Các Bước Ra Quyết Định Quản Trị Đúng Đắn Trong Quá Trình Ra Quyết Định

--- Bài mới hơn ---

  • 6 Cách Để Rèn Luyện Kỹ Năng Ra Quyết Định Hiệu Quả Hơn
  • Những Cơ Sở Để Ra Quyết Định
  • Các Ví Dụ Về Ra Quyết Định Trong Quản Trị Dựa Trên “thông Tin Thích Hợp”
  • Quyết Định Quản Lý Là Gì? Các Kỹ Năng Ra Quyết Định Quản Lý
  • Hướng Dẫn Cách Luyện Tập Reiki Mỗi Ngày
  • Để ra quyết định quản trị, nhà quản trị thường sẽ trải qua 7 bước bước ra quyết định quản trị sau: Nhận dạng và xác định vấn đề, Xác định mục tiêu, Xây dựng các phương án, Đánh giá các phương án, Lựa chọn và ra quyết định, Cách sử dụng phương pháp này, Đánh giá và kiểm tra kết quả.

    + Tổng hợp 30 đề tài tốt nghiệp quản trị kinh doanh hay nhất 2022

    + Quản trị học là gì? Thế nào là một nhà quản trị giỏi?

    1. Nhận dạng và xác định vấn đề

    Nhìn nhận vấn đề là bước đầu tiên có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc ra quyết định hiệu quả. Bước đầu tiên thực hiện thiếu chính xác thì các bước tiếp theo sẽ trở nên vô nghĩa. Một bác sĩ muốn tìm phương án chửa bệnh cho bệnh nhân thì trước hết phải biết bệnh nhân đó bị bệnh gì, nếu không mọi cố gắng của bác sĩ trở nên vô nghĩa.

    Các bước để ra quyết định quản trị đúng đắn

    Trong tình huống đơn giản , nhà quản trị có thể nhanh chóng xác định vấn đề. Ngược lại, trong tình huống phức tạp , khó có thể đề ra nhiệm vụ quyết định một cách chính xác. Trong tình huống như vậy thường phải đề ra nhiệm vụ quyết định một cách sơ bộ và tiếp tục thu thập , phân tích thông tin để làm rõ nhiệm vụ.. Đặc biệt phải luôn nhớ: cách đặt vấn đề sai sẽ dẫn đến quyết định của một kết quả sai.

    Nếu bạn không có nhiều kinh nghiệm trong việc viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp. Bạn cần đến dịch vụ nhận làm luận văn cao học Cần Thơ , Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, … để giúp mình hoàn thành những bài luận đúng deadline? Khi gặp khó khăn về vấn đề viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp, hãy nhớ đến Tổng đài tư vấn luận văn 1080, nơi giúp bạn giải quyết những khó khăn mà chúng tôi đã từng trải qua.

    Sau khi người ra quyết định đã xác định được vấn đề cần giải quyết thì có thế đặt ra các mục tiêu cần đạt được.Đặt ra mục tiêu giúp cho nhà quản trị biết được cái mình cần đạt được và làm sao để đạt được . Ví dụ: Một cửa hàng thời trang đang gặp khó khăn với hình ảnh xấu là thái độ bán hàng không tốt và chất lượng ngày càng giảm vì thế chủ cửa hàng quyết định đưa ra mục tiêu “nâng cao hình ảnh” cửa hàng mình.

    Tại sao phải xây dựng nhiều phương án mà không phải là chỉ một phương án? Nếu chúng ta chỉ có một phương án, mọi người sẽ chỉ có một lựa chọn: hoặc “có”, hoặc “không”, bởi vì bạn chỉ có duy nhất một câu hỏi: “Chúng ta nên làm điều này không?”. Tuy nhiên, điều này hiếm khi dẫn đến một quyết định hiệu quả . Vì vậy, chúng ta cần có các phương án khác nhau đại diện cho nhiều khả năng khác nhau. Nhưng làm cách nào để tạo ra các phương án đó? Nhà quản trị có thể dựa vào kinh nghiệm và kiến thức của bản thân , cũng có thể dựa vào ý kiến đề xuất của chuyên gia và tập thể. Nếu số lượng các phương án được đề xuất quá nhiều thì quá trình phân tích và chọn lọc phương án sẽ gặp khó khăn và rất tốn kém. Để thuận lợi cho việc phân tích và lựa chọn nên giữ lại một số phương án thiết thực.

    4. Đánh giá các phương án

    Sau khi xây dựng các phương án, nhà quản trị phải so sánh, đánh giá những điều lợi và bất lợi của từng phương án. Mục đích của việc đánh giá các phương án là tính toán mức độ mà từng phương án sẽ đáp ứng mục tiêu ban đầu của bạn. Tiêu chuẩn nào để đánh giá ?

    – Tiêu chuẩn đánh giá đó chính là dựa vào các biến số sau:

    + Chi phí: Chi phí của phương án này sẽ là bao nhiêu? Phương án này có thể tiết kiệm chi phí trước mắt hoặc lâu dài không? Liệu có chi phí tiềm ẩn nào không? Chi phí có khả năng phát sinh theo thời gian không? Phương án này có nằm trong phạm vi ngân sách không?

    + Lợi ích: Chúng ta sẽ thu được những lợi nhuận và lợi ích gì nếu thực hiện một trong những phương án đã nêu? Phương án đó có giúp tăng chất lượng sản phẩm của chúng ta hay không? Mức độ thỏa mãn của khách hàng có tăng không? Phương án đó có làm nhân viên của chúng ta hoạt động hiệu quả hơn không?

    + Tác động tài chính: Phương án này sẽ đem lại lợi nhuận ròng là bao nhiêu, nếu tính theo hiện giá thuần? Kế hoạch thời gian cho kết quả đó là gì? Liệu chúng ta có phải vay tiền để thực hiện phương án đó không?

    + Các biến số vô hình: Uy tín và danh tiếng của chúng ta có được nâng lên nếu chúng ta thực hiện phương án đã chọn không? Mức độ trung thành của khách hàng hoặc nhân viên với công ty có tăng không?

    + Thời gian: Cần bao nhiêu thời gian để thực hiện phương án này? Đâu là những nhân tố có khả năng trì hoãn và tác động của sự trì hoãn ấy đối với lịch trình?

    + Tính khả thi: Phương án này có thể đem lại hiệu quả thiết thực không? Có trở ngại nào cần phải vượt qua không? Nếu phương án đó được triển khai, liệu có thể gặp phải sự chống đối nào bên trong hoặc bên ngoài tổ chức không?

    + Nguồn lực: Chúng ta cần có bao nhiêu người để thực hiện từng phương án? Những người này đã có sẵn trong tổ chức hay chúng ta cần tuyển dụng và đào tạo? Những dự án nào khác sẽ bị ảnh hưởng, nếu các cá nhân đó được tập trung cho phương án này?

    +Đạo đức: Phương án này có hợp pháp không? Nó có đại diện cho quyền lợi của khách hàng, nhân viên và cộng đồng nơi chúng ta hoạt động không? Có gì cản trở nếu người khác biết chúng ta đang xem xét phương án này không? Trước khi đưa ra bất kỳ quyết định cuối cùng nào, chúng ta đều phải cân nhắc những yếu tố trên. Mức độ quan tâm của những biến số này khác nhau tùy theo quy mô, tính chất hoạt động của từng công ty nhưng có một yếu tố luôn chiếm vị trí quan trọng trong kinh doanh

    5 Lựa chọn và ra quyết định

    Đây là một phương pháp xuyên chức năng nhằm đạt được hai mục đích là cải thiện ý tưởng và tạo sự trao đổi giữa các cá nhân tham gia. Dựa trên nguyên tắc: Trước tiên, ý tưởng được “tung” ra cho một nhóm để xem xét – như kiểu tung một quả bóng vào sân vậy.

    Ý tưởng có thể là một chiến lược tiếp thị mới, một sản phẩm mới, hay một cách thức có thể tối ưu hóa quy trình làm việc. Bất cứ ai “bắt” được ý tưởng này đều phải tìm hiểu và cải thiện ý tưởng theo cách của mình. Giả sử ý tưởng được nêu ra là kế hoạch thăm dò thị trường cho dòng sản phẩm thiết bị lưu trữ máy tính cá nhân mới.

    Người “bắt” được ý tưởng sẽ tìm hiểu và cải thiện nó. Sau đó, người này sẽ “tung” ý tưởng đã cải thiện về lại cho nhóm, ý tưởng tiếp tục được người khác “bắt” và cải thiện thêm. Như vậy, ý tưởng sẽ vận động trong một chu kỳ cải thiện liên tục cho tới khi tất cả đều công nhận là không thể cải thiện thêm được nữa. Khi mọi người tham gia vào quy trình “bắt bóng” này, ý thức chia sẻ trách nhiệm và tận tâm với ý tưởng dần dần xuất hiện. Cảm giác đó sẽ giúp ích cho việc đưa ra quyết định sau cùng.

    1, Chia nhóm ra quyết định của bạn thành hai nhóm nhỏ A và B với số thành viên ngang nhau. Mỗi nhóm sẽ đại diện cho một ý kiến chống đối.

    2, Nhóm A đề xuất quyết định. Đề xuất này được trình bày chi tiết bao gồm các kiến nghị, giả định chính và dữ liệu hỗ trợ.

    3, Nhóm A trình bày đề xuất của mình cho nhóm B trong một cuộc họp.

    4, Nhóm B xác định một hoặc nhiều phương hướng hành động thay thế, ghi chép lại các giả định chính của mình và thu thập dữ liệu hỗ trợ.

    5, Nhóm B trình bày ý kiến của mình cho nhóm A trong cuộc họp thứ hai.

    6,Trong cuộc họp thứ ba, cả hai nhóm sẽ tranh luận về hai đề xuất và tìm kiếm các giả định chung.

    Hãy kiểm soát cuộc họp để hai nhóm tiếp tục tranh luận các phương án khác nhau dựa trên những giả định chung. Mục tiêu cuối cùng là cả hai nhóm cùng nhất trí về một đề xuất

    – Thứ ba là phương pháp kiểm soát trí tuệ:

    Tương tự như biện pháp quan điểm đối lập, biện pháp kiểm soát trí tuệ bắt đầu bằng cách chia nhóm quyết định thành hai nhóm nhỏ. Nhưng thay vì yêu cầu từng nhóm nêu lên một đề xuất đối lập, bạn hãy yêu cầu một nhóm phê bình và tìm cách cải thiện phương pháp của nhóm kia.

    6. Cách sử dụng phương pháp này:

    1, Chia nhóm của bạn thành hai nhóm nhỏ có số thành viên cân bằng. .

    2, Nhóm A đưa ra một đề xuất bằng văn bản, trong đó bao gồm các kiến nghị, giả định chính và dữ liệu hỗ trợ.

    3, Nhóm A trình bày đề xuất của mình cho nhóm B trong một cuộc họp. .

    4, Nhóm B soạn thảo một văn bản phê bình chi tiết về các giả định và đề nghị của nhóm A.

    5, Nhóm B trình bày lời phê bình của mình cho nhóm A trong cuộc họp thứ hai

    6, Nhóm A điều chỉnh lại đề xuất dựa trên ý kiến phản hồi của nhóm B.

    7, Những cuộc họp sau đó được tổ chức để hai nhóm tiếp tục phê bình và điều chỉnh đề xuất cho đến khi họ đạt được sự nhất trí.

    6 Thực hiện quyết định Chọn được giải pháp thích hợp chưa đảm bảo cho thành công mà còn đòi hỏi phải tổ chức thực hiện chu đáo giải pháp đã được chọn,nếu muốn thành công ở giai đoạn quan trọng này thì cần phải triển khai theo qui trình sau: Ra văn bản quyết định lập kế hoạch thực hiện quyết địnhtuyên truyền và giải thích quyết định thực hiện quyết định.

    – Ra văn bản quyết định : thường được thể hiện dưới dạng văn bản . Hình thức và thể thức văn bản phải tuân theo đúng quy định của pháp luật.

    – Lập kế hoạch thực hiện quyết định:Kế hoạch phải xuất phát từ việc quy định rõ giới hạn hiệu lực của quyết địnhvà phải theo đúng giới hạn đó trong quá trình thực hiện quyết định

    – Tuyên truyền và giải thích quyết định:Bắt đầu thục hiện kế hoạch thực hiện quyết định bằng việc tuyên truyền cho những người thực hiện về nội dung , ý nghĩa , tầm quan trọng của quyết định.

    – Thực hiện kế hoạch theo quyết định:Quyết định được triển khai trên thực tế, các nguồn lực được huy động , các công việc được triển khai.

    7. Đánh giá và kiểm tra kết quả:

    Kiểm tra việc thực hiên quyết định Điều chỉnh quyết định tổng kết thực hiện quyết định.

    – Kiểm tra việc thực hiện quyết định:

    + Kiểm tra tới tác động hành vi con người, nâng cao trách nhiệm của họ và động viên họ thực hiện hoạt động nằm trong kế hoạch đã vạch ra.

    +Tiến hành kiểm tra thúc đẩy sự thực hiện kịp thời.

    – Điều chỉnh quyết định:Có nhiều nguyên nhân dẫn đến phải điều chỉnh quyết định trong quá trình thực hiện chúng- các nguyên nhân đó là:

    + Có những thay đổi đột ngột do nguyên nhân bên ngoài gây ra

    + Có sai lầm nghiêm trọng bản thân quyết định, và một số nguyên nhân khác Không nên do dự trong việc điều chỉnh quyết định khi xuất hiện tình huống làm cho quyết định trước đây hết hiệu lực. Đối với quyết định được đề ra trong điều kiện bất định như thông tin không đầy đủ, cần dự kiến trước những sửa đổi trong quá trình thực hiện chúng .

    – Tổng kết thực hiện quyết định: Tất cả các quyết định có được thực hiện đầy đủ và đúng hạn hay không đều cần tổng kết các kết quả thực hiện quyết định.Trong quá trình tổng kết cần xem xét chu đáo tất cả giai đoạn công tác, phân tích rõ những thành công cũng như những sai lầm. Qua việc tổng kết thực hiện các quyết định, kinh nghiệm sẽ được tích lũy làm cơ sở cho những quyết định tương lai. Các bước để ra quyết định quản trị trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, bước đầu là tiền đề của bước 2, bước 2 bổ sung cho bước 1 và các bước còn lại.

    + Cơ sở lý luận chung về công tác quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp

    + Cơ sở lý luận về quản trị chiến lược trong kinh doanh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Quản Trị Học Cơ Bản
  • Kỹ Năng Ra Quyết Định
  • Phương Pháp Ra Quyết Định Nhóm
  • Các Phương Pháp Ra Quyết Định
  • Phương Pháp Ra Quyết Định Quản Trị Hoàn Hảo
  • Quá Trình Định Lượng Của Máy Chiết Rót

    --- Bài mới hơn ---

  • Chiết Xuất Rutin Từ Hoa Hoè
  • Tạp Chí Khoa Học Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Rotundin – Chiết Xuất Củ Bình Vôi
  • Quy Trình Chuẩn Bị Arn Cho Phân Tích
  • Hệ Thống Chiết Xuất Siêu Âm • Envitechcorp
  • Định lượng sản phẩm lỏng là chiết một thể tích nhất định sản phẩm lỏng và rót vào trong chai, bình, lọ, v.v.. Định lượng sản phẩm lỏng bằng máy được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành sản xuất thực phẩm. Khi định lượng bằng máy thì cải thiện được điều kiện vệ sinh, đảm bảo được năng suất cao và định lượng sản phẩm một cách chính xác.

    Máy định lượng chiết rót sản phẩm lỏng thường được áp dụng cho những trường hợp yêu cầu năng suất cao, hoặc các yêu cầu nghiêm ngặt về vệ sinh thực phẩm. Tùy theo tính chất của chất lỏng, các máy chiết rót sẽ khác nhau ở các bộ phận làm việc chính, các cơ cấu rót.

    Trong công nghiệp thực phẩm, máy định lượng-chiết rót sản phẩm lỏng đựơc áp dụng cho nước giải khát, nuớc trái cây, bia, rượu, nước giải khát có ga, sữa, mứt, các loại dung dịch thực phẩm cô đặc, v.v..

    Các phương pháp định lượng chủ yếu gồm có:

    Định lượng bằng bình định mức: chất lỏng được định lượng chính xác nhờ bình định mức trước khi rót vào chai.

    Định lượng bằng chiết tới mức cố định: chất lỏng được chiết tới mức cố định trong chai bằng cách chiết đầy, sau đó lấy khối thể tích bù trừ ra khỏi chai; khi đó mức lỏng trong chai sẽ sụt xuống một khoảng như nhau bất kể thể tích của các chai có bằng nhau hay không. Ngoài ra còn sử dụng ống thông hơi, chất lỏng đựoc chiết tới khi ngập miệng ống thông hơi sẽ dứng lại. Phương pháp này có độ chính xác không cao, tuỳ thuộc độ đồng đều của chai.

    Định lượng bằng cách chiết theo thời gian: cho chất lỏng chảy vào chai trong khoảng thời gian xác định, có thể xem như thể tích chất lỏng chảy là không đổi. phương pháp nầy chỉ áp dụng cho các sản phẩm có giá tri thấp, không yêu cầu độ chính xác định lượng.

    Trong ba phương pháp định lượng cơ bản: theo bình định mức, định lượng theo mức và định lượng theo thời gian chảy thì phổ biến nhất đối với sản phẩm lỏng là hai phương pháp đầu.

    Có 3 phương pháp chiết sản phẩm:

    Phương pháp rót áp suất thường: chất lỏng tự chảy vào trong chai do chênh lệch về độ cao thủy tĩnh. Tốc độ chảy chậm nên chỉ thích hợp với các chất lỏng ít nhớt.

    Phương pháp rót chân không: Nối chai với một hệ thống hút chân không, chất lỏng sẽ chảy vào trong chai do chênh áp giữa thùng chứa và áp suất trong chai. Lượng chất lỏng chảy vào chai thông thường cũng được áp dụng phương pháp bù trừ hoặc chiết đầy chai.

    Phương pháp rót đẳng áp: Phương pháp này được áp dụng cho các sản phẩm có gas như bia, nước ngọt.Trong khi rót, áp suất trong chai lớn hơn áp suất khí quyển nhằm tránh không cho ga (khí CO2) thoát khỏi chất lỏng. Với phương pháp rót đẳng áp thông thường, người ta nạp khí CO2 vào trong chai cho đến khi áp suất trong chai bằng áp suất trong bình chứa, sau đó cho sản phẩm từ bình chứa chảy vào trong chai nhờ chênh lệch độ cao.

    Máy định lượng – chiết rót sản phẩm lỏng gồm nhiều cơ cấu rót, mỗi cơ cấu rót được bố trí chiết cho 1 chai. Các cơ cấu rót có thể được bố trí thẳng hàng, làm việc cùng lúc (máy chiết có cơ cấu chiết thẳng) hoặc bố trí trên bàn quay, làm việc tuần tự (máy chiết bàn quay).

    CÁC CƠ CẤU CỦA MÁY CHIẾT RÓT

    Cơ cấu rót kiểu van

    Cơ cấu rót kiểu van là một trong các cơ cấu đơn giản nhất, nó gồm có bình lường có chia vạch, van ba ngã, ống thông hơi có thể dịch chuyển lên xuống được, ống nối để nạp đầy bình lường và ống để rót thể tích đã đinh lượng vào bao bì chứa.

    Thể tích chất lỏng đi vào trong bình lường phụ thuộc vào vị trí đầu bên dưới của ống thông

    Ở vị trí nạp, nút van ba ngã xoay nối ống dẫn chất lỏng trong bình chứa chảy vào bình lường, đẩy không khí trong bình ra qua ống thông hơi. Khi đầu dưới của ống ngập dưới mực chất lỏng thì không khí không thoát ra được nữa, chất lỏng dâng lên cao hơn miệng ống một đoạn nhỏ, rồi dừng lại. Khoảng dâng cao hơn miệng ống thông hơi phụ thuộc vào mực chất lỏng ở trong thùng chứa. Khi đó áp suất không khí trong bình bị nén tới áp suất bằng với áp suất chất lỏng có độ sâu tính từ mặt thoáng trong thùng chứa và mặt thoáng trong bình lường, chất lỏng không chảy vào bình lường được nũa. Chất lỏng trong ống thông hơi sẽ dâng lên và theo quy tắc bình thông nhau đến bằng mực chất lỏng ở trong thùng chứa.

    Ðể tháo chất lỏng vào bao bì chứa, xoay van ba ngã tới vị trí tháo. Chất lỏng trong bình định lượng sẽ theo ống dẫn chảy xuống bao bì chứa bên dưới.

    Thể tích chất lỏng trong bình có thể điều chỉnh bằng cách nâng hoặc hạ ống thông hơi xuống.Tùy theo cách quay van mà những máy dùng cơ cấu rót này thuộc loại quay tay, bán tự động và tự động. Chất lỏng chảy ra càng nhanh thì năng suất máy càng lớn

    Cơ cấu rót tới định mức

    Cơ cấu rót có bình lường và van trượt

    Cơ cấu rót có bình lường và van trượt được dùng trong ngành sữa, rượu, rượu vang, và trong nhiều lãnh vực công nghiêp thực phẩm khác để rót sản phẩm thực phẩm lỏng ít nhớt.

    Trong thùng rót có bình lường, đáy bình vặn chặt với van trượt. Phần bên trên của van trượt rỗng còn phần bên dưới đặc. Bên phần rỗng của van trượt có lỗ. Van trượt di chuyển lên xuống được bên trong một ống lót lắp cố định dưới đáy thùng. Ống lót có lỗ nối với ống dẫn sản phẩm vào bao bì.

    Một lò xo lắp ở đáy bình chứa luôn luôn giữ cho van trượt ở vị trí thấp nhất. Khi đó miệng của bình lường nằm bên dưới mặt thoáng chât lỏng trong bình chứa. Khi nâng van trượt lên một khoảng (chu kỳ rót) thì bình lường chứa chất lỏng được đưa lên cao hơn mặt thoáng trong bình chứa, đồng thời xảy ra sự trùng khít các lỗ của van trượt và ống lót, nhờ đó chất lỏng ở trong bình lường chảy vào vào bao bì chứa. Sau khi chảy hết chất lỏng thì bình lường được hạ xuống, chất lỏng lại chảy vào đầy bình lường và chu trình làm việc sẽ lặp lại.

    Lượng chất lỏng chảy vào trong bao bì bằng thể tích của bình lường, do đó khi cần thay đổi định lượng phải thay đổi bình lường khác có thể tích thích hợp.

    Cơ cấu rót đẳng áp để rót chất lỏng có nạp khí

    Ðể tránh tổn thất khi rót chất lỏng có nạp ga CO2 người ta sử dụng loại cơ cấu rót đẳng áp. Chu trình làm việc của cơ cấu rót đẳng áp gồm:

    – Nạp đầy khí vào bao bì, áp suất của khí bằng áp suất của chất lỏng đã nạp khí

    – Mở lỗ nạp chất lỏng

    – Chất lỏng chảy vào bao bì chứa không có chênh lệch áp suất mặt thoáng, chỉ chảy nhờ chênh lệch cột áp

    – Nạp vào đầy bao bì đến mức chất lỏng đã định trước hoặc theo thời gian (thông thường thì không có thiết bị định lượng )

    – Đóng lỗ nạp chất lỏng.

    Với qui trình nạp như vậy, sản phẩm trong chai còn giữ được hàm lượng khí CO2 cần thiết. Thông thường quá trình rót đẳng áp được tiến hành ở nhiệt độ thấp để giảm thiểu sự thoát CO2 ra khỏi sản phẩm lỏng.

    Cơ cấu rót chân không

    Trong cơ cấu rót chân không hiện nay dùng van bi hoặc van trượt. Trong thân của cơ cấu rót có hai rãnh. Một trong hai rãnh đó được nối với bơm chân không, rãnh còn lại nối với bình chứa sản phẩm.

    Ở vị trí đóng, van trượt (hoặc van bi) đóng cả hai đường thông với bơm chân không và sản phẩm. Khi có chai đưa vào, van được nâng lên và quá trình rót bắt đầu. Không khí trong chai được bơm chân không hút làm áp suất giảm. Khi đó sản phẩm từ bình chứa sẽ chảy vào trong chai. Quá trình diễn ra liên tục đến khi chai được nạp đầy sản phẩm. Khi đó đường ống hút khí sẽ bị ngắt khỏi bơm chân không, bên trong chai được thông áp và sản phẩm ngừng chảy vào trong chai. Tuy nhiên sẽ có một lượng nhỏ sản phẩm bị hút theo không khí, phần sản phẩm nầy sẽ được tách ra ờ bình tách lỏng đặt trước máy hút chân không. Thông thường người ta điều chỉnh lượng sản phẩm trong chai bằng cách sử dụng ống thông áp có thể dịch chuyển được hoặc thay đổi thời gian hút chân không

    Cơ cấu rót chân không được dùng để rót các sản phẩm dễ hư hỏng hoặc giảm chất lượng khi tiếp xúc với không khí, hoặc được sử dụng trong các trường hợp các sản phẩm dễ rót và yêu cầu năng suất rót lớn, thời gian rót cho một chai nhanh.

    Các tin khác cùng chuyên mục

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Phương Pháp Định Lượng Và Cơ Chế Hoạt Động Máy Chiết Rót Dung Dịch
  • Cơ Cấu Chiết Rót Đẳng Áp Và Những Điều Bạn Chưa Biết
  • Máy Chiết Rót Đẳng Áp & Nguyên Lý Hoạt Động
  • Bộ Chiết Pha Rắn (Solid
  • Một Số Phương Pháp Sản Xuất Tinh Dầu
  • Phân Tích Các Bước Trong Quá Trình Ra Quyết Định Quản Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Ra Quyết Định So Sánh Liên Tục Từng Bước Nhỏ Trong Dn
  • Biểu Hiện Của Năng Lượng Tự Nhiên (Reiki) Và Cách Sử Dụng
  • Khóa Học Reiki Nhập Môn
  • Sự Thật Về Phương Pháp Chữa Bệnh Bằng Năng Lượng Reiki
  • Reiki Healing Là Gì? Ứng Dụng Như Thế Nào? Học Ở Đâu?
  • Trong quá trình kinh doanh, nhà quản trị luôn luôn phải đưa ra quyết định tốt nhất để có thể giúp doanh nghiệp mình phát triển. Vậy ra quyết định quản trị là gì? Quy trình ra quyết định quản lý gồm những bước như thế nào? Trong bài viết này của Luận Văn 24, chúng tôi sẽ chia sẻ chi tiết những nội dung này.

    Trong mọi tổ chức luôn luôn tồn tại nhu cầu giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình quản trị. Để giải quyết các vấn đề này người ta thường phải xây dựng và lựa chọn các phương án tối ưu, đòi hỏi các nhà quản trị phải cân nhắc, lựa chọn và đi đến quyết định.

    Quyết định quản trị là hành vi sáng tạo của nhà quản trị nhằm định ra chương trình và tính chất hoạt động của tổ chức để giải quyết một vấn đề đã chín muồi, trên cơ sở sự hiểu biết các quy luật vận động khách quan của hệ thống bị quản trị và việc phân tích các thông tin của hệ thống đó.

    Các quyết định quản trị có vai trò rất quan trọng vì:

    • Các quyết định luôn luôn là sản phẩm chủ yếu và là trung tâm của mọi hoạt động về quản trị
    • Sự thành công hay thất bại của tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào các quyết định của nhà quản trị.
    • Không thể thay thế các quyết định quản trị bằng tiền bạc, vốn liếng, sự tự điều chỉnh hoặc bất cứ thứ tự động hóa bằng máy móc tinh xảo nào.

    Mỗi quyết định quản trị là một khâu trong toàn bộ hệ thống các quyết định của một tổ chức có sự tương tác lẫn nhau rất phức tạp. Không thận trọng trong việc ra các quyết định, thường có thể dẫn tới những hậu quả khôn lường.

    1.3. Chức năng của các quyết định

    Quyết định là trái tim của mọi hoạt động quản trị nó cần phải thực hiện được những chức năng chủ yếu sau:

    • Lựa chọn phương án tối ưu.
    • Định hướng.
    • Bảo đảm các yếu tố thực hiện.
    • Phối hợp hành động.
    • Chức năng động viên, cưỡng bức.
    • Bảo đảm tính thống nhất trong thực hiện.
    • Bảo đảm tính hiệu quả trong kinh doanh.
    • Bảo đảm tính hiệu lực.
    • Bảo mật.

    Quyết định là hành vi sáng tạo của chủ doanh nghiệp nhằm định ra mục tiêu, chương trình và tính chất hoạt động của doanh nghiệp, để giải quyết một vấn đề có tính cấp bách trên cơ sở hiểu biết các quy luật vận động khách quan của hệ thống bị quản trị và việc phân tích các thông tin về hiện trạng của hệ thống.

    Không nên nhầm lẫn việc ra quyết định và lập kế hoạch. Trong thực tế đôi khi quyết định được thực hiện một cách nhanh chóng, ít đòi hỏi về thời gian hay sự nỗ lực, hay có khi nó chỉ chi phối hành động trong ít phút. Trong khi đó có những quyết định quan trọng, có ảnh hưởng lâu dài đối với doanh nghiệp, đòi hỏi nhiều công sức của người ra quyết định.

    3. Các bước trong quá trình ra quyết định quản trị

    3.1. Phát hiện vấn đề, phân tích thông tin, sơ bộ đề ra nhiệm vụ

    Quyết định là sản phẩm của quá trình tư duy và tư duy sẽ chỉ xuất hiện trong hoàn cảnh có vấn đề. Việc phát hiện vấn đề trong hoạt động lãnh đạo là điều tối cần thiết để có cơ sở định hướng ban hành các quyết định phù hợp. Vấn đề được phát hiện ở đây được hiểu là sự khác biệt giữa tình trạng hiện tại và mong muốn tương lai.

    Khi xác định vấn đề cần căn cứ vào những tiêu chuẩn nhất định: mục tiêu đã được thiết lập từ trước trong kế hoạch, các chính sách, các yêu cầu của cấp trên, yêu cầu của công việc hiện tại hoặc những mâu thuẫn đang xảy ra trong quá trình điều hành chỉ huy công việc.

    Khi xác định vấn đề cần lưu ý các điều kiện như: có thuộc thẩm quyền giải quyết của chủ thể lãnh đạo không? Chủ thể lãnh đạo có thông tin đầy đủ về vấn đề không?có đầy đủ nguồn lực để giải quyết không?

    Kết thúc phần này, người lãnh đạo xác định được tên vấn đề, lọai vấn đề và mức độ cần thiết để có qưyết định hay không.

    3.2. Chọn tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả của phương án ra quyết định và xác định mục tiêu

    Người lãnh đạo cần nghiên cứu thật sâu sắc các vấn đề bằng các hình thức sau đây:

    • Điều tra nghiên cứu , thu thập và xử lý thông tin.
    • Xác định nguồn gốc của vấn đề, trả lời câu hỏi: “Vấn đề xuất hiện từ đâu? Tại sao vấn đề lại xuất hiện trong thời điểm này? Điều gì đang xảy ra?…”
    • Xác định các tiêu chí hợp pháp và hợp lý của vấn đề để có thể có sự lựa chọn phù hợp.

    Phương án là cách thức để giải quyết vấn đề, ra quyết định là lựa chọn một phương án tối ưu trong các phương án đã được dự kiến và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên. Trong quá trình này, người lãnh đạo cần liệt kê tất cả các phương án có thể và vận dụng các kỹ thuật như ra quyết định nhóm, tham khảo ý kiến của các chuyên gia, lấy ý kiến của người sẽ thực hiện quyết định…để chọn lựa phương án cuối cùng.

    3.4. Phân tích đánh giá các phương án và so sánh các phương án theo tiêu chuẩn và mục tiêu đã xác định

    Phân tích nghĩa là đánh giá từng phương án theo các tiêu chí quyết định. Phương án được lựa chọn là phương án tối ưu bảo đảm yêu cầu của tính hợp pháp và hợp lý.

    Hoạch định các phương án giải quyết vấn đề:

    • Liệt kê các phương án có thể có để giải quyết nhiệm vụ của vấn đề trong tình huống quản lý.
    • Phân tích ưu điểm, khuyết điểm của từng phương án và định lượng bằng điểm số.
    • Lập bảng so sánh lợi thế của từng phương án và xếp thứ hạng ưu tiên.

    3.5. Lựa chọn phương án tối ưu và hình thức ra quyết định

    Lựa chọn phương án tối ưu theo nhận thức chủ quan của người lãnh đạo sau khi tham khảo ý kiến của nhiều đối tượng và đối chiếu với các thông tin đã biết. Khi ra quyết định quản lý, người lãnh đạo phải kết hợp phương án tối ưu với điều kiện cụ thể ngay trong thời điểm ra quyết định quản lý.

    Thông qua quyết định là quá trình đưa dự thảo quyết định thành quyết định chính thức, là chính thức hóa quyết định chủ quan của người lãnh đạo. Việc thông qua quyết định có thể được tiến hành theo nhiều phương pháp khác nhau: thông qua tập thể hoặc thông qua quyền hạn của thủ trưởng nhưng quá trình này bị phụ thuộc rất nhiều vào bản lĩnh, tài năng của người lãnh đạo.

    Đây là bước cuối cùng của việc ra quyết định sau khi khẳng định phương án tối ưu. Người quản lý phải trực tiếp ra quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định đó. Vấn đề còn lại là việc tổ chức thực hiện để quyết định đi vào cuộc sống.

    6 bước trong quy trình ra quyết định quản lý ở trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, và để có được 1 quyết định đúng đắn nhất, nhà quản lý nên thực hiện qua 6 bước nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Ra Quyết Định Thùng Rác (Garbage Can Model)
  • Quyết Định Cá Nhân Và Quyết Định Nhóm
  • 5 Bước Ra Quyết Định Hiệu Quả Cho Nhà Quản Trị
  • 6 Yếu Tố Quyết Định Chi Phí Cắt Bao Quy Đầu Hết Bao Nhiêu Tiền
  • Hóa Nhiệt Luyện Là Gì? Có Bao Nhiêu Phương Pháp?
  • Bí Mật Của Quá Trình Chuyển Hóa Trong Cơ Thể

    --- Bài mới hơn ---

  • Bạn Biết Gì Về Chuyển Hóa Các Chất Dinh Dưỡng Trong Cơ Thể?
  • Bài 1: Quy Nạp Và Diễn Dịch
  • Phương Pháp Tiếp Cận Dựa Trên Quyền Con Người Và Khả Năng Áp Dụng Vào Hoạt Động Xây Dựng Chính Sách, Pháp Luật Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Bài Giảng Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Quản Lý Kinh Tế: Chương 5
  • Hướng Dẫn Bạn Cách Làm Tiểu Luận Quản Trị Chiến Lược
  • Quá trình chuyển hóa đặc biệt là chuyển hóa lúc nghỉ giống như một bộ máy của cơ thể. Đó là năng lượng bạn đốt cháy chỉ giữ cho tim bạn đập, phổi bạn thở và các cơ quan khác hoạt động.

    Nếu bạn không phải là vận động viên thực thụ thì chuyển hóa lúc nghỉ chỉ đạt từ 60 cho đến 75% lượng calo mà bạn đốt cháy mỗi ngày và con số này cũng rất khác nhau ở mỗi người. Nếu có hiểu biết về quá trình chuyển hóa cơ bản, bạn có thể tính được lượng thức ăn bạn ăn vào mà không làm tăng cân.

    Những người có tỷ lệ chuyển hóa cơ bản cao tự nhiên có thể ăn nhiều hơn mà vẫn không tăng bị tăng cân hơn những người có tiến độ tiêu thụ calo chậm hơn. Nghe có vẻ hay đấy chứ? Bạn đã có một chiếc máy tuyệt vời đốt cháy hàng trăng calo một này mà không cần đứng lên ngồi xuống.

    Giấc ngủ

    Các nhà nghiên cứu đã biết rằng một giấc ngủ ngắn sẽ dẫn tới việc tăng cân. Những người ngủ không đủ 6 tiếng vào ban đêm thường dẫn tới tình trạng thèm ăn và thèm đồ ngọt.

    Hóa ra, việc thèm ăn không chỉ là vấn đề duy nhất khi bạn ngủ không đủ, việc đó còn khiến chuyển hóa cơ bản chậm hơn.

    Mặc dù những người có giấc ngủ hạn chế thường cảm thấy năng động và tỉnh táo trong nhiều giờ của một ngày nhưng chuyển hóa cơ bản có thể giảm 50-60 calo một ngày. Có thể đây không phải là lượng calo lớn nhưng nếu cộng lại trong nhiều ngày thì sẽ là một con số lớn.

    Protein

    Cơ thể chúng ta dành nhiều calo hơn cho việc tiêu hóa protein hơn là cho cacbonhydrat và chất béo. Như vậy sẽ tốt hơn nếu bạn ăn nhiều protein, nhưng người ta lại chưa chắc về việc ăn nhiều protein hơn có thể thúc đẩy tăng chuyển hóa cơ bản hay không. Đó mới chỉ là lý thuyết mà thôi. Một số nghiên cứu cho thấy nếu như lượng protein tăng thêm một chút thì chuyển hóa cơ bản tăng lên, nhưng nếu tăng nhiều thì lại không thấy chuyển hóa cơ bản tăng.

    Chế độ ăn keto có thể giúp bạn có calo từ mỡ thay vì lấy calo từ đường như bình thường. Lượng calo được giải phóng ra từ chất béo và protein nhưng lại mất nhiều thời gian hơn.

    Một nghiên cứu gần đây trên bệnh nhân thừa cân và béo phì theo hai chế độ ăn ít calo khác nhau. Chế độ đầu tiên có lượng carb nhiều hơn và lượng chất béo thấp hơn. Chế độ ăn thứ hai là chế độ keto – lượng chất béo cao nhưng lượng carb thấp. Protein ở cả hai chế độ là như nhau. Các đối tượng ở cả hai chế độ đều giảm cân nhưng chuyển hóa cơ bản của chế độ keto thì cao hơn một chút.

    Vì vậy một thông điệp cho những ai đang muốn giảm cân là bạn không cần cắt giảm lượng protein mà tập trung vào cắt giảm lượng calo..

    Giảm cân

    Khi bạn giảm cân có thể chúng ta cố gắng chống chọi với việc tăng cân trở lại.

    Bạn càng kéo trọng lượng của bạn xuống thì cơ thể của bạn càng cố gắng chống lại. Một cách cơ thể chống lại sự mất cân bằng đó là làm chậm lại sự trao đổi chất, càng giảm cân nhanh và nhiều thì chuyển hóa cơ bản càng chậm lại

    Một loạt gần đây các nghiên cứu đã chỉ ra chính xác cách chuyển hóa cơ bản chậm lại một cách mạnh mẽ sau khi giảm cân. Những người béo phì được luyện tập thể dục lên tới 4 tiếng rưỡi mỗi ngày, và chế độ ăn nghiêm ngặt để giảm cân nhanh chóng và sau 7 tháng họ đã bắt đầu giảm cân. Nhưng giai đoạn sau khi cân nặng giảm đi chậm dần thì người ta đo được chuyển hóa cơ bản cũng giảm đi tới 600 calo một ngày. Đây là điều mà các nhà khoa học không thể ngờ tới và họ đã nghĩ tới giả thuyết là hoc môn leptin có thể đóng vai trò trong việc này.

    Như vậy việc giảm cân nhanh chóng không hề tốt như nhiều người nghĩ. Các nhà khoa học đang cố gắng thuyết phục mọi người rằnggiảm cân một cách từ từ sẽ sẽ là cách giảm cân bền vững hơn so với việc cắt giảm lượng calo đáng kể và vắt kiệt sức trong phòng tập.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sơ Lược Về Nghiên Cứu Quan Hệ Quốc Tế (Phần 1)
  • Phật Giáo: Lập Trường Và Phương Pháp Nghiên Cứu Phật Học
  • Giải Quyết Bài Toán Ô Nhiễm Nước
  • Nghiên Cứu Về Ô Nhiễm Nước Ngầm Của Nhà Khoa Học Việt Nam Và Mỹ Được Công Bố Trên Nature
  • Bật Mí Những Phương Pháp Nghiên Cứu Odds Dành Cho Dân Cược
  • Phương Pháp Chuyên Gia (Professional Solution) Sử Dụng Trong Quá Trình Quyết Định Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đáp Án Trắc Nghiệm Tập Huấn Môn Toán Sách Chân Trời Sáng Tạo
  • Khái Niệm Về Phương Pháp Dạy Học
  • Dạy Con Không Đòn Roi
  • Phương Pháp Dạy Con Không Đòn Roi
  • Phương Pháp Diện Chẩn Là Gì? Chữa Bệnh Bằng Phương Pháp Diện Chẩn Như Thế Nào?
  • Khái niệm

    Phương pháp chuyên gia trong tiếng Anh được gọi là Professional solution.

    Phương pháp chuyên gia sử dụng trong quá trình quyết định là phương pháp dựa trên các ý kiến chuyên gia để thực hiện các bước của quá trình quyết định.

    Chuyên gia là người đưa ra các kiến nghị hay lời khuyên cho người khác. Phương pháp chuyên gia dựa trên hoạt động sáng tạo của các chuyên gia hay của các nhà phân tích.

    Phương pháp này tập hợp được các học giả, các chuyên gia giỏi, các nhà phân tích chuyên nghiệp, sử dụng được thành quả khoa học và kinh nghiệm thực tiễn để ra quyết định.

    Các bước thực hiện

    Phương pháp chuyên gia được sử dụng trong quá trình quyết định quản lí được thống nhất theo các bước cơ bản sau:

    – Thành lập các nhóm chuyên gia

    Muốn thu được lời khuyên có giá trị cần thu hút các chuyên gia giỏi. Các chuyên gia tham gia vào quá trình quyết định cần đáp ứng các tiêu chuẩn:

    + Có trình độ chuyên môn sâu, có kinh nghiệm rộng trên lĩnh vực cần ra quyết định

    + Cố định hướng tâm lí hướng về tương lai

    + Am hiểu sự vận động và phát triển của vấn đề cần giải quyết trên mọi phương diện và góc độ

    + Có ý thức độc lập suy nghĩ và có ý thức tiếp thu ý kiến của người khác

    + Có năng lực phân tích và tổng hợp

    Tổ chức lấy ý kiến của của các chuyên gia

    Đây là công việc quan trọng nhất của phương pháp chuyên gia và cũng là hoạt động khó khăn nhất. Để lấy ý kiến chuyên gia, nhóm chuyên gia tổng hợp cần tiến hành các hoạt động sau:

    Xây dựng nội dung xin ý kiến.

    – Tổ chức lấy ý kiến của các chuyên gia

    Phụ thuộc vào hình thức tổ chức lấy ý kiến, có thể phân loại các phương pháp chuyên gia thành các phương pháp sau:

    + Phương pháp phỏng vấn: Là phương pháp nhanh nhất, đơn giản nhất để nhận được ý kiến của các chuyên gia (những người được phỏng vấn) về các xu thế khác nhau trong sự tồn tại, vận động của các vấn đề kinh tế – xã hội.

    Những cuộc phỏng vấn trực tiếp (hay thông qua điện thoại, mạng internet…) được tiến hành nhanh, dựa vào một sườn câu hỏi mang tính năng động cao, trong không khí thoải mái… có thể cho ta những ý kiến rất bổ ích tuy mang nhiều yếu tố cảm giác.

    + Phương pháp hội thảo: Là phương pháp phổ biến để tìm ý kiến các giải pháp giải quyết một vấn đề quan trọng nào đó. Các cuộc hội thảo cho phép các nhà khoa học tự do trình bầy những suy nghĩ khác nhau của mình, do đó qua hội thảo có thể nhận được rất nhiều thông tin theo những góc độ khác nhau.

    Hội thảo là phương pháp vận dụng trí tuệ tập thể để giải quyết những vấn đề quan trọng, vì thế một không khí gợi mở, có dẫn dắt, có tổng kết, có suy nghĩ của những người tham gia sẽ đem lai hiệu quả cao nhất cho hội thảo.

    + Phương pháp tấn công cân não: Là hình thức tọa đàm thẳng thắn giữa các chuyên gia nhằm góp ý cho các phương án quyết định. Số người tham gia khoảng 5-12 người là thích hợp.

    Người chủ trì tọa đàm không nêu rõ mục đích cuộc tọa đàm, chỉ nêu một mặt nào đó của vấn đề chung để các chuyên gia phát biểu ý kiến của mình; trong cuộc tọa đàm không bình luận ý kiến người khác.

    Người chủ trì (đặc biệt là lãnh đạo cao cấp) không phát biểu ý kiến để tránh ảnh hưởng đến không khí của buổi tọa đàm, chỉ lắng nghe một cách khách quan, thu nhận có mục đích những điều bổ ích đối với việc đưa ra quyết định.

    Ưu điểm của phương pháp này là có thể trao đổi trực tiếp thông tin, phát huy đầy đủ tư duy sáng tạo. Theo thống kê, vận dụng phương pháp tấn công não so với phương pháp hội thảo nói chung hiệu quả có thể đạt tới 70%.

    + Phương pháp Coturn do người Mỹ phát minh năm 1964, cũng có điểm giống phương pháp tấn công cân não. Người chủ trì bắt đầu hội nghị để mọi người có thể bàn bạc về vấn đề và phương án giải quyết. Đến thời điểm chín muồi người quyết định sẽ nêu rõ vấn đề để hội nghị thảo luận sâu hơn.

    + Phương pháp đối chiếu cũng là một ki thuật tham mưu quan trọng. Người đưa ra quyết định đưa ra các phương án khác nhau cho những nhóm khác nhau soạn thảo, sau đó triển khai tranh luận, chỉ ra những khiếm khuyết của phương án của các nhóm nhằm bộc lộ đầy đủ các mâu thuẫn.

    Hoặc trước một phương án cố ý dựng lên mặt đối lập để phê phán, bác bỏ, chủ yếu tìm những tình huống có thể xẩy ra, cân nhắc nghiêm túc điều kiện có lợi và bất lợi, làm cho phương án ngày càng hoàn thiện hơn.

    + Phương pháp Delphi: có nguồn gốc từ Hy Lạp, là một trong những phương pháp sử dụng chuyên gia cho quá trình ra quyết định, được công ty Rand của Mỹ phát triển vào cuối những năm 1950. Với các doanh nghiệp, Delphi là phương pháp nghiên cứu và dự báo những cơ hội về phát minh công nghệ mới.

    Quá trình dự đoán bắt đầu khi cơ quan dự báo gửi những dữ liệu cần thiết về vấn đề cần nghiên cứu và bảng câu hỏi cho một nhóm chuyên gia được lựa chọn.

    Sau khi nhận được trả lời, cơ quan dự báo sẽ tập trung các ý kiến và gửi lại các chuyên gia với lời đề nghị họ xem xét và điều chỉnh lại ý kiến của mình.

    Sau nhiều lần trao đổi, ý kiến các chuyên gia dần dần thống nhất. Do sử dụng trình tự phân tán – tập trung – phân tán, tranh thủ ý kiến theo hình thức nặc danh, kết luận thu được đáng tin cậy.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấy Que Tránh Thai Implanon
  • Phương Pháp Cấy Que Tránh Thai Là Gì?
  • Một Số Phương Pháp Chọn Mẫu Trong Nghiên Cứu Khoa Học
  • Chủ Đề 3: Phương Pháp Cô Lập M Trong Khảo Sát Tính Đơn Điệu Của Hàm Số
  • Phương Pháp Cô Lập M Trong Khảo Sát Tính Đơn Điệu Của Hàm Số
  • Quyết Định Cá Nhân Và Quyết Định Nhóm

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Ra Quyết Định Thùng Rác (Garbage Can Model)
  • Phân Tích Các Bước Trong Quá Trình Ra Quyết Định Quản Trị
  • Phương Pháp Ra Quyết Định So Sánh Liên Tục Từng Bước Nhỏ Trong Dn
  • Biểu Hiện Của Năng Lượng Tự Nhiên (Reiki) Và Cách Sử Dụng
  • Khóa Học Reiki Nhập Môn
  • Kết quả

    Quyết định cá nhân và quyết định nhóm:

    Một ưu thế chủ yếu trong việc ra quyết định cá nhân là tốc độ. Một cá nhân không cần phải triệu tập một hoặc nhiều cuộc họp để bàn về những khả năng lựa chọn khác nhau. Vì vậy, khi một quyết định cần được đưa ra nhanh chóng, cá nhân sẽ có lợi thế.

    Những quyết định cá nhân cũng có trách nhiệm giải trình rõ ràng. Chúng ta có thể biết được ai là người ra quyết định và do đó, biết được ai là người chịu trách nhiệm về kết quả của quyết định được ban hành. Trách nhiệm giải trình thường mơ hồ hơn trong các quyết định nhóm vì các quyết định này là ý kiến tập thể, được tập thể tán thành và thông qua.

    Lợi thế thứ ba của các quyết định cá nhân là sự nhất quán. Các quyết định nhóm có thể gặp phải tình trạng tranh giành quyền lực và không đồng nhất quan điểm trong nội bộ nhóm. Mặc dù các cá nhân không thể nhất quán một cách triệt để trong việc ra quyết định của mình, song dù sao họ cũng thường nhất quán hơn so với các nhóm.

    Các nhóm thường tạo ra những thông tin và kiến thức toàn diện hơn trong quá trình ra quyết định. Do có nhiều thông tin hơn, nên tính đa dạng của cá quan điểm cũng tăng, vì vậy người ta có thể cân nhắc nhiều phương thức và khả năng lựa chọn hơn.

    Thực tế cho thấy rằng, một nhóm luôn hoạt động tốt hơn một cá nhân, dù đó là cá nhân xuất sắc nhất. Vì vậy, các nhóm thường đưa ra những quyết định có chất lương cao hơn. Cuối cùng, các nhóm thường đi đến sự chấp nhận mạnh mẽ hơn đối với một giải pháp.

    Tùy từng hoàn cảnh mà nhà quản lý nên áp dụng hình thức ra quyết định phù hợp. Chẳng hạn, các quyết định cá nhân được áp dụng khi tính cấp thiết của chúng cao, quyết định đó không quan trọng và không đòi hỏi có sự cam kết của cấp dưới trong việc thực hiện và đảm bảo sự thành công.

    Xét tổng thể, dù là cá nhân hay nhóm thì quyết định đưa ra cũng nên cân nhắc giữa tính hiệu lực với tính hiệu quả. Về tính hiệu lực, các nhóm thường ưu việt hơn. Chúng tạo ra nhiều khả năng lựa chọn hơn, sáng tạo hơn, chính xác hơn, và đưa ra những quyết định có chất lượng cao hơn so với các cá nhân. Nhưng các cá nhân lại hiệu quả hơn các nhóm. Tính hiệu quả của nhóm kém hơn có thể vì phải mất nhiều thời gian và nguồn lực hơn mới đạt được giải pháp.

    (quantri.vn biên tập và số hóa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Bước Ra Quyết Định Hiệu Quả Cho Nhà Quản Trị
  • 6 Yếu Tố Quyết Định Chi Phí Cắt Bao Quy Đầu Hết Bao Nhiêu Tiền
  • Hóa Nhiệt Luyện Là Gì? Có Bao Nhiêu Phương Pháp?
  • 6 Bước Giải Quyết Vấn Đề Và Ra Quyết Định
  • Để Tham Vấn Tâm Lý Hiệu Quả
  • Nguồn Gốc Con Người, Thuyết Tiến Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Quần Áo Đang Mặc Lại Bị Mốc, Mẹo Hay Đánh Bay Những Hạt Mốc Trên Quần Áo “sạch Tinh Như Áo Mới”
  • 13 Cách Tẩy Vết Mốc Trên Quần Áo Trắng, Màu Cực Hiệu Quả
  • 4 Nguyên Nhân Phổ Biến Gây Mốc Quần Áo
  • Hướng Dẫn Cách Tẩy Mốc Quần Áo Cực Đơn Giản Tại Nhà
  • Tổng Hợp Cách Tẩy Quần Áo Trắng Bị Mốc Lau Ngày & Ố Vàng
  • Với sự hiểu biết hiện nay về nguồn gốc con người trên trái đất thì Thuyết Tiến Hóa ngày nay là một sự kiện vững chắc đã được xác nhận bởi nhiều bộ môn khoa học, và lý trí. Thuyết Tiến Hóa mà chúng ta hiểu ngày nay là sự tổng hợp của hàng núi những bằng chứng trong nhiều bộ môn khoa học như Sinh Học, Sinh Hóa Học, Cổ Sinh Vật Học, Nhân Chủng Học, Di Truyền Học, Khảo Cổ Học, Vật Lý Học, Vũ Trụ Học v..v.., có những bộ môn mà trong thời của Darwin chưa được khám phá ra. Xin đừng nhầm lẫn, cho rằng Thuyết Tiến Hóa là của riêng Charles Darwin. Tư tưởng Tiến Hóa đã có trong nhân loại từ lâu. Nhưng không ai có thể phủ nhận là Charles Darwin đã lập thuyết Tiến Hóa một cách khoa học và từ đó, thuyết Tiến Hóa đã được kiểm chứng và phát triển như ngày nay.

    Tuy nhiên, những thắc mắc muôn đời như: con người từ đâu mà ra, sau khi chết sẽ đi về đâu v..v.. vẫn là những mối thắc mắc của con người, ngay trong thời đại này. Và vì vậy, con người, trải qua nhiều thế hệ đã đưa ra những giải đáp khác nhau, tùy theo mỗi nền văn hóa. Những giải đáp thuộc lãnh vực siêu hình dần dần mất đi tính cách thuyết phục, vì không còn hợp với trình độ hiểu biết của con người ngày nay. Tri thức con người phát triển và tiến bộ, từ đó khoa học cũng phát triển theo và con người không còn tin vào những thuyết lý không thể kiểm chứng. Con người phải nhờ đến khoa học để tìm hiểu về vũ trụ, nhân sinh. Khoa học không phản đối niềm tin của bất cứ ai, mà chỉ tìm cách giải thích những thắc mắc trong thế giới vật lý của chúng ta, và khoa học sẵn sàng loại bỏ những giải thích nào không còn hợp thời, không còn đúng với những khám phá mới trong khoa học.

    Cho tới ngày nay, tuyệt đại đa số trong giới khoa học đã chấp nhận thuyết Big Bang nói về nguồn gốc của vũ trụ, và thuyết Tiến Hóa nói về nguồn gốc của con người. Chấp nhận cho đến khi khám phá ra những bằng chứng mới chứng tỏ toàn bộ thuyết Big Bang và toàn bộ Thuyết Tiến Hóa không còn đúng. Các khoa học gia công nhận là trong thuyết Big Bang cũng như trong Thuyết Tiến Hóa còn có một số nhỏ những chi tiết chưa giải đáp được. Nhưng xét về toàn bộ thì những thuyết này có tính cách thuyết phục nhất và các khoa học gia hi vọng trong tương lai, gần hay xa còn là một ẩn số, họ sẽ tìm ra những manh mối để giải thích dứt khoát chúng. Những khám phá mới trong nhiều bộ môn khoa học đã chứng minh được rằng: Không còn nghi ngờ gì nữa, loài người chúng ta đã tiến hóa từ các dạng sống thấp hơn, tất cả đều có chung một nguồn gốc xa, rất xa, và do đó liên hệ đến mọi sinh vật trên trái đất, và tất nhiên liên hệ tới cả vũ trụ này.

    Sau Darwin thì những đóng góp trong mọi lãnh vực khoa học để kiện toàn thuyết Tiến Hóa thì quá nhiều, không kể sao cho hết. Vài người được biết đến nhiều nhất là T eilhard de Chardin, Linh mục dòng Tên; Ernst Mayr, Giáo sư danh dự đại học Harvard; Stephen Jay Gould, Giáo sư các môn Cổ Sinh Vật Học và Lịch Sử Khoa Học, đại học Harvard; Richard Leaky, nhà Cổ Sinh Vật Học, Giám đốc Chương trình nghiên cứu những sự sống hoang dại ở Kenya, và hàng trăm khoa học gia khác trong đủ mọi bộ môn. Thuyết Tiến Hóa đã được kiểm chứng qua hàng núi những bằng chứng trong hầu hết các bộ môn khoa học. Nhưng căn bản thuyết Tiến Hóa của Darwin về loài người là Tiến Hóa Sinh Học.

    Như chúng ta đã biết, nhiều tư tưởng Tiến Hóa đã có từ trước thời Darwin nhung phải tới năm 1859 Darwin mới đưa ra nền tảng khoa học của thuyết Tiến Hóa được trình bày trong cuốn Về Nguồn Gốc Các Chủng Loại Do Chọn Lọc Tự Nhiên (On the Origin of Species By Means of Natural Selection) và sau đó cuốn Nguồn Gốc Con Người (The Descent of Man) năm 1871. Nền tảng khoa học của thuyết Tiến Hóa đã trở thành một cột trụ mà hầu hết các công cuộc khảo cứu trong nhiều bộ môn khoa học đã xoay quanh nó, và càng ngày càng làm cho nền tảng này thêm vững chắc, đúng như nhận định vô cùng chính xác của Linh mục dòng Tên Teilhard de Chardin trong cuốn ” The Phenomenon of Man”: Thuyết Tiến Hóa là một điều kiện tổng quát mà mọi thuyết, mọi giả thuyết, mọi hệ thống

    Then chốt thuyết Tiến Hóa của nhà lập thuyết Charles Darwin là ở phần cuối tên cuốn sách: Về Nguồn Gốc Các Chủng Loại Do Chọn Lọc Tự Nhiên (On the Origin of Species By Means of Natural Selection): “Chọn Lọc Tự Nhiên”. Có lẽ tôi cần phải giải thích chút ít về ý nghĩa của “Chọn Lọc Tự Nhiên”. “Chọn Lọc Tự Nhiên” đặt căn bản trên bốn đề xuất:

    1. Các sinh vật sinh sản con cái, chỉ có một số có thể sống còn và tiếp tục truyền giống.

    2. Những sinh vật sống còn có khuynh hướng thích ứng hơn với những hoàn cảnh xung quanh.

    Trong cuốn Nguồn Gốc Con Người (The Descent of Man), Charles Darwin viết:

    Kết luận chính đạt tới trong tác phẩm này, rằng con người có nguồn gốc từ một dạng sống nào đó thấp hơn, sẽ làm cho nhiều người rất khó chịu, tôi rất tiếc phải nghĩ như vậy. Nhưng không còn nghi ngờ gì nữa là chúng ta đã là hậu duệ của những kẻ mọi rợ. 2

    (Poussières d’étoiles, nous partageons la même histoire cosmique avec les lions des savanes et les fleurs de lavande).

    Sự sai biệt còn lại, vào khoảng 0.1% , trong DNA là nguồn gốc của sự khác biệt cá nhân – thí dụ màu mắt hay cơ thể dễ bị nhiễm bệnh, và có những DNA vô dụng, không có một tác dụng gì. Bởi vậy, Phillip Kitcher, Giáo sư Đại học Columbia, đã viết: “Rất nhiều DNA trong những tế bào không cần đến – chỉ là đồ vô dụng. Nếu đó là sự “thiết kế thông minh” [của Thượng đế] thì Thượng đế cần phải trở lại trường học” (A lot of the DNA in there is not needed – it’s junk. If it’s “intelligently designed”, then God needs to go back to school)

    1. Giáo Hoàng John Paul II phát biểu năm 1996:

    2. Linh mục dòng Tên Teilhard de Chardin trong The Phenomenon of Man:

    3. Mục sư Ernie Bringas trong cuốn: Going By The Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority:

    4. Giám mục John Shelby Spong trong cuốn Why Christianity Must Change or Die:

    6. James Birx trong Interpting Evolution:

    Tiến Hóa là một sự kiện vững chắc đã được cả khoa học và lý trí xác nhận; nhân loại chúng ta thì nối kết với sự sống, lịch sử của trái đất, thiên hà này (giải ngân hà mà thái dương hệ, trong đó có trái đất, nằm trong đó), và cả vũ trụ.

    13.7 Tỷ Năm Trước:

    13.5 Tỷ Năm Trước:

    5 Tỷ Năm Trước:

    4 Tỷ Năm trước:

    3,9 Tỷ Năm trước:

    1 Tỷ Năm Trước:

    Những tế bào rong, rêu (algae) sống cùng với nhau, họp thành loại thực vật đầu tiên. Sự sống chung này khiến cho mỗi tế bào có một nhiệm vụ riêng biết. Để cho những nhiệm vụ này không lập đi lập lại, những tế bào phát sinh ra những chất hormone có thể liên lạc với nhau.

    700 Triệu Năm trước:

    Nhiều sinh vật đa tế bào phức tạp được tiến hóa thành, trong đó gồm có con sứa (jellyfish), sinh vật này phát triển những bắp thịt và thần kinh và các tế bào có thể liên lạc với nhau hữu hiệu hơn.

    570 Triệu Năm Trước:

    500 Triệu Năm Trước:

    470 Triệu Năm trước:

    Dưới dạng cổ rêu, những dạng sống đầu tiên rời nước và sống trên đất liền.

    100 Triệu Năm Trước:

    100000 Năm Trước:

    4. Những người Âu Châu đầu tiên: Những nhà cổ sinh vật – nhân chủng học từ lâu đã nghĩ rằng người Âu Châu theo đường từ Bắc Phi qua Levant. Nhưng những dữ kiện di truyền chứng tỏ rằng DNA của những người Tây Âu lai Á (Western Eurasians) thì giống DNA của những người Ấn Độ. Rất có thể là con người đã di dân từ Á Châu đến Âu Châu trong khoảng từ 40000 đến 30000 năm về trước.

    Thế giới đã trở thành cái gì nếu không có những người không muốn tin vào Ki Tô Giáo? 10

    Angela, Piero & Alberto, The Extraordinary Story of Life on Earth, Prometheus Books, New York , 1996.

    Birx, James, Interpting Evolution: Darwin & Teilhard De Chardin, Prometheus Books, New York, 1991

    Davis, Bernard D., The Genetic Revolution, The John Hopkins University Press, Baltimore, 1991.

    Gould, Stephen Jay, General Editor, The Book of Life, W.W. Norton & Company, New York, 2001

    Gribbin, John, In The Beginning: After COBE & Before The Big Bang, Little Brown & Company, New York, 1993

    Gribbin, John & Cherfas, Jeremy, The First Chimpanzee: In Search of Human Origins, Barnes & Noble Books, New York, 2001.

    Leaky, Richard & Lewin, Roger, Origins Reconsidered: In Search of What Makes Us Human, Doubleday, New York, 1992.

    Liebes, Sidney & Sahtouris, Elisabeth & Swimme, Brian, A Walk Through Time: From Stardust to Us, The Evolution of Life on Earth, John Wiley & Sons, Inc., New York, 1998.

    Lockley, Martin, The Eternal Trail: A Tracker Looks at Evolution, Perseus Books, Reading, Massachusetts, 1999.

    Mayr, Ernst, What Evolution Is?, Perseus Books, New York, 2001.

    Ridley, Matt, Genome: The Autobiography of a Species in 23 Chapters, HarperCollinsPublishers, New York, 1999.

    Shapiro, Robert, Origins: A Skeptic Guide To The Creation of Life on Earth, Bantam Books, New York, 1987.

    Singh, Simon, Big Bang: The Origin of the Universe, Fourth Estate, New York, 2004.

    Wade, Nicholas, Before The Dawn: Recovering The Lost History of Our Ancestors, The Penguin Press, New York, 2006.

    Zimmer, Carl, Evolution: The Triumph of an Idea, HarperCollinsPublishers, New York, 2001.

    *

    * *

    1. George Bernard Shaw in a toast to Einstein at a black-tie banquet in 1930: Belief in (Christian) God explains everything about the material universe, therefore it explains nothing…Religion is always right, Religion solves every problem and thereby abolishes problems from the universe…. Science is the very opposite. Science is always wrong. It never solves a problem without raising ten more problems

    2. The main conclusion arrived at in this work, namely, that man is descended from some lowly organized forms, will, I regret to think, be highly distasteful to many. But there can hardly be a doubt that we are descended from barbarians.

    4. Is evolution a theory, a system or a hypothesis? It is much more: it is a general condition to which all theories, all hypotheses, all systems must bow and which they must satisfy henceforth if they are to be thinkable and true. Evolution is a light illuminating all facts, a curve that all lines must follow…

    5. The theory of evolution is among the most elegant and fruitful structures of human thought… All scientific disciplines continue to support and verify the concept of evolution. The theory of evolution, like the theory of relativity, is no longer a “theory” in the popular sense, but a scientific principle based on considerable, indisputable evidence.

    6. The theory of evolution made Adam and Eve legendary at best. Evolution was not easy for the religious establishment to accept, and still voices are raised today in remote areas of the world to resit it. Those voices will never succeed. Human life clearly evolved over a four-and-a-half-to-five-billion-year process. There were no first parents, and so the primeval act of disobedience on the part of first parents could not possibly have affected the whole human race. The myth was thus dealt a blow, and the monolithic story of salvation built by Christian apologists over the age began to totter.

    7. Evolution is not merely an idea, a theory, or a concept, but is the name of a process in nature, the occurrence of which can be documented by mountains of evidence that nobody has been able to chúng tôi is now actually misleading to refer to evolution as a theory, considering the massive evidence that has been discovered over the last 140 years documenting its existence. Evolution is no longer a theory, it is simply a fact.

    8. Evolution is an established fact supported by both science and reason; our own species is linked to life, earth history, this galaxy, and the universe itself.

    Is there a modern theology that embraces both a cosmic perspective and the evolutionary framework within an openended and myth-free worldview? Eventually, the blind dogma of religious faith with its outmoded stories and myopic values wears very thin, indeed; it is simply wishful thinking to believe in human immortality and a spiritual cosmos.

    9. Science, as we professionals always point out, cannot establish absolute truth; thus, our conclusions must always remain tentative. But this healthy skepticism need not be extended to the point of nihilism, and we may surely state that some facts has been ascertained with sufficient confidence that we may designate them as “true” in any legitimate, vernacular meaning of the world.

    Perhaps I cannot be absolutely certain that the earth is round rather than flat, but the roughly spherical shape of our planet has been sufficiently well verified that I need not grant the “flat earth society” a platform of equal time, or even any time at all, in my science class.

    Evolution, the basic organizing concept of all the biological sciences, has been validated to an equally high degree, and may therefore be designated as true or factual.

    10. This century will be called Darwin’s century. He was one of the greatest men who ever touched this globe. He has explained more of the phenomena of life than all of the Christian religious teachers. Write the name of Charles Darwin on the one hand and the name of every theologian who ever lived on the other, and from that name has come more light to the world than from all those. His theory of evolution, his theory of the survival of the fittest, his theory of the origin of species, has removed in every thinking mind the last vestige of Christianity. He has not only stated, but he has demonstrated, that the inspired writer knew nothing of this world, nothing of the origin of man, nothing of geology, nothing of astronomy, nothing of nature; that the Bible is a book written by ignorance – at the instigation of fear. Think of the men who replied to him. The more ignorant he was the more cheerfully he undertook the task. He was held up to the ridicule, the scorn and contempt of the Christian world, and yet when he died, England was proud to put his dust with that of her noblest and her grandest. Charles Darwin conquered the intellectual world, and his theories are now accepted facts.

    Charls Darwin destroyed the foundation of Christianity. There is nothing left but faith in what we know could not and did not happen. The Christian religion and science are enemies. One is a superstition; the other is a fact. One rests upon the false, the other upon the true. One is the result of fear and faith, the other of investigation and reason.

    Let us be honest. Did all the priests of Rome increase the mental wealth of man as much as Bruno? Did all the priests of France do as great a work for the civilization as Diderot and Voltaire? Did all the ministers of Scotland add as much to the sum of human knowledge as David Hume? Have all the clergymen, friars, ministers, priests, bishops, cardinals and popes, from the day of Pentecost to the last election, done as much for human liberty as Thomas Paine? – as much for science as Charles Darwin?

    What would the world be if infidels had never been?

    ( Nguồn: http://old.thuvienhoasen.org)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Điều Gì Tạo Nên Loài Người?
  • Nguyên Nhân Quan Trọng Nhất Cho Sự Phát Triển Thần Kỳ Ở Nhật Bản
  • Nguyên Nhân Bị Phù Chân Ở Người Già Và Cách Phòng Tránh
  • Bệnh Phù Chân Voi Nguyên Nhân Và Triệu Chứng
  • 5 Nguyên Nhân Gây Bệnh Phù Chân Ở Người Già
  • Nguyên Nhân Và Quá Trình Hình Thành Một Cơn Bão?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bão Là Gì? Nguyên Nhân Hình Thành Cơn Bão Như Thế Nào?
  • 10 Nguyên Nhân Phổ Biến Gây Tụt Huyết Áp
  • Huyết Áp Thấp Cách Phòng Ngừa, Nguyên Nhân, Triệu Chứng
  • Những Nguyên Nhân Gây Huyết Áp Thấp
  • Nguyên Nhân Gây Hạ Đường Huyết
  • Những cơn bão đổ bộ vào nước ta mỗi năm gây ra thiệt hại rất lớn. Chúng phá hoại mùa màng, nhà cửa và lấy đi sinh mạng của rất nhiều người. Vậy những cơn bão được hình thành như thế nào? Nguyên nhân gây ra và quá trình hình thành một cơn bão ra sao?

    Bão nhiệt đới (hay còn gọi là xoáy thuận nhiệt đới) là loại hình thời tiết cực đoan đặc trưng bởi một trung tâm có áp suất thấp, gió mạnh và cấu trúc mây dông di chuyển theo hình xoắn ốc tạo ra mưa lớn. Trong không gian 3 chiều, có thể xem bão nhiệt đới như một cột xoáy khổng lồ. Ở chiều cao từ 0 – 3 km, không khí chuyển động theo hình xoắn ốc và xoay ngược chiều kim đồng hồ (ở Bắc bán cầu) hoặc thuận chiều kim đồng hồ (ở Nam bán cầu). Luồng không khí này bị hút vào trung tâm cơn bão (còn gọi là mắt bão). Tuy nhiên, chúng sẽ không vào được trung tâm cơn bão mà chuyển động thẳn đứng lên phía trên khi đến gần tạo ra một khu vực gọi là thành mắt bão và chuyển động ra ngoài theo chiều ngược lại. Trong khi đó, không khí ở mắt bão sẽ chuyển động đi xuống, tạo ra một vùng mây tạnh, trời trong và hầu như không có gió.

    Một cơn bão nhiệt đới sẽ có 3 bộ phận chính: Mắt bão, thành mắt bão và dải mây mưa ngoài rìa.

    Thành mắt bão: Thành mắt bão là vùng mây nằm sát mắt bão. Trái ngược với mắt bão, đây là nơi tập hợp các trạng thái thời tiết cực đoan nhất của một cơn bão. Các dòng khí với độ ẩm lớn đổ về thành mắt bão và di chuyển lên theo đường thẳng khiến cho khu vực này có gió xoáy lớn nhất, độ ẩm cao nhất, mưa to và mây nhiều nhất trong một cơn bão.

    Dải mây mưa ở rìa ngoài: Dải mây mưa nằm ờ rìa ngoài cơn bão là vùng mây hình xoắn ốc di chuyển chậm dần vào trung tâm cơn bão. Khu vực này chứa những cơn mây dông dày đặc rộng từ vài km đến vài chục km và dài khoảng 80 – 500 km.

    Nguyên nhân và quá trình hình thành bão nhiệt đới? Điều kiện hình thành một cơn bão nhiệt đới là gì?

    Ánh sáng mặt trời chiếu xuống biển sẽ làm bay hơi nước. Lượng nước bay hơi tích tụ lại tạo ra một lớp không khí ẩm ở phía trên mặt biển. Ở nơi có áp suất thấp, nước biển bay hơi nhanh hơn và cao hơn tạo thành một cột khí ẩm. Càng lên cao, cột khí ẩm càng lạnh dần và ngưng tụ lại. Quá trình này toả khá nhiều nhiệt do đó nó sẽ làm nóng khu vực không khí xung quanh. Không khí càng nóng, cột khí ẩm lại càng bay cao hơn dẫn tới việc khí ẩm bị hút vào càng nhiều. Trong lúc bị hút vào, những luồng không khí ẩm bị tác động bởi lực Coriolis (lực quán tính sinh ra khi mọi vật chuyển động trong Trái Đất – vật thể đang quay). Lực này khiến cho dòng khí xoáy tròn tạo thành hoàn lưu. Khi tốc độ hoàn lưu lớn hơn 17 m/s, chúng tạo thành bão.

    Để hình thành một cơn bão nhiệt đới tại một khu vực, ở đó phải có đồng thời 6 điều kiện sau:

    – Nhiệt độ từ mặt nước biển xuống độ sâu 50 m ít nhất phải là 26,5 độ C.

    – Bầu khí quyển bị mất ổn định hay bị nhiễu động.

    – Lực Coriolis đủ lớn để duy trì trung tâm áp suất thấp.

    – Khả năng thay đổi tốc độ hoặc hướng gió bất ngờ (độ đứt dọc của gió) yếu.

    – Bề mặt nước bị xáo trộn với lực xoáy đủ mạnh.

    Cấp bão là gì? Phân loại như thế nào? Bão cấp nào mạnh nhất?

    Thang bão Saffir – Simpson: Thang bão Saffir – Simpson là thang phân loại dựa vào tốc độ gió kéo dài (là tốc độ gió trung bình trong thời gian 1 phút tại độ cao 10m), sóng cồn (độ cao sóng ngoài khơi) và áp suất tâm bão. Thang này phân loại bão thành 5 cấp và thường được sử dụng cho các cơn bão nhiệt đới ở khu vực Tây bán cầu với đặc điểm cường độ cao, sức phá hoại lớn.

    Thang sức gió Beaufort: Thang sức gió Beaufort là thang phân loại dựa vào tốc độ gió (yếu tố chính), độ cao sóng và tình trạng mặt biển. Thang này phân loại cả tình trạng thời tiết thông thường nên được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trong đó có nước ta. Trước đây, thang sức gió Beaufort chỉ được phân làm 13 cấp từ 0 đến 12 áp dụng cho những cơn bão nhỏ. Năm 1946, thang được mở rộng ra 18 cấp chính (0 – 17) và 1 cấp phụ (18+) để áp dụng cho các cơn bão lớn. Tuy nhiên, với sự xuất hiện của các cơn siêu bão thì cấp 17 và 18+ không còn đủ khả năng diễn đạt hết sức mạnh của chúng. Do đó, một số quốc gia trong đó có nước ta đã chuyển sang sử dụng thang sức gió Beaufort được bổ sung chỉnh sửa hoàn toàn mới với 31 cấp từ 0 đến 30 để miêu tả khả năng huỷ diệt của những cơn siêu bão hiện nay.

    Cơn bão mạnh nhất theo thang bão Saffir – Simpson là bão cấp 5 – còn gọi là siêu bão. Một cơn bão để được xếp vào cấp 5 sẽ có các đặc điểm sau:

    – Gió kéo dài lớn hơn 250 km/h.

    – Áp suất tâm bão nhỏ hơn 690 mm Hg (đơn vị đo áp suất).

    Theo miêu tả của thang bão Saffir – Simpson, một cơn bão cấp 5 sẽ có khả năng gây thiệt hại nhỏ nhất gồm: Các ngôi nhà nhỏ và công trình công nghiệp bị cuốn bay mái. Những công trình bằng gỗ bị thiệt hại nặng nề hoặc phá huỷ hoàn toàn. Ngập lụt cũng gây thiệt hại hoặc thậm chí san bằng các công trình ven biển. Có thể phải di tản dân chúng.

    Một số cơn bão được phân loại cấp 5 gồm: David (xảy ra vào năm 1979), Andrew (xảy ra vào năm 1992), Felix (xảy ra vào năm 2007) và mới đây là Irma ( xảy ra vào năm 2022).

    Với thang sức gió Beaufort, cơn bão mạnh nhất là bão cấp 30 – siêu bão huỷ diệt. Để được xếp vào cấp độ này, một cơn bão phải có các đặc điểm sau:

    – Tâm bão có gió xoáy cực kỳ mạnh, có khả năng nâng hút các vật nặng (máy bay, tàu hoả,…) và ném chúng đi xa vài km.

    Theo thang sức gió Beaufort, nếu một cơn bão với cấp độ 30 xảy ra thì hậu quả sẽ là cực kỳ thảm khốc. Cụ thể, những nơi nó đi qua sẽ bị san bằng hay thậm chí là huỷ diệt hoàn toàn.

    May mắn là hiện nay vẫn chưa có cơn bão nào đạt đến cấp 30. Có thể kể đến một số cơn bão trên thế giới đạt trên cấp 20 là: Siêu bão Meranti (năm 2022) đạt cấp 22, Siêu bão Nancy (năm 1961) đạt cấp 23, Siêu bão Olivia (năm 1996) đạt cấp 25,…

    Hiện nay, nguyên nhân và quá trình hình thành bão không còn là điều bí ẩn tuy nhiên vẫn còn một số khía cạnh mà các nhà khoa học chưa thể giải thích được. Do đó, việc ngăn chặn những cơn bão vẫn đang là điều bất khả thi. Bên cạnh đó, sự gia tăng về số lượng và cấp độ của những cơn bão đang thể hiện rõ cơn phẫn nộ của thiên nhiên trước việc tàn phá môi trường của loài người. Và nếu không có biện pháp khả thi để ngăn chặn những cơn bão hay bảo vệ môi trường tốt hơn thì trong tương lai, việc nhân loại phải đối mặt với những cơn bão cấp 30 hoàn toàn có thể xảy ra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tại Sao Có Bão? Những Nguyên Nhân Hình Thành Bão Và Áp Thấp Nhiệt Đới
  • Top 5 Nguyên Nhân Gây Hôi Miệng Hàng Đầu Thường Gặp
  • Nguyên Nhân Gây Bệnh Gan Nhiễm Mỡ Có Thể Bạn Chưa Biết
  • 9 Nguyên Nhân Gan Nhiễm Mỡ Thường Gặp Khiến Bạn Giật Mình!
  • Gan Nhiễm Mỡ Có Nguyên Nhân Từ Đâu?
  • Quá Trình Chuyển Hóa Các Chất Dinh Dưỡng

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Luận Văn Thạc Sỹ Luật “vai Trò Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Ở Tỉnh Bắc Giang Trong Việc Bảo Đảm Quyền Con Người Của Người Chưa Thành Niên Là Người Bị Tạm Giữ, Bị Can, Bị Cáo Trong Tố Tụng Hình Sự”
  • Cơ Sở Lý Luận Về Quản Trị Chiến Lược Trong Kinh Doanh
  • Nghiên Cứu Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Các Nhà Khoa Học Đã Phát Hiện Ra Cách Thức Tế Bào Ung Thư Lẩn Trốn Trong Cơ Thể
  • Nghiên Cứu Sản Phẩm Hoạt Động Sư Phạm
  • Sự tiêu hóa bắt đầu từ miệng, với men amylase của nước bọt. Tinh bột được chuyển hóa thành dextrin và maltose.

    Ở dạ dày, men amylase tiếp tục chuyển hóa tinh bột thành những phân tử đơn giản hơn, nhưng sự tiêu hóa trong ruột non mới đáng kể.

    Ở tá tràng, dưới tác dụng của men amylase từ tụy tạng, tinh bột chuyển thành dextrin, maltose, rồi men maltase ở ruột chuyển hóa maltose thành glucose.

    Glucose và các đường fructose, lactose theo các mạch máu nhỏ ở ruột vào động mạch rồi được đưa đến gan. Một số glucose từ gan được chuyển đến tế bào, một số được tích trữ lại trong gan và cơ dưới dạng glycogen. Các đường fructose và lactose cuối cùng cũng chuyển hóa thành đường glucose.

    Một số carbohydrat như chất xơ, cellulose không được tiêu hóa và được thải ra theo phân. Động vật nhai lại có thể tiêu hóa cellulose, chất xơ nhờ tác dụng của vi khuẩn trong bộ máy tiêu hóa của chúng.

    Dạ dày là chặng đầu tiên tiêu hóa chất đạm, nhưng chỉ tiêu hóa được một phần rất ít. Đa số chất đạm được tiêu hóa ở tá tràng. Dưới tác dụng của men trypsin từ tụy tạng, chất đạm được biến đổi thành các phân tử acid amin rồi theo đường máu đến gan và được dự trữ trong gan. Hầu hết chất đạm ăn vào đều được hấp thụ ở ruột non, chỉ có khoảng 1% thất thoát ra ngoài theo phân.

    3. Chất béo

    Cũng như chất đạm, hầu hết chất béo đều được tiêu hóa ở ruột non, nhất là đại tràng, dưới tác dụng của men lipase từ dạ dày và tụy tạng. Sau khi tiêu hóa, chất béo được chuyển sang máu dưới dạng acid béo và cholesterol. Dịch mật từ gan cũng góp phần nhiều trong quá trình tiêu hóa chất béo.

    4. Các chất dinh dưỡng khác

    Vitamin, chất khoáng và nước được hấp thụ ở ruột. Mỗi ngày có khoảng 8 lít nước được thẩm thấu qua lại từ ruột để giữ cho chất dinh dưỡng ở trong tình trạng dung dịch loãng. Vitamin cũng được hấp thụ nguyên dạng từ ruột. Sự hấp thụ của chất khoáng phức tạp hơn, cần có sự chuyên chở chọn lọc của các protein và albumin.

    Sự hấp thụ

    Sự hấp thụ là quá trình chuyển hóa trong đó các chất dinh dưỡng đã được tiêu hóa ở ruột non được hấp thụ và chuyển vào máu, được chuyển hóa để các tế bào hấp thụ được. Chất dinh dưỡng gồm có: glucose từ carbohydrat, acid amin từ chất đạm, acid béo và glycerol từ chất béo.

    Sự chuyển hóa

    Sự chuyển hóa là một chuỗi phản ứng hóa học nhờ có các men xúc tác, dẫn đến hình thành những dưỡng chất có thể được cơ thể sử dụng để bổ sung nuôi dưỡng tế bào và tạo ra năng lượng đáp ứng nhu cầu của cơ thể.

    Thành phần dinh dưỡng chủ yếu trong thức ăn gồm có các nhóm chất đạm, chất béo và carbohydrat. Mỗi nhóm có những chức năng khác nhau trong việc nuôi dưỡng cơ thể, nhưng tất cả đều cho năng lượng. Vitamin, muối khoáng và nước không cho năng lượng nhưng lại cần thiết cho sự chuyển hóa.

    Sự chuyển hóa tạo ra năng lượng nhưng đồng thời cũng tạo ra những cặn bã không tốt cho cơ thể và cần được thải ra ngoài.

    Sự chuyển hóa diễn ra cùng một lúc dưới hai hình thức:

    a. Dị hóa (catabolism): chất dinh dưỡng hữu cơ được đốt cháy để cho năng lượng.

    b. Đồng hóa (anabolism): các phản ứng hóa học chuyển đổi chất dinh dưỡng thành các sản phẩm nuôi dưỡng tế bào và các chất hóa học khác như kích thích tố, men, máu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Làm Tiểu Luận Pháp Luật Đại Cương Chi Tiết
  • Bắt Ong Dú, Mách Bạn 3 Cách Làm Tổ Bẫy Ong Dễ Thành Công
  • Nghiên Cứu Chỉ Ra Những Lợi Ích Mới Của Mật Ong
  • Phân Biệt Odds Ratio & Relative Risk
  • Odds Là Gì ? Chia Sẽ Kiến Thức Cơ Bản Về Phương Pháp Odds
  • Quá Trình Phong Hóa Khoáng Vật Và Đá

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Sữa Dưỡng Da Và Kem Dưỡng Da Body
  • Cách Phân Biệt Loại Da Bò Và Da Pu
  • Da Pu Và Da Bò Có Ưu Điểm? Nhược Điểm Như Thế Nào?
  • Da Nhiễm Corticoid Là Bị Gì? Dấu Hiệu Nhận Biết Và Điều Trị Thế Nào?
  • Cách Nhận Biết Da Bị Nhiễm Corticoid Chứa Trong Mỹ Phẩm
  • 1.2. QUÁ TRÌNH PHONG HÓA KHOÁNG VẬT VÀ ĐÁ

    1.2.1. Khái niệm

    Đá và khoáng sau khi hình thành dưới tác động của các yếu tố ngoại cảnh dần bị biến đổi. Tổng hợp những sự biến đổi lâu dài phức tạp làm cho đá, khoáng bị phá huỷ và quá trình đó được gọi là quá trình phong hoá.

    Sự phong hoá đá, khoáng là tổng hợp những quá trình phức tạp, đa dạng làm biến đổi về lượng và chất của chúng dưới tác dụng của môi trường.

    Kết quả của sự phong hoá là làm cho đá và khoáng bị phá huỷ, biến thành tơi xốp, có khả năng thấm khí và nước tốt. Những chất mới này được gọi là “Mẫu chất”.

    Lớp vỏ Trái đất ở đó diễn ra quá trình phong hoá và sản phẩm của quá trình phong hóa được giữ lại đó thì gọi là vỏ phong hoá.

    1.2.2. Các dạng phong hoá đá và khoáng vật

    1.2.2.1. Phong hoá lý học

    Phong hoá lý học là quá trình phá huỷ đá về mặt cấu trúc, hình dạng nhưng không làm thay đổi về thành phần hoá học.

    Trong những yếu tố gây ra phong hoá lý học thì nhiệt là yêú tố phổ biến và quan trọng hơn cả, ngoài ra còn do gió, nước, hoạt động địa chất v.v…

    – Nhiệt độ:

    Chúng ta đều biết các khoáng vật và đá đều bị giãn nở phụ thuộc vào nhiệt độ. Mỗi loại khoáng vật có hệ số giãn nở vì nhiệt khác nhau, ví dụ:

    Thạch anh có hệ số giãn nở là: 0,00031

    Mica có hệ số giãn nở là: 0,00035

    Canxit có hệ số giãn nở là: 0,00020

    Octoclaz có hệ số giãn nở là: 0,00017

    Sự thay đổi nhiệt độ tạo ra biên độ nhiệt độ càng lớn sẽ làm đá bị giãn nở và co lại đột ngột. Do trong đá chứa các khoáng vật khác nhau có hệ số giãn nở khác nhau, gây nên sự giãn nở không đều dẫn đến đá bị nứt nẻ vỡ vụn ra. Trong thực tế nhiều nơi trên vỏ Trái đất có biên độ nhiệt độ ngày đêm lên đến 40 – 60ºC đã làm cho đá càng chóng bị phá hủy.

    Tốc độ phá huỷ đá do nhiệt độ phụ thuộc rất lớn vào các mặt sau:

    + Sự chênh lệch nhiệt độ ngày đêm, theo mùa trong năm. Biên độ nhiệt độ càng lớn thì quá trình phá huỷ càng mạnh.

    + Phụ thuộc vào thành phần khoáng vật chứa trong đá, nếu đá có cấu tạo bởi càng nhiều khoáng vật thì càng dễ bị phá huỷ.

    + Phụ thuộc vào màu sắc và cấu trúc của đá, đá có màu sẫm, cấu trúc mịn, dễ hấp thu nhiệt nên bị phá huỷ mạnh hơn đá màu sáng, cấu trúc hạt thô.

    Phong hoá lý học được tăng cường khi có sự tham gia của nước. Nước thấm vào kẽ nứt gây áp lực mao quản, những vùng giá lạnh khi nước đóng băng thể tích của nó tăng lên làm đá bị phá huỷ mạnh.

    – Dòng chảy, gió:

    Nước chảy mạnh, gió có thể cuốn đá va đập vào nhau và vỡ vụn ra.

    Kết quả của phong hoá lý học là làm cho đá, khoáng vỡ vụn ra, tạo ra một số tính chất mới mà đá nguyên chất trước đây không có, như khả năng thấm khí, nước v.v. Phong hoá lý học làm cho bề mặt tiếp xúc của đá, khoáng với môi trường xung quanh tăng lên và từ đó tạo điều kiện cho các quá trình phong hoá khác tiếp theo được thuận lợi hơn.

    1.2.2.2. Phong hoá hoá học

    Phong hoá hoá học là sự phá huỷ đá, khoáng bằng các phản ứng hoá học.

    Bởi vậy phong hoá hoá học làm thay đổi thành phần và tính chất của đá, khoáng. Đây cũng là đặc điểm cơ bản khác với phong hoá lý học đã được trình bày ở phần trên. Những tác nhân quan trọng nhất trong quá trình này là H 2O, CO 2 và O 2.

    Các quá trình chủ yếu của phong hoá học là: quá trình hoà tan, hydrat hoá, hoá sét và oxy hoá.

    – Quá trình hoà tan:

    Quá trình hoà tan là hiện tượng các khoáng vật và đá bị hoà tan trong nước.

    Tất cả các loại đá, khoáng khi tiếp xúc với nước đều bị hoà tan nhưng mức độ rất khác nhau. Có mức độ hoà tan nhỏ bé đến mức ta không thể nhận ra chúng bằng những cách thông thường. Quá trình này đã làm thay đổi thành phần và tính chất của các loại đá, khoáng.

    Ví dụ:

    CaCO 3 + CO 2 + H 2O  Ca(HCO 3) 2

    Quá trình hoà tan chịu ảnh hưởng của 1 số yếu tố sau:

    + Nhiệt độ làm tăng cường quá trình hoà tan. Thông thường nhiệt độ tăng lên 10 0 C thì sự hoà tan tăng lên từ 2 – 3 lần. Nước ta là nước nhiệt đới ẩm nên quá trình hoà tan rất đáng quan tâm.

    + Độ pH của môi trường cũng ảnh hưởng lớn đến sự hoà tan. Khi nước chứa CO 2, độ pH của nó giảm, độ hoà tan của các loại muối Cacbonat trong nó tăng lên rõ rệt.

    + Các loại muối Clorua, Nitrat của kim loại kiềm, kiềm thổ dễ tan trong nước. Các loại muối Sunphat, Cacbonat của kim loại kiềm thì dễ tan, nhưng của kim loại kiềm thổ lại khó tan trong nước.

    + Bề mặt tiếp xúc của chất tan với dung môi càng lớn khả năng tan của nó càng tăng. Phong hoá lý học đã làm cho các khối đá, khoáng vỡ vụn do đó làm tăng bề mặt tiếp xúc của đá với môi truờng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hoà tan.

    – Quá trình hydrat hoá:

    Là quá trình nước tham gia vào mạng lưới tinh thể của khoáng vật, thực chất đây là quá trình nước kết hợp với khoáng vật làm thay đổi thành phần hoá học của khoáng vật.

    Ví dụ:

    Fe 2O 3 + 3H 2O Fe 2O 3. 3H 2 O

    (Hematit) (Limonit)

    CaSO 4 + 2H 2O CaSO 4. 2H 2 O

    (Thạch cao khan) (Thạch cao thường)

    Quá trình này làm cho thể tích của khoáng vật tăng lên, thành phần hoá học thay đổi, độ bền liên kết giảm, tạo điều kiện tốt cho quá trình hoà tan và các phản ứng hoá học khác.

    Quá trình sét hoá:

    Các khoáng vật silicat, nhôm silicat do tác động của H 2O, CO 2 sẽ bị biến đổi tạo thành các khoáng sét. Các chất kiềm và kiềm thổ trong khoáng vật bị H+ chiếm chỗ trong mạng lưới tinh thể được tách ra dưới dạng hoà tan. Như vậy thực chất của quá trình sét hoá là các quá trình hoà tan, hydrat hoá chuyển các khoáng vật silicat, nhôm silicat thành các khoáng vật thứ sinh, các muối và oxyt.

    Ví dụ:

    K 2Al 2Si 6O 16 + H 2O + CO 2 H 2Al 2Si 2O 8. 2H 2O + SiO 2.nH 2O+ K 2CO 3

    (Phenphatkali) (Sét Kaolinit) (Opan)

    Quá trình sét hoá rất phổ biến và có tầm quan trọng trong phong hoá hoá học vì phần nhiều các loại khoáng trong đất thuộc nhóm Silicat và Alumin – silicat.

    + Quá trình oxy hoá:

    Đa số các khoáng vật dễ bị oxy hoá và phá huỷ nhanh chóng, nhất là các khoáng vật có chứa sắt như Olivin, Ogit, Hoocnơblen, Pyrit,… có chứa nhiều Fe 2+ nên rất dễ tham gia vào quá trình oxy hoá.

    Ví dụ điển hình như pyrit có quá trình oxy hoá như sau:

    2FeS 2 +7O 2 + 2H 2O  2FeSO 4 + 2H 2SO 4

    12FeSO 4 + 3O 2 +6H 2O  4Fe 2(SO 4) 3 + 4Fe(OH) 3

    2Fe 2(SO 4) 3 +9H 2O  2Fe 2O 3.3H 2O + 6H 2SO 4

    (Limonit)

    Vì lý do trên các loại đá có chứa sắt khi lộ ra ngoài không khí thường hình thành lớp vỏ limonit có màu nâu đỏ rất cứng bảo vệ cho đá ít bị phong hoá tiếp.

    Phong hoá hoá học không những làm thay đổi thành phần, tính chất của đá, khoáng mà nó còn có thể tạo ra một số khoáng vật mới (thứ sinh) và hàng loạt những chất đơn giản. Phong hoá hoá học phụ thuộc nhiều vào ẩm độ, nhiệt độ. Nhiệt độ cao, độ ẩm lớn phong hoá hoá học sẽ hoạt động mạnh. Bởi vậy đây là loại phong hoá diễn ra mạnh trong khu vực nhiệt đới trong đó có nước ta. Càng lên cao nhiệt độ càng giảm nên cường độ của loại phong hoá này càng giảm đi.

    1.2.2.3. Phong hoá sinh học

    Sự phá huỷ cơ học và sự biến đổi tính chất hoá học của đá, khoáng dưới tác dụng của sinh vật và những sản phẩm từ hoạt động sống của chúng được gọi là sự phong hoá sinh học.

    – Trong quá trình sống, sinh vật trao đổi chất với môi trường, đặc biệt là môi trường đất. Sự trao đổi đó đã làm xuất hiện hoặc thay đổi các quá trình hoá học khác. Trong đời sống của mình, sinh vật sử dụng những chất dinh dưỡng khoáng làm thay đổi hàm lượng các chất đó trong đất, đưa vào môi trường những chất mới đặc biệt là những axit: H 2CO 3, HCl, H 2SO 4, HNO 3, các axit hữu cơ…, đó là những lý do làm cho đá và khoáng bị phá huỷ.

    – Tác động cơ giới do rễ cây len lỏi vào các kẽ nứt của đá làm đá bị phá huỷ, hiện tượng này thấy rất rõ trên các vách núi đá vôi có cây sinh sống.

    Khi trên trái đất chưa có sinh vật thì đá và khoáng chỉ bị phá huỷ bởi quá trình phong hoá lý học và hoá học. Khi sinh vật xuất hiện trên trái đất, lúc đầu là các vi sinh vật và cuối là thực vật thượng đẳng thì sự phong hoá sinh học trở thành phổ biến và quan trọng, nhất là những vùng nhiệt đới ẩm.

    Tóm lại: Tùy theo điều kiện cụ thể mà dạng phong hóa này hay phong hóa kia chiếm ưu thế, nhưng nhìn chung chúng đều có tác dụng xúc tiến lẫn nhau và hỗ trợ nhau để phát triển. Ở Việt Nam các quá trình phong hóa xảy ra mãnh liệt và triệt để vì chịu ảnh hưởng của điều kiện nhiệt đới ẩm. Trong các dạng phong hóa thì phong hóa hóa học chiếm ưu thế.

    1.3. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐẤT

    1.3.1. Tuần hoàn vật chất và sự hình thành đất

    Ta có thể chia quá trình hình thành đất làm 2 giai đoạn:

    + Đá bị phong hoá thành mẫu chất, giai đoạn này được gọi là quá trình phong hoá.

    + Mẫu chất biến thành đất, giai đoạn này được gọi là quá trình hình thành đất.

    Đá mẹ

    Mẫu chất

    Đất

    Quá trình

    Phong hoá

    Quá trình

    hình thành đất

    Mẫu chất đã có khả năng thấm, giữ nước và khí nhưng còn thiếu phần quan trọng nhất để trở thành đất đó là chất hữu cơ.

    Khi trên trái đất chưa có sự sống, lúc đó mới chỉ có các quá trình phong hoá lý, hoá học. Các sản phẩm phong hoá một phần nằm lại tại chỗ, phần khác theo nước di chuyển xuống chỗ trũng, đại dương. Ở những nơi đó chúng lại trầm lắng, chịu sự tác động của áp suất và các yếu tố khác và hình thành nên đá trầm tích.

    Do sự vận động địa chất, khối đá trầm tích này lại được nâng lên phong hoá theo một vòng mới khác. Quá trình đó cứ lặp đi lặp lại trong một phạm vi lớn, và kéo dài tới hàng tỷ năm, nên được gọi là “Đại tuần hoàn địa chất”. Bản chất của vòng đại tuần hoàn địa chất là quá trình tạo lập đá đơn thuần xảy ra rộng khắp và theo một chu trình khép kín.

    Khi sinh vật xuất hiện lúc đầu là các vi sinh vật và các thực vật hạ đẳng, chúng sử dụng các chất dinh dưỡng khoáng để nuôi cơ thể, chết đi chúng trả lại toàn bộ cho đất. Cứ như vậy sinh vật ngày càng phát triển và lượng chất hữu cơ tích luỹ trong đất ngày một nhiều, nó đã biến mẫu chất trở thành đất. Vòng tuần hoàn này do sinh vật thực hiện và diễn ra trong thời gian ngắn, phạm vi hẹp nên được gọi là “Tiểu tuần hoàn sinh vật”.

    Bởi vậy “Đại tuần hoàn địa chất” là cơ sở của quá trình hình thành đất, còn “Tiểu tuần hoàn sinh vật” là bản chất của nó. Đất được hình thành kể từ khi xuất hiện sinh vật.

    1.3.2. Các yếu tố hình thành đất

    Đocutraiep – ông tổ thổ nhưỡng người Nga là người đầu tiên cho rằng đất được hình thành do sự tác động tổng hợp của 5 yếu tố: Đá mẹ, khí hậu, sinh vật, địa hình và thời gian.

    Vai trò của con người trong sản xuất nông lâm nghiệp ngày càng góp phần to lớn vào sự hình thành đất. Bởi vậy ngày nay phần lớn người ta coi đất được hình thành do 6 chứ không phải 5 yếu tố như quan điểm của Đocutraiep.

    1.3.2.1. Đá mẹ

    Đá mẹ bị phong hoá thành mẫu chất, rồi thành đất. Như vậy rõ ràng đá mẹ là nguyên liệu đầu tiên của quá trình hình thành đất, vì vậy người ta còn gọi là nguyên liệu mẹ. Đá mẹ ra sao sẽ sinh ra đất mang dấu ấn của mình. Ví dụ:

    – Các loại đá macma axit có cấu trúc hạt thô, khó phong hoá tạo nên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, tầng đất mỏng còn ngược lại các loại đá mẹ macma trung tính hay bazơ có cấu trúc mịn, dễ phong hoá thì tạo ra các loại đất có thành phần cơ giới nặng, tầng đất dày hơn.

    – Những loại đất hình thành trên đá mẹ gnai, granit thường giàu K+ vì trong những loại đá đó giầu mica, mà mica bị phong hoá sẽ giải phóng ra K+. Đất hình thành trên đá bazan thường giầu Mg++, P 2O 5 vì loại đá này chứa nhiều Mg và photphorit.

    Tuy nhiên sự ảnh hưởng của đá mẹ đối với đất lớn nhất ở giai đoạn đầu, giai đoạn đất còn trẻ. Theo thời gian và môi trường mà đất tồn tại, cùng với sự tác động của con người vai trò của đá mẹ ngày càng lu mờ. Ví dụ:

    – Những vùng đất phát triển trên đá vôi đáng ra không chua nhưng đến nay có vùng đã chua thậm chí rất chua do bị xói mòn, rửa trôi nghiêm trọng.

    Một số vùng đất cùng phát triển trên đá cát nhưng nay có tính chất rất khác nhau do quá trình canh tác rất khác nhau tại một số vùng.

    1.3.2.2. Khí hậu

    Khí hậu có sự tác động tới sự hình thành đất vừa trực tiếp thông qua nhiệt độ, lượng mưa, vừa gián tiếp thông qua sinh vật.

    + Nhiệt độ và lượng mưa là hai yếu tố quan trọng đầu tiên trong sự phong hoá đá, khoáng. Hai yếu tố này còn chi phối tất cả các quá trình khác trong đất: quá trình rửa trôi, xói mòn, tích tụ, mùn hoá, khoáng hoá,… Cường độ, chiều hướng của chúng góp phần chi phối quá trình hình thành đất.

    Lượng mưa ảnh hưởng lớn tới độ chua và hàm lượng kiềm trao đổi trong đất. Theo Jeny khi nghiên cứu đất vùng nhiệt đới (đảo Mabrikia) thì lượng mưa hàng năm càng tăng, độ pH và tổng các cation kiềm trao đổi càng giảm. Điều này giải thích lý do đất Việt Nam đặc biệt là đất rừng thường chua và độ no kiềm thấp (Bảng 1.5).

    Trên trái đất có những đai khí hậu khác nhau: Hàn đới, ôn đới, nhiệt đới. Tại những đai đó, những sinh vật tương ứng được hình thành và bởi vậy xuất hiện những đai đất đi kèm. Điều đó nói lên vai trò của khí hậu với sự hình thành đất thông qua sinh vật.

    Ví dụ:

    – Vùng lạnh, khô đặc trưng là kiểu rừng lá kim nên hình thành đất podzol chua và nghèo dinh dưỡng.

    – Vùng lạnh ẩm hình thành đồng cỏ hoặc rừng lá rộng ôn đới nên có đất đen ôn đới (Checnozom).

    – Vùng nhiệt đới nóng ẩm hình thành loại rừng lá rộng, thường xanh nên có đất đỏ vàng.

    Bảng 1.5: Ảnh hưởng của lượng mưa đến một số tính chất của đất

    Lượng mưa hàng năm (mm)

    Nhiệt độ (0oC)

    [H+]

    (lđl/100g đất)

    Tổng số cation kiềm trao đổi (lđl/100g đất)

    pH

    (Nguyễn Thế Đặng, Nguyễn Thế Hùng, 1999)

    1.3.2.3. Sinh vật

    Sinh vật là yếu tố chủ đạo cho quá trình hình thành đất vì sinh vật cung cấp chất hữu cơ, yếu tố quan trọng nhất để biến mẫu chất thành đất. Đất là môi trường sôi động của sự sống, là địa bàn sinh sống của vi sinh vật, thực vật, động vật.

    – Vi sinh vật:

    Một gam đất chứa hàng chục triệu thậm chí hàng tỉ vi sinh vật. Trung bình 1 gam đất của Việt Nam chứa khoảng 60 – 100 x 10 6 vi sinh vật, chúng có vai trò rất lớn đối với quá trình hình thành đất, cụ thể:

    + Cung cấp chất hữu cơ cho đất: Vi sinh vật là những sinh vật đi tiên phong, chúng là sinh vật đầu tiên sống trên mẫu chất và chết đi cung cấp lượng chất hữu cơ nhỏ nhoi nhưng vô cùng quý giá đầu tiên cho mẫu chất để biến mẫu chất thành đất.

    + Đóng vai trò quan trọng trong việc phân giải và tổng hợp chất hữu cơ: Cây chỉ có thể hút các dinh dưỡng từ đất dưới dạng các chất khoáng đơn giản do vậy các chất hữu cơ và ngay cả 1 số loại phân bón khi được bổ sung vào đất đều phải nhờ vi sinh vật phân giải cây mới có khả năng hấp phụ. Mặt khác trong quá trình phân giải chúng lại tổng hợp nên một dạng hữu cơ đặc biệt, rất quan trọng trong đất đó là hợp chất mùn.

    + Cố định đạm từ khí trời: Trong đá mẹ, mẫu chất thiếu một yếu tố dinh dưỡng cơ bản đó là N. Vi sinh vật cố định đạm góp phần tạo ra đạm mà mẫu chất không có.

    Tuy nhiên ngoài mặt có lợi vi sinh vật đất còn có một số mặt hại như: Làm mất đạm, thải ra một số khí độc, làm giảm pH đất, gây bệnh cho cây….

    – Thực vật:

    Thực vật đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành đất. Tuỳ theo thảm thực bì số lượng cũng như chất lượng chất hữu cơ trả lại cho đất khác nhau.Thường 1 ha rừng trả lại cho đất 10 tấn cành khô, lá rụng/năm, khoảng 80 % lượng chất hữu cơ trong đất có nguồn gốc từ thực vật.

    Một số loại thực vật được dùng làm cây chỉ thị cho một số tính chất đất. Ví dụ: Cây sim, mua chỉ thị đất chua; cây sú, vẹt chỉ thị cho đất mặn…

    Tóm lại tác dụng của thực vật thể hiện ở các mặt sau:

    + Cung cấp chất hữu cơ, tăng hàm lượng mùn, cải thiện các tính chất lý, hoá và sinh học đất.

    + Tập trung dinh dưỡng ở tầng sâu lên tầng đất mặt.

    + Hút và trả lại cho đất các chất dinh dưỡng phù hợp hơn với thế hệ sau do hút dinh dưỡng có chọn lọc.

    + Che phủ mặt đất, chống xói mòn.

    – Động vật:

    Có nhiều loại động vật sinh sống trong đất từ nguyên sinh động vật, giun, dế, kiến, mối đến chuột, dúi …. Tác dụng của chúng thể hiện qua các mặt sau:

    + Chúng chết đi cung cấp chất hữu cơ cho đất, tuy số lượng ít nhưng có chất lượng cao.

    + Chuyển hoá chất hữu cơ tạo thành các chất dễ tiêu cho cây.

    + Xới xáo làm cho đất tơi xốp. Đại diện như giun đất là “anh thợ cày” tích cực, 1 ha đất tốt có bón phân có thể có tới 2,5 triệu con giun.

    1.3.2.4. Địa hình

    Địa hình tác động đến quá trình hình thành đất thể hiện ở chỗ:

    – Ở các vùng cao có nhiệt độ thấp hơn nhưng ẩm độ cao hơn. Càng lên cao xuất hiện nhiều cây lá nhỏ, chịu lạnh, đất có hàm lượng mùn tăng, quá trình feralit giảm. Đây là lý do các vùng cao như Đà lạt, Mộc Châu, Sa Pa có khí hậu mát mẻ và đất có hàm lượng mùn khá hơn.

    – Địa hình còn làm thay đổi tiểu vùng khí hậu do nhiều nơi địa hình quyết định hướng và tốc độ của gió, làm thay đổi độ ẩm, thảm thực bì của đất rất lớn. Do bị chắn bởi dãy Trường sơn mà 1 số vùng bị ảnh hưởng của gió phơn tây nam rất mạnh như: Hoà Bình, Lai Châu, Thanh Hoá, Nghệ An…

    Địa hình trong khu vực nhỏ trực tiếp góp phần phân bố lại vật chất, làm thay đổi độ ẩm, nhiệt độ, độ tăng trưởng của sinh vật, sự vận chuyển nước trên bề mặt và trong lòng đất. Những nơi địa hình cao, dốc, nước chảy bề mặt nhiều, nước thấm ít, độ ẩm đất thấp hơn chỗ trũng. Do dòng chảy bề mặt lớn, đất bị xói mòn, rửa trôi xuống các vũng trũng nên các chỗ trũng, bằng phẳng thường có tầng đất dày hơn, hàm lượng dinh dưỡng khá hơn so với nơi dốc nhiều.

    1.3.2.5. Thời gian

    Từ đá phá huỷ để cuối cùng hình thành đất phải có thời gian nhất định. Thời gian biểu hiện quá trình tích luỹ sinh vật, thời gian càng dài thì sự tích luỹ sinh vật càng phong phú, sự phát triển của đất càng rõ. Người ta chia tuổi của đất thành 2 loại là: tuổi hình thành tuyệt đối và tuổi hình thành tương đối.

    – Tuổi tuyệt đối: là thời gian kể từ khi bắt đầu hình thành đất đến nay (từ lúc xuất hiện sinh vật ở vùng đó đến nay).

    – Tuổi tương đối: là sự đánh dấu tốc độ tiến triển tuần hoàn sinh học, nói lên sự chênh lệch về giai đoạn phát triển của loại đất đó dưới sự tác động của các yếu tố ngoại cảnh. Nói cách khác là chỉ tốc độ phát triển của đất. Có nhiều loại đất được hình thành cùng thời gian nhưng do các điều kiện ngoại cảnh tác động khác nhau mà có tuổi tương đối khác nhau. Có loại tuổi tuyệt đối rất trẻ nhưng nhiều nơi đất đã phát triển đến đỉnh cao của nó, biểu hiện ở hiện tượng kết von, đá ong.

    1.3.2.6. Hoạt động sản xuất của con người

    Hoạt động sản xuất của con người ngày nay đã trở thành yếu tố quyết định tới sự hình thành đất. Sự ảnh hưởng này phụ thuộc vào yếu tố xã hội và trình độ sản xuất của con người.

    Con người luôn tìm cách tác động vào đất để khai thác tiềm năng của nó và mang lại lợi nhuận tối đa cho mình.

    Tất cả những hoạt động sản xuất như trồng rừng, khai thác rừng, đốt nương làm rẫy, định canh định cư, sử dụng phân bón, thuỷ lợi,… đều tác động không nhiều thì ít tới sự hình thành đất. Những hồ thuỷ điện, hồ chứa nước cho nông nghiệp đã chi phối không nhỏ chiều hướng và tốc độ hình thành đất.

    Tóm lại, nếu sử dụng đất có ý thức bảo vệ và cải tạo thì đất sẽ ngày một tốt lên còn ngược lại nếu chỉ biết bóc lột thì đất nhanh chóng nghèo kiệt, thoái hoá.

    1.3.3. Hình thái phẫu diện đất

    1.3.3.1. Khái niệm

    Tất cả những quá trình diễn ra trong đất đều để lại những dấu vết trong nó. Nghiên cứu những dấu vết đó, ta biết được tính chất, đặc điểm của đất. Thậm chí, ta còn biết được lịch sử của sự hình thành đất và chiều hướng phát triển của nó. Đặc điểm phân lớp là đặc điểm quan trọng của đất, mà nhiều tính chất lý hoá học và độ phì của đất phụ thuộc vào nó.

    Mặt cắt thẳng đứng từ mặt đất xuống đến tầng đá mẹ, nó thể hiện các tầng đất được gọi là phẫu diện đất.

    Phẫu diện đó được mô tả thông qua những đặc điểm bề ngoài có thể cảm nhận được bằng các giác quan thì gọi là hình thái phẫu diện đất. Từ hình thái, ta có thể suy ra những tính chất bên trong của nó.

    1.3.3.2. Các tầng đất và đặc điểm của chúng

    Một phẫu diện đất địa thành điển hình thường gồm các tầng đất sau: Tầng thảm mục, tầng mùn (tầng rửa trôi), tầng tích tụ, tầng mẫu chất, tầng đá mẹ (Hình 1.1).

    – Tầng thảm mục nằm trên mặt đất. Tầng này được kí hiệu là Ao (có sách kí hiệu là O), ở đây nó chứa những cành lá, xác thực vật rơi rụng. Tầng này cũng được chia nhỏ hơn A 01, A 02 và A 03. Tầng A 01 chứa những chất hữu cơ chưa phân giải. Tầng A 02 chứa những chất hữu cơ đã bị phân giải một phần, A 03 chứa những chất hữu cơ đã phân giải mạnh, một phần đã thành mùn.

    Ở nước ta, càng lên cao theo độ cao tuyệt đối, càng dễ tìm thấy tầng A 0. Dưới rừng cây họ dầu, cây lá kim cũng dễ xuất hiện tầng A 0 hơn.

    – Tầng mùn (tầng rửa trôi): ký hiệu là A.

    Tại đây, các hợp chất mùn được hình thành. Đất thường màu đen, nâu đen. Đất thường có kết cấu viên, tơi xốp, giầu dinh dưỡng.Tuy nhiên dưới tác dụng của nước nó cũng là tầng bị rửa trôi.Phần lớn các loại vi sinh vật đất đều tập trung ở tầng này. Trong tầng A lại có thể xuất hiện những tầng khác nhau: A 1, A 2, A 3.

    + A­ 1 là tầng tích luỹ mùn nhiều nhất, màu đen nhất. Tại đây các hợp chất hữu cơ được phân giải, tổng hợp để tạo nên các hợp chất mùn trong đất. Đất thường có kết cấu viên, tơi xốp, giàu dinh dưỡng.

    + A 2 là tầng rửa trôi mạnh nhất. Tại đây các chất dinh dưỡng và hợp chất mùn bị phá huỷ và rửa trôi xuống các tầng sâu. Bởi vậy, hàm lượng chất dinh dưỡng và mùn ở đây thấp. Tuy nhiên theo Fritland thì đất Việt nam thường có tầng A 2 không điển hình.

    + Tầng A 3 là tầng chuyển tiếp đến tầng B.

    – Tầng tích tụ: ký hiệu là B

    Tầng B lại có thể chia nhỏ hơn thành B 1, B 2, B 3:

    + Tầng B 1 là một phần của tầng A chuyển tiếp đến tầng B.

    + Tầng B 2 là tầng tích tụ điển hình.

    + Tầng B 3 là phần chuyển tiếp của tầng B đến tầng C.

    Tầng A và B là phần điển hình của đất, nó tạo nên độ dầy của đất. Độ dày tầng đất được tính từ trên mặt đất xuống đến hết tầng B.

    – Tầng C được gọi là tầng mẫu chất, nó được hình thành từ sự phong hoá đá và khoáng ban đầu. Đất được hình thành từ những loại đá khó bị phong hoá, thì tầng C rất mỏng.

    – Cuối cùng là tầng đá mẹ ký hiệu là D.

    Để phân biệt các tầng đất, người ta có thể căn cứ vào: màu sắc, độ chặt, thành phần cơ giới, chất mới sinh, chất xâm nhập…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Ngọc Bích Và Ngọc Cẩm Thạch
  • Thanh Toán T/t Là Gì ?, Thanh Toán D/a, D/p Là Gì ?
  • Cách Nhận Biết Và Phân Biệt Được Da Pu, Da Simili Và Da Thật
  • Phân Biệt Da Thật, Da Pu Và Simili Như Thế Nào?
  • Simili Là Gì? Phân Biệt Da Thật, Da Pu Và Simili & Ứng Dụng Simili Là Gì?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100