng lập. Tuy vậy, công ty phải bắt đầu từ công việc gì thì chẳng ai biết. Lương công nhân trong thời kỳ đầu được lấy từ sổ tiết kiệm của ông Ibuka. Để công ty tồn tại thì phải nghĩ ra một việc nào đó. Thế rồi, công việc đầu tiên mà ông ấy nghĩ ra đó là sửa chữa và cải tạo radio. Tiếp đến, ông bắt tay vào việc nghiên cứu chế tạo nồi cơm điện. Sony khởi đầu từ một công ty nhỏ bé vẻn vẹn 20 nhân viên như vậy.

      Sản phẩm chăn điện bán chạy, cũng do ông Ibuka nghĩ ra. Và ông còn nung nấu trong lòng: bằng bất cứ giá nào cũng phải chế tạo được máy ghi âm. Không biết bằng cách nào mà ông đã thuyết phục được một viên tướng Mỹ, chở máy ghi âm mang đến tận công ty cho ông nghiên cứu. Thời đó, ngay cả ở Mỹ máy ghi âm cũng mới được làm ra và là cỗ máy vô cùng quý giá. Sony đã chế tạo thành công máy ghi âm thu băng đầu tiên ở Nhật Bản. Và người dân Nhật Bản lúc bấy giờ gọi nó là “cuộn giấy biết nói”. Trên thế giới, không có nước nào có tỷ lệ sử dụng máy ghi âm trong các trường học cao như ở Nhật Bản. Mở được thị trường tiêu thụ máy ghi âm trong ngành giáo dục là một bước tiến to lớn của Sony. Tiếp đến, Sony đã nghiên cứu mở ra một bước ngoặt mới. Đó là việc dùng “đá” trong chất bán dẫn transistor. Sony lần lượt nghiên cứu và chế tạo thành công các sản phẩm mới mà người tiêu dùng Nhật Bản mong muốn.

      Ông Honda, nhà chế tạo xe máy và ô tô, cũng bắt đầu khởi nghiệp từ một nhà xưởng nhỏ bé trên thảo nguyên hoang cháy, sau các cuộc không tập của Mỹ ở thị trấn Hamamatsu, tỉnh Shizuoka. Việc đầu tiên ông làm là cải tiến một loại động cơ công suất nhỏ mà quân đội sử dụng trong kỹ thuật vô tuyến để gắn vào xe đạp. Động cơ thúc giục ông làm khi đó là “Muốn gắn động cơ vào xe đạp để bà vợ tôi đỡ vất vả hơn khi đi mua sắm”. Và rồi ông đã tự nghiên cứu chế tạo được động cơ. Ông đã tự mày mò nghiên cứu trên cơ sở mua biết bao xe máy của các nước Châu Âu mang về tháo, lắp…. Kết quả là công ty cổ phần Honda được thành lập vào năm 1948 với tổng số nhân viên là 20 người.

      Sản phẩm xe đạp gắn động cơ mà phụ nữ cũng dễ dàng sử dụng của ông đã bán chạy khắp Nhật Bản. Vào thập niên 60 của thế kỷ trước, Mỹ bị ô nhiễm nặng bởi khí thải xe ô tô. Người đầu tiên dám đương đầu nghiên cứu giải quyết vấn đề khí thải xe ô tô chính là ông Honda. Năm 1972, ông đã thành công trong việc chế tạo động cơ ít gây ô nhiễm nhất, thấp hơn cả tiêu chuẩn cho phép về lượng khí thải – tiêu chuẩn mà lúc bấy giờ người ta đều lắc đầu cho là “không thể”.

      Năm 1964, Nhật Bản đăng cai Thế vận hội Olympic Tokyo. Nhờ việc đăng cai thế vận hội, Tokyo đã hoàn toàn “thay da đổi thịt”. Trong vòng chưa đầy 20 năm, từ trong đống đổ nát, Tokyo đã trở thành đại đô thị sầm uất có thể sánh ngang với bất cứ thành phố nào trên thế giới. Nhật Bản đã bước vào giai đoạn phát triển kinh tế cao độ. Và vấn đề ô nhiễm môi trường cũng trở thành vấn đề nan giải cho Nhật Bản. Giải quyết ô nhiễm trở thành phong trào của toàn thể người dân Nhật Bản. Các tổ chức giúp đỡ các gia đình nạn nhân của ô nhiễm lần lượt ra đời ở khắp các địa phương, các giải pháp giải quyết ô nhiễm cũng được thực thi một cách nghiêm ngặt. Nhật Bản đã nghiên cứu loại bỏ khói bụi từ các ống khói nhà máy, tinh lọc nước thải. Các chế độ chính sách để bảo vệ cuộc sống của người dân cũng được hoàn thiện: chế độ bảo hiểm xã hội, chế độ phúc lợi. Việc xây dựng một xã hội mới, xã hội tốt đẹp hơn đã được tiến hành trong quá trình phát triển kinh tế cao độ là đặc điểm của Nhật Bản. Mọi người lao động đều tham gia đóng Quỹ lương hưu để sau này khi hết tuổi làm việc, đều có thể yên tâm sinh sống. Chế độ bảo hiểm y tế được thực thi một cách đầy đủ để mọi người dân khi ốm đau đều có thể đến bệnh viện điều trị sức khỏe. Bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tuyển dụng được hoàn thiện để mọi người dân có thể yên tâm làm việc.

      Chế độ tuyển dụng suốt đời – từ khi vào công ty đến khi về hưu, công ty đảm bảo công việc và cuộc sống suốt đời cho người lao động – đã nâng cao tinh thần hăng say làm việc. Và chế độ tuyển dụng đó đã tạo ra không khí coi trọng tinh thần tập thể, tất cả cùng đồng lòng nâng cao trình độ chuyên môn, làm việc quên mình và sáng tạo.

      CÔNG TY COI TRỌNG NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ TOÀN THỂ CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN THAM GIA ĐIỀU HÀNH CÔNG TY

      Phương thức điều hành kinh doanh trên cơ sở coi trọng người lao động lan rộng. Và có không ít các công ty từ quy mô rất nhỏ đã phát triển thành tập đoàn lớn. Những nơi, ngay từ khi công ty còn nhỏ bé đã triệt để thực hiện triết lý kinh doanh coi trọng người lao động, cống hiến cho xã hội, đều phát triển bền vững. Còn những công ty bóc lột thậm tệ người lao đông, thì dù đạt được sự phát triển nhất thời, dù trở thành công ty lớn nhưng đến một giai đoạn nhất định, đều đã bị phá sản.

      Ở Nhật Bản, ngay từ thời Edo, việc kinh doanh đúng đắn mang tính xã hội, việc kinh doanh vì đại nghĩa đóng góp cho con người và xã hội đã được tiến hành ngay cả trong giới thương nhân. Ngay cả thời kỳ Minh Trị, tinh thần đại nghĩa trong buôn bán làm ăn cũng được các nhà kinh doanh tiêu biểu cho Nhật Bản như Eichi Shibusawa, Ohara Magosaburo áp dụng trong thực tiễn.

      Inamori Kazuo, người sáng lập Kyocera – tập đoàn chuyên sản xuất các linh kiện chính trong ngành điện tử – là một nhà kinh doanh được cả thế giới biết đến vì đã làm sống lại Hãng hàng không Nhật Bản (Japan Ailine) từng bị phá sản. Trong lĩnh vực điện thoại di động – ông là người thách đấu chống lại NTT – công ty viễn thông khổng lồ độc quyền của chính phủ Nhật Bản và tạo ra sản phẩm điện thoại di động thương hiệu au. Ông là nhà nghiên cứu đồng thời là nhà kỹ thuật phát minh ra nguyên liệu fine ceramic – gốm công nghệ cao dùng trong ngành điện tử. Ông cũng là người xây dựng nên tập đoàn Kyocera hùng mạnh từ một công ty nhỏ bé lúc ban đầu.

      Điều quan trọng là công việc kinh doanh phải đúng đắn, mang tính xã hội, lao động vì con người, vì xã hội. Công việc kinh doanh dứt khoát không thể vì tư lợi. Ông luôn cật vấn bản thân, động cơ kinh doanh của mình là gì, có “thiện” hay không. Ông coi trọng việc giáo dục Triết lý kinh doanh do ông soạn thảo cho toàn thể nhân viên. Hiện nay dù đã trở thành tập đoàn lớn mạnh nhưng Kyocera vẫn quán triệt Triết lý kinh doanh như thuở mới thành lập.

      Với ý nghĩa đó, có thể nói rằng công việc kinh doanh là công việc vì đại nghĩa, là công việc phải đúng đắn mang tính xã hội, vì con người vì nhân loại. Lao động, làm việc trên tinh thân đại nghĩa vì con người vì xã hội chính là nguồn động lực để phát triển.

      HỌC LÀ ĐỘNG LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN

      Nhờ quá trình học tập, mà nhân viên công ty Kyocera có thể hiểu được “nghĩa lớn” -có thể suy nghĩ được vai trò thực sự mang tính xã hội của bản thân, có thể biết được sự tuyệt vời của quá trình lao động mang tính xã hội đúng đắn nhờ việc coi trọng sự đoàn kết, sức mạnh của việc hợp tác với toàn thể mọi người, là nguồn năng lượng to lớn trong công ty. Nhờ việc học tập mà họ làm việc không vì lợi ích riêng của từng cá nhân, không vì ham muốn dục vọng của riêng mình. Tức là, nhờ học tập mà nhân viên coi trọng việc hợp tác trong kinh doanh – toàn thể mọi người đều tự giác tham gia trên cơ sở coi trọng triết lý kinh doanh vì con người, kinh doanh vì xã hội, kinh doanh vì nhân loại Kyocera không cứng nhắc áp dụng cách thức quản lý theo chủ nghĩa năng lực, chỉ chạy theo kết quả.

      Từ năm 1990, khi nền kinh tế bong bóng bị vỡ, xã hội Nhật Bản, phương thức kinh doanh của các công ty Nhật Bản bị ảnh hưởng xáo trộn mạnh. Nền kinh tế Nhật Bản cũng bị trì trệ. Có những lĩnh vực bị Hàn Quốc và Trung Quốc vượt lên. Nhất là Nhật Bản phải đối diện với cục diện khắc nghiệt: sự cạnh tranh về giá cả. Mặc dù vậy Kyocera, từ khi còn là công ty nhỏ vẫn kiên định nghiên cứu phát triển ròng rã suốt 30 năm, hệ thống phát điện bằng năng lượng mặt trời với phương châm làm tròn bổn phận quan trọng mang tính xã hội. Kyocera dứt khoát không kinh doanh chỉ nhằm lợi ích cục bộ, Kyocera được đánh giá là công ty mà các nhân viên luôn hiểu ý nghĩa và tự hào về công việc, làm việc vì nghĩa lớn: đóng góp cống hiến cho nhân loại. Thông qua việc nghiên cứu và phát triển lắp đặt hệ thống phát điện dùng năng lượng mặt trời, nhân viên Kyocera tích cực triển khai giờ học tại chỗ về môi trường và cuộc sống tại các trường tiểu học.

      Tháng 10 vừa qua, Kyocera đã thành công trong việc xây dựng tại tỉnh Kagoshima hệ thống Magasola, phát điện bằng năng lượng mặt trời, lớn nhất Nhật Bản. Ở Nhật Bản hiện nay, việc sử dụng năng lượng mặt trời để phát điện phát triển nhanh chóng. Trên các mái nhà dân, các nhà máy và các khu đất trống, đâu đâu cũng thấy tấm panen pin mặt trời. Trong quá trình phát triển kinh tế ở Nhật Bản, việc kinh doanh ngắn hạn và việc nghiên cứu phát minh các kỹ thuật trong dài hạn mang tính cống hiến cho nhân loại, được tiến hành đồng thời song song với nhau.

      Xuất phát từ quan điểm cống hiến cho xã hội, cho nhân loại, từ nay về sau Nhật Bản có lẽ vẫn tiếp tục phát triển các kỹ thuật hiện đại nhất, vẫn tiếp tục chế tạo các sản phẩm trên cơ sở coi trọng chất lượng, tìm hiểu nhu cầu của con người trên hành tinh này, họ đang cần những thứ gì và đang gặp những khó khăn ra sao, mà không chỉ tập trung vào cuộc cạnh tranh giá cả. Điều này có thể coi là văn hóa chế tạo sản phẩm của Nhật Bản, là hình ảnh của đất nước Nhật Bản vươn lên phát triển kinh tế từ đống đổ nát sau chiến tranh thế giới thứ II. Vừa tìm kiếm các mối liên kết quốc tế, vừa tôn trọng bản sắc văn hóa riêng có của từng quốc gia, Nhật Bản có lẽ sẽ gánh vác vai trò phân công lao động mang tính quốc tế để cùng tồn tại, cùng thịnh vượng.

      Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến trọn cuộc đời cho nền độc lập Việt nam. Lời kêu gọi cho nền độc lập của Việt Nam nhận được sự hưởng ứng của mọi người dân Việt Nam và trên trường quốc tế là bởi vì nó chứa đựng tính chính nghĩa, có tính xã hội và tính phổ quát. Đó là quyền độc lập của các dân tộc, chủ quyền quốc gia, sự toàn vẹn lãnh thổ. Dù khó khăn đến mấy vẫn giành được độc lập. Đó là kết quả của sự đồng tâm hợp sức, tài trí của mọi người dân Việt Nam. Và việc Nhật Bản có thể vươn mình từ trong đổ nát sau chiến tranh cũng như phát triển kinh tế đất nước chính là nhờ tài trí của mọi người dân Nhật Bản.

      Năm nay là năm kỷ niệm 40 năm khôi phục quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Nhật Bản. Quan hệ giao lưu giữa hai nước nhằm góp phần vào nền hòa bình và phát triển ở Châu Á, với mong muốn cùng tồn tại, cùng thịnh vượng cho mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Và từ bình diện quốc tế, trên cơ sở chính nghĩa mang tính xã hội, tôi cho rằng hai nước cùng mong muốn đóng góp, cống hiến cho nhân loại.

      Đó là việc xây dựng nhiều mô hình phát triển kinh tế mang tính bền vững các địa phương ở Việt Nam và Nhật Bản. Để thực hiện điều này, tôi cho rằng cần phải triển khai nền giáo dục vì sự phát triển bền vững trên quy mô toàn quốc.

      Người Nhật Bản chúng tôi đã tạo ra văn hóa tất cả mọi người dân đều học tập từ thời Minh Trị Duy Tân. Đặc biệt là cuốn “Khuyến học” của ông Fukuzawa Yukichi đã viết về tinh thần hiện đại hóa cho đất nước Nhật Bản. Tôi mong muốn các bạn tìm đọc và cùng suy nghĩ về những điều ông ấy đã viết, nhất là suy nghĩ về tinh thần độc lập.

      --- Bài cũ hơn ---

    • 4 Nguyên Nhân Của Sự Phát Triển Thần Kì Nhật Bản Sau Thế Chiến Thứ Ii
    • Còn Lâu Trung Quốc Mới Bắt Chước Được Mỹ Sau Thế Chiến Lần 2
    • Tìm Hiểu Nét Tương Đồng Và Khác Nhau Của Phật Giáo Và Thiên Chúa Giáo
    • Pr Là Gì? Quảng Cáo Là Gì? 10 Sự Khác Nhau Giữa Quảng Cáo Và Pr
    • Những Khác Biệt Giữa Học Đại Học Và Học Phổ Thông
    • Nguyên Nhân Vì Sao Dẫn Đến Kinh Nguyệt Không Đều

      --- Bài mới hơn ---

    • Các Giải Thưởng Toán Học Và Vì Sao Không Có Giải Nobel Toán Học
    • # 1【Lý Giải】 Vì Sao Có Tim Thai Rồi Lại Mất?
    • Siêu Âm 7 Tuần Chưa Có Tim Thai Có Vấn Đề Gì Không?
    • Tại Sao Phôi Thai Không Có Tim Thai? Băn Khoăn Của Nhiều Cặp Vợ Chồng
    • Bài 1: Chế Độ Xhcn Ở Liên Xô Và Đông Âu
    • Vì sao kinh nguyệt không đều?

      Vì sao kinh nguyệt không đều

      Thông thường, kinh nguyệt của bạn gái có chu kỳ từ 28-32 ngày với lượng máu kinh ra khoảng từ 30-80ml và thời gian hành kinh trong khoảng 3-5 ngày.

      Bạn gái bị kinh nguyệt không đều có chu kỳ bất thường, ngắn hoặc dài hơn so với bình thường; máu kinh lúc ra ít lúc ra nhiều và thay đổi về số lượng, màu sắc có thể chuyển sang đỏ nhạt hoặc đen sẫm, thời gian hành kinh quá dài (trên 7 ngày) hoặc quá ngắn (dưới 2 ngày).

      Tư vấn miễn phí và đăng kí khám bệnh miễn phí qua nút sau đây hoặc hãy gọi điện ngay cho chúng tôi qua đường dây nóng 0366.880.866 hoặc sử dụng tiện ích chat online phía dưới.

      Nguyên nhân dẫn đến kinh nguyệt không đều?

      Qua thăm khám, bác sĩ chuyên khoa Trung tâm chăm sóc sức khỏe 11 Thái Hà cho biết các trường hợp bị kinh nguyệt không đều chủ yếu là do các nguyên nhân như:

      Tuyến giáp hoạt động kém

      Các vấn đề về tuyến giáp có thể làm thay đổi nồng độ hormone trong cơ thể nữ giới, ảnh hưởng đến các tuyến dưới đồi và làm mất kinh.

      Tâm lý bất an

      Nhiều chị em bị kinh nguyệt không đều có thể do áp lực đến từ cuộc sống, bao gồm công việc, gia đình… Tinh thần bị kích thích có thể ảnh hưởng đến chu kỳ kinh nguyệt bình thường ở nữ giới.

      Thiếu chất dinh dưỡng

      Các bệnh phụ khoa

      Nguyên nhân dẫn đến kinh nguyệt không đều do các bệnh phụ khoa

      Kinh nguyệt không đều nguyên nhân có thể do bị u nang buồng trứng, lạc nội mạc tử cung hay viêm nhiễm phụ khoa …. Nếu như u nang buồng trứng khiến cho estrogen trong cơ thể nữ giới gia tăng thì lạc nội mạc tử cung khiến cho chị em bị đau bụng dữ dội, kinh nguyệt ra ít hoặc nhiều hơn so với bình thường, rong kinh và thống kinh…

      Sử dụng các chất kích thích

      Lạm dụng rượu, bia, thuốc lá, đồ uống có gas, có cồn… đều là những tác nhân khiến cho nội tiết tố trong cơ thể bị rối loạn, là nguyên nhân dẫn đến kinh nguyệt không đều.

      Tập thể dục quá nhiều

      Tập thể dục quá nhiều có thể làm thay đổi các hoạt động bình thường của các cơ quan trong cơ thể, gây ra hiện tượng kinh nguyệt không đều. Thực tế, hầu hết các vận động viên nữ, thường xuyên bị kinh nguyệt không đều do phải đối diện với cường độ tập luyện cao.

      Cho con bú

      Chất prolactin có trong sữa mẹ có thể làm chậm chu kỳ kinh nguyệt. Trong thời gian nuôi con bằng sữa mẹ, 1/3 chị em bị giảm tần số rụng trứng. Do đó, mẹ cho con bú có thể bị thay đổi chu kỳ kinh nguyệt.

      Chú ý: Nếu kinh nguyệt không đều kéo dài thì bạn gái nên tham khảo ý kiến của bác sĩ bởi vì nguyên nhân dẫn đến kinh nguyệt không đều có thể do bệnh lý gây ra và cần được điều trị phù hợp.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Tại Sao Kinh Nguyệt Không Đều? Cách Chữa Kinh Nguyệt Không Đều Tại Nhà
    • Tại Sao Chu Kỳ Kinh Nguyệt Lại Không Đều?
    • Tại Sao Chu Kì Kinh Nguyệt Lại Không Đều
    • Tại Vì Sao Lại Bị Kinh Nguyệt Không Đều Ở Tuổi Dậy Thì?
    • Hướng Dẫn Sửa Lỗi Iphone Không Phát Được Wifi Hiệu Quả Nhất
    • Soạn Văn Bài: Sự Phát Triển Của Từ Vựng Văn 9 Kì 1

      --- Bài mới hơn ---

    • Soạn Văn Bài: Sự Phát Triển Của Từ Vựng (Tiếp Theo) Văn 9 Tập 1
    • Giant Finex Là Gì? Tìm Hiểu Về Công Ty Giantfinex
    • Top 5 Các Sàn Giao Dịch Quyền Chọn Nhị Phân Tại Việt Nam
    • Mở Rộng Mối Quan Hệ Tiếng Anh Là Gì? Cách Mở Rộng Mối Quan Hệ
    • Nghiên Cứu Thị Trường Tiếng Anh Là Gì?
    • A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

      • Cùng với sự phát triển của xã hội, từ vựng của ngôn ngữ cũng không ngừng phát triển. Một trong những cách phát triển tư vựng tiếng Việt là phát triển của từ ngữ cơ sở nghĩa gốc của chúng.
      • Có hai phương thức chủ yếu phát triển nghĩa của từ ngữ: phương thức ẩn dụ và phương thức hoán dụ.

      Câu 1 (Trang 55 SGK) Trong bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác của Phan Bội Châu (Ngữ văn 8, tập một) có câu Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế. Cho biết từ kinh tế trong bài thơ này có nghĩa gì? Ngày nay chúng ta có hiểu từ này theo nghĩa như Phan Bội Châu đã dùng hay không? Qua dó em rút ra nhận xét gì vô nghĩa của từ?

      Trả lời: Từ “kinh tế” trong câu “Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế” là cách nói rút gọn từ kinh bang tế thế, có nghĩa là trị nước cứu đời.Ngày nay từ kinh tế không được dùng với nghĩa như thời cụ Phan Bội Châu đã dùng, mà dùng để chỉ toàn bộ các hoạt dộng của con ngươi trong lao động sản xuât, trao đổi, phân phối các sản phẩm làm ra.

      Như vậy, chúng ta có thể rút ra nhận xét: Nghĩa của từ thay đổi theo thời gian, có thể mất đi nét nghĩa nào đó và cũng có thể được thêm vào những ý nghĩa mới.

      Câu 2 (Trang 55 SGK) Đọc kĩ các câu sau (trích từ Truyện Kiều của Nguyễn Du), chú ý những từ in đậm

      a.

      Gần xa nô nức yến anh,

      Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.

      Dập dìu tài tử giai nhân,

      Ngựa xe như nước áo quần như nêm.

      Ngày xuân em hãy còn dài,

      Xót tình máu mủ, thay lời nước non.

      b.

      Được lời như cởi tấm lòng

      Giở kim thoa với khăn hồng trao tay

      Cũng như như hành viện xưa nay

      Cũng phường bán thịt cũng tay buôn người.

      Tra từ điển tiếng Việt để biết nghĩa từ xuân, từ tay các câu trên và cho biết nghĩa nào là nghĩa gốc, nghĩa nào là nghĩa chuyển. Trong trường hợp có nghĩa chuyển thì nghĩa chuyển đó được hình thành theo phương thức chuyển nghĩa nào?

      Trả lời:

      a. Từ xuân trong câu : ” … chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân” chỉ mùa xuân, khoảng thời gian chuyển tiếp từ đông sang hè thời tiết ấm dần, mở đầu một năm : là nghĩa gốc.

      Từ xuân trong câu 2 :… “Ngày xuân em hãy còn dài… ” chỉ tuổi tác, ý nói tuổi trẻ : nghĩa chuyển.

      b. Từ tay trong câu thứ nhất “… khăn hồng trao tay” chỉ một bộ phận của cơ thể là nghĩa gốc

      . Từ tay trong câu thứ 2 ” … cũng phường bán thịt cũng tay buôn người “chỉ người chuyên hoạt động hay người giỏi, thạo về một môn, một nghề nào đó là nghĩa chuyển (hình thành theo phương thức hoán dụ).

      --- Bài cũ hơn ---

    • Soạn Bài Sự Phát Triển Của Từ Vựng (Tiếp Theo)
    • Soạn Bài Sự Phát Triển Của Từ Vựng (Tiếp Theo) (Chi Tiết)
    • Tìm Hiểu Về Các Trường Phái Tập Yoga Phổ Biến Trên Thế Giới 2022
    • Đất Nước , Địa Lý , Khí Hậu Đất Nước Ả Rập Xê Út.
    • Kẽ Hở Trong Lĩnh Vực Du Học Nhật Bản
    • Web hay
    • Links hay
    • Push
    • Chủ đề top 10
    • Chủ đề top 20
    • Chủ đề top 30
    • Chủ đề top 40
    • Chủ đề top 50
    • Chủ đề top 60
    • Chủ đề top 70
    • Chủ đề top 80
    • Chủ đề top 90
    • Chủ đề top 100
    • Bài viết top 10
    • Bài viết top 20
    • Bài viết top 30
    • Bài viết top 40
    • Bài viết top 50
    • Bài viết top 60
    • Bài viết top 70
    • Bài viết top 80
    • Bài viết top 90
    • Bài viết top 100