Sự Khác Biệt Giữa Nguyên Tử Và Phân Tử

--- Bài mới hơn ---

  • Hỏi & Đáp Về Năng Lượng Nguyên Tử (Bài 2: Năng Lượng Nguyên Tử)
  • Điều Gì Phân Biệt Nhà Nước Với Các Tổ Chức Chính Trị Khác? Khái Niệm Và Dấu Hiệu Của Nhà Nước
  • Cách Phân Biệt Ought To Với Shoud, Had Batter
  • Phân Biệt Other /the Other /another /others Chinh Phục Mọi Câu Trắc Nghiệm
  • The Ordinary Hyaluronic Acid 2% +B5 Giá Rẻ Đi Cùng Chất Lượng Không Như Mong Muốn?
  • Ở xung quanh bạn, bạn có thể đã quan sát thấy có hàng triệu vật thể được tạo ra từ vật chất và vật chất bao gồm các phân tử, là sự kết hợp của hai hoặc nhiều nguyên tử liên kết với nhau. Vì vậy, trong ngắn hạn, các nguyên tử được nhóm lại với nhau để tạo thành một phân tử, là hiện thân của các vật thể xung quanh chúng ta. Toàn bộ vũ trụ được tạo thành từ nguyên tử, và chúng là những hạt nhỏ của một nguyên tố, đến nỗi chúng ta không thể nhìn thấy chúng bằng mắt thường hoặc thậm chí qua kính hiển vi, nhưng chúng tồn tại trong mỗi và mọi vật thể và bị ảnh hưởng bởi chúng ta các hoạt động.

    Sự khác biệt giữa các nguyên tử và phân tử là gì, là câu hỏi cơ bản nảy sinh trong tâm trí của mỗi sinh viên hóa học. Họ thường gặp khó khăn trong việc hiểu chúng một cách chính xác, vì cả hai đều là một đơn vị nhỏ có thể nhận dạng được.

    Biểu đồ so sánh

    Định nghĩa nguyên tử

    Thuật ngữ ‘nguyên tử’ trong hóa học đại diện cho đơn vị cơ bản của vật chất thông thường tồn tại ở trạng thái tự do và chứa tất cả các tính chất hóa học. Nó là một hạt vô hạn xác định rõ ràng một nguyên tố hóa học. Nó bao gồm một hạt nhân tích điện dương và được bao quanh bởi các electron tích điện âm.

    Hạt nhân bao gồm các proton và neutron nhóm lại với nhau ở giữa một nguyên tử. Các proton và neutron này có khối lượng gần như bằng nhau, nhưng chúng khác nhau về điện tích, tức là phần trước mang điện tích dương trong khi phần sau không mang điện tích. Điện tích dương trong nguyên tử tương đương với điện tích âm. Do đó, nó là trung tính điện. Thêm vào đó, các proton và neutron được tạo thành từ các thành phần, tức là quark và gluon.

    Ví dụ : H, He, Li, O, N

    Định nghĩa phân tử

    Phân tử là một đơn vị nhỏ của vật chất, tồn tại ở trạng thái tự do và đại diện cho tính chất hóa học của chất.

    Khi hai hoặc nhiều nguyên tử cực kỳ gần nhau, sao cho các electron của các nguyên tử có thể tương tác với nhau, dẫn đến sự thu hút giữa các nguyên tử, được gọi là liên kết hóa học. Liên kết hóa học diễn ra như là kết quả của sự trao đổi electron giữa các nguyên tử, đặc biệt được gọi là liên kết cộng hóa trị. Vì vậy, khi hai hoặc nhiều nguyên tử được nhóm lại thành một đơn vị, với sự trợ giúp của liên kết cộng hóa trị, nó tạo thành một phân tử.

    Nếu một hoặc nhiều nguyên tử giống nhau tồn tại dưới dạng một đơn vị, độc lập, nó được gọi là một phân tử của một nguyên tố, nhưng nếu hai hoặc nhiều nguyên tố khác nhau được nhóm lại với nhau theo một tỷ lệ cố định, theo khối lượng, để tạo ra một đơn vị tồn tại tự do, là gọi là một phân tử của một hợp chất.

    Sự khác biệt chính giữa nguyên tử và phân tử

    Sự khác biệt giữa nguyên tử và phân tử có thể được rút ra rõ ràng dựa trên các căn cứ sau:

    1. Nguyên tử được định nghĩa là đơn vị nhỏ nhất của một nguyên tố có thể tồn tại hoặc không tồn tại độc lập. Mặt khác, phân tử ngụ ý tập hợp các nguyên tử được liên kết với nhau bằng liên kết, chỉ ra đơn vị nhỏ nhất của hợp chất.
    2. Các nguyên tử có thể tồn tại hoặc không tồn tại ở trạng thái tự do, nhưng các phân tử tồn tại ở trạng thái tự do.
    3. Các nguyên tử bao gồm hạt nhân (chứa proton và neutron) và electron. Ngược lại, một phân tử bao gồm hai hoặc nhiều nguyên tử giống hệt nhau hoặc khác nhau, kết hợp hóa học.
    4. Hình dạng của một nguyên tử là hình cầu trong khi các phân tử có thể có dạng tuyến tính, góc hoặc hình chữ nhật.
    5. Các nguyên tử có khả năng phản ứng cao, tức là chúng tham gia vào phản ứng hóa học mà không bị phân hủy bổ sung thành các đơn vị hạ nguyên tử. Tuy nhiên, điều này không áp dụng cho các nguyên tử khí cao quý. Ngược lại, các phân tử ít phản ứng hơn, vì chúng không tham gia vào phản ứng hóa học.
    6. Các nguyên tử sở hữu liên kết hạt nhân, vì nó kéo theo lực hút tĩnh điện giữa hạt nhân và electron. Ngược lại, tồn tại một liên kết hóa học giữa các nguyên tử của một phân tử, do đó nó bao gồm các liên kết đơn, đôi hoặc ba.

    Phần kết luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Nguyên Tử Và Nguyên Tố
  • Toàn Bộ Kiến Thức Hóa Học Lớp 8 Về Chất, Nguyên Tử, Phân Tử
  • Đơn Chất Là Gì, Hợp Chất Là Gì Và Phân Tử Là Gì?
  • Đơn Chất Và Hợp Chất
  • Sự Khác Biệt Giữa Số Khối Và Số Nguyên Tử Là Gì?
  • Phân Biệt Thái Tử Và Thế Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Một Van Bi Và Một Van Bướm. Van Công Nghiệp Tân Bình
  • Vans Era Và Vans Authentic
  • Samsung Dòng A Và Dòng J: Có Gì Khác Biệt?
  • Bạn Đã Biết Hết Và Hiểu Hết Các Dòng Điện Thoại Từ Ông Lớn Samsung?
  • Giải Sách Giáo Khoa Tiếng Anh 8 Unit 4 : Our Customs And Traditions ( Phong Tục Và Truyền Thống Của Chúng Ta)
  • Thái tử (chữ Hán: 太子), gọi đầy đủ là Hoàng thái tử (皇太子) hay Vương thái tử (王太子), là danh vị dành cho Trữ quân kế thừa của Hoàng đế hoặc đôi khi là một Quốc vương. Vào thời kì Tiên Tần, Thái tử cũng dùng để gọi người kế vị của các chư hầu.

    Trong hầu hết trường hợp trên thế giới, người được chọn kế vị đều là nam giới, thường là con trai trưởng của đương kim Hoàng đế. Đối với các chư hầu hay các vương quốc, những quốc gia mà người cai trị chỉ xưng Vương, nhận làm chư hầu cho một đế quốc, cũng có lệ đặt người nối ngôi như vậy nhưng gọi là Vương thế tử.

    Vì là người sẽ kế vị, khác biệt với các Hoàng tử được mở phủ riêng ngoài hoàng cung, nơi ở của Hoàng thái tử được đặt ở phía Đông của hoàng cung trong kinh thành, nên thường được gọi là Đông cung (東宮), hoặc nguyên một cụm hay được dùng là [ Đông cung Hoàng thái tử]. Do là cung điện của Trữ quân, nên đôi khi Đông Cung cũng có thể gọi là Trữ cung (儲宮).

    Ở thuyết ngũ hành, hướng Đông thuộc hệ Mộc, màu “Thanh”, xét Tứ quý thì thuộc mùa xuân, nên ngôi vị Thái tử đôi khi cũng được gọi một cách né tránh là Thanh cung (青宮) hay Xuân cung (春宮). Dần về sau, cách gọi Đông cung, Trữ cung, Thanh cung hoặc Xuân cung đa phần chỉ mang ý nghĩa tượng trưng như Tiềm để, ám chỉ nơi ở cao quý của Hoàng đế. Địa vị của Thái tử thời xưa có thể tạo thành một chính thể quyền lực tương tự với Hoàng đế, do trong Đông cung cũng có các chức quan hầu việc tương tự hệ thống quan viên ở triều đình và đã được thu nhỏ lại. Các quan viên chủ yếu nhận nhiệm vụ về giáo dục Thái tử, nên thực tế không có quyền hạn đáng kể, nhưng nếu Thái tử kế vị, những quan viên này sẽ là những người hàng đầu được bổ nhiệm các vị trí trọng yếu. Ngoài ra, trong Đông Cung cũng có các hoạn quan, nữ quan,… theo mô hình thu nhỏ của hoàng cung mà bố trí, phục vụ sinh hoạt của Thái tử và gia quyến. Vì là người sẽ kế vị nên mũ áo, lễ nghi của Thái tử cũng khác biệt với các Hoàng tử khác, và thường là có chế độ một cách giản lược của vua.

    Chính thất của Thái tử được gọi là Thái tử phi, là người đảm đương vị trí Hoàng hậu trong tương lai, do đó địa vị của Thái tử phi cùng với Thái tử là khá lớn trong gia đình hoàng thất. Ngoài ra, Thái tử cũng có một hậu cung thu nhỏ với các cấp bậc dành cho thiếp thất khác, tùy vào từng triều đại và quốc gia.

    Trong lịch sử Nhật Bản cũng thiết lập Thái tử, do các vị vua Nhật Bản tự xưng Thiên hoàng, ngang hàng với Hoàng đế.

    Địa vị của các Thái tử tại Nhật Bản cũng rất cao quý, do là người sẽ trở thành Thiên hoàng trong tương lai. Nơi ở của Thái tử được gọi là Đông Cung ngự sở (東宮御所; とうぐうごしょ Tōgū Gosho), hay cũng gọi là Xuân Cung (はるのみや; Haru no Miya) do ảnh thưởng của thuyết Ngũ hành tương tự Trung Quốc.

    Do tình hình biến động của lịch sử, thực tế trong các thời đại trước Thời Minh Trị thì pháp độ thừa kế của Đông Cung rất không rõ ràng, chỉ cần có thế lực đưa lên thì bất cứ Hoàng tử nào cũng có thể trở thành Thiên hoàng. Sau Duy Tân Minh Trị, trật tự hoàng thất Nhật Bản ổn định, quy định về quyền thừa kế xác định chỉ dành cho Đích trưởng tử của Thiên hoàng, là đứa con trai lớn chính thống nhất.

    Do đặc thù trong cách đặt tên, cách gọi Thái tử ở Nhật Bản không tương đồng lắm với Trung Quốc và Việt Nam. Theo thông lệ, bất kỳ Hoàng tử Nhật Bản nào cũng sẽ có tên kiểu “Mỗ mỗ Thân vương” khi trưởng thành, dù có là Hoàng thái tử thì cũng chỉ thêm chữ Hoàng thái tử trước phong hiệu mà thôi. Như Thiên hoàng Naruhito trong thời gian còn là Trữ quân của cha ông, Thiên hoàng Akihito, ông được gọi theo Kanji là Hoàng thái tử Đức Nhân Thân vương (皇太子徳仁親王), còn Thái tử phi là Hoàng thái tử Đức Nhân Thân vương phi (皇太子徳仁親王妃).

    Thời nhà Đinh, Hoàng thái tử lần đầu được lập là khi Đinh Tiên Hoàng lập con trai thứ là Đinh Hạng Lang. So với Trung Quốc, vị trí của các Thái tử vẫn tối cao như vậy, đặc biệt là thời nhà Trần có quy chế nghiêm cẩn, Lê Phụ Trần từng giữ chức “Trữ Cung giáo thụ”, có trách nhiệm dạy dỗ cho Trần Nhân Tông khi ông còn là Thái tử. Có thể thấy, Hoàng thái tử ở Việt Nam cũng như vậy rất được coi trọng.

    Văn hóa đại chúng Việt Nam hiện đại có lưu truyền một thuyết gọi là “Tứ bất lập” của nhà Nguyễn, bao gồm: Không lập Hoàng hậu, không lập Tể tướng, không lấy đỗ Trạng nguyên và không lập Thái tử. Tuy nhiên, đây là thuyết vô căn cứ vì thực tế, nhà Nguyễn có quy định rất rõ về việc lập Thái tử. Dẫn chứng rất cụ thể đó là:

    • Năm 1815, Gia Long quyết định lập Nguyễn Phúc Đảm làm Hoàng thái tử với tư cách là con của Thừa Thiên Cao Hoàng hậu.
    • Năm 1922, Hoàng trưởng tử Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy được Khải Định sắc lập làm Hoàng thái tử.
    • Năm 1939, Hoàng đích trưởng tử Nguyễn Phúc Bảo Long được lập làm Thái tử.

    Những trường hợp trên đều là cho thấy nhà Nguyễn không hề kị việc lập Thái tử. Nguyên nhân dẫn đến việc chậm lập Thái tử ở các triều trước đó, có thể suy ra ở ba yếu tố chính: ảnh hưởng tình hình chính trị (công bố người kế vị trong di chiếu, để tránh việc tranh giành), chưa có người thích hợp và cuối cùng một phần lớn là do vấn đề kinh tế vì các buổi lễ tấn phong diễn ra rất tốn kém.

    Theo Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, sách phong Hoàng thái tử làm bằng vàng; có 5 tờ; 2 tờ trước và sau đều khắc hình rồng mây; 3 tờ giữa là khắc sách văn, dài 5 tấc 6 phân 6 ly, ngang 3 tấc 2 phân 4 ly, dày 2 ly. Hộp đựng sách bằng bạc chạm mây rồng, rồi lại đựng trong 1 hộp gỗ sơn son. Bảo ấn bằng vàng, vuông 2 tấc 4 phân 3 ly, dày 3 phân 2 ly, núm hình rồng phủ phục. Khắc 5 chữ “Hoàng thái tử chi bảo”, hộp đựng gỗ sơn son, bằng đồng. Có thêm 1 ấn tín bằng bạc khắc chữ “Thị tín”, vuông 6 phân 7 ly, dày 3 phân, núm rồng phủ phục.

    Thế tử (chữ Hán: 世子; Hangul: 세자) là một danh hiệu phong cho người thừa kế (Trữ quân) của các Quốc vương đang là chư hầu của một Đế quốc, hay là người thừa kế của các Hoàng tử mang tước Vương trong khối Đông Á đồng văn.

    Xuất hiện từ thời Tiên Tần, tước vị này cần phân biệt với Thái tử, một thời gian là danh hiệu của người thừa kế Thiên tử nhà Chu hoặc các nước xưng Vương hùng bá như nước Sở thời Chiến Quốc.

    Người thừa kế tước Vương

    Nhìn chung, danh vị “Thế tử” dùng để gọi người thừa kế của những người mang tước Vương, và thường là những tước Vương có thế lực ngang với chư hầu. Có thể thấy vào thời Tam Quốc, khi các tước vị vẫn còn mang hơi hướng chư hầu phân quyền, Tư Mã Viêm kế thừa vị trí Trữ quân của tước “Tấn vương”, vì vậy xưng gọi 「 Tấn Thế tử; 晋世子.

    Đời nhà Minh, Hoàng đế Minh Thái Tổ quy định chỉ có “Đích tử” (嫡子; con trai do chính thất sinh ra) mới có tư cách trở thành Thế tử của tước Vương đó. Sau, nhà Thanh cải định lệ: “Thừa kế Hòa Thạc Thân vương phong làm Thế tử, thừa kế Đa La Quận vương phong làm Trưởng tử”. Các đời Minh-Thanh, khi phong Thế tử đều phải dùng kim sách và kim bảo, quyết định phong tước rồi mới tiến hành sách phong, chứ không phải là một danh xưng tự phát

    Điều này cũng xảy ra trong lịch sử Việt Nam, vào thời kỳ phân tranh Trịnh – Nguyễn, các chúa Trịnh có quyền hành to lớn, thay Hoàng đế nhà Hậu Lê cai trị, thực chất là vị quân chủ thực sự của Đại Việt. Chúa Trịnh khi ấy mang tước Vương, do đó những người thừa kế của chúa Trịnh đều xưng Vương thế tử, có lễ sách phong riêng biệt, quần áo và lễ nghi cũng riêng biệt tương đương với các Thái tử họ Lê. Điều này tương tự với các con thừa kế của chúa Nguyễn, tuy nhiên quy chế của chúa Nguyễn chỉ gọi các Trữ quân bằng Thế tử như kiểu nhã xưng, không hề có quy tắc mang tính quy mô như chúa Trịnh vì các chúa Nguyễn phần lớn thời kỳ chỉ xưng tước Quốc công mà thôi.

    Vì là nước phiên thuộc nhà Minh và nhà Thanh, các vị Vua của nhà Triều Tiên thường tránh xung đột nên không xưng Hoàng đế, đa số đều xưng Vương, do vậy kính xưng của các Triều Tiên vương là Điện hạ (殿下; 전하 Jeonha) thay vì Bệ hạ như tước Hoàng đế, nên người thừa kế của các Quốc vương Triều Tiên là Vương thế tử (王世子; 왕세자 Wangseja) được tôn xưng là Để hạ (邸下; 저하 Jeoha).

    Nơi ở của Thế tử gọi là Đông Cung (東宮; 동궁 Donggung), có quan lại và hậu cung riêng, y hệt một triều đình thu nhỏ, yêu cầu cơ bản của một Trữ quân của một quốc gia thời Đông Á. Người Triều Tiên theo văn hóa Hán, do vậy họ cũng có cách gọi khác cho Thế tử như Xuân Cung (春宮; 춘궁 Chungung), vì theo Ngũ hành thì Đông Cung tại hướng Đông, theo tiết trời là mùa xuân. Bên cạnh đó, người Triều Tiên thậm chí gọi Thế tử bằng các tôn xưng mang tính rất triết lý Hán văn như Chính Dận (正胤; 정윤 Jeong-yun), Nhị Cực (貳極; 이극 Igeug) cùng một từ rất phổ biến thời Minh là Quốc Bổn (國本; 국본 Gugbon).

    Do vấn đề đích-thứ và Nho phong ở Triều Tiên rất gay gắt, các Thế tử thừa kế của Triều Tiên vương chủ yếu là “Đích trưởng tử” – tức con trai trưởng do Vương phi sinh ra. Khi Đích trưởng tử chết, người “Đích thứ tử” (con trai thứ dòng đích) sẽ kế vị vị trí Trữ quân. Chỉ khi Quốc vương không có Đích tử, vị trí Trữ quân mới được truyền cho con cái dòng thứ xuất (như Quang Hải Quân). Trường hợp tất cả con trai của Quốc vương đều qua đời trước ông, vị trí Trữ quân khi đó sẽ truyền cho các đích tôn – các cháu trai của Vương phi (các con trai của các đích tử), trong đó Đích trưởng tôn là ưu tiên hơn cả, và khi đó Trữ quân sẽ được gọi là Vương thế tôn (王世孫; 왕세손 Wangseson), trường hợp này chính là Triều Tiên Chính Tổ. Nếu dòng dõi vị Quốc vương đó tuyệt tự, Vương vị mới truyền đến người em kế thứ, lúc đó sẽ trở thành Vương thế đệ (王世弟; 왕세제 Wangseje), trường hợp này chính là Triều Tiên Anh Tổ.

    Tương tự ở Triều Tiên, Vương quốc Lưu Cầu nhiều đời chịu sự phiên thuộc, tước vị Thế tử của Trữ quân tại quốc gia này đều do Minh-Thanh hai triều sắc phong, nhưng ở bản địa, người Lưu Cầu quan gọi Trữ quân của họ là Trung Thành vương tử (中城王子; ナカグシクヲージ Nakagushiku Wōji). Theo lệ, Trữ quân của Lưu Cầu cũng như các Án ti, được trao lãnh địa riêng để cai quản. Lãnh địa ấy của Trữ quân nay là khu vực Nakagusuku, Okinawa và Uruma, khi đó có tên Trung Thành Gian Thiết (中城間切), do đó các Trữ quân Lưu Cầu mới có danh xưng như vậy. Các Trữ quân của Lưu Cầu khi vừa sinh ra sẽ có Đồng danh (童名; tên lúc nhỏ, tương tự Ấu danh), sau đó 5 tuổi bắt đầu đặt Đường danh (唐名; ý chỉ các tên theo kiểu chữ Hán). Sau khi chính thức chọn Đường danh, Trữ quân đó sẽ đến Ngự điện của Trung thành để sống, do đó dân gian cũng có gọi là Trung Thành ngự điện (中城御殿), ngoài ra còn có tôn xưng Ngự Thái tử (御太子; グティシ Gu tishi).

    Ở Đài Loan, từng có một quốc gia gọi là Vương quốc Đông Ninh do Trịnh Thành Công dựng lên. Vương triều này cũng thiết đặt chính quyền như của một chư hầu theo kiểu Hán quyển, xưng gọi Thế tử cho người thừa kế của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Cầm Cố Và Thế Chấp Theo Bộ Luật Dân Sự 2022
  • Sự Khác Nhau Giữa Cầm Cố Và Thế Chấp Tài Sản Theo Quy Định
  • Phân Biệt Giữa Thế Chấp Và Cầm Cố
  • Sự Khác Nhau Giữa Đột Biến Và Thể Đột Biến Là:
  • Sự Khác Biệt Giữa Lắng Nghe Chủ Động Và Thụ Động
  • Phân Biệt Thái Tử Và Thế Tử 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Nàng Công Chúa Mang ‘mệnh Khổ’ Của Màn Ảnh Hoa Ngữ
  • Truyện Hoàn Khố Thế Tử Phi Quyển 3 Chương 99
  • Tìm Hiểu Sự Khác Nhau Giữa Van Điều Khiển Động Cơ Và Van Điện Từ.
  • Sự Khác Nhau Giữa Van Điện Từ Đơn Và Đôi
  • Sự Khác Nhau Giữa Van Bi Điện Và Van Bướm Điều Khiển
  • Thái tử (chữ Hán: 太子), gọi đầy đủ là Hoàng thái tử (皇太子) hay Vương thái tử (王太子), là danh vị dành cho Trữ quân kế thừa của Hoàng đế hoặc đôi khi là một Quốc vương. Vào thời kì Tiên Tần, Thái tử cũng dùng để gọi người kế vị của các chư hầu.

    Trong hầu hết trường hợp trên thế giới, người được chọn kế vị đều là nam giới, thường là con trai trưởng của đương kim Hoàng đế. Đối với các chư hầu hay các vương quốc, những quốc gia mà người cai trị chỉ xưng Vương, nhận làm chư hầu cho một đế quốc, cũng có lệ đặt người nối ngôi như vậy nhưng gọi là Vương thế tử.

    Vì là người sẽ kế vị, khác biệt với các Hoàng tử được mở phủ riêng ngoài hoàng cung, nơi ở của Hoàng thái tử được đặt ở phía Đông của hoàng cung trong kinh thành, nên thường được gọi là Đông cung (東宮), hoặc nguyên một cụm hay được dùng là [ Đông cung Hoàng thái tử]. Do là cung điện của Trữ quân, nên đôi khi Đông Cung cũng có thể gọi là Trữ cung (儲宮).

    Ở thuyết ngũ hành, hướng Đông thuộc hệ Mộc, màu “Thanh”, xét Tứ quý thì thuộc mùa xuân, nên ngôi vị Thái tử đôi khi cũng được gọi một cách né tránh là Thanh cung (青宮) hay Xuân cung (春宮). Dần về sau, cách gọi Đông cung, Trữ cung, Thanh cung hoặc Xuân cung đa phần chỉ mang ý nghĩa tượng trưng như Tiềm để, ám chỉ nơi ở cao quý của Hoàng đế. Địa vị của Thái tử thời xưa có thể tạo thành một chính thể quyền lực tương tự với Hoàng đế, do trong Đông cung cũng có các chức quan hầu việc tương tự hệ thống quan viên ở triều đình và đã được thu nhỏ lại. Các quan viên chủ yếu nhận nhiệm vụ về giáo dục Thái tử, nên thực tế không có quyền hạn đáng kể, nhưng nếu Thái tử kế vị, những quan viên này sẽ là những người hàng đầu được bổ nhiệm các vị trí trọng yếu. Ngoài ra, trong Đông Cung cũng có các hoạn quan, nữ quan,… theo mô hình thu nhỏ của hoàng cung mà bố trí, phục vụ sinh hoạt của Thái tử và gia quyến. Vì là người sẽ kế vị nên mũ áo, lễ nghi của Thái tử cũng khác biệt với các Hoàng tử khác, và thường là có chế độ một cách giản lược của vua.

    Chính thất của Thái tử được gọi là Thái tử phi, là người đảm đương vị trí Hoàng hậu trong tương lai, do đó địa vị của Thái tử phi cùng với Thái tử là khá lớn trong gia đình hoàng thất. Ngoài ra, Thái tử cũng có một hậu cung thu nhỏ với các cấp bậc dành cho thiếp thất khác, tùy vào từng triều đại và quốc gia.

    Trong lịch sử Nhật Bản cũng thiết lập Thái tử, do các vị vua Nhật Bản tự xưng Thiên hoàng, ngang hàng với Hoàng đế.

    Địa vị của các Thái tử tại Nhật Bản cũng rất cao quý, do là người sẽ trở thành Thiên hoàng trong tương lai. Nơi ở của Thái tử được gọi là Đông Cung ngự sở (東宮御所; とうぐうごしょ Tōgū Gosho), hay cũng gọi là Xuân Cung (はるのみや; Haru no Miya) do ảnh thưởng của thuyết Ngũ hành tương tự Trung Quốc.

    Do tình hình biến động của lịch sử, thực tế trong các thời đại trước Thời Minh Trị thì pháp độ thừa kế của Đông Cung rất không rõ ràng, chỉ cần có thế lực đưa lên thì bất cứ Hoàng tử nào cũng có thể trở thành Thiên hoàng. Sau Duy Tân Minh Trị, trật tự hoàng thất Nhật Bản ổn định, quy định về quyền thừa kế xác định chỉ dành cho Đích trưởng tử của Thiên hoàng, là đứa con trai lớn chính thống nhất.

    Do đặc thù trong cách đặt tên, cách gọi Thái tử ở Nhật Bản không tương đồng lắm với Trung Quốc và Việt Nam. Theo thông lệ, bất kỳ Hoàng tử Nhật Bản nào cũng sẽ có tên kiểu “Mỗ mỗ Thân vương” khi trưởng thành, dù có là Hoàng thái tử thì cũng chỉ thêm chữ Hoàng thái tử trước phong hiệu mà thôi. Như Thiên hoàng Naruhito trong thời gian còn là Trữ quân của cha ông, Thiên hoàng Akihito, ông được gọi theo Kanji là Hoàng thái tử Đức Nhân Thân vương (皇太子徳仁親王), còn Thái tử phi là Hoàng thái tử Đức Nhân Thân vương phi (皇太子徳仁親王妃).

    Thời nhà Đinh, Hoàng thái tử lần đầu được lập là khi Đinh Tiên Hoàng lập con trai thứ là Đinh Hạng Lang. So với Trung Quốc, vị trí của các Thái tử vẫn tối cao như vậy, đặc biệt là thời nhà Trần có quy chế nghiêm cẩn, Lê Phụ Trần từng giữ chức “Trữ Cung giáo thụ”, có trách nhiệm dạy dỗ cho Trần Nhân Tông khi ông còn là Thái tử. Có thể thấy, Hoàng thái tử ở Việt Nam cũng như vậy rất được coi trọng.

    Văn hóa đại chúng Việt Nam hiện đại có lưu truyền một thuyết gọi là “Tứ bất lập” của nhà Nguyễn, bao gồm: Không lập Hoàng hậu, không lập Tể tướng, không lấy đỗ Trạng nguyên và không lập Thái tử. Tuy nhiên, đây là thuyết vô căn cứ vì thực tế, nhà Nguyễn có quy định rất rõ về việc lập Thái tử. Dẫn chứng rất cụ thể đó là:

    • Năm 1815, Gia Long quyết định lập Nguyễn Phúc Đảm làm Hoàng thái tử với tư cách là con của Thừa Thiên Cao Hoàng hậu.
    • Năm 1922, Hoàng trưởng tử Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy được Khải Định sắc lập làm Hoàng thái tử.
    • Năm 1939, Hoàng đích trưởng tử Nguyễn Phúc Bảo Long được lập làm Thái tử.

    Những trường hợp trên đều là cho thấy nhà Nguyễn không hề kị việc lập Thái tử. Nguyên nhân dẫn đến việc chậm lập Thái tử ở các triều trước đó, có thể suy ra ở ba yếu tố chính: ảnh hưởng tình hình chính trị (công bố người kế vị trong di chiếu, để tránh việc tranh giành), chưa có người thích hợp và cuối cùng một phần lớn là do vấn đề kinh tế vì các buổi lễ tấn phong diễn ra rất tốn kém.

    Theo Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, sách phong Hoàng thái tử làm bằng vàng; có 5 tờ; 2 tờ trước và sau đều khắc hình rồng mây; 3 tờ giữa là khắc sách văn, dài 5 tấc 6 phân 6 ly, ngang 3 tấc 2 phân 4 ly, dày 2 ly. Hộp đựng sách bằng bạc chạm mây rồng, rồi lại đựng trong 1 hộp gỗ sơn son. Bảo ấn bằng vàng, vuông 2 tấc 4 phân 3 ly, dày 3 phân 2 ly, núm hình rồng phủ phục. Khắc 5 chữ “Hoàng thái tử chi bảo”, hộp đựng gỗ sơn son, bằng đồng. Có thêm 1 ấn tín bằng bạc khắc chữ “Thị tín”, vuông 6 phân 7 ly, dày 3 phân, núm rồng phủ phục.

    Thế tử (chữ Hán: 世子; Hangul: 세자) là một danh hiệu phong cho người thừa kế (Trữ quân) của các Quốc vương đang là chư hầu của một Đế quốc, hay là người thừa kế của các Hoàng tử mang tước Vương trong khối Đông Á đồng văn.

    Xuất hiện từ thời Tiên Tần, tước vị này cần phân biệt với Thái tử, một thời gian là danh hiệu của người thừa kế Thiên tử nhà Chu hoặc các nước xưng Vương hùng bá như nước Sở thời Chiến Quốc.

    Người thừa kế tước Vương

    Nhìn chung, danh vị “Thế tử” dùng để gọi người thừa kế của những người mang tước Vương, và thường là những tước Vương có thế lực ngang với chư hầu. Có thể thấy vào thời Tam Quốc, khi các tước vị vẫn còn mang hơi hướng chư hầu phân quyền, Tư Mã Viêm kế thừa vị trí Trữ quân của tước “Tấn vương”, vì vậy xưng gọi 「 Tấn Thế tử; 晋世子.

    Đời nhà Minh, Hoàng đế Minh Thái Tổ quy định chỉ có “Đích tử” (嫡子; con trai do chính thất sinh ra) mới có tư cách trở thành Thế tử của tước Vương đó. Sau, nhà Thanh cải định lệ: “Thừa kế Hòa Thạc Thân vương phong làm Thế tử, thừa kế Đa La Quận vương phong làm Trưởng tử”. Các đời Minh-Thanh, khi phong Thế tử đều phải dùng kim sách và kim bảo, quyết định phong tước rồi mới tiến hành sách phong, chứ không phải là một danh xưng tự phát

    Điều này cũng xảy ra trong lịch sử Việt Nam, vào thời kỳ phân tranh Trịnh – Nguyễn, các chúa Trịnh có quyền hành to lớn, thay Hoàng đế nhà Hậu Lê cai trị, thực chất là vị quân chủ thực sự của Đại Việt. Chúa Trịnh khi ấy mang tước Vương, do đó những người thừa kế của chúa Trịnh đều xưng Vương thế tử, có lễ sách phong riêng biệt, quần áo và lễ nghi cũng riêng biệt tương đương với các Thái tử họ Lê. Điều này tương tự với các con thừa kế của chúa Nguyễn, tuy nhiên quy chế của chúa Nguyễn chỉ gọi các Trữ quân bằng Thế tử như kiểu nhã xưng, không hề có quy tắc mang tính quy mô như chúa Trịnh vì các chúa Nguyễn phần lớn thời kỳ chỉ xưng tước Quốc công mà thôi.

    Vì là nước phiên thuộc nhà Minh và nhà Thanh, các vị Vua của nhà Triều Tiên thường tránh xung đột nên không xưng Hoàng đế, đa số đều xưng Vương, do vậy kính xưng của các Triều Tiên vương là Điện hạ (殿下; 전하 Jeonha) thay vì Bệ hạ như tước Hoàng đế, nên người thừa kế của các Quốc vương Triều Tiên là Vương thế tử (王世子; 왕세자 Wangseja) được tôn xưng là Để hạ (邸下; 저하 Jeoha).

    Nơi ở của Thế tử gọi là Đông Cung (東宮; 동궁 Donggung), có quan lại và hậu cung riêng, y hệt một triều đình thu nhỏ, yêu cầu cơ bản của một Trữ quân của một quốc gia thời Đông Á. Người Triều Tiên theo văn hóa Hán, do vậy họ cũng có cách gọi khác cho Thế tử như Xuân Cung (春宮; 춘궁 Chungung), vì theo Ngũ hành thì Đông Cung tại hướng Đông, theo tiết trời là mùa xuân. Bên cạnh đó, người Triều Tiên thậm chí gọi Thế tử bằng các tôn xưng mang tính rất triết lý Hán văn như Chính Dận (正胤; 정윤 Jeong-yun), Nhị Cực (貳極; 이극 Igeug) cùng một từ rất phổ biến thời Minh là Quốc Bổn (國本; 국본 Gugbon).

    Do vấn đề đích-thứ và Nho phong ở Triều Tiên rất gay gắt, các Thế tử thừa kế của Triều Tiên vương chủ yếu là “Đích trưởng tử” – tức con trai trưởng do Vương phi sinh ra. Khi Đích trưởng tử chết, người “Đích thứ tử” (con trai thứ dòng đích) sẽ kế vị vị trí Trữ quân. Chỉ khi Quốc vương không có Đích tử, vị trí Trữ quân mới được truyền cho con cái dòng thứ xuất (như Quang Hải Quân). Trường hợp tất cả con trai của Quốc vương đều qua đời trước ông, vị trí Trữ quân khi đó sẽ truyền cho các đích tôn – các cháu trai của Vương phi (các con trai của các đích tử), trong đó Đích trưởng tôn là ưu tiên hơn cả, và khi đó Trữ quân sẽ được gọi là Vương thế tôn (王世孫; 왕세손 Wangseson), trường hợp này chính là Triều Tiên Chính Tổ. Nếu dòng dõi vị Quốc vương đó tuyệt tự, Vương vị mới truyền đến người em kế thứ, lúc đó sẽ trở thành Vương thế đệ (王世弟; 왕세제 Wangseje), trường hợp này chính là Triều Tiên Anh Tổ.

    Tương tự ở Triều Tiên, Vương quốc Lưu Cầu nhiều đời chịu sự phiên thuộc, tước vị Thế tử của Trữ quân tại quốc gia này đều do Minh-Thanh hai triều sắc phong, nhưng ở bản địa, người Lưu Cầu quan gọi Trữ quân của họ là Trung Thành vương tử (中城王子; ナカグシクヲージ Nakagushiku Wōji). Theo lệ, Trữ quân của Lưu Cầu cũng như các Án ti, được trao lãnh địa riêng để cai quản. Lãnh địa ấy của Trữ quân nay là khu vực Nakagusuku, Okinawa và Uruma, khi đó có tên Trung Thành Gian Thiết (中城間切), do đó các Trữ quân Lưu Cầu mới có danh xưng như vậy. Các Trữ quân của Lưu Cầu khi vừa sinh ra sẽ có Đồng danh (童名; tên lúc nhỏ, tương tự Ấu danh), sau đó 5 tuổi bắt đầu đặt Đường danh (唐名; ý chỉ các tên theo kiểu chữ Hán). Sau khi chính thức chọn Đường danh, Trữ quân đó sẽ đến Ngự điện của Trung thành để sống, do đó dân gian cũng có gọi là Trung Thành ngự điện (中城御殿), ngoài ra còn có tôn xưng Ngự Thái tử (御太子; グティシ Gu tishi).

    Ở Đài Loan, từng có một quốc gia gọi là Vương quốc Đông Ninh do Trịnh Thành Công dựng lên. Vương triều này cũng thiết đặt chính quyền như của một chư hầu theo kiểu Hán quyển, xưng gọi Thế tử cho người thừa kế của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Thế Chấp Và Cầm Cố, Cá Nhân Có Được Cho Vay Nhận Thế Chấp Sổ Hồng Không ?
  • Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa Thế Chấp Và Cầm Cố Tài Sản Theo Bộ Luật Dân Sự Năm 2022
  • So Sánh Về Cầm Cố Và Thế Chấp
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Cầm Cố Và Thế Chấp
  • Sự Khác Biệt Giữa Đột Biến Và Biến Thể
  • Sự Khác Biệt Giữa Nguyên Tử, Nguyên Tố, Phân Tử Và Hợp Chất Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Tố Hoá Học, Bảng Ký Hiệu, Nguyên Tử Khối Và Bài Tập
  • Tổng Quan Ngành Vật Lý Nguyên Tử Hạt Nhân
  • So Sánh (Phân Biệt) Nhà Nước Với Xã Hội Csnt (Tổ Chức Thị Tộc, Bộ Lạc)
  • Khái Niệm Nhà Nước, Sự Khác Biệt Giữa Nhà Nước Với Các Thiết Chế Chính Trị Khác Trong Xã Hội?
  • Phân Biệt Giữa “other / Another / The Other / The Others”
    • Nguyên tử: hạt đơn giản nhất. Rất nhỏ, không thể tách rời. Khí cao quý là đơn chất, bao gồm một nguyên tử duy nhất.
    • Phân tử: làm từ 2 nguyên tử trở lên. Ví dụ bao gồm halogen halogen nhóm 7, khí oxy, khí nitơ, khí hydro.
    • Nguyên tố: dạng tinh khiết nhất, không thể tách thành các chất đơn giản hơn. Những gì bạn nhìn thấy trong bảng tuần hoàn về cơ bản.
    • Hợp chất: Được làm từ các phân tử giống nhau hoặc khác nhau, có thể được tách thành các chất đơn giản hơn. Các hợp chất được thực hiện thông qua liên kết hóa học.

    Và điều này mang lại cho tôi để giải thích liên kết hóa học là gì.

    Một quá trình hay đúng hơn là một loại phản ứng hóa học trải qua để có được cấu hình điện tử ổn định và có cấu trúc vỏ hóa trị kép hoặc octet.

    Ba loại liên kết hóa học chiếm ưu thế là

    {lực hút tĩnh điện mạnh giữa}

    Kim loại: {} cation kim loại tích điện dương và biển electron tích điện âm

    Ionic: {} cation kim loại tích điện dương và anion phi kim tích điện âm

    Hóa trị: {} cặp electron và hạt nhân hóa trị

    Liên kết cộng hóa trị chứa ba loại lực hấp dẫn liên phân tử là

    Các lực liên phân tử giữa các phân tử cộng hóa trị có mạnh không?

    Không có họ nói chung là yếu. Các lực liên phân tử của lực hút đặc biệt là lưỡng cực tạm thời – tương tác lưỡng cực cảm ứng (tdid). lưỡng cực vĩnh viễn – tương tác lưỡng cực (pdd) và liên kết hydro được sắp xếp theo thứ tự tăng dần của sức mạnh.

    TDID bị ảnh hưởng bởi khối lượng phân tử và diện tích bề mặt. Khi có khối lượng phân tử thấp, số electron ít hơn, kích thước đám mây điện tử nhỏ hơn, dễ bị biến dạng của đám mây điện tử hơn, các lưỡng cực tạm thời dễ bị tạo ra hơn, có tdid yếu hơn, cần ít năng lượng hơn để phá vỡ và khắc phục liên phân tử tương đối yếu lực hấp dẫn và do đó nhiệt độ nóng chảy hoặc sôi thấp hơn. Nó chủ yếu được tìm thấy trong các phân tử đồng âm không phân cực mặc dù nó tồn tại trong TẤT CẢ các phân tử. Các phân tử không phân cực thậm chí có sự phân bố electron, cùng kích thước của đám mây điện tử và các khoảnh khắc lưỡng cực của chúng (đo sự phân tách điện tích) hủy bỏ do cùng một cường độ. Chúng không phân cực vì chúng có cùng độ âm điện, nghĩa là cùng xu hướng thu hút cặp electron liên kết với nhau do đó sẽ không có điện tích một phần nào được hình thành. Ngoài ra họ có sự sắp xếp đối xứng. Ví dụ như các phân tử halogen diatomic, khí hiếm.

    Pdd là cực. Chúng có sự phân bố electron không đồng đều và do đó kích thước của đám mây điện tử khác nhau (mật độ điện tích thay đổi). Chúng được gọi là hạt nhân do sự thay đổi độ âm điện và sự bất đối xứng khác nhau. Chúng có các liên kết cộng hóa trị có cực và các khoảnh khắc lưỡng cực không bị hủy do cường độ khác nhau.

    Liên kết hydro là lực tĩnh điện mạnh của các điểm hấp dẫn giữa ion H + proton tích điện dương liên kết trực tiếp với cặp electron đơn độc tích điện âm trên nguyên tử N, O hoặc F có độ âm điện cao. Đây là loại mạnh nhất (so với hai loại kia) của lực lượng Van der Waals.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Diễn Biến Các Kì Nguyên Phân , Giảm Phân Tính Số Nhiễm Sắc Thể , Số Tâm Động , Số Cromatit Ở Các Kì Nguyên Phân , Giảm Phân Ai Làm Được Thì Giúp Em , Em C
  • Chu Kỳ Tế Bào, Quá Trình Nguyên Phân Và Giảm Phân
  • {Hướng Dẫn} Cách Kiểm Tra Nước Hoa Versace Chính Hãng Thật Và Giả
  • Kinh Nghiệm Phân Biệt Nước Hoa Thật, Giả
  • Top 10 Mùi Nước Hoa Victoria Secret Thơm & Quyến Rũ Nhất
  • Sự Khác Nhau Giữa Nguyên Tử Và Phân Tử Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh (Phân Biệt) Nhà Nước Với Các Tổ Chức Chính Trị Xã Hội Khác
  • Phân Biệt Nhà Nước Và Các Tổ Chức Chính Trị Xã Hội Khác
  • Cách Dùng Must, Have To, Should, Ought To Trong Tiếng Anh
  • Phân Biệt Other, Another, Others, The Other Và The Others
  • Cách Phân Biệt Mỹ Phẩm Thật (Authentic) Và Giả (Fake)
  • Nguyên tử

    Nguyên tử là đơn vị nhỏ nhất cấu thành nên mọi vật chất trên trái đất, nhỏ nhất ở đây không những không thể nhìn thấy bằng mắt người mà nguyên tử còn không thể bị chia thành các thành phần nhỏ hơn mà vẫn giữ nguyên đặc tính của nó.

    Ví dụ quả cam có thể được chia làm 2 nửa mà mỗi nửa vẫn giữ nguyên hương vị của nó còn nguyên tử thì không thể bị chia thành 2 nửa thêm được nữa.

    Đặc tính ở đây là tính chất của vật, ví dụ một khối sắt được cấu thành từ rất nhiều các nguyên tử Fe, bạn có thể chia khối sắt thành 2 mảnh nhỏ hơn, bạn tiếp tục có thể chia khối sắt nhỏ dần nhỏ dần cho đến khi còn 1 nguyên tử sắt, lúc này nếu bạn vẫn tiếp tục chia kết quả sẽ không còn là sắt nữa.

    Đa số nguyên tử không thể tồn tại một cách tự do (một số trường hợp có thể tồn tại tự do), tồn tại tự do có nghĩa là hạt nhân nguyên tử phải có số lượng protons và neutrons ở trạng thái cân bằng hoặc số lượng electron xung quanh nguyên tử không thừa cũng không thiếu.

    Do tính chất không thể tồn tại tự do, nguyên tử có xu hướng liên kết với các nguyên tử khác và kết quả là tạo thành các phân tử và cao hơn là các hợp chất.

    Các nguyên tử ví dụ như: Hiđro (H), Sắt (Fe), Kẽm (Zn), …

    Phân tử

    Tới đây chắc có lẽ bạn đã hiểu sự khác nhau cơ bản giữa nguyên tử và phân tử. Có thể nói rằng, phân tử là tập hợp của nhiều nguyên tử liên kết lại với nhau, do đó một phân tử cũng có thể dễ dàng chia thành các nguyên tử hợp thành nó.

    Phân tử được chia thành 2 dạng như sau:

    • Phân tử nguyên tố là phân tử được tạo thành do sự kết hợp của hai hay nhiều nguyên tử trong cùng 1 nguyên tố.

      Ví dụ: phân tử Ôxy được tạo thành bởi 2 nguyên tử O trong khi phân tử Ôzôn được tạo thành bởi 3 nguyên tử O

    • Phân tử hợp chất là phân tử được tạo thành do sự kết hợp của hai hay nhiều nguyên tử thuộc nhiều nguyên tố khác nhau.

      Ví dụ: phân tử nước $text{H}_2 text{O}$ được tạo thành từ 2 nguyên tử H và 1 nguyên tử O

    Các phân tử ví dụ như: Cacbon điôxít ($text{C} text{O}_2$), Nitơ điôxít ($text{N} text{O}_2$), Ôzôn ($text{O}_3$), …

    Tóm tắt sự khác nhau giữa nguyên tử và phân tử

    Định nghĩa:

    • Nguyên tử là phần tử nhỏ nhất cấu tạo nên chất.
    • Phân tử là tập hợp bao gồm nhiều nguyên tử cấu tạo nên chất.

    Sự tồn tại tự do:

    • Nguyên tử không thể tồn tại tự do.
    • Phân tử có thể tồn tại tự do.

    Cấu tạo:

    • Nguyên tử bao gồm hạt nhân (protons và neutrons) và các hạt electron.
    • Phân tử bao gồm các nguyên tử trong cùng 1 nguyên tố hoặc nhiều nguyên tố.

    Hình dạng:

    • Nguyên tử có dạng hình cầu.
    • Phân tử có thể là bất kỳ hình dạng nào.

    Khả năng phân đôi:

    • Nguyên tử không thể bị phân đôi thêm nữa, nếu cố gắng phân đôi sẽ mất đi đặc tính ban đầu.
    • Phân tử có thể bị phân đôi dễ dàng mà vẫn giữ nguyên đặc tính ban đầu.

    *

    Cộng đồng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Phân Biệt Nước Hoa Thật Giả
  • Cách Phân Biệt Nước Hoa Thật Và Giả
  • Cách Phân Biệt Nước Hoa Chính Hãng Và Nước Hoa Fake
  • Cách Dạy Trẻ Biết Phân Biệt Màu Sắc
  • So Sánh Miễn Dịch Tự Nhiên Và Miễn Dịch Nhân Tạo
  • Nguyên Tử Là Gì? Phân Tử Là Gì? Các Dạng Bài Tập Liên Quan

    --- Bài mới hơn ---

  • Jon Bergmann: Nguyên Tử Bé Như Thế Nào?
  • Hạt Nhân Nguyên Tử
  • Bài 3: Hệ Thống Chính Trị Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Phân Biệt Should – Ought To – Had Better
  • Phân Biệt Thuế, Phí Và Lệ Phí
  • Phân biệt nguyên tử và phân tử

    Nguyên tử là gì?

    Nguyên tử là hạt siêu nhỏ và trung hòa về điện. Thành phần nguyên tử bao gồm hạt nhân nguyên tử (Proton và Notron) và vỏ nguyên tử (Electron). Khối lượng của nguyên tử bằng khối lượng của hạt nhân nguyên tử.

    Từ các kết quả thực nghiệm, các nhà khoa học đã xác định được thành phần cấu tạo nguyên tử gồm có hạt nhân và lớp vỏ electron. Trong đó:

    • Hạt nhân nằm ở tâm nguyên tử, gồm các hạt proton và nơtron
    • Vỏ nguyên tử bao gồm các e chuyển động trong không gian xung quanh hạt nhân.

    Khối lượng, kích thước của các hạt proton, electron và nơtron

    Tên hạt

    Kí hiệu 

    Khối lượng

    Điện tích

    Proton

    P

    1,6726.10-27 (kg) ≈ 1u

    + 1,602.10-19C 1+ (đơn vị điện tích)

    Nơtron

    N

    1,6748.10-27 (kg) ≈ 1u

    0

    Electron

    E

    9,1094.10-31 (kg) ≈ 0u

     – 1,602.10-19C  1- (đơn vị điện tích)

    Phân tử là gì?

    Phân tử là hạt đại diện cho chất, gồm một số nguyên tử liên kết với nhau và thể hiện đầy đủ tính chất hóa học của chất.

    Là hạt hợp thành của hầu hết các chất, các đơn chất kim loại… có hạt hợp thành là nguyên tử.

    Phân tử là nhóm trung hòa điện tích, có nhiều hơn 2 nguyên tử, được hợp với nhau bằng các liên kết hóa học. Các phân tử sẽ được phân biệt với các ion nếu thiếu điện tích.

    Còn trong lý thuyết động học của chất khí, thuật ngữ phân tử được sử dụng cho bất cứ hạt khí nào. Theo đó, các nguyên tử khí trơ được coi là phân tử vì chúng là các phân tử đơn phân tử.

    Phân biệt nguyên tử khối và phân tử khối

    Nguyên tử khối là gì?

    Nguyên tử khối là khối lượng nguyên tử tính bằng đơn vị cacbon (đvC). Mỗi nguyên tố có nguyên tử khối riêng.

    1 đvC bằng 112 khối lượng của một nguyên tử cacbon. Khối lượng nguyên tử được tính bằng g hoặc kg, có trị số vô cùng nhỏ.

    VD: mC = (1,6605).10-24g

    Phân tử khối là gì?

    Phân tử khối là khối lượng của phân tử tính bằng đơn vị cacbon (đvC), là tổng nguyên tử khối của các nguyên tử trong phân tử.

    Phân tử khối của một chất sẽ bằng tổng nguyên tử khối của các nguyên tử trong phân tử chất đó. Ví dụ như phân tử khối của nitơ (N2) bằng 14.2=28 đvC.

    Số hiệu nguyên tử là gì?

    Số hiệu nguyên tử chính là số proton(p) của nguyên tố hóa học, là số proton được tìm thấy trong hạt nhân của một nguyên tử. Nó bằng với số điện tích của hạt nhân. Số nguyên tử xác định duy nhất bởi một nguyên tố hóa học.

    Trong một nguyên tử không tích điện, số lượng nguyên tử bằng số electron (p=e)

    Kí hiệu nguyên tử

    Kí hiệu nguyên tử biểu thị đầy đủ đặc trưng cho một nguyên tử của một nguyên tố hóa học vì nó cho biết Số khối và số hiệu nguyên tử Z. Công thức tổng quát:

    Trong đó:

    • X là kí hiệu hóa học;
    • A là số khối;
    • Z là số hiệu nguyên tử

    Hạt nhân nguyên tử là gì?

    Được tạo ra bởi các nơtron và proton. Trong mỗi nguyên tử, số proton (p, +) bằng số electron (e, -). Nghĩa là số p= số e. Hạt p và n có khối lượng tương đương nhau, còn hạt e có khối lượng rất bé, không đáng kể.

    Vì vậy, khối lượng hạt nhân được coi là khối lượng nguyên tử.

    Năng lượng nguyên tử là gì?

    Năng lượng nguyên tử là năng lượng được giải phóng trong quá trình biến đổi hạt nhân bao gồm năng lượng phân hạch, năng lượng nhiệt hạch, năng lượng do phân rã chất phóng xạ

    Là năng lượng sóng điện từ có khả năng ion hóa vật chất và năng lượng các hạt được gia tốc

    Một số dạng bài tập về nguyên tử, phân tử

    Bài tập 1: Nguyên tử của nguyên tố X có tổng số hạt là 40. Tổng số hạt mang điện nhiều hơn số hạt không mang điện là 12 hạt. Nguyên tử X có số proton là:

    Lời giải:

    Nguyên tử của nguyên tố X có tổng số hạt là 40 thì số hạt = p + e + n = 2p + n = 40 (1)

    Số hạt mang điện sẽ nhiều hơn số hạt không mang điện là 12

    Vậy số proton có trong nguyên tử X bằng 13

    Bài tập 2: Một nguyên tử nhôm (Al) có 13 proton, 13 electron và 14 notron. Xác định khối lượng của Nhôm.

    Lời giải:

    Ta có:

    • mp =

      13 . 1,6726 .

      10-24

       =

      21,71.

      10-24

       (g)

    • mn = 14 . 1,675 .

      10-24

      = 23,45.

      10-24

      (g)

    • me = 13 . 9,1 .

      10-24

      = 0,01183 .10-24(g)

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Bài Tập Hóa 10 Nâng Cao Sách Giáo Khoa Chương Nguyên Tử
  • Nước Hoa Tester Là Gì ? Và Nó Có Khác Gì So Với Nước Hoa Thông Thường ?
  • Mua Nước Hoa Suddenly Madame Glamour 50Ml Chính Hãng Đức, Giá Tốt
  • Nước Hoa Dior Loại Nào Thơm Nhất, Giữ Mùi Lâu Nhất Hiện Nay
  • Cách Kiểm Tra Nhận Biết Nước Hoa Thật Giả
  • Toàn Bộ Kiến Thức Hóa Học Lớp 8 Về Chất, Nguyên Tử, Phân Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Nguyên Tử Và Nguyên Tố
  • Sự Khác Biệt Giữa Nguyên Tử Và Phân Tử
  • Hỏi & Đáp Về Năng Lượng Nguyên Tử (Bài 2: Năng Lượng Nguyên Tử)
  • Điều Gì Phân Biệt Nhà Nước Với Các Tổ Chức Chính Trị Khác? Khái Niệm Và Dấu Hiệu Của Nhà Nước
  • Cách Phân Biệt Ought To Với Shoud, Had Batter
  • Kiến thức về Chất, Nguyên tử, Phân tử là bài mở đầu môn Hóa Học lớp 8. Kiến thức ở phần nào chủ yếu là lý thuyết và các em làm quen với một vài khái niệm Hóa Học cơ bản nhất về Chất là gì, Nguyên tử là gì, Phân tử là gì . . .

    Hệ thống hóa Kiến thức Hóa Học lớp 8

    Kiến thức cơ bản Chất hóa học lớp 8, Kiến thức hóa học về Nguyên tử, Phân tử

    1. Vật thể

    Định nghĩa v ật thể do một hay nhiều chất tạo nên

    Phân loại: Có 2 loại vật thể là Vật thể tự nhiên và Vật thể nhân tạo.

    Vật thể tự nhiên là những vật thể có sẵn trong tự nhiên, ví dụ: không khí, nước, cây mía, …

    Vật thể nhân tạo do con người tạo ra, ví dụ: quyển vở, quyển SGK, cái ấm, cái xe đạp …

    2. Chất

    Định nghĩa Chất là một dạng của vật thể, chất tạo nên vật thể. Ở đâu có vật thể là ở đó có chất.

    Mỗi chất có những tính chất nhất định, nhưng phân loại chung thì chất thường có tính chất vật lý và tính chất hóa học.

    a) Tính chất vật lí:

    Phân biệt các chất thông qua các chỉ số như: Trạng thái, màu sắc, mùi vị, tính tan trong nước, nhiệt độ sôi, nhiệt độ nóng chảy, tính dẫn điện, dẫn nhiệt, khối lượng riêng …

    b) Tính chất hoá học:

    Chính là khả năng biến đổi từ chất này thành chất khác: ví dụ khả năng bị phân huỷ, tính cháy được…

    Để biết được tính chất của chất ta phải: Quan sát, dùng dụng cụ đo, làm thí nghiệm…

    Việc nắm tính chất của chất giúp chúng ta:

    – Phân biệt chất này với chất khác (nhận biết các chất).

    – Biết cách sử dụng chất.

    – Biết ứng dụng chất thích hợp trong đời sống và sản xuất;

    + Chất nguyên chất = Chất tinh khiết là chất không lẫn các chất khác, có tính chất vật lí và hoá học nhất định.

    + Hỗn hợp gồm hai hay nhiều chất trộn vào nhau, có tính chất thay đổi ( phụ thuộc vào thành phần của hỗn hợp).

    Để tách riêng một chất ra khỏi hỗn hợp, ta có thể dựa vào sự khác nhau về tính chất vật lí của chúng; – Tách 1 chất ra khỏi hỗn hợp = pp vật lý thông thường : lọc, đun, chiết, nam châm …

    3. Nguyên tử

    Nguyên tử là hạt vô cùng nhỏ trung hoà về điện, đại diện cho nguyên tố hoá học và không bị chia nhỏ hơn trong phản ứng hoá học.

    – Nguyên tử gồm 1 hạt nhân mang điện tích dương và vỏ tạo bởi 1 hay nhiều electron mang điện tích âm.

    – Hạt electron kí hiệu: e. Điện tích: -1. Khối lượng vô cùng nhỏ: 9,1095 .10-28 gam.

    Cấu tạo của hạt nhân: gồm hạt cơ bản prôton và nơtron.

    * Hạt proton: kí hiệu: p. mang điện tích dương: +1. Khối lượng: 1,6726.10-24 g.

    * Hạt nơtron: kí hiệu: n. Không mang điện có khối lượng:1,6748.10-24 g.

    * Các nguyên tử có cùng số prôton trong hạt nhân gọi là các nguyên tử cùng loại.

    * Vì nguyên tử luôn trung hoà về điện nên: số prôton = số electron.

    4. Nguyên tố hóa học

    Nguyên tố hoá học là tập hợp các nguyên tử cùng loại có cùng số hạt prôton trong hạt nhân. Số prôton trong hạt nhân là đặc trưng của nguyên tố.

    – Kí hiệu hoá học là cách biểu diễn ngắn gọn nguyên tố hoá học bằng 1 hoặc 2 chữ cái (chữ cái đầu viết hoa); Ví dụ:

    Có hơn 100 nguyên tố trong vỏ trái đất (118 nguyên tố) trong đó 4 nguyên tố nhiều nhất lần lượt là: ôxi, silic, nhôm và sắt.

    Nguyên tử khối là khối lượng của nguyên tử tính bằng đơn vị cacbon.

    Một đơn vị cacbon = 1/12 khối lượng của nguyên tử Cacbon ;

    Khối lượng của nguyên tử Cacbon = 12 đơn vị cacbon ( đvC )= 1,9926.10– 23 g

    Một đơn vị cacbon = 1,9926.10– 23 : 12 = 0,166.10 -23 g . Ap dụng :

    1/ Khi viết Na có ý nghĩa hoặc cho ta biết hoặc chỉ :

    – Kí hiệu hóa học của nguyên tố natri cho biết một nguyên tử natri có nguyên tử khối là 23 đvC

    Cl có ý nghĩa hoặc cho ta biết hoặc chỉ :

    Kí hiệu hóa học của nguyên tố clo một nguyên tử clo có nguyên tử khối 35,5 đvC

    5C chỉ 5 nguyên tử Cacbon;

    2H chỉ 2 nguyên tử Hiđro;

    3O chỉ 3 nguyên tử Oxi;

    Zn chỉ 1 nguyên tử kẽm;

    8 Ag chỉ 8 nguyên tử Bạc;

    6 Na chỉ 6 nguyên tử Natri

    Khối lượng tính = gam của nguyên tử nhôm: 27 x 0,166.10 -23 = 4,482.10 -23 2. Tính khối lượng = gam của nguyên tử : nhôm, canxi, hidro

    Khối lượng tính = gam của nguyên tử canxi: 40 x 0,166.10 -23 = 6,64.10 -23

    Khối lượng tính = gam của nguyên tử hidro: 1 x 0,166.10 -23 = 0,166.10 -23

    3. Hãy so sánh xem nguyên tử canxi nặng hay nhẹ hơn, bằng bao nhiêu lần so với :

    a. Nguyên tử kẽm

    b. Nguyên tử cacbon

    Vậy n guyên tử Ca nặng = 8/13 nguyên tử Zn

    Vậy n guyên tử Ca nặng = 10/3 nguyên tử C

    5. Đơn chất và hợp chất – Phân tử:

    – Đơn chất là những chất tạo nên từ một nguyên tố hoá học.

    + Đơn chất kim loại các nguyên tử sắp xếp khít nhau và theo một trật tự nhất định (H1.9; 1.10)

    + Đơn chất phi kim các nguyên tử liên kết với nhau theo từng nhóm xác định thường là 2 nguyên tử. (H 1.11; )

    – Hợp chất là những chất được tạo nên từ 2 nguyên tố hoá học trở lên. Trong hợp chất các nguyên tử của các nguyên tố liên kết với nhau theo một tỉ lệ nhất định không đổi. (H 1.12; 1.13)

    – Phân tử là hạt đại diện cho chất, gồm 1 số nguyên tử liên kết với nhau và thể hiện đầy đủ tính chất hóa học của chất.

    – Phân tử khối là khối lượng của phân tử tính bằng đơn vị cacbon = tổng nguyên tử khối của các nguyên tử trong phân tử.

    Tuỳ theo điều kiện về nhiệt độ và áp suất mà vật chất có ba trạng thái tồn tại: rắn, lỏng và khí.

    Áp dụng:

    1. Theo mô hình ta có:

    Khí hidro có hạt hợp thành gồm 2 H liên kết với nhau nên có phân tử khối = 2.1 = 2(đvC);

    Khí oxi có hạt hợp thành gồm 2 O liên kết với nhau nên có phân tử khối = 2.16 = 32(đvC);

    Nước có hạt hợp thành gồm 2 H liên kết với 1O nên có phân tử khối = 2×1 + 16 =18 (đvC)

    Muối ăn có hạt hợp thành gồm 1 Na liên kết với 1Cl nên có phân tử khối = 23 + 35,5 = 58,5 (đvC)

    2. Hãy so sánh phân tử khí oxi nặng hay nhẹ hơn, bằng bao nhiêu lần so với phân tử khí hidro;

    Vậy phân tử khí oxi nặng = 32 lần phân tử khí hidro

    6. Công thức hóa học

    Công thức hóa học dùng để biểu diễn chất, gồm một hay nhiều kí hiệu hóa học và chỉ số ở chân mỗi kí hiệu hóa học

    Công thức hóa học của đơn chất

    Tổng quát: Ax

    Với A là kí hiệu hóa học của nguyên tố.

    X là chỉ số, cho biết 1 phân tử của chất gồm mấy nguyên tử A.

    * Với kim loại x = 1 ( không ghi ) – ví dụ: Cu, Zn, Fe, Al, Mg, …

    * Với phi kim; thông thường x = 2. ( trừ C, P, S có x = 1 ) – Ví dụ:

    Công thức hóa học của hợp chất

    Tổng quát: AxByCz

    Với A, B, C… là KHHH của các nguyên tố.

    x, y, z …là số nguyên cho biết số nguyên tử của A, B, C…

    Ví dụ

    Ý nghĩa của công thức hóa học

    Công thức Hóa Học cho chúng ta biết rấ nhiều thông tin về chất như:

    1. Nguyên tố nào tạo nên chất.

    2. Số nguyên tử mỗi nguyên tố có trong một phân tử chất.

    3. Phân tử khối của chất.

    2H 2 O: 2 phân tử nước.

    H 2 O: có 3 ý nghĩa :

    • Do nguyên tố H và O tạo nên.
    • Có 2 H & 1O trong một phân tử nước(có 2H liên kết với 1O)- nếu nói trong phân tử H2O có phân tử hidro là sai
    • Phân tử khối của nước là 2×1 + 16 = 18 (đvC)

    * Một hợp chất chỉ có một công thức Hóa học.

    Áp dụng:

    1/ Khi viết NaCl có ý nghĩa hoặc cho ta biết hoặc chỉ :

    – Do nguyên tố Na và Cl tạo nên

    – Có 1Na; 1Cl

    – Phân tử khối = 23 + 35,5 = 58,5 đvC

    H2SO4 có ý nghĩa hoặc cho ta biết hoặc chỉ :

    – Do nguyên tố H, S, O tạo nên;

    – Có 2H, 1S, 4O

    – Phân tử khối = 2×1 + 32 + 4×16 = 98 đvC

    Viết Cl 2 chỉ 1 phân tử khí clo có 2 nguyên tử Cl (2Cl)liên kết với nhau ≠ 2Cl (2 n.tử Cl tự do)

    2. Lưu ý:

    Muốn chỉ 3 phân tử khí hidro th́ phải viết 3H 2;

    5 phân tử khí oxi th́ phải viết 5O 2

    số đứng trước công thức hóa học là hệ số

    2 phân tử nước th́ì phải viết 2H 2 O

    Khi viết CO 2 th́ì đó là 1 phân tử CO 2 có 1 nguyên tố Oxy chứ không phải là 1C liên kết với phân tử oxi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đơn Chất Là Gì, Hợp Chất Là Gì Và Phân Tử Là Gì?
  • Đơn Chất Và Hợp Chất
  • Sự Khác Biệt Giữa Số Khối Và Số Nguyên Tử Là Gì?
  • So Sánh Nguyên Phân Và Giảm Phân
  • Giáo Án Cơ Chế Nguyên Phân Và Giảm Phân
  • Cách Nhận Biết Và Phân Nhóm Đối Với Linh Kiện Điện Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Jfet Và Mosfet
  • {Bạn Có Biết} Transistor Là Gì? Mosfet Là Gì? Bjt Là Gì? Igbt Là Gì?
  • Phân Biệt Cách Sử Dụng 不/bù
  • Đố Bạn Biết Thịt Gà, Thịt Ngan Và Thịt Vịt Khác Nhau Điểm Gì?
  • Bot Pubg Mobile Là Gì? Cách Nhận Diện Bot Trong Trận Chiến Nạp Game Giá Rẻ 24H
  • Nhóm linh kiện rời gồm có

    Linh kiện thụ động

    • Điện trở : dùng hạn chế dòng điện, điện áp, ký hiệu R, đơn vị tính omh (Ω).
    • Tụ điện : nạp/phóng điện tích, ký hiệu C, đơn vị tính Fara, thường dùng µF, nF, pF.
    • Điện cảm : tạo hiệu ứng cảm ứng điện-từ, dùng làm cuộn cản, biến áp …, ký hiệu L, đơn vị tính Henri (H), thừong dùng mH.
    • Diode bán dấn : nắn, ổn áp, phát quang, thu quang, cảm ứng nhiệt_từ … ký hiệu Z, D.

    Linh kiện tích cực

    • BJT (Bipolar Junction Transistor : Transistor lưỡng hạt) : 3 chân B (Base – đ/khiển), E (Emiter – khởi phát), C (Colletor – thu nhận)
    • FET (Field Efect Transistor : Transistor hiệu ứng trường) : 3 chân G (Gate – đ/khiển), S (Sourrce – nguồn, khởi phát), D (Drain – máng, thu nhận)
    • MOSFET (Metal Oxide Semiconductor FET : .. hiệu ứng trường cực cửa cách điện) : 3 chân G (Gate – đ/khiển), S (Sourrce – nguồn, khởi phát), D (Drain – máng, thu nhận)
    • Transistor dùng khuyếch đại, đảo pha, dao động, khóa … rất nhiều ứng dụng.
    • Triac, Diac, UJT, Thyristor …Thông dụng : Transistor thừong ký hiệu trên sơ đồ là Q, thỉnh thoảng cũng ký hiệu T (các thiết bị điện tử Đông Âu, Liên Xô cũ)

    Nhóm linh kiện tích hợp (IC : Intergrated Circuit)

    Nhóm Analog

    • IC khuyếch đại công suất âm tần (trong radio, dàn âm thanh …)
    • IC khuyếch đại tiền khuyếch đại âm tần (trong radio, dàn âm thanh …)
    • IC trung tần AM/FM
    • IC khuyếch đại và điều khiển đọng lực (MDA – Motor Driver Amplifier)

    NHóm digital

    • IC cổng logic, OR_AND_NOT_XOR_XNOR_MUX_DMUX … ví dụ họ 74, 74LS, 40..
    • IC thuật toán, ví dụ mã hóa_giải mã (Code/Decode)

    Nhóm Logic

    • CPU, MCU,
    • Mạch tích hợp PLC, PDA, PAD …

    3.9

    /

    5

    (

    8

    bình chọn

    )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mỹ Ký Là Gì? Phân Biệt Mỹ Ký Với Vàng Nhanh Nhất
  • Phân Biệt Hear Và Listen To
  • Cappuccino, Latte, Espresso, Macchiato
  • Cách Phát Âm L Và N Chuẩn Sát Bạn Nên Tham Khảo
  • Cách Đọc Âm On Và Âm Kun Trong Tiếng Nhật Và Các Âm Khác
  • Phổ Hấp Thụ Phân Tử Uv

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Toán Ở Ucmas: Chương Trình Chuẩn Quốc Tế
  • Trạm Lấy Mẫu Bụi Puf Theo Phương Pháp Us Epa Method To
  • Giảm Cân Bằng Cách Uống Nước Lọc Tại Nhà
  • Uống Nước Đậu Đen Giảm Cân Hiệu Quả “đúng Cách” Giảm 3Kg Trong 1 Tuần
  • Cách Giúp Bạn Chọn Được Ups Giá Rẻ Nhưng Vẫn Đảm Bảo Chất Lượng
  • Phương pháp trắc quang là phương pháp phân tích định lượng dựa vào hiệu ứng hấp thụ xảy ra khi phân tử vật chất tương tác với bức xạ điện từ. Vùng bức xạ được sử dụng trong phương pháp này là vùng tử ngoại gần hay khả kiến ứng với bước sóng khoảng từ 200÷800nm. Hiện tượng hấp thụ bức xạ điện từ tuân theo định luật Bouger – Lam bert – Beer. Ứng dụng phương pháp phổ đo quang, người ta có thể xác định nhiều hợp chất trong phạm vi nồng độ khá rộng nhờ các cải tiến quan trọng trong thủ tục phân tích. Đây là phương pháp phân tích được phát triển mạnh vì nó đơn giản, đáng tin cậy và được sử dụng nhiều trong kiểm tra sản xuất hoá học, luyện kim và trong nghiên cứu hoá sinh, môi trường và nhièu lĩnh vực khác.

    Máy quang phổ khả kiến (UV-VIS)

    1.Đặt vấn đề

    – Bản chất của phổ hấp thụ phân tử UV-VIS:

    Khi chiếu một chùm sáng có bước sóng phù hợp đi qua một dung dịch chất màu, các phân tử hấp thụ sẽ hấp thụ một phần năng lượng chùm sáng, một phần ánh sáng truyền qua dung dịch. Xác định cường độ chùm ánh sáng truyền qua đó ta có thể xác định được nồng độ của dung dịch. Sự hấp thụ ánh sáng của dung dịch tuân theo định luật Bughe – Lambert – Beer:

    Bước 1. Chọn bước sóng

    Nghiên cứu sự phụ thuộc mật độ quang của dung dịch A (hoặc hệ số tắt phân tử ε) theo bước sóng λ, tức là đo A (hoặc ε) của dung dịch nghiên cứu với các tia bức xạ điện từ có λ khác nhau, sau đó lập đồ thị hệ toạ độ A – λ (hoặc ε – χ). Đồ thị này có dạng đường cong Gauss. Cực đại A max ứng với giá trị λ max gọi là cực đại hấp thụ. Khi tiến hành phân tích theo quang phổ đo quang chọn đo mật độ quang A của dung dịch nghiên cứu tại λ max. Bởi vì với việc đo A ở λ max cho kết quả phân tích có độ nhạy và độ chính xác tốt nhất.

    Bước 2. Chuẩn bị mẫu phân tích

    Mẫu phân tích có thể ở dạng rắn, lỏng nhưng thông thường người ta hay chuẩn bị mẫu phân tích là những chất lỏng, hoặc ở dạng dung dịch. Nếu chất nghiên cứu là những chất rắn không tan, người ta có thể tìm cách hoà tan chúng bằng các dung môi và các biện pháp thích hợp. Sau đó nếu chất nghiên cứu là hợp chất không có hiệu ứng phổ hấp thụ, thì phải chế hoá dung dịch bằng các biện pháp như phản ứng oxy hoá khử, phản ứng tạo phức chất… sau đó đem nghiên cứu. Nếu chất nghiên cứu là những chất khí thì sẽ được nghiên cứu trong các cuvet đặc biệt.

    Bước 3. Ghi phổ

    Sau khi đã chế hoá mẫu, mẫu được chuyển vào cuvet ghi phổ hấp thụ, chọn λ max và đo mật độ quang dung dịch ở λ max

    Bước 4. Xử lý số liệu

    Các số liệu thu được có thể ở dạng các đường ghi phổ hệ toạ độ A – λ hoặc ε – λ, bảng số liệu về thành phần chất nghiên cứu, đồ thị cần thiết tuỳ thủ tục thực nghiệm đã chọn.

    – Trang thiết bị phương pháp UV-VIS

    Theo những nguyên lý cơ bản đã xét trên trong thực tế ta phải đo độ hấp thụ quang bằng cách đo cường độ bức xạ truyền đi từ nguồn sóng qua mẫu trắng tới detectơ và cường độ bức xạ từ nguồn qua chất nghiên cứu đến detectơ. Như vậy ta có thể hình dung một cách khái quát thiết bị đo độ hấp thụ quang như sau:

    – Nguồn phát tia bức xạ

    – Bộ lọc sóng

    – Ngăn đựng mẫu

    – Detector

    2. Các phương pháp phân tích UV-VIS a. Phương pháp đường chuẩn

    Đồ thị theo hệ toạ độ A – C (mật độ quang – nồng độ) phải là đường thẳng đi qua gốc toạ độ. Để lập đồ thị A – C ta chọn hệ các dung dịch chất nghiên cứu có nồng độ chính xác C­ 1, C 2, C 3,… C n, xác lập các điều kiện để tạo các hợp chất có hiệu ứng hấp thụ bức xạ điện từ ở λ maxchọn trước. Đo mật độ quang tương ứng A 1, A 2, A 3,… A n:

    Xây dựng đồ thị hệ toạ độ A – C. Vì đồ thị được thiết lập dựa trên các số liệu lặp đi lặp lại nhiều lần nên có thể sử dụng trong thời gian dài (đồ thị chuẩn có thể lưu dữ trong máy), khi làm việc có thể sử dụng và trong các máy thường có thủ tục của phương pháp đường chuẩn được thực hiện theo chương trình.

    Hoặc tính toán thông qua hằng số K (được xác định song song bằng một phép đo với dung dịch có nồng độ biết trước):

    b. Phương pháp thêm chuẩn

    Trong các thủ tục thực nghiệm phương pháp đường chuẩn, có thể mắc một số nhược điểm có thể gây sai số lớn. Để khắc phục điều đó người ta có thể thực hiện thực nghiệm theo một thủ tục khác: thủ tục phương pháp thêm chuẩn.

    Nội dung của phương pháp là tiến hành đo mật độ quang A nc của dung dịch chuẩn. Sau đó ta thêm một lượng dung dịch chuẩn vào dung dịch nghiên cứu cho đến nồng độ C ch chọn trước và thu được dung dịch có nồng độ C cn + C ch và được mật độ quang A nc+ch :

    Quá trình thực nghiệm có thể thực hiện theo chương trình với mức độ tự động khá cao.

    c. Phương pháp đo quang vi sai

    Việc đo mật độ quang ở các giá trị A lớn có thể mắc phải sai số lớn trong việc xác định nồng độ. Trong trường hợp các dung dịch có mật độ quang quá lớn người ta thường dùng một kiểu đo khác gọi là phương pháp đo vi sai. Dung dịch so sánh là dung dịch có nồng độ biết trước C ss.

    3. Ứng dụng của phép đo phổ hấp thụ phân tử

    Phương pháp phân tích quang phổ đo quang là một phương pháp phân tích định lượng được sủ dụng rộng rãi vào nhiều mục đích thực tiẽn khác nhau. Phương pháp có thể áp dụng để xác định các chất có nồng độ lớn hoặc bé, đặc biệt có thể xác định nồng độ các tạp chất đến nồng độ giới hạn 10-5÷10-6%. Phương pháp phân tích đo quang thường có sai số tương đối 3 ÷ 5% được ứng dụng để xác định hơn 50 nguyên tố trong các đối tượng khác nhau trong các lĩnh vực thực phẩm, hoá học, luyện kim, địa chất, nông nghiệp…

    a. Ứng dụng trong công nghệ thực phẩm

    Phương pháp phân tích đo quang UV – VIS được ứng dụng rộng rãi trong công nghệ thực phẩm để xác định trong các mẫu bột mì (hàm lượng Fe), mẫu thịt (phân tích hàm lượng nitrat, nitrit)…

    b. Ứng dụng trong hoá học

    Trong công nghệ hoá học: mẫu phân bón (hàm lượng P tổng), mẫu sơn (hàm lượng Ti), trong mẫu thuỷ tinh (Nd), thép (V, Mn, Ti…).

    4. Kết luận

    Phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử UV-VIS (Ultra violet – Visible) là phương pháp phân tích hiện đại được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực thực phẩm và hoá học. Phương pháp cho kết quả phân tích nhanh với độ chính xác cao. Phổ hấp thụ phân tử UV-VIS tuân theo định luật Bughe – Lambert – Beer:

    ThS. Lưu Thị Thu Hà TÀI LIỆU THAM KHẢO

    , Phạm Luận (2006), “Phương pháp phân tích phổ nguyên tử”, NXB ĐHQGHN.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Tránh Thai Kế Hoạch Hóa Gia Đình
  • Tổng Quan Về Các Phương Pháp Tránh Thai
  • Đâu Là Phương Pháp Trị Hôi Nách Vĩnh Viễn, Hiệu Quả Nhất Hiện Nay?
  • 5 Cách Trị Hôi Nách Dân Gian Hiệu Quả Mà Bạn Nên Thử
  • Bật Mí Cách Trị Bệnh Hôi Nách Hiệu Quả Nhất Hè 2022
  • Các Phương Pháp Lai Phân Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Giảng Công Nghệ 10
  • Phương Pháp Giải Bài Tập Lai Hai Cặp Tính Trạng
  • Lai Hai Cặp Tính Trạng, Trắc Nghiệm Sinh Học Lớp 9
  • Cách Lái Xe An Toàn Ban Đêm, Kinh Nghiệm Cho Tài Mới
  • Cách Để Lái Xe An Toàn Vào Ban Đêm
  • Phương pháp Southern blot được E. Southern phát minh vào năm 1975, cho phép nghiên cứu DNA của bộ gen, kiểm tra kết quả chuyển gen hoặc kiểm tra sự có mặt của một gen nào đó trong bộ gen của tế bào. Để thực hiện được quá trình lai, đầu tiên, người ta phải tách DNA bộ gen của tế bào. Sử dụng enzyme cắt giới hạn để cắt phân tử DNA thành những đoạn nhỏ, điện di trên gel agarose để tách những đoạn có kích thước khác nhau. Gây biến tính DNA trên gel bằng dung dịch NaOH-0,5M, sau đó, chuyển DNA từ gel sang màng lai (nitrocellulose). Trong quá trình chuyển, vị trí của DNA phải được giữ nguyên.

    DNA cố định trên màng được lai với mẫu dò có đánh dấu phóng xạ, ở nhiệt độ 65°C và thời gian lai khoảng 3÷8 giờ. Sau quá trình lai người ta rửa màng lai để loại bỏ những mẫu dò không bắt cặp chuyên biệt với DNA cố định trên màng lai.

    Cuối cùng, người ta dùng kĩ thuật phóng xạ tự ghi để định vị các phân tử lai. Trong kĩ thuật này, người ta đặt một phim nhạy cảm với tia xạ áp sát vào màng lai. Các phân tử lai có đánh dấu phóng xạ sẽ tác động lên phim và kết quả được thể hiện qua các chấm đen trên phim (Hình trên).

    Các ứng dụng quan trọng của Sourthern blot:

    – Lập bản đồ giới hạn của một gen.

    – Phát hiện các đa dạng trình tự của cùng một gen ở các chủng hay các cá thể khác nhau qua sự so sánh bản đồ giới hạn của chúng.

    – Phát hiện các đột biến mất đoạn, đột biến điểm hay tái tổ hợp trên một gen vì chúng làm thay đổi bản đồ giới hạn.

    Phương pháp lai Northern blot là phương pháp lai RNA của tế bào với mẫu dò DNA. Phương pháp này được sử dụng để xác định kích thước và hàm lượng của một mRNA đặc trưng trong một hỗn hợp RNA. Về nguyên tắc giống như lai Southern blot, được tiến hành như sau:

    RNA (đã được làm biến tính) sẽ được phân tích theo kích thước nhờ điện di trên gel agarose có chứa chất làm biến tính. Các chất làm biến tính có tác dụng ngăn cản sự hình thành cấu trúc bậc hai của RNA sau khi đã biến tính. Và do đó, không cản trở sự di chuyển cũng như sự tách của các RNA trên gel. Sau đó, RNA được chuyển lên màng lai. Những RNA cố định trên màng lai được đem lai với mẫu dò DNA có đánh dấu phóng xạ để tạo phân tử lai RNA-DNA. Các phân tử lai được phát hiện nhờ kĩ thuật phóng xạ tự ghi.

    Lai tại chỗ là phương pháp lai phân tử, trong đó, trình tự axit nucleic cần tìm nằm ngay trong tế bào hay trong mô. Lai tại chỗ cho phép nghiên cứu axit nucleic mà không cần qua giai đoạn tách chiết chúng ra khỏi mô, tế bào. Các ứng dụng của kiểu lai này rất đa dạng đi từ kĩ thuật định vị gen trên nhiễm sắc thể, phát hiện dòng vi khuẩn tái tổ hợp trong phương pháp tạo dòng đến việc nghiên cứu một mRNA chuyên biệt trong tế bào và mô. Phương pháp này ít tốn kém hơn là lai Southern blot, mẫu dò được đánh dấu bằng huỳnh quang thay cho mẫu dò đánh dấu phóng xạ. Tùy từng loại tế bào và mô có thể thực hiện các phương pháp lai tại chỗ khác nhau.

    Lai trên khuẩn lạc

    Phương pháp này được sử dụng để phát hiện dòng vi khuẩn có mang vector tái tổ hợp cần tìm trong một ngân hàng gen. Ngân hàng gen được trải trên mặt thạch của hộp petri. Sau khi các khuẩn lạc đạt kích thước nhất định, người ta thu lấy dấu ấn của chúng bằng cách áp một màng lai trên mặt thạch. Mỗi khuẩn lạc sẽ để lại vài tế bào vi khuẩn trên màng lai. Sau đó xử lí màng lai bằng NaOH để làm vỡ tế bào vi khuẩn và làm biến tính DNA. Kết quả phóng xạ tự ghi của dấu ấn cho phép xác định dòng vi khuẩn cần tìm trên hộp pectri ban đầu. Dòng này sẽ được thu nhận và phân tích.

    Lai trên nhiễm sắc thể

    Phương pháp này cung cấp thông tin chính xác về vị trí và sự phân bố của một trình tự DNA cần tìm trên nhiễm sắc thể nhờ một mẫu dò chuyên biệt. Chọn tế bào kì giũa của quá trình phân bào khi các nhiễm sắc thể có kích thước lớn nhất (các nhiễm sắc thể này thường có nguồn gốc từ bạch cầu). Bằng các kĩ thuật xử lí cố định tế bào trên lam kính, định vị hình dạng và vị trí của nhiễm sắc thể. Sử dụng enzyme RNase và enzyme protease K để loại bỏ RNA và protein. Nhiễm sắc thể cố định trên lam được đem lai với mẫu dò DNA hoặc RNA có đánh dấu phóng xạ. Sử dụng kĩ thuật phóng xạ tự ghi để phát hiện phân tử lai (phân tử lai trên lam được phủ một huyền dịch nhạy cảm với tia xạ). Sau một thời gian, cho tia xạ tác động lên huyền dịch, lam được đem quan sát dưới kính hiển vi. Tại các điểm có các phân tử lai xuất hiện các chấm đen trên lớp huyền dịch.

    Lai trên tế bào và mô

    Mô hoặc tế bào đưọc xử lí bằng phương pháp mô, tế bào học như: cố định, khử nước, tẩm paraffin, cắt thành những lát mỏng (7÷10µm) trải trên lam. Xử lí với enzyme protease để loại bỏ protein, sau đó xử lí với enzyme DNase để loại bỏ DNA. Lai với mẫu dò có đánh dấu phóng xạ hoặc huỳnh quang. Sau đó phủ một lớp huyền dịch nhạy với phóng xạ hoặc huỳnh quang để một thời gian thích hợp cho phản ứng xảy ra, quan sát kết quả lai dưới kính hiển vi. Trong tế bào những vị trí có phân tử lai được phát hiện bằng các chấm đen.

    Phạm vi sử dụng của phương pháp

    – Đối tượng nghiên cứu có tổ chức phức tạp bao gồm nhiều tập hợp các tế bào khác nhau như bộ não.

    – Các phương pháp miễn dịch tế bào cho phép phát hiện một protein chuyên biệt thông qua kháng thể đặc trưng của nó. Khi phối hợp những phương pháp miễn dịch tế bào và lai tại chỗ, người ta sẽ phát hiện đồng thời mRNA và protein của nó, từ đó, xác định được mối tương quan giữa hoạt động phiên mã và dịch mã của một gen.

    – Bằng cách lai nhiều lát cắt liên tục (có cấu trúc gần như đồng nhất) với nhiều mẫu dò khác nhau, người ta có thể xác định vị trí, sự phân bố và tương tác giữa các mRNA cùng tham gia vào một quá trình sống.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Cương Môn Chọn Tạo Giống Cây Trồng
  • 10 Phương Pháp Làm Giàu Của Phụ Nữ Mà Đàn Ông Nên Học.
  • Sòng Bài Trực Tuyến Và Những Phương Pháp Làm Giàu Hiệu Quả
  • Nguyên Nhân Mụn Trứng Cá Là Do Mất Cân Bằng Vi Khuẩn Da
  • 7 Bí Mật Làm Giàu Đơn Giản Nhưng Không Phải Ai Cũng Làm Được
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100