Phương Pháp Aas

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Phương Pháp Aas xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 21/01/2021 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Phương Pháp Aas để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 9.999 lượt xem.

Có 10 tin bài trong chủ đề【Phương Pháp Aas】

【#1】Một Số Lưu Ý Đối Với Phương Pháp Aas

Phương pháp phổ hấp thu nguyên tử AAS (Atomic Absorption Spectrophotometric) là 1 kỹ thuật phân tích rất nhạy để đo nồng độ, hàm lượng các nguyên tố và có thể đo được dươi 1 phần tỷ của 1gam trong 1 mẫu.

AAS sử dụng bước sóng ánh sáng được hấp thụ đặc biệt bởi 1 nguyên tố. Do đó, phương pháp này được ứng dụng để phân tích nhiều chỉ tiêu thuộc các lĩnh vực: Thực phẩm, dược phẩm, sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp và môi trường. Đây cũng là những nội dung chủ yếu được TS. Phạm Tiến Đức, Giảng viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên ĐHQG Hà Nội chia sẻ tại khóa đào tạo do EDC-HCM tổ chức từ ngày 20/08 đến 24/08/2018 tại Hà Nội.

Theo TS. Phạm Tiến Đức, Giảng viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên ĐHQG Hà Nội, muốn thực hiện phép đo phổ AAS để xác định một nguyên tố trong một loại mẫu, hệ thống trang bị đo AAS phải đáp ứng 6 nguyên tắc:

* Chuyển mẫu phân tích (xử lý mẫu phân tích) → dạng dung dịch đồng thể.

* Hoá hơi dung dịch mẫu phân tích → đám hơi (khí) của mẫu,

* Nguyên tử hoá đám hơi → Môi trường của nguyên tử tự do,

* Chiếu chùm sóng (λ) đơn sắc vào đám hơi nguyên tử tự do → sinh phổ AAS,

* Thu phổ AAS, phân giải, chọn một λ để đo, và đo Aλ,

* Ghi lại kết quả đo Aλ.

Theo nguyên lý trên, hệ trang bị của phép đo AAS bao gồm các bộ phận:

* Nguồn cấp chùm tia đơn sắc của nguyên tố phân tích: Đèn Catốt rỗng (Hollow Cathod Lamp: HCL), Đèn không điện cực (Electrodeless Disharge Lamp: EDL).

* Hệ thống trang bị hoá hơi và nguyên tử hoá mẫu có thể sử dụng theo Kỹ thuật Ngọn lửa (phép đo F-AAS) hoặc Kỹ thuật Không ngọn lửa (Phép đo GF-AAS).

* Máy quang phổ (Thu phổ, Phân giải, và chọn λ đo độ hấp thụ Aλ)

* Bộ phận ghi kết quả đo.

Hệ AAS trang bị hoàn chỉnh còn có thêm: Hệ thống tự động bơm mẫu (AutoSampler), Hệ máy tính và phần mềm điều khiển, Hệ thống hoá hơi lạnh (Kỹ thuật Hydrua hoá), Trang bị nguyên tử hóa mẫu rắn và mẫu bột.

2. Các kỹ thuật nguyên tử hoá mẫu

Muốn thực hiện phép đo AAS phải có nguồn năng lượng, cung cấp năng lượng để hoá hơi các chất mẫu phân tích; Nguyên tử hoá đám hơi thành nguyên tử tự do với hiệu suất cao; Tạo ra các nguyên tử tự do nguyên tử phân tích (Môi trường hấp thụ tia bức xạ λ) để sinh phổ AAS của nguyên tố cần phân tích.

Đây là vấn đề mấu chốt của phép đo AAS, vì các nguyên tử khí tự do là chất hấp thụ bức xạ sinh phổ AAS. Tuy nhiên, nguồn năng lượng và kỹ thuật nguyên tử hóa mẫu phải đáp ứng các yêu cầu:

* Có năng lượng đủ lớn,

* Phải ổn định, điều chỉnh được, lặp lại tốt,

* Cung cấp cho phép đo AAS có độ nhạy cao,

* Thuần khiết và không cho thêm phổ phụ,

* Bền theo thời gian và ổn định,

* Cần ít mẫu,

* Có tính kinh tế (không quá đắt).

Theo đó, chỉ có 2 loại: Ngọn lửa đèn khí (tương ứng Phép đo Flame Atomic Absorption Spectrometry: F-AAS) và Lò Graphit (tương ứng Phép đoFlameless Atomic Absorption Spectrometry, hay Graphite Furnace Atomic Absorption Spectrometry: GF-AAS) đáp ứng các yêu cầu trên.

2.1. Kỹ thuật ngọn lửa (Phép đo F-AAS)

Kỹ thuật ngọn lửa là dùng năng lượng nhiệt của ngọn lửa đèn khí để hoá hơi và nguyên tử hoá mẫu phân tích. Do đó, mọi quá trình xảy ra trong khi nguyên tử hoá mẫu phụ thuộc vào đặc trưng và tính chất của ngọn lửa đèn khí nhưng chủ yếu là nhiệt độ ngọn lửa. Đây là yếu tố quyết định hiệu suất nguyên tử hoá mẫu phân tích, mọi yếu tố ảnh hưởng đến nhiệt độ ngọn lửa đèn khí đều ảnh hưởng đến kết quả của phương pháp phân tích.

Nguyên tắc: Dùng năng lượng nhiệt của ngọn lửa đèn khí để nguyên tử hóa mẫu; Được đốt bởi hỗn hợp 2 khí (khí Oxy hoá và khí nhiên liệu, ví dụ như Không khí nén + Axetylen, hay N2O + Acetylen).

Cấu tạo và đặc điểm của ngọn lửa gồm 3 phần:

Phần tối: Nhiệt độ từ 500-10000C, màu xám.

Phần lõi và tâm: Nhiệt độ cao, không mầu hay có mầu xanh nhạt và hầu như không có quá trình phụ.

Phần vỏ và đuôi: Nhiệt độ thấp, có mầu vàng hay xám. Đây là phần có nhiều quá trình phụ xảy ra.

Nhiệt độ ngọn lửa được quyết định bởi bản chất của chất khí được đốt tạo ra ngọn lửa; thành phần của hỗn hợp khí đó; tốc độ dẫn khí vào đèn.

Bảng thành phần khí và nhiệt độ ngọn lửa

Các yếu tố ảnh hưởng của kỹ thuật này

* Kỹ thuật tạo thể solkhí mẫu.

* Điều kiện tạo ngọn lửa và Nhiệt độ ngọn lửa đèn khí.

* Thành phần của dung dịch mẫu, nguyên tố thứ ba.

* Chất nền của mẫu.

* Độ nhớt của dung dịch mẫu.

* Nồng độ và loại axit dung dịch mẫu.

* Tốc độ dẫn mẫu vào buồng tạo solkhí.

* Chiều cao của đèn nguyên tử hóa.

Trong phép đo F-AAS, muốn có các điều kiện và quy trình phân tích phù hợp nhất, phát hiện và loại bỏ các yếu tố ảnh hưởng để có kết quả tốt chất lượng cao cần:

i. Chọn các thông số máy đo phổ: Vạch phổ đo, kỹ thuật đo, độ rộng khe đo, chiều cao Burner, thông số nguồn cấp chùm tia đơn sắc (cường độ của HCL);

ii. Chọn các điệu kiện hoá hơi và nguyên tử hóa mẫu: Loại khí và thành phần khí tạo ngọn lửa, tốc độ khí, tốc độ dẫn mẫu, các thông số khác cho điều kiện nguyên tử hóa mẫu;

iii. Xem xét các yếu tố về phổ và vật lý: Sự chen lấn vạch phổ của chất nền và nguyên tố khác có sự phát xạ của nguyên tố phân tích không, độ nhớt dung dịch mẫu, sự iôn hoá kim loại kiềm…;

iv. Các yếu tố về hoá học (nền và nguyên tố thứ ba): Chất nền (matrix) của mẫu, nguyên tố thứ ba khác trong mẫu, loại axit và nồng độ axit;

v. Phương pháp chuẩn hoá để định lượng;

vi. Kỹ thuật hay phương pháp xử lý và chuẩn bị mẫu.

Trên cơ sở giải quyết và tối ưu được 6 vấn đề trên thì chúng ta mới có một quy trình phân tích thích hợp và đúng đắn cho đối tượng và nguyên tố cần phân tích.

2.2. Kỹ thuật không ngọn lửa (Phép đo GF-AAS)

Kỹ thuật không ngọn lửa ra đời sau kỹ thuật F-AAS nhưng đã được phát triển rất nhanh, nâng cao độ nhạy của phép xác định lên gấp hàng trăm lần so với kỹ thuật F-AAS. Mẫu phân tích bằng kỹ thuật này không cần làm giàu sơ bộ và lượng mẫu tiêu tốn ít.

Kỹ thuật GF-AAS là quá trình nguyên tử hoá tức khắc trong thời gian rất ngắn nhờ năng lượng nhiệt của dòng điện có công suất lớn và trong môi trường khí trơ (Argon). Quá trình nguyên tử hoá xảy ra theo các giai đoạn kế tiếp nhau: sấy khô, tro hoá luyện mẫu, nguyên tử hoá để đo phổ hấp thụ nguyên tử và cuối cùng là Số hóa làm sạch cuvet.

Nhiệt độ trong cuvet graphit là yếu tố quyết định mọi diễn biến của quá trình nguyên tử hoá mẫu. Nguyên tắc của phương pháp này là dùng năng lượng nhiệt của dòng điện rất cao (300-500A) để đốt nóng tức khắc cuvet Graphite chứa mẫu phân tích để thực hiện nguyên tử hóa mẫu cho phép đo AAS (hay thuyền Tantan đặt trong cuvet graphit).

Để tối ưu hoá các điều kiện cho phép đo GF-AAS mang đến một phương pháp phân tích đúng đắn và cho kết quả tốt theo kỹ thuật này, chúng ta phải thực hiện tối ưu hoá các điều kiện cần thiết cho phép đo, cụ thể là:

* Các thông số máy đo phổ (như trong F-AAS) (Vạch đo, khe máy, chiều cao Burner…)

* Các điều kiện nguyên tử hóa mẫu trong cuvét, loại cuvet,…: Chọn loại cuvet, nhiệt độ Tro hoá và nguyên tử hóa mẫu (công suất nung cuvet)…, khí trơ làm môi trường nguyên tử hóa mẫu,…

* Các yếu tố vật lý,

* Các yếu tố về hoá học, (môi trường axit, chất nền và nguyên tố thứ ba,…)

* Phương pháp chuẩn hoá để định lượng

* Bổ chính nền và phương pháp bổ chính

* Phương pháp xử lý và chuẩn bị mẫu phân tích

* Các hoá chất dùng trong xử lý mẫu

* Môi trường phòng thí nghiệm.

PHÚC ANH

Tạp chí Thử nghiệm Ngày nay số 11 tháng 09/2018.


【#2】Phương Pháp Aas Và Những Điều Bạn Chưa Biết

Phương pháp AAS là gì? Nó có ứng dụng gì trong nghiên cứu? Thiết bị AAS là gì? Cần lưu ý gì khi sử dụng thiết bị này? Nên mua thiết bị AAS ở đâu để đảm bảo chất lượng?

Quá trình nghiên cứu các nguyên tố trong ngành thí nghiệm nói riêng đòi hỏi người nghiên cứu phải sử dụng rất nhiều phương pháp khác nhau để phân tích chúng nhằm tìm ra được những khám phá mới. Một trong những phương pháp nghiên cứu được sử dụng khá quen thuộc trong thí nghiệm chính là phương pháp phổ hấp thu nguyên tử hay còn gọi tắt là phương pháp AAS.

Phương pháp AAS là tên viết tắt từ cụm từ tiếng Anh có tên là Atomic Absorption Spectrophotometric, gọi là Phương pháp phổ hấp thu nguyên tử.

Đây là phương pháp dựa trên nguyên lý hấp thu của hơi nguyên tử, các nguyên tử ở trạng thái bình thường thì chúng không hấp thu hay bức xạ năng lượng nhưng khi chúng ở trạng thái tự do dưới dạng những đám hơi nguyên tử thì chúng hấp thu và bức xạ năng lượng.

Mỗi nguyên tử chỉ hấp thu những bức xạ nhất định đặc trưng với những bức xạ của nó. Khi nguyên tử nhận năng lượng chúng chuyển lên mức năng lượng cao hơn gọi là trạng thái kích thích. Quá trình đó gọi là quá trình hấp thu năng lượng của nguyên tử tự do ở trạng thái hơi và tạo ra phổ của nguyên tử đó. Phổ sinh ra trong quá trình này gọi là phổ hấp thu nguyên tử.

Đây là một trong những kỹ thuật có vai trò hàng đầu trong phân tích mẫu môi trường. Là một hệ thống kỹ thuật cao kết hợp tính hiệu quả và khả năng dễ sử dụng nhằm phân tích các giá trị nguyên tố trong mẫu môi trường.

NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN PHƯƠNG PHÁP PHỔ HẤP THU NGUYÊN TỬ

Phương pháp AAS của các nguyên tử cần phải thực hiện các quá trình sau đây:

Đầu tiên: Để quá trình hóa hơi và nguyên tử hóa mẫu diễn ra, cần lựa chọn các điều kiện và thiết bị hỗ trợ phù hợp với mẫu để chuyển mẫu phân tích từ trạng thái ban đầu thành trạng thái hơi của các nguyên tử tự do.

Sau đó tiến hành chiếu chùm tia sáng bức xạ tương ứng của nguyên tố cần phân tích qua đám hơi nguyên tử vừa sinh ra. Các nguyên tử ở trạng thái hơi sẽ hấp thụ những tia bức xạ tương ứng với nó và tạo ra phổ hấp thụ.

Cuối cùng nhờ vào một hệ thống máy quang phổ, người ta thu toàn bộ chùm sáng, phân ly và chọn 1 vạch hấp thụ của nguyên tố cần nghiên cứu để đo được tín hiệu hấp thụ của vạch phổ hấp thụ nguyên tử.

MÁY QUANG PHỔ HẤP THU NGUYÊN TỬ AAS

Thiết bị dùng để thực hiện phương pháp phổ hấp thu nguyên tử chính là máy quang phổ. Một máy quang phổ hấp thu nguyên tử bao gồm các bộ phận sau:

Nguồn cấp chùm tia đơn sắc của nguyên tố phân tích: thường là đèn cathod rỗng HCL (Hollow Cathode Lamp). Đèn này gồm có 3 bộ phận chính sau:

Hệ thống trang bị hoá hơi và nguyên tử hoá mẫu phân tích: có thể sử dụng theo Kỹ thuật nguyên tử hóa bằng ngọn lửa (phép đo F-AAS) hoặc Kỹ thuật không ngọn lửa (Phép đo ETA-AAS).

Máy quang phổ: là bộ phận đơn sắc, có nhiệm vụ thu nhận, phân ly và chọn tia sáng (vạch phổ) cần đo hướng vào nhân quang điện để phát hiện tín hiệu hấp thụ AAS của vạch phổ (thu phổ, phân giải, và chọn λ đo độ hấp thụ Aλ).

Bộ phận ghi kết quả đo: là hệ điện tử/ máy tính để điều khiển và xử lý số liệu

Một hệ thống phổ hấp thu nguyên tử hoàn chỉnh còn có thêm các bộ phận: Hệ thống tự động bơm mẫu (AutoSampler), hệ thống hoá hơi lạnh (kỹ thuật Hydrua hoá), trang bị nguyên tử hóa mẫu rắn và mẫu bột.

– Phân tích được rất nhiều nguyên tố và thời gian phân tích nhanh, tiết kiệm thời gian.

– Độ chính xác của máy AAS hầu như rất cao: RSD < 2% (độ lệch chuẩn tương đối khá thấp)

– Độ lặp lại rất tốt: RSD < 1%

– Độ nhạy: rất nhạy, đo dược hàm lượng tới chỉ số phần tỷ ppb (microgam/ kg)

– Chi phí đầu tư thấp so với máy ICP-OES

– Chi phí đầu tư hệ thống thiết bị khá tốn kém vì giá thành cao.

– Đòi hỏi người sử dụng có chuyên môn cao vì thiết bị có cấu tạo kĩ thuật khá phức tạp khi sử dụng

– Quá trình nhiễm độc có thể xảy ra khi phân tích hàm lượng vết.

– Có thể gây cháy nổ và chập điện nếu sử dụng sai cách.

LƯU Ý KHI SỬ DỤNG THIẾT BỊ AAS

Để có thể cho được một kết quả phân tích chính xác, nhanh chóng và đảm bảo an toàn với người dùng thì cần sử dụng các thiết bị này đúng cách theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Một số yêu cầu của nguồn năng lượng và kỹ thuật nguyên tử hóa mẫu cần phải được đáp ứng để đảm bảo phương pháp này có thể thực hiện như: Có năng lượng đủ lớn, ổn định, điều chỉnh được, lặp lại tốt; thuần khiết và không cho thêm phổ phụ, bền theo thời gian và ổn định,…

Vậy nên trước khi sử dụng thiết bị hoặc phụ kiện, bạn cần tuân thủ một cách nghiêm túc các chỉ dẫn trong quá trình sử dụng thiết bị. Người sử dụng cần đảm bảo được trang bị chuyên môn kỹ thuật cao và thực hiện một cách cẩn thận để tránh việc sử dụng sai cách dẫn tới những hậu quả ngoài mong muốn.

NƠI MUA THIẾT BỊ HẤP THU NGUYÊN TỬ AAS

Nắm bắt được nhu cầu phân tích nguyên tử phục vụ cho nghiên cứu ngày càng cao, Công ty Trung Sơn đã trang bị hệ thống các thiết bị AAS đảm bảo chất lượng hàng đầu. Nếu bạn đang phân vân không biết nên mua các thiết bị nghiên cứu thí nghiệm ở đâu thì đừng ngần ngại liên hệ với Với uy tín lâu năm trong ngành cùng với đội ngũ chăm sóc khách hàng và chuyên viên kĩ thuật trình độ cao, chúng tôi tự hào có thể đem đến cho bạn những sản phẩm tốt nhất.


【#3】Phương Pháp Đo Phổ Hấp Thụ Nguyên Tử Aas

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

KHOA VẬT LÝ _BỘ MÔN QUANG – QUANG PHỔ

BÀI TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI: PHƯƠNG PHÁP ĐO PHỔ HẤP THỤ NGUYÊN TỬ AAS

Nhóm thực hiện: Nhóm I

Huế, ngày 01 tháng 12 năm 2011

0

MỤC LỤC

Tiêu đề

trang

I. MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………. 2

II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA PHƯƠNG PHÁP AAS …………………….. 3

2.1 Hiện tượng hấp thụ nguyên tử ……………………………………………… 3

2.2 PPPT AAS định tính và định lượng………………………………………. 3

2.2.1 Phương pháp phân tích AAS định tính …………………………. 3

2.2.2 Phương pháp phân tích AAS định lượng ………………………. 4

2.3 Ưu và nhược điểm của phương pháp phân tích AAS …………….. 6

III . KỸ THUẬT THỰC NGHIỆM …………………………………………………. 7

3.1 Cấu tạo, hoạt động của hệ đo AAS ……………………………………….. 7

3.2 Cách thực hiện phép phân tích AAS hoàn chỉnh …………………… 9

IV . VÍ DỤ ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH AAS ……………. 11

V. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ PHƯƠNG PHÁP AAS ……………………….. 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………………. 16

1

I. MỞ ĐẦU

Phương pháp AAS được viết tắt từ phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử

(Atomic Absorptional Spectroscopy).

Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử là một trong những phương pháp tốt

nhất để xác định các nguyên tố kim loại, với độ nhạy lớn và độ chính xác

cao.

Phương pháp dựa trên sự hấp thụ các bức xạ đặc trưng bởi đám hơi nguyên

tử. Hiện tượng hấp thụ nguyên tử được ghi nhận đầu tiên bởi Wollaston và

Praunhofh, được giải thích bởi Bussen và Kirchhoff.

2

II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA PHƯƠNG PHÁP AAS

2.1 Hiện tượng hấp thụ nguyên tử:

+ Trong điều kiện bình thường nguyên tử không thu hay phát ra năng lượng

dưới dạng bức xạ. Lúc này nguyên tử tồn tại ở trạng thái cơ bản. Nếu

nguyên tử nhận năng lượng dưới dạng nhiệt thì nguyên tử sẽ chuyển lên

trạng thái có năng lượng cao hơn, gọi là trạng thái kích thích, trạng thái kích

thích này không bền, chỉ khoảng 10-8 ÷ 10-9 s, sau đó nguyên tử có xu hướng

trở về trạng thái có mức năng luợng thấp hơn, khi này nguyên tử sẽ giải

phóng năng lượng dưới dạng bức xạ điện từ có bước sóng khác nhau nằm

trong dải phổ quang học.

+ Trong trường hợp đặc biệt, khi nguyên tử tồn tại ở trạng thái hơi tự do nếu

ta chiếu một tia sáng có những bước sóng xác định vào đám hơi nguyên tử

đó, thì các nguyên tử sẽ hấp thụ các bức xạ có bước sóng nhất định ứng với

những tia bức xạ mà nó có thể phát ra. Lúc này nguyên tử đã nhận năng

lượng của các tia bức xạ chiếu vào nó và nó chuyển lên trạng thái kích thích.

+ Quá trình đó gọi là quá trình hấp thụ năng lượng của nguyên tử tự do ở

trạng thái hơi.

+ Phổ sinh ra trong quá trình này gọi là phổ hấp thụ nguyên tử.

2.2 Phương pháp phân tích phổ hấp thụ nguyên tử định tính

và định lượng:

2.2.1 Phương pháp phân tích AAS định tính:

+ Do mỗi một nguyên tử hay một tập hợp các nguyên tử có dấu hiệu phổ

riêng biệt, được quyết định bởi chính bản thân cấu trúc và trạng thái vật lý

của chúng nên căn cứ vào quang phổ thu được chúng ta có thể đoán nhận

khái quát về thành phần cấu tạo của mẫu phân tích.

+ Dựa trên cơ sở là các nguyên tử tạo ra trong bộ nguyên tử hóa mẫu hấp

thụ hay không hấp thụ tia cộng hưởng phát ra từ đèn catốt rỗng làm bằng

một nguyên tố nào đó để nhận biết trong mẫu phân tích có hay không

nguyên tố đó.

3

2.2.2 Phương pháp phân tích AAS định lượng:

+ Để xác định nồng độ (hàm lượng) của một nguyên tố trong mẫu phân tích

theo phép đo phổ hấp thụ nguyên tử người ta thường thực hiện theo các

phương pháp sau đây:

+ Dựa theo phương trình định lượng cơ bản của phép đo này qua việc đo

cường độ của vạch phổ hấp thụ của nguyên tố phân tích và xác định (hay

phát hiện) nồng độ của chất phân tích trong mẫu đo phổ theo một trong các

phương pháp chuẩn hóa sau:

-Phương pháp đường chuẩn.

-Phương pháp thêm tiêu chuẩn.

* Phương pháp đường chuẩn:

Nguyên tắc của phương pháp này là chọn một dãy mẫu đầu (ít nhất là

ba mẫu) để xây dựng nên một đường chuẩn, và sau đó nhờ đường chuẩn này

và giá trị Ix để xác định nồng độ Cx của nguyên tố cần phân tích trong mẫu

đo phổ, rồi từ đó tính được nồng độ của nó trong mẫu phân tích.

Ví dụ: ta chọn dãy mẫu đầu gồm 5 mẫu C1, C2, C3, C4, C5, mẫu cần

phân tích là Cx. Chọn điều kiện phù hợp rồi ta tiến hành đo cường độ phổ

hấp thụ đặc trưng của nguyên tố trong mẫu của mẫu đầu và mẫu cần phân

tích, ta thu được I1, I2, I3, I4, I5 và Ix ( cường độ phổ hấp thụ đặc trưng của

mẫu cần phân tích).

4

Từ đồ thị chuẩn trên và từ cường độ Ix ta đối chiếu và xác định được

nồng độ Cx.

Phương pháp này đơn giản, dễ thực hiện, có hiệu suất cao trong việc

phân tích hàng loạt mẫu chứa cùng một đối tượng phân tích. Tuy nhiên

phương pháp này có nhược điểm là khi mẫu phân tích có thành phần phức

tạp và chưa biết rõ ta không thể chuẩn bị chính xác ba mẫu đầu để có đường

chuẩn đúng đắn.

* phương pháp thêm tiêu chuẩn:

Nguyên tắc của phương pháp này là người ta dùng ngay mẫu phân

tích làm nền để chuẩn bị một dãy mẫu đầu, bằng cách lấy một lượng mẫu

nhất định và gia thêm vào đó những lượng nhất định của nguyên tố cần xác

định theo từng bậc nồng độ (theo cấp số cộng).

Ví dụ: Nồng độ yếu tố cần phân tích là Cx=Co và lượng thêm vào là

∆C1, ∆C2, ∆C3, ∆C4, ∆C5 ta có loạt mẫu đầu có nồng độ yếu tố cần phân

tích là:

Co = Cx

C1 = Cx + ∆C1

C2 = Cx + ∆C2

C3 = Cx + ∆C3

C4= Cx + ∆C4

C5 = Cx + ∆C5

Tiếp đó ta xác định cường độ phổ đặc trưng của mẫu đầu và dựng lên

đường chuẩn I-∆C.

5

2.3 Ưu và nhược điểm của phương pháp phân tích AAS:

* Ưu điểm:

Phép đo phổ nguyên tử có độ nhạy và độ chọn lọc cao, tốn ít mẫu

phân tích, thời gian phân tích nhanh. Các động tác thực hành thực hiện nhẹ

nhàng, nhanh chóng. Bằng phương pháp này ta có thể xác định đồng thời

hay liên tiếp nhiều nguyên tố trong cùng một mẫu. Kết quả phân tích ổn

định, sai số nhỏ.

* Nhược điểm:

Muốn đo phổ hấp thụ nguyên tử cần phải có một hệ thống máy móc

tương đối đắt tiền. Do cần có độ nhạy cao nên sự nhiễm bẩn có ý nghĩa lớn

đối với kết quả phân tích hàm lượng. Môi trường không khí phòng thí

nghiệm phải không có bụi. Các dụng cụ và hóa chất dùng trong phép đo

phải có độ tinh khiết cao. Vì có độ nhạy cao nên các trang bị máy móc là

khá tinh vi và phức tạp, do đó cần phải có kĩ sư lành nghề để bảo dưỡng và

chăm sóc. Nhược điểm chính là chỉ cho ta biết thành phần nguyên tố của

chất phân tích có trong mẫu phân tích, mà không chỉ ra được trạng thái liên

kết, cấu trúc của nguyên tố có trong mẫu.

6

III. KỸ THUẬT THỰC NGHIỆM

3.1Cấu tạo, hoạt động của hệ đo phổ hấp thụ nguyên tử:

* Cấu tạo của hệ đo phổ hấp thụ nguyên tử:

Muốn thực hiện phép đo phổ hấp thụ thì hệ đo phổ hấp thụ nguyên tử phải

bao gồm các bộ phận chính sau:

+ Nguồn phát tia bức xạ cộng hưởng của nguyên tố cần phân tích: Dùng

để chiếu vào môi trường hấp thụ chứa các nguyên tử tự do của nguyên tố.

Đó là các đèn catốt rỗng (HCL), các đèn phóng điện không điện cực (EDL),

hay nguồn phát bức xạ liên tục đã được biến điệu.

+ Hệ thống nguyên tử hóa mẫu phân tích: Hệ thống này được chế tạo

theo hai loại kĩ thuật nguyên tử hóa mẫu. Đó là kĩ thuật nguyên tử hóa bằng

ngọn lửa và kỹ thuật nguyên tử hóa không ngọn lửa.

7

Trong kĩ thuật nguyên tử hóa bằng ngọn lửa, hệ thống này bao gồm:

Bộ phận dẫn mẫu vào buồng aerosol hóa và thực hiện quá trình aerosol

hóa mẫu (tạo thể sol khí) và đầu đốt để nguyên tử hóa mẫu, để đốt cháy

hỗn hợp khí có chứa mẫu ở thể huyền phù sol khí như hình sau:

Ngược lại, khi nguyên tử hóa mẫu bằng kĩ thuật không ngọn lửa,

người ta thường dùng một lò nung nhỏ bằng graphit (cuvet graphit) hay

thuyền Tangtan (Ta) để nguyên tử hóa mẫu nhờ nguồn năng lượng điện có

thế thấp (nhỏ hơn 12 V) nhưng nó có dòng rất cao (50-800 A).

+ Hệ thống máy quang phổ hấp thụ hay là bộ đơn sắc: Bộ đơn sắc, có

nhiệm vụ lọc, phân li và chọn tia sáng (vạch phổ) cần đo, định hướng tia

sáng vào nhân quang điện để phát hiện, biến đổi tín hiệu quang thu được.

+ Bộ phận biến đổi quang điện: là bộ phận biến đổi tín hiệu quang thành

tín hiệu điện, để dễ khuếch đại và lưu trữ tín hiệu.

+ Bộ phận ghi nhận, xử lý tín hiệu: Bộ phận này có thể là các trang bị sau:

Đơn giản nhất là một điện kế chỉ năng lượng hấp thụ E của vạch phổ; Một

máy tự ghi lực của vạch phổ; Bộ hiện số digital; Bộ máy tính và máy in; Với

các máy hiện đại còn có thêm một microcomputer và hệ thống phần mềm để

điều khiển quá trình đo và xử lý tín hiệu thu được.

8

3.2 Cách thực hiện phép phân tích AAS hoàn chỉnh:

Để tiến hành đo ta tiến hành các bước sau đây:

*Chuẩn bị thiết bị AAS:

ü Xem xét tính trạng của máy, các đường điện, khí axetylen, N2O.

ü Bật máy vào chế độ làm việc.

ü Chọn các điều kiện tối ưu (tỷ lệ khí đốt N2O+ axetylen dòng điện …).

ü Cài đặt các điều kiện phân tích theo hướng dẫn của từng máy.

ü Ổn định máy, ổn định nhiệt độ trong vòng 15 phút.

*Trình tự phân tích:

ü Dựng đường chuẩn.

ü Pha chế dung dịch chất chuẩn chứa các nguyên tố cần xác định từ

chất chuẩn phức tương ứng với nồng độ khác nhau trong dung môi,

dựng đường chuẩn cho từng nguyên tố phân tích trên máy AAS ở

điều kiện tối ưu tham khảo trong các hướng dẫn.

ü Đo phổ AAS của mẫu phân tích pha trong dung môi với tỉ lệ tương

ứng như đối với chất chuẩn.

ü Ghi chép kết quả thể hiện trên máy tính.

ü Sau khi kết thúc các phép đo đưa máy về trạng thái ban đầu, sau đó

khóa các đường khí và tắt máy.

*Tính toán kết quả:

Sau khi đã nhận được các số liệu kết quả trên máy. Nồng độ các nguyên tố

cần xác định được tính toán theo công thức sau:

+Công thức tính cho mẫu lỏng (mg/l):

Me =

Trong đó:

-A: nồng độ kim loại được xác định theo đường chuẩn mg/l.

-B: lượng dung môi pha loãng (ml).

-C: định mức mẫu phân tích (ml).

9

+công thức sau cho mẫu rắn (mg/kg):

Me =

Trong đó:

-V: định mức mẫu (ml).

-W: khối lượng mẫu (g).

-A: nồng độ chất phân tích theo đường chuẩn (mg/l).

+Tính toán nồng độ nguyên tố trong mẫu phân tích bằng phương pháp

lò Grafit theo công thức sau:

Trong đó:

-C: định mức mẫu phân tích (ml).

-B: thể tích dung môi pha loãng (ml).

-Z: nồng độ nguyên tố theo đường chuẩn (mg/L).

10

IV. VÍ DỤ ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH AAS

Áp dụng phương pháp phân tích phổ hấp thụ nguyên tử để xác định hàm

lượng thủy ngân trong thủy sản.

1. Nguyên tắc:

Mẫu thủy sản được vô cơ hóa bằng axit HNO3 đậm đặc trong bình phá

mẫu có nắp vặn kín (bình Kendal). Sau đó ta thu được hợp chất vô cơ có

chứa Hg, ta tiến hành Hydrit hóa hợp chất đó bằng dòng khí Hydro cho ta

Hydrit thủy ngân (HgH2) dễ bay hơi.

Kỹ thuật được sử dụng để phân tích Hg là kỹ thuật CV-AAS (phương

pháp đo phổ hấp thụ nguyên tử bằng kỹ thuật hóa hơi lạnh). Ở nhiệt độ

phòng thì Hg tồn tại ở thể lỏng, ở trạng thái hơi thì Hg tồn tại ở trạng thái

đơn nguyên tử. Cho nên thay vì sử dụng nhiệt độ cao để nguyên tử hóa Hg

từ các hợp chất của Hg, người ta sử dụng các chất khử mạnh để khử trực

tiếp hợp chất Hg2+ về Hg0 dễ bay hơi.

Ví dụ: Khử Hg2+ về Hg0 bằng quá trình Hydrit hóa bằng dòng khí Hydro:

4H + HgCl2 = HgH2 + 2HCl

HgH2 à Hg + H2

2. Phương pháp tiến hành:

(Phương pháp phân tích định lượng được sử dụng là phương pháp đường

chuẩn)

2.1 chuẩn bị mẫu:

* Dung dịch mẫu chuẩn:

– dung dịch gốc: hòa tan 1g thủy ngân trong 1000ml axit H2SO4 nồng độ 1N.

– dung dịch trung gian: pha loãng 1ml dung dịch gốc thành 1000ml bằng

dung dịch axit H2SO4 nồng độ 1N.

– dung dịch chuẩn làm việc: pha loãng dung dịch trung gian thành dung dịch

chuẩn làm việc có hàm lượng thủy ngân lần lượt là 2, 4, 6, 8 ,10 mg/l bằng

dung dịch axit HNO3 nồng độ 1N.

11

* Dung dịch mẫu phân tích:

Cho 1g mẫu khô vào bình Kendal, thêm 5ml axit HNO3 đậm đặc rồi vặn

chặt nắp đậy kín bình lại để yên từ 20-30 phút. Sau đó, đun nóng chậm trên

bếp điện cho đến khi thu được dung dịch trong suốt. Chuyển dung dịch mẫu

vào bình chịu nhiệt và đun nóng trên bếp điện đến cạn khô, hòa tan cặn bằng

1ml nước cất ta thu được dung dịch mẫu để tiến hành phân tích.

2.2 Tiến hành phân tích:

+Ghép nối hoàn chỉnh các thiết bị của hệ đo phổ hấp thụ nguyên tử .

+Tối ưu hóa các điều kiện làm việc trên máy quang phổ hấp thụ nguyên

tử, sử dụng bức xạ kích thích có bước sóng 253,7nm, độ nhạy là 0,1ppm,

chế độ đo là CV-AAS.

+Tiến hành đo phổ hấp thụ của các mẫu chuẩn có hàm lượng thuỷ ngân

lần lượt là 2, 4, 6, 8 ,10 mg/l. Từ đó xác định độ hấp thụ A tương ứng thông

qua các đỉnh hấp thụ trong phổ hấp thụ nguyên tử vừa đo của các mẫu

chuẩn.

12

+Từ đó ta dựng được đường chuẩn A – C. được minh họa như hình 2. dưới

đây:

+Khi đường chuẩn có độ tuyến tính tốt rồi thì ta tiến hành đo để xác định

độ hấp thụ Ax của mẫu cần phân tích thông qua phổ hấp thụ của nó. Phổ hấp

thụ của mẫu cần phân tích được minh họa ở hình 3.

13

Từ kết quả Ax và đường chuẩn ta tìm được nồng độ Cx thủy ngân trong mẫu

cần phân tích.

3. Tính toán kết quả:

Hàm lượng thủy ngân trong mẫu được tính theo công thức sau:

Trong đó:

喸h

喸h

+ CHg là hàm lượng thủy ngân có trong mẫu (mg/g).

+ mHg là hàm lượng thủy ngân có trong dung dịch mẫu tính được theo

đường chuẩn (mg/l).

+ V là thê tích dung dịch để hòa tan mẫu phân tích.

+ M là khối lượng mẫu phân tích.

14

V. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH PHỔ HẤP

THỤ NGUYÊN TỬ

+ Phép đo phổ hấp thụ nguyên tử có độ nhạy và độ chọn lọc cao. Đặc biệt

hiệu quả trong phân tích các nguyên tố vi lượng…

+ Từ nhiều ứng dụng ta nhận thấy phương pháp AAS là một kỹ thuật phân

tích hóa-lý, đang phát triển mạnh mẽ và rộng rãi.

+ Hiện nay phương pháp AAS đã trở thành một phương pháp tiêu chuẩn để

phân tích lượng vết kim loại trong nhiều đối tượng khác nhau như: đất,

nước, không khí, thực phẩm…

+ Hiện nay trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, phương pháp này là một trong

những công cụ đắc lực để xác định hàm lượng các kim loại nặng và những

nguyên tố độc hại trong tự nhiên và trong các sản phẩm khác nhau.

15

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Các phương pháp phân tích theo phổ hấp thụ nguyên tử_Phạm Luận,

Trường đại học tổng hợp Hà nội 1987.

2. Phân tích hợp chất bằng phương pháp đo phổ

http://www.scribd.com/doc/37407162/Phan-Tich-Hop-Chat-Bang-QuangPho-VinaEbookChemistryHere

3. Các phương pháp phân tích Vật lý và Hóa lý, Nhà xuất bản Khoa học

Kĩ thuật.

4.http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A2n_t%C3%ADch_As_b%E1%BA

%B1ng_ph%C6%B0%C6%A1ng_ph%C3%A1p_AAS

16


【#4】Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6 Trong Nhà Trường Thcs

Trong việc giảng dạy phân môn Văn hiện nay, giáo viên đã được tiếp cận với rất nhiều phương pháp dạy học mới, không ít giờ dạy học tác phẩm văn chương đã diễn ra khá bài bản, người thầy đã đi hết một quy trình theo trình tự các mục mà vẫn chưa yên tâm. Nguyên nhân chính là chưa xác định, chưa tìm hiểu kỹ đặc trưng thể loại của tác phẩm. Khi tiếp cận bài học, học sinh phải trở thành những cá nhân tích cực, chủ động, tự giác tham gia vào việc tìm hiểu văn bản khám phá nội dung cũng như giá trị nghệ thuật của các văn bản được học. Vì vậy việc tìm hiểu, nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học là vô cùng quan trọng, nó giúp học sinh có cái nhìn đầy đủ và khái quát hơn về thể loại văn học được học đồng thời kích thích sự tìm tòi, ham học hỏi, kích thích tư duy và bồi đắp tình yêu đối với môn học Ngữ văn nói chung và với các văn bản văn học nói riêng.

Là giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy môn Ngữ văn – Môn học bồi dưỡng vẻ đẹp trí tuệ, tâm hồn, tình cảm,… cho các em, chúng ta phải nhận thức rất rõ ràng vai trò của phương pháp dạy học tích hợp trong chương trình Ngữ văn cấp THCS nói chung và trong chương trình Ngữ văn 6 nói riêng. Nếu chỉ giảng dạy theo phương pháp dạy học đơn thuần là phương pháp thuyết trình hay chỉ sử dụng chủ yếu một phương pháp nào đó trong quá trình tìm hiểu văn bản chắc chắn sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giờ dạy cũng như lượng kiến thức mà học sinh lĩnh hội được trong một giờ học.

Khi dạy về các truyền thuyết dân gian Việt Nam: Con Rồng, cháu Tiên; Bánh chưng, bánh giầy; Thánh Gióng; Sơn Tinh Thủy Tinh; Sự tích Hồ Gươm giáo viên yêu cầu học sinh tích hợp với phần Lịch sử, tự khai thác têm thông tin từ nhiều nguồn để hiểu biết thêm về nhà nước Văn Lang – Nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam; biết được vị trí địa lí của Nhà nước Văn Lang, của triều Hậu Lê ; hiểu rõ lịch sử, vai trò của vua Hùng Vương thứ VI; của Thánh Gióng; của Lê Lợi; của Hồ Gươm… với sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh – quốc phòng của đất nước; quan điểm của Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền đất nước. Qua đó học sinh thấy được vấn đề bảo vệ chủ quyền đất nước đã đặt ra từ thời sơ khai và tiếp nối mãi mãi về sau. Đồng thời nhận thức rõ trách nhiệm của mình trước vấn đề bảo vệ chủ quyền đất nước, bồi dưỡng lòng tự hào và tình yêu đất nước, dân tộc.

Như chúng ta đã biết văn học xuất phát từ đời sống, bắt nguồn từ đời sống vốn muôn hình muôn vẻ. Chính vì thế văn học rất gần gũi. Những văn bản truyện hay, hấp dẫn đã giúp cho giờ học Ngữ văn không chỉ là giờ học đơn thuần mà còn là những giờ giải trí, khám phá biết bao điều kỳ diệu của cuộc sống con người. Để có được giờ văn như thế, đòi hỏi người thầy phải luôn chủ động, sáng tạo và linh hoạt khi lên lớp. Ví dụ, khi dạy về truyền thuyết và một đoạn trong Sự tích Hồ Gươm, giáo viên cho học sinh quan sát hình ảnh Lê Lợi Bài thơ Hắc Hải – Nguyễn Đình Thi


【#5】Bài Giảng Phương Pháp Phân Tích Hiện Đại

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

– Bộ môn CNKT Hóa học-

Bài giảng

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HIỆN ĐẠI

Biên soạn: chúng tôi HOÀNG THỊ HUỆ AN

– Nha Trang, 2021-

PHÂN LOẠI PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH

PP HÓA HỌC

PP HÓA LÝ

(PP PT cổ điển)

(PP PT công cụ/ PP PT hiện đại)

PT THỂ TÍCH

PT KHỐI LƯỢNG

(PP CHUẨN ĐỘ) :

PT QUANG :

PT ĐIỆN HÓA :

PT SẮC KÝ :

* Phức chất

* Phân tử

* Đo thế

* Sắc ký

* Kết tủa

* Nguyên tử

* Đo độ dẫn điện

* Điện di

* Oxy hóa-khử

* Hấp thụ

* Đo điện lượng

* Phát xạ

* Điện khối lượng

* Acid – baz

* Cực phổ/Volt-Amper

1

ĐẠI CƯƠNG VỀ

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CÔNG CỤ

 Ưu, nhược điểm

 Ưu: – Chính xác  độ tin cậy cao

– Độ nhạy cao  lượng mẫu phân tích nhỏ  phân tích cấu tử vi

lượng và vết

– Độ chọn lọc cao  Phân tích được các mẫu có thành phần phức

tạp

– Nhanh (tự động hóa)  phân tích hàng loạt mẫu

 Nhược :

– Thiết bị đắt tiền

– Người phân tích cần có trình độ chuyên môn cao

 Khả năng ứng dụng:

Ứng dụng rộng rãi trong phân tích cấu tử vi lượng hay cấu tử vết (phân

tích thực phẩm, dược phẩm, môi trường, xét nghiệm y khoa, nghiên cứu

khoa học,…)

2

ĐẠI CƯƠNG VỀ

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CÔNG CỤ

 Phân loại các phương pháp phân tích công cụ :

 Phương pháp phân tích quang học: dựa trên sự tương tác giữa bức

xạ điện từ và vật chất (nguyên tử, phân tử).

Hai dạng tương tác chính : hấp thụ và phát xạ

 PP quang phổ hấp thụ (nguyên tử/phân tử)

 PP quang phổ phát xạ (nguyên tử/phân tử)

– h

E0 =

h

Sự hấp thụ :

E = E* – E0 = h

3

Phần 1

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH QUANG HỌC

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

(PP trắc quang – so màu)

 Nguyên tắc: dựa trên hiện tượng hấp thụ bức xạ UVVis của các phân tử

4

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

 Sự hấp thụ bức xạ UV-Vis của các phân tử

h = E = E* – E0

σ  σ*: < 190 nm (UV xa)

π  π* ~ 200 nm

n  σ*; n  π*: ~ 300 nm (UV gần)

Các kiểu chuyển dời electron cơ bản

trong phân tử hợp chất hữu cơ

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

 Quan hệ giữa sự hấp thụ bức xạ UV-Vis và màu sắc dung dịch

Màu sắc

dãi bức xạ Vis

Bước sóng

(nm)

Ánh

Tím

380 – 435

sáng

Xanh lơ

435 – 500

trắng

Lục lam

500 – 520

Lục

520 – 565

Vàng

565 – 590

Cam

590 – 625

Đỏ

625 – 740

5

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

 Cơ sở lý thuyết của phương pháp đo quang UV-Vis

l

a) Định luật Lambert – Beer :

I0 (λ)

Il = I0.10-

Il

.l.C

Các đại lượng hay sử dụng :

* Độ truyền qua:

T 

Dung dịch hấp thụ

(nồng độ C)

T% 

* Độ hấp thụ:

A   .l.C

* Quan hệ giữa A và T :

A = – lgT ;

T = 10-A

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

C = 1 đơn vị nồng độ ; l = 1 đơn vị chiều dài  A ≡ 

  : hệ số hấp thụ

[]

Tên gọi

mol/l

cm

l.mol-1.cm- 1

Hệ số hấp thụ mol

g/l

cm

l.g-1.cm-1

Hệ số hấp thụ riêng

Các yếu tố ảnh hưởng đến  :

– Bản chất phân tử chất hấp thụ (cấu trúc electron phân tử)

– Bước sóng của bức xạ bị hấp thụ (λ) : sự hấp thụ ánh sáng mang tính chọn

lọc.

 = f (λ) : phổ hấp thụ ánh sáng của phân tử chất hấp thụ

– Bản chất dung môi

– Nhiệt độ

6

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

 Các tính chất quan trọng của độ hấp thụ :

* Quan hệ A – C tuyến tính

A   .l.C

Với 1 dd chất hấp thụ và đo ở bước

sóng λ cố định ( = const) :

l = const  A ~ C

Đo độ hấp thụ của dung dịch (A)

nồng độ chất hấp thụ (C)

Quan hệ tuyến tính A – C là cơ sở lý thuyết của phương pháp

quang phổ hấp thụ phân tử UV-Vis

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

 Các tính chất quan trọng của độ hấp thụ:

* A = f (λ): Phổ hấp thụ UV-Vis đặc trưng cho cấu trúc phân tử

chất hấp thụ  định tính (nhận biết / phân biệt các chất)

Lưu ý :

Nên đo độ hấp thụ của dung dịch

ở λ = λmax

Mục đích :

– Phép phân tích có độ nhạy cao:

Amax

– Sai số tương đối của phép đo A

nhỏ nhất :

Phổ hấp thụ UV-Vis:  = f (λ)

7

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

 Các tính chất quan trọng của độ hấp thụ:

* Độ hấp thụ có tính cộng tính :

A1 2… n  A1  A2  …  An

Hệ quả :

DD = chất phân tích + dung môi + các chất còn lại

= chất phân tích + DD nền

ADD = Achất phân tích + ADD nền

 Trước khi đo độ hấp thụ của một dung dịch (ADD) thường

dùng dd nền để hiệu chỉnh máy sao cho ADD nền = 0.

Khi đó: ADD ≡ Achất phân tích

 ADD  Cchất phần ti`ch

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

 Các lưu ý khi áp dụng phương pháp trắc quang – so màu:

– Dùng bức xạ đơn sắc (đo ở λ ≈ λmax)

– Dung dịch đo phải đồng nhất (trong suốt)

– Cuvet phải sạch (tráng rửa, lau chùi bằng MeOH)

– Chỉ định lượng trong khoảng tuyến tính A – C

– Chọn bề dày cuvet và nồng độ dd sao cho : A = 0,2 ÷ 0,8

– Điều kiện tạo phức màu (CR, pH), điều kiện đo (t0C, thời gian đo,

chất liệu và bề dày cuvet), thành phần nền (ion cản, ion trơ,…) của

mẫu phân tích và mẫu chuẩn phải như nhau

8

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

 Thiết bị đo quang UV -Vis

Phân loại thiết bị đo quang :

1/ Theo bản chất của bộ đơn sắc :

 Photometer (quang kế) : dùng kính lọc màu  bức

xạ kém đơn sắc

 Spectrophotometer (quang phổ kế) : dùng lăng

kính hay cách tử nhiễu xạ  bức xạ có độ đơn sắc

cao (là loại máy thông dụng nhất hiện nay)

2/ Theo nguyên lý hoạt động (hay cấu tạo thiết bị)

 Máy 1 chùm sáng (single beam)

 Máy 2 chùm sáng (dual beam)

Sơ đồ máy đo quang 1 chùm sáng

Sơ đồ máy đo quang 2 chùm sáng

9

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

Sơ đồ cấu tạo máy đo quang 1 chùm sáng

Visible Photometer

GENESYS 20 (Thermo, USA)

Spectrophotometer

DR 4000 (Hache, Đức)

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

Evolution 160

(Thermo, USA)

Cary 50

(Varian, USA)

10

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

 Các bộ phận cơ bản trong máy đo 1 chùm sáng:

– Nguồn bức xạ:

 Đèn W (380 – 1000 nm = Vis + IR gần)

 Đèn D (180 – 375 nm = UV gần)

 Đèn Xe (260 – 600 nm : UV gần + Vis)

 Đèn Xe hiện đại: 190 – 1100 nm

– Bộ đơn sắc: kính lọc màu / lăng kính / cách tử nhiễu xạ

– Cuvet: thủy tinh (G) hay polymer : đo vùng Vis

thạch anh (Q)

: đo vùng UV

– Tế bào quang điện

– Bộ khuếch đại tín hiệu

– Bộ ghi nhận tín hiệu

Đèn W

Đèn D

Các loại cuvet

11

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

CACH TỬ NHIỄU XẠ

TẾ BÀO QUANG ĐIỆN

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

 Cách đo độ hấp thụ trên máy đo quang 1 chùm sáng :

 Mở máy

 Chọn đèn đo

 Chọn bước sóng

 Đợi 15 – 30 phút (tùy loại máy) cường độ ổn định

 Đưa cuvet chứa dung dịch nền vào ngăn chứa cuvet

điều chỉnh máy A = 0

 Đưa cuvet chứa dung dịch mẫu vào đo :

  Ađọc = A chất HT

12

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

 Các cách định lượng: dựa trên đl Lambert-Beer

a) Phương pháp trực tiếp:

Nguyên tắc: Tính trực tiếp từ công thức :

C

x

( : tra cứu tài liệu ; l : bề dày cuvet)

Ưu điểm: đơn giản

Nhược điểm: có thể không đúng (do  không phù

hợp với điều kiện đo)

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

b) Phương pháp so sánh:

 Nguyên tắc:

Dung dịch chuẩn (C0)  A0 ;

Dung dịch phân tích (Cx)  Ax

Tạo phức màu, đo quang các dung dịch trên (cùng điều kiện)

A

C x  x  C0

A0

(C0, Cx : nồng độ X trong các dd đo quang)

 Ưu điểm: đơn giản

 Nhược điểm: có thể không đúng do

– Có sự sai lệch so với định luật Lambert – Beer  nên pha dung dịch

chuẩn có C0 ≈ Cx

– Có sự khác biệt nhiều về thành phần nền của mẫu chuẩn và mẫu

phân tích

13

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

c) Phương pháp đường chuẩn:

Dung dịch phân tích : CX

Pha dãy chuẩn (5 – 8 mẫu chuẩn) :

C1, C2 , …, Cn

(dãy chuẩn phải nằm trong vùng

tuyến tính A – C)

Tạo phức màu và đo độ hấp thụ trong

cùng điều kiện :

(A1, A2, …, An) và Ax

Dựng đường chuẩn (pp bình phương

tối thiểu): A = a.C + b

C

x

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

Vx ml (Cx)

– Lấy Vx ml dd phân tích vào 2 bình định

mức

-Thêm Vs ml dung dịch chuẩn (nồng độ

C0)

– Tạo màu, định mức lên Vt ml. Đo A.

VS ml (C0)

C x 

C

x ( dd đo quang )

C x ( dd

phântích

)

14

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

d) Phương pháp thêm:

 Phương pháp thêm chuẩn:

Dung dịch mẫu (chứa cấu tử phân tích X) : CX

Dung dịch chuẩn thêm được pha chế bằng cách thêm một lượng

chính xác cấu tử X (∆Cx) vào dung dịch phân tích :

C0 = Cx + ∆Cx

Tạo phức màu, đo độ hấp thụ 2 dung dịch trong cùng điều kiện

 AX ; A0

Ax = lCx

Cx 

A0 = lC0 = l (Cx + Cx)

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

 Phương pháp đường chuẩn thêm

Dung dịch phân tích (nồng độ CX)

Pha n mẫu chuẩn thêm (n = 5 – 8) :

A = a. ∆C + b

A

Ci = Cx + ∆Ci

Tạo phức màu, đo A (cùng điều kiện) :

A1, A2, …, An

Dựng đường chuẩn thêm : A = a. ∆C + b

Cx = b/a

Ưu điểm của phương pháp thêm :

Loại trừ sự khác biệt về thành phần nền

của dung dịch mẫu và dung dịch chuẩn 

0

∆C

chính xác hơn pp so sánh và pp đường

chuẩn

15

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

Vx ml (CX)

c) Phương pháp thêm chuẩn

Nồng độ thêm vào bình thứ i

Mẫu

Ci 

Dãy chuẩn

Tạo màu, định mức (Vt ml). Đo A

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

e) Phân tích hỗn hợp nhiều cấu tử:

Hỗn hợp chứa 2 cấu tử :

M (λmax = λ1) ; N (λmax = λ2)

Đo A lần lượt ở λ1 và λ2 :

A 1   ( M1 ) .C ( M )   ( N1 ) .C ( N )

A 2   ( M2 ) .C ( M )   ( N2 ) .C ( N )

Các hệ số

 ( M1 ) ,  ( N1 ) ,  ( M2 ) ,  ( N2 )

được xác định nhờ các dung dịch

Phổ hấp thụ của

dung dịch hỗn hợp 2 cấu tử

chuẩn của M và N (II).

Giải hệ phương trình trên  CM ; CN

16

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

f) Chuẩn độ trắc quang:

Phản ứng chuẩn độ :

A+TP

A = A.l.CA + T.l.CT + P.l.CP

 ĐTĐ ứng với điểm gãy của

đường chuẩn độ

Thể tích dung dịch chuẩn (VT)

Các đường chuẩn độ trắc quang

điển hình

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

Ví dụ về quá trình xác định hàm lượng Cu trong quặng

bằng phương pháp trắc quang với thuốc thử Néocuproine

17

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

 Ứng dụng và giới hạn định lượng của phương pháp trắc

quang -so màu :

 Ứng dụng: rộng rãi trong phân tích

– Cho phép định lượng hầu hết ion vô cơ và một số hợp

chất hữu cơ với sai số khoảng 1- 5%

– Độ nhạy: khá cao (cỡ ppm)

– Chọn lọc (chọn thuốc thử tạo phức, hay chọn bước sóng

thích hợp để đo độ hấp thụ)

– Thao tác đơn giản, nhanh chóng; thiết bị tương đối rẻ tiền

 Khả năng ứng dụng: phân tích cấu tử vi lượng

-Cấu tử đa lượng : pha loãng mẫu;

– Cấu tử vết : làm giàu mẫu

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

Bài tập 1.

Để xác định hàm lượng Fe trong một mẫu nước thải công nghiệp,

người ta lấy 10 ml nước thải, đem khử hoàn toàn Fe3+ trong mẫu

về dạng Fe2+, sau đó tạo phức với o-phenanthroline rồi định mức

lên 50 ml. Độ hấp thụ của dung dịch đo ở 510 nm (với cuvet 1 cm)

là 0,269.

Tính hàm lượng Fe trong mẫu nước thải theo ppm, biết rằng kết

quả dựng đường chuẩn Fe2+ bằng phương pháp này như sau:

CFe (ppm)

0,00

1,00

2,00

3,00

4,00

A

0,000

0,180

0,359

0,549

0,725

18

Giải :

Đường chuẩn Fe

Bảng số liệu

0.800

 Phương trình đường chuẩn :

0.600

A

A = 0,1819C – 0,0012

Nồng độ Fe trong dd đo quang :

C Fe(dd đo)

y = 0.1819x – 0.0012

R2 = 0.9999

2.00

4.00

≈ 1,49 ppm

Hàm lượng Fe trong mẫu nước thải phân tích :

C Fe ( ddpt )

PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ UV-Vis

Bài tập 2

Lấy 5,00 ml một mẫu nước biển cho tạo phức với

Dithizone. Phức Pb(II)-Dithizonat tạo thành được chiết sang

dung môi CCl4 và định mức lên 25,00 ml cho giá trị độ hấp

thụ (đo ở 520 nm ; cuvet 1 cm) là 0,193.

Mặt khác, nếu thêm 1,00 ml dung dịch chuẩn Pb2+ có

nồng độ 1560 ppb vào 5,00 ml mẫu nước biển phân tích,

sau đó cũng tạo phức màu, chiết và định mức lên 25,00 ml

như trên thì độ hấp thụ của dung dịch thu được là 0,419.

Tính ppb Pb2+ trong mẫu nước biển đã cho.

19

Giải :

Đây là pp thêm  Dùng công thức :

Cx 

Nồng độ thêm :

C x 

Nồng độ Pb2+ trong mẫu đo :

Cx 

Nồng độ Pb2+ trong mẫu nước biển :

C ( pt ) 

PHƯƠNG PHÁP

QUANG PHỔ HẤP THỤ NGUYÊN TỬ

(AAS: Atomic Absorption Spectrophotometry)

20


【#6】5 Phương Pháp Quản Lý Dự Án Bạn Nên Sử Dụng

Triển khai dự án cho khách hàng là công việc hàng ngày của tôi. Vì vậy, tôi luôn phải động não, hợp tác và giải quyết các vấn đề trong nhiều bối cảnh và kích cỡ khác nhau.

Bạn có thể đang gặp khó khăn với tiến độ và kết quả của dự án?

Nhưng hãy nhớ,

Chúng ta không đơn độc.

Hàng trăm năm qua, rất nhiều người đã tìm cách để làm chủ nghệ thuật lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát các dự án. Trong bài viết này, tôi chia sẻ với bạn 5 phương pháp phổ biến nhất, bao gồm:

  1. Agile – Dự án Nhanh nhẹn
  2. Mô hình Thác nước
  3. Lean – Dự án Tinh gọn
  4. Scrum
  5. Kanban

1. Agile – Dự án Nhanh nhẹn

Nhấn mạnh vào điểm kết thúc

Phương pháp này tập trung vào trạng thái kết thúc hoặc mục tiêu cuối cùng của dự án. Với cách tiếp cận này, Agile quản lý nhiều hơn vào cách suy nghĩ và sáng kiến.

Có 3 yếu tố chính trong phương pháp quản lý dự án Agile:

  1. Hợp tác với khách hàng trong việc xác định yêu cầu của dự án.
  2. Có quy trình và công cụ trong việc tương tác giữa các thành viên.
  3. Sẵn sàng thay đổi kế hoạch khi thực hiện.

Như bạn có thể thấy, điểm nhấn mạnh ở đây là Tương tác và Sự linh hoạt. Agile ném tất cả các kế hoạch cứng nhắc và suy nghĩ truyền thống ra khỏi cửa.

Với Agile, dự án được hoàn thành bằng phương pháp thử nghiệm liên tục các sáng kiến, đánh giá hiệu quả của sáng kiến, và sau đó thích ứng nhanh với sáng kiến mới.

Hãy nghĩ về Agile như một dòng chảy liên tục của các sáng kiến.

Ưu điểm của Agile

    Agile hiểu rằng không có sự chắc chắn 100% trong kinh doanh, chính là hằng số duy nhất, và đòi hỏi các thành viên phải cởi mở để sẵn sàng thay đổi liên tục.

Nhược điểm của Agile

  • Đối với những người thích làm việc theo cấu trúc và kiểm soát chặt, phương pháp Agile có thể khó hiểu và khó chịu.
  • Agile nhanh nhẹn và thay đổi liên tục, gây ra cảm giác mất kiểm soát nếu không được cập nhật thông tin. Vấn đề này phải được bù đắp bằng việc trao đổi thông tin và cộng tác liên tục giữa các thành viên. Đôi khi, việc cập nhật quá thường xuyên gây khó chịu với khách hàng hoặc với các nhóm làm việc từ xa.

2. Mô hình thác nước

Lập kế hoạch từng bước cho kết quả chắc chắn

Mô hình thác nước là dễ hiểu nhất vì nó tiếp cận theo hệ thống chặt chẽ đi từ trên xuống dưới.

Các nhà quản lý dự án cố gắng loại bỏ bất kỳ sự không chắc chắn nào, bằng cách phác thảo tất cả các nhiệm vụ trong dự án (từ bước đầu tiên đến bước cuối cùng) và đóng đinh các chi tiết về phạm vi, ngân sách và lịch trình rất chặt chẽ.

Mô hình thác nước xuất phát từ các ngành công nghiệp sản xuất và xây dựng. Đơn giản là bạn liệt kê ra tất cả các nhiệm vụ cần thiết để đạt được mục tiêu cuối cùng của dự án.

Quá trình này rất đơn giản:

  • Thực hiện các nhiệm vụ khác theo đúng thứ tự.
  • Mỗi nhiệm vụ phải được hoàn thành trước khi chuyển sang nhiệm vụ tiếp theo.

Ý tưởng ở đây là:

Bằng cách đầu tư thời gian cho việc lập kế hoạch, đảm bảo các nhiệm vụ phù hợp được đưa ra ngay từ đầu, sẽ giúp giảm thiểu các vấn đề và rủi ro phát sinh sau này.

  • Mô hình thác nước rất tuyệt vời nếu bạn có thể đưa ra một kế hoạch chắc chắn ngay từ đầu.
  • Danh sách nhiệm vụ rất rõ ràng và kết quả có thể dự đoán được.
  • Mô hình này cho phép bạn đạt được hiệu suất cao khi phương pháp thực hiện mục tiêu đã được kiểm chứng thành công.
  • Độ cứng của mô hình thác nước có thể là một vấn đề đối với một số phong cách làm việc. Bởi vì bạn không có cửa cho việc đi lệch khỏi bản kế hoạch đã lập ra.
  • Đối với nhiều nhóm dự án, đây là một vấn đề rất lớn khi họ phải đối mặt với những vấn đề xuất hiện bất ngờ, không có trong kế hoạch.

3. Lean – Dự án Tinh gọn

Nhiều kết quả hơn, với ít nỗ lực hơn

Quản lý dự án tinh gọn là về việc tạo ra nhiều kết quả hơn với ít người, tiền và thời gian hơn.

Tương tự như Agile, Lean quan tâm nhiều hơn đến cách suy nghĩ và sáng kiến.

Triết lý tinh gọn này xuất phát từ Hệ thống sản xuất của Toyota (TPS), tập trung vào việc loại bỏ các lãng phí để tăng giá trị.

Theo lean, có 3 loại lãng phí cần loại bỏ, bao gồm:

  • Muda : là những hoạt động không tạo ra giá trị.
  • Mura : là những yếu tố gây mất cân bằng. Ví dụ: đang sản xuất thì hết nguyên liệu, đang triển khai theo kế hoạch thì sếp thay đổi kế hoạch.
  • Muri : là các yếu tố gây quá tải tạo ra sự căng thẳng và kiệt sức.

Ưu điểm của Lean

Nhược điểm của Lean

    Với nguồn gốc xuất phát từ sản xuất, phương pháp này khó áp dụng cho các đội nhóm hiện đại ngày nay.

Các đội chức năng chạy nước rút để về đích

Scrum có lẽ là một trong những khung hiệu quả nhất được sử dụng trong thế giới SaaS – Software as a Service (dịch vụ phần mềm).

Với Scrum, mục tiêu cuối cùng đạt được thông qua – các khúc thời gian – có độ dài cố định, được gọi là chạy nước rút.

Các nhịp chạy nước rút này bao gồm các giai đoạn khác nhau, như:

  • Lập kế hoạch,
  • Báo cáo hàng ngày hoặc cuộc họp,
  • Bản demo, và
  • Đánh giá phản hồi.

Với Scrum, trọng tâm của bạn là những gì có thể đạt được trong một khoảng thời gian được xác định trước (ví dụ: 2 tuần).

Sau khi bạn xác định những gì mỗi thành viên có thể đạt được, trong một khoảng thời gian; thì việc còn lại, chỉ là cắm đầu chạy nước rút, thực hiện công việc cho đến khi hoàn thành.

Ưu điểm của Scrum

Nhược điểm của Scrum

    Có thể khó bổ sung thêm các nhiệm vụ bất ngờ mới vào một lần chạy nước rút, sau khi nó được lên kế hoạch, có nghĩa là khó có thể đáp ứng thêm các yêu cầu đặc biệt.

Minh bạch danh sách việc cần làm

Hãy nghĩ về bảng Kanban như một công cụ trực quan, nơi bạn có thể thấy nhìn thấy, bằng mắt, vị trí của từng tác vụ trong quy trình công việc.

Bảng được chia thành nhiều cột cho từng giai đoạn trong quy trình. Các cột này có thể được tùy chỉnh theo ý thích của bạn, tùy thuộc vào dự án bạn đang làm việc. Ví dụ:

Mỗi nhiệm vụ của bạn sau đó được hiển thị trên bảng Kanban, bằng cách sử dụng thẻ hoặc giấy note. Bạn có thể di chuyển các thẻ từ cột này sang cột khác.

Kanban rất dễ hiểu và thích nghi tốt với sự thay đổi, chuyển đổi các ưu tiên cũng đơn giản như việc di chuyển thẻ trên bảng kanban.

Ưu điểm lớn nhất là bạn có thể kiểm tra tiến độ chỉ bằng 1 cái liếc nhìn trực quan.

Nhược điểm của Kanban

Kanban thường tập trung vào các tác vụ hàng ngày, nó thúc đẩy việc thực thi nhiệm vụ, nhưng có thể gây rủi ro cho bức tranh lớn hơn là chiến lược và những kết quả quan trọng nhất. Cụ thể: Các nhiệm vụ nhỏ được hoàn thành, nhưng kết quả cuối cùng, chưa chắc đã đạt được.

Cuối cùng,

Mỗi phương pháp quản lý dự án đều có ưu nhược điểm riêng, điều quan trọng là, sự lựa chọn phù hợp với tình huống của bạn.


【#7】Luận Văn: Phương Pháp Điều Tra Trong Kiểm Toán Báo Cáo Tài Chính

Published on

Download luận văn tóm tắt với đề tài: Hoàn thiện việc áp dụng phương pháp điều tra trong kiểm toán báo cáo tài chính do các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam thực hiện, cho các bạn tham khảo

  1. 1. i LỜI MỞ ĐẦU Thực chất của hoạt động kiểm toán BCTC là quá trình thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán về các BCTC của một tổ chức kinh tế cụ thể nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp của các báo cáo này với các chuẩn mực đã được thiết lập. Như vậy, bằng chứng kiểm toán có một vai trò quan trọng, là cơ sở để hình thành kết luận kiểm toán. Sự thành công của một cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào việc thu thập bằng chứng kiểm toán và sau đó là việc đánh giá bằng chứng kiểm toán của kiểm toán viên. Một trong những phương pháp kiểm toán quan trọng tạo ra bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán BCTC là phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ. Phương pháp điều tra là một phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ, được sử dụng rất rộng rãi trong kiểm toán. Thực tế, mỗi công ty kiểm toán áp dụng phương pháp này rất khác nhau và cũng có những công ty kiểm toán gặp phải những khó khăn nhất định trong việc áp dụng phương pháp điều tra đặc biệt là trong việc phát hiện các gian lận. Với lý do trên, Tác giả đã chọn Đề tài: “Hoàn thiện việc áp dụng phương pháp điều tra trong kiểm toán báo cáo tài chính do các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam thực hiện” cho Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của mình. Để thực hiện Đề tài nghiên cứu, ngoài Lời mở đầu và Kết luận, Luận văn tập trung vào 3 nội dung cơ bản chia thành 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phương pháp điều tra trong kiểm toán báo cáo tài chính; Chương 2: Thực trạng về việc áp dụng phương pháp điều tra trong kiểm toán báo cáo tài chính do các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam thực hiện; Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện việc áp dụng phương pháp điều tra trong kiểm toán báo cáo tài chính do các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam thực hiện.
  2. 2. ii CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA TRONG KIỂM TOÁN BCTC 1.1. Lý luận về phương pháp điều tra trong kiểm toán BCTC 1.1.1. Khái niệm về phương pháp điều tra Trong lĩnh vực kiểm toán, theo chúng tôi Nguyễn Quang Quynh “điều tra là phương pháp xác định lại một tài liệu hoặc một thực trạng để đi đến những quyết định hay kết luận trong kiểm toán”. Theo Cẩm Nang KTV Nhà nước: “phương pháp điều tra là phương pháp kiểm toán mà theo đó bằng những cách thức khác nhau, KTV tiếp cận đối tượng kiểm toán nhằm tìm hiểu, thu nhận những thông tin cần thiết về tình huống, thực chất, thực trạng của một sự vụ, bổ sung căn cứ cho việc đưa ra những đánh giá, nhận xét hay kết luận kiểm toán”. Theo CMKT Việt Nam số 500 – “Bằng chứng kiểm toán”: “điều tra là việc tìm kiếm thông tin từ những người có hiểu biết ở bên trong hay bên ngoài đơn vị”. Như vậy, trong kiểm toán, điều tra có thể được hiểu rộng theo nghĩa là phương pháp mà chủ thể kiểm toán sử dụng để xác định lại một tài liệu hoặc một thực trạng để thu nhận những thông tin cần thiết cho việc đưa ra những quyết định hay kết luận trong kiểm toán. 1.1.2. Các kỹ thuật được sử dụng trong phương pháp điều tra * Trong lĩnh vực kiểm toán, theo sách Lý thuyết kiểm toán của chúng tôi Nguyễn Quang Quynh, các phương pháp kỹ thuật để điều tra trong kiểm toán bao gồm: Một là, phương pháp kỹ thuật quan sát Theo giáo trình Kiểm toán tài chính – chúng tôi Nguyễn Quang Quynh, quan sát là phương pháp được sử dụng để đánh giá một thực trạng hay hoạt động của đơn vị được kiểm toán. Hai là, phương pháp kỹ thuật phỏng vấn
  3. 9. ix Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát Thu thập thông tin ban đầu Hiểu biết về khách hàng và môi trường làm việc bao gồm việc tìm hiểu: – Các nhân tố bên ngoài tác động đến khách hàng. – Các nhân tố bên trong. – Việc lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán. – Quá trình lập và soát xét BCTC của ban quản lý. – HTKSNB Thực hiện thủ tục phân tích sơ bộ Qua tìm hiểu, khảo sát tại các công ty kiểm toán thuộc nhóm A cho thấy, các thủ tục phân tích sơ bộ được thực hiện tương đối tốt. Đối với các công ty thuộc nhóm B: một số công ty cũng thực hiên thủ tục phân tích sơ bộ rất tốt. Một số công ty khác còn lại trong nhiều cuộc kiểm toán không thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán mà chỉ thực hiện chúng trong giai đoạn thực hiện kiểm toán làm cho việc thiết kế chương trình kiểm toán còn nhiều hạn chế. Ngoài ra, một số công ty kiểm toán có quy mô nhỏ không thực hiện phân tích trong cả ba giai đoạn của quá trình kiểm toán, bởi vậy chất lượng cuộc kiểm toán có thể bị ảnh hưởng rất lớn. Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro Qua khảo sát thực tế, chỉ có một số công ty kiểm toán Việt Nam đã xây dựng được quy trình đánh giá tính trọng yếu và rủi ro với những cách thức khác nhau, còn lại, phần lớn công ty kiểm toán thuộc nhóm B chưa chú trọng vấn đề này. Tìm hiểu sơ bộ về hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát Thiết kế chương trình kiểm toán Khi tiến hành khảo sát việc thiết kế chương trình kiểm toán đối với các phần hành hay khoản mục, Tác giả nhận thấy hầu hết các doanh nghiệp đều đã xây dựng chương trình kiểm toán đầy đủ, chi tiết. Tuy nhiên, do mức độ tuân
  4. 10. x thủ chương trình kiểm toán đã được xây dựng và trình độ KTV là khác nhau dẫn đến chất lượng cuộc kiểm toán là khác nhau. 2.2.2. Thực hiện kế hoạch kiểm toán * Thực hành thử nghiệm kiểm soát Qua khảo sát chương trình kiểm toán, hầu hết các công ty kiểm toán đều thiết lập chương trình kiểm toán để thực hiện đánh giá lại HTKSNB đối với các khoản mục trong giai đoạn thực hành kiểm toán. Tuy nhiên, với sự khác biệt khá lớn về cách thức thực hiện thử nghiệm kiểm soát giữa các công ty sẽ làm ảnh hưởng lớn đến nhận thức của KTV về HTKSNB. Xuất phát từ lí do này, tùy thuộc vào sự đánh giá chặt chẽ cũng như sự tin tưởng của KTV vào hệ thống này mà nội dung và khối lượng các thử nghiệm cơ bản cũng được thực hiện rất khác nhau giữa các công ty kiểm toán. * Thực hành thử nghiệm cơ bản Thứ nhất, về thực trạng thực hiện thủ tục phân tích Trong giai đoạn thực hành, thủ tục phân tích không phải đem lại bằng chứng trực tiếp mà giúp KTV suy đoán khả năng sai phạm ảnh hưởng đến việc trình bày các khoản mục. Mặc dù thủ tục phân tích đóng vai trò quan trong trong cả ba giai đoạn của cuộc kiểm toán nhưng tùy thuôc vào từng doanh nghiệp kiểm toán khác nhau mà thủ tục này được coi trọng ở mức độ khác nhau. Thứ hai, về thực trạng thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết Mặc dù quy trình chung của quá trình kiểm tra chi tiết không có gì khác nhau, xong cách thức thực hiện ở mỗi nhóm công ty lại có những điểm khác biệt cơ bản. 2.2.3. Kết thúc kiểm toán Theo VSA 560 “Các sự kiện phát sinh sau ngày khóa sổ kế toán lập BCTC”, sau khi kết thúc niên độ kế toán, KTV có trách nhiệm thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để xác định tất cả các sự kiện phát sinh đến ngày kí BCKT xét thấy có ảnh hưởng đến BCTC. Thực tế, nhiều công ty
  5. 11. xi kiểm toán thực hiện tốt công việc này như: Deloitte, AISC, E&Y, AASC, ACA Group,… Bên cạnh hiện tượng tích cực nêu trên, nhiều công ty kiểm toán không coi trọng thủ tục xem xét các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ kế toán, mặc dù chương trình kiểm toán có thiết lập và hướng dẫn đầy đủ. Thậm chí, một số công ty kiểm toán còn không thực hiện thủ tục này như: VAE, IFC,… làm tổn hại tới lợi ích của những người quan tâm, ảnh hưởng đến kết quả cuộc kiểm toán. 2.2.4. Khảo sát về việc áp dụng phương pháp điều tra để phát hiện gian lận trong kiểm toán báo cáo tài chính Khi khảo sát thực tế về việc áp dụng phương pháp điều tra để hình thành các thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận trong kiểm toán BCTC, Tác giả nhận thấy, trong chương trình kiểm toán của các công ty kiểm toán phần lớn chỉ đưa ra những hướng dẫn để phát hiện sai sót. Các thủ tục phát hiện gian lận chưa được đề cập đến. Khi phỏng vấn các KTV, thì hầu hết các KTV đều cho rằng gian lận vẫn là một thách thức lớn đối với họ và các KTV rất cần những khóa học chuyên sâu hơn nữa tập trung vào nghiên cứu gian lận. Trên thực tế, đối với các cuộc kiểm toán BCTC tại Việt Nam hiện nay, các công ty kiểm toán chưa tập trung vào các thử nghiệm nhằm phát hiện gian lận. Các thủ tục thường áp dụng trong cuộc kiểm toán không nằm ngoài mục tiêu chính là xác định lại nguồn gốc, tính chính xác về ghi chép của các số liệu được trình bày trên BCTC. Bên cạnh các hạn chế từ các hướng dẫn trong chương trình kiểm toán do các công ty soạn thảo, còn phải kể đến hạn chế về thời gian kiểm toán, về trình độ nhân viên và hiệu quả cuộc kiểm toán. Tất cả các hạn chế này đã làm các KTV không tập trung vào thực hiện các thử nghiệm phát hiện gian lận trên BCTC. 2.3. Đánh giá chung thực trạng về việc áp dụng phương pháp điều tra trong kiểm toán báo cáo tài chính do các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam thực hiện 2.3.1. Những kết quả đạt được của các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam
  6. 12. xii Thứ nhất, vận dụng các Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam và Chuẩn mực kiểm toán quốc tế được chấp nhận tại Việt Nam vào cuộc kiểm toán BCTC. Thứ hai, mặc dù hoạt động kiểm toán tạo ra áp lực rất lớn đối với các KTV, hàng năm có những công ty kiểm toán có thể mất đi hàng chục KTV chuyên môn giỏi, kinh nghiệm lâu năm nhưng các công ty kiểm toán vẫn đảm bảo công tác tuyển chọn, bồi dưỡng cũng như cập nhật kiến thức cho các KTV. 2.3.2. Những hạn chế và tồn tại của các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam Thứ nhất: Hạn chế về nhận thức của KTV – chưa chú trọng thu thập bằng chứng kiểm toán qua phương pháp điều tra Nếu như việc vận dụng phương pháp điều tra trong cuộc kiểm toán được thực hiện một cách hữu hiệu sẽ giúp KTV giảm chi phí kiểm toán xuống mức thích hợp nhưng vẫn đảm bảo chất lượng kiểm toán. Bên cạnh đó, việc thực hiện điều tra triệt để đối với các gian lận nhằm phát hiện và báo cáo kịp thời sẽ hạn chế được rủi ro mà KTV và công ty kiểm toán phải đối mặt, đáp ứng kỳ vọng của những đối tượng quan tâm tới kết luận kiểm toán. Thứ hai: Hạn chế về vận dụng thủ tục phân tích Thủ tục phân tích được áp dụng chưa thực sự hiệu quả tại các công ty kiểm toán. Việc phân tích vẫn dừng lại ở phân tích xu hướng – tức là so sánh số liệu thực tế với số liệu năm trước. Phân tích mối quan hệ giữa các khoản mục hay phân tích dựa vào các xét đoán của KTV vẫn còn nhiều hạn chế. Đặc biệt, KTV gặp rất nhiều khó khăn khi so sánh tình hình tài chính của công ty với mức trung bình ngành do thiếu thông tin. Thứ ba: Hạn chế về việc đánh giá HTKSNB của khách thể kiểm toán Thứ tư: KTV chưa tận dụng được lợi thế của kỹ thuật phỏng vấn Kỹ thuật phỏng vấn thường giúp thu thập thông tin hơn là để đưa ra các xét đoán, đặc biệt khi khách hàng là những công ty có quy mô lớn và cấu trúc tổ chức phức tạp. Thông thường, tình huống khác nhau thì KTV có thể áp dụng
  7. 13. xiii các câu hỏi khác nhau. Và thông qua cách trả lời của người được phỏng vấn, KTV có thể đưa ra những nhận định ban đầu về việc có tồn tại hay không gian lận và sai sót. Thứ năm: Cách thức chọn mẫu kiểm toán được áp dụng trong quá trình thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết Thứ sáu: Chưa tiếp cận rủi ro theo rủi ro kinh doanh Cách tiếp cận này tỏ ra rất hiệu quả khi KTV muốn khoanh vùng các gian lận. Tuy nhiên, trong thực tế, các công ty kiểm toán Việt Nam ít áp dụng mô hình này, vì đòi hỏi KTV phải có xét đoán sắc bén cũng như cần thu thập rất nhiều lượng thông tin tài chính và phi tài chính. 2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế của các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam Thứ nhất, vấn đề khung pháp lý cho hoạt động kiểm toán Môi trường pháp lý đối với kiểm toán độc lập chưa được hoàn thiện tương xứng với tiềm năng phát triển. Thứ hai, vấn đề chất lượng của KTV Thứ ba, về soát xét chất lượng kiểm toán nói chung và soát xét việc vận dụng các phương pháp kiểm toán trong đó có phương pháp điều tra nói riêng Công tác soát xét này hiện nay do Hội KTV hành nghề Việt Nam tiến hành. Tuy nhiên, trên thực tế, Hội KTV hành nghề Việt Nam vẫn chưa có đủ cơ sở vật chất và lực lượng kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam. Bên cạnh đó, các cuộc kiểm tra cũng không chú trọng vào trách nhiệm của KTV đối với gian lận và sai sót. Thứ tư, về mức phí kiểm toán Đối với các Công ty nhóm A có phí kiểm toán ở mức khá và ổn định còn các Công ty nhóm B vẫn còn khá thấp. Tình trạng cạnh tranh bằng cách giảm giá phí kiểm toán hoặc chi lại hoa hồng ít nhiều cũng làm ảnh hưởng đến việc thực hiện đầy đủ các thủ tục kiểm toán và chất lượng kiểm toán.
  8. 14. xiv CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VIỆC ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP Ở VIỆT NAM THỰC HIỆN 3.1. Tính tất yếu và định hướng hoàn thiện việc áp dụng phương pháp điều tra trong kiểm toán báo cáo tài chính do các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam thực hiện 3.1.1. Đáp ứng nhu cầu phát triển, hội nhập quốc tế về dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính ở Việt Nam Để góp phần thực hiện thành công lộ trình hội nhập quốc tế về dịch vụ kiểm toán BCTC thì không những cần có sự cố gắng từ phía các cơ quan chức năng của Nhà nước mà từng doanh nghiệp, từng công ty kiểm toán cũng phải có được chiến lược phát triển riêng của công ty mình và nhìn chung, kiểm toán Việt Nam tới năm 2010 cần có sự chuyển biến lớn về qui mô và chất lượng. Tuy nhiên, hoạt động kiểm toán của chúng ta vẫn còn nhiều tồn tại, chưa chiếm ưu thế cạnh tranh so với các công ty nước ngoài. Do vậy, để nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả cuộc kiểm toán để có thể hội nhập quốc tế không chỉ là sự nỗ lực phấn đấu của các Công ty kiểm toán mà còn phải có sự quan tâm hơn nữa của Nhà nước để đưa hoạt động kiểm toán nước ta ngày càng phát triển. 3.1.2. Đáp ứng những vấn đề đặt ra từ thực tiễn việc áp dụng phương pháp điều tra trong kiểm toán báo cáo tài chính do các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam thực hiện Thứ nhất, phải hướng đến yêu cầu hội nhập về dịch vụ với các nước trong khu vực và trên thế giới. Thứ hai, cần học tập và kế thừa kinh nghiệm các quốc gia trên thế giới. Thứ ba, việc đưa ra giải pháp cần phải tính đến đặc điểm riêng có của Việt Nam, phải xem xét đến tính khả thi của các giải pháp, trình độ nhân viên
  9. 15. xv và hiệu quả của công tác nâng cao theo hướng tiết kiệm thời gian, chi phí và nhân lực. 3.2. Một số giải pháp hoàn thiện việc áp dụng phương pháp điều tra trong kiểm toán báo cáo tài chính do các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam thực hiện 3.2.1. Xây dựng chiến lược đào tạo kiểm toán viên theo tiêu chuẩn quốc tế Xuất phát từ đặc điểm và tính chất của kế toán và kiểm toán, những người hành nghề kế toán và kiểm toán trong cơ chế kinh tế mới, trước hết phải có Tính chuyên nghiệp cao, tâm huyết và trách nhiệm với nghề. Chỉ có như vậy mới có thể cung cấp những dịch vụ có chất lượng theo yêu cầu của các đối tượng sử dụng dịch vụ trong nền kinh tế. 3.2.2. Hoàn thiện kỹ thuật lấy xác nhận trong điều tra Gửi thư xác nhận là hình thức thu thập BCKT có giá trị pháp lý cao và cần phải được áp dụng nhiều trong công tác kiểm toán. Vấn đề đặt ra là các KTV trong quá trình gửi thư xác nhận phải đánh giá trước được việc các thông tin mình muốn có thể được xác nhận một cách chính xác trong thư xác nhận hay không và các thông tin đó có thể đối chiếu được với ghi chép của khách hàng hay không. 3.2.3. Hoàn thiện kỹ thuật phỏng vấn trong điều tra Phỏng vấn là kỹ thuật cần nhiều đến kĩ năng và kinh nghiệm của KTV để có thể thu thập thông tin từ khách hàng. Thông qua phỏng vấn, KTV có thể tốn ít thời gian hơn mà vẫn có thể thu được thông tin mong muốn. Vì vậy, hoàn thiện kỹ thuật phỏng vấn chính là nâng cao những kĩ năng “mềm” cho KTV. 3.2.4. Hoàn thiện việc chọn mẫu kiểm toán Để có thể lựa chọn được mẫu đại diện cho tổng thể, KTV nên kết hợp các phương pháp chọn mẫu sao cho phù hợp với đặc điểm của từng loại đối tượng kiểm toán. Với các khách thể kiểm toán có qui mô vừa và nhỏ, số lượng nghiệp vụ phát sinh ít, KTV có thể sử dụng phương pháp chọn mẫu phi
  10. 16. xvi thống kê. Còn đối với khách thể kiểm toán có qui mô lớn, nghiệp vụ phát sinh nhiều, KTV cần thiết phải sử dụng kết hợp các phương pháp chọn mẫu. Tùy thuộc vào từng phần hành trong đối tượng kiểm toán khác nhau mà các phương pháp chọn mẫu thường được kết hợp một cách linh hoạt. 3.2.5. Nâng cao ý thức trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận Vì chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện nay quy định trách nhiệm của việc tồn tại gian lận không phải thuộc về KTV nên có một số KTV không có ý thức cao trong việc xét đoán và phát hiện gian lận. Điều này tạo nên rủi ro nghề nghiệp không chỉ với cá nhân KTV mà cả uy tín của Công ty. Vì vậy, nâng cao ý thức trách nhiệm của KTV đối với gian lận sẽ nhằm hoàn thiện hơn sự vận dụng phương pháp điều tra để hình thành các thủ tục kiểm toán trong việc phát hiện gian lận trong kiểm toán BCTC. 3.2.6. Thiết lập các hướng dẫn chi tiết về các tình huống làm gia tăng rủi ro có gian lận và sai sót cũng như các thủ tục nhằm phát hiện gian lận Để giúp KTV dễ dàng nhận diện, phát hiện gian lận, sai sót, Hội nghề nghiệp nên đưa ra các hướng dẫn chi tiết về các dấu hiệu làm tăng rủi ro có gian lận hoặc sai sót, khoản mục thường xuất hiện gian lận và thủ tục phát hiện gian lận. Đối với các công ty kiểm toán độc lập, để hướng dẫn cho KTV có thể phát hiện gian lận, công ty kiểm toán cần đưa các thủ tục phát hiện gian lận vào chương trình kiểm toán. Các thủ tục nhận hiện dấu hiệu gian lận và phát hiện gian lận cần được tiến hành xuyên suốt các giai đoạn của cuộc kiểm toán. 3.2.7. Hoàn thiện vận dụng thủ tục phân tích Thủ tục phân tích là một trong các thủ tục quan trọng giúp phát hiện các xu hướng biến động bất thường có thể chỉ ra sai sót, gian lận cần tập trung nghiên cứu. Trong thời gian tới, Bộ tài chính nên cập nhật chuẩn mực về thủ tục phân tích cho phù hợp với sự thay đổi của chuẩn mực ISA 520 đã ban hành năm 2004.
  11. 17. xvii 3.2.8. Tiếp cận kiểm toán theo rủi ro kinh doanh Một trong những giải pháp để có thể nhận diện gian lận là các công ty kiểm toán nên tiếp cận kiểm toán theo rủi ro kinh doanh trong kiểm toán BCTC. 3.2.9. Vận dụng một cách hợp lý các phương pháp điều tra hình sự nhằm phát hiện gian lận trong kiểm toán báo cáo tài chính Phương pháp điều tra trong kiểm toán và phương pháp điều tra hình sự có sự giống nhau nhất định về nội dung bên cạnh những điểm khác do đối tượng mà mỗi phương pháp hướng tới. Tuy nhiên, đặc thù của điều tra hình sự là phát hiện các hành vi phạm tội, có tính chất nghiêm trọng, và trái pháp luật ở tất cả mọi lĩnh vực của đời sống: chính trị, kinh tế, xã hội. Chính vì vậy, phương pháp sử dụng trong điều tra hình sự có sự đa dạng, rộng rãi hơn so với kiểm toán. Việc vận dụng một cách sáng tạo, hợp lý các biện pháp điều tra hình sự vào hoạt động kiểm toán sẽ tăng cường khả năng phát hiện gian lận trong kiểm toán BCTC. Các kỹ thuật phỏng vấn, phân tích, và tác động tâm lý KTV hoàn toàn có thể sử dụng được. 3.3. Các điều kiện chủ yếu để thực hiện giải pháp hoàn thiện việc áp dụng phương pháp điều tra trong kiểm toán báo cáo tài chính do các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam thực hiện Thứ nhất, về phía các cơ quan quản lý Nhà nước Để tiếp tục tạo điều kiện cho việc thực hiện lộ trình hội nhập quốc tế về lĩnh vực kế toán, kiểm toán được thuận lợi, khuyến khích các hãng kiểm toán trong và ngoài nước hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, các cơ quan Nhà nước cần thực hiện các biện pháp cụ thể như sau: Một là, hoàn thiện hệ thống khuôn khổ pháp lý cho quá trình hội nhập hoạt động kiểm toán tại Việt Nam trên cơ sở phù hợp với các thông lệ quốc tế và điều kiện thực tế tại Việt Nam. Hai là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống Chuẩn mực kế toán, kiểm toán, làm cơ sở pháp lý cho các hoạt động kiểm toán tại Việt Nam. Tính đến nay, Bộ Tài
  12. 18. xviii chính đã ban hành được tổng cộng 38 chuẩn mực kiểm toán và 26 chuẩn mực kế toán. Theo yêu cầu của quá trình hội nhập, các chuẩn mực này cần tiếp tục được hoàn thiện, bổ sung. Ba là, cải tiến các chương trình đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ kế toán, kiểm toán để đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của quá trình hội nhập. Bốn là, đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, các trang thiết bị kĩ thuật, các phần mềm kiểm toán chuyên dụng để giúp nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm toán. Thứ hai, về phía các trường đại học Các trường đại học cần nỗ lực xây dựng và phát triển chuyên ngành kế toán, kiểm toán, hoàn thiện chương trình đào tạo không những về lý luận mà cả đào tạo nghiệp vụ nhằm cung cấp nhân lực có trình độ cao cho ngành kiểm toán. Thứ ba, về phía Hiệp hội nghề nghiệp Để hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam tiếp tục hoàn thiện và phát triển, các hiệp hội nghề nghiệp của Việt Nam cần tích cực phát huy vai trò của mình hơn nữa trong việc hướng dẫn nghiệp vụ, đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho KTV, kiểm tra soát xét chất lượng kiểm toán,…đối với các công ty kiểm toán độc lập. Thứ tư, đối với các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam và KTV Các công ty kiểm toán cần nâng cao chất lượng dịch vụ và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyển dụng và đào tạo cho các KTV, cần nghiêm túc thực hiện các quy định hiện hành của Nhà nước về kiểm toán độc lập.


【#8】Tranh Cãi Về Phương Pháp Aba Cho Trẻ Tự Kỷ

Ánh Dương/Sức khỏe Cộng đồng

Tại sao một số phụ huynh và những người đang hoạt động vì người tự kỷ lại cho rằng phương pháp Phân tích Hành vi Ứng dụng (ABA) có những điểm tiêu cực?

Trong vài thập kỷ qua, Phân tích Hành vi Ứng dụng, hay ABA, đã phát triển thành một nhóm gồm rất nhiều phương pháp và kỹ thuật để giúp trẻ tự kỷ. Nguyên tắc trị liệu hành vi – củng cố tích cực các hành vi mong muốn – được sử dụng, thường chuyên sâu, để giúp trẻ tự kỷ phát triển các kỹ năng mà chúng không có được một cách tự nhiên và giảm các hành vi có hại, như tự gây thương tích.

Nhưng khi ABA, do Ivar Lovaas, một nhà tâm lý học tại Đại học California ở Los Angeles phát triển, mở rộng và trở nên phổ biến hơn, nó cũng vấp phải nhiều sự chỉ trích từ các bậc cha mẹ và những người đang hoạt động vì chứng tự kỷ khi họ nhìn thấy các vấn đề và cách các phương pháp này đang được thực hiện.

Quá khắc nghiệt với trẻ?

Một nguồn chỉ trích xuất phát từ thực tế rằng Đào tạo Thử nghiệm Rời rạc (DTT) một kỹ thuật thuộc ABA không hoàn toàn dựa trên việc củng cố tích cực các hành vi mong muốn.

Tiến sĩ Susan Epstein chuyên về thần kinh lâm sàng, giải thích: “Tiến sĩ Lovaas đã sử dụng các nguyên tắc củng cố tích cực và trừng phạt để giảm các hành vi tự gây thương tích trong các trung tâm chăm sóc trẻ tự kỷ, điều trị cho những người bị suy yếu nghiêm trọng”.

Ngày nay, việc sử dụng các phương pháp củng cố gây khó chịu, bao gồm sốc điện, không còn được chấp nhận, phương pháp ABA, bao gồm nhiều thực hành lặp đi lặp lại, vẫn bị cho là gây khó khăn cho trẻ và các kỹ năng mà chúng học không phải lúc nào cũng bao quát cho các tình huống khác.

Nhiều người có định kiến rằng các nhà trị liệu luôn giao những nhiệm vụ nặng nề cho trẻ tự kỷ. Tuy nhiên, tiến sĩ Catherine Lord, giám đốc trung tâm về tự kỷ và phát triển não bộ Center for Autism and the Developing Brain tại Đại học Y Weill Cornell & Bệnh viện Presbyterian ở New York, lưu ý rằng hầu hết các nhà trị liệu ABA truyền thống đều được đào tạo để trở nên siêu sinh động và vui nhộn. “Đôi khi bạn thấy một người không hài hước. Nhưng đó chỉ là cách dạy kém chứ không phải là lỗi của ABA”, bà Catherine nói.

Và hầu hết các nhà trị liệu và chương trình ABA hiện không sử dụng hình thức DTT, tức trẻ ngồi ở bàn mà dựa trên trò chơi. Sara Germansky, một nhà phân tích hành vi có chứng chỉ BCBA – chứng nhận cao nhất được trao cho những người được đào tạo bởi tổ chức ABA chuyên nghiệp – đưa ra ví dụ như sau:

“Tôi có thể thiết lập một cái gì đó khi trẻ chơi ô tô đồ chơi và nếu tôi muốn nói về màu sắc, tôi có thể để hai chiếc ô tô trước mặt – một chiếc màu đỏ và một chiếc màu vàng. Và nếu trẻ nói ‘Cháu có thể mượn một chiếc xe không?’ Tôi sẽ nói ‘Ồ, cháu muốn chiếc xe màu đỏ hay chiếc xe màu vàng?’ Sau đó trẻ sẽ phải mở rộng ngôn ngữ của mình bằng cách nói ‘Cháu muốn chiếc xe màu đỏ’. Sau đó tôi sẽ nói ‘Cái nào màu đỏ?’ Và trẻ sẽ phải xác định màu sắc. Vì vậy, có nhiều cách thiết lập môi trường để trẻ học hỏi những kỹ năng này một cách tự nhiên hơn”.

Bên cạnh đó, bà nói thêm, trẻ có nhiều khả năng khái quát các kỹ năng học được trong một tình huống tự nhiên ngoài các buổi trị liệu và đưa các kĩ năng đó ra thế giới.

Ngoài ra, gần như không bao giờ ABA được sử dụng tới 40 giờ một tuần như Tiến sĩ Lovaas khuyến nghị ban đầu. Theo ông Germansky, người trị liệu một thầy một trò cho trẻ tự kỷ ở thành phố New York, cho biết hầu hết trẻ được trị liệu 10 giờ một tuần hoặc 20 giờ một tuần. “Trẻ có hành vi càng nghiêm trọng hoặc càng bị trở ngại, số giờ học càng nhiều. Tôi thấy trẻ thường được trị liệu hai giờ mỗi ngày trong tuần”, ông nói.

Quá tập trung vào việc loại bỏ các hành vi?

Một phàn nàn khác về ABA bắt nguồn từ việc một số người thực hành phương pháp này không tập trung phát triển các kỹ năng cùng với việc cố gắng giảm hoặc loại bỏ các hành vi có vấn đề. Tameika Meadows, một BCBA ở Atlanta, nói rằng bà thấy vấn đề này khi đến thăm một số trường để tư vấn về cách áp dụng ABA.

Một trong những điều đầu tiên bà để ý là việc loại bỏ các hành vi không mong đợi dường như đang là trọng tâm ở đây. Trong khi trẻ không được dạy làm gì thay vì nổi giận , hay thay vì cố gắng trốn khỏi tòa nhà cả ngày.

Ari Ne’eman, vốn là một người tự kỷ, đang là nhà hoạt động vì người tự kỷ nổi tiếng, phản đối ABA với lý do nó tập trung vào việc khiến những người tự kỷ không khác biệt với bạn bè cùng trang lứa (indistinguishable from their peers). Theo ông, điều đó có nghĩa là nó ngăn cản các hành vi mà không thừa nhận nội dung cảm xúc của họ.

“Việc nhấn mạnh vào những thứ như giao tiếp bằng mắt hoặc ngồi yên hoặc không tự kích thích – đang xoay quanh việc cố gắng tạo ra những khuôn mẫu của đứa trẻ điển hình, mà không thừa nhận thực tế rằng những đứa trẻ khác nhau có nhu cầu khác nhau. Có thể sẽ gây hại khi chúng ta nói với trẻ còn rất nhỏ rằng cách chúng hành động, cách chúng di chuyển đang sai cơ bản”, ông nói.

Ne’eman, hiện là chủ tịch và đồng sáng lập mạng lưới Tự bênh vực của người tự kỷ Autistic Self Advocacy Network, không phản đối việc can thiệp có cấu trúc sớm vào trẻ tự kỷ và ông thừa nhận hành vi tự gây thương tích – một trong những điều ABA được thiết kế để giảm thiểu – là một vấn đề nghiêm trọng. Tuy nhiên, ông lập luận rằng các can thiệp có cấu trúc khác nhằm vào lời nói và ngôn ngữ có thể có giá trị hơn, đặc biệt là đối với trẻ không nói hay chỉ dùng hành vi làm hình thức giao tiếp.

Cố gắng loại bỏ sự khác biệt?

Những người bảo vệ ABA cho rằng phương pháp này không nhằm mục đích lấy đi sự đa dạng thần kinh của trẻ tự kỷ mà đem lại cho trẻ sự độc lập.

“ABA dựa trên tiền đề thao túng các biến môi trường để mang lại sự thay đổi hành vi. Vì vậy chúng tôi không cố gắng thay đổi con người, chúng tôi không cố gắng thay đổi cách suy nghĩ của họ, chúng tôi không cố thay đổi cách họ cảm nhận”, Germansky nói.

Đó là điều mà Stephanie Kenniburg đã có với con trai Holden, hiện 6 tuổi bằng liệu pháp ABA. “Điều tôi thích là họ đang cố gắng giúp thằng bé sống độc lập nhất có thể mà không cố để thằng bé không còn tự kỷ. Giống như có một số phần nhất định của thằng bé bị tự kỷ – cách bộ não hoạt động, cách suy nghĩ – và họ không xem đó là cái gì đó tiêu cực cần phải biến mất. Họ đang kiểu như ‘Đây là cách cậu bé nghĩ nên chúng tôi sẽ dạy cậu bé theo cách này để sống trên thế giới'”.

Kenniburg nói rằng cả gia đình đã học được cách giúp Holden phát triển các kỹ năng thông qua ABA. “Tôi thích việc họ chấp nhận sự đa dạng thần kinh của thằng bé và rằng họ đã chấp nhận thằng bé như một người. Họ thực sự đã giúp gia đình chúng tôi dạy thằng bé cách tự lập hơn”, cô cho hay.

Phương pháp ABA giúp trẻ có nhiều lựa chọn hơn – và nhiều niềm vui hơn

Tiến sĩ Lord thừa nhận ABA ban đầu tập trung vào mục tiêu rằng trẻ em sẽ phù hợp với một lý tưởng điển hình. “ABA được tạo ra với một kiểu mẫu với cách trở thành hoàn hảo và chúng tôi biết đó là gì, chúng tôi sẽ dạy trẻ làm thế nào để trở thành sự hoàn hảo đó”, bà nói.

Tuy nhiên, các phương pháp ABA giờ đây cá nhân hóa hơn nhiều, dù vẫn luôn có mục tiêu. “Một trong những điều khó khăn khi làm việc với trẻ là bạn luôn phải đưa ra các giả định về những gì sẽ là tốt nhất cho đứa trẻ này.

Tiến sĩ Lord đồng ý với Ari Ne’eman khi ông lưu ý về việc đang có những sự can thiệp sớm và mạnh. Ngoài ra, đối với những trẻ ít bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi chứng tự kỷ, việc chọn chương trình ABA hay chương trình gì khác ít quan trọng hơn. Nhưng bà nói rằng những đứa trẻ có nguy cơ không nói đã được chứng minh là có cơ hội nói cao hơn khi được trị liệu bằng ABA.

Theo bà, một nhà trị liệu giỏi, dù dùng ABA hay không, là cố gắng tìm ra những cách thúc đẩy điểm mạnh của một đứa trẻ, giúp chúng hòa nhập vào xã hội và điều đó sẽ cho chúng những lựa chọn tốt nhất. “Đó là những gì chúng tôi muốn. Chúng tôi không muốn một người cư xử tốt nhất, chúng tôi muốn một người có thể làm nhiều nhất có thể và có được nhiều niềm vui nhất bên ngoài thế giới.


【#9】Phương Pháp Phổ Hấp Thu Nguyên Tử

Phương pháp phổ hấp thu nguyên tử đo sự suy giảm cường độ bức xạ tại một bước sóng đặc trưng bị hấp thu bởi một đám hơi nguyên tử tự do. Cường độ hấp thu tỷ lệ với mật độ hơi đơn nguyên tử, tỷ lệ với nồng độ được sử dụng trong phân tích định lượng.

SƠ LƯỢC PHƯƠNG PHÁP PHỔ HẤP THU NGUYÊN TỬ

(AAS – Atomic Absorption Spectrometric)

1. Nguyên tử:

Vật chất được cấu thành bởi những nguyên tố hóa học. Ví dụ: nước (H2O) được cấu thành từ nguyện tố Hydro (H) và oxy (O); thanh sắt được cấu thành bởi các nguyên tố sắt (Fe).

Theo thuyết Dalton, nguyên tố hóa học lại bao gồm những nguyên tử của cùng 1 loại nguyên tố đó. Vì thế có thể xem nguyên tử là phần tử nhỏ nhất còn giữ được tính chất của một nguyên tố. Ví dụ: nguyên tố Fe được cấu tạo bởi những nguyên tử Fe.

Cấu tạo nguyên tử gồm 01 hạt nhân và các electron (điện tử). Các điện tử sắp xếp và phân bố trên các lớp quĩ đạo từ trong ra ngoài. Các điện tử ở quĩ đạo ngoài cùng gọi là điện tử hóa trị.

2. Sự hấp thu của nguyên tử:

Trong điều kiện bình thường, các điện tử chuyển động trên các quĩ đạo ứng với mức năng lượng thấp nhất E0.

Trang thái này gọi là trạng thái cơ bản bền vững (nguyên tử không phát hoặc thu năng lượng)

Khi các nguyên tử ở dạng hơi và được cung cấp một năng lượng phù hợp dưới dạng bức xạ thì các điện tử hóa trị của nguyên tử này sẽ hấp thu năng lượng đó và nhảy lên mức năng lượng cao hơn. Lúc này ta nói nguyên tử đang ở trang thái kích thích En.

Mỗi loại nguyên tử sẽ hấp thu tối đa và chọn lọc ở một năng lượng bức xạ đặc trưng (bức xạ cộng hưởng) tùy theo cấu tạo hóa học của nguyên tử đó.

3. Phương pháp phổ hấp thu nguyên tử:

Là phương pháp dựa trên nguyên lý hấp thu của hơi nguyên tử. Người ta cho chiếu vào đám hơi nguyên tử một năng lượng bức xạ đặc trưng của riêng nguyên tử đó. Sau đó đo cường độ còn lại của bức xạ đặc trưng này sau khi đã bị đám hơi nguyên tử hấp thụ, sẽ tính ra được nồng độ nguyên tố có trong mẫu đem phân tích.

4. Máy quang phổ hấp thu nguyên tử (AAS: Atomic Absorption Spectrometer)

Bao gồm các bộ phận cơ bản sau:

– Nguồn phát tia bức xạ cộng hưởng của nguyên tố cần phân tích: thường là đèn cathod rỗng HCL (Hollow Cathode Lamp) hoặc đèn phóng điện không cực EDL (Electronic Discharge Lamp)

– Hệ thống nguyên tử hóa mẫu phân tích, có hai loại kỹ thuật nguyên tử hóa mẫu:

+ Kỹ thuật nguyên tử hóa bằng ngọn lửa, sử dụng khí C2H2 và không khí nén hoặc oxit nitơ (N2O), gọi là Flame AAS.

+ Kỹ thuật nguyên tử hóa không ngọn lửa, sử dụng lò đố điện, gọi là ETA-AAS (Electro -Thermal-Atomization AAS)

– Bộ đơn sắc có nhiệm vụ thu nhận, phân ly và ghi tính hiệu bức xạ đặc trưng sau khi được hấp thu

Hình 3 : Sơ đồ hệ thống máy hấp thu nguyên tử AAS

– Hệ điện tử/ máy tính để điều khiển và xử lý số liệu

Máy AAS có thể phân tích các chỉ tiêu trong mẫu có nồng độ từ ppb – ppm. Mẫu phải được vô cơ hóa thành dung dịch rồi phun vào hệ thống nguyên tử hóa mẫu của máy AAS. Khi cần phân tích nguyên tố nào thì ta gắn đèn cathode lõm của nguyên tố đó. Một dãy dung dịch chuẩn của nguyên tố cần đo đã biết chính xác nồng độ được đo song song. Từ các số liệu đo được ta sẽ tính được nồng độ của nguyên tố cần đo có trong dung dịch mẫu đem phân tích.

Ưu điểm của máy AAS :

  • Độ chính xác của máy AAS cao: RSD < 2%
  • Độ lặp lại rất tốt: RSD < 1%
  • Độ nhạy: rất nhạy, đo dược hàm lượng tới ppb (microgam/ kg)
  • Chi phí đầu tư thấp so với máy ICP-OES
  • Phân tích được rất nhiều nguyên tố và thời gian phân tích nhanh

Hình 4 : Hệ thống máy hấp thu nguyên tử AAS của hãng Varian

Nguồn: Phòng CNTN (CASE)


【#10】Học Từ Vựng Tiếng Anh Dễ Dàng Bằng Phương Pháp Sơ Đồ Tư Duy

Học tiếng Anh khó thật đấy. Khoai nhất là phần từ vựng. Nhớ từ. Nhớ nghĩa. Nhớ biết bao nhiêu thứ.

Nhưng nói đến việc ghi nhớ thì sơ đồ tư duy là một công cụ rất hiệu quả. Vì vậy, để học từ vựng tốt hơn bạn nên dùng sơ đồ tư duy.

Tại sao phải học từ vựng?

Chắc chắn từ vựng chính là phần quan trọng nhất trong tất cả ngôn ngữ. Tiếng Anh không phải ngoại lệ.

Một cuốn tiểu thuyết được tổng hợp từ nhiều bài văn. Bài văn được tạo nên từ câu văn. Còn câu văn lại được do từ vựng hợp thành. Vậy từ vựng không phải là quan trọng nhất hay sao?

Nếu bạn nói rằng “chữ cái” mới là thành phần nhỏ nhất!

OK! Bạn nói không sai. Nhưng từng chữ cái đứng riêng lẻ không có nghĩa. Chúng chỉ thực sự có ý nghĩa khi đứng trong hàng ngũ của từ vựng.

Vậy nên, muốn học một ngôn ngữ, nói một ngôn ngữ, sử dụng được một ngôn ngữ, bạn PHẢI học từ vựng.

Học từ vựng tiếng Anh bằng sơ đồ tư duy

Hạn chế của học từ vựng theo phương pháp truyền thống

Học từ vựng theo phương pháp truyền thống không tạo cảm giác vui vẻ trong khi học tập.

Không tin? Bạn cứ lấy quyển vở học tiếng Anh ở trên lớp hay danh sách từ vựng được phát ở trung tâm ra. Bây giờ hãy nhìn vào và học từ mới thôi nào!

Bạn tập trung được bao lâu? Bạn có cảm giác chán nản lúc nào?

Với mình thì… ngay khi nhìn vào đống từ đó 🙁

Sự chán nản, kém tập trung khiến hiệu quả học tập không cao. Điều này không chỉ làm ảnh hưởng đến kết quả học tập mà còn khiến bạn chán nản, thậm chí GHÉT BỎ tiếng Anh.

Hơn nữa, học từ vựng theo danh sách truyền thống không giúp bạn nhớ từ vựng lâu. Bạn thường có cảm giác nhớ được rất nhiều từ trong một thời gian ngắn học, nhất là trước khi kiểm tra 🙂 Nhưng những từ bạn vừa học cũng chỉ “tạm trú” trong não bạn thời gian ngắn. Ví dụ như sau khi kiểm tra xong 🙂

Sơ đồ tư duy – Học nhanh nhớ lâu

Sơ đồ tư duy hoạt động như thế nào?

Sơ đồ tư duy là cách học bằng hình ảnh. Não bộ tiếp nhận và lưu trữ hình ảnh tốt hơn nhiều so với chữ viết. Sơ đồ tư duy sinh ra chính để tận dụng khả năng đó.

Với sơ đồ tư duy, tất cả thông tin được lưu trữ dưới dạng hình ảnh. Thông tin được biểu diễn bằng sơ đồ. Các thông tin được móc nối với nhau giống như cách các nơ ron thần kinh liên kết thông tin trong não bộ tạo cảm giác “thân quen” 😀

Bạn nghĩ ghi nhớ bằng hình ảnh không tốt hơn?

Hãy đọc đoạn văn sau:

Ẩn sau làn khói mờ ảo là một đêm trăng đẹp cùng những vì sao tỏa sáng rực rỡ. Dưới đất, cỏ mọc tùm lum, còn xen kẽ cả những cây dại cao hơn bình thường. Trên bãi cỏ có một cây cao hơn tất cả. Dưới gốc cây cao đó, chàng trai đang quỳ gối, tay đang nâng niu chiếc hộp đựng nhẫn cưới và nhìn vào cô gái đối diện. Trong chiếc hộp nhẫn chứa trái tim của chàng.

(Trung bình mất khoảng 5 PHÚT để bạn nhận ra “Tình yêu thật đẹp”).

Chỉ trong vòng 1 GIÂY, bạn đã nắm được toàn bộ thông tin có trong đoạn văn trên rồi.

Bạn đã thấy sức mạnh của hình ảnh chưa nào 🙂

Làm sơ đồ tư duy như thế nào?

Làm sơ đồ tư duy thực sự rất dễ. Tuy nhiên, “vạn sự khởi đầu nan”. Ban đầu bạn chưa quen làm sơ đồ tư duy nên cảm giác sẽ hơi tốn thời gian một chút. Nhưng khi quen rồi thì đây là phương pháp học rất tuyệt vời!

Bắt đầu thôi!

Bạn có thắc mắc sao mình không ghi nghĩa không? Nếu mình ghi nghĩa tiếng Việt bên cạnh thì chẳng khác “kiểu truyền thống” là mấy. Với sơ đồ tư duy, bạn ghi nhớ bằng hình ảnh. Và bạn cũng nên ghi nhớ từ bằng hình ảnh. Nhớ lâu hơn rất nhiều đấy!

OK! Vậy là gần hoàn thành rồi đó!

Có từ, có nghĩa, có hình ảnh rồi. Còn gì nữa?

Luyện tập và luyện tập

Bạn đã biết cách làm một sơ đồ tư duy để học từ vựng tiếng Anh rồi đó 😀

Nhưng mình đã nói, việc làm sơ đồ tư duy ban đầu gây cảm giác tốn thời gian cho bạn. Bạn không được nản chí. Luyện tập và luyện tập chính là điều bạn nên làm. Không chỉ tốc độ của bạn được cải thiện mà trình tiếng Anh của bạn cũng sẽ tăng nhanh chóng. Cách học này cũng rất hiệu quả với những người mất gốc tiếng Anh và những bạn đang ôn thi TOEIC đấy!

Mà bạn cũng đừng quên ôn lại thường xuyên. Bạn bè lâu ngày không gặp còn quên tên nói gì đến từ vựng tiếng Anh.

Một mẹo nhỏ dành cho bạn: Hãy cứ thỏa sức sáng tạo, tô vẽ lên sơ đồ tư duy càng nhiều càng tốt, miễn là bạn thích. Sơ đồ tư duy càng đẹp, càng ấn tượng thì bạn học từ vựng tiếng Anh càng dễ dàng và vui vẻ!


Bạn đang xem chủ đề Phương Pháp Aas trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!