Phương Pháp Abc

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Phương Pháp Abc xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 21/01/2021 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Phương Pháp Abc để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 7.821 lượt xem.

Có 32 tin bài trong chủ đề【Phương Pháp Abc】

【#1】Bài Tập Và Đáp Án Phương Pháp Abc

Embed Size (px)

DESCRIPTION

1. Doanh nghiệp IT sản xuất ra 2 dòng sản phẩm là: linh kiện chính máy vi tính, điện thoại di động. Doanh nghiệp sử dụng hệ thống chi phí thông thường và chi phí chung được phân bổ bằng việc sử dụng tỷ lệ chi phí chung toàn doanh nghiệp dựa trên giờ lao động trực tiếp. Những nhà tư vấn được mời về đã đề nghị doanh nghiệp sử dụng phương pháp phân bổ chi phí trên hoạt động (ABC)Doanh nghiệp kỳ vọng sản xuất ra 4,000 linh kiện máy ví tính và 2,000 điện thoại di động trong năm 20×4. Mỗi linh liện máy tính đòi hỏi 2 giờ lao động trực tiếp để sản xuất và mỗi điện thoại đòi hỏi nữa giờ để sản xuất

BI TP V NH

1. Doanh nghip IT sn xut ra 2 dng sn phm l: linh kin chnh my vi tnh, in thoi di ng. Doanh nghip s dng h thng chi ph thng thng v chi ph chung c phn b bng vic s dng t l chi ph chung ton doanh nghip da trn gi lao ng trc tip. Nhng nh t vn c mi v ngh doanh nghip s dng phng php phn b chi ph trn hot ng (ABC)

Doanh nghip k vng sn xut ra 4,000 linh kin my v tnh v 2,000 in thoi di ng trong nm 20×4. Mi linh lin my tnh i hi 2 gi lao ng trc tip sn xut v mi in thoi i hi na gi sn xut

Chi ph vt liu trc tip v lao ng trc tip cho 2 dng sn phm nh sau:

Linh kin my vi tnhin thoi di ng

Vt liu trc tip (mi sp)$30$17

Lao ng trc tip (mi sp)$16$4

Ngn sch d kin:

Hot ngNgn sch chi ph chungD kin mc tiu th

Thit lp sn xut$80,00020 ln thit lp

X l vt liu$70,0005,000 nguyn liu

ng gi & chuyn hng$120,0006,000 hp

Tng chi ph chung$270,000

Da trn phn tch ca 3 hot ng pht sinh chi ph, doanh nghip c lng 2 dng sn phm i hi nhng mc hot ng cho nm 20×4 nh sau:

Hot ngLinh kin my tnhin thoi di ngTng

Thit lp sn xut5 ln15 ln20 ln

X l vt liu1,000 nguyn liu4,000 nguyn liu5,000 nguyn liu

ng gi & chuyn hng4,000 hp2,000 hp6,000 hp

YU CU:

a. Tnh ton chi ph cho mi dng sn phm s dng chi ph chung da trn gi lao ng trc tip

b. Tnh t l chi ph cho (i) thit lp sn xut, (ii) x l vt liu, (iii) ng gi v chuyn hng

c. Chi ph a vo 2 dng sn phm, s dng h thng tnh chi ph trn hot ng (ABC)

P N BI KIM TRA (PHN BI TP)1. Cng ty AAC sn xut v bn sn phm vi gi $20kg. Thng tin hot ng kinh doanh c cung cp nh sau:

Bn75,000kg

Hng tn kho u k12,000kg

Hng tn kho cui k17,000kg

Chi ph sn xut

Chi ph bin i$8/kg

Chi ph sn xut chung c nh$320,000/nm

Chi ph qung co v qun l

Ch ph bin i$2/kg ca s lng bn

Chi ph c nh$300,000 mi nm

YU CU:

a. Bo co doanh thu, s dng phng php ton b v trc tip

b. Gii thch nguyn nhn to ra s khc bit gia hai bo co s dng hai phng php

P N:

a. Phng php ton b

Sn xut trong nm trcChi ph sn xut mi n v

Bn75,000kgBin i$8

Hng tn cui k17,000kgC nh ($320,000/80,000)$4

Tng sn phm c th bn92,000kgTng$12

Hng tn kho u k12,000kg

Sn phm c sn xut trong k80,000kg

(a) Phng php ton bBn1,500,000

Tr chi ph sn phm bn:

Tn kho u k (12000Kg $12)144,000

Chi ph sn xut (80,000*Kg $12**)960,000

Chi ph sn phm c th c bn1,104,000

Tn kho cui k (17,000Kg 12 )204,000900,000

Li nhun gp600,000

Tr chi ph qun co v qun l:

Bin ph (75,000Kg $2)150,000

nh ph300,000450,000

Thu nhp thun150,000

(b) Phng php trc tip:Bn1,500,000

Tr chi ph bin i ca sn phm c bn:

Tn kho u k (12000Kg $8)96,000

Chi ph sn xut bin i (80,000 Kg $8)640,000

Chi ph bin i ca sn phm c th c bn736,000

Tn kho cui k (17,000Kg 8 )136,000600,000

Li nhun ng gp900,000

Bin ph i qung co v qun l (75,000Kg $2)150,000

750,000

Tr chi ph chu k:

nh ph qung co v qun l300,000

nh ph sn sut320,000620,000

Thu nhp thun130,000

Thu nhp thun t phng php ton b cao hn $20,000 so vi phng php trc tip. Khi s sn phm sn xut cao hn s lng sn phm bn, nh ph sn xut chung c chuyn vo hng tn kho v v th to ra thu nhp thun cao hn cho phng php ton b. Ha hp thu nhp thun cho 2 phng php c th hin nh sau:

Thu nhp t phng php ton b150,000

Thu nhp t phng php trc tip130,000

Chnh lch thu nhp20,000

Thay i trong hng tn kho (17,000Kg 12,000Kg)5,000Kg

nh ph c chuyn vo hng tn kho (5,000Kg $4.00)20,000

HOC

Thu nhp t phng php trc tip130,000

Cng: nh ph sn xut chung c chuyn vo hng tn kho (5,000Kg $4.00)20,000

$150,000


【#2】Quản Lý Công Việc Hiệu Quả Bằng Phương Pháp Abcde

Một trong những kỹ năng chính yếu để gặt hái được kết quả là biết cách xác lập các ưu tiên. Việc xác định các hoạt động có giá trị cao thôi không đủ. Các nhà lãnh đạo không ngừng đặt ra các ưu tiên sao cho lúc nào họ cũng chỉ làm những công việc giá trị cao và quan trọng nhất.

Một trong những phương pháp hiệu quả nhất để xác lập mức độ ưu tiên cho công việc là sử dụng phương pháp ABCDE phương thức này đòi hỏi bạn phải lên một danh sách các công việc, rồi sau đó xét thứ hạng ưu tiên cho chúng.

Công việc được loại A là công việc quan trọng, đây là công việc bạn phải là. Nếu không những hậu quả lớn sẽ xảy ra. Bạn sẽ có ít nhất một công việc loại A. Trong trường hợp có nhiều hơn một công việc loại A Hãy gắn nhãn cho các công việc là A-1, A-2, A-3….Trong đó, A-1 là công việc quan trọng nhất, tiếp theo là A-2.

Công việc loại C là công việc làm được thì tốt, nhưng chẳng có hệ quả gì xảy ra nếu bạn không làm. Đọc một tạp chí hay một tờ báo có thể thú vị và giúp bạn theo kịp tình hình chính trị hay tin tức thể thao, nhưng nó không phải là nhiệm vụ đóng góp gì cho công việc của bạn. Đừng bao giờ chuyển sang công việc loại C khi công việc loại B vẫn còn dang dở.

Công việc loại D là bất kỳ việc gì mà bạn có thể ủy quyền thực hiện cho người khác. Một trong những quy tắc lãnh đạo quan trọng là bạn nên ủy quyền cho người khác thực hiện những công việc có thể ủy quyền. Những việc mà chỉ có bạn mới có thể đảm nhiệm đã chiếm trọn thời giờ của bạn; Vì vậy bạn không nên dành thời giờ cho những công việc loại D nữa.

Hãy đặt cho mình câu hỏi “Đâu là việc mà tôi và chỉ tôi mới có thể làm để tạo nên sự khác biệt to lớn cho công ty?” Nếu một công việc không rơi vào nhóm này, hãy giao việc đó cho người khác. Quy tắc ưu tiên tiếp tục như sau: Không bao giờ chuyển sang công việc loại, khi vẫn còn công việc loại C chưa hoàn thành.

Công việc loại E là công việc cần loại bỏ. Nó thậm chí không nên được nhắc tới. Nó không gây ra hậu quả gì, nhưng cũng không mang lại lợi lộc gì. Có lẽ nó là công việc từng có ý nghĩa quan trọng trong quá khứ, nhưng bây giờ đã trở nên lỗi thời. Hoặc có lẽ nó là công việc không nên thực hiện chút nào. Đây chính là thời điểm để loại bỏ nó.

Chìa khóa để thực hiện phương thức ABCDE phát huy tác dụng là không bao giờ làm một công việc có độ ưu tiên thấp hơn khi công việc có độ ưu tiên cao hơn vẫn còn dang dở. Tôi nhấn mạnh nguyên tắc này, Bởi nói thì dễ, nhưng hãy nhớ làm thì khó hơn nhiều.


【#3】Thiết Lập Ưu Tiên Cho Công Việc Của Bạn Với Phương Pháp Abcde

Làm việc hiệu quả đôi khi không chỉ là làm đúng cách mà còn cần làm đúng việc. Khả năng lập kế hoạch cho công việc, mà trước hết là khả năng tập trung vào những việc mang lại giá trị cao nhất sẽ đóng góp rất lớn vào sự thành công của bạn không thua gì các yếu tố khác.

Thiết lập ưu tiên cho công việc của bạn với ABCDE

ABCDE là một phương pháp thiết lập ưu tiên cho các công việc ngắn hạn, rất đơn giản để sử dụng, chỉ cần bạn có giấy và bút. Bất cứ khi nào bạn cảm thấy quá tải do có quá nhiều việc để làm trong khi thời gian lại quá ít, hãy ngồi xuống, hít một hơi thật sâu, và lên danh sách tất cả những công việc mà bạn cần hoàn thành. Hãy nhớ rằng, ta không bao giờ ta có đủ thời gian để làm tất cả mọi thứ nhưng luôn có đủ để làm điều quan trọng nhất, và hãy kiên trì theo đuổi chúng cho đến khi hoàn thành.

Một phương pháp đơn giản mà hiệu quả

Phương pháp này đặc biệt hữu dụng khi bạn đã xác định được mục tiêu lớn của mình. Khi đó hãy đặt một trong các chữ cái sau đây ở cạnh mỗi công việc trên danh sách trước khi bạn bắt đầu thực hiện:

  • “A” được hiểu là “rất quan trọng” – một điều gì đó bạn phải làm. Có thể sẽ có hậu quả cực kì nghiêm trọng nếu bạn không làm.
  • “B” được hiểu “quan trọng” – một điều gì đó mà bạn nên làm. Công việc thuộc loại này thì không quan trọng bằng loại A. Chỉ có thể xảy ra vài hậu quả tiêu cực nho nhỏ, nếu nó không được hoàn thành.
  • “C” được hiểu là “làm được thì tốt” – nhưng đó không phải là điều quan trọng là như việc ‘A’ hay ‘B’. Nếu bạn không hoàn thành được thì cũng không sao.
  • “D” được hiểu là “ủy thác” – Bạn có giao việc này cho một người nào đó có khả năng mà bạn tin tưởng.
  • “E” được hiểu là “loại bỏ, bất cứ khi nào có thể” – Bạn nên loại bỏ càng nhiều việc không cần thiết càng tốt để tiết kiệm thời gian.

Khi sử dụng ABCDE, bạn sẽ rất dễ dàng nhìn ra được điều gì là quan trọng và không quan trọng. Sau đó hãy tập trung thời gian và sự chú ý của bạn và những công việc quan trọng nhất trên danh sách.

Hãy nói không

Một khi bạn đã xác định rõ ràng một việc mà bạn nên làm trước tất cả việc khác, hãy nói không và tránh xa mọi thứ có thể khiến bạn mất tập trung, hãy kiên trì theo đuổi công việc bạn đã chọn cho đến khi hoàn thành.

Có một khám phá thú vị chỉ ra rằng, chủ yếu stress bắt nguồn do làm những công việc thứ tự ưu tiên thấp. Do vậy hãy làm những công việc có giá trị cao càng sớm càng tốt, stress sẽ biến mất nhanh chóng. Bạn sẽ cảm thấy một nguồn năng lượng tích cực tuôn trào vì bạn luôn hướng đến những điều thực sự quan trọng, giúp bạn gia tăng những giá trị bên trong, giúp đem lại sự hài lòng. Rồi bạn sẽ thấy mình tự chủ hơn, bình tĩnh hơn và tự tin hơn vào bản thân.

Bài tập vận dụng

Thứ nhất, hãy dành thời gian để xác định rõ các mục đích, mục tiêu lớn của bạn để đảm bảo cho quá trình thiết lập ưu tiên đi đúng hướng, đem lại giá trị thực sự cho bạn.

Thứ hai, hãy nhớ rằng điều quạn trọng không phải là tổng lượng thời gian bạn mất đi mà là lượng thời gian bạn dành cho những công việc có giá trị nhất.

Thứ ba, yếu tố đáng lưu ý khi thiết lập ưu tiên chính là sự sáng suốt trong quyết định của bạn. Hãy nhớ rằng bạn luôn có quyền tự do lựa chọn: hoặc làm hoặc không làm.

Từ bây giờ, hãy bắt đầu thiết lập ưu tiên cho mọi mặt cuộc sống của bạn, hãy ưu tiên cho những hoạt động mà chắc chắn nó sẽ đem lại sức khỏe, sự hạnh phúc và thành đạt trong sự nghiệp lâu dài của bạn.


【#4】Phương Pháp Abc Activity Based Costing

Bài 2/7 của Series hướng dẫn tự học ACCA F5 Performance Management – Chủ đề “Phương pháp ABC Activity Based Costing”

Nếu bạn thích đọc hơn xem video thì bài viết này là dành cho bạn. Trong bài viết này mình sẽ trả lời 4 câu hỏi đã đề cập ở bài ACCA F5 Lectures: 3 bước tự học hiệu quả:

  • Chủ đề này nói về cái gì?

F5 là Quản lý hoạt động – Hiểu đơn giản là quá trình tổ chức xác định mục tiêu, quyết định phương án hành động, thực hiện và đo lường kết quả thực hiện.

Ở cấp độ cơ bản, F5 sẽ bao gồm các phương pháp, kỹ thuật cơ bản mà tổ chức có thể sử dụng trong quá trình quản lý hoạt động.

Như mình đã giải thích ở bài trước, môn F5 Performance Management sẽ bao gồm 4 nội dung:

  1. Thu thập & phân tích thông tin: với các phương pháp tính giá thành & kế toán quản trị
  2. Ra quyết định quản trị
  3. Lập dự toán & kiểm soát
  4. Đo lường hoạt động & kiểm soát

Việc áp dụng phương pháp ABC sẽ cung cấp thông tin cho nhà quản lý. Từ đó làm cơ sở để đưa ra các quyết định quản trị – nội dung (2).

Câu 3: Chủ đề này nói về cái gì?

  • Phương pháp ABC là gì?
  • Cách áp dụng phương pháp ABC Activity Based Costing?
  • Ưu nhược điểm khi so sánh với các phương pháp khác?

Thực tế thì mình chưa gặp công ty việt nam nào áp dụng phương pháp tính giá thành này. Chúng ta thường áp dụng phương pháp chi phí định mức (standard costing). Tuy nhiên phương pháp này được các công ty nước ngoài áp dụng nhiều. Có thể vì vậy nên phương pháp ABC là quan trọng nhất trong 5 phương pháp được đề cập trong phạm vi môn F5.

(1) Trước khi tìm hiểu về phương pháp ABC Activity Based Costing trong kế toán quản trị, các bạn cần hiểu Tính giá thành là gì?

Hiểu đơn giản thì Tính giá thành là việc chúng ta xác định chi phí sản xuất cho từng sản phẩm. Bao gồm: chi phí NVL trực tiếp, chi phí NCTT và chi phí SXC.

Các CPSX trực tiếp (NVL trực tiếp, NCTT) sẽ xác định được riêng cho từng sản phẩm. Nhưng các chi phí SXC thì sẽ không xác định trực tiếp cho riêng từng sản phẩm được. Do đó chúng ta sẽ cần phải phân bổ các chi phí SXC để tính được giá thành sản phẩm.

(2) Phương pháp ABC Activity Based Costing là gì? Các bước thực hiện tính giá thành theo phương pháp ABC?

Phương pháp ABC Activity based costing – Tính giá thành theo cơ sở hoạt động: là phương pháp tính giá thành bằng cách phân bổ chi phí SXC dựa vào mức độ tiêu thụ/sử dụng các yếu tố làm phát sinh chi phí (cost drivers).

Ví dụ: 1 công ty sản xuất 2 loại sản phẩm A và B. Và thông tin sản xuất trong kỳ như sau:

Quy trình áp dụng phương pháp ABC để tính giá thành cho sản phẩm như sau:

Bước 1. Xác định các “hoạt động hỗ trợ” chủ yếu

Hoạt động hỗ trợ chính là các hoạt động phục vụ chung cho sản xuất:

Thiết lập dây chuyền sản xuất

Xử lý đơn đặt hàng

Bước 2. Phân bổ chi phí SXC cho các hoạt động bổ trợ

Chi phí thiết lập dây chuyền sản xuất: 20,000 USD

Chi phí xử lý đơn đặt hàng: 30,000 USD

Bước 3. Xác định cost drivers của mỗi hoạt động

Cost driver của Hoạt động Thiết lập dây chuyền sản xuất là: Số lượng dây chuyền sản xuất

Cost driver của Hoạt động Xử lý đơn đặt hàng: Số lượng đơn đặt hàng

Bước 4. Tính tỷ lệ phân bổ cho cost driver

Tỷ lệ phân bổ của Số lượng dây chuyền sản xuất = 20,000 USD/20 = 1,000 USD/dây chuyền

Tỷ lệ phân bổ của Số lượng đơn đặt hàng = 30,000 USD/30 = 1,000 USD/đơn hàng

Hoạt động thiết lập dây chuyền sản xuất:

SP A: 1,000 USD/dây chuyền * 10 dây chuyền = 10,000 USD

SP B: 1,000 USD/dây chuyền * 10 dây chuyền = 10,000 USD

Xử lý đơn đặt hàng

SP A: 1,000 USD/đơn hàng * 20 đơn hàng = 20,000 USD

SP B: 1,000 USD/đơn hàng * 10 đơn hàng = 10,000 USD

Tổng giá thành sản xuất của SPA: 1,000/chiếc * (10 USD + 60 USD) + 10,000 USD + 20,000 USD = 100,000 USD

Giá thành đơn vị của SPA: 100,000 USD/1,000 chiếc = 100 USD/chiếc

Tổng giá thành sản xuất của SPB: 5,000/chiếc * (12 USD + 70 USD) + 10,000 USD + 10,000 USD = 61,000 USD

Giá thành đơn vị của SPB: 61,000 USD/500 chiếc = 122 USD/chiếc

(3) Phương pháp ABC Activity Based Costing khác biệt với các phương pháp tính giá thành khác như thế nào?

ABC: phân bổ chi phí SXC theo mức độ sử dụng các yếu tố làm phát sinh chi phí (cost drivers).

Marginal costing: xác định giá trị sản phẩm theo giá trị chi phí biến đổi (Variable costs) đã phát sinh để ra sản phẩm.

Target costing: Xác định chi phí mục tiêu (Target cost) bằng cách sử dụng Lợi nhuân biên mong muốn (Desired profit margin) và Giá bán mục tiêu (Target selling price)

(4) So sánh ABC & Absorption costing

Việc xác định chi phí NVLTT & NCTT: đây là các chi phí có thể xác định riêng cho từng sản phẩm mà không cần qua phân bổ. Do đó, sẽ không có sự khác biệt khi xđịnh 2 loại chi phí này theo 2 phương pháp ABC hoặc Absorption Costing.

Đối với chi phí SXC: sẽ có sự căn bản giữa 2 phương pháp, thể hiện ở các khía cạnh:

Phương pháp Absorption costing Phương pháp ABC Activity Based Costing

Tách CP SXC thành CP biến đổi & CP cố định. Và giả định:

Tách CP SXC theo các hoạt động hỗ trợ sản xuất (support activity). Ví dụ: chi phí thuê nhà xưởng, thuê máy móc, thuê điện nước.

– CP biến đổi sẽ biến đổi theo tỷ lệ với sự gia tăng của sản lượng sản xuất.

– CP cố định sẽ không thay đổi.

Nhưng giả định này là không thực tế. Vì CP biến đổi thường biến động nhiều hơn ở mức SX lớn. Và CP cố đinh thường sẽ tăng lên 1 mức mới khi sản xuất vượt ngưỡng sản xuất thông thường (step-cost).

Phân bổ chi phí SXC bằng cách giả định các chi phí SXC là có cùng bản chất. Có thể cộng gộp và phân bổ cho các sản phẩm theo 1 tỷ lệ phân bổ duy nhất. Thường là số giờ công lao động trực tiếp hay số giờ sản xuất sản phẩm.

Phân bổ chi phí SXC cho các sản phẩm theo mức độ sử dụng cost drivers (yếu tố phát sinh chi phí)

Ưu điểm: đơn giản, dễ thực hiện

Ưu điểm: kết quả phân bổ hợp lý; cung cấp được nhiều thông tin có ích

Nhược điểm: chi phí phân bổ cho các sản phẩm không hợp lý

Nhược điểm: mất thời gian, công sức, chi phí thực hiện

Điều quan trọng các bạn cần GHI NHỚ khi cần lựa chọn giữa phương pháp Absorption & Phương pháp ABC Activity Based Costing:

  • ABC: phù hợp khi quá trình SX/DV phức tạp. Tuy nhiên chi phí thực hiện có thể lớn hơn cả lợi ích mà nó mang lại. Và ABC chỉ có ích cho kế toán quản trị. Nên nếu công ty không cần các thông tin quản trị này thì ABC sẽ không hữu ích.
  • Absorption costing: phù hợp khi quá trình SX/DV đơn giản. Nếu chênh lệch của kết quả phân bổ theo 2 phương pháp là không lớn thì có thể Chỉ cầnlựa chọn tiêu chí phân bổ phù hợp cho Absorption costing là có thể khắc phục được vấn đề.

(5) Ưu nhược điểm của Phương pháp ABC Activity Based Costing

1. Phương pháp ABC phân tích chi phí SXC theo các hoạt động và yếu tố làm phát sinh chi phí. Do đó có thể cung cấp thông tin để xác định các điểm có thể cắt giảm chi phí. Cũng như đánh giá khả năng sinh lời của sản phẩm.

2. Phương pháp ABC Activity Based Costing phân bổ chi phí trên cơ sở mức độ sở dụng các yếu tố phát sinh chi phí. Do đó, ABC sẽ phù hợp với các quy trình SX phức tạp, yêu cầu nhiều tiêu chí phân bổ.

2. Không dễ dàng để xác định các hoạt động hỗ trợ/ các yếu tố làm phát sinh chi phí

3. Phương pháp ABC sẽ đưa ra kết quả phân bổ chính xác hơn là các phương pháp truyền thống. Bởi vì ABC sử dụng nhiều tiêu chí phân bổ cho từng loại chi phí.

3. Một hoạt động có thể có nhiều hơn 1 yếu tố gây chi phí

4. Phương pháp ABC có thể cung cấp thông tin giúp nhà quản lý đưa ra các quyết định về giá

4. Việc phân chia chi phí SXC cho các hoạt động hỗ trợ sẽ sử dụng tỷ lệ phân bổ giống như Absorption costing. Do đó, kết quả phân chia này có thể cũng không chính xác.

Câu 4. Các dạng câu hỏi/bài tập thường gặp?

Chủ đề này thường xuất hiện chính ở Section A và B cuả đề thi ACCA F5. Một số dạng câu hỏi/bài tập thường gặp là:

    Section A: Bạn có thể được yêu cầu để xác định/tính toán các yếu tố: cost driver; allocation rate; unit cost. Hoặc nhận diện ưu nhược điểm của phương pháp ABC, so sánh với Absorption costing.
    Section B: Các yêu cầu tương tự như Section A nhưng sẽ được gắn vào 1 tình huống cụ thể. Ví dụ như áp dụng phương pháp ABC trong công ty sản xuất, bệnh viện hay nhà hàng. Đừng quên câu hỏi yêu thích của ACCA: Công ty này có nên áp dụng phương pháp ABC hay không? tại sao?


【#5】Tài Liệu Tập Huấn Phương Pháp Tiếp Cận Phát Triển Cộng Đồng Dựa Vào Nội Lực Và Do Người Dân Làm Chủ (Phương Pháp Tiếp Cận Abcd)

TRUNG TÂM TRAO ĐỔI GIÁO DỤC VỚI VIỆT NAM

TÀI LIỆU TẬP HUẤN

PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

DỰA VÀO NỘI LỰC VÀ DO NGƯỜI DÂN LÀM CHỦ

(PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN ABCD)

Biên soạn

Nguyễn Đức Vinh

Đinh Thị Vinh

Kiên Giang, tháng 4 năm 2012

1

MỤC LỤC

PHẦN 1: PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG DỰA VÀO NỘI LỰC……. 2

1.

Giới thiệu phương pháp Phát triển cộng đồng dựa vào nội lực-ABCD ……………………………. 2

2.

Khái niệm về cộng đồng và phát triển cộng đồng…………………………………………………………… 6

3.

Nhu cầu và Nội lực ……………………………………………………………………………………………………… 8

4.

Sự tham gia trong phát triển cộng đồng…………………………………………………………………………. 9

5.

Các ảnh hưởng về mặt lý thuyết đến phương pháp ABCD……………………………………………. 12

PHẦN 2: KHÁM PHÁ CÁC NGUỒN LỰC VÀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN ……………… 16

1.

Tổng quan…………………………………………………………………………………………………………………. 16

2.

Công tác chuẩn bị: Thăm dò có chủ định …………………………………………………………………….. 16

3.

Công cụ 1: Phỏng vấn tích cực……………………………………………………………………………………. 17

4.

Công cụ 2: Câu chuyện thành công trong cộng đồng……………………………………………………. 18

5.

Công cụ 3: Tài sản cá nhân…………………………………………………………………………………………. 20

6.

Công cụ 4: Sơ đồ tổ chức trong cộng đồng ………………………………………………………………….. 23

7.

Công cụ 5: Bản đồ cộng đồng …………………………………………………………………………………….. 26

8.

Công cụ 6: Phân tích kinh tế cộng đồng………………………………………………………………………. 28

9.

Phát triển kinh tế cộng đồng thông qua các tổ chức dựa trên quyền hội viên………………….. 33

10. Vai trò của nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức phi chính phủ ………………………………………. 35

PHẦN 3: XÂY DỰNG KẾ HOẠCH……………………………………………………………………. 38

1.

Liên kết và huy động nguồn lực………………………………………………………………………………….. 38

2.

Động lực hành động…………………………………………………………………………………………………… 40

3.

Xây dựng tầm nhìn của Cộng đồng …………………………………………………………………………….. 41

4.

Lựa chọn cơ hội phát triển………………………………………………………………………………………….. 42

5.

Cơ hội và thách thức ………………………………………………………………………………………………….. 43

6.

Lưu ý khi áp dụng ABCD…………………………………………………………………………………………… 44

7.

Lập kế hoạch dựa vào nguồn lực ………………………………………………………………………………… 44

PHẦN 4: TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………………….. 54

PHẦN 5: TÀI LIỆU ĐỌC THÊM ……………………………………………………………………….. 55

PHẦN 6: MỘT VÀI HOẠT ĐỘNG ABCD Ở VIỆT NAM …………………………………… 58

1

PHẦN 1: PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG DỰA VÀO NỘI LỰC

mạnh, các tiềm năng của cộng đồng và lấy chúng làm đòn bẩy đề khơi dậy và hướng

dẫn người dân phát triển cộng đồng của họ.

Phương pháp tiếp cận dựa vào nội lực nhìn nhận khả năng của người dân và các tổ

chức tự nguyện của họ là nguồn lực xây lên một cộng đồng mạnh mẽ. Với cách nhìn

này, cộng đồng có thể gắn kết các sức mạnh theo một khối tổng hòa mới, các cơ hội

mới, các nguồn thu nhập và các khả năng mới khác cho phát triển sản xuất và phát

triển cộng đồng.

“Đối tượng thụ hưởng”có các nhu

cầu và thiếu hụt

” Người công dân” có các năng lực

và khả năng thiên phú

Ví dụ về nội lực tại địa phương

Người dân mắc các bệnh tật

thông thường

Cộng đồng có nhiều gia đình khỏe mạnh như là một hình

mẫu tích cực

Tình trạng nhà cửa tồi tàn

xuống cấp

Cá nhân trong cộng đồng có các kỹ năng xây dựng, có lịch

sử giúp đỡ nhau xây dựng và sửa chữa nhà cửa; có đất trống

và vật liệu xây dựng có sẵn ở địa phương.

Cộng đồng thiếu nguồn lực,

trông chờ các hỗ trợ của nhà

nước

Cộng đồng đã từng có một lịch sử tự hào về đoàn kết và cùng

nhau xây dựng cộng đồng (mà không cần nột sự hỗ trợ nào

từ bên ngoài)

Thu nhập của người dân thấp

Cá nhân có kỹ năng kinh doanh, gần chợ, có hội phụ nữ tích

cực, chính quyền địa phương sẵn sàng giúp đỡ, có các doanh

nghiệp trong vùng hỗ trợ kỹ thuật.

Thanh niên thiếu việc phải rời

quê đi làm ở các thành phố

Có các cơ hội kinh tế, có người trở về với cách làm ăn mới,

có thêm nguồn thu nhập khác cho gia đình

4

1.3 Người công dân và các tổ chức tự nguyện

Phương pháp tiếp cận ABCD nhấn mạnh vào vai trò tích cực của các thành viên trong

cộng đồng với tư cách là những công dân. Các cá nhân thể hiện mình là công dân khi

họ chịu trách nhiệm khởi xướng các hoạt động xây dựng cộng đồng trước khi có các

hỗ trợ từ bên ngoài hay của cơ quan chính quyền. Quá trình phát triển này thông qua

các tổ chức chính thức hay nhóm tự nguyện trong cộng đồng để cùng nhau tiến hành

các hoạt động phát triển cộng đồng. Dần dần, hoạt động của họ vượt ra khỏi mục đích

thành lập ban đầu và đóng vai trò chính trong quá trình phát triển, liên kết các hoạt

động của nó với các tổ chức kinh tế và chính quyền trong khu vực. Các tổ chức tự

nguyện có thể kể đến là câu lạc bộ phụ nữ giúp nhau làm kinh tế, nhóm tiết kiệm tín

dụng, nhóm thanh niên làm ăn giỏi, hội nuôi ong hay hội hưu trí, hội bảo thọ… Đây có

thể được coi là một dạng tổ chức cộng đồng cơ bản nhằm trao quyền cho các cá nhân

cũng như huy động các khả năng của họ. Phương pháp tiếp cận ABCD chú trọng đến

việc huy động các tiềm năng và thế mạnh của các tổ chức này trong xây dựng và phát

triển cộng đồng.

Hai phương tiện để xây dựng cộng đồng

và sự khác biệt giữa chúng

Các nhóm hội/tổ chức tự

nguyện

Các tổ chức chính quyền/chính thống

Cấu trúc

Không chính thức, luân phiên.

Hội viên quyết định phương

hướng hành động và bầu ra ban

điều hành

Chính thức, theo hệ thống cấp bậc

Được tổ chức để thực thi các nhiệm vụ

khác nhau. Bổ nhiệm, phân công các ban

điều hành, quản lý

Hình thức tham gia

Tự nguyện, không có lương

Có lương

Phương thức hoạt

động

Hoạt động dựa trên sự tham gia

tự nguyện, dân chủ

Hoạt động dựa trên các nguyên tắc, qui

định và hiệu lực

Hình thức truyền

tải thông tin

Các câu chuyện, mẩu chuyện,

kinh nghiệm thực tế

Các nghiên cứu, số liệu, các điều tra

Vai trò thành viên

Trung gian, hướng dẫn

Quản lý, chuyên gia

Phương thức phân

quyền

Đồng thuận, ngang bằng, bình

đẳng

Tập trung quyền kiểm soát vào những

người lãnh đạo

Tập trung đến

người dân như

Công dân, thành viên, người

đóng góp

Khách hàng, đối tượng hưởng thụ, người

tiêu dùng

Động lực hành

động

Mơ ước, lo lắng, muốn thay đổi Điều khoản qui định trong hợp đồng lao

một điều gì đó tốt đẹp hơn, cải động, sự phân công giao trách nhiệm, sự

thiện tình hình khó khăn…..

thăng tiến trong nghề nghiệp….

5

Tóm tắt nguyên lý chung của Phương pháp tiếp cận ABCD

 Một cách tiếp cận mới trong phát triển cộng động mang tính tích cực, bắt đầu từ

việc khơi dậy và phát huy những điểm mạnh, năng lực vốn có và thành công của

cộng đồng làm điểm bắt đầu của sự thay đổi. Từ đó xây dựng một tầm nhìn dài

hạn cho cộng đồng với các kế hoạch phát triển cộng đồng cụ thể, phù hợp với

các nguồn lực sẵn có.

 Một chiến lược cho sự phát triển bền vững: Phát triển vận động từ bên trong ra,

dựa vào nội lực trước khi tìm kiếm các hỗ trợ từ bên ngoài, liên kết nguồn lực

bên trong với môi trường bên ngoài.

 Nội lực của cộng đồng gồm năm nguồn lực chính: con người, tài chính, cơ sở

vật chất-hạ tầng, tài nguyên thiên nhiên và vốn xã hội. Tài sản xã hội được đưa

vào trọng tâm của huy động nội lực, tập trung vào các mối liên kết và năng lực

hợp tác của các nhóm, tổ chức trong cộng đồng.

 Cơ sở chủ yếu của phương pháp là sự tham gia của người dân như một công

dân tích cực.

 Các tổ chức bên ngoài cộng đồng (như các tổ chức phi chính phủ, cơ quan phát

triển của chính phủ…) chỉ đóng vai trò hỗ trợ, thúc đẩy, hoặc là cầu nối để giúp

cộng đồng có thể liên kết và huy động các hỗ trợ từ bên ngoài cho các hoạt

động của họ. Cộng đồng địa phương được trao quyền ở cấp độ cao nhất, từ việc

lập kế hoạch, ra quyết định và thực hiện các hoạt động, họ “cầm lái” quá trình

phát triển của mình.

 Sử dụng tổng hợp các kỹ thuật để phân tích, huy động và liên kết các nguồn lực

vì phát triển cộng đồng.

2. Khái niệm về cộng đồng và phát triển cộng đồng

Cộng đồng gồm những người có đặc điểm hoặc mối quan tâm, lợi ích chung.

 Cộng đồng địa lý:

Cùng điạ bàn, cùng lợi ích hoặc mối quan tâm

Chung đặc điểm văn hóa-xã hội

Có mối quan hệ ràng buộc

 Cộng đồng chức năng:

Cùng hoặc không cùng điạ phương hoặc địa bàn cư trú

Có cùng lợi ích (nghề nghiệp, sở thích, hợp tác,…)

Cộng đồng được đặc trưng bởi sự gắn kết các quan hệ, sự hỗ trợ lẫn nhau, sự tôn trọng,

chia sẻ, chấp nhận nhau và ý thức về lòng tự hào chung. Nó tạo ra các cơ hội và sự tự

6

do lựa chọn cho mọi người, tôn trọng sự đa dạng, cộng tác để chia sẻ trách nhiệm vì

mục đích chung.

Phát triển là quá trình cải thiện về số lượng và chất lượng, về vật chất và tinh thần

nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của các thành viên trong cộng đồng.

Phát triển cộng đồng

Khái niệm Phát triển Cộng đồng được Chính phủ Anh sử dụng đầu tiên, 1940:

“Phát triển Cộng đồng là một chiến lược phát triển nhằm vận động sức dân trong các

cộng đồng nông thôn cũng như đô thị để phối hợp cùng những nỗ lực của nhà nước để

cải thiện cơ sở hạ tầng và tăng khả năng tự lực của cộng đồng”

Định nghĩa của LHQ, 1956:

“Phát triển Cộng đồng là những tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ

lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của các cộng

đồng và giúp các cộng đồng này hội nhập và đóng góp vào đời sống quốc gia”

Theo Th.S Nguyễn Thị Oanh, 1995:

“Phát triển Cộng đồng là một tiến trình làm chuyển biến cộng đồng nghèo, thiếu tự tin

thành cộng đồng tự lực thông qua việc giáo dục gây nhận thức về tình hình, vấn đề

hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tài nguyên sẵn có, tổ chức các hoạt động tự

giúp, bồi dưỡng và củng cố tổ chức và tiến tới tự lực phát triển”

Phát triển cộng đồng do người dân làm chủ

Phát triển cộng đồng do người dân làm chủ thực sự là sự phát triển khi các tổ chức bên

ngoài đóng vai trò thứ yếu. Một số cá nhân tiêu biểu trong cộng đồng đóng vai trò xúc

tác cho quá trình phát triển. Họ là những người lãnh đạo của phong trào, có khả năng

khơi dậy lòng tự hào và cơ hội phát triển, nhận ra các nội lực của cộng đồng, các tiềm

năng khác của bà con họ hàng sống xa quê cũng như các tổ chức khác bên ngoài cộng

đồng và sử dụng chúng cho công cuộc phát triển.

Các ví dụ về phát triển cộng đồng do người dân làm chủ thành công thường là kết quả

của việc gây dựng hoặc tái gây dựng các hoạt động phát triển kinh tế cộng đồng theo

hướng từ bên trong ra. Sự thành công trong việc huy động các nội lực cho phát triển

không chỉ tạo sự tự tin và năng lực để tiếp tục thực hiện thêm các họat động khác mà

còn thu hút được sự quan tâm hỗ trợ của các tổ chức bên ngoài cộng đồng.

Các đặc điểm chung của Phát triển cộng đồng do người dân làm chủ:

1) Cộng đồng địa phương chủ động huy động nội lực trước khi tìm kiếm các hỗ trợ từ

bên ngoài.

7

2) Người dân trong cộng đồng (không phải các cơ quan chính phủ hay các tổ chức phi

chính phủ) là tâm điểm của việc khởi xướng, thiết kế và thực hiện các hoạt động phát

triển.

3. Nhu cầu và Nội lực

Thuật ngữ: nguồn lực, vốn và tài sản của cộng đồng

Trong các nghiên cứu về phát triển cộng đồng và các phương pháp tiếp cận phát triển

dựa vào cộng đồng có nhắc nhiều đến từ: tài sản, nguồn lực, vốn của cộng đồng.

Thông thường tài sản được hiểu là bất cứ vật gì mình sở hữu và có khả năng trao đổi

được. Trong từ điển tiếng Việt “Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất

hoặc tiêu dùng” Trong phương pháp ABCD tài sản (assets) được dùng với nghĩa rộng

hơn, tài sản được hiểu là tất cả những gì mà cộng đồng có thể sử dụng được để phát

triển cộng đồng của mình, làm cho nó năng suất hơn. Trong tài liệu sử dụng từ tài sản

hay nguồn vốn đều có cùng một nghĩa.

Nhà nghiên cứu Bebbington đã viết: “Các tài sản….. không chỉ là các nguồn lực giúp

người dân tạo lập sinh kế mà nó còn cho họ năng lực để hành động”. Phương pháp

ABCD tập trung vào phát huy các nội lực sẵn có, qua đó nâng cao năng lực sử dụng và

quản lý các nguồn tài sản hiệu quả nhất để phát triển cộng đồng.

Có 6 loại tài sản được phân tích và tổng hợp gồm:

– Vốn Con người

– Vốn tự nhiên

– Vốn vật chất

– Vốn tài chính

– Vốn xã hội

– Vốn văn hóa

 Vốn Con người: là những người dân trong cộng đồng với các kiến thức, kỹ

năng, sáng kiến, sức lao động của họ.

 Vốn tự nhiên: tài nguyên thiên nhiên như đất đai, khí hậu, nguồn nước, sông

ngòi, rừng núi, khoáng sản, động thực vật. Ví dụ như đất cao nguyên phù hợp

trồng cây cà phê, khí hậu nhiệt đới có thể trồng các loại rau quanh năm.

8

 Vốn vật chất: là những cơ sở vật chất trong cộng đồng như đường giao thông,

trạm điện, trường học, công sở, kênh mương; các phương tiện sản xuất, giao

thông liên lạc, năng lượng; nhà cửa của người dân.

 Vốn tài chính: gồm các nguồn tài chính của cá nhân và các tổ chức, các doanh

nghiệp, các cơ sở sản xuất trong cộng đồng hoặc ngoài cộng đồng mà có mối

liên hệ với cộng đồng.

 Vốn xã hội: Định nghĩa của Ngân hàng Thế giới 1999 “Tài sản xã hội xem xét

các thể chế, các quan hệ và quy tắc để định hình cho chất lượng và số lượng các

quan hệ xã hội… Tài sản xã hội không phải là tổng của các các tổ chức đã tạo

nên xã hội mà là chất kết dính chúng lại với nhau”.

Vốn xã hội gồm những mối quan hệ giữa con người. Đó là:

 Các nhóm, tổ chức, thể chế và các mối quan hệ giữa các tổ chức và cá nhân,

giữa cá nhân và cá nhân, những mạng lưới hỗ trợ người dân.

 Môi trường xã hội với những quy tắc, chính sách của nhà nước.

 Vốn văn hóa: giá trị vật thể và phi vật thể giúp cộng đồng trong quá trình phát

triển. Đó là truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, tình làng nghĩa xóm, tính

cộng đồng, câu chuyện thành công của cộng đồng cùng nhau vượt qua khó khăn

để phát triển.

Vai trò của vốn xã hội (các mối quan hệ xã hội)

Vốn xã hội có một vai trò rất quan trọng mở đường cho việc tiếp cận đến các nguồn

lực khác. Có hai hình thái vốn xã hội được các nhà nghiên cứu đề cập đến trong các

nghiên cứu của họ là vốn xã hội mang tính ràng buộc hay mối quan hệ họ hàng giữa

anh em, bà con, họ hàng, làng xóm ở bên trong cộng – mối quan hệ giúp chúng ta tồn

tại hiện hữu trong cộng đồng. Vốn xã hội thứ hai là các mối quan hệ bắc cầu từ nội tại

bên trong cộng đồng ra các cộng đồng khác – mối quan hệ thông qua quen biết, bạn bè

sống ở bên ngoài cộng đồng giúp chúng ta cải thiện các khả năng về sinh kế.

Tâm điểm của phương pháp ABCD và các phương pháp tiếp cận dựa trên nội lực khác

có vai trò quan trọng của các tổ chức tự nguyện và mạng lưới các nguồn vốn xã hội.

Hai yếu tố này tạo nên một kết cấu hòa quyện giữa đời sống cộng đồng và các nỗ lực

mang tính tập thể của cộng đồng. Chính trong đời sống kết giao này, cộng đồng thể

hiện được năng lực hành động như những công dân có trách nhiệm làm thay đổi và

duy trì các mối quan hệ xã hội.

4. Sự tham gia trong phát triển cộng đồng

Tham gia là có vai trò nhất định trong hoạt động nào đó. Sự tham gia trong phát

triển cộng đồng nhấn mạnh vào tầm quan trọng về vai trò của người dân trong việc

9

nắm giữ toàn bộ quá trình phát triển của cộng đồng mình. Chỉ có sự tham gia thực sự

mới tạo ra khả năng để hành động.

Tuy nhiên, nhiều khi chúng ta nhìn người dân được tham gia rất ít trong quá trình phát

triển cộng đồng của họ. Như vậy trong các trường hợp này chúng ta có thể nói rằng

quá trình phát triển cộng đồng này được gắn mác là “có sự tham gia”. Michael Woost

(1997) đã đưa ra một ví dụ minh họa về sự gắn mác này trong bài viết của mình:

Người dân nghèo (đuợc phép) tham gia trong quá trình phát triển chỉ

trong chừng mực mà họ không cố gắng thay đổi qui luật của cuộc

chơi……Điều này giống như ngồi trên một cỗ xe phát triển theo hướng

từ trên xuống với những bánh xe được bôi trơn bằng những từ ngữ

phát triển từ dưới lên.

Các hình thức tham gia từ thấp đến cao

Tham gia thụ

động

Tham gia như

những người

đóng góp

Người dân tham gia bằng hình thức cung cấp thông tin, đóng góp vật

chất hoặc sức lao động cho dự án. Họ cũng có thể tham gia vào giai đọan

thiết kế dự án nếu có, nhưng với vai trò không đáng kể.

Người dân sẽ được tham vấn về các vấn đề hay cơ hội của cộng đồng

Tham gia như

mình và về cách dự án sẽ được thiết kế. Tuy nhiên quyết định dự án sẽ

những người

thiết kế như thế nào lại là do các chuyên gia phát triển cộng đồng thực

được tham vấn

hiện.

Tham gia thực

hiện các hoạt

động

Người dân tham gia bằng cách thành lập nhóm để thực hiện các hoạt

động của chương trình hay dự án. Người dân không được tham gia vào

quá trình ra quyết định. Các nhóm này có xu hướng phụ thuộc vào các

chuyên gia phát triển cộng đồng khởi xướng công việc hoặc hướng dẫn

cho họ. Tuy nhiên về lâu dài họ cũng sẽ duy trì các họat động này.

10

Người dân tích cực tham gia trong quá trình phân tích và lập kế hoạch

Tham gia trong cùng với các chuyên gia phát triển cộng đồng. Họ được tham gia vào

quá trình ra

việc ra quyết định ở cấp địa phương. Các tổ chức mới được thành lập

hoặc các tổ chức sẵn có được củng cố và người dân phần nào được tham

quyết định

gia trong việc duy trì cơ cấu và hoạt động của các tổ chức này.

Đây là sự tham gia ở cấp độ cao nhất, khi người dân chủ động bắt đầu

Tự vận động và các ý tưởng và sáng kiến phát triển cộng đồng của mình một cách độc

lập đối với các tổ chức bên ngoài cộng đồng. Họ có thể tranh thủ thêm

làm chủ quá

trình phát triển sự hỗ trợ của các chuyên gia phát triển cộng đồng nhưng luôn duy trì

kiểm soát toàn bộ quá trình phát triển của cộng đồng họ.

Các cấp độ của sự tham gia và cấp độ mà phương pháp ABCD hướng đến:

Tự vận động

và làm chủ

quá trình

phát triển

Tham gia

trong quá

trình ra

quyết định

Tham gia thực

hiện các hoạt

động

ABCD

11

nguyên thiên nhiên” cũng như là các quá trình và cấu trúc lớn hơn (bao gồm các cơ

quan, tổ chức, chính sách và luật pháp) tạo nên các sinh kế của người dân.

Phương pháp ABCD cũng tập trung xác định và phân tích 5 nguồn lực (in nghiêng

phía trên) của cộng đồng và liên kết chúng một cách chặt chẽ để tạo một tổng lực giúp

người dân hiện thực hóa các cơ hội phát triển trong nhiều lĩnh vực khác nhau bao gồm

cả sinh kế.

Sơ đồ minh họa Tiếp cận sinh kế bền vững

Bối cảnh dễ

tổn thương

Tài sản và nguồn lực

Con người

Xã hội

Vật chất

Tự nhiên

Chiến lược Sinh kế bền vững

Tài chính

Gây dựng tài sản (nội lực)

Nhà nghiên cứu Bebbington đã viết: “Các tài sản….. không chỉ là các nguồn lực giúp

người dân tạo lập sinh kế mà nó còn cho họ năng lực để hành động”. Phương pháp

ABCD tập trung vào phát huy các nội lực sẵn có để phát triển cộng đồng, qua đó nâng

cao năng lực sử dụng và quản lý các nguồn tài sản của cộng đồng có hiệu quả nhất.

Một khi cộng đồng phát triển, một số tài sản cũng phát triển lớn mạnh hơn, tạo cho

người dân tự tin và có khả năng thực hiện nhiều hành động để tiếp tục phát triển cộng

đồng hơn nữa. Gây dựng tài sản ở nghĩa rộng hơn là tạo một môi trường giúp năng lực

được sinh ra và duy trì để tiếp tục các hành động.

Phát triển kinh tế cộng đồng: Lý luận và thực tiễn

Phương pháp tiếp cận ABCD là một chiến lược cho phát triển kinh tế cộng đồng theo

định hướng của người dân.

14

Cho đến hiện tại, lý thuyết về phát triển kinh tế cộng đồng (KTCD) dựa chủ yếu vào lý

thuyết phát triển cộng đồng hơn là lý thuyết về kinh tế.

Ba mô hình phát triển của phát triển kinh tế cộng đồng (KTCD)

Qúa trình phát triển

Ngoại sinh

Nội sinh

Tập trung vào cải cách

các hệ thống kinh tế

Tập trung vào năng lực

kinh tế của các cá nhân

Tập trung vào năng lực

kinh tế của các nhóm

KTCĐ là các phương

tiện phát triển KT

KTCĐ là các phương tiện

tăng cường năng lực của

người nghèo để trở nên

tự lực hơn.

KTCĐ là các phương tiện

để tăng cường trao quyền cho

các cá nhân và tập thể, và quản

lý các nguồn lực địa phương

Cộng đồng được xác

định chặt chẽ bởi

các địa giới hành chính

Cộng đồng có xu hướng

xác định theo qui mô nhân

khẩu học-tập trung vào những

người có kinh tế khó khăn

Cộng đồng được tự xác định theo một nhóm có cùng chung

một cam kết nào đó

Sự tư hữu hóa các nguồn

lực

Dịch vụ hỗ trợ, khuyến

khích phát triển KT

Cải cách hệ thống tài chính

Các tổ chức tài chính vi mô

Thu hút phát triển công

nghiệp

Phát triển kỹ năng làm chủ

doanh nghiệp

Quản lý các nguồn lực

dựa vào cộng đồng

Các ngân hàng thôn,

liên hiệp tín dụng, HTX

tín dụng và tiết kiệm

Phát triển các HTX,

doanh nghiệp cộng

đồng

ABCD hướng tới khu

vực này trong phát triển

Kinh tế cộng đồng

15

PHẦN 2: KHÁM PHÁ CÁC NGUỒN LỰC VÀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN

1. Tổng quan

Không có “công thức” hay “qui trình chuẩn tắc” cho phương pháp tiếp cận ABCD,

nhưng có một nguyên tắc chung khi áp dụng phương pháp này là cộng đồng nhận ra

được nội lực (các tài sản) và các cơ hội phát triển. Đây là các động cơ để thúc đẩy họ

chủ động huy động và sử dụng các nội lực nhằm phát triển cộng đồng. Dựa trên

nguyên tắc này, các tổ chức có thể quyết định sử dụng các công cụ và phương pháp

phù hợp sao cho có thể giúp người dân trong cộng đồng tự tổ chức lại với nhau để xác

định, huy động và liên kết các nguồn lực cho phát triển.

Phương pháp tiếp cận ABCD thường bắt đầu với việc tạo sự hứng khởi và tinh thần

phấn chấn cho người dân thông qua kỹ thuật phỏng vấn tích cực (như phỏng vấn theo

nhóm, kể các câu chuyện thành công trong quá khứ…)

2. Công tác chuẩn bị: Thăm dò có chủ định

Bước này nên được triển khai càng sớm càng tốt để quyết định chọn cộng đồng chúng

ta sẽ triển khai công việc. Bước này bao gồm các công việc chính sau:

 Xác định cộng đồng có khả năng quan tâm đến phương pháp tiếp cận này

 Xây dựng các mối quan hệ với cộng đồng được lựa chọn

 Thu thập các thông tin cơ bản về cộng đồng (các thông tin mang tính định lượng

là chủ yếu như qui mô dân số, diện tích đất đai canh tác, số hộ giầu nghèo……)

Để làm được các công việc này, chúng ta cần phải xây dựng một mẫu điều tra cơ bản

để thu thập các thông tin. Điều này không những giúp chúng ta đánh giá sơ bộ được

liệu cộng đồng có các điều kiện hỗ trợ cho phương pháp tiếp cận này không mà còn là

cơ sở để sử dụng cho các hoạt động đánh giá sau này.

Một số công cụ sử dụng để xác định các nguồn lực cộng đồng

 Thu thập câu chuyện thành công trong quá khứ để xây dựng động lực thúc

đẩy các hoạt động hiện tại và tương lai.

 Lập sơ đồ kỹ năng cá nhân để xác định Nguồn lực về con người (nhân lực)

16

 Lập sơ đồ các tổ chức cộng đồng (Sơ đồ VENN) để xác định Nguồn lực xã hội

 Lập bản đồ cộng đồng để xác định Nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên và

Nguồn lực về vật chất (cơ sở hạ tầng)

 Phân tích kinh tế cộng đồng (Xô nước rò rỉ) để xác định Nguồn lực tài chính

của cộng đồng

3. Công cụ 1: Phỏng vấn tích cực

Ý nghĩa

– Phỏng vấn tích cực (Appciative Inquiry) là nghệ thuật đặt câu hỏi để được câu trả

lời tích cực. Đó là một chiến lược cho sự thay đổi có chủ định dựa vào điểm mạnh,

mặt tích cực của mỗi cá nhân, của nhóm hay của tổ chức.

– Phỏng vấn tích cực sẽ là điểm khởi đầu của quá trình xây dựng mối quan hệ,

khuyến khích người dân trong cộng đồng chia xẻ và tôn vinh các sáng kiến, kinh

nghiệm thành công để có các thái độ, hành động tích cực đối với các họat động vì

lợi ích cộng đồng.

– Phỏng vấn tích cực sẽ tạo suy nghĩ tích cực, giúp chúng ta nhìn ra lợi ích có trong

mọi hoàn cảnh, nhìn nhận thực tế với các nhân tố tích cực để giải quyết vấn đề.

Mục đích

– Phát hiện những điểm mạnh, kinh nghiệm, sáng kiến của cá nhân và của cộng đồng

đã góp phần đem lại sự thành công.

– Khơi dậy niềm tự hào và tự tin của cá nhân vào bản thân và cộng đồng.

Thời lượng

Hướng dẫn và thực hành tại lớp:

60 phút

Chuẩn bị

Địa điểm:

Phương tiện, dụng cụ:

lớp học, nhà dân, cộng đồng

bảng viết, phấn, bút dầu

4. Công cụ 2: Câu chuyện thành công trong cộng đồng

Ý nghĩa

– Đây là bước đầu tiên để phát hiện tiềm năng của cộng đồng bằng cách kể các câu

chuyện thành công trong quá khứ khi người dân chủ động triển khai các hoạt động

mà không có hoặc có rất ít hỗ trợ từ bên ngoài để hoàn thành công việc.

– Thông qua các câu chuyện thành công của cộng đồng trong quá khứ khơi dậy niềm

tự hào, các giá trị và tinh thần cộng đồng của người dân để khuyến khích họ phát

huy sáng kiến tham gia tích cực vào các hoạt động phát triển hiện nay.

Mục đích

– Giúp cho người dân trong cộng đồng nhớ lại những câu chuyện thành công trong

lịch sử phát triển của họ, cùng nhau nhận diện được yếu tố tích cực, điểm mạnh của

họ.

– Phân tích mối liên hệ giữa nguồn lực trong cộng đồng và những thành quả đạt được

trong quá khứ.

– Kết quả của bước này sẽ giúp phát hiện được các nhóm tình nguyện, các cá nhân có

vai trò tiên phong và chỉ đạo việc thực hiện các hoạt động cũng như cách huy động

sự tham gia của các thành viên trong cộng đồng.

Thời lượng

Hướng dẫn và thực hành tại lớp:

90 phút

Thực hành tại cộng đồng:

1 – 2 tuần gặp gỡ cá nhân, họp các nhóm

và chia sẻ câu chuyện thành công

18

Chuẩn bị

Địa điểm:

Phương tiện, dụng cụ:

lớp học, nhà dân, cộng đồng

bảng viết, phấn, giấy.

Kỹ thuật tiến hành

– Công cụ sử dụng là phương pháp phỏng vấn tích cực.

– Có thể bắt đầu bằng tổ chức họp nhóm nhỏ trong cộng đồng hoặc phỏng vấn cá

nhân. Để giúp những người dân có thể nhớ lại và kể các câu chuyện một cách rõ

ràng, chúng ta có thể hỏi các câu hỏi sau đây:

o Trong những năm vừa qua, các bác các anh chị đã cùng nhau thực hiện các

công việc nào tại cộng đồng mà chúng ta cảm thấy tự hào nhất.

o Các bác các anh chị hãy kể về một dự án thành công đem lại lợi ích cho cộng

đồng mà không có sự hỗ trợ từ bên ngoài.

o Các bác các anh chị hãy kể về thời điểm trong lịch sử phát triển của cộng

đồng mình mà các bác các anh chị thấy tự hào.

– Phân tích thành công: Đưa ra câu hỏi gợi mở mối liên hệ giữa nguồn lực trong cộng

đồng và thành quả đạt được.

o Ai là những người đóng vai trò đặc biệt quan trọng để làm nên thành công

này? Vai trò của các bác các anh chị là gì? Vai trò của người khác trong cộng

đồng là gì? Ai là người khởi xướng? Họ có điều gì đặc biệt để có thể vận

động người khác tham gia? (thông qua lời kể, hãy ghi lại các điểm mạnh, kỹ

năng cá nhân, kinh nghiệm, các mối quan hệ trong cộng đồng hay vai trò

lãnh đạo dẫn đến sự thành công).

o Tình hình lúc đó thế nào? (thông qua lời kể, hãy ghi lại các tình hình về môi

trường, không gian, thời gian, thời tiết, giá trị văn hóa, chính sách của nhà

nước … tại thời điểm đó và sự tác động tích cực của các yếu tố này dẫn đến

sự thành công)

o Anh/chị suy nghĩ gì sau khi kể lại những chuyện thành công đó?

o Những thành công trong quá khứ giúp gì cho sự phát triển của cộng đồng

hiện nay?

Lưu ý: Mỗi cộng đồng đều có những câu chuyên thành công. Đó là câu chuyện chị em phụ nữ

khu dân cư giúp nhau xóa đói giảm nghèo, đó là dự án đào tạo nghề miễn phí cho người khuyết

tật hay câu chuyện về người nông dân cùng nhau đào mương chống hạn. Những câu chuyện này

đều có điểm chung là họ đã sử dụng những tài sản có sẵn trong cộng đồng để cùng nhau vượt qua

khó khăn đem lại sự thay đổi tích cực. Đây sẽ là sự bắt đầu quan trọng trong quá trình phát triển

cộng đồng do người dân làm chủ. Trong các hoạt động này vai trò của người lãnh đạo và nhóm

nòng cốt tại cộng đồng rất quan trọng để tổ chức các nguồn lực góp phần dẫn tới sự thành công.

19


【#6】Activity Based Costing Là Gì? Phương Pháp Tính Abc?

Dạo này mình có tìm hiểu về activity based costing, thực sự là đôí với mình nó khá là khó hiểu, nhưng mất thời gian để tìm hiểu thì nó thật sự là hay. Đây là phương pháp mà ở Việt Nam áp dụng ít vì tính khó hiểu khó áp dụng và tốn nhiều nguồn lực để phát triển nó. Các sếp Việt thì :P. Đại để vè phương pháp thì là để tính giá của 1 sản phẩm thì 1 số chi phí gián tiếp ( indirect) đo lường rất khó để tính ra giá thành của sản phẩm như là legal fees, bạn nào học kế toán thì hẳn biết S&GA…. bằng phương pháp này ta có thể tính được giá thành gián tiếp của việc chế tạo sản phẩm vào sản phẩm 😀 Ở nước ngoài, hoạt động này được thực hiện 1 cách đều đặn hơn cũng như lean, sig sigma hay kaizen 5s, vì ở đó vốn, nguồn lực công nghệ là như nhau hoặc chênh rất ít nên để cạnh tranh được gay gắt hơn thì phải cạnh tranh bằng giá rồi. Thế nên tính toán được chính xác giá sản phẩm bằng ABC giúp cho doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn thay vì chỉ tính giá tương đối của sản phẩm chứ không phải giá chính xác, bài viết dưới mình thầy hay quá nên copy lưu lại :D. Nao có thời gian mình sẽ viết 1 bài hoàn chỉnh về phương pháp này 😀

So với các phương pháp truyền thống, phương pháp ABC (Activity-Based Costing) trước hết quy tập toàn bộ chi phí gián tiếp (các chi phí khác chi phí nguyên liệu trực tiếp, và chi phí lao động trực tiếp) đối với mỗi hoạt động của tổ chức, sau đó phân bổ các chi phí theo hoạt động này vào từng sản phẩm, dịch vụ, hay vào các đối tượng tạo ra hoạt động đó, thông qua các kích tố chi phí (cost driver).

Trong phương pháp truyền thống, tỷ lệ tổng chi phí gián tiếp phân bổ vào thành phẩm thường phụ thuộc vào tỷ lệ của tổng số giờ lao động trực tiếp cần có để làm ra thành phẩm đó. Còn trong ABC, các hoạt động gián tiếp đáng chú ý (như chạy máy, lắp ráp, kiểm tra chất lượng,…) được xác định bởi giám đốc vận hành. Sau đó, chi phí cho các nguồn lực gián tiếp đã tiêu dùng để thực hiện các hoạt động đó sẽ được truy nguyên theo hoạt động thông qua kích tố chi phí thích hợp. Cuối cùng, tập hợp các chi phí của từng hoạt động sẽ được phân bổ tiếp về các thành phẩm thông qua các kích tố chi phí hợp lý khác. Nói một cách hình tượng hơn, hệ thống ABC xé nhỏ chiếc bánh chi phí gián tiếp thành các mẩu bánh tương ứng với mỗi hoạt động nhất định.

Đến đây, có lẽ các bạn vẫn cảm thấy khá mông lung về ABC. Một ví dụ có lẽ sẽ làm sáng tỏ hơn vấn đề. Từ những năm cuối của thập kỷ 80, công ty Elgin Sweeper của Bắc Mỹ đã áp dụng ABC như sau:

  • Bước đầu tiên là nghiên cứu các hoạt động tạo phí, lập danh sách các đơn vị tính phí có thể, cho mỗi hoạt động. Các đơn vị tính phí của Elgin bao gồm: tiền công lao động ($), giờ lao động, số lượng hàng gửi đi, số lượng thành phẩm, số đơn đặt hàng, doanh thu, ngày làm việc, thông báo thay đổi kỹ thuật, thời gian lao động kỹ thuật,… Các chi phí thay đổi với từng đơn vị tính phí được nhận dạng và tính toán.
  • Tiếp theo, Elgin thiết lập báo cáo về dây truyền sản xuất cho phép đánh giá hiệu quả của các quyết định phân bổ nguồn lực. Kết quả của việc áp dụng hệ thống xác lập chi phí là sự tham gia của các giám đốc sản xuất vào việc nhận dạng kích tố chi phí và sự xoá bỏ các hoạt động không tạo ra giá trị gia tăng.

Gợi ý các bước xác lập hệ thống ABC:

    1. Quan hệ nhân quả hợp lý giữa kích tố chi phí và lượng tiêu hao nguồn lực.
    2. Dữ liệu về kích tố chi phí có thê thu thập được.
  1. Phát triển một sơ đồ quá trình, biểu thị các luồng hoạt động, nguồn lực và mối quan hệ qua lại giữa chúng. Việc xác định mối quan hệ qua lại là một bước rất quan trọng, rất cần thiết thông qua các nhân viên chuyên môn.
  2. Tính toán và diễn dịch các thông tin mới dựa trên hoạt động.

Có thể thấy rằng, phương pháp ABC có thể biến một chi phí gián tiếp thành một chi phí trực tiếp với một đối tượng tạo phí xác định. Việc lựa chọn các hoạt động và kích tố chi phí hợp lý cho phép các nhà quản lý truy nguyên nhiều chi phí gián tiếp như họ đã làm với chi phí nguyên liệu trực tiếp hay chi phí lao động trực tiếp. Vì xác định được nhiều chi phí trực tiếp hơn so với cách thức truyền thống, ABC giúp nhà quản lý có được những báo cáo về chi phí sản phẩm và dịch vụ với độ tin cậy cao hơn nhiều.

Phương pháp ABC phức tạp và tất nhiên là tốn kém hơn các phương pháp truyền thống, vì vậy không phải bất cứ công ty nào cũng đủ điều kiện áp dụng. Tuy nhiên, ABC sẽ là xu hướng tất yếu đối với quản trị bởi:

  • Năng lực cạnh tranh dựa trên chi phí giảm thiểu đòi hỏi phải có những số liệu chính xác hơn về chi phí, tránh tình trạng lợi nhuận giả tạo.
  • Sự đa dạng hoá ngày một tăng của các sản phẩm và dịch vụ cùng với độ phức tạp của các phân đoạn thị trường. Vì thế, việc tiêu dùng các nguồn lực cũng sẽ thay đổi theo các sản phẩm và dịch vụ.
  • Chu kỳ sống của sản phẩm trở nên ngắn hơn do tốc độ phát triển của công nghệ làm công ty không đủ thời gian điều chỉnh giá cả và chi phí.
  • Xác định đúng chi phí là một phần quan trọng của việc ra quyết định kinh doanh. Thiếu nó, sự chuẩn xác của quyết định sẽ giảm thiểu.
  • Cách mạng trong công nghệ máy tính đã làm giảm được chi phí về tiền bạc lẫn thời gian cho việc phát triển và vận hành hệ thống xác lập chi phí có khả năng truy nguyên nhiều hoạt động.

Nguồn: Sưu tầm.


【#7】Phương Pháp Phân Tích Abc Trong Quản Lý Tồn Kho

Phân tích ABC

Trong quản lý sản xuất thì việc quản lý nguyên vật liệu là một công việc vô cùng quan trọng. Phương pháp phân tích ABC là một kỹ thuật phân loại hàng tồn kho.

Trong quản lý nguyên vật liệu, phân tích ABC (hoặc Kiểm soát hàng tồn kho chọn lọc) là một kỹ thuật phân loại hàng tồn kho. Phân tích ABC chia hàng tồn kho thành ba loại

– Mục A: với kiểm soát rất chặt chẽ và hồ sơ chính xác

– Mục B: với hồ sơ tốt và ít kiểm soát chặt chẽ hơn

– Mục C: với các điều khiển đơn giản nhất có thể và hồ sơ tối thiểu.

Phân tích ABC cung cấp một cơ chế để xác định các mặt hàng sẽ có tác động đáng kể đến chi phí hàng tồn kho tổng thể, đồng thời cung cấp cơ chế xác định các loại hàng tồn kho khác nhau sẽ yêu cầu quản lý và kiểm soát khác nhau.

Phân tích ABC cho thấy hàng tồn kho của một tổ chức không có giá trị như nhau. Do đó, hàng tồn kho được nhóm thành ba loại (A, B và C) theo mức độ quan trọng ước tính của chúng.

Các mặt hàng ‘A’ rất quan trọng đối với một tổ chức. Do giá trị cao của các mục ‘A’ này, cần phải phân tích giá trị thường xuyên. Ngoài ra, một tổ chức cần chọn một mẫu đơn đặt hàng phù hợp (ví dụ: ‘chỉ trong thời gian’) để tránh vượt quá khả năng. Các mục ‘B’ rất quan trọng, nhưng tất nhiên ít quan trọng hơn các mục ‘A’ và quan trọng hơn các mục ‘C’. Do đó, các mục ‘B’ là các mục liên nhóm. Các mặt hàng ‘C’ rất quan trọng.

Phân loại phân tích ABC

Không có ngưỡng cố định cho mỗi lớp, tỷ lệ khác nhau có thể được áp dụng dựa trên mục tiêu và tiêu chí. Phân tích ABC tương tự như nguyên tắc Pareto ở chỗ các mục ‘A’ thường sẽ chiếm tỷ lệ lớn trong tổng giá trị nhưng chiếm một tỷ lệ nhỏ trong số lượng mục

Ví dụ về lớp ABC

  • Mặt hàng A : 20% các mặt hàng chiếm 70% giá trị tiêu thụ hàng năm của các mặt hàng
  • Mặt hàng B : 30% các mặt hàng chiếm 25% giá trị tiêu thụ hàng năm của các mặt hàng
  • Mặt hàng C : 50% các mặt hàng chiếm 5% giá trị tiêu thụ hàng năm của các mặt hàng

Một phân tích khác được đề xuất của các lớp ABC:

  • Mặt hàng A: khoảng 10% các mặt hàng hoặc 66,6% giá trị
  • Mặt hàng B: khoảng 20% các mặt hàng hoặc 23,3% giá trị
  • Mặt hàng C: khoảng 70% các mặt hàng hoặc 10,1% giá trị

Tính toán toán học theo phân tích ABC.

Phân tích ABC cung cấp một phép tính toán chính xác về các giới hạn cho các lớp ABC. Nó sử dụng tối ưu hóa chi phí (tức là số lượng mặt hàng) so với năng suất (tức là tổng tầm quan trọng ước tính của chúng).

Ví dụ về ứng dụng của hoạt động cân dựa trên lớp ABC Phân phối thực tế của lớp ABC trong công ty sản xuất điện tử với 4.051 bộ phận hoạt động.

Khi chính sách mua bằng nhau được áp dụng cho tất cả 14.213 thành phần, ví dụ như giao hàng và điểm đặt hàng lại (hàng tồn kho) trong hai tuần, nhà máy sẽ có 16.000 giao hàng trong bốn tuần và hàng tồn kho trung bình sẽ là 2 tuần.

Áp dụng điều kiện mua theo cân nặng

Tình trạng đồng đều Điều kiện theo cân

Tất cả các mục 14213

Điểm đặt hàng lại = 2 tuần cung cấp

Tần suất giao hàng = hàng tuần

Vật phẩm hạng A 200

Điểm đặt hàng lại = nguồn cung 1 tuần

Tần suất giao hàng = hàng tuần

Vật phẩm hạng B 400

Điểm đặt hàng lại = 2 tuần cung cấp

Tần suất giao hàng = hai tuần một lần

Vật phẩm hạng C 3.400

Điểm đặt hàng lại = 3 tuần cung cấp

Tần suất giao hàng = cứ sau 4 tuần

So sánh, khi áp dụng chính sách mua hàng được áp dụng dựa trên lớp ABC, ví dụ như giao hàng hàng tháng của lớp C (bốn tuần một lần) với điểm đặt hàng lại của nguồn cung ba tuần, giao hàng hai lớp B với điểm đặt hàng lại là 2 tuần ‘cung cấp, phân phối hàng tuần của lớp với điểm đặt hàng lại là 1 tuần cung cấp, tổng số giao hàng trong 4 tuần sẽ là (A 200 × 4 = 800) + (B 400 × 2 = 800) + (C 3.400 × 1 = 3.400) = 5.000 và hàng tồn kho trung bình sẽ là (A 75% × 1,5 tuần) + (B 15% x3 tuần) + (C 10% × 3,5 tuần) = cung cấp 1.925 tuần.

So sánh mua hàng “đều” và “theo cân nặng” (khoảng thời gian 4 tuần)

Không giao hàng trong 4 tuần Mức cung trung bình Không giao hàng trong 4 tuần Mức cung trung bình

Một hạng mục có thể được áp dụng kiểm soát chặt chẽ hơn nhiều như phân phối hàng ngày của JIT. Nếu giao hàng hàng ngày với hàng tồn kho được áp dụng, tần suất giao hàng sẽ là 4.000 và mức tồn kho trung bình của mặt hàng loại A sẽ là 1,5 ngày cung và tổng mức tồn kho sẽ là 1.025 tuần, giảm 59% hàng tồn kho. Tổng tần suất giao hàng cũng giảm xuống còn một nửa từ 16.000 xuống còn 8.200.

Kết quả

Bằng cách áp dụng kiểm soát có trọng số dựa trên phân loại ABC, số giờ nhân công và mức tồn kho được yêu cầu sẽ giảm đáng kể.

Lợi ích của phân tích ABC

Trong điều kiện hiện nay việc sử dụng phương pháp phân tích ABC được thực hiện thông qua hệ thống quản trị dự trữ tự động hoá bằng máy vi tính. Tuy nhiên, trong một số doanh nghiệp chưa có điều kiện tự động hoá quản trị dự trữ, việc phân tích ABC được thực hiện bằng thủ công mặc dù mất nhiều thời gian nhưng nó đem lại những lợi ích nhất định. Kỹ thuật phân tích ABC trong công tác quản trị có những tác dụng sau:

  • Các nguồn vốn dùng để mua hàng nhóm A cần phải nhiều hơn so với nhóm C, do đó cần sự ưu tiên đầu tư thích đáng vào quản trị nhóm A.
  • Các loại hàng nhóm A cần có sự ưu tiên trong bố trí, kiểm tra, kiểm soát hiện vật. Việc thiết lập các báo cáo chính xác về nhóm A phải được thực hiện thường xuyên nhằm đảm bảo khả năng an toàn trong sản xuất.
  • Trong dự báo nhu cầu dự trữ, chúng ta cần áp dụng các phương pháp dự báo khác nhau cho nhóm mặt hàng khác nhau, nhóm A cần được dự báo cẩn thận hơn so với các nhóm khác.
  • Nhờ có kỹ thuật phân tích ABC trình độ của nhân viên giữ kho tăng lên không ngừng, do họ thường xuyên thực hiện các chu kỳ kiểm tra, kiểm soát từng nhóm hàng.

Tóm lại, kỹ thuật phân tích ABC sẽ cho chúng ta những kết quả tốt hơn trong dự báo, kiểm soát, đảm bảo tính khả thi của nguồn cung ứng, tối ưu hoá lượng dự trữ.

Các bước để thực hiện phân tích ABC

Khái niệm ABC dựa trên định luật của Pareto. Nếu có quá nhiều hàng tồn kho, phân tích ABC có thể được thực hiện trên một mẫu. Sau khi lấy được mẫu ngẫu nhiên, các bước sau đây được thực hiện để thực hiện phân tích ABC.

  • Bước 1: Tính giá trị sử dụng hàng năm cho mỗi mục trong mẫu bằng cách nhân các yêu cầu hàng năm với chi phí cho mỗi đơn vị.
  • Bước 2: Sắp xếp các mục theo thứ tự giảm dần của giá trị sử dụng được tính ở trên.
  • Bước 3: Lập tổng cộng số lượng vật phẩm và giá trị sử dụng.
  • Bước 4: Chuyển đổi tổng số tích lũy của số lượng vật phẩm và giá trị sử dụng thành tỷ lệ phần trăm của tổng số tổng của chúng.
  • Bước 5: Vẽ biểu đồ kết nối% mục tích lũy và% giá trị sử dụng tích lũy. Biểu đồ được chia xấp xỉ thành ba phân đoạn, trong đó đường cong thay đổi mạnh hình dạng của nó. Điều này chỉ ra ba phân đoạn A, B và C.

Categorised in: Chuyên Mục

This post was written by admin


【#8】Phương Pháp Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ Em Mẫu Giáo Hiệu Quả

1. Lợi ích của việc dạy tiếng Anh cho trẻ em mẫu giáo?

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trẻ nên học tiếng Anh ngay từ độ tuổi thiếu nhi. Đây là lứa tuổi mà trẻ có thể tiếp thu được ngôn ngữ mới một cách hiệu quả nhất. Chính vì lý do này mà nhiều phụ huynh đã chú trọng việc dạy tiếng Anh cho trẻ em mẫu giáo.

Ở độ tuổi này, trẻ rất nhạy bén trong việc học hỏi những kiến thức xung quanh, đặc biệt là những gì mà người lớn hướng dẫn trẻ. Bên cạnh đó, khả năng bắt chước giọng nói và học phát âm của trẻ ở giai đoạn này cực kì tốt. Đây chính là một trong những lý do mà rất nhiều gia đình cho bé học song song hai thứ tiếng tiếng mẹ đẻ và tiếng Anh cùng một lúc.

Đối với trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo, học chính là một hành trình khám phá, vui chơi và tận hưởng những niềm vui mới, để từ đó hiểu biết về một ngôn ngữ mới có thể từ từ thấm nhuần vào trong não bộ. Bởi vậy, cho trẻ học ngôn ngữ ngay từ khi còn bé sẽ không chỉ mang lại lợi ích về mặt ngôn ngữ mà còn về tư duy và phát triển nhiều kỹ năng khác.

Cụ thể một số lợi ích mà các bé có thể nhận khi được phụ huynh dạy tiếng Anh cho trẻ em mẫu giáo như:

-Giọng nói tự nhiên như người bản ngữ: những người được tiếp xúc với tiếng Anh từ sớm có khả năng phát âm chuẩn hơn và có thể tự tin nói trôi chảy, giao tiếp tốt ngay từ đầu. Trẻ em sẽ học được cách phát âm chuẩn ngay từ đầu, để có thể phát triển khả năng ngôn ngữ về sau.

-Tự tin hơn: Khi yêu thích ngôn ngữ, trẻ sẽ ham học hỏi, khám phá hơn, tìm được niềm vui và hứng thú trong việc học, từ đó thêm phần tự tin và tiếp tục nâng cao trí tò mò, khả năng tư duy.

-Mở rộng thế giới quan: Ngôn ngữ chính là tấm gương phản ánh văn hóa của mỗi quốc gia. Tiếp cận một ngôn ngữ mới cũng là cách trẻ học hỏi về đất nước và con người nơi đó. Việc này sẽ giúp ích trong việc nuôi dưỡng ước mơ của trẻ cho quá trình trưởng thành sau này.

-Hiểu rõ hơn về tiếng mẹ đẻ: Học song song hai thứ tiếng sẽ giúp trẻ củng cố các khái niệm, thuật ngữ tiếng Việt. Bằng cách đó, trẻ có thể hiểu hơn về tiếng Việt thông qua ngôn ngữ thứ hai là tiếng Anh.

2. Một số sai lầm khi dạy tiếng Anh cho trẻ em mẫu giáo

Dạy tiếng Anh cho trẻ em mẫu giáo cũng cần có phương pháp cụ thể thì mới mang lại hiệu quả cao. Nhiều phụ huynh vì không biết cách nên đã mắc phải những sai lầm, khiến trẻ không những không tiến bộ trong việc học ngôn ngữ mà còn gây ra tâm lý sợ hãi, ảnh hưởng đến quá trình học ngôn ngữ sau này.

Một số sai lầm mà các bậc cha mẹ thường áp dụng cho con trong quá trình dạy tiếng Anh cho trẻ em mẫu giáo như:

-Ép trẻ học theo công thức: Không ít bố mẹ đã sắp cho bé nhà mình một lịch trình dày đặc vào buổi tối để ép bé học ngữ pháp, mà không biết rằng ở độ tuổi này trẻ ham thích những trò chơi thú vị hơn là những giờ học nhàm chán. Trẻ cần có thời gian để ngôn ngữ thấm dần vào não bộ thông qua những hoạt động mà trẻ yêu thích. Ép trẻ học theo công thức chính là một trong những sai lầm có thể mang lại tác dụng ngược, trái với mong muốn của ba mẹ.

-Dạy trẻ phát âm không chuẩn: Nếu trong giai đoạn này mà bạn dạy trẻ phát âm sai cách, trẻ sẽ quen với cách phát âm đó và rất khó để thay đổi về sau.

-Dịch nghĩa sang tiếng Việt: Phụ huynh thường hay dạy tiếng Anh cho trẻ bằng cách dịch “word by word”. Đây là cách học truyền thống và tuyệt đối không nên áp dụng khi dạy tiếng Anh cho trẻ.

-Để trẻ học một mình: Với sự bận rộn trong công việc của mình, các bậc phụ huynh vẫn thường giao bài tập và chỉ xem kết quả hoàn thành của trẻ mà không chú trọng vào quá trình học. Phụ huynh cần theo sát con trong khi học, điều này sẽ tạo được môi trường tương tác tốt, giúp trẻ tăng khả năng ghi nhớ và học tập tốt hơn.

3. Nguyên tắc và những lưu ý khi dạy tiếng Anh cho trẻ em mẫu giáo

Trẻ em mẫu giáo là lứa tuổi nhỏ, vì vậy khi muốn trẻ tiếp cận với một ngôn ngữ mới, phụ huynh và các thầy cô hướng dẫn cần lưu ý một vài nguyên tắc cụ thể. Một số nguyên tắc vàng trong việc dạy tiếng Anh cho trẻ ở độ tuổi từ 3 đến 5:

-Học qua việc chơi: Việc bắt trẻ học thuộc một lượng lớn từ vựng hay ngữ pháp tiếng Anh ở giai đoạn này là điều không thể và không hề phù hợp. Khả năng ghi nhớ của trẻ ở giai đoạn này cần được phát triển một cách từ từ, dần dần, vì vậy, cho trẻ bắt chước cách đọc từ tiếng Anh qua những sân chơi nhiều màu sắc và thú vị là cách học được xem là hữu hiệu hơn rất nhiều.

-Cho trẻ thực hành nhiều hơn lý thuyết: Phụ huynh và giáo viên có thể thông qua nhiều hình ảnh, trò chơi, nhạc họa, hay diễn kịch để tạo môi trường “ngập” tiếng Anh xung quanh trẻ. Điều này sẽ giúp trẻ học ngôn ngữ một cách tự nhiên nhất mà không cần gượng ép.

-Cho trẻ học nghe, nói nhiều hơn đọc viết: Sẽ rất khó nếu bắt trẻ học đọc hoặc viết tiếng Anh trong giai đoạn này. Nhưng cho trẻ nghe những bản nhạc tiếng Anh, xem những bộ phim hoạt hình quốc tế và dạy trẻ nói những câu tiếng Anh cơ bản sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.

-Phải dạy chuẩn cho trẻ ngay từ đầu: Những gì bé tiếp thu được trong giai đoạn này thường sẽ được lưu lại rất lâu trong bộ não của trẻ. Vì vậy phụ huynh cần chú trọng vào lượng kiến thức bé học trong giai đoạn này cũng như cách phát âm từ vựng.

Làm thế nào để khơi gợi được niềm đam mê cho trẻ? Làm thế nào để trẻ có thể yêu thích ngôn ngữ mới này và ham mê khám phá? Phụ huynh có thể áp dụng một số phương pháp học tiếng Anh cho trẻ em mẫu giáo kích thích được niềm yêu thích của trẻ, cụ thể:

Không những thế, những bài hát tiếng Anh được hát bởi trẻ em người bản xứ nên phát âm cũng sẽ chuẩn, từ đó giúp trẻ hình thành phản xạ với tiếng Anh và luyện nói tiếng Anh chuẩn hơn. Một số từ tiếng Anh khó hiểu sẽ được minh họa bằng những hình ảnh đi kèm trên video, từ đó trẻ sẽ ghi nhớ từ vựng một cách tốt hơn.

Một số bài hát tiếng Anh được rất nhiều trẻ em ưa thích như “ABC song, Five little duck, hello song, goodbye song, baby shark, happy birthday, if you are happy….” Đây là những bài hát được ưa chuộng trên toàn thế giới bởi giai điệu vui nhộn và nội dung dễ thương.

-Học tiếng Anh qua những bộ phim hoạt hình: Phim hoạt hình chính là một sự kết hợp hoàn hảo giữa âm thanh và hình ảnh. Hình ảnh trong những bộ phim hoạt hình thiếu nhi thường rất ngộ nghĩnh, dễ thương, thu hút giác quan của trẻ. Âm thanh trong bộ phim cũng có giọng điệu dễ thương, phát âm chuẩn nên dễ dàng tạo không gian tiếng Anh, để ngôn ngữ này từ từ “ngấm” vào bộ não của trẻ.

Phim hoạt hình còn có những câu thoại đơn giản giữa các nhân vật ở những tình huống cụ thể. Vì vậy trẻ có thể dễ dàng bắt chước theo và cũng hiểu được từ ngữ này được sử dụng trong hoàn cảnh nào. Thêm vào đó, mỗi bộ phim hoạt hình được xây dựng nên đều ẩn chứa nhiều giá trị nhân văn sâu sắc, định hướng tư duy của trẻ ngay từ khi còn bé.

-Dạy bé với nhiều hình thức khác nhau: Nên áp dụng nhiều cách truyền đạt khác nhau để bé dễ dàng tiếp thu kiến thức và không bị nhàm chán. Phụ huynh có thể cho bé học tiếng Anh qua bài hát, qua những bộ phim hoạt hình ngộ nghĩnh hay những mẩu truyện tranh cuốn hút. Dần dần, khả năng ngoại ngữ của bé sẽ được cải thiện rõ rệt.

-Học chuẩn ngay từ đầu: Học chuẩn kiến thức ngay từ giai đoạn này là điều vô cùng quan trọng, đặc biệt là kỹ năng phát âm. Phụ huynh nên cho bé luyện nghe nhiều giọng đọc khác nhau, nhất là phát âm của người bản xứ.

Một số bộ phim hoạt hình hay mà phụ huynh có thể cho con em mình xem như: “Peppa pig, Martha speaks, Phineas and Ferb, Gogo loves English”. Ngoài ra còn rất nhiều những bộ phim hoạt hình hay khác mà các bậc phụ huynh có thể chọn để xem cùng các bé nhà mình.

4. Một số trang web miễn phí giúp dạy tiếng Anh cho trẻ em mẫu giáo

Với sự phát triển của công nghệ, phụ huynh đã chọn nhiều trang web học tiếng Anh miễn phí để nâng cao trình độ tiếng Anh của con em mình. Một số trang web được khuyên dùng như:

4.1 Britishcouncil.org/kids

Trang web của hội đồng Anh British Council có một ứng dụng học tiếng Anh dành cho bé là LearnEnglish Kids. Phần mềm này phù hợp với những bé ở lứa tuổi từ 6 đến 11 đang theo học chương trình tiểu học. Ứng dụng giúp trẻ phát triển kỹ năng nghe, nói qua hình ảnh và những video có sẵn trong thư viện.

Có nhiều chuyên mục khác nhau được thiết kế trong ứng dụng này như “Word games” (Trò chơi từ vựng), “Short stories” (Câu chuyện ngắn), “Video zone” (Video bài học), “Your turn” (Bé thực hành nói tiếng Anh), “Songs” (Bài hát tiếng Anh), “Games” (Trò chơi). Tùy theo sở thích của bé mà phụ huynh có thể lựa chọn những chuyên mục phù hợp, khơi gợi hứng thú để giúp trẻ học tập một cách tốt nhất.

Sau khi sử dụng ứng dụng vui học tiếng Anh này, trẻ sẽ được làm quen với việc nghe hiểu tiếng Anh, luyện tập phát âm và từ vựng, xây dựng nền tảng tiếng Anh vững chắc. Khi được học ngôn ngữ ở giai đoạn này, bé sẽ không có cảm giác tự ti hay e ngại khi phải nói tiếng Anh. Việc giao tiếp tiếng Anh với bé sẽ trở nên vô cùng dễ dàng và tự nhiên như khi học ngôn ngữ mẹ đẻ.

Một trong những điểm nổi bật nữa của ứng dụng học tiếng Anh online cho bé này chính là việc cải thiện phát âm tiếng Anh ngay từ khi còn bé. Mỗi một từ vựng được đưa ra trên ứng dụng đều có phần ghi âm cách đọc đi kèm để bé có thể nghe và bắt chước theo. Những video tiếng Anh có thu âm giọng điệu phát âm chuẩn người bản xứ, theo chất giọng Anh-Mỹ nên sẽ phù hợp với những bé có định hướng học nói tiếng Anh theo giọng điệu này.

Nhìn chung, đây là một ứng dụng học tiếng Anh siêu chất, tiện lợi, dễ dàng sử dụng và mang đến lượng bài học đa dạng với khối kiến thức khổng lồ. Chắc chắn đây sẽ là một trong những lựa chọn không thể bỏ qua khi các bậc phụ huynh muốn lựa chọn kênh học tiếng Anh cho bé nhà mình.

4.2 Raz-kids.com

Trang web hỗ trợ các bé học toàn diện các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết thông qua các cụm từ tiếng Anh thông dụng. Hình ảnh trên trang web sinh động, hấp dẫn, giao diện thân thiện, dễ sử dụng chính là một trong những điểm nổi bật của trang web này. Giọng phát âm chuẩn và đáng yêu từ những nhân vật hoạt hình ngộ nghĩnh, thu hút sự chú ý và yêu thích của trẻ.

Raz-kids là một phần mềm đọc sách tiếng Anh online với khối lượng cuốn sách vô cùng lớn, phù hợp với nhiều trình độ tiếng Anh khác nhau từ cơ bản đến nâng cao. Cụ thể nguồn dữ liệu trên trang web được lấy từ hơn 800 cuốn sách và được chia làm 29 cấp độ học.

Với Raz-kids, bé nhà bạn có thể học tiếng Anh mọi lúc mọi nơi bởi ứng dụng này cho phép bạn cài đặt trên mọi thiết bị di động, máy tính, máy tính bảng. Sau đó, bé được tự làm bài kiểm tra trắc nghiệm để ôn luyện lại kiến thức và được tự thu âm lại giọng nói rồi nghe lại giọng đọc của mình.

Các sản phẩm học tiếng Anh trên Raz kids được cung cấp chủ yếu từ Learning A-Z-một trong những công ty có nhiều năm kinh nghiệm trong việc cung cấp những sản phẩm về giáo dục. Những sản phẩm nổi bật bao gồm:

-Raz plus: Phần mềm bao gồm 3000 cuốn sách tiếng Anh để học sinh và phụ huynh có thể tha hồ lựa chọn và cải thiện kỹ năng đọc. Mức phí cho việc mua tài khoản học (dành cho tối đa 5 học sinh) là 1.210.000 VNĐ/ năm. Học phần này rất tốt cho trẻ để nắm vững vốn từ vựng tiếng Anh một cách tự nhiên và rèn luyện kỹ năng đọc hiểu cũng như nghe nói.

-Writing A-Z: Học phần này giúp bé học viết những câu văn, đoạn văn bằng tiếng Anh ở nhiều cấp độ từ dễ đến khó. Mức học phí là 600.000 VNĐ/ năm cho tối đa 5 tài khoản người dùng.

-Vocabulary A-Z: Kho từ vựng trong học phần này lên đến 16.000 từ, được truyền đạt đến người học qua nhiều phương pháp thú vị như luyện từ vựng qua trò chơi Hangmouse, Matchit, Word-o-rama, word unscramble.

4.3 Học tiếng Anh qua Monkey Stories

Monkey Stories là chương trình học phát triển tiếng Anh toàn diện dành cho trẻ từ 2 đến 15 tuổi. Monkey stories áp dụng phương pháp giáo dục sớm theo tiêu chuẩn của Mỹ, để bé có thể làm quen với tiếng Anh ngay từ khi còn bé. Trẻ nhà bạn sẽ được học cách phát âm chuẩn người bản ngữ nhờ giọng đọc trên video rõ ràng, chuẩn xác.

Ngoài ra, trang web còn sở hữu hơn 100 cuốn sách nói chọn lọc giúp con bạn có cơ hội thực hành nói tiếng Anh trong môi trường học tập tốt nhất. Các kỹ năng tư duy phản biện, phản xạ tiếng Anh cũng đồng thời được cải thiện trong quá trình học.

Chương trình học được thiết kế và xây dựng bởi những chuyên gia hàng đầu Hoa Kỳ, hệ thống bài học được phân chia thành nhiều cấp độ khác nhau, nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện kỹ năng nghe nói đọc viết. Phương thức học mà chơi, chơi mà học phù hợp với lứa tuổi trẻ thơ nên không hề tạo cảm giác nhàm chán. Trẻ sẽ nhanh chóng bị cuốn hút vào nội dung bài học, từ đó tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả nhất.

Có 3 chương trình học tiếng Anh nổi bật tại Monkey stories để bé có thể khám phá:

*Monkey Junior: Monkey Junior áp dụng các phương pháp giáo dục sớm để kích thích vùng tư duy ngôn ngữ của trẻ, giúp bé xây dựng nền tảng đa ngôn ngữ ngay từ khi còn bé. Monkey Junior được thiết kế dành cho những bé lần đầu tiếp xúc với ngoại ngữ, bắt đầu học tiếng Anh từ những bước căn bản hay những bé đã biết về tiếng Anh nhưng cần bổ sung nền tảng từ vựng, ngữ pháp và cải thiện phát âm.

Hệ thống bài học tại Monkey Junior sử dụng kho hình ảnh đa sắc màu, video có âm thanh sống động, nhiều trò chơi tương tác đa dạng để tạo cảm hứng học tập cho trẻ. Bộ từ vựng vô cùng đồ sộ được biên soạn bởi các chuyên gia ngôn ngữ hàng đầu thế giới, không chỉ có tiếng Anh, tiếng Việt mà còn có các thứ tiếng khác như Trung, Pháp, Tây Ban Nha, tiếng Nga.

-Phương pháp đọc hiểu hiệu quả: Trang web tập trung vào hai nội dung chính là cách đánh vần (phonics) và chụp hình nguyên từ (whole words). Khi làm quen với những bài học đánh vần, trẻ sẽ được học cách đánh vần từng âm cơ bản, từng nhóm chữ cái và ghi nhớ các âm khác nhau được ghép vào một từ tiếng Anh hoàn chỉnh. Khi học cách ghi nhớ từ vựng, trẻ sẽ nhận biết một từ thông qua hình ảnh sinh động, hay flashcard mô tả ý nghĩa của nó. Đây cũng là cách học giúp bé ghi nhớ hiệu quả và nhanh chóng.

*Monkey Stories: Khi học qua Monkey stories, bé sẽ giỏi tiếng Anh nhờ vào việc đọc truyện, những quyển sách nói và qua những bài hát tiếng Anh vui nhộn. Các tính năng tương tác trong truyện kích thích sự ham học hỏi của trẻ, giúp bé hiểu sâu và nhanh chóng ghi nhớ nội dung từ học. Mọi audio bài giảng của Monkey stories đều có giọng đọc của người bản xứ nên bé có thể luyện kỹ năng nghe tiếng Anh và phát âm chuẩn ngay từ đầu.

Chương trình học sẽ giúp bé phát triển toàn diện 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, đồng thời giúp bé có thể làm chủ những kỹ năng đòi hỏi trình độ cao hơn trong cuộc sống, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp. Ngoài việc rèn luyện khả năng ngôn ngữ và tư duy, bé còn có thể tích lũy được kiến thức tự nhiên, xã hội từ khi còn bé.

Đến với Monkey stories, bé sẽ được làm quen với bộ truyện tương tác, bài học và kho sách nói. Các thể loại truyện tương tác bao gồm truyện icon, truyện âm nhạc, truyện avatar. Mỗi câu chuyện sẽ được thể hiện theo một trong ba hình thức, truyên hoạt hình, truyện vẽ tĩnh, truyện ảnh thật.

Điểm ưu việt của truyện tương tác trên Monkey Stories là những câu chuyện có tính lặp lại, được chia làm nhiều cấp độ học khác nhau giúp trẻ phát huy khả năng phán đoán và tưởng tượng. Hình ảnh trong truyện đọc đẹp mắt, tạo hứng thú cho trẻ. Giọng đọc trong audio truyền cảm, đa dạng với nhiều giọng của các nước khác nhau giúp phát triển khả năng thẩm âm và định hình khả năng phát âm, ngữ điệu của trẻ ngay từ khi còn nhỏ. Kho trò chơi vô cùng phong phú, được nghiên cứu kỹ lưỡng phù hợp với lứa tuổi trẻ nhỏ.

Kho sách nói có đến hơn 170 cuốn, chia làm 4 cấp độ cụ thể dựa trên lượng từ vựng và cấu trúc câu, nội dung và mức độ khó dễ của truyện. Nội dung kho sách nói đều là về những câu chuyện cổ tích, truyện ngụ ngôn nổi tiếng trên thế giới. Nội dung có tính chọn lọc và tính giáo dục cao, nhân văn, hiệu ứng âm thanh và nhạc nền phong phú, sống động, kích thích sự tò mò của trẻ chứ không nhàm chán.

Phần bài học có hơn 119 bài học được thiết kế theo hệ thống tiêu chuẩn chung của Mỹ trong việc giảng dạy tiếng Anh cho trẻ em mầm non và tiểu học. Mỗi bài học đều kết hợp nội dung kiến thức với các hoạt động hữu ích, các trò chơi giáo dục đặc sắc mang tính tương tác cao.

Chương trình học có đến 300 video bài giảng, hơn 10.000 hoạt động tương tác cùng với 62 chuyên đề toán học khác nhau thuộc các cấp độ khác nhau phù hợp với trẻ em mầm non và tiểu học. Mỗi bài học đều được thiết kế hấp dẫn, sinh động, giúp trẻ hình thành tư duy ngôn ngữ trực diện, lĩnh hội và làm chủ kiến thức toán học một cách tốt nhất.

Các cấp độ bài học trong Monkey Math bao gồm 4 cấp độ:

-Cấp độ 1 (Pre-K): có hơn 50 bài học dành cho trẻ mầm non từ 2 đến 4 tuổi, mỗi bài học thường chỉ kéo dài từ 10-20 phút.

-Cấp độ 2 (Kindergarten): phù hợp với những bé từ 4-6 tuổi với hơn 100 bài học, kéo dài từ 15-30 phút/bài.

-Cấp độ 3 (Grade 1): Dành cho bé từ 5-7 tuổi với hơn 150 bài học, mỗi bài kéo dài từ 15-30 phút.

-Cấp độ 4 (Grade 2): Có hơn 120 bài học, dành cho trẻ em từ 7 đến 8 tuổi.

Cấu trúc bài học đều theo trình tự cụ thể: có video hướng dẫn chứa nội dung bài học như khái niệm, hướng giải quyết bài toán, sau đó sẽ có phần thực hành làm bài tập, luyện kiến thức thông qua các dạng bài tập về nhận biết, thông hiểu, bài tập vận dụng tư duy, để bé có thể nhuần nhuyễn những kiến thức vừa học. Phần trò chơi ở mỗi cuối bài sẽ giúp bé có thời gian thư giãn cuối mỗi bài học.

4.4 Busy Beavers-Kids English

4.5 Dream English kid songs

Đây là một trong những trang web hỗ trợ bé học tiếng Anh của Walt Disney. Trang web tạo môi trường vừa chơi vừa có thể học cho trẻ. Qua trang web này, trẻ sẽ được rèn luyện và phát triển cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Đặc biệt là cách phát âm chuẩn các âm tiết, từ vựng thông qua việc nghe các video vui nhộn như Snow White and the Seven Dwarfs, Fantasia hay Winnie.

Bé sẽ được học tiếng Anh thông qua những video hoạt hình ngộ nghĩnh. Một từ vựng sẽ được lặp đi lặp lại nhiều lần thông qua ngôn ngữ của nhiều nhân vật khác nhau. Việc này sẽ giúp trẻ ghi nhớ từ vựng tốt hơn và có nhiều lần nghe cũng như thực hành nói theo video. Cuối mỗi video là những bài hát ngắn, giai điệu vui nhộn. Những video sinh động của Disney chắc chắn sẽ không làm các bậc phụ huynh thất vọng. Các bé sẽ nhanh chóng bị cuốn hút vào những tình huống, câu chuyện ngộ nghĩnh được dựng lên, cũng như dần trở nên yêu quý các nhân vật hoạt hình trong này đấy.

Theo chúng tôi


【#9】Lựa Chọn, Sử Dụng Một Số Phương Pháp Dạy Học Toán Ở Tiểu Học

BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LỰA CHỌN, SỬ DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN Ở TIỂU HỌC THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC

TS. Phạm Văn Cường

P.GĐ sở GDĐT Phú Yên

Theo Phan Trọng Ngọ : “Phương pháp dạy học (PPDH) giống như đồ nghề của người thợ mộc, chúng đều bình đẳng với nhau. Việc sử dụng chúng tùy thuộc vào mục đích và khả năng sử dụng của người dạy và học, tùy thuộc vào hoàn cảnh dạy học cụ thể: đối tượng học viên môi trường sư phạm (lớp học, thiết bị dạy học và không khí học tập, …). Trong thực tiễn không một giáo viên (GV) có kinh nghiệm nào lại sử dụng đơn điệu một phương pháp trong hoạt động dạy học của mình. Dạy học cũng như người thợ mộc, để thực hiện một thao tác nhằm tạo ra một chi tiết thì chỉ cần một công cụ, nhưng muốn có một sản phẩm trọn vẹn (ngôi nhà, bàn ghế, giường, tủ, …) thì phải phối hợp nhiều thao tác sử dụng nhiều công cụ khác nhau. Nghệ thuật dạy học là nghệ thuật phối hợp các PPDH trong một tiết, một bài dạy của người GV.”

Như vậy, trong dạy học nói chung và dạy học Toán ở tiểu học nói riêng người GV cần phải biết kết hợp nhiều PPDH vào trong một tiết dạy. Không được xem nhẹ hoặc tuyệt đối hóa một PPDH nào. Mỗi PPDH đều có những mặt tích cực và hạn chế riêng. Để tổ chức hoạt động dạy học có hiệu quả, GV cần biết cách lựa chọn, sử dụng ưu thế của từng PPDH phù hợp với mục tiêu, nội dung ở từng loại bài học, ở từng lớp học, ở từng giai đoạn dạy học, nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh (HS).

Muốn có kinh nghiệm này, mỗi GV cần phải thường xuyên tự học tập nâng cao trình độ và có ý thức rèn luyện kĩ năng lựa chọn, sử dụng PPDH Toán ở tiểu học.

Để giúp GV hình thành kĩ năng biết lựa chọn, sử dụng một số PPDH Toán thường sử dụng ở tiểu học theo hướng tích cực hóa các hoạt động học tập của HS nhằm phát triển năng lực học tập toán của từng HS, mỗi GV cần lưu ý rèn luyện một số biện pháp sau:

Tìm hiểu đúng mục tiêu, nội dung yêu cầu của bài học để lựa chọn, sử dụng PPDH Toán ở tiểu học phù hợp, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.

Để thực hiện biện pháp trên, GV phải biết tìm hiểu đúng mục tiêu, nội dung yêu cầu của bài học để lựa chọn PPDH cho phù hợp. Xác định mục tiêu, nội dung bài học thường căn cứ vào các trường hợp sau:

Nếu mục tiêu, nội dung yêu cầu của bài học là hình thành khái niệm (biểu tượng) về các đối tượng toán học; hình thành khái niệm và tính chất của các phép tính thì có thể lựa chọn PPDH trực quan và kết hợp với các PPDH khác để tổ chức hoạt động dạy học.

Ví dụ 1: Bài học hình thành biểu tượng Hình vuông (Toán 1, tr.7).

Biểu tượng hình vuông là một khái niệm về đối tượng hình học.Với trình độ của HS lớp 1, các em tiếp thu tri thức mới chủ yếu bằng tri giác và thông qua hoạt động thực hành. Do đó, để hình thành biểu tượng Hình vuông, GV nên sử dụng PPDH trực quan kết hợp với PPDH khác (vấn đáp, quan sát) để tổ chức hoạt động dạy học.

Ví dụ 2: Hình thành Tính chất giao hoán của phép cộng trong tập hợp các số tự nhiên N cho HS tiểu học.

Tính chất của các phép toán trên các tập số nói chung và tính chất giao hoán của phép cộng trên tập số tự nhiên nói riêng có tính chất khái quát và trừu tượng. Với trình độ của HS tiểu học, GV không thể sử dụng kiến thức cao cấp (đại số đại cương) để trình bày. Do đó, với bài học này, GV hướng nên sử dụng PPDH trực quan kết hợp với các PPDH khác (vấn đáp, quan sát, quy nạp) để tổ chức hoạt động dạy học.

Khi sử dụng PPDH trực quan để tổ chức hoạt động dạy học hình thành biểu tượng mới cho HS, GV cần biết cách lựa chọn, sử dụng, bố trí hình ảnh, đồ dùng trực quan hợp lý và tăng dần mức độ khái quát, trừu tượng để rèn tư duy cho HS; biết cách hướng dẫn HS hoạt động trên hình ảnh trực quan, đồ dùng trực quan để nhận dạng và tạo ra biểu tượng mới.

Nếu mục tiêu, nội dung của bài học yêu cầu hình thành tri thức mới, mà HS muốn tiếp thu tri thức mới đó cần có sự hướng dẫn của GV bằng một hệ thống câu hỏi phù hợp thì có thể sử dụng PPDH vấn đáp, kết hợp với PPDH khác để tổ chức hoạt động dạy học nhằm chuyển giao ý đồ sư phạm của thầy thành nhiệm vụ học tập của trò.

Ví dụ 3: Hình thành Phép tính nhân của hai phân số

Hình thành Phép tính nhân của hai phân số cho HS là một vấn đề mới. Nếu GV chỉ giới thiệu quy tắc tính sau đó áp dụng luyện tập thì không phát huy được tính tích cực, tư duy, sáng tạo của HS. Do đó, GV cần suy nghĩ, chuẩn bị hệ thống câu hỏi phù hợp để hướng dẫn HS tiếp thu tri thức mới một cách tự nhiên và phát huy được tính tích cực, sáng tạo của HS.

Với bài học này, GV có thể tổ chức hoạt động dạy học bằng hệ thống câu hỏi sau:

Hãy tính

của

?

(Đây là một tình huống mà HS chưa thể thực hiện được ngay. Nhưng nếu HS chịu khó suy nghĩ vận dụng kiến thức đã học (cách cấu tạo phân số) hoặc được GV hướng dẫn thì HS có thể thực hiện được. Ở đây, GV muốn HS thực hiện câu hỏi trên để dẫn đến cách tích ( ý đồ sư phạm của thầy)). Nếu HS không trả lời được, GV tiếp tục nêu các câu hỏi sau:

Giáo viên Học sinh

Hãy phân tích thành tổng của 4 phân số bằng nhau?

Ta có:

Từ kết quả trên, hãy cho biết của là bao nhiêu ?

Ta có của là :

Hãy so sánh với kết quả của ?

Ta có

    Khi đó GV khẳng định: Ta nói tích của với bằng
Viết là:
    GV nêu công thức tổng quát: và nêu qui tắc nhân hai phân số (nhiệm vụ nhận thức, học tập của HS);

Chú ý lắng nghe và theo dõi

GV tổ chức luyện tập, củng cố.

Học sinh luyện tập

Nếu mục tiêu, nội dung của bài học yêu cầu hình thành tri thức mới, mà tri thức mới cần hình thành gây mâu thuẫn giữa yêu cầu nhiệm vụ nhận thức với kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của HS thì có thể sử dụng PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề và kết hợp với PPDH khác để tổ chức hoạt động dạy học.

Ví dụ 4: Hình thành Phép tính cộng hai phân số khác mẫu số.

Để hình thành phép cộng hai phân số khác mẫu số, GV có thể nêu vấn đề bằng bài toán:

Bài toán: “Có một băng giấy màu, bạn Hà lấy băng giấy, bạn An lấy băng giấy. Hỏi cả hai bạn lấy bao nhiêu băng giấy màu ?” (Toán 4, tr. 127).

GV cần tìm hiểu các nội dung sau:

  • Mục tiêu của bài học ? (Hình thành cách tính phép cộng của hai phân số khác mẫu số; rèn kĩ năng tính toán cho HS);
  • Muốn tìm số băng giấy của hai bạn Hà và An đã lấy, cần thực hiện phép tính gì? (phép cộng );
  • HS đã biết biết tính cộng của hai phân số khác mẫu số chưa ? (chưa biết).

Như vậy, việc yêu cầu HS tính tổng hai phân số khác mẫu số là một tình huống gợi vấn đề, là một yêu cầu nhận thức mà HS chưa thể giải quyết được bằng vốn kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của mình (HS chỉ mới biết tính tổng hai phân số có cùng mẫu số).

Tuy nhiên, nếu HS chịu khó suy nghĩ, hoặc được GV hướng dẫn tìm cách biến đổi để đưa hai phân số đã cho về thành hai phân số có cùng mẫu số (quy đồng mẫu số) thì HS có thể giải quyết vấn đề đặt ra để lĩnh hội thức tri thức mới.

Do đó, để phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS, GV có thể lựa chọn PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề và kết hợp với PPDH vấn đáp để tổ chức hoạt động dạy học hình thành Phép cộng hai phân số khác mẫu số cho HS.

Ở tiểu học, các vấn đề được đặt ra thường là các vấn đề đơn giản, chủ yếu GV phát hiện và hướng dẫn HS giải quyết vấn đề để hình thành tri thức mới cho HS. Khi tổ chức hoạt động dạy học Toán ở tiểu học bằng PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề thường có 4 mức độ hoạt động dạy học sau:

BẢNG CẤP ĐỘ HOẠT ĐỘNG DẠY – HỌC TOÁN Ở TIỂU HỌC

Mức độ Tổ chức và thực hiện hoạt động của GV và HS

Tạo tình huống

Phát hiện vấn đề

Tìm giải pháp

Thực hiện giải pháp

Kết luận, phát triển vấn đề

Trong bảng trên mức độ hoạt động dạy học được tăng dần từ 1 đến 4.

GV cần biết ý nghĩa, tác dụng hoạt động của mỗi mức độ, để vận dụng tổ chức hoạt động dạy học phù hợp với trình độ nhận thức của HS và điều kiện của lớp học nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.

Nếu mục tiêu, nội dung của bài học yêu cầu hình thành tri thức mới cho HS, mà tri thức mới đó cần có sự kiểm nghiệm kết quả qua của nhiều HS khác nhau; cần có sự phát hiện, đóng góp trí tuệ của tập thể HS; cần phải đo đạc thu thập các số liệu điều tra, thống kê [2] thì GV có thể sử dụng PPDH hợp tác theo nhóm nhỏ và kết hợp với PPDH khác để tổ chức hoạt động dạy học nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo, hợp tác của HS.

Ví dụ 5: Tính diện tích hình thoi ABCD khi biết hai đường chéo AC = m, BD = n (Hình 1)

Để tìm công thức tính diện tích hình thoi theo độ dài hai đường chéo, HS có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau:

Cách 1: Cắt hình AOD và hình COD rồi ghép với hình ABC để được hình chữ nhật AMNC (Hình 2)

Từ đó, ta có: dt (hthoi ABCD) = dt (hcn AMNC) =

Cách 2: Cắt hình COB và hình COD rồi ghép với hình ABD để được hình chữ nhật MNBD (Hình 3).

Ta có: dt(hthoi ABCD) = dt(hcn MNBD) =

Do đó, để kiểm nghiệm kết quả, phát huy tính chủ động, sáng tạo và tinh thần hợp tác của HS, GV có thể lựa chọn, sử dụng PPDH hợp tác theo nhóm nhỏ để tổ chức hoạt động dạy học.

Biết căn cứ đặc điểm của phương pháp toán họcđặc điểm về nhận thức của HS ở từng giai đoạn học tập để lựa chọn, sử dụng PPDH Toán phù hợp nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.

Để thực hiện biện pháp trên, GV cần thực hiện các nội dung sau:

1) Nếu nội dung yêu cầu của bài học chứa những yếu tố suy luận và chứng minh thì có thể sử dụng các phương pháp suy luận để tổ chức hoạt động dạy học.

Ví dụ 6: Để rèn kĩ năng về dấu hiệu chia hết, GV có thể yêu cầu HS giải bài toán: “Với 3 chữ số 0; 5; 2 hãy viết các số có 3 chữ số (mỗi số có cả 3 chữ số đó) vừa chia hết cho 5 vừa chia hết cho 2” (Toán 4, tr. 162).

Đây là một bài toán với nội dung yêu cầu có tính suy luận để tìm kết quả nên GV có thể sự dụng phương pháp chứng minh suy diễn để tổ chức dạy học.

Ví dụ 7: Để củng cố biểu tượng Đoạn thẳng và rèn luyện phương pháp chứng minh qui nạp, khi ôn tập cho HS cuối cấp, GV có thể yêu cầu HS làm bài toán sau: “Cho n điểm không trùng nhau. Hỏi khi nối chúng lại với nhau ta có được bao nhiêu đoạn thẳng”.

Đây là bài toán với nội dung yêu cầu có tính suy luận, dự đoán để tìm kết quả (kết quả có tính khái quát), nên GV có thể sử dụng PPDH suy luận có lý (ở đây sử dụng phương pháp chứng minh quy nạp) để tổ chức hoạt động dạy học (có thể giải bài toán này theo phương pháp liệt kê hoặc phương pháp khác) .

GV cần lưu ý: Nội dung bài học chứa những yếu tố suy luận thường là những bài toán yêu cầu chứng minh. Do đó, thông qua hoạt động dạy học bằng phương pháp suy luận, GV cần rèn tư duy lôgic, tư duy sáng tạo, tư duy thuật giải cho HS.

2) Biết căn cứ vào đặc điểm về nhận thức của HS ở từng giai đoạn học tập để lựa chọn, sử dụng PPDH Toán phù hợp nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.

Mỗi giai đoạn học tập, khả năng nhận thức của HS khác nhau (phụ thuộc vào thời gian, sức khỏe, kiến thức mới, điều kiện học tập,…), nên GV phải biết lựa chọn, sử dụng PPDH phù hợp để tổ chức hoạt động dạy học đạt hiệu quả, chất lượng.

Biết căn cứ điều kiện dạy học cụ thểtính chất của từng loại bài học để lựa chọn, sử dụng PPDH Toán ở tiểu học phù hợp, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.

Để đạt được mục đích trên, GV cần chú ý các các nội dung sau:

1) Căn cứ điều kiện dạy học cụ thể ở từng vùng, từng trường, từng lớp học để lựa chọn, sử dụng PPDH phù hợp.

2) Nếu nội dung bài học yêu cầu phải củng cố, nâng cao kiến thức, rèn luyện kĩ năng; yêu cầu HS biết vận dụng lý thuyết vào thực tế cuộc sống thì GV sử dụng phương pháp Thực hành – Luyện tập để tổ chức hoạt động dạy học.

Ví dụ 8: Bài học hình thành Diện tích hình tam giác (Toán 5, tr.87)).

GV tìm hiểu mục tiêu, kĩ năng kiến thức cần hình thành cho cho HS (khắc sâu công thức tính diện tích tam giác; biết được sự phụ thuộc các đại lượng trong công thức tính diện tích, rèn kĩ năng tính diện tích tam giác). Từ đó, dự kiến tổ chức một số hoạt động sau để nâng cao chất lượng giờ học, rèn tư duy cho HS. (Mỗi hoạt động cần chọn những HS có kết quả nhanh nhất để cho điểm, biểu dương). Có thể tổ chức một số hoạt động dạy học như sau:

Bài tập: Cho ABC, đường cao AH = h, BC = a; AC = b; AB = c

    Hoạt động 1: Diện tích ABC (Hình 4) thay đổi như thế nào nếu:
    Hoạt động 2: Điểm M nằm vị trí nào trên cạnh BC để điện tích ABM bằng 1/2 diện tích ABC;

Với những hoạt động này, GV luyện tập HS biết xác định giá trị ra (diện tích) khi cho giá trị vào (độ dài đáy, chiều cao), giúp HS biết xác định sự phụ thuộc của các giá trị (diện tích, độ dài đáy, đường cao); qua đó, bước đầu GV đã phân bậc hoạt động và rèn luyện tư duy hàm cho HS.

3) Nếu nội dung bài học yêu cầu ôn tập, hệ thống kiến thức thì GV lựa chọn, sử dụng PPDH Ôn tập – Hệ thống hóa kiến thức để tổ chức hoạt động dạy học.

Hằng năm, nhà trường cần có kế hoạch tổ chức các hoạt động: Hội thi GV dạy giỏi; dự giờ, góp ý giờ giảng của GV; Hội thảo khoa học về đổi mới PPDH theo hướng tích cực;… tạo điều kiện cho GV tham gia, học tập, rèn luyện để có kinh nghiệm lựa chọn, sử dụng PPDH Toán phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học.

Với một số biện pháp trên, hy vọng sẽ giúp GV có thêm kinh nghiệm lựa chọn, sử dụng một số PPDH Toán thường sử dụng ở tiểu học để tổ chức hoạt động dạy học Toán theo hướng dạy học tích cực, phát huy được tính tích cực, sáng tạo, chủ động của HS; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học hiện nay.

  1. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, Nxb ĐHSP; tr.184
  2. Mỗi tiết học chỉ nên tổ chức từ 1 đến 2 hoạt động nhóm đối với những câu hỏi, vấn đề đặt ra khó và phức tạp, đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa các cá nhân mới hoàn thành nhiệm vụ. (Trích: Những giải pháp đổi mới phương pháp dạy học Vật lí#Hình thức học tập theo nhóm)
  1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Phương pháp dạy học các môn học ở Tiểu học, Nxb GD.
  2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2001-2005), Toán 1, Toán 2, Toán 3, Toán 4, Toán 5, Nxb GD.
  3. Vũ Quốc Chung, Đỗ Trung Hiệu, Hà Sĩ Hồ, Đỗ Đình Hoan (1992), Phương pháp dạy học môn Toán ở tiểu học, Vụ GV.
  4. Đỗ Trung Hiệu, Đỗ Đình Hoan, Vũ Dương Thuỵ, Vũ Quốc Chung (2001), PPDH Toán ở TH (Giáo trình đại học từ xa), Nxb Giáo dục.
  5. Nguyễn Bá Kim (2004), Phương pháp dạy học môn Toán, Nxb ĐHSP.
  6. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, Nxb ĐHSP


【#10】Tham Luận: Vận Dụng Phương Pháp ” Dạy Học Phát Hiện Và Giải Quyết Vấn Đề ” Trong Dạy Học Môn Toán

Toán học đóng vai trò quan trọng trong đời sống và trong các ngành khoa học khác. Để góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Toán, tôi nghĩ mỗi giáo viên chúng ta trước hết phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học.

Việc đổi mới phương pháp dạy học cần thực hiện theo định hướng hoạt động hóa người học, tức là tổ chức cho học sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động sáng tạo. Thông qua đó giúp học sinh chiếm lĩnh được kiến thức.

Để đạt được yêu cầu đó, mỗi chúng ta cần phải đi sâu vào những phương pháp dạy học cụ thể như những biện pháp để thực hiện định hướng nói trên.

Một trong những phương pháp dạy học tích cực đó là “Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề”. Tôi xin phép trình bày một số kinh nghiệm trong việc “Vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học môn toán “.

Tham luận: Vận dụng phương pháp " DẠY HỌC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ " TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN. –{— A. MỞ ĐẦU: Toán học đóng vai trò quan trọng trong đời sống và trong các ngành khoa học khác. Để góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Toán, tôi nghĩ mỗi giáo viên chúng ta trước hết phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học. Việc đổi mới phương pháp dạy học cần thực hiện theo định hướng hoạt động hóa người học, tức là tổ chức cho học sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động sáng tạo. Thông qua đó giúp học sinh chiếm lĩnh được kiến thức. Để đạt được yêu cầu đó, mỗi chúng ta cần phải đi sâu vào những phương pháp dạy học cụ thể như những biện pháp để thực hiện định hướng nói trên. Một trong những phương pháp dạy học tích cực đó là "Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề". Tôi xin phép trình bày một số kinh nghiệm trong việc "Vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học môn toán ". B. NỘI DUNG: 1. Những việc đã làm: Để thực hiện dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề có thể thực hiện theo các bước sau : + Bước 1 : Phát hiện vấn đề : - Giáo viên tạo ra tình huống gợi vấn đề, để từ đó giúp học sinh có nhu cầu khám phá phát hiện vấn đề. - Có thể giải thích và chính xác hóa tình huống để học sinh hiểu đúng vấn đề đặt ra . + Bước 2: Tìm giải pháp: - Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích vấn đề, để từ đó hình thành nên giải pháp giải quyết vấn đề. - Sau khi tìm ra giải pháp có thể tiếp tục tìm thêm những giải pháp khác, so sánh chúng với nhau để tìm ra giải pháp hợp lí nhất. + Bước 3 : Trình bày giải pháp : - Khi đã tìm ra giải pháp giải quyết vấn đề, người học trình bày lại giải pháp giải quyết vấn đề đó. + Bước 4: Nghiên cứu sâu giải pháp : - Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả của vấn đề. * Ví dụ minh họa: VD1: Khi dạy quan hệ góc đối diện với cạnh lớn hơn của bài "Quan hệ giữa góc và cạnh đối diện trong một tam giác" - Hình học 7. Tôi đã thực hiện như sau: 1) Bước 1: Phát hiện vấn đề: - Cho học sinh làm bài tập : Cho Tam giác ABC : Nếu AB = AC, thì có nhận xét gì về và ? - HS: (VìABC có AB =AC nên cân tại A ). - GV : Nêu mục tiêu : Trong một tam giác, xét xem góc đối diện với cạnh lớn hơn thì như thế nào ? - Học sinh thực hiện . - Cho học sinh phát biểu vấn đề: - Học sinh: Trong một tam giác góc đối diện với cạnh lớn hơn là góc lớn hơn . 2) Bước 2 : Tìm giải pháp : - Giáo viên cho học sinh vẽ hình, ghi GT, KL của định lí. - Hướng dẫn học sinh phân tích đi lên để tìm giải pháp chứng minh định lí. Xác định điểm B', M Xét ABM và AB'M + + + = 3) Bước 3: Trình bày giải pháp: - Giáo viên cho học sinh dựa vào phân tích đi lên trình bày lại chứng minh định lí. 4) Bước 4: Nghiên cứu sâu giải pháp : - GV cho HS ứng dụng định lí vào việc giải bài tập 1 trang 55 SGK. * BT 1/55 So sánh các góc của tam giác ABC, biết rằng: AB = 2 cm, BC = 4 cm, AC = 5 cm - Đề xuất những vấn đề mới, giáo viên lật ngược vấn đề: Nếu thì cạnh đối diện AC, AB như thế nào ? VD2: Khi dạy hệ thức Vi-ét của bài "Hệ thức Vi-ét và ứng dụng " - Đại số 9, ta có thể thực hiện như sau: 1) Bước 1: Phát hiện vấn đề: - Cho học sinh làm bài tập : a) Giải phương trình: 3x2 - 5x + 2 = 0, rồi tính tổng và tích hai nghiệm của phương trình. b) Giải phương trình: 2x2 - 3x - 5 = 0, rồi tính tổng và tích hai nghiệm của phương trình. - HS: Thực hiện, kết quả: a) x1 = 1, x2 = , x1 + x2 = , x1 . x2 = b) x1 = -1, x2 = , x1 + x2 = , x1 . x2 = với các hệ số a,b,c của phương trình? - Cho học sinh phát biểu vấn đề: - HS: Nếu phương trình ax2 + bx + c = 0 (a 0) có nghiệm x1 , x2 thì x1 + x2 = , x1 . x2 = 2) Bước 2 : Tìm giải pháp : - GV: Hệ thức trên có đúng với mọi phương trình bậc hai hay không? - GV: Hướng dẫn học sinh phân tích đi lên để tìm giải pháp chứng minh hệ thức. Áp dụng công thức nghiệm x1 = , x2 = x1 + x2 = , x1 . x2 = 3) Bước 3: Trình bày giải pháp: - Giáo viên cho học sinh dựa vào phân tích đi lên trình bày lại chứng minh hệ thức. - GV chốt lại và giới thiệu định lí Vi-ét. 4) Bước 4: Nghiên cứu sâu giải pháp : - Giáo viên cho học sinh ứng dụng hệ thức vi-ét giải bài tập sau: Đối với mỗi phương trình sau, kí hiệu x1 , x2 là hai nghiệm (nếu có). Không giải phương trình, hãy điền vào chổ (...): a) 25x2 +10x + 1 = 0, =....., x1 + x2 =..., x1 . x2 = .... b) 8x2 - x + 1 = 0, =....., x1 + x2 =..., x1 . x2 = .... c) x2 - 5x + 6 = 0, =....., x1 + x2 =..., x1 . x2 = .... - GV: Nếu tổng và tích hai nghiệm của phương trình là các số nguyên thì ta có thể nhẩm được nghiệm của phương trình đó hay không? - GV cho học sinh dựa vào hệ thức Vi-ét nhẩm nghiệm phương trình x2 - 5x + 6 = 0 - Nhờ hệ thức vi-ét, nếu biết một nghiệm của phương trình bậc hai thì ta có thể suy ra nghiệm kia, GV cho HS thực hiện ?2; ?3 (SGK) ?2: Cho phương trình 2x2 - 5x + 3 = 0 a) Xác định các hệ số a, b, c rồi tính a + b + c. b) Chứng tỏ rằng x1 = 1 là một nghiệm của phương trình. c) Dùng hệ thức Vi-ét để tìm x2 ?3: Cho phương trình 3x2 + 7x + 4 = 0 a) Xác định các hệ số a, b, c rồi tính a - b + c. b) Chứng tỏ rằng x1 = -1 là một nghiệm của phương trình. c) Dùng hệ thức Vi-ét để tìm x2 - HS thực hiện ?2; ?3 và rút ra tổng quát về 2 trường hợp nhẩm nghiệm khi phương trình có a +b + c = 0 và a - b +c = 0. - Cho HS làm ?4 để củng cố các trường hợp nhẩm nghiệm. ?4: Tính nhẩm nghiệm của các phương trình: a) -5x2 + 3x + 2 = 0 ; b) 2004x2 + 2005x + 1 = 0 - Đề xuất những vấn đề mới, giáo viên lật ngược vấn đề: Nếu biết tổng và tích của hai số thì có thể suy ra hai số đó là nghiệm của một phương trình nào không? 2. Kết quả đạt được: Qua việc vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề tôi nhận thấy HS hứng thú trong học tập, học sinh hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, tận lực huy động tri thức và khả năng của mình để phát hiện và giải quyết vấn đề. Từ đó giúp HS tự chiếm lĩnh kiến thức, HS được khắc sâu nhớ lâu kiến thức hơn, góp phần nâng cao chất lượng học tập của HS. 3. Bài học kinh nghiệm: Để thực hiện tốt phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề theo tôi : - Giáo viên cần nghiên cứu tìm hiểu kĩ SGK, SGV, chuẩn kiến thức kĩ năng trước khi xây dựng thiết kế bài giảng. - Khi tạo ra một tình huống gợi vấn đề, giáo viên cần gợi cho học sinh những khó khăn về lí luận hay thực tiễn mà học sinh thấy cần thiết và có khả năng vượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc mà phải trải qua một quá trình tích cực suy nghĩ. - Tình huống gợi vấn đề phải đảm bảo vừa sức, nhằm tạo cho học sinh có niềm tin để tham gia giải quyết vấn đề . - Để giúp học sinh tìm ra giải pháp giải quyết vấn đề, giáo viên nên vận dụng phương pháp phân tích đi lên, sẽ mang lại hiệu quả cao, đồng thời tạo thuận lợi khi thực hiện bước trình bày giải pháp. - Khi thực hiện bước nghiên cứu sâu giải pháp giáo viên có thể cho học sinh giải những bài tập theo yêu cầu của chuẩn kiến thức kĩ năng, có thể cho học sinh giải những bài tập phản ví dụ nhằm giúp học sinh khắc sâu kiến thức. C . KẾT LUẬN : Vận dụng phương pháp dạy học "Phát hiện và giải quyết vấn đề " trong giảng dạy môn toán là một trong các phương pháp dạy học tích cực, góp phần thiết thực trong việc đổi mới phương pháp dạy học, việc vận dung phương pháp dạy học này thật sự phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh. Phương pháp dạy học này có thể áp dụng đối với mọi đối tượng học sinh, tùy đối tượng học sinh của mình mà giáo viên có thể chọn những mức độ khác nhau để vận dụng. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song bài tham luận này vẫn còn nhiều hạn chế, rất mong sự đóng góp quý báo của quí thầy cô để chúng ta hoàn thiện hơn phương pháp dạy học này, góp phần thiết thực trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy. Vĩnh Xuân, ngày 9 tháng 3 năm 2011 Giáo viên thực hiện: Trần Thị Cẩm Tú


Bạn đang xem chủ đề Phương Pháp Abc trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!