Bệnh Mù Màu (Rối Loạn Sắc Giác)

--- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Bệnh Mù Màu, Nguyên Nhân Và Cách Chữa Trị
  • Những Đồ Chơi Giúp Bé Nhận Biết Màu Sắc Tốt Nhất
  • Mách Mẹ 3 Món Đồ Chơi Cho Bé Nhận Biết Màu Sắc
  • Học Phân Biệt Màu Sắc Và Phân Loại
  • Giúp Bé Học Cách Phân Biệt Màu Sắc
  • Rối loạn sắc giác không ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng lớn đến cuộc sống nên việc phát hiện ra nó sớm là rất quan trọng.

    Phả hệ về bệnh mù màu ở người.

    Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác như các bệnh lý có thể dẫn đến rối loạn sắc giác: bệnh về mắt như glaucom, thoái hóa hoàng điểm, đục thủy tinh thể, hoặc bệnh võng mạc do đái tháo đường, bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson, nghiện rượu mạn tính, bệnh bạch cầu… Tuy nhiên, các trường hợp này có thể khắc khục được nếu các bệnh trên được điều trị. Một số thuốc có thể làm thay đổi nhìn màu sắc, chẳng hạn như một số loại thuốc dùng để điều trị bệnh tim, tăng huyết áp, rối loạn thần kinh. Hoặc do tiếp xúc với một số hóa chất mạnh như disulfua cacbon, phân bón và styrene có thể gây mất màu sắc thị giác.

    Biểu hiện của bệnh

    Gặp bác sĩ khi nào?

    Đối với trẻ em, trong vài tháng đầu đời, trẻ đã biết chú ý tới những màu tương phản như đỏ, đen. Khoảng 18 tháng tuổi, trẻ biết phân biệt các màu khác nhau nhưng chưa gọi tên được màu sắc. Thường từ 3 tuổi – bắt đầu tuổi mẫu giáo, trẻ mới gọi tên được màu đỏ, màu xanh. Tới 3 tuổi rưỡi đến 4 tuổi, trẻ mới nhận biết và phân biệt được nhiều màu hơn. Sau 4 tuổi mà nhận biết màu của trẻ không đúng, thường xuyên sai thì cần nghĩ đến rối loạn mù sắc.

    Chẩn đoán và điều trị

    Khi có nghi ngờ mắc rối loạn sắc giác có thể kiểm tra bệnh nhân bằng cách yêu cầu nhìn vào một loạt chấm màu và thử tìm ra một mô hình từ những chấm màu đó, chẳng hạn như một chữ hay một con số nào đó. Nếu bệnh nhân nhận biết được sẽ giúp bác sĩ biết những màu nào là màu mà bạn khó phân biệt. Ngoài ra cũng có thể bệnh nhân sẽ phải sắp xếp các chip màu theo các nhóm màu có màu tương tự nhau. Vì bệnh nhân mắc rối loạn sắc giác không thể sắp xếp các chip màu một cách chính xác.

    Rối loạn sắc giác không ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng lớn đến cuộc sống nên việc phát hiện ra nó sớm là rất quan trọng. Ở trẻ em, rối loạn sắc giác ảnh hưởng đến khả năng học tập và sự phát triển khả năng đọc và hạn chế việc lựa chọn nghề nghiệp sau này, đặc biệt là các nghề liện quan đến màu sắc.

    Về điều trị rối loạn sắc giác do di truyền không thể chữa trị hay khắc phục. Nếu do các nguyên nhân khác thì có thể được chữa trị và khắc phục nhưng cũng tùy vào từng nguyên nhân. Ví dụ, bệnh đục thủy tinh thể làm giảm khả năng phân biệt màu sắc. Trong trường hợp này, rối loạn sắc giác có thể được chữa trị bằng phẫu thuật loại bỏ thủy tinh thể bị đục, nhằm khôi phục lại khả năng nhìn màu.

    Thị lực có khả năng phân biệt màu do tổng hợp 3 cảm giác màu ứng với một bước sóng ánh sáng khác nhau: cam – tím (có bước sóng 450nm), vàng – lục (520nm) và đỏ (630nm). Ở người, võng mạc có 3 loại tế bào nón, mỗi loại mẫn cảm nhất với một bước sóng nhất định là 430nm (ứng với tím), 540nm (ứng với xanh lục) và 575nm (ứng với đỏ). Có lẽ ở các loại đó có các opsin khác nhau cho mỗi loại. Khi hòa trộn các màu cơ bản đó với nhau theo một tỷ lệ nhất định có thể có muôn màu sắc khác nhau. Ánh sáng trắng trong tự nhiên là tập hợp nhiều loại ánh sáng có các bước sóng khác nhau, lần lượt từ bước sóng từ ngắn đến dài như sau: tím, chàm, lam, lục, vàng, cam, đỏ. Từ đó có thể tạo ra vô vàn các màu khác nhau từ sự pha trộn các quang phổ màu này. Sự phân tích màu sắc chủ yếu do các tế bào nón đảm nhận, đây là những tế bào tập trung ở hố trung tâm của võng mạc. Khi các tế bào nón này mất khả năng phân biệt màu sắc sẽ gây ra rối loạn sắc giác hay bệnh mù màu.

    BS. Hoàng Thị Hậu

    --- Bài cũ hơn ---

  • 6 Trò Chơi Giúp Bé Nhận Biết Màu Sắc
  • Dạy Bé Học Màu Sắc Không Khó Chút Nào Đâu Ba Mẹ Ơi!
  • Học Mẹ Việt Cách Dạy Bé Nhận Biết Màu Sắc Cực Sáng Tạo
  • 7 Cách Dạy Con Nhận Biết Màu Sắc
  • Cách Dạy Bé Nhận Biết Màu Sắc Cực Sáng Tạo
  • Mù Màu – Rối Loạn Sắc Giác. Bạn Có Mắc Phải Hay Không?

    --- Bài mới hơn ---

  • Ảnh Hưởng Của Bệnh Mù Màu
  • Mẹo Dạy Bé Nhận Biết Màu Sắc Với Đồ Chơi Nhanh Chóng
  • Enchroma – Kính Giúp Người Mù Màu Phân Biệt Màu Sắc Chuẩn Xác
  • Bệnh Mù Màu: Những Kiến Thức Bạn Cần Biết
  • Thị Giác Cá Đối Với Màu Sắc
  • Bs Lê Văn Hiếu – Khoa Mắt

    Bệnh mù màu hay còn gọi là rối loạn sắc giác, đây là một bệnh về mắt làm cho người bệnh tuy vẫn có thể nhìn rõ mọi vật nhưng lại không phân biệt được một số màu sắc. Phổ biến nhất là không thể phân biệt được màu đỏ và màu xanh lá cây. Một số ít lại không thể phân biệt giữa màu xanh và màu vàng.

    Bệnh phát sinh do đột biến hoặc thiếu một gen trên nhiễm sắc thể X, làm rối loạn tế bào cảm thụ ánh sáng ở mắt cần để phân biệt màu sắc. Nếu con trai nhận được gen này từ người mẹ gen thì chắc chắn sẽ mắc bệnh mù màu. Còn con gái chỉ mắc bệnh khi cả bố và mẹ đều có gen mù màu.

     

    Bệnh mù màu không ảnh hưởng tới sức khỏe cũng như trí tuệ,nhưng ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống,  người mang bệnh này vẫn có thể sinh sản bình thường và đa số không biết mình có bệnh do vậy gen bệnh có khả năng lan rộng trong dân cư.

    Người phương Đông ít bị mù màu hơn người phương Tây. Theo thống kê của WHO, chỉ có 4-5% đàn ông phương Đông bị mù màu, còn người phương Tây thì lên tới 8-9%. Tại Việt Nam thì bệnh này gặp ở 3-5% nữ giới, 8-10% nam giới trong số những người đến khám mắt.

     

    Vậy còn bạn, bạn có bị mù màu không?

     

    Đáp án:

    Bảng 1:

      12 – Tất cả mọi người, kể cả người bị mù màu đều có thể nhìn thấy số 12

    Bảng 2:

      8 – Người bình thường sẽ nhìn thấy số 8

      3 – Những người bị mù màu đỏ – xanh lục sẽ nhìn thấy số 3

      Không có gì – Những người bị mù màu toàn bộ sẽ không nhìn thấy số.

    Bảng 3:

      5 – Người bình thường thấy số 5

      2 – Người bị mù màu đỏ – xanh lục sẽ nhìn thấy số 2

      Không có gì – Những người bị mù màu toàn bộ sẽ không nhìn thấy số.

    Bảng 4:

      74 – Người bình thường thấy số 74

      21 – Người bị mù màu đỏ – xanh lục sẽ thấy số 21

      Không có gì – Những người bị mù màu toàn bộ sẽ không nhìn thấy số.

    Bảng 5:

      6 – Người bình thường thấy số 6

      Không có gì – Đa số những người mù màu không nhìn thấy số

    Bảng 6:

      73 – Những người bình thường sẽ thấy số 73

      Không có gì – Đa số những người mù màu không nhìn thấy số.

    Bảng 7:

      Không có gì – Những người bình thường hoặc mù màu toàn bộ sẽ không nhìn thấy số.

      5 – Những người bị mù màu đỏ – xanh lục sẽ nhìn thấy số 5

    Bảng 8:

      26 – Người bình thường sẽ thấy số 26

      Nhìn thấy số 2, không rõ số 6 – Những người bị mù màu xanh lục sẽ thấy số 2. Những người bị mù màu xanh lục nhẹ có thể nhìn thấy số 6 mờ mờ.

      Nhìn thấy số 6, không rõ số 2 – Những người bị  mù màu đỏ sẽ thấy số 6. Những người bị mù màu đỏ nhẹ có thể nhìn thấy số 2 mờ mờ.

    Chú ý: Việc kiểm tra trên máy vi tính hay điện thoại có thể làm thay đổi độ phân giải của hình ảnh, nên nếu nghi ngờ bạn bị mù màu hãy đến phòng khám chuyên khoa Mắt để được kiểm tra lại trên một hình ảnh khác.

    Điều trị:

    Hiện nay y học chưa có cách nào chữa được bệnh mù màu. Một số nhà khoa học hy vọng có thể nghiên cứu tìm ra một loại thiết bị quang học đặc biệt dùng đeo như một loại kính mắt có khả năng giúp cho người mù màu có thể phân biệt được màu sắc.

    Những người bị mù màu có thể bị cấm làm một số công việc cần đến khả năng phân biệt màu sắc như  vẽ trang trí, nhuộm vãi, in ấn,…  đặc biệt không được lái xe, lái tàu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Màu Sắc Ở Gà
  • Những Điều Ít Biết Về Sự Phát Triển Thị Giác Của Trẻ Sơ Sinh
  • Làm Thế Nào Để Dạy Trẻ Nhận Biết Về Màu Sắc Và Con Số?
  • Lý Thuyết Cơ Bản Về Màu Sắc Trong Hội Họa
  • 3 Lý Thuyết Màu Cơ Bản Cần Nắm Rõ Khi Thiết Kế
  • Enchroma – Kính Giúp Người Mù Màu Phân Biệt Màu Sắc Chuẩn Xác

    --- Bài mới hơn ---

  • Bệnh Mù Màu: Những Kiến Thức Bạn Cần Biết
  • Thị Giác Cá Đối Với Màu Sắc
  • Liệu Bò Tót Có Thực Sự Ghét Màu Đỏ Như Chúng Ta Vẫn Nghĩ?
  • Máy Đo Màu Sắc
  • Máy Phân Tích Màu Sắc Máy So Màu Điện Tử Kỹ Thuật Số – Máy Kiểm Tra Chất Lượng
  • Đôi nét về hội chứng mù màu

    Theo như nghiên cứu thì hội chứng mù màu còn được gọi là bệnh rối loạn sắc giác. Đồng thời nó được biểu hiện bằng tình trạng mắt không thể phân biệt được các màu sắc của đồ vật như mù xanh lá, màu đỏ, xanh lam hoặc khi các màu được pha trộn với nhau.

    Hơn nữa sẽ tùy vào mức độ nặng hay nhẹ của người bệnh mà khả năng nhận biết những màu sắc bị giảm hoặc có thể không nhìn thấy gì. Mặt khác, nhằm giúp các bệnh nhân có thể phân biệt màu sắc công ty Enchroma đã nghiên cứu ra một loại kính mang tên kính mù màu Enchroma, loại kính này đã giúp ích rất nhiều cho những người mắc hội chứng mù màu phân biệt được màu sắc.

    Sự ra đời của chiếc kính mù màu Enchroma

    Hiện nay trên thế giới có rất nhiều người mắc chứng bệnh mù màu. Tuy nhiên một công ty tại Mỹ đã mang tới một giải pháp, để giúp hàng nghìn người bị mù màu có thể phân biệt được màu sắc.

    Hơn nữa sau nhiều năm nghiên cứu và tìm hiểu ông đã thành lập nên Enchoma, một công ty chuyên sản xuất các loại kính mắt và những chiếc mắt kính cho những người  mắc bệnh rối loạn sắc giác. Đồng thời Donald McPherson đã cho biết rằng kính mắt của chúng tôi có khả năng giúp người đeo kính phân biệt những màu sắc xung quanh bằng cách chặn những bước sóng của ánh sáng nhất định

    Mặt khác những năm gần đây ông đa cho ra một phiên bản có sự cải tiến hơn. Bởi cho phép người dùng có thể sử dụng khi chơi thể thao cũng như sẽ rất thuận tiện với trẻ em.

    Fado – Mua sắm xuyên biên giới: Amazon, Ebay, Jomashop… từ Mỹ, Đức, Nhật, Anh, Singapore

    Fado.vn là sàn thương mại điện tử xuyên biên giới ( Cross-Border E-commerce) hàng đầu Việt Nam. Nơi mua sắm hàng tỷ sản phẩm Mỹ, Đức, Nhật, Úc, Anh(UK), Singapore ngay tại Việt Nam. Chính ngạch, an toàn, vui vẻ, giá rẻ, giao nhanh. Bằng nền tảng công nghệ và hệ thống thông minh của Fado, việc mua sắm của khách hàng sẽ đơn giản, nhanh chóng, tiết kiệm với nhiều lợi ích vượt bậc.

    Chi phí niêm yết trên sản phẩm là trọn gói, khách hàng không cần trả thêm bất kì một khoản phí phát sinh nào khác khi hàng hóa về nước. Mua sản phẩm chính hãng có thương hiệu trực tiếp từ nước ngoài giúp tiết kiệm chi phí và đảm bảo nguồn gốc cùng chất lượng hàng hóa. Với hơn 4 tỷ mặt hàng từ sức khỏe và sắc đẹp, trang trí nhà cửa, thời trang, điện máy, hàng điện tử tiêu dùng… chúng tôi sẽ đáp ứng tất cả nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng Việt

    Dữ liệu sản phẩm luôn được cập nhật theo thời gian thực- hàng ngày. Giúp người tiêu dùng tận hưởng tốt tất cả các chương trình khuyến mãi liên tục trên Amazon, Ebay, Jomashop,…

    Mua sắm an toàn và đảm bảo khi giao dịch quốc tế. Khách hàng yên tâm về khoảng chi phí bỏ ra và các thủ tục giấy tờ bởi vì Fado sẽ thay mặt giải quyết một cách đầy đủ và cam kết tính chân thật cùng uy tín. Dịch vụ chăm sóc khách hàng nhiệt tình, làm việc vì quyền lợi của người người tiêu dùng Việt Nam

    Nhiều chương trình khuyến mãi và ưu đãi từ Fado như Fado tích điểm đổi mã giảm giá và cơ hội trở thành thành viên VIP của Fado.

    Tham khảo 4 bước mua hàng đơn giản từ Fado 

    Mua hàng từ nước ngoài khách hàng Việt cần một dịch vụ vận chuyển hàng quốc tế về nước- Fado sẽ giúp bạn hoàn thiện quá trình đó một cách nhanh chóng, an toàn và đảm bảo.

    1. Đăng nhập chúng tôi bằng tài khoản G+ hoặc Facebook hoặc Quý khách hàng có thể đăng ký mới.

    2. Gõ từ khóa về sản phẩm và chọn “Khám Phá” ở vùng quốc tế tương ứng, gõ từ khóa sản phẩm muốn mua và bỏ sản phẩm vào giỏ hàng.

    3. Khách hàng cần điền thông tin cá nhân sau đó “Tiến hành đặt hàng”. Cần chọn % Thanh toán (50%, 80% hoặc 100%), sau đó nhấn nút hoàn tất đơn hàng.

    4. Tiến hành theo dõi đơn hàng trong hộp thư trong mục “Theo dõi đơn hàng” để biết được tình hình đơn hàng của mình.

    chúng tôi  để tìm kiếm sản phẩm từ Amazon, Ebay, Jomashop… từ Mỹ, Đức, Nhật, Anh, Singapore

    chúng tôi  để đọc những chính sách của Fado

    Hotline: 1900545403 để được tư vấn giải đáp về dịch vụ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẹo Dạy Bé Nhận Biết Màu Sắc Với Đồ Chơi Nhanh Chóng
  • Ảnh Hưởng Của Bệnh Mù Màu
  • Mù Màu – Rối Loạn Sắc Giác. Bạn Có Mắc Phải Hay Không?
  • Phân Biệt Màu Sắc Ở Gà
  • Những Điều Ít Biết Về Sự Phát Triển Thị Giác Của Trẻ Sơ Sinh
  • Nhuộm Thuốc Kính Áp Tròng Có Thể Giúp Người Mù Màu Phân Biệt Màu Sắc

    --- Bài mới hơn ---

  • Mắt Kính Râm Enchroma Mắt Kính Giúp Người Bệnh Mù Màu Phân Biệt Màu Sắc Chính Xác
  • Mắt Kính Cận Chống Ánh Sáng Xanh Thật Và Giả
  • Đôi Mắt Của Những Chú Chó Nhìn Được Màu Sắc Gì?
  • Chó Chó Có Phân Biệt Màu Sắc Không? Thế Giới Qua Con Mắt Của Sharik
  • Bí Quyết Để Phân Biệt Gỗ Óc Cho (Walnut) Và Gỗ Công Nghiệp
  • Đôi mắt con người lĩnh hội được màu sắc nhờ những chùm tia sáng phản chiếu từ vật thể đập vào các tế bào hình nón ở sau mắt. Những tế bào khác nhau sẽ tiếp nhận những bước sóng ánh sáng khác nhau và cùng nhau, chúng cho phép mắt người thấy được toàn quảng phổ màu. Khi những tế bào hình nón không hoạt động chính xác, thường là do di truyền, chúng tác động đến khả năng cảm nhận một số màu sắc nhất định, đây cũng là chứng bệnh mù màu hay thiếu thị giác về màu sắc CVD.

    Dạng CVD phổ biến nhất thường tác độ đến các phần màu đỏ và xanh lá trong phổ màu. Khi ánh sáng từ các màu sắc xanh và đỏ đi vào mắt, các tế bào hình nón nhạy màu đỏ và các tế bào hình nón nhạy màu xanh bị kích hoạt đồng thời, nên người mắc chứng CVD không thể nhận biết sự khác biệt giữa 2 màu xanh và đỏ. Sự lẫn lộn về màu sắc khiến họ chỉ thấy một thứ lờ mờ của màu vàng và nâu, từ đó khiến họ gặp khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày, chẳng hạn như phân biệt đèn tín hiệu giao thông.

    Đã có những nghiên cứu tìm cách khắc phục vấn đề, điển hình như phương pháp sử dụng liệu pháp gene để nuôi cấy các tế bào hình nón mới trong mắt của những người bị mù màu, hay một loại kính mát điều chỉnh màu sắc của công ty EnChroma. Tuy nhiên, những liệu pháp hay thiết bị tương tự thường có chi phí cao, khá vướn víu và không thể dùng với các loại kính chữa tật khúc xạ, chẳng hạn như người vừa bị mù màu, vừa bị cận thị. Nên các nhà nghiên cứu tại đại học Birmingham nghĩ ra giải pháp về một loại kính áp tròng được nhuộm màu bằng một loại chất nhuộm dẫn xuất từ rhodamine, có khả năng hấp thụ những bước sóng ánh sáng giữa đỏ và xanh lá. Bằng cách chặn những bước sóng ánh sáng, những người mắc chứng CVD có thể phân biệt tốt hơn giữa 2 màu sắc.

    Haider Butt – lãnh đạo nhóm nghiên cứu tại đại học Birmingham cho biết: “Kính áp tròng rất lý tưởng để dùng làm công cụ điều chỉnh màu sắc đối với những người mắc CVD vì có thể mang lại tác dụng trên toàn trường quan sát. Ngoài ra, quá trình nhuộm màu mà chúng tôi thực hiện không cần đến các bước chuẩn bị phức tạp, cũng không độc hại đối với mắt người và có thể được áp dụng trên cả kính mắt thường lẫn kính áp tròng với chi phí thấp”

    Nhóm nghiên cứu tại Birmingham đã thử nghiệm ý tưởng mới trên nhiều người bị CVD không thể phân biệt 2 màu đỏ và xanh lục, và các bệnh nhân đều phản hồi tích cực. Haider Butt cho biết: “Chúng tôi đang tìm cách sử dụng một kỹ thuật tương tự để điều chỉnh giữa màu tím và xanh cũng như đưa nhiều loại chất nhuộm khác nhau vào kính áp tròng để có thể điều chỉnh sai lệch đỏ-xanh lá và tím-xanh dương đồng thời. Hoạt động thử nghiệm lâm sàn thương mại sẽ được tiến hành sớm”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gợi Ý Đồ Chơi Giúp Bé Phân Biệt Được Màu Sắc
  • Dạy Con Nhận Diện Màu Sắc Dễ Dàng Với Đồ Chơi Gỗ
  • Báo Giá Đồ Chơi Xe Kéo Thả Hình Giúp Bé Phân Biệt Màu Sắc Và Hình Khối Chỉ 219.000₫
  • Tìm Hiểu Bệnh Mù Màu
  • Giáo Án Nhận Biết Màu Xanh Màu Đỏ
  • Kính Áp Tròng Dùng Thuốc Nhuộm Giúp Người Bị Mù Màu Phân Biệt Được Màu Sắc

    --- Bài mới hơn ---

  • Bạn Có Bị Mù Màu Không?
  • Hướng Dẫn Phân Biệt Các Loại Tổ Yến Sào Trước Khi Mua
  • Bạn Muốn Biết Mắt Minh Phân Biệt Màu Sắc Tốt Đến Đâu?
  • 5 Phần Mềm Giúp Lấy Mã Màu Chuyên Nghiệp
  • Gợi Ý Cách Nhận Biết Nhóm Máu Nhanh Chóng Và Hiệu Quả
  • Đôi mắt chúng ta lĩnh hội được màu sắc nhờ những chùm tia sáng phản chiếu từ vật thể đập vào các tế bào hình nón ở sau mắt. Những tế bào khác nhau sẽ tiếp nhaận những bước sóng ánh sáng khác nhau và cùng nhau, chúng cho phép chúng ta thấy được toàn quảng phổ màu. Khi những tế bào hình nón này không hoạt động chính xác, thường là do di truyền thì chúng tác động đến khả năng cảm nhận một số màu sắc nhất định, đây cũng là chứng bệnh mù màu hay thiếu thị giác về màu sắc ( CVD).

    Dạng CVD phổ biến nhất thường tác độ đến các phần màu đỏ và xanh lá trong phổ màu. Khi ánh sáng từ các màu sắc này đi vào mắt, các tế bào hình nón nhạy màu đỏ và các tế bào hình nón nhạy màu xanh bị kích hoạt đồng thời, do đó người mắc CVD không thể nhận biết sự khác biệt giữa 2 màu sắc này. Sự lẫn lộn về màu sắc này khiến họ chỉ thấy một thứ lờ mờ của màu vàng và nâu, từ đó khiến họ gặp khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày, chẳng hạn như phân biệt đèn tín hiệu giao thông.

    Đã có những nghiên cứu tìm cách khắc phục vấn đề này, điển hình là sử dụng liệu pháp gene để nuôi cấy các tế bào hình nón mới trong mắt của những người bị mù màu hay một loại kính mát điều chỉnh màu sắc của công ty có tên EnChroma. Tuy nhiên, những liệu pháp hay thiết bị như vậy thường có chi phí cao, chưa kể là khá vướn víu và không thể dùng với các loại kính chữa tật khúc xạ (chẳng hạn như người vừa bị mù màu, vừa bị cận thị).

    Vì vậy, các nhà nghiên cứu tại đại học Birmingham nghĩ ra giải pháp về một loại kính áp tròng được nhuộm màu bằng một loại chất nhuộm dẫn xuất từ rhodamine có khả năng hấp thụ những bước sóng ánh sáng giữa đỏ và xanh lá. Bằng cách chặn những bước sóng ánh sáng này, người mắc CVD có thể phân biệt tốt hơn giữa 2 màu sắc.

    Haider Butt – lãnh đạo nhóm nghiên cứu tại đại học Birmingham cho biết: “Kính áp tròng rất lyys tưởng để dùng làm công cụ điều chỉnh màu sắc đối với những người mắc CVD bởi nó có thể mang lại tác dụng trên toàn trường quan sát. Thêm vào đó, quá trình nhuộm màu mà chúng tôi thực hiện không cần đến các bước chuẩn bị phức tạp, cũng không độc hại đối với mắt người và phương pháp này có thể được áp dụng trên cả kính mắt thường lẫn kính áp tròng với chi phí thấp.”

    Các nhà nghiên cứu tại Birmingham đã thử nghiệm ý tưởng này trên nhiều người bị CVD không thể phân biệt 2 màu đỏ và xanh lục và các bệnh nhân đều phản hồi tích cực. “Chúng tôi đang tìm cách sử dụng một kỹ thuật tương tự để điều chỉnh giữa màu tím và xanh cũng như đưa nhiều loại chất nhuộm khác nhau vào kính áp tròng để có thể điều chỉnh sai lệch đỏ-xanh lá và tím-xanh dương đồng thời. Hoạt động thử nghiệm lâm sàn thương mại sẽ được tiến hành sớm,” Butt nói.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Cách Phân Biệt Các Loại Rượu Vang Ý Thông Qua Màu Sắc !
  • Giúp Bé Học Cách Phân Biệt Màu Sắc
  • Học Phân Biệt Màu Sắc Và Phân Loại
  • Mách Mẹ 3 Món Đồ Chơi Cho Bé Nhận Biết Màu Sắc
  • Những Đồ Chơi Giúp Bé Nhận Biết Màu Sắc Tốt Nhất
  • Sự Nhìn Và Cảm Giác Về Màu Sắc

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Nhận Biết Tinh Trùng Khỏe Mạnh Qua Màu Sắc, Mắt Thường
  • Tinh Trùng Khỏe Mạnh Có Màu Sắc, Mùi Vị Như Thế Nào?
  • Cách Nhận Biết Tinh Trùng Khỏe Là Như Thế Nào, Có Màu Gì?
  • Bai Giang Dien Tu Bai 12. Ho Hap O Thuc Vat
  • Nước Hoa Gucci Phân Biệt Thật Giả Ra Sao?
  • Mắt người có các thành phần quang đa dạng, gồm giác mạc, mống mắt, con ngươi, thủy dịch và thủy tinh dịch, một thủy tinh thể có tiêu cự thay đổi, và võng mạc (như minh họa trong hình 1). Những thành phần này phối hợp với nhau, tạo nên ảnh của các vật rơi vào tầm nhìn của mắt. Khi một vật được quan sát, trước tiên nó hội tụ qua thành phần giác mạc lồi và thủy tinh thể, hình thành nên ảnh lộn ngược trên mặt võng mạc, một màng nhiều lớp chứa hàng triệu tế bào thị giác. Để đến được võng mạc, các tia sáng bị hội tụ bởi giác mạc phải lần lượt đi qua thủy dịch (trong khoang phía trước), thủy tinh thể, thủy tinh dịch sền sệt, và lớp mạch máu và dây thần kinh của võng mạc trước khi chúng đi đến phần nhạy sáng bên ngoài của các tế bào hình nón và hình que. Những tế bào thị giác này nhận diện ảnh và biến nó thành tín hiệu điện truyền lên não.

    Bất chấp một số quan niệm sai lầm do có quá nhiều thuật ngữ dùng để mô tả cấu tạo mắt, nhưng chính giác mạc, chứ không phải thủy tinh thể, mới chịu trách nhiệm chính cho khả năng khúc xạ toàn bộ của mắt. Nhẵn bóng và trong suốt như thủy tinh, mềm dẻo và bền như plastic, phần trong suốt, có độ cong cao, nằm phía ngoài này của thành trước của nhãn cầu cho phép các tia sáng tạo ảnh truyền qua vào phần trong. Giác mạc cũng bảo vệ mắt bằng cách làm một rào chắn vật lí che chắn phần trong của mắt khỏi vi sinh vật, bụi bặm, các sợi nhỏ, các chất hóa học và những chất gây hại khác. Mặc dù chiều rộng nhỏ hơn nhiều so với thủy tinh thể, nhưng giác mạc mang lại khoảng 65% khả năng khúc xạ của mắt. Đa phần sức mạnh bẻ cong ánh sáng tập trung gần chính giữa của giác mạc, nơi tròn hơn và mỏng hơn so với các phần ngoại biên của mô.

    Như cánh cửa sổ điều khiển ánh sáng đi vào mắt, giác mạc (hình 2) là yếu tố cần thiết cho sự nhìn tốt và cũng đóng vai trò là bộ lọc ánh sáng tử ngoại. Giác mạc loại trừ một số bước sóng tử ngoại gây phá hủy nhất có mặt trong ánh sáng Mặt Trời, do đó bảo vệ được võng mạc dễ thương tổn và thủy tinh thể khỏi bị phá hoại. Nếu giác mạc cong quá nhiều, như trường hợp cận thị, các vật ở xa sẽ xuất hiện dạng ảnh mờ, do sự khúc xạ ánh sáng chưa hoàn chỉnh tới võng mạc. Trong trường hợp loạn thị, sự không hoàn hảo hay không đều ở giác mạc gây ra sự khúc xạ không đồng đều, làm cho ảnh chiếu lên võng mạc bị méo dạng.

    Không giống như đa số các mô của cơ thể người, giác mạc không có các mạch máu nuôi dưỡng hoặc bảo vệ chống lại sự xâm nhiễm. Cả những mao mạch nhỏ nhất cũng sẽ gây trở ngại cho quá trình khúc xạ chính xác. Giác mạc nhận nuôi dưỡng từ nước mắt và thủy dịch, chúng chiếm đầy khoang nằm phía sau cấu trúc này. Lớp biểu mô phía ngoài của giác mạc chứa hàng nghìn đầu mút dây thần kinh nhỏ, khiến cho giác mạc cực kì nhạy với sự đau đớn khi bị chà xát hoặc cào xước. Chiếm khoảng 10% chiều dày của mô, lớp ngoài của giác mạc chặn các đối tượng lạ không cho đi vào mắt, đồng thời mang lại bề mặt nhẵn cho sự hấp thụ oxy và chất dinh dưỡng. Lớp chính giữa của giác mạc, gọi là chất nền, chiếm khoảng 90% mô, và gồm một mạng sợi protein bão hòa nước mang lại sức bền, sức đàn hồi, và hình dạng chống đỡ cho biểu mô. Các tế bào cấp dưỡng chiếm phần còn lại của lớp chất nền. Vì chất nền có xu hướng hấp thụ nước, nên nhiệm vụ chính của mô màng trong là bơm nước dư thừa khỏi chất nền. Không có hoạt động bơm này, chất nền sẽ đầy ứ nước, trở nên mờ sương, và cuối cùng chuyển thành giác mạc mờ đục, tức là mắt bị mù.

    Chức năng của võng mạc giống như sự kết hợp của một bộ cảm biến ảnh kĩ thuật số (như dụng cụ tích điện kép CCD) với một bộ chuyển đổi tương tự sang số, như có mặt trong các hệ camera kĩ thuật số hiện đại. Cơ quan thụ cảm bắt lấy ảnh của mắt, gọi là các tế bào hình nón và hình que, liên kết với các bó sợi dây thần kinh thị giác qua một loạt tế bào chuyên biệt phối hợp truyền tín hiệu lên não. Lượng ánh sáng được phép đi vào mỗi mắt được điều chỉnh bởi mống mắt, một màng chắn tròn mở rộng ở mức ánh sáng thấp và đóng lại nhằm bảo vệ con ngươi (lỗ) và võng mực ở mức rọi sáng rất cao.

    Khi nguồn sáng thay đổi, đường kính của con ngươi (nằm phía trước thủy tinh thể) tự điều chỉnh kích thước giữa 2 đến 8mm, điều chỉnh lượng ánh sáng đi tới võng mạc. Khi nguồn chiếu sáng rất chói, con ngươi thu hẹp lại và các phần ngoài của các thành phần khúc xạ bị chặn khỏi đường đi tia sáng. Kết quả là các tia sáng tạo ảnh bị quang sai ít hơn và ảnh trên võng mạc trở nên sắc nét hơn. Con ngươi rất hẹp (khoảng 2mm) tạo ra sự nhiễu xạ làm trải rộng ảnh của một nguồn điểm lên trên võng mạc.

    Trong não, các sợi dây thần kinh thị giác từ mỗi mắt cắt nhau một tại nơi giao thoa quang, nơi đó thông tin thị giác từ cả hai phần võng mạc truyền song song tương quan nhau, giống như vai trò của máy phát đồng bộ thời gian dùng trong máy ghi video kĩ thuật số. Từ đó, thông tin thị giác truyền qua ống quang đến bộ phận cong gập hình đầu gối, ở đó tín hiệu được phân bố qua bức xạ quang tới hai phẩn vỏ não thị giác nằm trên phần phía sau, ở dưới của mỗi bán cầu não. Trong lớp vỏ não ở dưới, thông tin từ mỗi mắt được duy trì dưới dạng cột vạch trội thị giác. Khi tín hiệu thị giác được truyền tới lớp trên của vỏ não, thông tin từ hai mắt hợp nhất với nhau và sự nhìn hai mắt được thiết lập. Trong những trường hợp mắt không bình thường, như mắt xiên, mắt lác, sự nhìn ảnh nổi bị phá vỡ. Trong trường hợp phẫu thuật mắt không đảm bảo, thì thấu kính gắn trên kính đeo mắt có thể chữa được một số tật thuộc loại này. Nguyên nhân gây ra sự gián đoạn đối với sự hợp nhất tín hiệu từ hai mắt có thể do chấn thương, do bệnh cơ thần kinh, hoặc do khuyết tật bẩm sinh.

    Hố mắt giữa nằm trong khu vực gần chính giữa võng mạc, và nằm thẳng dọc theo trục chính của mỗi mắt. Cũng gọi là “điểm vàng”, hố mắt nhỏ (dưới 1mm 2), nhưng rất chuyên biệt. Những vùng này chứa các tế bào hình nón chi chít, mật độ cao (trên 200.000 tế bào hình nón/mm 2 đối với mắt người trưởng thành, xem hình 4). Hố mắt giữa là khu vực nhìn sắc nét nhất, và tạo ra độ phân giải không gian, độ tương phản và màu sắc rõ nhất. Mỗi mắt có chừng bảy triệu tế bào hình nón, chúng rất mỏng (đường kính 3mm) và thon dài. Mật độ tế bào hình nón giảm ở bên ngoài hố mắt do tỉ lệ tế bào hình que so với tế bào hình nón tăng dần lên (hình 4). Tại vùng rìa của võng mạc, tổng số cả hai loại cơ quan thụ cảm thị giác này đều giảm về cơ bản, gây ra sự mất mát sâu sắc độ nhạy thị giác tại rìa ngoài của võng mạc. Điều này có thể bù lại bởi thực tế thì người ta nhìn liên tục các vật trong tầm nhìn (do cử động mắt nhanh tự nhiên), nên ảnh nhận được có độ nét đồng đều. Trong thực tế, khi ảnh bị ngăn cản không cho chuyển động tương đối so với võng mạc (thông qua một quang cụ nào đó), thì mắt không còn cảm nhận được cảnh sau một vài giây.

    Sự sắp xếp của các cơ quan cảm giảc trong các phần bên ngoài của võng mạc một phần xác định giới hạn độ phân giải trong những vùng khác nhau của mắt. Để phân giải ảnh, một hàng cơ quan thụ quang ít bị kích thích phải nằm giữa hai hàng cơ quan thụ quang bị kích thích cao. Nếu không thì không thể phân biệt được sự kích thích xuất phát từ hai ảnh nằm rất gần nhau hay từ một ảnh nối đến hai hàng cơ quan thụ cảm. Với khoảng cách tâm-nối-tâm biến thiên từ 1,5 đến 2 mm đối với các tế bào hình nón trong hố mắt giữa, kích thích quang có độ phân tách chừng 3 đến 4 mm sẽ tạo ra một bộ phân giải cường độ trên võng mạc. Lấy ví dụ tham khảo, bán kính của cực tiểu thứ nhất đối với hình ảnh nhiễu xạ hình thành trên võng mạc khoảng chừng 4,6 mm đối với ánh sáng 550nm và đường kính con ngươi 2mm. Như vậy, sự sắp xếp của các thành phần cảm giác trong võng mạc sẽ xác định độ phân giải giới hạn của mắt. Một nhân tố khác, gọi là độ sắc nét thị giác (khả năng của mắt nhận ra những vật nhỏ và phân giải độ phân tách của chúng), thay đổi theo nhiều thông số, bao gồm định nghĩa của thuật ngữ và phương pháp người ta đo độ sắc nét. Trên võng mạc, độ sắc nét thị giác nói chung cao nhất ở hố mắt giữa, hố này mở rộng ra tầm nhìn chừng 1,4 độ.

    Sự sắp xếp không gian của các tế bào hình que và hình nón cũng với sự liên kết của chúng với các dây thần kinh trong võng mạc được biểu diễn trong hình 5. Các tế bào hình que, chỉ chứa sắc tố vàng, có độ nhạy cực đại với ánh sáng xanh dương-xanh lá (bước sóng khoảng 500nm), mặc dù chúng biểu hiện sự phản ứng rộng đối với toàn phổ khả kiến. Chúng là những tế bào thụ cảm thị giác chủ yếu nhất, với mỗi mắt chứa khoảng 125-130 triệu tế bào hình que. Độ nhạy sáng của tế bào hình que gấp 1000 lần so với tế bào hình nón. Tuy nhiên, ảnh phát sinh chỉ bởi sự kích thích tế bào hình que thì tương đối không sắc nét và có bóng xám phía ngoài, giống như ảnh chụp đen trắng. Sự nhìn hình que thường được gọi là sự nhìn tối do trong điều kiện ánh sáng yếu, hình dạng và độ sáng của vật có thể phân biệt được, nhưng màu của chúng thì không. Cơ chế thích nghi tối này cho phép nhận dạng ra con mồi và động vật ăn thịt thông qua hình dáng và chuyển động ở nhiều loài động vật có xương sống.

    Hệ thị giác của con người phản ứng theo hàm mũ, chứ không tuyến tính, cho khả năng nhận một phạm vi độ sáng khó tin đến trên 10 bậc. Trong ánh sáng ban ngày, người ta có thể nhận dạng các vật dưới ánh sáng chói chang từ Mặt Trời, còn vào ban đêm, những vật lớn có thể được nhận ra bởi ánh sáng sao khi Mặt Trăng tối đen. Ở độ nhạy ngưỡng, mắt người có thể phát hiện sự có mặt của khoảng 100-150 photon ánh sáng xanh dương-xanh lá (500nm) đi vào con ngươi. Đối với bảy bậc độ sáng trên, sự nhìn sáng chiếm ưu thế, và sự cảm quang chủ yếu do các tế bào hình nón trên võng mạc mang lại. Trái lại, đối với bốn bậc độ sáng thấp, được gọi là sự nhìn tối, thì các tế bào hình que đóng vai trò chính.

    Sự thích nghi của mắt cho phép sự nhìn thực hiện chức năng dưới những điều kiện độ sáng cực đoan như thế. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian trước khi sự thích nghi xảy ra, mỗi người có thể cảm nhận một phạm vi độ sáng chỉ trong khoảng ba bậc. Một vài cơ chế là nguyên nhân làm cho mắt thích nghi với những mức độ sáng cao. Sự thích nghi có thể xảy ra trong vài giây (bằng phản ứng con ngươi lúc đầu) hoặc có thể mất vài phút (đối với sự nhìn tối), tùy thuộc vào mức thay đổi độ sáng. Độ nhạy của tế bào hoàn toàn hình nón đạt chừng 5 phút, trong khi đó phải mất khoảng 30 phút để thích nghi từ sự nhạy sáng vừa phải sang sự nhạy tối hoàn toàn bởi các tế bào hình que.

    Khi hoàn toàn thích nghi với ánh sáng, mắt người có phản ứng bước sóng từ khoảng 400 đến 700nm, với độ nhạy cực đại ở 555nm (trong vùng xanh lá cây của phổ ánh sáng khả kiến). Mắt thích nghi tối phản ứng với phổ bước sóng thấp hơn, từ 380 đến 650nm, với cực đại tại 507nm. Đối với cả sự nhìn sáng lẫn nhìn tối, những bước sóng này là không tuyệt đối, mà thay đổi theo cường độ ánh sáng. Sự truyền ánh sáng qua mắt trở nên thấp hơn dần ở những bước sóng ngắn. Trong vùng xanh dương-xanh lá (500nm), chỉ khoảng 50% ánh sáng đi vào mắt tới được điểm ảnh trên võng mạc. Ở 400nm, giá trị giảm xuống còn vừa đúng 10%, kể cả mắt người trẻ tuổi. Sự tán xạ và hấp thụ ánh sáng bởi các thành phần trong thủy tinh thể góp phần làm giảm thêm độ nhạy ở màu xanh dương nhạt.

    Các tế bào hình nón gồm có ba loại, mỗi loại “điều khiển” một phản ứng bước sóng riêng có cực đại tập trung tại 430, 535, hoặc 590nm. Cơ sở cho từng cực đại là việc sử dụng ba sắc tố quang khác nhau, mỗi sắc tố có một phổ hấp thụ ánh sáng khả kiến đặc trưng. Các sắc tố thay đổi thể cấu tạo của chúng khi một photon được phát hiện, cho phép chúng phản ứng với transducin khởi động một đợt sự kiện thị giác. Transducin là một loại protein có mặt trong võng mạc và có khả năng chuyển hóa hiệu quả năng lượng ánh sáng thành tín hiệu điện. Số lượng tế bào hình nón nhỏ hơn nhiều so với tế bào hình que, với mỗi mắt chứa từ 5 tới 7 triệu cơ quan thụ cảm màu sắc thuộc loại này. Sự nhìn màu sắc thực do sự kích thích của các tế bào hình nón mang lại. Cường độ tương đối và sự phân bố bước sóng ánh sáng đi tới mỗi một trong ba loại cơ quan thụ cảm hình nón xác định màu sắc nhìn được, theo kiểu tương tự như màn hình video RGB cộng màu hoặc camera màu CCD.

    Một chùm sáng chứa chủ yếu là bức xạ xanh dương bước sóng ngắn làm kích thích các tế bào hình nón phản ứng với ánh sáng 430nm ở quy mô lớn hơn nhiều so với hai loại tế bào hình nón kia. Chùm này sẽ kích hoạt sắc tố màu xanh dương trong những tế bào hình nón nhất định, và ánh sáng đó nhận được là màu xanh dương. Ánh sáng có đa số bước sóng tập trung ở khoảng 550nm được nhìn là màu xanh lá cây, và chùm tia chứa hầu hết là bước sóng 600nm hoặc dài hơn được trông có màu đỏ. Như đã nói ở phần trên, sự nhìn thuần túy bằng tế bào hình nón được gọi là sự nhìn sáng, và nó chiếm ưu thế ở các mức sáng bình thường, cả trong nhà và ngoài phố. Đa số động vật có vú là loài nhị sắc, thường có thể chỉ phân biệt được giữa các thành phần màu hơi lam và hơi lục. Trái lại, một số động vật bậc cao (đáng chú ý nhất là con người) biểu hiện sự nhìn màu tam sắc, phản ứng đáng kể với các kích thích sáng đỏ, lục, và lam.

    Minh họa trong hình 6 là phổ hấp thụ của bốn sắc tố thị giác của con người, biểu hiện cực đại trong vùng đỏ, lục, và lam của phổ ánh sáng khả kiến như mong đợi. Khi cả ba loại tế bào hình nón được kích thích như nhau, thì ánh sáng nhận được sẽ không có màu, hoặc màu trắng. Ví dụ, ánh sáng Mặt Trời lúc giữa trưa có vẻ là ánh sáng trắng đối với con người, do nó chứa các lượng ánh sáng đỏ, lục, và lam hầu như bằng nhau. Một bằng chứng khác cho phổ màu sắc từ ánh sáng Mặt Trời là sự chặn ánh sáng bằng một lăng kính thủy tinh, nó làm khúc xạ (hoặc bẻ cong) các bước sóng khác nhau ở mức độ khác nhau, làm trải ánh sáng thành các màu thành phần của nó. Sự cảm nhận màu sắc của con người phụ thuộc vào tương tác của tất cả các tế bào thụ cảm với ánh sáng, và sự kết hợp này mang lại sự kích thích gần như tam sắc. Có sự lệch độ nhạy màu sắc theo sự thay đổi mức độ sáng, nên màu xanh trông tương đối sáng hơn trong ánh sáng lờ mờ và màu đỏ trông sáng hơn trong ánh sáng chói chang. Hiệu ứng này có thể quan sát bằng cách trỏ một ngọn đèn flash vào một bản in màu, sẽ thấy ngay là màu đỏ trông sáng hơn nhiều và đậm hơn.

    Trong những năm gần đây, sự quan tâm đến độ nhạy màu sắc thị giác của con người đã dẫn đến những thay đổi trong thực tế lâu nay của việc sơn các xe tình trạng khẩn cấp, như xe chữa cháy và xe cấp cứu, toàn là màu đỏ. Mặc dù màu này dành cho các xe dễ nhìn thấy và tránh né, nhưng sự phân bố bước sóng không dễ nhìn thấy ở mức ánh sáng yếu và gần như trông tối đen vào ban đêm. Mắt người nhạy hơn nhiều với màu vàng-lục hoặc các màu tương tự, đặc biệt vào ban đêm, và ngày nay đa số các xe tình trạng khẩn cấp ít nhất phải có một phần sơn màu xanh hơi vàng sặc sỡ hoặc màu trắng, thường vẫn giữ lại một số chỗ nổi bật nhất sơn màu đỏ theo sở thích truyền thống.

    Khi chỉ có một hoặc hai loại tế bào hình nón được kích thích, thì ngưỡng màu sắc nhận được có giới hạn. Ví dụ, nếu một dải hẹp ánh sáng lục (540-550nm) được dùng để kích thích tất cả các tế bào hình nón, thì chỉ có một loại chứa sắc tố lục sẽ phản ứng lại, tạo ra cảm giác nhìn thấy màu lục. Sự cảm nhận của thị giác con nó với các màu trừ chủ yếu, ví dụ như màu vàng, có thể tăng theo một hoặc hai cách. Nếu tế bào hình nón đỏ và lục được kích thích đồng thời với ánh sáng đơn sắc vàng có bước sóng 580nm, thì mỗi cơ quan thụ cảm tế bào hình nón phản ứng lại hầu như bằng nhau do sự chồng lần phổ hấp thụ của chúng xấp xỉ như nhau trong vùng này của phổ ánh sáng khả kiến. Cảm giác màu tương tự có thể thu được bằng cách kích thích các tế bào hình nón đỏ và lục riêng rẽ với hỗn hợp bước sóng đỏ và lục riêng biệt chọn lọc từ các vùng phổ hấp thụ của cơ quan thụ cảm không có sự chồng lấn đáng kể. Kết quả, trong cả hai trường hợp, là sự kích thích đồng thời của các tế bào hình nón đỏ và lục tạo ra cảm giác màu vàng, mặc dù kết quả cuối cùng thu được bằng hai cơ chế khác nhau. Khả năng nhận được các màu sắc khác đòi hỏi phải kích thích một, hai, hoặc cả ba loại tế bào hình nón, đến mức độ khác nhau, với bảng màu bước sóng thích hợp.

    Mặc dù hệ thị giác của con người có ba loại tế bào hình nón với các sắc tố màu tương ứng của chúng, cộng với các tế bào hình que cảm thụ ánh sáng cho sự nhìn tối, nhưng não người bù đắp cho những biến đổi bước sóng ánh sáng và nguồn sáng trong sự cảm nhận màu sắc của nó. Đồng phân dị vị là các cặp phổ ánh sáng khác nhau được não người nhận ra dưới dạng cùng một màu. Thật thú vị, các màu có thể nhận thức là như nhau hoặc tương đương bởi con người đôi khi lại được phân biệt rõ ràng bởi những động vật khác, đáng chú ý nhất là chim chóc.

    Các neuron trung gian chuyên chở thông tin thị giác giữa võng mạc và não không hề liên kết đơn giản một-nối-một với các tế bào cảm giác. Mỗi tế bào hình nón và hình que trong hố mắt gởi tín hiệu đến ít nhất là ba tế bào tam cực, trong khi ở những vùng ngoại vi hơn của võng mạc, tín hiệu từ một số lượng lớn tế bào hình que cùng đổ về một tế bào hạch trung tâm. Độ phân giải không gian ở những phần ngoài của võng mạc bị tổn hại bởi có một số lượng lớn tế bào hình que nối với một rãnh, nhưng có nhiều tế bào cảm giác tham gia vào việc bắt lấy tín hiệu yếu làm cải thiện đáng kể độ nhạy ngưỡng của mắt. Đặc điểm này của mắt người tương tự như sự hoạt động của hệ camera kĩ thuật số CCD quét chậm.

    Các tế bào cảm giác, tam cực, và các tế bào hạch trung tâm của võng mạc cũng liên kết với các neuron khác, tạo nên một mạng đường dẫn ngăn chặn và kích thích phức tạp. Kết quả là tín hiệu từ 5 đến 7 triệu tế bào hình nón và 125 triệu tế bào hình que trong võng mạc người được xử lí và chuyên chở đến phẩn vỏ não thị giác bằng chỉ khoảng 1 triệu sợi thần kinh thị giác. Cơ mắt được kích thích và điều khiển bởi tế bào hạch trung tâm trong phần cong gập hình đầu gối, đóng vai trò như bộ điều khiển phản hồi giữa võng mạc và vỏ não thị giác.

    Một khía cạnh khác của sự nhìn của con người được gọi là bất biến màu, giá trị màu của một vật không thay đổi trên một phạm vi chiếu sáng rộng. Năm 1672, Isaac Newton chứng minh được bất biến màu ở cảm giác thị giác của con người và mang lại manh mối cho lí thuyết cổ điển về sự cảm nhận màu sắc và hệ thần kinh. Edwin H.Land, nhà sáng lập tập đoàn Polaroid, đã đề xuất lí thuyết Retinex của sự nhìn màu, dựa trên những quan sát của ông về bất biến màu. Khi một màu (hoặc một giá trị xám xịt) được quan sát dưới một ngọn đèn tương xứng, thì mảng màu sẽ không thay đổi màu sắc của nó ngay cả khi độ chói của quang cảnh thay đổi. Trong trường hợp này, gradient của nguồn chiếu sáng quang cảnh không làm thay đổi màu nhận được hoặc sắc thái xám xịt của màng quan sát. Nếu mức độ rọi sáng đạt đến ngưỡng đối với sự nhìn tối, thì cảm giác màu sẽ tan biến. Trong thuật toán của Land, giá trị sáng của các khu vực màu được tính toán, và năng lượng tại một khu vực đặc biệt trong quang cảnh được đem so sánh với tất cả các khu vực khác trong quang cảnh đối với dải sóng đó. Tính toán được thực hiện ba lần, một cho mỗi dải sóng (sóng dài, sóng ngắn, và sóng trung), và bộ ba giá trị sáng thu được xác định một vị trí đối với khu vực đó trong không gian màu ba chiều được định nghĩa bởi lí thuyết Retinex.

    Thuật ngữ mù màu là một từ không chính xác, thường được sử dụng trong trò chuyện hàng ngày, để ám chỉ bất cứ sự khó khăn nào trong việc phân biệt giữa các màu. Sự mù màu thật sự, hay không có khả năng nhìn thấy bất cứ màu nào, thì cực kì hiếm, mặc dù có đến 8% nam giới và 0,5% phụ nữ sinh ra có một số dị tật về sự nhìn màu (xem bảng 1). Sự khiếm khuyết di truyền ở sự nhìn màu thường là kết quả của những khuyết tật ở các tế bào thụ quang trong võng mạc, một màng thần kinh đóng vai trò màn ảnh nằm ở phía sau của mắt. Các khuyết tật về sự nhìn màu cũng có thể do bệnh tật, do tác dụng phụ của việc dùng một số loại dược phẩm nhất định, hoặc do quá trình lão hóa tự nhiên, và những khiếm khuyết này có lẽ ảnh hưởng đến các bộ phận của mắt chứ không phải các tế bào thụ quang.

    Các tế bào hình nón bình thường và độ nhạy sắc tố cho phép một người phân biệt tất cả các màu khác nhau cũng như các hỗn hợp màu tinh vi. Loại nhìn màu bình thường này được gọi là tam sắc và dựa trên sự tương tác qua lại từ ngưỡng độ nhạy chồng lấn của ba loại tế bào hình nón thụ quang. Một tật nhìn màu nhẹ xảy ra khi sắc tố thuộc một trong ba loại tế bào hình nón bị mất, và độ nhạy cực đại của nó bị lệch sang bước sóng khác, tạo ra một sự khiếm khuyết thị giác gọi là tam sắc dị thường, một trong ba loại tật nhìn màu phổ biến. Nhị sắc, một dạng mù màu nặng hơn, xảy ra khi một trong các sắc tố bị nhầm một cách nghiêm trọng trong đặc trưng hấp thụ của nó, hoặc khi một sắc tố nhất định không được tạo ra. Sự thiếu hoàn toàn cảm giảc màu, hay tật đơn sắc, cực kì hiếm, còn những người bị mù màu toàn phần chỉ nhìn thấy sự thay đổi mức độ sáng, và thế giới trước mắt có màu đen, trắng và bóng xám. Tật này chỉ xảy ra với những cá nhân thừa hưởng một gen rối loạn từ cả bố lẫn mẹ.

    Người bị tật nhị sắc có thể phân biệt một số màu, và do đó ít bị ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày hơn so với người bị tật đơn sắc, nhưng họ luôn luôn lo lắng rằng họ có vấn đề với sự nhìn màu của mình. Tật nhị sắc chia nhỏ thành ba loại: mù màu đỏ, mù màu lục, và mù màu lam (xem hình 7). Xấp xỉ 2% nam giới trên thế giới thừa hưởng một trong hai loại đầu, còn loại thứ ba hiếm thấy hơn nhiều.

    Mù màu đỏ là chứng thiếu màu đỏ-lục, nguyên nhân do mất cảm giác màu đỏ, gây ra sự thiếu phân biệt có thể nhận thấy được giữa màu đỏ, cam, vàng, và lục. Ngoài ra, độ sáng của các màu đỏ, cam, và vàng giảm đột ngột so với mức bình thường. Hiệu ứng cường độ suy giảm có thể làm cho đèn tín hiệu giao thông màu đỏ trông tối đen (không có ánh sáng), và màu đỏ (nói chung) trông đen nghịt hoặc xám đen. Người bị mù màu đỏ thường học cách phân biệt chính xác giữa màu đỏ và màu lục, và màu đỏ từ màu vàng, chủ yếu dựa trên độ sáng biểu kiến của chúng, chứ không dựa trên bất kì sự khác biệt màu sắc có thể nhận thức được nào. Màu lục nói chung thường trông sáng hơn màu đỏ đối với những người này. Vì ánh sáng đỏ xuất hiện ở một đầu của phổ khả kiến, nên có một chút chồng lấn trong độ nhạy với hai loại tế bào hình nón kia, và người mù màu đỏ bị mất cảm giác rõ rệt với ánh sáng ở phía bước sóng dài (màu đỏ) của quang phổ. Những người có khiếm khuyết về sự nhìn màu này có thể phân biệt giữa màu lam và màu vàng, nhưng nhạt hơn, màu tím, và màu tía không thể phân biệt từ các bóng khác nhau màu lam, do sự suy giảm thành phần đỏ trong những màu này.

    Mù màu lam là sự thiếu cảm giác màu lam, và tạo ra sự thiếu màu lam-vàng trong sự nhìn màu. Những người bị khuyết tật này không thể phân biệt màu lam và màu vàng, nhưng thật sự có thể ghi nhận sự khác biệt giữa màu đỏ và màu lục. Chứng này khá hiếm, và xảy ra ngang ngửa ở cả hai giới. Những người mù màu lam thường không có nhiều khó khăn trong việc thực hiện những công việc hàng ngày như những người mắc chứng nhị sắc đỏ-lục. Vì các bước sóng lam chỉ xuất hiện ở một đầu của quang phổ, và có một chút sự chồng lấn độ nhạy với hai loại tế bào hình nón kia, nên toàn bộ sự mất cảm giác trong vùng phổ đó có thể khá gay gắt đối với kiểu tật này.

    Khi có một sự mất cảm giác màu do một tế bào thụ cảm hình nón, nhưng các tế bào hình nón vẫn hoạt động, thì sự khiếm khuyết màu sắc nhìn được xem là tam sắc bất thường, và chúng được phân loại tương tự như loại nhị sắc. Sự lộn xộn thường tăng thêm do các chứng tật này lại được đặt tên tương tự, nhưng có thêm hậu tố dị thường. Như vậy, sự mù màu đỏ dị thường và mù màu lục dị thường mang lại các vấn đề ghi nhận màu sắc tương tự như chứng nhị sắc đỏ-lục, mặc dù không rõ rệt lắm. Mù màu đỏ dị thường được xem là sự nhìn màu “yếu màu đỏ”, với màu đỏ (hoặc bất kì màu nào có thành phần đỏ) trông nhạt hơn bình thường, và màu sắc lệch về phía màu lục. Người bị mù màu lục biểu hiện “sự yếu màu lục”, và có những khó khăn tương tự trong việc phân biệt giữa những dao động nhỏ trong màu sắc rơi vào vùng đỏ, cam, vàng, và lục của phổ khả kiến. Điều này xảy ra do màu sắc trông có vẻ lệch về phía đỏ. Trái lại, những người mù màu lục không bị mất độ sáng như người mù màu đỏ. Nhiều người có các biến thể tam sắc dị thường này có chút ít khó khăn trong việc thực hiện công việc đòi hỏi sự nhìn màu bình thường, và một số thậm chí còn không nhận thức được là sự nhìn màu của họ bị suy yếu. Mù màu lam dị thường, hay sự yếu màu lam, không được xem là một khiếm khuyết di truyền. Trong một số trường hợp sự khiếm khuyết đó được ghi nhận, người ta cho rằng nó là do tự có chứ không phải di truyền. Một số bệnh về mắt (như bệnh tăng nhãn áp, tấn công các tế bào hình nón lam) có thể gây ra chứng mù màu lam. Sự mất tế bào hình nón màu lam vùng ngoại biên là phổ biến nhất trong số các bệnh này.

    Không kể các hạn chế, có một số lợi thế thị giác độc đáo đối với bệnh mù màu, như tăng khả năng phân biệt các vật ngụy trang. Đường nét, chứ không phải màu sắc, chịu trách nhiệm ghi nhận hình ảnh, và sự cải thiện tình trạng nhìn đêm có thể do những khiếm khuyết nhìn màu nhất định. Trong quân sự, những người lính bắn tỉa và chỉ điểm mù màu có giá trị cao vì những lí do này. Hồi đầu những năm 1900, trong một nỗ lực nhằm đánh giá sự nhìn màu bất thường của con người, kính nhìn Nagel đã được phát triển. Sử dụng thiết bị này, người quan sát điều chỉnh các nút điều khiển để canh chỉnh hai trường màu cho màu sắc và độ sáng. Một phương pháp đánh giá khác, phép kiểm tra đĩa Ishihara cho chứng mù màu, đặt theo tên tiến sĩ Shinobu Ishihara, phân biệt giữa sự nhìn màu sắc bình thường và chứng mù màu đỏ-lục (xem hình 7). Một phép kiểm tra đưa ra cho sự nhìn màu bình thường có thể phát hiện sự khác biệt màu sắc giữa hình và nền. Với nhà quan sát bị khiếm khuyết màu đỏ-lục, các đĩa trông cùng một màu, không có sự phân biệt giữa hình và hoa văn nền.

    Là một phần tự nhiên của quá trình lão hóa, mắt người bắt đầu nhận màu sắc khác đi trong những năm về sau, nhưng không trở nên “mù màu” như ý nghĩa thật sự của thuật ngữ. Sự lão hóa làm vàng và tối thủy tinh thể cùng giác mạc, hiệu ứng thoái hóa cũng đi cùng với sự co rút kích thước con ngươi. Với sự vàng hóa, các bước sóng ngắn của ánh sáng khả kiến bị hấp thụ, nên màu lam trông tối đi. Hệ quả là những người già thường gặp khó khăn trong việc phân biệt giữa các màu sắc khác biệt cơ bản ở thành phần lam của chúng, như màu lam và xám, hoặc màu đỏ và tía. Ở tuổi 60, khi so với năng lực nhìn ở tuổi 20, chỉ có 33% ánh sáng tới trên giác mạc đi tới các tế bào thụ quang trong võng mạc. Giá trị này giảm xuống còn khoảng 12,5% khi tuổi giữa 70.

    Sự điều tiết của mắt là hoạt động sinh lí điều chỉnh thành phần thủy tinh thể nhằm làm thay đổi hệ số khúc xạ và mang các vật ở gần mắt vào điểm hội tụ sắc nét. Các tia sáng ban đầu bị khúc xạ tại bề mặt giác mạc sẽ bị hội tụ thêm sau khi đi qua thủy tinh thể. Trong sự điều tiết, sự co cơ tròn làm thư giãn sức căng trên thủy tinh thể, mang lại sự thay đổi hình dạng của mô trong suốt và mềm dẻo đó, đồng thời cũng hơi đưa nó ra trước. Kết quả dây chuyền của sự biến đổi thủy tinh thể là điều chỉnh tiêu cự của mắt để mang ảnh chính xác vào tiêu điểm trên lớp tế bào nhạy sáng có trên võng mạc. Sự điều tiết cũng làm giãn sức căng tác dụng lên thủy tinh thể bởi các sợi zoule, và cho phép mặt trước của thủy tinh thể tăng độ cong của nó. Mức độ tăng khúc xạ, cùng với sự hơi lệch vị trí của thủy tinh thể, mang vật ở gần mắt vào tiêu điểm.

    Tiêu điểm trong mắt được điều khiển bởi sự kết hợp của các thành phần gồm mống mắt, thủy tinh thể, giác mạc, và mô cơ, có thể làm thay đổi hình dạng của thủy tinh thể sao cho mắt có thể hội tụ cả những vật ở gần lẫn ở xa. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các cơ này không hoạt động thích đáng hoặc mắt hơi bị biến đổi hình dạng, và tiêu điểm không cắt qua võng mạc (một trạng thái thường gọi là sự nhìn hội tụ). Khi già, thủy tinh thể trở nên cứng hơn và không thể làm hội tụ một cách chính xác, dẫn đến sự nhìn nghèo nàn. Nếu điểm hội tụ rơi vào phía trước võng mạc, trạng thái được gọi là cận thị, và những người có tật này không thể hội tụ các vật ở xa. Trong trường hợp mà tiêu điểm nằm phía sau võng mạc, mắt sẽ gặp rắc rối khi hội tụ những vật ở gần, tạo ra một trạng thái gọi là viễn thị. Những tật này của mắt luôn có thể chữa bằng cách đeo kính (hình 8), dùng một thấu kính lõm để chữa cận thị và một thấu kính lồi để chữa viễn thị.

    Sự nhìn hội tụ không phải hoàn toàn do sinh lí và có thể ảnh hưởng bằng cách tập luyện, nếu như mắt không bị dị tật. Những bài tập lặp đi lặp lại có thể được sử dụng để phát triển sự nhìn hội tụ mạnh. Các vận động viên, ví dụ vận động viên bóng rỗ, có sự nhìn hội tụ tốt. Tại mỗi thời điểm, hai mắt phải phối hợp với nhau để duy trì sự nhìn hai mắt, với hệ thống cơ thần kinh phản ứng nhanh và chính xác thường không biết mệt mỏi, điều khiển tính linh động và sự phối hợp của chúng. Những thay đổi độ tụ của mắt hoặc chuyển động của đầu được xem xét trong những tính toán thực hiện bởi hệ thị giác phức tạp nhằm tạo ra thông tin thần kình thích hợp cho cơ mắt. Một chuyển động 10 độ của mắt có thể hoàn thành trong khoảng 40 mili giây, với những tính toán xảy ra nhanh hơn mắt có thể đạt tới mục tiêu dự định của nó. Chuyển động nhỏ của mắt được gọi là giật mắt, và chuyển động lớn hơn từ điểm này đến điểm khác được gọi là xoay mắt.

    Hệ thị giác của con người không phải chỉ phát hiện ánh sáng và màu sắc, mà như trong quang hệ, nó phải có thể phân biệt rõ giữa các vật, hoặc một vật và phông nền của nó. Được gọi là độ tương phản sinh lí, hoặc sự nhận thức độ tương phản, mối quan hệ giữa độ sáng khả kiến của hai vật nhìn tại cùng một thời điểm (tương phản đồng thời) hoặc nhìn liên tiếp (tương phản liên tiếp) so với nền, có thể, hoặc không thể giống nhau. Với hệ thị giác của con người, độ tương phản giảm trong môi trường tối và người ta sẽ chịu sự khiếm khuyết màu sắc giống như người mù màu đỏ-lục. Độ tương phản phụ thuộc vào sự nhìn hai mắt, độ sắc thị giác, và việc xử lí ảnh bởi vỏ não thị giác. Một vật có độ tương phản thấp, không thể nào phân biệt được nó với phông nền trừ khi nó đang chuyển động, được gọi là ngụy trang. Tuy nhiên, những người mù màu thường có khả năng phát hiện các vật ngụy trang do tăng sự nhìn bởi tế bào hình que và mất khả năng xử lí các màu sai lạc. Sự tăng độ tương phản có nghĩa là tăng độ khả kiến, và giá trị định lượng cho sự tương phản thường được biểu diễn bằng phần trăm hoặc tỉ số. Dưới những điều kiện tốt nhất, mắt trần có thể phát hiện sự có mặt của 2% độ tương phản.

    Với sự nhìn của con người, sự tăng biểu kiến độ tương phản nhận được trong một vùng hẹp trên mỗi mặt ranh giới giữa hai khu vực có độ sáng và/hoặc màu sắc khác nhau. Vào cuối thế kỉ 19, nhà vật lí học người Pháp Michel E. Chevreul đã phát hiện thấy độ tương phản đồng thời. Là một chức năng đặc biệt của nhận thức thị giác của con người, phần rìa hay đường biên của vật luôn trông nổi bật, tách vật ra khỏi phông nền của nó và làm dịu đi sự định hướng không gian. Khi đặt trên một nền sáng chói, vùng rìa của một vật tối trông nhạt hơn phần còn lại của nền (trong thực tế, độ tương phản đã tăng lên). Với hiện tượng nhận thức này, màu sắc có độ tương phản mạnh nhất, màu bù, được tạo ra (bởi não) tại vùng rìa. Vì màu sắc và phần bù của nó được nhận thức đồng thời, nên thu được kết quả là sự tương phản đồng thời. Khung viền và các đường ranh giới khác tách rời khu vực tương phản có xu hướng làm giảm hiệu ứng (hoặc sự chiếu sáng) bằng việc loại trừ sự tương phản ở mép rìa. Nhiều dạng kính hiển vi quang học, đáng chú ý nhất là kính hiển vi rọi sáng tương phản pha, đã khai thác đặc điểm này của hệ thị giác con người. Bằng cách làm tăng độ tương phản vật lí của ảnh mà không phải làm biến đổi vật thông qua nhuộm màu hoặc những kĩ thuật khác, mẫu vật tương phản pha được bảo vệ khỏi bị phá hủy hoặc chết (trong trường hợp mẫu vật sống).

    Phản ứng tần số không gian của mắt người có thể đánh giá bằng việc xác định khả năng phát hiện một dãy vạch trong cách tử điều biến sin. Cách tử kiểm tra có các vùng (vạch) xen kẽ sáng và tối, tăng tuyến tính từ tần số cao đến tần số thấp dọc theo trục ngang, còn độ tương phản giảm theo hàm mũ từ trên xuống dưới. Ranh giới giữa các vạch chỉ có thể phân biệt bởi những người có sự nhìn bình thường từ 7 đến 10 chu kì/độ. Đối với sự nhìn không màu, khi tần số không gian rất thấp (khoảng cách giữa các vạch rộng), yêu cầu phải có độ tương phản cao mới phát hiện được sự biến đổi cường độ theo dạng sin. Khi tần số không gian tăng, con người có thể phát hiện những chu kì có độ tương phản thấp, đạt tới cực đại khoảng 8 chu kì/độ trong trường thị giác. Bên ngoài điểm đó, một lần nữa phải yêu cầu có độ tương phản cao hơn nữa mới có thể phát hiện các vạch sin mảnh hơn.

    Việc kiểm tra hàm truyền điều tiết của hệ thị giác con người cho thấy độ tương phản là cần thiết để phát hiện ra sự biến đổi độ chói ở cách tử dạng sin chuẩn hóa khi tăng lẫn giảm tần số không gian. Về mặt thì mắt xử sự hơi khác với một dụng cụ tạo ảnh đơn giản (ví dụ như camera phim hoặc bộ cảm biến CCD). Hàm truyền điều biến của một hệ camera hội tụ, đơn giản đạt cực đại tại tần số không gian bằng không, với mức độ điều biến giảm xuống 0 tại tần số ngưỡng của camera.

    Khi độ chói của quang cảnh dao động tuần hoàn vài lần trong một giây (như xảy ra với màn hình máy tính và tivi), con người nhận thức được một cảm giác kích thích, mặc dù các cảnh liên tiếp là tách rời nhau. Khi tần số dao động tăng, sự kích thích cũng tăng và đạt tới cực đại ở khoảng 10 hertz, nhất là khi lóe sáng xen kẽ với cảnh tối. Ở những tần số cao hơn, các cảnh không còn xuất hiện rời rạc, và các vật bị dời chỗ từ cảnh này sang cảnh khác bây giờ được nhận thức là đang chuyển động êm ái. Thường được gọi là sự rung hình, cảm giác dao động sáng kích thích có thể duy trì lên đến 50-60 hertz. Ở ngoài một tần số và độ chói nhất định, gọi là tần số rung hình tới hạn, sự rung màn ảnh không còn được nhận thấy. Đây là nguyên nhân chủ yếu vì sao mà việc tăng tốc độ làm tươi màn hình máy tính từ 60 lên 85-100 hertz tạo ra sự hiển thị ổn định, không rung hình.

    Những tiến bộ trong công nghệ chế tạo bán dẫn, đặc biệt là kĩ thuật oxit kim loại bổ chính (CMOS) và CMOS lưỡng cực (BiCMOS) đã đưa tới một thế hệ mới của các bộ cảm quang mini có phạm vi động học khác lạ và phản ứng nhanh. Gần đây, dãy chip cảm biến CMOS đã được sắp xếp để mô phỏng hoạt động của võng mạc con người. Những cái gọi là mắt chip này, bằng cách kết hợp quang học, sự nhìn của con người, và các bộ vi xử lí, đang phát triển khoa mắt qua lĩnh vực mới quang sinh thái học. Võng mạc bị hỏng do các chứng bệnh suy nhược thị giác, như viêm màng lưới võng mạc hoặc thoái hóa, cũng như sự lão hóa và các thương tổn đến võng mạc, cướp đi sự nhìn, đang được chữa bằng cách cấy mắt chip. Mắt chip silicon chứa khoảng 3500 bộ dò sáng mini gắn trên các điện cực kim loại bắt chước chức năng của các tế bào hình que và hình nón ở mắt người. Các bộ dò sáng hấp thụ ánh sáng tới khúc xạ bởi giác mạc và thủy tinh thể và tạo ra một lượng nhỏ điện tích kích thích các neuron võng mạc. Có đường kính 2mm (xem hình 9), võng mạc thay thế dày phân nửa một mảnh giấy bình thường, và được cấy vào một lỗ nằm phía dưới võng mạc bị hỏng.

    Là một sự thay thế cho mắt chip, việc thay ghép võng mạc bằng một bộ xử lí tín hiệu số và một camera gắn trên một cặp kính, thu lấy và truyền hình ảnh của vật hoặc quang cảnh. Không có dây truyền, ảnh được gởi tới một chip nhận ghép phía sau lớp võng mạc, nơi các xung thần kinh được truyền lên não. Tuy nhiên, võng mạc nhân tạo sẽ không trị được bệnh tăng nhãn áp hoặc các tật nhìn hỏng các sợi thần kinh dẫn tới dây thần kinh thị giác. Khi quang sinh thái học phát triển, người ta có thể hiểu tốt hơn về hệ thị giác phức tạp của con người.

    Tác giả: Kenneth R.Spring, Michael Davidson

    Vui lòng ghi rõ “Nguồn chúng tôi khi đăng lại bài từ CTV của chúng tôi.

    Thêm ý kiến của bạn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Dạy Trẻ 3 Tuổi Nhận Biết Màu Sắc Như Thế Nào?
  • Thế Giới Trong Mắt Những Chú Mèo
  • ? Mèo Có Phân Biệt Màu Sắc Không, Mèo Có Màu Gì?
  • Gợi Ý Cách Nhận Biết Nhóm Máu Nhanh Chóng Và Hiệu Quả
  • 5 Phần Mềm Giúp Lấy Mã Màu Chuyên Nghiệp
  • Mắt Kính Râm Enchroma Mắt Kính Giúp Người Bệnh Mù Màu Phân Biệt Màu Sắc Chính Xác

    --- Bài mới hơn ---

  • Mắt Kính Cận Chống Ánh Sáng Xanh Thật Và Giả
  • Đôi Mắt Của Những Chú Chó Nhìn Được Màu Sắc Gì?
  • Chó Chó Có Phân Biệt Màu Sắc Không? Thế Giới Qua Con Mắt Của Sharik
  • Bí Quyết Để Phân Biệt Gỗ Óc Cho (Walnut) Và Gỗ Công Nghiệp
  • Cú Mèo Vào Nhà Có Điềm Báo Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Mắt Kính Râm EnChroma Giúp Người Bệnh Mù Màu Phân Biệt Màu Sắc Chính Xác . Giao Hàng Miễn Phí Toàn Quốc – Kiểm Tra Hàng Trước Khi Thanh Toán.

    Mắt Kính EnChroma Giúp Người Mù Màu Phân Biệt Màu Sắc Chính Xác

    Người bình thường có khả năng nhận biết 1-7 triệu màu khác nhau. Trong khi đó, người mù màu chỉ có thể nhận biết 10.000 – 100.000 màu sắc.

    Trên thế giới hiện có hơn 340 triệu người mắc chứng mù màu và những người này thường không được phép làm các công việc như cảnh sát, lính cứu hỏa, phi công hay thợ điện do không thể phân biệt 2 màu đỏ và xanh.

    Đây không phải một chứng bệnh nghiêm trọng nhưng nó có thể cản trở một số hoạt động đơn giản hàng ngày.

    VD :Không nhận biết được tín hiệu đèn đường giữa màu xanh và đỏ.

    Theo thống kê, cứ 12 nam giới thì có 1 người mắc chứng mù màu, tỷ lệ này ở nữ là 1/34.

    Người có thị lực mắt bình thường, có 3 sắc tố quan trọng mắt phụ trách tiếp thu ánh sáng, não bộ sau đó có nhiệm vụ chuyển đổi ánh sáng này thành màu sắc chính xác để nhận biết đó là xanh, tím, vàng hay đỏ.

    Nhưng ở người bị mù màu, sắc tố đỏ và xanh trong não chồng chéo vào nhau, nên não chỉ nhận được những màu xám xịt.

    Bệnh Mắt Bị Mù MàuLà Bệnh Gì?

    Bệnh mù màu là tình trạng khi mắt người không thể nhìn thấy đủ màu sắc dưới điều kiện ánh sáng bình thường. Những người bị mù màu thường không phân biệt được màu sắc và được chia ra ở hai cấp độ:

    Khuyết sắc : không phân biệt được một số màu sắc như đỏ – xanh lá cây hoặc vàng – xanh da trời.

    Mù màu : không phân biệt được hầu hết các màu.

    Bệnh mù màu thường là do gen di truyền,chấn thương mắt, chấn thương não, do các hóa chất gây ra.

    Công ty Enchroma của Mỹ đã giúp mang lại sắc màu xanh và đỏ cho cuộc sống của hàng nghìn người mù màu bằng một cặp kính râm có khả năng giúp bộ não phân biệt 2 sắc màu cơ bản này.

    Sau nhiều năm nghiên cứu, Công ty Enchroma chuyên sản xuất kính mát và mắt kính cho những người bị rối loạn sắc giác mù màu .

    Donald McPherson cho biết:

    ” Kính của chúng tôi giúp người đeo phân biệt màu sắc bằng cách chặn những bước sóng ánh sáng nhất định.”

    Sản phẩm kính râm của EnChroma giúp não người phân biệt xanh và đỏ bằng cách cắt ánh sáng vào giữa 2 màu này, giúp chúng đi đến đúng các sắc tố quang phù hợp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhuộm Thuốc Kính Áp Tròng Có Thể Giúp Người Mù Màu Phân Biệt Màu Sắc
  • Gợi Ý Đồ Chơi Giúp Bé Phân Biệt Được Màu Sắc
  • Dạy Con Nhận Diện Màu Sắc Dễ Dàng Với Đồ Chơi Gỗ
  • Báo Giá Đồ Chơi Xe Kéo Thả Hình Giúp Bé Phân Biệt Màu Sắc Và Hình Khối Chỉ 219.000₫
  • Tìm Hiểu Bệnh Mù Màu
  • Học Phân Biệt Màu Sắc Và Phân Loại

    --- Bài mới hơn ---

  • Giúp Bé Học Cách Phân Biệt Màu Sắc
  • Học Cách Phân Biệt Các Loại Rượu Vang Ý Thông Qua Màu Sắc !
  • Kính Áp Tròng Dùng Thuốc Nhuộm Giúp Người Bị Mù Màu Phân Biệt Được Màu Sắc
  • Bạn Có Bị Mù Màu Không?
  • Hướng Dẫn Phân Biệt Các Loại Tổ Yến Sào Trước Khi Mua
  • Hãy quan sát bé để nhận biết thời điểm bé bắt đầu quan tâm đến màu sắc, những biểu hiện có thể như :

    – bé cố gắng gọi tên màu sắc khi cầm đồ vật, bé có thể gọi sai nhưng không sao cả

    – bạn yêu cầu bé đưa một vật có đặc điểm màu sắc và bé đưa đúng (bé nhận biết tên màu qua âm thanh trước khi biết gọi tên), ví dụ : con đưa giúp mẹ cây chì màu xanh dương

    Khoảng từ 18 tháng tuổi trở đi, hãy chọn đúng thời điểm. Nếu quá sớm bé sẽ không thể làm theo chỉ dẫn của bạn. Nếu quá dễ bé sẽ mau chóng làm nhanh, lúc đó bạn có thể tăng độ khó để thu hút sự chú ý của bé.

    2 – Lựa chọn vật liệu :

    Thật ra, ban đầu mình thử cho bé 20 tháng tuổi chơi bộ “màu và hình dạng” của Nathan http://jeux.nathan.fr/familles/jeux/couleurs-et-formes. Bộ này gồm 4 bảng, mỗi bảng 6 hình với các quân cờ có màu tương ứng với hình. Bé chọn quân cờ thích hợp với hình. Tuy nhiên, mình nhận thấy bé có vẻ bối rối, và mau chóng nản mặc dù mình biết bé đã biết phân biệt màu sắc.

    Có thể do hình dáng của bảng làm cho bé khó cầm trên tay (cầm lên thì quân cờ đã đặt bị rơi, làm cho trò chơi trở nên rối rắm, 20 tháng tuổi bé rất cần cầm đồ vật để cảm nhận về nó) và quan sát hình ảnh như bé muốn, trò chơi bắt đầu trở làm một bài tập mà bé phải thực hiện theo chỉ dẫn của người lớn chứ bé ít có tự do cầm, nắm, lật, quan sát lâu hay nhanh như ý muốn. Lúc đó, mình quyết định in 4 bảng và cắt nhỏ chúng ra thành từng thẻ rời nhau (như trong hình). Ngay tức khắc, cách chơi này thu hút sự chú ý của bé hơn, và bé hoàn thành trò chơi một cách tích cực.

    Bạn có thể lựa chọn hình con thú trên mạng, in trên giấy dày cứng, cắt tạo thành các thẻ với độ lớn 4-5cm (mình ép plastic các thẻ để bé không vò hư), làm y như thế với các quân cờ tròn với màu tương ứng với hình con thú.

    Bạn nên chọn những hình có 1 màu đơn, nếu không bé sẽ rối. Ví dụ như hình con bọ rùa đỏ đốm đen đã làm bé rối vì không biết nên chọn quân cờ đen hay đỏ.

    Đây là trò chơi mà bạn hoàn toàn có thể tự tạo và tăng độ khó tùy theo khả năng của bé.

    3 – Tổ chức hoạt động :

    Độ khó : ban đầu, bạn có thể chọn 6 hình thú và 6 quân cờ để bé nhận biết 6 bộ đi với nhau. Tùy theo sức của bé mà bạn tăng thêm 12 hình, 18 hình, 24 hình … Sau đó, tăng số màu trong một hình v.v…

    Bé cần có sự hỗ trợ của bạn lúc ban đầu, khuyến khích bé. Tuy nhiên, bạn cũng cần có sự quan sát để biết khi nào nên hướng dẫn, khi nào nên im lặng để bé tự tìm giải pháp. Bạn gọi tên từng màu , như “cờ màu đỏ”, “con hãy tìm trái sơ ri màu đỏ”, v.v. Sau đó, với thời gian bé hiểu nguyên tắc, tự tìm các màu giống nhau, bạn chỉ cần gọi tên màu và tên con thú, đồ vật trên thẻ để bé học từ. Khuyến khích bé lặp lại từ mà bạn đã gọi tên.

    Khi bạn cảm thấy bé tập trung cao độ (quan sát tập trung, không nhìn xung quanh, tự phát âm từ màu sắc hoặc đồ vật), lúc này bạn có thể ngưng nói, để yên tĩnh giúp bé đi sâu hơn vào sự tập trung. Lúc này, chỉ cái nhìn của bạn cũng đủ bé hiểu là bạn đang theo dõi việc bé làm. Với thời gian mức tập trung càng cao và sâu (hơn 3 tuổi), bạn có thể rút lui để bé tự chơi một mình.

    Khi bé tìm ra quân cờ tương ứng với hình, bạn có thể xếp qua một bên, theo thứ tự từng màu. Bé sẽ nhận biết được phương pháp sắp xếp này, hình thành ý thức lọc đồ vật theo điều kiện chung (màu xanh lá xếp chung với nhau, màu đỏ xếp chung với nhau…)

    Trờ chơi này rất thích hợp để chơi dưới nền nhà, như thế bé có thể trải thẻ ra sàn tự do hơn là chơi trên bàn, thẻ hoặc quân cờ hay bị rơi, làm đứt quãng hành trình quan sát của bé.

    4 – Các nguyên tắc :

    Quân cờ và thẻ được xếp trong khay hoặc hộp của nó, cất ở nơi bé có thể tự lấy ra chơi.

    Bạn hướng dẫn bé cách chơi, cách xếp sau khi chơi xong và cất tại nơi quy định.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mách Mẹ 3 Món Đồ Chơi Cho Bé Nhận Biết Màu Sắc
  • Những Đồ Chơi Giúp Bé Nhận Biết Màu Sắc Tốt Nhất
  • Tìm Hiểu Về Bệnh Mù Màu, Nguyên Nhân Và Cách Chữa Trị
  • Bệnh Mù Màu (Rối Loạn Sắc Giác)
  • 6 Trò Chơi Giúp Bé Nhận Biết Màu Sắc
  • Thị Giác Cá Đối Với Màu Sắc

    --- Bài mới hơn ---

  • Liệu Bò Tót Có Thực Sự Ghét Màu Đỏ Như Chúng Ta Vẫn Nghĩ?
  • Máy Đo Màu Sắc
  • Máy Phân Tích Màu Sắc Máy So Màu Điện Tử Kỹ Thuật Số – Máy Kiểm Tra Chất Lượng
  • Mắt Mèo Nhìn Thấy Màu Gì ?
  • Phân Biệt Vàng 10K, 14K, 18K, 24K Đơn Giản Nhất
  • Hầu như ai cũng thích thú muốn biết con cá nhìn ra sao,có thể vì một chút thay đổi đậm lợt màu sắc mà tạo sự khác biệt thật sự trong con mắt cá ? Độ sâu của vùng nước có đóng vai trò trong đó không ? Theo dõi việc tìm hiểu này cũng giống như những chuyện thắc mắc khác,và nó sẽ chứng tỏ thêm khả năng thành công dễ dàng của bạn sẽ gặp khi đi câu.

    Môn câu cá có thể là một môn nghệ thuật sắp xếp thứ tự cho những tay câu phiêu lưu như là một kinh nghiệm thử thách và cũng là sự hiểu biết thêm về những sai lầm đối người mới tập câu hay người có kinh nghiệm già dặn,tất cả do việc thu thập từng chút trải nghiệm ở biển khơi hay sông suối tích tụ lại.

    Việc câu cá lớn của các tay câu chuyên nghiệp đã lôi cuốn họ đua nhau như một niềm đam mê cuồng tín,họ cố tìm hiểu nơi có cá và quyết tâm để đạt được thành công trong sự cố gắng của họ,cũng như theo dõi luôn luôn từng con nước thủy triều lên xuống.Câu hỏi mà chúng ta thường tự đặt là có phải chúng ta thật sự đã hiểu biết đầy đủ để thích ứng và thỏa mãn trong sự tiếp tục trò chơi thắng thua của môn câu cá hay không ?

    Y như là tay câu chuyên nghiệp,chúng ta cũng như các tay câu cuồng nhiệt khác bị ám ảnh bởi môn thể thao này,nên cần phải hiểu biết rõ ràng những con mồi trong ngư trường,cũng như nó đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn là tay câu tuyệt đỉnh trong môn chơi.Chúng ta đã trải qua nhiều mùa câu và đã thu thập những tin tức thiết yếu cho phương pháp câu song thường bị thiếu hiểu biết về luồng cá đi,con nước,loại mồi câu, thời tiết,v,v… tất cả điều đó là những điều kiện quan trọng để chúng ta thành công.

    Càng tìm hiểu,môn câu đòi hỏi chúng ta càng “lặn” sâu dưới đáy nước,một thế giới say mê,nơi mà chỉ một ít người câu có khái niệm về nó khi họ được buộc chặt vào ghế để đấu sức với cá dữ hay đứng cạnh bên be thuyền câu cá trong sông nước.

    Muốn hiểu biết rõ ràng chuyên biệt về thị giác cá thích hợp với môi trường sống của nó cũng như những đặc điểm riêng biệt cho các loại cá trong môn câu,chúng ta cần phải cập nhật tin tức căn bản về cá mà bài này sẽ nói đến thị giác.

    Đại cương mắt cá không khác biệt con mắt người bao nhiêu,vì nó gồm có thủy tinh thể,giáp mạc,võng mạc,tế bào hình trụ và tế bào hình nón.Cấu trúc nhãn cầu của cá chỉ thiếu lớp mi mắt vì nó đã được bao phủ thường trực bởi nước.

    Kết quả rất đáng kinh ngạc của nhãn cầu cá là nó có khả năng thích ứng thật tuyệt diệu dưới nước,trái với sự tương ứng mặt phẳng nhãn cầu con người hơi có hình thuôn,nhãn cầu cá có hình dạng tròn,kết cấu mô dày để có khả năng tập trung và khuếch đại ánh sáng trên võng mạc.

    Nên nhớ ở con người,chúng ta có thể điều chỉnh độ cong hình dáng thủy tinh thể để nhìn rõ điểm ở tầm ngắn hay xa.Trong khi ở con cá,nó không thể nào thực hiện được như thế,nhưng nó có thể điều chỉnh vị trí thủy tinh thể dịch chuyển tới lui ở trước võng mạc y như ống kính máy chụp hình.

    Giống như mắt của các loài sinh vật có xương sống,mắt cá gồm có giác mạc (lớp phủ ngoài), đồng tử (khe hở cho ánh sáng đi qua),thủy tinh thể (điều chỉnh hình ảnh),võng mạc (nhận hình ảnh từ thủy tinh thể),và dây thần kinh quang phổ (chuyển hình ảnh đến não).

    Tuy nhiên thủy tinh thể của phần lớn các loại cá thiếu cơ bắp và bị giữ nguyên trạng thái bẩm chúng tôi nên nó không kiểm soát được lưu lượng ánh sáng xuyên qua mắt bằng cách thu nhỏ hay làm giãn nở thủy tinh thể.Chỉ trừ cá mập và cá đuối là thủy tinh thể thay đổi được đó đây là một ngoại lệ.

    Võng mạc gồm có những tế bào tiếp nhận gọi là tế bào hình trụ và tế bào hình nón,tế bào hình trụ nhạy ánh sáng hơn là tế bào hình nón,nhưng nó chỉ cảm nhận được hai màu sắc: trắng và đen.Tế bào hình nón cảm nhận được các màu sắc khác và cho hình ảnh rõ nét hơn tế bào hình trụ,nhưng nó chỉ nhạy với ánh sáng chừng 1/30 so với tế bào hình trụ.Tế bào hình trụ “thấy” ánh sáng trong khi tế bào nón cho ta màu sắc và chi tiết.Giống như ta, cá không thể thấy màu sắc trong tối hay ở những điều kiện ánh sáng yếu mờ.

    Việc nhận biết màu sắc đòi hỏi có nhiều tế bào hình nón để phân biệt được mỗi màu trong 3 màu sắc nguyên thủy (đỏ,vàng,xanh biển ),mà phần lớn mắt cá chỉ phân biệt được hai màu nguyên thủy: trắng,đen,một số khác thì phân biệt được cả 3 màu.Tuy nhiên mắt cá có thể nhìn rõ tần sóng màu tím hơn mắt người và có rất nhiều loại cá nhìn được cả tần sóng tia cực tím (tia tử ngoại).

    Chúng ta nên biết, rất ít loại động vật xương sống có đầy đủ 3 tế bào phân biệt màu sắc (trichromatic) mỗi tế bào hình nón nhạy với các màu sắc khác nhau như chúng ta có,và tế bào nón loại nhạy với ánh sáng đỏ chưa tìm thấy trong mắt loài cá.

    Mắt cá thích hợp để nhìn rõ những cử động hay sự tương phản ánh sáng trong khi hình dáng chi tiết bị mờ,tế bào hình trụ của mắt con người bao phủ dày đặc ở võng mạc,nên nó cho phép ta nhìn rõ các chi tiết của hình dáng,tế bào hình trụ trong mắt cá trải đều hơn nên nó cảm nhận được dễ dàng các cử động hay sự tương phản ánh sáng nhưng ít thấy chi tiết rõ ràng.

    Vào lúc có ánh sáng bình thường ban ngày,hoạt động trong mắt cá cho thấy các tế bào hình trụ thu hẹp lại,tế bào hình nón nở ra, các hạt sắc tố di chuyển tụ về và bao quanh tế bào hình trụ để bảo vệ tế bào tránh ánh sáng,vào lúc đêm tối những sắc tố thu hẹp lại để cho các tế bào hình trụ hiện ra,và nó phát triển lớn hơn để đón nhận thêm ánh sáng.

    Quá trình biến đổi này mất khoảng 1 tiếng,nên phần lớn các loại cá săn mồi sống dễ thích ứng mau lẹ hơn các loại cá mồi nhỏ,có thể đây là lý do mà nhiều loại cá săn mồi hoạt động tích cực hơn trong việc kiếm mồi vào lúc sáng sớm hay chạng vạng tối,vì đôi mắt chúng thích ứng mau lẹ với ánh sáng đang thay đổi hơn là các cá mồi nhỏ,vì vậy cá săn mồi có ưu điểm đặc biệt vượt trội về thị giác.

    Tất cả những loại cá lớn trong môn câu mà ta nhắm đến đều có bị giới hạn trong cách nhìn màu sắc cho dù mắt cá có chứa nhiều tế bào hình nón dày đặc trong võng mạc,đó không có nghĩa là cá sẽ thấy màu sắc y như chúng ta thấy.

    Những chuyên viên ở Học viện khoa học & hải dương Virginia đã dùng một dụng cụ đo gọi là electroretinography để hiều rõ hơn mắt cá nhìn màu sắc ra sao,phương pháp này làm gây mê cá,tạo ra phản ứng trong võng mạc mắt cá và cường độ nhận màu sắc sẽ biểu hiện bằng cách dùng những điện cực để kích thích.

    Ta đơn giản hóa vấn đề để nhận biết rõ hơn,những màu sắc ta nhìn thấy qua lăng kính do tia sáng mặt trời chiếu qua như các tần sóng màu,tần sóng ngắn bao gồm màu xanh lá mạ,xanh biển và màu tím,tần sóng dài gồm màu đỏ,cam và vàng.Cá có thể thấy các màu này và cũng có thể thấy các màu sắc mà chúng ta không thấy được như màu cực tím.

    Việc nhận biết được màu sắc của cá giúp nó nhìn con mồi qua được nhiều sự tương phản ánh sáng đối với phần nền môi trường,chọn màu sắc của mồi giả y hệt mồi thật không hay bằng chọn màu sắc con mồi giả làm nổi bật tương phản ánh sáng giữa con mồi trên màu sắc nền của môi trường.

    Thí dụ như màu xanh mạ chói (chartreuse) là màu không tìm thấy trong thiên nhiên,nên nó là một màu sắc có hiệu quả vì dễ nhận thấy,không những màu xanh mạ chói dễ thấy trong tầm nhìn của cá mà nó còn nổi bật với sự phản quang dưới tia cực tím,và rất nhiều loại cá đều có thể nhìn thấy được màu sắc trong tần sóng tia cực tím.

    Màu đỏ và màu trắng kết hợp làm màu sắc nổi bật,nhưng nhiều loại cá không thể thấy màu đỏ,tuy nhiên màu đỏ sẽ biến đổi thành màu xám lợt khi xuống một độ sâu nhất định.Hai màu trắng,đỏ có hiệu ứng tốt là vì nó tương phản rõ ràng nhất trên các màu màn nền khác biệt, cho nên màu xám và màu trắng cũng có hiệu ứng như thế.

    Do những tranh luận của những người câu cá trên thế giới mà ta biết tại sao việc thẩm thấu ánh sáng trong nước ảnh hưởng đến sự thực hành và thành công của người đi câu.Phản ứng hoá học cũng có dự phần lớn vào việc thẩm thấu ánh sáng rõ rệt như sự thu hút tần sóng màu sắc qua các tầng xuất và độ sâu của vùng nước bị ô nhiễm.

    Nếu quan sát theo chiều ngang mực độ sâu của nước về sự thẩm thấu ánh sáng,cộng thêm sự thu hút của các vật thể, để chứng minh rõ ở độ sâu nào ánh sáng đi xuyên qua.Việc nghiên cứu này cho kết quả căn bản tổng quát là 60% ánh sáng gồm màu sắc đỏ sẽ bị hấp thụ mất trong độ sâu 3 m,ở độ sâu 10m,nó sẽ bị hấp thụ gần 80% tất cả ánh sáng màu vàng,cam,và đỏ.Xuống sâu dưới 10m nước ánh sáng yếu ớt sẽ biến mất kể cả màu xanh biển,chỉ còn hoàn toàn màu đen ngự trị.

    Màu sắc bị phân tán hay thu hút mau ở độ nông luôn luôn là tần sóng màu sắc dài gồm màu đỏ, vàng và cam,xuống sâu dưới nước hơn nữa là màu sắc có tần sóng ngắn xanh lá mạ, xanh biển và tím.

    Sức chiếu ánh sáng đầy đủ và màu sắc của màn nền cũng tùy thuộc vào nhiều điều kiện,kể cả thời điểm trong ngày,độ trong của nước,đáy nước ra sao,độ sâu của nước,và rong rêu. Nếu mồi giả có sự tương phản ánh sáng cao thì dễ nhận thấy hơn là ở dưới nước trong điều kiện ánh sáng yếu mờ (như buổi sáng sớm và chập choạng chiều tối) hoặc ở dòng nước đục.

    Màu đen là màu tốt để chọn lựa câu vào ban đêm vì nó cho bóng dáng rõ rệt nhất khi tương phản dưới ánh trăng đêm,màu phản quang dễ nhận thấy vào những ngày có mây che,trong khi tia cực tím thường hiện hữu nhiều vào những ngày có trời trong sáng.Những con mồi có màu sắc tương phản cao hay chói sáng lại ít hữu hiệu trong vùng nước trong vào những ngày nắng chói chang,mà còn có thể làm nhát một số cá.

    Có những loại cá chuyên săn tìm các loài giáp xác dưới đáy (tôm,cua,sò,v,v…) vì nó xử dụng thính giác tốt hơn là thị giác để săn mồi kể cả săn cá mồi,tuy chưa có bằng chứng nào cho thấy rõ như thế nhưng có thể loài cá sống trong vùng nước cạn có khả năng nhận biết ánh sáng phân cực.

    Để nhận biết màu sắc tương phản thật rõ dưới nước,các cuộc nghiên cứu cho biết ta có thể dùng kính phân cực để dễ dàng làm nổi bật những màu sắc thiên nhiên (màu bạc dưới đáy hay màu xanh lá trên mặt nước) mà các đàn cá mồi có màu trắng bạc thường lợi dụng để ẩn thân.

    Sau cùng,với thị giác,cá còn tùy thuộc vào thính giác,khứu giác để giúp nó tìm săn mồi,loại mồi giả lớn làm xao động mạnh nước nên dễ được cá nhận biết,kể cả khi nó chưa thấy mồi ở đâu thí dụ như những con mồi popper.

    Tóm lại :

    • Cá có thể thấy màu sắc và dùng tính năng đó của thị giác để săn mồi trên các nền màu sắc tương phản khác nhau,mà ta cần phải quyết định màu sắc con mồi,cá không thể thấy màu sắc vào đêm tối.

    • Mắt cá được cấu tạo thích hợp để nhìn động tác và sự tương phản ánh sáng khi nhìn chi tiết,việc thiết kế mồi y như thật không quan trọng bằng động tác và hình dáng con mồi.

    • Phần lớn cá săn mồi rất thích nghi săn mồi vào lúc sáng sớm hay chạng vạng tối.

    Tuy vậy khả năng thành công của chúng ta lại tùy thuộc nhiều độ chính xác ném mồi,sự điều khiển giỏi của thuyền trưởng và dĩ nhiên cách xử dụng những con mồi,và cũng tùy thuộc vào tình trạng của người câu mà sự khéo léo có thể dẫn thất bại hay dẫn đến thành công .

    Lái tàu thuyền săn tìm cá trong các đầm lầy, neo đậu ở các rạng hay dò tìm ở dưới đáy biển sâu,người câu cá đã xử dụng tối đa nhãn quan,gần như lấn áp hết góc chết của đôi mắt trong việc chú ý nhìn kỹ độ sâu,cách lướt bơi thoáng qua và chú mục đến các động tịnh.

    Xa hơn nữa,trong cuộc khảo cứu cho thấy nhiều loài cá có nhãn quan yếu kém nên phải dựa rất nhiều vào mùi vị để tự vệ hay tìm mồi.Thính giác của cá nằm ngay mõm dùng để đánh mùi,lưỡi dùng để nếm vị,cơ quan hai bên hông và tai phía trong liên kết thẳng với bong bóng,tất cả đều phụ giúp trong việc nhận biết các tần sóng rung động.

    Cũng như phần lớn khi câu,mồi giả hay mồi thật đều tùy thuộc vào độ dài của dây cước loại fluorocarbon khi ta rê sẽ làm cho nó sống động hơn không có vẻ giả tạo hay dính dáng vào cái gì làm cá nghi ngờ,đó là một lợi khí cho ta .Dù sao việc chọn lựa phương pháp câu có quá nhiều cách khác nhau,thường việc này rất bị ảnh hưởng bởi sự hiểu biết của ta về màu sắc,màu sắc sẽ biến đổi khi con mồi chìm vào làn nước,nó là một trong những điểm ưu tiên để dụ cá tấn công,đặc biệt trong thời gian mà nhiệt độ và chất lượng nước thay đổi mau.

    Khi ánh sáng chiếu vào tầng đáy nước,cường độ nó giảm dần sức hội tụ,ánh sáng bị phân hoá và thẩm thấu dễ dàng bởi những vật thể lơ lửng trong các tầng nước.

    Hệ thống nước ở đầm lầy là một thí dụ điển hình cho thấy ánh sáng phân hóa nhiều nhất,vì nơi đó có nhiều vật thể lơ lửng,như các rong tảo,rác rến,phù sa,v,v…thành ra ánh sáng ít xuyên qua nước và rất yếu so với những nơi nước trong sạch có nhiều ánh sáng hơn.

    Theo nguồn tài liệu khoa học về màu sắc và ánh sáng đã chứng minh chọn màu sắc là then chốt khi lựa mua mồi giả. Tuy nhiên câu hỏi vẫn còn đó là những loại cá ta thích câu nó thấy cái gì chính xác nhất ?

    Thật là rắc rối để chứng tỏ việc “chính xác” cá thấy cái gì ở từng cấp độ khác nhau,cá phân biệt được hình dáng gì,ước lượng được kích cỡ và nhận biết được chuyển động ra chúng tôi nghiệm cho thấy sự chuyển động có thể tạo cho con cá bắt đầu rình mồi từ xa cũng như việc nhận biết hình dáng chỉ xảy ra ở cự ly gần.Tuy nhiên theo những nhà nghiên cứu khả năng thị giác cá còn tùy theo loại và còn tùy thuộc nhiều vào điều kiện vùng nước nó sinh sống.

    Việc tìm hiểu các loại cá ở sống ở rạng cho ta thấy cá hồng,cá mú chiếm cứ và sống quanh quẩn các loại rạng tự nhiên lẫn nhân tạo,vì nơi đó dễ tìm kiếm,phân biệt được các loại mồi ưa thích.Sống nơi môi trường nước trong sạch và đầy đủ ánh sáng làm cho cá nhận biết rõ ràng về màu sắc,nhưng cá không có cái nhìn về sắc thái như chúng ta.

    Tuy vậy các loài cá sống ở rạng có nhãn quan nhận biết màu sắc tốt hơn các loài cá khác sống ở ven biển,võng mạc các loài cá ở rạng đặc biệt nhạy từ màu xanh lá mạ pha màu xanh biển cho đến màu xanh lá mạ nhạt,trong khi các loài cá ven biển chỉ nhạy với cá màu xanh lá mạ pha lẫn màu xanh biển nhạt.Quan trọng là ta phải nhớ ánh sáng giảm dần theo độ sâu, tần sóng dài luôn luôn biến mất trước tiên,kể cả cá mú và cá hồng có thể nhận biết được một số màu sắc mà những màu sắc này có thể không hiện diện ở các tầng lớp nước khác nhau.

    Thêm vào đó ,một chuyên gia về ngư trường cho biết những màu sắc nhạt,sáng của cá loài cá sống ở rạng có thể rực rỡ ở một khoảng cách nào đó,nhưng thường là để nó hòa đồng với màu sắc chung quanh nơi nó trú ngụ.Nên ta phải cân nhắc khi chọn mồi câu sống hay các mồi jig tạo tiếng động ở các nơi gần rạng này.

    Tầm nhìn dưới độ sâu :

    Phía dưới các rạng là các vực sâu,một thế giới của các loài nhuyễn thể,của dòng hải lưu và các hẻm hốc sâu thẳm,nó là thế giới xanh đen,nơi ánh sáng biến mất rất lẹ,một sân chơi huyền bí thật lớn lao cho các tay câu muốn trở trổ tài chiến thắng.

    Trong môi trường tối tăm này có nhãn quan tinh tường hay những giác quan nhạy bén khác rất thích hợp với các sinh vật đã chọn lựa vực sâu này là chỗ cư trú.Vậy những sinh vật dưới này có thử tìm hiểu hay tấn công những con mồi giả hoặc các loại mồi do chúng ta sáng chế ra không ? Câu trả lời : “Có thể lắm”. Vì các loại mồi mà chúng ta cho xuất hiện ở nơi này đều được các sinh vật đó vẫn quan sát.

    Các loại cá lớn như cá cờ,cá kiếm,cá marlin cho thấy nó có một số thích nghi cuộc sống,chúng là một trong những loài cá nhanh nhẹn sống lưng chừng ở độ sâu,đặc biệt khả năng lặn thật sâu.Những con cá này trong mắt nó có cả hai tế bào để nhìn nơi ánh sáng yếu và màu sắc ở võng mạc. Nó bơi ở trong môi trường thiếu ánh sáng,nên những con mắt của nó to lớn hơn,võng mạc cũng to hơn chính vì có con mắt to lớn nên lớp võng mạc chứa thêm nhiều tế bào hình trụ và hình nón vì vậy xác suất nhận biết các tia ánh sáng xuất hiện sẽ gia tăng.

    Thật là đáng nể khi thấy những con cá lớn đó có thể ở thường trực 12 tiếng hay hơn nữa dưới đáy sâu để săn mồi.Dưới vực thật sâu này nó có thể bị nguy hiểm đến khả năng linh hoạt săn mồi do nhiệt độ quá thấp làm ảnh hưởng đến cơ thể.Trong khi phần lớn loài cá không thể điều chỉnh nhiệt độ cơ thể dưới đáy thật sâu thì các loài cá lớn như cá cờ,cá kiếm,cá marlin,cá mập,v,v… có thể chống lại được việc gây ảnh hưởng xấu đến cơ thể do nước lạnh bằng cách điều hoà nhiệt độ thân chúng.

    Một nhà nghiên cứu giảng giải cho biết : Để chống lại khả năng xấu ảnh hưởng bởi nhiệt độ lạnh đến thị giác (và đến tín hiệu dẫn truyền trong não bộ) các loài cá lớn tự chuyển nhiệt độ qua những sớ thịt trong mắt bằng cách chuyển đổi nhiệt lượng giữa võng mạc và não bộ.Tùy thuộc vào độ sâu dưới nước mà nhiệt độ của mắt và của não bộ luôn luôn nóng hơn từ 10 đến 15 độ C so với nhiệt độ nước ở bên ngoài. Với nhiệt độ này nó giúp cho loài cá dưới sâu nhanh chóng và dễ dàng nhận biết những cử động lạ dưới đáy sâu rõ gấp 10 lần những loài cá không có sự chuyển đổi nhiệt lượng trong não và mắt như chúng.

    Trong việc tìm hiểu về câu cá,khi nói về những loại cá lớn mà không thể nói đến ánh sáng tự phát từ thân thủy sinh vật,khi lặn sâu dưới đáy,các loài cá lớn săn mồi ưu tiên là loài nhuyễn thể như mực hay cá đèn (lantern fishes) vì cả hai tự chiếu sáng trong vùng tối đen.Mà cũng lạ,các loài cá sống trong mức sâu từ 200-1000 m có đồng tử màu vàng giúp nó phân biệt và nhận được ánh sánh tự phát của thủy sinh vật mà mức độ sáng từ hơi mờ đến mạnh ở trên mặt nước chiếu xuống,nên lại ít loại cá nào có sự thích nghi giống như loài cá kiếm,cá cờ,cá marlin,v,v…

    Đôi khi nhiều người câu ngoài biển khơi thấy màu sắc nhấp nháy sáng xuất hiện ở cá cờ khi nó đang săn đuổi cá mồi,màu sắc sáng nhấp nháy thường do sự phản chiếu của tần sóng ánh sáng cực tím.Đây cũng là một sự lạ,bởi vì ít nhất có một tài liệu nghiên cứu cho biết thủy tinh thể các loài cá lớn này đã lọc hẳn tia cực tím,như vậy nó không thể nào nhận biết được tia sáng đó.Như thế ánh sáng nhấp nháy đó mang tín hiệu cho cái gì ?

    Vì có những sự kỳ diệu và huyền bí đó nên dưới biển sâu vẫn còn tiếp tục lôi cuốn chúng ta tìm hiểu.

    Hiện nay những phát minh tân tiến mà chúng ta áp dụng đưa chúng ta vào những cuộc ra khơi câu cá lớn nhiều hơn,truy tìm cá ở vùng nước cạn mau hơn tuy nhiên chúng ta vẫn phải chờ những khám phá mới mẻ nữa của khoa học về sự kỳ diệu nhãn quan của cá.

    1. GAG Grouper, 2. AFRICAN Pompano, 3. Dolphin, 4. GOLDEN Tilefish, 5. Bluefish, 6. Trout,

    7. Bonita , 8. Snook, 9. MAKO SHARK, 10. Kingfish, 11. MANGROVE Snapper, 12. Bonefish

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    You can leave a response, or trackback from your own site.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bệnh Mù Màu: Những Kiến Thức Bạn Cần Biết
  • Enchroma – Kính Giúp Người Mù Màu Phân Biệt Màu Sắc Chuẩn Xác
  • Mẹo Dạy Bé Nhận Biết Màu Sắc Với Đồ Chơi Nhanh Chóng
  • Ảnh Hưởng Của Bệnh Mù Màu
  • Mù Màu – Rối Loạn Sắc Giác. Bạn Có Mắc Phải Hay Không?
  • Phân Biệt Màu Sắc Ở Gà

    --- Bài mới hơn ---

  • Mù Màu – Rối Loạn Sắc Giác. Bạn Có Mắc Phải Hay Không?
  • Ảnh Hưởng Của Bệnh Mù Màu
  • Mẹo Dạy Bé Nhận Biết Màu Sắc Với Đồ Chơi Nhanh Chóng
  • Enchroma – Kính Giúp Người Mù Màu Phân Biệt Màu Sắc Chuẩn Xác
  • Bệnh Mù Màu: Những Kiến Thức Bạn Cần Biết
  • ím (lavender)

    Màu tím lavender gắn liền với một gien khiến cho lông cánh và lông đuôi bị xoăn và xơ xác. Rất ít gà lavender có bộ lông đẹp.

    Khét sữa (buff)

    Khét sữa là tông màu giữa cam và vàng.

    Chocolate (dun)

    Chocolate có tông màu nâu. Màu này là kết hợp của ô (Choc) và ka-ki (choc). Lai chocolate X chocolate = 50% chocolate, 25% ka-ki và 25% ô.

    Ka-ki (khaki)

    Màu này thường xuất hiện trong bầy chocolate. Lai ka-ki với ô sẽ thu được 100% chocolate.

    Xám khô (blue)

    Xám khô là xám có sắc xanh, còn gọi là xám tro. Tương tự như chocolate, xám khô là kết hợp của ô (bl) và tóe (Bl). Lai xám khô X xám khô = 50% xám khô, 25% tóe và 25% ô.

    Tóe (splash)

    Tóe là dạng màu xám có ẩn hiện sắc đen, trông lốm đốm, còn gọi là xám bùn. Màu này thường xuất hiện trong bầy xám. Lai tóe với ô sẽ thu được 100% xám khô.

    Chuối tro (birchen/gray)

    Chuối tro thường xuất hiện trong bầy gà chuối. Sự phát triển của hắc sắc tố tạo ra màu xám ở lông bờm và lông mã. Đây là màu xám thực sự, không có sắc xanh như xám khô.

    ———————————————————————————-

    Bướm (pyle)

    Gà bướm là gà trắng pha lẫn các màu đỏ, vàng và đen ở lông bờm, lông mã và cánh. Màu trắng ở gà bướm là màu trắng ngà, hanh vàng, được tạo ra bởi gien bướm (bất toàn), khác với gien tạo ra màu trắng tinh ở gà nhạn (lặn).

    Nhạn úa

    Gà nhạn úa là gà bướm với màu trắng toàn thân hoặc nhiễm rất ít màu đỏ, đen. Bởi màu trắng của gien bướm là trắng ngà, hanh vàng nên mới gọi là “úa”.

    Nhạn (white)

    Sưu tầm

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điều Ít Biết Về Sự Phát Triển Thị Giác Của Trẻ Sơ Sinh
  • Làm Thế Nào Để Dạy Trẻ Nhận Biết Về Màu Sắc Và Con Số?
  • Lý Thuyết Cơ Bản Về Màu Sắc Trong Hội Họa
  • 3 Lý Thuyết Màu Cơ Bản Cần Nắm Rõ Khi Thiết Kế
  • (Góc Kiến Thức) Lý Thuyết Cơ Bản Về Màu Sắc
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100