Phương Pháp Biện Chứng

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Phương Pháp Biện Chứng xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 21/01/2021 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Phương Pháp Biện Chứng để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 9.801 lượt xem.

Có 59 tin bài trong chủ đề【Phương Pháp Biện Chứng】

【#1】Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Có Sự Khác Biệt Căn Bản Gì?

1. Sự đối lập giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình

Trong lịch sử triết học, bên cạnh vấn đề bản chất thế giới là vật chất hay tinh thần, còn một vấn đề quan trọng khác cần triết học giải quyết – đó là vấn đề về trạng thái tồn tại của thế giới. Vấn đề đó được biểu hiện qua các câu hỏi đặt ra: Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới tồn tại trong trạng thái biệt lập, tách rời, đứng im, bất biến hay có quan hệ, ràng buộc với nhau, không ngừng vận động, biến đổi? Giải đáp câu hỏi đó đã làm nảy sinh hai phương pháp (quan điểm) nhận thức đối lập nhau – phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình.

a) Phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, tách rời với các sự vật khác; xem xét sự vật trong trạng thái không vận động, không biến đổi.

Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ quan niệm cho rằng muốn nhận thức một đối tượng nào đó trước hết phải tách đối tượng đó ra khỏi mọi mối quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác; đồng thời phải nhận thức đối tượng trong trạng thái không vận động, không biến đổi. Việc xem xét đối tượng sự vật theo quan niệm như vậy cũng có tác dụng nhất định. Tuy nhiên, sai lầm căn bản của phương pháp siêu hình chính là đã tuyệt đối hoá trạng thái tĩnh tương đối của đối tượng sự vật. Trong thực tế, các sự vật, hiện tượng không tồn tại trong trạng thái tĩnh, bất biến một cách tuyệt đối. Trái lại, các sự vật hiện tượng luôn nằm trong những mối quan hệ và trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng.

Ph.Ăngghen đã từng vạch rõ sự hạn chế của phương pháp siêu hình là “Chỉ nhìn thấy những sự vật mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng” .

b) Phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái quan hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau với các sự vật khác xung quanh; xem xét sự vật trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng của nó.

Phương pháp biện chứng là hệ quả tất yếu của quan điểm biện chứng, – quan điểm khẳng định các sự vật hiện tượng đều luôn tồn tại trong trạng thái vận động và trong mối quan hệ hữu cơ với nhau. Do đó, muốn nhận thức đúng về sự vật, cần phải nhận thức, xem xét sự vật trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng của nó, trong trạng thái quan hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau giữa nó với các sự vật khác xung quanh.

Có thể kết luận rằng: Sự khác biệt căn bản giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng là ở chỗ, phương pháp siêu hình nhìn nhận sự vật bằng một tư duy cứng nhắc, máy móc; còn phương pháp biện chứng nhìn nhận, xem xét sự vật với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Phương pháp biện chứng không chỉ nhìn thấy những sự vật cụ thể mà còn thấy mối quan hệ qua lại giữa chúng; không chỉ thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành, sự diệt vong của chúng; không chỉ thấy trạng thái tĩnh mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật; không chỉ “thấy cây mà còn thấy cả rừng”. Đối với phương pháp siêu hình thì, sự vật hoặc tồn tại, hoặc không tồn tại; hoặc là thế này, hoặc là thế khác; “hoặc là… hoặc là…”, chứ không thể vừa là thế này vừa là thế khác; “vừa là… vừa là…”. Đối với phương pháp biện chứng thì, một sự vật vừa là thế này vừa là thế kia, “vừa là… vừa là…”. Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực khách quan đúng như nó đang tồn tại. Vì vậy, phương pháp biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới.

2. Các hình thức cơ bản của phép biện chứng

Với tư cách là một phương pháp nhận thức đúng đắn về thế giới, phương pháp biện chứng không phải ngay khi ra đời đã trở nên hoàn chỉnh, mà trái lại nó phát triển qua từng giai đoạn gắn liền với sự phát triển của tư duy con người. Trong lịch sử triết học, sự phát triển của phương pháp biện chứng được biểu hiện qua ba hình thức lịch sử của phép biện chứng: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật.

+ Phép biện chứng tự phát là hình thức biện chứng tồn tại ở thời cổ đại. Các nhà biện chứng cổ đại cả phương Đông lẫn phương Tây đã nhận thức được các sự vật, hiện tượng của vũ trụ luôn tồn tại trong trạng thái vận động, biến đổi và trong những mối liên hệ chằng chịt với nhau. Tuy nhiên, những nhận xét của các nhà biện chứng cổ đại về sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng chủ yếu vẫn chỉ là kết quả của sự quan sát, trực kiến thiên tài chứ chưa phải là kết quả của sự nghiên cứu và của thực nghiệm khoa học. Vì vậy, tư tưởng biện chứng thời kỳ này chủ yếu dừng ở những đánh giá về hiện tượng biến đổi, mối liên hệ giữa các sự vật chứ chưa thật sự đi sâu vào xem xét bản thân sự vật để có những nhận xét sâu sắc về sự vận động của sự vật. Theo Ph.Ăngghen, cách nhận xét thế giới của các nhà biện chứng cổ đại như trên là cách nhận xét còn nguyên thuỷ, ngây thơ nhưng căn bản là đúng.

+ Phép biện chứng duy tâm biểu hiện tập trung, rõ nét nhất trong triết học cổ điển Đức, mà người khởi đầu là I.Cantơ và người hoàn thiện là Ph.Hêghen. Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử của tư duy nhân loại, các nhà biện chứng trong nền triết học cổ điển Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phép biện chứng. Các nhà biện chứng cổ điển Đức không chỉ nhìn thế giới trong quá ttrình vận động, phát triển, trong tính chỉnh thể thống nhất mà còn khẳng định về tính quy luật của sự phát triển đó. Tuy nhiên, phép biện chứng này lại mang tính duy tâm, biểu hiện ở việc khẳng định sự phát triển của thế giới xuất phát từ tinh thần và kết thúc cũng ở tinh thần. Theo Ph.Hêghen, sự phát triển thực chất là quá trình vận động, phát triển của yếu tố tinh thần gọi là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần tuyệt đối”. Trong quá trình phát triển của mình, “ý niệm tuyệt đối” tự tha hoá chuyển thành giới tự nhiên, xã hội để sau đó lại quay trở về bản thân mình. Như vậy, đối với phép biện chứng duy tâm này, sự vận động phát triển của giới hiện thực chẳng qua chỉ là sự sao chép lại sự tự vận động của “ý niệm tuyệt đối”.

+Phép biện chứng duy vật là hình thức biện chứng biểu hiện trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng trên cơ sở khắc phục tính chất duy tâm của phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, sau đó được V.I.Lênin phát triển. C.Mác và Ph.Angghen đã gạt bỏ tính chất duy tâm, thần bí đồng thời kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển.


【#2】Phương Pháp Biện Chứng Là Gì? Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?

Các khái niệm “biện chứng” và “siêu hình” trong lịch sử được dùng theo một số nghĩa khác nhau. Còn trong triết học hiện đại, đặc biệt là triết học mác-xít, chúng được dùng, trước hết để chỉ hai phương pháp chung nhất đối lập nhau của triết học.

Phương pháp biện chứng phản ánh “biện chứng khách quan” trong sự vận động, phát triển của thế giới. Lý luận triết học của phương pháp đó được gọi là “phép biện chứng”.

Phương pháp siêu hình là phương pháp:

– Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.

– Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại. Nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng.

Phương pháp siêu hình làm cho con người “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”.

Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượng nào trước hết con người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thứcnnó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định.

Song phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm.

2.1. Phương pháp biện chứng là phương pháp:

Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau.

– Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển. Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng.

Như vậy phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Nó thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “hoặc là… hoặc là…” còn có cả cái “vừa là… vừa là…” nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau.

Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại. Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới.

2.2. Các giai đoạn phát triển cơ bản của phép biện chứng:

Cùng với sự phát triển của tư duy con người, phương pháp biện chứng đã qua ba giai đoạn phát triển, được thể hiện trong triết học với ba hình thức lịch sử của nó: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật.

Các nhà biện chứng cả phương Đông lẫn phương Tây thời kỳ này đã thấy các sự vật, hiện tượng của vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận.

Tuy nhiên, những gì các nhà biện chứng hồi đó thấy được chỉ là trực kiến, chưa phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.

Đỉnh cao của hình thức này được thể hiện trong triết học cổ điển Đức, người khởi đầu là và người hoàn thiện là Hêghen.

Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của tư duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phương pháp biện chứng.

Song theo họ biện chứng ở đây bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần, thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm nên biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức là biện chứng duy tâm.

Phép biện chứng duy vật được thể hiện trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng, sau đó được V.I.Lênin phát triển.

C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất.


【#3】Phương Pháp Biện Chứng Và Các Phương Pháp Nhận Thức Đặc Thù Khoa Học Chung

Phương pháp biện chứng với tư cách là toàn bộ những nguyên tắc, những yêu cầu được đào tạo dựa vào các quy luật phổ biến của hiện thực, dựa vào các quy luật hình thành và phát triển của nhận thức xã hội, của các nguyên tắc định hướng cho con người trong hoạt động nhận thức của mình, phương pháp ấy không loại bỏ việc nghiên cứu và sử dụng các phương pháp cũng như các thủ pháp nhận thức đặc thù khoa học chung. Các phương pháp và thủ pháp đó gắn liền với việc giải quyết những nhiệm vụ nhận thức cụ thể nào đó. Chúng được vận dụng ở những giai đoạn rất xác định trong sự phát triển của nhận thức khoa học – những giai đoạn quy định sự xuất hiện của những nhiệm vụ đó.

Việc nghiên cứu và sử dụng các phương pháp và thủ pháp đặc thù khoa học chung trong nghiên cứu khoa học có kết quả hơn cả khi chúng tính đến những yêu cầu của sự nhận thức biện chứng. Nói một cách khác, trong những yêu cầu của các phương pháp nói trên ở dạng loại bỏ cần có những yêu cầu tương ứng của phương pháp nhận thức biện chứng.

Chúng ta sẽ xem xét các phương pháp và thủ pháp nhận thức khoa học chung được vận dụng cho những giai đoạn phát triển cơ bản của nhận thức khoa học.

Bước thứ nhất, đầu tiên của nhận thức khoa học là việc có được những cứ liệu thích đáng về đối tượng được nghiên cứu, là việc xác định được những sự kiện cho những thông tin nhất định về các thuộc tính và các mối liên hệ của đối tượng.

Các sự kiện – đó là các mặt, các khía cạnh nào đó của hiện thực được con người cảm thụ và ghi nhận dưới một hình thức xác định. Đặc điểm quan trọng nhất của một sự kiện khoa học là tính xác thực của nó cho phép kiểm tra bằng thực nghiệm. Các sự kiện là cơ sở kinh nghiệm của khoa học. Chỉ có dựa vào đó, nhà khoa học mới có thể đi sâu vào bản chất của hiện tượng được nghiên cứu. Theo cách diễn đạt của nhà sinh lý học Nga vĩ đại I.P. Pa-vlốp, sự kiện là không khí của nhà khoa học.

Để nhận được các sự kiện cần thiết trong khoa học người ta sử dụng các phương pháp nhận thức như quan sát, thí nghiệm, mô hình hóa.

Trong quan sát, các giác quan của con người đóng vai trò chủ chốt. Song, như đã biết, những khả năng của chúng trong tri giác các mặt nào đó của hiện thực còn hạn chế. Vì vậy, khi quan sát người ta sử dụng rộng rãi các dụng có khả năng tăng cường hiệu quả của việc quan sát và mở rộng phạm vi các hiện tượng có thể tri giác. Ví dụ, con người không thể tri giác trực tiếp các hạt cơ bản, cấu trúc của phân tử và nguyên tử, các thiên thể rất xa… Nhờ các loại dụng cụ mà con người đã có thể quan sát được tất cả những cái đó. Việc sử dụng có kết quả các dụng cụ để nghiên cứu các đối tượng hết sức khác nhau chứng tỏ rằng về mặt nguyên tắc là không tồn tại những hiện tượng không thể quan sát được.

Do sử dụng các dụng cụ và các phương tiện kỹ thuật khác, người ta đã phân biệt những quan sát trực tiếp và những quan sát gián tiếp. Quan sát mà trong quá trình đó đối tượng tác động trực tiếp lên các giác quan của người quan sát, được gọi là quan sát trực tiếp, còn quan sát mà trong đó tác động của đối tượng lên các giác quan của người quan sát phải thông qua dụng cụ thì gọi là quan sát gián tiếp. Trong nghiên cứu khoa học hiện đại, hai loại quan sát đó thường không được sử dụng dưới dạng thuần túy của chúng, mà thể hiện với tư cách là các mặt trong một quá trình phức tạp thống nhất nhằm nhận được những thông tin về các thuộc tính và các mối liên hệ của đối tượng được nghiên cứu.

Trong một số trường hợp, việc sử dụng các dụng cụ dẫn tới những sai lệch hay thậm chí những thay đổi nhất định vào đối tượng được quan sát và như vậy làm cho người quan sát mất khả năng cảm thụ đối tượng đúng như nó đang tồn tại trong điều kiện tự nhiên. Ví dụ, ảnh hưởng của dụng cụ đối với các vi hạt được quan sát lớn đến mức vi hạt thực sự hiện ra trước mắt chủ thể quan sát dưới dạng đã thay đổi. Song trái hẳn với những người theo chủ nghĩa thực chứng, tình trạng đó không phải là trở ngại không thể khắc phục nổi để nhận thức được các thuộc tính khách quan của đối tượng vi mô. Chỉ có điều, nó buộc người quan sát khi đưa ra kết luận phải tính đến các tính năng của dụng cụ, các quy luật tương tác giữa dụng cụ với đối tượng được nghiên cứu.

Một khía cạnh cần thiết trong quan sát khoa học là mô tả. Mô tả là sự ghi nhận dưới hình thức nào đó các kết quả quan sát được, những thông tin về đối tượng được nghiên cứu. Khi mô tả người ta sử dụng các phương tiện tự nhiên và nhân tạo để diễn đạt thông tin như khái niệm khoa học, ký hiệu, sơ đồ, đồ thị… Những yêu cầu quan trọng nhất đối với mô tả khoa học là: độ chính xác, tính lôgích nghiêm ngặt và dễ hiểu. Trong giai đoạn phát triển hiện nay của khoa học, những yêu cầu đó được thực hiện trên cơ sở sử dụng rộng rãi ngôn ngữ nhân tạo.

Đo lường là một hoạt động nhận thức bảo đảm việc diễn đạt bằng số các đại lượng được đo. Đo lường được thực hiện nhờ mối tương quan, sự so sánh thuộc tính hoặc khía cạnh được đo của đối tượng được quan sát với một biểu mẫu nào đó lấy làm đơn vị đo lường, và vì thế nó cho phép ghi nhận không chỉ những thuộc tính, mà cả những mối quan hệ nhất định của đối tượng. Đo lường thường có hai dạng: trực tiếp và gián tiếp. Đo lường trực tiếp là đem so sánh trực tiếp hiện tượng, thuộc tính dược đo với mẫu chuẩn tương ứng, đo lường gián tiếp là xác định đại lượng của thuộc tính cần đo trên cơ sở tính toán sự phụ thuộc nhất định vào các đại lượng khác. Đo lường gián tiếp giúp cho việc tiến hành xác định các đại lượng trong những điều kiện khi việc đo lường trực tiếp trở nên quá phức tạp hoặc là không thể thực hiện được (đo lường các thuộc tính khác nhau của các đối tượng trong vũ trụ, của các vi thể…).

Quan sát đòi hỏi phải vạch rõ và ghi nhận những thuộc tính và các mối liên hệ của đối tượng ở trạng thái tự nhiên. Song, một điều quan trọng đối với chủ thể nhận thức là cũng phải biết cả những thuộc tính và các mối liên hệ khác của đối tượng không quan sát được trong điều kiện tự nhiên, song lại được thể hiện trong tình huống khác khi có những tương tác khác. Để nhận được thông tin về những thuộc tính và các mối liên hệ của đối tượng không thể quan sát trong những điều kiện bình thường, người ta tiến hành thí nghiệm.

Thí nghiệm là một phương pháp nghiên cứu khoa học đòi hỏi có sự thay đổi thích hợp của đối tượng hoặc tái tạo đối tượng trong những điều kiện được tạo ra một cách đặc biệt nhằm mục đích nhận được những thông tin về các thuộc tính và các mối liên hệ của đối tượng.

Khác với quan sát khi chủ thể không can thiệp vào hiện tượng được nghiên cứu mà chỉ giới hạn ở việc ghi nhận trạng thái tự nhiên của đối tượng, thí nghiệm đòi hỏi chủ thể phải can thiệp một cách tích cực, có mục đích rõ ràng vào phạm vi được nghiên cứu của các hiện tượng, vi phạm trạng thái tự nhiên của sự vật, đặt đối tượng vào những điều kiện được đặc biệt định trước. Do đó, người nghiên cứu buộc đối tượng phải thể hiện những thuộc tính mới không quan sát thấy ở trạng thái tự nhiên. Thay đổi những điều kiện đó theo hướng nào đó, người nghiên cứu theo dõi được khuynh hướng thay đổi các thuộc tính đang được quan sát và như vậy sẽ nhận được những tư liệu phong phú tiêu biểu cho hành vi của đối tượng trong các tình huống khác nhau. Vì trong khi thí nghiệm, đối tượng cần nghiên cứu được quan sát trong những điều kiện được kiểm soát và tạo ra từ trước, nên khi cần có thể lặp lại thí nghiệm và do đó kiểm tra được việc quan sát.

Song, có những đối tượng mà chủ thể không thể tác động trực tiếp hoặc tác động như thế rất khó khăn, không có lợi về mặt kinh tế… Ví dụ, chúng ta không thể tác động trực tiếp vào quá trình tạo ra kim cương trong tự nhiên, sinh ra sự sống trên Trái Đất, những quá trình diễn ra trên Mặt trời,… Trong các trường hợp như vậy, người ta tiến hành thí nghiệm không phải ở chính đối tượng, mà ở một đối tượng khác mà trong mối quan hệ nào đó là giống với đối tượng được nghiên cứu, tái tạo được những thuộc tính hay các mối quan hệ khác nhau của nó. Dạng thí nghiệm này được gọi là thí nghiệm mô hình, còn bản thân phương pháp nghiên cứu thì được gọi là mô hình hóa.

Mô hình hóa là tái tạo những thuộc tính và các mối liên hệ xác định của đối tượng được nghiên cứu trong một đối tượng khác, được tạo ra một cách đặc biệt – nghĩa là trong mô hình nhằm mục đích nghiên cứu chúng kỹ lưỡng hơn. Các máy xi-béc-nê-tíc mô phỏng những thuộc tính của bộ não con người, các thiết bị đặc biệt tái tạo ra tình trạng không trọng lượng, trạng thái phóng xạ cao dần, áp suất siêu cao và siêu thấp,… đều có thể coi là những ví dụ về mô hình.

Các ô hình có thể là mô hình vật chất, cũng có thể là mô hình lý tưởng. Các mô hình vật chất là những đối tượng được con người tạo ra, hoặc lựa chọn một cách đặc biệt, về mặt vật lý tái tạo được những thuộc tính và các mối liên hệ khác nhau đặc trưng cho hiện tượng được nghiên cứu. Ví dụ, mô hình một cái cầu, một con đập, một trạm thủy điện, một con tàu, một chiếc máy bay, một chiếc xe đạp hiện nay được sử dụng rộng rãi trong khoa học kỹ thuật đều là những mô hình loại đó. Các mô hình lý tưởng là cấu trúc tư duy, các sơ đồ lý thuyết tái tạo những thuộc tính và các mối liên hệ của đối tượng được nghiên cứu dưới hình thức lý tưởng. Các mô hình này được ghi nhận nhờ các ký hiệu, hình vẽ xác định và các phương tiện vật chất.

Đặc điểm quan trọng nhất của mô hình là sự giống nhau giữa mô hình với nguyên bản về những thuộc tính và các mối liên hệ được nghiên cứu. Chính điều đó là cơ sở để chuyển những kiến thức thu được khi nghiên cứu mô hình sang chính nguyên bản. Hình thức tư duy thực hiện việc chuyển sang như vậy là sự loại suy.

TH: T.Giang – SCDRC


【#4】Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?

– Biện chứng là gì?

+ Khái niệm biện chứng dùng để chỉ những mối liên hệ và sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy.

+ Khái niệm biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan.

Biện chứng khách quan là chỉ biện chứng của các tồn tại vật chất; còn biện chứng chủ quan là chỉ biện chứng của ý thức.

Có sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm trong việc giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan. Theo quan niệm duy tâm: biện chứng chủ quan là cơ sở của biện chứng khách quan; còn theo quan điểm duy vật: biện chứng khách quan là cơ sở của biện chứng chủ quan. Ph. Ăngghen khẳng định: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ giói tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh sự chi phối, trong toàn bộ giới tự nhiên…”.

Sự đối lập nhau trong quan niệm đó là cơ sở phân chia phép biện chứng thành: phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật.

– Phép biện chứng là gì?

Phép biện chứng là học thuyết về biện chứng của thế giới.

Với tư cách là học thuyết triết học, phép biện chứng khái quát những mối liên hệ phổ biến và những quy luật chung nhất của mọi quá trình vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy; từ đó xây dựng các nguyên tắc phương pháp luận chung cho các quá trình nhận thức và thực tiễn.

– Các hình thức lịch sử của phép biện chứng

Phép biện chứng đã có lịch sử phát triển trên 2.000 năm từ thời cổ đại phương Đông và phương Tây, với ba hình thức cơ bản (cũng là thể hiện ba trình độ phát triển của phép biện chứng trong lịch sử triết học):

+ Phép biện chứng chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của phép biện chứng trong lịch sử triết học. Nó là một nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại. Tiêu biểu cho những tư tưởng biện chứng của triết học Trung Quốc là “biến dịch luận” (học thuyết về những nguyên lý, quy luật biến đổi phổ biến trong vũ trụ) và “ngũ hành luận” (học thuyết về những nguyên tắc tương tác, biến đổi của các tố chất bản thể trong vũ trụ) của Âm dương gia. Trong triết học Ân Độ, biểu hiện rõ nét nhất của tư tưởng biện chứng là triết học của đạo Phật, với các phạm trù “vô ngã”, “vô thường”, “nhân duyên”… Tiêu biểu cho phép biện chứng của triết học Hy Lạp cổ đại là những quan điểm biện chứng của Heraclit.

+ Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức được khởi đầu từ những quan điểm biện chứng trong triết học của I. Kantơ và đạt tới đỉnh cao trong triết học của Ph. Hêghen. Ph. Hêghen đã nghiên cứu và phát triển các tư tưởng biện chứng thời cổ đại lên một trình độ mới – trình độ lý luận sâu sắc và có tính hệ thông chặt chẽ, trong đó trung tâm là học thuyết về sự phát triển. Tuy nhiên, phép biện chứng trong triết học của Ph. Hêghen là phép biện chứng được xây dựng trên lập trường duy tâm (duy tâm khách quan) nên hệ thống lý luận này chưa phản ánh đúng đắn bức tranh hiện thực của các mốì liên hệ phổ biến và sự phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Theo lý luận này, bản thân biện chứng của các quá trình trong giới tự nhiên và xã hội chỉ là sự tha hoá của bản chất biện chứng của “ý niệm tuyệt đối”.

+ Phép biện chứng duy vật do C. Mác và Ph. Ăngghen sáng lập là hình thức phát triển cao nhất của phép biện chứng. Nó được xây dựng trên cơ sở kế thừa những giá trị hợp lý trong lịch sử phép biện chứng, đặc biệt là kế thừa những giá trị hợp lý và khắc phục những hạn chế trong phép biện chứng của Ph. Hêghen; đồng thời phát triển phép biện chứng trên cơ sở thực tiễn mới, nhờ đó làm cho phép biện chứng đạt đến trình độ hoàn bị trên lập trường duy vật mới.

– Sự đối lập căn bản giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình trong nhận thức

Sự đối lập căn bản giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình trong việc nhận thức thế giới là ở chỗ: phương pháp biện chứng là phương pháp nhận thức sự vật, hiện tượng trong các mối liên hệ phổ biến, tương tác, chuyển hoá, vận động và phát triển; còn phương pháp siêu hình là phương pháp nhận thức các sự vật, hiện tượng không trong mối liên hệ, tương tác, chuyển hoá, vận động và phát triển; nó tuyệt đối hoá tính chất ổn định, cô lập của các sự vật, hiện tượng. Do đó, phương pháp siêu hình chỉ có giá trị trong một phạm vi nhất định. Chỉ có phương pháp biện chứng mới có thể cho phép nhận thức sự vật, hiện tượng đúng như chúng tồn tại trong thực tế.

chúng tôi


【#5】Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?

Phương pháp biện chứng và ph­ương pháp siêu hình

Một vấn đề rất quan trọng mà triết học phải làm sáng tỏ là: các sự vật, hiện t­ợng của thế giới xung quanh ta tồn tại nh­ thế nào?

Vấn đề này có nhiều cách trả lời khác nhau, nh­ng suy đến cùng đều quy về hai quan điểm chính đối lập nhau là biện chứng và siêu hình.

*. Ph­ương pháp siêu hình

– Nhận thức đối t­ợng trong trạng thái cô lập, tách rời đối t­ợng khỏi các chỉnh thể khác; giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.

– Nhận thức đối t­ợng trong trạng thái tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đó chỉ là sự biến đổi về số lượng và nguyên nhân biến đổi nằm ở bên ngoài sự vật.

Nh­ư vậy, phư­ơng pháp siêu hình là ph­ơng pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại với một t­ duy cứng nhắc, “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối quan hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại..mà không nhìn thấy sự phát sinh và tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh.. mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ thấy cây mà không thấy rừng”.(Sđd, t.20, tr.37).

*. Ph­ương pháp biện chứng

– Nhận thức đối tư­ợng trong trạng thái liên hệ với nhau, ảnh h­ởng lẫn nhau và ràng buộc lẫn nhau.

– Nhận thức đối t­ượng trong trạng thái vận động, biến đổi và phát triển; đó là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện t­ợng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là cuộc đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn bên trong của chúng.

Như­ vậy, ph­ương pháp biện chứng là phư­ơng pháp xem xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt, “không chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối liên hệ giữa chúng, không chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và tiêu vong của sự vật, không chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh..mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật, không chỉ thấy cây mà còn thấy cả rừng”.

Phư­ơng pháp biện chứng đã phát triển trải qua ba giai đoạn và đ­ợc thể hiện qua ba hình thức lịch sử của phép biện chứng: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật.

– Trong phép biện chứng tự phát thời cổ đại, các nhà biện chứng cả ph­ơng Đông và phương Tây đã thấy các sự vật, hiện t­ợng trong vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận. Nh­ng đó mới chỉ là cái nhìn trực quan, ch­a phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.

– Trong phép biện chứng duy tâm, mà đỉnh cao là triết học cổ điển Đức (ng­ời khởi x­ớng là Cantơ và ng­ời hoàn thiện là Hêghen), lần đầu tiên trong lịch sử t­ duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của ph­ơng pháp biện chứng. Nh­ng đó là phép biện chứng duy tâm, bởi nó bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần; thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm tuyệt đối.

– Trong phép biện chứng duy vật, C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển d­ới hình thức hoàn bị nhất.


【#6】Sự Khác Nhau Giữa Phương Pháp Siêu Hình Phương Pháp Biện Chứng

Bài soạn tuần 3

Sự khác nhau giữa phương pháp siêu hình & phương pháp biện chứng

Triết học có nhiều phương pháp; trong đó có 2 phương pháp cơ bản là:

1. Phương pháp siêu hình

2. Phương pháp biện chứng.

Biện chứng và siêu hình là hai phạm trù trong triết học, nó là hai phương pháp tư duy trái ngược nhau

1. Phương pháp siêu hình

Là phương pháp:

– Nhận thức đối tượng trong trạng thái cô lập, tách rời khỏi những sự vật, hiện tượng khác.

2. Phương pháp biện chứng

Là phương pháp

Xem xét về sự vật hiện tượng trong trạng thái động. Mọi sự vật hiện tượng luôn có mối liên hệ tác động qua lại nhau và trong trạng thái chung là phát triển.

VÍ DỤ

Một viên phấn

– Theo phương pháp luận biện chứng: thi dưới tác dung lực cơ học thi sau khi viết viên phấn sẽ bị mài mòn đi không còn hình dạng như trước nữa. Dưới tác dụng hoá học sẽ bị ăn mòn dần … nên theo thời gian viên phấn sẽ không còn như trước nữa.

– Theo pp luận siêu hình: thì dù bao lâu đi nữa thi viên phấn đó vẫn luôn tồn tai như thế không thay đổi.

Tại sao nói phát triển phải diễn theo đường xoáy ốc

– Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức được tính đúng đắn và tất yếu của sự vật bởi phát triển là khuynh hướng chung, do đó cái mới bao giờ cũng chiến thắng. Song, quá trình phát triển không diễn ra theo đường thẳng mà con đường xoắn ốc: quanh co, phức tạp với nhiều chu kỳ và giai đoạn trung gian.

– Sự vật ra đời sau luôn là cái mới, cái tiến bộ hơn cái trước thế nhưng không phải lúc nào cũng như vậy, có nhiều lúc, cái mới lại là cái thụt lùi so với cái cũ, thế nhưng sự thụt lùi đó là những bước thụt lùi trong quá trình phát triển chung của nó.

– Nhận thức được quy luật này chúng ta sẽ biết cách tác động phù hợp sao cho sự vật phát triển nhanh hay chậm, tránh được những nhận thức sai lầm, chủ quan duy ý chí và bảo thủ trong công việc và trong các hiện tượng xã hội. Đồng thời cần phải chống thái độ phủ định sạch trơn hoàn toàn không có gì, coi thường giá trị truyền thống mà cần phải biết phát hiện ra cái mới, tạo điều kiện cho cái mới phát triển

Tại sao có mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất

Từ sự thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất: chất và lượng là 2 của một sự vật, chúng thống nhất với nhau. Sự thống nhất giữa chất và lượng tồn tại trong một độ nhất định khi sự vật còn . Còn là nó, chưa trở thành cái khác.

Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật đấy,

Vd : Dưới áp suật bình thường của không khí, sự tăng giảm nhiệt độ trong khoảng giới hạn , từ 0 – 1000 độ C, nước nguyên chất vẫn ở trạng thái lỏng,

Trong mối liên hệ giữa lượng và chất, thì chất là mặt tương đối ổn định còn lượng là mặt biến đổi hơn

Sự vật động và pt của sự vật, bao giờ bắt đầu thay đổi về lượng. Xong phẩy không phải bắt kỳ sự thay đổi về lượng cũng dẫn đến sự thay đổi về chất ngay tức khắc, mặc dù bắt kì sự thay dổi nào về lượng cũng ảnh hưởng đến trạng thái tồn tại, của sự vật .

Chỉ khi nào lượng biến đổi đến một giới hạn nhất định độ thì mới dẫn đến sự thay đổi về vật chất. Thời điểm mà đó dẫn ra bước nhảy, gọi là điểm nuốt . Điểm nút là một phạm trù triết học, dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đủ làm thay đổi về chất của sự vật

VD: nhiệt độ của nước , giảm xuống 0 độ, nước thể lỏng chuyển về thể rắn,

Ý nghĩa phương pháp luận

Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải chú ý tích lũy dẫn những thay đổi về lượng, đồng thời phải biết thực hiện kịp thời những bước nhảy khi có điều kiện chín muồi.

Chống lại quan điểm tả khuynh: chủ quan, nóng vội, duy ý chí, khi lượng chưa biến đổi đến điểm nút đã thực hiện bước nhảy.

Chống lại quan điểm hữu khuynh: bảo thủ, trì trệ, khi lượng đã biến đổi đến điểm nút nhưng không thực hiện bước nhảy.

Phải có thái độ khách quan và quyết tâm thực hiện bước nhảy khi hội đủ các điều kiện chin muồi.

Những câu ca dao về lượng và chất

Lượng

”Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

“Yêu nhau ba bốn núi cũng trèo

Bốn sông cũng lội, năm đèo cũng qua”

“Một thương tóc bỏ đuôi gà

Hai thương ăn nói mặn mà có duyên”

“Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”

“Trăm năm bia đá cũng mòn

Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ”

“Thương em anh chẳng dám qua

Sợ chuông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”

Chất

“Trong tốt ngoài xấu”

“Khẩu Phật , tâm xà”

“Bề ngoài thơn thớt nói cười

Mà trong nham hiểm giết người không dao”

“Con lợn có béo thì cỗ lòng mới ngon”

“Ở chi 2 dạ 3 bòng

Dạ cam thì ngọt cạ bòng thì chua”

“Nhân chi sơ tính bản thiện”

“Phú quý sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc”

“Thấy sang bắt quàng làm họ”


【#7】Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 Doc

Trường THPT Tràm Chim

Ngày dạy:…./…../2010

Người soạn: Phạm Văn Mi

Phần thứ nhất:

III. Phương pháp giảng dạy:

– Các em học những môn học nào? Các khoa học đó nghiên cứu vấn đề gì?

+ Toán: nghiên cứu số, đại lượng…

→ mỗi ngành KH đều có đối tượng nghiên cứu riêng.

– Gv hỏi: V ậy đối tượng nghiên cứu của triết học là gì?

– Điểm giống và khác nhau về đối tượng nghiên cứu giữa triết học và các môn khoa học cụ thể?

Lưu ý: Triết học và các môn khoa học cụ thể:

– Giống: đều có đối tượng nghiên cứu riêng.

Gv hỏi: Triết học có vai trò như thế nào?

– Triết học có m ấy vấn đề cơ bản?

Vậy thì vấn đề cơ bản của TH có mấy mặt?

→ Từ việc giải quyết vấn đề thứ nhất người ta chia thành hai loại thế giới quan: duy vật và duy tâm.

a/ Vai trò thế giới quan, phương pháp luận của triết học:

– Triết học là hệ thống các quan điểm, lý luận chung nhất về thế giới , v ề vị trí và vai trò của con người trong thế giới đó.

– Triết học đóng vai trò là thế giới quan, phương pháp luận chung cho mọi hoạt động nhận thức và họat động thực tiễn của con người.

b/ Thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm:

– Thế giới quan: toàn bộ quan điểm, niềm tin định hướng hoạt động của con người trong cuộc sống.

+ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.

+ Khả năng nhận thức TGKQ của con người.

– Thế giới quan duy tâm: ý thức là cái có trước và là cái sản sinh ra giới tự nhiên.

Trường THPT Tràm Chim

Ngày dạy:…./…../2010

Người soạn: Phạm Văn Mi

III. Phương pháp giảng dạy.

– Thế nào là phương pháp? Ví dụ.

– Thế nào là phương pháp luận? ví dụ.

” Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”

Phương pháp luận biện chứng : xem xét SVHT trong sự ràng buộc lẫn nhau giữa chúng, trong sự vận động và phát triển không ngừng của chúng.

– Đọc câu chuyện ” Thầy bói xem voi” và cho biết: 5 ông thầy bói cảm nhận con voi bằng cách nào? Kết quả ra sao? Nó thể hiện phương pháp luận nào?

Gv phát vấn học sinh: phương pháp luận nào là khoa học? rút ra bài học trong việc xem xét các sự vật hiện tượng trong cuộc sống.

Gv: N êu sự hạn chế của các nhà triết học trước Mác?

(làm rõ các hệ thống triết học trước Mác chưa triệt để vì chưa đạt được sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng).

– Sự thống nhất giữa phương pháp luận biện chứng và thế giới quan duy vật thể hiện ở những quan điểm nào?

Hs: phát biểu ý kiến.

– Hs cả lớp cùng làm việc. Nghiên cứu và trình bài ý kiến của mình.

– Hs cả lớp cùng làm việc. Nghiên cứu và trình bài ý kiến của mình.

– Hs trình bài suy nghĩ của mình

Hs: phát biểu ý kiến

Hs: đọc kỹ về Phoi-ơ-bắc và Hêghen để điền vào bảng so sánh:

c. Phương pháp luận biện chứng và phương pháp luận siêu hình:

– Phương pháp là cách thức đạt tới mục đích đặt ra.

2. Chủ nghĩa duy vật biện chứng – sự thống nhât hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng:

– Về thế giới quan: phải xem xét chúng với quan điểm duy vật biện chứng.

a/ Rút dây động rừng

b/ Tre già măng mọc


【#8】Hãy Nêu Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Nguyên Lý Biện Chứng Mác Xít?

Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật gồm 2 nguyên lý, 6 cặp phạm trù và 3 quy luật cơ bản.

Bạn muốn hỏi về “Ý nghĩa của phương pháp luận của phép biện chứng duy vật” hay “Ý nghĩa của phương pháp luận của 2 nguyên lý biện chứng” ?

► Ý nghĩa của phương pháp luận của phép biện chứng duy vật Marxist

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển của PBCDV là cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc lịch sử-cụ thể và nguyên tắc phát triển.

a) Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn

Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tượng với tất cả các mặt, các mối liên hệ; đồng thời phải đánh giá đúng vai trò, vị trí của từng mặt, từng mối liên hệ; nắm được mối liên hệ chủ yếu có vai trò quyết định.

Sự vận dụng quan điểm toàn diện trong sự nghiệp cách mạng:

– Trong Cách mạng dân tộc dân chủ: Đảng ta vận dụng quan điểm toàn diện trong phân tích mâu thuẫn xã hội, đánh giá so sánh lực lượng giữa ta với địch, tạo ra và sử dụng sức mạnh tổng hợp.

– Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta tiến hành đổi mới toàn diện, triệt để; đồng thời phải xác định khâu then chốt. Nắm vững mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị và đổi mới tư duy.

Đối lập với nguyên tắc toàn diện của PBC, quan điểm siêu hình xem xét sự vật, hiện tượng một cách phiến diện. Nó không xem xét tất cả các mặt, các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng; hoặc xem mặt này tách rời mặt kia, sự vật này tách rời sự vật khác.

Chủ nghĩa chiết trung thì kết hợp các mặt một cách vô nguyên tắc, kết hợp những mặt vốn không có mối liên hệ với nhau hoặc không thể dung hợp được với nhau. Thuật nguỵ biện thì cường điệu một mặt, một mối liên hệ; hoặc lấy mặt thứ yếu làm mặt chủ yếu.

b) Nguyên tắc lịch sử-cụ thể trong nhận thức và thực tiễn

Nguyên tắc lịch sử-cụ thể đòi hỏi phải xem xét sự vật hiện tượng trong quá trình vận động phát triển: nó ra đời trong điều kiện như thế nào? trải qua những giai đoạn phát triển như thế nào? mỗi giai đoạn có tính tất yếu và đặc điểm như thế nào?

c) Nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn

Nguyên tắc phát triển đòi hỏi khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nhìn thấy khuynh hướng biến đổi trong tương lai của chúng: cái cũ, cái lạc hậu sẽ mất đi; cái mới, cái tiến bộ sẻ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu.

► Ý nghĩa của phương pháp luận của hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: khái quát bức tranh toàn cảnh những mối liên hệ của thế giới (tự nhiên, xã hội và tư duy). PBCDV khẳng định rằng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại một cách riêng lẻ, cô lập tuyệt đối, mà trái lại chúng tồn tại trong sự liên hệ, ràng buộc, phụ thuộc, tác động, chuyển hóa lẫn nhau.

* Ý nghĩa :

+ Phải xem xét toàn diện các mối liên hệ

+ Trong tổng số các mối liên hệ phải rút ra được những mối liên hệ bản chất, chủ yếu để thấu hiểu bản chất của sự vật.

+ Từ bản chất của sự vật quay lại hiểu rõ toàn bộ sự vật trên cơ sở liên kết các mối liên hệ bản chất, chủ yếu với tất cả các mối liên hệ khác của sự vật để đảm bảo tính đồng bộ khi giải quyết mọi vấn đề trong đời sống. Quan điểm toàn diện đối lập với mọi suy nghĩ và hành động phiến diện, chiết trung, siêu hình.

Nguyên lý về phát triển: phản ánh đặc trưng biện chứng phổ quát nhất của thế giới. Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.

PBCDV khẳng định rằng mọi lĩnh vực trong thế giới (vô cơ và hữu cơ; tự nhiên, xã hội và tư duy) đều nằm trong quá trình phát triển không ngừng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.

Mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động, biến đổi không ngừng và về phương diện bản chất của mọi sự vận động, biến đổi của thế giới có xu hướng phát triển.

Phát triển được coi là khuynh hướng chung, là khuynh hướng chủ đạo của thế giới.


【#9】Luận Văn Tiểu Luận Bàn Luận Về Vấn Đề Đổi Mới Toàn Diện Nội Dung Và Phương Pháp Dạy Học Ở Bậc Học Phổ Thông Trên Quan Điểm Biện Chứng

I. Đặt vấn đề Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI – 1986, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới với một xuất phát điểm phải nói là rất thấp. Nhưng nhìn lại quá trình hơn 20 năm đổi mới ấy chúng ta không khỏi tự hào về những thành quả mà chúng ta đã đạt được về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội đất nước ta đã chứng tỏ được bản lĩnh của mình trên trường quốc tế. Tuy nhiên chúng ta cũng đã phải mất đi nhiều thứ mà không phải ai cũng nhìn thấy! Phải chăng đây là một quy luật tất yếu của sự phát triển? Trong 20 năm ấy, nền giáo dục của nước ta cũng không ngừng phát triển để ngày càng phù hợp với xu thế phát triển của các nước trên thế giới. Chỉ tính riêng từ năm 1995 đến nay nước ta đã có ít nhất là 3 lần thay đổi chương trình giảng dạy ở các bậc học phổ thông. Và lần thay đổi gần đây nhất, đổi mới toàn diện chương trình ở cả 3 cấp trong bậc học phổ thông: Tiểu học, THCS và THPT mà năm học 2008 – 2009 làm năm cuối cùng hoàn thành chương trình đổi mới đó. SGK ngoài việc giúp HS nâng cao năng lực tự học phải đảm bảo yêu cầu phân hóa, chú ý tới đặc điểm lứa tuổi HS và điều kiện dạy học cụ thể của cấp học. Đây là vấn đề từ nhiều năm trước vẫn chưa thực hiện được. Tại đợt tập huấn bồi dưỡng giáo viên cốt cán thực hiện chương trình – SGK lớp 12 THPT, TS. Nguyễn Trọng Hoàn – Phó vụ trưởng Vụ GD phổ thông đánh giá: “chương trình thay SGK cấp TH và THCS đã hoàn thiện tương đối tốt, quá trình thực hiện có nhiều điều kiện thuận lợi và kết quả đã thể hiện được sự đổi mới rõ rệt.” [5] Mọi cái mới đều gây ra những dư luận xung quanh nó. Việc thay đổi chương trình dạy học ở bậc học phổ thông cũng không nằm ngoài quy luật đó. Những dư luận xung quanh vấn đề này bao gồm cả khen và chê. Nhiều người cho rằng: việc đổi mới là tất yếu, là cấp thiết trong thời đại mới, thời đại của công nghệ thông tin, của khoa học phát triển và thời đại hội nhập quốc tế; Nhưng cũng không ít ý kiến cho rằng việc đổi mới như hiện nay vẫn chưa thực sự mang lại hiệu quả và còn nhiều bất cập như: vấn đề học tiếng việt của học sinh tiểu học, nội dung kiến thức của từng môn học chưa phù hợp với thực tế, còn nhiều kiến thức chưa chính xác và còn rất nhiều ý kiến khác nữa được phát biểu và bàn luận trên nhiều khía cạnh khác nhau. Đứng trên lập trường của phương pháp biện chứng, chúng ta thử nhìn nhận lại quá trình đổi mới chương trình dạy học ở hệ thống giáo dục phổ thông bằng cách xét lại những kết quả mà chúng ta đã đạt được từ sự đổi mới ấy. Xuất phát từ mong muốn làm rõ ý nghĩa của việc thay đổi chương trình giáo dục ở bậc học phổ thông nên tôi đã quyết định chọn đề tài “Bàn luận về vấn đề đổi mới toàn diện nội dung và phương pháp dạy học ở bậc học phổ thông trên quan điểm biện chứng” làm đề tài tiểu luận triết học của mình. Hy vọng đề tài này sẽ góp thêm một ý kiến hữu ích cho công tác thay đổi chương trình ở các bậc học phổ thông. Tuy nhiên, để cho đề tài này mang tính khách quan hơn, rất mong được sự đóng góp ý kiến của giảng viên và quý bạn đọc. Tôi xin chân thành cảm ơn! II. Phương pháp thực hiện đề tài: – Tổng hợp tài liệu. – Tìm hiểu thông tin dư luận xung quanh vấn đề nghiên cứu. – Phân tích các ý kiến dư luận trên quan điểm của phép biện chứng duy vật. Từ đó rút ra kết luận và đưa ra những kiến nghị cần thiết trong quá trình thực hiện đổi mới chương trình ở bậc học phổ thông.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

  • Thư viện tài liệu Phong Phú

    Hỗ trợ download nhiều Website

  • Nạp thẻ & Download nhanh

    Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

  • Nhận nhiều khuyến mãi

    Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN


【#10】Câu 5: Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận

Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh đúng đắn hiện thực. Trong hệ thống đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất. Vì thế Ph.Ăngghen đã định nghĩa: “phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”.

I. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật và hiện tượng

1. Khái niệm mối liên hệ phổ biến:

Là khái niệm dùng để chỉ sự tác động và ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận trong một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.

2. Nội dung và tính chất của mối liên hệ

– Tính khách quan và phổ biến của mối liên hệ: Nhờ có mối liên hệ mà có sự vận động, mà vận động lại là phương thức tồn tại của vật chất, là một tất yếu khách quan, do đó mối liên hệ cũng là một tất yếu khách quan.

  • Mối liên hệ tồn tại trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng ở tất cả lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy.
  • Mối liên hệ phổ biến là hiện thực, là cái vốn có của mọi sự vật, hiện tượng, nó thể hiện tính thống nhất vật chất của thế giới.

– Do mối liên hệ là phổ biến, nên nó có tính đa dạng: Các sự vật; hiện tượng trong thế giới vật chất là đa dạng nên mối liên hệ giữa chúng cũng đa dạng, vì thế, khi nghiên cứu các sự vật, hiện tượng cần phải phân loại mối liên hệ một cách cụ thể.

    Căn cứ vào tính chất, phạm vi, trình độ, có thể có những loại mối liên hệ sau: chung và riêng, cơ bản và không cơ bản, bên trong và bên ngoài, chủ yếu và thứ yếu, không gian và thời gian, v.v.. Sự phân loại này là tương đối, vì mối liên hệ chỉ là một bộ phận, một mặt trong toàn bộ mối liên hệ phổ biến nói chung.

– Phép biện chứng duy vật nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất và phổ biến nhất của thế giới khách quan. Còn những hình thức cụ thể của mối liên hệ là đối tượng nghiến cứu của các ngành khoa học cụ thể.

3. Ý nghĩa phương pháp luận

– Vì các mối liên hệ là sự tác động qua lại, chuyển hoá, quy định lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và các mối liên hệ mang tính khách quan, mang tính phổ biến nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiến con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện, phải tránh cách xem xét phiến diện.

  • Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật.
  • Đồng thời, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng mối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên, và lưu ý đến sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mối liên hệ để hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân.
  • Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự vật, chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó mà còn phải chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác. Đồng thời, chúng ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất. Để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, một mặt, chúng ta phải phát huy nội lực của đất nước ta; mặt khác, phải biết tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách do xu hướng quốc tế hóa mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và toàn cầu hóa kinh tế đưa lại.

– Vì các mối liên hệ có tính da dạng, phong phú – sự vật, hiện tượng khác nhau, không gian, thời gian khác nhau các mối liên hệ biểu hiện khác nhau nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm lịch sử – cụ thể.

  • Quan điểm lịch sử – cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử – cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển. Thực tế cho thấy rằng, một luận điểm nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này, nhưng sẽ không là luận điểm khoa học trong điều kiện khác.
  • Vì vậy để xác định đúng đường lối, chủ trương của từng giai đoạn cách mạng, của từng thời kỳ xây dựng đất nước, bao giờ Đảng ta cũng phân tích tình hình cụ thể của đất nước ta cũng như bối cảnh lịch sử quốc tế diễn ra trong từng giai đoạn và từng thời kỳ đó và trong khi thực hiện đường lối, chủ trương, Đảng ta cũng bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến của hoàn cảnh cụ thể.

II. Nguyên lý về sự phát triển

1. Khái niệm phát triển

– Phát triển là sự vận động tiến lên (từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn).

– Từ khái niệm trên cho thấy:

  • Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển có mối quan hệ biện chứng với nhau, vì nhờ có mối liên hệ thì sự vật mới có sự vận động và phát triển.
  • Cần phân biệt khái niệm vận động với khái niệm phát triển. Vận động là mọi biến đổi nói chung, con người phát triển là sự vận động có khuynh hướng và gắn liền với sự ra đời của cái mới hợp quy luật.

2. Nội dung và tính chất của sự phát triển

– Phát triển là thuộc tính vốn có của mọi sự vật, hiện tượng, là khuynh hướng chung của thế giới.

– Sự phát triển có tính chất tiến lên, kế thừa liên tục.

– Sự phát triển thường diễn ra quanh co, phức tạp, phải trải qua những khâu trung gian, thậm chí có lúc, có sự thụt lùi tạm thời.

– Phát triển là sự thay đổi về chất của sự vật. Nguồn gốc của sự phát triển là do sự đấu tranh của các mặt đối lập trong bản thân sự vật.

Xem tiếp: Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

3. Phân biệt quan điểm biện chứng và siêu hình về sự phát triển

– Quan điểm biện chứng xem sự phát triển là một quá trình vận động tiến lên thông qua những bước nhảy vọt về chất. Nguồn gốc của sự phát triển là cuộc đấu tranh của các mặt đối lập ở trong sự vật.

– Quan điểm siêu hình nói chung là phủ định sự phát triển, vì họ thường tuyệt đối hoá mặt ổn định của sự vật, hiện tượng. Sau này, khi khoa học đã chứng minh cho quan điểm về sự phát triển của sự vật, buộc họ phải nói đến sự phát triển, song với họ phát triển chỉ là sự tăng hay giảm đơn thuần về lượng không có sự thay đổi về chất và nguồn gốc của nó ở bên ngoài sự vật, hiện tượng.

4. Ý nghĩa phương pháp luận

– Nguyên lý về sự phát triển cho thấy trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm phát triển.

– Quan điểm phát triển đòi hỏi khi nhận thức, khi giải quyết một vấn đề nào đó con người phải đặt chúng ở trạng thái động, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển.

– Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt những cái hiện đang tồn tại ở sự vật, mà còn phải thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng, phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi có tính chất thụt lùi. Song điều cơ bản là phải khái quát những biến đổi để vạch ra khuynh hướng biến đổi chính của sự vật.

– Bạn đã nắm vững kiến thức: Điều kiện ra đời, tồn tại của sản xuất hàng hoá.

– Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia quá trình phát triển của sự vật ấy thành những giai đoạn. Trên cơ sở ấy để tìm ra phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật tiến triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó, tùy theo sự phát triển đó có lợi hay có hại đối với đời sống của con người.

– Quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.

– Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử – cụ thể, quan điểm phát triển góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân con người. Song để thực hiện được chúng, mỗi người cần nắm chắc cơ sở lý luận của chúng – nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển, biết vận dụng chúng một cách sáng tạo trong hoạt động của mình.

III. Ý nghĩa phương pháp luật của việc nắm vững hai nguyên lý này

Nguyên lý về liên hệ phổ biến đòi hỏi trong nhận thức sự vật cần phải có quan điểm toàn diện. Với quan điểm này, khi nghiên cứu sự vật, phải xem xét tất cả các mối liên hệ của bản thận sự vật và với các sự vật và hiện tượng khác.

Tóm lại: Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, lịch sự cụ thể và phát triển. Với cách xem xét, nghiên cứu theo quan điểm toàn diện và phát triển sẽ giúp ta hiểu được bản chất sự vật, làm cho nhận thức phản ánh đúng đắn về sự vật và hoạt động thực tiễn có hiệu quả cao.


Bạn đang xem chủ đề Phương Pháp Biện Chứng trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!