Máy Đo Quang Phổ Uv Vis

--- Bài mới hơn ---

  • Nghiên Cứu Ứng Dụng Phương Pháp Sắc Kỷ Lỏng Hiệu Năng Cao (Hplc) Và Đo Quang Phổ Uv
  • Phương Pháp Hấp Thu Quang Và Ứng Dụng Trong Phân Tích Hóa Học
  • Mách Mẹ Cách Dạy Toán Tư Duy Cho Trẻ Phát Triển Toàn Diện
  • Toán Tư Duy Cho Trẻ Em: Bài Tập Và Phương Pháp Giải
  • Phương Pháp Toán Tư Duy Cho Trẻ Mầm Non
  • Hiệu suất quang học vượt trội của máy đo quang phổ UV Vis Excellence của METTLER TOLEDO tuân thủ các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của ngành dược phẩm; gi…

    Hiệu suất quang học vượt trội của máy đo quang phổ UV Vis Excellence của METTLER TOLEDO tuân thủ các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của ngành dược phẩm; giao diện trực quan, các phương pháp được xác định trước và phép đo màu đều có trong một thiết bị nhỏ gọn, bền chắc. Sự kết hợp giữa công nghệ Array và nguồn sáng Xenon có tuổi thọ cao cho phép quét toàn bộ phổ chỉ trong vài giây và giảm đáng kể chi phí bảo trì. Tận hưởng hoạt động linh hoạt của một thiết bị độc lập, hoặc mở rộng không gian bàn làm việc của bạn với phần mềm máy tính LabX® để đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu, và kết nối các hệ thống đa thông số với các thiết bị khác của METTLER TOLEDO.

    Máy đo quang phổ thể tích siêu nhỏ

    UV5Nano là máy đo quang phổ thể tích siêu nhỏ chuyên dụng dùng để thực hiện các phép đo thể tích siêu nhỏ chính xác và có thể lặp lại chỉ với 1 µL mẫu. Công nghệ LockPath™ ngăn ngừa mẫu khô và cho phép đo phạm vi nồng độ rộng. Thiết bị nhỏ gọn và mạnh mẽ này tập trung vào các ứng dụng đo quang phổ khoa học sự sống, cung cấp cả phép đo cuvet và thể tích siêu nhỏ trên thiết bị độc lập, hoặc bằng phần mềm máy tính LabX®.

    Phần mềm LabX® UV Vis

    Phần mềm máy tính LabX® UV Vis bổ sung tính linh hoạt cho quy trình làm việc và hỗ trợ tuân thủ các quy định của FDA như 21 CFR Phần 11. Sự kết hợp của LabX® và máy đo quang phổ Excellence giúp hoàn toàn điều chỉnh các hệ thống tổng hợp UV Vis cho quy trình làm việc trong phòng thí nghiệm. Giải pháp phòng thí nghiệm thực hiện các phép tính, báo cáo và quản lý dữ liệu, tiết kiệm thời gian cho người vận hành cũng như quản lý phòng thí nghiệm, đồng thời loại bỏ nguy cơ xảy ra lỗi xử lý dữ liệu.

    Các ứng dụng đo quang phổ UV Vis

    Máy đo quang phổ UV Vis Excellence có thể được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp. Tuân thủ các quy định nghiêm ngặt trong ngành Dược phẩm và Mỹ phẩm với máy đo quang phổ UV7, mang lại hiệu suất quang học vượt trội và cùng với phần mềm máy tính LabX®, đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu và tuân thủ theo quy định. Các ngành Khoa học sự sống và Công nghệ sinh học có thể tăng hiệu suất từ các phương pháp được xác định trước của máy đo quang phổ UV5Bio và UV5Nano. Các ngành yêu cầu công suất cao có thể tự động hóa quy trình làm việc của họ và đo tới 303 mẫu với bộ lấy mẫu tự động InMotion.

    Hãy truy cập Thư viện ứng dụng đo quang phổ UV Vis của chúng tôi và bổ sung kiến thức từ các ghi chú ứng dụng đã được kiểm chứng và kiểm tra kỹ lưỡng về phép đo quang phổ UV/VIS.

    Các tài liệu, hội thảo trực tuyến, tài liệu kỹ thuật và video về phép đo quang phổ UV Vis đều có sẵn trong Thư viện chuyên môn của chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Phương Pháp Triệt Sản Nam Bằng Thắt Và Cắt Ống Dẫn Tinh
  • Tất Tần Tật Các Biện Pháp Tránh Thai Sau Sinh Mẹ Cần Biết Ngay
  • Cách Tránh Thai An Toàn Hiệu Quả Không Gây Hại Phổ Biến Nhất
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Tạm Thời Và Tránh Thai Vĩnh Viễn
  • Biện Pháp Tránh Thai Vô Kinh Cho Con Bú
  • 9 Nguyên Tắc Của Phương Pháp Dạy Con Montessori

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Trò Chuyện Với Con Ở Tuổi Mới Lớn
  • 10 Điều Bố Mẹ Nên Dạy Con Trước 18 Tuổi
  • Phương Pháp Nuôi Dạy Con Thông Minh Của Người Nhật
  • 6 Phương Pháp Dạy Con Thông Minh Của Người Nhật Cho Trẻ Trên 4 Tuổi
  • Vì Sao Nên Dạy Con Thông Minh Theo Phương Pháp Của Người Nhật
  • Nếu thực hiện những điều này, bạn sẽ luôn đi đúng đường cho dù đang theo đuổi bất cứ phương pháp nuôi dạy con nào.

    Phương pháp Montessori cho rằng, bố mẹ nên dạy con bằng cách làm mẫu thay vì sửa lỗi trực tiếp và phán xét trẻ làm điều này là đúng hay sai. Nếu trẻ làm sai một việc nào đó, hãy minh họa cách làm đúng cho trẻ thấy. Đừng nghiêm trọng hóa vấn đề, mà hãy tập trung giúp trẻ nhận thức được những việc trẻ chưa làm đúng. Khi học ngôn ngữ, nếu trẻ phát âm sai, hãy nhắc lại điều chúng vừa nói với phát âm chuẩn. Bạn không cần phải nói rằng trẻ đã phát âm sai. Đơn giản là hãy minh họa cách phát âm chuẩn.

    1. Luôn tôn trọng con

    Sự tôn trọng có thể được thể hiện đơn giản qua việc đặt bản thân bạn vào vị trí của con và hỏi tại sao con lại làm những điều như vậy. Tại sao con khóc? Một ví dụ đơn giản khác là khi trẻ thức dậy buổi sáng và thấy mình nằm ở phía bên kia giường – một điều mà người lớn chúng ta cũng thường xuyên trải qua khi còn bé. Hãy dành cho trẻ những cái ôm thặt chặt. Hoặc hãy tôn trọng trẻ nếu đôi lúc trẻ không muốn ăn, giống người lớn chúng ta nhiều khi không muốn ăn quá khia vị trước bữa chính.

    Tôn trọng con chính là một cách để bạn dạy con hiểu thế nào là tôn trọng và lịch sự, đồng thời có thể góp phần lan tỏa đến những đối tượng khác xung quanh như bạn bè, người lớn, cô giáo… Nếu chúng ta dạy trẻ cách chăm lo những thứ trẻ đang có, chúng có thể hình thành những kỹ năng này trong giai đoạn rất sớm.

    Hãy mang đến cho trẻ không gian và cơ hội để có thể di chuyển xung quanh. Đừng nhốt trẻ trong những ‘cái hang’ khiến trẻ không thể khám phá môi trường sống và trải nghiệm những kỹ năng vận động mới. Khi trẻ lớn hơn, hãy tìm những nơi an toàn cho trẻ leo trèo. Khi trẻ học cách di chuyển, trẻ có thêm cơ hội phát triển, học các kỹ năng mới thông qua khám phá thế giới một cách tự do.

    Hãy luôn đưa cho trẻ một lựa chọn. Điều này có lợi nhất khi chơi cùng trẻ từ 1-3 tuổi. Hãy cho trẻ ở độ tuổi này 02 lựa chọn để trẻ lựa chọn một. Ví dụ, trẻ có thể chọn ăn tối lúc này hoặc ăn tối sau với người khác, có thể mặc áo này với một trong hai màu…

    Ví dụ, bạn có thể mua cho trẻ loại quần chất liệu co giãn thay vì chất liệu vải bò để trẻ có thể tự mặc quần áo thay vì cần tới sự giúp đỡ của bạn kéo khóa quần. Hãy cho trẻ tự ăn cho dù điều này sẽ tạo ra một chiến trường rơi vãi, vì đây là cơ hội để trẻ thực hành các kỹ năng.

    Hãy luôn nói với trẻ bằng một giọng nói rõ ràng. Nói cho trẻ tên của những đồ vật xung quanh để mở rộng vốn từ. Việc nói chuyện với trẻ cũng cần phải thể hiện được nguyên tắc NÓI-NGHE trong giao tiếp của người lớn. Hãy tôn trọng trẻ khi nói chuyện với chúng. Đừng coi việc giao tiếp chỉ đơn giản là bảo trẻ làm hay không làm việc này hay việc kia, thay vào đó hãy thường xuyên nói với trẻ về những việc xung quanh, đã và đang xảy ra.

    Trẻ không cần đến những đồ chơi đẹp, bóng bẩy giúp chúng làm mọi điều nhưng chỉ mang lại cho chúng niềm hứng khởi trong một thời gian ngắn. Hãy sử dụng những đồ chơi kích thích trẻ dùng tay như thả bóng vào hộp, xếp các vòng tròn… Những hoạt động như vậy sẽ giúp kéo dài sự hưng phấn của trẻ khi chúng lặp đi lại lại một hoạt động nào đó.

    Đừng cho trẻ chơi những đồ chơi mà trẻ chỉ cần bấm một cái nút và rồi không cần phải làm gì nữa. Hãy dùng những đồ chơi giúp trẻ có thể tập trung thực sự nhiều hơn 02 giây. Xem tivi có thể khiến trẻ tập trung trong thời gian dài, nhưng nó lại thiếu đi tính tương tác giao tiếp hay cầm nắm. Vì thế những kỹ năng với bàn tay là rất quan trọng cho sự phát triển của trẻ. Hãy đưa cho trẻ những đồ vật mà trẻ có thể cầm nắm được.

    7. Hãy làm theo điều bạn thấy là đúng nhất cho con

    Nuôi dạy một đứa trẻ không cần phải phụ thuộc quá nhiều vào kiến thức khoa học. Có những điều chỉ cần cảm nhận của bạn để đưa ra quyết định phù hợp nhất trong hoàn cảnh cụ thể mà không lý thuyết khoa học nào có thể áp dụng được. Hãy tin vào chính bản thân mình rằng bạn đang làm điều đúng nhất cho con mình, nếu bạn cảm thấy như vậy.

    Những điều bạn dạy con vào thời điểm này sẽ giúp bạn rất nhiều trong thời gian dài sau này. Có thể sẽ mất một thời gian dài hơn đối với một đứa trẻ này so với một đứa trẻ khác để học một điều gì đó, nhưng khi chúng đã học được điều ấy, mọi thứ sẽ trở nên đơn giản. Ví du, đối với giấc ngủ, đừng để con bạn phải phụ thuộc vào việc phải có bạn ở bên vỗ về trước khi ngủ. Con bạn có thể sẽ mất nhiều thời gian để quen với việc ngủ độc lập, nhưng về lâu dài bạn sẽ không còn phải mất thời gian vỗ về chúng ngủ nữa.

    Nếu thực sự yêu thương và hỗ trợ con mình, bạn chắc chắn sẽ thành công với mọi cách thức làm cha mẹ. Hãy nhớ rằng, mọi cách thức làm cha mẹ chỉ là ‘đủ tốt’, nghĩa là không có cách nuôi con nào là hoàn hảo. Lỗi sai hay những điều không mong muốn đơn giản là một phần của quá trình cùng con trưởng thành.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khám Phá Thế Giới Qua Đôi Bàn Tay Với Phương Pháp Dạy Con Montessori
  • Bộ Sách Nghệ Thuật Dạy Con Làm Việc Nhà Của Người Nhật
  • Trẻ Lì Lợm Là “bản Chất Tự Nhiên”
  • Dạy Con Thông Minh: Mách Nhỏ Bố Mẹ Phương Pháp Dạy Trẻ Lì Lợm, Bướng Bỉnh
  • Cách Dạy Con Học Kém Toán Lớp 6 Tốt Hơn
  • Nguyên Tắc Của Phương Pháp Montessori Cho Trẻ Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Giới Thiệu Về Phương Pháp Dạy Môn Toán Của Montessori
  • Maria Montessori Là Ai? Tiểu Sử Về Maria Montessori
  • Trường Mầm Non Chu Văn An Ở Hà Đông Dạy Theo Phương Pháp Montessori
  • 10 Lợi Ích Của Phương Pháp Giáo Dục Mầm Non Montessori
  • Những Lợi Ích Vượt Trội Của Phương Pháp Montessori
  • 1. Tôn trọng, không áp đặt trẻ

    Phương pháp Montessori là gì? Đó là phương pháp giáo dục có nguyên tắc quan trọng về “Tôn trọng quyền tự do của trẻ khi chọn cách học”. Ở các lớp học Montessori, trẻ được tự do lựa chọn hoạt động yêu thích theo nhịp độ phát triển của từng trẻ, ưu tiên sự phát triển tính tập trung và cá nhân.

    Việc thầy cô và ba mẹ áp đặt suy nghĩ của mình lên trẻ, bắt trẻ phải theo ý mình hoàn toàn đi ngược với nguyên tắc Montessori sẽ khiến cho trẻ mất đi khả năng tư duy vốn có.Vì vậy, hãy để trẻ tự do khám phá trong nhà và ngoài trời theo cách của riêng mình, miễn sao trẻ được bảo đảm an toàn. Hãy để các con tiếp thu những cái mới một cách tự nhiên theo hướng trẻ muốn. Từ đó, trẻ sẽ học được cách tự lập và kích thích trí tuệ của trẻ phát triển.

    2. Học tập luôn đi kèm với thực hành

    Cách tốt nhất giúp trẻ vận dụng tốt được những điều học được là để trẻ tham gia vào các hoạt động thực tiễn. Trẻ có xu hướng bắt chước những hoạt động mà bản thân quan sát được. Do đó, mục đích của giáo dục Montessori là chỉ ra cách thực hiện các nhiệm vụ, để trẻ phát triển theo cách tự thực hiện chúng.

    Trong các hoạt động thực hành cuộc sống, trẻ sẽ được trải nghiệm những kỹ năng thực tế như rót nước, tự mặc và cởi quần áo, để giày đúng nơi quy định, ăn uống lành mạnh hay chăm sóc môi trường bằng cách giữ lớp học sạch đẹp, tưới cây, quét bụi,… Ngoài ra, trẻ cũng được hướng dẫn một số thói quen tốt trong cuộc sống như chờ đợi đến lượt mình, chờ hoạt động mình muốn làm hay đưa ra những lời nhận xét có tính chất xây dựng tích cực và biết lắng nghe người khác.

    4. Không làm ảnh hưởng đến sự tập trung của trẻ

    Khi thấy trẻ đang say mê chơi một món đồ chơi nào đó, bố mẹ không nên xen vào ngoại trừ có một lý do đặc biệt. Trẻ cần sự tập trung để tìm ra nhiều cách chơi của riêng mình, cũng như giải quyết vấn đề gặp phải trong lúc chơi.

    5. Thiên nhiên truyền cảm hứng cho trẻ

    Theo tiến sĩ Maria Montessori, thiên nhiên giúp trẻ nhận thức được thực tế. Có rất nhiều hoạt động học tập và các cuộc phiêu lưu kỳ thú dành cho trẻ diễn ra ngoài trời với không khí trong lành thay vì ở tại lớp học hoặc trong nhà.

    Dịch vụ tư vấn đầu tư trường học: https://idj.com.vn/tu-van-dau-tu-truong-hoc/

    Dịch vụ quản lý và vận hành trường học: https://idj.com.vn/dich-vu-quan-ly-va-van-hanh-truong-hoc/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 7 Sách Dậy Con Theo Phương Pháp Montessori Hay Nhất Hiện Nay
  • Hướng Dẫn Thực Hành Dạy Con Theo Phương Pháp Montessori Tại Nhà
  • Sách Phương Pháp Montessori Trong Gia Đình
  • Phương Pháp Montessori Trong Gia Đình, Tác Giả Sagara Atsuko
  • Top 5 Trường Mầm Non Áp Dụng Phương Pháp Montessori Tại Tp.hcm
  • Phương Pháp Điều Chỉnh Và Nguyên Tắc Của Luật Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhiệm Vụ Của Hướng Dẫn Viên Du Lịch Là Gì?
  • Ngành Hướng Dẫn Viên Du Lịch Là Gì? Học Những Gì ?
  • Hướng Dẫn Viên Du Lịch Là Gì? Tất Tần Tật Về Nghề Hướng Dẫn Viên
  • Những Ưu Điểm Của Nghề Hướng Dẫn Viên Du Lịch
  • Lựa Chọn Phương Pháp Vô Cảm Nào Tốt Nhất Cho Sản Phụ?
  • Do đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế đa dạng nên luật kinh tế sử dụng và phối hợp nhiều phương pháp tác động khác nhau. Trong các phương pháp đó luật kinh tê sử dụng hai phương pháp cơ bản. Đó là phương pháp mệnh lệnh và phương pháp thỏa thuận theo mức độ linh hoạt tùy theo từng quan hệ kinh tế cụ thê.

    1.2 Phương pháp mệnh lệnh (có nhiều sách sọi là phương pháp quyền uy)

    Đó là phương pháp được sử dụng chủ yếu để điều chỉnh nhóm quan hệ quản lý kinh tế giữa những chủ thể bất bình đăng với nhau. Luật kinh tế quy định cho các cơ quan quản lý nhà nước vê kinh tế có quyền ra quyết định, chỉ thị bắt buộc đối với các chủ thể kinh doanh- bị quản lý trong phạm vi chức năng của mình.

    2.2 Phương pháp thỏa thuận (hay phương pháp bình đẳng)

    Phương pháp này được sử dụng đề điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh giữa các chủ thể bình đắng với nhau. Luật kinh tế quy định cho các bên tham gia quan hệ kinh tế có quyền bình đẳng với nhau, cùng thỏa thuận những vấn đề mà các bên quan tâm khi thiết lập hoặc chấm dứt quan hệ kinh tế mà không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ một tô chức hay cá nhân nào.

    Nếu bạn đang gặp khó khăn hay vướng mắc về viết luận văn, khóa luận hay bạn không có thời gian để làm luận văn vì phải vừa học vừa làm? Kỹ năng viết cũng như trình bày quá lủng củng?… Vì vậy bạn rất cần sự trợ giúp của dịch vụ làm thuê đồ án tốt nghiệp xây dựng.

    Hãy gọi ngay tới tổng đài tư vấn luận văn 1080 – 096.999.1080 nhận viết luận văn theo yêu cầu, đảm bảo chuẩn giá, chuẩn thời gian và chuẩn chất lượng, giúp bạn đạt được điểm cao với thời gian tối ưu nhất mà vẫn làm được những việc quan trọng của bạn.

    II. Nguyên tắc của luật kinh tế.

    Có 3 nguyên tắc cơ bản

    1/ Luật kinh tế phải đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đốivới hoạt động quản lý kinh tế nhà nước.

    Có nghĩa là luật kinh tế phải thể hiện được vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động quản lý kinh tế của nhà nước thông qua việc thê chế hóa các đường lối chủ trương, chính sách của Đảng trong các quy định pháp luật thành nghĩa vụ của quản lý kinh tế cụ thẻ.

    2/ Luật kinh tế phải đảm bảo quyền tự do kinh doanh và quyển tự chủ trong kinh doanh của các chủ thể kinh doanh.

    Luật kinh tê quy định: Các chủ thể kinh doanh có quyền lựa chọn các hình thức kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, quy mô và chủ động trong mọi hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật.

    3/ Nguyên tắc bình đẳng trong kinh doanh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thiết Bị Đo Quang Phổ Hấp Thụ Phân Tử (Uv
  • Bottom Up Là Gì? Vai Trò Và Ứng Dụng Trong Ao Nuôi Tôm
  • Tiểu Sử Genichi Taguchi, Những Đóng Góp Và Khái Niệm Chất Lượng Của Nó / Khoa Học
  • Những Tác Dụng Phụ Của Toce Là Gì? Giải Pháp Giảm Thiểu?
  • Điều Trị Ung Thư Gan Bằng Phương Pháp Toce
  • Các Nguyên Tắc Cơ Bản Của Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột

    --- Bài mới hơn ---

  • 10 Nguyên Tắc Khi Dạy Học Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Tiến Trình Tổ Chức Dạy Học Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Hiệu Quả Từ Việc Dạy Học Theo Phương Pháp ” Bàn Tay Nặn Bột”.
  • Hiệu Quả Phương Pháp Dạy Học Bàn Tay Nặn Bột
  • Bài Soạn Khoa Học Theo Pp Bàn Tay Nặn Bột
  • Đối với học sinh tiểu học vốn sống của các em còn ít, vì vậy các sự vật hiện tượng càng gần gũi với học sinh càng kích thích sự tìm hiểu, khuyến khích sự tìm tòi của các em.

    c) Những hoạt động do giáo viên đề xuất cho học sinh được tổ chức theo tiến trình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập. Các hoạt động này làm cho các chương trình học tập được nâng cao lên và dành cho học sinh một phần tự chủ khá lớn.

    Mức độ nhận thức được hình thành theo quy luật từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Để học sinh hiểu sâu sắc kiến thức, yêu cầu của sự hình thành kiến thức cũng theo quy tắc này. Từ hiểu biết cơ bản, rồi nâng dần lên theo cấp độ tương ứng với khả năng nhận thức của học sinh sẽ giúp học sinh tiếp thu kiến thức hiệu quả và chắc chắn.

    2. Những đối tượng tham gia. a) Các gia đình và/hoặc khu phố được khuyến khích thực hiện các công việc của lớp học.

    Nguyên tắc này nhấn mạnh vai trò của gia đình và xã hội trong việc phối kết hợp với nhà trường để thực hiện tốt quá trình giáo dục học sinh.

    b) Ở địa phương, các đối tác khoa học (Trường Đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu,…) giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình.

    Các trường học có thể mời các chuyên gia, các nhà khoa học, các giáo sư tới nói chuyện với học sinh trong lớp học hay giúp đỡ giáo viên trong việc thiết kế hoạt động dạy học (kiến thức, thí nghiệm). Điều này là thực sự cần thiết nhất là đối với các giáo viên tiểu học vì trong chương trình đào tạo không được học nhiều về các kiến thức khoa học. Cần chú ý một số vấn đề mấu chốt, giáo viên là người không thể thay thế trong hoạt động dạy học ở lớp, sự giúp đỡ tham gia vào lớp học (nếu có) của các nhà khoa học, chuyên gia chỉ dừng lại ở mức độ hỗ trợ giáo viên.

    c) Ở địa phương, các viện đào tạo giáo viên (Trường cao đẳng sư phạm, đại học sư phạm) giúp các giáo viên kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy.

    Cũng tương tự nguyên tắc 8, nguyên tắc này nhấn mạnh sự hợp tác giúp đỡ về mặt sư phạm, phương pháp, kinh nghiệm của các giảng viên, chuyên gia nghiên cứu về phương pháp BTNB giúp đỡ giáo viên thiết kế giảng dạy, tư vấn giải đáp những vướng mắc của giáo viên.

    d) Giáo viên có thể tìm thấy trên internet các website có nội dung về những môđun kiến thức (bài học) đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động, những giải pháp thắc mắc. Giáo viên cũng có thể tham gia hoạt động tập thể bằng trao đổi với các đồng nghiệp, với các nhà sư phạm và với các nhà khoa học. Giáo viên là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách.

    Từ sự cần thiết phải có nguồn thông tin, các tư liệu giúp đỡ cho giáo viên được đặt ra cấp thiết. Giáo viên cần được quan tâm giúp đỡ và hỗ trợ trong quá trình chuẩn bị các tiết học. Internet và các trang web là một kênh hỗ trợ quan trọng cho giáo viên, nơi mà giáo viên có thể trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm với nhau, đề xuất những vấn đề vướng mắc, các câu hỏi cho các chuyên gia, các nhà nghiên cứu để được giải đáp và giúp giáo viên thực hiện tốt kế hoạch dạy học của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Kết Quả Sau Thời Gian Vận Dụng ” Phương Pháp Bàn Tay Năn Bột” Vào Dạy Học
  • Thuận Lợi Và Khó Khăn Với “bàn Tay Nặn Bột”
  • Skkn Sử Dụng Phương Pháp “bàn Tay Nặn Bột” Trong Dạy Học Có Làm Tăng Kết Quả Học Tập Môn Vật Lý Của Học Sinh Lớp 8
  • Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Trong Giảng Dạy Môn Vật Lí 8
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Giảng Dạy Bộ Môn Vật Lí
  • Nguyên Tắc Và Phương Pháp Chuẩn Prp

    --- Bài mới hơn ---

  • Trẻ Hóa Làn Da Bằng Phương Pháp Prp
  • Trẻ Hóa Da Bằng Công Nghệ Prp Có Tốt Không? Giá Bao Nhiêu?
  • Cấy Tinh Chất Prp, Collagen
  • Ưu, Nhược Điểm Của Công Nghệ Tế Bào Prp Trong Làm Đẹp
  • Trẻ Hóa Làn Da Với Huyết Tương Giàu Tiểu Cầu (Prp)
  • Bảy yếu tố tăng trưởng protein cơ bản được tích cực tiết ra bởi tiểu cầu bắt đầu quá trình lành vết thương trong cơ thể một cách tự nhiên. PRP cũng bao gồm ba protein trong máu hoạt động như các phân tử kết dính tế bào: Fibrin, fibronectin và vitronectin.

    Kích hoạt làm cho các hạt có trong các tiểu cầu kết hợp với màng tế bào (còn gọi là degranulation), nơi các protein tiết ra (ví dụ như PDGF, TGF-β, vv ..) được chuyển thành trạng thái sinh học bằng việc bổ sung histone và các chuỗi carbohydrate . Các protein hoạt động sau đó được tiết ra, gắn kết với các receptor xuyên màng của các tế bào, bao gồm: Các tế bào gốc trung mô, osteoblasts, nguyên bào sợi, các tế bào nội mô và các tế bào biểu bì. Các chất chủ vận này gắn kết các thụ thể xuyên màng sau đó kích hoạt một protein tín hiệu nội bào, tạo ra sự biểu hiện của một chuỗi gen điều khiển quá trình tăng sinh tế bào, hình thành ma trận, sản sinh ra osteoid, tổng hợp collagen … do đó kích thích việc sửa chữa mô và tái tạo mô.

    Sự hoạt động của các yếu tố tăng trưởng này bằng tiểu cầu bắt đầu trong vòng 10 phút sau khi kích hoạt, với hơn 95% các yếu tố tăng trưởng tổng hợp được tiết ra trong vòng 1 giờ.

    Hệ thống phân loại huyết thanh giàu tiểu cầu

    Pure Platelet Rich Plasma (P-PRP): Huyết thanh giàu tiểu cầu tinh khiết hoặc các sản phẩm PRP không tốt cho leucocyte là các chế phẩm không có bạch cầu và với mạng lưới sợi mật độ thấp sau khi kích hoạt.

    Các sản phẩm leucocyte và PRP (L-PRP): là các chế phẩm có bạch cầu và với mạng lưới fibri-rin mật độ thấp sau khi kích hoạt.

    Chất fibrin giàu tiểu cầu nguyên chất (P-PRF): hoặc các bào chế giàu fibrin chứa bạch cầu không tốt mà không có tế bào bạch cầu và có mạng lưới sợi mật độ cao. Các sản phẩm này chỉ tồn tại dưới dạng gel kích hoạt mạnh, và không thể tiêm hoặc sử dụng như keo sợi fibra truyền thống.

    Fibrin có chứa bạch cầu và bạch cầu giàu chất béo (L-PRF) hoặc các sản phẩm PRP thế hệ thứ hai là các chế phẩm có bạch cầu và có mạng lưới sợi mật độ cao.

    CHUẨN BỊ HUYẾT THANH GIÀU TIỂU CẦU PRP

    PRP được chiêt xuât từ mẫu máu khỏe mạnh của bệnh nhân được rút ra tại thời điểm điều trị.

    Bệnh nhân sẽ được rút khoảng 30cc máu ở cẳng tay, sau khi chiết tách sẽ thu được khoảng 3 – 5 cc PRP tùy thuộc vào lượng tiểu cầu cơ bản của cá nhân, dụng cụ và kỹ thuật được sử dụng.

    Bác sĩ có thể bổ sung chất chống đông máu như citrate dextrose A để ngăn ngừa kích hoạt tiểu cầu trước khi sử dụng điều trị.

    Sau đó bác sĩ sẽ đưa máu vào ống nghiệm và đặt vào trong máy ly tâm chiết xuất PRP.

    NGUYÊN TÁC CHUẨN BỊ PRP

    PRP được điều chế bằng một quá trình được gọi là ly tâm vi phân. Trong phân ly ly tâm, lực gia tốc được điều chỉnh để lắng cặn một số thành phần tế bào dựa trên trọng lực riêng biệt khác nhau.

    Đặt ống vacutainer vào máy ly tâm. Các ống quay trong 10 phút với tốc độ 3.000 vòng quay / phút. Việc kéo sợi làm cho máu tách thành ba lớp. Ở phía dưới, bạn sẽ thấy các tế bào hồng cầu. Ở phía trên là plasma không tế bào giống với một gel màu rơm. Platelet Rich Fibrin nằm ở giữa trong một lớp khoảng 2 mm. Lớp này là một bộ sưu tập của tiểu cầu, tập trung và bị mắc kẹt trong lưới fibri.

    Các bác sĩ nhanh chóng tách các lớp và đặt cục máu đông trong khu điều trị. Bước quan trọng nhất của quy trình là tốc độ chuyển huyết thanh PRF. Do không chứa bất kỳ thuốc chống co giật nào, bác sĩ phải sử dụng huyết thanh ngay lập tức.

    Các thành phần của PRF hoặc PRP

    Platelet Rich Fibrin là một ma trận có chứa các hợp chất khác nhau để giúp vết thương lành:

    Bạch cầu

    Cytokines: Protein hoạt động như “những người đưa tin” giữa các tế bào và ảnh hưởng đến hành động của chúng

    Glycoprotein cấu trúc: Protein hòa tan trong nước gắn với carbohydrate hoặc đường

    Các yếu tố tăng trưởng: Protein giúp tế bào tái tạo

    Các yếu tố tăng trưởng khác: Protein kích thích tái tạo mạch máu mới

    Lợi ích của việc sử dụng PRF hoặc PRP

    Các bác sĩ có thể sử dụng liệu pháp Platelet Rich Fibrin (plasma) để hỗ trợ chữa lành các vết thương, thương tích và vết rạch từ các thủ thuật phẫu thuật.

    Bảo vệ vết thương: Bằng cách đặt gel PRF trên khu vực điều trị, các bác sĩ có thể tạo ra một tấm chắn bảo vệ chống lại nhiễm trùng.

    Tăng cường hồi phục nhanh: Các hợp chất chứa trong PRF giúp phục hồi nhanh các mô bằng cách tạo ra một ma trận hỗ trợ. Làm lành mô nhanh làm giảm đau và khả năng nhiễm trùng hoặc biến chứng từ thủ thuật.

    Giảm nguy cơ các phản ứng phụ: Kể từ khi huyết thanh được hình thành từ máu, hầu như không có nguy cơ cơ thể của bạn từ chối điều trị.

    Thủ tục đơn giản: Chiết xuất huyết thanh là một thủ tục đơn giản. Nó có thể được hoàn thành trong khi bạn chờ đợi để điêu trị khoảng 30 phút.

    PRF hỗ trợ hệ miễn dịch.

    PRF ngừng chảy máu ở vết thương.

    Không có chất phụ gia cần thiết như các thuốc chống co giật, thrombin bò, canxi clorid, hoặc các hợp chất hoạt hóa khác.

    Platelet Rich Fibrin rất hiệu quả trong việc hỗ trợ chữa lành các vết thương, thương tích, và các mô được sửa chữa bằng các thủ thuật phẫu thuật. Tuy nhiên, các bác sĩ phải xây dựng và quản lý nó một cách cẩn thận theo các thủ tục tiêu chuẩn. Các huyết thanh PRF được tạo ra mà không cần sử dụng thuốc chống co giật. Vì lý do này, bác sĩ không thể lưu trữ nó sau khi chuẩn bị. Họ phải đưa nó vào khu vực điều trị ngay. Lưu trữ có thể làm huyết thanh giảm độ ẩm. Nó cũng có thể mất tính toàn vẹn của nó và khả năng chữa bệnh của nó. Làm lạnh có thể làm tăng nguy cơ nhiễm bẩn từ vi khuẩn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấy Máu Tự Thân Là Gì? Có Tốt Không? Giá Bao Nhiêu Tiền?
  • Dịch Vụ Điều Trị Nám Tận Gốc Bằng Phương Pháp Prp 3.0
  • Câu Chuyện Trị Nám Kháng Trị Bằng Phương Pháp Prp Của Chị Tiểu Thương
  • Ứng Dụng Phương Pháp Prp (Huyết Tương Giàu Tiểu Cầu) Trong Thẩm Mỹ
  • Ứng Dụng Của Huyết Tương Giàu Tiểu Cầu Prp
  • Nguyên Tắc Áp Dụng Phương Pháp Glenn Doman

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Mẹ Việt Đã Áp Dụng Phương Pháp Glenn Doman Cho Con Như Thế Nào
  • Hướng Dẫn Phụ Huynh Cách Dạy Con Theo Phương Pháp Glenn Doman
  • Phương Pháp Glenn Doman Là Gì? Áp Dụng Cho Trẻ 0
  • Dạy Trẻ Bằng Phương Pháp Glenn Doman Có Hiệu Quả Không?
  • Báo Giá Bộ Thẻ Flashcard Dạy Trẻ Học Toán Theo Phương Pháp Glenn Doman
  • Phương pháp Glenn Doman không giới hạn độ tuổi – bắt đầu càng sớm càng tốt.

    Trẻ càng nhỏ thì phát triển càng nhanh, có những tố chất nếu bỏ qua giai đoạn phát triển thì sẽ không bao giờ bù đắp được. Thầy cô có thể hiểu đơn giản trẻ ở giai đoạn đầu giống như một tờ giấy trắng, mọi tính cách, suy nghĩ đều mới chớm được hình thành. Vì vậy, bé ở lứa tuổi này thường học rất nhanh lại dễ nhớ, điều này cũng rất lợi thế cho việc giảng dạy của thầy cô. Nên trẻ cần được bắt đầu càng sớm càng tốt, tốt nhất là từ trong thai kỳ. Nhưng đối với phương pháp Glenn Doman không phải hoạt động nào cũng thực hiện sớm, phải chờ trẻ phát triển đến giai đoạn phù hợp mới có thể tiến hành. Điều này có nghĩa là thầy cô cần thu xếp khối lượng cũng như loại kiến thức phù hợp với trẻ. Thời gian và cường độ các hoạt động cũng phải phù hợp với khả năng của trẻ, không nhất thiết phải đúng độ tuổi. Khi áp dụng giáo dục sớm Glenn Doman, nếu trẻ nhỏ mà đã thực hiện được các hoạt động của trẻ lớn hơn thì vẫn tạo điều kiện cho trẻ thực hiện, ngược lại trẻ lớn mà chưa làm được các hoạt động cơ bản thì cần phải tập như trẻ nhỏ.

    (Thầy cô có thể tìm hiểu thêm KidsOnline qua website: https://kidsonline.edu.vn hay liên hệ trực tiếp hotline: 0965.002.357 để được tư vấn chi tiết)

    Cố gắng khơi dậy đam mê, học mà chơi, chơi mà học khi áp dụng phương pháp Glenn Doman

    Đây cũng là điều cơ bản nhất trong nguyên tắc phương pháp Glenn Doman. Bởi trẻ mà không có hứng thú thì kết quả học tập sẽ không được như mong đợi thậm chí còn thu được những kết quả không hề mong muốn. Bởi đối tượng của phương pháp Glenn Doman đều là những trẻ nhỏ. Trẻ dưới 6 tuổi phải chơi mà học, học mà chơi. Với trẻ nhỏ, chơi có ích nghĩa là học, mà học một cách hứng thú nghĩa là chơi.

    Ví dụ: trẻ thấy mẹ quét nhà, trẻ cũng bắt chước đòi quét nhà, và trẻ quét một cách vui vẻ, đó là học mà chơi, chơi mà học. Trẻ có một bản năng bắt chước, trẻ bắt chước rất giỏi và rất thích bắt chước. Nếu cho trẻ nhìn thấy ai đó làm một việc gì đó một cách say mê, nhiều khả năng trẻ cũng sẽ bắt chước và dần dần tạo nên hứng thú. Thầy cô có thể tham khảo những cách đó để khơi dậy đam mê trong trẻ. Việc tạo dựng được cảm hứng học tập tốt cho trẻ là nền tảng để tạo nên sự thành công của phương pháp Glenn Doman.

    Trong phương pháp Glenn Doman biến khó thành dễ: cái gì khó học trước

    Một trong những tắc khác biệt nhất trong hệ thống nguyên tắc phương pháp Glenn Doman là “khó học trước”. Với trẻ nhỏ không hề có khái niệm dễ và khó, chỉ có điều bé thích và không thích. Cái gì trẻ thích thì được coi là dễ, và cái gì không thích thì được coi là khó. Bởi vậy, quan niệm trẻ nhỏ chỉ làm những việc đơn giản thực sự là sai lầm.

    Những sự việc càng khó thì càng phải học từ sớm, đầu tiên cho trẻ tiếp xúc để hình thành những ấn tượng ban đầu (mẫn cảm) và đem lòng yêu thích chúng, sau đó dần dần tiếp cận và học. Trẻ không biết phân biệt khó hay dễ, sợ hay không sợ, trong suy nghĩ của chúng chỉ có hứng thú và không hứng thú, yêu thích và cự tuyệt. Đây là điểm vô cùng đặc biệt của phương pháp Glenn Doman mà các thầy cô cần lưu ý khi áp dụng vì nó hoàn toàn khác với những suy nghĩ truyền thống trước đây ” cái nào dễ học trước, khó học sau”

    Chúc thầy cô thành công !

    Xem Thêm:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiểu Đúng Về Độ Tuổi Áp Dụng Phương Pháp Glenn Doman?
  • Kinh Nghiệm Dạy Bé Theo Phương Pháp Glenn Doman
  • Có Nên Dạy Con Theo Phương Pháp Của Glenn Doman Hay Không?
  • Nên Bắt Đầu Dạy Con Theo Phương Pháp Glenn Doman Như Thế Nào?
  • Dạy Con Theo Phương Pháp Glenn Doman: Nên Bắt Đầu Như Thế Nào?
  • 3 Nguyên Tắc Quan Trọng Nhất Của Phương Pháp Dạy Con Biết Nghe Lời

    --- Bài mới hơn ---

  • 8 Phương Pháp Dạy Con Biết Nghe Lời “gọi Dạ Bảo Vâng”
  • 3 Nguyên Tắc Tối Thiểu Trong Phương Pháp Dạy Con Biết Nghe Lời
  • 5 Phương Pháp Dạy Con Đánh Vần Trước Khi Vào Lớp 1
  • Phương Pháp Dạy Con Kiểu Nhật, Mẹ Việt Học Được Gì Để Dạy Con Thông Minh?
  • Phương Pháp Dạy Con Kiểu Nhật Khiến Cả Thế Giới Ngưỡng Mộ
  • Điều đâu tiên, Cha mẹ hãy là tấm gương sáng

    Cha mẹ muốn dạy được con trở nên tốt đẹp, muốn con nghe lời thì bản thân phải tốt đã. Trẻ con dung nạp rất nhiều tính cách và hành động của cha mẹ. Thế nên, có thể hành động ương bướng hôm nay của trẻ xuất phát từ cha mẹ.

    Ví dụ trong một trường hợp, mẹ yêu cầu con sắp xếp gọn đồ chơi lại trong khi cha mẹ lại không có thói quen sắp xếp nhà cửa, vật dụng. Thì liệu con có nghe theo lời mẹ không hay trẻ nghĩ rằng “mẹ cũng có sắp xếp đồ đạc đâu, tại sao mình phải làm”

    Thể nên phương pháp dạy con biết nghe lời tốt nhất và tận gốc là từ cha mẹ. Cha mẹ hãy trở thành hình mẫu lý tưởng nhất cho con để con học theo. Nếu cha mẹ ngăn nắp thì con sẽ tự động ngăn nắp, cha mẹ yêu thương mọi người thì trẻ cũng vậy.

    Điều thứ 2, những quy tắc

    Tất nhiên, bản năng của trẻ là thích vui chơi, ghét sự gò bó. Cha mẹ vẫn sẽ tạo điều kiện tối đa cho trẻ chơi và học hỏi. Nhưng phải có giới hạn, vì trẻ con không biết đâu là điểm dừng. Nếu không có những quy tắc thì con sẽ rất dễ hư hỏng và từ đó sẽ không nghe lời cha mẹ nữa.

    Hơn nữa những quy tắc về chuẩn mực xã hội vô cùng quan trọng. Điều này giúp mọi người có cái nhìn thiện cảm về con bạn, yêu quý con bạn hơn. Những quy tắc về chào hỏi, đối xử với mọi người giúp trẻ hòa nhập với thế giới.

    Trẻ nên cần có những quy tắc như đi chơi về trước 9h tối, gặp người lớn phải chào. Phải giúp cha mẹ trong việc nhà, phải tự gập mùng mền và phòng riêng…

    Điều thứ 3, có thưởng có phạt

    Tất cả chúng ta đều cần có động lực và sự công nhận của mọi người. Đây là 1 trong 5 nhu cầu thiết yếu của con người theo tháp nhu cầu của Maslow. Trẻ con cũng vậy, mỗi khi con làm đúng con cần nhận được sự công nhận của cha me. Mà biểu hiện chính là những lời khen, những phần quà nhỏ. Điều này sẽ giúp trẻ làm tốt hơn và hẳn là sẽ nghe lời cha mẹ.

    Rất nhiều cha mẹ Việt Nam vẫn theo tư tưởng xưa cũ, sợ rằng nếu khen con sẽ làm con tự mãn. Mà phải chê, tuyệt đối không khen. Điều này chỉ dẫn tới những sũy nghĩ lệch lạc và làm trẻ mất tự tin.

    Phương pháp dạy con biết nghe lời của Singlemum cũng khuyên mẹ nên phạt con trong một số trường hợp. Nhấn mạnh một chút, rất nhiều phụ huynh phạt con sai cách và sai mục đích. Sai cách ở chỗ la mắng, đánh con đây là những hình phạt không hợp lý. Sai mục đích vì nhiều cha mẹ la mắng con, đánh con hoặc những hình phạt khác để xả cơn giận. Cha mẹ cần định hướng phạt con một cách tích cực.

    Cụ thể phạt con tích cực là phạt đúng tội, đúng lúc, phạt sau khi con đã hiểu mình sai. Còn nếu con chưa hiểu mà phải chịu phạt con sẽ ấm ức và chẳng chịu nghe lời đâu. Phạt con những hình phạt tích cực như lau nhà, tịch thu đồ chơi, cắt giờ coi hoạt hình… Những hình phạt này tưởng chừng rất đơn giản những lại giúp ích cho bé thật nhiều.

    Phương pháp dạy con không đòn roi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cẩm Nang Nuôi Dạy Con Đúng Cách & Khoa Học Dành Cho Cha Mẹ Trẻ
  • Phương Pháp Dạy Con Thông Minh Khoa Học
  • Cẩm Nang Chăm Sóc Con Đúng Cách
  • Nuôi Dạy Con Thông Minh Từ Nhỏ
  • Mách Nhỏ Bố Mẹ 5 Phương Pháp Dạy Con Tự Lập Sớm
  • Các Nguyên Tắc Và Phương Pháp Dạy Học Tiếng

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Cách Thực Hành Giảng Dạy Đạt Hiệu Quả Cao
  • Bế Giảng Khóa Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Anh
  • Bật Mí Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Anh Tiểu Học Cải Tiến Tại Trung Tâm British Council
  • Các Phương Pháp, Kỹ Năng Và Cách Thức Giảng Dạy
  • Trao Đổi Về Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Anh Hiệu Quả
  • 13/05/2015 3:36:01 CH – Lượt xem: 43003

    Th.s Chử Lương Đào

    Hiện nay trong việc dạy tiếng nước ngoài cũng như dạy tiếng mẹ đẻ, thuật ngữ ” quan điểm giao tiếp” đã được sử dụng khá quen thuộc. Quan điểm này ra đời khoảng hơn hai chục năm nay, đã được nhiều chuyên gia nghiên cứu và ứng dụng, thu được những kết quả đáng lưu ý.

    – Những cơ sở đề xuất quan điểm giao tiếp

    + Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người. Con người có thể sử dụng nhiều phương tiện, nhiều công cụ khác nhau để giao tiếp ( ví dụ cờ, còi, biển báo, động tác tay chân…ánh mắt…)nhưng không có một phương tiện nào lại đơn giản và thuận lợi như ngôn ngữ.

    + Mục dích cuối cùng của việc dạy tiếng là dùng ngôn ngữ để tư duy và giao tiếp. Vậy chỉ có lấy giao tiếp, hướng tới giao tiếp thì việc dạy học tiếng mới có kết quả. Chỉ có hướng tới giao tiếp thì quá trình dạy học tiếng mới gạt bỏ nhàm chán, trở nên hấp dẫn, hứng thú với người học.

    -+ Trong việc dạy tiếng người ta thường đi theo 3 hướng:

    * Hướng dạy ngôn ngữ: tức là dạy các đơn vị trong một hệ thống ngôn ngữ nào đó ( ví dụ dạy từ vựng, ngữ, câu…) để làm công cụ giao tiếp.( lí thuyết)

    * Hướng dạy lời nói: dạy những cách thức hình thành và thể hiện những ý nghĩ của mình bằng ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp.( thực hành)

    *Hướng dạy hoạt động lời nói: dạy quá trình giao tiếp qua việc nghiên cứu các dạng và hình thức khác nhau của lời nói. ( phong cách học)

    Cả ba hướng dạy trên đều nhằm mục đích hình thành kĩ năng, kĩ xảo sử dụng ngôn ngữ trong những tình huống khác nhau của việc giao tiếp. Giao tiếp ở đây vừa mang tính mục đích vừa mang tính chất của một phương pháp. ” Quan điểm giao tiếp” bao trùm lên cả hai nội dung này.

    2. Những điều cần chú ý khi dạy tiếng theo quan điểm giao tiếp

    _ Chú ý đặc biệt đến chức năng làm công cụ giao tiếp, chức năng xã hội của ngôn ngữ trong quá trình giảng dạy. Những kiến thức đi quá sâu vào hệ thống ngôn ngữ( của ngô ngữ học) cần được lược bỏ. Người học học cấu trúc ngôn ngữ là để nắm cách sử dụng chúng chứ không phải để hiểu lí thuyết về cấu trúc ngôn ngữ.

    – Phải kết hợp chặt chẽ giữa việc lĩnh hội kiến thức lí thuyết ngôn ngữ với việc luyện tập thực hành giao tiếp. Cần giải quyết hợp lí giữa việc dạy kiến thức ngôn ngữ lần lượt từ các đơn vị bậc thấp đến bậc cao, từ dễ đến khó ( ngữ âm- từ vựng- ngữ pháp- văn bản- phong cách) với việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp không tuân theo trình tự đó. Vì vậy, để đạt được mục đích giao tiếp, có lúc phải sắp xếp lại trình tự ngữ liệu cho phù hợp với giao tiếp trong thực tế. Ví dụ.

    – Cấu tạo tình huống học tập gần gũi với tình huống giao tiếp thật trong đời sống. Những tình huống như vậy trong giờ học sẽ giúp người học tiếp thu bài nhẹ nhàng, thoải mái, giúp họ có thể sử dụng ngay cách nói, cách viết trong giờ học vào thực tế.

    – Con người sử dụng 2 dạng giao tiếp ngôn ngữ là nói và viết. Dạy tiếng cần quan tâm đầy đủ đến cả hai dạng này. Sẽ là sai lầm khi thiên về, nhấn mạnh về một dạng nào đó( chỉ chú ý rèn nói mà không chú ý rèn viết hoặc ngược lại)

    3. Những yêu cầu cụ thể của phương pháp giao tiếp

    – Bất kì một phát ngôn nào của con người cũng có lí do, nhu cầu nhất định trong một tình huống nhất định. Cần tạo mọi tình huống và lợi dụng mọi tình huống để giảng dạy (vui vẻ, bực bội, trang nghiêm, tếu táo…người trẻ, người già,nông dân, trí thức…)

    – Người nói hoặc viết cần được chuẩn bị chu đáo về nội dung; vì không có nội dung thì không thể nói tới giao tiếp.

    – Biết lựa chọn phương án tốt nhất phù hợp với nhiệm vụ giao tiếp vạch ra.

    – Tất cả những nội dung do học sinh tạo ra( phát ngôn, văn bản) đều có vai trò của mình trong giao tiếp. Lời nói( văn bản) cần được giáo viên và các học sinh tôn trọng, lắng nghe. Khi học sinh hỏi, giáo viên có nhiệm vụ trả lời.

    – Việc dạy tiếng về bản chất và mục đích mang tính thực hành rõ rệt. Nguyên tắc thực hành càn được quán triệt trong suốt quá trình dạy học ở tất cả các khâu từ tìm hiểu bài, giới thiệu bài mới, bài học, ghi nhớ và bài tập và nhất là luyện tập.Khâu luyện tập với những yêu cầu:

    + Củng cố cho học sinh cách phát âm đúng, viết đúng chính tả, hiểu chính xác nghĩa của từ, hiểu cấu tạo và hệ thống hóa những từ đã học.

    + Giúp học sinh tự mở rộng vốn từ, bổ sung cho mình những từ mới trên cơ sở nắm vững kiến thức về cấu tạo từ và nghĩa của từ.

    Quá trình dạy học quyết không thể là quá trình thầy đọc- trò ghi theo một giáo án với những kết luận có sẵn mang tính áp đặt. Học sinh thụ động tiếp thu khiến các buổi học nặng nề, nhàm chán và kiến thức không bền vững.

    – Một số phương thức thực hiện:

    + Yêu cầu học sinh xem trước bài mới ở nhà. Nên yêu cầu chu đáo mà nhẹ nhàng, tự nhiên, hấp dẫn, gợi mở và có tính chất định hướng cho quá trình dạy học trên lớp những hôm sau. Tránh hướng dẫn quá sơ lược, dễ dãi hoặc quá tỉ mỉ, chi tiết hoặc yêu cầu quá cao.

    * Tạo không khí cởi mở, bình đẳng và khoa học để ai cũng tích cực suy nghĩ và muốn đóng góp xây dựng bài.Tránh tình trạng trong buổi học chỉ có thầy giáo và dăm ba học sinh làm việc, số còn lại ” ngồi chơi xơi nước”

    * Trình tự bài học của giáo trình đã cấu tạo theo hướng phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của người học. Giáo viên có thể đặt thêm các câu hỏi phụ, cho học sinh tìm thêm các ví dụ, khuyến khích học sinh diễn đạt nhận xét của mình bằng nhiều cách khác nhau.

    * Tăng cường hỏi đáp cho cả 3 đối tượng khá giỏi, trung bình, yếu kém; động viên kịp thời và ra các bài tập nhỏ để cả lớp cùng chủ động tìm tòi suy nghĩ tìm hiểu và tiếp thu kiến thức mới.

    # Phát huy tính tích cực, chủ đông, sáng tạo của học sinh phải trở thành ý thức tự giác sâu sắc và thường trực ở người giáo viên. Điều đó cộng với khả năng chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm sẽ dẫn đến thành công. Ngược lại việc hỏi- đáp và ra bài tập…chỉ có tính chất hình thức chỉ dẫn đến sự rối rắm, lộn xộn hoặc nặng nề đối với buổi học.

    # Hỏi- đáp và bài tập trên lớp để phát huy tính chủ động, tích cực sáng tạo của học sinh phải tuân theo những yêu cầu sau:

    .. Câu hỏi và bài tập phải có tính hệ thống( liên hệ chặt chẽ với nhau, loogic, có cùng mục đích cơ bản: giúp học sinh tìm hiêu bài, liên hệ các tri thức trong bài, tự rút ra những nhận xét kết luận, ghi nhớ, hình thành tri thức và từ đó có cơ sở để hiểu bài và luyện tập)

    .. Số lượng câu hỏi, bài tập vừa phải và phải được diễn đạt bằng một ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu, ngắn gọn.

    B. CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG

    Trước khi xem xét các phương pháp dạy học tiếng cụ thể, chúng tôi xét thấy cần thiết phân biệt một số khái niệm để giáo viên không nhầm lẫn khi lên lớp.

    Khái niệm ” Phương pháp luận” bao gồm 2 phương diện cơ bản:

    a.Là học thuyết về phương pháp khoa học nói chung ( tức là khoa học về phương pháp, về các phương pháp nghiên cứu) Ví dụ nói: phương pháp luận Mac xit là nói đến học thuyết Mac- Lênin về phương pháp khoa học để nghiên cứu tự nhiên, xã hội và tư duy.

    Với tư cách là một phương pháp chung để nhận thức thực tiễn, phương pháp luận biện chứng Mac xit được coi là cơ sở của các môn khoa học.

    b. Là tổng hợp những cách, những phương pháp tìm tòi trong một ngành khoa học nào đó( tức là 1 tập hợp các phương pháp nghiên cứu dùng trong khoa học để tìm ra những kết luận cần thiết thì được gọi là phương pháp luận của khoa học ấy) Ví dụ: phương pháp luận nghiên cứu văn học, phương pháp luận nghiên cứu lịch sử…

    Như vậy, phương pháp luận thường mang ý nghĩa khái quát, tổng hợp.

    ” Phương pháp”- gốc Hi Lạp là Methodos có nghĩa là đường hướng, cách thức nhận thức, là hệ thống những nguyên tắc, quan điểm đối với việc nghiên cứu các hiện tượng, các qui luật phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Trong khoa học và trong các hoạt động thực tiễn, khái niệm ” phương pháp” có ý nghĩa cụ thể tùy thuộc vào từng đối tượng nghiên cứu và hình thức hoạt động.

    Mỗi phương pháp đều có sự thống nhất giữa chủ quan và khách quan, vì ở đó được tổng hợp những tri thức về các hiện tượng và qui luật của hiện thực khách quan , trên cơ sở ấy, con người tìm ra những cách thức học tập, nghiên cứu và cải tạo thế giới khách quan.

    Các phương pháp của từng khoa học cụ thể đều được qui định bởi nội dung của khoa học ấy. Ví dụ nói: phương pháp dạy học Tiếng là nói đường hướng, cách thức ngắn nhất, tốt nhất để việc dạy học tiếng có kết quả cao nhất.

    Như vậy, phương pháp là cách thức đúng đắn để làm công việc nào đó. Nói cách khác, là cách thức đề cập tới hiện thực, cách thức nghiên cứu các hiện tượng của tự nhiên, xã hội và tư duy.

    Là cách thức giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó thuộc một phương pháp nhất định. Chẳng hạn nếu phương pháp giảng dạy là cách thức sử dụng các tài liệu học tập và cách thức hoạt động của giáo viên nhằm làm cho học sinh tiếp thu tài liệu có kết quả cao thì thủ pháp chỉ là một khâu trong quá trình áp dụng một phương pháp nào đó. “Thủ pháp” là một khái niệm hẹp hơn ” phương pháp”. Ví dụ trong dạy học văn có phương pháp đọc sáng tạo. Phương pháp này bao gồm hàng loạt thủ pháp như: đọc diễn cảm của giáo viên và học sinh, đọc phân vai, đọc đồng thanh, đọc thầm, dựng hoạt cảnh…

    Lưu ý: trong thực tiễn nghiên cứu và giảng dạy, trong những hoàn cảnh cụ thể, có một số cách thức tiến hành được gọi là phương pháp, một số khác được gọi là thủ pháp. Song ranh giới giữa hai khái niệm này trên thực tế có lúc là tương đối. Ví dụ có thể nói ” phương pháp đối chiếu” khi bàn về một trong những hưỡng nhận thức các hiện tượng nói chung; cũng có thể nói ” thủ pháp đối chiếu” khi sự đối chiếu được dùng trong một trường hợp cụ thể ( chẳng hạn, khi học sinh khó hiểu sự khác nhau giữa câu đơn và câu ghép thì giáo viên có thể tiến hành đối chiếu mô hình để học viên phân biệt) Ví dụ khác: trong ” phương pháp điền dã” có thể có các thủ pháp: quan sát, hỏi -đáp…nhưng trong hoàn cảnh khác thì quan sát, hỏi đáp lại là một phương pháp.

    1.Trong đời sống con người nhận thức hiện thực theo những cách khác nhau:

    – Cách thứ nhất là nhận thức phát hiện. Đây là kiểu nhận thức về một vấn đề, một lĩnh vực nào đó chưa hề được khám phá trước đó, là kết quả của một quá trình tìm tòi, nghiên cứu của một cá nhân hoặc một tập thể khoa học.Ví dụ: tìm ra châu Mĩ, phát minh ra máy hơi nước, bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, bom nguyên tử…

    – Cách thứ hai là nhận thức phát hiện lại. Cách này thu nhận những cái đã được khoa học tìm ra. Nó là dạng có sẵn và có thể thực hiện bằng cách dạy học để thu nhận tri thức.

    Hai cách nhận thức này phải tiến hành theo những phương pháp khác nhau. Cách thứ nhất phải sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học; cách thứ hai phải sử dụng các phương pháp dạy học.Tài liệu này chỉ đề cập đến cách nhận thức thứ 2. Đó là phương pháp đặc thù của công việc dạy học: dạy cho học sinh phát hiện lại những tri thức do khoa học tìm ra.

    2.Các phương pháp dạy học là gì? Đó là những cách thức hoạt động của thầy giáo và học sinh để nắm vững từng đơn vị kiến thức, hình thành cho người học những kĩ năng kĩ xảo nhất định. Cũng có thể coi các phương pháp dạy học là những cách truyền đạt tri thức có hiệu quả nhất, bằng con đường ngắn nhất của người này cho người khác.

    3.Các phương pháp dạy học rất đa dạng, nhưng có thể trình bày theo một hệ thống nhất định với những điểm cần lưu ý là:

    – Tính hoàn chỉnh của hệ thống phải được quán triệt trong tất cả các mặt của môn học.

    – Đảm bảo mối tương quan giữa các phương pháp với nhau để chúng cùng dẫn học sinh đến mục đích là tiếp nhận được tài liệu học tập.

    – Đảm bảo tính nhất quán của các nguyên tắc giáo dục.Các nguyên tắc này dùng làm cơ sở cho mọi phương pháp có trong thành phần của hệ thống đã cho.

    4.Người ta phân loại các phương pháp dạy học theo những hệ thống khác nhau, căn cứ vào những bình diện khác nhau:

    – Phân loại theo mức độ hoạt động của thầy giáo và học sinh: thầy trình bày kiến thức, đàm thoại, học sinh hoạt động độc lập.

    – Phân loại theo nguồn tiếp nhận tri thức của học sinh: phương pháp diễn giảng, phương pháp trực quan, phương pháp hoạt động thực tiễn…

    – Phân loại theo các hoạt động tâm lí, tùy thuộc vào khả năng của học sinh được rèn luyện: nghe nhìn, ghi nhớ…

    – Phân loại theo hoạt động tư duy: qui nạp, diễn dịch, so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa…

    – Phân loại theo phương thức hoạt động tiếp nhận các bộ phận thuộc nội dung tri thức: giải thích, chứng minh, nghiên cứu, tái hiện, trình bày vấn đề…

    – Phân loại theo mức độ và tính chất tham gia của học sinh trong quá trình học tập: chủ động, bị động, hoạt động độc lập…

    -Phương pháp diễn giảng là tên gọi chung cho mọi dạng diễn đạt tương đối tỉ mỉ của giáo viên trong các giờ học nhằm các mục đích: giải thích tài liệu mới; giải thích những điều học sinh chưa hiểu; trả lời các câu hỏi của học sinh; bổ sung kiến thức tài liệu; mở rộng kiến thức thuộc một phần nào đó của chương trình.

    – Diễn giảng là phương pháp có thể sử dụng rộng rãi cả khi củng cố hoặc khái quát hóa những kiến thức đã tiếp thu theo từng phần hay nhiều phần. Việc này cần thiết khi các tài liệu phải khái quát quá rộng mà thời gian ít hoăc trong trường hợp kiến thức cần khái quát tương đối khó mà học sinh khó có thể tự làm được.

    – Các bước đi của phương pháp diễn giảng có thể được sắp xếp:

    + Cho học sinh quan sinh, tìm hiểu các tài liệu ngôn ngữ do giáo viên đưa ra.

    + Giáo viên phân tích và trình bày những đặc điểm chính của hiện tượng ngôn ngữ được nghiên cứu.

    + Học sinh rút ra những dấu hiệu của khái niệm, qui tắc có ghi trong tài liệu ( phát biểu bằng lời)

    + Giáo viên tóm tắt nội dung các qui tắc và khái niệm, khắc hoại những điểm cơ bản cho học sinh và chỉ dẫn cách vận dụng các nội dung đó vào nói , viết.

    – Sử dụng phương pháp này sẽ tiết kiệm được thời gian. Giáo viên có thể cung cấp các mẫu lời nói cho học sinh ( thông qua cách diễn giảng của thầy)

    + Khi phân tích tài liệu mới cũng như khi khái quát hóa, việc diễn giảng của giáo viên không nên chiếm nhiều thời gian ( chừng 7 đến 10 phút/ 1 tiết học là vừa)

    + Việc diễn giảng chỉ đem lại kết quả khi giáo viên biết sử dụng lời nói một cách chặt chẽ, có hệ thống ( thể hiện ở việc chuyển từ phần này qua phần khác, trình bày và minh họa rõ ràng, không mắc lỗi về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp) Nói chung ngôn ngữ của giáo viên cả về hình thức lẫn nội dung đều phải là chuẩn mực cho học sinh noi theo và để họ dễ tiếp thu kiến thức.

    + Hiện nay ngành giáo dục đang hô hào ráo riết đổi mới phương pháp dạy học trong đó được nhấn mạnh là phương pháp lấy người học làm trung tâm nhưng điều đó quyết không bao giờ thay thế được lời nói của giáo viên trong tiết học. Không thể hình dung nổi và cũng sẽ không bao giờ có một tiết học không có một lời nói nào của giáo viên!

    – Đây là phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong các giờ học tiếng. Khác với diễn giảng ( chỉ có giáo viên nói là chính), đàm thoại có sự tham gia tích cực của học sinh vào việc tìm hiểu, xây dựng bài. Phương pháp đàm thoại được xây dựng trên cơ sở các câu hói và các câu trả lời.

    – Ưu điểm của phương pháp này là ở chỗ thu hút được phần lớn học sinh trong lớp cùng tích cực làm việc để tiếp nhận tri thức.

    – Để phương pháp đàm thoại có hiệu quả, giáo viên cần nắm vững cách đặt vấn đề và cách nêu câu hỏi. Yêu cầ chung của các câu hỏi:

    + Câu hỏi phải được diễn đạt rõ ràng, sáng sủa. Nội dung câu hỏi vừa sức với ba đối tượng học sinh ( khá giỏi, trung bình, yếu kém)

    + Câu hỏi kích thích được khả năng suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo của học sinh.

    + Không nên đặt câu hỏi trả lời theo nhiều cách đều đúng.

    + Không nên gộp nhiều câu hỏi nhỏ trong một câu hỏi lớn.

    + Tránh những câu hỏi chỉ cần trả lời ” có” hay ” không” là xong.

    – Bình thường đàm thoại được bắt đầu từ những câu hỏi có chủ định, xác lập mối quan hệ giữa tài liệu mới và cũ, giúp học sinh khôi phục trong trí nhớ những điều đã quên. Cuộc đàm thoại được hoàn thành với những câu hỏi mà căn cứ vào đó có thể kiểm tra mức độ thu nhận nội dung kiến thức của học sinh.

    – Trong dạy học tiếng, đàm thoại là phương pháp quan trọng, ở chỗ nó thể hiện được tính chất bộ môn ( thực hành ngôn ngữ) và phát huy được tính chủ động sáng tạo của học sinh trong giờ học. Áp dụng tốt phương pháp này sẽ giúp người học khắc sâu kiến thức, nhớ lâu những điều mà bản thân mình đã suy nghĩ và chủ động tìm ra.

    – Muốn đàm thoại có kết quả giáo viên và học sinh cần phải được chuẩn bị chu đáo ( về bài cũ và bài mới, tránh tình trạng học sinh không học bài, không có tâm thế gì để tiếp thu kiến thức, lên lớp chỉ để cho đủ điều kiện dự thi) Tùy theo từng mục, từng bài, tùy theo mức độ hứng thú của học sinh mà phương pháp này có thể chiếm số lượng thời gian khác nhau trong một buổi học.

    – Quan sát ngôn ngữ là giai đoạn đầu trong quá trình dạy- học một hiện tượng ngôn ngữ ( về từ vựng, ngữ pháp…) Mục đích của quan sát một hiện tượng ngôn ngữ là tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau trong văn bản, sắp xếp chúng theo một trật tự nhất định. Quan sát ngôn ngữ còn có thể được tiến hành ngay sau khi tìm hiểu bài mới( một khái niệm, một qui tắc…) Trong trường hợp này, quan sát nhằm định hướng cho việc hình thành khái niệm, qui tắc.

    – Phân tích ngữ pháp là một dạng của phân tích ngôn ngữ. Đây là phần học trong đó sự phân tích chiếm ưu thế. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tiến hành phân tích ngữ pháp trong một văn bản nào đó về các thành phần của câu ( chủ ngữ, vị ngữ, định tố, bổ tố, trạng ngữ…) Phân tích ngữ pháp là một trong những khả năng có hiệu quả để dẫn dắt học sinh tiếp thu những định nghĩa và qui tắc ngữ pháp mới, củng cố các kiến thức ngữ pháp cũ và rèn kĩ năng vận dụng các qui tắc đó cho họ.Dạng làm việc này góp phần phát triển tư duy lô gic nói chung và khả năng phân tích của học sinh nói riêng. Nó tập trung được sự chú ý của học sinh, rèn luyện thói quen làm việc độc lập và cũng là một phương tiện tốt để ôn tập, củng cố kiến thức ngữ pháp.

    Giáo viên cần hướng dẫn để học sinh trình bày được các kiến thức ngữ pháp cơ bản đã tiếp thu chắc chắn, rõ ràng để họ tìm được nhanh những dạng câu cần thiết và chỉ ra được những nét đặc sắc của phong cách ngôn ngữ văn chương. Đây chính là dạng huy động tương đối đầy đủ các kiến thức về tiếng để hiểu biết tường tận một tác phẩm văn chương.

    Sách giáo khoa và các tài liệu giáo khoa là một trong những nguồn cung cấp tri thức và kĩ năng tiếng cho học sinh. Các tài liệu này chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình dạy học.

    Trong một tiết học, SGK, TLGK được giáo viên sử dụng để giải thích các kiến thức lí thuyết và làm các bài tập mẫu. SGK có thể được dùng ở đầu, giữa hoặc cuối tiết học, dùng để học bài, làm bài ở nhà và khi ôn tập.

    Phương pháp làm việc với SGK được tiến hành ở những dạng sau:

    – Giáo viên đọc nội dung SGK; có thể đọc kĩ từng dòng, từng phần và giải thích rồi đặt những câu hỏi để học sinh tìm hiểu, phát hiện kiến thức. Ở những phần khó ( nhiều khái niệm mới, phức tạp) giáo viên cần đọc và giải thích kĩ để học sinh lĩnh hội.

    – Cho học sinh đọc to SGK có sự bổ sung, giải thích kịp thời của giáo viên. Khi này cần hướng dẫn học sinh đọc đúng tinh thần của tài liệu để có cơ sở hiểu đúng nội dung của nó.

    – Cho học sinh tóm tắt lại nội dung những phần đã đọc và trả lời các câu hỏi nhằm xác định mức độ hiểu tài liệu đã đọc đến đâu.

    Lưu ý: trong phương pháp làm việc với SGK, không có một trường hợp nào thay thế được lời nói sinh động của giáo viên. Tài liệu trong SGK càng ít thì sự giải thích của giáo viên càng có vai trò quan trọng.

    Trong số các phương pháp để dạy học tiếng có kết quả phải kể đến phương pháp sử dụng các tài liệu trực quan. Các tài liệu này được dùng nhiều trong các giờ học dành cho việc giải thích khái niệm mới, củng cố và ôn tập. Sự kết hợp giữa ngôn ngữ giáo viên và các tài liệu trực quan là điều kiện quan trọng để học sinh tiếp thu vững chắc và tự giác về các phần lí thuyết và rèn kĩ năng.

    Khi không thể chỉ vào bản thân một vật thì những minh họa, sơ đồ, tranh ảnh…để thay thế cho vật đó sẽ giúp học sinh có khái niệm về vật đó. Việc dùng các tài liệu trực quan trong giờ học tiếng có mục đích thông báo những kiến thức mới hoặc giải thích những điều chưa rõ cho học sinh.

    Tác dụng của tài liệu trực quan là một mặt giúp học sinh có thể tiếp nhận bằng mắt , có thể hiểu được những đơn vị kiến thức bằng quan sát các sơ đồ, mặt khác nó củng cố, khái quát hóa tri thức cho học sinh.

    Tuy nhiên không nên dùng quá nhiều tài liệu trực quan trong một tiết học vì nó sẽ gây rối và phân tán sự chú ý của học sinh trong việc tiếp thu kiến thức mới.

    Khi đi thực tế, giáo viên có thể đặt ra cho học viên những nhiệm vụ:

    – Sử dụng những từ tượng hình, tượng thanh mô tả những hoạt động của đời sống

    – Viết đoạn văn miêu tả có sử dụng nhiều tính từ, câu trần thuật.

    – Quan sát ngôn ngữ của nhân dân địa phương. Nhận xét về cách phát âm, từ vựng. So sánh với chuẩn ngôn ngữ.

    – Ghi chép và học thuộc những từ mới mà học sinh chưa biết…

    Cơ sở của phương pháp giao tiếp là dựa vào việc xác điịnh chức năng giao tiếp của ngôn ngữ. Nếu ngôn ngữ( sản phẩm chung của một cộng đồng người) được coi là phương tiện giao tiếp thì lời nói (sản phẩm của một cá nhân) được coi là bản thân sự giao tiếp bằng ngôn ngữ. Dạy học tiếng theo hướng giao tiếp tức là dạy phát triển lời nói cho từng cá nhân người học.

    Để thực hiện tốt phương pháp này cần chú ý:

    – Tạo cho học sinh có nhu cầu giao tiếp. Nhu cầu này nảy sinh khi có nhiều vấn đề phải sử dụng các kiến thức về ngôn ngữ mới giải quyết được hoặc cần trao đổi mới hiểu được.

    – Tạo cho học sinh có nội dung giao tiếp.Để thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, học sinh cần có sự chuẩn bị chu đáo cho nội dung lời nói ( tức là phải có tư liệu đầy đủ và ý nghĩa xác định)

    – Tạo cho học sinh có môi trường giao tiếp: có đối tượng, hoàn cảnh, nội dung, mục đích giao tiếp.

    – Tạo cho học sinh có đủ các phương tiện ngôn ngữ và có được các thao tác cơ bản khi giao tiếp: phác thảo đề cương, lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ để thể hiện nội dung, trình bày từng khía cạnh của nội dung một cách mạch lạc, khúc chiết, biết tự đánh giá mức độ đạt được cả về nội dung và hình thức giao tiếp.

    Cũng như phương pháp đàm thoại, phương pháp giao tiếp có tác dụng phát huy mạnh mẽ tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong giờ học tiếng.

    Các phương pháp đã trình bày có thể coi cùng một thuộc tính là chúng không cùng một mức độ ngang nhau, tốt như nhau và có thể sử dụng trong những hoàn cảnh bất kì, nhưng đều có một mục đích là giúp học sinh tiếp thu, sử dụng kiến thức tiếng Jrai, Bah Nar một cách tốt nhất. Nhiệm vụ của giáo viên là phải lựa chọn và áp dụng các phương pháp trong những tình huống cụ thể sao cho có kết quả cao và tiện lợi về thời gian.

    Không thể có một phương pháp dạy học tiếng duy nhất, vạn năng, có thể áp dụng vào những điều kiện bất kì mà chỉ có một tập hợp các phương pháp mới có thể đảm bảo cho học sinh tiếp thu chắc chắn toàn bộ những kiến thức được qui định. Các phương pháp và biện pháp phải là một hệ thống xác định để kích thích và bổ sung cho nhau. Thông thường để hình thành các khái niệm, truyền đạt các tri thức mới, giải thích các định nghĩa, qui tắc…người ta hay sử dụng phương pháp đàm thoại, diễn giảng, làm việc với sách giáo khoa; để luyện tập thực hành thì dùng phương pháp giao tiếp là chính; để củng cố kiến thức, hình thành các kĩ năng kĩ xảo thì vận dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ…Giáo viên cần nắm rõ đặc điểm, ưu thế của từng phương pháp để vận dụng linh hoạt trong những tiết dạy, mang lại hiệu quả mong muốn.

    C. GIẢNG DẠY TỪ NGỮ

    Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, là vật liệu xây dựng nên những đơn vị của lời nói( ngữ, nhóm từ, câu, đoạn, văn bản). Vì vậy, học tiếng trước hết là học từ.Học từ cũng là một trong những mục tiêu cơ bản trong quá trình học tiếng dân tộc. Không thể tiến hành giao tiếp nếu không thuộc từ, vốn từ nghèo nàn hoặc không hiểu nghĩa của từ.

    Học sinh được học từ ngữ thông qua hệ thống các bài học, các chủ điểm trong chương trình và môi trường ngôn ngữ trong cuộc sống.

    Từ loại trong tiếng BahNar được phân chia thành hai lớp từ chính là Thực từ và Hư từ.

    1.Thực từ: là những từ có ý nghĩa từ vựng chân thực, có thể đảm nhiệm các thành phần chính trong câu ( Chủ ngữ và vị ngữ)

    1.1 Danh từ: là những từ dùng để định danh( gọi tên) các hiện tượng sự vật. Ví dụ: (Phong)

    1.2. Động từ: là những từ chỉ hoạt động, hành động. Ví dụ ( Phong)

    1.3 Tính từ: là những từ chỉ tính chất, trạng thái.Ví dụ ( Phong)

    1.4 Đại từ: là những từ dùng thay thế. Có đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít,( tôi), số nhiều ( chúng tôi); ngôi thứ hai số ít( mày), số nhiều ( chúng mày); ngôi thứ ba số it( nó), số nhiều ( chúng nó); các đại từ chỉ định hoặc thay thế: này, kia, ấy, nọ…

    1.5 Số từ: là những từ dùng để đếm. Ví dụ: một, hai, ba, bốn…

    2. Hư từ: là những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, chúng thường chỉ có giá trị là chức năng ngữ pháp.

    2.3 Quan hệ từ ( từ nối): và, với, cùng…( BN)

    ( Các thầy giáo dạy tiếng sẽ minh họa cụ thể)

    Cũng như tiếng Việt, từ Jrai, BahNar cũng được cấu tạo theo các cách:

    Từ đơn là những từ do một âm tiết( khi viết) hoặc một tiếng( khi nói) tạo thành. Ví dụ

    2.1Từ ghép chính- phụ. Là loại từ ghép gồm hai thành tố trong đó một thành tố giữ vai trò chính và một thành tố giữ vai trò phụ. Ví dụ: nhà mồ

    2.2Từ ghép bình đẳng ( song song). Là loại từ ghép trong đó hai thành tố có vai trò bình đẳng với nhau. Ví dụ: ăn ở, sách vở…

    3.Từ láy. Là loại từ được cấu tạo có phần phụ âm đầu hay phần vần hoặc hai thành tố giống hệt nhau.

    – Láy phụ âm đầu: xôn xao, khập khiễng

    – Láy phần vần: thăm thẳm, bát ngát

    – Láy toàn bộ: xiên xiên, nghiêng nghiêng

    Không thể quan niệm được rằng dạy về từ ngữ mà không giảng dạy ý nghĩa của từ.

    Bất kì một từ nào cũng bao gồm hai phương diện:

    – Hình thức âm thanh ( chữ viết)

    Nghĩa của từ là nội dung khái niệm, hình ảnh khái quát trừu tượng phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óc con người.Ví dụ khi nói ” học sinh” người ta nghĩ ngay đó là ” người đi học” ( khái quát) không phân biệt giới tính, tuổi tác, thấp cao, to nhỏ, trắng đen, trình độ nhận thức…Hình ảnh khái quát đó là nghĩa của từ ” học sinh”

    Sự hiểu nghĩa của từ trong mỗi người có thể hình thành theo hai con đường:

    – Tự nhiên, tự phát trong thực tiễn giao tiếp ( sự lặp lại nhiều lần một từ nào đó trong những hoàn cảnh tương tự) Đây là con đường chủ yếu của lứa tuổi trước khi đến trường.

    – Có ý thức qua giáo dục, hướng dẫn của giáo viên trong nhà trường. Con đường này nhanh chóng, chính xác và bền vững hơn.

    Để giúp người học hiểu được nghĩa của từ, người ta chủ yếu dùng lời giảng ( giải nghĩa từ) Dạy theo con đường có ý thức trong nhà trường, giáo viên phải giải nghĩa từ.

    2.Các phương pháp giải nghĩa từ

    Có thể có nhiều cách: dùng vật thật, tranh ảnh, minh họa…Nhưng những cách này có tác dụng rất hạn chế : giảm ý nghĩa khái quát của từ. Ví dụ để giải nghĩa từ ” hoa” mà chỉ đưa ra một bông hồng. Mặt khác, trong nhiều trường hợp không thể dùng giáo cụ trực quan để giải nghĩa.

    Phương pháp này nhằm phát hiện nội dung khái niệm, nội dung loogic chứa đựng trong từ. Nếu hiểu nội dung khái niệm chính là nghĩa của từ thì phương pháp này dẫn dắt học sinh đi thẳng tới nghĩa của từ. Phương pháp này được vận dụng qua hai bước:

    – Nêu khái niệm loại, trong đó khái niệm biểu hiện nghĩa của từ cần được xác định thành một khái niệm chủng.

    – sau đó liệt kê những đặc điểm cơ bản của chủng này với chủng khác trong cùng một loại.

    – theo những qui trình công nghiệp ( chủng)

    Để phân biệt với ” nông dân”

    – sản xuất ra những sản phẩm lương thực, thực phẩm.

    Phương pháp loogic thích hợp với việc giải nghĩa các thực từ ( danh từ, động từ, tính từ) vì thực từ phản ánh hiện thực một cách trực tiếp. Ví dụ động từ ” hi sinh” : hiến dâng ( loại) những gì quí báu ( chủng)

    Chú ý: 1. Với một số tính từ trong những trường hợp cụ thể có thể có cách làm khác: mô tả cụ thể đặc điểm của sự vật có tính chất cần thuyết minh. Ví dụ ” băn khoăn”: tính chất của một trạng thái tâm lí ( người) không yên ổn vì có những điều phải tính toán, cân nhắc nhiều.

    Nêu sự vật mà tính chất cần xác định là một đặc điểm điển hình. Ví dụ ” trắng”: có màu của vôi.

    2.Không giải nghĩa bằng những đặc điểm không cơ bản, hoặc quá rộng hoặc quá hẹp. Ví dụ : ” mèo”: vật nuôi trong nhà( quá rộng), ” bình”: đồ đựng nước bằng sứ( quá hẹp)

    Tác dụng của phương pháp lô gic là góp phần tích cực rèn luyện tư duy cho học sinh. Khi xác định nội dung khái niệm( nghĩa của từ) họ sẽ được tập dượt suy nghiệm trên thực tế khách quan tổng hợp, khái quát hóa( để xác định khái niệm loại), phân tích, so sánh, trừu tượng hóa ( để xác định đặc điểm cơ bản của chủng).Ở đây học sinh sẽ vận dụng tổng hợp so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa …và với sự hướng dẫn của giáo viên thì học sinh không những tiến tới hiểu nghĩa của từ sâu sắc mà còn là dịp để luyện tập cách suy nghĩ mạch lạc, lô gic, rõ ràng.

    2.2 Phương pháp ngôn ngữ học

    Đây là cách tìm những quan hệ ngữ nghĩa thích hợp trong nội bộ ngôn ngữ để làm sáng tỏ nghĩa của từ.Có hai loại quan hệ:

    – Quan hệ giữa từ với từ : đồng nghĩa( ba-bố; phu nhân- vợ; đất- địa…) trái nghĩa ( ngắn- dài, to- nhỏ, gần-xa…)

    – Quan hệ trong nội bộ từ ( quan hệ giữa các từ tố)

    Để giải thích nghĩa của một từ nào đó ta có thể chọn nêu một hoặc những từ đồng nghĩa với nó. Ví dụ: ” giang sơn”: đất nước, núi sông; ” bằng hữu”: bạn bè; ” bất hủ” : không mục nát…

    Nếu dùng từ trái nghĩa, ta làm phép phủ định để biến quan hệ đối cực thành quan hệ đồng nhất. Ví dụ ” bấp bênh”: không (yếu tố phủ định) vững chắc ( trái nghĩa)

    Phân tích quan hệ từ tố ( trong các từ ghép)ở một bộ phận từ ghép ( không phải tất cả) có thể xuất phát từ nghĩa của từng từ tố để hiểu nghĩa của từ. Ví dụ ” lạc quan”: lạc: sung sướng, vui vẻ, phấn khởi, quan: nhìn /”lạc quan”: cái nhìn tin tưởng, vui vẻ.

    Tác dụng của phương pháp ngôn ngữ học là ngoài việc giúp hiểu từ, nó còn có tác dụng khắc họa và gợi dậy trong đầu học sinh các yế tố từ vựng có quan hệ với nhau, đồng thời làm cho họ ý thức được các mối quan hệ đó. Như vậy, từ ngữ trong đầu học sinh không còn là những đơn vị rời rạc mà kết hợp lại với nhau theo những hệ thống nhất định , tạo điều kiện để học sinh lựa chọn các yếu tố thích hợp trong hệ thống này để nói, viết thêm phong phú và đa dạng và uyển chuyển về mặt từ ngữ.

    – Giải nghĩa theo hai phương pháp trên, để đảm bảo tính chính xác, chặt chẽ, giáo viên cần dựa vào từ điển để tra cứu.Mặt khác giáo viên cần học tập, rèn luyện để có khả năng giải nghĩa từ trong bát kì hoàn cảnh nào kể cả khi không có từ điển. Ngoài ra cũng cần yêu cầu và luyện cho học sinh tự mình giải nghĩa những từ khó. Đó là kiểu bài tập để học sinh phát triển nhiều mặt về tư duy và ngôn ngữ.

    – Sau khi giải nghĩa từ, rất cần đặt chúng vào văn cảnh sử dụng để tăng sức thuyết phục, làm cho sự giải nghĩa thêm sinh động và khắc sâu sự hiểu biết về từ cho học sinh. Ví dụ: ” bâng khuâng”: những cảm xúc buồn vui, thương nhớ lẫn lộn, không cảm xúc nào nổi bật. Sau khi giảng giải như vậy, giáo viên lấy ví dụ ( đặt từ vào văn cảnh sử dụng):

    – Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người

    Nhớ nơi kì ngộ vội dời chân đi ( ND)

    – Tiếng ai tha thiết bên cồn

    Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi ( TH)

    – Bâng khuâng nghe năm tháng

    Đẹp như người con gái nước Nga ( TH)

    _ Đi qua xóm núi Thậm Thình

    Bâng khuâng nhớ nước non mình ngàn năm (NBV)

    2.3 Phương pháp xã hội học

    – Phương pháp xã hội học thường được dùng để giải nghĩa những từ ngữ cổ, từ ngữ vay mượn.Phương pháp này đồi hỏi người giáo viên phải có trình độ văn hóa sâu rộng.Bằng phương pháp này, giáo viên không những giúp học sinh thấu hiểu nội dung ý nghĩa của từ ngữ để góp phần cảm thụ văn học mà còn có thể cung cấp cho họ hiểu biết về lối sống, văn hóa, phong tục tập quán…của dân tộc Jrai, Bah Nar ở những thời đại khác nhau, qua đó nâng cao trình độ của học sinh lên một bước.

    3. Giảng dạy giá trị của từ

    – Bất kì từ ngữ nào cũng có hai mặt. Đó là hình thức ( âm thanh, chữ viết) và mặt nội dung ngữ nghĩa( nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa gốc, nghĩa mở rộng, chuyển nghĩa, sắc thái tu từ, phong cách) Trong nhiều trường hợp, các từ đồng nghĩa, gần nghĩa không thể thay thế cho nhau. Ví dụ ta nơi ” thay mặt” chứ không nói ” đổi mặt”; nói ” trái tim” để chỉ đời sống tình cảm, còn” quả tim” thì lại thiên về phương diện sinh học.( vd)

    – Một số biện pháp giảng dạy giá trị của từ

    + Kết hợp phân tích từ trong các ví dụ ngữ pháp

    + Rèn luyện ý thức thường xuyên tìm hiểu các sắc thái phong cách của từ.

    + Lập sổ tay từ đồng nghĩa…

    I. Đặc điểm ngữ Pháp Bah Nar,Jrai ( Nội dung của gv giảng dạy phần ngôn ngữ JR, BN)

    1. Các ngữ ( nhóm từ) : ngữ danh từ, ngữ động từ, ngữ tính từ.Vd: các em học sinh này ( ngữ Dt), đã đi rồi ( ngữ Đt) xa lắm ( ngữ TT)

    2.1 Câu phân theo mục đích nói:-câu kể. Ví dụ: Tôi làm rẫy. ( dấu chấm)

    – câu hỏi. Ví dụ: Anh đi đâu? ( dấu hỏi)

    – câu cầu khiến. Ví dụ: Mời em ngồi! ( dấu cảm)

    – câu cảm. Ví dụ: Ôi, tôi nhớ mẹ! (dấu cảm)

    2.2 Câu phân theo cấu tạo ngữ pháp

    – Câu đơn ( chỉ có một cụm chủ- vị làm nòng cốt) Ví dụ: Tôi đọc sách.

    – Câu ghép ( gồm 2 cum Chủ ngữ- vị ngữ trở lên)Ví dụ: Mẹ đi hái măng còn tôi đi học.

    II. Phương pháp giảng dạy ( )

    1.Phan Thiều, Nguyễn Quốc Túy, Nguyễn Thanh Tùng – Giảng dạy từ ngữ ở trường phổ thông – NXB Giáo dục – H.1983

    2.Tài liệu bồi dưỡng giáo viên về thay sách giáo khoa CCGD (môn Văn và Tiếng Việt) – NXB GD – H.1988

    3.Ksor Yin ( chủ biên) – Ngữ pháp tiếng Bah Nar – NXB GD – H.2000

    – Ngữ pháp tiếng Jrai – NXB GD – H.2000

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cải Tiến Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Anh Bậc Trung Học
  • 13 Cách Giảm Mỡ Bụng Nhanh Và Hiệu Quả Nhất Tại Nhà “quá Dễ”
  • Các Phương Pháp Giảm Cân Hiệu Quả Tại Nhà
  • Happy Lasik 2022 Hỗ Trợ Lên Đến 40% Chi Phí Phẫu Thuật Điều Trị Cận
  • Happy Lasik 2022 Hỗ Trợ Lên Đến 40% Chi Phí Điều Trị Cận
  • Các Quy Tắc Của Phương Pháp Xã Hội Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Tránh Thai Tự Nhiên Symptothermal
  • Sử Dụng Phương Pháp Quan Sát Giảng Dạy Môn Khoa Học Lớp 5”.
  • Một Số Phương Pháp Dạy Mĩ Thuật Bậc Tiểu Học
  • Đề Tài Sử Dụng Phương Pháp Minh Hoạ Trực Quan Giúp Học Sinh Thực Hành Tốt Bài Vẽ Mĩ Thuật
  • Các Phương Pháp Thu Thập Phân Tích Công Việc
  • Giới thiệu sách

    Các quy tắc của phương pháp xã hội học

    Đây là phần giới thiệu sơ lược những nét chính về bộ quy tắc nghiên cứu sự kiện xã hội trong công trình Các quy tắc phương pháp xã hội học của Durkheim. Cuốn sách này không chỉ quan trọng đối với chúng ta ở chỗ nó chỉ chúng ta biết cách đi vào thế giới tư tưởng của ông, mà còn quan trọng đối với bản thân bộ môn xã hội học, bởi nó đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử phát triển của bộ môn này: thời kỳ của lối nghiên cứu duy lý thực nghiệm.

    ĐINH HỒNG PHÚC

    Nhà triết học và xã hội học người Pháp Émille Durkheim (1858-1917) được mặc nhiên thừa nhận là “người cha sáng lập” của ngành xã hội học. Sự nghiệp của ông, nói theo Gaston Bouthol, là “một cố gắng to lớn về mặt học thuyết giúp cho xã hội học cùng lúc thoát khỏi thần học lẫn triết học và chính trị”, trang bị cho nó đối tượng riêng và những phương pháp đúng là khoa học. của ông.

    Đối với Durkheim, xã hội học là bộ môn khoa học nghiên cứu về các “sự kiện xã hội” (fait social). Ông nêu ra định nghĩa về đối tượng này như sau: “Sự kiện xã hội là bất cứ phương cách hành động nào, (choses) Durkheim nói ở đây là những thực tại đang tồn tại trước mắt chúng ta và được chúng ta quan sát một cách khách quan. Nhưng ông cũng lưu ý, việc xem xét sự kiện xã hội như là những sự vật không có nghĩa là ta xem các sự kiện ấy là những sự vật vật chất, mà là “những sự vật xét trên cùng bình diện như những sự vật vật chất” (tr. 58). Từ nguyên tắc nền tảng này, Durkheim nêu ba quy tắc để quan sát sự vật: thứ nhất, khi quan sát các sự kiện xã hội, ta phải loại bỏ mọi ý niệm có sẵn trong đầu ta (các tiền niệm) để kết quả quan sát trở nên có tính khách quan; thứ hai, “đối tượng nghiên cứu bao giờ cũng chỉ là một nhóm các hiện tượng đã được định nghĩa trước đó bằng những đặc điểm bề ngoài nào đó chung cho chúng và tất cả những hiện tượng nào tương ứng với định nghĩa ấy đều phải được gộp vào trong nhóm này” (tr. 140-1); và thứ ba, khi ta tiến hành khảo sát một loại sự kiện xã hội nào, ta phải cố gắng xem xét nó trong trạng thái độc lập với các biểu hiện cá biệt của nó.

    Trong khi quan sát một sự kiện xã hội, ta phải phân biệt hiện tượng bình thường và hiện tượng bệnh lý nơi đối tượng, bởi lẽ “mục đích chính của bất cứ bộ môn khoa học nào về đời sống, mới có giá trị hiệu lực trong việc chứng minh, bởi lẽ nó giúp nhà xã hội học giới hạn được phạm vi nghiên cứu của mình, kiểm soát được các sự kiện một cách chặt chẽ và xử lý chúng một cách có phê phán.

    Với các bộ quy tắc nói trên, Durkheim đã xác lập được tính tự trị của xã hội học với tính cách là một bộ môn khoa học. Tính tự trị ấy thể hiện ở ba đặc điểm: thứ nhất, xã hội học là bộ môn độc lập với mọi học thuyết triết học, nghĩa là để khẳng định sự tồn tại chính đáng của mình, “xã hội học không cần phải đứng về phía nào giữa các giả thuyết lớn đang phân chia các nhà siêu hình học. Nó cũng không khẳng định tự do hơn tất định luận. Nó chỉ đòi hỏi người ta một điều là nguyên tắc nhân quả được áp dụng cho các hiện tượng xã hội” (tr. 306); thứ hai, phương pháp xã hội học mang tính khách quan, theo nghĩa các sự kiện xã hội là những sự vật và phải được xem xét như là những sự vật; và cuối cùng, phương pháp khách quan này chỉ có ở môn xã hội học mà thôi.

    Nguồn: Đinh Hồng Phúc. “Bộ quy tắc nghiên cứu sự kiện xã hội của Émile Durkheim”. Bản tin Xã hội Nhân Văn, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – ĐHQG-HCM, số 44, trang 21-23.

    Bản đăng trên chúng tôi có sửa vài chỗ so với bản gốc trên Bản tin Xã hội Nhân văn.

     Émile Durkheim. Các quy tắc của phương pháp xã hội học. Đinh Hồng Phúc dịch. Hà Nội: Nxb. Tri thức, 

    Các tin khác

    • 28/08/2015:

      “Luận về biếu tặng” của Marcel Mauss

    • 26/08/2015:

      “Văn học thiểu số” và một cách đọc khác về Kafka

    Góp ý

    Họ và tên:

    *

     

    Email:

    *

     

    Tiêu đề:

    *

     

    Mã xác nhận:

     

    RadEditor – HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.

    RadEditor’s components – toolbar, content area, modes and modules

       

    Toolbar’s wrapper

     

    •  
    •  

    •  

    •  

    •  

    •  

    •  

    •  

     

    Content area wrapper

    RadEditor hidden textarea

    RadEditor’s bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.

    It contains RadEditor’s Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer

    Editor Mode buttons

    Statistics module

    Editor resizer

    • Design

    • HTML

    • Preview

     

     

    RadEditor – please enable JavaScript to use the rich text editor.

    RadEditor’s Modules – special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.

       

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hệ Thống Phần Mềm Giám Sát Nhân Viên Bán Hàng Dms.one
  • Quản Lý Kênh Phân Phối Hiệu Quả
  • Quy Trình Kiểm Soát Nhiễm Khuẩn
  • Tổng Quan Về Quy Trình Hoạt Động Của Nhà Báo
  • Thi Công Xây Dựng Phần Thô
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100