Người Cán Bộ Quản Lý Lãnh Đạo Và Các Kỹ Năng Quản Lý

--- Bài mới hơn ---

  • Lãnh Đạo Là Gì? Làm Thế Nào Để Phân Biệt Giữa Lãnh Đạo Và Quản Lý
  • Lãnh Đạo Và Nhà Quản Trị
  • Cao Trung Hiếu: Phân Biệt Giữa Quản Trị, Quản Lý Và Lãnh Đạo
  • Chiến Lược Marketing Phân Biệt Và Không Phân Biệt
  • Phân Biệt Giá (Price Discrimination) Theo Quan Điểm Marketing Là Gì?
  • NGƯỜI CÁN BỘ QUẢN LÝ LÃNH ĐẠO VÀ CÁC KỸ NĂNG QUẢN LÝ

    Người cán bộ quản lý, lãnh đạo

    Loại cán bộ quản lý

    Người cán bộ quản lý theo nghĩa rộng bao gồm:

    Những cán bộ quản lý lãnh đạo.

    Những người tham gia, hoạt động, làm việc quản lý.

    Vai trò, nhiệm vụ của người cán bộ quản lý l∙nh đạo

    Trong một tổ chức người lãnh đạo là người có vai trò quan trọng quyết định sự thành bại của tổ chức. Vai trò đó được thể hiện trong các nhiệm vụ chính của người lãnh đạo sau:

    Xác định phương hướng, mục đích của cơ quan tổ chức và thiết lập chiến lược hoạt động để đạt được mục đích.

    Huy động và sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên để thực hiện mục đích.

    Dự báo những thay đổi, quá trình phát triển và vạch ra các kế hoạch ngắn hạn và dài hạn.

    Xây dựng hệ thống thông tin báo cáo hợp lý.

    Xây dựng các quy định, luật lệ và điều kiện làm việc tạo môi trường thuận lợi cho các thành viên trong tổ chức hoàn thành nhiệm vụ và đáp ứng nhu cầu của họ.

    Xây dựng chế độ động viên khen thưởng kịp thời.

    Đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ từng giai đoạn cụ thể.

    Để hoàn thành nhiệm vụ trên đòi hỏi người lãnh đạo cần có trình độ và kỹ năng nhất định trong công tác quản lý lãnh đạo .

    Người lãnh đạo phải tập hợp được những cán bộ dưới quyền, tạo điều kiện để họ tham gia tích cực vào mọi hoạt động của tổ chức.

    Kỹ năng và phẩm chất Người cán bộ quản lý, lãnh đạo

    Kỹ năng quản lý, lãnh đạo

    Kỹ năng của người lãnh đạo và người quản lý khó có thể tách biệt một cách rạch ròi nhưng trên cơ sở sự khác nhau giữa khái niệm lãnh đạo và quản lý, chúng ta cũng có thể tách biệt kỹ năng của hai loại cán bộ này như sau:

    Ba nhóm kỹ năng lãnh đạo

    Chẩn đoán (dự đoán, tiên đoán) là khả năng thuộc về nhận thức hoặc lý trí. Đó là khả năng hiểu được tình huống hiện tại và nhận thức được những gì có thể hy vọng xảy ra trong tương lai.

    Thích ứng là khả năng thuộc về hành vi. Nó bao hàm việc thích ứng các hành vi của người lãnh đạo và các nguồn lực khác sẵn có để đáp ứng được những bất ngờ của tình huống và để có thể giảm bớt sự cách biệt giữa tình huống hiện tại và mục đích hay mục tiêu muốn đạt được.

    Giao tiếp là khả năng xử lý làm cho mọi người dễ dàng hiểu và chấp nhận.

    Ba nhóm kỹ năng quản lý

    Kỹ năng kỹ thuật là khả năng sử dụng tri thức, các phương pháp, kỹ thuật và thiết bị cần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụ nhất định có được từ kinh nghiệm, giáo dục và đào tạo.

    Kỹ năng làm việc với con người (Human skill) là năng lực và cách nhìn khi làm việc với con người và thông qua con người, bao gồm cả cách thức động viên thúc đẩy và áp dụng phương pháp lãnh đạo hữu hiệu.

    Kỹ năng lý luận ( nhận thức) là khả năng hiểu được sự phức tạp của toàn thể tổ chức và biết được vị trí mà hoạt động riêng của nó phù hợp với tổ chức.

    Khi tiến từ cấp quản lý thấp nhất tới các chức vụ cao nhất, ba nhóm kỹ năng trên được pha trộn theo tỷ lệ rất khác nhau cho những người quản lý ở các cấp khác nhau. Để quản lý có hiệu quả, cấp quản lý càng cao có xu hướng càng ít cần đến kỹ năng kỹ thuật nhưng cần nhiều kỹ năng lý luận. Các cán bộ điều hành ở cấp thấp có thể cần nhiều kỹ năng kỹ thuật vì họ thường phải đào tạo và hỗ trợ các cán bộ kỹ thuật và nhân viên dưới quyền. Ngược lại, các cán bộ quản lý cấp cao trong một số tổ chức y tế cụ thể lại thường không cần biết làm thế nào để thực hiện tất cả các công việc cụ thể ở mức vận hành. Tuy nhiên, họ phải có khả năng theo dõi để các chức năng này tác động lẫn nhau nhằm hoàn thành các mục tiêu của toàn thể tổ chức.

    Những kỹ năng quản lý cụ thể

    Kỹ năng nhận thức

    Là khả năng thấy được “bức tranh khái quát”, nhận ra được những nhân tố chính trong mỗi hoàn cảnh; nhận thức được những mối quan hệ giữa các phần tử.

    Kỹ năng kỹ thuật ( technological skills)

    Là kiến thức và tài năng trong các hoạt động, bao gồm phương pháp, quá trình và quy trình. Như vậy nó gắn công việc với các công cụ và các kỹ thuật cụ thể. Như vậy kỹ năng kỹ thuật chính là:

    Hiểu biết các yếu tố kỹ thuật phong phú của hệ thống kỹ thuật.

    Sử dụng các kỹ thuật thích hợp, hợp lý.

    Có khả năng về các kỹ thuật chuyên biệt.

    Là khả năng có thể làm việc được với mọi người, đó là năng lực hợp tác, là khả năng tham gia vào công việc tập thể, khả năng tạo ra một môi trường trong đó mọi người cảm thấy an toàn và dễ dàng bộc bạch ý kiến của mình.

    Kỹ năng thiết kế

    Khả năng thực hành xây dựng giải pháp khả thi cho mỗi vấn đề, căn cứ vào thực tế mà người quản lý gặp phải.

    Khả năng phân tích và giải quyết vấn đề

    Khả năng xác định rõ các vấn đề, phân tích được các tình huống phức tạp và qua việc giải quyết những vấn đề vướng mắc, có khả năng làm lộ ra những cơ hội đang tồn tại và khả năng thực thi các giải pháp của vấn đề.

    Kỹ năng quản lý hoạt động chăm sóc sức khoẻ

    Kỹ năng lập kế hoạch; kỹ năng thực hiện kế hoạch; kỹ năng giám sát; đánh giá v.v…

    Kỹ năng ra quyết định (decision making)

    Kỹ năng ra quyết định được coi là khả năng làm việc sáng tạo của người quản lý chủ yếu là để giải quyết các vấn đề nẩy sinh trong quá trình quản lý. Để có kỹ năng này người quản lý phải có nhiều kỹ năng khác đã được nêu ở trên.

    Phẩm chất của người quản lý, l∙nh đạo

    Có 3 loại phẩm chất

    Phẩm chất chính trị.

    Phẩm chất cá nhân.

    Phẩm chất công tác.

    Các phẩm chất cơ bản cần có của người quản lý, lãnh đạo

    Có lòng say mê, có mục tiêu rõ ràng, có định hướng trong hoạt động

    Bất kỳ một một người nào muốn tiến bộ cũng cần có mục tiêu lý tưởng phấn đấu của mình. Việc xác định rõ ràng mục tiêu hoạt động và phấn đấu để đạt được mục tiêu của mình chính là động lực quan trọng bậc nhất của người quản lý lãnh đạo. Mục tiêu và lý tưởng chính đáng của người lãnh đạo là phấn đấu để tổ chức của mình đạt được mục tiêu chiến lược của tổ chức. Để phấn đấu vì mục tiêu chung người lãnh đạo phải đặt lợi ích của tổ chức lên trên lợi ích cá nhân, luôn tìm tòi, sáng tạo, vượt qua các khó khăn thử thách trong công việc. Mục tiêu và lý tưởng của người lãnh đạo không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của chính họ mà còn ảnh hưởng đến các cá nhân cũng như nhóm và tập thể trong tổ chức, đó cũng chính là động lực thúc đẩy tổ chức phát triển.

    Làm việc có tính nguyên tắc

    Tính nguyên tắc thể hiện trong việc tôn trọng các luật lệ trong tổ chức, gương mẫu thực hiện các luật lệ quy định. Đảm bảo nguyên tắc đối xử công bằng với mọi người, khen thưởng và kỷ luật đúng thực chất, không thiên vị, tránh sự chi phối tình cảm cá nhân. Tránh định kiến và trù dập những người không ăn ý hoặc đã có những tiền sự không tốt trước đây.

    Nhạy cảm, sáng tạo trong lãnh đạo quản lý

    Lãnh đạo quản lý là quá trình động, hoàn cảnh và con người trong tổ chức luôn biến đổi vì thế người lãnh đạo phải nhạy bén với các thay đổi của môi trường bên trong và bên ngoài tổ chức. Người lãnh đạo cần kịp thời đưa ra các quyết định hợp lý để ứng phó với các thay đổi, đáp ứng các tâm tư nguyện vọng chính đáng của cấp dưới. Phát hiện và phát huy được các nhân tố mới trong tổ chức sẽ tạo điều kiện cho tổ chức phát triển. Tính nhạy cảm trong lãnh đạo đòi hỏi người lãnh đạo phải có các kiến thức về tâm lý quản lý lãnh đạo, có khả năng phát hiện các diễn biến tâm lý của cấp dưới để kịp thời ứng xử giải quyết các khó khăn vướng mắc của cá nhân cũng như của nhóm, tránh được các căng thẳng giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với nhóm, cấp dưới với cấp trên. Người lãnh đạo cần tạo ra không khí thi đua lành mạnh trong tổ chức tránh đố kỵ và bè phái trong giải quyết công việc.

    Quan hệ đúng mực với người dưới quyền

    Tạo và giữ được uy tín với người dưới quyền là bí quyết cho lãnh đạo thành công. Muốn tạo và giữ được uy tín với cấp dưới trước tiên người lãnh đạo phải gương mẫu, đối xử đúng mực với cấp dưới, kiềm chế sự bột phát của tình cảm, biết lắng nghe và nói đúng lúc đúng chỗ. Người lãnh đạo luôn luôn phải đòi hỏi sự cố gắng của cấp dưới, tôn trọng, tin tưởng vào cấp dưới quyền, động viên khuyến khích cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ. Đi đôi với đòi hỏi cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ thì bản thân người lãnh đạo cũng phải đòi hỏi sự nỗ lực học hỏi và phấn đấu của bản thân mình.

    Bản thân người lãnh đạo cũng là một thành viên trong tập thể, trong cộng đồng như những người bình thường khác vì thế họ cũng phải là người có nếp sống văn hoá phù hợp với đạo đức, lối sống, phong tục, truyền thống văn hoá của cộng đồng xã hội. Sống trung thực là một phẩm chất không thể thiếu của người lãnh đạo được thể hiện trong khi thực hiện công việc tại cơ quan cũng như trong cuộc sống hàng ngày tại gia đình hay trong xã hội. Tự chủ, tự tin, giản dị, mẫu mực và có văn hoá trong ăn nói, đi đứng, trang phục làm tôn vinh thêm uy tín trong công tác của người lãnh đạo, đây chính là yếu tố tạo nên quyền lực cá nhân cho người lãnh đạo.

    Quyền lực

    Khái niệm về quyền lực

    Có thể định nghĩa một cách đơn giản: Quyền lực là nhiệm vụ kiểm soát hay ảnh hưởng đến người khác hay đến nhóm trong một cơ quan, tổ chức. Quyền lực có sức mạnh giúp đỡ và hỗ trợ về tinh thần. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu đã phân tích và đưa ra các lý thuyết khác nhau và phân loại sâu hơn về quyền lực trong xã hội cũng như trong cơ quan hay một tổ chức cụ thể nào đó.

    Trước đây có một số tác giả định nghĩa quyền lực là sức ép có chủ định hay là sự kiểm soát (Adler 1938, 1964, ansbacher 1956, 1964; Bienrstedt 1950, Russell 1938, Wrong 1968). Các tác giả khác thì cho quyền lực là sức mạnh, ảnh hưởng qua quá trình giám sát hiệu quả của các mối tác động qua lại trong quan hệ công việc. Tác giả Simon (1957) thì gọi sự tác động này là mối quan hệ ảnh hưởng hệ thống. Có những tác giả đưa ra định nghĩa quyền lực là những thay đổi qua lại trong xã hội do quan hệ nhiệm vụ. Các thuyết khác dựa theo khái niệm hoá coi quyền lực là khả năng tạo ra ảnh hưởng của một người đến những người hay nhóm người khác. Như vậy chúng ta có thể nhận thấy là quyền lực có sức mạnh giúp cho các nhà quản lý lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ của mình nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức họ.

    Phân loại quyền lực

    Theo tác giả Etzioni (1961) chia ra 2 loại quyền lực:

    Quyền lực địa vị

    Quyền lực địa vị còn được gọi là quyền lực chính thức, có nguồn gốc từ bên trong tổ chức. Người quản lý có ảnh hưởng đến một nhóm người để thực hiện mục tiêu bởi vì người đó được đặt vào vị trí đó trong tổ chức để sử dụng quyền lực điều hành các hoạt động của tổ chức. Người ta cho rằng quyền lực địa vị giảm dần trong một tổ chức từ trên xuống dưới: những người có địa vị cao ủy quyền và trách nhiệm cho những người ở địa vị thấp hơn và những người có địa vị thấp hơn lại ủy quyền và trách nhiệm cho những người thấp hơn nữa.

    Quyền lực cá nhân

    Quyền lực cá nhân bắt nguồn từ những người dưới quyền. Quyền lực cá nhân theo hướng từ cấp dưới ảnh hưởng đến cấp trên và nhà quản lý. Quyền lực cá nhân được mở rộng ảnh hưởng qua sự kính trọng của cấp dưới đối với cấp trên và thể hiện sự cam kết của họ đối với người lãnh đạo cấp trên của mình. Quyền lực cá nhân còn được gọi là quyền lực không chính thức. Quyền lực không chính thức được coi là phạm trù thể hiện trong cuộc sống hàng ngày bởi vì nó có thể dần dần thu được từ cấp dưới, đồng thời cá nhân cũng có thể bị mất đi dần dần do uy tín của người quản lý giảm đi. Người lãnh đạo không chính thức trong một nhóm, được nhóm tin cẩn là một ví dụ về người có thể được trao hay mất đi quyền lực cá nhân của mình.

    Mỗi cá nhân có thể kiểm soát quyền lực riêng của mình – tuy nhiên cũng có thể họ không hoàn toàn kiểm soát được toàn bộ hệ thống các mối quan hệ xã hội, nhưng họ cũng kiểm soát được rất nhiều các quan hệ do quyền lực mà họ tạo ra.

    Các nhà lãnh đạo cấp cao trao quyền lực địa vị bằng cách ủy quyền và trách nhiệm cho các nhà quản lý, các nhà quản lý lại chiếm được lòng tin của cấp trên thông qua khả năng làm việc, cách ứng xử, sự tự tin và sự trung thành. Cấp dưới tạo nên quyền lực cá nhân cho các nhà quản lý, họ cho phép họ chấp nhận hay phục tùng quyền lãnh đạo của cấp trên.

    Các nhà quản lý tạo dựng được quyền lực cá nhân thông qua giải quyết các vấn đề của con người với sự tôn trọng họ, qua cử chỉ hành vi thân thiện với sự hiểu biết và sử dụng kiến thức, kinh nghiệm cần thiết để lãnh đạo người khác hoàn thành các mục tiêu đề ra.

    Trên thực tế quyền lực là sức mạnh quan hệ giữa những con người với nhau. Có thể nói một người trao quyền lực cho người khác và lại dùng quyền lực để kiểm soát người mà mình đã trao quyền lực. Quyền lực thường tồn tại trong hệ thống tổ chức. Các bằng chứng về hành vi quyền lực tồn tại có thể quan sát thấy được nhưng việc nhận biết các hành vi quyền lực phụ thuộc vào từng người khác nhau ở các thời điểm khác nhau, trong các phạm vi khác nhau.

    Để thực hiện tốt nhiệm vụ của nhà quản lý thì tốt nhất là có cả hai loại quyền lực địa vị và quyền lực cá nhân. Có thể nói nôm na là cùng một lúc vừa được người ta sợ và được người ta quý mến để làm cho người khác phải thực hiện tốt nhiệm vụ.

    Sử dụng quyền lực

    Các nội quy và luật lệ có thể được sử dụng để tạo những nỗ lực nhằm thay đổi ở những người cấp dưới tuân theo những quy định chung.

    Đối mặt trực tiếp với thực tế công việc và các con số là những thử thách có thể sử dụng để nêu ra các mục tiêu mong muốn cuối cùng sẽ đạt được.

    Các đóng góp quan trọng của cá nhân có thể được nhân rộng khi họ được thăng tiến và sử dụng họ vào vị trí thích hợp. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nếu như người nào đó có khả năng cá nhân và có những đóng góp quan trọng thì người đó có ảnh hưởng nhiều đến những người khác.

    Hợp tác và liên kết các thành viên trong nhóm được hình thành sẽ là biện pháp quan trọng để huy động các nguồn lực khác nhau hay hợp tác tạo nên sức mạnh tổng hợp vượt qua các trở ngại đối ngược.

    Không gian là một phạm trù đã được tác giả Kodar nghiên cứu năm 1975. Vị trí và sắp xếp bàn ghế có thể là một chiến lược để đạt được sức mạnh quyền lực. Ngồi cạnh bàn có khoảng không rộng rãi trong khi chỗ của người đến thăm hay của cấp dưới ở khu vực chật hẹp sẽ giảm đi sự thoải mái về tâm lý của người đến thăm. Ngồi ở vị trí “giữa các sự việc” tạo ra kết quả của quyền lực bởi vì sẽ tiếp cận được các thông tin.

    Quyết đoán là một phương pháp truyền thông có sức mạnh mà nhiều người đã biết để sử dụng trong công tác hàng ngày. Đó chính là một trong các điểm cơ bản trong quản lý cần được phát huy tối ưu.

    Hội đàm qua lại giữa những người quản lý và người dưới quyền sẽ có ảnh hưởng lẫn nhau. Sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau trong trao đổi hai chiều là đặc trưng cần thiết của chiến lược sử dụng hội đàm để sử dụng quyền lực.

    Quyền lực được duy trì và phát huy khi người quản lý lãnh đạo không lạm dụng và sử dụng quyền lực bất chấp luật lệ quy định.

    Người lãnh đạo với việc quản lý xung đột trong tổ chức

    Trong một tổ chức rất khó có thể tránh được xung đột xảy ra. Quản lý xung đột là một nội dung quan trọng và thể hiện năng lực của người lãnh đạo quản lý.

    Khái niệm về xung đột

    Xung đột là sự bất đồng hoặc chiến tranh xảy ra khi sự cân bằng về cảm giác, suy nghĩ, mong muốn và hành vi bị đe dọa (Deutch 1969). Xung đột xảy ra dẫn đến kết quả là các hành vi xung khắc cản trở thực hiện mục tiêu của tổ chức.

    Nguyên nhân xung đột

    Xung đột có thể xuất hiện trong số người, do có sự khác nhau về quan điểm, quyền lực, mục tiêu, giá trị quyền lợi v.v… Có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến xung đột:

    Giải quyết xung đột

    Trong thực tế không có một cách giải quyết xung đột tốt nhất nào cho mọi xung đột. Cách giải quyết phụ thuộc rất nhiều vào khả năng, uy tín và kinh nghiệm của người lãnh đạo và người quản lý. Một nguyên tắc quan trọng trong giải quyết xung đột là: Tạo nên môi trường tổng hợp thuận lợi để giải quyết xung đột. Có hai chiến lược quản lý quan trọng để phòng xung đột:

    Quản lý chặt chẽ các sự kiện xảy ra bất ngờ theo các mức độ khác nhau

    Quản lý bằng mục tiêu

    Quá trình mà những người quản lý giám sát và cấp dưới cùng tham gia xác định mục tiêu, xác định các lĩnh vực theo trách nhiệm cá nhân, lập kế hoạch chiến lược, thiết kế nhiệm vụ để đạt mục tiêu, thực hiện và đánh giá kết quả là một chiến lược có thể sử dụng để thu hút sự tham gia của mọi người trong tổ chức, tránh được các xung đột có thể xảy ra do bất đồng và thiếu dân chủ.

    Cách giải quyết khác

    Nói ra để bàn cách giải quyết hơn là hành động trước.

    Tham vấn, hướng dẫn cá nhân có tác dụng giải quyết xung đột cá nhân.

    Theo Kilman: Xác định 5 hình thái giải quyết xung đột: (1) Bàn bạc; (2) Tránh; (3) Thỏa hiệp; (4) Thi đua và (5) Phối hợp.

    Sơ đồ kết quả giải quyết xung đột

    Như vậy giải quyết xung đột có vai trò vô cùng quan trọng, nếu giải quyết không đúng đắn có thể làm xung đột phát triển ở giai đoạn mới và tạo ra mâu thuẫn nặng hơn vì thế việc phát hiện và tìm giải pháp hợp lý để giải quyết xung đột thể hiện năng lực của người lãnh đạo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 3 Điều Khác Biệt Giữa Lãnh Đạo Và Quản Lý
  • Phân Biệt Nhà Quản Lý Và Nhà Lãnh Đạo
  • Phân Biệt Vai Trò Của Nhà Lãnh Đạo Và Quản Lý?
  • Phân Biệt Giữa Lãnh Đạo Và Quản Lý Trong Khoa Học
  • Làm Sao Để Phân Biệt Các Loại Da Giày Công Sở “chuẩn Nhất”?
  • Cán Bộ Công Chức Là Gì? Phân Biệt Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Cổ Phiếu Và Trái Phiếu Theo Quy Định Của Luật Chứng Khoán
  • Phân Biệt Cổ Phiếu Và Trái Phiếu Của Công Ty Cổ Phần
  • Phân Biệt Dầu Thực Vật Và Mỡ Động Vật
  • Phân Biệt Tinh Dầu Và Dầu Mỡ Như Thế Nào Cho Chính Xác
  • Danh Từ Đếm Được Và Không Đếm Được: Phân Biệt Dễ Dàng Trong 5 Phút!
  • Việc làm Công chức – Viên chức

    Cán bộ chính là công dân của Việt Nam, được bầu cử và phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội cấp Trung ương, cấp tỉnh, thành phố. Thị xã, quận, huyện, làm việc trong biên chế nhà nước và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.

    Công chức là công dân của Việt Nam, được bổ nhiệm vào các ngạch, chức vụ trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội cấp Trung ương, tỉnh, huyện, các cơ quan đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân mà không phải là sĩ quan, các quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quôc phòng,… Làm việc trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

    Còn đối với các công chức làm việc trong bộ máy lãnh đạo và quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì được hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

    Viên chức là công dân của đất nước Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí công việc, họ làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo hợp đồng làm việc, và được hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

    Việc làm Giáo dục – Đào tạo

    2.1. Phân biệt qua khái niệm

    – Công chức: Là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

    – Viên chức: Là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

    2.2. Phân biệt qua nguồn gốc

    – Cán bộ: Được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, trong biên chế

    – Công chức: Thi tuyển, bổ nhiệm, có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong biên chế

    – Viên chức: Tuyển dụng theo vị trí việc làm, ký hợp đồng làm việc

    2.3. Thời gian tập sự

    – Cán bộ: Không có quy định về thời gian tập sự.

    – Công chức:Từ 6 tháng đến 12 tháng tùy vào từng trường hợp tuyển dụng.

    – Viên chức: Được quy định theo chức danh nghề nghiệp của từng ngành, từng lĩnh vực

    + Vận hành quyền lực nhà nước, làm nhiệm vụ quản lý; nhân danh quyền lực chính trị, quyền lực công.

    + Vận hành quyền lực nhà nước, làm nhiệm vụ quản lý

    + Thực hiện công vụ thường xuyên

    + Thực hiện chức năng xã hội, trực tiếp thực hiện kỹ năng, nghiệp vụ chuyên sâu

    + Thực hiện các hoạt động thuần túy mang tính nghiệp vụ, chuyên môn

    + Công chức: Hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập đối với những người trong bộ máy lãnh đao, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập

    + Viên chức: Hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập

    2.6. Nơi làm việc

    – Cán bộ làm tại Cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội

    – Công chức làm ở Cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, Quân đội, Công an, Toà án, Viện kiểm sát

    + Viên chức làm ở Đơn vị sự nghiệp công lập

    Căn cứ vào nghị định số 29/2012/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức được chuyển sang công chức khi đảm bảo được các điều kiện như sau:

    – Viên chức này đã làm việc từ đủ 5 năm tại đơn vị sự nghiệp công lập, có trình độ đào tạo, có kinh nghiệm về công tác đáp ứng được những yêu cầu của vị trí làm việc cần tuyển dụng. Khi các cơ quan quản lý có nhu cầu tuyển dụng thì các viên chức này sẽ được xét duyệt vào công chức mà không cần qua thi tuyển

    – Viên chức khi được tiếp nhận và bổ nhiệm vào các vị trí dược quy định là công chức trong các cơ quan, tổ chức của Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội thì phải được xét chuyển thành công chức mà không cần qua thi tuyển. Các quyết định tiếp nhận, bổ nhiệm cũng chính là quyết định tuyển dụng.

    – Viên chức được bổ nhiệm vào các vị trí trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị tổ chức, lãnh đạo và quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập, được quy định là công chức, được bổ nhiệm vào các ngạch công chức tương ứng đối với các vị trí làm việc cần phải hoàn thiện các tiêu chuẩn của ngạch bổ nhiệm, giữ nguyên các chức danh nghề nghiệp đã được bổ nhiệm, được hưởng lương theo cách tính lương cơ bản và các chế độ lương khác như các viên chức của đơn vị sự nghiệp công lập.

    Mỗi công việc, mỗi ngành nghề sẽ có những quy định mang tính đặc thù, trong đó có những điều mà người làm trong ngành nghề đó không được thực hiện. Nhất là những người làm việc trong các bộ máy nhà nước, phục vụ nhân dân.

    Các cán bộ công chức không được trốn trách những trách nhiệm, không được sử dụng tài sản của Nhà nước trái pháp luật. Các cán bộ công chức càng không được lạm dụng chức quyền để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, không được phân biệt đối xử giữa các dân tộc. tôn giáo, giới tính.

    + Phụ cấp vượt khung: Loại phụ cấp này được áp dụng đối với các đối tượng đã được xét duyệt với bậc lương cuối cùng trong ngạch hoặc là trong chức danh. Mức phụ cấp mà họ nhận được sẽ bằng 5% mức lương của bậc lương cuối cùng.

    Tùy vào từng vị trí cụ thể của cán vộ công chức, từ năm thứ 3 trở đi thì mỗi năm các cán bộ công chức sẽ được tính thêm 1% tiền lương.

    + Phụ cấp lưu động: Loại phụ cấp này được áp dụng đối với các cán bộ công chức và viên chức làm việc tại những vùng kinh tế mới, có cơ sở kinh tế và ngoài đảo xa với đất liền, những nơi có điều kiện kinh tế và sinh hoạt khó khăn.

    Mức phụ cấp này được tính với 4 mức như sau: Mức 20%, 30%, 60% và 70% so với mức lương các cán bộ công chức đang được hưởng cộng thêm với phụ cấp chức vụ của vị trí lãnh đạo và phụ cấp thêm của tiền vượt khung (nếu như có). Thời gian được hưởng phụ cấp là từ 3 – 5 năm.

    + Phụ cấp độc hại, nguy hiểm: Loại phụ cấp này được áp dụng đói vơi các cán bộ, công chức và viên chức khi họ đảm nhiệm những công việc có tính lao động độc hại và nguy hiểm.

    Thẻ căn cước công dân là gì? Các thông tin về thẻ căn cước công dân

    Các cán bộ công chức sẽ nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật lao động, tuổi nghỉ hưu của các cán bộ công chức. Theo đó, độ tuổi nghỉ hưu của nam là đủ 60 tuổi, còn độ tuổi nghỉ hưu đối với nữ là đủ 55 tuổi. Một số trường hợp, Nhà nước vẫn cho phép các cán bộ công chức nghỉ hưu trước độ tuổi nghỉ hưu theo quy định.

    Nếu các cán bộ công chức có đủ thời gian tham gia bảo hiểm xã hội theo Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, các cán bộ công chức nghỉ hưu non vẫn có thể nhận được lương hưu hàng tháng.

    Thủ tục nghỉ hưu của các cán bộ công chức

    Theo điều 9 của Nghị định 46/2010/NĐ-CP thì người nghỉ hưu và cơ quan Nhà nước cần:

    + Xác định thời điểm cán bộ công chức nghỉ hưu

    • Thời điểm nghỉ hưu của cán bộ công chức bắt đầu nghỉ hưu là ngày 01 của tháng liền kề, sau tháng mà cán bộ công chức đủ tuổi nghỉ hưu. Đối với trường hợp hồ sơ của cán bộ công chức không được ghi rõ về ngày tháng của năm thì ngày nghỉ hưu sẽ được tính bắt đầu từ ngày 01/01 của năm liền kề, sau năm mà cán bộ công chức đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định.
    • Thời điểm nghỉ hưu của cán bộ công chức sẽ được lùi khi có một trong những trường hợp sau: Thứ nhất, không quá một tháng đối với thời điểm nghỉ hưu trùng ngày nghỉ Tết Nguyên đán, công chức có người thân ruột thịt và trong gia đình vị từ trần, hoặc mất tích; không quá 3 tháng đối với trường hợp bị bệnh nặng, hoặc do tai nạn có giấy xác nhận của bệnh viện; không quá 6 tháng đối với các trường hợp đang điều trị bệnh thuộc những bênh điều trị dài ngày do Bộ y tế ban hành, có giấy xác nhận của bệnh viện nơi cán bộ công chức điều trị.

    Theo Điều 10 của Nghị định 46/2010/NĐ-CP thì trước 6 tháng tính đến thời điểm nghỉ hưu theo Quy định tại Điều 9, các cơ quan tổ chức, các đơn vị quản lý công chức cần phải đưa ra thông báo cho các cán bộ công chức chuẩn bị nghỉ hưu về thời điểm nghỉ hưu, để các công chức này được biết, Thông báo này cần được ban hành bằng văn bản.

    Các cơ quan, tổ chức, đơn vị Nhà nước cần phải đưa ra quyết định nghỉ hưu đối với các cán bộ công chức trước 3 tháng tính đến thời điểm nghỉ hưu.

    Các cơ quan, tổ chức của đơn vị quản lý công chức sẽ cần phối hợp với các tổ chức bảo hiểm xã hội để tiến hành các thủ tục nghỉ hưu theo đúng quy định của Nhà nước, để các cán bộ công chức được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội sau khi nghỉ hưu.

    Các cán bộ công chức được nghỉ hưu cần phải có trách nhiệm bàn giao các tài liệu, hồ sơ và những phần việc đang làm cho người kế nhiệm. Các vấn đề này cần được bàn giao trước khi các cán bộ nghỉ hưu.

    Nếu bạn đang muốn tìm việc làm công chức- viên chức thì hãy truy cập ngay vào Website chúng tôi một địa chỉ uy tin dành cho bạn khi tìm các thông tin tuyển dụng và tạo CV đẹp và miễn phí trên thị trường hiện nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Công Chức Và Viên Chức?
  • Phân Biệt Các Loại Mụn: Tưởng Dễ Mà Khó
  • Phân Biệt Các Loại Mụn Thường Gặp Và Những Cách Nhận Biết
  • Cách Nhận Biết Tẩy Trang Bioderma Thật Và Giả “chuẩn Không Cần Chỉnh”
  • Phân Biệt Bếp Từ Và Bếp Hồng Ngoại
  • Cán Bộ Là Gì? Phân Biệt Giữa Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • 10 Điểm Mới Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Cần Biết Từ 01/7/2020
  • Phân Biệt Cổ Phiếu Và Trái Phiếu Do Công Ty Cổ Phần Phát Hành
  • Trái Phiếu Là Gì? Phân Biệt Giữa Trái Phiếu Và Cổ Phiếu
  • Bật Mí 7 Cách Nhận Biết Da Thật Và Giả Da Đơn Giản Nhất
  • Phân Biệt Da Cá Sấu Thật
  • Cán bộ là gì?

    Cán bộ là gì? Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn và bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương (sau đây được gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây được gọi chung là cấp huyện), trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước.( Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008, điều 4, khoản 1).

    Công chức

    Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng và bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp huyện, cấp tỉnh, Đảng Cộng sản Việt Nam; trong cơ quan và đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, công nhân quốc phòng, quân nhân chuyên nghiệp; trong cơ quan và đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là hạ sĩ quan chuyên nghiệp, sĩ quan và trong quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập và bộ máy lãnh đạo của Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội,Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đây được xem chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với những công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì mức lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. (Theo quy định Luật cán bộ, công chức năm 2008, điều 4, khoản 1)

    Viên chức

    Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm hay làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập dựa theo chế độ hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo đúng quy định của pháp luật. (Theo quy định tại Luật viên chức năm 2010, điều 2)

    Phân biệt cán bộ, công chức, viên chức

    Nơi công tác

    Trong cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp huyện, cấp tỉnh

    Trong cơ quan của Nhà nước, Đảng, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyệnTrong cơ quan và đơn vị thuộc Quân đội (không phải sĩ quan, công nhân quốc phòng, quân nhân chuyên nghiệp);

    Trong cơ quan và đơn vị thuộc Công an nhân dân (không phải hạ sĩ quan chuyên nghiệp, sĩ quan)

    Trong bộ máy lãnh đạo hoặc quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập

    Trong đơn vị sự nghiệp công lập

    Tập sự

    Cán bộ không phải tập sự

    12 tháng với công chức loại C06 tháng với công chức loại D

    Từ 3 – 12 tháng và được quy định theo trong hợp đồng làm việc.

    Bảo hiểm xã hội

    Cán bộ không cần phải đóng bảo hiểm thất nghiệp

    Không phải đóng bảo hiểm thất nghiệp

    Phải đóng bảo hiểm thất nghiệp

    Hình thức kỷ luật

    Khiển tráchCảnh cáo

    Cách chức

    Bãi nhiệm

    Khiển tráchCảnh cáo

    Hạ bậc lương

    Giáng chức

    Cách chức

    Buộc thôi việc

    Khiển tráchCảnh cáo

    Cách chức

    Buộc thôi việc

    (Còn có thể bị hạn chế thực hiện một số hoạt động nghề nghiệp)

    Ví dụ về từng đối tượng

    Thủ tướngChánh án TAND tối cao

    Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

    Chủ tịch Hội đồng nhân dân…

    Chánh án, Phó Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, huyệnThẩm phán,Phó Chánh án TAND cấp tỉnh, huyện

    Viện trưởng,

    Thư ký tòa án

    Kiểm sát viên…

    Bác sĩGiáo viên

    Giảng viên đại học

    XEM THÊM: Công chức, viên chức nhiều địa phương sắp được tăng thêm thu nhập

    #Cán #bộ #là #gì #Phân #biệt #giữa #cán #bộ #công #chức #viên #chức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Phân Biệt Rõ “cán Bộ”, “công Chức”, “viên Chức”
  • Bật Mí Cách Trị Mụn Bọc Hiệu Quả Nhất
  • Hướng Dẫn Phân Biệt Các Loại Mụn Trên Mặt & Cách Điều Trị
  • Cách Phân Biệt 9 Loại Mụn
  • Phân Biệt Các Loại Mụn Thường Gặp Nhất & Cách Điều Trị
  • Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Lý Luận Chính Trị Cho Cán Bộ Lãnh Đạo, Quản Lý Cấp Tỉnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Giảng Dạy Tại Trường Đh Công Nghiệp Thực Phẩm Tphcm
  • Môn Học: Phương Pháp Giảng Dạy Lý Thuyết 2
  • Tập Huấn Giảng Dạy Lâm Sàng Cho Giảng Viên Khối Khoa Học Sức Khỏe
  • Lớp Tập Huấn “phương Pháp Giảng Dạy Trên Tiền Lâm Sàng”
  • Một Số Chú Ý Về Cập Nhật Nội Dung Và Phương Pháp Giảng Dạy Bộ Môn Tin Học
  • Tuy nhiên, dù với nhiều ưu điểm vượt trội, những phương pháp giảng dạy tích cực vẫn không thể thay thế hoàn toàn cho phương pháp giảng dạy truyền thống (phương pháp thuyết trình). Trong quá trình giảng dạy, phương pháp thuyết trình vẫn luôn có một vị trí trung tâm. I.U Lipp – nhà sư phạm người Đức đã nói rằng: “nếu như phải giảm thiểu tất cả các phương tiện và phương pháp, tôi xin giữ lại tấm bảng đen và những lời thuyết trình”. Do đó, có thể khẳng định, những nhận thức cho rằng đổi mới phương pháp giảng dạy bằng việc áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực là loại bỏ hoặc thay thế hoàn toàn phương pháp giảng dạy thuyết trình truyền thống là một ý kiến không đúng. Thuyết trình vẫn là phương pháp nền tảng đóng vai trò trụ cột trong quá trình giảng dạy; phương pháp giảng dạy tích cực đóng vai trò hỗ trợ cho người giảng viên trong quá trình truyền thụ kiến thức.

    2. Những điểm cần chú trọng để đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh

    Một trong những nguyên tắc cơ bản của việc dạy học đó là phải xác định rõ ràng và đúng đối tượng giảng dạy. Mỗi một lớp học, khóa học hay hệ học thường dành cho những đối tượng khác nhau. Căn cứ vào những đặc điểm của mỗi loại đối tượng để chủ thể giảng dạy có thể hoạch định nên những nội dung, phương pháp giảng dạy khác nhau. Việc đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh cũng cần thiết xuất phát từ việc tìm hiểu, xác định những đặc điểm, đặc thù cơ bản của đối tượng học viên này.

    Thứ nhất, độ tuổi của học viên khá lớn. Để trở thành một cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, người cán bộ phải trải qua một quá trình phấn đấu, rèn luyện và kinh qua nhiều vị trí và thời gian công tác.Vì vậy, tuổi đời của học viên thường khoảng 40 tuổi trở lên. Tương ứng với điều này là sức khỏe, sự năng động cũng không như các đối tượng học viên trẻ tuổi. Quá trình nhận thức (học tập, lĩnh hội tri thức mới) cũng bắt đầu kém nhanh nhạy. Trong học tập, họ thường có xu hướng muốn lắng nghe hơn là tranh luận sôi nổi. Trong lớp học, các học viên này cũng ít muốn di chuyển hay việc tham gia các hoạt động cũng bắt đầu có sự hạn chế. Thêm vào đó, sức khỏe, thính giác, thị lực cũng ít nhiều giảm sút.

    Từ những đặc điểm này, người giảng viên khi lên kịch bản đứng lớp (kế hoạch bài giảng) cần thiết phải lưu ý cả hai vấn đề. Thứ nhất, việc dùng phương pháp thuyết giảng/ thuyết trình liên tục sẽ gây căng thẳng, mệt mỏi và dẫn đến việc học viên khó tiếp thu toàn bộ nội dung bài học. Thứ hai, nếu việc áp dụng các phương pháp tích cực không phù hợp với đặc điểm nêu trên thì cũng sẽ không đưa lại kết quả như mong đợi. Ví dụ như một trường hợp học giảng viên sử dụng phương pháp sàng lọc, nội dung phiếu rất hay, việc sàng lọc rất phù hợp với nội dung bài giảng. Tuy nhiên, vì các phiếu viết trên những mảnh giấy nhỏ, được dán lên bảng, khiến ngay cả những người ngồi ở bàn đầu của lớp học cũng không thể đọc được những nội dung ghi trên giấy. Hay trong một số trường hợp, nếu giảng viên thường xuyên yêu cầu các học viên dịch chuyển chỗ ngồi nhiều lần trong giờ học cũng sẽ khiến họ mệt mỏi và dẫn đến học viên cảm thấy miễn cưỡng. Điều này cũng dẫn đến hiệu quả của bài giảng không cao.

    Một kinh nghiệm khi áp dụng các phương pháp tích cực tại các lớp cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh là không lạm dụng quá nhiều phương pháp tích cực hoặc sử dụng một phương pháp nhiều lần trong buổi học. Những phương pháp tích cực nêu trên chỉ phát huy được hiệu quả khi được vận dụng hợp lý và linh hoạt. Một phương pháp dù “tích cực” và tối ưu nhưng nếu lặp đi lặp lại liên tục sẽ trở thành nhàm chán và phản tác dụng.

    Thứ hai, các đối tượng học viên là những người có địa vị xã hội nhất định. Điều này dẫn đến hai điểm cần lưu ý khi giảng dạy. Một là, các học viên lãnh đạo có kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn phong phú. Bởi vậy, khi áp dụng các phương pháp như hỏi – đáp, làm việc nhóm… giảng viên cần thận trọng khi chọn lựa và nêu vấn đề để học viên trả lời hoặc làm việc nhóm. Trong nhiều trường hợp, nếu không chuẩn bị tốt câu hỏi, thì sẽ trở nên quá dễ, hời hợt, nông cạn – thậm chí sẽ bị đánh giá là ngây ngô, không phù hợp đối tượng, khiến học viên có cảm giác bị đánh giá thấp. Hai là,ở bình diện ngược lại, do đã có địa vị xã hội, không ít người rất ngại bị chỉ định phát biểu vì sợ trả lời không đúng… Thực tế, cũng cần xem đây là một tâm lý bình thường và cần được cảm thông, chia sẻ. Điều này nhắc nhở giảng viên khi nào nên phát vấn, và phải thật tinh tế, cân nhắc trước khi mời học viên trả lời.

    Một số kinh nghiệm khi giảng dạy những lớp đối tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh đó là, trong quá trình giảng dạy, giảng viên nên chọn ra một số “nhân vật” trung tâm để lôi cuốn các học viên khác cùng tham gia. Bao giờ cũng vậy, trong một lớp học đông người, sẽ có sự khác biệt và đa dạng về tâm lý, tính cách. Do vậy, người giảng viên phải tinh tế, nhận ra những người thuộc nhóm đầu, đưa họ nhập cuộc trước và thông qua đó tạo ra không khí chung của toàn lớp học để tiến hành buổi làm việc.

    Thứ ba, học viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh thường bị chi phối bởi nhiều công việc và các mối quan hệ. Ngoài sắp xếp thời gian đến lớp, họ phải giải quyết công việc cơ quan nên việc tự nghiên cứu, tìm hiểu thêm, đọc lại… các nội dung của buổi giảng là điều rất khó khăn. Với thực tế này, bài toán đặt ra cho các giảng viên là: làm thế nào để có thể giúp học viên nắm bắt đúng, đầy đủ các tri thức, nội dung chương trình ngay tại lớp học.

    Để tháo gỡ vấn đề này, người giảng viên cần chú trọng trong việc soạn bài giảng, chuẩn bị tốt những nội dung cốt lõi nhất mà học viên cần ghi nhớ ngay trong buổi học. Giảng viên nên tránh dàn trải nội dung, thiếu trọng tâm hoặc trình bày quá nhiều kiến thức khiến học viên bị “bội thực” và không thể nhớ hết. Không những vậy, vấn đề “neo chốt” sau từng nội dung, từng buổi học cũng cần được giảng viên chú trọng, có sự tính toán kỹ lưỡng. Bằng nhiều hình thức như hình ảnh, sơ đồ hóa, video…, giảng viên rút ra, chốt lại các ý chính (số lượng các vấn đề) để học viên nắm bắt, ghi nhớ tại chỗ.

    Thứ tư, các lớp học dành cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh mở tại địa phương (tại chức) có đặc điểm là số lượng đông và cơ sở vật chất phục vụ học tập còn nhiều khó khăn, bất cập.

    Thông thường mỗi lớp cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh có khoảng 100 học viên. Số lượng học viên đông khiến việc áp dụng một số phương pháp giảng dạy gặp nhiều khó khăn. Ví dụ, nguyên tắc của phương pháp Phỏng vấn nhanhlà hỏi khoảng 1/3 đến 1/2 số lượng học viên trong lớp học để đưa ra kết luận. Hoặc đối với phương pháp Làm việc nhóm, nếu chia lớp ra 4 nhóm thông thường thì số lượng thành viên mỗi nhóm quá nhiều (trên 20 người). Với số lượng như vậy sẽ dẫn đến tình trạng nhiều người không làm gì và người trưởng nhóm khó có thể điều hành tốt các thành viên. Nếu chia lớp thành nhiều nhóm sẽ hạn chế mức độ quán xuyến, hướng dẫn của giảng viên và giảm thời gian trình bày của các nhóm.

    Về cơ sở vật chất phục vụ học tập, lớp học tại chức thường được tổ chức tại một hội trường lớn. Cơ sở vật chất phục vụ cho học tập, giảng dạy ở những lớp học này còn hạn chế như bàn ghế cố định, khó di chuyển. Với số lượng hơn 100 học viên, các phương pháp làm việc nhóm, cần nhiều sự di chuyển không còn phù hợp và làm giảm hiệu quả của các phương pháp này.

    Trong trường hợp này, giảng viên nên sử dụng các phương pháp như Phát vấn, Chuyên gia, Hỏi – đáphoặc Lấy ý kiến ghi bảnglà hợp lý nhất. Đặc biệt, cần chú trọng phương pháp Chuyên gia- bởi như trên đã nêu, trong lớp học thường có những người chuyên sâu (cả tri thức lẫn thực tiễn) trong một số lĩnh vực nhất định. Việc mời họ đóng vai chuyên gia để tạo không khí sôi nổi cho lớp học, vừa có được những kiến thức thực tiễn, sát với tình hình địa phương đang giảng dạy. Một số phương pháp khác như Làm việc nhóm, Bể cá vàng… vẫn có thể áp dụng nhưng không nên lạm dụng nhiều và đòi hỏi có sự linh hoạt cao của giảng viên.

    3. Một số vấn đề đặt ra trong đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh

    Thứ nhất, công tác đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị nói chung và giảng dạy đối tượng là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh đến nay vẫn chỉ diễn ra bằng những nỗ lực cá nhân của giảng viên mà chưa trở thành hoạt động phổ biến. Do nhận thức còn nhiều điểm chưa thống nhất nên việc đổi mới phương pháp giảng dạy còn có nhiều bất cập, tùy tiện. Nhiều giảng viên vẫn chưa thực sự chú trọng, đánh giá đúng mức công tác trên. Một số khác lại nhận thức máy móc, cứng nhắc nên áp dụng phương pháp giảng dạy mới không thành công, thậm chí kết quả còn trái ngược với mong muốn khiến một số giảng viên thất vọng, nản chí và trở lại nghi ngờ tính khả thi và thiết thực của việc đổi mới phương pháp giảng dạy. Vì vậy, đã có trường hợp biến việc thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy trở thành một sự bắt buộc khiên cưỡng hoặc một buổi giảng trở thành một buổi thao giảng để phô diễn các phương pháp, thậm chí trở thành một phong trào có tính hình thứcvà đối phó.

    Thứ ba, các quy chế hiện hành về kiểm tra, đánh giá kết quả môn học chưa đồng bộ, tương thích với việc đổi mới phương pháp giảng dạy. Hiện tại một số quy định về quy trình, phương thức kiểm tra, đánh giá kết quả các môn học và quá trình đào tạo nói chung chưa sát hợp với đối tượng và tính chuyên ngành lý luận chính trị. Điều này ảnh hưởng đến việc nỗ lực phấn đấu trong quá trình học tập và tự đào tạo của học viên.

    Thứ tư, việc đổi mới phương pháp giảng dạy chưa đồng bộ với việc đổi mới, nâng cấp trang thiết bị, cơ sở vật chất đáp ứng cho dạy và học. Trong thời gian qua, trang thiết bị và cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và học tập trong hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các trường Chính trị tỉnh đã có sự đầu tư, hiện đại hóa một bước. Tuy nhiên, điều kiện cơ sở vật chất vẫn chưa đáp ứng một cách tốt nhất cho việc triển khai thực hiện phương pháp giảng dạy tích cực. Vì thế, cần đánh giá lại quá trình hiện đại hóa cơ sở vật chất, về số lượng và chất lượng, về kế hoạch trước mắt và lâu dài, tính đồng bộ về trang thiết bị, về cơ sở vật chất.

    Như vậy, vẫn còn khá nhiều những vấn đề cần giải quyết để thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị cho đối tượng là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh. Dẫu vẫn còn nhiều bất cập, nhưng việc mạnh dạn đổi mới áp dụng phương pháp giảng dạy nói chung – đặc biệt là đối với các lớp Lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh là điều rất đáng ghi nhận và khuyến khích. Mặt khác, người giảng viên giảng dạy lý luận chính trị cũng cần xem đây là một nhu cầu tự thân để hoàn thiện mình với tư cách là một giảng viên thực hiện sứ mệnh “trồng người” trong thời đại mới.

    PGS, TS Đoàn Triệu Long

    Học viện Chính trị khu vực III

    Nguồn: Tạp chí Lý luận Chính trị

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy, Giảm Tỉ Lệ Học Sinh Yếu Kém Môn Hóa Học
  • Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Các Kĩ Năng Giao Tiếp
  • Phương Pháp Giảng Dạy Kỹ Thuật Phát Triển Sức Mạnh Tốc Độ Trong Môn Nhảy Xa Kiểu Ngồi
  • Bai 6_Phuong Phap Giang Day Nhay Xa
  • Phương Pháp Giảng Dạy Kỹ Thuật Nhảy Xa “kiểu Ngồi”
  • Phân Biệt Cán Bộ, Công Chức Và Viên Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Biệt Phái Giữa Công Chức Và Viên Chức?
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Viên Chức
  • Quyền Lợi, Nghĩa Vụ, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Cán Bộ, Công Chức
  • Các Quyền, Nghĩa Vụ Của Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức
  • Phân Tích Khái Niệm Công Chức? Phân Biệt Cán Bộ, Công Chức Và Viên Chức
  • 70036

    So sánh cán bộ, công chức và viên chức

    Điểm giống nhau giữa cán bộ, công chức và viên chức

    • Cán bộ, công chức và viên chức đều là công dân Việt Nam;
    • Trong biên chế;
    • Hưởng lương từ Ngân sách nhà nước (riêng trường hợp công chức làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì tiền lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật);
    • Giữ một công vụ, nhiệm vụ thường xuyên;
    • Làm việc trong công sở;
    • Nghĩa vụ đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân; nghĩa vụ trong thi hành công vụ và một số nghĩa vụ đặc biệt do pháp luật quy định;
    • Có quyền được đảm bảo các điều kiện thi hành công vụ; quyền về tiền lương và các chế độ về tiền lương; quyền về nghỉ ngơi và một số quyền khác.

    Phân biệt cán bộ, công chức, viên chức

    Khái niệmCán bộCông chứcViên chức

    Tiêu chí cơ bản

    Căn cứ

    Luật Cán bộ, Công chức 2008

    – Luật Cán bộ, công chức 2008

    – Nghị định 06/2010/NĐ-CP

    Luật Viên chức 2010

    Tính chất

    – Vận hành quyền lực nhà nước, làm nhiệm vụ quản lý; nhân danh quyền lực chính trị, quyền lực công.

    – Theo nhiệm kỳ.

    – Vận hành quyền lực nhà nước, làm nhiệm vụ quản lý.

    – Thực hiện công vụ thường xuyên

    – Thực hiện chức năng xã hội, trực tiếp thực hiện kỹ năng, nghiệp vụ chuyên sâu.

    – Thực hiện các hoạt động thuần túy mang tính nghiệp vụ, chuyên môn.

    Nguồn gốc, trách nhiệm pháp lý

    – Được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, trong biên chế.

    – Trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước, nhân dân và trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

    – Thi tuyển, bổ nhiệm, có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong biên chế.

    – Trách nhiệm chính trị, trách nhiệm hành chính của công chức

    – Xét tuyển, ký hợp đồng làm việc.

    – Trách nhiệm trước cơ quan, người đứng đầu tổ chức, cơ quan xét tuyển, ký hợp đồng.

    Chế độ lương

    Hưởng lương từ ngân sách nhà nước, theo vị trí, chức danh.

    Hưởng lương từ ngân sách nhà nước, theo ngạch bậc.

    Lương hưởng một phần từ ngân sách, còn lại là nguồn thu sự nghiệp.

    Nơi làm việc

    Cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội.

    Cơ quan Đảng, nhà nước, tổ chức CT-XH, Quân đội, Công an, Toà án, Viện kiểm sát.

    Đơn vị sự nghiệp nhà nước, các tổ chức xã hội.

    Tiêu chí

    đánh giá

    – Năng lực lãnh đạo, điều hành, tổ chức, quản lý;

    – Tinh thần trách nhiệm;

    – Hiệu quả thực hiện nhiệm vụ

    -Năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ;

    – Tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ;

    – Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực thi nhiệm vụ;

    – Thái độ phục vụ nhân dân.

    -Năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ;

    – Hiệu quả công việc (số lượng, chất lượng).

    – Thái độ phục vụ nhân dân.

    Hình thức kỷ luật

    – Khiển trách;

    – Cảnh cáo;

    – Cách chức;

    – Bãi nhiệm.

    – Khiển trách;

    – Cảnh cáo;

    – Hạ bậc lương;

    – Giáng chức;

    – Cách chức;

    – Buộc thôi việc.

    – Khiển trách;

    – Cảnh cáo;

    – Cách chức;

    – Buộc thôi việc.

    Ví dụ về Cán bộ

    – Thủ tướng

    – Chánh án TAND tối cao

    – Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

    – Chủ tịch Hội đồng nhân dân …

    Ví dụ về Công chức

    – Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp huyện

    – Chánh án, Phó Chánh án TAND cấp tỉnh, huyện

    – Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, huyện

    – Thẩm phán

    – Thư ký tòa án

    – Kiểm sát viên.

    Ví dụ về Viên chức

    – Bác sĩ

    – Giáo viên

    – Giảng viên đại học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Các Loại Mụn Trên Mặt Và Cách Trị Hiệu Quả Chỉ Trong 1 Tuần
  • ✅ Nguyên Nhân Gây Mụn Và Phân Biệt Các Loại Mụn
  • Phân Biệt Các Loại Mụn Và Nguyên Nhân Gây Ra Mụn
  • Nhận Diện 9 Loại Mụn Thường Gặp (Kèm Hình Ảnh)
  • Các Dạng Mụn Cóc Và Cách Điều Trị Hiệu Quả Nhất
  • Phân Biệt Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Cổ Phiếu Và Trái Phiếu Theo Luật Chứng Khoán
  • Dấu Hiệu Nhận Biết Danh Từ, Tính Từ, Trạng Từ, Động Từ Trong Tiếng Anh
  • Phân Biệt Danh Từ Không Đếm Được Và Danh Từ Đếm Được
  • Làm Chủ Danh Từ Đếm Được Và Không Đếm Được Trong 5 Phút
  • Cách Nhận Biết Danh Từ Đếm Được Và Không Đếm Được
  • 1. (Theo quy định tại điều 4 khoản 1 Luật cán bộ công chức:) 2. (Theo quy định tại điều 4 khoản 1 Luật cán bộ công chức:) 3. (Quy định tại điều 2 luật viên chức:) Cán bộ, công chức, viên chức

    Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

    Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

    Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

    Phân biệt công chức và viên chức

    Công chức (chi tiết theo Nghị định 06/2010/NĐ-CP): Được tuyển dụng bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế giữ một công vụ thường xuyên, hoặc nhiệm vụ thường xuyên trong các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện; trong các cơ quan, đơn vị QĐND (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp như chuyên viên vi tính, kế toán…); trong các cơ quan, đơn vị công an nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp); trong các cơ quan Đảng; Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; trong các bộ và cơ quan ngang bộ; TAND các cấp (Phó chánh án TAND tối cao; chánh án, phó chánh án các tòa chuyên trách, thẩm phán); Viện KSND; tổ chức CT-XH (Mặt trận Tổ quốc VN, Tổng liên đoàn Lao động VN, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên…); trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập…

    Viên chức (theo Luật Viên chức): Được tuyển dụng theo hợp đồng làm việc, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý (trừ các chức vụ quy định là công chức). Viên chức là người thực hiện các công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các lĩnh vực: giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động – thương binh và xã hội, thông tin – truyền thông, tài nguyên môi trường, dịch vụ… như bác sĩ, giáo viên, giảng viên đại học…

    Công chức

    – Vận hành quyền lực nhà nước, làm nhiệm vụ quản lý.

    – Hình thức tuyển dụng: thi tuyển, bổ nhiệm, có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuộc biên chế.

    – Lương: hưởng lương từ ngân sách nhà nước, theo ngạch bậc.

    – Nơi làm việc: cơ quan nhà nước, tổ chức CT-XH (Liên đoàn Lao động tỉnh, Văn phòng Tỉnh ủy…).

    Viên chức

    – Thực hiện chức năng xã hội, trực tiếp thực hiện nghiệp vụ.

    – Hình thức tuyển dụng: xét tuyển, ký hợp đồng làm việc.

    – Lương: một phần từ ngân sách, còn lại là nguồn thu sự nghiệp.

    – Nơi làm việc: đơn vị sự nghiệp và đơn vị sự nghiệp của các tổ chức xã hội./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thế Nào Là Chiến Tranh Phi Nghĩa
  • Thế Nào Là “chiến Tranh”, “chiến Tranh Chính Nghĩa”, “chiến Tranh Phi Nghĩa”
  • Hướng Dẫn Phân Biệt Các Loại Mụn Và Cách Điều Trị Hiệu Quả Nhất
  • Phân Biệt Các Loại Mụn Và Cách Chữa Trị
  • Cách Phân Biệt Nước Tẩy Trang Bioderma Thật Và Giả Dành Cho Các Tín Đồ Làm Đẹp
  • Cần Phân Biệt Rõ “cán Bộ”, “công Chức”, “viên Chức”

    --- Bài mới hơn ---

  • Cán Bộ Là Gì? Phân Biệt Giữa Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức
  • 10 Điểm Mới Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Cần Biết Từ 01/7/2020
  • Phân Biệt Cổ Phiếu Và Trái Phiếu Do Công Ty Cổ Phần Phát Hành
  • Trái Phiếu Là Gì? Phân Biệt Giữa Trái Phiếu Và Cổ Phiếu
  • Bật Mí 7 Cách Nhận Biết Da Thật Và Giả Da Đơn Giản Nhất
  • Hiện nay, việc sử dụng các khái niệm ” cán bộ“, ” công chức“, ” viên chức” trong các văn bản quy phạm pháp luật còn lúng túng và thiếu thống nhất, thể hiện trên một số điểm sau: Thứ nhất , khái niệm ” cán bộ “, ” công chức ” đã được sử dụng trong Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998. Tuy nhiên, ngay tên gọi của Pháp lệnh này đã không thống nhất với Hiến pháp năm 1992, vì Điều 8 của Hiến pháp năm 1992 sử dụng khái niệm ” cán bộ, viên chức” chứ không sử dụng khái niệm ” công chức “. Khi không sử dụng khái niệm ” viên chức “, có thể hiểu Pháp lệnh cán bộ, công chức chỉ điều chỉnh một phạm vi rất hẹp, bao gồm những nhóm đối tượng được gọi là ” cán bộ ” và ” công chức ” làm việc trong các cơ quan nhà nước và được định nghĩa rõ. Điều 1 của Pháp lệnh này, có 5 nhóm đối tượng được gọi một cách rất chung chung, không phân biệt nhóm nào là ” cán bộ ” và nhóm nào là ” công chức “. Đến Nghị định số 95/1998/NĐ ư CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức thì nhóm đối tượng ” công chức ” đã được làm rõ. Đó là những người thuộc Khoản 3 và 5, Điều 1 của Pháp lệnh cán bộ, công chức. Tuy nhiên, tại Nghị định số 117/2003/NĐ ư CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thì khái niệm ” công chức ” lại được sử dụng để gọi chung cho cả cán bộ và công chức.

    Thứ hai , khái niệm ” cán bộ, công chức ” được sử dụng trong Pháp lệnh năm 1998 chỉ bao gồm những người trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách. Tuy nhiên, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003 mở rộng khái niệm này, bao gồm trong biên chế nhưng không nhất thiết phải hưởng lương từ ngân sách nhà nước, mà có thể hưởng lương và thu nhập khác từ các hoạt động sự nghiệp. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các khái niệm ” cán bộ “, ” công chức ” như đã nêu trên cho thấy khái niệm ” công chức ” đã thay thế cho khái niệm ” viên chức ” trong Hiến pháp năm1992. Tuy nhiên, từ năm 1999 đến nay, có nhiều văn bản không đi theo công thức ” cán bộ, công chức ” như các văn bản trên mà lại sử dụng khái niệm ” cán bộ, viên chức “. Như vậy, khái niệm ” công chức ” đã lại được thay thế bằng khái niệm ” viên chức “. Đáng chú ý là những chủ thể đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có sử dụng khái niệm ” cán bộ, công chức ” nay chính họ lại ban hành văn có sử dụng khái niệm ” cán bộ, viên chức“. Đơn cử như: Quyết định số 198/1999/QĐưTTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/9/1999 về tiền lương của cán bộ, viên chức làm việc tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng; Quyết định số 17/2000/QĐưTTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 3/2/2000 về chế độ tiền lương và phụ cấp đối với cán bộ, viên chức Quỹ hỗ trợ phát triển… Các văn bản này cũng không phân biệt rõ ai là ” cán bộ“, ai là ” viên chức” mà chỉ dẫn chiếu Pháp lệnh cán bộ, công chức. Thứ ba , khái niệm ” viên chức ” cũng bắt đầu xuất hiện trở lại tại Điểm d, Khoản 1, Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003, giới hạn phạm vi áp dụng trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước, các tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị ư xã hội. Từ đây, khái niệm ” viên chức ” được sử dụng trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, Nghị định số 116/2003/NĐưCP ngày 10/10/2003 về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước lại định nghĩa ” viên chức là cán bộ, công chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật“. Như vậy, có sự không thống nhất giữa tên gọi của Nghị định với nội dung của nó, và khái niệm ” viên chức ” đã được sử dụng bao hàm ” cán bộ, công chức“. Thứ tư, khái niệm ” cán bộ ” rất ít được làm rõ, mặc dù nó đã xuất hiện dường như ” xuyên suốt” trong hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật như đã phân tích ở trên. Theo quy định tại Nghị định số 95/1998/NĐưCP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức thì những người thuộc diện quy định tại Khoản 1, 2 và 4 của Điều 1 của Pháp lệnh cán bộ, công chức có thể được ” ngầm hiểu ” là ” cán bộ ” vì những người thuộc Khoản 3 và 5 của Điều 1 của Pháp lệnh này đã được coi là công chức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bật Mí Cách Trị Mụn Bọc Hiệu Quả Nhất
  • Hướng Dẫn Phân Biệt Các Loại Mụn Trên Mặt & Cách Điều Trị
  • Cách Phân Biệt 9 Loại Mụn
  • Phân Biệt Các Loại Mụn Thường Gặp Nhất & Cách Điều Trị
  • Phân Biệt Các Loại Mụn Và Cách Điều Trị Cho Từng Loại
  • Cán Bộ, Công Chức Và Viên Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Danh Từ Số Ít Và Danh Từ Số Nhiều Trong Tiếng Anh
  • Danh Từ Số Ít, Danh Từ Số Nhiều
  • Danh Từ Số Ít Và Danh Từ Số Nhiều
  • Số Ít Và Số Nhiều: Danh Từ + Danh Từ
  • Số Nhiều Và Số Ít: Số Nhiều Bất Quy Tắc Và Đặc Biệt
  • 1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 

    (Luật cán bộ, công chức năm 2008, điều 4, khoản 1)

    2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.  

    (Luật cán bộ, công chức năm 2008, điều 4, khoản 1)

    3. Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

    (Luật viên chức năm 2010, điều 2)

    PHÂN BIỆT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC

    Cán bộ, công chức, viên chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ, công chức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Theo các cách tiếp cận khác nhau, người ta đã đưa ra các giải thích khác nhau về các thuật ngữ “cán bộ”, “công chức” và “viên chức”. Thuật ngữ “cán bộ” được sử dụng khá lâu tại các nước XHCN và bao hàm trong phạm vi rộng những người làm việc thuộc khu vực nhà nước, các tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị-xã hội. Tuy nhiên, để xác định cụ thể những tiêu chí nào là cán bộ thì từ trước tới nay chưa có văn bản nào quy định chính thức.

    I. PHÂN BIỆT CÁN BỘ VÀ CÔNG CHỨC

    Theo quy định của Luật cán bộ, công chức thì cán bộ và công chức có những tiêu chí chung là: công dân Việt Nam; trong biên chế; hưởng lương từ ngân sách nhà nước (trường hợp công chức làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì tiền lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật); giữ một công vụ thường xuyên; làm việc trong công sở; được phân định theo cấp hành chính (cán bộ ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ cấp xã; công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; công chức cấp xã). Bên cạnh đó, giữa cán bộ và công chức được phân định rõ theo tiêu chí riêng, gắn với nguồn gốc hình thành.

    Khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ, công chức quy định công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Theo quy định này thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thông qua quy chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì được xác định là công chức. Công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công hoặc quyền hạn hành chính nhất định được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Việc quy định công chức trong phạm vi như vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị. Đây là điểm đặc thù của Việt Nam so với một số nước trên thế giới nhưng lại hoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể và thể chế chính trị ở Việt Nam. Bên cạnh đó, việc quy định công chức có trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập vừa phù hợp với Hiến pháp của Việt Nam, thể hiện được trách nhiệm của Nhà nước trong việc tổ chức cung cấp các dịch vụ công thiết yếu và cơ bản cho người dân, bảo đảm sự phát triển cân đối giữa các vùng, lãnh thổ có mức sống chênh lệch, thực hiện mục tiêu dân chủ và công bằng xã hội. Hiện nay, khi vai trò của Nhà nước đang được nhấn mạnh trong điều kiện kinh tế thị trường, nhằm khắc phục ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tác động đến sự ổn định đời sống xã hội thì việc quy định công chức có trong bộ máy lãnh đạo, quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập lại càng có ý nghĩa và thể hiện tầm nhìn sâu rộng của Luật cán bộ, công chức.

    Tuy nhiên, phạm vi công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập rộng hay hẹp còn tuỳ thuộc vào quy mô, phạm vi hoạt động của từng đơn vị sự nghiệp; vào cấp hành chính có thẩm quyền thành lập và quản lý. Công chức trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập, lực lượng vũ trang sẽ được quy định cụ thể tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ, quy định những người là công chức.

     

    II. PHÂN BIỆT CÔNG CHỨC VÀ VIÊN CHỨC

    Công chức (chi tiết theo Nghị định 06/2010/NĐ-CP):

    Được tuyển dụng bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế giữ một công vụ thường xuyên, hoặc nhiệm vụ thường xuyên trong các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện; trong các cơ quan, đơn vị QĐND (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp như chuyên viên vi tính, kế toán…); trong các cơ quan, đơn vị công an nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp); trong các cơ quan Đảng; Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; trong các bộ và cơ quan ngang bộ; TAND các cấp (Phó chánh án TAND tối cao; chánh án, phó chánh án các tòa chuyên trách, thẩm phán); Viện KSND; tổ chức CT-XH (Mặt trận Tổ quốc VN, Tổng liên đoàn Lao động VN, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên…); trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập…

    Viên chức (theo Luật Viên chức):

    Được tuyển dụng theo hợp đồng làm việc, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý (trừ các chức vụ quy định là công chức). Viên chức là người thực hiện các công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các lĩnh vực: giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động – thương binh và xã hội, thông tin – truyền thông, tài nguyên môi trường, dịch vụ… như bác sĩ, giáo viên, giảng viên đại học…

    Công chức

    – Vận hành quyền lực nhà nước, làm nhiệm vụ quản lý.

    – Hình thức tuyển dụng: thi tuyển, bổ nhiệm, có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuộc biên chế.

    – Lương: hưởng lương từ ngân sách nhà nước, theo ngạch bậc.

    – Nơi làm việc: cơ quan nhà nước, tổ chức CT-XH (Liên đoàn Lao đông tỉnh, Văn phòng Tỉnh ủy…).

    Viên chức

    – Thực hiện chức năng xã hội, trực tiếp thực hiện nghiệp vụ.

    – Hình thức tuyển dụng: xét tuyển, ký hợp đồng làm việc.

    – Lương: một phần từ ngân sách, còn lại là nguồn thu sự nghiệp.

    – Nơi làm việc: đơn vị sự nghiệp và đơn vị sự nghiệp của các tổ chức xã hội./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ai Được Gọi Là Viên Chức Theo Quy Định?
  • 11. Trị Bệnh Mụn Thịt, Mụn Ruồi, Mụn Cóc
  • Mụn Cóc Có Cần Điều Trị Không?
  • Các Loại Mụn Cóc: Điều Trị Và Nguyên Nhân Bị
  • Mụn Trứng Cá Ở Trẻ Sơ Sinh: Vấn Đề Hay Gặp Nhưng Ít Ai Biết
  • Cách Phân Biệt Cán Bộ, Công Chức Và Viên Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Từ 01/7/2020: Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Cần Biết 07 Sau
  • Phân Biệt Cổ Phiếu Và Trái Phiếu
  • Chứng Chỉ Quỹ Là Gì? Phân Biệt Chứng Chỉ Quỹ Với Cổ Phiếu
  • So Sánh (Phân Biệt) Cổ Phiếu Và Trái Phiếu Theo Quy Định Hiện Hành
  • Cổ Phiếu Là Gì? Trái Phiếu Là Gì ? Sự Khác Nhau Giữa Cổ Phiếu Và Trái Phiếu
  • Nếu bạn muốn trở thành cán bộ thì bạn nên hiểu rõ được khái niệm cán bộ công chức viên chức là gì để có thể hoàn thành tốt trong công việc.

    Cán bộ công chức là gì?

    Cán bộ là gì?

    Cán bộ là gì? cán bộ là công dân của Việt Nam được tín nhiệm bầu cử và được phê chuẩn giữ chức vụ trong nhiệm kỳ của cơ quan của Đảng và các tổ chức trong lĩnh vực chính trị – xã hội các cấp của Việt Nam. Đả, nhiệm nhiệm vụ trong biên chế của nhà nước và được hưởng chế độ đãi ngộ từ ngân sách nhà nước.

    Công chức là gì?

    Công chức là công dân của Việt Nam được bổ nhiệm vào những chức vụ nằm trong hệ điều hành của cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam. Các tổ chức chính trị và xã hội các cấp thuộc Quân đội Nhân dân nhưng không phải sĩ quan, các quân nhân mức độ chuyên nghiệp và quốc phòng. Làm việc dưới biên chế của nhà nước và hưởng ngân sách nhà nước.

    Riêng với các công chức làm trong bộ máy lãnh đạo, quản lý các đơn vị xí nghiệp công lập thì được hưởng lương từ quỹ đơn vị theo đúng quy định pháp luật.

    Viên chức là gì?

    Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng công tác vào các tổ chức, cơ quan, đơn vị theo hợp đồng làm việc và hưởng lương từ chính quỹ đơn vị theo đúng quy định và pháp luật Việt Nam.

    Phân biệt chức danh trong nhà nước

    Nguồn gốc

    • Cán bộ: Được tín nhiệm bầu cử và phê chuẩn bổ nhiệm giữ chức vụ trong biên chế.
    • Công chức: Phải trải qua thi tuyển công chức, trúng tuyển có quyết định phê chuẩn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong biên chế.
    • Viên chức: Tuyển dụng vào vị trí công việc là ký hợp đồng lao động.

    Thời gian tập sự

    • Cán bộ: Không có thời gian quy định về tập sự.
    • Công chức: Thời gian từ 6 đến 12 tháng tùy vào các trường hợp tương ứng tuyển dụng.
    • Viên chức: Quy định theo chức danh nghiệp vụ của từng ngành từng dịch vụ.

    Tính chất

    • Cán bộ: Vận hành quyền lực trong nhà nước. Giữ chức vụ quản lý và nhân danh quyền lực chính trị và quyền công. Tính theo nhiệm kỳ.
    • Công chức: Vận hành theo cơ chế nhà nước thực hiện đúng nhiệm vụ, chủ trương. Thường xuyên thực hiện công vụ.
    • Viên chức: Thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ xã hội và những kỹ năng nghiệp vụ, chuyên môn. Hoạt động thuần túy theo đúng nghiệp vụ.

    Chế độ lương

    • Cán bộ: Chế độ lương từ ngân sách nhà nước theo từng vị trí và chức danh.
    • Công chức: Chế độ lương từ ngân sách nhà nước và quỹ lương đơn vị công tác đối với các đơn vị công lập trong bộ máy lãnh đạo và quản lý đơn vị sự nghiệp công lập.
    • Viên chức: Chế độ lương từ quỹ đơn vị sự nghiệp công lập.

    Nơi làm việc

    • Cán bộ: Các đơn vị, cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội.
    • Công chức: Cơ quan Đảng, nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, quân đội, công an, tòa án và viện kiểm soát.
    • Viên chức: Đơn vị sự nghiệp công lập.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Khái Niệm Công Chức? Phân Biệt Cán Bộ, Công Chức Và Viên Chức
  • Các Quyền, Nghĩa Vụ Của Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức
  • Quyền Lợi, Nghĩa Vụ, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Cán Bộ, Công Chức
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Viên Chức
  • So Sánh Biệt Phái Giữa Công Chức Và Viên Chức?
  • Phân Biệt Lãnh Đạo Và Quản Lý

    --- Bài mới hơn ---

  • Sơ Lược Về Thị Trường Sơ Cấp Và Thị Trường Thứ Cấp
  • 20 Bức Ảnh Nhìn Mỏi Mắt Không Thấy Điểm Chung Giữa Văn Hóa Đông
  • So Sánh Văn Hóa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây
  • Văn Hóa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây
  • Khám Phá Sự Khác Biệt Giữa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây
  • Trong thực tế cuộc sống, khi cùng gặp phải khó khăn, ai lạc quan, nhìn ra được một tương lai tươi sáng thì người đó có tố chất để trở thành một nhà lãnh đạo. Còn ai nhìn thấy mọi vấn đề khó khăn, nhìn ra một bức tranh u ám thì người đó có tố chất để trở thành nhà quản lý.

    • Lãnh đạo hay còn được biết đến với thuật ngữ Leader. Đây là những người đứng đầu, kiểm soát một tổ chức, tập thể riêng biệt. Lãnh đạo là người xác lập ra phương hướng, tạo ra những kế hoạch cụ thể và truyền cảm hứng cho tập thể. Công việc của các nhà lãnh đạo là làm tư tưởng, tạo động cơ hoạt động cho mọi người.
    • Quản lý hay còn được biết đến với thuật ngữ Manager. Đây là những người chịu trách nhiệm về khía cạnh quan trọng của dự án, công việc, một đội. Công việc của các nhà quản lý là làm kế hoạch, tổ chức và điều phối.

    Hai khái niệm này có nhiều điểm tương đồng và dễ khiến mọi người nhầm lẫn. Cả hai đều ảnh hưởng, hướng tới mục tiêu và làm việc với con người. Lãnh đạo và quản lý thường đi cùng nhau nhưng lại có nhiều điểm khác biệt. Phân biệt lãnh đạo và quản lý là công việc còn nhiều khó khăn.

    2. Phân biệt lãnh đạo và quản lý

    “Có một sự khác biệt rất rõ nét giữa quản lý và lãnh đạo, và cả hai đều quan trọng. Quản lý nghĩa là dẫn dắt, hoàn thành công việc, chịu trách nhiệm và tiến hành. Lãnh đạo là tạo ảnh hưởng, là dẫn dắt định hướng về cách thức, tiến trình, hành động và quan điểm. Sự khác biệt này rất quan trọng” – Theo Warren Bennis.

  • Lãnh đạo là người cải tiến, cách tân còn quản lý là người trông nom.
  • Lãnh đạo là một nguyên bản thì quản lý là người copy.
  • Lãnh đạo đưa ra ý tưởng, quản lý là người thực thi nó.
  • Lãnh đạo tập trung vào phát triển, quản lý chú trọng việc duy trì.
  • Lãnh đạo quan tâm đến vấn đề con người, quản lý chú trọng tới hệ thống & cấu trúc.
  • Lãnh đạo truyền cảm hứng cho nhân viên bằng niềm tin. Quản lý duy trì giám sát dựa vào quyền điều hành.
  • Lãnh đạo nhìn xa trông rộng, có cái nhìn bao quát, chiến lược, dài hạn. Quản lý tập trung vào mục tiêu ngắn hạn.
  • Lãnh đạo hỏi : “Cái gì? Tại sao?”. Quản lý hỏi: “Làm sao? Như thế nào? Khi nào?”. Cần giỏi lãnh đạo trước, giỏi quản lý sau. Vì có “cái gì và tại sao”… rồi mới đến… “như thế nào và khi nào”!
  • Lãnh đạo tìm cách thay đổi thực trạng, quản lý thừa nhận nó.
  • Lãnh đạo là mấu chốt để gắn kết tình cảm giữa các thành viên trong tập thể. Quản lý là người công tâm, khách quan, lãnh đạm và lo lắng cho mọi mặt của các hoạt động tập thể.
  • Đó là một số điểm cơ bản khi phân biệt lãnh đạo và quản lý!

    Theo Peter Drucker, công việc của nhà quản lý có 5 hoạt động cơ bản. Đó là thiết lập mục tiêu; tổ chức; thúc đẩy; đo lường; phát triển bản thân và nhân viên. (Trích “Quản lý: Nhiệm vụ, Trách nhiệm và Thực tiễn” – “Management: Tasks, Responsibilities and Practices”). Quá trình để 5 bước này lặp đi lặp lại theo một chu trình khi mà nhà lãnh đạo xác định rõ sứ mệnh, tầm nhìn của mình.

    Còn theo tiến sĩ John Kotter – đại học Harvard thì khi phân biệt lãnh đạo và quản lý có sự khác nhau cơ bản. “Quản lý là tập hợp các quy trình để duy trì hoạt động của một tổ chức, họ cố gắng đạt được mục tiêu kinh doanh của quý này”. Lãnh đạo việc liên kết giữa con người với tầm nhìn, là sự cam kết, liên lạc, tạo động lực và truyền cảm hứng.

    Với cùng một tình huống, một sự việc, một thời điểm và hoàn cảnh giống nhau nhưng lại có hai nhóm người với góc nhìn trái ngược hoàn toàn.

    • Nhóm đầu tiên cho rằng tình hình rất sáng sủa, tương lai tươi sáng. Tình huống đó là cơ hội phát triển tốt cho họ. Đó là nhà lãnh đạo.
    • Nhóm còn lại cho rằng tình hình rất tối tăm, khó khăn, cản trở. Tình huống đó có nguy cơ gây ra thất bại cho họ. Đó là nhà quản lý.

    Vậy nên nếu bạn đang gặp khó khăn thì hãy gặp nhà lãnh đạo. Họ sẽ tạo cho bạn một động lực, một niềm tin và truyền niềm cảm hứng bất tận cho bạn. Còn nếu bạn đang muốn khởi nghiệp, đầu tư hay bắt đầu kinh doanh thì hãy gặp nhà quản lý. Họ sẽ vạch ra các rủi ro có thể xảy ra để bạn có thể phòng tránh chúng.

    Lãnh đạo là người làm đúng việc – do the right things. Quản lý là người làm việc đúng – do the things right. Sau khi nhà lãnh đạo đưa ra chiến lược thì quản lý sẽ là người kiểm soát xem công việc có đúng với định hướng chiến lược của người lãnh đạo không. Nếu lãnh đạo đưa ra chiến lược sai thì cho dù nhà quản lý có làm đúng thì công việc cũng không thể thành công.

    Khi phân biệt lãnh đạo và quản lý, bạn sẽ thấy lãnh đạo như linh hồn của cơ thể. Họ xác định rõ tầm nhìn, sứ mệnh của doanh nghiệp. Tầm nhìn của họ dài hạn, xa đến 3 – 5 – 10 năm. Lãnh đạo nhìn thấy triển vọng trong lúc khó khăn nhất. Họ là người đốt lửa để thổi bùng nguồn năng lượng của nhân viên.

    Dẫn dắt, tạo dựng, củng cố niềm tin cho cộng sự là công việc của Lãnh đạo. Họ tạo từ “không” thành “có” để xây dựng, phát triển doanh nghiệp lớn mạnh hơn.

    Quản lý lại là phần thể xác của cơ thể. Đây là những người dùng tư duy để kiểm soát, giám sát. Công việc của họ gắn liền với con số, giải quyết vấn đề ở thực tại.

    Đối với các nhà quản lý thì hiện tại là quan trọng nhất. Quản lý giữ những thứ “đang có” – tài sản không bị biến thành “không”.

    Những nhân viên, cộng sự của các nhà lãnh đạo là những người tự nguyện. Những người này luôn trung thành, sẵn sàng hi sinh, xả thân với công việc.

    Do tính chất công việc nên xung quanh những nhà quản lý là những cộng sự biết phục tùng. Họ lắng nghe và luôn tuân thủ theo đúng kỷ luật, hoàn thành đúng chỉ tiêu được giao.

      Đối với các nhà lãnh đạo, họ cần:
    • Uy tín cá nhân cao. Chỉ khi nhân viên tin, phục thì họ mới có thể lãnh đạo được tập thể
    • Có trình độ cao, tầm nhìn xa trông rộng để đưa ra những chiến lược đúng đắn
    • Phối hợp hài hòa với bộ phận quản lý
      Đối với các nhà quản lý, họ cần:
    • Hiểu và tuân theo các quyết định của lãnh đạo
    • Có tính kỷ luật cao
    • Tỉ mỉ, cẩn thận, luôn theo dõi sát sao các chi tiết
    • Có trình độ chuyên môn tương ứng với công việc

    Lãnh đạo cần có trình độ cao hơn người quản lý. Người quản lý thì cần tính chuyên môn cao hơn.

    Theo Michael Watkins thì người quản lý có thể trở thành người lãnh đạo. Quá trình chuyển biến gồm bảy bước quan trọng. Bảy bước đó là:

    Bước 1. Từ chuyên gia trở thành nhà quản trị tổng hợp

    Bước 2. Từ nhà phân tích trở thành người hợp nhất chuyên môn

    Bước 3. Từ nhà chiến thuật trở thành chiến lược gia

    Bước 4. Từ thợ hồ trở thành kiến trúc sư

    Bước 5. Từ người giải quyết vấn đề trở thành người hoạch định

    Bước 6. Từ chiến binh trở thành nhà ngoại giao

    Bước 7. Từ thành viên hỗ trợ trở thành vai trò lãnh đạo.

    Để một tập thể phát triển nhanh chóng và bền vững thì cần có cả lãnh đạo và quản lý. Lãnh đạo là nhân trị còn quản lý là pháp trị. Và một tổ chức, doanh nghiệp thì cần cả hai điều đó.

    Quản lý gây tác động đến một nhóm người để đạt được mục tiêu công việc thì họ đang làm một lãnh đạo. Và ngược lại, khi lãnh đạo dấn thân để lập kế hoạch, kiểm soát đội ngũ nhân viên thì họ đang làm một quản lý. Cả hai vị trí này đều cố gắng xử lý các tác động, ảnh hưởng của mình đến một nhóm cá nhân để có thể đạt được mục tiêu đã đặt ra.

    Lãnh đạo và quản lý là hai hệ thống hành động khác biệt, hỗ trợ nhau…Việc phân biệt lãnh đạo và quản lý rõ ràng về nhiệm vụ, vai trò, công việc của họ trong doanh nghiệp là vô cùng cần thiết. Nó tạo ra sự thành công trong môi trường kinh doanh ngày càng phức tạp và không ổn định hiện nay..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Tập Kinh Tế Vĩ Mô (Có Đáp Án)
  • Phân Biệt Kinh Tế Vi Mô Và Kinh Tế Vĩ Mô
  • Tiểu Luận So Sánh Ẩm Thực Ba Miền
  • Đặc Trưng Ẩm Thực 3 Miền Bắc
  • So Sánh Ẩm Thực 3 Miền Bắc
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100