【#1】Một Số Lưu Ý Đối Với Phương Pháp Aas

Phương pháp phổ hấp thu nguyên tử AAS (Atomic Absorption Spectrophotometric) là 1 kỹ thuật phân tích rất nhạy để đo nồng độ, hàm lượng các nguyên tố và có thể đo được dươi 1 phần tỷ của 1gam trong 1 mẫu.

AAS sử dụng bước sóng ánh sáng được hấp thụ đặc biệt bởi 1 nguyên tố. Do đó, phương pháp này được ứng dụng để phân tích nhiều chỉ tiêu thuộc các lĩnh vực: Thực phẩm, dược phẩm, sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp và môi trường. Đây cũng là những nội dung chủ yếu được TS. Phạm Tiến Đức, Giảng viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên ĐHQG Hà Nội chia sẻ tại khóa đào tạo do EDC-HCM tổ chức từ ngày 20/08 đến 24/08/2018 tại Hà Nội.

Theo TS. Phạm Tiến Đức, Giảng viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên ĐHQG Hà Nội, muốn thực hiện phép đo phổ AAS để xác định một nguyên tố trong một loại mẫu, hệ thống trang bị đo AAS phải đáp ứng 6 nguyên tắc:

* Chuyển mẫu phân tích (xử lý mẫu phân tích) → dạng dung dịch đồng thể.

* Hoá hơi dung dịch mẫu phân tích → đám hơi (khí) của mẫu,

* Nguyên tử hoá đám hơi → Môi trường của nguyên tử tự do,

* Chiếu chùm sóng (λ) đơn sắc vào đám hơi nguyên tử tự do → sinh phổ AAS,

* Thu phổ AAS, phân giải, chọn một λ để đo, và đo Aλ,

* Ghi lại kết quả đo Aλ.

Theo nguyên lý trên, hệ trang bị của phép đo AAS bao gồm các bộ phận:

* Nguồn cấp chùm tia đơn sắc của nguyên tố phân tích: Đèn Catốt rỗng (Hollow Cathod Lamp: HCL), Đèn không điện cực (Electrodeless Disharge Lamp: EDL).

* Hệ thống trang bị hoá hơi và nguyên tử hoá mẫu có thể sử dụng theo Kỹ thuật Ngọn lửa (phép đo F-AAS) hoặc Kỹ thuật Không ngọn lửa (Phép đo GF-AAS).

* Máy quang phổ (Thu phổ, Phân giải, và chọn λ đo độ hấp thụ Aλ)

* Bộ phận ghi kết quả đo.

Hệ AAS trang bị hoàn chỉnh còn có thêm: Hệ thống tự động bơm mẫu (AutoSampler), Hệ máy tính và phần mềm điều khiển, Hệ thống hoá hơi lạnh (Kỹ thuật Hydrua hoá), Trang bị nguyên tử hóa mẫu rắn và mẫu bột.

2. Các kỹ thuật nguyên tử hoá mẫu

Muốn thực hiện phép đo AAS phải có nguồn năng lượng, cung cấp năng lượng để hoá hơi các chất mẫu phân tích; Nguyên tử hoá đám hơi thành nguyên tử tự do với hiệu suất cao; Tạo ra các nguyên tử tự do nguyên tử phân tích (Môi trường hấp thụ tia bức xạ λ) để sinh phổ AAS của nguyên tố cần phân tích.

Đây là vấn đề mấu chốt của phép đo AAS, vì các nguyên tử khí tự do là chất hấp thụ bức xạ sinh phổ AAS. Tuy nhiên, nguồn năng lượng và kỹ thuật nguyên tử hóa mẫu phải đáp ứng các yêu cầu:

* Có năng lượng đủ lớn,

* Phải ổn định, điều chỉnh được, lặp lại tốt,

* Cung cấp cho phép đo AAS có độ nhạy cao,

* Thuần khiết và không cho thêm phổ phụ,

* Bền theo thời gian và ổn định,

* Cần ít mẫu,

* Có tính kinh tế (không quá đắt).

Theo đó, chỉ có 2 loại: Ngọn lửa đèn khí (tương ứng Phép đo Flame Atomic Absorption Spectrometry: F-AAS) và Lò Graphit (tương ứng Phép đoFlameless Atomic Absorption Spectrometry, hay Graphite Furnace Atomic Absorption Spectrometry: GF-AAS) đáp ứng các yêu cầu trên.

2.1. Kỹ thuật ngọn lửa (Phép đo F-AAS)

Kỹ thuật ngọn lửa là dùng năng lượng nhiệt của ngọn lửa đèn khí để hoá hơi và nguyên tử hoá mẫu phân tích. Do đó, mọi quá trình xảy ra trong khi nguyên tử hoá mẫu phụ thuộc vào đặc trưng và tính chất của ngọn lửa đèn khí nhưng chủ yếu là nhiệt độ ngọn lửa. Đây là yếu tố quyết định hiệu suất nguyên tử hoá mẫu phân tích, mọi yếu tố ảnh hưởng đến nhiệt độ ngọn lửa đèn khí đều ảnh hưởng đến kết quả của phương pháp phân tích.

Nguyên tắc: Dùng năng lượng nhiệt của ngọn lửa đèn khí để nguyên tử hóa mẫu; Được đốt bởi hỗn hợp 2 khí (khí Oxy hoá và khí nhiên liệu, ví dụ như Không khí nén + Axetylen, hay N2O + Acetylen).

Cấu tạo và đặc điểm của ngọn lửa gồm 3 phần:

Phần tối: Nhiệt độ từ 500-10000C, màu xám.

Phần lõi và tâm: Nhiệt độ cao, không mầu hay có mầu xanh nhạt và hầu như không có quá trình phụ.

Phần vỏ và đuôi: Nhiệt độ thấp, có mầu vàng hay xám. Đây là phần có nhiều quá trình phụ xảy ra.

Nhiệt độ ngọn lửa được quyết định bởi bản chất của chất khí được đốt tạo ra ngọn lửa; thành phần của hỗn hợp khí đó; tốc độ dẫn khí vào đèn.

Bảng thành phần khí và nhiệt độ ngọn lửa

Các yếu tố ảnh hưởng của kỹ thuật này

* Kỹ thuật tạo thể solkhí mẫu.

* Điều kiện tạo ngọn lửa và Nhiệt độ ngọn lửa đèn khí.

* Thành phần của dung dịch mẫu, nguyên tố thứ ba.

* Chất nền của mẫu.

* Độ nhớt của dung dịch mẫu.

* Nồng độ và loại axit dung dịch mẫu.

* Tốc độ dẫn mẫu vào buồng tạo solkhí.

* Chiều cao của đèn nguyên tử hóa.

Trong phép đo F-AAS, muốn có các điều kiện và quy trình phân tích phù hợp nhất, phát hiện và loại bỏ các yếu tố ảnh hưởng để có kết quả tốt chất lượng cao cần:

i. Chọn các thông số máy đo phổ: Vạch phổ đo, kỹ thuật đo, độ rộng khe đo, chiều cao Burner, thông số nguồn cấp chùm tia đơn sắc (cường độ của HCL);

ii. Chọn các điệu kiện hoá hơi và nguyên tử hóa mẫu: Loại khí và thành phần khí tạo ngọn lửa, tốc độ khí, tốc độ dẫn mẫu, các thông số khác cho điều kiện nguyên tử hóa mẫu;

iii. Xem xét các yếu tố về phổ và vật lý: Sự chen lấn vạch phổ của chất nền và nguyên tố khác có sự phát xạ của nguyên tố phân tích không, độ nhớt dung dịch mẫu, sự iôn hoá kim loại kiềm…;

iv. Các yếu tố về hoá học (nền và nguyên tố thứ ba): Chất nền (matrix) của mẫu, nguyên tố thứ ba khác trong mẫu, loại axit và nồng độ axit;

v. Phương pháp chuẩn hoá để định lượng;

vi. Kỹ thuật hay phương pháp xử lý và chuẩn bị mẫu.

Trên cơ sở giải quyết và tối ưu được 6 vấn đề trên thì chúng ta mới có một quy trình phân tích thích hợp và đúng đắn cho đối tượng và nguyên tố cần phân tích.

2.2. Kỹ thuật không ngọn lửa (Phép đo GF-AAS)

Kỹ thuật không ngọn lửa ra đời sau kỹ thuật F-AAS nhưng đã được phát triển rất nhanh, nâng cao độ nhạy của phép xác định lên gấp hàng trăm lần so với kỹ thuật F-AAS. Mẫu phân tích bằng kỹ thuật này không cần làm giàu sơ bộ và lượng mẫu tiêu tốn ít.

Kỹ thuật GF-AAS là quá trình nguyên tử hoá tức khắc trong thời gian rất ngắn nhờ năng lượng nhiệt của dòng điện có công suất lớn và trong môi trường khí trơ (Argon). Quá trình nguyên tử hoá xảy ra theo các giai đoạn kế tiếp nhau: sấy khô, tro hoá luyện mẫu, nguyên tử hoá để đo phổ hấp thụ nguyên tử và cuối cùng là Số hóa làm sạch cuvet.

Nhiệt độ trong cuvet graphit là yếu tố quyết định mọi diễn biến của quá trình nguyên tử hoá mẫu. Nguyên tắc của phương pháp này là dùng năng lượng nhiệt của dòng điện rất cao (300-500A) để đốt nóng tức khắc cuvet Graphite chứa mẫu phân tích để thực hiện nguyên tử hóa mẫu cho phép đo AAS (hay thuyền Tantan đặt trong cuvet graphit).

Để tối ưu hoá các điều kiện cho phép đo GF-AAS mang đến một phương pháp phân tích đúng đắn và cho kết quả tốt theo kỹ thuật này, chúng ta phải thực hiện tối ưu hoá các điều kiện cần thiết cho phép đo, cụ thể là:

* Các thông số máy đo phổ (như trong F-AAS) (Vạch đo, khe máy, chiều cao Burner…)

* Các điều kiện nguyên tử hóa mẫu trong cuvét, loại cuvet,…: Chọn loại cuvet, nhiệt độ Tro hoá và nguyên tử hóa mẫu (công suất nung cuvet)…, khí trơ làm môi trường nguyên tử hóa mẫu,…

* Các yếu tố vật lý,

* Các yếu tố về hoá học, (môi trường axit, chất nền và nguyên tố thứ ba,…)

* Phương pháp chuẩn hoá để định lượng

* Bổ chính nền và phương pháp bổ chính

* Phương pháp xử lý và chuẩn bị mẫu phân tích

* Các hoá chất dùng trong xử lý mẫu

* Môi trường phòng thí nghiệm.

PHÚC ANH

Tạp chí Thử nghiệm Ngày nay số 11 tháng 09/2018.

【#2】Phương Pháp Aas Và Những Điều Bạn Chưa Biết

Phương pháp AAS là gì? Nó có ứng dụng gì trong nghiên cứu? Thiết bị AAS là gì? Cần lưu ý gì khi sử dụng thiết bị này? Nên mua thiết bị AAS ở đâu để đảm bảo chất lượng?

Quá trình nghiên cứu các nguyên tố trong ngành thí nghiệm nói riêng đòi hỏi người nghiên cứu phải sử dụng rất nhiều phương pháp khác nhau để phân tích chúng nhằm tìm ra được những khám phá mới. Một trong những phương pháp nghiên cứu được sử dụng khá quen thuộc trong thí nghiệm chính là phương pháp phổ hấp thu nguyên tử hay còn gọi tắt là phương pháp AAS.

Phương pháp AAS là tên viết tắt từ cụm từ tiếng Anh có tên là Atomic Absorption Spectrophotometric, gọi là Phương pháp phổ hấp thu nguyên tử.

Đây là phương pháp dựa trên nguyên lý hấp thu của hơi nguyên tử, các nguyên tử ở trạng thái bình thường thì chúng không hấp thu hay bức xạ năng lượng nhưng khi chúng ở trạng thái tự do dưới dạng những đám hơi nguyên tử thì chúng hấp thu và bức xạ năng lượng.

Mỗi nguyên tử chỉ hấp thu những bức xạ nhất định đặc trưng với những bức xạ của nó. Khi nguyên tử nhận năng lượng chúng chuyển lên mức năng lượng cao hơn gọi là trạng thái kích thích. Quá trình đó gọi là quá trình hấp thu năng lượng của nguyên tử tự do ở trạng thái hơi và tạo ra phổ của nguyên tử đó. Phổ sinh ra trong quá trình này gọi là phổ hấp thu nguyên tử.

Đây là một trong những kỹ thuật có vai trò hàng đầu trong phân tích mẫu môi trường. Là một hệ thống kỹ thuật cao kết hợp tính hiệu quả và khả năng dễ sử dụng nhằm phân tích các giá trị nguyên tố trong mẫu môi trường.

NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN PHƯƠNG PHÁP PHỔ HẤP THU NGUYÊN TỬ

Phương pháp AAS của các nguyên tử cần phải thực hiện các quá trình sau đây:

Đầu tiên: Để quá trình hóa hơi và nguyên tử hóa mẫu diễn ra, cần lựa chọn các điều kiện và thiết bị hỗ trợ phù hợp với mẫu để chuyển mẫu phân tích từ trạng thái ban đầu thành trạng thái hơi của các nguyên tử tự do.

Sau đó tiến hành chiếu chùm tia sáng bức xạ tương ứng của nguyên tố cần phân tích qua đám hơi nguyên tử vừa sinh ra. Các nguyên tử ở trạng thái hơi sẽ hấp thụ những tia bức xạ tương ứng với nó và tạo ra phổ hấp thụ.

Cuối cùng nhờ vào một hệ thống máy quang phổ, người ta thu toàn bộ chùm sáng, phân ly và chọn 1 vạch hấp thụ của nguyên tố cần nghiên cứu để đo được tín hiệu hấp thụ của vạch phổ hấp thụ nguyên tử.

MÁY QUANG PHỔ HẤP THU NGUYÊN TỬ AAS

Thiết bị dùng để thực hiện phương pháp phổ hấp thu nguyên tử chính là máy quang phổ. Một máy quang phổ hấp thu nguyên tử bao gồm các bộ phận sau:

Nguồn cấp chùm tia đơn sắc của nguyên tố phân tích: thường là đèn cathod rỗng HCL (Hollow Cathode Lamp). Đèn này gồm có 3 bộ phận chính sau:

Hệ thống trang bị hoá hơi và nguyên tử hoá mẫu phân tích: có thể sử dụng theo Kỹ thuật nguyên tử hóa bằng ngọn lửa (phép đo F-AAS) hoặc Kỹ thuật không ngọn lửa (Phép đo ETA-AAS).

Máy quang phổ: là bộ phận đơn sắc, có nhiệm vụ thu nhận, phân ly và chọn tia sáng (vạch phổ) cần đo hướng vào nhân quang điện để phát hiện tín hiệu hấp thụ AAS của vạch phổ (thu phổ, phân giải, và chọn λ đo độ hấp thụ Aλ).

Bộ phận ghi kết quả đo: là hệ điện tử/ máy tính để điều khiển và xử lý số liệu

Một hệ thống phổ hấp thu nguyên tử hoàn chỉnh còn có thêm các bộ phận: Hệ thống tự động bơm mẫu (AutoSampler), hệ thống hoá hơi lạnh (kỹ thuật Hydrua hoá), trang bị nguyên tử hóa mẫu rắn và mẫu bột.

– Phân tích được rất nhiều nguyên tố và thời gian phân tích nhanh, tiết kiệm thời gian.

– Độ chính xác của máy AAS hầu như rất cao: RSD < 2% (độ lệch chuẩn tương đối khá thấp)

– Độ lặp lại rất tốt: RSD < 1%

– Độ nhạy: rất nhạy, đo dược hàm lượng tới chỉ số phần tỷ ppb (microgam/ kg)

– Chi phí đầu tư thấp so với máy ICP-OES

– Chi phí đầu tư hệ thống thiết bị khá tốn kém vì giá thành cao.

– Đòi hỏi người sử dụng có chuyên môn cao vì thiết bị có cấu tạo kĩ thuật khá phức tạp khi sử dụng

– Quá trình nhiễm độc có thể xảy ra khi phân tích hàm lượng vết.

– Có thể gây cháy nổ và chập điện nếu sử dụng sai cách.

LƯU Ý KHI SỬ DỤNG THIẾT BỊ AAS

Để có thể cho được một kết quả phân tích chính xác, nhanh chóng và đảm bảo an toàn với người dùng thì cần sử dụng các thiết bị này đúng cách theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Một số yêu cầu của nguồn năng lượng và kỹ thuật nguyên tử hóa mẫu cần phải được đáp ứng để đảm bảo phương pháp này có thể thực hiện như: Có năng lượng đủ lớn, ổn định, điều chỉnh được, lặp lại tốt; thuần khiết và không cho thêm phổ phụ, bền theo thời gian và ổn định,…

Vậy nên trước khi sử dụng thiết bị hoặc phụ kiện, bạn cần tuân thủ một cách nghiêm túc các chỉ dẫn trong quá trình sử dụng thiết bị. Người sử dụng cần đảm bảo được trang bị chuyên môn kỹ thuật cao và thực hiện một cách cẩn thận để tránh việc sử dụng sai cách dẫn tới những hậu quả ngoài mong muốn.

NƠI MUA THIẾT BỊ HẤP THU NGUYÊN TỬ AAS

Nắm bắt được nhu cầu phân tích nguyên tử phục vụ cho nghiên cứu ngày càng cao, Công ty Trung Sơn đã trang bị hệ thống các thiết bị AAS đảm bảo chất lượng hàng đầu. Nếu bạn đang phân vân không biết nên mua các thiết bị nghiên cứu thí nghiệm ở đâu thì đừng ngần ngại liên hệ với Với uy tín lâu năm trong ngành cùng với đội ngũ chăm sóc khách hàng và chuyên viên kĩ thuật trình độ cao, chúng tôi tự hào có thể đem đến cho bạn những sản phẩm tốt nhất.

【#3】Phương Pháp Đo Phổ Hấp Thụ Nguyên Tử Aas

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

KHOA VẬT LÝ _BỘ MÔN QUANG – QUANG PHỔ

BÀI TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI: PHƯƠNG PHÁP ĐO PHỔ HẤP THỤ NGUYÊN TỬ AAS

Nhóm thực hiện: Nhóm I

Huế, ngày 01 tháng 12 năm 2011

0

MỤC LỤC

Tiêu đề

trang

I. MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………. 2

II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA PHƯƠNG PHÁP AAS …………………….. 3

2.1 Hiện tượng hấp thụ nguyên tử ……………………………………………… 3

2.2 PPPT AAS định tính và định lượng………………………………………. 3

2.2.1 Phương pháp phân tích AAS định tính …………………………. 3

2.2.2 Phương pháp phân tích AAS định lượng ………………………. 4

2.3 Ưu và nhược điểm của phương pháp phân tích AAS …………….. 6

III . KỸ THUẬT THỰC NGHIỆM …………………………………………………. 7

3.1 Cấu tạo, hoạt động của hệ đo AAS ……………………………………….. 7

3.2 Cách thực hiện phép phân tích AAS hoàn chỉnh …………………… 9

IV . VÍ DỤ ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH AAS ……………. 11

V. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ PHƯƠNG PHÁP AAS ……………………….. 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………………. 16

1

I. MỞ ĐẦU

Phương pháp AAS được viết tắt từ phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử

(Atomic Absorptional Spectroscopy).

Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử là một trong những phương pháp tốt

nhất để xác định các nguyên tố kim loại, với độ nhạy lớn và độ chính xác

cao.

Phương pháp dựa trên sự hấp thụ các bức xạ đặc trưng bởi đám hơi nguyên

tử. Hiện tượng hấp thụ nguyên tử được ghi nhận đầu tiên bởi Wollaston và

Praunhofh, được giải thích bởi Bussen và Kirchhoff.

2

II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA PHƯƠNG PHÁP AAS

2.1 Hiện tượng hấp thụ nguyên tử:

+ Trong điều kiện bình thường nguyên tử không thu hay phát ra năng lượng

dưới dạng bức xạ. Lúc này nguyên tử tồn tại ở trạng thái cơ bản. Nếu

nguyên tử nhận năng lượng dưới dạng nhiệt thì nguyên tử sẽ chuyển lên

trạng thái có năng lượng cao hơn, gọi là trạng thái kích thích, trạng thái kích

thích này không bền, chỉ khoảng 10-8 ÷ 10-9 s, sau đó nguyên tử có xu hướng

trở về trạng thái có mức năng luợng thấp hơn, khi này nguyên tử sẽ giải

phóng năng lượng dưới dạng bức xạ điện từ có bước sóng khác nhau nằm

trong dải phổ quang học.

+ Trong trường hợp đặc biệt, khi nguyên tử tồn tại ở trạng thái hơi tự do nếu

ta chiếu một tia sáng có những bước sóng xác định vào đám hơi nguyên tử

đó, thì các nguyên tử sẽ hấp thụ các bức xạ có bước sóng nhất định ứng với

những tia bức xạ mà nó có thể phát ra. Lúc này nguyên tử đã nhận năng

lượng của các tia bức xạ chiếu vào nó và nó chuyển lên trạng thái kích thích.

+ Quá trình đó gọi là quá trình hấp thụ năng lượng của nguyên tử tự do ở

trạng thái hơi.

+ Phổ sinh ra trong quá trình này gọi là phổ hấp thụ nguyên tử.

2.2 Phương pháp phân tích phổ hấp thụ nguyên tử định tính

và định lượng:

2.2.1 Phương pháp phân tích AAS định tính:

+ Do mỗi một nguyên tử hay một tập hợp các nguyên tử có dấu hiệu phổ

riêng biệt, được quyết định bởi chính bản thân cấu trúc và trạng thái vật lý

của chúng nên căn cứ vào quang phổ thu được chúng ta có thể đoán nhận

khái quát về thành phần cấu tạo của mẫu phân tích.

+ Dựa trên cơ sở là các nguyên tử tạo ra trong bộ nguyên tử hóa mẫu hấp

thụ hay không hấp thụ tia cộng hưởng phát ra từ đèn catốt rỗng làm bằng

một nguyên tố nào đó để nhận biết trong mẫu phân tích có hay không

nguyên tố đó.

3

2.2.2 Phương pháp phân tích AAS định lượng:

+ Để xác định nồng độ (hàm lượng) của một nguyên tố trong mẫu phân tích

theo phép đo phổ hấp thụ nguyên tử người ta thường thực hiện theo các

phương pháp sau đây:

+ Dựa theo phương trình định lượng cơ bản của phép đo này qua việc đo

cường độ của vạch phổ hấp thụ của nguyên tố phân tích và xác định (hay

phát hiện) nồng độ của chất phân tích trong mẫu đo phổ theo một trong các

phương pháp chuẩn hóa sau:

-Phương pháp đường chuẩn.

-Phương pháp thêm tiêu chuẩn.

* Phương pháp đường chuẩn:

Nguyên tắc của phương pháp này là chọn một dãy mẫu đầu (ít nhất là

ba mẫu) để xây dựng nên một đường chuẩn, và sau đó nhờ đường chuẩn này

và giá trị Ix để xác định nồng độ Cx của nguyên tố cần phân tích trong mẫu

đo phổ, rồi từ đó tính được nồng độ của nó trong mẫu phân tích.

Ví dụ: ta chọn dãy mẫu đầu gồm 5 mẫu C1, C2, C3, C4, C5, mẫu cần

phân tích là Cx. Chọn điều kiện phù hợp rồi ta tiến hành đo cường độ phổ

hấp thụ đặc trưng của nguyên tố trong mẫu của mẫu đầu và mẫu cần phân

tích, ta thu được I1, I2, I3, I4, I5 và Ix ( cường độ phổ hấp thụ đặc trưng của

mẫu cần phân tích).

4

Từ đồ thị chuẩn trên và từ cường độ Ix ta đối chiếu và xác định được

nồng độ Cx.

Phương pháp này đơn giản, dễ thực hiện, có hiệu suất cao trong việc

phân tích hàng loạt mẫu chứa cùng một đối tượng phân tích. Tuy nhiên

phương pháp này có nhược điểm là khi mẫu phân tích có thành phần phức

tạp và chưa biết rõ ta không thể chuẩn bị chính xác ba mẫu đầu để có đường

chuẩn đúng đắn.

* phương pháp thêm tiêu chuẩn:

Nguyên tắc của phương pháp này là người ta dùng ngay mẫu phân

tích làm nền để chuẩn bị một dãy mẫu đầu, bằng cách lấy một lượng mẫu

nhất định và gia thêm vào đó những lượng nhất định của nguyên tố cần xác

định theo từng bậc nồng độ (theo cấp số cộng).

Ví dụ: Nồng độ yếu tố cần phân tích là Cx=Co và lượng thêm vào là

∆C1, ∆C2, ∆C3, ∆C4, ∆C5 ta có loạt mẫu đầu có nồng độ yếu tố cần phân

tích là:

Co = Cx

C1 = Cx + ∆C1

C2 = Cx + ∆C2

C3 = Cx + ∆C3

C4= Cx + ∆C4

C5 = Cx + ∆C5

Tiếp đó ta xác định cường độ phổ đặc trưng của mẫu đầu và dựng lên

đường chuẩn I-∆C.

5

2.3 Ưu và nhược điểm của phương pháp phân tích AAS:

* Ưu điểm:

Phép đo phổ nguyên tử có độ nhạy và độ chọn lọc cao, tốn ít mẫu

phân tích, thời gian phân tích nhanh. Các động tác thực hành thực hiện nhẹ

nhàng, nhanh chóng. Bằng phương pháp này ta có thể xác định đồng thời

hay liên tiếp nhiều nguyên tố trong cùng một mẫu. Kết quả phân tích ổn

định, sai số nhỏ.

* Nhược điểm:

Muốn đo phổ hấp thụ nguyên tử cần phải có một hệ thống máy móc

tương đối đắt tiền. Do cần có độ nhạy cao nên sự nhiễm bẩn có ý nghĩa lớn

đối với kết quả phân tích hàm lượng. Môi trường không khí phòng thí

nghiệm phải không có bụi. Các dụng cụ và hóa chất dùng trong phép đo

phải có độ tinh khiết cao. Vì có độ nhạy cao nên các trang bị máy móc là

khá tinh vi và phức tạp, do đó cần phải có kĩ sư lành nghề để bảo dưỡng và

chăm sóc. Nhược điểm chính là chỉ cho ta biết thành phần nguyên tố của

chất phân tích có trong mẫu phân tích, mà không chỉ ra được trạng thái liên

kết, cấu trúc của nguyên tố có trong mẫu.

6

III. KỸ THUẬT THỰC NGHIỆM

3.1Cấu tạo, hoạt động của hệ đo phổ hấp thụ nguyên tử:

* Cấu tạo của hệ đo phổ hấp thụ nguyên tử:

Muốn thực hiện phép đo phổ hấp thụ thì hệ đo phổ hấp thụ nguyên tử phải

bao gồm các bộ phận chính sau:

+ Nguồn phát tia bức xạ cộng hưởng của nguyên tố cần phân tích: Dùng

để chiếu vào môi trường hấp thụ chứa các nguyên tử tự do của nguyên tố.

Đó là các đèn catốt rỗng (HCL), các đèn phóng điện không điện cực (EDL),

hay nguồn phát bức xạ liên tục đã được biến điệu.

+ Hệ thống nguyên tử hóa mẫu phân tích: Hệ thống này được chế tạo

theo hai loại kĩ thuật nguyên tử hóa mẫu. Đó là kĩ thuật nguyên tử hóa bằng

ngọn lửa và kỹ thuật nguyên tử hóa không ngọn lửa.

7

Trong kĩ thuật nguyên tử hóa bằng ngọn lửa, hệ thống này bao gồm:

Bộ phận dẫn mẫu vào buồng aerosol hóa và thực hiện quá trình aerosol

hóa mẫu (tạo thể sol khí) và đầu đốt để nguyên tử hóa mẫu, để đốt cháy

hỗn hợp khí có chứa mẫu ở thể huyền phù sol khí như hình sau:

Ngược lại, khi nguyên tử hóa mẫu bằng kĩ thuật không ngọn lửa,

người ta thường dùng một lò nung nhỏ bằng graphit (cuvet graphit) hay

thuyền Tangtan (Ta) để nguyên tử hóa mẫu nhờ nguồn năng lượng điện có

thế thấp (nhỏ hơn 12 V) nhưng nó có dòng rất cao (50-800 A).

+ Hệ thống máy quang phổ hấp thụ hay là bộ đơn sắc: Bộ đơn sắc, có

nhiệm vụ lọc, phân li và chọn tia sáng (vạch phổ) cần đo, định hướng tia

sáng vào nhân quang điện để phát hiện, biến đổi tín hiệu quang thu được.

+ Bộ phận biến đổi quang điện: là bộ phận biến đổi tín hiệu quang thành

tín hiệu điện, để dễ khuếch đại và lưu trữ tín hiệu.

+ Bộ phận ghi nhận, xử lý tín hiệu: Bộ phận này có thể là các trang bị sau:

Đơn giản nhất là một điện kế chỉ năng lượng hấp thụ E của vạch phổ; Một

máy tự ghi lực của vạch phổ; Bộ hiện số digital; Bộ máy tính và máy in; Với

các máy hiện đại còn có thêm một microcomputer và hệ thống phần mềm để

điều khiển quá trình đo và xử lý tín hiệu thu được.

8

3.2 Cách thực hiện phép phân tích AAS hoàn chỉnh:

Để tiến hành đo ta tiến hành các bước sau đây:

*Chuẩn bị thiết bị AAS:

ü Xem xét tính trạng của máy, các đường điện, khí axetylen, N2O.

ü Bật máy vào chế độ làm việc.

ü Chọn các điều kiện tối ưu (tỷ lệ khí đốt N2O+ axetylen dòng điện …).

ü Cài đặt các điều kiện phân tích theo hướng dẫn của từng máy.

ü Ổn định máy, ổn định nhiệt độ trong vòng 15 phút.

*Trình tự phân tích:

ü Dựng đường chuẩn.

ü Pha chế dung dịch chất chuẩn chứa các nguyên tố cần xác định từ

chất chuẩn phức tương ứng với nồng độ khác nhau trong dung môi,

dựng đường chuẩn cho từng nguyên tố phân tích trên máy AAS ở

điều kiện tối ưu tham khảo trong các hướng dẫn.

ü Đo phổ AAS của mẫu phân tích pha trong dung môi với tỉ lệ tương

ứng như đối với chất chuẩn.

ü Ghi chép kết quả thể hiện trên máy tính.

ü Sau khi kết thúc các phép đo đưa máy về trạng thái ban đầu, sau đó

khóa các đường khí và tắt máy.

*Tính toán kết quả:

Sau khi đã nhận được các số liệu kết quả trên máy. Nồng độ các nguyên tố

cần xác định được tính toán theo công thức sau:

+Công thức tính cho mẫu lỏng (mg/l):

Me =

Trong đó:

-A: nồng độ kim loại được xác định theo đường chuẩn mg/l.

-B: lượng dung môi pha loãng (ml).

-C: định mức mẫu phân tích (ml).

9

+công thức sau cho mẫu rắn (mg/kg):

Me =

Trong đó:

-V: định mức mẫu (ml).

-W: khối lượng mẫu (g).

-A: nồng độ chất phân tích theo đường chuẩn (mg/l).

+Tính toán nồng độ nguyên tố trong mẫu phân tích bằng phương pháp

lò Grafit theo công thức sau:

Trong đó:

-C: định mức mẫu phân tích (ml).

-B: thể tích dung môi pha loãng (ml).

-Z: nồng độ nguyên tố theo đường chuẩn (mg/L).

10

IV. VÍ DỤ ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH AAS

Áp dụng phương pháp phân tích phổ hấp thụ nguyên tử để xác định hàm

lượng thủy ngân trong thủy sản.

1. Nguyên tắc:

Mẫu thủy sản được vô cơ hóa bằng axit HNO3 đậm đặc trong bình phá

mẫu có nắp vặn kín (bình Kendal). Sau đó ta thu được hợp chất vô cơ có

chứa Hg, ta tiến hành Hydrit hóa hợp chất đó bằng dòng khí Hydro cho ta

Hydrit thủy ngân (HgH2) dễ bay hơi.

Kỹ thuật được sử dụng để phân tích Hg là kỹ thuật CV-AAS (phương

pháp đo phổ hấp thụ nguyên tử bằng kỹ thuật hóa hơi lạnh). Ở nhiệt độ

phòng thì Hg tồn tại ở thể lỏng, ở trạng thái hơi thì Hg tồn tại ở trạng thái

đơn nguyên tử. Cho nên thay vì sử dụng nhiệt độ cao để nguyên tử hóa Hg

từ các hợp chất của Hg, người ta sử dụng các chất khử mạnh để khử trực

tiếp hợp chất Hg2+ về Hg0 dễ bay hơi.

Ví dụ: Khử Hg2+ về Hg0 bằng quá trình Hydrit hóa bằng dòng khí Hydro:

4H + HgCl2 = HgH2 + 2HCl

HgH2 à Hg + H2

2. Phương pháp tiến hành:

(Phương pháp phân tích định lượng được sử dụng là phương pháp đường

chuẩn)

2.1 chuẩn bị mẫu:

* Dung dịch mẫu chuẩn:

– dung dịch gốc: hòa tan 1g thủy ngân trong 1000ml axit H2SO4 nồng độ 1N.

– dung dịch trung gian: pha loãng 1ml dung dịch gốc thành 1000ml bằng

dung dịch axit H2SO4 nồng độ 1N.

– dung dịch chuẩn làm việc: pha loãng dung dịch trung gian thành dung dịch

chuẩn làm việc có hàm lượng thủy ngân lần lượt là 2, 4, 6, 8 ,10 mg/l bằng

dung dịch axit HNO3 nồng độ 1N.

11

* Dung dịch mẫu phân tích:

Cho 1g mẫu khô vào bình Kendal, thêm 5ml axit HNO3 đậm đặc rồi vặn

chặt nắp đậy kín bình lại để yên từ 20-30 phút. Sau đó, đun nóng chậm trên

bếp điện cho đến khi thu được dung dịch trong suốt. Chuyển dung dịch mẫu

vào bình chịu nhiệt và đun nóng trên bếp điện đến cạn khô, hòa tan cặn bằng

1ml nước cất ta thu được dung dịch mẫu để tiến hành phân tích.

2.2 Tiến hành phân tích:

+Ghép nối hoàn chỉnh các thiết bị của hệ đo phổ hấp thụ nguyên tử .

+Tối ưu hóa các điều kiện làm việc trên máy quang phổ hấp thụ nguyên

tử, sử dụng bức xạ kích thích có bước sóng 253,7nm, độ nhạy là 0,1ppm,

chế độ đo là CV-AAS.

+Tiến hành đo phổ hấp thụ của các mẫu chuẩn có hàm lượng thuỷ ngân

lần lượt là 2, 4, 6, 8 ,10 mg/l. Từ đó xác định độ hấp thụ A tương ứng thông

qua các đỉnh hấp thụ trong phổ hấp thụ nguyên tử vừa đo của các mẫu

chuẩn.

12

+Từ đó ta dựng được đường chuẩn A – C. được minh họa như hình 2. dưới

đây:

+Khi đường chuẩn có độ tuyến tính tốt rồi thì ta tiến hành đo để xác định

độ hấp thụ Ax của mẫu cần phân tích thông qua phổ hấp thụ của nó. Phổ hấp

thụ của mẫu cần phân tích được minh họa ở hình 3.

13

Từ kết quả Ax và đường chuẩn ta tìm được nồng độ Cx thủy ngân trong mẫu

cần phân tích.

3. Tính toán kết quả:

Hàm lượng thủy ngân trong mẫu được tính theo công thức sau:

Trong đó:

喸h

喸h

+ CHg là hàm lượng thủy ngân có trong mẫu (mg/g).

+ mHg là hàm lượng thủy ngân có trong dung dịch mẫu tính được theo

đường chuẩn (mg/l).

+ V là thê tích dung dịch để hòa tan mẫu phân tích.

+ M là khối lượng mẫu phân tích.

14

V. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH PHỔ HẤP

THỤ NGUYÊN TỬ

+ Phép đo phổ hấp thụ nguyên tử có độ nhạy và độ chọn lọc cao. Đặc biệt

hiệu quả trong phân tích các nguyên tố vi lượng…

+ Từ nhiều ứng dụng ta nhận thấy phương pháp AAS là một kỹ thuật phân

tích hóa-lý, đang phát triển mạnh mẽ và rộng rãi.

+ Hiện nay phương pháp AAS đã trở thành một phương pháp tiêu chuẩn để

phân tích lượng vết kim loại trong nhiều đối tượng khác nhau như: đất,

nước, không khí, thực phẩm…

+ Hiện nay trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, phương pháp này là một trong

những công cụ đắc lực để xác định hàm lượng các kim loại nặng và những

nguyên tố độc hại trong tự nhiên và trong các sản phẩm khác nhau.

15

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Các phương pháp phân tích theo phổ hấp thụ nguyên tử_Phạm Luận,

Trường đại học tổng hợp Hà nội 1987.

2. Phân tích hợp chất bằng phương pháp đo phổ

http://www.scribd.com/doc/37407162/Phan-Tich-Hop-Chat-Bang-QuangPho-VinaEbookChemistryHere

3. Các phương pháp phân tích Vật lý và Hóa lý, Nhà xuất bản Khoa học

Kĩ thuật.

4.http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A2n_t%C3%ADch_As_b%E1%BA

%B1ng_ph%C6%B0%C6%A1ng_ph%C3%A1p_AAS

16

【#4】Báo Song Ngữ 73: Phương Pháp Nuôi Dạy Con Của Người Do Thái

08/11/2019 19:37

Báo song ngữ

A JEWISH LESSON IN RAISING RESPONSIBLE CHILDREN

Studies show that a lack of freedom in one’s childhood causes serious problems later in life. Overprotected kids grow into more vulnerable adults who are more likely to be medicated for anxiety and/or depssion; may be deficient in life skills, such as decision making and weighting of alternatives; and are hampered in their ability to achieve their own goals compared to those who are allowed to take their own risks.

Children in Israel enjoy great freedom and independence. They routinely walk or bike to school alone and younger children are often seen at the local grocery store, running errands, or hanging out at the park without adult supervision.

Some of the reasons Israeli kids appear to have greater freedom than in other Western countries are structural: neighborhoods – at least the older ones – were built to be pedestrian-friendly places with schools, parks, and groceries within walking distance from home. But part of the difference is also institutional – a matter of deeply-rooted cultural norms. Jewish tradition has always valued children, and this has remained true even in Israel’s increasingly inpidualistic society. The First Commandment in the Torah, “Go forth and multiply” was interpted in the Talmud as meaning that a man is required to marry and to sire at least two children; some say, at least two of each gender.

But beyond this, Jewish tradition requires that children be educated to independence. The rabbis of the Talmud instructed every father to teach his son a trade, but some said he also must teach his son how to swim. It’s clear that the job of the parent is to teach the child to be independent – but why swimming? I think the reason is that swimming involves being out of one’s element. The job of the parent is to give the child the necessary skills to survive in a foreign, and potentially hazardous, to teach the child coping skills.

Some of these skills are learned though being responsible for others, a responsibility that is incurred very early in a Jewish child’s life. It isn’t at all unusual for Israeli children under the age of ten to be responsible for caring for their younger brothers and sisters, including changing diapers and feeding them. But even those who don’t have the (mixed) blessing of younger siblings acquire certain responsibilities at the age of bar and bat mitzvah. (…)

Additional responsibility comes from the requirement to honor one’s parents. The Talmud (Kiddushin 29-32) sets out the duties of a child toward his or her parents, including providing for them physically, running errands for them, and even extends to not sitting in one’s father’s chair or correcting one’s mother in public. In Jewish tradition, the parents are the ones to be coddled, not the children. It may be that this is a form of balancing: Talmud or no Talmud, parents are going to coddle their children to some extent; so by imposing a reciprocal responsibility on the child, the Torah ensures that it’s not a one-way street.

Jewish culture is based on obligations rather than rights. Children regularly take part in communal responsibilities – visiting the sick, attending funerals, comforting mourners, and dancing at weddings – all of which indirectly underscore the fact that life has its ups and downs, and that we are all responsible for one another. These are things that can’t be taught; they must be experienced.

And so, rather than trying to cushion our children from the vicissitudes of life, we expose them to both the good and the bad, all the while giving them the skills to cope with what life throws at them. They also learn one of the most important skills of all – the ability to trust others to lend a helping hand at need.

The bottom line is that a healthy society is one in which children are provided with a high degree of freedom, responsibility and trust. To give them that, we need to create communities that are safe for children to roam, workplaces must give employees ample leave to provide the necessary care to their families, and education must be made a high priority.

【#5】Các Phương Pháp Sản Xuất Cồn Khô Hiện Nay

Cồn khô được sử dụng rất rộng rãi trong các nhà hàng, khách sạn hay trong gia đình bởi giá thành của cồn khô khá rẻ, chi phí ban đầu thấp hơn nhiều các loại sản phẩm tạo nhiệt khác, đặc biệt cồn khô sử dụng còn an toàn và linh động không gây cháy nổ như các loại bình ga mini.

1, Phương pháp điều chế cồn khô có sử dụng Calci acetat bão hoà

Khi trộn Calci acetat bão hòa trong dung môi nước với rượu thì sẽ tạo thành cồn khô dưới dạng keo Calci acetat. Kết quả trên có thể được giải thích bằng “phương pháp thay dung môi”: Khi thông số trạng thái thay đổi làm cho hóa thế cấu tử tồn tại trong môi trường phân tán trở nên lớn hơn ở trạng thái cân bằng, do đó xu hướng của quá trình sẽ diễn ra theo chiều chuyển về trạng thái cân bằng, tức là pha mới được tạo ra. Trong phương pháp này dung môi được thay thế, tức là thay đổi thành phần môi trường. Do vậy, Calci acetat bão hòa trong môi trường nước, nhưng nó trở thành quá bão hoà trong môi trường rượu – nước (Calci acetat không tan trong rượu) nên quá trình ngưng tụ sẽ xảy ra.

Hình 1.1 : Quy trình điều chế cồn khô bằng phương pháp Calci acetat bão hòa

Trong phương pháp này cồn khô được điều chế từ 75 ml rượu Etylic ( Etanol)và 10 ml Calci acetat bão hoà (được điều chế từ 3g Calci acetat và 10ml nước)17 tương ứng với tỷ lệ 7,5:1. Và từ 40ml Etanol và 10 ml Calci acetat bão hoà.

2, Phương pháp điều chế cồn khô có sử dụng acid béo và kiềm

2.1 Trong alcol nóng, acid béo được hòa tan tốt hơn và phản ứng nhanh với kiềm tạo thành một tác nhân tạo gel là xà phòng acid béo và nước.

Trong thành phần của nhiên liệu cồn khô dạng gel này cũng có thể được trộn vào một số chất mà vẫn không có ảnh hưởng bất lợi đến tính chất của sản phẩm. Các chất đó có thể là: thuốc nhuộm (như Phenolphtalein, Rose Bengal) dùng để chỉ thị hoặc để gia tăng giá trị thẩm mỹ cho sản phẩm; những chất dùng để tạo màu ngọn lửa như muối Natri và muối Kali của Nitrat và Clorat, cũng như các muối của Li, Bo, Cu…Những thành phần này chỉ được sử dụng với một lượng nhỏ, thường thì sử dụng không vượt quá 1% khối lượng và thích hợp nhất là 0,5%.

3, Phương pháp điều chế cồn khô có sử dụng dẫn xuất Cellulose với một lớp ngăn chặn sự hydrat hóa.

Ở vùng pH của dung dịch nhỏ, chính các nhóm ion được ion hoá gây tác dụng qua lại làm cho mạch phân tử có phần bị co lại, nên độ nhớt cũng giảm. Khi tăng pH của dung dịch thì mạch phân tử của các chất cao phân tử điện li giãn ra do sự ion hoá tăng lên, nên độ nhớt của dung dịch cũng tăng lên. Do đó khi trộn lẫn các thành phần nước, cồn, Hydroxypropyl methyl cellulose được thực hiện bằng cách hạ thấp độ pH của hỗn hợp. Sau đó độ pH của hỗn hợp được tăng lên làm tăng độ nhớt và cồn được chuyển sang dạng gel.

(1): Trước tiên trộn 200 ml cồn với 50 ml nước.

(2): Sau đó 10g Methocel J75 MS được thêm vào, thu được dung dịch sệt có chứa nước.

(3): Đỗ dung dịch sệt này vào vật chứa có chứa sẵn một lượng chất kiềm đủ để tăng pH đến 8 hoặc trên 8 (lượng Natri hydroxid sử dụng là từ 2 đến 4 gram). Sự tạo gel sẽ lập tức xảy ra.

Hình 1.2 Sơ đồ điều chế cồn khô có sử dụng dẫn xuất Cellulose với một lớp ngăn chặn sự hydrat hóa

4, Phương pháp điều chế cồn khô có sử dung nhiên liệu vô cơ

4.1 – Cho 72g Silic dioxid và 1,2g Calci hydroxid vào 2 874g Etanol và khuấy nhanh khoảng 1,5 phút. + Sau đó thêm vào 54g

Hydroxypropyl cellulose và trộn đều.

Hỗn hợp này sẽ đông đặc dần cho đến khi giống như một khối gel đồng nhất (khoảng 1,5 giờ).

4.2 – Cho 6g Silic dioxid, 6g Titan dioxid và 0,1g Calci hydroxid vào 2898g

+ Sau đó thêm vào 90g Hydroxypropyl cellulose và trộn đều.

4.3 – Cho 6g Silic dioxid, 6g Nhôm oxid vào 1 026g Etanol.

+ Cho vào 84g Metylhydroxybutyl và trộn khoảng 10 phút (với vận tốc

+ Sau đó thêm vào 374g nước.

+ Sau 20 phút cho vào thêm 1 504g Etanol sẽ thu được khối gel đồng nhất.

Để có cồn 100% ta phải tìm cách loại nước khỏi dung dịch cồn. Trên thị trường hiện có bán loại cồn nồng độ 90%. Để tách được nước thì đơn giản nhất là dùng phương pháp hóa học với các hóa chất sẵn có. Cách đơn giản nhất là dùng muối đồng sulfat khan (tinh thể màu trắng) để hấp thụ nước có trong cồn. Tiến hành loại nước nhiều lần để loại bỏ nước trong cồn triệt để.

Xét về nguyên lý cấu tạo, cồn khô được làm từ rượu Etylic và các phụ gia khác. Nếu làm đúng như công thức này, cồn khô thực sự là một thứ chất đốt hữu hiệu và an toàn. Nhưng hiện nay vì mục đích kinh tế mà một số người bất chấp tới sức khỏe của người tiêu dùng trộn rượu Metylic vào để sản xuất cồn khô, do giá thành của rượu Metylic rẻ hơn rất nhiều so với rượu Etylic, và chủ yếu là cồn khô không nhãn mác, không rõ nguồn gốc xuất xứ. Vì khi đốt lên, metylic sẽ bị cháy ít nhiều, làm giảm nguy cơ độc hại với cơ thể. Phần không cháy hết bị bốc hơi mới là tác nhân chính gây hại cho cơ thể.

【#6】Một Số Phương Pháp Trị Liệu Cho Trẻ Tự Kỷ

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HÀNH VI (Applied Behavior Analysis or ABA)

Vào những nămcuối thập niên 60 và 70, Tiến Sỹ Ole Ivar Lovaas (1927-2010), một chuyên gia tâm lý thuộc trường phái Skinner, là người đầu tiên khởi xướng phương pháp phân tích và trị liệu hành vi (ABA/DTT) cho chứng tự kỷ tại Đại Học UCLA (University of California, Los Angeles).

1) Dạy kỹ năng (teaching skills): Chú trọng đến những kỹ năng cần đạt được của trẻ tự kỷ bằng cách phân chia hay soạn thảo những kỹ năng đó thành nhiều đoạn nhỏ hay bài học ngắn để giảng dạy. Ví dụ, để dạy trẻ tự kỷ về nói và ngôn ngữ, các chuyên viên ABA thường tiến hành những bước sau:

  • Dạy trẻ ngồi yên, mắt nhìn thẳng.
  • Dạy trẻ biết phân biệt âm giọng, sử dụng từ ngữ để liên tưởng đến vật thể.
  • Dạy trẻ biết dùng hình ảnh đúng với vật thể.
  • Dạy trẻ biết bắt chước những động tác của người lớn.
  • Dạy trẻ biết nối kết từ ngữ thành những câu đơn giản như “con muốn ăn cơm”.

2) Loại bỏ những hành vi không thích hợp (eliminating interfering behaviors): Mục đích của ABA là loại bỏ những hành vi có tác động tiêu cực, ngăn trở sự học tập, gây khó khăn trong giao tiếp xã hội của trẻ tự kỷ ở nhà trường và ở những môi trường sinh hoạt khác, chẳng hạn trẻ tự kỷ chỉ thích, chơi một mình, không chăm chú, không hợp tác, chống đối, lên cơn, trốn chạy, hay những hành động tự kích (self-stimulated) như thích nhìn đèn điện, xoay vần vật thể, nhún mình v.v…

Trong những buổi học đầu tiên, các chuyên viên ABA ứng dụng phương pháp phân đoạn, lặp đi, lặp lại, đơn giản và rõ ràng(Discrete Trial Training or DTT) bằng cách soạn thảo những câu hỏi cho công việc đòi hỏi trẻ phải thực hiện hay trả lời. Ví dụ, người giảng dạy ra lệnh cho trẻ vừa bằng lời, vừa bằng dấu hiệu (Discriminative Stimulus or SD) như vỗ tay, sờ trán, sờ tai. Nếu trẻ chưa trả lời vì phân vân hay rối trí, người giảng dạy cầm tay trẻ, giúp trẻ thực hiện những động tác nầy. Dần dần, khi trẻ quen với hiệu lịnh và thực hiện được những đòi hỏi đơn giản trên, sự nhắc nhở sẽ giảm đi và sự đòi hỏi khác sẽ được thêm vào như vừa vỗ tay, vừa dậm chân, sờ mũi, trán, tay. Sau mỗi hành động trẻ thực hiện được, chuyên viên hướng dẫn sẽ ngợi khen bằng lời nói hay tưởng thưởng trẻ bằng bánh kẹo hay những gì trẻ thích, cho giải lao trong chốc lát rồi đưa trẻ trở về lại với những động tác đã được huấn luyện. Theo thời gian, sự đòi hỏi hay công việc trẻ phải thực hiện sẽ gia tăng nhiều hơn và thời gian giải lao có thể kéo dài để tránh tình trạng căng thẳng cho trẻ.

Vào năm 1987, Lovaas và đồng sự có viết báo cáo về kết quả nghiên cứu của phương pháp phân tích, ứng dụng trị liệu hành vi, gọi là ABA của 38 trẻ tự kỷ bao gồm các trẻ nhỏ hơn 40 tháng tuổi (3 tuổi 4 tháng) nếu trẻ chưa nói được. Nhỏ hơn 46 tháng (3 tuổi 10 tháng) nếu trẻ nói được, nhưng thường lặp đi, lặp lại như vẹt.

Các em được chia làm 2 nhóm:

Trước khi sự trị liệu bắt đầu, 38 trẻ tự kỷ trong 2 nhóm được đo lường hay trắc nghiệm về khả năng trí tuệ và thích ứng với đời sống (p-test). 2 năm sau, chương trình trị liệu chấm dứt, 38 trẻ trong 2 nhóm được đo lường hay trắc nghiệm lại (post-test).

Kết quả đạt được : 47% hay 9 trong số 19 trẻ tự kỷ thuộc nhóm được nhiều thời gian trị liệu, có khả năng trí tuệ tiến bộ đến mức bình thường, có thể theo học ở các lớp dành cho trẻ không bị khuyết tật và không cần đến sự can thiệp của chương trình giáo dục đặc biệt ở nhà trường. Ngược lại, chỉ có 1 trong 19 đứa trẻ thuộc nhóm được ít thời gian trị liệu, 10 tiếng một tuần, đạt được khả năng trí tuệ trung bình. Như vậy số lượng 10 tiếng trị liệu trong 1 tuần thật sự không đủ để giúp trẻ tự kỷ tiến bộ đến mức trung bình. Theo Lovaas và đồng sự, trẻ tự kỷ phải cần số lượng 40 tiếng trị liệu trong 1 tuần mới có thể đạt được khả năng trí tuệ của một đứa trẻ bình thường. Nói cách khác, số lượng 40 tiếng 1 tuần, theo nghiên cứu của Lovaas, là điều kiện để trẻ tự kỷ đạt được những mục tiêu sau:

Lồng vào những mục đích trên là sự rèn luyện những kỹ năng, kiến thức căn bản để chuẩn bị vào trường như trao dồi từ vựng, phân biệt hình thể, mầu sắc, số đếm, mẫu tự, cũng như khả năng xử dụng ngôn từ có chủ đích.

Ở giai đoạn đầu của ABA, các chuyên viên ABA thường huấn luyện phụ huynh những căn bản cần thiết để họ giúp đỡ thêm cho trẻ ở gia đình và khuyến khích phụ huynh trở thành những thành viên thuộc nhóm trị liệu. Vào những giai đoạn sau, chương trình trị liệu nhắm vào sự diễn đạt ngôn ngữ có tính trừu tượng, dạy trẻ biết học bằng sự quan sát, bắt chước và biết bày tỏ xúc cảm một cách thích hợp.

Trọng tâm của ABA chính là sự ứng dụng phương pháp giảng dạy được soạn thảo riêng và phân đoạn đơn giản, rõ ràng, có tính lặp đi, lặp lại, gọi là ABA/DTT.

PHƯƠNG PHÁP DISCRETE TRIAL TRAINING ( DTT)

Phương pháp nầy có thể ứng dụng ở nhà , ở trung tâm ở trường , hoặc ở một địa điểm yên tịnh nào đó, tùy vào điều kiện, giờ giấc sinh hoạt của gia đình và nhu cầu của trẻ tự kỷ.

1) Giảng viên phải thu hút sự chú ý của trẻ.

3) Giảng viên phải nhắc nhở nếu trẻ chưa thực hiện đúng với hiệu lịnh. Sự nhắc nhở của giảng viên có thể :

b) bằng sự phụ giúp cử động thân mình, chân tay của trẻ

d) bằng sự di chuyển vật thể gần với vị trí của trẻ.

Sự nhắc nhở sẽ giảm dần và không còn được ứng dụng khi trẻ dần quen và thực hiện những yêu cầu đúng theo hiệu lịnh của chuyên viên.

4) Giảng viên phải tạo cơ hội cho trẻ trả lời hay thực hiện đúng theo hiệu lịnh để gây cho trẻ sự hứng thú và sự tự tin để tiếp tục học tập.

5) Giảng viên chủ động về sự khen thưởng mỗi khi trẻ trả lời hay thực hiện đúng theo hiệu lịnh. Sự khen thưởng thường xuyên sẽ tạo nên sự phấn khởi, thúc đẩy trẻ hợp tác tích cực hơn trong quá trình học tập. Những câu trả lời sai thường được lờ đi, nhưng sẽ được lặp lại nhiều hơn trong những lần giảng dạy kế tiếp cho đến khi trẻ hiểu và trả lời một cách chính xác.

6) Giảng viên thâu thập dữ kiện về số lần trả lời hay thực hiện đúng, sai của trẻ để tổng kết, đo lường mức độ tiến bộ của trẻ về kỹ năng nào đó.

Cũng như nhiều phương pháp trị liệu tự kỷ khác, ABA/DTT có lắm kẻ khen, người chê. Điều nầy chứng tỏ rằng ABA/DTT chưa phải là phương pháp duy nhất, hữu hiệu nhất dành cho trẻ tự kỷ. Có khi sự ứng dụng hay áp đặt quá nhiều giờ ABA/DTT sẽ khiến trẻ xuống sức, mệt mỏi, chán chường, trở nên cáu kỉnh, chống đối bất thường với mọi người chung quanh. Một đứa trẻ bị ép buộc, thúc đẩy học tập ngoài khả năng của mình có thể trở nên hung hăng và tìm cách trốn chạy khỏi lớp học là chuyện rất thường tình. Bị động trong những tình huống đó, phụ huynh chỉ còn cách thay đổi giờ giấc, giảm thiểu giờ học hay tìm một phương pháp trị liệu khác thích hợp hơn cho con em mình.

Thái độ chống đối, bất hợp tác (noncompliance or uncooperative behavior) như lên cơn, nằm vạ thường xảy ra ở giai đoạn đầu, khi trẻ còn xa lạ với ABA/DTT. Trẻ tự kỷ có thể hiểu rằng sự chống đối, bất hợp tác là cách giúp chúng thoát khỏi sự đòi hỏi phải thực hiện một công việc nào đó của giảng viên. Dần dần, không sớm thì muộn, trẻ biết sẽ được khen thưởng nếu hợp tác, thực hiện công việc theo lời hay động tác của giảng viên. Tuy nhiên, nếu sự chống đối, bất hợp tác xảy ra vào những giai đoạn sau thì điều nầy chứng tỏ rằng chương trình giảng dạy cần phải được xem xét lại để có những bổ xung hay cải biến thích hợp hơn. Đó chính là vai trò của những chuyên viên tư vấn hay những chuyên viên có nhiều kinh nghiệm về giáo dục trẻ tự kỷ phải suy nghĩ và tham gia cùng với phụ huynh để soạn thảo những kế hoạch nhằm giải quyết vấn đề nầy.

PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU VỀ NÓI/NGÔN NGỮ

Sự truyền đạt ngôn ngữ là hành vi người ta dùng âm giọng hay tiếng nói để thu hút sự chú ý của người khác. Không phải bất cứ sự truyền đạt ngôn ngữ nào cũng có chủ đích. Một đứa trẻ tự kỷ đứng chơi một mình và nói vào khoảng không một cách lặp đi, lặp lại như “kẹo, kẹo, kẹo, kẹo” là không có chủ đích. Ngược lại, nếu trẻ đó lại gần, nhìn chúng ta và nói, “kẹo, ăn kẹo” thì đó chính là sự truyền đạt ngôn ngữ có chủ đích và lôi cuốn được sự chú ý của chúng ta.

  • Biết chờ đến lượt mình trong đối thoại,
  • biết nhìn người đối thoại,
  • biết không thay đổi hay chuyển đề tài đột ngột,
  • biết khoảng cách đứng, ngồi đối diện giữa trẻ và người khác một cách thích hợp,
  • biết nhận hiểu những ý nghĩ và phản ứng của người khác khi nói hay xúc phạm điều gì đó,
  • biết theo đúng nề nếp căn bản của xã hội.

Phương Pháp Truyền Đạt Ngôn Ngữ Không Dùng Lời (Augmentative and Alternative or ACC)

Tiến Sỹ Matt Tincani, chuyên gia ABA và là giáo sư giảng dạy trong chương trình giáo dục đặc biệt ở Đại Học Temple, Philadelphia, Pennsylvania, gợi ý rằng chừng 50% trẻ tự kỷ không thể dùng lời có chủ đích trong vấn đề truyền đạt ngôn ngữ. Tuy nhiên, bằng sự giảng dạy, ứng dụng phương pháp truyền đạt ngôn ngữ không dùng lời (AAC), trẻ tự kỷ có thể xử dụng ngôn ngữ một cách có ý nghĩa hơn.

Những phương pháp truyền đạt ngôn ngữ không dùng lời :

Mục đích chính của AAC là giúp đỡ trẻ tự kỷ học nói qua hình ảnh, dấu hiệu và trợ cụ, nhất là giúp đỡ trẻ tự kỷ có khó khăn về vận động môi, miệng lưỡi (oral-motor apraxia).

HỆ THỐNG TRAO ĐỔI NGÔN NGỮ BẰNG HÌNH ẢNH (Picture Exchange Communication System or PECS)

Những năm gần đây, hệ thống trao đổi sự truyền đạt ngôn ngữ bằng hình ảnh thay lời nói đã không ngừng cải biến để giúp trẻ tự kỷ phát triển khả năng truyền đạt về ngôn ngữ.

Hệ thống PECS được chủ xướng và phát động bởi Tiến Sỹ Andy Boudy và Lori A. Frost.Những chuyên gia về ngôn ngữ nầy cho rằng trẻ tự kỷ thường có lối suy nghĩ qua hình ảnh và vì vậy, trẻ tự kỷ có khả năng học bằng mắt hơn bằng tai nghe.

Hệ thống truyền đạt ngôn ngữ (PECS) ứng dụng những phương pháp ABA/DTT của Lovaas để dạy trẻ biết trao đổi hình ảnh cho những điều chúng muốn bày tỏ, nhưng không thể dùng lời. Ví dụ, trẻ đưa hình có ly nước cho người lớn với ý thay lời rằng trẻ đang khát nước.

Vài chuyên gia tự kỷ cho rằng PECS chỉ có hiệu quả đối với trẻ tự kỷ chưa biết xử dụng ngôn từ có chủ đích hay khả năng ngôn ngữ đang ở mức độ phát triển chậm, hoặc trẻ chưa thể nói được. Nhiều phụ huynh không muốn con mình học tập theo phương pháp nầy. Họ sợ trẻ sẽ trở nên lười nói, chỉ muốn xử dụng hình ảnh hay nhấn nút để truyền đạt ý muốn. Điều nầy chưa hẳn đúng, bởi vì PESC chỉ là một trong những phương pháp khởi đầu mà thôi.

  • Hệ thống ứng dụng kỹ thuật dạng thấp là những trợ cụ không thuộc điện tử, như bảng đối thoại bảng thời khóa biểu sách đàm thoại, sách có nhiều hình ảnh về thú vật, thức ăn, trái cây, địa danh, và những vật dụng rẻ tiền có thể tự làm được.
  • Hệ thống ứng dụng kỹ thuật dạng cao là những trợ cụ điện tử. Bằng những trợ cụ nầy, trẻ tự kỷ có thể bấm nút hay chạm tay vào màn hình để vừa nghe, vừa thấy hình ảnh. Ví dụ, khi trẻ bấm hình có ly sữa, trợ cụ điện tử sẽ có lời phát ra: “Làm ơn, tôi muốn uống sữa. Cảm ơn.”

Ngày nay, IPAD là một trợ cụ cao cấp, rất thông dụng, được nhiều trường học và trung tâm trị liệu tự kỷ xử dụng trong chương trình giảng dạy về nói/ngôn ngữ (AAC program).

Phương Pháp Ứng Dụng Hành Vi Bằng Lời (Verbal Behavior)

Phương pháp nầy là một nhánh tẻ của ABA/DTT do Tiến Sỹ Lovaas đề xướng năm xưa. Ở Hoa Kỳ, vào những năm gần đây, phương pháp nầy trở nên rất thịnh hành. Dựa vào triết thuyết của B.F. Skinner, phương pháp ứng dụng hành vi bằng lời có những trọng điểm như sau:

PHƯƠNG PHÁP CAN THIỆP BẰNG SỰ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ XÃ HỘI (Relationship Developmental Intervention or RDI)

Ở Hoa Kỳ, phương pháp nầy tương đối mới và đang thu hút được nhiều sự chú ý của phụ huynh. Tiến Sỹ Steven Gutstein, một chuyên gia tâm lý và về tự kỷ, đã thành lập và cổ động phương pháp trị liệu nầy ở mạng chúng tôi Tiến Sỹ Gutstein cho rằng kỹ năng giao tiếp xã hội của trẻ tự kỷ thay đổi qua từng giai đoạn, và vì vậy, phụ huynh hay giáo viên phải biết làm gì để giúp đỡ trẻ phát triển về mặt giao tiếp xã hội trong từng giai đoạn đó. Ưu điểm của phương pháp nầy chính là sự thẩm định có thang bậc (scales) cho trẻ tự kỷ để soạn thảo những mục tiêu về mặt giao tiếp xã hội, nhất là đo lường được sự tiến bộ của trẻ trong những phiên bản về chương trình giáo dục cá nhân (IEP) ở nhà trường. Hiện chưa có những nghiên cứu về tính hiệu quả của phương pháp nầy, chỉ biết rằng lý thuyết của Gutstein có thể ứng dụng bên ngoài lớp học bởi các phụ huynh và các chuyên gia đa ngành.

PHƯƠNG PHÁP NGỒI SÀN (FLOORTIME)

Ở Hoa Kỳ, Stanley Greenspan (1941-2010) và Serena Weider, hai chuyên gia về tâm thần học, là những người có công soạn thảo và ứng dụng phương pháp nầy. Mục đích của phương pháp ngồi sàn là tạo nên sự hứng khởi, động lực cho trẻ tự kỷ trong vấn đề trao đổi ngôn ngữ. Thay vì trẻ ngồi xuống ghế học tập theo người lớn qua ABA, phương pháp ngồi sàn đòi hỏi người lớn phải gia nhập cuộc chơi với trẻ trên sàn, gọi là vòng tròn đối thoại (cirles of communication).

Trong sự ứng dụng phương pháp ngồi sàn hay ngồi dưới đất nầy, nếu trẻ hỏi và thực hiện điều gì đó thì người lớn sẽ trả lời và làm theo trẻ trong không khí thỏa mái, cùng nhau chơi đùa rất tự nhiên.

Hiện chưa có những nghiên cứu nào cho thấy phương pháp ngồi sàn có thành quả tốt hơn những phương pháp khác. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia tự kỷ cho rằng ABA/DTT thúc đẩy trẻ tự kỷ tiến bộ nhanh hơn, hữu hiệu hơn phương pháp ngồi sàn.

TEACH đã và đang được ứng dụng trong các dịch vụ dành cho tự kỷ ở North Carolina và ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là ở Nhật Bản. TEACCH có tính cá nhân, đặt nặng nhu cầu cá biệt của từng trẻ tự kỷ, cho phép giảng viên và phụ huynh cùng nhau soạn thảo những mục tiêu trẻ cần phải đạt được. Mô hình nổi bật của TEACCH là các lớp học riêng biệt, cô lập, nằm trong một khuôn khổ có tổ chức và nề nếp (self-contained classroom).

Các chuyên gia TEACCH cho rằng trẻ tự kỷ thâu thập thông tin hiệu quả bằng mắt chứ không bằng tai nghe. Vì vậy, chuyên gia TEACCH thường dùng hình ảnh để hướng dẫn trẻ tự kỷ sinh hoạt đúng theo thời khóa biểu để tạo nên thói quen về mặt sinh hoạt, học tập, cũng như biểu hiện những hành vi thích hợp và tích cực. Ví dụ, họ dạy trẻ biết để quần áo, các hộp đựng thức ăn trưa ở đâu khi bước vào lớp học bằng cách dựa theo hình ảnh chỉ dẫn, dạy trẻ biết lấy bài tập ở đâu và để đâu khi chúng làm xong, và kế tiếp sẽ làm gì dựa vào thời khóa biểu có hình ảnh đi kèm.

– Trẻ thực hiện công việc chính xác hơn Trẻ có thời gian chấn chỉnh, tập trung hơn

– Trẻ phụ thuộc vào giảng viên nhiều hơn Trẻ có tính độc lập hơn

– Trẻ giải quyết vấn đề từ ngoài vào trong Trẻ giải quyết vấn đề từ trong ra ngoài

PHƯƠNG PHÁP THAY ĐỔI NHỮNG HÀNH VI “ĐẶC BIỆT” (Pivotal Response Training or PRT)

PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP (ECLECTICISM)

Nhiều chuyên gia tự kỷ giải thích đơn giản rằng chương trình giảng dạy/trị liệu tổng hợp (Electicism) chỉ là sự trộn lẫn một chút phương pháp TEACCH của Eric Schopler, một chút ABA của Lovaas, một chút phương pháp ngồi sàn của Greenspan, và một chút phương pháp trị liệu cảm giác của Jean Ayres

PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU VẬN ĐỘNG (Physical and Occupational Therapies)

Sự trị liệu vận động về vật lý (physical therapy) thường được thực hiện qua chương trình thể dục thích nghi (adaptive physical education) ở nhà trường, ở các trung tâm trị liệu dưới sự hướng dẫn của giáo viên chuyên về thể dục đặc biệt hoặc các chuyên viên có bằng cấp chuyên môn để giúp trẻ vận động những cơ bắp lớn (physical therapy) như dạy trẻ chạy, nhảy, kết hợp vận động chân tay, đi đứng cân bằng. Còn sự trị liệu vận động nhỏ hay tinh vi (occupational therapy) ở nhà trường, ở nhà hay ở trung tâm điều trị chủ yếu là dạy trẻ biết cầm kéo cắt, cầm bút vẽ, viết, có những kỹ năng tự chăm sóc mình (self-help) như biết ăn, biết mặc, biết đánh răng, đi vệ sinh, biết cách học và biết cách chơi cùng chúng bạn. Ngoài ra, các chuyên viên vận động tinh vi (occupational therapists) có thể ứng dụng phương pháp trị liệu về cảm giác (sensory integration therapy) để dạy trẻ biết nhận hiểu và điều chỉnh những tác động thuộc về cảm giác.

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU HÒA CẢM GIÁC (Sensory Integration or SI)

Ở Hoa Kỳ, chuyên gia về vận động tinh và tâm lý cho trẻ chậm phát triển, Tiến Sỹ Jean Ayres (1920-1989), biệt danh A. Jean Ayes thuộc Đại Học UCLA, là chuyên gia đầu tiên đúc kết cụm từ rối loạn về sự kết hợp cảm xúc (sensory integration dysfunction) vào những năm 60. Bà viết nhiều đề tài về phương diện nầy và khá nổi tiếng qua cuốn sách Sensory Integration and the Child.

Tiến Sỹ Ayes cho rằng trẻ bị chậm phát triển, kể cả tự kỷ, thường bị rối loạn về sự nhận hiểu cảm giác từ ngửi, nghe, thấy, sờ chạm, cũng như phản ứng hay di chuyển theo tác động của cảm giác.

  • Thiếu phản ứng : Chậm hay không phản ứng đối với những tiếng động lớn, tiếng nói, ánh sáng rực rỡ, hay không lộ rõ sự đau đớn khi ngã té hoặc tự gây thương tích cho chính mình.
  • Phản ứng mạnh : Bịt tai và la hét khi nghe những tiếng động bình thường hay bị sờ chạm.
  • Hành vi tự kích thích để tìm cảm giác : Chơi với những ngón tay xòe ra trước mặt, nhìn đèn điện, vật thể nào đó không chớp mắt, lắc đầu, lắc mình, quay vòng vòng v.v …

PHƯƠNG PHÁP DẠY KỸ NĂNG GIAO TIẾP XÃ HỘI (Social Skill Training)

Phương pháp dạy kỹ năng giao tiếp qua những câu chuyện ngắn về xã hội (social stories), có hình ảnh và đối thoại, thường được các chuyên viên tâm lý, chuyên viên về hành vi, ngôn ngữ, giáo viên, phụ giáo, phụ huynh áp dụng trong giờ chơi ở trường, trong lớp học, ở nhà qua những trò chơi, sinh hoạt để giúp trẻ tự kỷ trao dồi kỹ năng giao tiếp xã hội và kết bạn.

Phương pháp kể chuyện social stories do Carol Gray giám đốc trung tâm chuyên nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp xã hội ở Grand Rapids, Michigan, Hoa Kỳ, khởi xướng vào năm 1991.

– Liệu phương pháp giảng dạy/trị liệu do phụ huynh lựa chọn có đầy đủ dữ kiện để chứng minh một cách khoa học về tính hiệu quả hay chỉ đơn thuần là những ý kiến chủ quan, tự tăng bốc để trục lợi của các chuyên gia đề xướng chương trình hay phương pháp giảng dạy đó?

– Liệu chương trình hay phương pháp do phụ huynh lựa chọn có thích hợp và nằm trong kế hoạch giáo dục/trị liệu dài lâu cho con em khuyết tật hay không?

Nhìn chung,, các phương pháp chỉ nên xem là một kỹ thuật nằm trong một Hệ thống can thiệp nhiều mặt ở các môi trường : Gia đình – Nhà trường và Xã hội dưới sự phối hợp của 3 vai trò là ; Phụ huynh – Giáo viên đặc biệt và Chuyên viên . Không chỉ giao việc can thiệp cho một vai trò riêng lẻ nào.

Comments

【#7】Dạy Trẻ Kĩ Năng Sống Bằng Phương Pháp Montessori

Phương pháp Montessori là một phương pháp giáo dục trong đó coi trọng các tiềm năng của trẻ và nỗ lực để phát triển tiềm năng này bằng một môi trường giáo dục thân thiện, cởi mở với các giáo viên được đào tạo sâu về chuyên môn kèm theo các đồ dùng học tập được thiết kế đặc biệt.

Nguyên lý của phương pháp giáo dục Montessori:Trẻ chủ động chọn khu vực học và theo đuổi hứng thú của mình đến khi trẻ muốn đổi qua hoạt động khác.

Montessori là một phương pháp giáo dục ra đời từ đầu thế kỷ XX, do tiến sỹ người Ý Maria Montessori (1870 – 1952) sáng lập và đã được hơn 5.000 trường học ở Mỹ, Canada, Ấn Độ… áp dụng thành công trong hơn 100 năm qua.

Bộ sách hướng dẫn thực hành kĩ năng sống theo Phương pháp Montessori

Giai đoạn trẻ từ 2 – 6 tuổi là “giai đoạn vàng” cho sự phát triển của các bé. Ở độ tuổi này, các bé thích khám phá, học hỏi, bắt chước mọi người xung quanh và đây cũng chính là cơ hội vàng để các bố mẹ có thể giáo dục trẻ một cách tốt nhất. Dạy trẻ theo phương pháp giáo dục Montessori đang được rất nhiều bố mẹ quan tâm bởi những ưu điểm của nó so với phương pháp giáo dục con truyền thống. Tuy nhiên, hiện nay, tại Việt Nam, phần lớn việc dạy con theo phương pháp này mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu lí thuyết, sau đó, các bố mẹ tự rút ra “bí kíp” và thực hành theo kinh nghiệm của riêng mình. Các cuốn sách trong bộ sách Hướng dẫn thực hành kĩ năng sống bằng phương pháp Montessori gồm 5 tựa đề: Dậy nào bé ơi, Chuẩn bị tới trường, Tớ là trò giỏi, Tớ là con ngoan, Tớ là bạn tốt… là những bài học tình huống trực quan sinh động, hướng dẫn các bé những kĩ năng sống cơ bản nhất từ nhà đến trường để bé vững tin và hòa nhập tốt hơn khi bước vào tuổi đi học.

Ở cuốn Dậy nào bé ơi sẽ dành cho bạn nào hay nhõng nhẽo, ngủ nướng buổi sáng. Cuốn sách sẽ hướng dẫn bé dậy, tập gấp chăn màn gọn gàng, tập thể dục, vệ sinh cá nhân và chuẩn bị tới trường một cách hiệu quả.

Với Tớ là con ngoan: Cuốn sách sẽ hướng dẫn bé thường xuyên giúp đỡ ông bà, cha mẹ, tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình với các công việc: giúp chăm sóc cây cảnh, phơi quần áo, gấp gọn những đồ vật trong nhà như chiếu, thảm, hay lau chiếc gương soi…

Bìa cuốn: Chuẩn bị tới trường

Tớ là bạn tốt: Tớ là Ben, năm nay tớ 5 tuổi, các bạn trong lớp đều khen ngợi tớ là một người bạn tốt đấy. Ở nhà tớ thường xuyên giúp đỡ ông bà, bố mẹ làm việc nhà, ở lớp tớ cũng rất chăm chỉ, ngoài ra tớ cũng rất thích giúp đỡ các bạn trong lớp nữa…

Để dạy con cách tự lập ngay từ nhỏ không quá khó, nhưng đòi hỏi bố mẹ cần có phương pháp, sự kiên trì và nhẫn nại. Với bộ sách này, các bé không chỉ được học hỏi những kĩ năng sống cơ bản ở nhà, ở trường mà cha mẹ còn phải dành thời gian để hướng dẫn và chơi với các bé .

Bộ sách dạy trẻ kĩ năng sống bằng phương pháp Montessori do NXB Mỹ thuật và Phúc Minh Books ấn hành.

Nhị Xuân

【#8】Tập Huấn Phương Pháp Dạy Học Theo Hợp Đồng

Quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục của Bộ GD&ĐT có nêu: Giáo dục phải bám sát nhu cầu và đòi hỏi của xã hội, thông qua việc thiết kế các chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu cung cấp nhân lực phục vụ các ngành kinh tế đa dạng. Vì học sinh có những mong muốn, nhu cầu khác nhau, điều kiện sống và học tập khác biệt, giáo dục chỉ thực sự có hiệu quả nếu không đồng nhất tất cả mọi đối tượng. Giáo dục phải chú trọng nhiều hơn đến cơ hội lựa chọn trong học tập cho mỗi học sinh. Các chương trình, giáo trình và các phương án tổ chức dạy học phải đa dạng hơn, tạo cơ hội cho mỗi học sinh những gì phù hợp với chuẩn mực chung nhưng gắn với nhu cầu, nguyện vọng và điều kiện học tập của mình.

Hướng tới dạy học phân hóa, đáp ứng nhu cầu của người học, đợt tập huấn đổi mới phương pháp dạy học lần này, VVOB phối hợp với SGD&ĐT Quảng Nam tập huấn cho CB, GV cốt cán các trường THCS, PTDTNT huyện Bắc Trà My với mô-đun “Phương pháp dạy học theo hợp đồng”. Tại lớp tập huấn cùng với các báo cáo viên, các học viên đã được tìm hiểu về dạy học phân hóa, phương pháp dạy học theo hợp đồng, quy trình tổ chức dạy học theo hợp đồng, phân tích ưu điểm và hạn chế của phương pháp này. Với tinh thần làm việc tích cực, đầy trách nhiệm của từng cá nhân, sau đợt tập huấn mỗi học viên đã biết thiết kế bản hợp đồng, các nhiệm vụ học tập, lập được kế hoạch bài học có sử dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng. Đây là đợt tập huấn thiết thực và bổ ích, các học viên tiếp tục nghiên cứu, triển khai và áp dụng tại mỗi đơn vị nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông trên địa bàn huyện.

ThS. Nguyễn Văn Lộc (Phó trưởng phòng GDTrH SGD&ĐT Quảng Nam, BCV) báo cáo tại lớp tập huấn

Cô Hồ Thị Thu Nguyên (GV trường PTDTNT Nước Oa) đại diện nhóm, trình bày tại lớp tập huấn

【#9】Tổng Quan Phương Pháp Giáo Dục Itl©

– Hệ thống iSchool áp dụng Phương pháp Giáo dục ITL © (iSchool Teaching & Learning) được Viện Nghiên cứu Giáo dục – trường Đại học Sư Phạm chúng tôi tư vấn, phát triển trên cơ sở định hướng của các chuyên gia giáo dục Hoa Kỳ. ITL © độc quyền giảng dạy duy nhất tại hệ thống iSchool.

– Phương pháp Giáo dục ITL © mang đến cho người học một môi trường giáo dục hiện đại, thân thiện với 3 nội dung:

  • Phương pháp dạy – học tích cực: ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, với nhiều phương pháp, kỹ thuật được kết hợp linh hoạt cùng nhiều hoạt động học tập phong phú như: học nhóm, học qua dự án…
  • Kỷ luật tích cực: Cải thiện mối quan hệ hai chiều giữa Thầy – Trò. Giúp học sinh có cách xử sự tốt, tăng ý thức tự kỷ luật, có lòng tự trọng, có tinh thần trách nhiệm và cải thiện các mối quan hệ bạn bè, gia đình và xã hội.
  • Đánh giá học sinh tích cực: thông qua sự ghi nhận, khen ngợi và động viên bằng sự tiến bộ, khuyến khích sự nỗ lực của học sinh, tránh áp lực tâm lý, từ đó giúp học sinh tiếp nhận kiến thức một cách hiệu quả.
  • TỔ CHỨC GIỜ HỌC: Theo dự án, theo nhóm Linh động, giảm lý thuyết, tăng thực hành Phụ đạo học sinh yếu, bồi dưỡng học sinh giỏi.
  • VAI TRÒ CỦA HỌC SINH: Yêu thích việc học. Chủ động lập kế hoạch học tập. Nghiên cứu bài trước khi đến lớp.
  • VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN: Chủ động, sáng tạo. Ứng dụng công nghệ thông tin thành thạo. Tạo môi trường thử thách, hướng đến người học.

Giấy chứng nhận độc quyền phương pháp giáo dục ITL©

Hệ thống iSchool áp dụng Phương pháp Giáo dục ITL © (iSchool Teaching & Learning) được Viện Nghiên cứu Giáo dục – trường Đại học Sư Phạm chúng tôi tư vấn, phát triển trên cơ sở định hướng của các chuyên gia giáo dục Hoa Kỳ. ITL © độc quyền giảng dạy duy nhất tại hệ thống iSchool.

Phương pháp Giáo dục ITL © mang đến cho người học một môi trường giáo dục hiện đại, thân thiện với 3 nội dung:

【#10】Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6 Trong Nhà Trường Thcs

Trong việc giảng dạy phân môn Văn hiện nay, giáo viên đã được tiếp cận với rất nhiều phương pháp dạy học mới, không ít giờ dạy học tác phẩm văn chương đã diễn ra khá bài bản, người thầy đã đi hết một quy trình theo trình tự các mục mà vẫn chưa yên tâm. Nguyên nhân chính là chưa xác định, chưa tìm hiểu kỹ đặc trưng thể loại của tác phẩm. Khi tiếp cận bài học, học sinh phải trở thành những cá nhân tích cực, chủ động, tự giác tham gia vào việc tìm hiểu văn bản khám phá nội dung cũng như giá trị nghệ thuật của các văn bản được học. Vì vậy việc tìm hiểu, nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học là vô cùng quan trọng, nó giúp học sinh có cái nhìn đầy đủ và khái quát hơn về thể loại văn học được học đồng thời kích thích sự tìm tòi, ham học hỏi, kích thích tư duy và bồi đắp tình yêu đối với môn học Ngữ văn nói chung và với các văn bản văn học nói riêng.

Là giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy môn Ngữ văn – Môn học bồi dưỡng vẻ đẹp trí tuệ, tâm hồn, tình cảm,… cho các em, chúng ta phải nhận thức rất rõ ràng vai trò của phương pháp dạy học tích hợp trong chương trình Ngữ văn cấp THCS nói chung và trong chương trình Ngữ văn 6 nói riêng. Nếu chỉ giảng dạy theo phương pháp dạy học đơn thuần là phương pháp thuyết trình hay chỉ sử dụng chủ yếu một phương pháp nào đó trong quá trình tìm hiểu văn bản chắc chắn sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giờ dạy cũng như lượng kiến thức mà học sinh lĩnh hội được trong một giờ học.

Khi dạy về các truyền thuyết dân gian Việt Nam: Con Rồng, cháu Tiên; Bánh chưng, bánh giầy; Thánh Gióng; Sơn Tinh Thủy Tinh; Sự tích Hồ Gươm giáo viên yêu cầu học sinh tích hợp với phần Lịch sử, tự khai thác têm thông tin từ nhiều nguồn để hiểu biết thêm về nhà nước Văn Lang – Nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam; biết được vị trí địa lí của Nhà nước Văn Lang, của triều Hậu Lê ; hiểu rõ lịch sử, vai trò của vua Hùng Vương thứ VI; của Thánh Gióng; của Lê Lợi; của Hồ Gươm… với sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh – quốc phòng của đất nước; quan điểm của Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền đất nước. Qua đó học sinh thấy được vấn đề bảo vệ chủ quyền đất nước đã đặt ra từ thời sơ khai và tiếp nối mãi mãi về sau. Đồng thời nhận thức rõ trách nhiệm của mình trước vấn đề bảo vệ chủ quyền đất nước, bồi dưỡng lòng tự hào và tình yêu đất nước, dân tộc.

Như chúng ta đã biết văn học xuất phát từ đời sống, bắt nguồn từ đời sống vốn muôn hình muôn vẻ. Chính vì thế văn học rất gần gũi. Những văn bản truyện hay, hấp dẫn đã giúp cho giờ học Ngữ văn không chỉ là giờ học đơn thuần mà còn là những giờ giải trí, khám phá biết bao điều kỳ diệu của cuộc sống con người. Để có được giờ văn như thế, đòi hỏi người thầy phải luôn chủ động, sáng tạo và linh hoạt khi lên lớp. Ví dụ, khi dạy về truyền thuyết và một đoạn trong Sự tích Hồ Gươm, giáo viên cho học sinh quan sát hình ảnh Lê Lợi Bài thơ Hắc Hải – Nguyễn Đình Thi