Phân Biệt Từ Đơn, Từ Ghép, Từ Láy

--- Bài mới hơn ---

  • Thế Nào Là Từ Ghép? Lưu Ý Cách Phân Loại Từ Ghép Chính Phụ, Đẳng Lập
  • Từ Láy Là Gì? Các Loại Từ Láy
  • Từ Láy Là Gì, Tác Dụng Của Từ Láy, Cách Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép
  • Định Nghĩa Từ Láy Là Gì? Từ Ghép Là Gì
  • Tài Sản Là Gì Nguồn Vốn Là Gì
  • Tác giả: Hoàng Dân

    Sau khi đọc bài của Vũ Nho, tác giả Hoàng Dân, một cộng tác viên thân thiết của trang chúng tôi có gửi đến bài viết sau. Trân trọng cám ơn tác giả và giới thiệu cho các bạn đọc quan tâm.

    V. Các nhóm từ sau đây là từ đơn, từ ghép hay từ láy? Tại sao?

    1. Nhóm từ: ba ba, chuồn chuồn, cào cào, châu chấu, chôm chôm, thuồng luồng, núc nác, quốc quốc, gia gia, chà là, chích choè, chão chuộc…

    – Cách 1 (dùng cho học sinh tiểu học): gọi là từ láy

    – Cách 2 (đối với học sinh THCS, THPT): gọi là từ đơn đa âm (hoặc từ láy giả), có chức năng định danh – tức là gọi tên sự vật.

    * Bản chất: là các từ láy giả, tức là có hình thức giống nh­ư từ láy như­ng không phải từ láy đích thực

    2. Nhóm từ: bồ hóng, bồ kết, bọ nẹt, bọ xít, sâu róm, diều hâu, dưa hấu, bù nhìn, tre pheo (thực ra “pheo” có nghĩa), bếp núc (“núc” có nghĩa), chó má (“má” có nghĩa”), chợ búa, đường sá, người ngợm…

    – Cách 1 (dùng cho học sinh tiểu học): gọi là từ ghép

    – Cách 2 (THCS, THPT): gọi là từ đơn đa âm

    * Bản chất: là các từ ghép ngẫu hợp (ngẫu nhiên có hai tiếng ghép với nhau và chỉ có một trường hợp duy nhất, ví dụ “hấu” chỉ ghép với “dưa”, ngoài ra không ghép với tiếng nào khác, trong khi đó “dưa gang” có thể gặp ở “chảo gang, gang thép” – tất nhiên nghĩa của “gang” trong “dưa gang” và “chảo gang” là khác nhau), trong đó có một tiếng bị h­ư nghĩa hoặc mờ nghĩa.

    3. Nhóm từ: bảo ban, bồng bế, đền đài, đất đai, đấu đá, đèn đuốc, ruộng rẫy, miếu mạo, chùa chiền, làm lẽ, làm lành…

    * Bản chất: là các từ ghép vì hai tiếng đều có nghĩa, sự trùng hợp về âm thanh giữa hai tiếng chỉ mang tính ngẫu nhiên. Nói cách khác, trường hợp vừa có quan hệ về nghĩa vừa có quan hệ láy âm như nhóm từ trên được một số nhà Việt ngữ học thống nhất: ưu tiên nghĩa gọi là từ ghép.

    4. Nhóm từ: ngày ngày, người người, tối tối, sáng sáng, chiều chiều, đêm đêm, nhỏ nhỏ, bé bé, tím tím, đỏ đỏ, xanh xanh, đen đen…

    – Cách 1 (dùng cho học sinh tiểu học): gọi là từ láy

    – Cách 2 (đối với các nhà Việt ngữ học): còn nhiều ý kiến tranh cãi, cụ thể:

    + Trường hợp a: “nhỏ nhỏ, bé bé, tím tím, đỏ đỏ, trắng trắng” có thể biến âm thành “nho nhỏ, be bé, tim tím, đo đỏ, trăng trắng” và được coi là từ láy (nho nhỏ = hơi nhỏ, tim tím = hơi tím…).

    + Trường hợp b: “ngày ngày, người người, chiều chiều, đêm đêm, nhà nhà, ngành ngành” đ­ược coi là hiện tượng lặp từ (ngày ngày = ngày nào cũng thế, nhà nhà = nhà nào cũng thế…).

    + Trư­ờng hợp c: “xanh xanh, đen đen, nâu nâu, vàng vàng” không có khả năng biến âm như trường hợp (a), nhưng cũng không hoàn toàn như­ trường hợp (b), chúng được coi là các từ láy toàn bộ hoặc từ láy tuyệt đối (xanh xanh = hơi xanh, vàng vàng = hơi vàng).

    + Trường hợp d: “tối tối, sáng sáng” còn phức tạp hơn. Khả năng thứ nhất, chúng biến âm thành “tôi tối, sang sáng”với nghĩa là “hơi tối, hơi sáng” (trời đã tôi tối rồi, trời đã sang sáng rồi). Khả năng thứ hai, chúng cũng là hiện tượng lặp từ với nghĩa là “tối nào cũng như vậy, sáng nào cũng như vậy” ( tối tối, tôi đi ngủ vào lúc 22 giờ / sáng sáng, tôi dậy vào lúc 6 giờ) (Hoàng Dân: Bài tập tiếng Việt THCS&THPT. NXB Thanh niên.2011)

    VII. Phân biệt từ ghép và từ láy*

    Vốn từ tiếng Việt rất phong phú và phức tạp, trong đó hiện tượng nhập nhằng giữa từ ghép và từ láy cũng khá phổ biến về cả số lượng lẫn tính chất phức tạp của nó. Các nhà ngôn ngữ học đang tiếp tục công việc tìm kiếm những bằng chứng để góp phần phân định ranh giới giữa hai loại từ này. Tuy nhiên, ngay trong hiện tại, mỗi loại từ cũng đã có những đại diện điển hình cho nó. Nó chắc chắn là từ ghép hoặc từ láy chứ không thể có chuyện nhập nhằng cả gói được! Đây chính là điều mà chúng ta cần phải lưu ý khi sử dụng chúng.

    Cách phân biệt này gồm một tập hợp 6 tiêu chí như sau:

    1. Đảo các yếu tố trong từ:

    Trong từ láy thường có một yếu tố gốc. Yếu tố ấy có thể còn rõ nghĩa hoặc đã mờ nghĩa, nhưng nó thường đứng ở một vị trí nhất định (trước hoặc sau yếu tố láy), nghĩa là không thể đảo được trật tự của các yếu tố trong từ láy. Vì thế, nếu một từ phức (gồm 2 yếu tố = 2 tiếng) có thể đảo được thì đó là từ ghép.

    Ví dụ: Các từ sau sẽ là từ ghép:

    Lả lơi, thì thầm, ngẩn ngơ, thẫn thờ, mù mịt, đau đớn, đảo điên, hắt hiu, hờ hững, khát khao, khắt khe, lãi lờ, manh mối, ngại ngần, ngào ngạt, ngây ngất, ngấu nghiến, tha thiết…

    2. Xem xét ý nghĩa của các yếu tố:

    Nếu không đảo được, nhưng cả hai yếu tố của từ phức đều có nghĩa thì từ phức ấy là từ ghép bởi vì từ láy chỉ có một yếu tố có nghĩa.

    Ví dụ: Các từ sau đây sẽ là từ ghép:

    đền đài, đất đai, ruộng rẫy, chùa chiền (chiền nghĩa là chùa), bợm bãi (bãi: kẻ lừa dối), tơ tưởng (tơ: yêu), đồn đại (đại: biến âm từ đãi, cũng có nghĩa là đồn), thành thực, đu đưa, đình đốn, duyên dáng, hài hòa, lê la, hão huyền, vá víu, vân vê…

    3. Xem xét khả năng kết hợp của một yếu tố chưa rõ nghĩa:

    Nếu trong từ phức có một yếu tố chưa rõ nghĩa (qui ước là Y) có khả năng kết hợp với nhiều yếu tố gốc (qui ước là X) khác nhau thì từ phức đó thường là từ ghép.

    Ví dụ: Các từ sau được coi là từ ghép:

    X: rạng, rực; Y: rỡ; Từ ghép: rạng rỡ, rực rỡ

    X: trọc, khóc, lăn, cóc; Y: lóc; Từ ghép: trọc lóc, khóc lóc, lăn lóc, lóc cóc

    X: lê, liếm, lâu, lân, đà…; Y: la; Từ ghép: lê la, la liếm, lâu la, lân la, la đà, la hét, rầy la, kêu la, la lối, la liệt…

    4. Xem xét qui luật hài thanh:

    Nếu các yếu tố trong một từ phức có thanh điệu không cùng âm vực thì từ phức ấy là từ ghép.

    – âm vực cao: ngang (không), hỏi, sắc

    – âm vực thấp: huyền, ngã, nặng

    Ví dụ: Các từ sau đây sẽ là từ ghép:

    khít khịt (cao – thấp, không cùng âm vực), phứa phựa, tí tị, tú ụ, chói lọi, cuống cuồng, sóng soài, dúi dụi, thớ lợ, ân cần, nháo nhào… hộc tốc (thấp – cao), cộc lốc, trọc lóc, trật lất, lạng lách, đìu hiu, tạp nham, gọn lỏn…

    5. Xem xét qui luật hòa phối nguyên âm:

    Nếu các yếu tố trong một từ phức có phụ âm đầu giống nhau, nhưng nguyên âm làm âm chính (cả đơn và đôi) không có cùng độ mở thì từ phức ấy là từ ghép.

    – Hàng (dòng) trước, không tròn môi: i, iê (độ mở hẹp), ê (hơi hẹp), e (hơi rộng)

    – Hàng sau, không tròn môi: ư, ươ (hẹp), ơ và â (hơi hẹp), a và ă (rộng)

    – Hàng sau, tròn môi: u, uô (hẹp), ô (hơi hẹp), o (hơi rộng)

    Ví dụ: Các từ sau đây được coi là từ ghép:

    hể hả, nhuế nhóa, xuề xòa, lúc lắc, tung tăng, vùng vằng, rỉ rả, xí xóa, chỉ trỏ, nguôi ngoai, dối dá, cứng cỏi, phì phạch, chen chúc…

    6. Dựa vào nguồn gốc của từ:

    Các từ láy là sản phẩm của phương thức láy, một phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt; do đó chúng là những từ thuần Việt. Các từ Hán Việt không phải là từ láy, cho dù chúng có sự trùng lặp nào đó về ngữ âm.

    Ví dụ: Các từ sau sẽ là từ ghép:

    linh tinh, lục tục, mĩ mãn, nhũng nhiễu, nhã nhặn, vĩnh viễn, lẫm liệt, ngôn ngữ, nhục nhã, tâm tính, tinh tú, tham lam, náo nức, khát khao, hội họa, thi thư, lí lịch, báo cáo, phu phụ, hải hà, biên niên, bức bách, lí luận, lao lung, lao lí, biến thiên, thất thố, ban bố…

    Căn cứ vào 6 tiêu chí nhận biết từ ghép trên thì các từ láy đích thực phải đồng thời thỏa mãn những điều kiện sau:

    (1) Không đảo được các yếu tố/(2) Chỉ có một yếu tố có nghĩa/(3) Không có một yếu tố chung cho nhiều từ phức/(4) Các thanh điệu phải cùng âm vực/(5) Phụ âm đầu giống nhau, âm chính là nguyên âm phải có cùng độ mở/(6) Phải là từ thuần Việt.

    (Theo chúng tôi Nguyễn Đức Tồn: Những vấn đề dạy và học Tiếng Việt trong nhà trường. NXB ĐHQG Hà Nội. 2001)

    4. Hiện nay chương trình, SGK Tiếng Việt THCS chọn đơn vị nào làm căn cứ để phân loại từ theo cấu tạo? Ưu điểm và nhược điểm của việc lựa chọn đơn vị ấy? Nêu những vấn đề cần lưu ý khi dạy phân loại từ theo cấu tạo ở THCS.

    Hiện nay chương trình, SGK tiếng Việt THCS căn cứ vào đơn vị “tiếng” để phân loại từ theo cấu tạo.

    I. Ưu điểm và nhược điểm:

    – Phù hợp với đặc điểm đơn lập của tiếng Việt.

    – Phù hợp với khả năng nhận biết, ghi nhớ, viết chính tả của người bản ngữ.

    – Phù hợp với đặc điểm tư duy cụ thể của HS THCS.

    Gây khó khăn trong việc phân loại một số từ như: từ vay mượn tiếng Ấn-Âu (ra-đi-ô, pê-ni-xê-lin, ma-két-tinh…), từ đơn đa âm (mặc cả, mồ hôi, bồ hóng, bù nhìn, bồ kết, tắc kè, ễnh ương…), từ láy giả (ba ba, chuồn chuồn, thuồng luồng, cào cào…)

    II. Những vấn đề cần lưu ý:

    1. Không đưa các từ đơn đa âm (có người gọi là từ ghép ngẫu kết) và từ vay mượn làm ngữ liệu để hình thành khái niệm khi dạy học. Ví dụ: bồ kết, bồ hóng, bù nhìn, mặc cả, tắc kè, ễnh ương, mắc cọt, ác là, chão chuộc, chèo bẻo, bồ các, mồ hôi…, a-pa-tít, pô-pơ-lin, in-tơ-nét, ma-két-tinh, ra-đi-ô…

    2. Nếu các tiếng trong từ vừa có quan hệ về âm, vừa có quan hệ về nghĩa thì ưu tiên nghĩa, gọi là từ ghép. Ví dụ: đi đứng, tươi tốt, buôn bán, mặt mũi, hốt hoảng, nhỏ nhẹ, học hỏi, hoa hồng, cá cơm, cá cảnh, đền đài, đất đai, ruộng rẫy, chùa chiền…

    3. Các từ có quan hệ về âm nhưng không xác định được hình vị gốc vẫn xếp vào từ láy (bản chất là các từ đơn đa âm). Ví dụ: chuồn chuồn, cào cào, ba ba, chôm chôm, thuồng luồng…

    4. Một số từ có quan hệ về âm nhưng được viết bằng các con chữ khác nhau vẫn gọi là từ láy (thực ra là phụ âm /k/ được ghi bằng 3 con chữ: c, k, q). Ví dụ: cò kè, ki cóp, keo cú, cao kều, qui củ, quỉ kế, cong queo, cuống quýt, công kênh, cập kênh…

    5. Một số từ mà các tiếng trong từ không có phụ âm đầu vẫn được xếp vào từ láy (chúng có quan hệ hài thanh, tức là thanh điệu có cùng âm vực cao hoặc thấp. Ví dụ: êm ái, êm ả, ấm áp, ấm ức, ốm o, ầm ĩ, óc ách, inh ỏi, ồn ã, oai oái…

    6. Không xếp từ Hán Việt vào từ láy. Ví dụ: mĩ mãn, lục tục, tinh tú, bao biện, nhũng nhiễu, nhã nhặn, lẫm liệt, hội hoạ, thi thư, hải hà, biên niên, bức bách, lí luận, lao lung, lao lí, thất thố, ban bố…

    (Hoàng Dân: Hỏi-Đáp tiếng Việt&Chính tả. Sách lưu hành nội bộ của Trung tâm bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng Tâm Trí Đức, quận Long Biên, HN)

    Hoàng Mai @ 10:49 20/08/2017

    Số lượt xem: 5855

    --- Bài cũ hơn ---

  • Từ Láy Là Gì? Cách Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép?
  • Top 10 , Nckhspud, Skkn, Diem Chuan Vao 10, Mmo, Crypto, Coin, Token, Stock, : Để Phân Biệt Thực Vật C3 Và C4 Người Ta Làm Thí Nghiệm Sau: Hãy Phân Tích Nguyên Tắc Của Các Thí Nghiệm Nói Trên.
  • Văn 7 Phân Biệt Thành Ngữ Và Tục Ngữ
  • Phân Biệt Tục Ngữ Và Thành Ngữ
  • Thành Ngữ Là Gì, Tác Dụng Và Lấy Ví Dụ
  • Từ Láy Là Gì? Cách Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép Có Dạng Láy
  • Cách Nhận Biết Từ Đơn
  • Định Nghĩa Từ Láy Là Gì? Từ Ghép Là Gì? Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép
  • Một Số Cách Phân Biệt Từ Ghép, Từ Láy
  • 6 Bài Tập Kế Toán Chủ Đề Báo Cáo Tài Chính Doanh Nghiệp
  • Ví dụ: Lấp lánh, tròn trịa, lung linh, lan man…

    Mặc dù được cấu tạo từ những tiếng không có ý nghĩa, nhưng khi chúng đứng bên cạnh nhau, được ghép với nhau thì lại tạo thành một từ có nghĩa. Trong các văn bản văn học, các tác phẩm thơ ca, từ láy có tác dụng để miêu tả hình dạng, nhấn mạnh đặc điểm của tâm lý, tình trạng, tinh thần, tâm trạng… của con người, các hiện tượng, sự vật trong cuộc sống.

    Như đã nói ở trên từ láy là các từ có thể giống nhau chỉ vần hoặc chỉ âm, hoặc có thể giống nhau hoàn toàn về âm và vần, chính vì vậy từ láy được chia làm 2 loại:

    – Láy âm (nguyên âm): là những từ có phần âm lặp lại nhau.

    Ví dụ: thấp thỏm, da dẻ, xinh xắn, ngơ ngác, gầm gừ…

    – Láy vần (phụ âm): là những từ có phần vần lặp lại nhau.

    Ví dụ: Chênh vênh, liêu xiêu, cheo leo, càu nhàu, bồi hồi…

    – Những từ lặp lại nhau cả âm vf cả vần. Ví dụ: Luôn luôn, hằm hằm, xanh xanh, ào ào, dành dành…

    – Hoặc để tạo sự tinh tế hài hòa về âm thanh, một số từ còn được thay đổi phụ âm cuối hoặc thanh điệu. Ví dụ: Thoang thoảng, lanh lảnh, ngoan ngoãn, ngồn ngộn, thăm thẳm…

    2. Từ ghép là gì? Cách phân biệt từ láy và từ ghép

    Từ láy và từ ghép hai biện pháp tu từ mà rất nhiều người bị nhầm lẫn, khó phân biệt. Vậy làm sao để có thể phân biệt được hai loại từ này thì các bạn cần nắm chắc kiến thức về cả từ láy và từ ghép. Mời các bạn cùng đi tìm hiểu qua về nội dung kiến thức phần từ ghép.

    Từ ghép chính là từ được ghép bởi 2 tiếng trở nên, các tiếng này có cùng quan hệ về mặt ý nghĩa với nhau và về mặt âm, vần không bắt buộc phải giống nhau.

    2.1.2. Từ ghép có tác dụng gì?

    Tác dụng chủ yếu của từ ghép chính là đóng vai trò xác định những từ ngữ cần sử dụng trong lời nói, trong mỗi câu văn, giúp hoàn chỉnh hơn nữa về mặt ngữ nghĩa.

    2.1.3. Từ ghép được phân loại như thế nào?

    Dựa và đặc điểm của từ ghép mà người ta phân từ ghép thành 2 loại: Đẳng lập, chính phụ.

    Là từ được ghép từ 2 tiếng có sự phân biệt về nghĩa rất rõ ràng, từ đứng đầu là từ chính – từ chính đóng vai trò mang ý nghĩa trọng tâm, từ đứng sau là từ phụ – đóng vai trò bổ trợ ý nghĩa cho từ chính. Nói chung, ý nghĩa diễn đạt của loại từ ghép này thường hẹp.

    Ví dụ: đỏ hoe, sân bay, hoa hồng, tàu hỏa, xanh nhạt…

    Trong loại từ ghép đẳng lập, các từ có vai trò về ý nghĩa ngang nhau, không còn phân biệt đâu là từ chính, đâu là từ phụ. Ý nghĩa của từ ghép đẳng lập thể hiện rộng rãi hơn so với sử dụng từ ghép chính phụ.

    Ví dụ: Bố mẹ. anh chị, nhà cửa, sách vở, bàn ghế, quần áo, ông bà, cỏ cây…

    2.2. Phân biệt từ láy và từ ghép

    Như các bạn cũng biết, Tiếng Việt vô cùng phong phú, đa dạng và chính điểm mạnh này lại là một hạn chế đối với người học bởi nó tạo ra nhiều sự phức tạp trong quá trình học. Tại sao mọi người lại có nhiều sự nhầm lẫn giữa từ láy và từ ghép đến như vậy? Đó chính là do giữa từ láy và từ ghép có sự chuyển hóa lẫn nhau. Tuy vậy, vẫn có các yếu tố cơ bản để giúp người học có thể phân biệt được từ láy và từ ghép.

    Trong tiếng Việt những từ Hán Việt láy âm xuất hiện rất nhiều, chính vì vậy mà tất cả những từ Hán Việt có 2 âm tiết thì sẽ được xác định là từ ghép chứ không phải là từ láy, dù cho từ đó có ngẫu nhiên láy âm với nhau đi nữa.

    Ví dụ: “Tử Tế” cùng láy nguyên âm “T” nhưng ở đây “Tử” là từ Hán Việt nên đây là từ ghép.

    Ta tách 2 từ riêng biệt ra nếu cả 2 từ đều có ý nghĩa thì đó là từ ghép, còn 1 hoặc 2 từ tách ra vô nghĩa thì là từ láy.

    Ví dụ các từ che chắn, máu mủ… thì sẽ được coi là từ ghép. Ngoài ra chỉ có một từ có nghĩa trong hai từ thì đó có thể coi là láy âm, ví dụ: lạnh lùng, lảm nhảm…

    Khi đảo trật tự các tiếng trong một từ mà được một từ mới vẫn có nghĩa thì đó được coi là từ ghép. Ví dụ: thẫn thờ – thờ thẫn, mệt mỏi – mỏi mệt…

    3.1 Bài tập nhận biết từ láy

    Ở dạng bài tập này, học sinh sẽ được đưa ra một danh sách các từ, trong đó có thể có nhiều loại từ như từ ghép, từ láy và học sinh phải nhận biết được đúng loại từ để sắp xếp sao cho đúng.

    Cho danh sách từ sau, hãy sắp xếp chúng thành hai loại, từ ghép và từ láy: nhà cửa, sừng sững, lủng củng, hung dữ, mộc mạc, nhũn nhặn, cứng cáp, dẻo dai, vững chắc, thanh cao, giản dị, dũng cảm, hồi hộp, lẻ loi, chí khí.

    Đáp án:

    Từ láy bao gồm: sừng sững, lủng củng, mộc mạc, nhũn nhặn, cứng cáp, hồi hộp, lẻ loi.

    Từ ghép bao gồm: nhà cửa, hung dữ, vững chắc, thanh cao, giản dị, chí khí.

    Lưu ý: đây là dạng bài tương đối dễ và dừng lại ở mức nhận biết, nên học sinh cần nắm chắc khái niệm về từ láy, từ ghép để phận biệt cho đúng, chuẩn.

    3.2 Dạng bài xác định kiểu từ láy

    Ở dạng bài này, học sinh không những phải xác định đâu là từ láy mà còn phải biết được từ láy đó thuộc dạng nào, láy bộ phận hay láy toàn bộ.

    Ví dụ cho các từ sau: mải miết, phẳng phiu, mong mỏi, mơ màng, líu lo, hun hút, thăm thẳm, tít tắp. Hãy cho biết các từ láy trên thuộc loại nào?

    Đáp án: Từ láy bộ phận bao gồm: mải miết, phẳng phiu, mong mỏi, mơ màng, líu lo, tít tắp, hun hút,

    Từ láy toàn bộ bao gồm: thăm thẳm.

    Lưu ý: Dạng bài nhận biết loại từ ghép cũng là dạng bài tương đối dễ, học sinh cần nắm chắc lý thuyết về phân loại từ láy để đạt điểm cao trong dạng bài tập này.

    3.3 Dạng bài xác định từ láy trong đoạn văn, đoạn thơ và nêu công dụng

    Đề bài thường sẽ cho một đoạn văn bản hoặc một đoạn thơ có chứa từ láy, học sinh cần tìm ra từ láy và nêu được tác dụng của từ láy trong văn bản. Ở dạng bài này, học sinh cần hiểu được nội dung, ý nghĩa của đoạn văn, đoạn thơ thì mới có thể phân tích được tác dụng của từ láy.

    “Đêm về khuya lặng gió. Sương phủ trắng mặt sông. Những bầy cá nhao lên đớp sương “tom tóp”, lúc đầu còn loáng thoáng dần dần tiếng tũng toẵng xôn xao quanh mạn thuyền”.

    Xác định từ láy trong văn bản và nêu tác dụng của từ láy đó.

    Đáp án: Từ láy: tom tóp, loáng thoáng, tũng toẵng, xôn xao.

    Tác dụng: những từ láy miêu tả âm thanh và tần suất xuất hiện của âm thanh xuất hiện trên dòng sông lúc đêm khuya tĩnh lặng. Từ láy góp phần miêu tả khung cảnh bờ sông về đêm, đồng thời tác giả cũng đã sử dụng nghệ thuật lấy động tả tĩnh để từ âm thanh tiếng cá đớp mồi, gõ vào mạn thuyền thể hiện sự tĩnh lặng của dòng sông về đêm, có thể nghe thấy từng âm thanh rất nhỏ.

    Ví dụ 2: Xác định từ láy xuất hiện trong đoạn thơ sau, những từ láy đã góp phần làm nên thành công về giá trị biểu đạt của đoạn thơ như thế nào?

    Gió nâng tiếng hát chói chang

    Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời

    Tay nhè nhẹ chút, người ơi

    Trông đôi hạt rụng hạt rơi xót lòng.

    Mảnh sân trăng lúa chất đầy

    Vàng tuôn trong tiếng máy quay xập xình

    Nắng già hạt gạo thơm ngon

    Bưng lưng cơm trắng nắng còn thơm tho.

    Đáp án: Từ láy: chói chang, long lanh, nhè nhẹ, xập xình, thơm tho.

    Tác dụng: nhà thơ đã sử dụng hàng loạt các từ láy có giá trị biểu cảm, miêu tả cao, khiến đoạn thơ đậm chất trữ tình, người đọc có thể hình dung ra được những vất vả, cực nhọc mà người nông dân phải trải qua để có được hạt gạo trắng ngần thơm tho.

    Ví dụ 3: Phân tích tác dụng của từ láy có trong đoạn văn sau

    Bản làng đã thức giấc. Đó đây, ánh lửa hồng bập bùng trên các bếp. Ngoài bờ ruộng đã có bước chân người đi, tiếng nói chuyện rì rầm, tiếng gọi nhau í ới.

    Tảng sáng, vòm trời cao xanh mênh mông. Gió từ trên đỉnh núi tràn xuống thung lũng mát rượi.

    Đáp án: Từ láy: bập bùng, rì rầm, í ới, mênh mông.

    Tác dụng: Từ láy “bập bùng” khiến người đọc hình dung ra ngọn lửa cháy to, cháy đều trong đêm. Những tiếng “rì rầm, í ới” diễn tả âm thanh của cuộc sống, đã bắt đầu sôi động vào buổi sáng sớm. Từ láy “mênh mông” diễn tả không gian bầu trời rộng lớn vào buổi sáng sớm.

    Ví dụ 4: Chỉ ra từ láy và phân tích tác dụng của từ láy đó trong đoạn thơ sau trong bài “Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy:

    “Bão bùng thân bọc lấy thân

    Tay ôm, tay níu tre gần nhau thêm

    Thương nhau tre chẳng ở riêng

    Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người”.

    Đáp án: Từ láy “bão bùng” được sử dụng để thể hiện những khắc nghiệt của thời tiết, nhưng tre vẫn đùm bọc lấy nhau. Nhà thơ đã ca ngợi phẩm chất đoàn kết, biết giúp đỡ, bao bọc của cây tre, từ đó ẩn dụ để chỉ những phẩm chất cao đẹp của người Việt Nam.

    Ví dụ 5: Câu thơ của Nguyễn Du trong “Truyện Kiểu” có sử dụng từ láy lập lòe để miêu tả sắc đỏ của hoa lựu mùa hè:

    “Dưới trăng quyên đã gọi hè

    Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”

    Từ láy lập lòe đã gợi lên sắc đỏ của hoa lựu, một sắc đỏ rực ẩn hiện sau tán lá.

    Lưu ý: bài tập xác định và phân tích từ láy là dạng bài khó, đòi hỏi học sinh không những nắm vững kiến thức về từ vựng mà còn phải có khả năng đọc hiểu và cảm thụ văn bản. Với dạng đề này, học sinh cần phải thực hành luyện tập nhiều để có thể đạt được điểm số cao khi làm các bài tập làm văn.

    3.6 Mở rộng bài tập tự luyện

    Xác định từ láy trong những đoạn thơ sau trong bài “Việt Bắc” của Tố Hữu:

    -Mình về mình có nhớ ta

    Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

    -Tiếng ai tha thiết bên cồn

    Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi

    -Mình đi có nhớ những nhà

    Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son

    -Ta với mình, mình với ta,

    Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

    -Những đường Việt Bắc của ta

    Đêm đêm rầm rập như là đất rung

    Quân đi điệp điệp trùng trùng

    ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

    Dân công đỏ đuốc từng đoàn

    Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay

    Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

    Đèn pha bật sáng như ngày mai lên

    Xác định từ láy trong bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận:

    -Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

    Con thuyền xuôi mái nước song song.

    -Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

    Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

    Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

    Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

    -Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;

    Mênh mông không một chuyến đò ngang.

    Không cầu gợi chút niềm thân mật,

    Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

    -Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

    Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.

    Lòng quê dợn dợn vời con nước,

    Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

    Trong bài “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến:

    -Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

    Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

    Trong bài “Thu ẩm”, Nguyễn Khuyến:

    -Năm gian nhà cỏ thấp le te,

    Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.

    Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,

    Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.

    Trong bài “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu:

    -Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,

    Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng.

    -Những luồng run rẩy rung rinh lá…

    Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh

    -Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ…

    Non xa khởi sự nhạt sương mờ…

    Trong bài “Thu” của Xuân Diệu:

    -Nõn nà sương ngọc quanh thềm đậu;

    Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ thì.

    Hư vô bóng khói trên đầu hạnh;

    Cành biếc run run chân ý nhi

    -Bên cửa ngừng kim thêu bức gấm,

    Hây hây thục nữ mắt như thuyền.

    Gió thu hoa cúc vàng lưng giậu,

    Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên

    Từ láy trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

    -Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

    -Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

    -Rải rác biên cương mồ viễn xứ

    -Tây Tiến người đi không hẹn ước

    Đường lên thăm thẳm một chia phôi

    Từ láy trong bài thơ “Thương vợ” của Tú Xương:

    -Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

    Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

    -Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:

    Có chồng hờ hững cũng như không

    Từ láy trong bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ:

    -Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa,

    Nơi ta không còn được thấy bao giờ!

    Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,

    Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn

    Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,

    – Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Nhận Biết Từ Đơn, Từ Ghép, Từ Láy
  • Phân Biệt Rạch Ròi Giữa Từ Láy Và Từ Ghép Trong Tiếng Việt Lớp 4
  • Phân Biệt Các Con Đường C3,c4 Và Cam?
  • Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Thành Ngữ Và Tục Ngữ
  • Cách Sử Dụng Some, Many, Much, Any, A Lot Of, Lots Of, Few, A Few, Little And A Little
  • Từ Láy Là Gì? Cách Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Từ Đơn, Từ Ghép, Từ Láy
  • Thế Nào Là Từ Ghép? Lưu Ý Cách Phân Loại Từ Ghép Chính Phụ, Đẳng Lập
  • Từ Láy Là Gì? Các Loại Từ Láy
  • Từ Láy Là Gì, Tác Dụng Của Từ Láy, Cách Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép
  • Định Nghĩa Từ Láy Là Gì? Từ Ghép Là Gì
  • Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta sử dụng rất nhiều từ láy, từ láy có thể xuất hiện trong các văn bản, hay trong các cuộc giao tiếp, đối thoại hằng ngày. Tuy nhiên với nhiều người, do chưa hiểu cụ thể về loại từ này, nên đã có những nhầm lẫn khi sử dụng từ láy. Vậy từ láy là gì? Và cách phân biệt từ láy và từ ghép ra sao?

    Từ láy là gì?

    Từ láy là từ được cấu tạo từ hai tiếng, được tạo nên bởi các tiếng giống nhau về âm, về vần hoặc cả âm và vần. Trong đó có thể có 1 tiếng có nghĩa hoặc tất cả các tiếng đều không có nghĩa, khi đó 2 từ được ghép với nhau tạo nên một từ có nghĩa.

    Ví dụ: ào ào, xanh xanh, thăm thẳm, lanh lảnh, ……

    Phân loại từ láy

    Dựa vào cấu trúc, cấu tạo giống nhau của các bộ phận thì từ láy được chia thành hai loại chính là từ láy toàn bộ và từ láy bộ phận.

    Từ láy toàn bộ: Là loại từ được láy giống nhau cả phần âm, vần, dấu câu ví dụ như xanh xanh, luôn luôn, ào ào.

    Đôi khi để nhấn mạnh và tạo sự tinh tế hài hòa về âm thanh, một số từ còn được thay đổi phụ âm cuối hoặc thanh điệu. Ví dụ: Thoang thoảng, lanh lảnh, ngoan ngoãn.

    Từ láy bộ phận: Là loại từ được láy giống phần âm hoặc phần vần, dấu câu có thể giống hoặc khác tùy vào cách người dùng muốn:

    – Láy âm: Là những từ có phần âm lặp lại nhau.

    Ví dụ: Mênh mông, miên man, xinh xắn, ngơ ngác, mếu máo…

    – Láy vần: Là những từ có phần vần lặp lại nhau.

    Ví dụ: Chênh vênh, liêu xiêu, lao xao, liu diu.

    Từ láy bộ phận thường được sử dụng nhiều hơn từ láy toàn bộ vì dễ phối vần và âm.

    Cách phân biệt từ ghép và từ láy

    Tiếng Việt vốn nổi tiếng phong phú và phức tạp. Tiếng Việt cũng có một loại từ nữa đó là từ ghép, khá giống với từ láy. Và để phân biệt từ láy và từ ghép thì không phải ai cũng làm được, có một vài cách giúp chúng ta phân biệt được hai loại từ này mà bạn có thể tham khảo như sau:

    Cách 1: Láy âm là từ ghép nghĩa

    Một trong 2 từ là từ Hán Việt. Nếu một trong hai từ thuộc từ Hán Việt thì đó chính là ghép chứ không phải từ láy.

    Ví dụ như từ “Tử tế” thì “tử” là từ Hán Việt, cho dù nó láy âm đầu nhưng vẫn được xác định là từ ghép.

    Cách 2: Nghĩa của các từ tạo thành. Từ mà hai âm tiết đều có nghĩa cụ thể thì không thể là từ láy, đó là từ ghép.

    Ví dụ: máu mủ, trai trẻ, che chắn…

    Ngược lại, nếu chỉ một tiếng có ý nghĩa thì đó là láy âm. ví dụ: lảm nhảm, lạnh lùng…

    Cách 3: Nếu hai tiếng trong từ có thể đảo trật tự thì đó là từ ghép. Khi chúng ta đảo trật tự từ các tiếng trong một từ được thì đó chính là từ ghép. Bởi vì, láy âm nhìn chung là không đảo được trật tự từ.

    Ví dụ: mờ mịt/mịt mờ, thẫn thờ/thờ thẫn…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 10 , Nckhspud, Skkn, Diem Chuan Vao 10, Mmo, Crypto, Coin, Token, Stock, : Để Phân Biệt Thực Vật C3 Và C4 Người Ta Làm Thí Nghiệm Sau: Hãy Phân Tích Nguyên Tắc Của Các Thí Nghiệm Nói Trên.
  • Văn 7 Phân Biệt Thành Ngữ Và Tục Ngữ
  • Phân Biệt Tục Ngữ Và Thành Ngữ
  • Thành Ngữ Là Gì, Tác Dụng Và Lấy Ví Dụ
  • Phân Biệt Thành Ngữ Với Tục Ngũ
  • Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép Có Dạng Láy

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Nhận Biết Từ Đơn
  • Định Nghĩa Từ Láy Là Gì? Từ Ghép Là Gì? Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép
  • Một Số Cách Phân Biệt Từ Ghép, Từ Láy
  • 6 Bài Tập Kế Toán Chủ Đề Báo Cáo Tài Chính Doanh Nghiệp
  • Tài Sản Và Nguồn Vốn Khác Nhau Thế Nào? Cách Phân Biệt Ra Sao?
  • TRANSCRIPT

    Phn bit t ly v t ghp c dng ly

    Phn bit t ly v t ghp c dng lynh CaoTrong vn t ting Vit, chim i b phn l nhng t song tit tc nhng t gm hai m tit hay hai ting chng c cu to bng hai phng thc ch yu: phng thc to ra t ghp v phng thc ly to ra t chúng tôi cc em bit, trong t ghp song tit mi ting u c ngha ring, chng phi hp ngha vi nhau v nhn chung, gia hai ting khng c hin tng lp m hon ton hay lp m b phn theo quy tc ha phi ng m to sc thi ngha, nh t ly, v d:- Mt tri, tn la, ng st, xe p, o di l nhng t ghp chnh – ph, gm hai thnh t (t t), mt t t gi vai tr tr chnh (thng ng trc), ng sau l t t ph b sung ngha cho t t chnh.- Qun o, sch v, xinh p, t quc, giang san, hc tp… l nhng t ghp ng lp (hay t ghp song song), hai t t trong mi t cng c vai tr ngang nhau, chng phi hp vi nhau to ra ngha tng hp, khi chúng tôi nhn din mt t ghp song tit v mt t ly i, cc em cn ch phn bit:+ Trong t ghp song tit c hai ting u c ngha (gi l ting gc, ting c s), ting kia l ly li to sc thi ngha (V d: d di, p , lnh lng, la tha, nhc nhch… (ting gc in m).+ T ghp c cu to theo phng thc phi hp ngha, khc t ly c cu to theo phng thc ha phi ng chúng tôi chung t ghp chnh ph khng b nhp nhng, ln ln vi t ly, cn t ghp ng lp rt d b nhn nhm l t ly khi chng c hnh thc ng m ngu nhin ging t ly. nhn thc r hn, chng ta cng xem xt ba trng hp sau y:Trng hp 1: Mt t ghp song song, trong ni b t, mi ting c ngha ring, nhng do chng ngu nhin mang dng ly (nh lp ph m u hoc lp khun vn) nn nhiu hc sinh lm tng l mt t ly. V d, nhng t di y u l t ghp song song (ng lp), ngha ca tng t t cn kh r: bun bn, che chn, cho chng, dn dp, nh m, y , i ng, mt mi, mt my, mm mng, mt mi, mi m, mm mp, nghe ngng, nh nh, non nc, r ri, rng ri, r r, rm r, su sc, tc tai, tn tui, than th, tm tt, tm tp, trai tr, ti tt, tng chúng tôi hp 2: Mt s t ghp Hn – Vit c v ng m tnh c ging t ly Vit nh: bi bn, ban b, bo bi, cn c, ho hng, chm chc… (lp ph m u) v bnh minh, linh tnh, cn mn, hon ton, lng ng, tham lam… (lp khun vn). Do khng hiu ngha ca tng ting (t t) nn nhiu em ngh nhng t k trn l t ly i ting Vit. Mun khng b nhm ln, cc em nn chu kh tra cu, tm hiu ngha tng yu t gc Hn trong cc t ghp Hn – Vit. Chng hn, nu cc em hiu ban l ban hnh (th rt gn), b l cng b, cn l gc r, c l nn mng, cn l sing nng, mn l mau l, hoan l vui, h l mng… th cc em d dng khng nh ban b, cn c, cn mn, hoan h l nhng t ghp Hn – Vit ch khng ng nhn l t ly chúng tôi hp 3: Lp t th ba l lp t song tit, t xa xa vn l nhng t ghp v trong mi t c hai ting u c ngha. Nhng cho n nay ta ch xc nh c ng ngha ca ting gc, ting cn li b m ngha, thm ch b mt hn ngha. Do vy, gii nghin cu xp lp t ny vo loi t ly i (V d: n nn, bng bt, bun bc, chung ch…).Th nhng thi gian gn y cc nh ngn ng ln theo du vt, kho st cc phng ng v tra cu cc t in, sch c, pht hin v khi phc c ni dung ngha ca khong mt trm yu t trc y b coi l “mt ngha” trong cc t song tit ting Vit. Sau y l mt s v d v nhng yu t c khi phc ngha:* n nn: nn l loi c ng. Ngy xa ngi phm ti b buc phi n c nn ci hi (cch ni n d ch s sm hi).* Bng bt: bng l che y, bt kn, ngn chn vi bn ngoi.* Bun bc: bc l tang, o bc l o tang. Ngha chung: bun kh nh c tang.* Chung ch: ch l ln by, quy ph. Chung ch l chung ng tp, ngha xu.* Hi han: han cng l hi (Trc xe li l han cho. Kiu).* Non nt: nt l thiu thng. Ngha chung: qu by, yu t, ni khi qut.* Mi m: m cng l mi (Gc Pak, Catu).* Rc r: r l c hoa sc s. Rn r: rn hoa.* Sn sng: sng l sn t di gm nh sn.* Trng trt: trt l trng ta (ht). Trng trt: Gieo trng, ni khi qut.* Vai v: v l bp i, phng ng Nam. Vai v: th bc trn di trong gia nh, h hng chúng tôi kt qu phc hi ng ngha ca nhng t t trc y b coi l “m ngha, mt ngha” (trong lp t ly i ang xt), gii nghin cu hin a ra ba hng gii quyt khc nhau:1. Chuyn s t ly i khi phc y nghia ca hai t t sang lp t ghp ng lp (c hnh thc ly).2. Coi nhng t ly i xc nh c ngha ca c hai t t l nhng n v trung gian, nm gia t ghp ng lp v t ly.3. Cho rng, vic lt xi du vt c, tm hiu nhng yu t c, yu t vay mn trong ting Vit s gip chng ta hiu su hn nhng nt c sc v c o ca ting ni dn tc. Nhng, trong thc trng nghin cu t ly tng i n nh, khng nn v khng cn thay i cch nhn v s t ly ang xt, trnh nhng xo trn. Ni cch khc, khng cn chuyn s t ly i ( tm li c ngha nhng t t trc b coi l ting ly) sang t ghp ng lp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Từ Láy Là Gì? Cách Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép
  • Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Nhận Biết Từ Đơn, Từ Ghép, Từ Láy
  • Phân Biệt Rạch Ròi Giữa Từ Láy Và Từ Ghép Trong Tiếng Việt Lớp 4
  • Phân Biệt Các Con Đường C3,c4 Và Cam?
  • Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Thành Ngữ Và Tục Ngữ
  • Định Nghĩa Từ Láy Là Gì? Từ Ghép Là Gì? Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Cách Phân Biệt Từ Ghép, Từ Láy
  • 6 Bài Tập Kế Toán Chủ Đề Báo Cáo Tài Chính Doanh Nghiệp
  • Tài Sản Và Nguồn Vốn Khác Nhau Thế Nào? Cách Phân Biệt Ra Sao?
  • Bài Tập Nguyên Lý Kế Toán Có Lời Giải
  • Biên Dịch Khác Phiên Dịch Như Thế Nào?
  • Tuy được tạo thành từ những tiếng tưởng chừng như vô nghĩa nhưng khi ghép lại chúng thành những từ có ý nghĩa.

    Từ láy được dùng để nhấn mạnh, miêu tả hình dạng, tâm trạng, tâm lý, tinh thần, tình trạng… của người, sự vật hiện tượng.

    Từ láy được chia thành 2 loại chính là: Từ láy toàn bộ và từ láy bộ phận

      Là những từ có các tiếng lặp lại hoàn toàn cả âm và vần.

    Ví dụ: ào ào, luôn luôn, xa xa, dành dành, xanh xanh, hằm hằm, khom khom…

      Một số từ láy có tiếng thay đổi thanh điệu hoặc phụ âm cuối, để tạo sự hài hoà về âm thanh.

    Ví dụ: ngoan ngoãn, thoang thoảng, thăm thẳm, lanh lảnh, ngồn ngộn…

      Là những từ có tiếng lặp lại về phần âm (người ta thường gọi là từ láy âm).

    Ví dụ: da dẻ, lấp lánh, thấp thỏm, xinh xắn, gầm gừ, kháu khỉnh, ngơ ngác…

      Hoặc lặp lại phần vần (người ta gọi là từ láy vần).

    Ví dụ: lờ đờ, chênh vênh, càu nhàu, liêu xiêu, bồi hồi, cheo leo, bứt rứt…

    Từ ghép là từ có hơn hai tiếng, là từ phức được tạo ra bằng cách ghép các từ có quan hệ cùng nghĩa với nhau. Từ ghép là gì? Từ ghép chính là những từ không bắt buộc phải chung nhau về vần.

    Từ ghép có tác dụng giúp xác định chính xác từ ngữ cần sử dụng trong câu văn và lời nói.

    • Là từ mà trong đó tiếng đứng đầu tiên là từ chính, và từ theo sau gọi là từ phụ.
    • Từ ghép chính phụ được biết đến là có tính chất phân nghĩa như sau: T ừ chính có vai trò thể hiện ý chính, còn từ phụ đi kèm có tác dụng bổ sung ý nghĩa cho từ chính. Nhìn chung, nghĩa của từ ghép chính phụ thường hẹp.
    • Ví dụ: sân bay, tàu hỏa, hoa hồng, xanh lòe, đỏ hoe…
    • Trong từ ghép đẳng lập, hai từ có vị trí và vai trò ngang nhau, không phân biệt từ chính và từ phụ. Thông thường, với từ ghép đẳng lập thì nghĩa sẽ rộng hơn so với từ chép chính phụ.
    • Ví dụ: nhà cửa, ông bà, bố mẹ, cỏ cây, quần áo, sách vở, bàn ghế…

    Cách phân biệt từ ghép và từ láy

    Tiếng Việt vốn phong phú và đa dang, tuy nhiên cũng khá phức tạp trong cấu tạo và ngữ nghĩa của từ. Bên cạnh đó, tiếng việt cũng có sự chuyển hóa giữa từ ghép sang từ láy âm. Vì vậy, phân biệt từ ghép và từ láy là việc không đơn giản. Tuy vậy, có một số cách giúp chúng ta phân định, nhận diện và phân biệt giữa từ ghép và từ láy, cụ thể như sau.

    Trong Tiếng Việt có rất nhiều từ láy âm. Vì vậy, nếu một từ hai âm tiết thuộc từ Hán Việt thì xác định nó chính là từ ghép chứ không phải thuộc dạng từ láy, mặc dù từ ngữ có dạng láy âm ngẫu nhiên.

    Ví dụ: máu mủ, trai trẻ, che chắn…

    Ngược lại, nếu chỉ một tiếng có ý nghĩa thì đó là láy âm. ví dụ: lảm nhảm, lạnh lùng…

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Nhận Biết Từ Đơn
  • Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép Có Dạng Láy
  • Từ Láy Là Gì? Cách Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép
  • Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Nhận Biết Từ Đơn, Từ Ghép, Từ Láy
  • Phân Biệt Rạch Ròi Giữa Từ Láy Và Từ Ghép Trong Tiếng Việt Lớp 4
  • Từ Láy Là Gì, Tác Dụng Của Từ Láy, Cách Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Từ Láy Là Gì? Từ Ghép Là Gì
  • Tài Sản Là Gì Nguồn Vốn Là Gì
  • Giảng Giải Bài Tập Nguyên Lý Kế Toán Chương 2
  • Tính Chất Từng Loại Tài Khoản Kế Toán
  • Định Nghĩa: Phân Biệt Phiên Dịch Và Biên Dịch
  • 1.1. Từ láy là gì?

    Các bạn có thể đã sử dụng từ láy rất nhiều lần trong quá trình làm các bài tập ngữ văn của mình, nhưng có thể do chưa nắm vững được định nghĩa về từ láy nên các bạn không biết rằng những từ ngữ mình đã sử dụng chính là từ láy. Vậy chúng ta sẽ cùng định nghĩ một cách chi tiết để dễ dàng hiểu được: Từ láy được cấu tạo bởi 2 tiếng, các tiếng tạo nên từ láy có đặc điểm giống nhau về chỉ nguyên âm hoặc phụ âm, hay có thể giống nhau cả nguyên âm và phụ âm. Trong từ láy có thể có 1 từ không mang ý nghĩ gì hoặc cả 2 từ đều không có nghĩa và được ghép với nhau thành một từ có nghĩa.

    Ví dụ: Lấp lánh, tròn trịa, lung linh, lan man…

    1.2. Từ láy có tác dụng gì?

    Mặc dù được cấu tạo từ những tiếng không có ý nghĩa, nhưng khi chúng đứng bên cạnh nhau, được ghép với nhau thì lại tạo thành một từ có nghĩa. Trong các văn bản văn học, các tác phẩm thơ ca, từ láy có tác dụng để miêu tả hình dạng, nhấn mạnh đặc điểm của tâm lý, tình trạng, tinh thần, tâm trạng… của con người, các hiện tượng, sự vật trong cuộc sống.

    1.3. Phân loại từ láy

    Như đã nói ở trên từ láy là các từ có thể giống nhau chỉ vần hoặc chỉ âm, hoặc có thể giống nhau hoàn toàn về âm và vần, chính vì vậy từ láy được chia làm 2 loại:

    – Láy âm (nguyên âm): là những từ có phần âm lặp lại nhau.

    Ví dụ: thấp thỏm, da dẻ, xinh xắn, ngơ ngác, gầm gừ…

    – Láy vần (phụ âm): là những từ có phần vần lặp lại nhau.

    Ví dụ: Chênh vênh, liêu xiêu, cheo leo, càu nhàu, bồi hồi…

    – Những từ lặp lại nhau cả âm vf cả vần. Ví dụ: Luôn luôn, hằm hằm, xanh xanh, ào ào, dành dành…

    – Hoặc để tạo sự tinh tế hài hòa về âm thanh, một số từ còn được thay đổi phụ âm cuối hoặc thanh điệu. Ví dụ: Thoang thoảng, lanh lảnh, ngoan ngoãn, ngồn ngộn, thăm thẳm…

    2. Từ ghép là gì? Cách phân biệt từ láy và từ ghép

    Từ láy và từ ghép hai biện pháp tu từ mà rất nhiều người bị nhầm lẫn, khó phân biệt. Vậy làm sao để có thể phân biệt được hai loại từ này thì các bạn cần nắm chắc kiến thức về cả từ láy và từ ghép. Mời các bạn cùng đi tìm hiểu qua về nội dung kiến thức phần từ ghép.

    2.1. Như thế nào là từ ghép?

    2.1.1. Khái niệm

    Từ ghép chính là từ được ghép bởi 2 tiếng trở nên, các tiếng này có cùng quan hệ về mặt ý nghĩa với nhau và về mặt âm, vần không bắt buộc phải giống nhau.

    2.1.2. Từ ghép có tác dụng gì?

    Tác dụng chủ yếu của từ ghép chính là đóng vai trò xác định những từ ngữ cần sử dụng trong lời nói, trong mỗi câu văn, giúp hoàn chỉnh hơn nữa về mặt ngữ nghĩa.

    2.1.3. Từ ghép được phân loại như thế nào?

    Dựa và đặc điểm của từ ghép mà người ta phân từ ghép thành 2 loại: Đẳng lập, chính phụ.

    Là từ được ghép từ 2 tiếng có sự phân biệt về nghĩa rất rõ ràng, từ đứng đầu là từ chính – từ chính đóng vai trò mang ý nghĩa trọng tâm, từ đứng sau là từ phụ – đóng vai trò bổ trợ ý nghĩa cho từ chính. Nói chung, ý nghĩa diễn đạt của loại từ ghép này thường hẹp.

    Ví dụ: đỏ hoe, sân bay, hoa hồng, tàu hỏa, xanh nhạt…

    Trong loại từ ghép đẳng lập, các từ có vai trò về ý nghĩa ngang nhau, không còn phân biệt đâu là từ chính, đâu là từ phụ. Ý nghĩa của từ ghép đẳng lập thể hiện rộng rãi hơn so với sử dụng từ ghép chính phụ.

    Ví dụ: Bố mẹ. anh chị, nhà cửa, sách vở, bàn ghế, quần áo, ông bà, cỏ cây…

    2.2. Phân biệt từ láy và từ ghép

    Như các bạn cũng biết, Tiếng Việt vô cùng phong phú, đa dạng và chính điểm mạnh này lại là một hạn chế đối với người học bởi nó tạo ra nhiều sự phức tạp trong quá trình học. Tại sao mọi người lại có nhiều sự nhầm lẫn giữa từ láy và từ ghép đến như vậy? Đó chính là do giữa từ láy và từ ghép có sự chuyển hóa lẫn nhau. Tuy vậy, vẫn có các yếu tố cơ bản để giúp người học có thể phân biệt được từ láy và từ ghép.

    Cách 1: Từ ghép có chứa từ Hán Việt thì không phải từ láy

    Trong tiếng Việt những từ Hán Việt láy âm xuất hiện rất nhiều, chính vì vậy mà tất cả những từ Hán Việt có 2 âm tiết thì sẽ được xác định là từ ghép chứ không phải là từ láy, dù cho từ đó có ngẫu nhiên láy âm với nhau đi nữa.

    Ví dụ: “Tử Tế” cùng láy nguyên âm “T” nhưng ở đây “Tử” là từ Hán Việt nên đây là từ ghép.

    Cách 2: Từ ghép thuần Việt cả 2 từ đều có nghĩa không được coi là từ láy

    Ta tách 2 từ riêng biệt ra nếu cả 2 từ đều có ý nghĩa thì đó là từ ghép, còn 1 hoặc 2 từ tách ra vô nghĩa thì là từ láy.

    Ví dụ các từ che chắn, máu mủ… thì sẽ được coi là từ ghép. Ngoài ra chỉ có một từ có nghĩa trong hai từ thì đó có thể coi là láy âm, ví dụ: lạnh lùng, lảm nhảm…

    Cách 3: Nếu hai tiếng trong một từ đảo trật tự cho nhau mà vẫn có nghĩa thì đó là từ ghép

    Khi đảo trật tự các tiếng trong một từ mà được một từ mới vẫn có nghĩa thì đó được coi là từ ghép. Ví dụ: thẫn thờ – thờ thẫn, mệt mỏi – mỏi mệt…

    3.1 Bài tập nhận biết từ láy

    Ở dạng bài tập này, học sinh sẽ được đưa ra một danh sách các từ, trong đó có thể có nhiều loại từ như từ ghép, từ láy và học sinh phải nhận biết được đúng loại từ để sắp xếp sao cho đúng.

    Ví dụ bài tập sau đây:

    Cho danh sách từ sau, hãy sắp xếp chúng thành hai loại, từ ghép và từ láy: nhà cửa, sừng sững, lủng củng, hung dữ, mộc mạc, nhũn nhặn, cứng cáp, dẻo dai, vững chắc, thanh cao, giản dị, dũng cảm, hồi hộp, lẻ loi, chí khí.

    Đáp án:

    Từ láy bao gồm: sừng sững, lủng củng, mộc mạc, nhũn nhặn, cứng cáp, hồi hộp, lẻ loi.

    Từ ghép bao gồm: nhà cửa, hung dữ, vững chắc, thanh cao, giản dị, chí khí.

    Lưu ý: đây là dạng bài tương đối dễ và dừng lại ở mức nhận biết, nên học sinh cần nắm chắc khái niệm về từ láy, từ ghép để phận biệt cho đúng, chuẩn.

    3.2 Dạng bài xác định kiểu từ láy

    Ở dạng bài này, học sinh không những phải xác định đâu là từ láy mà còn phải biết được từ láy đó thuộc dạng nào, láy bộ phận hay láy toàn bộ.

    Ví dụ cho các từ sau: mải miết, phẳng phiu, mong mỏi, mơ màng, líu lo, hun hút, thăm thẳm, tít tắp. Hãy cho biết các từ láy trên thuộc loại nào?

    Đáp án: Từ láy bộ phận bao gồm: mải miết, phẳng phiu, mong mỏi, mơ màng, líu lo, tít tắp, hun hút,

    Từ láy toàn bộ bao gồm: thăm thẳm.

    Lưu ý: Dạng bài nhận biết loại từ ghép cũng là dạng bài tương đối dễ, học sinh cần nắm chắc lý thuyết về phân loại từ láy để đạt điểm cao trong dạng bài tập này.

    3.3 Dạng bài xác định từ láy trong đoạn văn, đoạn thơ và nêu công dụng

    Đề bài thường sẽ cho một đoạn văn bản hoặc một đoạn thơ có chứa từ láy, học sinh cần tìm ra từ láy và nêu được tác dụng của từ láy trong văn bản. Ở dạng bài này, học sinh cần hiểu được nội dung, ý nghĩa của đoạn văn, đoạn thơ thì mới có thể phân tích được tác dụng của từ láy.

    Ví dụ 1: Cho đoạn văn sau:

    “Đêm về khuya lặng gió. Sương phủ trắng mặt sông. Những bầy cá nhao lên đớp sương “tom tóp”, lúc đầu còn loáng thoáng dần dần tiếng tũng toẵng xôn xao quanh mạn thuyền”.

    Xác định từ láy trong văn bản và nêu tác dụng của từ láy đó.

    Đáp án: Từ láy: tom tóp, loáng thoáng, tũng toẵng, xôn xao.

    Tác dụng: những từ láy miêu tả âm thanh và tần suất xuất hiện của âm thanh xuất hiện trên dòng sông lúc đêm khuya tĩnh lặng. Từ láy góp phần miêu tả khung cảnh bờ sông về đêm, đồng thời tác giả cũng đã sử dụng nghệ thuật lấy động tả tĩnh để từ âm thanh tiếng cá đớp mồi, gõ vào mạn thuyền thể hiện sự tĩnh lặng của dòng sông về đêm, có thể nghe thấy từng âm thanh rất nhỏ.

    Ví dụ 2: Xác định từ láy xuất hiện trong đoạn thơ sau, những từ láy đã góp phần làm nên thành công về giá trị biểu đạt của đoạn thơ như thế nào?

    Gió nâng tiếng hát chói chang

    Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời

    Tay nhè nhẹ chút, người ơi

    Trông đôi hạt rụng hạt rơi xót lòng.

    Mảnh sân trăng lúa chất đầy

    Vàng tuôn trong tiếng máy quay xập xình

    Nắng già hạt gạo thơm ngon

    Bưng lưng cơm trắng nắng còn thơm tho.

    Đáp án: Từ láy: chói chang, long lanh, nhè nhẹ, xập xình, thơm tho.

    Tác dụng: nhà thơ đã sử dụng hàng loạt các từ láy có giá trị biểu cảm, miêu tả cao, khiến đoạn thơ đậm chất trữ tình, người đọc có thể hình dung ra được những vất vả, cực nhọc mà người nông dân phải trải qua để có được hạt gạo trắng ngần thơm tho.

    Ví dụ 3: Phân tích tác dụng của từ láy có trong đoạn văn sau

    Bản làng đã thức giấc. Đó đây, ánh lửa hồng bập bùng trên các bếp. Ngoài bờ ruộng đã có bước chân người đi, tiếng nói chuyện rì rầm, tiếng gọi nhau í ới.

    Tảng sáng, vòm trời cao xanh mênh mông. Gió từ trên đỉnh núi tràn xuống thung lũng mát rượi.

    Đáp án: Từ láy: bập bùng, rì rầm, í ới, mênh mông.

    Tác dụng: Từ láy “bập bùng” khiến người đọc hình dung ra ngọn lửa cháy to, cháy đều trong đêm. Những tiếng “rì rầm, í ới” diễn tả âm thanh của cuộc sống, đã bắt đầu sôi động vào buổi sáng sớm. Từ láy “mênh mông” diễn tả không gian bầu trời rộng lớn vào buổi sáng sớm.

    Ví dụ 4: Chỉ ra từ láy và phân tích tác dụng của từ láy đó trong đoạn thơ sau trong bài “Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy:

    “Bão bùng thân bọc lấy thân

    Tay ôm, tay níu tre gần nhau thêm

    Thương nhau tre chẳng ở riêng

    Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người”.

    Đáp án: Từ láy “bão bùng” được sử dụng để thể hiện những khắc nghiệt của thời tiết, nhưng tre vẫn đùm bọc lấy nhau. Nhà thơ đã ca ngợi phẩm chất đoàn kết, biết giúp đỡ, bao bọc của cây tre, từ đó ẩn dụ để chỉ những phẩm chất cao đẹp của người Việt Nam.

    Ví dụ 5: Câu thơ của Nguyễn Du trong “Truyện Kiểu” có sử dụng từ láy lập lòe để miêu tả sắc đỏ của hoa lựu mùa hè:

    “Dưới trăng quyên đã gọi hè

    Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”

    Từ láy lập lòe đã gợi lên sắc đỏ của hoa lựu, một sắc đỏ rực ẩn hiện sau tán lá.

    Lưu ý: bài tập xác định và phân tích từ láy là dạng bài khó, đòi hỏi học sinh không những nắm vững kiến thức về từ vựng mà còn phải có khả năng đọc hiểu và cảm thụ văn bản. Với dạng đề này, học sinh cần phải thực hành luyện tập nhiều để có thể đạt được điểm số cao khi làm các bài tập làm văn.

    3.6 Mở rộng bài tập tự luyện

    Xác định từ láy trong những đoạn thơ sau trong bài “Việt Bắc” của Tố Hữu:

    -Mình về mình có nhớ ta

    Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

    -Tiếng ai tha thiết bên cồn

    Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi

    -Mình đi có nhớ những nhà

    Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son

    -Ta với mình, mình với ta,

    Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

    -Những đường Việt Bắc của ta

    Đêm đêm rầm rập như là đất rung

    Quân đi điệp điệp trùng trùng

    ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

    Dân công đỏ đuốc từng đoàn

    Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay

    Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

    Đèn pha bật sáng như ngày mai lên

    Xác định từ láy trong bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận:

    -Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

    Con thuyền xuôi mái nước song song.

    -Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

    Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

    Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

    Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

    -Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;

    Mênh mông không một chuyến đò ngang.

    Không cầu gợi chút niềm thân mật,

    Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

    -Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

    Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.

    Lòng quê dợn dợn vời con nước,

    Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

    Trong bài “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến:

    -Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

    Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

    Trong bài “Thu ẩm”, Nguyễn Khuyến:

    -Năm gian nhà cỏ thấp le te,

    Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.

    Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,

    Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.

    Trong bài “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu:

    -Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,

    Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng.

    -Những luồng run rẩy rung rinh lá…

    Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh

    -Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ…

    Non xa khởi sự nhạt sương mờ…

    Trong bài “Thu” của Xuân Diệu:

    -Nõn nà sương ngọc quanh thềm đậu;

    Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ thì.

    Hư vô bóng khói trên đầu hạnh;

    Cành biếc run run chân ý nhi

    -Bên cửa ngừng kim thêu bức gấm,

    Hây hây thục nữ mắt như thuyền.

    Gió thu hoa cúc vàng lưng giậu,

    Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên

    Từ láy trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

    -Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

    -Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

    -Rải rác biên cương mồ viễn xứ

    -Tây Tiến người đi không hẹn ước

    Đường lên thăm thẳm một chia phôi

    Từ láy trong bài thơ “Thương vợ” của Tú Xương:

    -Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

    Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

    -Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:

    Có chồng hờ hững cũng như không

    Từ láy trong bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ:

    -Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa,

    Nơi ta không còn được thấy bao giờ!

    Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,

    Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn

    Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,

    – Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Từ Láy Là Gì? Các Loại Từ Láy
  • Thế Nào Là Từ Ghép? Lưu Ý Cách Phân Loại Từ Ghép Chính Phụ, Đẳng Lập
  • Phân Biệt Từ Đơn, Từ Ghép, Từ Láy
  • Từ Láy Là Gì? Cách Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép?
  • Top 10 , Nckhspud, Skkn, Diem Chuan Vao 10, Mmo, Crypto, Coin, Token, Stock, : Để Phân Biệt Thực Vật C3 Và C4 Người Ta Làm Thí Nghiệm Sau: Hãy Phân Tích Nguyên Tắc Của Các Thí Nghiệm Nói Trên.
  • Một Số Cách Phân Biệt Từ Ghép, Từ Láy

    --- Bài mới hơn ---

  • 6 Bài Tập Kế Toán Chủ Đề Báo Cáo Tài Chính Doanh Nghiệp
  • Tài Sản Và Nguồn Vốn Khác Nhau Thế Nào? Cách Phân Biệt Ra Sao?
  • Bài Tập Nguyên Lý Kế Toán Có Lời Giải
  • Biên Dịch Khác Phiên Dịch Như Thế Nào?
  • Sự Khác Nhau Giữa Trình Biên Dịch Và Trình Thông Dịch
  • Phân biệt từ ghép và từ láy vốn rất phức tạp. Bởi vậy Tiếng Việt có sự chuyển hoá từ từ ghép sang từ láy âm. Lại không ít trường hợp phân tích rạch ròi giữa là ghép hay láy đành xếp chúng vào đơn vị trung gian. Tuy nhiên cũng có một số cách nhận diện, phân biệt từ láy, từ ghép.

    Cách 1 : Láy âm là phương thức cấu tạo riêng của từ Tiếng Việt, Từ Hán Việt nói chung không có dạng láy âm( trừ trường hợp yếu tố gốc Hán đã được Việt hoá hoàn toàn ) . Cho nên, nếu biết chắc chắn một từ hai âm tiết là từ Hán Việt thì xác định nó là từ ghép nghĩa chứ không phải là từ láy âm, dù bề ngoài có dạng láy âm ngẫu nhiên.

    Ví dụ: cập kê, lãng đãng, tư lự, tử tế….. Dĩ nhiên muốn áp dụng cách này cần không ngừng bổ sung kiến thức về từ ngữ gốc Hán

    Cách 2 : Ranh giới để phân biệt một từ thuần Việt và một từ láy đôi thuần Việt là : Ở từ ghép hai âm tiết, cả hai tiếng đều có nghĩa.

    Ví dụ: che chắn, trai trẻ, máu mủ…… Còn từ láy đôi thì chỉ một tiếng gốc là có nghĩa, còn tiếng kia là tiếng láy lại, không có nghĩa hoặc mất nghĩa, có trường hợp cả hai tiếng đều vô nghĩa.

    Có thể phân biệt bằng cách tách riêng từng tiếng, nếu mỗi tiếng khi đứng độc lập đều có nghĩa thì đó là từ ghép song song ( hoặc đẳng lập).

    Ví dụ: đau đớn, khao khát, lãi lời, đau đớn, ngây ngất……nếu chỉ một tiếng có nghĩa thì đó là láy âm. Ví dụ: lạnh lùng, làm lụng, phập phồng, lảm nhảm……chỉ có tiếng lạnh, làm, phồng, nhảm …là tiếng gốc có nghĩa .

    Cách 3 : Đảo trật tự các tiếng trong từ hai âm tiết nghi vấn. Nếu đảo được thì đó là từ ghép nghiã ( Vì láy âm nói chung – không đảo được).

    Ví dụ : đoạ đày/ đày đoạ, gìn giữ/ giữ gìn, mờ mịt/ mịt mờ, ngơ ngẩn/ ngẩn ngơ, thẫn thờ/ thờ thẫn,….. đều có thể đảo trrật tự các tiếng trong từnên là các từ ghép nghĩa. Các từ : lạnh lùng, tần ngần, ngỡ ngàng, rõ ràng, thấm thoắt , thập thò….là các từ láy âm.

    Cách này có mặt hạn chế là do quy luật ngữ âm hoặc do người dùng muốn tạo sự mới mẻ nên một số từ láy âm đích thực cũng đảo được trật tự . Ví dụ : nhớ nhung/ nhung nhớ, da dết/ diết da, nhố nhăng/ nhăng nhố….nên có thể gây ra nhầm lẫn.

    Cách 4 : Gặp một số từ phức trong đó có một tiếng nào đó không rõ nghĩa , nếu thấy xuất hiện trong một số tù phức có tiếng gốc khác nhau thì thường từ phức đó là từ ghép nghĩa.

    Ví dụ : thành tố rỡ trong các từ: rạng rỡ, mừng rỡ, rực rỡ. ……

    Đinh Thị Thu Tình @ 20:22 22/11/2017

    Số lượt xem: 3503

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Từ Láy Là Gì? Từ Ghép Là Gì? Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép
  • Cách Nhận Biết Từ Đơn
  • Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép Có Dạng Láy
  • Từ Láy Là Gì? Cách Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép
  • Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Nhận Biết Từ Đơn, Từ Ghép, Từ Láy
  • Cách Nhận Biết Từ Đơn, Từ Láy, Từ Ghép Cho Bé

    --- Bài mới hơn ---

  • Bật Mí Sự Khác Biệt Giữa Usb 2.0 Và Usb 3.0
  • Sự Khác Biệt Giữa Usb 2.0 Vs Usb 3.0 2022
  • Sự Khác Biệt Giữa Usb 2.0 Và Usb 3.0 Là Gì
  • Làm Thế Nào Bạn Có Thể Biết Sự Khác Biệt Giữa Cổng Usb 2.0 Và Usb 3.0?
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Usb 2.0 Và 3.0
  • Cách nhận biết từ đơn, từ láy, từ ghép

    1.TÌM HIỂU Ý NGHĨA PHÂN LOẠI THEO CẤU TẠO Ở MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU.

    2. HÌNH THÀNH KHÁI NIỆM TỪ, TỪ ĐƠN, TỪ GHÉP, TỪ LÁY.

    Quy luật của nhận thức là đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi trở về thực tiễn.Việc hình thành khái niệm “từ” cho học sinh Tiểu học không nằm ngoài quy luật ấy.Mặt khác ta tiến hành đổi mới phương pháp nên có thể tự lựa chọn nội dung giảng dạy không cần câu lệ vào sách giáo khoa, giúp các em độc lập suy nghĩ và hiểu bài sâu sắc hơn.

    a, Trước tiên cho học sinh phân biệt “từ đơn, từ phức”:

    * Dạy về từ đơn, từ ghép, từ láy, ở lớp 4, tôi hình thành khái niệm như sau:

    Bước 1: Giáo viên đưa ngữ liệu sách giáo khoa để học sinh phân tích:

    Cho câu sau đây có 14 từ, mỗi từ được phân cách bằng dấu gạch chéo.

    “Nhờ/ bạn/ giúp đỡ/ lại/ có/ chí/ học hành/ nhiều/ năm/ liền/ Hanh/ là/ học sinh/ tiên tiến.”

    Yêu cầu học sinh chia các từ trên thành 2 loại:

    – Từ chỉ gồm 1 tiếng ( từ đơn)

    – Từ chỉ gồm 2 tiếng (từ phức)

    Vậy câu trên các từ gồm 1 tiếng ( từ đơn ) là: nhờ, bạn, lại, có, chí, nhiều, năm, liền, Hanh, là.

    Các từ gồm nhiều tiếng (từ phức) là: giúp đỡ, học hành, học sinh, tiên tiến.

    Bước 2: Hình thành khái niệm từ đơn, từ phức.

    – Yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi:

    1, Tiếng dùng để làm gì?

    Tiếng dùng để cấu tạo từ:

    2, Từ dùng để làm gì?

    Từ dùng để:

    + Biểu thị sự vật, hoạt động, đặc điểm… (tức là biểu thị ý nghĩa)

    + Cấu tạo câu.

    b, Sau khi học sinh phân biệt được từ đơn, từ phức thì tôi giúp học sinh phân biệt từ láy, từ ghép. Qua bài dạy “từ láy và từ ghép” ở lớp 4.

    *Tôi giúp hs hình thành khái niệm từ ghép, từ láy như sau :

    Bước 1: Cho học sinh phân tích ngữ liệu đi đến phân biệt trong các từ phức:

    Truyện cổ, thì thầm, ông cha, chầm chậm, cheo leo, lặng im, se sẽ thì các từ: Truyện cổ, ông cha , lặng im là do các tiếng có nghĩa tạo thành được gọi là từ ghép, còn các từ: thì thầm, chầm chậm, cheo leo, se sẽ, do các tiếng có âm đầu (thì thầm ), vần (cheo leo ), cả âm và vần (se sẽ, chầm chậm) được lặp lại thì gọi là từ láy.

    Bước 2: Hình thành khái niệm từ ghép, từ láy

    + Ghép các tiếng có nghĩa lại với nhau là từ ghép .

    + Ghép các tiếng có âm đầu hay vần hoặc cả âm và vần hoặc cả tiếng giống nhau đó là từ láy.

    c, Sau khi học song 2 bài ” từ đơn và từ phức”, từ ghép, từ láy, tôi khái quát và giúp học sinh hình thành khái niệm từ đơn, từ ghép, từ láy như sau:

    + Từ đơn là từ do 1 tiếng có nghĩa tạo thành.

    + Từ ghép là do các tiếng ghép lại thành một nghĩa chung.

    + Từ láy là do các tiếng láy lại tạo thành.

    d , So sánh khái niệm từ ghép và từ láy.

    – Các tiếng trong từ ghép có quan hệ về nghĩa:

    VD- Học tập, gia đình, xe đạp ….

    – Các tiếng trong từ láy có quan hệ về âm:

    VD – chăm chỉ, loắt choắt, xinh xinh.

    Bên cạnh các bài tập học sinh dễ dàng nhận biết “từ đơn, từ ghép, từ láy ” trên, tôi nâng dần mức độ cao hơn ở các dạng bài: Tìm từ đơn, từ ghép, từ láy trong đoạn văn, đoạn thơ xác định tổ hợp là 2 từ đơn hay 1 từ ghép.

    Qua 2 ví dụ trên:

    Ví dụ 1: Học sinh còn khó khăn trong việc xác định ” cánh hoa mua”; ” cổng trại”, ” tiếng nghé” là từ ghép hay tổ hợp những từ đơn.

    Ví dụ 2: Học sinh khó khăn trong việc xác định “rán bánh”, ” kéo xe” là từ ghép hay tổ hợp 2 từ đơn.

    Để khắc phục những khó khăn trong việc xác định, phân biệt từ đơn, từ ghép hay phân biệt từ ghép với từ láy tôi đã đưa ra một cách phân biệt như sau.

    3. MỘT SỐ CÁCH PHÂN BIỆT TỪ ĐƠN, TỪ GHÉP.

    b3.1 Chêm xen

    Ví dụ: Tổ hợp từ “Anh em” trong câu”

    “Anh em đi vắng rồi” là tổ hợp 2 từ đơn vì:

    Ta có thể nói “Anh của em đi vắng rồi”

    Tổ hợp “Anh em” trong câu:

    “Anh em như thể chân tay” là 1 từ ghép vì kết hợp giữa các tiếng rất chặt chẽ không thể thêm tiếng vào giữa chúng.

    Sau đó tôi đưa ra một số dạng bài tập tiêu biểu nhằm củng cố cách chêm xen để xác định tổ hợp từ là từ ghép hay là 2 từ đơn như sau:

    *Xác định phần gạch chân trong các câu sau đây là 1 từ ghép hay là 2 từ đơn:

    Cánh én dài hơn cánh chim sẻ . ( 2 từ đơn )

    Mùa xuân những cánh én lại bay về . ( 1 từ ghép)

    Chị ấy thích ăn cánh gà . ( 2 từ đơn )

    Chị ấy đứng lấp ló sau cánh gà . ( 1 từ ghép )

    Bánh dẻo lắm bà ạ . ( 2 từ đơn )

    Em chỉ thích ăn bánh dẻo, không thích ăn bánh nướng . ( 1 từ ghép)

    b3.2, Lược bỏ bớt yếu tố

    Vì tính hoàn chỉnh, chặt chẽ về cấu tạo, về nghĩa của từ mà nhiều khi ta có thể sử dụng một yếu tố thay cho cả một từ đó hay là cách lược bỏ một yếu tố của tổ hợp nếu nghĩa của tổ hợp không thay đổi thì đó là từ ghép.

    Ví dụ: Nói về việc mua hoa ta nói: ” mua cúc ” thì được hiểu rằng mua hoa cúc. Vậy “cúc” ở đây có nghĩa là “hoa cúc” nên “hoa cúc” là một từ ghép.

    Ngược lại nếu ta nói “mua ngô” thì “ngô” được mang nghĩa là “bắp ngô” chứ không phải là “lá ngô” hay “hoa ngô” nên “bắp ngô” là một từ ghép, còn “hoa ngô” hay “lá ngô” là những tổ hợp 2 từ đơn. Mặt khác nếu trong một tổ hợp từ, một yếu tố của từ mở nghĩa cho các tiếng có kết cấu chặt chẽ, không nằm trong thể đối lập của tổ hợp nào khác thì tổ hợp từ đó là từ ghép.

    Ví dụ: “xòe ra”; “quắt lại” là từ ghép vì “ra” và “lại” đã mở nghĩa nên

    “xòe ra” nghĩa là “xòe”, “quắt lại” nghĩa là “quắt” và không có sự tồn tại của thể

    đối lập.

    Ví dụ: “xòe vào”,…

    b3.3, Loại trừ – suy xét

    Với học sinh Tiểu học, ” loại suy ” cũng là một thủ thuật có hiệu quả để xác định cương vị từ ” loại suy” là cách ta đưa ra mẫu tiêu biểu là tổ hợp từ đơn, (hay 1từ ghép).

    Ví dụ: Tổ hợp “cái bàn” là 2 từ đơn suy ra “cái bút”, “quyển sách”, ” con gà”,… cũng là tổ hợp 2 từ đơn.

    Tổ hợp mẫu “hoa hồng” là 1 từ ghép, suy ra “hoa cúc”, “hoa đào”…cũng là từ ghép.

    Tuy nhiên khi sử dụng “loại suy” cần chú ý nhận dạng cho đúng mẫu và phân biệt các trường hợp nhìn qua về hình thức bề ngoài tưởng như giống nhau nhưng thực chất mối quan hệ về nghĩa lại khác nhau.

    Ví dụ: “xòe ra” là 1 từ ghép nhưng “đi ra” lại là 2 từ đơn ( đã trình bày ở phần tỉnh lược ).

    Sau khi học sinh hiểu được phương pháp ” loại suy”, tôi đưa ra các bài tập nhằm rèn kỹ năng sử dụng phương pháp này để xác định ranh giới từ.

    Ví dụ: Dùng gạch dọc để tách đoạn văn sau thành các từ:

    “Trời nắng chang chang, tiếng tu hú gần xa ran ran. Hoa ngô xơ xác như cỏ may, lá ngô quắt lại rủ xuống. Những bắp ngô đã mập và chắc chỉ chờ tay người đến bẻ mang về .”

    Hoa ngô, lá ngô, mang về có kết hợp lỏng lẻo nên chúng là những tổ hợp từ đơn, còn bắp ngô có kết cấu chặt nên là 1 từ ghép.

    Đáp án: Trời / nắng/ chang chang / tiếng / tu hú / gần xa / ran ran /. Hoa / ngô/ xơ xác / như / cỏ may /. Lá / ngô / quắt lại / rủ xuống /. Những / bắp ngô / đã / mập / và / chắc / chỉ / còn / chờ / tay người / đến / bẻ / mang / về/.

    4. CÁCH PHÂN BIỆT TỪ GHÉP, TỪ LÁY.

    Theo định nghĩa từ ghép, từ láy “sách Tiếng Việt 4”

    – Từ ghép là do các tiếng ghép tạo thành một nghĩa chung.

    – Từ láy là từ gồm các tiếng láy lại nhau ( âm đầu, vần), cả âm và vần, tiếng.

    Như vậy dựa vào định nghĩa học sinh sẽ xếp được các từ mà:

    Để củng cố cho học sinh phần này tôi cho học sinh làm bài tập sau:

    Ví dụ: Xếp các từ sau đây thành 2 nhóm: từ ghép, từ láy:

    Mập mạp, lom khom, tươi tốt, ầm ĩ, học tập, học hỏi, cồng kềnh.

    – Học sinh đã xác định đúng như sau:

    + Từ ghép: tươi tốt, học hỏi, học tập.

    + Từ láy: mập mạp, lom khom, ầm ĩ, cồng kềnh

    – Trong thực tế học sinh còn gặp phải 1 số từ ghép Hán – Việt có bộ phận âm thanh ngẫu nhiên giống từ láy. Gặp những trường hợp này giáo viên nên giải nghĩa và giảng cho các em hiểu đó là những từ ghép Hán – Việt ( các em sẽ được tìm hiểu k ỹ ở bậc THCS )

    Ví dụ: Bình minh, hoan hỉ, căn cơ, ban bố,…

    Khi học sinh nắm được các cách phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy ngoài việc ra các bài tập để các em luyện tập kĩ năng sử dụng để tách từ, tôi đưa ra một số dạng bài tập khác giúp các em nhận diện, phân loại, phát triển vốn từ.

    5, CÁC DẠNG NHẬN DIỆN, PHÂN LOẠI, PHÁT TRIỂN TỪ ĐƠN, TỪ GHÉP, TỪ LÁY.

    * Dạng 1: Tìm từ theo kiểu cấu tạo.

    Ví dụ: Tìm 5 từ đơn, 5 từ ghép, 5 từ láy.

    * Dạng 2: Cho sẵn các từ rồi yêu cầu xếp loại.

    Ví dụ: Hãy xếp các từ: thật thà, bạn bè, học hành, chăm chỉ, đi đứng, khó khăn, tươi tốt vào 2 nhóm:

    Từ ghép:

    Từ láy:

    * Dạng 3: Cho sẵn 1 đoạn, 1 câu, yêu cầu học sinh tìm 1 hay 1 số kiểu từ theo cấu tạo có trong đoạn, trong câu đó.

    Ví dụ: Tìm các từ đơn, từ ghép có trong các câu sau:

    Mùa xuân mong ước đã đến. Đầu tiên từ trong vườn mùi hoa hồng, hoa huệ sực nức bốc lên.

    * Dạng 4: Cho sẵn các yếu tố cấu tạo từ, yêu cầu học sinh kết hợp chúng theo từng cặp để tạo thành 1 kiểu từ theo cấu tạo nào đó.

    Ví dụ: Ghép các tiếng sau thành những từ ghép:

    Ăn, mặc, ở, xe, nổ, máy, điện, dệt, nói.

    Đầu bài cho sẵn 1 yếu tố cấu tạo từ (1 tiếng) yêu cầu học sinh tìm từ có tiếng gốc đó theo những kiểu cấu tạo khác nhau.

    Ví dụ: Điền tiếng thích hợp vào chỗ chấm (…) để có:

    Các từ ghép Các từ láy

    Mềm… – Mềm…

    Xanh… – Xanh…

    Khỏe… – Khỏe…

    Lạnh… – Lạnh…

    Vui… – Vui…

    Nhỏ… – Nhỏ…

    Ví dụ: Tìm 5 từ ghép hoặc từ láy nói về đức tính của 1 học sinh giỏi. Viết đoạn văn về bạn học sinh giỏi đó.

    * Dạng 7: Tìm từ theo cấu tạo giải nghĩa từ.

    Ví dụ: Tìm 5 từ ghép chỉ sắc độ trắng khác nhau. Giải thích ý nghĩa của mỗi từ.

    Mức độ khó của bài tập không phụ thuộc vào các dạng, kiểu bài tập mà phụ thuộc vào chính những ngữ liệu đem ra xem xét. Tùy từng đối tượng học sinh mà ta đưa ra những ngữ liệu phù hợp. Với học sinh trung bình chỉ cần đưa ra những dạng đơn giản, cơ bản. Học sinh giỏi ta có thể gài một số trường hợp dễ nhầm lẫn. Với những trường hợp có nhiều đáp số khác nhau cần hướng dẫn học sinh tìm ra đáp số của để bài và phải biết lý giải vì sao mình lại đi đến kết quả ấy.

    Ví dụ ở dạng 2: Học sinh băn khoăn khi xếp từ bạn bè là từ ghép hay từ láy.

    Ở đây có 2 quan điểm; nếu xét ” bè” có nghĩa như trong “bè phái”, thì ” bạn bè” là từ láy. Như vậy trong quá trình hình thành khái niệm “từ đơn, từ ghép, từ láy” cho học sinh tôi đã kết hợp các phương pháp giảng dạy để phát huy tính năng động, sáng tạo, chủ động tìm ra kiến thức, đưa ra những ví dụ phân tích để rút ra phương pháp phân biệt: ” từ đơn, từ ghép, từ láy” sau đó ra các bài tập tổng hợp để các em luyện tập phương pháp đã làm, rèn kĩ năng, kĩ xảo nhận diện từ.

    Hi vọng tài liệu sẽ giúp ích cho các bạn trong việc học tập và dạy con cái của mình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Dùng Somebody, Someone, Anybody, Anyone…
  • Sự Khác Biệt Giữa Siêu Văn Bản Và Văn Bản Truyền Thống. Tài Liệu Siêu Văn Bản Khác Với Tài Liệu Thông Thường Như Thế Nào
  • Sự Khác Biệt Giữa Siêu Văn Bản Và Siêu Liên Kết
  • Sự Khác Biệt Giữa Văn Bản Cao Siêu Và Nguyên Tử Của Github
  • Sổ Đỏ Và Sổ Hồng Khác Nhau Thế Nào?
  • Cách Phân Biệt Từ Ghép, Từ Láy Dễ Lẫn Lộn

    --- Bài mới hơn ---

  • Review Chi Tiết Niacinamide Serum The Ordinary 10% + Zinc 1%
  • Phân Biệt Tài Sản Và Nguồn Vốn Của Doanh Nghiệp
  • Cách Phân Biệt Tài Sản Và Nguồn Vốn Dễ Hiểu
  • Phân Biệt Biên Dịch Và Thông Dịch?
  • 6 Cách Phân Biệt Tiền Giả
  • Một số cách phân biệt từ ghép từ láy

    Phân biệt từ ghép và từ láy vốn rất phức tạp. Bởi vậy Tiếng Việt có sự chuyển hoá từ từ ghép sang từ láy âm. Lại không ít trường hợp phân tích rạch ròi giữa là ghép hay láy đành xếp chúng vào đơn vị trung gian. Tuy nhiên cũng có một số cách nhận diện, phân biệt từ láy, từ ghép . Bạn có thể phân biệt dễ dàng theo các cách sau đây.

    Cách phân biệt từ ghép, từ láy dễ lẫn lộn

    Cấu tạo của từ phức lớp 4

    Có 2 cách chính để tạo từ phức:

    – Cách 1: ghép những tiếng có nghĩa lại với nhau. Đó là các từ ghép .

    – Cách 2: Phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần (hoặc cả âm đầu và vần) giống nhau. Đó là các từ láy.

    1. Từ ghép: Là từ do 2 hoặc nhiều tiếng có nghĩa ghép lại tạo thành nghĩa chung.

    T.G được chia thành 2 kiểu:

    – T.G có nghĩa tổng hợp (T.G hợp nghĩa, T.G đẳng lập, T.G song song): Là từ ghép mà nghĩa của nó biểu thị những loại rộng hơn, lớn hơn, khái quát hơn so với nghĩa các tiếng trong từ.

    -T.G có nghĩa phân loại (T.G phân loại, T.G chính phụ): Thường gồm có 2 tiếng, trong đó có 1 tiếng chỉ loại lớn và 1 tiếng có tác dụng chia loại lớn đó thành loại nhỏ hơn.

    – Lưu ý:

    + Các tiếng trong từ ghép tổng hợp thường cùng thuộc một loại nghĩa (cùng danh từ, cùng động từ,…)

    + Các từ như: chèo bẻo, bù nhìn, bồ kết, ễnh ương, mồ hôi, bồ hóng,…, axit, càphê , ôtô, môtô, rađio,…có thể cho là từ ghép (theo định nghĩa) hoặc từ đơn (tuy có 2 tiếng trở lên nhưng các tiếng đó phải gộp lại mới có nghĩa , còn từng tiếng tách rời thì không có nghĩa. Những trường hợp này gọi là từ đơn đa âm).

    2. Từ láy (T.L): Là từ gồm 2 hay nhiều tiếng láy nhau. Các tiếng láy có thể có 1 phần hay toàn bộ âm thanh được lặp lại.

    Căn cứ vào bộ phận được lặp lại, người ta chia từ láy thành 4 kiểu: Láy tiếng, láy vần, láy âm, láy cả âm và vần . Căn cứ vào số lượng tiếng được lặp lại, người ta chia thành 3 dạng từ láy: láy đôi, láy ba,láy tư,…)

    + Từ tượng thanh: Là từ láy mô phỏng, gợi tả âm thanh trong thực tế: Mô phỏng tiếng người, tiếng của loài vật, tiếng động,…

    V.D: rì rào, thì thầm, ào ào,…

    + Từ tượng hình: Là từ láy gợi tả hình ảnh, hình dáng của người, vật; gợi tả màu sắc, mùi vị.

    V.D: Gợi dáng dấp: lênh khênh, lè tè, tập tễnh, …

    Gợi tả màu sắc: chon chót, sặc sỡ, lấp lánh,…

    Gợi tả mùi vị: thoang thoảng, nồng nàn, ngào ngạt,…

    Lưu ý:

    + Một số từ vừa có nghĩa tượng hình, vừa có nghĩa tượng thanh, tuỳ vào văn cảnh mà ta xếp chúng vào nhóm nào.

    V.D: làm ào ào (ào ào là từ tượng hình), thổi ào ào (ào ào là từ tượng thanh)

    + Trong thực tế, vẫn tồn tại những từ tượng thanh và tượng hình không phải là từ láy (ở phạm vi tiểu học không đề cập tới các từ này).

    V.D: bốp (tiếng tát) , bộp (tiếng mưa rơi), hoắm (chỉ độ sâu), vút (chỉ độ cao)….

    V.D: làm lụng , máy móc, chim chóc, …(nghĩa tổng hợp) ; nhỏ nhen, nhỏ nhắn, xấu xa, xấu xí ,…(nghĩa phân loại). Tuy nhiên , ở tiểu học thường đề cập đến mấy dạng cơ bản sau:

    + Diễn tả sự giảm nhẹ của tính chất (so với nghĩa của từ hay tiếng gốc).

    + Diễn tả sự tăng lên, mạnh lên của tính chất:

    + Diễn tả sự lặp đi lặp lại các động tác, khiến cho từ láy có giá trị gợi hình cụ thể

    V.D: gật gật , rung rung, cười cười nói nói, …

    +Diễn tả sự đứt đoạn, không liên tục nhưng tuần hoàn.

    V.D: lấp ló, lập loè, bập bùng, nhấp nhô, phập phồng,…

    + Diễn tả tính chất đạt đến mức độ chuẩn mực, không chê được.

    V.D: nhỏ nhắn, xinh xắn, tươi tắn, ngay ngắn, vuông vắn, tròn trặn,…

    Cách phân biệt các từ ghép và từ láy dễ lẫn lộn Tiếng Việt 4

    1. Nếu các tiếng trong từ có cả quan hệ về nghĩa và quan hệ về âm (âm thanh) thì ta xếp vào nhóm từ ghép.

    Ví dụ: thúng mủng, tươi tốt, đi đứng, mặt mũi, phẳng lặng, mơ mộng, buôn bán nhỏ nhẹ, hốt hoảng,…

    2. Nếu các từ chỉ còn 1 tiếng có nghĩa, còn 1 tiếng đã mất nghĩa nhưng 2 tiếng không có quan hệ về âm thì ta xếp vào nhóm từ ghép.

    Ví dụ: Xe cộ, tre pheo, gà qué, chợ búa,…

    3. Nếu các từ chỉ còn 1 tiếng có nghĩa, còn 1 tiếng đã mất nghĩa nhưng 2 tiếng có quan hệ về âm thì ta xếp vào nhóm từ láy.

    Ví dụ: chim chóc, đất đai, tuổi tác, thịt thà, cây cối, máy móc,…

    – Lưu ý: Những từ này nếu nhìn nhận dưới góc độ lịch đại (tách riêng các hiện tượng ngôn ngữ, xét trong sự diễn biến, phát triển theo thời gian làm đối tượng nghiên cứu) và nhấn mạnh những đặc trưng ngữ nghĩa của chúng thì có thể coi đây là những từ ghép (T.G hợp nghĩa). Nhưng xét dưới góc độ đồng đại (tách ra một trang thái, một giai đoạn trong sự phát triển của ngôn ngữ làm đối tượng nghiên cứu) và nhấn mạnh vào mối quan hệ ngữ âm giữa 2 tiếng, thì có thể coi đây là những từ láy có nghĩa khái quát (khi xếp cần có sự lí giải). Tuy nhiên, ở tiểu học, nên xếp vào từ láy để dễ phân biệt. Song nếu H.S xếp vào từ ghép cũng chấp nhận.

    4. Các từ không xác định được hình vị gốc (tiếng gốc) nhưng có quan hệ về âm thì đều xếp vào lớp từ láy.

    Ví dụ: nhí nhảnh, bâng khuâng, dí dỏm, chôm chôm, thằn lằn, chích choè,…

    5. Các từ có một tiếng có nghĩa và 1 tiếng không có nghĩa nhưng các tiếng trong từ được biểu hiện trên chữ viết không có phụ âm đầu thì cũng xếp vào nhóm từ láy (láy vắng khuyết phụ âm đầu).

    Ví dụ: ồn ào, ầm ĩ, ấm áp, im ắng, ao ước ,yếu ớt,…

    6. Các từ có 1 tiếng có nghĩa và 1 tiếng không có nghĩa có phụ âm đầu được ghi bằng những con chữ khác nhau nhưng có cùng cách đọc (c/k/q; ng/ngh; g/gh ) cũng được xếp vào nhóm từ láy.

    Ví dụ: cuống quýt, cũ kĩ, ngốc nghếch, gồ ghề,…

    – Lưu ý: trong thực tế, có nhiều từ ghép (gốc Hán) có hình thức ngữ âm giống từ láy, song thực tế các tiếng đều có nghĩa nhưng HS rất khó phân biệt, ta nên liệt kê ra một số từ cho HS ghi nhớ.

    Ví dụ: bình minh, cần mẫn, tham lam, bảo bối, ban bố, căn cơ, hoan hỉ, chuyên chính, chính chuyên, chân chất, chân chính, hảo hạng, khắc khổ, thành thực,….

    7. Ngoài ra, những từ không có cả quan hệ về âm và về nghĩa (từ thuần Việt) như: tắc kè, bồ hóng, bồ kết, bù nhìn, ễnh ương, mồ hôi,… hay các từ vay mượn như: mì chính, cà phê, xà phòng, mít tinh,… chúng ta không nên đưa vào chương trình tiểu học (H.S có hỏi thì giải thích đây là loại từ ghép đặc biệt, các em sẽ được học sau).

    8. Từ ghép Tổng hợp và từ ghép Phân loại

    Khi bạn gặp một từ ghép nào chỉ người (hoặc vật) nói chung, thì đó là từ ghép có nghĩa tổng hợp.

    Ví dụ:

    – Xa lạ (xa ghép với lạ tạo ra nghĩa tổng hợp: xa xôi và không quen biết.

    – Sách vở (sách ghép với vở tạo ra nghĩa tổng hợp: sách và vở)

    – Ăn uống (ăn ghép với uống tạo ra nghĩa tổng hợp: nói về việc ăn và uống)

    Khi gặp từ ghép nào không chỉ chung, mà lại có nghĩa như phân loại người (hay vật) thì đó là từ ghép phân loại.

    Ví dụ:

    – Hạt thóc (hạt ghép với thóc tạo ra nghĩa phân loại so với: hạt ngô, hạt đỗ, hạt kê …)

    – Bà nội (bà ghép với nội tạo ra nghĩa phân loại so với: bà ngoại, bà dì ….)

    – Bài học (bài ghép với học tạo ra nghĩa phân loại so với: bài làm, bài tập …)

    Bài tập thực hành Phân biệt từ ghép Từ láy

    Bài 1: Điền các tiếng thích hợp vào chỗ trống để có:

    a) Các từ ghép b) Các từ láy:

    – mềm ….. – mềm…..

    – xinh….. – xinh…..

    – khoẻ….. – khoẻ…….

    – mong…. – mong…..

    – nhớ….. – nhớ…..

    – buồn….. – buồn…..

    Bài 2: Điền các tiếng thích hợp vào chỗ trống để có:

    a) T.G.T.H b) T.G.P.L c) Từ láy

    – nhỏ….. – nhỏ….. – nhỏ…..

    – lạnh….. – lạnh….. – lạnh…..

    – vui….. – vui….. – vui…..

    – xanh… – xanh….. – xanh…..

    Bài 3: Hãy xếp các từ sau vào 3 nhóm: T.G.P.L; T.G.T.H; Từ láy:

    Thật thà, bạn bè, bạn đường, chăm chỉ, gắn bó, ngoan ngoãn, giúp đỡ, bạn học, khó khăn, học hỏi, thành thật, bao bọc, quanh co, nhỏ nhẹ.

    Bạn học, bạn hữu, bạn đường, bạn đời, anh em, anh cả, em út, chị dâu, anh rể, anh chị, ruột thịt, hoà thuận, thương yêu.

    Bài 5:

    Cho những kết hợp sau:

    Vui mừng, nụ hoa, đi đứng, cong queo, vui lòng, san sẻ, giúp việc, chợ búa, ồn ào, uống nước, xe đạp, thằn lằn, tia lửa, nước uống, học hành, ăn ở, tươi cười.

    Hãy xếp các kết hợp trên vào từng nhóm: Từ ghép có nghĩa tổng hợp, từ ghép có nghĩa phân loại, từ láy, kết hợp 2 từ đơn.

    Bài 6:

    “Tổ quốc” là 1 từ ghép gốc Hán (từ Hán Việt). Em hãy:

    – Tìm 4 từ ghép trong đó có tiếng “tổ”.

    – Tìm 4 từ ghép trong đó có tiếng “quốc ”.

    Bài 7:

    Tìm 5 từ láy để miêu tả bước đi, dáng đứng của người. Đặt câu với mỗi từ tìm được.

    Bài 8:

    Em hãy tìm:

    – 3 thành ngữ nói về việc học tập.

    – 3 thành ngữ (tục ngữ) nói về tình cảm gia đình.

    Bài 9:

    Tìm các từ tượng hình, tượng thanh thích hợp điền vào chỗ trống:

    – hang sâu ….

    – cười…

    – rộng….

    – vực sâu….

    – nói…

    – dài….

    – cánh đồng rộng….

    – gáy…

    – cao….

    – con đường rộng…

    – thổi….

    – thấp…

    Bài 10:

    Tìm 4 từ ghép có tiếng ” thơm” đứng trước, chỉ mức độ thơm khác nhau của hoa, Phân biệt nghĩa của các từ này.

    Bài 11:

    Giải nghĩa các thành ngữ , tục ngữ sau:

    – Ở hiền gặp lành.

    – Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.

    – Ăn vóc học hay.

    – Học thày không tày học bạn.

    – Học một biết mười.

    – Máu chảy ruột mềm.

    Bài 12:

    Điền những từ ngữ thích hợp vào chỗ trống để tạo thành các thành ngữ:

    – Chậm như……

    – Ăn như ….

    – Nhanh như…..

    – Nói như ….

    – Nặng như…..

    – Khoẻ như …

    – Cao như……

    – Yếu như …

    – Dài như…..

    – Ngọt như …

    – Rộng như….

    Vững như …

    Bài 13: Em hãy ghép 5 tiếng sau thành 9 từ ghép thích hợp: thích, quý, yêu, thương, mến.

    Bài 14: Xác định từ láy trong các dòng thơ sau và cho biết chúng thuộc vào loại từ láy nào:

    Gió nâng tiếng hát chói chang

    Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời

    Tay nhè nhẹ chút, người ơi

    Trông đôi hạt rụng hạt rơi xót lòng.

    Mảnh sân trăng lúa chất đầy

    Vàng tuôn trong tiếng máy quay xập xình

    Nắng già hạt gạo thơm ngon

    Bưng lưng cơm trắng nắng còn thơm tho.

    Bài 15: Tìm từ đơn, từ láy, từ ghép trong các câu:

    a. Mưa mùa xuân xôn xao, phơi phới… Những hạt mưa bé nhỏ, mềm mại, rơi mà như nhảy nhót.

    b. Chú chuồn chuồn nước tung cánh bay vọt lên. Cái bóng chú nhỏ xíu lướt nhanh trên mặt hồ. Mặt hồ trải rộng mênh mông và lặng sóng.

    d. Hằng năm, vào mùa xuân, tiết trời ấm áp, đồng bào Ê đê, Mơ-nông lại tưng bừng mở hội đua voi.

    e. Suối chảy róc rách.

    Bài 16: Tìm từ láy trong đoạn văn sau:

    Bản làng đã thức giấc. Đó đây, ánh lửa hồng bập bùng trên các bếp. Ngoài bờ ruộng đã có bước chân người đi, tiếng nói chuyện rì rầm, tiếng gọi nhau í ới.

    Tảng sáng, vòm trời cao xanh mênh mông. Gió từ trên đỉnh núi tràn xuống thung lũng mát rượi.

    Gợi ý đáp án

    Bài 3:

    – T.G.T.H: gắn bó, giúp đỡ, học hỏi, thành thật, bao bọc, nhỏ nhẹ.

    – T.G.P.L: bạn đường, bạn học.

    -Từ láy: thật thà, chăm chỉ, ngoan ngoãn, khó khăn, quanh co.

    – Lưu ý: từ bạn bè cũng có thể xếp vào nhóm từ ghép tổng hợp nhưng cần lí giải nghĩa tiếng bè trong bè đảng, bè phái.

    Bài 5:

    – T.G.T.H: Vui mừng, đi đứng , san sẻ, chợ búa, học hành, ăn ở, tươi cười.

    – T.G.P.L: Vui lòng, giúp việc, xe đạp, tia lửa, nước uống.

    – Từ láy: cong queo, ồn ào, thằn lằn.

    – Kết hợp 2 từ đơn: nụ hoa, uống nước.

    Bài 11:

    – Ở hiền gặp lành: Ở hiền thì sẽ được đền đáp bằng những điều tốt lành

    – Tốt gỗ hơn tốt nước sơn: Phẩm chất đạo đức tốt đẹp bên trong đáng quý hơn vẻ đẹp hìn thức bên ngoài.

    – Ăn vóc học hay: Phải ăn mới có sức vóc, phải học mới có hiểu biết.

    – Học thày không tày học bạn: Ngoài việc học ở thầy cô, việc học hỏi ở bạn bè cũng rất cần thiết và hữu ích.

    – Học một biết mười: Chỉ cách học của những người thông minh, không những có khả năng học tập, tiếp thu đầy đủ mà còn có thể tự mình phát triển, mở rộng được những điều đã học.

    – Máu chảy ruột mềm: Chỉ tình máu mủ, ruột thịt thương xót nhau khi gặp hoạn nạn.

    Cách phân biệt các từ loại, giúp học sinh nắm vững kỹ năng nhận dạng và phân biệt từ láy, từ phức. Ngoài ra, đưa ra các bài tập cụ thể giúp học sinh theo dõi, kiểm tra lại kiến thức đã học, ôn tập củng cố các dạng bài tập Luyện từ và câu lớp 4, 5 chuẩn bị cho các bài thi, bài kiểm tra trong năm học. Tham khảo các dạng bài tập khác

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Thành Ngữ, Tục Ngữ
  • Phân Biệt Cách Dùng Some Và Any Trong Tiếng Anh
  • Phân Biệt Son Mac Chính Hãng
  • 10 Cách Phân Biệt Son Mac Thật Và Giả Đơn Giản Nhất
  • Phân Biệt Sổ Đỏ Và Sổ Hồng
  • Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Nhận Biết Từ Đơn, Từ Ghép, Từ Láy

    --- Bài mới hơn ---

  • Từ Láy Là Gì? Cách Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép
  • Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép Có Dạng Láy
  • Cách Nhận Biết Từ Đơn
  • Định Nghĩa Từ Láy Là Gì? Từ Ghép Là Gì? Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép
  • Một Số Cách Phân Biệt Từ Ghép, Từ Láy
  • ” Ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư duy. Càng đọc càng nâng cao ngôn ngữ, càng phát triển trí tuệ. Sự giáo dục đầy đủ tiếng mẹ đẻ từ tuổi ấu thơ đến tuổi trưởng thành, quyết định sự hình thành và phát triển văn hóa, văn minh dân tộc của mỗi người”. (Ngữ pháp, Tiếng Việt – Tiến sĩ ngôn ngữ học Nguyễn Hữu Quỳnh).

    Tiếng Việt là ngôn ngữ giao tiếp trong toàn xã hội Việt Nam. Để hoàn thành một vấn đề thông tin nào đó trong tất cả các phương diện: đối thoại, thư báo,…thì khi nói, viết câu văn phải gẫy gọn chính xác, đủ ý. Đó chính là tiêu chuẩn của phép văn minh lịch sự. Việc nói đúng, viết đúng, nói hay, viết hay, Tiếng Việt là nhu cầu cần thiết của học sinh. Bởi vậy Tiếng Việt là một trong các môn học chiếm vị trí quan trọng trong chương trình giáo dục toàn diện cho học sinh Tiểu học. Thông qua môn Tiếng Việt, bằng các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết sẽ cung cấp cho các em một kho tàng ngôn ngữ phong phú, nuôi dưỡng tâm hồn các em, hướng dẫn các em sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác. Phân môn đảm nhiệm chính chức năng trên là phân môn Luyện từ và câu . Ở bậc Tiểu học dạy cho học sinh những từ ngữ thông dụng tối thiểu về thế giới xung quanh như công việc của học sinh ở trường, ở nhà, tình cảm gia đình, vẻ đẹp thiên nhiên đất nước, con người….Những từ ngữ được dạy ở Tiểu học gắn liền với việc giáo dục học sinh tình yêu gia đình, nhà trường, tổ quốc, quê hương…

    Muốn rèn luyện được kỹ năng sử dụng ngôn ngữ thì phải hiểu được từ, từ là đơn vị trung tâm, cơ bản của ngôn ngữ. Từ là một loại vật liệu đặc biệt mà thiếu nó thì không có sự tồn tại của ngôn ngữ. Trong các đơn vị ngôn ngữ, từ là đơn vị đảm nhận nhiều chức năng, là đơn vị hiển nhiên có sẵn, có tính độc lập cao.

    Vai trò của từ trong hệ thống ngôn ngữ quy định tầm quan trọng trong việc dạy từ ngữ ở Tiểu học. Không có một vốn từ đầy đủ thì không thể nắm ngôn ngữ như một công cụ giao tiếp. Vì vậy việc bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng từ ngữ cho học sinh là việc làm vô cùng quan trọng.

    Với cương vị là một giáo viên có nhiệm vụ dẫn dắt các em tìm đến kiến thức mới với tinh thần học tập tự giác, tích cực. Bản thân tôi nhận thấy khi học Luyện từ và câu các em thấy khô, khó, khổ bởi vì phân môn Luyện từ và câu bao gồm nhiều kiến thức khác nhau, giữa các phần không có sự phân biệt rõ ràng nên có sự nhầm lẫn: từ đơn, từ ghép, từ láy, từ tượng thanh, từ tượng hình…Để nói viết thành câu các em phải nắm chắc bản chất, cấu tạo của từ, biết sử dụng từ đúng vị trí. Song thực tế viết văn đòi hỏi các em không chỉ đơn thuần viết câu văn đủ ý mà phải biết vận dụng vốn từ linh hoạt tạo ra các câu văn giàu hình ảnh, gợi tả, gợi cảm…Như vậy để có vốn từ đã khó, việc phân biệt và sử dụng chúng như thế nào lại là cả một vấn đề.

    Trong thực tế giảng dạy, tôi thấy nắm khái niệm từ, phân biệt ranh giới tổ hợp từ, từ ghép, từ láy quả là khó đối với các em. Các em thường nhầm tổ hợp hai từ: từ đơn với từ ghép, từ ghép với từ láy hay những từ ghép Hán Việt có hình thức ngữ âm ngẫu nhiên giống từ láy.

    Ví dụ: chuồn chuồn nước ( từ ghép), các em thường cho đây là tổ hợp từ đơn.

    – Tung cánh ( tổ hợp từ đơn) – các em cho đây là từ ghép.

    – Bình minh ( ghép Hán Việt), các em cho là từ láy.

    Đôi khi gặp các bài tập khác yêu cầu tìm từ loại của từ, mặc dù không nói đến việc phân cắt từ nhưng nếu không vạch ra ranh giới từ chính xác thì các em sẽ làm bài không đầy đủ.

    Ví dụ: Tìm các tính từ trong khổ thơ sau :

    ” Việt Nam đẹp khắp trăm miền

    Bốn mùa một sắc trời riêng đất này .

    Xóm làng, đồng ruộng, rừng cây

    Non cao gió dựng sông đầy nắng chang.

    Sum sê xoài biếc cam vàng

    Dừa nghiêng, cau thẳng, hàng hàng nắng soi.”

    Nếu học sinh không biết phân cắt từ sẽ cho: Trời riêng, non cao, xoài biếc, cam vàng, dừa nghiêng, cau thẳng là từ ghép nên sẽ tìm thiếu các tính từ: riêng, cao, biếc, vàng, nghiêng, thẳng.Có lúc vì cách xác định từ sai mà dẫn đến việc hiểu nghĩa và sử dụng thiếu chính xác.

    Ví dụ: Học sinh đặt câu: Bé Linh để nhà và cửa bừa bộn.

    Các em chưa rõ nhà cửa là từ ghép tổng hợp lại sử dụng chúng như tổ hợp 2 từ đơn. .Khái niệm từ đơn, từ ghép, từ láy được dạy ở phân môn dạy học Luyện từ và câu lớp 4.

    I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

    – Giúp học sinh tháo gỡ một số khó khăn trong việc phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy.

    – Các em hiểu chính xác vốn từ, tích cực hóa vốn từ, tạo nền móng cho các em sử dụng đúng từ trong giao tiếp, trong viết văn và học tốt môn Tiếng Việt.

    – Giáo dục các em yêu quý Tiếng Việt, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.

    – Giúp giáo viên nhận thức rõ vai trò của từ và khả năng phân biệt chúng.

    – Phần kiến thức về từ loại (Từ đơn, từ ghép, từ láy) ở Phân môn LTVC lớp 4

    – Học sinh lớp 4 và giáo viên trường Tiểu học

    I.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

    – Đề tài nghiên cứu thực trạng việc lĩnh hội kiến thức và vận dụng kiến thức vào luyện tập thực hành về từ loại: (Từ đơn, từ ghép, từ láy) ở Phân môn Luyện từ và câu lớp 4 trong chương trình bậc Tiểu học hiện nay. Từ đó đưa ra hệ thống giải pháp tối ưu giúp học sinh phân biệt (Từ đơn, từ ghép, từ láy) nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập

    I.5 Phương pháp nghiên cứu

    Phân môn Luyện từ và câu lớp 4 ở trường Tiểu học chiếm một vị trí vô cùng quan trọng. Góp phần cung cấp cho học sinh một lượng kiến thức sơ giản về cấu tạo của tiếng, cấu tạo của từ. Cung cấp một số kiến thức sơ giản về các từ loại cơ bản của tiếng Việt. Nhận diện, phân tích cấu tạo của tiếng, cấu tạo của từ. Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ ngữ thông qua các dạng bài tập sau:

    – Phân loại từ theo cấu tạo. Luyện tập sử dụng vốn từ

    – Nhận diện từ theo từ loại. Tìm từ và phân loại từ theo từ loại

    – Tìm từ ngữ theo chủ điểm. Hiểu nghĩa của từ. Phân loại từ ngữ

    – Tìm hiểu nghĩa của thành ngữ, tục ngữ

    – Cung cấp các kiến thức sơ giản về cấu tạo, công dụng và cách sử dụng các kiểu câu

    – Nhận diện các kiểu câu. Phân tích cấu tạo câu

    – Đặt câu theo mẫu. Lựa chọn kiểu câu để bảo đảm lịch sự trong giao tiếp

    – Luyện sử dụng câu trong các tình huống khác nhau. Luyện mở rộng câu …

    Như chúng ta đã biết: Muốn học sinh viết được câu văn đúng ngữ pháp, đầy đủ ý nghĩa thì trước hết phải có vốn kiến thức về từ vựng. Phải hiểu được nghĩa của từ, phân loại từ chính xác. Bởi vậy tôi đặc biệt chú trọng nghiên cứu tìm giải pháp tốt nhất để dạy cho học sinh hiểu nghĩa của từ, phân loại từ và có kỹ năng sử dụng vốn từ ngữ trong giao tiếp và viết văn được tốt hơn.

    Đề tài được nghiên cứu trong thời gian tôi trực tiếp giảng dạy ở lớp mà tôi chủ nhiệm nên cũng khá thuận lợi. Đa phần học sinh ngoan và chăm học, hăng say xây dựng bài, sách vở và dụng cụ học tập đầy đủ, phụ huynh học sinh quan tâm chăm lo cho con em mình. Ban giám hiệu nhà trường và đồng nghiệp thường xuyên dự giờ thăm lớp, góp ý kiến xây dựng, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi nghiên cứu đề tài thành công và áp dụng vào giảng dạy đạt hiệu quả.

    Tuy có nhiều thuận lợi song cũng gặp không ít khó khăn, trong lớp có 12 học sinh dân tộc các tỉnh phía bắc theo bố mẹ vào xây dựng kinh tế nên các em nói tiếng Việt chưa rõ, đọc và viết chưa được trôi chảy điều đó đã ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu đề tài.

    I. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra

    1 Tìm hiểu chương trình sách giáo khoa

    Phần cấu tạo từ hay phân biệt từ loại theo cấu tạo được dạy trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4:

    – Tuần 1: cấu tạo của tiếng.

    – Tuần 3: từ đơn, từ phức.

    – Tuần 4: Từ ghép, từ láy.

    Ta thấy chưa có sự thống nhất quan điểm để phân loại một số từ giữa giáo trình Tiếng Việt trường sư phạm với sách giáo khoa Tiểu học.

    Ví dụ: Từ chuồn chuồn, lúc lắc, thằn lằn…theo giáo trình sư phạm xếp đây là từ đơn đa âm, còn sách giáo khoa Tiểu học xếp chúng là từ láy.

    Hoặc từ: tắc kè, bồ hóng, a pa tít,… giáo trình sư phạm gọi là từ đơn đa âm, nhiều tài liệu khác gọi là từ ghép ngẫu kết. Còn sách giáo khoa Tiểu học xếp chúng vào từ ghép. Vì có sự chưa thống nhất ấy khiến ngay bản thân giáo viên cũng hoang mang, không biết dạy như thế nào cho học sinh. Ngay định nghĩa từ ghép và từ láy cũng chưa có sự phân biệt rõ ràng, nếu chỉ dựa vào định nghĩa thì chưa xác định rõ là từ loại nào?

    Qua dự giờ, thăm lớp đàm thoại với giáo viên của trường Tiểu học nơi tôi công tác, tôi nhận thấy giáo viên lên lớp tuân thủ đúng các bước, nhiệt tình giảng dạy, xử lí kiến thức đảm bảo đúng, đủ nội dung của sách giáo khoa. Song đa số giáo viên thường hay ngại việc dạy Luyện từ và câu và không phải mọi giáo viên đều có thể phân cắt từ trong đoạn văn, khổ thơ hay, phân biệt rõ từ đó là từ ghép hay từ láy… một cách chính xác.

    Qua nhiều năm dạy lớp 4 tôi nhận thấy các em không thích học giờ Luyện từ và câu, đặc biệt là những tiết ” lý thuyết từ”. Dựa vào những từ ngữ hàng ngày các em đã có thể phân tích nhận biết về đặc điểm cấu tạo, về ý nghĩa của từ. Tuy nhiên các em thấy quá khó khi tách từ trong câu, các em thấy khó hiểu khi nhiều từ, bản thân nó có thể tách làm hai từ đơn.

    Hoặc một số từ có bộ phận âm thanh, của các tiếng lặp lại sao không xếp vào từ láy ( mà lại là từ ghép như: tươi cười, thúng mủng…)

    Mặt khác học sinh không hề biết đến các từ vắng khuyết các âm đầu như: ọc ạch, ồn ào…Là từ láy hoặc các từ mà các tiếng có âm đầu là một âm nhưng ghi bằng các con chữ khác nhau, là từ láy như: cong queo, kệch cỡm,…

    * Qua thực tế dạy học tôi thấy việc phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy một cách chính xác với học sinh lớp 4 đặc biệt là đối tượng học sinh khá giỏi là một yêu cầu cấp bách. Để giúp học sinh đạt được những yêu cầu này mỗi giáo viên phải làm gì, làm thế nào?. Đi tìm lời giải đáp ấy, bản thân tôi nghiên cứu, tìm tòi, đúc rút được một số kinh nghiệm về việc phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy và áp dụng trong việc giảng dạy học sinh lớp 4, học sinh giỏi và thu được kết quả đáng kể.Chính vì vậy năm học 2011-2012 tôi đã đưa kinh nghiệm bản thân thành những phương pháp cụ thể để vận dụng vào việc giảng dạy cho học sinh lớp 4. Cụ thể tôi thực nghiệm trên lớp 4A2 là lớp tôi chủ nhiệm .

    – Qua khảo sát chất lượng lớp 4A2 đầu năm, lớp mà tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm với sĩ số 33 em trong đó có :

    Nhìn vào kết quả trên tôi thấy số lượng học sinh đạt giỏi còn khiêm tốn và vẫn còn học sinh yếu vì lý do đó nên tôi đã đi sâu tìm hiểu nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp để nâng cao chất lượng dạy phân môn Luyện từ và câu nói chung nhằm nâng cao chất lượng dạy học sinh cách phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy nói riêng .

    – Giúp học sinh tìm hiểu ý nghĩa của từ, biết phân loại từ thao cấu tạo

    – Xác định đúng từ loại (từ đơn, từ ghép, từ láy) trong văn cảnh cụ thể

    – Biết sử dụng từ ngữ phù hợp để viết được câu văn, đoạn văn, bài văn hay

    1. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
    2. TÌM HIỂU Ý NGHĨA PHÂN LOẠI THEO CẤU TẠO Ở MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU.

    -Với nhiệm vụ dạy về ” từ đơn, từ ghép, từ láy” giáo viên cần chú trọng đến phân tích hình thức cấu tạo của từ, cấu trúc của từ: Từ đơn gồm một tiếng có nghĩa. Từ ghép gồm 2 , 3…tiếng; từ láy gồm 2,3…tiếng láy tạo thành.

    – Trong từ ghép ta xem mối quan hệ của chúng: các tiếng có quan hệ đẳng lập hoặc chính phụ. Trong từ láy ta cần quan tâm đến dạng thức láy, kiểu láy, cần làm rõ sự lặp lại của phụ âm đầu, vần, tiếng, thanh điệu.

    -Từ ghép gồm các tiếng ghép lại thành một nghĩa chung. Nghĩa của từ ghép là nghĩa tổng hợp hay phân loại.

    – Từ láy làm nổi bật giá trị biểu trưng gợi tả, gợi cảm, sự tăng nghĩa, giảm nghĩa, thậm chí giá trị biểu trưng của một số khuôn vần tiêu biểu.

    3. HÌNH THÀNH KHÁI NIỆM TỪ, TỪ ĐƠN, TỪ GHÉP, TỪ LÁY.

    Quy luật của nhận thức là đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi trở về thực tiễn.Việc hình thành khái niệm “từ” cho học sinh Tiểu học không nằm ngoài quy luật ấy.Mặt khác ta tiến hành đổi mới phương pháp nên có thể tự lựa chọn nội dung giảng dạy không cần câu lệ vào sách giáo khoa, giúp các em độc lập suy nghĩ và hiểu bài sâu sắc hơn.

    a, Trước tiên cho học sinh phân biệt “từ đơn, từ phức”:

    Cho câu sau đây có 14 từ, mỗi từ được phân cách bằng dấu gạch chéo.

    “Nhờ/ bạn/ giúp đỡ/ lại/ có/ chí/ học hành/ nhiều/ năm/ liền/ Hanh/ là/ học sinh/ tiên tiến.”

    Yêu cầu học sinh chia các từ trên thành 2 loại:

    – Từ chỉ gồm 1 tiếng ( từ đơn)

    – Từ chỉ gồm 2 tiếng (từ phức)

    Vậy câu trên các từ gồm 1 tiếng ( từ đơn ) là: nhờ, bạn, lại, có, chí, nhiều, năm, liền, Hanh, là.

    Các từ gồm nhiều tiếng (từ phức) là: giúp đỡ, học hành, học sinh, tiên tiến.

    – Yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi:

    Tiếng dùng để cấu tạo từ:

    + Có thể dùng 1 tiếng để cấu tạo nên 1 từ. Đó là từ đơn.

    + Cũng có thể phải dùng 2 tiếng trở lên để tạo nên 1 từ. Đó là từ phức.

    + Biểu thị sự vật, hoạt động, đặc điểm… (tức là biểu thị ý nghĩa)

    b, Sau khi học sinh phân biệt được từ đơn, từ phức thì tôi giúp học sinh phân biệt từ láy, từ ghép. Qua bài dạy “từ láy và từ ghép” ở lớp 4.

    Truyện cổ, thì thầm, ông cha, chầm chậm, cheo leo, lặng im, se sẽ thì các từ: Truyện cổ, ông cha , lặng im là do các tiếng có nghĩa tạo thành được gọi là từ ghép, còn các từ: thì thầm, chầm chậm, cheo leo, se sẽ, do các tiếng có âm đầu (thì thầm ), vần (cheo leo ), cả âm và vần (se sẽ, chầm chậm) được lặp lại thì gọi là từ láy.

    + Ghép các tiếng có nghĩa lại với nhau là từ ghép .

    + Ghép các tiếng có âm đầu hay vần hoặc cả âm và vần hoặc cả tiếng giống nhau đó là từ láy.

    c, Sau khi học song 2 bài ” từ đơn và từ phức”, từ ghép, từ láy, tôi khái quát và giúp học sinh hình thành khái niệm từ đơn, từ ghép, từ láy như sau:

    + Từ đơn là từ do 1 tiếng có nghĩa tạo thành.

    + Từ ghép là do các tiếng ghép lại thành một nghĩa chung.

    + Từ láy là do các tiếng láy lại tạo thành.

    d , So sánh khái niệm từ ghép và từ láy.

    – Các tiếng trong từ ghép có quan hệ về nghĩa:

    VD- Học tập, gia đình, xe đạp ….

    – Các tiếng trong từ láy có quan hệ về âm:

    VD – chăm chỉ, loắt choắt, xinh xinh.

    e, Luyện tập: Hệ thống bài tập được nâng dần từ dễ đến khó. Đầu tiên tôi đưa những từ dễ dàng nhận biết đó là từ đơn, từ ghép hay từ láy.

    – Từ đơn: Đi, đứng, học, chơi, ăn, sách, vui, bé, bố, mẹ,…

    – Từ láy: Long lanh, chói chang, xinh xinh,…

    – Từ ghép: Xanh lè, tròn xoe, thẳng tắp, nhà cửa, cơm nước, sách vở, thông minh,…

    Bên cạnh các bài tập học sinh dễ dàng nhận biết “từ đơn, từ ghép, từ láy ” trên, tôi nâng dần mức độ cao hơn ở các dạng bài: Tìm từ đơn, từ ghép, từ láy trong đoạn văn, đoạn thơ xác định tổ hợp là 2 từ đơn hay 1 từ ghép.

    Ví dụ 1: Xác định từ đơn, từ ghép, từ láy trong đoạn thơ sau:

    ” Những chú nghé lông tơ mũm mĩm

    Cổng trại mở trâu vào chen chúc

    Chiều rộn ràng trong tiếng nghé ơ ”

    Ví dụ 2: Trong các tổ hợp từ sau, tổ hợp nào là 2 từ đơn, tổ hợp nào là 1 từ ghép: bánh rán, rán bánh, xe kéo, kéo xe, xe cộ, sách vở,…

    Qua 2 ví dụ trên:

    Ví dụ 1: Học sinh còn khó khăn trong việc xác định ” cánh hoa mua”; ” cổng trại”, ” tiếng nghé” là từ ghép hay tổ hợp những từ đơn.

    Ví dụ 2: Học sinh khó khăn trong việc xác định “rán bánh”, ” kéo xe” là từ ghép hay tổ hợp 2 từ đơn.

    Để khắc phục những khó khăn trong việc xác định, phân biệt từ đơn, từ ghép hay phân biệt từ ghép với từ láy tôi đã đưa ra một cách phân biệt như sau.

    4. MỘT SỐ CÁCH PHÂN BIỆT TỪ ĐƠN, TỪ GHÉP.

    Chúng ta biết rằng từ có tính hoàn chỉnh về cấu tạo và về nghĩa, từ ghép có mối quan hệ giữa các yếu tố trong tổ hợp chặt chẽ, khó tách rời, mang tính cố định,..

    Kết cấu 2 từ đơn mối quan hệ giữa các yếu tố trong tổ hợp lỏng lẻo, dễ tách rời, có thể chêm xen một yếu tố khác, từ bên ngoài vào mà nghĩa của tổ hợp về cơ bản không đổi. Để kiểm nghiệm tính hoàn chỉnh về cấu tạo ta có thể dùng cách “chêm xen ” để thử.

    Trước hết tôi giúp cho học sinh hiểu ” chêm xen ” là việc xen một yếu tố khác của tổ hợp từ nếu:

    * Nghĩa của tổ hợp từ không thay đổi thì tổ hợp từ đó là tổ hợp từ đơn.

    * Nghĩa của tổ hợp từ thay đổi thì tổ hợp từ đó là một từ ghép.

    Ví dụ: ” Bánh rán ” – ta không thể chêm xen vào giữa 2 tiếng 1 yếu tố nào để nghĩa của nó không thay đổi nên ” bánh rán ” là một từ ghép.

    “Rán bánh” ta có thể chêm xen “cái” vào giữa 2 tiếng cụ thể “rán cái bánh” mà nghĩa không thay đổi.Vậy “rán bánh” là tổ hợp 2 từ đơn.

    Tương tự học sinh sẽ xác định được “kéo xe”, “tiếng nghé”, “cổng trại” là những tổ hợp 2 từ đơn.

    Còn “xe kéo” là một từ ghép.

    Mặt khác, Tiếng Việt là ngôn ngữ không có sự biến đổi hình thức của từ trong sử dụng, do đó có nhiều trường hợp nếu chỉ căn cứ vào mặt hình thức thì khó biết được đâu là từ ghép, đâu là tổ hợp những từ đơn. Vì vậy ta phải xem xét chúng trong văn cảnh cụ thể rồi dùng cách “chêm xen”.

    Ví dụ: Tổ hợp từ “Anh em” trong câu”

    “Anh em đi vắng rồi” là tổ hợp 2 từ đơn vì:

    Ta có thể nói “Anh của em đi vắng rồi”

    Tổ hợp “Anh em” trong câu:

    “Anh em như thể chân tay” là 1 từ ghép vì kết hợp giữa các tiếng rất chặt chẽ không thể thêm tiếng vào giữa chúng.

    Sau đó tôi đưa ra một số dạng bài tập tiêu biểu nhằm củng cố cách chêm xen để xác định tổ hợp từ là từ ghép hay là 2 từ đơn như sau:

    *Xác định phần gạch chân trong các câu sau đây là 1 từ ghép hay là 2 từ đơn:

    Vì tính hoàn chỉnh, chặt chẽ về cấu tạo, về nghĩa của từ mà nhiều khi ta có thể sử dụng một yếu tố thay cho cả một từ đó hay là cách lược bỏ một yếu tố của tổ hợp nếu nghĩa của tổ hợp không thay đổi thì đó là từ ghép.

    Ví dụ: Nói về việc mua hoa ta nói: ” mua cúc ” thì được hiểu rằng mua hoa cúc. Vậy “cúc” ở đây có nghĩa là “hoa cúc” nên “hoa cúc” là một từ ghép.

    Ngược lại nếu ta nói “mua ngô” thì “ngô” được mang nghĩa là “bắp ngô” chứ không phải là “lá ngô” hay “hoa ngô” nên “bắp ngô” là một từ ghép, còn “hoa ngô” hay “lá ngô” là những tổ hợp 2 từ đơn. Mặt khác nếu trong một tổ hợp từ, một yếu tố của từ mở nghĩa cho các tiếng có kết cấu chặt chẽ, không nằm trong thể đối lập của tổ hợp nào khác thì tổ hợp từ đó là từ ghép.

    Ví dụ: “xòe ra”; “quắt lại” là từ ghép vì “ra” và “lại” đã mở nghĩa nên

    “xòe ra” nghĩa là “xòe”, “quắt lại” nghĩa là “quắt” và không có sự tồn tại của thể đối lập.

    Ví dụ: “xòe vào”,…

    Sau đó tôi đưa ra một số bài tập để học sinh rèn luyện kỹ năng, sử dụng cách “lược bỏ một yếu tố của tổ hợp”.

    Học sinh đã xác định được “cụp vào”, “hoa hồng” là một từ ghép còn “chạy đi”, “bò vào”, ” lá hồng” là những tổ hợp 2 từ đơn.

    Với học sinh Tiểu học, ” loại suy ” cũng là một thủ thuật có hiệu quả để xác định cương vị từ ” loại suy” là cách ta đưa ra mẫu tiêu biểu là tổ hợp từ đơn, (hay 1từ ghép).

    Ví dụ: Tổ hợp “cái bàn” là 2 từ đơn suy ra “cái bút”, “quyển sách”, ” con gà”,… cũng là tổ hợp 2 từ đơn.

    Tổ hợp mẫu “hoa hồng” là 1 từ ghép, suy ra “hoa cúc”, “hoa đào”…cũng là từ ghép.

    Tuy nhiên khi sử dụng “loại suy” cần chú ý nhận dạng cho đúng mẫu và phân biệt các trường hợp nhìn qua về hình thức bề ngoài tưởng như giống nhau nhưng thực chất mối quan hệ về nghĩa lại khác nhau.

    Ví dụ: “xòe ra” là 1 từ ghép nhưng “đi ra” lại là 2 từ đơn ( đã trình bày ở phần tỉnh lược ).

    Sau khi học sinh hiểu được phương pháp ” loại suy”, tôi đưa ra các bài tập nhằm rèn kỹ năng sử dụng phương pháp này để xác định ranh giới từ.

    Tôi đã đưa ra bài tập tổng hợp để các em thực hành.

    “Trời nắng chang chang, tiếng tu hú gần xa ran ran. Hoa ngô xơ xác như cỏ may, lá ngô quắt lại rủ xuống. Những bắp ngô đã mập và chắc chỉ chờ tay người đến bẻ mang về .”

    Với bài tập này các em dễ dàng phát hiện ra các từ: trời nắng, chang chang, ran ran, xơ xác, những, đã, mập, chắc, và, chỉ, còn, chờ, đến, bẻ.

    Các em lưỡng lự khi tìm lời giải đáp cho tổ hợp: Tiếng tu hú, gần xa, hoa ngô, cỏ may, lá ngô, quắt lại, rủ xuống, bắp ngô, tay người, mang về.

    Với các tổ hợp từ trên các em đã dùng cách “chêm xen”.

    Tiếng của tu hú ( được ) nên “tiếng” là 1 từ, “tu hú” là 1 từ, gần xa là 1 từ.

    Tương tự các em dùng cách tỉnh lược để nhận ra: cỏ may , quắt lại, rủ xuống là những từ ghép vì các yếu tố: may, lại, xuống đều mở nghĩa, còn tay người chính là nói người nên tay người là 1 từ.

    Hoa ngô, lá ngô, mang về có kết hợp lỏng lẻo nên chúng là những tổ hợp từ đơn, còn bắp ngô có kết cấu chặt nên là 1 từ ghép.

    Theo định nghĩa từ ghép, từ láy “sách Tiếng Việt 4”

    – Từ ghép là do các tiếng ghép tạo thành một nghĩa chung.

    – Từ láy là từ gồm các tiếng láy lại nhau ( âm đầu, vần), cả âm và vần, tiếng.

    Như vậy dựa vào định nghĩa học sinh sẽ xếp được các từ mà:

    – Các tiếng trong từ có quan hệ về nghĩa, không có quan hệ về âm như: học tập, anh em, gà trống, …là từ ghép.

    – Các tiếng trong từ có quan hệ về âm, không có quan hệ về nghĩa như: chăm chỉ, cần cù, lon ton,…là từ láy. Còn các từ mà các tiếng trong từ vừa có quan hệ về nghĩa, vừa có quan hệ về âm như: “học hành, tươi tốt, hư hỏng”…Thực chất là từ ghép nhưng dựa vào định nghĩa các em dễ nhầm là từ láy, vậy dạy như thế nào?

    – Mặt khác còn có các từ mà các tiếng trong từ không có quan hệ về âm, cũng chẳng có quan hệ về nghĩa như: mồ hôi, bồ hóng, … theo giáo trình Trường sư phạm thì xếp chúng là từ đơn đa âm, vấn đề này rất khó đối với học sinh Tiểu học nên ta không lấy ra làm ví dụ để xem xét hoặc dùng để ra đề thi kể cả với học sinh giỏi. Nếu học sinh đưa ra yêu cầu xếp loại ta nên nói vấn đề này các em sẽ được học sau ( tránh nói đây là từ ghép).

    – Về từ láy cũng có quan niệm khác nhau giữa giáo trình Trường sư phạm và sách giáo khoa Tiểu học. Theo giáo trình Trường sư phạm thì phương thức láy,chỉ ra được hình vị gốc, vì vậy các trường hợp: chôm chôm, đu đủ, thằn lằn, …không được xem là từ láy, còn sách giáo khoa Tiểu học nhất loạt xét theo hình thức ngữ âm nên xếp đây là từ láy, đó cũng là quan điểm phù hợp với tâm lí học sinh Tiểu học.

    – Để xếp 1 từ vào nhóm từ láy phải chỉ ra được sự lặp lại của cả tiếng hoặc 1 bộ phận âm đầu, vần, nên các trường hợp ồn ào, ầm ĩ, ọc ạch… cần được xếp vào từ láy vì các tiếng trong từ có sự giống nhau về hình thức ngữ âm: Cùng vắng khuyết phụ âm đầu.

    – Ngoài ra giáo viên cần nắm chắc về ngữ âm: /k/ được viết bằng 3 con chữ: c, q, k, âm /z/ viết bằng 2 con chữ: d, gi; âm /y/ viết bằng 2 con chữ: i, y…nên cần giúp học sinh nắm được các từ láy phụ âm đầu được ghi bằng các con chữ khác nhau như: kệch cỡm, kính coong, cong queo, cồng kềnh, ngô nghê, gồ ghề …

    Để củng cố cho học sinh phần này tôi cho học sinh làm bài tập sau:

    Ví dụ: Xếp các từ sau đây thành 2 nhóm: từ ghép, từ láy:

    Mập mạp, lom khom, tươi tốt, ầm ĩ, học tập, học hỏi, cồng kềnh.

    – Học sinh đã xác định đúng như sau:

    + Từ ghép: tươi tốt, học hỏi, học tập.

    + Từ láy: mập mạp, lom khom, ầm ĩ, cồng kềnh

    – Trong thực tế học sinh còn gặp phải 1 số từ ghép Hán – Việt có bộ phận âm thanh ngẫu nhiên giống từ láy. Gặp những trường hợp này giáo viên nên giải nghĩa và giảng cho các em hiểu đó là những từ ghép Hán – Việt ( các em sẽ được tìm hiểu k ỹ ở bậc THCS )

    Ví dụ: Bình minh, hoan hỉ, căn cơ, ban bố,…

    Khi học sinh nắm được các cách phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy ngoài việc ra các bài tập để các em luyện tập kĩ năng sử dụng để tách từ, tôi đưa ra một số dạng bài tập khác giúp các em nhận diện, phân loại, phát triển vốn từ.

    5, CÁC DẠNG NHẬN DIỆN, PHÂN LOẠI, PHÁT TRIỂN TỪ ĐƠN, TỪ GHÉP, TỪ LÁY.

    Ví dụ: Tìm 5 từ đơn, 5 từ ghép, 5 từ láy.

    Ví dụ: Hãy xếp các từ: thật thà, bạn bè, học hành, chăm chỉ, đi đứng, khó khăn, tươi tốt vào 2 nhóm:

    Ví dụ: Tìm các từ đơn, từ ghép có trong các câu sau:

    Mùa xuân mong ước đã đến. Đầu tiên từ trong vườn mùi hoa hồng, hoa huệ sực nức bốc lên.

    Ví dụ: Ghép các tiếng sau thành những từ ghép:

    Ăn, mặc, ở, xe, nổ, máy, điện, dệt, nói.

    Đầu bài cho sẵn 1 yếu tố cấu tạo từ (1 tiếng) yêu cầu học sinh tìm từ có tiếng gốc đó theo những kiểu cấu tạo khác nhau.

    Ví dụ: Điền tiếng thích hợp vào chỗ chấm (…) để có:

    Ví dụ: Tìm 5 từ ghép hoặc từ láy nói về đức tính của 1 học sinh giỏi. Viết đoạn văn về bạn học sinh giỏi đó.

    Ví dụ: Tìm 5 từ ghép chỉ sắc độ trắng khác nhau. Giải thích ý nghĩa của mỗi từ.

    Mức độ khó của bài tập không phụ thuộc vào các dạng, kiểu bài tập mà phụ thuộc vào chính những ngữ liệu đem ra xem xét. Tùy từng đối tượng học sinh mà ta đưa ra những ngữ liệu phù hợp. Với học sinh trung bình chỉ cần đưa ra những dạng đơn giản, cơ bản. Học sinh giỏi ta có thể gài một số trường hợp dễ nhầm lẫn. Với những trường hợp có nhiều đáp số khác nhau cần hướng dẫn học sinh tìm ra đáp số của để bài và phải biết lý giải vì sao mình lại đi đến kết quả ấy.

    Ví dụ ở dạng 2: Học sinh băn khoăn khi xếp từ bạn bè là từ ghép hay từ láy.

      Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề cần nghiên cứu

    Sau khi nghiên cứu, tìm tòi phương pháp và áp dụng vào thực tiễn giảng dạy, tôi thấy chất lượng nhận diện từ của học sinh nâng lên rõ rệt. Các em không còn cảm thấy quá khó khăn với các bài tập tách từ trong đoạn văn, đoạn thơ, hoặc phân biệt từ ghép, từ láy – và khả năng tạo từ tương đối phong phú.

    Tôi đã ra đề khảo sát chất lượng các em như sau:

    Câu 1: Dùng 1 gạch ( / ) tách các từ trong khổ thơ sau:

    Tiếng suối trong như tiếng hát xa

    Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

    Cảnh khuya như vẽ Người chưa ngủ

    Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

    Câu 2: Xếp các từ sau đây thành 2 nhóm: Nhóm từ láy, nhóm từ ghép.

    Học tập, học giỏi, siêng năng, ồn ào, tươi tỉnh, tươi cười, tươi tốt, tươi tắn, cuống quýt, vui vẻ, ngộ nghĩnh.

    Tai voi giống như cái quạt.

    Tôi vừa mua chiếc quạt tai voi.

    Câu 4: Ghép thêm tiếng vào sau tiếng: ” nhỏ ” để được 3 từ láy, 3 từ ghép

    – Thường xuyên thăm lớp, dự giờ học hỏi kinh nghiệm giảng dạy nói chung, phân môn Luyện từ và câu nói riêng, đặc biệt phần lí thuyết từ, phải hiểu rõ ý đồ, quan điểm của tài liệu.

    – Nghiên cứu tài liệu để nâng cao trình độ, khi giảng dạy cần theo quan điểm lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên là người gợi mở giúp học sinh chủ động nắm giữ kiến thức.

    – Để giúp học sinh tránh được những sai phạm về phân loại từ, nhận diện từ khi dạy chú ý cần chọn ví dụ cho thích hợp, mở rộng kiến thức hợp lý, đưa ra các biện pháp để học sinh phân biệt.

    – Học sinh phải chủ động, tích cực nắm kiến thức, tích cực làm việc, các em đóng vai trò là nhân vật trung tâm trong quá trình dạy học.

    – Các em tự học hỏi làm các bài tập nâng cao không biết thì hỏi bạn ,hỏi thày..

    – Các em biết biện luận cho đáp số của mình với nhiều trường hợp có nhiều khả năng xảy ra.

    – Thường xuyên rèn luyện, đặt từ trong văn cảnh và hiểu nghĩa của từ để có thế sử dụng đúng .

    PHẦN KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

    Qua nghiên cứu thực trạng phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy của học sinh lớp 4 trường tôi đang công tác và nhận thấy rõ tầm quan trọng của việc phân loại, nhận diện từ, tôi đã bước đầu tìm ra giải pháp giúp các em không quá khó khăn khi tiến hành công việc này. Các em đã chuyển được suy nghĩ phải học, sợ học Luyện từ và câu sang thích thú tìm hiểu chúng. Nhiều từ trước đây còn phải tranh cãi đến nay các em đã có phương pháp để xem xét chúng một cách khoa học. Học sinh có thể tự tin và biết biện luận và lý giải cho bài làm của mình. Trong quá trình nghiên cứu và tích lũy, đúc rút kinh nghiệm với khả năng của bản thân có hạn, còn nhiều hạn chế, tôi rất mong bạn đọc và hội đồng khoa học cấp cơ sở góp ý để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được áp dụng rộng rãi và có hiệu quả.

      Chương trình sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy.

    – Nên tăng thời lượng mỗi tuần từ 2 tiết đến 3 tiết để học sinh có khả năng học tập nhận diện từ tốt

    – Cần bổ sung cho định nghĩa từ ghép và từ láy một dấu hiệu để phân biệt.

    – Giáo viên phải nắm vững nội dung, phương pháp giảng dạy sát với đối tượng học sinh để sử dụng phương pháp thích hợp giúp các em phát triển tư duy trong quá trình nhận thức lĩnh hội kiến thức.

    – Giáo viên phải học tập thường xuyên, tích cực trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, tích lũy kinh nghiệm giảng dạy để nâng cao tay nghề.

    – Giáo viên phải biết tổ chức cho học sinh học tập có nề nếp, giúp học sinh chủ động học tập một cách tự giác, say mê, sáng tạo.

    1. Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 – Tập 1 – Nhà xuất bản giáo dục.
    2. Sách giáo viên Tiếng Việt 4 – Tập 1.
    3. Thiết kế bài giảng Tiếng Việt 4- Tập 1

    Sáng kiến kinh nghiệm tiểu học miễn phí Sáng kiến kinh nghiệm Mầm non miễn phí. Sáng kiến kinh nghiệm THCS miễn phí

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Rạch Ròi Giữa Từ Láy Và Từ Ghép Trong Tiếng Việt Lớp 4
  • Phân Biệt Các Con Đường C3,c4 Và Cam?
  • Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Thành Ngữ Và Tục Ngữ
  • Cách Sử Dụng Some, Many, Much, Any, A Lot Of, Lots Of, Few, A Few, Little And A Little
  • Cách Phân Biệt Some Và Any Trong Tiếng Anh ‘chuẩn Nhất’
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100