Sự Đối Lập Giữa Phương Pháp Siêu Hình Và Phương Pháp Biện Chứng

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Toán Bằng Định Luật Bảo Toàn Electron
  • Chuyên Đề: Sử Dụng Phương Pháp Bảo Toàn Electron Để Giải Bài Tập Kim Loại Tác Dụng Với Dung Dịch Axit
  • Phương Pháp Giải Hóa Học
  • Cấy Chỉ Chữa Thoát Vị Đĩa Đệm? Ai Nên Áp Dụng?
  • Phương Pháp Cấy Chỉ Chữa Thoát Vị Đĩa Đệm
  • Sự đối lập giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng

    a) Phương pháp siêu hình

    Phương pháp siêu hình là phương pháp:

    + Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.

    + Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại; nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng.

    Phương pháp siêu hình làm cho con người “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”.

    Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượng nào trước hết con người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thức nó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định. Song phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm.

    b) Phương pháp biện chứng

    Phương pháp biện chứng là phương pháp:

    + Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau.

    + Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển. Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng.

    Như vậy phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Nó thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “hoặc là… hoặc là…” còn có cả cái “vừa là… vừa là…” nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau.

    Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại. Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Tạo Bản Đồ 3D Trong Excel
  • Nội Dung Và Hình Thức: Quan Hệ Biện Chứng Và Ý Nghĩa
  • Thực Trạng Áp Dụng Phương Pháp Socrate (Truy Vấn) Và Mootcourt (Diễn Án) Trong Đào Tạo Luật Tại Một Số Trường Đại Học Và Giải Pháp Áp Dụng Tại Trường Đại Học Ngoại Thương
  • Socrate Và Vấn Đề Tích Cực Hóa Nhận Thức
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng
  • Những Nét Cơ Bản Của Phương Pháp Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng
  • Socrate Và Vấn Đề Tích Cực Hóa Nhận Thức
  • Thực Trạng Áp Dụng Phương Pháp Socrate (Truy Vấn) Và Mootcourt (Diễn Án) Trong Đào Tạo Luật Tại Một Số Trường Đại Học Và Giải Pháp Áp Dụng Tại Trường Đại Học Ngoại Thương
  • Nội Dung Và Hình Thức: Quan Hệ Biện Chứng Và Ý Nghĩa
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Tạo Bản Đồ 3D Trong Excel
  • Trong sách báo triết học Liên Xô thường thấy một số tác giả tách riêng lý thuyết chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng như những phần riêng biệt của triết học Mác – Lênin. Các tác giả phân chia như vậy thường đưa học thuyết Mác về vật chất và ý thức, việc phân tích hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học vào phần lý thuyết, còn trong phần phương pháp biện chứng thì đưa học thuyết về các quy luật và phạm trù cơ bản của phép biện chứng.

    Trong học thuyết triết học Mác – Lênin, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng liên hệ qua lại hữu cơ với nhau. Ở đây lý luận triết học thể hiện dưới dạng hệ thống các quan điểm đối với thế giới, cho ta một cách hiểu thống nhất về những hiện tượng xảy ra trong thế giới, xác định vị trí của con người ở đó. Lý luận này được đề ra không chỉ trên cơ sở giải quyết một cách khoa học vấn đề mối tương quan giữa vật chất và ý thức, mà còn trên cơ sở nghiên cứu những hình thức phổ biến của tồn tại, những thuộc tính và mối liên hệ phổ biến của thực tiễn khách quan, và trên cơ sở nhận thức những quy luật phổ biến hoạt động trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy con người. Còn nếu đưa học thuyết về các quy luật phổ biến của thực tiễn khỏi lý thuyết triết học, thì sẽ làm cho nó nghèo nàn đi rất nhiều, làm mất tính cơ sở và tính khoa học nhất quán của nó. Vấn đề là ở chỗ không có phép biện chứng với tư cách là lý thuyết chung của sự phát triển, không có những quy luật do phép biện chứng nghiên cứu, thì chúng ta không thể luận cứ một cách khoa học cho tính có sau của ý thức được, không thể chỉ ra rằng ý thức là kết quả phát triển của vật chất, và xuất hiện trong các tạo thể vật chất được tổ chức theo một kiểu thích hợp. Đồng thời, ta cũng không thể phát hiện được cơ chế phản ánh của thực tiễn khách quan trong ý thức, tức là không thể đề ra được lý luận nhận thức. Mặt khác, không thể loại trừ học thuyết về tính quy luật của mối liên hệ qua lại của vật chất và ý thức cũng như lý luận của sự nhận thức ra khỏi phép biện chứng. Không có cách hiểu duy vật về mối tương quan giữa vật chất và ý thức, không có lý luận của sự nhận thức như sự phản ánh tích cực, sáng tạo của thực tiễn trong ý thức con người, thì không thể nghiên cứu được một học thuyết khoa học về các quy luật phổ biến của thực tiễn và về phương pháp nhận thức biện chứng.

    Không phải ngẫu nhiên C. Mác khi chỉ ra sự khác biệt về chất của phương pháp biện chứng của mình với phương pháp biện hcứng của Hê-ghen trước hết nhấn mạnh mối liên hệ của nó với việc giải quyết theo quan điểm duy vật vấn đề cơ bản của triết học. C. Mác viết: “Phương pháp biện chứng của tôi không những khác phương pháp của Hê-ghen về cơ bản, mà còn đối lập hẳn với phương pháp ấy nữa. Đối với Hê-ghen, quá trình tư duy – mà ông ta thậm chí còn biến thành một chủ thể độc lập dưới cái tên gọi ý niệm – chính là vị thần sáng tạo ra hiện thực, và hiện thực này chẳng qua chỉ là biểu hiện bên ngoài của tư duy mà thôi. Đối với tôi thì trái lại, ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”. Và ở một chỗ khác Mác viết: “… phương pháp nghiên cứu của tôi không giống phương pháp của Hê-ghen, bởi lẽ tôi là nhà duy vật, còn Hê-ghen là nhà duy tâm. Phép biện chứng của Hê-ghen là hình thức cơ bản của bất kỳ phép biện chứng nào, nhưng chỉ sau khi giải phóng nó khỏi hình thức thần bí của mình, và đó chính là cái khác biệt giữa phép biện chứng của Hê-ghen với phương pháp của tôi “.

    Nhiều tác giả khác cũng nhấn mạnh mối liên hệ tất yếu giữa phương pháp nhận thức bei65n chứng với việc giải quyết duy vật vấn đề cơ bản của triết học. Chẳng hạn, về vấn đề này I.X. Na-rơ-xki đã viết: “Phương pháp biện chứng của Mác là phương pháp duy vật, và nó có thể trở thành phương pháp biến đổi và cải tạo thực tiễn chính bởi lẽ nó xa lạ với mọi sự tự biện định trước và bảo đảm phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan”. “Khi chúng ta nói tới ý nghĩa phương pháp lậun của các quy luật và phạm trù của phép biện chứng, – I.Đ. An-đrê-ép nhấn mạnh, – thì không phải hcúng ta nói tới phép biện chứng nói chung (mà thực ra không có), mà chính là nói tới phép biện chứng duy vật. Chúng ta đều biết rằng Mác đã nhận thấy sự khác biệt cơ bản của phương pháp duy vật biện chứng với phương pháp biện chứng của Hê-ghen, và thậm chí còn nhìn thấy cả sự đối lập trực tiếp giữa chúng chính trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học”.

    Một vài tác giả có tính đến tình hình này và cho rằng nên gọi phương pháp của Mác đúng hơn là phương pháp biện chứng duy vật, chứ không chỉ đơn thuần là phương pháp biện chứng.

    Khi loại trừ phép biện chứng ra khỏi lý luận về chủ nghĩa duy vật, học thuyết về các thuộc tính và mối liên hệ phổ biến của thực tiễn, về các quy luật phổ biến hoạt động trong tự nhiên, trong xã hội và tư duy đã bị đồng nhất với phương pháp biện chứng. Do đó phương pháp ở đây được hiểu không phải là những nguyên tắc định hướng con người trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của họ – những nguyên tắc được hình thành trên cơ sở các quy luật phổ biến của thực tiễn, mà lại được hiểu chính là các quy luật ấy, là học thuyết về chúng. Nhưng học thuyết về các quy luật hoạt động trong lĩnh vực nào đó của thực tiễn, như đã nêu trên, không phải là phương pháp, mà là lý thuyết. Vậy là, do không xem phương pháp biện chứng như tổng hòa các nguyên tắc, các yêu cầu đối với chủ thể tư duy hay chủ thể hành động, quy định hình thức hay trình tự hành động nhất định (hành vi) của chủ thể đối với khách thể, các tác giả tán thành quan điểm này đã chia học thuyết triết học Mác – Lênin thống nhất và hoàn chỉnh thành hai lý thuyết tương đối độc lập, tồn tại song song: lý thuyết về chủ nghĩa duy vật và lý thuyết về phép biện chứng. V.I. Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong chủ nghĩa duy vật biện chứng liên hệ hữu cơ với nhau, và không phải là hai lý thuyết khác nhau mà chỉ là một mà thôi.

    Là một phương pháp phổ biến được áp dụng trong bất kỳ lĩnh vực nào của nhận thức và hoạt động thực tiễn, phương pháp biện chứng phản ánh những thuộc tính và liên hệ phổ biến của thực tiễn khách quan. Những yêu cầu và nguyên tắc của phương pháp này được hình thành trên cơ sở các quy luật và phạm trù của phép biện chứng, là kết luận rút ra từ các tính quy luật biện chứng phổ biến và được biểu hiện trong nội dung của chúng. Những nguyên tắc này định hướng một cách đúng đắn cho con người trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của họ, tạo điều kiện đi sâu vào bản chất của đối tượng và cải tạo nó theo một mục tiêu nhất định, bởi lẽ những quy luật biện chứng được thể hiện trong các yêu cầu phương pháp luận và hướng quá trình tư duy vào một dòng nhất định được biểu lộ ngay trong đối tượng, và bởi lẽ là ngay trong đối tượng đó cũng có phép biện chứng.

    TH: T.Giang – SCDRC

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Tưởng Biện Chứng Của Hegel Và Sự Kế Thừa Của Triết Học Marx :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Ý Nghĩa Của Phép Biện Chứng Heghen :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Vận Dụng Phép Biện Chứng Duy Vật Trong Quá Trình Xây Dựng Và Thực Hiện Đường Lối Đổi Mới Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Vốn Bình Quân Gia Quyền (Wacc) Là Gì? Cách Tính Chi Phí Sử Dụng Vốn Bình Quân Gia Quyền
  • So Sánh Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình?

    --- Bài mới hơn ---

  • Chương 1: Các Cuộc Cách Mạng Tư Sản (Từ Giữa Thế Kỉ Xvi Đến Cuối Thế Kỉ Xviii)
  • De Thi De Thi Hsg 12 Thpt 2021 Hai Duong
  • So Sánh Biên Dịch Viên Và Phiên Dịch Viên Đặc Điểm Giống Nhau Và Không Giống Nhau Giữa Họ
  • Vài Nét Về Hoạt Động Định Hướng Dư Luận Xã Hội
  • Sự Khác Nhau Giữa Áo Dài Và Sườn Xám 2021
  • Phương pháp hiểu theo nghĩa chung nhất là hệthống các nguyên tắcđược sửdụngnhất quán trong hoạt động nói chung của con người. Phương pháp bao gồm có phương pháp nhận thức và phương pháp thực tiễn. Phương pháp của triết học là phương pháp nhận thức thế giới hiện thực. Trong lịch sử phát triển của triết học, đã tồn tại hai phương pháp nhận thức đối lập nhau: đó làphương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình.

    Phương pháp biện chứng là phương pháp nhận thức thếgiới với quanđiểm cơbảncho rằng, sự tồn tại của mọi sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan nói chung đều ở trong những mối liên hệ, trong sự vận động và phát triển theo những qui luật khách quan vốn có của nó.

    Phương pháp siêu hình là phương pháp nhận thức thếgiới với quanđiểm cơbản chorằng, mọi sự vật và hiện tượng của thế giới vật chất đều tồn tại cô lập lẫn nhau, cái này ở bên cạnh cái kia và nó luôn ở trong trạng thái tĩnh không có sự vận động và phát triển. Nhưng nếu như có thừa nhận sự phát triển thì chẳng qua chỉ là một quá trình tăng hoặc giảm về số lượng. Mặt khác, quan điểm này không thừa nhận mâu thuẫn bên trong bản thân các sự vật và hiện tượng.

    Sự đối lập giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình trong lịch sửtriếthọc chủ yếu về mặt nguyên tắc và phương pháp nhận thức thế giới khách quan. Trong việc nghiên cứu của khoa học tự nhiên, thì vấn đề phân chia thế giới hiện thực thành các thuộc

    tính, bộ phận, hệ thống tĩnh tại và tách rời nhau đều là những điều kiện cần thiết cho nhận thức khoa học. Nhưng sẽ không đúng, nếu từ đó rút ra kết luận cho rằng phép siêu hình là thế giới quan khoa học và đúng đắn nhất. Cần phải phân biệt một bên là phương pháp trừu tượng hoá tạm thời cô lập sự vật và hiện tượng khỏi mối liên hệ chung, tách khỏi sự vận động và phát triển để nghiên cứu chúng, với một bên là phép siêu hình với tư cách là thế giới quan của triết học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Danh Sách Các Công Ty Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ Cập Nhật
  • So Sánh Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ
  • 9 Cách Phân Biệt Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Phi Nhân Thọ Khác Nhau
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Chấn Thương Thể Thao
  • Phân Biệt Ngay Trật Khớp Và Bong Gân Với Những Dấu Hiệu Đơn Giản Này!
  • Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Có Sự Khác Biệt Căn Bản Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 Doc
  • Sự Khác Nhau Giữa Ba Hình Thức Của Chủ Nghĩa Duy Vật
  • Những Nét Cơ Bản Nhất Của Lịch Sử Hình Thành Phép Biện Chứng
  • Giá Trị Thặng Dư Là Gì? Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối Và Tương Đối
  • Giá Trị Thặng Dư Siêu Ngạch?
  • 1. Sự đối lập giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình

    Trong lịch sử triết học, bên cạnh vấn đề bản chất thế giới là vật chất hay tinh thần, còn một vấn đề quan trọng khác cần triết học giải quyết – đó là vấn đề về trạng thái tồn tại của thế giới. Vấn đề đó được biểu hiện qua các câu hỏi đặt ra: Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới tồn tại trong trạng thái biệt lập, tách rời, đứng im, bất biến hay có quan hệ, ràng buộc với nhau, không ngừng vận động, biến đổi? Giải đáp câu hỏi đó đã làm nảy sinh hai phương pháp (quan điểm) nhận thức đối lập nhau – phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình.

    a) Phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, tách rời với các sự vật khác; xem xét sự vật trong trạng thái không vận động, không biến đổi.

    Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ quan niệm cho rằng muốn nhận thức một đối tượng nào đó trước hết phải tách đối tượng đó ra khỏi mọi mối quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác; đồng thời phải nhận thức đối tượng trong trạng thái không vận động, không biến đổi. Việc xem xét đối tượng sự vật theo quan niệm như vậy cũng có tác dụng nhất định. Tuy nhiên, sai lầm căn bản của phương pháp siêu hình chính là đã tuyệt đối hoá trạng thái tĩnh tương đối của đối tượng sự vật. Trong thực tế, các sự vật, hiện tượng không tồn tại trong trạng thái tĩnh, bất biến một cách tuyệt đối. Trái lại, các sự vật hiện tượng luôn nằm trong những mối quan hệ và trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng.

    Ph.Ăngghen đã từng vạch rõ sự hạn chế của phương pháp siêu hình là “Chỉ nhìn thấy những sự vật mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng” .

    b) Phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái quan hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau với các sự vật khác xung quanh; xem xét sự vật trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng của nó.

    Phương pháp biện chứng là hệ quả tất yếu của quan điểm biện chứng, – quan điểm khẳng định các sự vật hiện tượng đều luôn tồn tại trong trạng thái vận động và trong mối quan hệ hữu cơ với nhau. Do đó, muốn nhận thức đúng về sự vật, cần phải nhận thức, xem xét sự vật trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng của nó, trong trạng thái quan hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau giữa nó với các sự vật khác xung quanh.

    Có thể kết luận rằng: Sự khác biệt căn bản giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng là ở chỗ, phương pháp siêu hình nhìn nhận sự vật bằng một tư duy cứng nhắc, máy móc; còn phương pháp biện chứng nhìn nhận, xem xét sự vật với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Phương pháp biện chứng không chỉ nhìn thấy những sự vật cụ thể mà còn thấy mối quan hệ qua lại giữa chúng; không chỉ thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành, sự diệt vong của chúng; không chỉ thấy trạng thái tĩnh mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật; không chỉ “thấy cây mà còn thấy cả rừng”. Đối với phương pháp siêu hình thì, sự vật hoặc tồn tại, hoặc không tồn tại; hoặc là thế này, hoặc là thế khác; “hoặc là… hoặc là…”, chứ không thể vừa là thế này vừa là thế khác; “vừa là… vừa là…”. Đối với phương pháp biện chứng thì, một sự vật vừa là thế này vừa là thế kia, “vừa là… vừa là…”. Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực khách quan đúng như nó đang tồn tại. Vì vậy, phương pháp biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới.

    2. Các hình thức cơ bản của phép biện chứng

    Với tư cách là một phương pháp nhận thức đúng đắn về thế giới, phương pháp biện chứng không phải ngay khi ra đời đã trở nên hoàn chỉnh, mà trái lại nó phát triển qua từng giai đoạn gắn liền với sự phát triển của tư duy con người. Trong lịch sử triết học, sự phát triển của phương pháp biện chứng được biểu hiện qua ba hình thức lịch sử của phép biện chứng: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật.

    + Phép biện chứng tự phát là hình thức biện chứng tồn tại ở thời cổ đại. Các nhà biện chứng cổ đại cả phương Đông lẫn phương Tây đã nhận thức được các sự vật, hiện tượng của vũ trụ luôn tồn tại trong trạng thái vận động, biến đổi và trong những mối liên hệ chằng chịt với nhau. Tuy nhiên, những nhận xét của các nhà biện chứng cổ đại về sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng chủ yếu vẫn chỉ là kết quả của sự quan sát, trực kiến thiên tài chứ chưa phải là kết quả của sự nghiên cứu và của thực nghiệm khoa học. Vì vậy, tư tưởng biện chứng thời kỳ này chủ yếu dừng ở những đánh giá về hiện tượng biến đổi, mối liên hệ giữa các sự vật chứ chưa thật sự đi sâu vào xem xét bản thân sự vật để có những nhận xét sâu sắc về sự vận động của sự vật. Theo Ph.Ăngghen, cách nhận xét thế giới của các nhà biện chứng cổ đại như trên là cách nhận xét còn nguyên thuỷ, ngây thơ nhưng căn bản là đúng.

    + Phép biện chứng duy tâm biểu hiện tập trung, rõ nét nhất trong triết học cổ điển Đức, mà người khởi đầu là I.Cantơ và người hoàn thiện là Ph.Hêghen. Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử của tư duy nhân loại, các nhà biện chứng trong nền triết học cổ điển Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phép biện chứng. Các nhà biện chứng cổ điển Đức không chỉ nhìn thế giới trong quá ttrình vận động, phát triển, trong tính chỉnh thể thống nhất mà còn khẳng định về tính quy luật của sự phát triển đó. Tuy nhiên, phép biện chứng này lại mang tính duy tâm, biểu hiện ở việc khẳng định sự phát triển của thế giới xuất phát từ tinh thần và kết thúc cũng ở tinh thần. Theo Ph.Hêghen, sự phát triển thực chất là quá trình vận động, phát triển của yếu tố tinh thần gọi là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần tuyệt đối”. Trong quá trình phát triển của mình, “ý niệm tuyệt đối” tự tha hoá chuyển thành giới tự nhiên, xã hội để sau đó lại quay trở về bản thân mình. Như vậy, đối với phép biện chứng duy tâm này, sự vận động phát triển của giới hiện thực chẳng qua chỉ là sự sao chép lại sự tự vận động của “ý niệm tuyệt đối”.

    +Phép biện chứng duy vật là hình thức biện chứng biểu hiện trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng trên cơ sở khắc phục tính chất duy tâm của phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, sau đó được V.I.Lênin phát triển. C.Mác và Ph.Angghen đã gạt bỏ tính chất duy tâm, thần bí đồng thời kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Cổ Tử Cung Hiệu Quả
  • Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Cổ Tử Cung Bằng Phương Pháp Nào Là Hiệu Quả?
  • Điều Trị Dứt Điểm Bệnh Viêm Lộ Tuyến Bằng Phương Pháp Sóng Cao Tần Rfa
  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Đúc Kim Loại, Tính Công Nghệ, Ưu Và Nhược Điểm
  • Tìm Hiểu Về Các Phương Pháp Đúc Đặc Biệt Trong Cơ Khí.
  • Phương Pháp Biện Chứng Là Gì? Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Quá Trình Phát Triển Của Phép Biện Chứng Trong Lịch Triết Học
  • Phép Biện Chứng Trong Triết Học Phương Đông
  • Khám Phá Phương Pháp Truy Vấn Socrates
  • Bài 2. Một Số Phương Pháp Biểu Hiện Các Đối Tượng Địa Lý Trên Bản Đồ
  • Phân Tích Sự Đối Lập Giữa Phương Pháp Siêu Hình Và Phương Pháp Biện Chứng
  • Các khái niệm “biện chứng” và “siêu hình” trong lịch sử được dùng theo một số nghĩa khác nhau. Còn trong triết học hiện đại, đặc biệt là triết học mác-xít, chúng được dùng, trước hết để chỉ hai phương pháp chung nhất đối lập nhau của triết học.

    Phương pháp biện chứng phản ánh “biện chứng khách quan” trong sự vận động, phát triển của thế giới. Lý luận triết học của phương pháp đó được gọi là “phép biện chứng”.

    Phương pháp siêu hình là phương pháp:

    – Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.

    – Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại. Nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng.

    Phương pháp siêu hình làm cho con người “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”.

    Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượng nào trước hết con người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thứcnnó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định.

    Song phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm.

    2.1. Phương pháp biện chứng là phương pháp:

    Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau.

    – Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển. Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng.

    Như vậy phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Nó thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “hoặc là… hoặc là…” còn có cả cái “vừa là… vừa là…” nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau.

    Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại. Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới.

    2.2. Các giai đoạn phát triển cơ bản của phép biện chứng:

    Cùng với sự phát triển của tư duy con người, phương pháp biện chứng đã qua ba giai đoạn phát triển, được thể hiện trong triết học với ba hình thức lịch sử của nó: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật.

    Các nhà biện chứng cả phương Đông lẫn phương Tây thời kỳ này đã thấy các sự vật, hiện tượng của vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận.

    Tuy nhiên, những gì các nhà biện chứng hồi đó thấy được chỉ là trực kiến, chưa phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.

    Đỉnh cao của hình thức này được thể hiện trong triết học cổ điển Đức, người khởi đầu là và người hoàn thiện là Hêghen.

    Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của tư duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phương pháp biện chứng.

    Song theo họ biện chứng ở đây bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần, thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm nên biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức là biện chứng duy tâm.

    Phép biện chứng duy vật được thể hiện trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng, sau đó được V.I.Lênin phát triển.

    C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lịch Sử Phát Triển Của Phép Biện Chứng Trong Triết Học
  • Hãy Nêu Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Nguyên Lý Biện Chứng Mác Xít?
  • Luận Văn Tiểu Luận Bàn Luận Về Vấn Đề Đổi Mới Toàn Diện Nội Dung Và Phương Pháp Dạy Học Ở Bậc Học Phổ Thông Trên Quan Điểm Biện Chứng
  • Phép Biện Chứng Và Tư Duy Biện Chứng
  • Vai Trò Của Tư Duy Biện Chứng Duy Vật Đối Với Sinh Viên Đại Học Nước Ta
  • Phương Pháp Biện Chứng Và Các Phương Pháp Nhận Thức Đặc Thù Khoa Học Chung

    --- Bài mới hơn ---

  • Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Và Chủ Nghĩa Duy Vật Lịch Sử
  • Vai Trò Của Tư Duy Biện Chứng Duy Vật Đối Với Sinh Viên Đại Học Nước Ta
  • Phép Biện Chứng Và Tư Duy Biện Chứng
  • Luận Văn Tiểu Luận Bàn Luận Về Vấn Đề Đổi Mới Toàn Diện Nội Dung Và Phương Pháp Dạy Học Ở Bậc Học Phổ Thông Trên Quan Điểm Biện Chứng
  • Hãy Nêu Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Nguyên Lý Biện Chứng Mác Xít?
  • Phương pháp biện chứng với tư cách là toàn bộ những nguyên tắc, những yêu cầu được đào tạo dựa vào các quy luật phổ biến của hiện thực, dựa vào các quy luật hình thành và phát triển của nhận thức xã hội, của các nguyên tắc định hướng cho con người trong hoạt động nhận thức của mình, phương pháp ấy không loại bỏ việc nghiên cứu và sử dụng các phương pháp cũng như các thủ pháp nhận thức đặc thù khoa học chung. Các phương pháp và thủ pháp đó gắn liền với việc giải quyết những nhiệm vụ nhận thức cụ thể nào đó. Chúng được vận dụng ở những giai đoạn rất xác định trong sự phát triển của nhận thức khoa học – những giai đoạn quy định sự xuất hiện của những nhiệm vụ đó.

    Việc nghiên cứu và sử dụng các phương pháp và thủ pháp đặc thù khoa học chung trong nghiên cứu khoa học có kết quả hơn cả khi chúng tính đến những yêu cầu của sự nhận thức biện chứng. Nói một cách khác, trong những yêu cầu của các phương pháp nói trên ở dạng loại bỏ cần có những yêu cầu tương ứng của phương pháp nhận thức biện chứng.

    Chúng ta sẽ xem xét các phương pháp và thủ pháp nhận thức khoa học chung được vận dụng cho những giai đoạn phát triển cơ bản của nhận thức khoa học.

    Bước thứ nhất, đầu tiên của nhận thức khoa học là việc có được những cứ liệu thích đáng về đối tượng được nghiên cứu, là việc xác định được những sự kiện cho những thông tin nhất định về các thuộc tính và các mối liên hệ của đối tượng.

    Các sự kiện – đó là các mặt, các khía cạnh nào đó của hiện thực được con người cảm thụ và ghi nhận dưới một hình thức xác định. Đặc điểm quan trọng nhất của một sự kiện khoa học là tính xác thực của nó cho phép kiểm tra bằng thực nghiệm. Các sự kiện là cơ sở kinh nghiệm của khoa học. Chỉ có dựa vào đó, nhà khoa học mới có thể đi sâu vào bản chất của hiện tượng được nghiên cứu. Theo cách diễn đạt của nhà sinh lý học Nga vĩ đại I.P. Pa-vlốp, sự kiện là không khí của nhà khoa học.

    Để nhận được các sự kiện cần thiết trong khoa học người ta sử dụng các phương pháp nhận thức như quan sát, thí nghiệm, mô hình hóa.

    Trong quan sát, các giác quan của con người đóng vai trò chủ chốt. Song, như đã biết, những khả năng của chúng trong tri giác các mặt nào đó của hiện thực còn hạn chế. Vì vậy, khi quan sát người ta sử dụng rộng rãi các dụng có khả năng tăng cường hiệu quả của việc quan sát và mở rộng phạm vi các hiện tượng có thể tri giác. Ví dụ, con người không thể tri giác trực tiếp các hạt cơ bản, cấu trúc của phân tử và nguyên tử, các thiên thể rất xa… Nhờ các loại dụng cụ mà con người đã có thể quan sát được tất cả những cái đó. Việc sử dụng có kết quả các dụng cụ để nghiên cứu các đối tượng hết sức khác nhau chứng tỏ rằng về mặt nguyên tắc là không tồn tại những hiện tượng không thể quan sát được.

    Do sử dụng các dụng cụ và các phương tiện kỹ thuật khác, người ta đã phân biệt những quan sát trực tiếp và những quan sát gián tiếp. Quan sát mà trong quá trình đó đối tượng tác động trực tiếp lên các giác quan của người quan sát, được gọi là quan sát trực tiếp, còn quan sát mà trong đó tác động của đối tượng lên các giác quan của người quan sát phải thông qua dụng cụ thì gọi là quan sát gián tiếp. Trong nghiên cứu khoa học hiện đại, hai loại quan sát đó thường không được sử dụng dưới dạng thuần túy của chúng, mà thể hiện với tư cách là các mặt trong một quá trình phức tạp thống nhất nhằm nhận được những thông tin về các thuộc tính và các mối liên hệ của đối tượng được nghiên cứu.

    Trong một số trường hợp, việc sử dụng các dụng cụ dẫn tới những sai lệch hay thậm chí những thay đổi nhất định vào đối tượng được quan sát và như vậy làm cho người quan sát mất khả năng cảm thụ đối tượng đúng như nó đang tồn tại trong điều kiện tự nhiên. Ví dụ, ảnh hưởng của dụng cụ đối với các vi hạt được quan sát lớn đến mức vi hạt thực sự hiện ra trước mắt chủ thể quan sát dưới dạng đã thay đổi. Song trái hẳn với những người theo chủ nghĩa thực chứng, tình trạng đó không phải là trở ngại không thể khắc phục nổi để nhận thức được các thuộc tính khách quan của đối tượng vi mô. Chỉ có điều, nó buộc người quan sát khi đưa ra kết luận phải tính đến các tính năng của dụng cụ, các quy luật tương tác giữa dụng cụ với đối tượng được nghiên cứu.

    Một khía cạnh cần thiết trong quan sát khoa học là mô tả. Mô tả là sự ghi nhận dưới hình thức nào đó các kết quả quan sát được, những thông tin về đối tượng được nghiên cứu. Khi mô tả người ta sử dụng các phương tiện tự nhiên và nhân tạo để diễn đạt thông tin như khái niệm khoa học, ký hiệu, sơ đồ, đồ thị… Những yêu cầu quan trọng nhất đối với mô tả khoa học là: độ chính xác, tính lôgích nghiêm ngặt và dễ hiểu. Trong giai đoạn phát triển hiện nay của khoa học, những yêu cầu đó được thực hiện trên cơ sở sử dụng rộng rãi ngôn ngữ nhân tạo.

    Đo lường là một hoạt động nhận thức bảo đảm việc diễn đạt bằng số các đại lượng được đo. Đo lường được thực hiện nhờ mối tương quan, sự so sánh thuộc tính hoặc khía cạnh được đo của đối tượng được quan sát với một biểu mẫu nào đó lấy làm đơn vị đo lường, và vì thế nó cho phép ghi nhận không chỉ những thuộc tính, mà cả những mối quan hệ nhất định của đối tượng. Đo lường thường có hai dạng: trực tiếp và gián tiếp. Đo lường trực tiếp là đem so sánh trực tiếp hiện tượng, thuộc tính dược đo với mẫu chuẩn tương ứng, đo lường gián tiếp là xác định đại lượng của thuộc tính cần đo trên cơ sở tính toán sự phụ thuộc nhất định vào các đại lượng khác. Đo lường gián tiếp giúp cho việc tiến hành xác định các đại lượng trong những điều kiện khi việc đo lường trực tiếp trở nên quá phức tạp hoặc là không thể thực hiện được (đo lường các thuộc tính khác nhau của các đối tượng trong vũ trụ, của các vi thể…).

    Quan sát đòi hỏi phải vạch rõ và ghi nhận những thuộc tính và các mối liên hệ của đối tượng ở trạng thái tự nhiên. Song, một điều quan trọng đối với chủ thể nhận thức là cũng phải biết cả những thuộc tính và các mối liên hệ khác của đối tượng không quan sát được trong điều kiện tự nhiên, song lại được thể hiện trong tình huống khác khi có những tương tác khác. Để nhận được thông tin về những thuộc tính và các mối liên hệ của đối tượng không thể quan sát trong những điều kiện bình thường, người ta tiến hành thí nghiệm.

    Thí nghiệm là một phương pháp nghiên cứu khoa học đòi hỏi có sự thay đổi thích hợp của đối tượng hoặc tái tạo đối tượng trong những điều kiện được tạo ra một cách đặc biệt nhằm mục đích nhận được những thông tin về các thuộc tính và các mối liên hệ của đối tượng.

    Khác với quan sát khi chủ thể không can thiệp vào hiện tượng được nghiên cứu mà chỉ giới hạn ở việc ghi nhận trạng thái tự nhiên của đối tượng, thí nghiệm đòi hỏi chủ thể phải can thiệp một cách tích cực, có mục đích rõ ràng vào phạm vi được nghiên cứu của các hiện tượng, vi phạm trạng thái tự nhiên của sự vật, đặt đối tượng vào những điều kiện được đặc biệt định trước. Do đó, người nghiên cứu buộc đối tượng phải thể hiện những thuộc tính mới không quan sát thấy ở trạng thái tự nhiên. Thay đổi những điều kiện đó theo hướng nào đó, người nghiên cứu theo dõi được khuynh hướng thay đổi các thuộc tính đang được quan sát và như vậy sẽ nhận được những tư liệu phong phú tiêu biểu cho hành vi của đối tượng trong các tình huống khác nhau. Vì trong khi thí nghiệm, đối tượng cần nghiên cứu được quan sát trong những điều kiện được kiểm soát và tạo ra từ trước, nên khi cần có thể lặp lại thí nghiệm và do đó kiểm tra được việc quan sát.

    Song, có những đối tượng mà chủ thể không thể tác động trực tiếp hoặc tác động như thế rất khó khăn, không có lợi về mặt kinh tế… Ví dụ, chúng ta không thể tác động trực tiếp vào quá trình tạo ra kim cương trong tự nhiên, sinh ra sự sống trên Trái Đất, những quá trình diễn ra trên Mặt trời,… Trong các trường hợp như vậy, người ta tiến hành thí nghiệm không phải ở chính đối tượng, mà ở một đối tượng khác mà trong mối quan hệ nào đó là giống với đối tượng được nghiên cứu, tái tạo được những thuộc tính hay các mối quan hệ khác nhau của nó. Dạng thí nghiệm này được gọi là thí nghiệm mô hình, còn bản thân phương pháp nghiên cứu thì được gọi là mô hình hóa.

    Mô hình hóa là tái tạo những thuộc tính và các mối liên hệ xác định của đối tượng được nghiên cứu trong một đối tượng khác, được tạo ra một cách đặc biệt – nghĩa là trong mô hình nhằm mục đích nghiên cứu chúng kỹ lưỡng hơn. Các máy xi-béc-nê-tíc mô phỏng những thuộc tính của bộ não con người, các thiết bị đặc biệt tái tạo ra tình trạng không trọng lượng, trạng thái phóng xạ cao dần, áp suất siêu cao và siêu thấp,… đều có thể coi là những ví dụ về mô hình.

    Các ô hình có thể là mô hình vật chất, cũng có thể là mô hình lý tưởng. Các mô hình vật chất là những đối tượng được con người tạo ra, hoặc lựa chọn một cách đặc biệt, về mặt vật lý tái tạo được những thuộc tính và các mối liên hệ khác nhau đặc trưng cho hiện tượng được nghiên cứu. Ví dụ, mô hình một cái cầu, một con đập, một trạm thủy điện, một con tàu, một chiếc máy bay, một chiếc xe đạp hiện nay được sử dụng rộng rãi trong khoa học kỹ thuật đều là những mô hình loại đó. Các mô hình lý tưởng là cấu trúc tư duy, các sơ đồ lý thuyết tái tạo những thuộc tính và các mối liên hệ của đối tượng được nghiên cứu dưới hình thức lý tưởng. Các mô hình này được ghi nhận nhờ các ký hiệu, hình vẽ xác định và các phương tiện vật chất.

    Đặc điểm quan trọng nhất của mô hình là sự giống nhau giữa mô hình với nguyên bản về những thuộc tính và các mối liên hệ được nghiên cứu. Chính điều đó là cơ sở để chuyển những kiến thức thu được khi nghiên cứu mô hình sang chính nguyên bản. Hình thức tư duy thực hiện việc chuyển sang như vậy là sự loại suy.

    TH: T.Giang – SCDRC

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Phép Biện Chứng Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Triết Học Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Thực Chất Và Ý Nghĩa Của Tư Tưởng Triết Học Hồ Chí Minh
  • Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác
  • Tư Tưởng Biện Chứng Của Hegel Và Sự Kế Thừa Của Triết Học Marx
  • Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Giáo Án Gdcd Khối 10
  • Bài 1: Tgq Duy Vật Và Ppl Biện Chứng Anhanh Ppt
  • Phép Biện Chứng Và Các Hình Thức Cơ Bản Của Phép Biện Chứng
  • So Sánh Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa 4 Cuộc Cách Mạng Tư Sản Anh, Pháp, Mĩ, Hà Lan ? Câu Hỏi 70139
  • – Biện chứng là gì?

    + Khái niệm biện chứng dùng để chỉ những mối liên hệ và sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy.

    + Khái niệm biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan.

    Biện chứng khách quan là chỉ biện chứng của các tồn tại vật chất; còn biện chứng chủ quan là chỉ biện chứng của ý thức.

    Có sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm trong việc giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan. Theo quan niệm duy tâm: biện chứng chủ quan là cơ sở của biện chứng khách quan; còn theo quan điểm duy vật: biện chứng khách quan là cơ sở của biện chứng chủ quan. Ph. Ăngghen khẳng định: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ giói tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh sự chi phối, trong toàn bộ giới tự nhiên…”.

    Sự đối lập nhau trong quan niệm đó là cơ sở phân chia phép biện chứng thành: phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật.

    – Phép biện chứng là gì?

    Phép biện chứng là học thuyết về biện chứng của thế giới.

    Với tư cách là học thuyết triết học, phép biện chứng khái quát những mối liên hệ phổ biến và những quy luật chung nhất của mọi quá trình vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy; từ đó xây dựng các nguyên tắc phương pháp luận chung cho các quá trình nhận thức và thực tiễn.

    – Các hình thức lịch sử của phép biện chứng

    Phép biện chứng đã có lịch sử phát triển trên 2.000 năm từ thời cổ đại phương Đông và phương Tây, với ba hình thức cơ bản (cũng là thể hiện ba trình độ phát triển của phép biện chứng trong lịch sử triết học):

    + Phép biện chứng chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của phép biện chứng trong lịch sử triết học. Nó là một nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại. Tiêu biểu cho những tư tưởng biện chứng của triết học Trung Quốc là “biến dịch luận” (học thuyết về những nguyên lý, quy luật biến đổi phổ biến trong vũ trụ) và “ngũ hành luận” (học thuyết về những nguyên tắc tương tác, biến đổi của các tố chất bản thể trong vũ trụ) của Âm dương gia. Trong triết học Ân Độ, biểu hiện rõ nét nhất của tư tưởng biện chứng là triết học của đạo Phật, với các phạm trù “vô ngã”, “vô thường”, “nhân duyên”… Tiêu biểu cho phép biện chứng của triết học Hy Lạp cổ đại là những quan điểm biện chứng của Heraclit.

    + Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức được khởi đầu từ những quan điểm biện chứng trong triết học của I. Kantơ và đạt tới đỉnh cao trong triết học của Ph. Hêghen. Ph. Hêghen đã nghiên cứu và phát triển các tư tưởng biện chứng thời cổ đại lên một trình độ mới – trình độ lý luận sâu sắc và có tính hệ thông chặt chẽ, trong đó trung tâm là học thuyết về sự phát triển. Tuy nhiên, phép biện chứng trong triết học của Ph. Hêghen là phép biện chứng được xây dựng trên lập trường duy tâm (duy tâm khách quan) nên hệ thống lý luận này chưa phản ánh đúng đắn bức tranh hiện thực của các mốì liên hệ phổ biến và sự phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Theo lý luận này, bản thân biện chứng của các quá trình trong giới tự nhiên và xã hội chỉ là sự tha hoá của bản chất biện chứng của “ý niệm tuyệt đối”.

    + Phép biện chứng duy vật do C. Mác và Ph. Ăngghen sáng lập là hình thức phát triển cao nhất của phép biện chứng. Nó được xây dựng trên cơ sở kế thừa những giá trị hợp lý trong lịch sử phép biện chứng, đặc biệt là kế thừa những giá trị hợp lý và khắc phục những hạn chế trong phép biện chứng của Ph. Hêghen; đồng thời phát triển phép biện chứng trên cơ sở thực tiễn mới, nhờ đó làm cho phép biện chứng đạt đến trình độ hoàn bị trên lập trường duy vật mới.

    – Sự đối lập căn bản giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình trong nhận thức

    Sự đối lập căn bản giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình trong việc nhận thức thế giới là ở chỗ: phương pháp biện chứng là phương pháp nhận thức sự vật, hiện tượng trong các mối liên hệ phổ biến, tương tác, chuyển hoá, vận động và phát triển; còn phương pháp siêu hình là phương pháp nhận thức các sự vật, hiện tượng không trong mối liên hệ, tương tác, chuyển hoá, vận động và phát triển; nó tuyệt đối hoá tính chất ổn định, cô lập của các sự vật, hiện tượng. Do đó, phương pháp siêu hình chỉ có giá trị trong một phạm vi nhất định. Chỉ có phương pháp biện chứng mới có thể cho phép nhận thức sự vật, hiện tượng đúng như chúng tồn tại trong thực tế.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?
  • Sự Khác Nhau Giữa Phương Pháp Siêu Hình Phương Pháp Biện Chứng
  • Biểu Mẫu Số 08B Bảng Xác Định Giá Trị Khối Lượng Công Việc Hoàn Thành
  • Hướng Dẫn Cách Lập Bảng So Sánh Kế Hoạch Với Thực Hiện Dự Án Trong Excel
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Tai Nạn Chấn Thương
  • Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Giáo Án Gdcd Khối 10
  • Bài 1: Tgq Duy Vật Và Ppl Biện Chứng Anhanh Ppt
  • Phép Biện Chứng Và Các Hình Thức Cơ Bản Của Phép Biện Chứng
  • Phương pháp biện chứng và ph­ương pháp siêu hình

    Một vấn đề rất quan trọng mà triết học phải làm sáng tỏ là: các sự vật, hiện t­ợng của thế giới xung quanh ta tồn tại nh­ thế nào?

    Vấn đề này có nhiều cách trả lời khác nhau, nh­ng suy đến cùng đều quy về hai quan điểm chính đối lập nhau là biện chứng và siêu hình.

    *. Ph­ương pháp siêu hình

    – Nhận thức đối t­ợng trong trạng thái cô lập, tách rời đối t­ợng khỏi các chỉnh thể khác; giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.

    – Nhận thức đối t­ợng trong trạng thái tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đó chỉ là sự biến đổi về số lượng và nguyên nhân biến đổi nằm ở bên ngoài sự vật.

    Nh­ư vậy, phư­ơng pháp siêu hình là ph­ơng pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại với một t­ duy cứng nhắc, “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối quan hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại..mà không nhìn thấy sự phát sinh và tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh.. mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ thấy cây mà không thấy rừng”.(Sđd, t.20, tr.37).

    *. Ph­ương pháp biện chứng

    – Nhận thức đối tư­ợng trong trạng thái liên hệ với nhau, ảnh h­ởng lẫn nhau và ràng buộc lẫn nhau.

    – Nhận thức đối t­ượng trong trạng thái vận động, biến đổi và phát triển; đó là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện t­ợng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là cuộc đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn bên trong của chúng.

    Như­ vậy, ph­ương pháp biện chứng là phư­ơng pháp xem xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt, “không chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối liên hệ giữa chúng, không chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và tiêu vong của sự vật, không chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh..mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật, không chỉ thấy cây mà còn thấy cả rừng”.

    Phư­ơng pháp biện chứng đã phát triển trải qua ba giai đoạn và đ­ợc thể hiện qua ba hình thức lịch sử của phép biện chứng: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật.

    – Trong phép biện chứng tự phát thời cổ đại, các nhà biện chứng cả ph­ơng Đông và phương Tây đã thấy các sự vật, hiện t­ợng trong vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận. Nh­ng đó mới chỉ là cái nhìn trực quan, ch­a phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.

    – Trong phép biện chứng duy tâm, mà đỉnh cao là triết học cổ điển Đức (ng­ời khởi x­ớng là Cantơ và ng­ời hoàn thiện là Hêghen), lần đầu tiên trong lịch sử t­ duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của ph­ơng pháp biện chứng. Nh­ng đó là phép biện chứng duy tâm, bởi nó bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần; thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm tuyệt đối.

    – Trong phép biện chứng duy vật, C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển d­ới hình thức hoàn bị nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Phương Pháp Siêu Hình Phương Pháp Biện Chứng
  • Biểu Mẫu Số 08B Bảng Xác Định Giá Trị Khối Lượng Công Việc Hoàn Thành
  • Hướng Dẫn Cách Lập Bảng So Sánh Kế Hoạch Với Thực Hiện Dự Án Trong Excel
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Tai Nạn Chấn Thương
  • Bong Gân Và Trật Khớp: Phân Biệt Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
  • Sự Khác Nhau Giữa Phương Pháp Siêu Hình Phương Pháp Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?
  • Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Giáo Án Gdcd Khối 10
  • Bài 1: Tgq Duy Vật Và Ppl Biện Chứng Anhanh Ppt
  • Bài soạn tuần 3

    Sự khác nhau giữa phương pháp siêu hình & phương pháp biện chứng

    Triết học có nhiều phương pháp; trong đó có 2 phương pháp cơ bản là:

    1. Phương pháp siêu hình

    2. Phương pháp biện chứng.

    Biện chứng và siêu hình là hai phạm trù trong triết học, nó là hai phương pháp tư duy trái ngược nhau

    1. Phương pháp siêu hình

    Là phương pháp:

    – Nhận thức đối tượng trong trạng thái cô lập, tách rời khỏi những sự vật, hiện tượng khác.

    2. Phương pháp biện chứng

    Là phương pháp

    Xem xét về sự vật hiện tượng trong trạng thái động. Mọi sự vật hiện tượng luôn có mối liên hệ tác động qua lại nhau và trong trạng thái chung là phát triển.

    VÍ DỤ

    Một viên phấn

    – Theo phương pháp luận biện chứng: thi dưới tác dung lực cơ học thi sau khi viết viên phấn sẽ bị mài mòn đi không còn hình dạng như trước nữa. Dưới tác dụng hoá học sẽ bị ăn mòn dần … nên theo thời gian viên phấn sẽ không còn như trước nữa.

    – Theo pp luận siêu hình: thì dù bao lâu đi nữa thi viên phấn đó vẫn luôn tồn tai như thế không thay đổi.

    Tại sao nói phát triển phải diễn theo đường xoáy ốc

    – Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức được tính đúng đắn và tất yếu của sự vật bởi phát triển là khuynh hướng chung, do đó cái mới bao giờ cũng chiến thắng. Song, quá trình phát triển không diễn ra theo đường thẳng mà con đường xoắn ốc: quanh co, phức tạp với nhiều chu kỳ và giai đoạn trung gian.

    – Sự vật ra đời sau luôn là cái mới, cái tiến bộ hơn cái trước thế nhưng không phải lúc nào cũng như vậy, có nhiều lúc, cái mới lại là cái thụt lùi so với cái cũ, thế nhưng sự thụt lùi đó là những bước thụt lùi trong quá trình phát triển chung của nó.

    – Nhận thức được quy luật này chúng ta sẽ biết cách tác động phù hợp sao cho sự vật phát triển nhanh hay chậm, tránh được những nhận thức sai lầm, chủ quan duy ý chí và bảo thủ trong công việc và trong các hiện tượng xã hội. Đồng thời cần phải chống thái độ phủ định sạch trơn hoàn toàn không có gì, coi thường giá trị truyền thống mà cần phải biết phát hiện ra cái mới, tạo điều kiện cho cái mới phát triển

    Tại sao có mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất

    Từ sự thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất: chất và lượng là 2 của một sự vật, chúng thống nhất với nhau. Sự thống nhất giữa chất và lượng tồn tại trong một độ nhất định khi sự vật còn . Còn là nó, chưa trở thành cái khác.

    Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật đấy,

    Vd : Dưới áp suật bình thường của không khí, sự tăng giảm nhiệt độ trong khoảng giới hạn , từ 0 – 1000 độ C, nước nguyên chất vẫn ở trạng thái lỏng,

    Trong mối liên hệ giữa lượng và chất, thì chất là mặt tương đối ổn định còn lượng là mặt biến đổi hơn

    Sự vật động và pt của sự vật, bao giờ bắt đầu thay đổi về lượng. Xong phẩy không phải bắt kỳ sự thay đổi về lượng cũng dẫn đến sự thay đổi về chất ngay tức khắc, mặc dù bắt kì sự thay dổi nào về lượng cũng ảnh hưởng đến trạng thái tồn tại, của sự vật .

    Chỉ khi nào lượng biến đổi đến một giới hạn nhất định độ thì mới dẫn đến sự thay đổi về vật chất. Thời điểm mà đó dẫn ra bước nhảy, gọi là điểm nuốt . Điểm nút là một phạm trù triết học, dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đủ làm thay đổi về chất của sự vật

    VD: nhiệt độ của nước , giảm xuống 0 độ, nước thể lỏng chuyển về thể rắn,

    Ý nghĩa phương pháp luận

    Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải chú ý tích lũy dẫn những thay đổi về lượng, đồng thời phải biết thực hiện kịp thời những bước nhảy khi có điều kiện chín muồi.

    Chống lại quan điểm tả khuynh: chủ quan, nóng vội, duy ý chí, khi lượng chưa biến đổi đến điểm nút đã thực hiện bước nhảy.

    Chống lại quan điểm hữu khuynh: bảo thủ, trì trệ, khi lượng đã biến đổi đến điểm nút nhưng không thực hiện bước nhảy.

    Phải có thái độ khách quan và quyết tâm thực hiện bước nhảy khi hội đủ các điều kiện chin muồi.

    Những câu ca dao về lượng và chất

    Lượng

    ”Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

    “Yêu nhau ba bốn núi cũng trèo

    Bốn sông cũng lội, năm đèo cũng qua”

    “Một thương tóc bỏ đuôi gà

    Hai thương ăn nói mặn mà có duyên”

    “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”

    “Trăm năm bia đá cũng mòn

    Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ”

    “Thương em anh chẳng dám qua

    Sợ chuông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”

    Chất

    “Trong tốt ngoài xấu”

    “Khẩu Phật , tâm xà”

    “Bề ngoài thơn thớt nói cười

    Mà trong nham hiểm giết người không dao”

    “Con lợn có béo thì cỗ lòng mới ngon”

    “Ở chi 2 dạ 3 bòng

    Dạ cam thì ngọt cạ bòng thì chua”

    “Nhân chi sơ tính bản thiện”

    “Phú quý sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc”

    “Thấy sang bắt quàng làm họ”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biểu Mẫu Số 08B Bảng Xác Định Giá Trị Khối Lượng Công Việc Hoàn Thành
  • Hướng Dẫn Cách Lập Bảng So Sánh Kế Hoạch Với Thực Hiện Dự Án Trong Excel
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Tai Nạn Chấn Thương
  • Bong Gân Và Trật Khớp: Phân Biệt Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
  • Bài Tập 5 Trang 30, 31 Sách Bài Tập (Sbt) Lịch Sử 12
  • Phương Pháp Luận Biện Chứng Duy Vật Với Việc Nhận Thức Mối Quan Hệ Giữa Tăng Trưởng Kinh Tế Và Phát Triển Văn Hóa, Thực Hiện Tiến Bộ, Công Bằng Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Sưu Tầm, Vận Dụng Ca Dao, Tục Ngữ Vào Giảng Dạy Phần Triết Học Trong Môn Giáo Dục Công Dân
  • Phân Tích Nội Dung Qui Luật Phủ Định Của Phủ Định. Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Quy Luật Này?
  • Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định: Phân Tích Nội Dung Và Ý Nghĩa
  • Phương Pháp Ghép Cây Khi Nhân Giống
  • Ưu Điểm Của Phương Pháp Ghép Cây
  • Thứ sáu, 25 Tháng 10 2021 11:56

    (LLCT) – Phương pháp luận biện chứng duy vật được coi là những nguyên tắc xuất phát chỉ đạo các chủ thể trong việc xác định phạm vi, phương pháp, cách thức, phương tiện tác động nhằm tạo ra những biến đổi cho phù hợp và hiệu quả. Vận dụng phương pháp luận biện chứng duy vật trong quán triệt và xử lý mối quan hệ lớn giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta hiện nay là góp phần định hướng phát triển đất nước theo hướng bền vững.

    Sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác đã tạo ra một bước ngoặt trong triết học, một trong những biểu hiện nổi bật của cuộc cách mạng này là sự thống nhất chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng. Phép biện chứng duy vật trở thành cơ sở của thế giới quan và phương pháp luận khoa học, vì nó là một hệ thống lý luận phản ánh những mối liên hệ, những quá trình biến đổi của bản thân thế giới hiện thực, căn cứ vào những kết quả khoa học đã được đúc kết, kết hợp với sự tổng kết, khái quát thực tiễn hoạt động của con người. Phương pháp luận của phép biện chứng là những kết luận được rút ra từ việc khảo sát các mối liên hệ của các sự vật, từ quá trình phát sinh, phát triển cụ thể của nó, “từ các mặt liên hệ, liên kết, vận động, sinh ra và mất đi của các sự vật”. Vì vậy, phương pháp luận của phép biện chứng duy vật được coi là những nguyên tắc xuất phát chỉ đạo các chủ thể trong việc xác định phạm vi, phương pháp, cách thức, phương tiện tác động nhằm tạo ra những biến đổi cho phù hợp và hiệu quả. Các nguyên tắc cơ bản có thể kể đến, như: nguyên tắc khách quan, nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc lịch sử – cụ thể…

    Nguyên tắc khách quan đòi hỏi, chủ thể khi nhận thức sự vật, hình tượng cần phải nắm bắt nó như nó vốn có trong hiện thực, không vì ý muốn chủ quan mà “tô hồng” hay “bôi đen”, tránh tùy tiện áp đặt cho nó cái xa lạ với nó. Nhận thức về sự vật phải xuất phát từ chính bản thân sự vật hiện tượng đó với những thuộc tính, mối liên hệ bên trong vốn có của nó. Vì vậy, nhận thức cần đạt tới cái bản chất, cái quy luật chi phối sự vật. Đây là quá trình khó khăn và phải trải qua nhiều giai đoạn, bởi lẽ cái bản chất thể hiện qua vô vàn các hiện tượng phong phú, đa dạng, phức tạp và luôn vận động, biến đổi. Bằng thực tiễn, thông qua thực tiễn, kết quả của hoạt động thực tiễn cho phép đánh giá tri thức ấy có khách quan, đúng đắn hay không. V.I.Lênin viết: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”(1). Vì vậy, trong nhận thức cần tránh thái độ thụ động, chủ quan, bảo thủ, trì trệ, thiếu tính sáng tạo, mà cần chủ động, tích cực, thông qua hoạt động thực tiễn của con người để nhận biết đúng các thuộc tính, các cấp độ bản chất, các hệ thống quy luật chi phối sự vật. Như vậy, nguyên tắc khách quan là điều kiện cần thiết cho mọi nhận thức khoa học. Nếu nhận thức và phương pháp hoạt động của chủ thể không tôn trọng quy luật khách quan, nếu hoạt động thực tiễn không tuân theo quy luật khách quan, chúng ta sẽ phải gánh những kết quả không như mong muốn.

    V.I.Lênin viết: “Muốn thực sự thấu hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó. Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm phải sai lầm và sự cứng nhắc”(2). Những chỉ dẫn trên của V.I.Lênin nhắc nhở con người trong nhận thức, muốn biết chân tướng của sự vật cần phải xem xét sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của nó; phải xem xét sự vật, hiện tượng này trong mối liên hệ với sự vật hiện tượng khác kể cả khâu trung gian của nó, phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn để từ đó thấy được vị trí, vai trò của các mối liên hệ giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau. Qua đó, xác định được những quan hệ trọng tâm trọng điểm cần được giải quyết trong những điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Nguyên tắc toàn diện này cũng chỉ ra rằng, một luận điểm là đúng đắn trong những quan hệ này lại trở thành sai lầm trong những quan hệ khác, một luận điểm, một hướng đi, một cách làm là đúng đắn, hữu ích trong điều kiện này lại có thể là không phù hợp, có hại trong điều kiện khác.

    Phép biện chứng duy vật chỉ ra rằng, liên hệ là quá trình tác động qua lại – cái tạo thành “nguyên nhân cuối cùng của mọi sự vận động và biến đổi của sự vật”. Cho nên, mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng là nguyên nhân tạo nên sự vận động của chúng. Cũng chính do có mối liên hệ phổ biến mà trong thế giới khách quan luôn tồn tại xu hướng phát triển không ngừng. Vật chất không vận động đi tới tiêu vong mà tạo ra sự chuyển hóa (biến đổi) theo những hướng khác nhau, trong đó có khuynh hướng vận động theo chiều hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn (gọi là phát triển). Các chủ thể cần nhận thức và chuẩn bị các điều kiện cần thiết, các phương pháp hành động cho phù hợp để có được những biến đổi theo chiều hướng phát triển. Đây là quá trình phức tạp, bởi lẽ, sự biến đổi theo chiều hướng phát triển của hiện thực là quá trình vận động có tính quy luật nội tại, diễn ra trong nó, là quá trình phủ định biện chứng, phủ định có kế thừa. Xem xét hiện tượng xã hội, V.I. Lênin chỉ dẫn rằng, cần phải “xem xét vấn đề theo quan điểm sau đây: một hiện tượng nhất định đã xuất hiện trong lịch sử như thế nào, hiện tượng đó đã trải qua những giai đoạn phát triển chủ yếu nào, và đứng trên quan điểm của sự phát triển đó để xem xét hiện nay nó đã trở thành thế nào?”(3).

    Phép biện chứng duy vật không chỉ là một lý luận khoa học cho phép phản ánh đúng đắn các sự vật, hiện tượng, nó còn là một công cụ sắc bén để mổ xẻ, phân tích các vấn đề xã hội và tìm ra các giải pháp thích hợp cho từng giai đoạn phát triển lịch sử cụ thể. Chính nhờ công cụ sắc bén này, chủ nghĩa Mác đã tìm ra các quy luật vận động của xã hội, đã nhìn xã hội như một cơ thể sống luôn vận động, biến đổi do những mối liên hệ nội tại của nó tạo ra; thấy được vai trò quyết định của điều kiện vật chất, của cơ sở kinh tế nhưng cũng thấy vai trò hết sức to lớn của kiến trúc thượng tầng chính trị, của tư tưởng, văn hóa… Điều đó đã khắc phục được tư tưởng duy tâm, siêu hình, lối nhìn nhận phản biện chứng trước đây. Khái lược điều đó cho thấy các nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật là những nguyên tắc cơ bản để nhận thức về các mối quan hệ lớn ở nước ta hiện nay.

    Tại Đại hội XI, Đảng ta nhấn mạnh: “Trong quá trình thực hiện các phương hướng cơ bản đó, phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ;… Không phiến diện, cực đoan, duy ý chí”(4). Việc nắm vững và giải quyết các mối quan hệ lớn là những khía cạnh cụ thể để thực hiện mục tiêu tổng quát của thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được cơ bản nền tảng kinh tế của CNXH với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước XHCN ngày càng phồn vinh, hạnh phúc(5).

    Đại hội XII của Đảng xác định, một trong các nhiệm vụ tổng quát là: “Tiếp tục quán triệt và xử lý tốt các quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước và thị trường; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ;…”(6)

    Như vậy, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội là một trong những mối quan hệ lớn cần được quán triệt trong nhận thức cũng như giải quyết có hiệu quả trong thực tiễn. Việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ này cần bảo đảm nguyên tắc khách quan, toàn diện, phát triển và lịch sử – cụ thể.

    Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN, tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội là những bộ phận quan trọng không thể thiếu, có quan hệ thống nhất, cùng tồn tại, có ảnh hưởng qua lại, vừa làm tiền đề vừa làm điều kiện cho nhau. Trong đó, xã hội muốn phát triển phải có tăng trưởng kinh tế để giải quyết các nhu cầu vật chất không thể thiếu của con người, mặt khác, tăng trưởng kinh tế thì mới có khả năng huy động các nguồn lực vật chất cho việc phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Thực tế không thể có một nền văn hóa phát triển lành mạnh, phong phú và một xã hội tiến bộ, công bằng trên cơ sở một nền kinh tế yếu kém, suy thoái hay một nền kinh tế tăng trưởng nóng lấy số lượng tăng trưởng là thước đo duy nhất. Ngược lại, trong một xã hội mà đạo đức xuống cấp, tham nhũng, lãng phí cao, nhiều lao động có trình độ học vấn và tay nghề thấp, bị lâm vào cảnh thất nghiệp, nghèo đói…thì cũng không thể có kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững. Từ lâu, chương trình phát triển của Liên Hợp quốc (UNDP) đã cảnh báo về 5 kiểu tăng trưởng kinh tế cần tránh, đó là:

    1. Tăng trưởng không việc làm: tăng trưởng kinh tế nhưng không mở rộng những cơ hội tạo thêm việc làm hoặc phải làm việc nhiều giờ và có thu nhập thấp.

    2. Tăng trưởng không có lương tâm: tăng trưởng nhưng thành quả của nó chủ yếu đem lại lợi ích cho người giàu, còn người nghèo được hưởng ít, thậm chí người nghèo còn tăng thêm, khoảng cách giàu – nghèo gia tăng.

    3. Tăng trưởng không có tiếng nói: tăng trưởng kinh tế không kèm theo sự mở rộng nền dân chủ hay là việc tạo thêm quyền lực, chặn đứng tiếng nói khác và dập tắt những đòi hỏi được tham dự nhiều hơn về xã hội và kinh tế.

    4. Tăng trưởng không gốc rễ: sự tăng trưởng đã khiến cho nền văn hóa của con người trở nên nghèo nàn.

    5. Tăng trưởng không tương lai: tăng trưởng mà thế hệ hiện nay phung phí những nguồn lực mà các thế hệ trong tương lai cần đến.

    Nhận thức và giải quyết tốt mối quan hệ cơ bản trên là điều cần thiết để tránh những điều đã được cảnh báo. Thực tế cho thấy, việc quán triệt và thực hiện những chủ trương trên của Đảng, đời sống kinh tế – xã hội của đất nước có bước chuyển biến cơ bản.

    Về kinh tế, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt tốc độ tăng trưởng khá cao trong nhiều năm liền. Về văn hóa – xã hội, những giá trị và sắc thái văn hóa của 54 dân tộc anh em được kế thừa và phát triển, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Giao lưu, hợp tác văn hóa với nước ngoài được mở rộng. Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thông tin – truyền thông… từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân. Giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách an sinh xã hội đạt kết quả tích cực, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ dần được đẩy mạnh. Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân có tiến bộ. Chỉ số phát triển con người (HDI) không ngừng gia tăng.

    Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, quá trình nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội của nước ta còn nhiều bất cập:

    Một là, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào những yếu tố như: vốn, lao động giá rẻ, đất đai, tài nguyên khoáng sản. Hệ quả là khan hiếm các loại nguyên nhiên liệu, môi trường thiên nhiên bị hủy hoại, cân bằng sinh thái bị phá vỡ, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế không cao, thu nhập của một bộ phận đáng kể người lao động thấp, việc khai thác yếu tố văn hóa trong phát triển kinh tế không nhiều.

    Hai là, văn hóa – đạo đức phát triển chưa tương xứng với kinh tế thể hiện qua nhiều biểu hiện, nhiều cấp độ như: buôn bán và sử dụng ma túy diễn biến phức tạp; bạo lực đang có xu hướng gia tăng, trên diện rộng, ở cả không gian gia đình, học đường, xã hội; văn hóa chính trị có nhiều tiêu cực, tồn tại tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, kể cả cán bộ cấp cao, nhưng chưa ngăn chặn, đẩy lùi được. Việc đầu tư cho phát triển văn hóa chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế. Tại thành phố Hồ Chí Minh, lãnh đạo thành phố thừa nhận: “Đầu tư cho thiết chế văn hóa chưa được quan tâm đúng mức, vai trò quản lý nhà nước chưa đáp ứng nhu cầu phát triển, việc quy hoạch xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội chưa gắn bó chặt chẽ với văn hóa. Nhiều chương trình, dự án còn nặng về lợi ích kinh tế, xem nhẹ yếu tố văn hóa, môi trường”(7).

    Ba là, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và nhất là tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn còn cao; xóa đói, giảm nghèo chưa bền vững, tình trạng tái nghèo còn nhiều, khoảng cách chênh lệch giàu – nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền núi có xu hướng ngày càng giãn ra. Báo cáo của Oxfam năm 2021 cho biết, năm 2014, Việt Nam có 210 người siêu giàu (tài sản ròng trên 30 triệu đô la Mỹ), chiếm 12% GDP cả nước, con số này sẽ tăng lên 403 vào năm 2025. Người giàu nhất Việt Nam có thu nhập một ngày bằng 10 năm thu nhập của người nghèo nhất, và với tài sản này, có thể đưa toàn bộ 13 triệu người nghèo thoát nghèo ngay tức khắc(8).

    Trước những bất cập nêu trên, việc nhận thức và giải quyết về mối quan hệ này trong điều kiện cụ thể hiện nay cần:

    Thứ nhất, kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển. Muốn vậy, mỗi chính sách phát triển kinh tế không thuần túy chỉ vì kinh tế mà phải bao hàm trong đó mục tiêu thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội, phát triển con người. Mặt khác, mỗi chính sách phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội không thuần túy vì mục tiêu nhân văn, văn hóa mà cũng bao hàm trong đó mục tiêu kinh tế. Ví như, định hướng việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ là việc bảo tồn, bảo tàng, lưu giữ, phát triển mà cần gắn các hoạt động đó với các hoạt động kinh tế du lịch, quảng bá sức mạnh mềm Việt Nam. Qua đó, không chỉ kinh tế tăng trưởng còn gia tăng cơ hội việc làm, thu nhập cho người dân sở tại, hạn chế bất công bằng vùng miền, hạn chế tệ nạn xã hội.

    Thứ hai, chuyển dịch tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ theo hướng bền vững. Cách mạng công nghiệp 4.0 khiến xu hướng phát triển kinh tế thế giới có những chuyển dịch cơ bản về công nghệ, đổi mới và sáng tạo. Xu hướng này đòi hỏi người lao động có trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng thích ứng với dây chuyền công nghệ hiện đại và từng bước đi vào lĩnh vực thiết kế, chế tạo, làm ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Mặt khác, cần đẩy mạnh khai thác các yếu tố văn hóa – xã hội, như: sức mạnh mềm Việt Nam, những giá trị văn hóa con người Việt Nam theo hướng xây dựng nền kinh tế xanh. Theo đó, kinh tế tăng trưởng nhanh hơn, chất lượng cao hơn và người lao động cũng có thu nhập xứng đáng để cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của mình. Về thực chất, đây là giải pháp đưa các nhân tố văn hóa, tinh thần nhân văn, cùng các tiêu chí tiến bộ và công bằng xã hội chuyển nhập vào bên trong mô hình tăng trưởng mới của nền kinh tế.

    Thứ ba, kiên quyết đấu tranh chống lại xu hướng tìm kiếm lợi nhuận bằng mọi giá, tách rời mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Thực tế thời gian qua, không ít địa phương chỉ chú trọng việc thu hút đầu tư, mở dự án mà không chú trọng đến vấn đề việc làm của nông dân sau thu hồi đất, vấn đề môi trường,… đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng khiếu kiện đông người, tệ nạn xã hội. Cần đấu tranh không khoan nhượng nhằm ngăn chặn và đẩy lùi có hiệu quả nạn tham nhũng, làm ăn phi pháp, tệ nạn xã hội (như: buôn gian, bán lận, lừa đảo,…). Bởi lẽ, hậu quả của nó không chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế mà còn làm gia tăng bất công trong xã hội, băng hoại văn hóa và các chuẩn mực đạo đức xã hội.

    Thứ tư, tiếp tục phát triển văn hóa, thực hiện công bằng xã hội cả trong phân phối và cơ hội, người dân được tiếp cận công bằng với các nguồn lực phát triển và các dịch vụ xã hội cơ bản, như: giáo dục – đào tạo, chăm sóc sức khỏe, việc làm, thông tin; tư vấn pháp luật… Điều này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chung.

    Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2019

    (1) V.I.Lênin: Toàn tập, t.18, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.167.

    (2) V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.42, tr.364.

    (3) V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.39, tr.78.

    (4), (5) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2011, tr.72-73, 71.

    (6) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2021, tr.24.

    (7) Theo https://www.cpv.org.vn.

    (8) https://baovanhoa.vn.

    (9) https://thesaigontimes.vn.

    PGS, TS Nguyễn Thị Nga

    Viện Triết học,

    Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Chứng Vật Chất Và Ý Thức: Phân Tích Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận.
  • Hướng Dẫn Dạy Tiếng Anh Cho Bé Từ 0
  • Cách Dạy Bé Học Tiếng Anh 3, 4, 5 Tuổi Tại Nhà Hiệu Quả Nhất!
  • Unit 1: Phương Pháp Tự Luyện Phát Âm Tiếng Anh Chuẩn
  • 22 Khoá Học Luyện Viết Tiếng Anh Miễn Phí Trên Internet
  • Tin tức online tv