Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức, Từ Đó Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Từ Quan Điểm Duy Vật Biện Chứng Về Vật Chất, Ý Thức, Mối Quan Hệ Giữa Vật Chất Và Ý Thức Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Cơ Bản?
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10 Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng ( Tiết 1)
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật…
  • Giải Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • 1. Khái lược về phép biện chứng và phép biện chứng duy vật

    Thuật ngữ biện chứng (Dialektika) theo tiếng Hy Lạp cổ đại có nghĩa gốc là nghệ thuật tranh luận. Nói cách khác người Hy Lạp cổ đại hiểu phép biện chứng là nghệ thuật phát hiện ra mâu thuẫn trong lập luận của đối phương để bắt đối phương phải chấp nhận lập luận của mình. Theo quan niệm của người Hy Lạp cổ đại, đã là tri thức đúng, đã là chân lý thì không thể có mâu thuẫn. Nấu trong lập luận có mâu thuẫn thì không phải là chân lý. Do vậy quá trình giải quyết mâu thuẫn thông qua tranh luận chính là quá trình nhận thức vận động đến chân lý. Quan niệm này về sau đã được mở rộng thêm đem lại cho phép biện chứng một ý nghĩa mới, đó là sự nhận thức đối tượng trong những tính quy định đối lập nhau, hay sự phát hiện ra tính thống nhất của các mặt đôi lập – một phương pháp vận động của tư duy để đi đến chân lý.

    Sở dĩ nghệ thuật tranh luận ở thời kỳ cổ đại được gọi là phép biện chứng vì ở thời kỳ đó trình độ sản xuất và khoa học còn rất thấp kém, người ta chưa có điều kiện, phương tiện tiến hành thí nghiệm, thực nghiệm để kiểm tra chân lý, mà chỉ có thể kiểm nghiệm chân lý qua tranh luận. Cũng vì thế mà ở Hy Lạp cổ đại khả năng tranh luận được coi là một năng lực cần thiết, không thể thiếu được của nhà triết học, một khoa học để phát triển nhận thức của mình. Mỗi nhà triết học Hy Lạp cổ đại thường là một nhà hùng biện, một nhà diễn thuyết tài năng. Neu thiếu khả năng tranh luận thì khó có thể trở thành nhà triết học được. Vì những lẽ đó người Hy Lạp cổ đại coi nghệ thuật tranh luận là phép biện chứng, hay nói khác đi phép biện chứng là nghệ thuật tranh luận để tìm ra chân lý.

    Hêraclit (540 – 475 TCN) là người nêu ra tư tưởng biện chứng sớm nhất ở Hy Lạp thời kỳ cổ đại. ông có quan niệm khá rõ về vận động và phát triển. Nhưng người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “phép biện chứng” theo nghĩa nghệ thuật tranh luận lại là Xôcrát (469 – 399 TCN). Ồng cũng là một nhà triết học của Hy Lạp cổ đại. về sau Platôn, học trò của Xôcrát coi phép biện chứng là nghệ thuật đối thoại dưới hình thức hỏi – đáp để phân biệt và liên kết các khái niệm nhằm đạt đến định nghĩa đúng đắn các khái niệm đó.

    Cùng với sự phát triển của nhận thức và thực tiễn, thuật ngữ phép biện chứng ngày càng được bổ sung nhiều nội dung mới. Đến thế kỷ XVIII, phép biện chứng đã được các nhà triết học cổ điển Đức tiêu biểu như: Kantơ, Phichtơ, Selinh và đặc biệt là Hêghen phát triển thành học thuyết về sự phát triển. Hêghen (1770 – 1834) – một nhà triết học duy tâm khách quan vĩ đại của Đức đã phát triển một cách toàn diện phép biện chứng. Ông đã nghiên cứu lịch sử phát triển triết học thế giới từ cổ đại đến thế kỷ XVIII, phê phán các quan điểm siêu hình và kế thừa những tư tưởng biện chứng trong lịch sử, xây dựng phép biện chứng thành học thuyết về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc và toàn diện nhẩt. Trong phép biện chứng của Hêghen đã có một hệ thống hoàn chỉnh những phạm trù, quy luật của phép biện chứng, phản ánh khái quát toàn diện quá trình vận động phát triển của thế giới. Nhưng vỉ thế giới quan của Hêghen là duy tâm, tức là ông không thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập với tư duy, ý thức, mà trái lại ông cho rằng chính tư duy, ý thức tự vận động là nguyên nhân sinh ra thế giới vật chất; các phạm trù, khái niệm nói về các sự vật được hình thành trong lĩnh vực tư duy thuần túy, có đời sống riêng, tồn tại trước khi các sự vật trong hiện thực khách quan tồn tại. Giới tự nhiên và lịch sử chỉ là tồn tại khác của tư duy, ý thức, chỉ là một giai đoạn phát triển của tư duy, ý thức. Do vậy phép biện chứng của Hêghen thực chất mới chỉ là phép biện chứng của quá trình vận động phát triển của tinh thần, của ý niệm (theo nhận xét của c. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin), chưa phải là phép biện chứng của chính quá trình vận động của tự nhiên và xã hội. Và cũng vì vậy phép biện chứng này, mặc dù nó đã nắm được những mối liên hệ cơ bản của thế giới (Lênin cho là Hêghen đã đoán được những mối liên hệ của thế giới), nhưng còn nhiều hạn chế, về cơ bản còn có tính chất gò ép, thần bí cần phải khắc phục.

    Mác và Ph. Ảngghen sau đó là V.I. Lênin đã kế thừa và phát triển một cách sáng tạo những giá trị của lịch sử triết học của nhân loại, đặc biệt là phép biện chứng – “hạt nhân họp lý” trong triết học của Hêghen, cải tạo một cách duy vật phép biện chứng duy tâm của Hêghen, làm cho nó trở thành phép biện chứng duy vật, thực sự là một học thuyết khoa học về những quy luật chung nhất, phổ biến nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng theo đúng nghĩa hiện đại của nó.

    Phép biện chứng nghiên cứu các sự vật, hiện tượng trong sự liên hệ tác động qua lại lẫn nhau và trong sự vận động, phát triển. Lênin còn căn cứ vào những yếu tố đặc trưng của phép biện chứng để định nghĩa phép biện chứng, ông viết:

    “1) Định nghĩa của khái niệm từ bản thân khái niệm [bản thân sự vật phải được xem xét trong những quan hệ của nó và trong sự phát triển của nó];

    2) tính mâu thuẫn trong bản thân sự vật (cái khác của bản thân nó), những lực lượng và những khuynh hướng mâu thuẫn trong mọi hiện tượng;

    3) sự kết hợp phân tích và tổng hơp.

    Xem chừng, đó là những yếu tố của phép biện chứng”;.

    Lênin còn trình bày các yếu tố cơ bản trên thành 16 yếu tố cụ thể và sau đó ông viết: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm”.

    Phép biện chứng đối lập với phép siêu hình.

    Phép siêu hình hiện nay được hiểu là phương pháp xem xét các sự vật trong trạng thái đứng im và tách rời khỏi mối liên hệ chung với các sự vật và hiện tượng khác, nhưng thuật ngữ phép siêu hình có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp ở thời kỳ cổ đại. Theo nghĩa gốc của tiếng Hy Lạp cổ đại, siêu hình (mêtaphizika – cái phía sau vật lý) là một môn triết học, nghiên cứu những hiện tượng siêu cảm giác, những cái thuộc về bản chất, đằng sau cái vật lý. Đến thế kỷ IV – III TCN người Hy Lạp đã tách riêng các hiện tượng tâm lý, cảm giác ra khỏi cái vật lý để nghiên cứu. Arixtốt quan niệm vật lý học nghiên cứu những vật thể hữu hình (có hình dạng, thể tích và có sức nặng) có thể cảm nhận được bằng cảm giác. Còn triết học nghiên cứu những hiện tượng mà con người không thể cảm nhận được bằng cảm giác mà phải bằng tư duy trừu tượng, đó là những hiện tượng “sau vật lý”, tức là những cái thuộc về bản chất của sự vật, những hiện tượng thuộc về tinh thần, ý thức. Vì vậy về sau, Ăng-đrô-nhich Rô-đô-xki (thế kỷ I TCN) đã gọi những tác phẩm triết học của Arixtốt chỉ nghiên cứu nhũng hiện tượng siêu cảm giác là siêu hình học. Quan niệm coi siêu hình học là triết học còn khá phổ biến trong các nhà khoa học thế kỷ XVII – XVIII. Tuy nhiên về sau trong quan niệm của các nhà triết học cận đại và hiện đại, như quan niệm của Hêghen, nhất là của Mác và Ảngghen, siêu hình được hiểu là một phương pháp nhận thức, phương pháp tư duy đối lập với phương pháp biện chứng. Nếu phương pháp biện chúng xem xét các sự vật trong sự liên hệ, tác động qua lại nhau và trong sự vận động phát triển thì phương pháp siêu hình xem xét các sự vật trong sự tách rời nhau một cách hoàn toàn và không có sự vận động phát triển. Phép siêu hình không thừa nhận một sự vật vừa tồn tại vừa không tồn tại, vừa là bản thân nó, vừa là một sự vật khác. Đối với phép siêu hình, “một sự vật hoặc là tồn tại, hoặc là không tồn tại”, “cái khắng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẫn nhau; nguyên nhân và kết quả cũng đối lập hẳn với nhau”.

    Tuy đối lập với phép biện chứng nhưng phép siêu hình cũng có ý nghĩa tích cực nhất định của nó trong lịch sử. Do đi sâu nghiên cứu từng sự vật, hiện tượng riêng lẻ, nên trong lịch sử đã có thời kỳ phép siêu hình đóng vai trò quan trọng trong việc tích luỹ kiến thức, đem lại cho loài người nhiều tri thức mới, nhiều hiểu biết về thế giới hơn so với phép biện chứng cổ đại. Vì thế phép siêu hình đã đẩy lùi được phép biện chứng tự phát, đã trở thành một phương pháp nhận thức chủ yếu (chiếm ưu thế) ở thế kỷ XVII – XVIII so với phép biện chứng tự phát.

    Đến cuối thế kỷ XVIII, phép siêu hình lâm vào tình trạng khủng hoảng, không còn phù họp với tình hình phát triển khá mới mẻ và ở trình độ cao của khoa học tự nhiên lúc này. Phép siêu hình lchông cho phép khái quát được những quy luật vận động, phát triển chung của thế giới. Các khoa học cụ thể vẫn tồn tại tách rời nhau, cô lập nhau, chưa tìm thấy mối liên hệ thực sự giữa chúng. Các học thuyết giải thích về thế giới đều trở thành những học thuyết giáo điều. Đây là một trở ngại cho sự phát triển của nhận thức khoa học. Trở ngại này đã được phép biện chứng duy tâm Đức khắc phục, đẩy lùi được phép siêu hình một bước quan trọng. Hêghen là người đã đối lập phép biện chứng với phép siêu hình và phê phán quyết liệt phép siêu hình, chỉ ra những hạn chế khuyết điểm của nó, đồng thời ông đã khái quát được hệ thống phạm trù, quy luật của phép biện chứng. Tuy nhiên phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm, bản thân nó còn nhiều hạn chế, do vậy, sự phê phán đối với phép siêu hình cũng chưa triệt để. Chỉ đến khi phép biện chứng duy vật ra đời, khắc phục những hạn chế của phép biện chứng duy tâm của Hê-ghen, mới phê phán một cách triệt để phép siêu hình.

    Hiện nay theo quan điếm macxit, phép siêu hình là một phương pháp nhận thức không khoa học, nó xem xét sự vật một cách phiến diện, một chiều, đối lập với phép biện chứng duy vật. Với sự phát triển của nhận thức khoa học yà thực tiễn xã hội hiện nay, chỉ có phép biện chứng duy vật mới là công cụ thích hợp để nhận thức và cải tạo thế giới. Ngay từ những năm 70 của thế kỷ XIX, khi đánh giá vai trò của phép biện chứng đối với sự phát triển của khoa học tự nhiên, Ph. Ăngghen đã viết: “Một quan niệm đúng đắn về vũ trụ, về sự phát triển của vũ trụ và sự phát triển của loài người, cũng như về sự phản ánh của sự phát triển ấy vào trong đầu óc con người chỉ có thể có được bằng con đường biện chứng, với sự chú ý thường xuyên đến những tác động qua lại phổ biến giữa sự phát sinh và sự tiêu vong, giữa sự biến đổi tiến bộ và sự biến đổi thụt lùi”.

    Sự đối lập giữa phép biện chứng và phép siêu hình thể hiện trên các mặt sau:

    Phép siêu hình cho rằng các sự vật là hoàn toàn đồng nhất, không có khác biệt, không có mâu thuẫn, trái lại phép biện chúng cho rằng sự vật, hiện tượng nào cũng bao gồm những khác biệt, bao gồm những mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng.

    Phép siêu hình cho rằng các sự vật hoàn toàn tách rời nhau, các sự vật đơn giản chỉ nằm cạnh nhau, không có liên hệ với nhau, hoặc nếu có liên hệ thì liên hệ đó chỉ là bề ngoài và có tính chất ngẫu nhiên; trái lại phép biện chứng cho rằng các sự vật hiện tượng trong thế giới có liên hệ với nhau, phụ thuộc, quy định và chuyển hoá lẫn nhau, không có sự vật nào tồn tại trong sự biệt lập. Các sự vật không phải chỉ đơn giản nằm cạnh nhau.

    Phép siêu hình chỉ thừa nhận hình thức vận động cơ học, nguyên nhân của sự vận động là do lực tác động từ bên ngoài, do sự xung đột của những lực lượng đổi lập ở bên ngoài sự vật quyết định. Trái lại phép biện chứng cho vận động là sự biến đổi nói chung của các sự vật, vận động cơ học chỉ là một trong những hình thức vận động của sự vật. Vận động là sự tự vận động của vật chất. Nguyên nhân của sự vận động là do sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hoặc sự tác động giữa sự vật này với sự vật khác quyết định. Vận động là phương thức tồn tại của vật chất, gắn liền với vật chất, không có vận động thuần tuý bên ngoài vật chất.

    Phép siêu hình phủ nhận sự phát triển, hoặc họ cho rằng phát triển chỉ là sự tăng, giảm đơn thuần về lượng, không có sự thay đổi về chất, nghĩa là không có sự ra đời cái mới về chất so với cái cũ. Trái lại phép biện chứng cho rằng phát triển là sự vận động theo xu hướng tiến bộ. Đây là quá trình tự phát triển của sự vật. Quá trình này rất phức tạp, diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, bao hàm cả sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất, là quá trình cái mới về chất ra đời thay thế cho cái cũ.

    Phép siêu hình cho rằng trong sự vận động của sự vật, không có tính định hướng, do vậy không có cái mới, cái tiến bộ thay thế cho cái cũ, cái lạc hậu. Vì vậy khi xem xét thế giới, quan điểm siêu hình cho rằng các loài động vật, thực vật từ xưa đến nay đều vẫn như vậy. số lượng các chủng loại không có gì thay đổi chỉ có số lượng cá thể trong từng loài là tăng lên hoặc giảm đi thôi. Trái lại phép biện chứng cho rằng trong sự vận động, phát triển của sự vật, sẽ xác định một xu hướng vận động, tiến từ thấp đến cao. Chẳng hạn quá trình tiến hoá của các loài động vật, thực vật chính là một xu hướng tiến bộ của các loài động vật, thực vật thông qua quá ừình vận động biến đổi của thế giới sinh vật.

    1.2. Các hình thức lịch sử của phép biện chứng

    Những tài liệu lịch sử triết học cho thấy ngay từ thế kỷ thứ VI và V trước công nguyên, trong nền văn hoá cổ đại ở Ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp đã xuất hiện tư tưởng biện chứng. Những nhà tư tưởng ở Hy Lạp cổ đại đã phát triển phép biện chứng cổ đại lên đỉnh cao. Chính thuật ngữ “phép biện chứng” đã được sáng tạo ra trong nền văn hoá Hy Lạp cổ đại. Từ khi ra đời đến nay trải qua hơn 2500 năm, phép biện chứng đã được phát triển, bổ sung nhiều nội dung mới và đã tồn tại dưới những hình thức khác nhau trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, trong đó có ba hình thức lịch sử chủ yếu sau:

    Phép biện chứng tự phát, sơ khai ở thời kỳ cổ đại.

    Phép biện chứng duy tâm khách quan trong triết học của Hêghen.

    Phép biện chứng duy vật trong triết học Mác – Lênin.

    a) Phép biện chứng tự phát, sơ khai

    Phép biện chứng tự phát, sơ khai xuất hiện sớm trong triết học Ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp cổ đại.

    Trong thuyết Ngũ hành lại cho rằng sự tác động lẫn nhau của năm yếu tố: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ theo hướng tương sinh (cái này sinh cái kia, cái này tạo điều kiện cho cái kia phát triển) và tương khắc (cái này chế ngự, kìm hãm cái kia) làm cho các sự vật trong thế giới sinh – diệt, biến hoá không ngừng theo nhũng chu trình nhất định. Thuyết Ngũ hành còn đưa ra những tính năng khác cho 5 yếu tố vật chất ban đầu để giải thích các hiện tượng tự nhiên như: Ngũ sắc (Vàng – Trắng – Đen – Xanh – Đỏ); Bốn mùa (Điều hoà bốn mùa – Thu – Đông – Xuân – Hạ); Bốn phương (Ở giữa – Tây – Bắc – Đông – Nam) v.v. Quan niệm trên đã giải thích nhiều hiện tượng, quá trình trong tự nhiên một cách biện chứng, thấy được tính chất đa chiều của quá trình biến đổi của các sự vật (có tương sinh và có tương khắc), nhưng giải thích còn mộc mạc và đơn giản, trong đó các yếu tố là nguyên nhân của sự vận động còn mang tính chất cảm tính, tưởng tượng và gán ghép cho sự vật, mà chưa được chứng minh một cách khoa học.

    Trong triết học Hy Lạp cổ đại, tư tưởng biện chứng tự phát được thế hiện trong quan điểm về thế giới của các nhà triết học tiêu biểu như: Hêraclit, Xôcrát, Platôn, Arixtốt V.V., trong đó đặc sắc nhất là quan điểm của Hêraclit. ông coi thế giới luôn vận động biến đổi phát triển không ngừng. Không có cái gì tồn tại mãi, mọi vật đều trôi đi, không có cái gì xảy ra lần thứ hai mặc dù có sự kế thừa nhất định, cho nên ông nói: Không ai tắm hai lần trong cùng một dòng sông. Ảngghen cho rằng ở thời kỳ này “tư duy biện chứng xuất hiện với tính cách thuần phác, tự nhiên của nó” 7. Đây là phép biện chứng dựa trên sự cảm nhận trực tiếp của con người về thế giới xung quanh. Những kết luận rút ra từ sự cảm nhận trực tiếp đó chưa có căn cứ khoa học, mới chỉ là những yếu tố biện chứng mộc mạc, thô sơ, mới chỉ là những quan niệm biện chứng tự phát, ngây thơ, chưa phải là một hệ thống quan điểm lý luận chặt chẽ của phép biện chứng. Tính chất tự phát ngây thơ là đặc điểm chủ yếu của phép biện chứng cổ đại.

    Tính chất tự phát thể hiện ở chỗ các nhà triết học thời cổ đại chưa có chủ định nghiên cứu phép biện chứng, chưa lấy chính phép biện chứng, (tức sự biến đổi của thế giới) làm đối tượng nghiên cứu của mình, mà chủ yếu họ nghiên cứu sự tồn tại của tự nhiên nhằm xây dựng bức tranh chung về thế giới và chỉ ra được nguồn gốc của nó. Trong khi giải quyết nhiệm vụ đó thì nhân tiện họ nói đến phép biện chứng. Vì thế phép biện chứng cổ đại chỉ nêu lên được một số quan niệm biện chứng thô sơ, mộc mạc. Đó là những yếu tố biện chứng lẻ tẻ, rời rạc, có tính chất ẩn dụ, chưa thành một hệ thống hoàn chỉnh với những phạm trù, quy luật khái quát thống nhất với nhau. Do đó nó chưa đủ sức chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người và chưa có cơ sở khoa học để hướng dẫn việc nghiên cứu bản thân phép biện chứng một cách tự giác.

    Tính ngây thơ thể hiện ở chỗ những kết luận của nó thường được rút ra từ sự cảm nhận trực tiếp thế giới xung quanh con người cổ đại. Sự cảm nhận đó phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện và hoàn cảnh sống cụ thể của con người ở thời kỳ cổ đại. Chẳng hạn Ta-lét khi cảm nhận được vai trò quan trọng của nước đối với cuộc sống của con người và thế giới sinh vật, đã cho rằng nước là cơ sở đầu tiên của thế giới. Mọi cái đều được sinh ra từ nước và khi phân huỷ lại trở thành nước. Hê-ra-clít trong điều kiện sống của mình (như thế nào đó), đã nhận thấy vai trò to lớn của lửa, nên đã có quan niệm cho rằng lửa là bản nguyên đầu tiên của thế giới; hoặc do vai trò to lớn của các dòng sông đối với sản xuất nông nghiệp của người cổ đại, nên Hê-ra-clít đã chú ý nhiều đến dòng sông và có tư tưởng cho rằng sự vận động của thế giới khách quan giống như dòng sông, ông đã có những câu nói nổi tiếng, thế hiện tư tưởng biện chứng sâu sắc như: “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông”, (hoặc như quan niệm về sắc và Danh của Phật giáo, hay Âm – Dương của triết học Trung Quốc). Đây là những quan niệm rất biện chứng, tuy nhiên còn thô sơ, rời rạc, mói chỉ là những liên hệ bề ngoài, chưa phải là những hiểu biết sâu sắc về bản chất của sự vật và hiện tượng. Vì vậy phép biện chứng thời kỳ này chưa có tính chất khoa học, còn đơn giản, rời rạc, chưa thành hệ thống lý luận. Mặc dù vậy phép biện chứng tự phát thời kỳ cổ đại vẫn có giá trị trong việc bảo vệ quan niệm vô thần, chống lại những quan niệm tôn giáo và phép siêu hình cổ đại.

    b) Phép biện chứng duy tâm khách quan

    Từ cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, do yêu cầu của sản xuất’ trong xã hội tư bản nên khoa học tự nhiên có bước phát triển mới. Ở Đức thời kỳ này giai cấp tư sản cũng ra sức đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học tự nhiên phục vụ sự phát triển kinh tế nhằm thu lợi nhuận cao. Vì vậy nước Đức vào thời kỳ này đã đạt được nhiều thành tựu khoa học. Những thành tựu khoa học này là cơ sở để đi đến những khái quát mới cả về nội dung và hình thức của phép biện chứng. Do những điều kiện lịch sử đặc biệt của nước Đức ở thế kỷ XVIII, phép biện chứng thời kỳ này mang một hình thức mới. Đó là phép biện chứng duy tâm khách quan của triết học cổ điển Đức, bắt đầu từ Kantơ qua Phichtơ, Selinh và đạt đỉnh cao trong triết học của Hêghen.

    Đặc điểm của phép biện chứng duy tâm khách quan trong triết học của Hêghen là:

    Thứ nhất, khác với phép biện chứng sơ khai thời kỳ cổ đại, phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen đã hướng vào nghiên cứu chính phép biện chứng, nghĩa là hướng vào việc xây dựng lý luận về chính quá trình vận động và phát triển. Do vậy nó không còn là những tư tưởng biện chứng lẻ tẻ, rời rạc, mộc mạc như ở thời kỳ cổ đại, mà là một hệ thống quan điểm khá hoàn chỉnh về sự vận động và phát triển. Trong phép biện chứng của mình, Hêghen đã xây dựng được hệ thống các phạm trù, khái niệm, quy luật quan hệ chặt chẽ với nhau, phản ánh khái quát quá trình phát triển. Trước hết là quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại và quy luật phủ định của phủ định, làm sâu sắc thêm quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (hay quy luật mâu thuẫn).

    Thứ hai, các phạm trù, quy luật trong phép biện chứng của Hêghen bao quát cả ba lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó là kết quả của quá trình phát triển tư duy duy lý, khái quát quá trình phát triển của nhận thức, khái quát những thành tựu của khoa học tự nhiên và lịch sử.

    Thứ ba, phép biện chứng của Hêghen dựa trên quan điểm duy tâm về thế giới, nghĩa là quan điểm cho rằng thế giới được sinh ra từ tinh thần. Theo đó, các quá trình tự nhiên và xã hội chỉ là biểu hiện của các quá trình tư duy. Những khái niệm, phạm trù, quy luật của phép biện chứng không phải là sự phản ánh khái quát các mối quan hệ của hiện thực khách quan, mà nó có đời sống riêng, tồn tại trước và độc lập với ‘thế giới vật chất. Do vậy về bản chất phép biện chứng này mới là phép biện chứng của ý niệm, nó còn nhiều nội dung có tính chất gò ép, thần bí, không phù họp với thực tiễn xã hội, với hiện thực khách quan và nhận thức khoa học hiện đại.

    Như vậy phép biện chứng dưới hình thức duy tâm khách quan trong triết học của Hêghen là một bước tiến lớn so với phép biện chứng tự phát thời kỳ cổ đại. Nhưng nó chưa thực sự khoa học, còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn xã hội, điều đó đòi hỏi phải phát triển hơn.

    c) Phép biện chứng duy vật (còn gọi là phép biện chứng mácxit)

    Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, kế thừa có phê phán chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong lịch sử triết học, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật của Phơbách và phép biện chứng của Hêghen, khái quát những thành tựu của khoa học hiện đại và thực tiễn xã hội, Mác và Ăngghen đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đem lại cho phép biện chúng một hình thức mới về chất, đó là phép biện chứng duy vật. Sau này, phép biện chứng duy vật được Lênin phát triển và hoàn thiện thêm. Đây là hình thức họp lý và hiện đại nhất của phép biện chúng.

    Phép biện chúng duy vật có những đặc điểm sau:

    Thứ nhất, về cơ sở thế giới quan, phép biện chứng duy vật dựa trên quan điểm duy vật về thế giới, thừa nhận thế giới vật chất là vô cùng, vô tận, tồn tại khách quan và vĩnh viễn, không do ai sáng tạo ra, không mất đi, các bộ phận của thế giới quan hệ chặt chẽ với nhau, vận động phát triển không ngừng theo những quy luật vốn có của nó. Phép biện chứng duy vật không những đối lập căn bản với phép biện chứng duy tâm mà còn đổi lập với phép siêu hình. Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng khoa học.

    Thứ hai, về cấu trúc, phép biện chứng duy vật bao gồm một hệ thống những nguyên lý, phạm trù, quy luật chung nhất, phản ánh sự vận động phát triển của cả tự nhiên, xã hội và tư duy, khác với phép biện chứng tự phát thời kỳ cổ đại chưa xây dựng được bộ máy các phạm trù trừu tượng để phản ánh hiện thực khách quan một cách toàn diện và sâu sắc. Khác với các phạm trù của phép biện chứng duy tâm, các phạm trù của phép biện chứng duy vật không phải là những thực thể tinh thần tồn tại trước nhũng sự vật và mối liên hệ giữa các sự vật của hiện thực khách quan, mà là kết quả của quá trình phản ánh khái quát, trừu tượng các mối liên hệ của hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người. Các phạm trù của phép biện chứng duy vật là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, chúng có nội dung khách quan và hình thức thể hiện có tính chất chủ quan. Các phạm trù được hình thành trong quá trình con người nhận thức và cải tạo thế giới.

    Thứ ba, những quy luật của phép biện chứng duy vật vừa là quy luật của thế giới khách quan vừa là quy luật của nhận thức. Nó là sự thống nhất (trên cơ sở thừa nhận vật chất là tính thứ nhất) giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic biện chứng. Nghĩa là những quy luật của phép biện chứng không phải chỉ là những quy luật của riêng tư duy, riêng tồn tại, hay của riêng sự phản ánh tồn tại vào tư duy, mà là sự thống nhất của cả ba quá trình đó. 5

    Thứ tư, phép biện chứng duy vật không phải là những khẳng định có tính chất giáo điều, trừu tượng, mà là những khẳng định, những luận điểm luôn gắn với thực tiễn, luôn được bổ sung phát triển cùng với sự phát triển của thực tiễn. Do vậy phép biện chứng duy vật vừa có tính cách mạng vừa có tính khoa học, vừa có tính tự giác cao, nó có tác dụng quan trọng trong việc chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người.

    2. Nội dung cơ bản và ý nghĩa phương pháp luận của phép biện chứng duy vật.

    Chúng ta biết lý luận là tri thức được hình thành từ sự khái quát kinh nghiệm và thực tiễn, nhưng không hình thành một cách tự phát từ kinh nghiệm, thực tiễn và không phải mọi lý ỉuận đều trực tiếp xuất phát từ kinh nghiệm và thực tiễn. Sự ra đời và phát triển của các hệ thống lý luận có tính độc lập tương đối so với sự phát triển kinh nghiệm và thực tiễn. Đặc trưng căn bản của lý luận so với kinh nghiệm là tính hệ thống, tính trừu tượng, tính đúng đắn, sâu sắc, khái quát cao của lý luận. Bất kỳ lý luận nào cũng là một hệ thống các quan điểm, các phạm trù, quy luật liên hệ chặt chẽ với nhau, quy định lẫn nhau, phản ánh những mối liên hệ bản chất của sự vật và hiện tượng.

    2.1. Nội dung lý luận và ý nghĩa phương pháp luận của hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật

    a) Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

    Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến phản ánh khái quát một tính chất chung và cơ bản của mọi sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất. Sự phản ánh khái quát này được thể hiện dưới hình thức hệ thống các khái niệm và luận giải về tính chất của các khái niệm đó. Trước hết, đó là khái niệm liên hệ.

    Khái niệm liên hệ được định nghĩa là sự tác động qua lại, sự phụ thuộc, quy định và chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật hoặc giữa các mặt, các yếu tổ cấu thành nên sự vật. Không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại trong thể giới mà không nằm trong sự phụ thuộc vào các sự vật khác, tức là nằm trong các mối liên hệ chung. Điều này được chứng minh không phải chỉ bằng sự quan sát thông thường, trực tiếp hàng ngày mà cả bằng những nghiên cứu khoa học, những khái quát của các hệ thống triết học trong lịch sử. Thí dụ, sự phụ thuộc của cơ thể sống vào môi trường là mối liên hệ dễ nhận thấy nhất. Một cơ thể thực vật hoặc động vật, muốn sống, sinh trưởng cần phải có các yếu tố nước, các khoáng chất trong nước và đất, ánh sáng mặt trời, nhiệt độ v.v. Thiếu các yếu tố của môi trường nêu trên các cơ thể sống không thể tồn tại và phát triển được. Một thí dụ khác, trong nền sản xuất hàng hoá, giữa những người sản xuất hàng hoá khác nhau có sự phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ. Người sản xuất sợi phụ thuộc rất nhiều vào người sản xuất bông và người dệt vải, người tiêu thụ vải.

    Tư tưởng về mối liên hệ giữa các sự vật được phản ánh trong các hệ thống triết học ở các giai đoạn lịch sử khác nhau với những hình thức diễn đạt khác nhau như: Ở Trung Quốc cổ đại, phái Âm – Dương nêu lên tư tưởng về sự tác động qua lại giữa hai lực lượng đối lập nhau Âm – Dương làm cho mọi vật biến đổi. Ở Ấn Độ, tư tưởng của đạo Phật về sự kết họp giữa sắc – Danh, Nhân – Duyên làm cho các vật ra đời, tồn tại và biến đi. Trong triết học Hy Lạp cổ đại, tư tưởng của Hêraclit về sự chuyển hoá từ các mặt ẩm ướt sang khô ráo và ngược lại làm cho các vật chuyển hoá không ngừng từ vật này sang vật kia v.v. Tư tưởng về mối liên hệ trong các hệ thống triết học thời kỳ Phục hưng, Khai sáng và thời kỳ cận đại ở Tây Âu mà tiêu biểu nhất là trong triết học của Hêghen càng sâu sắc hơn. Hêghen không chỉ chú ý đến trạng thái tồn tại nhất thời của sự vật mà điều chủ yếu được ông chú ý đến là các mối liên hệ, sự chuyển hoá từ sự vật này sang sự vật kia. Theo ông, nhận thức về sự vật mà không nhận thức được các mối liên hệ của nó, những sự phụ thuộc của nó vào các sự vật khác thì chưa thế nhận thức được thực chất của sự vật. Như vậy khái niệm liên hệ trong phép biện chứng duy vật là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài của con người, là sự tổng kết kinh nghiệm lịch sử và nâng lên thành lý luận của con người, chứ không phải là sự sáng tạo có tính chất ngẫu nhiên, thuần túy chủ quan của ý thức con người.

    Tính chất của các mối liên hệ

    Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến còn khẳng định các tính chất của mối liên hệ, đó là: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng của các mối liên hệ.

    Tính khách quan nghĩa là các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng là cái vốn có của thế giới vật chất, do tính vật chất của thế giới quy định, không phụ thuộc vào ý thức của con người, không phải do lực lượng thần thánh nào đó sáng tạo ra. Thí dụ, sự phụ thuộc của cơ thể sinh vật vào môi trường, khi môi trường thay đổi thì cơ thể sinh vật cũng phải thay đổi để thích ứng với môi trường. Mối liên hệ đó không phải do ai sáng tạo ra, mà là cái vốn có của thế giới vật chất. Khẳng định tính khách quan của các mối liên hệ là nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật, đế phân biệt với phép biện chứng duy tâm. Trong phép biện chứng duy tâm, các sự vật và mối liên hệ giữa các sự vật trong hiện thực khách quan được xem là do tinh thần sáng tạo ra. Thí dụ, trong phép biện chứng duy tâm người ta cho rằng khái niệm lực phải có trước rồi mới có các lực trên hiện thực như lực hút của trái đất, lực đẩy của lò xo. Lực hút của trái đất, lực đàn hồi của lò xo chỉ là biểu hiện của khái niệm lực do tư duy sáng tạo ra. Phép biện chứng duy vật cho rằng lực hút của trái đất và lực đàn hồi của lò xo là vốn có của thế giới vật chất. Đó là những mối liên hệ khách quan của các sự vật mà con người nhận thức được bằng tư duy của mình,

    Tính phổ biến của mối liên hệ có hai nghĩa: Một là, mọi sự vật, hiện tượng, quá trình hoặc mọi yếu tố cấu thành nên sự vật đều nằm trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng, các yếu tố khác, không có sự vật, hiện tượng nào, yếu tố nào tồn tại trong sự biệt lập hoàn toàn. Hai là, có những mối liên hệ chung tồn tại trong thế giới vật chất, tác động lên mọi sự vật, mọi quá trình biến đổi của các sự vật. Thí dụ, theo mức độ hiểu biết của chúng ta hiện nay, mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng, nguyên nhân và kết quả, nộỉ dung và hình thức, bản chất và hiện tượng, lượng và chất, v.v. Đều là những mối liên hệ chung tồn tại trong mọi sự vật, mọi quá trình.

    Tính đa dạng của các mối liên hệ: Thể hiện ở chỗ sự vật khác nhau có các mối liên hệ khác nhau. Thí dụ, các loài cá, chim, thú đều có quan hệ với nước, nhưng cá quan hệ với nước khác với chim và thú. Cá sống thường xuyên trong nước, không có nước thường xuyên cá không thể tồn tại được, nhưng các loài chim và thú lại không thể sống trong nước thường xuyên được. Có loài cá sống trong nước ngọt, có loài cá sống trong nước mặn. Tính đa dạng của các mối liên hệ còn thể hiện ở chỗ: một sự vật đồng thời tồn tại nhiều mối liên hệ, mỗi mối liên hệ của sự vật có vai trò khác nhau đối với sự tồn tại của sự vật, chẳng hạn có mối liên hệ bên trong, có mối liên hệ bên ngoài, có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp, có mối liên hệ cơ bản quyết định sự tồn tại của sự vật, có mối liên hệ không cơ bản, không quyết định đến sự tồn tại của các sự vật, có mối liên hệ là nguyên nhân, có mối liên hệ là kết quả, có mối liên hệ tất nhiên, có mối liên hệ ngẫu nhiên v.v. Các mối liên hệ của sự vật quan hệ với nhau và có thể chuyến hoá cho nhau, lúc này, trong phạm vi này một mối quan hệ nào đấy đóng vai trò là nguyên nhân, hay là mối liên hệ bên trong, nhưng lúc khác, trong phạm vi khác chính mối quan hệ đó lại đóng vai trò là kết quả, hay là mọi liên hệ bên ngoài. Thí dụ, quan hệ giữa người chủ sở hữu với người công nhân xét trong phạm vi sản xuất của xí nghiệp thuộc quyền người chủ, thì đó là quan hệ trong nội bộ của quá trình sản xuất của xí nghiệp. Nhưng xét trong phạm vi sản xuất của xí nghiệp khác, hoặc trong phạm vi sản xuất và sinh hoạt của gia đình người công nhân, thì quan hệ giữa người chủ và người công nhân kia lại là mối liên hệ bên ngoài. Có thể chỉ ra nhiều thí dụ khác nữa về môi liên hệ và sự chuyển hoá giữa các mối liên hệ của các sự vật. Sự liên hệ-phổ biến giữa các sự vật và hiện tượng rõ ràng là đặc trưng phổ biến nhất của thế giới vật chất.

    Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi: Một là, phải xem xét tất cả các mối liên hệ của sự vật, không loại trừ một mối liên hệ nào. Yêu cầu này trễn thực tế khó thực hiện được, bởi vì sự vật có vô vàn các mối liên hệ. Trong khi đó nhận thức của con người tại một thời điểm nhất định nào đó bao giờ cũng bị giới hạn bởi điều kiện lịch sử cụ thể, không thể nhận thức được tất cả các mối liên hệ của sự vật. Muốn nhận thức đưọc tất cả các mối liên hệ của sự vật phải trải qua lịch sử lâu dài của nhận thức. Nhưng cần thiết đặt ra yêu cầu này để đòi hỏi chủ thể phải xem xét nhiều mặt của sự vật, tránh rơi vào sai lầm phiến diện. Hai là, phải phân loại được các mối liên hệ, nghĩa là trong tổng số các mối liên hệ của sự vật phải rút ra được đâu là các mối liên hệ bản chất, chủ yếu, đâu là nguyên nhân và đâu là kết quả. Yêu cầu này đòi hỏi con người phải tìm hiểu sâu sắc các mối liên hệ, so sánh, đánh giá vị trí, vai trò các mối liên hệ của sự vật, từ đó giúp con người tránh rơi vào quan điểm dàn đều, liệt kê các sự kiện, các mối liên hệ, không đi sâu nhận thức được bản chất của sự vật. Ba là, từ việc rút ra các mối liên hệ bản chất của sự vật con người lại phải đặt mối liên hệ bản chất đó trong tổng thể các mối liên hệ của sự vật, xem xét sự vật một cách thực tế trong tiến trình vận động lịch sử cụ thể của sự vật, tức là phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi nhận thức và hoạt động thực tiễn. Yêu cầu này giúp con người tránh rơi vào sai lầm siêu hình, kinh nghiệm xa rời thực tế.

    b) Nguyên lý về sự phát triển

    Khái niệm phát triển: Nguyên lý về sự phát triển phản ánh một đặc tính chung, khách quan của thế giới vật chất, đó là: mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới luôn vận động, biến đổi không ngừng và thông qua sự vận động, biến đổi đó, sẽ xác định một xu hướng vận động đi lên nhất định, đó là sự phát triển.

    Vậy ta có thể định nghĩa phát triển là khái niệm phản ánh xu hướng vận động đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan, ở đây những từ: “thấp”, “cao”, “đơn giản”, “phức tạp”, “chưa hoàn thiện”, “hoàn thiện hơn” được hiểu theo nghĩa khái quát, không phải theo nghĩa đen của các từ này.

    Theo định nghĩa trên, khái niệm phát triển nằm trong khái niệm vận động, nói lên một xu hướng vận động nhất định của thế giới vật chất. Thí dụ, sự tiến hoá của thế giới động vật là một xu hướng biến đối của các loài động vật hình thành nhờ vô vàn nhũng sự biến đổi của các loài động vật dưới tác động qua lại giữa môi trường và cơ thể qua một thời gian rất lâu dài; sự thay thế các phương thức sản xuất và các hình thái kinh tế – xã hội trong lịch sử cũng diễn ra theo xu hướng đi lên, hình thái kinh tế – xã hội sau hoàn thiện hơn hình thái kinh tế – xã hội trước, đó cũng là sự phát triển. Sự phát triển các môn khoa học và các lý thuyết khoa học trong lịch sử cũng là xu hướng vận động đi lên của nhận thức khoa học v.v. Đó là những quá trình phát triển cụ thể của thế giới vật chất. Nguyên lý về sự phát triển có quan hệ mật thiết với nguyên lý về mối liên liên hệ phổ biến. Không có liên hệ thì không có sự vận động, biến đổi, chuyển hoá từ sự vật này thành sự vật khác và không thể có phát triển. Phát triển là một hình thức của sự liên . hệ, đó là liên hệ giữa cái mới, cái tiến bộ với cái cũ.

    Tính chất của sự phát triển. Không phải chỉ có phép biện chứng duy vật mới đưa ra quan niệm về phát triển. Chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy tâm cũng đưa ra quan niệm về phát triển, nhưng khác căn bản với quan niệm của phép biện chứng duy vật. Để phân biệt nội dung khái niệm phát triển trong phép biện chứng duy vật với phát triển trong quan niệm của chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy tâm, nguyên lý về sự phát triển nêu lên các tính chất của sự phát triển đó là: tính khách quan, tính phổ biến và tính phức tạp của sự phát triển.

    Sự phát triển có tính khách quan nghĩa là xu hướng vận động đi lên của các sự vật trong thế giới vật chất là xu hướng chung, vốn có của thế giới vật chất, không do ai sáng tạo ra, không phải là sự sáng tạo của thần thánh, thượng đế như quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, hay tôn giáo nêu ra. Nguyên nhân của xu hướng vận động đi lên là do sự tác động giữa các sự vật của thể giới vật chất quyết định. Thí dụ, sự tiến hoá của thế giới động vật là xu hướng khách quan của sự vận động của các loài động vật. Nguyên nhân của sự tiến hoá của thế giới động vật là do sự tác động giữa cơ thể động vật và môi trường. Điều này đã được những nghiên cứu của các nhà khoa học tự nhiên chứng minh. Sự tiến bộ của các phương thức sản xuất, của các hình thái kinh tế – xã hội là xu hướng vận động khách quan của xã hội loài người. Nguyên nhân của sự tiến bộ xã hội là do các hoạt động của con người, nghĩa ià do sự tác động giữa con người với tự nhiên và sự tác động giữa con người với con người tuân theo những quy luật khách quan quyết định, không phải do thần thánh hay do ý muốn chủ quan thuần tuý của con người quyết định.

    Tính chất phổ biến của sự phát triển nghĩa là sự phát triển đi lên là xu hướng chung của thế giới vật chất. Điều này thể hiện ở chỗ: cả trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy đều tồn tại quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Những tài liệu của các ngành khoa học cụ thể trong các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy đều chứng minh điều này. Thí dụ, trong tự nhiên có quá trình tiến hoá của động vật; trong xã hội có quá trình tiến bộ của kỹ thuật sản xuất, tiến bộ của tổ chức, quản lý quá trình sản xuất, tiến bộ của các chế độ chính trị; trong tư duy, ý thức có sự tiến bộ của nhận thức khoa học, của khả năng SU) luận, phán đoán, dự báo khoa học, y.v. Tuy nhiên sự phát triển không phải là một quá trình đơn giản mà là quá trình rất phức tạp.

    Tỉnh chất phức tạp của sự phát triển thể hiện ở chỗ mỗi sự vật, hiện tượng khác nhau có quá trình phát triển khác nhau. Thí dụ sự phát triển của các loài động vật được thực hiện thông qua sự sinh trưởng, sự di truyền và biến dị của các cá thể động vật trong quan hệ với môi trường, và thể hiện ra dưới hình thức tiến hoá của động vật. Quá trình đó làm cho cơ thể động vật có cấu trúc hoàn thiện hơn, thích ứng tốt hơn với môi trường xung quanh. Quá trình tiến hoá của động vật lại khác với quá trình phát triển của xã hội. Trong xã hội, xu hướng phát triển được xác định thông qua vô số các sự biến xã hội như đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, đấu tranh cải tạo tự nhiên, nghiên cứu khoa học, phát triển sản xuất v.v. làm cho xã hội ngày càng hoàn thiện hơn, chuyển biến từ hình thái kinh tế – xã hội thấp lên hình thái kinh tế – xã hội cao hơn, xây dựng được các thiết chế xã hội đảm bảo cho con người có cơ hội tốt hon để phát huy năng lực hoạt động, sáng tạo của mình. Tính phức tạp của sự phát triển còn thể hiện ở chỗ, quá trình phát triển bao hàm cả sự thay đổi về chất và sự thay đổi về lượng, bao hàm cả sự thụt lùi tạm thời, cả sự kế thừa, lặp lại cái cũ. Quá trình phát triển không đơn giản diễn ra theo con đường thẳng, mà theo con đường quanh co, phức tạp, con đường xoáy ốc theo chiều hướng đi lên.

    Để phân biệt quan điểm của phép biện chứng duy vật với quan điểm duy tâm siêu hình về phát triển, V.I. Lênin viết: “Hai quan niệm cơ bản (hay là hai quan niệm có thể có? hay là hai quan niệm đã thấy trong lịch sử) về sự phát triển (sự tiến hoá): sự phát triển coi như là giảm đi và tàng lên, như là lặp lại, và sự phát triển coi như là sự thống nhất của các mặt đối lập (sự phân đôi của cái thống nhất thành những mặt đối lập bài trừ lẫn nhau và mối quan hệ lẫn nhau giữa các mặt đối lập ấy)”. “Quan niệm thứ nhất là chết cứne, nehèo nàn. khô khan. Quan niệm thứ hai là sinh động. Chỉ có quan niệm thứ hai mới cho ta chìa khóa của “sự tự vận động” của tất thảy mọi cái đang tồn tại; chỉ có nó mới cho ta chìa khóa của những “bước nhảy vọt”, của sự “gián đoạn của tính tiệm tiến”, của sự “chuyển hoá thành mặt đối lập”, của sự tiêu diệt cái cũ và sự nảy sinh cái mới’ w.

    Do quá trình phát triển rất phức tạp. Mỗi sự vật khác nhau, điều kiện lịch sử khác nhau quá trình phát triển (sự thay thế cái cũ bằng cái mới, cái tiến bộ) lại diễn ra dưới các hình thức cụ thể khác nhau. Do vậy phải có quan điểm lịch sử cụ thể, luôn xuất phát từ hiện thực khách quan, căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể để xác định các hình thức phát triển cho phù họp với từng sự vật trong những điều kiện ỊỊch sử khác nhau. Không được áp dụng một cách máy móc hình thức phát triển của sự vật này cho sự vật khác.

    Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật phản ánh những tính chất biện chứng chung nhất của thế giới. Những tính chất chung này lại được bổ sung cụ thể hơn trong nội dung lý luận của các cặp phạm trù và các quy luật của phép biện chứng duy vật, từ đó lại có thể rút ra những ý nghĩa phương pháp luận mới, làm cho phép biện chứng duy vật càng có nội dung phong phú, sinh động, phù hợp với cuộc sống và có giá trị hơn đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người.

    – Các cặp phạm trù cái riêng và cái chung, hiện tượng và bản chất, ngẫu nhiên và tất nhiên phản ánh mối liên hệ giữa một bên là các mặt, các quá trình có đặc tính tương đối ổn định, không trực tiếp biểu hiện ra bên ngoài một cách đầy đủ với một bên là các mặt, các quá trình thưòng xuyên biến đổi, trực tiếp bộc lộ ra của các sự vật trong hiện thực khách quan. Những cặp phạm trù này đồng thời cũng thể hiện cấp độ nhận thức của con người ngày càng đi vào chiều sâu của thế giới vật chất, phản ánh được những mối liên hệ phức tạp và sâu sắc của các sự vật trong thế giới vật chất.

    Định nghĩa: Phạm trù cái riêng dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình, một kết cấu vật chất nhất định nào đó. Thí dụ, một ngôi nhà cụ thể, một cái bàn cụ thể, một cái cây, một lóp học cụ thể v.v. đó là những cái riêng.

    Phạm trù cái chung dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những quá trình được lặp lại trong nhiều sự vật hiện tượng riêng lẻ. Thí dụ, màu xanh là cái chung của những chiếc lá eây; sống dưới nước, thở bằng mang là cái chung của các loài cá; có tư duy, ý thức và lao động sáng tạo là cái chung của con người, v.v.

    Phạm trù cái đơn nhất dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính (trong một giới hạn nhất định), tồn tại chỉ ở một cái riêng nào đó, ngoài ra không tồn tại ở bất kỳ một cái riêng khác nào nữa. Thí dụ, trong phạm vi nhất định, vân tay của mỗi người có thể được xem là cái đon nhất của mỗi người. Nếu mở rộng phạm vi hơn nữa thì điều đó có thể không còn đúng. Cái đơn nhất ở phạm vi này (chẳng hạn trong phạm vi 1000 người), có thể trở thành cái chung ở phạm vi khác (chẳng hạn trong phạm vi 1001 người).

    Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng

    Trong lịch sử triết học đã có những nhà triết học thuộc trường phái Duy Danh (ở thời kỳ trung cổ) chỉ thừa nhận cái riêng tồn tại thực tế, còn cái chung chỉ là những danh từ trống rỗng do con người đặt ra. Quan niệm này đã đi đến chỗ phủ nhận mọi nội dung khách quan của các khái niệm, phạm trù và quy luật. Bên cạnh đó lại có những nhà triết học thuộc trường phái Duy Thực (ở thời kỳ trung cổ) chỉ thừa nhận cái chung tồn tại thực tế, còn cái riêng chỉ là biểu hiện nhất thời của cái chung, do cái chung quyết định. Quan điểm này đi đến chỗ phủ nhận mọi tính hiện thực của các sự vật hiện tượng thông thường mà con người có thể cảm nhận được bằng các giác quan của mình. Cả hai quan điểm trên đều không đúng, đều chưa thấy mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung.

    Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, cái riêng và cái chung đều tồn tại khách quan và gắn bó chặt chẽ với nhau, quan hệ biện chứng với nhau, thể hiện ở chỗ:

    Không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái riêng. Cái chung phải tồn tại thông qua cái riêng. Thí dụ, sự thở bằng .mang là cái chung của loài cá, nhưng không có sự thở bằng mang bên ngoài con cá cụ thể. Ý thức là cái chung của con người, nhưng không có ý thức tồn tại bên ngoài hoạt động tinh thần của một người cụ thể.

    Cái riêng không tồn tại tách rời cải chung mà tồn tại trong mối liên hệ với cái chung. Bởi vì nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đó khẳng định mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Khi liên hệ giữa sự vật, hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác các sự vật sẽ chuyến hoá lẫn nhau và tất yếu sẽ tạo nên cái chung giữa chúng. Nếu cho rằng có một cái riêng nào đó không có cái chung với bất kỳ một cái riêng nào khác thì như vậy cái riêng đó không có mối liên hệ nào với cái khác. Điều đó là trái với nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Do vậy, mọi cái riêng đều bao chứa cái chung. Thí dụ, mọi sinh vật sống đều phải có quá trình trao đổi chất với môi trường. Mọi người, muốn sổng đều phải ăn* mặc, đi lại, hoạt động, v.v.

    Cái riêng đa dạng hơn cái chung, cái chung sâu sắc hơn cái riêng. Xét về hình thức tồn tại cái riêng ià một kết cấu vật chất cụ thế có tính toàn vẹn, bao gồm nhiều mặt, phong phú hem cái chung và thường xuyên có những mặt, yếu tố biến đổi, còn cái chung là một bộ phận của cái riêng, nghèo nàn hơn cái riêng, ổn định hơn cái riêng bởi vì cái chung được lặp lại ở nhiều cái riêng, do đó cái chung có thể gần với cái bản chất. Với ý nghĩa đó, cái chung sâu sắc hơn cái riêng.

    Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyến hoá cho nhau trong quá trình vận động phát triển của các sự vật. Thí dụ, quá trình lai tạo giống lúa trong phòng thí nghiệm, tại một thời điểm nào đó, người ta tạo ra được một hạt gống có đặc tính cho năng suất cao, có chất dinh dưỡng tốt. Đặc tính đó là một cái đơn nhất trong một cái riêng. Người ta tiếp tục nhân rộng hạt giống đó để đặc tính cho năng suất cao tồn tại trong nhiều cá thể, khi đó cái đon nhất đó chuyển hoá thành cái chung.

    Cái chung không tồn tại bên ngoài cái riêng, mà tồn tại thông qua cái riêng, do vậy để nhận thức được cái chung, con người phải đi từ nhận thức cái riêng, qua nhiều cái riêng rồi mới đi đến nhận thức được cái chung.

    Tuy nhiên quá trình nhận thức không phải chỉ vận động một chiều từ cái riêng đến cái chung mà còn vận động từ cái chung đến cái riêng, dựa vào cái chung để đi đến nhận thức cái riêng. Khi đó phải căn cứ vào cái riêng để vận dụng cái chung cho thích họp, không thể áp đặt một cách máy móc cái chung cho mọi cái riêng mà không căn cứ vào đặc điểm cái riêng. Nguyên tắc phương pháp luận trên cũng khẳng định rằng quá trình nhận thức phải kết họp giữa phương pháp phân tích và tổng hợp một cách chặt chẽ.

    Trong quá trình vận động của sự vật cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hoá cho nhau, nên con người có thể chủ động tạo ra điều kiện để biến cái đon nhất có lợi thành cái chung, và biến cái chung bất lợi thành cái đơn nhất.

    Định nghĩa. Hiện tượng và bản chất là hai mặt của sự vật. Nhận thức sự vật trước hết con người nhận thức được những biểu hiện, những đặc tính bề ngoài của sự vật khi sự vật tác động vào các giác quan của con người, đó là hiện tượng.

    Vậy, hiện tượng là phạm trù chỉ những mặt, những mối liên hệ bề ngoài của sự vật mà con người có thể nhận thức được bằng cảm giác. Bản chất là phạm trù chỉ những mặt, những mối liên hệ tương đổi ổn định, ẩn giấu bên trong, sau hiện tượng, quy định sự tồn tại và phát triển của sự vật. Bằng cảm giác, con người chưa nhận thức được bản chất của sự vật. Thuật ngữ “bên trong, sau hiện tượng” không nên hiểu một cách cơ học, máy móc theo nghĩa đen của từ này như một vật được bao bọc bởi lóp vỏ bên ngoài, mà phải hiểu theo nghĩa bóng, nghĩa khái quát, tức phải bằng tư duy trừu tượng mới có thể nhận thức được bản chất. Thí dụ, quan sát một bệnh nhân ta có thể thấy những biểu hiện bên ngoài như sốt, kèm theo ho và đau họng. Bản chất của những hiện tượng đó là gì? Phải qua nghiên cứu nhiều hiện tượng, phân tích, so sánh, tổng họp rồi người ta mới nhận thức được bản chất của sốt, ho, đau họng của bệnh nhân là do một loại vi khuẩn nào đó xâm nhập vào cơ thể qua họng của bệnh nhân làm cho các tế bào họng bị tổn thương, tấy đỏ bệnh nhân cảm thấy đau họng và ho. Sự đề kháng của cơ thể chống sự xâm nhập của vi khuẩn một cách bất thường làm cho cơ thế có hiện tượng sốt.

    Mối quan hệ biện chứng giữa hiện tượng và bản chất

    Hiện tượng và bản chất là hai mặt vốn có của sự vật, quan hệ biện chứng với nhau, không tồn tại tách rời nhau.

    Bản chất hiện ra, hiện tượng thể hiện bản chất. Bản chất không phải là cái tách rời hiện tượng, bị hiện tượng che lấp, giống như cái hạt bị lóp vỏ bên ngoài che lấp. Bản chất bao giờ cũng được thể hiện ra ở hiện tượng, nhưng không hiện ra hoàn toàn ở một hiện tượng. Hiện tượng là sự thể hiện của bản chất, nhưng mỗi hiện tượng không thể hiện toàn bộ bản chất, thậm chí còn rất sai iệch với bản chất. Cho nên bản chất và hiện tượng không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Hiện tượng và bản chất vừa đồng nhất, vừa khác biệt.

    Bản chất là mặt ổn định hơn hiện tượng và có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của sự vật. Hiện tượng là mặt thường xuyên biến đổi, đồng thời hiện tượng cũng đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật. Mác đã nghiên cứu mối quan hệ giữa giá trị và giá cả của hàng hoá. Giá cả hàng hoá lên xuống xoay quanh giá trị, đó là biểu hiện của sự hoạt động của quy luật giá trị. Lợi nhuận bình quân là biểu hiện của quy luật giá trị thặng dư của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa trong giai đoạn tự do cạnh tranh, còn quy luật lợi nhuận độc quyền cao là biểu hiện của quy luật giá trị thặng dư của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa giai đoạn độc quyền.

    Nhận thức của con người không thể chỉ dừng lại ở việc phản ánh những biểu hiện bề ngoài của sự vật, mà phải tiến tới nhận thức được những mối liên hệ bản chất của sự vật.

    Không nên đồng nhất hiện tượng với bản chất, chỉ căn cứ vào một hiện tượng, hoặc một vài hiện tượng bề ngoài để đánh giá bản chất của một sự vật nào đó.

    Nhưng bản chất lại chỉ tồn tại thông qua hiện tượng. Do vậy muốn nhận thức được bản chất của sự vật, con người phải bắt đầu từ nhận thức các hiện tượng, nghiên cứu, phân tích, so sánh nhiều hiện tượng, rồi mới đi đến nhận thức được bản chất của sự vật, và từ bản chất cấp chưa sâu sắc tiến đến nhận thức bản chất cấp sâu sắc hơn.

    Bản chất là mặt ổn định hơn hiện tượng và quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật. Nhưng bản chất không phải là cái bất biến, mà vẫn có sự biến đổi ở một giới hạn nhất định do nhũng biến đổi của hiện tượng đưa đến. Do vậy trong thực tiễn, muốn biến đổi bản chất của sự vật có thể tạo ra nhũng điều kiện để biến đổi các hiện tượng, rồi từ hiện tượng biến đổi sẽ dẫn đến biến đổi được bản chất. Chẳng hạn muốn cải tạo một tật xấu nào đấy của con người, cần tạo ra những điều kiện để những biểu hiện của tật xấu đó không được thực hiện, dần dần tật xấu đó có thể sẽ biến đổi.

    c) Tất nhiên và ngẫu nhiên

    Định nghĩa: Tất nhiên là những sự vật, hiện tượng, quá trình do nhũng mối liên hệ bản chất, do những nguyên nhân cơ bản, bên trong sự vật quy định và trong nhũng điều kiện nhất định nó phải xảy ra như thế này chứ không thể khác được. Thí dụ, tung một vật nặng lên cao trên bề mặt trái đất, nhất định nó sẽ rơi xuống bề mặt trái đất; nước nhất định ciịậy từ nơi cao xuống nơi thấp, trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh sản xuất, kinh doanh nhất định có người gặp nhiều thuận lợi, giàu lên, và có người chẳng may gặp rủi ro bị thua lỗ, phá sản v.v.

    Ngẫu nhiên là những sự vật, hiện tượng, quá trình do mối liên hệ không bản chất, do nguyên nhân, hoàn cảnh bên ngoài quy định và trong điều kiện nhất định nó có thể xảy ra có thể không, có thể xảy ra thế này, có thể xảy ra thế khác. Thí dụ, tung con xúc xắc xuống đất có thể mặt 6 lỗ xấp xuống đất có thể mặt 1 lỗ, 2 lỗ v.v. xấp xuống. Điều đó do rất nhiều yếu tố khác nhau quyết định, đó là cái ngẫu nhiên; hay việc mua một chiếc vé xổ số có trúng thưởng hay không cũna là cái ngẫu nhiên, bởi vì số trúng thưởng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố bên ngoài.

    Tất nhiên và ngẫu nhiên đều có nguyên nhân. Không phải chỉ có cái tất nhiên mới có nguyên nhân còn cái ngẫu nhiên không có nguyên nhân, và cũng không phải cái ngẫu nhiên là cái con người chưa nhận thức được nguyên nhân của nó, khi con người nhận thức được nguyên nhân của một sự vật, hiện tượng nào đó thì lập tức sự vật, hiện tượng đó biến thành cái tất nhiên. Cái ngẫu nhiên tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào việc con người nhận thức được hay không nhận thức được nguyên nhân của nó.

    Mối quan hệ biện chứng giữa cái tất nhiên và ngẫu nhiên

    Quan điểm siêu hình tách rời cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên. Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng: tất nhiên và ngẫu nhiên có quan hệ biện chứng với nhau. Điều đó thể hiện ở chỗ: Tất nhiên và ngẫu nhiên không thể tồn tại tách rời nhau. Không có cái tất nhiên thuần tuý tồn tại ngoài cái ngẫu nhiên, cũng như không có cái ngẫu nhiên thuần tuý tồn tại mà không bao chứa cái tất nhiên. Tất nhiên thể hiện sự tồn tại của mình, hay vạch đường đi cho mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên. Ngẫu nhiên là hình thức thể hiện của cái tất nhiên. Thí dụ, mỗi lần quay xổ số sẽ có một con số trúng thưởng, đó là cái tất nhiên. Nhưng con số trúng thưởng đó cụ thể là con số nào, điều đó được thể hiện qua kết quả quay để có một số cụ thể xuất hiện, số cụ thể đó là cái ngẫu nhiên. Như vậy cái tất nhiên (ở đây là phải có một số trúng thưởng) không tồn tại bên ngoài cái ngẫu nhiên, mà phải thông qua cái ngẫu nhiên (ở đây là một số cụ thể nào đó) để thể hiện sự tồn tại của mình. Cái ngẫu nhiên là hình thức thể hiện của cái tất nhiên.

    Phạm trù tất nhiên và phạm trù bản chất, phạm trù quy luật có quan hệ với nhau, nhưng không đồng nhất với nhau. Chúng đều phản ánh những mối liên hệ chung có tính ổn định tương đối và có vai trò quyết định đến sự tồn tại, phát triển của sự vật. Tuy nhiên cấp độ chung và cấp độ sâu sắc, chi phối sự vận động biến đổi của sự vật thì khác nhau. Điều đó đòi hỏi tư duy con người phải có sự phát triển ở mức độ khác nhau mới nhận thức được.

    * Ý nghĩa phương pháp luận

    Từ lý luận về mối quan hệ biện chúng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên như vậy, có thể rút ra nguyên tắc phương pháp luận:

    Thứ nhất, muốn nhận thức được sự vật phải nhận thức được cả những mối liên hệ tất nhiên, cả những mối liên hệ ngẫu nhiên của sự vật.

    Thứ hai, muốn nhận thức được cái tất nhiên phải thông qua việc nhận thức nhiều cái ngẫu nhiên, tiến từ nhận thức cái ngẫu nhiên đến nhận thức cái tất nhiên.

    Thứ ba, vì cái tất yếu là cái do những mối liên hệ bản chất, do nguyên nhân bên trong quy định, còn cái ngẫu nhiên là cái do những yếu tố không bản chất chi phổi, nên khi xác định phương hướng hoạt động phải dựa vào cái tất yếu, không nên dựa vào cái ngẫu nhiên. Tuy nhiên cũng cần phải tính đến các yếu tố ngẫu nhiên để chuẩn bị nhiều phương án xử lý, tránh bị động trong hoạt động thực tiễn.

    Lý luận về các cặp phạm trù cái riêng và cái chung, hiện tượng và bản chất, ngẫu nhiên và tất nhiên là cơ sở phương pháp luận của các phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, khái quát hoá, trừu tượng hoá để con người phản ánh được một cách có hệ thống những mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan.

    – Cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả, khả năng và hiện thực phản ánh sự kế tiếp nhau về mặt thời gian, quá trình sản sinh ra nhau của các sự vật, hiện tượng trong thế giới.

    Định nghĩa: Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa sự vật này với sự vật khác để sinh ra một biến đổi nào đó. Thí dụ, sự tác động của từ trường vào khung dây dẫn là nguyên nhân sinh ra dòng điện trong dây dẫn. Sự tác động của dòng điện với dây tóc bóng đèn là nguyên nhân sinh ra ánh sáng của bóng đèn. Sự tác động giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là nguyên nhân làm cho các phương thức sản xuất thay đổi trong lịch sử, v.v.

    Kết quả là phạm trù chỉ sự biển đổi do sự tác động giữa sự vật này với sự vật khác hoặc giữa các mặt trong cùng một sự vật gây ra. Thí dụ, bóng đèn phát sáng là kết quả của sự tác động của dòng điện với dây tóc bóng đèn; Sự thay đổi quan hệ sản xuất lỗi thời bằng quan hệ sản xuất mới là kết quả của sự tác động giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong phương thức sản xuất cũ, mà biểu hiện của nó là cuộc đấu tranh giữa các giai cấp gắn với phương thức sản xuất đó, v.v.

    Cần phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ và điều kiện. Nguyên cớ là những sự vật, hiện tượng, quá trình xảy ra trước kết quả, không sinh ra kết quả, nhưng con người coi nó là nguyên nhân. Thí dụ, những lực lượng thù địch nước ngoài thường lợi dụng một số thông tin sai lầm, hoặc một số hành động quá khích gây mất trật tự trong nước ta. Họ coi đó là sự vi phạm nhân quyền, sự vi phạm dân chủ của Nhà nước ta để can thiệp vào công việc nội bộ của chúng ta. Thật ra, nguyên nhân đưa đến việc các thế lực thù địch muốn can thiệp vào công việc nội bộ của chúng ta là những lợi ích cục bộ của họ đối lập với lợi ích chung của cả dân tộc, đối lập với chế độ xã hội chủ nghĩa. Họ muốn chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, lôi kéo một số người chưa hiểu biết, ngăn cản sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Điều kiện là những sự vật, hiện tượng, quá trình xảy ra đồng thời với nguyên nhân, nhưng không sinh ra kết quả mà chỉ tác động vào nguyên nhân để nguyên nhân phát huy tác dụng sinh ra kết quả. Thí dụ, chất xúc tác trong các phản ứng hoá học là điều kiện để các chất hoá học tác động với nhau tạo ra phản ứng hoá học. Nhiệt độ, áp suất, độ dưỡng khí trong lò ấp trứng gà không phải là nguyên nhân, mà là điều kiện để tế bào phôi trong quả trứng hoạt động tạo thành con gà. Môi trường tự nhiên thuận lợi là điều kiện để sản xuất của xã hội phát triển.

    Mối quan hệ biện chímg giữa nguyên nhân và kết quả

    Phép biện chứng duy vật cho rằng nguyên nhân và kết quả tồn tại khách quan, không phải do thói quen, cảm giác của con người quyết định, cũng không phải do tinh thần thế giới sáng tạo ra. Bởi vì mọi sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan đều tồn tại trong mối liên hệ, sự tác động lẫn nhau và sự vận động biến đổi. Như thế nghĩa là sự vật tồn tại luôn tạo ra nguyên nhân và kết quả. Nguyên nhân và kết quả là cái cố hữu của hiện thực khách quan, là một tính quy định vốn có của thế giới vật chất, gắn liền với mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan.

    Nguyên nhân và kết quả quan hệ biện chứng với nhau không tách rời nhau. Nguyên nhân sinh ra kết quả, xuất hiện trước kết quả về mặt thời gian và quyết định kết quả. Tuy nhiên không phải mọi sự vật xuất hiện trước đều là nguyên nhân của những sự vật xuất hiện sau, chỉ có sự vật xuất hiện trước nào sinh ra sự vật sau mới là nguyên nhân và kết quả của nhau. Thí dụ, hiện tượng gà gáy xuất hiện trước mặt trời mọc, nhưng gà gáy không phải là nguyên nhân của mặt trời mọc. Mùa xuân xuất hiện đầu tiên trong năm, nhưng không phải là nguyên nhân của mùa hè, mùa thu và mùa đông. Hiện tượng sốt của bệnh nhân có thể xuất hiện trước hiện tượng ho và đau họng, nhưng sốt không phải là nguyên nhân của ho và đau họng, mà chính viêm họng mới là nguyên nhân của cả ho, đau họng và sốt của bệnh nhân. Quan hệ hàm số không phải luôn luôn là quan hệ nguyên nhân và kết quả bởi vì các phần tử của hai tập hợp quan hệ với nhau qua một hàm số không phải lúc nào cũng là nguyên nhân và kết quả của nhau, v.v.

    Kết quả nào cũng do nguyên nhân nhất định sinh ra, kết quả phụ thuộc vào nguyên nhân. Tuy nhiên quá trình nguyên nhân sinh ra kết quả rất phức tạp. Một nguyên nhân không phải trong mọi hoàn cảnh đều sinh ra kết quả như nhau. Ngược lại, một kết quả không phải chỉ do một nguyên nhân duy nhất sinh ra. Trong cùng một lúc có thể có nhiều nguyên nhân cùng tác động. Neu các nguyên nhân tác động cùng chiều thì sự xuất hiện kết quả thuận lợi, càng đẩy nhanh sự xuất hiện kết quả. Ngược lại, nếu nguyên nhân tác động không cùng chiều thì việc xuất hiện kết quả sẽ gặp trở ngại và có thể tạo ra những kết quả trái ngược hẳn với trường hợp các nguyên nhân tác động cùng chiều.

    Nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng kết quả lại tác động trở lại nguyên nhân làm cho nguyên nhân biến đổi. Như vậy, nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hoá cho nhau trong quá trình vận động và phát triển của sự vật. Đối với sự vận động của thế giới vật chất nói chung không có nguyên nhân và kết quả cuối cùng.

    * Ý nghĩa phương pháp luận

    Từ lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả nêu trên có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận:

    Thứ nhất, kết quả do nguyên nhân quyết định, do vậy muốn tạo ra một sự vật hiện tượng nào đấy phải nhận thức được nguyên nhân của sự vật đó.

    Thứ hai, nguyên nhân xuất hiện trước kết quả, do vậy muốn nhận thức nguyên nhân của một sự vật nào đấy phải nghiên cúm sự tác động giữa những sự vật xuất hiện trước sự vật đang cần tìm nguyên nhân.

    Thứ ba, nguyên nhân sinh ra kết quả còn phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, do vậy trong hoạt động thực tiễn con ngưòi có thể chủ động tác động vào điều kiện để làm cho nguyên nhân phát huy tác dụng tạo ra kết quả theo nhu cầu của con người.

    Thứ tư, kết quả có thể tác động trở lại nguyên nhân làm cho nguyên nhân biến đổi, phát huy tác dụng, do vậy trong thực tế có thể lợi dụng kết quả đã đạt được để thúc đẩy quá trình hoạt động của nguyên nhân tạo ra kết quả mới theo yêu cầu của con người.

    Định nghĩa: Hiện thực là phạm trù chỉ những sự vật, hiện tượng, quá trình đang có trên thực tế. Còn khả năng là phạm trù chỉ những sự vật, hiện tượng, hiện chưa có, chưa tồn tại trên thực tế, mà mới tồn tại ở dạng tiềm năng hay mầm mống, nhưng sẽ trở thành hiện thực (tức tồn tại trên thực tế) trong tương lai với những điều kiện nhất định.

    Thí dụ, hôm nay, trong lúc này “mỗi chúng ta” với tư cách là một người bình thường đang sống, đang hoạt động, có thể đi lại, ăn uống, suy nghĩ v.v. đó là hiện thực. Nhưng ngày mai, lúc khác “mỗi chúng ta” có thể biến đổi thành một con người khác, già, yếu, bệnh tật v.v. nhưng hiện tại “cái con người khác đó” chưa tồn tại trên thực tế, mà mới tồn tại ở dạng tiềm năng, hay mới có những yếu tố của cái sự vật thực tế. Chỉ trong tương lai, với những điều kiện nhất định “cái con người khác đó” mới tồn tại thực tế, đó là khả năng. Với nghĩa đó, phạm trù khả năng chỉ sự vật chưa tồn tại trên thực tế, hay chưa có thực, mà chỉ là những yếu tố, những mầm mống của “sự vật trong tương lai” nằm trong cái hiện thực. Các yếu tố đó khác với sự vật hiện thực được phản ánh trong phạm trù hiện thực.

    Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực

    Hiện thực bao hàm trong mình những yếu tố, những mầm mong để thay thế nó bằng cái khác, tức hiện thực là cơ sở của khả năng. Khả năng có nguồn gốc, mầm mống từ hiện thực. Sự vật nào cũng là một cái hiện thực tại thời điểm này, đồng thời bao hàm trong nó các yếu tố làm cơ sở để chuyển hoá thành sự vật khác, nghĩa là sự vật nào cũng chứa đựng khả năng. Thí dụ, đứa trẻ mới sinh với các cơ quan thính giác, thị giác v.v. bình thường, nhưng chưa biết nói, đó là hiện thực. Đứa trẻ biết nói khi đó chưa tồn tại trên thực tế, mà chỉ có các yếu tố để có thể hình thành nên đứa trẻ biết nói trong tương lai. Đứa trẻ biết nói trong tương lai đó là khả năng. Như vậy, khả năng có mầm mong trong hiện thực. Hiện thực chứa đụng khả năng.

    Quá trình vận động của sự vật làm cho khả năng chuyến hoá thành hiện thực, làm cho những yếu tố, mầm mống của cái mới nằm trong hiện thực biến thành “hiện thực mới”. Trong cái “hiện thực mới” lại xuất hiện khả năng mới. Vì vậy có thể nói sự vận động phát triến của sự vật bao hàm trong nó sự chuyển hoá khả năng thành hiện thực và sự nảy sinh khả năng mới từ hiện thực mới.

    Thứ nhất, để chủ động cải biến một sự vật nào đó phải nhận thức được những khả năng biến đổi của sự vật, nhưng muốn nhận thức được khả năng biến đổi của sự vật, nhất thiết phải dựa vào hiện thực, nghiên cứu những sự vật tồn tại hiện thực, không thể dựa vào cái chưa có, chưa xuất hiện.

    Thứ hai, quá trình khả năng biến thành hiện thực rất phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, do vậy muốn biến khả năng thành hiện thực phải căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thế đế tác động vào những yếu tố hiện thực.

    Cặp phạm trù nội dung và hình thức phản ánh mối quan hệ giữa các yếu tố cẩu thành nên sự vật và phương thức kết họp các yếu tố đó thành một cơ cấu, hay một hệ thống tương đối hoàn chỉnh và ổn định nhất định.

    Định nghĩa: Nội dung là phạm trù chỉ tổng số các yếu tố, các mặt, các quá trình cấu thành nên sự vật, hiện tượng. Hình thức là phạm trù chỉ phương thức kết hợp các yếu tố của sự vật, là hệ thống các mối liên hệ tương đối ổn định giữa các mặt, các yếu tố của sự vật. Thí dụ, trong một tác phẩm văn học những sự kiện, những con người hiện thực được phản ánh trong tác phẩm là nội dung của tác phẩm, còn phương thức phản ánh các sự kiện, phương thức thể hiện tính cách các nhân vật trong tác phẩm là hình thức. Hoặc một ví dụ đơn giản khác:

    Trong mâm cơm bao gồm các món ăn như rau, đậu, thịt, cá, cơm, canh, đó là nội dung của mâm cơm. Sự bày biện, kết hợp các món theo những tỷ lệ nhất định, đó là hình thức của mâm cơm. Một sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất giữa mặt nội dung và mặt hình thức.

    Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức

    Nội dung và hình thức tồn tại khách quan, nhưng không tách ròi nhau. Không có nội dung thuần tày và hình thức thuần túy tồn tại tách rời nhau trên thực tế. Nội dung và hình thức là hai mặt của sự vật gắn bó chặt chẽ với nhau. Bất kỳ nội dung nào cũng tồn tại trong một hình thức nhất định và bất kỳ hình thức nào cũng là hình thức của một nội dung nhất định. Một nội dung có thể được thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau và một hình thức cũng có thể thể hiện nhiều nội dung khác nhau.

    Tuy nhiên giữa nội dung và hình thức có sự khác biệt nhau ở chỗ: Hình thức là mặt ổn định hơn nội dung, ít biến đổi hon nội dung. Nội dung là mặt không ổn định, mặt thường xuyên biến đổi của sự vật. Sự biến đổi của hình thức do sự biến đổi của nội dung quyết định. Ngược lại hình thức có tính độc lập tương đối so với nội dung và tác động đến sự biến đổi của nội dung. Hình thức không phù họp với nội dung sẽ ngăn cản nội dung phát triển, ngược lại nếu hình thức phù họp với nội dung sẽ tạo điều kiện thúc đẩy nội dung phát triển. Nội dung và hình thức quan hệ biện chứng với nhau trong suốt quá trình vận động và phát triển của sự vật. Thí dụ, các yếu tố con người, đối tượng lao động, công cụ lao động, con người dùng công cụ để tác động vào đối tượng lao động, đó là nội dung của quá trình lao động sản xuất. Cách thức (hay hình thức) con ngưòi sử dụng công cụ để tác động vào đối tượng lao động như thế nào, đó là hình thức của quá trình lao động. Nếu hình thức kết họp không thích họp sẽ không phát huy được năng lực của các yếu tố con người, công cụ lao động và đối tượng lao động. Neu cách thức kết hợp thích họp sẽ nâng cao được hiệu quả của quá trình lao động, tức làm cho nội dung phát triển.

    * Ý nghĩa phương pháp luận

    Từ lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức nêu trên có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận sau:

    Vì nội dung quyết định hình thức, nhưng hình thức có tính độc lập tương đối và tác động tích cực đến sự biến đổi của nội dung, nên để thúc đẩy sự vật phát triển phải biết tạo ra hình thức kết hợp các yếu tố của bản thân sự vật một cách phù hợp.

    Nhưng muốn xác định được hình thức thích hợp vói nội dung phải căn cứ vào ciiính nội dung, phải tìm hiểu rõ những yểu tồ cấu thành nên sự vật, vị trí, vai trò của các yếu tố đó, từ đó mói tìm ra hình thức thích họp với nội dung.

    Đây chính là cơ sở phương pháp luận của nguyên tắc xác định hình thức xuất phát từ nội dung, xác định phương pháp hoạt động xuất phát từ bản thân nội dung đối tượng, tránh chủ nghĩa hình thức trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, tách rời hình thức khỏi nội dung, tuyệt đối hoá vai trò của hình thức, không thấy vai trò của nội dung đối với hình thức.

    2.3. Nội dung lý luận và ý nghĩa phương pháp luận của ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

    Nội dung lý luận của ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật là sự phát triển sâu sắc hơn nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển, chỉ ra nguồn gốc, động lực, cách thức và xu hướng vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới, từ đó làm phong phú hơn nguyên tắc phương pháp luận của hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật.

    a) Quy luật chuyến hoá từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại

    Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại là một quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, chỉ ra mối quan hệ, sự chuyển hoá giữa hai mặt, hai tính quy định vốn có của sự vật là chất và lượng. Từ đó nói lên phương thức biến đổi, phát triển từ sự vật này sang sự vật khác của hiện thực khách quan.

    Định nghĩa chất và lượng

    Từ lâu, khi nhận thức và cải tạo thế giới con người đó nhận thấy: Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất đều tồn tại trong không gian và thời gian nhất định, có những đặc điểm nhất định để phân biệt nó với cái khác, người ta gọi đó là tính quy định về chất của sự vật. Đồng thời mọi sự vật không tồn tại mói mà sẽ mất đi để sự vật mới ra đời. Sự vật mới và sự vật cũ khác nhau về chất. Sự mất đi của sự vật cũ có nguồn gốc từ sự thay đổi dần dần những yếu tố nào đó trong chính nó mà chúng ta không nhận ra được ngay. Chỉ đến mức độ nào đó sự biến đổi của những yếu tố đó mới được bộc lộ. Cái mặt thay đổi âm thầm, không nhận ra đó người ta gọi là lượng của sự vật. Vậy mọi sự vật đồng thời tồn tại hai mặt, hay hai tính quy định là chất và lượng. Sự thay đổi về chất của sự vật bắt nguồn từ sự thay đổi dần dần về lượng. Bằng kinh nghiệm con người đó nhận ra mối quan hệ giữa hai mặt chất và lượng của sự vật và diễn đạt mối quan hệ đó bằng nhiều cách khác nhau. Thí dụ, ông cha ta thường nói: có công mài sắt, có ngày nên kim; một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao; tích gió thành bão v.v. Tuy nhiên chất và lượng là gì, quan hệ với sự vật như thế nào và cơ cấu tác động giữa chất và lượng như thế nào để quy định sự vận động biến đổi của sự vật, cần luận giải một cách có hệ thống mới đảm bảo tính khái quát khoa học của quy luật. Để thực hiện điều đó trước hết cần định nghĩa khái quát về chất và lượng.

    Chất là một tính quy định vốn có của sự vật, là tổng họp hữu cơ các thuộc tính của sự vật nói lên sự vật là gì, để phân biệt sự vật này với sự vật khác trong một mối quan hệ nhất định. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chất có những tính chất sau:

    Chất là tính quy định khách quan, gắn liền với sự vật, là mặt tương đối ổn định, đặc trưng cho sự vật trong một quan hệ nhất định. Không có chất thuần túy tồn tại bên ngoài sự vật. Chất không phải do tư duy con người sáng tạo ra rồi gán cho sự vật.

    Chất và thuộc tính của sự vật có quan hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi sự vật đều là tổng họp của rất nhiều thuộc tính, đó là những đặc tính vốn có của sự vật được bộc lộ ra thông qua sự tác động giữa sự vật này với sự vật khác. Thí dụ, nước có các thuộc tính như: chất lỏng, lthông màu, không mùi, không vị, đóng băng ở 0°c, hoá hơi ở 100°c, công thức hoá học H 20, hoà tan được đường, muối, rượu v.v. Chất không đồng nhất với thuộc tính của sự vật, nhưng chất phụ thuộc vào thuộc tính, là tổng hợp các thuộc tính nói lên sự vật là gì, phân biệt với sự vật khác trong một mối quan hệ nhất định. Cácli thức kết hợp các thuộc tính, các yếu tố của sự vật khác nhau cũng làm cho sự vật có chất khác nhau. Sự vật có nhiều thuộc tính và có nhiều mối quan hệ. Có thể trong mối quan hệ này, thuộc tính này giữ vai trò căn bản, quy định chất của sự vật, nhưng trong mối quan hệ khác, thì thuộc tính khác lại giữ vai trò quyết định. Thí dụ, để phân biệt nước với rượu, hoặc giấm, các thuộc tính không mùi, không vị, công thức phân tử H 2 0 v.v. là thuộc tính căn bản quy định chất của nước trong quan hệ với rượu, giấm. Nhung trong quan hệ giữa nước ở trạng thái lỏng với nước đá và hơi nước, thì thuộc tính lỏng của nước là thuộc tính căn bản quy định chất của nước ở trạng thái lỏng, phân biệt với nước ở trạng thái hơi (hơi nước) và trạng thái rắn (nước đá). Như vậy, sự phân biệt giữa chất và thuộc tính chỉ có ý nghĩa tương đối.

    Sự vật có nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính có thể là chất của sự vật trong một mối quan hệ nhất định. Do vậy sự vật không phải chỉ có một tính quy định về chất mà có nhiều tính quy định về chất. Ăngghen nói: không có chất thuần túy tồn tại, chỉ có sự vật có chất, hon nữa sự vật có vô vàn chất mới tồn tại. Tương ứng với tính quy định về chất của sự vật có tính quy định về lượng.

    Lượng là một tính quy định vốn có của sự vật về phương diện: quy mô, trình độ phát triển của sự vật, số lượng các yếu tố, các thuộc tính cẩu thành nên sự vật, tốc độ, nhịp điệu phát triển của sự vật, mức độ cao thấp, đậm nhạt, to nhỏ của nhiệt độ, màu sắc và kích thước của sự vật v.v. và thường được biểu thị bằng con số và đại lượng. Thí dụ, nhiệt độ của nước ở trạng thái lỏng có thể là l°c, có thể 20°c, 30°c v.v. Trọng lượng riêng của nước là lkg/dm 3, tốc độ của một đoàn tàu là 100 km/giờ v.v. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng tính quy định về lượng có những tính chất sau:

    Tính quy định về lượng là cái vốn có của sự vật, tồn tại khách quan ừong sự vật, được tư duy của con người nhận thức, phản ánh, chứ không phải được tư duy của con người sáng tạo ra rồi đưa vào sự vật.

    Tính quy định về lượng không ổn định và không đặc trưng cho sự vật như tính quy định về chất. Tuy nhiên sự phân biệt giữa chất và lượng cũng chỉ có ý nghĩa tương đối. Trong mối quan hệ này một thuộc tính nào đấy của sự vật có thể giữ vai trò là chất, đặc trung cho sự vật, nhưng chuyển sang mối quan hệ khác thì thuộc tính đó lại chỉ là một yếu tố quy định mức độ phát triển của sự vật, như là mặt lượng của sự vật. Thí dụ, trong quan hệ giữa các trạng thái nước đá, nước lỏng, hơi nước thì tính lỏng của nước là một tính quy định về chất, đặc trưng cho nước ở trạng thái lỏng. Nhung trong mối quan hệ giữa nước với rượu, hay với giấm thì tính lỏng không đặc trưng cho nước mà chỉ là một trong những thuộc tính của nước. Xét về số lượng các thuộc tính thì đó là một một yếu tố của lượng.

    Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng

    Tính quy định về chất phản ánh mặt tương đối ổn định của sự vật. Tính quy định về lượng phản ánh mặt thường xuyên biến đổi của sự vật. Hai mặt chất và lượng có tính chất trái ngược nhau, nhưng quan hệ chặt chẽ với nhau tạo nên một mâu thuẫn biện chứng của sự vật. Sự tác động giữa chất và lượng làm cho lượng biến đổi trướCj vì lượng là mặt không ổn định như tỉnh quy định về chất. Sự thay đổi của lượng bằng cách tăng hoặc giảm dần và trong một giới hạn nhất định chưa làm cho chất của sự vật biến đổi. Khi đó sự vật vẫn là nó, chưa chuyển nhất định nào đó mới làm cho chất của sự vật biến đổi. Khi đó sự vật cũ chuyển sang sự vật mới.

    Giới hạn trong đó sự biến đổi về lượng chưa làm cho chất của sự vật biến đổi được gọi là “độ”. Mỗi sự vật trong một quan hệ nhất định nào đó có một “độ nhất định”. Chỉ khi sự biến đổi của lượng đạt đến giới hạn của “độ” mới xảy ra sự biến đổi về chất của sự vật.

    Thời điểm ở đó sự biến đổi về lượng chuyển hoá thành sự biến đổi về chất của sự vật được gọi là điểm nút. Sự biến đổi về chất tại điểm nút được gọi là bước nhảy.

    Có nhiều hình thức bước nhảy khác nhau như: bước nhảy nhanh, bước nhảy chậm, bước nhảy bộ phận, bước nhảy toàn bộ, bước nhảy lớn, bước nhảy nhỏ. Mỗi sự vật có các hình thức bước nhảy khác nhau. Thông qua bước nhảy sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời. Trong sự vật mới lại có tính quy định về chất và lượng mới. Quá trình tác động giữa chất và lượng mới lại diễn ra theo cách thức nói trên làm cho sự vật vận động biến đổi không ngừng trong đó có sự xen kẽ giữa quá trình thay đổi dần dần về lượng và bước nhảy vọt về chất.

    Sự biến đổi của chất là do sự biến đổi của lượng quyết định. Nhưng khi chất mới ra đời sẽ tác động đến sự thay đổi về lượng, làm cho quy mô, nhịp độ biến đổi của lượng thay đổi. Thí dụ, trong phương thức sản xuất phong kiến cũ, do quan hệ sản xuất lạc hậu, không phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nên đó không tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển. Khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, do quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phù họp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nên đó làm cho lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản phát triển rất nhanh với quy mô rất lớn.

    * Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật

    Thứ nhất, phải tôn trọng tính tất yếu của sự tích luỹ thường xuyên về ỉượng, tạo điều kiện cho sự thay đổi về chất của sự vật. Không được phủ nhận vai trò của sự thay đổi về lượng đối với sự vận động phát triển của sự vật. Trong hoạt động thực tiễn, cần phải tránh thái độ chủ quan, duy ý chí, muốn thay đối về chất mà không tính đến sự thay đổi về lượng như thế nào.

    Thứ hai, phải thấy vai trò của sự thay đổi về chất đối với sự phát triển của sự vật khi sự thay đổi về lượng đạt đến giới hạn. Không có sự thay đổi về chất thì không thể thay thế sự vật cũ bằng sự vật mới và không thể thúc đẩy sự vật tiếp tục phát triển được. Do vậy trong hoạt động thực tiễn phải chống thái độ bảo thủ, trì trệ, không muốn thay đổi về chất khi điều kiện khách quan cho phép để thúc đẩy sự vật mới ra đời đó đầy đủ.

    Thứ ba, sự thay đổi về chất được thực hiện dưới các hình thức khác nhau tuỳ theo từng sự vật và điều kiện cụ thể khác nhau. Vì vậy phải vận dụng linh hoạt các hình thức bước nhảy để đẩy nhanh quá trình phát triển của sự vật, hoặc có thể chủ động giữ cho sự vật tồn tại nhằm phục vụ cho nhu cầu của con người. Thí dụ, để duy trì sức khỏe phải có chế độ ăn uống, nghỉ ngơi điều độ. Ản uống thiếu hoặc thừa chất đạm sẽ gây bệnh, hại cho sức khỏe. Để chữa khỏi một bệnh nào đấy phải dùng thuốc đủ liều, nếu dùng không đủ liều hoặc dùng quá liều đều không tốt, có thể không khỏi bệnh, hoặc có thể lại đưa đến hậu quả có hại mới. Trong lĩnh vực xã hội hình thức bước nhảy về chất rất phức tạp, bởi vì mọi sự biến đổi xã hội đều phải thông qua hoạt động của con người. Do những lực lượng xã hội có những lợi ích khác nhau, trong xã hội có giai cấp đối kháng có thể có những lợi ích đối lập nhau, nên hoạt động của họ có xu hướng trái ngược nhau, tạo ra những yếu tố làm cho bước nhảy về chất không diễn ra một cách tự phát như trong tự nhiên.

    b) Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

    Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập nói lên nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động và phát triển. V.I. Lênin còn cho rằng quy luật này là hạt nhân của phép biện chứng, óng viết: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chúng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm”.

    Khái niệm mặt đối lập, mâu thuẫn, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

    Quá trình hoạt động thực tiễn và nhận thức đó cho thấy: Mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trong hiện thực khách quan đều bao chứa những mặt, những yếu tố, những thuộc tính có đặc điểm trái ngược nhau, nhưng quan hệ chặt chẽ với nhau. Những mặt, những yếu tố có đặc điểm trái ngược nhau đó được gọi là mặt đối lập. Thí dụ, một nguyên tử có điện tử mang điện tích âm và hạt nhân mang điện tích dương. Điện tử và hạt nhân là hai mặt đối lập kết hợp với nhau tạo thành nguyên tử. Một vật chuyển động luôn có lực đẩy và lực cản tác động trái chiều nhau. Một cơ thể sống luôn phải thực hiện hai quá trình trái ngược nhau: hấp thụ các chất dinh dưỡng từ môi trường vào cơ thế và đào thải ra môi trường những chất từ cơ thể. Hai quá trình trái ngược nhau đó cũng là hai mặt đối lập của một cơ thể sống. Di truyền và biến dị cũng là hai quá trình đối lập nhau của sự phát triển của thế giới sinh vật. Các mặt đối lập của sự vật tồn tại khách quan. Hai mặt đối lập của sự vật vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng của sự vật. Mâu thuẫn biện chứng là một hiện tượng khách quan và phổ biến của thế giới (cả tự nhiên, xã hội và tư duy).

    Mâu thuẫn tồn tại khách quan vì nó được tạo ra từ sự kết họp các mặt đối lập vốn có của sự vật, không do ai sáng tạo ra và không phụ thuộc vào ý thức của con người. Dù con người có nhận thức được hay không thì mâu thuẫn vẫn tồn tại. Thí dụ, sự thống nhất và đấu tranh giữa di truyền và biến dị trong quá trình phát triển của động, thực vật là quá trình khách quan, vốn có của thế giới sinh vật đó tồn tại rất lâu trước khi con người xuất hiện.

    Mâu thuẫn là một hiện tượng phổ biến vì không có sự vật, hiện tượng, quá trình nào không chứa đựng mâu thuẫn. Ăngghen nói, ngay sự vận động đơn giản nhất là sự thay đổi vị trí của sự vật trong không gian cũng là một mâu thuẫn, bởi vì trong cùng một lúc sự vật vừa ở một vị trí vừa không ở vị trí đó, vừa ở vị trí kề bên, đó là một mâu thuẫn. Mâu thuẫn đó luôn được giải quyết, nhưng đồng thời lại luôn xuất hiện đã đẩy sự vật vận động từ vị trí này sang vị trí khác. Những hình thức vận động phức tạp hơn như sự sống, hay như vận động xã hội thì lại càng phải có mâu thuẫn.

    Sự vật là một kết cấu phức tạp, không phải chỉ có một mâu thuẫn, mà có nhiều mâu thuẫn. Mỗi mâu thuẫn có hình thức thể hiện, có quá trình biến đổi và có vai trò khác nhau đối với sự vận động phát triển của sự vật.

    Sự vận động của mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động phát triển của sự vật

    Một mâu thuẫn bao gồm hai mặt đối lập. Hai mặt đối lập của một mâu thuẫn vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh với nhau. Thống nhất của hai mặt đổi lập có ba nghĩa: một là, sự nương tựa vào nhau, ràng buộc nhau, sự cùng tồn tại của hai mặt đối lập, mặt này làm tiền đề tồn tại cho mặt kia; hai là, sự đồng nhất giữa hai mặt đối lập, nhờ sự đồng nhất mà hai mặt có thể chuyển hoá cho nhau; ba là, sự dung hoà giữa hai mặt đối lập, hai mặt đối lập có sự tác động ngang nhau. Thống nhất của hai mặt đối lập có xu hướng chủ đạo là giữ cho hai mặt đối lập tạm thời ổn định. Điều đó làm cho sự vật tạm thời tồn tại và tạm thời đứng im.

    Đồng thời với sự thống nhất, hai mặt đối lập trong mâu thuẫn biện chứng còn thường xuyên đấu tranh với nhau. Đấu tranh của hai mặt đối lập là sự tác động qua lại giữa chúng theo xu hướng bài trừ, phủ định nhau, sự thúc đẩy nhau biến đổi.

    Đấu tranh của hai mặt đối lập có xu hướng chủ đạo là làm cho các mặt đổi lập biển đổi. Nhưng sự biến đổi của hai mặt đổi lập trong phạm vi nhất định chưa phá vì sự thống nhất giữa hai mặt đối lập, nên mâu thuẫn của sự vật vẫn tồn tại và sự vật vẫn chưa biến thành sự vật khác. Trong phạm vi sự thống nhất giữa hai mặt đối lập, đấu tranh của hai mặt đối lập diễn ra thường xuyên làm cho hai mặt đối lập biến đổi theo chiều hướng trái ngược nhau, điều đó dẫn đến sự thay đổi trạng thái của mâu thuẫn. Ở trạng thái đầu tiên của mâu thuẫn, hai mặt đối lập chủ yếu còn thống nhất với nhau, mâu thuẫn biểu hiện ra chỉ như là sự khác biệt giữa hai mặt đối lập. Sự khác biệt của hai mặt đối lập ngày một tăng do sự đấu tranh của hai mặt đối lập vẫn tiếp diễn, làm cho mâu thuẫn chuyển từ trạng thái khác biệt sang trạng thái đối lập. Ớ trạng thái đối lập sự thống nhất của hai mặt đối lập vẫn được duy trì, nhưng sự đấu tranh của hai mặt đối lập trở nên gay gắt hơn, mâu thuẫn trở nên căng thẳng hơn. Sự đấu tranh của hai mặt đối lập tiếp tục tăng cao đến mức hai mặt đối lập không còn có thể nương tựa vào nhau được nữa, đòi hỏi phải phá vì sự thống nhất giữa hai mặt đối lập. Khi đó mâu thuẫn chuyển sang trạng thái chuyển hoá. Trong trạng thái chuyến hoá, hai mặt đối lập không còn nương tựa vào nhau mà đều chuyển hoá thành các mặt đối lập mới.

    Tùy theo mỗi sự vật và tùy điều kiện hoàn cảnh khác nhau, hình thức chuyển hoá của các mặt đối lập có sự khác nhau. Thông qua bước chuyến hoá, sự thống nhất giữa hai mặt đối lập cũ mất đi để hình thành nên sự thống nhất mới. Tương ứng với điều đó là sự vật cũ mất đi và hình thành sự vật mới. Trong sự vật mới lại có những mặt đối lập để tạo thành mâu thuẫn mới. Quá trình thống nhất và đấu tranh của hai mặt đối lập trong mâu thuẫn mới tiếp tục diễn ra để đẩy mâu thuẫn phát triển đến mức độ nhất định, ở đó lại xảy ra sự chuyển hoá làm cho sự vật mới đó chuyển sang sự vật mới khác. Đó là quy luật vận động của mâu thuẫn. Rõ ràng là sự vận động của mâu thuẫn (sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập) là nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động, phát triển của sự vật.

    Đấu tranh của các mặt đối lập diễn ra thường xuyên, quy định sư vận động thường xuyên của sự vật. Thống nhất của các mặt đối lập nhất định của sự vật tồn tại trong những điều kiện nhất định, tức sự thống nhất của các mặt đối lập là có tính chất tương đối. Thống nhất của các mặt đối lập của sự vật quy định đến sự đứng im tương đối của sự vật.

    Lý luận về quy luật mâu thuẫn còn chỉ ra rằng: sự vật không phải chỉ có một mâu thuẫn mà có nhiều mâu thuẫn. Mồi mâu thuẫn có vị trí vai trò khác nhau đối với sự vận động, biến đổi của sự vật. Do vậy cần phân biệt một số loại mâu thủẫn như: mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài; mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản; mâu thuẫn chủ yếu và thứ yếu; trong xã hội có giai cấp thì có mâu thuẫn đổi kháng và không đối kháng.

    * Ý nghĩa phương pháp luận

    Thứ nhất, phải xuất phát từ bản thân sự vật, phân tích mối liên hệ giữa các mặt, các yếu tố cấu thành nên sự vật để tìm ra mâu thuẫn của chính sự vật. Không có sự vật hiện tượng nào là hoàn toàn thuần nhất, không có mâu thuẫn. Vì vậy Lênin nói: Phân đôi cái thống nhất và nhận thức các bộ phận đổi lập của nó, đó là thực chất phép biện chứng.

    Thứ hai, sự vật có nhiều mâu thuẫn, mỗi mâu thuẫn có vị trí vai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của sự vật. Do vậy phải phân tích quá trình tác động giữa các mặt đối lập, mối liên hệ giữa sự tác động đó với sự vận động của sự vật để xác định được mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu của sự vật.

    Thứ ba, mâu thuẫn chỉ được giải quyết ở giai đoạn các mặt đổi lập xung đột gay gắt với nhau và phương thức giải quyết mâu thuẫn là các mặt đối lập phải tác động qua lại với nhau để tự chuyển hoá. Không được dùng ý chí chủ quan để thủ tiêu mâu thuẫn, điều hoà giữa các mặt đối lập, hoặc tuyệt đối hoá mặt này, gạt bỏ mặt kia.

    c) Quy luật phủ định của phủ định

    Quy luật phủ định của phủ định phản ánh khuynh hướng phát triển theo con đường xoáy ốc, phản ánh tính kế thừa, tính chu kỳ của sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan.

    Định nghĩa phủ định và phủ định biện chứng

    Nghiên cứu các sự vật hiện tượng trong thế giới xung quanh, chúng ta thấy không có sự vật hiện tượng nào trong thế giới tồn tại mãi. Sự vật nào cũng có quá trình ra đời, tồn tại, vận động, biến đổi và chuyển hoá sang sự vật hiện tượng khác. Triết học gọi sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác là sự phủ định. Trên thực tế có sự phủ định tự thân, có sự phủ định do các yếu tố bên ngoài quyết định. Sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác một cách tự thân được gọi là phủ định biện chứng. Thí dụ, có hàng trăm nghìn hạt thóc được nghiền nát thành bột, nấu chín và được tiêu hoá đi, đó không phải là phủ định biện chứng, nhưng có một hạt thóc rơi xuống đất, gặp điều kiện độ ẩm và nhiệt độ thích hợp, nó tự nảy mầm và chuyển hoá thành cây lúa. Đây là sự tự phủ định của hạt thóc, sự phủ định này được gọi là phủ định biện chứng.

    Tính chất của phủ định biện chứng

    Phủ định biện chứng có tính khách quan và tính kế thừa.

    Tính khách quan của phủ định biện chứng nghĩa là sự phủ định không do ai sáng tạo ra, không phụ thuộc vào ý thức của con người. Nguyên nhân của sự phủ định là do mâu thuẫn của bản thân sự vật quyết định, nghĩa là do sự tác động lẫn nhau giữa các mặt đối lập bên trong sự vật hoặc sự tác động lân nhau giữa sự vật này với sự vật khác quy định sự phủ định.

    Tính kế thừa nghĩa là sự phủ định biện chứng không xóa bỏ hoàn toàn cái cũ. Cái mới ra đời luôn giữ lại những yếu tố nhất định của cái cũ dưới hình thức mới. Nhờ tính kế thừa mà phủ định biện chứng liên kết cái mới với cái cũ. Cái mới ra đời trên cơ sở cái cũ, cái cũ là tiền đề cho sự ra đời cái mới.

    Phủ định của phủ định và sự phát triển theo con đưòng xoáy ốc

    Sự phát triển của các sự vật phải thông qua những lần phủ định biện chứng. Phủ định lần thứ nhất sự vật từ điểm xuất phát ban đầu chuyển sang cái mới đối lập với cái ban đầu. Cái mới, đối ỉập với cái ban đầu này không hoàn toàn loại bỏ cái xuất phát ban đầu, mà giữ lại những yếu tố nhất định của cái ban đầu dưới hình thức mới. Vì vậy cái đối lập (cái phủ định lần thứ nhất) với cái xuất phát ban đầu có quan hệ kế thừa nhau. Cái đối lập, đến lượt nó lại bị phủ định để sự vật chuyển sang cái mới khác. Quá trình phủ định biện chứng, tất yếu dẫn đến một sự phủ định mà qua đó đưa sự vật dường như quay lại điểm xuất phát ban đầu, nhưng trên cơ sở mới cao hơn. Đó là phủ định của phủ định.

    Tính chất phủ định của phủ định. Phủ định của phủ định cũng có tính khách quan và tính kế thừa vì nó được thiết lập từ sự phủ định biện chúng. Ngoài ra phủ định của phủ định còn có tính chất lặp lại cái ban đầu trên cơ mới, hay nói khác đi: đưa sự vật dường như quay lại điểm xuất phát ban đầu, nhưng trên cơ sở mới cao hơn về chất. Có tính chất này vì sự vật do phủ định của phủ định đưa đến là cái đã qua một số lần lọc bỏ. Sự phát triển hơn về chất đó phản ánh tính chất chu kỳ và xu hướng đi lên của sự phát triển.

    Phủ định của phủ định là sự kết thúc một chu kỳ phát triển của sự vật, đồng thời mở đầu cho một chu kỳ phát triển mới. Sự phát triến của sự vật thông qua những vòng khâu phủ định của phủ đinh như vậy sẽ tạo nên một con đường xoáy ổc theo chiều hướng đi lên. Con đường xoáy ốc là sự phản ánh khái quát quá trình phát triến đi lên của các sự vật, hiện tượng.

    Tuy nhiên trên thực tế quá trình phủ định của phủ định của mỗi sự vật diễn ra rất phức tạp và có các hình thức khác nhau: có thê một chu kỳ phát triển diễn ra nhanh hoặc chậm, có thể trải qua số lần phủ định biện chứng khác nhau để đi đến phủ định của phủ định v.v. Đó là nội dung quy luật phủ định của phủ định.

    * Ý nghĩa phương pháp luận

    Thứ hai, phải tôn trọng tính kế thừa của sự phát triển, từ đó phải có thái độ đúng đắn đối với cái cũ, không được phủ định sạch trơn, đồng thời cũng không được kế thừa nguyên xi cái cũ. Chẳng hạn, để xây dựng xã hội mới ở nước ta, phải biết kế thừa những giá trị truyền thống của dân tộc đã hình thành trong lịch sử, đồng thời phải biết loại bỏ những truyền thống không còn phù hợp và thay đổi những truyền thống cũ cho phù hợp với yêu cầu mới.

    Thứ ba, phải tôn trọng tính chu kỳ, tính lặp lại của sự phát triển. Điều đó đòi hỏi phải nghiên cứu lịch sử để có thể dự kiến, tiên đoán những hình thức cơ bản của tương lại.

    Thứ tư, quy luật phủ định của phủ định diễn ra dưới hình thức rất khác nhau ở các sự vật khác nhau. Quá trình phủ định của phủ định trong tự nhiên khác quá trình phủ định của phủ định trong xã hội. Trong tự nhiên quy luật diễn ra một cách tự phát, không phụ thuộc vào hoạt động của con người, nhưng phủ định của phủ định trong xã hội lại thông qua hoạt động có ý thức của con người, phụ thuộc vào hoạt động của con người. Nếu nhận thức được quy luật, con người có thể chủ động lợi dụng quy luật, phục vụ cho nhu cầu của con người. Do vậy phải căn cứ vào từng sự vật để vận dụng quy luật thích họp, có hình thức kế thừa, cải tạo cái cũ cho thích hợp, tạo điều kiện cho cái mới ra đời.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 The Gioi Quan Va Pp Luan Docx
  • Chuyên Đề 3: Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Hướng Dẫn Cha Mẹ Phương Pháp Dạy Con Học Tốt Môn Tiếng Anh 6
  • Web 5 Ngày: Nếu Muốn Thành Công, Hãy Xem 5 Video Này
  • Cảm Nhận Về Phương Pháp Học Tiếng Anh Của Trường Saint Thomas More
  • Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Agile Là Gì Và Các Phương Pháp Kiểm Thử Agile
  • Tổng Quan Về Nguyên Tắc Agile Và Cách Áp Dụng Agile Trong Quản Lý Dự Án
  • Agile Là Gì? Scrum Là Gì? Các Công Cụ Quản Lý Dự Án Theo Agile Mà Bạn Nên Biết
  • Phương Pháp Abc Activity Based Costing
  • Kế Toán Chi Phí Dựa Trên Hoạt Động (Abc
  • BÀI 1: THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN BIỆN CHỨNG

    1. Thế giới quan và phương pháp luận

    a. Vai trò thế giới quan, phương pháp luận của triết học

    – Triết học là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vị trí của con người trong thế giới đó.

    – Triết học có vai trò là thế giới quan, phương pháp luận chung cho mọi hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người.

    b. Thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm

    – Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm và niềm tin định hướng hoạt động của con người trong cuộc sống.

    – Vấn đề cơ bản của triết học:

    • Khái niệm: Triết học là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại.
    • Nội dung của triết học gồm hai mặt:
      • Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi: Giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
      • Mặt thứ hai trả lời câu hỏi: Con người có thể nhận thức và cải tạo thế giới khách quan hay không?

    – Thế giới quan duy vật cho rằng, giữa vật chất và ý thức thì vật chất là cái có trước, cái quyết định ý thức. Thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người, không ai sáng tạo ra và không ai có thể tiêu diệt được.

    – Thế giới quan duy tâm cho rằng: ý thức là cái có trước và là cái sản sinh ra giới tự nhiên.

    c. Phương pháp luận biện chứng và phương pháp luận siêu hình

    – Phương pháp luận biện chứng: xem xét sự vật, hiện tượng trong sự ràng buộc lẫn nhau giữa chúng, trong sự vận động và phát triển không ngừng của chúng.

    – Phương pháp luận siêu hình: xem xét sự vật, hiện tượng một cách phiến diện, chỉ thấy chúng tồn tại trong trạng thái cô lập, không vận động, không phát triển, áp dụng một cách máy móc đặc tính của sự vật này vào sự vật khác.

    2. Chủ nghĩa duy vật biện chứng – sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng

    – Sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng của chủ nghĩa duy vật biện chứng

    Hêghen có thế quan duy tâm khi khẳng định rằng, khởi nguyên của thế giới là một ” ý niệm tuyệt đối “, thần bí nào đó, thế giới tự nhiên là tư duy đã tha hóa. Nhưng, ông có phương pháp luận biện chứng vì đã trình bày toàn bộ thế giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình vận động, biến đổi, phát triển không ngừng và cố gắng vạch ra mối liên hệ bên trong của sự vận động và phát triển ấy.

    – Các nhà triết học duy vật trước Mác: có thế giới quan duy vật nhưng bị sự chi phối của phương pháp tư duy siêu hình.

    – Các nhà biện chứng trước Mác: có phương pháp nhận thức biện chứng nhưng lại có thế giới quan duy tâm.

    – Triết học Mác – Lênin đã khắc phục được những hạn chế về thế giới quan duy tâm và phương pháp luận siêu hình; đồng thời kế thừa, cải tạo, phát triển các yếu tố duy vật và biện chứng của các hệ thống triết học trước đó, thực hiện được sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Học Tiếng Anh Cho Người Mới Bắt Đầu Hoặc Mất Gốc
  • Phương Pháp Học Tiếng Anh Hiệu Quả Nhất Thế Giới Hiện Nay
  • Một Số Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả Cần Tham Khảo
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Phổ Biến
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Gdcd Khối 10
  • Bài 1: Tgq Duy Vật Và Ppl Biện Chứng Anhanh Ppt
  • Phép Biện Chứng Và Các Hình Thức Cơ Bản Của Phép Biện Chứng
  • So Sánh Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa 4 Cuộc Cách Mạng Tư Sản Anh, Pháp, Mĩ, Hà Lan ? Câu Hỏi 70139
  • Sự Khác Nhau Giữa Dữ Liệu (Data) Và (Information)?
  • Thế giới quan duy vật và

    Phương pháp luận biện chứng

    BÀI 1

    2016 – 2022

    GDCD 10

    NỘI DUNG

    1. Thế giới quan và phương pháp luận

    a) Vai trò TGQ & PPL của Triết học?

    THẾ GiỚI LÀ

    GÌ?

    Sóng thần

    Mưa bão

    Gió

    Đấu tranh giai cấp

    Hãy lấy ví dụ về đối tượng nghiên cứu của các môn khoa học tự nhiên và

    khoa học xã hội?

    TRIẾT HỌC LÀ GÌ?

    Triết học là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vị trí của con người trong thế giới đó.

    PLATON & ARISTOS

    TRIẾT HỌC

    ra đời từ

    thời cổ đại

    Đối tượng nghiên cứu của TRIẾT HỌC?

    Đối tượng nghiên cứu của Triết học: Là những quy luật chung nhất, phổ biến nhất về sự vận động và phát triển của giới tự nhiên, đời sống xã hội và tư duy.

    Vai trò của TRIẾT HỌC?

    Triết học có vai trò là thế giới quan, phương pháp luận chung cho mọi hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người.

    Thế giới quan và phương pháp luận

    b) Thế giới quan duy vật & thế giới quan duy tâm?

    Trong cuộc sống người ta luôn đặt ra muôn vàn câu hỏi và tìm lời giải đáp cho mình. Từ đó hình thành nên thế giới quan. Vậy thế giới quan là gì?

    Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm và niềm tin định hướng hoạt động của con người trong cuộc sống.

    Thế giới quan?

    Mẫu chuyện

    Nhìn thấy một cánh rừng bát ngát trên màn hình vô tuyến, kẻ lâm tặc ngay lập tức nảy sinh ý nghĩ làm thế nào để chặt trộm được gỗ quý trong rừng đem đi bán lấy tiền, còn người yêu thiên nhiên và quan tâm đến môi trường sinh thái lại lo lắng làm sao để bảo vệ được cánh rừng ấy.

    Khi nhìn thấy rừng tên lâm tặc đã nảy sinh ý nghĩ gì?

    Ý nghĩ ấy có thuộc ý thức hay không?

    Lâm tặc chặt phá rừng

    Ý nghĩ đó thuộc ý thức của hắn

    Bất kỳ một loại thế giới quan nào cũng đều tập trung giải quyết các vấn đề sau đây: thế giới này là gì? Thế giới này do đâu mà có? thế giới này rồi sẽ đi về đâu? Con người có nguồn gốc từ đâu? Con người rồi sẽ đi về đâu? …việc giải quyết những câu hỏi này đã hình thành nên vấn đề cơ bản của triết học

    Thế giới này từ đâu mà có?

    Con người có nguồn gốc từ đâu?

    Dựa vào cách giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của Triết học mà chia thành thế giới quan duy vật hay thế giới quan duy tâm

    Thế giới quan duy vật cho rằng: Giữa vật chất và ý thức thì vật chất là cái có trước, cái quyết định ý thức, Thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người, không do ai sáng tạo ra và không ai tiêu diệt được

    Thế giới quan duy tâm cho rằng: ý thức là cái có trước và là cái sản sinh ra giới tự nhiên

    Thế giới quan

    duy vật

    Ví dụ:

    Thế giới quan duy tâm

    Ví dụ:

    Thế giới quan và phương pháp luận

    c) Phương pháp luận biện chứng & phương pháp luận siêu hình:

    Tại sao trong cùng một lớp học, cùng

    một môi trường học tập giống nhau,

    cùng một giáo viên giảng dạy có bạn

    học tốt, có bạn lại học không tốt?

    Bởi vì mỗi người đều có phương pháp học tập và sắp xếp thời gian hợp lý

    Để đạt được mục đích, mỗi người có một cách thức riêng

    Đó chính là phương pháp

    Phương pháp là cách thức, con đường

    để đạt được mục tiêu đề ra

    Phương pháp luận:

    là học thuyết về phương pháp nhận thức khoa học và cải tạo thế giới

    Trong lịch sử triết học

    phương pháp luận có mấy loại

    Phương pháp luận

    Phương pháp luận

    biện chứng

    Phương pháp luận

    siêu hình

    Phương pháp luận

    biện chứng

    PPL biện chứng

    Là PP xem xét sự vật, hiện tượng trong sự ràng buộc lẫn nhau, giữa chúng có sự vận động và phát triển không ngừng

    VÍ DỤ VỀ PPL BIỆN CHỨNG

    “NƯỚC CHẢY ĐÁ MÒN”

    “TRỜI CÓ 4 MÙA: XUÂN, HẠ, THU, ĐÔNG”

    Hãy chỉ ra yếu tố phát triển của sự vật hiện tượng con gà sinh ra quả trứng?

    Trứng

    Gà con

    Gà trưởng thành

    Gà đẻ trứng

    PPL siêu hình

    Là PP xem xét sự vật, hiện tượng một cách phiến diện, chỉ thấy chúng tồn tại trong trạng thái cô lập, không vận động, không phát triển, áp dụng một cách máy móc đặc tính của sự vật này với sự vật khác

    VÍ DỤ VỀ PPL SIÊU HÌNH

    Chuyện “Thầy bói xem voi”

    Có thầy cho rằng con voi

    Sun sun như con đỉa

    Có thầy cho rằng con voi

    Chần chẫn như cái đòn càn

    Có thầy cho rằng con voi

    Bè bè như cái quạt thóc

    Có thầy cho rằng con voi

    Sừng sững như cái cột đình

    Có thầy cho rằng con voi

    Tun tủn như cái chổi sể cùn

    Qua câu chuyện này muốn khuyên chúng ta điều gì?

    Các thầy đã nhìn nhận sự vật một cách phiến diện, áp dụng một cách máy móc đặc trưng của sự vật này lên đặc trưng sự vật khác. Con voi cũng có giống con đỉa…và tạo nên đặc tính của con voi chứ không phải con voi là con đỉa.

    KẾT LUẬN: Phương pháp luận biện chứng và phương pháp luận siêu hình?

    2. Chủ nghĩa duy vật biện chứng – sự thống nhất hữu cơ giữa

    TGQDV & PPLBC

    Sơ đồ so sánh thế giới quan và

    phương pháp luận theo thời gian

    Trong Triết học Mác, TGQ DV và PPL BC thống nhất hữu cơ với nhau. Thế giới vật chất là cái có trước, phép biện chứng là cái có sau.

    TGQ DV và PPL BC gắn bó với nhau, không tách rời nhau.

    KẾT LUẬN

    Củng cố bài

    VẤN ĐỀ CƠ BẢN

    CỦA TRIẾT HỌC

    MẶT THỨ NHẤT:

    VC có trước

    hay YT có trước.

    VC quyết định YT

    Hay ngược lại

    MẶT THỨ HAI:

    Con người có

    nhận thức được

    thế giới không?

    YT có trước,

    VC có sau,

    YT q.định VC

    VC có trước,

    YT có sau,

    VC q.định YT

    Con người

    nhận thức được

    thế giới

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?
  • Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?
  • Sự Khác Nhau Giữa Phương Pháp Siêu Hình Phương Pháp Biện Chứng
  • Biểu Mẫu Số 08B Bảng Xác Định Giá Trị Khối Lượng Công Việc Hoàn Thành
  • Hướng Dẫn Cách Lập Bảng So Sánh Kế Hoạch Với Thực Hiện Dự Án Trong Excel
  • Vận Dụng Phương Pháp Luận Biện Chứng Duy Vật Để Nâng Cao Năng Lực Tư Duy Cho Sinh Viên

    --- Bài mới hơn ---

  • Cải Tạo Giống Cây Ăn Quả Bằng Phương Pháp Ghép Cành
  • Kỹ Thuật Nhân Giống Cây Điều Bằng Phương Pháp Ghép Non Nối Ngọn
  • Phương Pháp Scrum Vs Phương Pháp Agile
  • Quản Lý Dự Án Agile – Apmp
  • Phương Pháp Quản Lý Linh Hoạt (Agile) Và Chứng Chỉ Quốc Tế Pmi
  • Vận dụng phương pháp luận biện chứng duy vật để nâng cao năng lực tư duy cho sinh viên

    Tóm tắt: Việc nâng cao năng lực tư duy cho sinh viên là vấn đề quan trọng trong tình hình hiện nay, giúp sinh viên có tư duy khoa học trong quá trình học tập và làm việc sau này. Cần xác định, hiểu rõ nội dung phương pháp luận biện chứng duy vật; xác định vấn đề cần giải quyết để chọn đúng phương pháp, gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn; là cơ sở quan trọng để xây dựng năng lực tư duy, nhận thức và giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra một cách đúng đắn.

    Văn kiện Đại hội XI, XII của Đảng xác định:“Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước” . Đối với sinh viên, việc học tập phương pháp luận duy vật biện chứng ngay từ năm thứ nhất phải được đặc biệt chú trọng.

    1. Vai trò năng lực tư duy trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người nói chung, của sinh viên nói riêng

    Khi khẳng định vai trò của tư duy (ý thức) đối với nhận thức và cải tạo thế giới, V.I.Lênin đã khẳng định: “Ý thức con người không phải chỉ phản ánh thế giới khách quan, mà còn tạo ra thế giới khách quan” . Từ những nội dung này, sinh viên phải biết phương pháp luận được rút ra là gì để vận dụng trong cuộc sống, lao động, học tập của sinh viên. Do đó, rèn luyện phương pháp luận biện chứng duy vật cho sinh viên là rèn luyện các nội dung cơ bản sau:

    Một là, rèn luyện cho sinh viên có quan điểm toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Quan điểm toàn diện đòi hỏi sinh viên nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần phải xem xét sự vật, hiện tượng phải đặt trong mối liên hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật, hiện tượng và trong sự tác động qua lại giữa sự vật, hiện tượng đó với sự vật, hiện tượng khác. Trong hoạt động thực tế, sinh viên phải sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động vào đối tượng nhằm đem lại hiệu quả cao nhất. Mặt khác, chúng ta cần giúp cho sinh viên có thể nhận diện và phê phán quan điểm phiến diện, quan điểm chiết trung, ngụy biện.

    Hai là, rèn luyện cho sinh viên có quan điểm lịch sử – cụ thể trong nhận thức và hành động. Quan điểm lịch sử – cụ thể đòi hỏi sinh viên trong nhận thức và xử lý các tình huống, giải thích các hiện tượng cần phải xét đến tính đặc thù của đối tượng nhận thức. Khi nhận thức sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử – cụ thể, môi trường cụ thể mà trong đó sự vật sinh ra, tồn tại, phát triển. Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của từng mối liên hệ cụ thể, trong tình huống cụ thể.

    Ba là, rèn luyện cho sinh viên có quan điểm phát triển trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn. Quan điểm phát triển đòi hỏi sinh viên không chỉ nắm bắt cái hiện đang tồn tại của sự vật, mà còn phải thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng; phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi có tính chất thụt lùi, khuynh hướng chung là phát triển đi lên, tức phải thấy được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển của nó. Sinh viên phải biết phân chia quá trình phát triển của sự vật thành từng giai đoạn, từ đó có cách tác động phù hợp thúc đẩy sự vật phát triển. Cần giúp sinh viên nhận diện và phê phán quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến trong nhận thức và hành động.

    Bốn là, rèn luyện phương pháp luận biện chứng qua nghiên cứu phương pháp luận rút ra từ các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật: cái riêng và cái chung, nguyên nhân và kết quả, tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng, khả năng và hiện thực.

    Sáu là, rèn luyện phương pháp biện chứng cho sinh viên nghiên cứu nội dung Lý luận nhận thức duy vật biện chứng. Cần rèn luyên sinh viên nắm vững quan điểm thực tiễn, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, phê phán chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa giáo điều. Nhận thức là một quá trình, lặp đi lặp lại không có điểm dừng: từ thực tiễn tới nhận thức – từ nhận thức lại trở về thực tiễn – từ thực tiễn tiếp tục quá trình nhận thức và loài người càng tiến dần đến chân lý. Sinh viên phải nhận thức được chân lý là khách quan, chống những quan điểm chủ quan cho rằng chân lý là thuộc về kẻ mạnh, chân lý thuộc về đa số, chân lý là lý lẽ hợp lý, chân lý gắn với lợi ích…; phê phán chủ nghĩa tuyệt đối và chủ nghĩa tương đối, cần xác định chân lý vừa mang tính tương đối, vừa mang tính tuyệt đối và chân lý là cụ thể. Theo Lênin: bản chất, linh hồn sống của chủ nghĩa Mác là phân tích cụ thể ở mỗi tình hình cụ thể; rằng phương pháp của Mác trước hết là xem xét nội dung khách quan của quá trình lịch sử trong một thời điểm cụ thể nhất định ; “Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ” Bộ Giáo dục và Đào tạo (2016), “Giáo Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

    Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

    Hồ Chí Minh (1974), “Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ”, Nxb Sự Thật, Hà Nội.

    V.I.Lênin (1977), “Toàn tập, t.42”, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.

    [8] V.I.Lênin (1981), “Toàn tập, t.29”, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.

    TS. Vũ Thị Kim Oanh

    Tổ Chính trị, Khoa Lý luận cơ bản

    --- Bài cũ hơn ---

  • 6 Nguyên Tắc Vàng Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ Em Bạn Cần Ghi Nhớ
  • Phương Pháp Phản Xạ 2S
  • Phương Pháp Học Tiếng Anh Web 5 Ngày
  • 7 Bí Kíp Luyện Viết Tiếng Anh Cơ Bản Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Viết Lại – Phương Pháp Luyện Viết Tiếng Anh Hiệu Quả Và Đơn Giản
  • Giải Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10
  • Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Câu 5: Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Tóm Tắt Nội Dung Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định. Cho Ví Dụ?
  • Hãy phân tích sự khác nhau giữa đối tượng nghiên cứu giữa Triết học với các môn khoa học cụ thể, cho ví dụ.

    Đối tượng nghiên cứu của các môn khoa học cụ thể: Mỗi môn khoa học cụ thể đi sâu nghiên cứu một bộ phận, một lĩnh vực riêng biệt nào đó có thế giới.

    Ví dụ: Hóa học nghiên cứu sự cấu tạo, tính chất, sự biến đổi của các chất.

    Sử học nghiên cứu lịch sử của xã hội loài người nói chung hoặc nghiên cứu lịch sử của một quốc gia, một dân tộc nói riêng.

    Đối tượng nghiên cứu của triết học: Triết học nghiên cứu những vấn đề chung nhất, phổ biến nhất của thế giới, là hệ thống các quan điểm lí luận chung nhất về thế giới và vị trí của con người trong thế giới đó.

    Ví dụ: Triết học nghiên cứu mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa lí luận và thực tiễn, nghiên cứu các quy luật chung nhất về sự vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng.

    Ở các ví dụ sau, ví dụ nào thuộc kiến thức khoa học cụ thể, ví dụ nào thuộc kiến thức triết học? Vì sao?

    • Bình phương của cạnh huyền bằng tổng bình phương của hai cạnh góc vuông.
    • Mọi sự vật và hiện tượng đều có quan hệ nhân quả.
    • Ngày 3/2/1930 là ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
    • Ở đâu có áp bức thì ở đó có đấu tranh

    Những ví dụ thuộc kiến thức khoa học cụ thể bao gồm:

    • Bình phương của cạnh huyền bằng tổng bình phương của 2 cạnh góc vuông.
    • Ngày 3-2-1930 là ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Những ví dụ thuộc kiến thức triết học bao gồm:

    • Mọi sự vậtvà hiện tượng đều có quan hệ nhân quả.
    • Ở đâu có áp bức thì ở đó có đấu tranh

    Cơ sở để giải quyết vấn đề cơ bản của Triết học là dựa trên nguyên tắc giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tư duy và tồn tại, xem cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào và con người có nhận thức được thế giới hay không để phân chia các hệ thống thế giới quan: Thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm.

    • Thế giới quan duy vật khẳng định: Vật chất là bản chất của thế giới. Vật chất là cái có trước, cái quyết định ý thức. Thế giới vật chất là tự có không do ai sáng tạo ra và cũng không mất đi.
    • Thế giới quan duy tâm cho rằng: Ý thức là cái có trước và là cái sản sinh ra giới tự nhiên.

    Phân tích các yếu tố duy vật, duy âm về thế giới trong truyện và câu dẫn sau:

    • Truyện thần thoại Thần Trụ trời.
    • “Sống chết có mệnh, giàu sang do trời”. (Khổng tử)
    • Yếu tố duy tâm và duy vật trong câu chuyện thần thoại trụ trời là:
      • Yếu tố duy vật bao gồm: đất đá, cột chống trời…
      • Yếu tố duy tâm: Thần linh
    • Yếu tố duy tâm và duy vật trong câu “Sống chết có mệnh, giàu sang do trời” của Khổng Tử là:
      • Yếu tố duy vật: sống, chết, giàu , sang
      • Yếu tố duy tâm: Mệnh, trời.

    Hãy nêu ý kiến của mình về các yếu tố biện chứng, siêu hình về phương pháp luận trong truyện, các câu tục ngữ và thành ngữ sau:

    • Truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi.
    • Tục ngữ, thành ngữ: Rút dây động rừng, Tre già măng mọc, Môi hở răng lạnh, Nước chảy đá mòn.

    Trả lời:

    Truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi thuộc phương pháp luận siêu hình. Sở dĩ như vậy là vì các nhân vật trong truyện nhìn nhận sự vật phiến diện chỉ thấy chúng tồn tại trong trạng thái cô lập, máy móc, áp đặt, không nhìn một cách tổng thể.

    Các câu tục ngữ thành ngữ : Rút dây động rừng, Tre già măng mọc, Môi hở răng lạnh, Nước chảy đá mòn thuộc phương pháp luận biện chứng. Bởi vì các sự vật trong câu có sự ràng buộc với nhau trong sự phát triển và vận động không ngừng của chúng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật…
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10 Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng ( Tiết 1)
  • Từ Quan Điểm Duy Vật Biện Chứng Về Vật Chất, Ý Thức, Mối Quan Hệ Giữa Vật Chất Và Ý Thức Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Cơ Bản?
  • Phân Tích Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức, Từ Đó Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Ba Hình Thức Của Chủ Nghĩa Duy Vật
  • Những Nét Cơ Bản Nhất Của Lịch Sử Hình Thành Phép Biện Chứng
  • Giá Trị Thặng Dư Là Gì? Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối Và Tương Đối
  • Giá Trị Thặng Dư Siêu Ngạch?
  • Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và Quá Trình Vận Dụng Vào Công Cuộc Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Trường THPT Tràm Chim

    Ngày dạy:…./…../2010

    Người soạn: Phạm Văn Mi

    Phần thứ nhất:

    III. Phương pháp giảng dạy:

    – Các em học những môn học nào? Các khoa học đó nghiên cứu vấn đề gì?

    + Toán: nghiên cứu số, đại lượng…

    → mỗi ngành KH đều có đối tượng nghiên cứu riêng.

    – Gv hỏi: V ậy đối tượng nghiên cứu của triết học là gì?

    – Điểm giống và khác nhau về đối tượng nghiên cứu giữa triết học và các môn khoa học cụ thể?

    Lưu ý: Triết học và các môn khoa học cụ thể:

    – Giống: đều có đối tượng nghiên cứu riêng.

    Gv hỏi: Triết học có vai trò như thế nào?

    – Triết học có m ấy vấn đề cơ bản?

    Vậy thì vấn đề cơ bản của TH có mấy mặt?

    → Từ việc giải quyết vấn đề thứ nhất người ta chia thành hai loại thế giới quan: duy vật và duy tâm.

    a/ Vai trò thế giới quan, phương pháp luận của triết học:

    – Triết học là hệ thống các quan điểm, lý luận chung nhất về thế giới , v ề vị trí và vai trò của con người trong thế giới đó.

    – Triết học đóng vai trò là thế giới quan, phương pháp luận chung cho mọi hoạt động nhận thức và họat động thực tiễn của con người.

    b/ Thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm:

    – Thế giới quan: toàn bộ quan điểm, niềm tin định hướng hoạt động của con người trong cuộc sống.

    + mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.

    + Khả năng nhận thức TGKQ của con người.

    – Thế giới quan duy tâm: ý thức là cái có trước và là cái sản sinh ra giới tự nhiên.

    Trường THPT Tràm Chim

    Ngày dạy:…./…../2010

    Người soạn: Phạm Văn Mi

    III. Phương pháp giảng dạy.

    – Thế nào là phương pháp? Ví dụ.

    – Thế nào là phương pháp luận? ví dụ.

    ” Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”

    Phương pháp luận biện chứng : xem xét SVHT trong sự ràng buộc lẫn nhau giữa chúng, trong sự vận động và phát triển không ngừng của chúng.

    – Đọc câu chuyện ” Thầy bói xem voi” và cho biết: 5 ông thầy bói cảm nhận con voi bằng cách nào? Kết quả ra sao? Nó thể hiện phương pháp luận nào?

    Gv phát vấn học sinh: phương pháp luận nào là khoa học? rút ra bài học trong việc xem xét các sự vật hiện tượng trong cuộc sống.

    Gv: N êu sự hạn chế của các nhà triết học trước Mác?

    (làm rõ các hệ thống triết học trước Mác chưa triệt để vì chưa đạt được sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng).

    – Sự thống nhất giữa phương pháp luận biện chứng và thế giới quan duy vật thể hiện ở những quan điểm nào?

    Hs: phát biểu ý kiến.

    – Hs cả lớp cùng làm việc. Nghiên cứu và trình bài ý kiến của mình.

    – Hs cả lớp cùng làm việc. Nghiên cứu và trình bài ý kiến của mình.

    – Hs trình bài suy nghĩ của mình

    Hs: phát biểu ý kiến

    Hs: đọc kỹ về Phoi-ơ-bắc và Hêghen để điền vào bảng so sánh:

    c. Phương pháp luận biện chứng và phương pháp luận siêu hình:

    – Phương pháp là cách thức đạt tới mục đích đặt ra.

    2. Chủ nghĩa duy vật biện chứng – sự thống nhât hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng:

    – Về thế giới quan: phải xem xét chúng với quan điểm duy vật biện chứng.

    a/ Rút dây động rừng

    b/ Tre già măng mọc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Có Sự Khác Biệt Căn Bản Gì?
  • Phương Pháp Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Cổ Tử Cung Hiệu Quả
  • Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Cổ Tử Cung Bằng Phương Pháp Nào Là Hiệu Quả?
  • Điều Trị Dứt Điểm Bệnh Viêm Lộ Tuyến Bằng Phương Pháp Sóng Cao Tần Rfa
  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Đúc Kim Loại, Tính Công Nghệ, Ưu Và Nhược Điểm
  • Phép Biện Chứng Duy Vật

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10
  • Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Câu 5: Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Tóm Tắt Nội Dung Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định. Cho Ví Dụ?
  • Các Phương Pháp Ghép Cây Cơ Bản
  • a) Khái niệm phép biện chứng duy vật

    Định nghĩa khái quát về phép biện chứng duy vật, Ph.Ăngghen cho rằng: “Phép biện chứng… là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”.

    Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin còn có một số định nghĩa khác về phép biện chứng duy vật. Khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, Ph.Ăngghen đã định nghĩa: “Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến”; còn khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về sự phát triển (trong đó có bao hàm học thuyết về sự phát triển của nhận thức) trong phép biện chứng mà C.Mác đã kế thừa từ triết học của Hêghen, V.I.Lênin đã khẳng định: “Trong số những thành quả đó thì thành quả chủ yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn luôn phát triển không ngừng”‘,V.V..

    b) Những đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật

    Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin có hai đặc trưng cơ bản sau đây:

    Một là, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin là phép biện chứng được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học. Với đặc trưng này, phép biện chứng duy vật không chỉ có sự khác biệt căn bản với phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, đặc biệt là với phép biện chứng của Hêghen (là phép biện chứng được xác lập trên nền tảng thế giới quan duy tâm), mà còn có sự khác biệt về trình độ phát triển so với nhiều tư tưởng biện chứng đã từng có trong lịch sử triết học từ thời cổ đại (là phép biện chứng về căn bản được xây dựng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật nhưng đó là chủ nghĩa duy vật còn ở trình độ trực quan, ngây thơ vàchất phác).

    Hai là, trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin có sự thống nhất giữa nội dung thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận hiện chứng duy vật, do đó nó không dừng lại ở sự giải thích thế giới mà còn là công cụ để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Mỗi nguyên lý, quy luật trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác Lênin không chỉ là sự giải thích đúng đắn về tính biện chứng của thế giới mà còn là phương pháp luận khoa học của việc nhận thức và cải tạo thế giới. Trên cơ sở khái quát mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, những quy luật phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của tất thảy mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin cung cấp những nguyên tắc phương pháp luận chung nhất cho quá trình nhận thức thế giới và cải tạo thế giới, đó không chỉ là nguyên tắc phương pháp luận khách quan mà còn là phương pháp luận toàn diện, phát triển, lịch sử – cụ thể, phưong pháp luận phân tích mâu thuẫn nhằm tìm ra nguồn gốc, động lực cơ bản của các quá trình vận động, phát triển, V.V.. Với tư cách đó, phép biện chứng duy vật chính là công cụ khoa học vĩ đại để giai cấp cách mạng nhận thức và cải tạo thế giới.

    Với những đặc trưng cơ bản trên, phép biện chứng duy vật giữ vai trò là một nội dung đặc biệt quan trọng trong thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tạo nên tính khoa học và cách mạng của chú nghĩa Mác – Lênin, đồng thời nó cũng là thế giới quan vả phương pháp luận chung nhất của hoạt động sáng tạo trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật…
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10 Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng ( Tiết 1)
  • Từ Quan Điểm Duy Vật Biện Chứng Về Vật Chất, Ý Thức, Mối Quan Hệ Giữa Vật Chất Và Ý Thức Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Cơ Bản?
  • Phân Tích Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức, Từ Đó Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Câu 5: Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Tóm Tắt Nội Dung Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định. Cho Ví Dụ?
  • Các Phương Pháp Ghép Cây Cơ Bản
  • Nhân Giống Cây Bằng Phương Pháp Ghép
  • Kỹ Thuật Ghép Cành Cây Cảnh
  • Màng Ghép Phức Hợp Và Các Phương Pháp Ghép Màng
  • Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh đúng đắn hiện thực. Trong hệ thống đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất. Vì thế Ph.Ăngghen đã định nghĩa: “phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”.

    I. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật và hiện tượng

    1. Khái niệm mối liên hệ phổ biến:

    Là khái niệm dùng để chỉ sự tác động và ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận trong một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.

    2. Nội dung và tính chất của mối liên hệ

    – Tính khách quan và phổ biến của mối liên hệ: Nhờ có mối liên hệ mà có sự vận động, mà vận động lại là phương thức tồn tại của vật chất, là một tất yếu khách quan, do đó mối liên hệ cũng là một tất yếu khách quan.

    • Mối liên hệ tồn tại trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng ở tất cả lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy.
    • Mối liên hệ phổ biến là hiện thực, là cái vốn có của mọi sự vật, hiện tượng, nó thể hiện tính thống nhất vật chất của thế giới.

    – Do mối liên hệ là phổ biến, nên nó có tính đa dạng: Các sự vật; hiện tượng trong thế giới vật chất là đa dạng nên mối liên hệ giữa chúng cũng đa dạng, vì thế, khi nghiên cứu các sự vật, hiện tượng cần phải phân loại mối liên hệ một cách cụ thể.

      Căn cứ vào tính chất, phạm vi, trình độ, có thể có những loại mối liên hệ sau: chung và riêng, cơ bản và không cơ bản, bên trong và bên ngoài, chủ yếu và thứ yếu, không gian và thời gian, v.v.. Sự phân loại này là tương đối, vì mối liên hệ chỉ là một bộ phận, một mặt trong toàn bộ mối liên hệ phổ biến nói chung.

    – Phép biện chứng duy vật nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất và phổ biến nhất của thế giới khách quan. Còn những hình thức cụ thể của mối liên hệ là đối tượng nghiến cứu của các ngành khoa học cụ thể.

    3. Ý nghĩa phương pháp luận

    – Vì các mối liên hệ là sự tác động qua lại, chuyển hoá, quy định lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và các mối liên hệ mang tính khách quan, mang tính phổ biến nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiến con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện, phải tránh cách xem xét phiến diện.

    • Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật.
    • Đồng thời, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng mối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên, và lưu ý đến sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mối liên hệ để hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân.
    • Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự vật, chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó mà còn phải chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác. Đồng thời, chúng ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất. Để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, một mặt, chúng ta phải phát huy nội lực của đất nước ta; mặt khác, phải biết tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách do xu hướng quốc tế hóa mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và toàn cầu hóa kinh tế đưa lại.

    – Vì các mối liên hệ có tính da dạng, phong phú – sự vật, hiện tượng khác nhau, không gian, thời gian khác nhau các mối liên hệ biểu hiện khác nhau nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm lịch sử – cụ thể.

    • Quan điểm lịch sử – cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử – cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển. Thực tế cho thấy rằng, một luận điểm nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này, nhưng sẽ không là luận điểm khoa học trong điều kiện khác.
    • Vì vậy để xác định đúng đường lối, chủ trương của từng giai đoạn cách mạng, của từng thời kỳ xây dựng đất nước, bao giờ Đảng ta cũng phân tích tình hình cụ thể của đất nước ta cũng như bối cảnh lịch sử quốc tế diễn ra trong từng giai đoạn và từng thời kỳ đó và trong khi thực hiện đường lối, chủ trương, Đảng ta cũng bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến của hoàn cảnh cụ thể.

    II. Nguyên lý về sự phát triển

    1. Khái niệm phát triển

    – Phát triển là sự vận động tiến lên (từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn).

    – Từ khái niệm trên cho thấy:

    • Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển có mối quan hệ biện chứng với nhau, vì nhờ có mối liên hệ thì sự vật mới có sự vận động và phát triển.
    • Cần phân biệt khái niệm vận động với khái niệm phát triển. Vận động là mọi biến đổi nói chung, con người phát triển là sự vận động có khuynh hướng và gắn liền với sự ra đời của cái mới hợp quy luật.

    2. Nội dung và tính chất của sự phát triển

    – Phát triển là thuộc tính vốn có của mọi sự vật, hiện tượng, là khuynh hướng chung của thế giới.

    – Sự phát triển có tính chất tiến lên, kế thừa liên tục.

    – Sự phát triển thường diễn ra quanh co, phức tạp, phải trải qua những khâu trung gian, thậm chí có lúc, có sự thụt lùi tạm thời.

    – Phát triển là sự thay đổi về chất của sự vật. Nguồn gốc của sự phát triển là do sự đấu tranh của các mặt đối lập trong bản thân sự vật.

    Xem tiếp: Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

    3. Phân biệt quan điểm biện chứng và siêu hình về sự phát triển

    – Quan điểm biện chứng xem sự phát triển là một quá trình vận động tiến lên thông qua những bước nhảy vọt về chất. Nguồn gốc của sự phát triển là cuộc đấu tranh của các mặt đối lập ở trong sự vật.

    – Quan điểm siêu hình nói chung là phủ định sự phát triển, vì họ thường tuyệt đối hoá mặt ổn định của sự vật, hiện tượng. Sau này, khi khoa học đã chứng minh cho quan điểm về sự phát triển của sự vật, buộc họ phải nói đến sự phát triển, song với họ phát triển chỉ là sự tăng hay giảm đơn thuần về lượng không có sự thay đổi về chất và nguồn gốc của nó ở bên ngoài sự vật, hiện tượng.

    4. Ý nghĩa phương pháp luận

    – Nguyên lý về sự phát triển cho thấy trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm phát triển.

    – Quan điểm phát triển đòi hỏi khi nhận thức, khi giải quyết một vấn đề nào đó con người phải đặt chúng ở trạng thái động, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển.

    – Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt những cái hiện đang tồn tại ở sự vật, mà còn phải thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng, phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi có tính chất thụt lùi. Song điều cơ bản là phải khái quát những biến đổi để vạch ra khuynh hướng biến đổi chính của sự vật.

    – Bạn đã nắm vững kiến thức: Điều kiện ra đời, tồn tại của sản xuất hàng hoá.

    – Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia quá trình phát triển của sự vật ấy thành những giai đoạn. Trên cơ sở ấy để tìm ra phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật tiến triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó, tùy theo sự phát triển đó có lợi hay có hại đối với đời sống của con người.

    – Quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.

    – Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử – cụ thể, quan điểm phát triển góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân con người. Song để thực hiện được chúng, mỗi người cần nắm chắc cơ sở lý luận của chúng – nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển, biết vận dụng chúng một cách sáng tạo trong hoạt động của mình.

    III. Ý nghĩa phương pháp luật của việc nắm vững hai nguyên lý này

    Nguyên lý về liên hệ phổ biến đòi hỏi trong nhận thức sự vật cần phải có quan điểm toàn diện. Với quan điểm này, khi nghiên cứu sự vật, phải xem xét tất cả các mối liên hệ của bản thận sự vật và với các sự vật và hiện tượng khác.

    Tóm lại: Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, lịch sự cụ thể và phát triển. Với cách xem xét, nghiên cứu theo quan điểm toàn diện và phát triển sẽ giúp ta hiểu được bản chất sự vật, làm cho nhận thức phản ánh đúng đắn về sự vật và hoạt động thực tiễn có hiệu quả cao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10
  • Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Giải Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật…
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Socrate Và Vấn Đề Tích Cực Hóa Nhận Thức
  • Thực Trạng Áp Dụng Phương Pháp Socrate (Truy Vấn) Và Mootcourt (Diễn Án) Trong Đào Tạo Luật Tại Một Số Trường Đại Học Và Giải Pháp Áp Dụng Tại Trường Đại Học Ngoại Thương
  • Nội Dung Và Hình Thức: Quan Hệ Biện Chứng Và Ý Nghĩa
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Tạo Bản Đồ 3D Trong Excel
  • Sự Đối Lập Giữa Phương Pháp Siêu Hình Và Phương Pháp Biện Chứng
  • Thường được chấp nhận là chủ nghĩa Marx được cấu thành từ ba nguồn gốc chính. Một trong những nguồn gốc đó được phát triển từ những phân tích của Marx về nền chính trị nước Pháp, cụ thể là cuộc cách mạng tư sản Pháp vào những năm 1790, và những cuộc đấu tranh giai cấp sau đó trong suốt những năm đầu thế kỷ 19. Một nguồn gốc khác của chủ nghĩa Marx là cái được gọi là kinh tế học Anh, những phân tích của Marx về hệ thống tư bản chủ nghĩa như nó đã phát triển ở nước Anh. Nguồn gốc còn lại của chủ nghĩa Marx, về phương diện lịch sử lần đầu tiên được đề ra, và được gọi là “triết học Đức”, và đó là khía cạnh mà tôi muốn nói đến ở đây.

    Để bắt đầu, chúng ta cần nói rằng nền tảng của chủ nghĩa Marx là chủ nghĩa duy vật. Tức là, chủ nghĩa Marx bắt đầu từ tư tưởng cho rằng vật chất là bản chất của mọi thực tại, và rằng vật chất tạo ra tư tưởng, chứ không phải ngược lại.

    Nói cách khác, tư tưởng và tất cả mọi thứ xuất phát từ tư tưởng – những tư tưởng nghệ thuật, khoa học, luật pháp, chính trị, đạo đức và tiếp nữa..- những thứ đó thực tế xuất phát từ thế giới vật chất. “Trí tuệ” .., tư tưởng và những quá trình tư tưởng, là sản phẩm của bộ não; và bản thân bộ não, và do đó bản thân tư tưởng, xuất hiện từ một trạng thái nhất định của sự phát triển của vật chất sống. Chúng là sản phẩm của thế giới vật chất.

    Do đó, để hiểu được bản chất đích thực của ý thức con người và xã hội, như bản thân Marx đã làm, là vấn đề “không phải là bắt đầu từ cái mà con người nói, tưởng tượng, quan niệm … để đi đến con người bằng xương bằng thịt; mà là từ thực tại, từ con người hoạt động, và từ những cơ sở của đời sống thực tế của họ giải thích sự phát triển của những phản ánh và những tiếng vang tư tưởng của họ về quá trình đời sống hiện thực này. Những ảo tưởng được tạo thành trong đầu óc của con người cũng vậy, cần được coi là những hình ảnh của những quá trình sống hiện thực của họ, có thể được xác nhận một cách kinh nghiệm chủ nghĩa bằng những tiền đề vật chất và bị giới hạn bởi những tiền đề vật chất này. Đạo đức, tôn giáo, siêu hình học, tất cả những gì còn lại của hệ tư tưởng và những dạng tương ứng của ý thức, do đó không còn giữ cái vẻ độc lập được nữa. Chúng không có lịch sử, không có sự phát triển nào; mà chính là con người, trong quá trình phát triển nền sản xuất vật chất của họ và những mối liên hệ nội tại vật chất giữa họ với nhau, cùng với sự tồn tại thực tế của họ, đã biến đổi suy nghĩ của họ và những sản phẩm của suy nghĩ của họ. Đời sống không phải được quyết định bởi ý thức, mà là ý thức được quyết định bởi đời sống. Trong phương pháp tiếp cận thứ nhất (phi duy vật), điểm bắt đầu là ý thức chế ngự cá nhân sống; phương pháp thứ hai (duy vật), thích hợp với bản thân những cá nhân sống hiện thực, và ý thức chỉ còn được coi là ý thức của họ mà thôi.” (Hệ tư tưởng Đức, chương một).

    Một nhà duy vật chủ nghĩa do đó sẽ tìm lời giải thích không phải từ những tư tưởng, mà là từ bản thân những hiện tượng vật chất, dưới dạng những nguyên nhân vật chất và không phải là những sự can thiệp phi tự nhiên bởi chúa hay cái gì đại loại như thế. Và đây là một khía cạnh đặc biệt quan trọng của chủ nghĩa Marx, làm tách biệt một cách rõ ràng phương pháp này ra khỏi những phương pháp tư duy và logic được thiết lập trong xã hội tư bản.

    Sự phát triển của tư duy khoa học trong những quốc gia châu Âu vào thế kỷ 17 và 18 đã để lộ ra một số những tính chất mâu thuẫn thực sự, vẫn còn lại trong cách tiếp cận của các lý thuyết gia tư sản ngày nay. Một mặt có một sự phát triển hướng đến phương pháp duy vật. Các nhà khoa học đi tìm kiếm những nguyên nhân. Họ không chỉ chấp nhận những hiện tượng tự nhiên như là những phép màu do chúa sắp đặt, họ đi tìm lời giải thích cho mình. Nhưng cùng lúc những nhà khoa học này chưa nắm được một hiểu biết nhất quán hay duy vật thực tiễn; và thường là, đằng sau những lời giải thích cho những những hiện tượng tự nhiên, họ cũng thấy, ở cuối sợi dây sích, bàn tay của chúa chạm vào.

    Cách tiếp cận như thế chấp nhận, hay chí ít là để ngỏ cho khả năng, rằng thế giới vật chất chúng ta sống trong ở điểm tận cùng được tạo nên bởi những lực lượng ở bên ngoài nó, và rằng ý thức hay tư tưởng có trước tiên, theo cái nghĩa là chúng có thể tồn tại độc lập với thế giới thực tại. Cách tiếp cận này, đối lập lại với chủ nghĩa duy vật, chúng ta gọi là “chủ nghĩa duy tâm”.

    Theo như cách tiếp cận này, sự phát triển của nhân loại và của xã hội – của nghệ thuật, khoa học … – bị bức chế không phải là bởi những quá trình vật chất mà là bởi sự phát triển của các tư tưởng, bởi sự hoàn hảo hay sự suy đồi của tư tưởng con người. Và không phải là ngẫu nhiên mà cái cách tiếp cận phổ biến này, dù được nói ra hay không, tràn ngập trong những triết thuyết của chủ nghĩa tư bản.

    Những nhà triết học và các sử gia tư sản nói chung coi hệ thống hiện thời là tất nhiên. Họ chấp nhận rằng chủ nghĩa tư bản là một dạng hoàn hảo, một hệ thống hoàn bị không thể được thay thế bởi một hệ thống nào mới và cao hơn. Và họ cố gắng trình bày tất cả lịch sử đã qua như là những nỗ lực kém trọng đại hơn nhằm đạt được cái “xã hội hoàn hảo” mà họ tin là chỉ có chủ nghĩa tư bản là đã đạt được hoặc có thể đạt được.

    Vì vậy, khi chúng ta nhìn vào những tác phẩm của một số nhà khoa học và nhà tư tưởng tư sản vĩ đại nhất trong quá khứ hay thậm chí cả trong ngày nay, chúng ta có thể thấy họ có khuynh hướng lẫn lộn trong đầu óc mình những tư tưởng duy vật và duy tâm như thế nào. Lấy ví dụ, Isaac Newton, người nghiên cứu những quy luật cơ học và những quy luật chuyển động của các hành tinh và các vật thể hành tinh, đã không tin rằng những quá trình này bị chế ngự bởi đầu óc hay tư tưởng. Nhưng ông lại tin vào một sự thúc đẩy lúc ban đầu cho vật chất, và cái đẩy ban đầu này được cung cấp bởi một dạng lực lượng siêu tự nhiên, bởi Chúa.

    Theo cách tương tự ngày nay có nhiều nhà sinh vật học chấp nhận tư tưởng cho rằng các loài cây cối và động vật đã tiến hóa từ loại này sang loại kia, và rằng con người bản thân nó cũng là một sự phát triển từ một giống loài trước đó. Và cũng có nhiều người trong bọn họ bám lấy cái khái niệm cho rằng có một sự khác nhau về chất giữa trí tuệ của con người và đầu óc của động vật, kết luận rằng có một linh hồn bất diệt rời bỏ cơ thể con người sau khi chết. Ngay cả một số những nhà khoa học xuất chúng nhất cũng lẫn lộn phương pháp duy vật và những tư tưởng duy tâm theo kiểu này, về phương diện khoa học mà nói điều này thực sự là lạc hậu, và có liên hệ với ma thuật và mê tín nhiều hơn là với khoa học.

    Do đó chủ nghĩa Marx đưa ra một sự đoạn tuyệt một cách hệ thống và căn bản với chủ nghĩa duy tâm dưới mọi hình thức, và phát triển trong nó một hiểu biết duy vật về những gì đang diễn ra trong thực tế. Chủ nghĩa duy vật là thế giới quan cung cấp một trong những khởi điểm căn bản cho chủ nghĩa Marx. Khởi điểm căn bản còn lại là phép biện chứng.

    PHÉP BIỆN CHỨNG

    Phép biện chứng đơn giản là logic của sự vận động, hay là logic của tri giác thông thường của những nhà hoạt động phong trào. Chúng ta đều biết rằng mọi thứ đều không đứng yên, chúng luôn thay đổi. Nhưng còn có một dạng logic khác đối lập lại với phép biện chứng mà chúng ta gọi là logic hình thức, là thứ đặc biệt tiêu biểu trong xã hội tư bản. Có lẽ cần thiết phải bắt đầu bằng một bức phác thảo sơ lược những gì hàm chứa trong phép này.

    Logic hình thức dựa trên cái được biết là quy luật đồng nhất, nó nói rằng A bằng A.. tức là các vật là cái mà chúng là, và các vật này đứng trong mối quan hệ xác định đối với nhau. Còn có những quy luật phái sinh khác từ quy luật đồng nhất; ví dụ, nếu A bằng A, thì khi đó A không thể bằng B, hay C.

    Thoạt nhìn, phương pháp tư duy này dường như cũng là tri giác thông thường; và thực tế nó là một công cụ tư duy vô cùng quan trọng, một phương pháp rất quan trọng trong sự phát triển của khoa học và trong cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo dựng nên xã hội ngày nay. Sự phát triển của toán học và số học cơ bản, chẳng hạn, là dựa trên logic hình thức. Bạn không thể dạy cho một đứa trẻ bản cửu chương mà lại không dùng đến logic hình thức. Một cộng một bằng hai, và không phải là bằng ba. Và tương tự, phương pháp của logic hình thức cũng là cơ sở cho sự phát triển của cơ học, hóa học, sinh vật học…

    Ví dụ, trong thế kỷ 18 nhà sinh vật học người Scandinavia Linnaeus đã phát triển một hệ thống phân loại cho tất cả những sinh vật đã biết. Linnaeus chia tất cả những vật sống thành những lớp, bộ, họ, trong bộ khỉ, họ người, giống người và giới thiệu loài homo sapiens.

    Hệ thống phân loại này đem lại một bước tiến khổng lồ trong lĩnh vực sinh học. Lần đầu tiên, nó tạo ra khả năng nghiên cứu một cách thực sự có hệ thống về cây cối và động vật, để so sánh và đối chiếu các giống động vật và cây. Nhưng nó dựa trên logic hình thức. Nó dựa trên phát biểu rằng homo sapiens bằng với homo sapiens; một con giun đất bằng với một con giun đất và cứ thế.. Nói cách khác, nó là một hệ thống cố định và cứng nhắc. Theo như hệ thống này thì không thể có chuyện một loài này bằng với một loài khác nào đó, nếu không thì hệ thống phân loại này sẽ hoàn toàn bị sụp đổ.

    Trong lĩnh vực hóa học cũng tương tự, ở đây thuyết nguyên tử của Dalton mang ý nghĩa một bước tiến khổng lồ. Thuyết Dalton dựa trên ý tưởng rằng vật chất được tạo thành từ các nguyên tử, và mỗi một loại nguyên tử hoàn toàn tách biệt và riêng có đối với bản thân nó – tức là hình dáng và cân nặng là của riêng nguyên tử đó và không phải là của nguyên tử nào khác.

    Sau Dalton có xuất hiện một hệ thống phân loại ít nhiều cứng nhắc như thế, một lần nữa lại dựa trên logic hình thức cứng nhắc, nói rằng một nguyên tử hydro là một nguyên tử hydro, một nguyên tử carbon là một nguyên tử carbon… Và nếu một nguyên tử nào đó có thể là một nguyên tử khác, thì toàn bộ hệ thống phân loại này, hệ thống phân loại tạo lên nền tảng của hóa học hiện đại, sẽ sụp đổ.

    Giờ điều quan trọng là thấy được rằng phương pháp logic hình thức có những giới hạn của nó. Đó là một phương pháp rất tốt cho cuộc sống hàng ngày, nó đem lại cho chúng ta một phép gần đúng hữu ích đối với việc nhận thức các vật. Chẳng hạn, hệ thống phân loại của Linnaeus vẫn còn hữu dụng đối với các nhà sinh học; nhưng từ tác phẩm của Charles Darwin chúng ta có thể nhận thấy những yếu kém của nó.

    Darwin đã chỉ ra rằng trong hệ thống của Linnaeus có một số loài cây có tên gọi rất khác nhau, như là những loài khác nhau vậy, nhưng thực sự chúng lại rất giống nhau. Và cũng có những cây với cùng tên gọi, cùng loài, là những biến dị của cùng một loài cây, mà chúng lại rất khác nhau.

    Vì vậy ngay từ thời của Charles Darwin đã có thể nhìn vào trong hệ thống phân loại của Linnaeus và nói “ôh, hẳn là phải có sai sót ở đâu đó”. Và tất nhiên tác phẩm của Charles Darwin đã cung cấp một cơ sở mang tính hệ thống cho học thuyết tiến hóa, học thuyết lần đầu tiên tuyên bố rằng một loài này có thể chuyển hóa thành một loài khác.

    Và điều đó để lại một lỗ hổng lớn trong hệ thống Linnaeus. Trước Charles Darwin, người ta tin rằng số lượng các loài trên hành tinh chính xác bằng số lượng các loài được Chúa tạo ra trong 6 ngày đầu tiên – tất nhiên là ngoại trừ những loài đã bị lụt lội hủy diệt – và rằng những loài còn sống sót đã không hề thay đổi gì trong suốt hàng triệu năm. Nhưng Darwin đã đưa ra tư tưởng về sự biến đổi của các loài, và chắc chắn là phương pháp phân loại cũng phải thay đổi theo.

    Những gì áp dụng vào lĩnh vực sinh học thì cũng áp dụng vào lĩnh vực hóa học. Vào cuối thế kỷ 19, các nhà hóa học nhận ra rằng một nguyên tố nguyên tử này có thể biến đổi thành một nguyên tố nguyên tử khác. Nói cách khác, những nguyên tử không hoàn toàn tách biệt và riêng có đối với bản thân chúng. Giờ chúng ta biết được rằng có nhiều nguyên tử, nhiều nguyên tố hóa học, là không bền vững. Ví dụ, uranium và các nguyên tố phóng xạ khác sẽ phân rã theo thời gian và tạo nên các nguyên tử hoàn toàn khác với các tính chất hóa học và cân nặng cũng hoàn toàn khác.

    Do đó chúng ta có thể thấy được rằng phương pháp của logic hình thức đã bắt đầu bị đổ bể cùng với sự phát triển của bản thân khoa học. Chính là phương pháp biện chứng đã thu hút những kết luận từ những phát hiện thực tiễn đó, và chỉ ra rằng không tồn tại những phạm trù tuyệt đối hay cố định, cả ở trong tự nhiên lẫn trong xã hội.

    Trong khi mà một người logic hình thức nói rằng A bằng A thì người biện chứng sẽ nói rằng A không nhất thiết phải bằng A.

    Vì vậy chúng ta cần có một hình thái nhận thức, một hình thái logic lý giải cái sự kiện thực tế là mọi thứ, cuộc sống và xã hội ở trong một trạng thái chuyển động và thay đổi liên miên. Và hình thái logic đó không nghi ngờ gì là phép biện chứng.

    Nhưng mặt khác sẽ là sai lầm nếu cho rằng phép biện chứng gán cho vũ trụ một quá trình thay đổi đều và dần dần. Những quy luật của phép biện chứng, và đây là một lời cảnh báo: những khái niệm đó nghe đáng sợ hơn chúng thực sự là – những quy luật của phép biện chứng mô tả cách thức trong đó những quá trình thay đổi diễn ra trong thực tế.

    LƯỢNG BIẾN THÀNH CHẤT

    Chúng ta hãy bắt đầu với quy luật chuyển hóa của lượng thành chất. Quy luật này phát biểu rằng quá trình biến đổi – vận động trong vũ trụ – không phải là dần dần, chúng không phải là đều. Những khoảng thay đổi tương đối dần dần và từng chút một xen kẽ với những khoảng thay đổi hết sức đột ngột – sự thay đổi không thể đo bằng lượng được mà phải đo bằng chất.

    Sử dụng thêm một ví dụ lấy từ khoa học tự nhiên, chúng ta hãy nghĩ đến nhiệt của nước. Bạn có thể đo được trên thực tế (lượng hóa) dưới dạng độ của nhiệt sự thay đổi diễn ra trong nước khi bạn làm nóng nó lên. Cho là từ 10 độ bách phân (nhiệt độ này tương ứng với nhiệt của nước máy) lên đến khoảng 98 độ bách phân, sự thay đổi vẫn còn là thay đổi về lượng.., nước vẫn là nước, mặc dù nó đã trở nên nóng hơn.

    Nhưng khi đến một điểm mà tại đó sự thay đổi trong nước trở thành sự thay đổi về chất, và nước trở thành hơi. Bạn sẽ không còn có thể mô tả sự thay đổi trong nước khi nó được làm nóng từ 98 độ lên đến 102 độ dưới dạng thuần túy về lượng được nữa. Chúng ta phải nói rằng một sự thay đổi về chất (nước thành hơi) là kết quả của một sự tích tụ của sự thay đổi về lượng (tức là thêm vào ngày càng nhiều nhiệt).

    Và đó là những gì mà Marx và Engels muốn nói khi họ nhắc đến sự chuyển hóa từ lượng thành chất. Trong sự phát triển của các loài cũng có thể thấy hiện tượng tương tự. Trong mỗi loài đều có sự biến dị rất lớn. Nếu chúng ta nhìn quanh quất trong phòng chúng ta sẽ bắt gặp rất nhiều những sự khác biệt giữa những người trong phòng. Những khác biệt đó có thể được đo về mặt lượng, chẳng hạn, về cân nặng, chiều cao, màu da, độ dài mũi.

    Nhưng nếu như những biến đổi tiến hóa tiến tới một điểm nhất định dưới ảnh hưởng của những biến đổi môi trường, khi đó những biến đổi về lượng này có thể tích lũy tạo thành một sự biến đổi về chất. Nói cách khác, bạn sẽ không thể nào còn có thể nói rằng sự biến đổi ở động vật và cây cối chỉ đơn thuần là biến đổi về lượng. Những giống loài sẽ trở nên khác biệt về chất.

    Ví dụ, chúng là một loài khác biệt về chất với tinh tinh hay gorilla, và đến lượt chúng lại khác biệt về chất với những loài động vật có vú khác. Và những khác biệt về chất này, những bước nhảy tiến hóa, là kết quả của những biến đổi về lượng ở trong quá khứ.

    Ý tưởng của chủ nghĩa Marx là luôn có những thời kỳ biến đổi dần dần xen lẫn với những thời kỳ biến đổi đột ngột. Trong thời kỳ thai nghén, là thời kỳ biến đổi dần dần, và sau đó là một thời kỳ biến đổi đột ngột tại điểm kết. Sự phát triển của xã hội cũng vậy. Các nhà Marxist rất thường hay sử dụng sự tương tự của thời kỳ thai nghén để mô tả sự phát triển của chiến tranh và cách mạng. Những bước tiến về chất này là tiêu biểu trong sự phát triển của xã hội; nhưng chúng là kết quả của một sự tích tụ những mâu thuẫn về lượng trong xã hội.

    PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH

    Quy luật thứ hai của phép biện chứng là quy luật “phủ định của phủ định”, và một lần nữa, tên gọi của nó lại rối rắm hơn nội dung của nó. “Phủ định” theo nghĩa này chỉ đơn giản là vượt qua một điều gì đó, cái kết của một vật nào đó khi nó chuyển hóa thành một vật khác.

    Ví dụ, sự phát triển của xã hội có giai cấp trong lịch sử nguyên thủy của loài người đại biểu cho sự phủ định xã hội phi giai cấp trước đó. Và trong tương lai, với sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản, chúng ta sẽ thấy xã hội phi giai cấp khác, mang ý nghĩa là sự phủ định tất cả những xã hội có giai cấp trước đây.

    Do vậy quy luật phủ định của phủ định phát biểu một cách đơn giản là khi một hệ thống ra đời, nó làm cho hệ thống khác bị biến mất. Nhưng như vậy không có nghĩa là hệ thống thứ hai là cố định hay không thể thay đổi. Bản thân hệ thống thứ hai trở nên mất hiệu lực khi mà xã hội phát triển xa hơn và do bởi quá trình biến đổi của xã hội. Vì xã hội có giai cấp là sự phủ định của xã hội phi giai cấp, nên xã hội cộng sản sẽ là sự phủ định của xã hội có giai cấp – phủ định của phủ định.

    Một khái niệm khác của phép biện chứng là quy luật thâm nhập của các mặt đối lập. Quy luật này tuyền bố một cách hoàn toàn đơn giản rằng những quý trình biến đổi diễn ra là do bởi những sự mâu thuẫn – bởi những đối lập giữa các yếu tố khác nhau ẩn chứa trong tất các quá trình tự nhiên và xã hội.

    Có lẽ ví dụ tốt nhất cho sự thâm nhập của những mặt đối lập trong khoa học tự nhiên là thuyết lượng tử. Thuyết này dựa trên khái niệm cho rằng năng lượng có tính chất đối ngẫu – theo như một số thí nghiệm, với một số mục đích thì năng lượng tồn tại dưới dạng sóng, như năng lượng điện từ. Nhưng cho một số mục đích thì năng lượng lại thể hiện bản thân nó như là các hạt. Nói cách khác, các nhà khoa học hoàn toàn chấp nhận rằng vật chất và năng lượng có thể thực sự tồn tại ở hai trạng thái khác nhau cùng một lúc – một mặt là một loại sóng phi quảng tính, mặt khác là một hạt với môt gói năng lượng xác định ẩn chứa trong nó.

    Do đó nền tảng của thuyết lượng tử trong vật lý học hiện đại là một sự mâu thuẫn. Nhưng ngày nay đã có nhiều mâu thuẫn khác trong khoa học được biết đến. Ví dụ, năng lượng điện từ là một tập hợp chuyển động qua sự tác động của các lực âm và lực dương lên nhau. Hiện tượng từ tính phụ thuộc vào sự tồn tại của cực bắc và cực nam. Những thứ này không thể tồn tại độc lập đối với nhau. Chúng tồn tại và vận hành chính bởi những lực đối lập ẩn chứa trong cùng một hệ thống.

    Tương tự, mọi xã hội ngày nay chứa đựng những nhân tố đối lập khác biệt nhau cùng chung trong một hệ thống, làm cho tất cả mọi xã hội, mọi quốc gia không thể nào cứ mãi duy trì được sự ổn định hay bất biến. Phương pháp biện chứng, đối lập lại với logic hình thức, huấn luyện cho chúng ta để chúng ta nhận ra được những mâu thuẫn này, và từ đó chạm được đến đáy của những biến đổi đang diễn ra.

    Những nhà Marxist nói một cách không e dè đến những yếu tố đối lập nội tại trong mọi quá trình xã hội. Trái lại, Rõ ràng là nhờ nhận ra và hiểu được những lợi ích đối lập ẩn chứa nội trong cùng một quá trình xã hội mà chúng ta có thể chỉ ra được chiều hướng thay đổi thích hợp, và sau cùng nhận ra mục đích và mục tiêu cần thiết và có thể đạt được trong trường hợp đó phải đấu tranh cho từ quan điểm của giai cấp công nhân.

    Đồng thời, chủ nghĩa Marx cũng không gạt bỏ logic hình thức. Nhưng từ quan điểm hiểu được những sự phát triển của xã hội, điều quan trọng cần phải thấy được rằng logic hình thức chỉ đứng hàng thứ hai.

    Tất cả chúng ta sử dụng logic hình thức cho những mục đích thường ngày. Nó đem lại cho chúng ta những sự xấp xỉ cần thiết để giao tiếp và điều khiển những hoạt động thường ngày của chúng ta. Chúng ta sẽ không thể bình thường được cuộc sống của chúng ta mà không có sự phục vụ của logic hình thức, mà không sử dụng sự xấp xỉ một bằng với một.

    Nhưng, mặt khác chúng ta cũng thấy những mặt hạn chế của logic hình thức – những giới hạn trở nên rõ ràng trong khoa học khi chúng ta nghiên cứu những quá trình sâu và chi tiết hơn, và cũng thế khi chúng ta khám phá các quá trình xã hội và chính trị một cách tỉ mỉ hơn.

    Các nhà khoa học rất hiếm khi chấp nhận phép biện chứng. Một số nhà khoa học là những người biện chứng, nhưng phần lớn ngay cả là ngày nay cũng đều lẫn lộn phương pháp duy vật với cái mới bòng bong đủ mọi loại tư tưởng hình thức và duy tâm.

    Và nếu đó là trường hợp trong khoa học tự nhiên, thì nó lại càng là trường hợp trong khoa học xã hội. Những nguyên nhân cho điều này khá là rõ ràng. Nếu bạn cố gắng khảo sát xã hội và những quá trình xã hội từ quan điểm khoa học, thì bạn sẽ không thể nào tránh được việc phải đi đến chỗ chống lại những mâu thuẫn của hệ thống tư bản và cần phải chuyển biến xã hội lên xã hội chủ nghĩa.

    Nhưng những trường đại học, nơi thường được coi là những trung tâm học tập và nghiên cứu, dưới chủ nghĩa tư bản còn xa mới độc lập được với sự thống trị giai cấp và nhà nước. Đó là lý do tại sao khoa học tự nhiên có thể vẫn còn có một phương pháp khoa học thiên về chủ nghĩa duy vật biện chứng; nhưng khi bước sang khoa học xã hội bạn sẽ bắt gặp trong các trường cao đẳng và đại học những loại duy tâm chủ nghĩa và hình thức chủ nghĩa tồi tệ nhất.

    Cụ thể, những sử gia tư sản nằm trong số những khoa học gia xã hội thiển cận vào bậc nhất. Đã bao nhiêu lần chúng ta bắt gặp cái mẫu tưởng tượng của các sử gia này nói rằng lịch sử đã kết thúc hôm qua rồi! Ở đây tại nước Anh tất cả bọn họ dường như đều thú nhận nỗi ghê sợ chủ nghĩa đế quốc Anh trong thế kỷ 17,18và 19; rằng chủ nghĩa đế quốc Anh đã tham gia buôn bán nô lệ; rằng nó phải chịu trách nhiệm về một số cuộc chinh phục đẫm máu nhất đối với những người dân thuộc địa; rằng nó cũng phải chịu trách nhiệm cho một số công cuộc bóc lột tồi tệ nhất những người công nhân Anh, cả phụ nữ và trẻ em, trong các hầm mỏ than đá, các nhà máy cotton..

    Họ sẽ chấp nhận tất cả những điều tội lỗi đó – cho đến tận ngày hôm qua. Nhưng đến hôm nay, tất nhiên khi này thì chủ nghĩa đế quốc Anh đã đột nhiên trở thành dân chủ và tiến bộ rồi.

    Và đó là một quan niệm hoàn toàn một chiều, hoàn toàn phiến diện về lịch sử, đối lập tuyệt đối lại với phương pháp của chủ nghĩa Marx. Quan điểm của Marx và Engels là nhìn những tiến trình xã hội từ lập trường giống với lập trường họ nhìn tự nhiên – từ lập trường của các quá trình đúng như nó diễn ra.

    Cánh hữu trong phong trào lao động, và một số người thuộc phe tả, tin rằng học thuyết Marxist là một giáo điều, rằng “lý thuyết” như một vật nặng 600 pao đè nặng lên lưng của các nhà hoạt động, và bạn càng chóng thoát khỏi cái khối đó, bạn càng năng động và có hiệu quả.

    Nhưng đó là một sự lầm lẫn hoàn toàn về bản chất chung của học thuyết Marxist. Thực tế, chủ nghĩa Marx đối lập lại với sự giáo điều. Nó là một phương pháp chính xác để hiểu được những quá trình biến đổi diễn ra chung quanh chúng ta.

    Không có gì là cố định và bất biến. Chính những người hình thức mới là những người xem xét xã hội như một chiếc máy ảnh, những người khúm núm trước hoàn cảnh mà họ đối đầu do bởi họ không thấy được tại sao sự vật thay đổi và thay đổi như thế nào. Chính phương pháp như vậy mới dễ dẫn đến sự chấp thuận một cách giáo điều sự vật như cái nó là hay như cái nó đã là, mà không hiểu được tính không thể tránh được của sự biến đổi.

    Do đó học thuyết Marxist là một công cụ hoàn toàn bản chất cho mọi hoạt động trong phong trào lao động. Chúng ta cần hòa hợp một cách có ý thức vào lực lượng đối lập đang làm việc trong cuộc đấu tranh giai cấp, để hướng bản thân mình đến con đường mà những sự biến đang phát triển.

    Tất nhiên không phải lúc nào cũng dễ dàng giải phóng mình khỏi những khuôn khổ tư duy đang chiếm ưu thế trong xã hội tư bản và hấp thụ chủ nghĩa Marx. Như Karl Marx nói, không có con đường cái quan nào trong khoa học. Đôi khi, bạn phải vượt qua con đường gian nan để lĩnh hội được những tư tưởng chính trị mới.

    Và nếu bạn cố gắng thử khám phá mà thiếu đi những sự trợ giúp khoa học, bạn có thể nhiệt tình thoải mái nhưng sớm hay muộn sẽ rơi vào hẻm núi hay đầm lầy và biến mất, như nhiều nhà hoạt động không may mắn đã làm theo năm tháng.

    “The idea of having a compass and a map is that you can take your bearings. You can judge where you are at any particular time, where you are going and where you will be. And that is the fundamental reason why we need to get to grips with Marxist theory. It provides us with an absolutely invaluable guide to action as far as our activities in the labour movement are concerned.”

    Biên dịch: Ngô Minh Tuấn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nét Cơ Bản Của Phương Pháp Biện Chứng
  • Tư Tưởng Biện Chứng Của Hegel Và Sự Kế Thừa Của Triết Học Marx :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Ý Nghĩa Của Phép Biện Chứng Heghen :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Vận Dụng Phép Biện Chứng Duy Vật Trong Quá Trình Xây Dựng Và Thực Hiện Đường Lối Đổi Mới Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Và Chủ Nghĩa Duy Vật Lịch Sử

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Tư Duy Biện Chứng Duy Vật Đối Với Sinh Viên Đại Học Nước Ta
  • Phép Biện Chứng Và Tư Duy Biện Chứng
  • Luận Văn Tiểu Luận Bàn Luận Về Vấn Đề Đổi Mới Toàn Diện Nội Dung Và Phương Pháp Dạy Học Ở Bậc Học Phổ Thông Trên Quan Điểm Biện Chứng
  • Hãy Nêu Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Nguyên Lý Biện Chứng Mác Xít?
  • Lịch Sử Phát Triển Của Phép Biện Chứng Trong Triết Học
  • a) Chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng duy vật và lý luận nhận thức duy vật biện chứng

    * Chủ nghĩa duy vật biện chứng:

    Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là hai trường phái triết học lớn trong lịch sử triết học, giữa chúng có sự đối lập căn bản trong quan niệm về nguồn gốc, bản chất và tính thống nhất của thế giới. Theo quan điểm duy vật: nguồn gốc, bản chất và tính thống nhất của thế giới là vật chất, còn theo quan điểm duy tâm thì đó là ý thức (hay tinh thần).

    Chủ nghĩa duy vật đã trải qua hàng nghìn năm phát triển, từ chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại đến chủ nghĩa duy vật siêu hình thời cận đại (các nước Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII) và sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập.

    Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới biểu hiện rất đa dạng, phong phú nhưng đều có chung bản chất vật chất. Vậy, vật chất là gì? V.I. Lênin định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học, dùng để chỉ thực tế khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”‘.

    Định nghĩa trên có hai nội dung cơ bản:

    Thứ nhất, với tư cách là “phạm trù triết học” (phân biệt với các khái niệm hay phạm trù “vật chất” được sử dụng trong các ngành khoa học cụ thể như vật lý học, hóa học, sinh vật học,…) dùng để chỉ “thực tại khách quan”

    – Tức là chỉ tất thảy mọi tồn tại khách quan, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con người. Thực tại đó biểu hiện qua các hình thức cụ thể của nó – đó là các sự vật, hiện tượng tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người, không phụ thuộc vào ý thức của con người.

    Thứ hai, các tồn tại cụ thể của vật chất khi tác động vào giác quan của con người thì có thể tạo ra các cảm giác; chúng được cảm giác của con người chép lại, chụp lại, phản ánh và thông qua sự phản ánh ấy con người có thể nhận thức được sự tồn tại của vật chất. Như vậy, vật chất nhất định phải là cái có trước; còn cảm giác, ý thức của con người là cái có sau, là cái phụ thuộc vào vật chất, chỉ là sự phản ánh đối với vật chất, có nguồn gốc từ vật chất.

    Với định nghĩa trên đã cho thấy, cái căn cứ cơ bản nhất để phân biệt các hiện tượng vật chất với hiện tượng ý thức chính là ở thuộc tính tồn tại khách quan của vật chất, còn ý thức chí là sự phản ánh đối với vật chất, nó phụ thuộc vào vật chất. Với quan niệm đó về vật chất thì khái niệm vật chất trong chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ bao gồm các sự vật, hiện tượng vật lý như điện, từ trường, nguyên tử, vật thể, v.v… mà còn bao gồm cả những tồn tại khách quan của đời sống xã hội – đó là các quan hệ kinh tế trong đời sống xã hội loài người, các quan hệ này cũng tồn tại khách quan, độc lập với ý chí của con người… Cũng do vậy, với quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã xác lập cơ sở lý luận triết học để nghiên cứu trên lập trường duy vật không chỉ về giới tự nhiên mà còn là về đời sống xã hội loài người.

    – Phương thức và hình thức tồn tại cơ bản của vật chất:

    + Vận động của vật chất:

    Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, “vận động là một phương thức tồn tại của vật chất, bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”. Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất nên vận động và vật chất không tách rời nhau. Sự vận động của vật chất là vĩnh viễn. Nguồn gốc vận động của vật chất là sự vận động tự thân, do mâu thuẫn bên trong quyết định; do tác động qua lại giữa các yếu tố trong cùng một sự vật hay giữa các sự vật với nhau.

    Ph. Ăngghen đã chia vận động thành năm hình thức cơ bản là vận động cơ học, lý học, hoá học, sinh học và vận động xã hội. Các hình thức vận động đó khác nhau về chất. Không được quy gộp hay so sánh hình thức vận động này với hình thức vận động khác. Các hình thức vận động có mối liên hệ nhất định, có thể chuyển hoá cho nhau và luôn được bảo toàn. Hình thức vận động cao ra đời từ hình thức vận động thấp. Vận động xã hội là hình thức vận động cao nhất, vì nó là sự vận động các chế độ xã hội thông qua con người. Vận động xã hội bao hàm mọi hình thức vận động khác.

    Vận động là tuyệt đối, đứng im là tương đối là một trong những nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật. Vận động là tuyệt đối vì vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất. Không ở đâu, không lúc nào có vật chất mà lại không có sự vận động.

    Đứng im là tương đối vì nó chỉ xảy ra với một hình thức vận động, có tính chất cá biệt, chỉ xảy ra trong một quan hệ nhất định. Không có đứng im tương đối thì không thể có những sự vật cụ thể, xác định và con người không thể nhận thức được bất cứ cái gì. Trong đứng im vẫn có vận động, nên đứng im là tương đối.

    Ý nghĩa phương pháp luận: cho ta cách nhìn sự vật, hiện tượng trong trạng thái động; không cứng nhắc, cố định khi tình hình đã thay đổi.

    + Không gian và thời gian:

    Khái niệm không gian dùng để chỉ vị trí tồn tại của sự vật, hiện tượng và kết cấu hình dạng của chúng; còn khái niệm thời gian dùng để chỉ quá trình vận động, biến đổi của các sự vật, hiện tượng.

    Không gian, thời gian là thuộc tính cố hữu của vật chất nên nó gắn liền với vật chất vận động. Vật chất vận động là vận động trong không gian và thời gian. “Các hình thức tồn tại cơ bản của vật chất là không gian và thời gian. Và vật chất tồn tại ngoài thời gian cũng hoàn toàn vô lý như tồn tại ngoài không gian” Không gian, thời gian tồn tại khách quan và vô cùng, vô tận. Tính vô tận của không gian được xác định từ sự có hạn của các sự vật riêng lẻ. Tính vô hạn của thời gian được xác định từ sự có hạn của các quá trình riêng lẻ. Không gian xã hội là hoạt động sống của con người trong các chế độ xã hội. Thời gian xã hội là thước đo về sự biến đổi của quá trình xã hội, có đặc điểm là trải qua không đều vì tuỳ thuộc vào tính chất tiến bộ hay lạc hậu của chế độ xã hội.

    Ý nghĩa phương pháp luận: Muốn nhận thức đúng sự vật, hiện tượng, nhất thiết phải có quan điểm lịch sử cụ thể, xem xét nó trong không gian, thời gian nhất định, đồng thời phải dự báo dự đoán sự vận động của sự vật, hiện tượng trong tương lai.

    – Tính thống nhất của thế giới:

    Tính thống nhất của thế giới là ở tính vật chất của nó. Tính chất ấy tồn tại khách quan, độc lập với ý thức. Thế giới vật chất là vô tận, vận động, chuyển hoá lẫn nhau. Tất cả đều là nguyên nhân, đều là kết quả của nhau, đều có nguồn gốc vật chất. Mỗi lĩnh vực của giới tự nhiên hay xã hội dù hình thức biểu hiện ở những dạng cụ thể khác nhau chúng đều là vật chất, có nguồn gốc vật chất; đều có liên hệ, kết cấu và đều chịu chi phối bởi những quy luật chung, khách quan của thế giới vật chất.

    Các học thuyết về khoa học tự nhiên như thuyết tiến hóa của các loài, học thuyết về tế bào, học thuyết tiến hóa và bảo toàn năng lượng… đã chứng minh thế giới có các mối liên hệ với nhau và thống nhất với nhau ở tính vật chất. Sự ra đời chủ nghĩa duy vật biện chứng; phép biện chứng duy vật, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật lịch sử chứng minh xã hội loài người ra đời từ tự nhiên, là sự phát triển liên tục của tự nhiên đã khẳng định tính thống nhất của thế giới ở tính vật chất của nó không chỉ trong tự nhiên, mà cả trong xã hội.

    – Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về ý thức:

    + Nguồn gốc và bản chất của ý thức:

    Với nghĩa bao quát nhất, khái niệm ý thức dùng để chỉ toàn bộ đời sống tinh thần, là sự phản ánh năng động sáng tạo hiện thực khách quan của con người, trong đó gồm ba yếu tố cơ bản nhất là tri thức, tình cảm và ý chí của con người.

    Ý thức ra đời từ hai nguồn gốc: nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội:

    Nguồn gốc tự nhiên của ý thức từ hai yếu tố là bộ óc người và thế giới khách quan. Khoa học tự nhiên đã chứng minh con người là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của giới tự nhiên, là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên, con người với bộ não phát triển cao, từ đó ra đời ý thức. Ý thức là thuộc tính của vật chất, nhưng không phải là thuộc tính của mọi dạng vật chất, mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất đặc biệt, được tổ chức cao là bộ óc người. Thế giới khách quan (tự nhiên, xã hội) tồn tại bên ngoài con người là đối tượng phản ánh, là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.

    Nguồn gốc xã hội của ý thức do hai yếu tố là lao động và ngôn ngữ. Bộ não người càng phát triển, khả năng sáng tạo và chinh phục tự nhiên ngày càng cao hơn. Nguồn gốc xã hội có ý nghĩa quyết định sự ra đời của ý thức. Nguồn gốc trực tiếp cho sự ra đời của ý thức là thực tiễn hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội và thực nghiệm khoa học.

    Bản chất của ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào óc người và cải biến đi; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Do tâm, sinh lý, mục đích, yêu cầu, động cơ và điều kiện hoàn cảnh chủ quan của con người khác nhau nên dù cùng hiện thực khách quan nhưng ý thức con người có thể khác nhau.

    Ý nghĩa phương pháp luận: không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tạo điều kiện cung cấp các dưỡng chất cần thiết cho bộ não hoạt động, đồng thời trong hoạt động nhận thức và thực tiễn phải biết phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức để cải biến hiện thực khách quan hiện có, bằng cách không ngừng rèn luyện, nâng cao trình độ thông qua tích lũy kinh nghiệm trong lao động sản xuất và trong cuộc sống.

    + Quan hệ giữa vật chất và ý thức:

    Vật chất quyết định ý thức: Ý thức dù có năng động, có vai trò to lớn đến đâu, xét đến cùng bao giờ cũng do vật chất quyết định. Vật chất là tiền đề, là cơ sở và nguồn gốc cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của ý thức. Điều kiện vật chất thế nào thì ý thức như thế đó. Khi cơ sở, điều kiện vật chất thay đổi thì ý thức cũng thay đổi theo. Vật chất quyết định ý thức là quyết định cá nội dung, bản chất và khuynh hướng vận động, phát triển của ý thức.

    Ý thức tác động trở lại vật chất: Ý thức do vật chất sinh ra và quyết định nhưng ý thức có tác động to lớn đối với vật chất. Ý thức giúp con người hiểu được bản chất, quy luật vận động phát triển của sự vật, hiện tượng để hình thành phương hướng, mục tiêu và những phương pháp, cách thức thực hiện phương hướng, mục tiêu đó. Nhờ có ý thức, con người biết lựa chọn những khả năng phù hợp thúc đẩy sự vật phát triển. Vai trò của ý thức đối với vật chất, thực chất là vai trò hoạt động thực tiễn của con người.

    Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất được thể hiện qua sự định hướng của ý thức đối với hoạt động thực tiễn cải tạo tự nhiên và xã hội. Đồng thời, từ ý thức, con người xây dựng nên các phương pháp cho hoạt động thực tiễn để cải tạo hoàn cảnh khách quan. Có thể khẳng định ý thức, đặc biệt là yếu tố tri thức có vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của một hoạt động thực tiễn.

    Ý nghĩa phương pháp luận: Để đảm bảo sự thành công của hoạt động nhận thức hay thực tiễn, con người phải luôn xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan. Không được lấy mong muốn chủ quan của mình để hành động, dễ dẫn đến sai lầm và thất bại. Mặt khác, cần phải phát huy : năng động chủ quan, tính sáng tạo của con người, phát huy tác động tích cực của ý thức, không trông chờ, ỷ lại trong nhận thức và hành động cải tạo thế giới.

    * Phép biện chứng duy vật:

    Phép biện chứng duy vật là lý luận khoa học về các mối liên hệ phổ biến về sự vận động, phát triển của mọi sự vật, hiện tượng, là những quy luật chung nhất, phổ biến nhất của mọi quá trình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Phép biện chứng duy vật bao gồm hai nguyên lý cơ bản; sáu cặp phạm trù và ba quy luật cơ bản.

    – Hai nguyên lý cơ bản:

    + Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:

    Thế giới có vô vàn các sự vật, hiện tượng nhưng chúng tồn tại trong mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với nhau; tức là chúng luôn luôn tồn tại trong sự quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau và làm biến đổi lẫn nhau. Mặt khác, mỗi sự vật hay hiện tượng của thế giới cũng là một hệ thống, được cấu thành từ nhiều yếu tố, nhiều mặt… tồn tại trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, chi phối và làm biến đổi lẫn nhau.

    Mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng rất đa dạng, muôn hình, muôn vẻ. Có mối liên hệ bên trong là mối liên hệ giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật hay một hệ thống. Có mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa vật này với vật kia, hệ thống này với hệ thống kia. Có mối liên hệ chung, lại có mối liên hệ riêng. Có mối liên hệ trực tiếp không thông qua trung gian lại có mối liên hệ gián tiếp, thông qua trung gian. Có mối liên hệ tất nhiên và ngẫu nhiên; mối liên hệ cơ bản và không cơ bản.v.v…

    Ý nghĩa phương pháp luận: phải có quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử – cụ thể, phải xem xét kỹ các mối liên hệ bản chất, bên trong sự vật, hiện tượng; cần tránh cách nhìn phiến diện, một chiều, chung chung trong việc nhận thức, giải quyết mọi vấn đề trong thực tiễn cuộc sống và công việc.

    + Nguyên lý về sự phát triển:

    Mọi sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động và phát triển không ngừng. Vận động và phát triển không đồng nghĩa như nhau. Có những vận động diễn ra theo khuynh hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện. Có khuynh hướng vận động thụt lùi, đi xuống nhưng nó là tiền đề, là điều kiện cho sự vận động đi lên. Có khuynh hướng vận động theo vòng tròn, lặp lại như cũ.

    Phát triển là khuynh hướng vận động từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện theo chiều hướng đi lên của sự vật, hiện tượng; là quá trình hoàn thiện về chất và nâng cao trình độ của chúng. Phát triển là khuynh hướng chung của thế giới và nó có tính phổ biến, được thể hiện trên mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy.

    Trong tự nhiên có phát triển của giới vô sinh và hữu sinh. Trong xã hội, có phát triển của tiến trình lịch sử xã hội loài người. Xã hội loài người ở thời đại sau bao giờ cũng phát triển cao hơn, tiến bộ hơn xã hội thời đại trước về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá…

    Phát triển trong tư duy là nhận thức con người ngày càng rõ hơn, khám phá ra những điều bí ẩn của thế giới vô cùng, vô tận. Nhận thức của từng người là có hạn, nhận thức của con người là vô hạn. Nhận thức của thế hệ sau, bao giờ cũng kế thừa, phát triển và có những biểu hiện cao hơn thế hệ trước.

    Nguyên nhân của sự phát triển là do sự liên hệ và tác động qua lại giữa các mặt, các yếu tố bên trong của sự vật, hiện tượng, không phải do bên ngoài áp đặt, càng không phải do ý muốn chủ quan của con người quy định. Con người chỉ có thể nhận thức và thúc đẩy hiện thực phát triển nhanh, hoặc chậm lại mà thôi.

    Ý nghĩa phương pháp luận: Nguyên lý về sự phát triển giúp chúng ta nhận thức sự vật, hiện tượng theo xu hướng vận động phát triển, tránh được cách nhìn phiến diện với tư tưởng định kiến, bảo thủ. Là cơ sở khoa học để hình thành tư tưởng lạc quan trước những khó khăn, thất bại trong công việc và cuộc sống, vững tin vào tương lai.

    – Những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật:

    + về nhận thức quy luật:

    Quy luật là những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, bên trong, có tính phổ biến và được lặp đi, lặp lại giữa các mặt, các yếu tố trong cùng một sự vật, hiện tượng, hay giữa các sự vật hiện tượng.

    Trong thế giới khách quan có nhiều quy luật khác nhau. Có những quy luật chung, phổ biến tác động trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy. Có những quy luật riêng, quy luật đặc thù chỉ tác động một hay một số mặt trong một lĩnh vực nào đó. Dù là quy luật tự nhiên hay quy luật xã hội đều có tính khách quan.

    Quy luật tự nhiên diễn ra một cách tự phát, thông qua tác động của lực lượng tự nhiên. Quy luật xã hội, được hình thành và tác động thông qua hoạt động của con người. Quy luật xã hội thường biểu hiện ra như một xu hướng, không biểu hiện theo quan hệ trực tiếp, có tính xác định với từng việc, từng người. Các sự kiện trong đời sống xã hội nếu xảy ra trong thời gian càng dài, không gian càng rộng, lặp đi, lặp lại thì tính quy luật của nó biểu hiện càng rõ.

    Tác động của quy luật xã hội phụ thuộc vào nhận thức và vận dụng của con người. Con người là chủ thể của xã hội và của lịch sử. Không có con người thì không có xã hội và do đó cũng không có quy luật của xã hội, Quy luật của xã hội vừa là tiền đề, vừa là kết quả hoạt động của con người. Con người không thể sáng tạo ra quy luật hay xoá bỏ quy luật theo ý muốn chủ quan của mình.

    Ý nghĩa phương pháp luận: con người nhận thức được quy luật sẽ có thể chủ động vận dụng quy luật, tạo ra những điều kiện thuận lợi, hoặc hạn chế tác hại của quy luật để phục vụ nhu cầu lợi ích của mình.

    + Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đổi lập:

    “Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập” là quy luật về nguồn gốc, động lực cơ bản của mọi sự vận động, phát triển và là hạt nhân của phép biện chứng duy vật.

    Mặt đối lập là những mặt có tính chất trái ngược nhau nhưng chúng tồn tại trong sự quy định lẫn nhau như cực âm và cực dương của mỗi dòng điện, đồng hóa và dị hóa trong mỗi cơ thể sống, cung và cầu các hàng hóa trên thị trường.

    Sự vật, hiện tượng nào cũng là thể thống nhất của các mặt đối lập. Từ mặt đối lập mà hình thành mâu thuẫn biện chứng – mâu thuẫn bao hàm sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Các mặt đối lập liên hệ với nhau, thâm nhập vào nhau, tác động qua lại lẫn nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau, bài trừ, phủ định lẫn nhau.

    Các mặt đối lập trong mỗi sự vật vừa thống nhất lại vừa đấu tranh tác động, bài trừ phủ định nhau. Sự đấu tranh đó đưa đến sự chuyển hoá làm thay đổi mỗi mặt đối lập, hoặc cả hai mặt đối lập, chuyển lên trình độ cao hơn hoặc cả hai mặt đối lập cũ mất đi, hình thành hai mặt đối lập mới. Do đó, có thể nói: sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc và động lực cơ bản của mọi sự vận động và phát triển.

    Sự thống nhất các mặt đối lập là tương đối. Bất cứ sự thống nhất nào cũng là sự thống nhất có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, gắn với đứng im tương đối của sự vật. Đứng im là thời điểm các mặt đối lập có sự phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau. Đây là trạng thái cân bằng giữa các mặt đối lập.

    Đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối vì là các mặt đối lập nó vận động trái chiều nhau, không ngừng tác động, ảnh hưởng đến nhau, làm sự vật, hiện tượng biến đổi, vận động. Kết quả của quá trình đấu tranh giữa các mặt đối lập, mặt đối lập chứa đựng các yếu tố tích cực, tiến bộ nhất định thắng lợi và trở thành nguyên nhân, nguồn gốc của sự phát triển.

    Ý nghĩa của quy luật: Trong nhận thức và thực tiễn phải phát hiện được những mâu thuẫn của sự vật hiện tượng, biết phân loại mâu thuẫn, có các biện pháp để giải quyết mâu thuẫn thích hợp. Phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết mâu thuẫn.

    – Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng thành những sự

    thay đôi về chất và ngược lại:

    “Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại” là quy luật về phương thức cơ bản của mọi sự vận động, phát triển.

    Mỗi sự vật, hiện tượng đều gồm hai mặt đối lập chất và lượng. Chất là chỉ các thuộc tính khách quan, vốn có của các sự vật, hiện tượng; còn lượng là chỉ số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô tồn tại và tốc độ, nhịp điệu biến đổi của chúng.

    Trong mỗi sự vật, hiện tượng, chất và lượng tồn tại trong tính quy định lẫn nhau, không có chất hay lượng tồn tại tách rời nhau. Tương ứng với một lượng (hay một loại lượng) thì cũng có một chất (hay loại chất) nhất định và ngược lại. Vì vậy, những sự thay đổi về lượng đều có khả năng dẫn tới những sự thay đổi về chất tương ứng và ngược lại, những sự biến đổi về chất của sự vật lại có thể tạo ra những khả năng dẫn tới những biến đổi mới về lượng của nó. Sự tác động qua lại ấy tạo ra phương thức cơ bản của các quá trình vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng.

    Sự thống nhất giữa lượng và chất, được thể hiện trong giới hạn nhất định gọi là độ. Độ là giới hạn trong đó có sự thống nhất giữa lượng và chất mà ở đó đã có sự biến đổi về lượng nhưng chưa có sự thay đổi về chất; sự vật khi đó còn là nó, chưa là cái khác. Đến điểm nút, qua bước nhảy bắt đầu có sự thay đổi về chất. Sự vật biến đổi hoàn toàn về chất thành sự vật khác.

    Chất là mặt tương đối ổn định, lượng là mặt thường xuyên biến đổi. Lượng biến đổi mâu thuẫn, phá vỡ chất cũ, chất mới ra đời với lượng mới. Lượng mới lại tiếp tục biến đổi đến giới hạn nào đó lại phá vỡ chất cũ thông qua bước nhảy. Quá trình cứ thế tiếp diễn tạo nên cách thức vận động phát triển thống nhất giữa tính liên tục và tính đứt đoạn trong sự vận động phát triển của sự vật.

    ý nghĩa cùa quy luật: Con người nhận thức và hoạt động thực tiễn phải tích lũy lượng để thực hiện biến đổi về chất (“tích tiểu thành đại”, “góp gió thành bão”) của các sự vật hiện tượng, khắc phục được khuynh hướng chủ quan, duy ý chí, muốn các bước nhảy liên tục. Mặt khác, cần khắc phục tư tưởng hữu khuynh, ngại khó khăn, lo sợ không dám thực hiện những bước nhảy vọt khi có đủ điều kiện. Trong hoạt động thực tiễn, cần tích cực chuẩn bị kỹ mọi điều kiện chủ quan. Khi có tình thế, thời cơ khách quan thì kiên quyết tổ chức thực hiện bước nhảy để giành thắng lợi quyết định.

    + Quy luật phủ định của phủ định:

    “Quy luật phủ định của phủ định” là quy luật về khuynh hướng chung của mọi sự vận động, phát triển.

    Thế giới vật chất tồn tại, vận động phát triển không ngừng. Sự vật hiện tượng nào đó xuất hiện, mất đi, thay thế bằng sự vật, hiện tượng khác. Sự thay thế đó gọi là phủ định.

    Phủ định biện chứng có đặc trưng cơ bản là sự tự phủ định do mâu thuẫn bên trong, vốn có của sự vật; là phủ định gắn liền với sự vận động phát triển. Phủ định biện chứng là phủ định có sự kế thừa yếu tố tích cực của sự vật cũ và được cải biến đi cho phù hợp với cái mới. Không có kế thừa thì không có phát triển nhưng là kế thừa có chọn lọc. Phủ định biện chứng là sự phủ định vô tận. Cái mới phủ định cái cũ, nhưng cái mới không phải là mới mãi, nó sẽ cũ đi và bị cái mới khác phủ định; không có lần phủ định nào là phủ định cuối cùng. Phủ định biện chứng gắn với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể; mỗi loại sự vật có phương thức phủ định riêng. Phủ định trong tự nhiên khác với phủ định trong xã hội và cũng khác với phủ định trong tư duy.

    Sự vật nào vận động phát triển cũng có tính chu kỳ. Sự vật khác nhau thì chu kỳ, nhịp điệu vận động phát triển dài, ngắn khác nhau. Tính chu kỳ của sự phát triển là từ một điểm xuất phát, trải qua một số lần phủ định, sự vật dường như quay trở lại điểm xuất phát nhưng cao hơn. Mỗi lần phủ định là kết quả của sự đấu tranh và chuyển hoá các mặt đối lập. Phủ định lần thứ nhất làm cho sự vật trở thành cái đối lập với chính nó. Phủ định lần thứ hai sự vật mới ra đời, đối lập với cái đối lập, nên sự vật dường như quay lại cái cũ, nhưng trên cơ sở cao hơn.

    Phép biện chứng duy vật khẳng định vận động phát triển đi lên, là xu hướng chung của thế giới, nhưng không diễn ra theo đường thẳng, mà diễn ra theo đường xoáy ốc quanh co phức tạp. Trong điều kiện nhất định, cái cũ tuy đã cũ, nhưng còn có những yếu tố vẫn mạnh hơn cái mới. Cái mới còn non nớt chưa có khả năng thắng ngay cái cũ. Có thể có lúc, có nơi, cái mới hợp với quy luật của sự phát triển, nhưng vẫn bị cái cũ gây khó khăn, cản bước phát triển.

    * Lý luận nhận thức:

    – Bản chất của nhận thức:

    Nhận thức là một loại hoạt động của con người, là quá trình phản ánh chủ động, tích cực, sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc người. Hoạt động đó được thực hiện thông qua hoạt động thực tiễn; lấy thực tiễn làm cơ sở, làm mục đích, làm động lực và làm tiêu chuẩn xác định tính đúng đắn của các tri thức ấy.

    Chủ thể nhận thức là con người với bản chất xã hội nên quá trình nhận thức thường bị chi phối bởi điều kiện lịch sử, về kinh tế, chính trị – xã hội, truyền thống văn hoá; đặc điểm tâm sinh lý, đặc biệt là năng lực nhận thức, tư duy của chủ thể.

    Khách thế nhận thức là hiện thực khách quan trong phạm vi hoạt động của con người. Nhận thức là sự phản ánh của chủ thể đối với khách thể. Không có sự vật, hiện tượng nào trong thế giới khách quan mà con người không thể biết được. Những tri thức của con người về thế giới được thực tiễn kiểm nghiệm là tri thức xác thực, tin cậy.

    Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan, nhưng đó không phải là quá trình phản ánh thụ động, tức thì mà là quá trình phản ánh chủ động, tích cực, có sáng tạo; từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ nông đến sâu, từ hiện tượng đến bản chất.

    Ý nghĩa phương pháp luận: Nhận thức là quá trình phản ánh những cái đã và đang tồn tại mà còn phản ánh những cái sẽ tồn tại, kết quả của nó là tri thức, hiểu biết về sự vật, hiện tượng có thể giúp con người thực hiện có hiệu quả mục tiêu, kế hoạch của mình. Điều này đòi hỏi tinh thần không ngừng học hỏi, tích lũy kiến thức trong suốt cuộc đời, như ông cha ta đã đúc kết: ‘Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”.

    – Các giai đoạn của nhận thức:

    Nhận thức là quá trình biện chứng từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và đến thực tiễn…

    + Trực quan sinh động (hay nhận thức cảm tính) là giai đoạn đầu của quá trình nhận thức, phản ánh trực tiếp hiện thực khách quan bằng các giác quan, qua các hình thức cơ bản là cảm giác, tri giác và biểu tượng.

    Cảm giác là hình thức đầu tiên của phản ánh hiện thực, là kết quả tác động của sự vật vào giác quan con người. Nó chỉ phản ánh được những mặt, những thuộc tính riêng lẻ của sự vật như nóng, lạnh, màu sắc, mùi vị.. Cảm giác có vai trò to lớn trong quá trình nhận thức và thay đổi khi được rèn luyện.

    Tri giác là sự phản ánh đối tượng trong tính toàn vẹn, trực tiếp tổng hợp nhiều thuộc tính khác nhau của sự vật do cảm giác đem lại. Từ tri giác, nhận thức cảm tính chuyển lên hình thức cao hơn là biểu tượng.

    Biểu tượng là hình ảnh về sự vật được tái hiện trong đầu một cách khái quát, khi không còn tri giác trực tiếp với sự vật. Nó chỉ giữ lại những nét chung về bề ngoài của sự vật. Biểu tượng cũng như cảm giác, tri giác, đều là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, nhưng biểu tượng phản ánh sự vật một cách gián tiếp và có thể sáng tạo ra một biểu tượng khác tương tự.

    Đặc điểm chung của giai đoạn nhận thức cảm tính là phản ánh có tính chất hiện thực, trực tiếp, không thông qua khâu trung gian. Sự phản ánh đó tuy phong phú, sinh động, nhưng chỉ là phản ánh bề ngoài, hiện tượng của sự vật.

    + Tư duy trừu tượng (hay nhận thức lý tính) là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, dựa trên cơ sở tài liệu do trực quan sinh động đưa lại. Chỉ qua giai đoạn này, nhận thức mới nắm được bản chất, quy luật của hiện thực. Tư duy trừu tượng được biểu hiện dưới các hình thức cơ bản: khái niệm, phán đoán, suy lý.

    Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng phản ánh cái chung, bản chất, tất yếu của sự vật. Khái niệm được hình thành là từ hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người. Khái niệm được diễn đạt bằng ngôn ngữ là từ ngữ, đó là vật liệu đầu tiên để xây dựng nên những tri thức khoa học. Khi vận dụng, phải linh hoạt, mềm dẻo cho phù hợp.

    Phán đoán là một hình thức của tư duy trừu tượng, dựa trên sự liên kết, vận dụng những khái niệm đã có, nhằm khẳng định hay phủ định, một hay nhiều thuộc tính sự vật. Mỗi phán đoán được biểu đạt bằng một “mệnh đề” nhất định.

    Phán đoán cũng không ngừng vận động, phát triển từ đơn giản đến phức tạp, gắn liền với quá trình phát triển của thực tiễn, nhận thức, nên nó là hình thức để biểu đạt quy luật khách quan của sự vật, hiện tượng. Phán đoán có nhiều loại như phán đoán khẳng định, phủ định, đơn nhất, đặc thù…

    Suy lý là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng. Nếu như phán đoán dựa trên sự liên kết các khái niệm, thì suy lý dựa trên cơ sở những phán đoán đã được xác lập và những mối liên hệ có tính quy luật của những phán đoán đó, để đi đến những phán đoán mới có tính chất kết luận.

    Suy lý không chỉ cho phép ta biết được những cái đã, đang xảy ra, mà còn cho biết cả những cái sẽ xảy ra. Nếu có sự phân tích sâu sắc, toàn diện, nắm chắc được quy luật vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng thì có thể dự báo được tương lai của chúng.

    Giai đoạn nhận thức lý tính tuy không phản ánh trực tiếp hiện thực khách quan, nhưng phản ánh trừu tượng, khái quát, vạch ra bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng. Đó là nhận thức đáng tin cậy, gần với chân lý khách quan, đáp ứng được mục đích của nhận thức.

    Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là hai giai đoạn của một quá trình nhận thức. Tuy chúng có sự khác nhau về vị trí, mức độ và phạm vi phản ánh, nhưng có liên hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Mỗi giai đoạn đều có mặt tích cực và mặt hạn chế. Giai đoạn nhận thức cảm tính, tuy nhận thức hiện thực trực tiếp thế giới khách quan, nhưng đó chỉ là nhận thức những hiện tượng bề ngoài, giản đơn, nông cạn. Còn nhận thức lý tính, tuy không phản ánh trực tiếp sự vật, hiện tượng, nhưng vạch ra những mối liên hệ bản chất, tất yếu bên trong, vạch ra quy luật vận động phát triển của sự vật, hiện tượng. Nhận thức cảm tính là tiền đề, điều kiện của nhận thức lý tính. Nhận thức lý tính không thể thực hiện gì hết nếu thiếu tài liệu của nhận thức cảm tính đưa lại. Ngược lại, nhận thức lý tính sau khi đã hình thành thì tác động trở lại nhận thức cảm tính làm cho nó nhận thức nhạy bén hơn, chính xác hơn trong quá trình phản ánh hiện thực. Tư duy trừu tượng phản ánh gián tiếp hiện thực nên dễ có nguy cơ phản ánh sai lạc. Do vậy, nhận thức của tư duy trừu tượng phải quay về thực tiễn, để thực tiễn kiểm nghiệm, từ đó mà phân biệt giữa nhận thức đúng với nhận thức sai.

    Như vậy, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn, là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý khách quan. Trong đó, thực tiễn vừa là tiền đề xuất phát, vừa là điểm kết thúc của một vòng khâu, một quá trình nhận thức. Kết thúc vòng khâu này lại là điểm khởi đầu của vòng khâu khác cao hơn. Đó là quá trình vô tận, liên tục của sự nhận thức chân lý khách quan.

    – Thực tiễn và vai trò của nó đổi với nhận thức:

    + Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất, cảm tính, có tính chất lịch sử

    – xã hội của con người nhằm cải tạo thế giới khách quan để phục vụ nhu cầu của con người. Hoạt động thực tiễn rất phong phú nhưng có ba hình thức cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động chính trị – xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học. Trong đó, hoạt động sản xuất ra của cải vật chất là hoạt động cơ bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội.

    + Vai trò của thực tiễn:

    Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức. Thực tiễn cung cấp những tài liệu hiện thực, khách quan, làm cơ sở để con người nhận thức; trực tiếp tác động vào thế giới khách quan, qua đó đối tượng bộc lộ ra những đặc trưng, thuộc tính, những quy luật vận động để con người nhận thức được.

    Thực tiễn là động lực và mục đích của nhận thức. Thực tiễn thường xuyên vận động, phát triển nên nó luôn luôn đặt ra những nhu cầu, nhiệm vụ, phương hướng mới cho nhận thức. Hoạt động của con người, bao giờ cũng có mục đích, yêu cầu và tổ chức thực hiện mà không phải lúc nào cũng có sẵn trong đầu óc. Nếu mục đích, yêu cầu, cách thức thực hiện đúng thì hoạt động thực tiễn thành công. Nhận thức của con người không chỉ để giải thích thế giới mà là để cải tạo thế giới theo nhu cầu, lợi ích cùa mình. Thực tiễn là động lực và mục đích của nhận thức.

    Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Thực tiễn cao hơn nhận thức vì nó vừa là hiện thực phong phú, vừa có tính phổ biến là hoạt động vật chất khách quan, vừa mang tính lịch sử – xã hội, vì vậy có thể chứng minh tính đúng, sai của nhận thức con người.

    + Ý nghĩa phương pháp luận: Phải đảm bảo sự “thống nhất lý luận và thực tiễn”, lý luận phải xuất phát từ thực tiễn, luôn có ý thức tự giác kiểm tra mọi nhận thức của mình thông qua thực tiễn, không cho phép con người biến một hiểu biết bất kỳ nào đó thành chân lý vĩnh viễn, bất biến cho mọi lúc, mọi nơi, đồng thời phải chống mọi biểu hiện của bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.

    b) Chủ nghĩa duy vật lịch sử

    Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một nội dung lý luận triết học đặc biệt quan trọng trong chủ nghĩa Mác – Lênin, đó là phần lý luận triết học về xã hội và lịch sử nhân loại nhằm chỉ rõ cơ sở vật chất của đời sống xã hội và những quy luật cơ bản của quá trình vận động, phát triển của xã hội.

    * Vai trò của sản xuất và phương thức sản xuất trong đời sống xã hội:

    – Vai trò của sản xuất:

    Theo quan điểm duy vật lịch sử, con người sáng tạo ra lịch sử và là chủ thể cùa lịch sử. Con người có ba hoạt động sản xuất cơ bản: sản xuất ra của cải vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra chính bản thân con người. Để tồn tại và phát triển, trước tiên con người phải ăn, uống, ở và mặc trước khi có thể lo chuyện làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo (sản xuất tinh thần), sinh con đẻ cái… Muốn vậy, họ phải lao động sản xuất ra của cải vật chất.

    Sản xuất vật chất là yêu cầu khách quan, là cơ sở của sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội; từ đó mới hình thành các quan điểm tư tưởng,quan hệ xã hội và các thiết chế xã hội khác nhau.

    Sản xuất vật chất là cơ sở của mọi sự tiến bộ xã hội. Trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, con người tiến hành sản xuất vật chất với cách thức khác nhau. Yếu tố để xem xét sản xuất vật chất ở một giai đoạn nhất định của lịch sử xã hội là phương thức sản xuất.

    – Vai trò của phương thức sản xuất:

    Phương thức sản xuất là cách thức tiến hành sản xuất vật chất trong một giai đoạn nhất định của lịch sử. Mỗi phương thức sản xuất gồm hai mặt cấu thành là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

    Lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, là trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là mặt tự nhiên của phương thức sản xuất. Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động. Người lao động với thể lực và trí lực của mình tích cực tham gia vào quá trình sản xuất, đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất. Tư liệu sản xuất bao gồm đối tượng lao động và công cụ lao động, trong đó công cụ lao động là yếu tố động nhất, luôn đổi mới theo tiến trình phát triển khách quan của sản xuất vật chất.

    Ý nghĩa phương pháp luận để phát huy hiệu quả của phương thức sản xuất mới, bên cạnh việc đầu tư, trang bị máy móc công cụ hiện đại, phải không ngừng nâng cao trình độ tay nghề, ý thức tổ chức kỷ luật của người lao động phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của quá trình sản xuất hiện nay.

    Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, là mặt xã hội của phương thức sản xuất. Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong quá trình tổ chức, quản lý và phân công lao động; quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động. Ba mặt đó có quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất đóng vai trò quyết định các mối quan hệ khác.

    Ý nghĩa phương pháp luận: quá trình sản xuất hiện nay đang biến đổi nhanh chóng, vì vậy cần chú ý đổi mới quá trình tổ chức, quản lý, phân công lao động phù hợp, công khai minh bạch trong phân phối là những động lực thúc đẩy sản xuất phát triển.

    Phương thức sản xuất quyết định tính chất của xã hội. Xã hội là do những con người với các hoạt động của mình tạo ra. Nhưng con người không thể tuỳ ý lựa chọn chế độ xã hội cho mình. Những vĩ nhân hay nhà nuớc, những tư tưởng, học thuyết khoa học không thể áp đặt được chế độ xã hội. Sự ra đời một chế độ xã hội trong lịch sử do yếu tố hoàn toàn khách quan là phương thức sản xuất quyết định. Phương thức sản xuất phong kiến quyết định tính chất của xã hội phong kiến. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa quyết định tính chất của chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa…vv.

    Phương thức sản xuất quyết định tổ chức kết cấu của xã hội. Tổ chức kết cấu của xã hội bao gồm các tổ chức kinh tế, quan điểm tư tưởng, giai cấp, đảng phái, nhà nước, thiết chế xã hội và các tổ chức chính trị – xã hội khác. Tổ chức kết cấu ấy không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người mà do phương thức sản xuất quyết định. Mỗi phương thức sản xuất khác nhau sinh ra một kiểu tổ chức kết cấu xã hội khác nhau.

    Phương thức sản xuất quyết định sự chuyển hoá của xã hội loài người qua các giai đoạn lịch sử khác nhau. Lịch sử xã hội loài người là lịch sử phát triển của sản xuất, thực chất là sự phát triển của các phương thức sản xuất.

    Khi phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời thì chế độ xã hội cũ mất theo và chế độ xã hội mới sẽ ra đời. Loài người đã trải qua năm phương thức sản xuất, tương ứng với nó là năm chế độ xã hội là chế độ cộng sản nguyên thuỷ, chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và cuối cùng là chế độ cộng sản chủ nghĩa (giai đoạn thấp của nó là xã hội chủ nghĩa).

    Ý nghĩa phương pháp luận: Khi nghiên cứu mọi hiện tượng xã hội phải đi tìm nguồn gốc phát sinh từ phương thức sản xuất, từ tất yếu kinh tế. Nhận thức đúng vai trò của phương thức sản xuất trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta chủ trương phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với kinh tế tri thức.

    Những quy luật cơ bản của sự vận động và phát triển xã hội:

    – Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:

    Lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của mỗi quá trình sản xuất, bao gồm các yếu tố tư liệu sản xuất và người lao động, trong đó người lao động là yếu tố cơ bản nhất, giữ vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất; còn quan hệ sản xuất là mối quan hệ xã hội giữa con người với nhau trong quá trình sản xuất, đóng vai trò là hình thức kinh tế của quá trình ấy, bao gồm các quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức – quản lý quá trình sản xuất và quan hệ phân phối kết quả của quá trình sản xuất đó.

    Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất:

    Trong mỗi phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất gắn bó hữu cơ với nhau. Lực lượng sản xuất là nội dung vật chất, quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của phương thức sản xuất. Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ nội dung và hình thức của quá trình sản xuất. Lực lượng sản xuất như thế nào về trình độ thì quan hệ sản xuất phù hợp như thế ấy. Trình độ lực lượng sản xuất thủ công, với công cụ thô sơ có tính chất cá nhân thì phù hợp với nó là quan hệ sản xuất cá thể. Khi trình độ lực lượng sản xuất thay đổi thì quan hệ sản xuất cũng thay đổi theo. Do con người luôn tích luỹ sáng kiến và kinh nghiệm, luôn cải tiến công cụ và phương pháp sản xuất nên lực lượng sản xuất luôn phát triển.

    Ngày nay, khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức phát triển đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Lực lượng sản xuất phát triển đến mức độ nào đó mà quan hệ sản xuất cũ không còn phù hợp nữa nó sẽ cản trở, hoặc mâu thuẫn gay gắt với lực lượng sản xuất. Để tiếp tục phát triển, lực lượng sản xuất phải phá vỡ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độ mới của lực lượng sản xuất.

    Vai trò tác động trở lại cùa quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất:

    Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì nó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Quan hệ sản xuất không phù hợp thì nó kìm hãm, thậm chí phá vỡ lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất là phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất khi nó tạo ra những tiền đề, những điều kiện cho các yếu tố của lực lượng sản xuất (người lao động, công cụ, đối tượng lao động) kết hợp với nhau một cách hài hoà để sản xuất phát triển và đưa lại năng suất lao động cao.

    Sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất không phải chỉ thực hiện một lần là xong mà diễn ra cả một quá trình. Mỗi khi sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất bị phá vỡ là mỗi lần điều chỉnh, thay bằng sự phù hợp khác cao hơn.

    Ý nghĩa phương pháp luận: Muốn xã hội phát triển, tiến bộ phải phát triển sản xuất ra của cải vật chất. Để phát triển sản xuất phải thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Phải ứng dụng những công cụ lao động tiên tiến vào sản xuất, không ngừng nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động. Phải làm rõ các quan hệ sở hữu, cách thức tổ chức quản lý quá trình sản xuất và các hình thức phân phối phù hợp thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển không ngừng.

    – Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng:

    Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một hình thái kinh tế – xã hội nhất định, bao gồm quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất còn lại của hình thái kinh tế – xã hội trước và quan hệ sản xuất của hình thái kinh tế – xã hội tương lai. Trong ba loại quan hệ sản xuất đó thì quan hệ sản xuất thống trị là chủ đạo, chi phối các quan hệ sản xuất khác và là đặc trưng của cơ sở hạ tầng đó. Cơ sở hạ tầng có tính giai cấp.

    Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm tư tưởng chính trị, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo, triết học… và những thiết chế tương ứng như Nhà nước, đảng phái, giáo hội, các tổ chức quần chúng…, được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định và phản ánh cơ sở hạ tầng đó.

    Mỗi bộ phận của kiến trúc thượng tầng có đặc trưng, quy luật vận động và mối liên hệ riêng với cơ sở hạ tầng và liên hệ tác động lẫn nhau. Trong xã hội có giai cấp, kiến trúc thượng tầng có tính chất giai cấp.

    Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng:

    Cơ sở hạ tầng thế nào thì kiến trúc thượng tầng được xác lập tương ứng như thế. Quan hệ sản xuất nào thống trị thì cũng tạo ra kiến trúc thượng tầng chính trị tương ứng như vậy. Khi cơ sở hạ tầng biến đổi, kiến trúc thượng tầng biến đổi theo. Biến đổi cơ sở hạ tầng, sớm hay muộn cùng dẫn tới sự biến đổi của kiến trúc thượng tầng. Cơ sở hạ tầng cũ mất đi, cơ sở hạ tầng mới ra đời, sớm hay muộn kiến trúc thượng tầng cũ cũng mất đi và kiến trúc thượng tầng mới ra đời. Kiến trúc thượng tầng có tính độc lập tương đối. Khi cơ sở hạ tầng mất đi nhưng các bộ phận của kiến trúc thượng tầng mất theo không đều, có bộ phận vẫn tồn tại, thậm chí nó còn được sử dụng.

    Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại, bảo vệ cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó. Kiến trúc thượng tầng là tiên tiến khi nó bảo vệ cơ sở hạ tầng tiến bộ và tác động thúc đẩy cơ sở hạ tầng phát triển. Kiến trúc thượng tầng bảo thủ, lạc hậu sẽ tác động kìm hãm nhất thời sự phát triển cơ sở hạ tầng.

    Mỗi bộ phận của kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng theo hình thức và mức độ khác nhau, trong đó Nhà nước có vai trò quan trọng và có hiệu lực mạnh nhất vì Nhà nước là công cụ bạo lực, hiệu quả của giai cấp thống trị xã hội.

    Ý nghĩa phương pháp luận: Vì kinh tế quyết định chính trị, do vậy muốn hiểu đúng các hiện tượng chính trị, văn hóa, xã hội thì phải xem xét chúng từ cơ sở kinh tế đã làm này sinh các hiện tượng đó; nhưng chính trị,văn hóa, xã hội lại có khả năng tác động trở lại kinh tế, vì vậy cần phải phát huy vai trò tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của chúng tới cơ sở kinh tế.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Biện Chứng Và Các Phương Pháp Nhận Thức Đặc Thù Khoa Học Chung
  • Tìm Hiểu Phép Biện Chứng Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Triết Học Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Thực Chất Và Ý Nghĩa Của Tư Tưởng Triết Học Hồ Chí Minh
  • Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100