Phương Pháp Aas Là Gì?

--- Bài mới hơn ---

  • Chương Trình Can Thiệp Hàng Đầu
  • Ứng Dụng Phương Pháp Phân Tích Hành Vi Ứng Dụng (Aba) Trên Một Trường Hợp › Góc Chuyên Môn
  • Đáp Án Môn Eg41
  • Phương Pháp Xếp Hạng Abcde Giúp Người Làm Sếp Quản Lý Nhân Viên, Công Việc Hiệu Quả Hơn
  • 21 Nguyên Tắc Để Làm Việc Hiệu Quả
  • AAS là phép đo phổ hấp thụ nguyên tử.

    Muốn thực hiện phép đo AAS cần phải theo các quá trình sau:

    – Chọn các điều kiện và một loại trang bị phù hợp để chuyển mẫu phân tích từ trạng thái ban đầu thành trạng thái hơi của các nguyên tử tự do. Gọi là quá trình nguyên tử hoá mẫu.

    – Chiếu chùm tia sáng phát xạ của nguyên tố cần phân tích qua đám hơi nguyên tử vừa điều chế trên. Phần cường độ của chùm tia sáng bị một loại nguyên tử hấp thụ là phụ thuộc vào nồng độ của nó trong môi trường hấp thụ.

    – Máy đo quang phổ thu, phân ly và chọn vạch phổ của nó. Cường độ đó chính là tín hiệu hấp thụ của vạch phổ hấp thụ.

    Máy đo phổ hấp thụ nguyên tử phải bao gồm các phần cơ bản sau:

    – Phần 1: Nguồn phát bức xạ cộng hưởng của nguyên tố cần phân tích. Đó là đèn catốt rỗng (HCL), các đèn phóng điện không điện cực (EDL), hay nguồn phát xạ liên tục đã được biến điệu.

    – Phần 2: Hệ thống nguyên tử hoá mẫu phân tích. Có thể theo kỹ thuật nguyên tử hoá bằng ngọn lửa (F-AAS) hoặc nguyên tử hoá không ngọn lửa (ETA-AAS).

    Liên hệ người viết :

    ++facebook của tôi : http://bit.ly/2gbTWGk

    +++blog : http://bit.ly/2iEwW3Y

    ++ pinterest của tôi : http://bit.ly/2yXVriG

    +++kênh học tập : http://bit.ly/2zM0S1v

    ++ instagram của tôi : https://www.instagram.com/nguyencongtrinh113/

    +++ Tumblr : http://bit.ly/2zUrIp3

    ++ reddit : http://bit.ly/2zKuA7h

    + Kỹ thuật nguyên tử hoá bằng ngọn lửa gồm:

    * Bộ phận dẫn mẫu vào buồng aerosol hoá và thực hiện quá trình aerosol hoá mẫu

    * Đèn để nguyên tử hoá mẫu khi đốt cháy hỗn hợp khí có chứa mẫu ở thể huyền phù khí

    + Kỹ thuật nguyên tử hoá mẫu không ngọn lửa: Dùng lò nung nhỏ bằng graphit (cuvet graphit) để nguyên tử hoá mẫu nhờ nguồn năng lượng điện có thế thấp (< 2V) nhưng dòng rất cao (50-500A).

    – Phần 3: Máy quang phổ, là bộ đơn sắc có nhiệm vụ thu và phân li và chọn tia sáng cần đo hướng vào nhân quang điện để phát hiện tín hiệu hấp thụ AAS.

    – Phần 4: Hệ thống chỉ thị tín hiệu hấp thụ của vạch phổ. Nó có thể là một điện kế hay một máy tự ghi pic của vạch phổ hoặc bộ hiện số hoặc máy in. Các máy hiện đại còn có thêm Microcomputer hay Microprocesor. Nhiệm vụ của nó là xử lý các kết quả đo và lập trình điều khiển tất cả 4 phần trên.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • “Ứng Dụng Phương Pháp Analytical Hierarchy Process (Ahp) Của Saaty Trong Nghiên Cứu Phân Vùng Thích Nghi Cho Cây Trồng”
  • Agile Là Gì? Scrum Là Gì? Quy Trình Vận Hành Ra Sao?
  • Vận Dụng Phương Pháp Luận Duy Vật Để Nâng Cao Năng Lực
  • Phương Pháp Học Tập Nào Là Đúng Đắn Và Hiệu Quả Dành Cho Học Sinh, Sinh Viên?
  • Giải Đáp “Montessori Là Gì”?
  • Phương Pháp Đo Phổ Hấp Thụ Nguyên Tử Aas

    --- Bài mới hơn ---

  • 100 Bài Tập Can Thiệp Hành Vi Dành Cho Trẻ Tự Kỷ
  • 12 Phương Pháp Dạy Trẻ Tự Kỷ Phổ Biến Mà Ba Mẹ Nên Biết
  • Những Phương Pháp Dạy Trẻ Tự Kỷ Phổ Biến Nhất Hiện Nay
  • Phương Pháp Can Thiệp Hành Vi (Aba)
  • Phương Pháp Phân Tích Hành Vi Ứng Dụng Aba Trong Điều Trị Tự Kỷ
  • ĐẠI HỌC HUẾ

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

    KHOA VẬT LÝ _BỘ MÔN QUANG – QUANG PHỔ

    BÀI TIỂU LUẬN

    ĐỀ TÀI: PHƯƠNG PHÁP ĐO PHỔ HẤP THỤ NGUYÊN TỬ AAS

    Nhóm thực hiện: Nhóm I

    Huế, ngày 01 tháng 12 năm 2011

    0

    MỤC LỤC

    Tiêu đề

    trang

    I. MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………. 2

    II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA PHƯƠNG PHÁP AAS …………………….. 3

    2.1 Hiện tượng hấp thụ nguyên tử ……………………………………………… 3

    2.2 PPPT AAS định tính và định lượng………………………………………. 3

    2.2.1 Phương pháp phân tích AAS định tính …………………………. 3

    2.2.2 Phương pháp phân tích AAS định lượng ………………………. 4

    2.3 Ưu và nhược điểm của phương pháp phân tích AAS …………….. 6

    III . KỸ THUẬT THỰC NGHIỆM …………………………………………………. 7

    3.1 Cấu tạo, hoạt động của hệ đo AAS ……………………………………….. 7

    3.2 Cách thực hiện phép phân tích AAS hoàn chỉnh …………………… 9

    IV . VÍ DỤ ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH AAS ……………. 11

    V. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ PHƯƠNG PHÁP AAS ……………………….. 15

    TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………………. 16

    1

    I. MỞ ĐẦU

    Phương pháp AAS được viết tắt từ phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử

    (Atomic Absorptional Spectroscopy).

    Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử là một trong những phương pháp tốt

    nhất để xác định các nguyên tố kim loại, với độ nhạy lớn và độ chính xác

    cao.

    Phương pháp dựa trên sự hấp thụ các bức xạ đặc trưng bởi đám hơi nguyên

    tử. Hiện tượng hấp thụ nguyên tử được ghi nhận đầu tiên bởi Wollaston và

    Praunhofh, được giải thích bởi Bussen và Kirchhoff.

    2

    II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA PHƯƠNG PHÁP AAS

    2.1 Hiện tượng hấp thụ nguyên tử:

    + Trong điều kiện bình thường nguyên tử không thu hay phát ra năng lượng

    dưới dạng bức xạ. Lúc này nguyên tử tồn tại ở trạng thái cơ bản. Nếu

    nguyên tử nhận năng lượng dưới dạng nhiệt thì nguyên tử sẽ chuyển lên

    trạng thái có năng lượng cao hơn, gọi là trạng thái kích thích, trạng thái kích

    thích này không bền, chỉ khoảng 10-8 ÷ 10-9 s, sau đó nguyên tử có xu hướng

    trở về trạng thái có mức năng luợng thấp hơn, khi này nguyên tử sẽ giải

    phóng năng lượng dưới dạng bức xạ điện từ có bước sóng khác nhau nằm

    trong dải phổ quang học.

    + Trong trường hợp đặc biệt, khi nguyên tử tồn tại ở trạng thái hơi tự do nếu

    ta chiếu một tia sáng có những bước sóng xác định vào đám hơi nguyên tử

    đó, thì các nguyên tử sẽ hấp thụ các bức xạ có bước sóng nhất định ứng với

    những tia bức xạ mà nó có thể phát ra. Lúc này nguyên tử đã nhận năng

    lượng của các tia bức xạ chiếu vào nó và nó chuyển lên trạng thái kích thích.

    + Quá trình đó gọi là quá trình hấp thụ năng lượng của nguyên tử tự do ở

    trạng thái hơi.

    + Phổ sinh ra trong quá trình này gọi là phổ hấp thụ nguyên tử.

    2.2 Phương pháp phân tích phổ hấp thụ nguyên tử định tính

    và định lượng:

    2.2.1 Phương pháp phân tích AAS định tính:

    + Do mỗi một nguyên tử hay một tập hợp các nguyên tử có dấu hiệu phổ

    riêng biệt, được quyết định bởi chính bản thân cấu trúc và trạng thái vật lý

    của chúng nên căn cứ vào quang phổ thu được chúng ta có thể đoán nhận

    khái quát về thành phần cấu tạo của mẫu phân tích.

    + Dựa trên cơ sở là các nguyên tử tạo ra trong bộ nguyên tử hóa mẫu hấp

    thụ hay không hấp thụ tia cộng hưởng phát ra từ đèn catốt rỗng làm bằng

    một nguyên tố nào đó để nhận biết trong mẫu phân tích có hay không

    nguyên tố đó.

    3

    2.2.2 Phương pháp phân tích AAS định lượng:

    + Để xác định nồng độ (hàm lượng) của một nguyên tố trong mẫu phân tích

    theo phép đo phổ hấp thụ nguyên tử người ta thường thực hiện theo các

    phương pháp sau đây:

    + Dựa theo phương trình định lượng cơ bản của phép đo này qua việc đo

    cường độ của vạch phổ hấp thụ của nguyên tố phân tích và xác định (hay

    phát hiện) nồng độ của chất phân tích trong mẫu đo phổ theo một trong các

    phương pháp chuẩn hóa sau:

    -Phương pháp đường chuẩn.

    -Phương pháp thêm tiêu chuẩn.

    * Phương pháp đường chuẩn:

    Nguyên tắc của phương pháp này là chọn một dãy mẫu đầu (ít nhất là

    ba mẫu) để xây dựng nên một đường chuẩn, và sau đó nhờ đường chuẩn này

    và giá trị Ix để xác định nồng độ Cx của nguyên tố cần phân tích trong mẫu

    đo phổ, rồi từ đó tính được nồng độ của nó trong mẫu phân tích.

    Ví dụ: ta chọn dãy mẫu đầu gồm 5 mẫu C1, C2, C3, C4, C5, mẫu cần

    phân tích là Cx. Chọn điều kiện phù hợp rồi ta tiến hành đo cường độ phổ

    hấp thụ đặc trưng của nguyên tố trong mẫu của mẫu đầu và mẫu cần phân

    tích, ta thu được I1, I2, I3, I4, I5 và Ix ( cường độ phổ hấp thụ đặc trưng của

    mẫu cần phân tích).

    4

    Từ đồ thị chuẩn trên và từ cường độ Ix ta đối chiếu và xác định được

    nồng độ Cx.

    Phương pháp này đơn giản, dễ thực hiện, có hiệu suất cao trong việc

    phân tích hàng loạt mẫu chứa cùng một đối tượng phân tích. Tuy nhiên

    phương pháp này có nhược điểm là khi mẫu phân tích có thành phần phức

    tạp và chưa biết rõ ta không thể chuẩn bị chính xác ba mẫu đầu để có đường

    chuẩn đúng đắn.

    * phương pháp thêm tiêu chuẩn:

    Nguyên tắc của phương pháp này là người ta dùng ngay mẫu phân

    tích làm nền để chuẩn bị một dãy mẫu đầu, bằng cách lấy một lượng mẫu

    nhất định và gia thêm vào đó những lượng nhất định của nguyên tố cần xác

    định theo từng bậc nồng độ (theo cấp số cộng).

    Ví dụ: Nồng độ yếu tố cần phân tích là Cx=Co và lượng thêm vào là

    ∆C1, ∆C2, ∆C3, ∆C4, ∆C5 ta có loạt mẫu đầu có nồng độ yếu tố cần phân

    tích là:

    Co = Cx

    C1 = Cx + ∆C1

    C2 = Cx + ∆C2

    C3 = Cx + ∆C3

    C4= Cx + ∆C4

    C5 = Cx + ∆C5

    Tiếp đó ta xác định cường độ phổ đặc trưng của mẫu đầu và dựng lên

    đường chuẩn I-∆C.

    5

    2.3 Ưu và nhược điểm của phương pháp phân tích AAS:

    * Ưu điểm:

    Phép đo phổ nguyên tử có độ nhạy và độ chọn lọc cao, tốn ít mẫu

    phân tích, thời gian phân tích nhanh. Các động tác thực hành thực hiện nhẹ

    nhàng, nhanh chóng. Bằng phương pháp này ta có thể xác định đồng thời

    hay liên tiếp nhiều nguyên tố trong cùng một mẫu. Kết quả phân tích ổn

    định, sai số nhỏ.

    * Nhược điểm:

    Muốn đo phổ hấp thụ nguyên tử cần phải có một hệ thống máy móc

    tương đối đắt tiền. Do cần có độ nhạy cao nên sự nhiễm bẩn có ý nghĩa lớn

    đối với kết quả phân tích hàm lượng. Môi trường không khí phòng thí

    nghiệm phải không có bụi. Các dụng cụ và hóa chất dùng trong phép đo

    phải có độ tinh khiết cao. Vì có độ nhạy cao nên các trang bị máy móc là

    khá tinh vi và phức tạp, do đó cần phải có kĩ sư lành nghề để bảo dưỡng và

    chăm sóc. Nhược điểm chính là chỉ cho ta biết thành phần nguyên tố của

    chất phân tích có trong mẫu phân tích, mà không chỉ ra được trạng thái liên

    kết, cấu trúc của nguyên tố có trong mẫu.

    6

    III. KỸ THUẬT THỰC NGHIỆM

    3.1Cấu tạo, hoạt động của hệ đo phổ hấp thụ nguyên tử:

    * Cấu tạo của hệ đo phổ hấp thụ nguyên tử:

    Muốn thực hiện phép đo phổ hấp thụ thì hệ đo phổ hấp thụ nguyên tử phải

    bao gồm các bộ phận chính sau:

    + Nguồn phát tia bức xạ cộng hưởng của nguyên tố cần phân tích: Dùng

    để chiếu vào môi trường hấp thụ chứa các nguyên tử tự do của nguyên tố.

    Đó là các đèn catốt rỗng (HCL), các đèn phóng điện không điện cực (EDL),

    hay nguồn phát bức xạ liên tục đã được biến điệu.

    + Hệ thống nguyên tử hóa mẫu phân tích: Hệ thống này được chế tạo

    theo hai loại kĩ thuật nguyên tử hóa mẫu. Đó là kĩ thuật nguyên tử hóa bằng

    ngọn lửa và kỹ thuật nguyên tử hóa không ngọn lửa.

    7

    Trong kĩ thuật nguyên tử hóa bằng ngọn lửa, hệ thống này bao gồm:

    Bộ phận dẫn mẫu vào buồng aerosol hóa và thực hiện quá trình aerosol

    hóa mẫu (tạo thể sol khí) và đầu đốt để nguyên tử hóa mẫu, để đốt cháy

    hỗn hợp khí có chứa mẫu ở thể huyền phù sol khí như hình sau:

    Ngược lại, khi nguyên tử hóa mẫu bằng kĩ thuật không ngọn lửa,

    người ta thường dùng một lò nung nhỏ bằng graphit (cuvet graphit) hay

    thuyền Tangtan (Ta) để nguyên tử hóa mẫu nhờ nguồn năng lượng điện có

    thế thấp (nhỏ hơn 12 V) nhưng nó có dòng rất cao (50-800 A).

    + Hệ thống máy quang phổ hấp thụ hay là bộ đơn sắc: Bộ đơn sắc, có

    nhiệm vụ lọc, phân li và chọn tia sáng (vạch phổ) cần đo, định hướng tia

    sáng vào nhân quang điện để phát hiện, biến đổi tín hiệu quang thu được.

    + Bộ phận biến đổi quang điện: là bộ phận biến đổi tín hiệu quang thành

    tín hiệu điện, để dễ khuếch đại và lưu trữ tín hiệu.

    + Bộ phận ghi nhận, xử lý tín hiệu: Bộ phận này có thể là các trang bị sau:

    Đơn giản nhất là một điện kế chỉ năng lượng hấp thụ E của vạch phổ; Một

    máy tự ghi lực của vạch phổ; Bộ hiện số digital; Bộ máy tính và máy in; Với

    các máy hiện đại còn có thêm một microcomputer và hệ thống phần mềm để

    điều khiển quá trình đo và xử lý tín hiệu thu được.

    8

    3.2 Cách thực hiện phép phân tích AAS hoàn chỉnh:

    Để tiến hành đo ta tiến hành các bước sau đây:

    *Chuẩn bị thiết bị AAS:

    ü Xem xét tính trạng của máy, các đường điện, khí axetylen, N2O.

    ü Bật máy vào chế độ làm việc.

    ü Chọn các điều kiện tối ưu (tỷ lệ khí đốt N2O+ axetylen dòng điện …).

    ü Cài đặt các điều kiện phân tích theo hướng dẫn của từng máy.

    ü Ổn định máy, ổn định nhiệt độ trong vòng 15 phút.

    *Trình tự phân tích:

    ü Dựng đường chuẩn.

    ü Pha chế dung dịch chất chuẩn chứa các nguyên tố cần xác định từ

    chất chuẩn phức tương ứng với nồng độ khác nhau trong dung môi,

    dựng đường chuẩn cho từng nguyên tố phân tích trên máy AAS ở

    điều kiện tối ưu tham khảo trong các hướng dẫn.

    ü Đo phổ AAS của mẫu phân tích pha trong dung môi với tỉ lệ tương

    ứng như đối với chất chuẩn.

    ü Ghi chép kết quả thể hiện trên máy tính.

    ü Sau khi kết thúc các phép đo đưa máy về trạng thái ban đầu, sau đó

    khóa các đường khí và tắt máy.

    *Tính toán kết quả:

    Sau khi đã nhận được các số liệu kết quả trên máy. Nồng độ các nguyên tố

    cần xác định được tính toán theo công thức sau:

    +Công thức tính cho mẫu lỏng (mg/l):

    Me =

    Trong đó:

    -A: nồng độ kim loại được xác định theo đường chuẩn mg/l.

    -B: lượng dung môi pha loãng (ml).

    -C: định mức mẫu phân tích (ml).

    9

    +công thức sau cho mẫu rắn (mg/kg):

    Me =

    Trong đó:

    -V: định mức mẫu (ml).

    -W: khối lượng mẫu (g).

    -A: nồng độ chất phân tích theo đường chuẩn (mg/l).

    +Tính toán nồng độ nguyên tố trong mẫu phân tích bằng phương pháp

    lò Grafit theo công thức sau:

    Trong đó:

    -C: định mức mẫu phân tích (ml).

    -B: thể tích dung môi pha loãng (ml).

    -Z: nồng độ nguyên tố theo đường chuẩn (mg/L).

    10

    IV. VÍ DỤ ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH AAS

    Áp dụng phương pháp phân tích phổ hấp thụ nguyên tử để xác định hàm

    lượng thủy ngân trong thủy sản.

    1. Nguyên tắc:

    Mẫu thủy sản được vô cơ hóa bằng axit HNO3 đậm đặc trong bình phá

    mẫu có nắp vặn kín (bình Kendal). Sau đó ta thu được hợp chất vô cơ có

    chứa Hg, ta tiến hành Hydrit hóa hợp chất đó bằng dòng khí Hydro cho ta

    Hydrit thủy ngân (HgH2) dễ bay hơi.

    Kỹ thuật được sử dụng để phân tích Hg là kỹ thuật CV-AAS (phương

    pháp đo phổ hấp thụ nguyên tử bằng kỹ thuật hóa hơi lạnh). Ở nhiệt độ

    phòng thì Hg tồn tại ở thể lỏng, ở trạng thái hơi thì Hg tồn tại ở trạng thái

    đơn nguyên tử. Cho nên thay vì sử dụng nhiệt độ cao để nguyên tử hóa Hg

    từ các hợp chất của Hg, người ta sử dụng các chất khử mạnh để khử trực

    tiếp hợp chất Hg2+ về Hg0 dễ bay hơi.

    Ví dụ: Khử Hg2+ về Hg0 bằng quá trình Hydrit hóa bằng dòng khí Hydro:

    4H + HgCl2 = HgH2 + 2HCl

    HgH2 à Hg + H2

    2. Phương pháp tiến hành:

    (Phương pháp phân tích định lượng được sử dụng là phương pháp đường

    chuẩn)

    2.1 chuẩn bị mẫu:

    * Dung dịch mẫu chuẩn:

    – dung dịch gốc: hòa tan 1g thủy ngân trong 1000ml axit H2SO4 nồng độ 1N.

    – dung dịch trung gian: pha loãng 1ml dung dịch gốc thành 1000ml bằng

    dung dịch axit H2SO4 nồng độ 1N.

    – dung dịch chuẩn làm việc: pha loãng dung dịch trung gian thành dung dịch

    chuẩn làm việc có hàm lượng thủy ngân lần lượt là 2, 4, 6, 8 ,10 mg/l bằng

    dung dịch axit HNO3 nồng độ 1N.

    11

    * Dung dịch mẫu phân tích:

    Cho 1g mẫu khô vào bình Kendal, thêm 5ml axit HNO3 đậm đặc rồi vặn

    chặt nắp đậy kín bình lại để yên từ 20-30 phút. Sau đó, đun nóng chậm trên

    bếp điện cho đến khi thu được dung dịch trong suốt. Chuyển dung dịch mẫu

    vào bình chịu nhiệt và đun nóng trên bếp điện đến cạn khô, hòa tan cặn bằng

    1ml nước cất ta thu được dung dịch mẫu để tiến hành phân tích.

    2.2 Tiến hành phân tích:

    +Ghép nối hoàn chỉnh các thiết bị của hệ đo phổ hấp thụ nguyên tử .

    +Tối ưu hóa các điều kiện làm việc trên máy quang phổ hấp thụ nguyên

    tử, sử dụng bức xạ kích thích có bước sóng 253,7nm, độ nhạy là 0,1ppm,

    chế độ đo là CV-AAS.

    +Tiến hành đo phổ hấp thụ của các mẫu chuẩn có hàm lượng thuỷ ngân

    lần lượt là 2, 4, 6, 8 ,10 mg/l. Từ đó xác định độ hấp thụ A tương ứng thông

    qua các đỉnh hấp thụ trong phổ hấp thụ nguyên tử vừa đo của các mẫu

    chuẩn.

    12

    +Từ đó ta dựng được đường chuẩn A – C. được minh họa như hình 2. dưới

    đây:

    +Khi đường chuẩn có độ tuyến tính tốt rồi thì ta tiến hành đo để xác định

    độ hấp thụ Ax của mẫu cần phân tích thông qua phổ hấp thụ của nó. Phổ hấp

    thụ của mẫu cần phân tích được minh họa ở hình 3.

    13

    Từ kết quả Ax và đường chuẩn ta tìm được nồng độ Cx thủy ngân trong mẫu

    cần phân tích.

    3. Tính toán kết quả:

    Hàm lượng thủy ngân trong mẫu được tính theo công thức sau:

    Trong đó:

    喸h

    喸h

    + CHg là hàm lượng thủy ngân có trong mẫu (mg/g).

    + mHg là hàm lượng thủy ngân có trong dung dịch mẫu tính được theo

    đường chuẩn (mg/l).

    + V là thê tích dung dịch để hòa tan mẫu phân tích.

    + M là khối lượng mẫu phân tích.

    14

    V. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH PHỔ HẤP

    THỤ NGUYÊN TỬ

    + Phép đo phổ hấp thụ nguyên tử có độ nhạy và độ chọn lọc cao. Đặc biệt

    hiệu quả trong phân tích các nguyên tố vi lượng…

    + Từ nhiều ứng dụng ta nhận thấy phương pháp AAS là một kỹ thuật phân

    tích hóa-lý, đang phát triển mạnh mẽ và rộng rãi.

    + Hiện nay phương pháp AAS đã trở thành một phương pháp tiêu chuẩn để

    phân tích lượng vết kim loại trong nhiều đối tượng khác nhau như: đất,

    nước, không khí, thực phẩm…

    + Hiện nay trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, phương pháp này là một trong

    những công cụ đắc lực để xác định hàm lượng các kim loại nặng và những

    nguyên tố độc hại trong tự nhiên và trong các sản phẩm khác nhau.

    15

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Các phương pháp phân tích theo phổ hấp thụ nguyên tử_Phạm Luận,

    Trường đại học tổng hợp Hà nội 1987.

    2. Phân tích hợp chất bằng phương pháp đo phổ

    http://www.scribd.com/doc/37407162/Phan-Tich-Hop-Chat-Bang-QuangPho-VinaEbookChemistryHere

    3. Các phương pháp phân tích Vật lý và Hóa lý, Nhà xuất bản Khoa học

    Kĩ thuật.

    4.http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A2n_t%C3%ADch_As_b%E1%BA

    %B1ng_ph%C6%B0%C6%A1ng_ph%C3%A1p_AAS

    16

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Phổ Hấp Thu Nguyên Tử
  • Lưu Ý Về Quang Phổ Hấp Thụ Nguyên Tử Faas Và Gfaas
  • Chữa Sùi Mào Gà Bằng Ala
  • Địa Chỉ Và Chi Phí Điều Trị Sùi Mào Gà Bằng Phương Pháp Ala Pdt
  • Phương Pháp Ala Pdt Bao Nhiêu Tiền? Và Có An Toàn Không?
  • Phương Pháp Aas Và Những Điều Bạn Chưa Biết

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Lưu Ý Đối Với Phương Pháp Aas
  • Hệ Thống Phổ Nguyên Tử Hấp Thu (Aas)
  • Phương Pháp Aba Là Gì? Các Bước Tiến Hành
  • Cách Để Biết Phương Pháp Điều Trị Tự Kỷ Aba Có Hại Hay Không
  • Thiết Lập Ưu Tiên Cho Công Việc Của Bạn Với Phương Pháp Abcde
  • Phương pháp AAS là gì? Nó có ứng dụng gì trong nghiên cứu? Thiết bị AAS là gì? Cần lưu ý gì khi sử dụng thiết bị này? Nên mua thiết bị AAS ở đâu để đảm bảo chất lượng?

    Quá trình nghiên cứu các nguyên tố trong ngành thí nghiệm nói riêng đòi hỏi người nghiên cứu phải sử dụng rất nhiều phương pháp khác nhau để phân tích chúng nhằm tìm ra được những khám phá mới. Một trong những phương pháp nghiên cứu được sử dụng khá quen thuộc trong thí nghiệm chính là phương pháp phổ hấp thu nguyên tử hay còn gọi tắt là phương pháp AAS.

    Phương pháp AAS là tên viết tắt từ cụm từ tiếng Anh có tên là Atomic Absorption Spectrophotometric, gọi là Phương pháp phổ hấp thu nguyên tử.

    Đây là phương pháp dựa trên nguyên lý hấp thu của hơi nguyên tử, các nguyên tử ở trạng thái bình thường thì chúng không hấp thu hay bức xạ năng lượng nhưng khi chúng ở trạng thái tự do dưới dạng những đám hơi nguyên tử thì chúng hấp thu và bức xạ năng lượng.

    Mỗi nguyên tử chỉ hấp thu những bức xạ nhất định đặc trưng với những bức xạ của nó. Khi nguyên tử nhận năng lượng chúng chuyển lên mức năng lượng cao hơn gọi là trạng thái kích thích. Quá trình đó gọi là quá trình hấp thu năng lượng của nguyên tử tự do ở trạng thái hơi và tạo ra phổ của nguyên tử đó. Phổ sinh ra trong quá trình này gọi là phổ hấp thu nguyên tử.

    Đây là một trong những kỹ thuật có vai trò hàng đầu trong phân tích mẫu môi trường. Là một hệ thống kỹ thuật cao kết hợp tính hiệu quả và khả năng dễ sử dụng nhằm phân tích các giá trị nguyên tố trong mẫu môi trường.

    NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN PHƯƠNG PHÁP PHỔ HẤP THU NGUYÊN TỬ

    Phương pháp AAS của các nguyên tử cần phải thực hiện các quá trình sau đây:

    Đầu tiên: Để quá trình hóa hơi và nguyên tử hóa mẫu diễn ra, cần lựa chọn các điều kiện và thiết bị hỗ trợ phù hợp với mẫu để chuyển mẫu phân tích từ trạng thái ban đầu thành trạng thái hơi của các nguyên tử tự do.

    Sau đó tiến hành chiếu chùm tia sáng bức xạ tương ứng của nguyên tố cần phân tích qua đám hơi nguyên tử vừa sinh ra. Các nguyên tử ở trạng thái hơi sẽ hấp thụ những tia bức xạ tương ứng với nó và tạo ra phổ hấp thụ.

    Cuối cùng nhờ vào một hệ thống máy quang phổ, người ta thu toàn bộ chùm sáng, phân ly và chọn 1 vạch hấp thụ của nguyên tố cần nghiên cứu để đo được tín hiệu hấp thụ của vạch phổ hấp thụ nguyên tử.

    MÁY QUANG PHỔ HẤP THU NGUYÊN TỬ AAS

    Thiết bị dùng để thực hiện phương pháp phổ hấp thu nguyên tử chính là máy quang phổ. Một máy quang phổ hấp thu nguyên tử bao gồm các bộ phận sau:

    Nguồn cấp chùm tia đơn sắc của nguyên tố phân tích: thường là đèn cathod rỗng HCL (Hollow Cathode Lamp). Đèn này gồm có 3 bộ phận chính sau:

    Hệ thống trang bị hoá hơi và nguyên tử hoá mẫu phân tích: có thể sử dụng theo Kỹ thuật nguyên tử hóa bằng ngọn lửa (phép đo F-AAS) hoặc Kỹ thuật không ngọn lửa (Phép đo ETA-AAS).

    Máy quang phổ: là bộ phận đơn sắc, có nhiệm vụ thu nhận, phân ly và chọn tia sáng (vạch phổ) cần đo hướng vào nhân quang điện để phát hiện tín hiệu hấp thụ AAS của vạch phổ (thu phổ, phân giải, và chọn λ đo độ hấp thụ Aλ).

    Bộ phận ghi kết quả đo: là hệ điện tử/ máy tính để điều khiển và xử lý số liệu

    Một hệ thống phổ hấp thu nguyên tử hoàn chỉnh còn có thêm các bộ phận: Hệ thống tự động bơm mẫu (AutoSampler), hệ thống hoá hơi lạnh (kỹ thuật Hydrua hoá), trang bị nguyên tử hóa mẫu rắn và mẫu bột.

    – Phân tích được rất nhiều nguyên tố và thời gian phân tích nhanh, tiết kiệm thời gian.

    – Độ chính xác của máy AAS hầu như rất cao: RSD < 2% (độ lệch chuẩn tương đối khá thấp)

    – Độ lặp lại rất tốt: RSD < 1%

    – Độ nhạy: rất nhạy, đo dược hàm lượng tới chỉ số phần tỷ ppb (microgam/ kg)

    – Chi phí đầu tư thấp so với máy ICP-OES

    – Chi phí đầu tư hệ thống thiết bị khá tốn kém vì giá thành cao.

    – Đòi hỏi người sử dụng có chuyên môn cao vì thiết bị có cấu tạo kĩ thuật khá phức tạp khi sử dụng

    – Quá trình nhiễm độc có thể xảy ra khi phân tích hàm lượng vết.

    – Có thể gây cháy nổ và chập điện nếu sử dụng sai cách.

    LƯU Ý KHI SỬ DỤNG THIẾT BỊ AAS

    Để có thể cho được một kết quả phân tích chính xác, nhanh chóng và đảm bảo an toàn với người dùng thì cần sử dụng các thiết bị này đúng cách theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

    Một số yêu cầu của nguồn năng lượng và kỹ thuật nguyên tử hóa mẫu cần phải được đáp ứng để đảm bảo phương pháp này có thể thực hiện như: Có năng lượng đủ lớn, ổn định, điều chỉnh được, lặp lại tốt; thuần khiết và không cho thêm phổ phụ, bền theo thời gian và ổn định,…

    Vậy nên trước khi sử dụng thiết bị hoặc phụ kiện, bạn cần tuân thủ một cách nghiêm túc các chỉ dẫn trong quá trình sử dụng thiết bị. Người sử dụng cần đảm bảo được trang bị chuyên môn kỹ thuật cao và thực hiện một cách cẩn thận để tránh việc sử dụng sai cách dẫn tới những hậu quả ngoài mong muốn.

    NƠI MUA THIẾT BỊ HẤP THU NGUYÊN TỬ AAS

    Nắm bắt được nhu cầu phân tích nguyên tử phục vụ cho nghiên cứu ngày càng cao, Công ty Trung Sơn đã trang bị hệ thống các thiết bị AAS đảm bảo chất lượng hàng đầu. Nếu bạn đang phân vân không biết nên mua các thiết bị nghiên cứu thí nghiệm ở đâu thì đừng ngần ngại liên hệ với Với uy tín lâu năm trong ngành cùng với đội ngũ chăm sóc khách hàng và chuyên viên kĩ thuật trình độ cao, chúng tôi tự hào có thể đem đến cho bạn những sản phẩm tốt nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hỗ Trợ Điều Trị Sùi Mào Gà Hiệu Quả Bằng Phương Pháp Ala
  • Chi Phí Điều Trị Phương Pháp Ala
  • Là Gì? Bao Nhiêu Tiền? Có Tốt Không?
  • Kế Toán Chi Phí Dựa Trên Hoạt Động (Abc
  • Phương Pháp Abc Activity Based Costing
  • Một Số Lưu Ý Đối Với Phương Pháp Aas

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Thống Phổ Nguyên Tử Hấp Thu (Aas)
  • Phương Pháp Aba Là Gì? Các Bước Tiến Hành
  • Cách Để Biết Phương Pháp Điều Trị Tự Kỷ Aba Có Hại Hay Không
  • Thiết Lập Ưu Tiên Cho Công Việc Của Bạn Với Phương Pháp Abcde
  • Quản Lý Công Việc Hiệu Quả Bằng Phương Pháp Abcde
  • Phương pháp phổ hấp thu nguyên tử AAS (Atomic Absorption Spectrophotometric) là 1 kỹ thuật phân tích rất nhạy để đo nồng độ, hàm lượng các nguyên tố và có thể đo được dươi 1 phần tỷ của 1gam trong 1 mẫu.

    AAS sử dụng bước sóng ánh sáng được hấp thụ đặc biệt bởi 1 nguyên tố. Do đó, phương pháp này được ứng dụng để phân tích nhiều chỉ tiêu thuộc các lĩnh vực: Thực phẩm, dược phẩm, sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp và môi trường. Đây cũng là những nội dung chủ yếu được TS. Phạm Tiến Đức, Giảng viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên ĐHQG Hà Nội chia sẻ tại khóa đào tạo do EDC-HCM tổ chức từ ngày 20/08 đến 24/08/2018 tại Hà Nội.

    Theo TS. Phạm Tiến Đức, Giảng viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên ĐHQG Hà Nội, muốn thực hiện phép đo phổ AAS để xác định một nguyên tố trong một loại mẫu, hệ thống trang bị đo AAS phải đáp ứng 6 nguyên tắc:

    * Chuyển mẫu phân tích (xử lý mẫu phân tích) → dạng dung dịch đồng thể.

    * Hoá hơi dung dịch mẫu phân tích → đám hơi (khí) của mẫu,

    * Nguyên tử hoá đám hơi → Môi trường của nguyên tử tự do,

    * Chiếu chùm sóng (λ) đơn sắc vào đám hơi nguyên tử tự do → sinh phổ AAS,

    * Thu phổ AAS, phân giải, chọn một λ để đo, và đo Aλ,

    * Ghi lại kết quả đo Aλ.

    Theo nguyên lý trên, hệ trang bị của phép đo AAS bao gồm các bộ phận:

    * Nguồn cấp chùm tia đơn sắc của nguyên tố phân tích: Đèn Catốt rỗng (Hollow Cathod Lamp: HCL), Đèn không điện cực (Electrodeless Disharge Lamp: EDL).

    * Hệ thống trang bị hoá hơi và nguyên tử hoá mẫu có thể sử dụng theo Kỹ thuật Ngọn lửa (phép đo F-AAS) hoặc Kỹ thuật Không ngọn lửa (Phép đo GF-AAS).

    * Máy quang phổ (Thu phổ, Phân giải, và chọn λ đo độ hấp thụ Aλ)

    * Bộ phận ghi kết quả đo.

    Hệ AAS trang bị hoàn chỉnh còn có thêm: Hệ thống tự động bơm mẫu (AutoSampler), Hệ máy tính và phần mềm điều khiển, Hệ thống hoá hơi lạnh (Kỹ thuật Hydrua hoá), Trang bị nguyên tử hóa mẫu rắn và mẫu bột.

    2. Các kỹ thuật nguyên tử hoá mẫu

    Muốn thực hiện phép đo AAS phải có nguồn năng lượng, cung cấp năng lượng để hoá hơi các chất mẫu phân tích; Nguyên tử hoá đám hơi thành nguyên tử tự do với hiệu suất cao; Tạo ra các nguyên tử tự do nguyên tử phân tích (Môi trường hấp thụ tia bức xạ λ) để sinh phổ AAS của nguyên tố cần phân tích.

    Đây là vấn đề mấu chốt của phép đo AAS, vì các nguyên tử khí tự do là chất hấp thụ bức xạ sinh phổ AAS. Tuy nhiên, nguồn năng lượng và kỹ thuật nguyên tử hóa mẫu phải đáp ứng các yêu cầu:

    * Có năng lượng đủ lớn,

    * Phải ổn định, điều chỉnh được, lặp lại tốt,

    * Cung cấp cho phép đo AAS có độ nhạy cao,

    * Thuần khiết và không cho thêm phổ phụ,

    * Bền theo thời gian và ổn định,

    * Cần ít mẫu,

    * Có tính kinh tế (không quá đắt).

    Theo đó, chỉ có 2 loại: Ngọn lửa đèn khí (tương ứng Phép đo Flame Atomic Absorption Spectrometry: F-AAS) và Lò Graphit (tương ứng Phép đoFlameless Atomic Absorption Spectrometry, hay Graphite Furnace Atomic Absorption Spectrometry: GF-AAS) đáp ứng các yêu cầu trên.

    2.1. Kỹ thuật ngọn lửa (Phép đo F-AAS)

    Kỹ thuật ngọn lửa là dùng năng lượng nhiệt của ngọn lửa đèn khí để hoá hơi và nguyên tử hoá mẫu phân tích. Do đó, mọi quá trình xảy ra trong khi nguyên tử hoá mẫu phụ thuộc vào đặc trưng và tính chất của ngọn lửa đèn khí nhưng chủ yếu là nhiệt độ ngọn lửa. Đây là yếu tố quyết định hiệu suất nguyên tử hoá mẫu phân tích, mọi yếu tố ảnh hưởng đến nhiệt độ ngọn lửa đèn khí đều ảnh hưởng đến kết quả của phương pháp phân tích.

    Nguyên tắc: Dùng năng lượng nhiệt của ngọn lửa đèn khí để nguyên tử hóa mẫu; Được đốt bởi hỗn hợp 2 khí (khí Oxy hoá và khí nhiên liệu, ví dụ như Không khí nén + Axetylen, hay N2O + Acetylen).

    Cấu tạo và đặc điểm của ngọn lửa gồm 3 phần:

    Phần tối: Nhiệt độ từ 500-10000C, màu xám.

    Phần lõi và tâm: Nhiệt độ cao, không mầu hay có mầu xanh nhạt và hầu như không có quá trình phụ.

    Phần vỏ và đuôi: Nhiệt độ thấp, có mầu vàng hay xám. Đây là phần có nhiều quá trình phụ xảy ra.

    Nhiệt độ ngọn lửa được quyết định bởi bản chất của chất khí được đốt tạo ra ngọn lửa; thành phần của hỗn hợp khí đó; tốc độ dẫn khí vào đèn.

    Bảng thành phần khí và nhiệt độ ngọn lửa

    Các yếu tố ảnh hưởng của kỹ thuật này

    * Kỹ thuật tạo thể solkhí mẫu.

    * Điều kiện tạo ngọn lửa và Nhiệt độ ngọn lửa đèn khí.

    * Thành phần của dung dịch mẫu, nguyên tố thứ ba.

    * Chất nền của mẫu.

    * Độ nhớt của dung dịch mẫu.

    * Nồng độ và loại axit dung dịch mẫu.

    * Tốc độ dẫn mẫu vào buồng tạo solkhí.

    * Chiều cao của đèn nguyên tử hóa.

    Trong phép đo F-AAS, muốn có các điều kiện và quy trình phân tích phù hợp nhất, phát hiện và loại bỏ các yếu tố ảnh hưởng để có kết quả tốt chất lượng cao cần:

    i. Chọn các thông số máy đo phổ: Vạch phổ đo, kỹ thuật đo, độ rộng khe đo, chiều cao Burner, thông số nguồn cấp chùm tia đơn sắc (cường độ của HCL);

    ii. Chọn các điệu kiện hoá hơi và nguyên tử hóa mẫu: Loại khí và thành phần khí tạo ngọn lửa, tốc độ khí, tốc độ dẫn mẫu, các thông số khác cho điều kiện nguyên tử hóa mẫu;

    iii. Xem xét các yếu tố về phổ và vật lý: Sự chen lấn vạch phổ của chất nền và nguyên tố khác có sự phát xạ của nguyên tố phân tích không, độ nhớt dung dịch mẫu, sự iôn hoá kim loại kiềm…;

    iv. Các yếu tố về hoá học (nền và nguyên tố thứ ba): Chất nền (matrix) của mẫu, nguyên tố thứ ba khác trong mẫu, loại axit và nồng độ axit;

    v. Phương pháp chuẩn hoá để định lượng;

    vi. Kỹ thuật hay phương pháp xử lý và chuẩn bị mẫu.

    Trên cơ sở giải quyết và tối ưu được 6 vấn đề trên thì chúng ta mới có một quy trình phân tích thích hợp và đúng đắn cho đối tượng và nguyên tố cần phân tích.

    2.2. Kỹ thuật không ngọn lửa (Phép đo GF-AAS)

    Kỹ thuật không ngọn lửa ra đời sau kỹ thuật F-AAS nhưng đã được phát triển rất nhanh, nâng cao độ nhạy của phép xác định lên gấp hàng trăm lần so với kỹ thuật F-AAS. Mẫu phân tích bằng kỹ thuật này không cần làm giàu sơ bộ và lượng mẫu tiêu tốn ít.

    Kỹ thuật GF-AAS là quá trình nguyên tử hoá tức khắc trong thời gian rất ngắn nhờ năng lượng nhiệt của dòng điện có công suất lớn và trong môi trường khí trơ (Argon). Quá trình nguyên tử hoá xảy ra theo các giai đoạn kế tiếp nhau: sấy khô, tro hoá luyện mẫu, nguyên tử hoá để đo phổ hấp thụ nguyên tử và cuối cùng là Số hóa làm sạch cuvet.

    Nhiệt độ trong cuvet graphit là yếu tố quyết định mọi diễn biến của quá trình nguyên tử hoá mẫu. Nguyên tắc của phương pháp này là dùng năng lượng nhiệt của dòng điện rất cao (300-500A) để đốt nóng tức khắc cuvet Graphite chứa mẫu phân tích để thực hiện nguyên tử hóa mẫu cho phép đo AAS (hay thuyền Tantan đặt trong cuvet graphit).

    Để tối ưu hoá các điều kiện cho phép đo GF-AAS mang đến một phương pháp phân tích đúng đắn và cho kết quả tốt theo kỹ thuật này, chúng ta phải thực hiện tối ưu hoá các điều kiện cần thiết cho phép đo, cụ thể là:

    * Các thông số máy đo phổ (như trong F-AAS) (Vạch đo, khe máy, chiều cao Burner…)

    * Các điều kiện nguyên tử hóa mẫu trong cuvét, loại cuvet,…: Chọn loại cuvet, nhiệt độ Tro hoá và nguyên tử hóa mẫu (công suất nung cuvet)…, khí trơ làm môi trường nguyên tử hóa mẫu,…

    * Các yếu tố vật lý,

    * Các yếu tố về hoá học, (môi trường axit, chất nền và nguyên tố thứ ba,…)

    * Phương pháp chuẩn hoá để định lượng

    * Bổ chính nền và phương pháp bổ chính

    * Phương pháp xử lý và chuẩn bị mẫu phân tích

    * Các hoá chất dùng trong xử lý mẫu

    * Môi trường phòng thí nghiệm.

    PHÚC ANH

    Tạp chí Thử nghiệm Ngày nay số 11 tháng 09/2018.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Aas Và Những Điều Bạn Chưa Biết
  • Hỗ Trợ Điều Trị Sùi Mào Gà Hiệu Quả Bằng Phương Pháp Ala
  • Chi Phí Điều Trị Phương Pháp Ala
  • Là Gì? Bao Nhiêu Tiền? Có Tốt Không?
  • Kế Toán Chi Phí Dựa Trên Hoạt Động (Abc
  • Pin Aa Là Gì? Phân Biệt Pin Aa Và Pin Aaa

    --- Bài mới hơn ---

  • Tấm Pin Năng Lượng Mặt Trời Mono Và Poly Có Gì Khác Nhau
  • Pin Năng Lượng Mặt Trời Mono Và Poly Khác Nhau Thế Nào?
  • Phân Biệt Pin Mặt Trời Mono Và Poly
  • Sự Khác Nhau Giữa Đàn Piano Và Đàn Organ Là Gì?
  • Protein Động Vật Và Protein Thực Vật: Điểm Giống Và Khác Biệt?
  • Pin AA: có chiều dài từ 49.2mm đến 50.5mm (1.94-1.99 inches). Bao gồm cả cực pin và đường kính từ 13.5mm đến 14.5 mm (0.53-0.57 inches). Cực dương (+) có chiều cao tối thiếu 1mm và đường kính tối đa 5.5mm. Cực âm (-) là một mặt phẳng phải có đường kính tối thiểu 7mm.

    Pin AA Alkaline (pin kiềm AA) có trọng lượng khoảng 23g (0.81 oz), pin AA Lithium có trọng lượng tổng thể khoảng 15g (0.53 oz) và pin sạc Ni-MH có trọng lượng khoảng 31g (1.1 Oz). Ngày nay pin AA, pin tiểu vẫn được sử dụng hết sức rộng rãi trong đời sống hàng ngày của mọi người.

    Pin AAA: có kích thước 44.5mm chiều dài và 10.5mm đường kính. Chiều dài đã bao gồm cả hai cực. Cực dương (+) có chiều cao tối thiểu 0.8mm và đường kính tối đa 3.8mm. Cực âm (-) có đường kính tối thiểu 4.3mm.

    Một pin AAA Alkaline có trọng lượng khoảng 11.5g trong khi pin Lithium cùng loại chỉ nặng khoảng 7.6g. Pin sạc Ni-MH thưởng nặng khoảng 14, 15g. Pin đũa là sự lựa chọn không thể thiếu trong các loại điều khiển, đồ chơi hiện nay.

    Đồ chơi trẻ em tiêu thụ nhiều điện hơn, đó là lý do tại sao chúng chạy bằng pin loại AA. Ngay cả đèn pin cần thêm điện và do đó sử dụng pin AA.

    * Cả hai pin AA và AAA đều là nguồn cung cấp năng lượng cho thiết bị.

    * Chúng có kích thước khác nhau, với AA cao hơn và rộng hơn. Chiều dài pin AA: 50,5 mm, đường kính: 10,5 mm

    Chiều dài pin AAA: 44,5 mm, đường kính: 13,5 – 14 mm

    * Pin AA cũng mang thêm vật liệu bên trong vì vậy cung cấp nhiều điện hơn.

    AAA Dung lượng pin: 1200mA-h (pin alkaline 24A) 540mA-h (pin 24D kẽm)

    Các loại pin AA

    Pin AA thường được phân loại dựa vào hãng sản xuất và chất liệu của pin. Trên thị trường hiện nay có rất nhiều thương hiệu pin AA nổi tiếng. Tại Việt Nam có thể kể đến Panasonic, Sony , Energizer….

    • Pin AA loại carbon: đây là loại pin có dung lượng thấp và rẻ nhất trên thị trường hiện nay. Với các thiết bị sử dụng nhiều dung lượng như bàn phím không dây/chuột máy tính…Bạn không nên dùng pin này. Vì sẽ làm cho thiết bị hỏng hóc, hoạt động kém,tuổi thọ giảm theo thời gian.
    • Loại pin alkaline (kiềm): đây là dòng pin được sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Với ưu điểm như : chất lượng tốt, chịu tải cao,công suất lớn, ổn định và không bị chảy nước. Ngoài ra có thể bảo quản được trong nhiều năm (trung bình oin sẽ suy yếu 2% /năm).
    • Pin AA loại Lithium: đây là dòng pin AA cao cấp nhất. Được ưu chuộng với các thiết bị yêu cầu tính bền bỉ như nhiếp ảnh, quay phim. Pin có khả năng lưu trữ điện đến 20 năm tùy vào hãng sản xuất.

    Pin AA có sạc lại được không?

    Tùy vào từng loại pin mà có thể sạc lại hay không. Tuy nhiên, bạn nên dùng đúng loại sạc cho từng dòng pin. Như pin NiMH thì bạn phải dùng loại pin sạc NiMH. Không nhất thiết phải là sạc có thương hiệu, chỉ cần dùng loại sạc thông minh và tốt là đủ.

    Các loại pin sạc:

    • Loại pin Alkaline (giá từ 10-20K) : đây là loại pin chỉ dùng được 1 lần. Pin sẽ bị rò rỉ nước, bị hỏng nếu bạn sạc loại pin này.
    • Loại pin NiZn (giá từ 20 – 50K): Pin này cần có sạc đặc biệt, bởi không thể dùng sạc NiMH hay NiCD được.
    • Loại pin NiMH(giá từ 60- 150K) : Đây là loại pin có thể sạc lại nhiều lần. Không cần phải dùng đến loại pin chuyên dụng.

    Thắc mắc pin AA là gì của bạn đã được giải đáp rồi nhỉ? Hy vọng bạn thích bài viết và chia sẻ nhiều hơn những điều chưa biết với chúng tôi. chúng tôi thân chào và hẹn gặp lại trong những bài viết kế tiếp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Pin Aaa Là Gì? Top 5 Sản Phẩm Hot 2022
  • Pin Aa (2A) Và Pin Aaa Là Gì? Phân Biệt Nhận Biết Mua 2022
  • Những Chi Tiết Nhất Về Timer Mà Có Thể Bạn Chưa Biết?
  • Bạn Sẽ Không Cần Timers Nào Khác, Ngoại Trừ On Delay
  • Copd Và Các Bệnh Đồng Mắc
  • Hệ Thống Phổ Nguyên Tử Hấp Thu (Aas)

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Aba Là Gì? Các Bước Tiến Hành
  • Cách Để Biết Phương Pháp Điều Trị Tự Kỷ Aba Có Hại Hay Không
  • Thiết Lập Ưu Tiên Cho Công Việc Của Bạn Với Phương Pháp Abcde
  • Quản Lý Công Việc Hiệu Quả Bằng Phương Pháp Abcde
  • Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả Với Phương Pháp Ma Trận Eisenhower: Dồn Sức Vào Việc Quan Trọng Và Không Khẩn Cấp
  • Phòng thí nghiệm phân tích môi trường của Công ty Môi trường Đại Việt đã trang bị hệ thống máy AAS của hãng Perkin Elmer với 2 phương pháp nguyên tử hóa: ngọn lửa và không ngọn lửa (Lò Graphic) kết hợp hệ thống hóa hơi lạnh có khả năng phân tích hầu hết các kim loại nặng trong các môi trường khác nhau.

    1. Khái niệm phương pháp phổ hấp thu nguyên tử

    Phương pháp phổ hấp thu nguyên tử (Atomic Absorbtion Spectrometric – AAS) là phương pháp dựa trên nguyên lý hấp thu của hơi nguyên tử. Người ta cho chiếu vào đám hơi nguyên tử một năng lượng bức xạ đặc trưng của riêng nguyên tử đó. Sau đó đo cường độ còn lại của bức xạ đặc trưng này sau khi đã bị đám hơi nguyên tử hấp thụ, sẽ tính ra được nồng độ nguyên tố có trong mẫu đem phân tích.

    2. Nguyên tắc phương pháp phổ hấp thu nguyên tử

    Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử của một nguyên tố cần phải thực hiện các quá trình sau đây:

    • Chọn các điều kiện và loại trang bị phù hợp để chuyển mẫu phân tích từ trạng thái ban đầu (rắn hay dung dịch) thành trạng thái hơi của các nguyên tử tự do. Đó là quá trình hóa hơi và nguyên tử hóa mẫu.
    • Chiếu chùm tia sáng bức xạ đặc trưng của nguyên tố cần phân tích qua đám hơi nguyên tử vừa sinh ra. Các nguyên tử ở trạng thái hơi sẽ hấp thụ những tia bức xạ nhất định và tạo ra phổ hấp thụ của nó. Ở đây phần cường độ của chùm tia sáng đã bị một loại nguyên tử hấp thụ là phụ thuộc vào nồng độ của nó trong môi trường hấp thụ. Nguồn cung cấp chùm tia sáng phát xạ của nguyên tố cần nghiên cứu được gọi là nguồn bức xạ đơn sắc hay bức xạ cộng hưởng.
    • Nhờ một hệ thống máy quang phổ, người ta thu toàn bộ chùm sáng, phân ly và chọn 1 vạch hấp thụ của nguyên tố cần nghiên cứu để đo cường độ của nó. Cường độ đó chính là tín hiệu hấp thụ của vạch phổ hấp thụ nguyên tử. Trong một thời gian nhất định của nồng độ C, giá trị cường độ này là phụ thuộc tuyến tính vào nồng độ C của nguyên tố trong mẫu phân tích.

    3. Thành phần hệ thống thiết bị của phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử

    Hệ thống thiết bị của phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử bao gồm các phần cơ bản sau:

    • Nguồn phát tia cộng hưởng : là các đèn catôt rỗng (HCL), các đèn phóng điện không điện cực hay nguồn phát bức xạ liên tục đã được biến điện.
    • Hệ thống nguyên tử hóa mẫu: được chế tạo theo 2 loại kỹ thuật, đó là kỹ thuật nguyên tử hóa mẫu bằng ngọn lửa đèn khí và kỹ thuật nguyên tử hóa không ngọn lửa (Lò Graphic).
    • Máy quang phổ : là bộ phận đơn sắc, có nhiệm vụ thu, phân ly và chọn tia sáng (vạch phổ) cần đo hướng vào nhân quang điện để phát hiện tín hiệu hấp thụ AAS của vạch phổ.
    • Hệ thống chỉ thị tín hiệu hấp thụ của vạch phổ (tức là cường độ của vạch phổ hấp thụ hay nồng độ nguyên tố phân tích.

    4. Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp phổ hấp thu nguyên tử

    • Độ chính xác của máy AAS cao: RSD < 2%.
    • Độ lặp lại rất tốt: RSD < 1%.
    • Độ nhạy: rất nhạy, đo được hàm lượng tới ppb (microgam/ kg).
    • Phân tích được rất nhiều nguyên tố và thời gian phân tích nhanh.

    4.2. Nhược điểm của Phương pháp AAS :

    • Chi phí đầu tư hệ thống thiết bị cao.
    • Phương pháp và máy móc phức tạp, đòi hỏi người phân tích có chuyên môn cao.
    • Quá trình nhiễm bẩn có thể xảy ra khi phân tích hàm lượng vết.

    5. Hệ thống máy AAS của Công ty Môi trường Đại Việt

    Nắm bắt được nhu cầu phân tích, Phòng thí nghiệm phân tích môi trường của Công ty Môi trường Đại Việt đã trang bị hệ thống máy AAS của hãng Perkin Elmer với 2 phương pháp nguyên tử hóa: ngọn lửa và không ngọn lửa (Lò Graphic) kết hợp hệ thống hóa hơi lạnh có khả năng phân tích hầu hết các kim loại nặng trong các môi trường khác nhau.

    Hệ thống máy AAS của Công ty Môi trường Đại Việt

    Ứng dụng của Hệ thống máy AAS tại Công ty Môi trường Đại Việt

    Tại Công ty Môi trường Đại Việt, Hệ thống máy AAS được ứng dụng để phân tích hầu hết các kim loại nặng trong các nền mẫu khác nhau bao gồm: mẫu nước, mẫu không khí và khí thải, mẫu đất, mẫu bùn thải và trầm tích theo các Quy chuẩn hiện hành đối với các thành phần môi trường này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Lưu Ý Đối Với Phương Pháp Aas
  • Phương Pháp Aas Và Những Điều Bạn Chưa Biết
  • Hỗ Trợ Điều Trị Sùi Mào Gà Hiệu Quả Bằng Phương Pháp Ala
  • Chi Phí Điều Trị Phương Pháp Ala
  • Là Gì? Bao Nhiêu Tiền? Có Tốt Không?
  • Pin Aa Là Gì? Pin Aaa Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Piano Và Organ Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Cần Phối Hợp Cân Đối Đạm Động Vật Và Đạm Thực Vật Trong Bữa Ăn Hàng Ngày
  • Vai Trò Của Các Chất Dinh Dưỡng Đối Cới Cơ Thể – Trường Đại Học Quốc Tế Hồng Bàng
  • Những Câu Chuyện Về Quà Tặng Cuộc Sống Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • 101+ Câu Chuyện Quà Tặng Cuộc Sống Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Pin aa là gì, Pin aaa là gì,

    Pin aa và pin aaa là 2 loại pin thông dụng thông dụng trong nhiều gia đình, doanh nghiệp. Bởi tính phổ biến của các loại pin này. Vậy pin aa là gì? Pin aaa là gì?

    Phân biệt pin aa và pin aaa

    Đây đều là 2 loại pin thông dụng trong gia đình, doanh nghiệp tại Việt Nam, đều là loại pin có hình trụ tròn và thường sử dụng trong các loại thiết bị đồng hồ treo tường, điều khiển, chuột máy tính,… đây đều là những vật dụng thông dụng gần gũi với đời sống hằng ngày. Tùy vào thương hiệu và chất liệu cấu thành pin sẽ có chất lượng và giá thành khác nhau.

    Tuy vậy, về kích thước pin AAA lại có kích thước nhỏ hơn pin AA:

    -          Kích thước pin AA: 50.5 x 14.5mm

    -          Kích thước pin AAA: 44.5 x 10.5mm

    Vì kích thước khác nhau nên khi lựa chọn pin bạn cần phải chọn đúng pin cho thiết bị của mình. Ngoài ra, 2 loại pin này còn có loại pin sạc tương ứng, tức là, khi ở trạng thái thông thường (pin sử dụng một lần) pin có hiệu điện thế là 1.5v còn pin sạc sẽ có hiệu điện thế 1.2v.

    -          Một số mã pin tương đương của pin AA: pin tiểu, pin e91, pin LR6, pin 15AU, pin R6,…

    -          Một số mã pin tương đương của pin AAA: pin đũa, pin E92, pin LR03, pin 24AU, pin R3,…

    Địa điểm mua pin aa, pin aaa tại Hà Nội

    Chuyên phân phối các loại pin chính hãng chất lượng cao tại Hà Nội, Pin Trọng Tín chúng tôi chuyên cung cấp cho khách hàng những sản phẩm pin tốt nhất.

    -          Đối với pin AA, chúng tôi có đa dạng thương hiệu như: Panasonic, Energizer, Camelion, Sony, Duracell, Maxell,…

    -          Tương tự, đối với pin aaa chúng tôi cũng có đa dạng sản phẩm và thương hiệu như: Panasonic, Energizer, Camelion, Sony, Duracell, Maxell,…

    CÔNG TY TNHH DV PTDEVELOPMENT TRỌNG TÍN

    Cơ sở 1 : Số Nhà 24 /20 Ngõ 93 – Hoàng Văn Thái – Thanh Xuân – Hà Nội

    Cơ sở 2 : 43/37 Cộng Hòa – Phường 4 – Tân Bình – Hồ Chí Minh

    Website: pintrongtin.vn

    Email: [email protected]

    Hotline: 0969 056 672 – 0969 056 673 – 02466 849 292

    --- Bài cũ hơn ---

  • Difference Between Surgery And Operation
  • “in The Suburbs” Vs. “on The Outskirts”
  • Suburban Là Gì? Phân Biệt Suburban, Urban Và Rural? « Bạn Có Biết?
  • Hỏi Đáp Anh Ngữ: Phân Biệt Suburb Và Outskirt
  • Phân Biệt Above Và Over
  • Pin Aa (2A) Và Pin Aaa Là Gì? Phân Biệt Nhận Biết Mua 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Pin Aaa Là Gì? Top 5 Sản Phẩm Hot 2022
  • Pin Aa Là Gì? Phân Biệt Pin Aa Và Pin Aaa
  • Tấm Pin Năng Lượng Mặt Trời Mono Và Poly Có Gì Khác Nhau
  • Pin Năng Lượng Mặt Trời Mono Và Poly Khác Nhau Thế Nào?
  • Phân Biệt Pin Mặt Trời Mono Và Poly
  • Pin AA và pin AAA là những dòng pin thông dụng trong cuộc sống hằng ngày. Nó được sử dụng không chỉ trong các loại đồng hồ mà còn rất nhiều các thiết bị khác. Như điều khiển, trong đồ chơi,…

    Pin AA và pin AAA khác nhau về kích thước.

    Pin 2A có chiều dài từ 49.2mm đến 50.5mm (1.94-1.99 inches). Bao gồm cả cực pin và đường kính từ 13.5mm đến 14.5 mm (0.53-0.57 inches).

    Cực dương (+) có chiều cao tối thiếu 1mm và đường kính tối đa 5.5mm. Cực âm (-) là một mặt phẳng phải có đường kính tối thiểu 7mm.

    Pin AA Alkaline (pin kiềm AA) có trọng lượng khoảng 23g (0.81 oz), pin AA Lithium có trọng lượng tổng thể khoảng 15g (0.53 oz) và pin sạc Ni-MH có trọng lượng khoảng 31g (1.1 Oz).

    Ngày nay pin AA, pin tiểu vẫn được sử dụng hết sức rộng rãi trong đời sống hàng ngày của mọi người.

    Pin AAA có kích thước 44.5mm chiều dài và 10.5mm đường kính. Chiều dài đã bao gồm cả hai cực. Cực dương (+) có chiều cao tối thiểu 0.8mm và đường kính tối đa 3.8mm. Cực âm (-) có đường kính tối thiểu 4.3mm.

    Một pin AAA Alkaline có trọng lượng khoảng 11.5g trong khi pin Lithium cùng loại chỉ nặng khoảng 7.6g. Pin sạc Ni-MH thưởng nặng khoảng 14, 15g. Pin đũa là sự lựa chọn không thể thiếu trong các loại điều khiển, đồ chơi hiện nay.

    Trọng số hai loại pin này có phần nhỉnh hơn. Nhằm phù hợp với các thiết bị chuyên dụng như pin đồng hồ treo tường, pin điều khiển, pin chuột máy tính,… đa dạng gần gũi với đời sống hằng ngày. Dung lượng điện của 2 loại pin này cũng khác nhau tất cả các loai pin AA đều có dung lượng cao hơn so với pin AAA.

    Với những thiết bị khác nhau lại sử dụng pin sao cho phù hợp. Pin 2A có thể dùng cho đồng hồ, máy ảnh, các loại điều khiển cầm tay, đồ chơi của trẻ em… Cấu trúc thiết kế không giống nhau, ví như máy ảnh : có thể dùng pin thường và pin sạc AA.

    Pin sạc to hơn pin thường và có giá đắt hơn; vì nó có thể sạc đi sạc lại nhiều lần. Nhưng tầm trung có thể chia ra thành 3 nhóm, loại +/- 175 mAh, loại +/- 900 mAh và loại +/- 2300 mAh.

    Pin AA Panasonic có các chất liệu như Cacbon, Alkaline, Lithium. Trong đó tốt nhất là Alkaline chất liệu kiềm đem đến hiệu quả sử dụng bền lâu, không chảy nước làm ảnh hưởng đến thiết bị.

    Xem danh sách sản phẩm pin AAA: https://pintrongtin.com/san-pham/pin-aaa-pin-dua/

    Đặt vị trí mình là khách hàng, có thể thấy được việc chọn mua pin theo thương hiệu sản phẩm là rất nhiều. Thương hiệu càng lớn sẽ được nhiều người mua, bởi chất lượng tốt.

    Ví dụ : thương hiệu pin Energizer bán chạy nhất trên thị trường hiện nay. Ai đi mua cũng được giới thiệu về dòng pin này : chất lượng tốt, giá rẻ….

    Thực tế bạn đã mua phải hàng Trung Quốc, có giá tương được không kém gì pin chính hãng. Ngoài hãng pin này thì bạn cũng có thể mua phải hàng giả : pin Eneloop, Pin Camelion, Pin Duracell, Pin Maxell ….

    Để tránh mua phải hàng giả hàng kém chất lượng thì nên đến những cửa hàng uy tín chuyên cung cấp pin các loại chính hãng.

    Xem sản phẩm: https://pintrongtin.com/san-pham/pin-aa-pin-tieu/

    Pin AA thì dung lượng pin bao nhiêu là đủ? Với các loại pin sạc thì sạc được bao nhiêu lần mới đáp ứng nhu cầu sử dụng.

    Thông thường các loại pin có thể là 1,5V; 3V; 700mAH; 900mAH; 2300mAH …

    Những loại pin dung lượng càng cao thì giá càng đắt. Tìm hiểu thiết bị điện tử của mình phù hợp với loại pin nào để đưa ra sự lựa chọn tốt nhất.

    Địa điểm bán pin 2A và pin AAA tại Hà Nội

    Là địa điểm chuyên phân phối các sản phẩm pin 2APin AAA chính hãn g tại Hà Nội. Chúng tôi chuyên phân phối các loại pin, pin sạc, bộ sạc pin chính hãng tốt nhất hiện nay. Đặc biệt, khách hàng tin tưởng pin Trọng Tín chúng tôi bởi:

    • Là địa điểm đầu tiên và duy nhất tại Hà Nội cam kết bảo hành pin, pin sạc, bộ sạc pin cam kết đổi trả 1 – 1 nếu do lỗi của nhà sản xuất.
    • Có chính sách về giá cho khách hàng lấy với số lượng lớn, khách hàng thân thiết, khách hàng là đại lý, nhà phân phối.
    • Có hàn các cell pin theo yêu cầu.
    • Địa điểm duy nhất cam kết bảo hành pin sạc, pin nuôi nguồn, bộ sạc pin từ 6 tháng đến 1 năm tại Hà Nội
    • Là địa chỉ duy nhất cam kết về chất lượng; cam kết bảo hành 1 đổi 1 trong trường hợp nguyên tem nguyên hộp
    • Có chính sách dành riêng cho đại lý và nhà phân phối.

    CÔNG TY TNHH DV PTDEVELOPMENT TRỌNG TÍN

    Cơ sở 1 : Số Nhà 24 /20 Ngõ 93 – Hoàng Văn Thái – Thanh Xuân – Hà Nội

    Cơ sở 2 : 43/37 Cộng Hòa – Phường 4 – Tân Bình – Hồ Chí Minh

    Website: pintrongtin.com

    Email: [email protected]

    Hotline: 0969 056 672 – 0969 056 673

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Chi Tiết Nhất Về Timer Mà Có Thể Bạn Chưa Biết?
  • Bạn Sẽ Không Cần Timers Nào Khác, Ngoại Trừ On Delay
  • Copd Và Các Bệnh Đồng Mắc
  • Sự Khác Biệt Giữa Phẫu Thuật Và Phẫu Thuật Là Gì?
  • Override Và Overload Là Gì Và Sự Khác Nhau Giữa Chúng
  • Pin Aa (2A) Và Pin Aaa Là Gì? Phân Biệt Nhận Biết Mua 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Pin Mặt Trời Mono Và Poly
  • Sự Khác Nhau Giữa Pin Mặt Trời Mono Và Poly * Huế Camera
  • Tìm Hiểu: Sự Khác Nhau Giữa Piano Điện Và Organ
  • Sự Khác Nhau Giữa Protein Động Vật Và Protein Thực Vật
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Protein Thực Vật Và Protein Động Vật
  • Pin AA và pin AAA là những dòng pin thông dụng trong cuộc sống hằng ngày. Nó được sử dụng không chỉ trong các loại đồng hồ mà còn rất nhiều các thiết bị khác. Như điều khiển, trong đồ chơi,…

    Pin AA và pin AAA khác nhau về kích thước.

    Pin 2A có chiều dài từ 49.2mm đến 50.5mm (1.94-1.99 inches). Bao gồm cả cực pin và đường kính từ 13.5mm đến 14.5 mm (0.53-0.57 inches).

    Cực dương (+) có chiều cao tối thiếu 1mm và đường kính tối đa 5.5mm. Cực âm (-) là một mặt phẳng phải có đường kính tối thiểu 7mm.

    Pin AA Alkaline (pin kiềm AA) có trọng lượng khoảng 23g (0.81 oz), pin AA Lithium có trọng lượng tổng thể khoảng 15g (0.53 oz) và pin sạc Ni-MH có trọng lượng khoảng 31g (1.1 Oz).

    Ngày nay pin AA, pin tiểu vẫn được sử dụng hết sức rộng rãi trong đời sống hàng ngày của mọi người.

    Pin AAA có kích thước 44.5mm chiều dài và 10.5mm đường kính. Chiều dài đã bao gồm cả hai cực. Cực dương (+) có chiều cao tối thiểu 0.8mm và đường kính tối đa 3.8mm. Cực âm (-) có đường kính tối thiểu 4.3mm.

    Một pin AAA Alkaline có trọng lượng khoảng 11.5g trong khi pin Lithium cùng loại chỉ nặng khoảng 7.6g. Pin sạc Ni-MH thưởng nặng khoảng 14, 15g. Pin đũa là sự lựa chọn không thể thiếu trong các loại điều khiển, đồ chơi hiện nay.

    Trọng số hai loại pin này có phần nhỉnh hơn. Nhằm phù hợp với các thiết bị chuyên dụng như pin đồng hồ treo tường, pin điều khiển, pin chuột máy tính,… đa dạng gần gũi với đời sống hằng ngày. Dung lượng điện của 2 loại pin này cũng khác nhau tất cả các loai pin AA đều có dung lượng cao hơn so với pin AAA.

    Với những thiết bị khác nhau lại sử dụng pin sao cho phù hợp. Pin 2A có thể dùng cho đồng hồ, máy ảnh, các loại điều khiển cầm tay, đồ chơi của trẻ em… Cấu trúc thiết kế không giống nhau, ví như máy ảnh : có thể dùng pin thường và pin sạc AA.

    Pin sạc to hơn pin thường và có giá đắt hơn; vì nó có thể sạc đi sạc lại nhiều lần. Nhưng tầm trung có thể chia ra thành 3 nhóm, loại +/- 175 mAh, loại +/- 900 mAh và loại +/- 2300 mAh.

    Pin AA Panasonic có các chất liệu như Cacbon, Alkaline, Lithium. Trong đó tốt nhất là Alkaline chất liệu kiềm đem đến hiệu quả sử dụng bền lâu, không chảy nước làm ảnh hưởng đến thiết bị.

    Xem danh sách sản phẩm pin AAA: https://pintrongtin.com/san-pham/pin-aaa-pin-dua/

    Đặt vị trí mình là khách hàng, có thể thấy được việc chọn mua pin theo thương hiệu sản phẩm là rất nhiều. Thương hiệu càng lớn sẽ được nhiều người mua, bởi chất lượng tốt.

    Ví dụ : thương hiệu pin Energizer bán chạy nhất trên thị trường hiện nay. Ai đi mua cũng được giới thiệu về dòng pin này : chất lượng tốt, giá rẻ….

    Thực tế bạn đã mua phải hàng Trung Quốc, có giá tương được không kém gì pin chính hãng. Ngoài hãng pin này thì bạn cũng có thể mua phải hàng giả : pin Eneloop, Pin Camelion, Pin Duracell, Pin Maxell ….

    Để tránh mua phải hàng giả hàng kém chất lượng thì nên đến những cửa hàng uy tín chuyên cung cấp pin các loại chính hãng.

    Xem sản phẩm: https://pintrongtin.com/san-pham/pin-aa-pin-tieu/

    Pin AA thì dung lượng pin bao nhiêu là đủ? Với các loại pin sạc thì sạc được bao nhiêu lần mới đáp ứng nhu cầu sử dụng.

    Thông thường các loại pin có thể là 1,5V; 3V; 700mAH; 900mAH; 2300mAH …

    Những loại pin dung lượng càng cao thì giá càng đắt. Tìm hiểu thiết bị điện tử của mình phù hợp với loại pin nào để đưa ra sự lựa chọn tốt nhất.

    Địa điểm bán pin 2A và pin AAA tại Hà Nội

    Là địa điểm chuyên phân phối các sản phẩm pin 2APin AAA chính hãn g tại Hà Nội. Chúng tôi chuyên phân phối các loại pin, pin sạc, bộ sạc pin chính hãng tốt nhất hiện nay. Đặc biệt, khách hàng tin tưởng pin Trọng Tín chúng tôi bởi:

    • Là địa điểm đầu tiên và duy nhất tại Hà Nội cam kết bảo hành pin, pin sạc, bộ sạc pin cam kết đổi trả 1 – 1 nếu do lỗi của nhà sản xuất.
    • Có chính sách về giá cho khách hàng lấy với số lượng lớn, khách hàng thân thiết, khách hàng là đại lý, nhà phân phối.
    • Có hàn các cell pin theo yêu cầu.
    • Địa điểm duy nhất cam kết bảo hành pin sạc, pin nuôi nguồn, bộ sạc pin từ 6 tháng đến 1 năm tại Hà Nội
    • Là địa chỉ duy nhất cam kết về chất lượng; cam kết bảo hành 1 đổi 1 trong trường hợp nguyên tem nguyên hộp
    • Có chính sách dành riêng cho đại lý và nhà phân phối.

    CÔNG TY TNHH DV PTDEVELOPMENT TRỌNG TÍN

    Cơ sở 1 : Số Nhà 24 /20 Ngõ 93 – Hoàng Văn Thái – Thanh Xuân – Hà Nội

    Cơ sở 2 : 43/37 Cộng Hòa – Phường 4 – Tân Bình – Hồ Chí Minh

    Website: pintrongtin.com

    Email: [email protected]

    Hotline: 0969 056 672 – 0969 056 673

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Organ Và Piano
  • Tìm Hiểu Sự Khác Nhau Giữa Đàn Piano Và Organ
  • Bất Ngờ Với Sự Khác Biệt Vô Cùng Thú Vị Trong Ngôn Ngữ 2 Miền Bắc
  • Sự Khác Biệt Giữa Lan, Man Và Wan
  • Cách Dùng May Và Might Ai Cũng Cần Biết
  • Phương Pháp Và Phương Pháp Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Cắt Trĩ Bằng Phương Pháp Hcpt Là Gì, Có Hiệu Quả Không?
  • Cắt Trĩ Bằng Phương Pháp Hcpt Bao Nhiêu Tiền & Cắt Ở Đâu?
  • Cắt Trĩ Bằng Phương Pháp Hcpt Là Gì Và Ở Đâu An Toàn Nhất
  • Hplc Là Gì ? Khái Niệm, Nguyên Tắc, Phân Loại & Phạm Vi Ứng Dụng
  • Phương Pháp Sắc Ký Lỏng Hiệu Năng Cao (Hplc)
  • 1. Phương pháp

    Theo nghĩa thông thường phương pháp (tiếng Hy Lạp, phương pháp – methodos) là cách thức, thủ đoạn mà chủ thể sử dụng để đạt một mục đích nhất định. Thí dụ để hỏi quả trên cây, người ta có thể dùng nhiều cách: Trèo lên để bứt, dùng gậy để khều, hoặc dùng dao để chặt; muốn qua sông người ta có thể dùng nhiều cách: bơi bằng phao, hoặc dùng thuyền, hoặc dùng bè v.v. Ngay trong việc bơi cũng có nhiều cách như bơi ếch, bơi bướm, bơi sải v.v. Đó là những phương pháp hoạt động thực tiễn. Trong quá trình nhận thức cũng có nhiều cách để đi đến kết quả cần thiết. Thí dụ, để tính toán tổng các số chẵn có hai chữ số: 12 + 14 + 16 + ….+ 98, ta có ba cách: một là cộng lần lượt từ số thứ nhất đến số cuối cùng.

    Hai là có thể nhóm thành từng cặp có giá trị bằng nhau rồi nhân với số lượng các cặp bằng nhau đó: 12 + 98 = 110;

    ………………

    Có 22 cặp số mà tổng bằng 110 vậy tổng dãy số trên là: 22 X 110 = 2420.

    Cách thứ ba: ta có nhận xét nếu cộng tổng hai dãy số trên theo thứ tự tăng dần và giảm dần như sau:

    12+14+16+……. + 96 + 98

    110 + 110 + 110 + …+ 110+ 110. Có 44 số hạng bằng 110 trong tổng này, nên ta có thể tính dễ dàng bằng: 110 X 44 = 4840.

    Nếu định nghĩa một cách khái quát, khoa học và chặt chẽ thì phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễn nhằm thực hiện một mục đích nhất định.

    Định nghĩa nêu trên vừa nói lên được một cách khái quát hình thức thể hiện của phương pháp vừa nói lên được nguồn gốc và vai trò của phương pháp.

    Một vấn đề đặt ra là những nguyên tắc đó được con người rút ra như thế nào, từ đâu, và bản chất của nó là gì? Trả lời vấn đề này có một số quan điểm khác nhau.

    Nguồn gốc và bản chất của phương pháp

    Có một số quan niệm khác nhau về nguồn gốc và bản chất của phương pháp.

    Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm cho phương pháp là nhũng nguyên tắc do lý trí con người tự ý đặt ra để tiện cho nhận thức và hoạt động thực tiễn. Như vậy, theo quan niệm này, phương pháp là phạm trù thuần tuý chủ quan, không phụ thuộc vào đối tượng nhận thức và đối tượng tác động thực tế của con người. Thoạt nhìn, chúng ta thấy quan niệm này có vẻ hợp lý. Nhưng xem xét tỷ mỷ hơn chúng ta thấy con người không thể tuỳ tiện đặt ra những cách thức cho hoạt động của mình được. Thí dụ, khi bơi, chúng ta không thể hoạt động một cách tuỳ tiện, mà phải phối hợp cử động chân, tay một cách nhịp nhàng mới bơi được. Neu không phối hợp tay, chân một cách nhịp nhàng, người bơi sẽ không tạo ra một lực nâng tổng họp lớn hơn trọng lượng cơ thể, người đó thì sẽ bị chìm. Một thí dụ khác, khi chèo thuyền phải khua mái chèo theo một tư thế nhất định thuyền mới chạy đúng hướng được, nếu ìchông thuyền sẽ đứng tại chỗ mà không tiến lên phía trước như mong muốn. Như vậy hoạt động của con người không thể tuỳ tiện theo ý muốn chủ quan được, mà bị quy định bởi tính tất yếu bên ngoài, phụ thuộc vào đối tượng mà con người tác động.

    Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: phương pháp dù là những nguyên tắc do con người đặt ra và dùng để điều chỉnh hoạt động của mình nhằm đạt mục đích nhất định, nhưng không được đặt ra một cách hoàn toàn chủ quan, tuỳ tiện, cũng không phải là những nguyên tắc có sẵn bất biến trong tự nhiên. Phương pháp phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu và đối tượng tác động, phụ thuộc vào mục đích đặt ra của chủ thể. Đối tượng tác động và mục đích của con người không phải do con người tạo ra theo ý nuốn chủ quan thuần tuý của mình. Muốn tiếp cận đối tượng và giải quyết nhiệm vụ đặt ra, chủ thể phải nghiên cún đối tượng và mục đích cần đạt tới một cách khách quan. Nghĩa là phải vạch rõ đối tượng có tính chất gì, các yếu tố cấu thành nên đối tượng, giới hạn tồn tại của đối tượng là gì, v.v. Từ đó chủ thể nhận thức rõ những quy luật tồn tại và biến đổi của đối tượng. Chỉ trên cơ sở đó và sau đó chủ thể mới xác định được phải nghiên cún và hành động như thế nào và cần phải sử dụng những phương tiện, công cụ và biện pháp gì cho thích hợp, cũng như cần phải kết họp các yếu tố đã cho theo một trình tự như thế nào cho họp lý để đạt được mục đích. Như vậy phương pháp mà con người dựa vào đe hoạt động, phải tuân theo một lôgic nhất định, tuỳ thuộc vào lôgic của đối tượng. Rõ ràng phương pháp bắt nguồn từ hiện thực khách quan, phản ánh nhũng quy luật khách quan của đối tượng nghiên cứu chứ không phải là những nguyên tắc được đặt ra một cách tùy tiện, theo ý muốn chủ quan của chủ thể (con người). Nhưng phương pháp phải do hoạt động có ý thức, có mục đích của chủ thể mới hình thành được. Hoạt động có ý thức ở đây không phải là ý thức thuần tuý tưởng tượng ra các nguyên tắc, không dựa vào hiện thực khách quan, mà là quá trình ý thức con người phản ánh hiện thực khách quan, rút ra những mối liên hệ bản chất của đối tượng, căn cứ vào đó để điều chỉnh hoạt động của mình phù hợp với quy luật vận động của đối tượng. Do vậy cũng có thể nói phương pháp là sản phẩm của hoạt động có ý thức của con người, là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người.

    Phương pháp làm cho hoạt động củả con người phù họp với quy luật khách quan của đối tượng, nhờ vậy mới nhận thức và cải tạo được đối tượng. Do vậy phương pháp là một trong những yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại đối với hoạt động của con người. Nếu với những điều kiện khách quan nhất định như nhau, phương pháp đúng đắn thì kết quả đạt được càng cao và ngược lại phương pháp không phù hợp có thể không đưa đến kết quả như mong muốn, hoặc hiệu quả công việc không cao. Bê-cơn, một nhà triết học Anh thế kỷ XVIII nói: phương pháp như ngọn đèn soi đường đi cho khách lữ hành trong đêm tối. Hêghen – một nhà triết học lỗi lạc của Đức thế kỷ XVIII – XIX cho phương pháp gắn liền với đối tượng và phụ thuộc vào đối tượng, phương pháp là “linh hồn” của đối tượng. Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lênin rất coi trọng phương pháp, nhất là phương pháp hoạt động thực tiễn cách mạng, phương pháp vận động quần chúng. Chính phương pháp làm cho hoạt động của con người mang tính tự giác, có mục đích và có tính sáng tạo. Đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta, việc vạch ra mục tiêu phương hướng cách mạng đúng là yếu tố quan trọng cho thành công của cuộc cách mạng. Tuy nhiên nếu không có phương pháp hoạt động cách mạng đúng đắn, thì với những điều kiện vật chất nhất định sẽ không thể đưa cách mạrig tiến lên đế đạt được mục tiêu đã định. Vậy phương pháp là một nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của việc thực hiện mục tiêu hoạt động của con người.

    Căn cứ vào nội dung, phạm vi ứng dụng và mức độ phổ biến người ta phân chia phương pháp ra làm nhiều loại khác nhau như:

    – Phương pháp nhận thức và phương pháp hoạt động thực tiễn.

    – Phương pháp riêng

    – Phương pháp chung

    – Phương pháp chung nhất (hay phương pháp phổ biến)

    Phương pháp riêng chỉ áp dụng cho từng bộ mổn khoa học, cho một đối tượng riêng, cụ thể. Thí dụ: phương pháp phân loại thực vật, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp chứng minh trong toán học v.v.

    Phương pháp chung được áp dụng cho nhiều môn khoa học khác nhau, hoặc cho các đối tượng thuộc các lĩnh vực khác nhau như: phương pháp quan sát, phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình hoá, phương pháp hệ thống cấu trúc, v.v.

    Phương pháp chung nhất (hay còn gọi là phương pháp phổ biến) áp dụng cho mọi lĩnh vực khoa học và hoạt động thực tiễn. Đó là phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử như: phương pháp kết hợp phân tích và tổng họp, phương pháp kết hợp lôgic và lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá v.v.

    Trong phương pháp nhận thức khoa học lại có thể chia một cách tương đối ra thành nhóm các phương pháp thu nhận tri thức ở trình độ kinh nghiệm và nhóm các phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học.

    Nhóm các phương pháp thu nhận tri thức ở cấp độ kinh nghiệm như:

    Phương pháp quan sát, là phương pháp nghiên cứu để xác định các thuộc tính, các quan hệ của sự vật hiện tượng riêng lẻ của thế giới xung quanh trong điều kiện tự nhiên vốn có của nó. Thí dụ: Quan sát các hiện tượng thời tiết như: diễn biến thời tiết trước, trong và sau khi bão, mưa, lốc xoáy; quan sát, sự biến đổi cây cối trong năm; quan sát sự sinh trưởng của cây. Qua quan sát, con người thấy được các đặc điếm của sự vật và các mối liên hệ giữa đặc điểm này với các đặc điểm khác.

    Phương pháp thí nghiệm, là phương pháp nghiên cứu các sự vật, hiện tượng bằng cách sử dụng các phương tiện vật chất để can thiệp vào trạng thái tự nhiên của chúng, tạo ra những điều kiện đặc biệt (có tính chất nhân tạo), tách chúng thành các bộ phận và kết họp chúng lại, sản sinh chúng dưới dạng thuần khiết. Thí dụ: lai ghép cây, lai tạo các giống động vật, sinh sản vô tính, thí nghiệm để xác định độ chịu lực của vật liệu, thí nghiệm một phương pháp sản xuất mới, một công nghệ mới. Ngày nay thí nghiệm được sử dụng rộng rãi cả trong khoa học tự nhiên, trong kỹ thuật và trong xã hội. Thí nghiệm như một dạng cơ bản của hoạt động thực tiễn, giữ vai trò là cơ sở của nhận thức khoa học và tiêu chuẩn để kiểm tra tính chân lý của nhận thức khoa học.

    Nhóm các phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học gồm những phương pháp sau:

    Phương pháp kết hợp phân tích và tổng hợp: Phân tích là quá trình phân chia cái toàn bộ ra thành từng bộ phận để đi sâu nhận thức các bộ phận đó. Tổng họp là quá trình liên kết thống nhất các bộ phận đã được phân tích lại nhằm nhận thức cái toàn bộ. Nhận thức phải kết họp cả quá trình phân tích và tổng họp. Không có phân tích thì không thể tổng hợp được và ngược lại không tổng họp thì phân tích chỉ đưa lại hình ảnh rời rạc về sự vật, không thể có được hình ảnh toàn diện về sự vật.

    Phương pháp kết hợp quy nạp và diễn dịch: quy nạp là phương pháp đi từ tri thức về cái riêng đến tri thức về cái chung, từ tri thức về cái ít chung đến ứi thức về cái chung hơn. Diễn dịch là phương pháp đi từ tri thức về cái chung đến tri thức về cái riêng, từ tri thức về cái chung đến tri thức về cái ít chung hơn. Quá trình nhận thức phải có sự kết họp giữa phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch mới phản ánh được đầy đủ những đặc tính của sự vật cũng như phát huy được tính tích cực chủ động của hoạt động chủ quan của chủ thể nhận thức.

    Phương pháp lịch sử và lôgic

    Phương pháp lịch sử đòi hỏi phải phản ánh trong tư duy quá trình lịch sử cụ thể của sự vật với những chi tiết của nó, phải nắm lấy sự vận động lịch sử trong toàn bộ tính phong phú của đối tượng, phải theo dõi mọi bước đi của đối tượng theo trình tự thời gian.

    Phương pháp lôgic vạch ra bản chất, tính tất yếu, tính quy luật của sự vật dưới hình thức lý luận trừu tượng và khái quát. Phương pháp lôgic có nhiệm vụ dựng lại lôgic khách quan của sự vật.

    Quá trình nhận thức phải kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic mới phản ánh đúng và đầy đủ được sự vận động phát triển của sự vật. Nếu nhận thức chỉ dựa vào phương pháp lịch sử tách rời phương pháp lôgic thì nhận thức không thể phản ánh được bản chất của các sự kiện lịch sử. Các sự kiện lịch sử hiện ra trước con neười như một bức tranh rất nhiều màu sắc, nhiều đường nét chằng chịt, nhưng còn lộn xộn, chưa theo trật tự có tính tất yếu. Ngược lại nếu nhận thức chỉ dựa vào phương pháp lôgic tách rời phương pháp lịch sử thì hình ảnh về sự vật chỉ là một bức tranh không có màu sắc, thiếu đường nét, khô khan nghèo nàn và đon điệu, một bức tranh méo mó về sự vật. Phương pháp lịch sử và lôgic phải kết hợp chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, giúp cho con người không những nhận thức được những mối liên hệ bản chất của sự vật, mà cả những biểu hiện đa dạng của các mối liên hệ đó trong những điều kiện lịch sử khác nhau. Như vậy kết họp phương pháp lịch sử và lôgic giúp con người phản ánh sự vật đầy đủ, sâu sắc và đúng đắn.

    Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể

    Cái cụ thể là phạm trù chỉ những sự vật, hiện tượng nhất định của thế giới khách quan. Phản ánh cái cụ thể khách quan trong nhận thức dưới hai hình thức: Thứ nhất, cái cụ thể cảm tính – điểm bắt đầu của nhận thức, hình ảnh cảm tính về cái cụ thể khách quan; thứ hai, cái cụ thể trong tư duy- kết quả của tư duy lý luận, của nhận thức khoa học, phản ánh cái cụ thể khách quan bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật.

    Cái trừu tượng là một trong những yếu tố, một trong những vòng khâu của quá trình nhận thức. Cái trừu tượng trong tư duy là kết quả của sự trừu tượng hoá một mặt, một mối liên hệ nào đó trong tổng thể phong phú các mối liên hệ của sự vật. Do vậy trừu tượng là một mặt, một biểu hiện của cái cụ thể trong tư duy, là bậc thang của nhận thức cái cụ thể.

    Nhận thức về một đối tượng nhất định gồm hai giai đoạn (hay hai quá trình) quan hệ chặt chẽ với nhau: Một là đi từ cái cụ thể cảm tính đến cái trừu tượng, hình thành cái trừu tượng trong tư duy. Hai là đi từ trừu tượng đến cụ thể, hình thành cái cụ thể trong tư duy. Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể là phương pháp nhận thức khoa học quan trọng, nhờ đó mà tư duy quán triệt được cái cụ thể cảm tính ban đầu và tái tạo nó với tư cách là một cái cụ thể trong tư duy. Đây là phương pháp cơ bản được Mác sử dụng trong Tư bản. Tuy nhiên đây không phải là phương pháp duy nhất và cũng không phải là Mác sử dụng một cách tách rời với các phương pháp khác trong Tư bản.

    Như vậy chúng ta thấy có nhiều phương pháp nhận thức khoa học khác nhau, có quan hệ biện chúng với nhau. Sự phân biệt các loại phương pháp chỉ mang ý nghĩa tương đối, tuỳ theo góc độ và tiêu chuẩn phân loại khác nhau. Trong hệ thống các phương pháp, mỗi phương pháp đều có vị trí nhất định. Tùy từng đối tượng và điều kiện lịch sử khác nhau mà chủ thể hoạt động có thể lựa chọn phương pháp nào đó là phương pháp chủ yếu, nhưng đồng thời kết họp với các phương pháp khác. Không nên coi mọi phương pháp đều ngang bằng nhau, có thế thay thế cho nhau một cách tùy tiện, hoặc một phương pháp nào đó luôn là quan trọng nhất có thể bao trùm, thay thế cho mọi phương pháp khác. Không nên tuyệt đối hoá phương pháp này, hạ thấp phương pháp kia. Trên thực tế, hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn thường phải sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp mới nhanh chóng đạt được mục đích.

    2. Phương pháp luận Khái niệm phương pháp luận

    Trên thực tế, để giải quyết một công việc đã định người ta có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau. Trong các phương pháp đó có phương pháp thích hợp đưa lại hiệu quả cao, cũng có phương pháp không thích họp, đưa lại hiệu quả thấp. Làm thế nào để chọn được một phương pháp thích họp nhất trong số rất nhiều phương pháp có thế sử dụng? Trả lời cho vấn đề này làm nảy sinh nhu cầu tri thức về phương pháp. Từ nhu cầu tri thức về phương pháp đưa đến sự ra đời khoa học và lý luận về phương pháp. Đó chính là phưo’ng pháp luận. Vậy ta có thể nói phương pháp luận là lý luận về phương pháp (hay khoa học về phương pháp).

    Phương pháp luận giải quyết những vấn đề như: Phương pháp là gì? bản chất, nội dung, hình thức của phương pháp là thế nào? cách phân loại phương pháp như thế nào? vai trò của phương pháp trong nhận thức và hoạt động thực tiễn như thế nào? phương pháp thích hợp nhất là phương nào V.V.? Mục đích của những vấn đề lý luận trên là xác định được những quan điểm, nguyên tắc cơ bản nhất để trên cơ sở của những nguyên tắc đó con người có thể lựa chọn được những phương pháp hoạt động thực tiễn và nhận thức thích họp. Từ đó ta có thể định nghĩa phương pháp luận một cách rõ ràng hơn như sau:

    Phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát rút ra từ một lý thuyết hoặc một hệ thống lý luận nhất định, để chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như trong việc xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng một cách họp lý, đưa lại hiệu quả tối đa. Thí dụ phương pháp luận toán học, xuất phát từ việc nghiên cún các lý thuyết toán học để đề xuất được những nguyên tắc chung chỉ đạo quá trình xác định và áp dụng các phương pháp toán học V.V.; phương pháp luận kinh tế học có nhiệm vụ nghiên cứu các lý thuyết kinh tế, để rút ra những quan điểm, nguyên tắc cơ bản như: quan điểm về hiệu quả; quan điểm về tiến bộ xã hội; quan điểm về phát triển bền vững v.v. làm cơ sở cho việc xác định các phương pháp kinh tế cụ thể như: phương pháp điều tra chọn mẫu; phương pháp phân tích các hoạt động kinh tế, phương pháp thống kê v.v. Việc lựa chọn một phương pháp kinh tế cụ thể nào đó phải xuất phát từ các nguyên tắc phương pháp luận chung đó.

    Phân biệt phương pháp luận và phương pháp

    Phương pháp và phương pháp luận không đồng nhất với nhau, tuy có quan hệ chặt chẽ với nhau. Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là nhũng quan điểm, những nguyên tắc xuất phát để chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp một cách đúng đắn, còn phương pháp là những nguyên tắc cụ thể để chủ thể dựa vào đó điều chỉnh cách thức hoạt động cho thích họp với một đối tượng cụ thể. Phương pháp luận là những nguyên tắc được rút ra từ một lý thuyết mang tính chất thuần tuý lý luận, chưa gắn với một đối tượng cụ thể nào. Mỗi hệ thống lý luận (thậm chí mỗi lý thuyết) đều bao hàm một nội dung phương pháp luận nhất định. Còn phương pháp là những nguyên tắc nhận thức và hoạt động thực tiễn được rút ra từ tri thức về các đối tượng cụ thể. Phương pháp luận nghiên cứu phương pháp nhưng không nhằm ‘mục đích xác định một phương pháp cụ thể nào, mà nhằm rút ra những quan điểm, nguyên tắc xuất phát, làm cơ sở cho việc xác định và áp dụng phương pháp, còn phương pháp là những nguyên tắc do kết quả nghiên cứu đối tượng, những nguyên tắc quy định các thủ đoạn cụ thể để tiếp cận đối tượng và cải tạo các đối tượng cụ thể.

    Tuy nhiên phương pháp và phương pháp luận lại thống nhất với nhau ở chỗ phương pháp và phương pháp luận đều phản ánh nhũng mối liên hệ tất nhiên của hiện thực khách quan, chính vì vậy nó mới là cơ sở cho hoạt động của con người. Phương pháp luận là cơ sở lý luận cho việc xác định các phương pháp cụ thể, còn phương pháp phải xuất phát từ quan điểm, nguyên tắc của phương pháp luận để xác định các cách thức hoạt động phù hợp với một đối tượng nhất định.

    Phân loại phương pháp luận

    Phương pháp luận có các cấp độ khác nhau.

    Phương pháp luận môn học là cấp độ hẹp nhất, trong đó các quan điểm, các nguyên tắc được rút ra từ một lý thuyết khoa học chuyên ngành, phản ánh quy luật của một lĩnh vực cụ thể. Những nguyên tắc đó chỉ là cơ sở để xác định các phương pháp của một môn học nhất định nào đó.

    Phương pháp luận chung có cấp độ rộng hơn phương pháp luận môn học, đó là những quan điểm, nguyên tắc được rút ra từ những lý thuyết khoa học phản ánh quy luật chung của một số môn học, hoặc một số lĩnh vực của hiện thực khách quan. Những ngiịyên tắc chung này làm cơ sở cho việc xác định các phương pháp chung cho một số môn học hoặc một số lĩnh vực nào đó, Thí dụ phương pháp luận chung của các môn khoa học xã hội, hay phương pháp luận chung của các môn khoa học tự nhiên v.v.

    Phương pháp luận chung nhất (hay phương pháp luận phổ biến) có cấp độ rộng nhất, đó là những quan điểm, nguyên tắc chung nhất được rút ra từ những lý thuyết khoa học có cấp độ khái quát cao nhất, làm cơ sở cho việc xác định phương pháp chung cho nhận thức và hoạt động thực tiễn trên tất cả các lĩnh vực. Có thể nói, phương pháp luận chung nhất được rút ra từ lý luận triết học, trong đó phép biện chứng là một trong những bộ phận quan ứọng nhất của lý luận triết học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Đánh Giá Thành Tích Công Việc Mà Các Nhà Quản Lý Nhất Định Phải Biết!
  • Các Phương Pháp Đánh Giá Công Việc
  • 7 Phương Pháp Đánh Giá Nhân Viên Hiệu Quả Nhất Cho Doanh Nghiệp
  • 3 Phương Pháp Giảng Dạy Mới Có Thể Giúp Đổi Mới Giáo Dục
  • 7 Cách Thai Giáo Cho Thai Nhi Thông Minh Ngay Từ Trong Bụng Mẹ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100