Tư Tưởng Triết Học Hồ Chí Minh

--- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Phép Biện Chứng Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Phương Pháp Biện Chứng Và Các Phương Pháp Nhận Thức Đặc Thù Khoa Học Chung
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Và Chủ Nghĩa Duy Vật Lịch Sử
  • Vai Trò Của Tư Duy Biện Chứng Duy Vật Đối Với Sinh Viên Đại Học Nước Ta
  • Phép Biện Chứng Và Tư Duy Biện Chứng
  • Hồ Chí Minh không có tác phẩm riêng bàn về phương pháp. Nhưng trong thực tế lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Người đã vận dụng sáng tạo và nhuần nhuyễn các nguyên lý của phép biện chứng duy vật macxít kết hợp với các yếu tố biện chứng của triết học phương Đông qua đó tạo nên một hệ thống phương pháp riêng của mình, rất macxít mà cũng rất Hồ Chí Minh, không trộn lẫn được. Vì vậy, có thể nói, có phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh, phương pháp đó vẫn là phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin nhưng đã được vận dụng và chuyển hoá vào thực tiễn cách mạng Việt Nam để xử lý thành công những vấn đề do thực tiễn cách mạng Việt Nam đặt ra, nó in đậm màu sắc Việt Nam – Hồ Chí Minh và bằng cái riêng đã làm phong phú thêm cái chung.

    Vậy nội dung và đặc điểm của phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh là gì?

    Biện chứng trong xử lý mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, giữa cái riêng và cái chung.

    Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, đó là quan điểm cốt lõi nhất của nhận thức luận macxít và cũng là nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật. Theo quan điểm của C.Mác: “ở mỗi dân tộc, lý luận bao giờ cũng chỉ được thực hiện theo mức độ mà nó là sự thực hiện những nhu cầu của dân tộc ấy”. Nói cách khác, lý luận chỉ được coi là đúng đắn khi nó đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của mỗi dân tộc.

    Hồ Chí Minh cũng quan niệm: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét so sánh thật kỹ lượng, rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế, đó là lý luận chân chính”.

    Theo quan niệm đó, Hồ Chí Minh luôn luôn lấy thực tiễn, lấy sự kiện của đời sống dân tộc và thời đại làm định hướng cho tư duy và hành động, lấy mục tiêu độc lập và phát triển của dân tộc làm căn cứ để xem xét lý luận, để lựa chọn con đường và bước đi cho cách mạng Việt Nam, nhờ đó mà tránh được giáo điều, rập khuôn (do chỉ biết lặp lại cái chung), đồng thời cũng tránh để không rơi vào cơ hội, xét lại (do quá nhấn mạnh cái riêng, cái đặc thù).

    Đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, nhưng Hồ Chí Minh biết rút ra từ học thuyết cách mạng và khoa học rộng lớn này những vấn đề cần thiết cho giai đoạn trước mắt của cách mạng Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn cho cách mạng Việt Nam: từ giải phóng dân tộc đến giải phóng giai cấp và giải phóng con người, tức là từ độc lập dân tộc tiến lên CHXH.

    Tiếp theo, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhờ đứng vững trên quan điểm thực tiễn và đường lối độc lập tự chủ, một mặt, chúng ta vẫn tranh thủ viện trợ kinh tế và quân sự của các nước XHCN anh em, mặt khác, chúng ta lại đánh theo đường lối và cách đánh Việt Nam, phù hợp với chiến trường Việt Nam, vì vậy ta đã giành được thắng lợi vẻ vang: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên CHXH.

    Khi miền Bắc từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tiền tư bản bước vào thời kỳ quá độ lên CHXH, Hồ Chí Minh đặt vấn đề: “Chúng ta phải đùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến lên CHXH” và Người nhắc nhở: “Tuy chúng ta đã có những kinh nghiệm dồi đào của các nước anh em, nhưng chúng ta cũng không thể áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách máy móc, bởi vì nước ta có những đặc điểm riêng của ta”.

    Đó là biện chứng Hồ Chí Minh trong xử lý mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, giữa cái riêng và cái chung.

    Biện chứng trong xử lý mối quan hệ giữa mâu thuẫn và thống nhất của các mặt đối lập.

    Theo quan điểm macxít, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là quy luật cơ bản nhất của phép biện chứng duy vật, bởi mâu thuẫn là hiện tượng phổ biến của mọi sự vật, hiện tượng và đấu tranh để đi tới chuyển hoá giữa các mặt đối lập của mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động và phát triển.

    Hồ Chí Minh cũng thừa nhận tính phổ biến của mâu thuẫn. Người viết: “Cái gì cũng có mâu thuẫn, vì cái gì cũng có biến âm, dương, có sinh có tử, có quá khứ, có tương lai, có cũ, có mới. Đó là những mâu thuẫn sẵn có trong mọi sự vật”.

    Mâu thuẫn có nhiều loại với bản chất khác nhau: có mâu thuẫn bên trong và bên ngoài, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu, đối kháng và không đối kháng. Vì vậy, phân tích mâu thuẫn là điều kiện để nhận thức đúng sự vật. Hồ Chí Minh chính là một bậc thầy trong nhận thức, phát hiện và xử lý mâu thuẫn.

    Trong đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp có nhận thức, phát hiện đúng mâu thuẫn mới xác định rõ kẻ thù và bạn đồng minh, mới đề ra được chiến lược, sách lược, bước đi đúng đắn cho mỗi giai đoạn của cách mạng.

    Vận dụng phép biện chứng duy vật vào phân tích xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Việt Nam đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra hai mâu thuẫn cơ bản: một là, mâu thuẫn vốn có của xã hội phong kiến là mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ phong kiến và hai là, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với bọn thực dân xâm lược Pháp, từ đó Hồ Chí Minh xác định nhân dân Việt Nam có hai kẻ thù chính là đế quốc và phong kiên tay sai, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam có hai nhiệm vụ cơ bản là chống đế quốc giành lại độc lập cho dân tộc và chống phong kiên đem lại ruộng đất cho dân cày.

    Tuy xác định xã hội thực dân nửa phong kiến Việt Nam có hai mâu thuẫn cơ bản, nhưng trong việc xử lý mâu thuẫn, Hồ Chí Minh không coi hai mâu thuẫn đó ngang nhau, phải tiến hành song song, đồng thời. Theo Hồ Chí Minh, trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến, mâu thuẫn nổi lên gay gắt nhất, trở thành mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc và bọn tay sai, có giải quyết được vấn đề dân tộc mới giải quyết được vấn đề dân chủ. Vì vậy, ngay trong Chính cương vắn tắt (1930), Hồ Chí Minh cũng chỉ nêu chủ trương “thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công, chia cho dân cày nghèo” mà chưa nêu khẩu hiệu “người cày có ruộng”. Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941) dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh, cũng chủ trương tạm gác khẩu hiệu ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc, Việt gian, đề thêm khẩu hiệu “giảm tô, giảm tức”, chia lại ruộng công,…

    Làm.như vậy, theo Hội nghị phân tích, nếu không đánh đuổi được Pháp – Nhật, nếu dân tộc còn phải chịu mãi kiếp ngựa trâu thì vấn đề ruộng đất cũng không sao giải quyết được. Cuộc Cách mạng tháng 8/1945 đã lôi cuốn hàng chục triệu nông dân, dù chưa được chia lại ruộng đất của địa chủ vẫn hăng hái tiến bước cùng giai cấp công nhân làm nên cuộc cách mạng long trời lở đất, giành lại nền độc lập cho dân tộc. Thắng lợi đó là sự thể hiện phép biện chứng của Hồ Chí Minh trong xử lý mối quan hệ giữa mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam.

    Hồ Chí Minh cũng là bậc thầy về xử lý mâu thuẫn địch – ta, nêu tấm gương về nghệ thuật vận dụng mâu thuẫn, khai thác mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù. Theo quyết định của Đồng minh tại Hội nghị Pốtxđam (tháng 7/1945), gần 20 vạn quân Tưởng đổ vào Bắc Đông Dương (từ vĩ tuyến 16 trở ra) và hàng vạn quân Anh – Ấn Độ đổ vào Nam Đông Dương với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật. Núp dưới bóng quân đội Anh, thực dân Pháp cũng đem quân trở lại nước ta. Nếu kể cả quân đội Nhật tuy đã đầu hàng nhưng chưa bị tước vũ khí, thì vào lúc đó, có gần nửa triệu quân nước ngoài đóng trên đất nước ta. Cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, tình thế cách mạng Việt Nam như đang “nghìn cân treo sợi tóc”. Để bảo vệ thành quả cách mạng, Hồ Chí Minh chủ trương phải phân hoá kẻ thù, bằng cách khai thác mâu thuẫn trong hàng ngũ của chúng.

    Quân đội Tưởng vào miền Bắc có ba thế lực: cánh Lư Hán thuộc Đệ nhất chiến khu Vân Nam, cánh Tiêu Văn thuộc Đệ tứ chiến khu Quảng Tây, cánh Chu Phúc Thành thuộc quân khu Trung ương Trùng Khánh. Chúng giống nhau về mục tiêu “diệt cộng, cầm Hồ” để dựng lên chính phủ tay sai, phục vụ cho mưu đồ lâu dài của chúng, nhưng mâu thuẫn với nhau về lợi ích cá nhân. Biết Lư Hán vốn có tư thù sâu sắc với Tưởng Giới Thạch và cả với Pháp (vì đã bị Pháp tịch thu mấy chuyến hàng lớn trên tuyến đường sắt Hải Phòng Côn Minh), Hồ Chí Minh đã chủ động tới thăm chúng nhằm tranh thủ Lư Hán, đồng thời, nhượng bộ cho vợ chồng Tiêu Văn một số đặc quyền kinh tế để cô lập cánh Chu Phúc Thành… Nhờ đó, chúng ta buộc họ phải thay đổi thái độ đối với Chính phủ Hồ Chí Minh, đã sử dụng được lực lượng quân đội Tưởng làm bình phong, ngăn chặn quân đội Pháp đang lăm le ra miền Bắc.

    Trong hàng ngũ tướng lĩnh quân đội Pháp cũng chia thành hai phe: cánh diều hâu chủ chiến, đứng đầu là Cao ủy Đông Dương Đácgiăngliơ (D’argenlieu), cánh tương đối hiểu biết, muốn hoà hoãn, tiêu biểu là đại tướng Lơcléc (Leclerc), tổng chỉ huy quân đội viễn chinh. Hồ Chí Minh đã viết thư gửi Lơcléc: “Ngài là một đại quân nhân và là một nhà ái quốc. Ngài đã chiến thắng và chiến thắng anh dũng kẻ xâm lăng nước ngài… Lừng danh với những chiến công, ngài lại đi đánh một dân tộc chỉ muốn độc lập, thống nhất quốc gia và một nước chỉ muốn hợp tác như anh em với nước ngài sao?”.

    Lòng tụ trọng bị tổn thương, ít lâu sau Lơcléc từ chức Tổng chỉ huy, xin chuyển về Pháp, mở đầu cho sự liên tục thay đổi Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương.

    Đánh giá sách lược của Hồ Chí Minh

    Trong giai đoạn này, đồng chí Lê Duẩn đã viết: “Những biện pháp cực kỳ sáng suốt đã ghi vào lịch sử cách mạng nước ta như một mẫu mực tuyệt vời của sách lược Lêninnít về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ địch và về sự nhân nhượng có nguyên tắc”.

    Nhắc lại những năm tháng đó, đồng chí Phạm Văn Đồng cũng viết: “Nếu bấy giờ không có Hồ Chí Minh thì khó lường hết cái gì có thể xảy ra”.

    Đối với mâu thuẫn địch – ta, chỉ có một cách xử lý duy nhất là “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta phải kiên quyết đánh đuổi nó đi”. Còn với mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, xuất phát từ quan điểm “Hễ là người Việt Nam thì ai cũng có lòng yêu nước, ghét giặc”, Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết mọi lực lượng “miễn là không phản lại quyền lợi dân chúng, không là Việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với Tổ quốc”, “Không được phép bỏ một lực lượng nào sẵn sàng phục vụ quốc gia”.

    Phương pháp đại đoàn kết Hồ Chí Minh là lấy cái chung, cái tương đồng để khắc phục cái riêng, cái dị biệt, lấy nhân ái, khoan đung để cảm hoá, lấy nhân nhượng, thoả hiệp lẫn nhau để giải quyết bất đồng, “biến đại sự thành tiểu sự, biến tiểu sự thành vô sự”. Người phê phán một số cán bộ chỉ biết “chia rẽ, bênh vực lớp này chống lại lớp khác, không biết làm cho các tầng lớp nhân nhượng lẫn nhau, hoà thuận với nhau… quên rằng lúc này ta phải toàn dân đoàn kết, không chia già trẻ, giàu nghèo để giữ nền độc lập, chống kẻ thù chung”.

    Như vậy, trong mâu thuẫn nội bộ nhân dân (mâu thuẫn không đối kháng), có mặt thuận và mặt nghịch, bên cạnh mặt mâu thuẫn còn có mặt thông nhất, để tồn tại trong sự thống nhất, phải biết lấy thuận chế nghịch, lấy cái chung, cái đồng thuận để khắc phục cái riêng, cái dị biệt. Đó là biện chứng trong cách xử lý của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giũa mâu thuẫn và thống nhất các mặt đôi lập.

    Biện chứng giữa cái “bất biến” và cái “vạn biến”.

    Đây là một tư tưởng biện chứng hết sức sâu sắc của triết học phương Đông, xuất phát từ quan niệm vạn vật sinh hoá đều do điều lý (quy luật) chi phối, nếu nắm được điều lý của vũ trụ thì có thể điều khiển được mọi biến hoá của trời đất (hiện tượng), nghĩa là có thể lấy cái bất biến chế ngự được cái vạn biến, lấy tĩnh chế động, lấy nhu thắng cương…

    Phép biện chứng duy vật macxít cũng đã đề cập đến các cặp mâu thuẫn và thống nhất, vận động và đứng im, nhưng mối quan hệ giữa bất biên và vạn biên trong phép biện chứng của Hồ Chí Minh có nguồn gốc chủ yếu từ trong triết học phương Đông và Việt Nam. Xưa Lý Thánh Tông, khi đi lo việc biên cương ở phương Nam, có dặn lại nhiếp chính Ỷ Lan một câu: “Vạn biến như lôi, nhất tâm thiền định”, ý nói cứ lấy nhất tâm bất biến (là một lòng lo giữ việc nước) thì có thể đối phó với vạn biên (dù có dữ dội như sấm sét).

    Vậy ta hiểu “dĩ bất biến ứng vạn biến” mà Hồ Chí Minh nói đến là gì? Theo cách nói của triết học, có thể hiểu “bất biên” là quy luật, vì chỉ có quy luật (tự nhiên, xã hội, tư duy) là tồn tại lâu đài, là hầu như bất biến, còn “vạn biến” là hiện tượng, là sự biểu hiện đa dạng của quy luật, cho nên có thể đưa vào quy luật mà lý giải hiện tượng hay ngược lại, từ phân tích vô vàn hiện tượng có thể tìm ra quy luật tương ứng.

    Phép biện chứng duy vật thường chú trọng nhiều hơn về trình bày sự phát triển biện chứng của sự vật, coi mâu thuẫn, vận động là tuyệt đối, thông nhất, đứng im là tương đối. Trong thực tế vận dụng, đôi khi chúng ta lại có phần coi nhẹ, thậm chí bỏ qua cái “bất biến” (tức là cái thống nhất, đứng im vốn là điều kiện tồn tại của sự vật).

    Trong vũ trụ và trong cuộc sống xã hội vốn tồn tại phạm trù “bất biến”. Hoá học được xây đựng trên cơ sở định luật bảo toàn trọng lượng. Công thức có thể biến hoá, nhưng trị số thì không đổi. Năng lượng học dựa trên định luật bảo toàn năng lượng. Toán học có những hằng số, hằng đẳng thức không đổi. Về mặt xã hội, các chế độ xã hội đều có nhiều thay đổi, nhưng trong xã hội nào người ta cũng vẫn cần đến ăn, mặc, ở… tức là vẫn phải có sản xuất và phân phối, nghĩa là sự khác nhau, như C.Mác nói, chỉ là về cách thức sản xuất và cách thức phân phối, còn bản thân sản xuất và phân phối thì xã hội nào cũng vẫn phải có. Cũng có thể gọi đó là các hằng số xã hội. Hồ Chí Minh tiếp thu phép biện chứng macxít, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của tư duy biện chứng phương Đông. Người thường bắt đầu từ cái bất biến để đi tới cái khả biến của xã hội và con người. Thí dụ, Người nói: “Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau ấy là dân nào cũng ưa sự lành, ghét sự dữ”. Khi nghe một vị ủy viên Ban vận động đời sống mới nói cần định ra một cái hướng mới cho cuộc vận động, vì khẩu hiệu “cần, kiệm, liêm, chính” xem ra vừa không đủ, vừa cổ… thì Hồ Chí Minh ngắt lời: “Cổ, lạ quá, thế cơm các cụ ăn ngày xưa, bây giờ mình ăn cũng cổ à?”. Theo Người, ăn cơm, uống nước, hít thở khí trời… không bao giờ cũ, xưa nay và sau này đều phải làm. Cần, kiệm, liêm, chính cũng vậy.

    Trước khi sang Pháp đàm phán, Người chỉ dặn lại cụ Huỳnh có một câu: “Mong cụ ở nhà: dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Ta hiểu đó là Người nói đến mối quan hệ giữa mục tiêu và phương pháp, nguyên tắc và sách lược. Mục tiêu của chúng ta là độc lập, thống nhất của Tổ quốc, tự do hạnh phúc của nhân dân, đó là điều bất biến còn phương pháp – sách lược có thể tuỳ tình hình mà biến hoá đa dạng, thay đổi linh hoạt, nhưng không được xa rời cái bất biến. Người nói: “Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”.

    Hồ Chí Minh đã vận dụng phương pháp biện chứng này một cách rất hiệu quả trong chỉ đạo cách mạng, đưa tới những thắng lợi to lớn chưa từng có trong lịch sử dân tộc. Đúng như một nhà báo Pháp đã nhận xét: “Chính sự kết hợp mà không ai bắt chước nổi giữa tính mềm dẻo với tính cương nghị, giữa tính linh hoạt về chính trị với tính cứng rắn về nguyên tắc, giữa việc vận dụng truyền thông yêu nước với sự phân tích macxít đã tạo nên tính chất độc đáo của ông Hồ Chí Minh”.

    Cũng xuất phát từ phép biện chứng Đông – Tây kết hợp này, chúng ta thấy Hồ Chí Minh đã giải quyết rất thành công, vừa khoa học, vừa nhuần nhị các mối quan hệ biện chứng giữa truyền thông và hiện đại, kế thừa và đổi mới, dân tộc và giai cấp, nội lực và ngoại lực, lực – thế, thời… mà do phạm vi của bài viết, chúng tôi không có điều kiện bàn hết ở đây.

    Tóm lại, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh được thể hiện một phần quan trọng trong phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh. Về bản chất, đó là phương pháp biện chứng duy vật macxít được vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam, có sự kết hợp với tư duy biện chứng phương Đông, in đậm dấu ấn phương Đông và Việt Nam, nổi bật lên trong đó là sự kết hợp tính cương nghị về nguyên tắc với tính mềm dẻo, linh hoạt về sách lược, lấy cái đại đồng để khắc phục cái tiểu dị, đi từ dân tộc đến giai cấp, nhằm mục tiêu đại đoàn kết dân tộc, phân hoá và cô lập kẻ thù chính, giành thắng lợi cho độc lập dân tộc để từng bước đi lên CHXH. Phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh cũng do đó mà có vai trò rất to lớn đối với công cuộc đổi mới của chúng ta, đặc biệt trong bối cảnh quốc tế đang chuyển biến nhanh chóng và phức tạp hiện nay.

    Tư tưởng về con người, bộ phận cơ bản của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

    Thấm nhuần quan điểm cải tạo thế giới của triết học Mác, vấn đề được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm là vấn đề con người và sự nghiệp giải phóng con người. Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là con người chung chung, trừu tượng, phi lịch sử, mà là con người hiện thực, cụ thể, sinh động, trước hết là nhân dân lao động và quần chúng bị áp bức ở khắp mọi nơi, không phân biệt dân tộc và màu da.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người có thể tóm tắt lại trong ba nội dung cơ bản:

    Con người là vôn quý nhất, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng

    Theo Hồ Chí Minh, lịch sử là do quần chúng nhân dân sáng tạo ra, chứ không phải do vài ba cá nhân anh hùng nào, vì vậy chúng ta phải yêu dân, quý dân, trọng dân, vì “có dân là có tất cả”. Người nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Do đó, “trong xã hội không có gì tất đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”.

    Từ đó, ta thấy nổi lên ở Hồ Chí Minh một tấm lòng yêu thương vô hạn đối với con người, một niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh và phẩm giá con người, một ý chí kiên quyết đấu tranh để giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, đói nghèo, lạc hậu. Cũng có thể coi đó là những nội dung cơ bản của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.

    Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người hoàn toàn xa lạ với các quan điểm xem con người như là công cụ, như là phương tiện. Mọi chính sách tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hoá của Hồ Chí Minh đều hướng tới con người. Người nói: “Phải đem hết sức dân, tài dân, của dân để làm lợi cho dân”, “dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân để gây hạnh phúc cho dân”, “chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân và do nhân dân tự xây đựng lấy”.

    Qua đó, có thể thấy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người – mục tiêu và con người – động lực là thống nhất, vì dân và do dân là thống nhất.

    Để phát huy vai trò động lực của con người, Hồ Chí Minh đã đề cập đến một hệ thống nội dung và biện pháp (vật chất và tinh thần) nhằm tác động vào cái động cơ thúc đẩy tính tích cực hoạt động của con người đồng thời, cũng chỉ ra những nội dung và biện pháp làm triệt tiêu các trở lực nhằm thúc đẩy sự phát triển theo hướng tiến bộ.

    Trong hệ thống các động lực chính trị – tinh thần, Hồ Chí Minh chú trọng trước hết đến giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đạo đức cách mạng… đồng thời không coi nhẹ vai trò tác động của các nhân tố tinh thần khác, như văn hoá, khoa học, pháp luật… đặc biệt, Người chú trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, coi “thực hành dân chủ là cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”.

    Là nhà duy vật macxít, Hồ Chí Minh hiểu hành động của con người luôn gắn liền với nhu cầu và lợi ích của họ, vì vậy, đi đôi với các biện pháp chính trị – tinh thần, Hồ Chí Minh không coi nhẹ hay bỏ qua các động lực vật chất, khéo léo kết hợp các loại động lực với nhau, tạo sức mạnh tổng hợp, thúc đẩy tính năng động cách mạng của con người. Người tôn trọng và khuyến khích lợi ích cá nhân chính đáng của người lao động, chủ trương kết hợp hài hoà ba lợi ích, sao cho “Nhà nước, hợp tác xã và xã viên cùng có lợi”.

    Nhưng muốn khai thông động lực thì phải khắc phục trở lực kìm hãm sự phát triển của con người, trong đó “căn bệnh mẹ” cực kỳ nguy hiểm là chủ nghĩa cá nhân phải được phê phán mạnh mẽ, kiên quyết tẩy trừ

    Tư tưởng về chiến lược “trăm năm trồng người”

    Từ quan điểm về con người đến quan điểm về chiến lược “trồng người” là một bước phát triển hợp logic của tư tưởng triết học Rồ Chí Minh. Để thực hiện chiến lược kinh tế – xã hội thì chiến lược con người phải đi trước một bước. Từ rất sớm, Người đã nêu ra một luận điểm nổi tiếng: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết cần có những con người XHCN”. Do đó, “vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” (Di chúc).

    Quan điểm “trồng người” của Hồ Chí Minh rất toàn diện và phong phú, ở mỗi thời kỳ cách mạng, Người nêu ra những yêu cầu khác nhau. Bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người nhấn mạnh đến các yêu cầu sau đây:

    Có đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không tham ô, lãng phí, quan liêu, có ý thức làm chủ và tinh thần tập thể.

    Có ý chí học hỏi, không ngừng vươn lên làm chủ những thành tựu văn hoá, khoa học – kỹ thuật, những hiểu biết mới của thời đại.

    Có tinh thần tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo, nhạy bén với cái mới, biết vận dụng nó vào thực tế công tác để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chiến lược trồng người là một hệ thống chặt chẽ, phong phú, vừa khoa học, vừa cách mạng, là một bộ phận hợp thành của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, một đóng góp quan trọng vào việc làm phong phú triết học về con người của chủ nghĩa Mác – Lênin.

    Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng cứu dân, cứu nước, tìm một con đường phát triển mới để canh tân đất nước, Hồ Chí Minh đã tìm đến nhiều học thuyết Đông – Tây, trên hết là chủ nghĩa Mác – Lênin, đã học hỏi, tiếp thu, dung hợp, tích hợp, hình thành cho mình một thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng macxít, tạo nền tảng triết học để xây đựng lý luận, đường lối và phương pháp cho cách mạng Việt Nam.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Thực Chất Và Ý Nghĩa Của Tư Tưởng Triết Học Hồ Chí Minh
  • Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác
  • Tư Tưởng Biện Chứng Của Hegel Và Sự Kế Thừa Của Triết Học Marx
  • Tính Nguyên Tắc Xác Định Tỉ Giá Ngân Hàng Theo Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền
  • Công Thức Tính Bình Quân Gia Quyền Trong Kế Toán
  • Tìm Hiểu Phép Biện Chứng Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Biện Chứng Và Các Phương Pháp Nhận Thức Đặc Thù Khoa Học Chung
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Và Chủ Nghĩa Duy Vật Lịch Sử
  • Vai Trò Của Tư Duy Biện Chứng Duy Vật Đối Với Sinh Viên Đại Học Nước Ta
  • Phép Biện Chứng Và Tư Duy Biện Chứng
  • Luận Văn Tiểu Luận Bàn Luận Về Vấn Đề Đổi Mới Toàn Diện Nội Dung Và Phương Pháp Dạy Học Ở Bậc Học Phổ Thông Trên Quan Điểm Biện Chứng
  • Hồ Chí Minh là một nhân vật lỗi lạc đã để lại dấu ấn của mình vào lịch sử nhân loại trong thế kỷ XX. Người đã thể hiện tư duy biện chứng của mình một cách giản dị, gần gũi với đời thường qua phong cách ứng xử, phong cách sinh hoạt, phong cách diễn đạt của Người.

    Hồ Chí Minh tự nhận mình là người học trò nhỏ của các nhà hiền triết vĩ đại của nhân loại như Khổng Tử, Mác, Giê su, Tôn Dật Tiên. Những người thầy với tư tưởng bác ái vì con Người. Cũng chính vì xuất phát từ tấm lòng yêu thương đối với con người, Người nhận thức một cách sâu sắc giá trị trong tư tưởng của các bậc hiền triết trong lịch sử, đặc biệt là chủ nghĩa Mác – Lênin. Chính vì vậy, thế giới quan của Người là thế giới quan duy vật biện chứng. Dù Người chưa bao giờ nhận mình là nhà khoa học, cũng không để lại các tác phẩm triết học như “Hệ tư tưởng Đức”, “Luận cương Phoiơbắc”, “Biện chứng cuả tự nhiên”, “Bút ký triết học”,… nhưng Hồ Chí Minh sống trong thời đại đã có chủ nghĩa Mác – Lênin soi sáng và Người đã tiếp thu đồng thời đem tinh túy, sâu sắc của chủ nghĩa Mác – Lênin diễn đạt thành những điều cụ thể để nhân dân dễ hiểu, dễ làm. Rõ ràng phải có một tư duy lỗi lạc tầm cỡ vĩ nhân như Hồ Chí Minh cùng với năng lực hoạt động thực tiễn tuyệt vời mới có thể chuyển hóa thành triết học của cuộc sống, giới thiệu một thế giới quan duy vật biện chứng để mọi người ở nhiều tầng lớp, trình độ khác nhau đều có thể hiểu được.

    Hồ Chí Minh không viết một tác phẩm riêng biệt nào hay một bài luận nào về phép biện chứng, song phương pháp biện chứng duy vật là phương pháp cơ bản nhất trong lí luận và trong toàn bộ quá trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Phương pháp biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp giữa tư tưởng biện chứng trong triết học Mácxit với triết học phương Đông và Phương Tây giữa quá khứ và hiện tại. Đó cũng không phải là sự vận dụng từng nguyên lý, quy luật hay phạm trù của một hệ thống triết học riêng biệt mà chính là sự vận dụng tổng hợp các lí thuyết, các kinh nghiệm được đúc kết tạo thành các quan điểm nhất quán trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của Người.

    Nhờ nắm bắt được cốt lõi của phép biện chứng duy vật, Hồ Chí Minh đã phát hiện được điểm chung do đó đã giải quyết thành công các vấn đề kết hợp các mặt đối lập trong chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,… Có thể nói, việc lãnh đạo cách mạng của Hồ Chí Minh đã được nâng lên mức nghệ thuật, thể hiện ở khả năng và tài nghệ tập hợp, lãnh đạo quần chúng lại để trở thành những tổ chức cách mạng rộng lớn, mạnh mẽ, những tổ chức hoạt động tích cực, tự giác với nhận thức rõ ràng về mục đích chiến đấu của mình.

    Đối với Hồ Chí Minh, phương pháp biện chứng được thể hiện trong nghệ thuật chỉ đạo cách mạng, là sự linh hoạt, mềm dẻo, ứng đối kịp thời đối với mọi tình huống để tận dụng mọi điều kiện, hoàn cảnh, tạo thế và lực cho cách mạng để đưa cách mạng đến thành công. Đặc biệt là nghệ thuật phân tích và giải quyết mâu thuẫn, là sự thể hiện nhất quán quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển, quan điểm lịch sử cụ thể và quan điểm kế thừa.

    Vận dụng tài tình quy luật mâu thuẫn để lãnh đạo cách mạng, trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, Người đã xác định đúng hai mâu thuẫn của xã hội Việt Nam lúc đó. Mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, tổ quốc Việt Nam với thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa quần chúng lao động với giai cấp địa chủ phong kiến. Đây là mối mâu thuẫn dân tộc, giai cấp. Từ việc xác định mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam lúc đó, từ đó, Người xác định đúng chiến lược, nhiệm vụ của cách mạng lâu dài của cách mạng. Còn trong từng giai đoạn cách mạng, Hồ Chí Minh đã xác định đúng đắn mâu thuẫn chủ yếu, mâu thuẫn nổi lên hàng đầu và xác định đúng sách lược, nhiệm vụ trước mắt của cách mạng, tập hợp sức mạnh của đông đảo quần chúng để tiến hành cách mạng. Hồ Chí Minh đã nhạy bén, linh hoạt trong việc phát hiện, nắm bắt và giải quyết mâu thuẫn. Chính thời kỳ chuẩn bị và tiến hành cách mạng tháng 8 – 1945 và thời kỳ sau cách mạng tháng 8 trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” là biểu hiện rõ nét và đậm đà trong lịch sử cách mạng nước ta về nghệ thuật sử dụng mâu thuẫn và nắm bắt thời cơ của chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Quy luật mâu thuẫn của phép biện chứng duy vật không chỉ được Hồ Chí Minh sử dụng để đề ra chiến lược cách mạng mà còn để xác định phương pháp cách mạng khoa học. Người viết căn dặn: Khi việc gì có mâu thuẫn, khi phải tìm cách giải quyết tức là có vấn đề. Khi đã có vấn đề ta phải nghiên cứu cho rõ cái gốc mâu thuẫn trong vấn đề đó là gì. Phải điều tra, phải nghiên cứu cái mâu thuẫn đó. Phải phân tích rõ ràng có hệ thống, ở cái nào là mâu thuẫn chính, cái nào là mâu thuẫn phụ. Phải đề ra cách giải quyết. Hồ Chí Minh chú ý đến mâu thuẫn và Người thường căn dặn các cán bộ khi có việc gì có mâu thuẫn, khi phải tìm cách giải quyết tức là có vấn đề. Khi đã có vấn đề ta phải nghiên cứu cho rõ cái gốc mâu thuẫn trong vấn đề đó là gì. Phải điều tra phải nghiên cứu cho rõ cái gốc đó. Phải phân tích rõ ràng và có hệ thống, phải biết rõ cái nào là mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn không cơ bản; mâu thuẫn chủ yếu, mâu thuẫn không chủ yếu; mâu thuẫn đối kháng, mâu thuẫn không đối kháng và phải đề ra cách giải quyết. Đó là nguyên tắc hoạt động của Hồ Chí Minh, là quan điểm của Người về vai trò của mâu thuẫn.

    Phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác đã chỉ dẫn cho Hồ Chí Minh mối quan hệ tương hỗ giữa cái riêng và cái chung, giữa dân tộc và nhân loại, truyền thống và hiện đại, dân tộc và tộc người, cá nhân và xã hội, lí luận và thực tiễn trong quá trình phát triển. Người thấy rõ nguyên tắc căn bản của phương pháp biện chứng Mácxit là thống nhất giữa lí luận với thực tiễn. Người viết: “Trong khi nhấn mạnh sự quan trọng của lí luận, đã nhiều lần đồng chí Lênin nhắc đi nhắc lại rằng lí luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nam cho hành động cách mạng; và lí luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo; lí luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động…Phải cụ thể hóa chủ nghĩa Mác – Lênin cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúc từng nơi”. Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được Hồ Chí Minh hiểu trên tinh thần biện chứng. Thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn lý luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệ với thực tiễn, nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều. Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đi cùng nhau, hỗ trợ cho nhau, bổ sung cho nhau. Hồ Chí Minh căn dặn: Học tập lý luận thì nhằm mục đích để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc để tạo cho mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng.

    Như vậy, cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh là triết lý biện chứng duy vật. Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuần nhuyễn triết lý ấy với tinh hoa của nền văn hóa phương Đông và phương Tây, với thực tiễn Việt Nam và thế giới. Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạt nhân là thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Tưởng Triết Học Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Thực Chất Và Ý Nghĩa Của Tư Tưởng Triết Học Hồ Chí Minh
  • Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác
  • Tư Tưởng Biện Chứng Của Hegel Và Sự Kế Thừa Của Triết Học Marx
  • Tính Nguyên Tắc Xác Định Tỉ Giá Ngân Hàng Theo Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền
  • Phương Pháp Học Tập Tốt Môn Học Tư Tưởng Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Làm Đề Án Môn Học Kinh Tế Lượng
  • Phương Pháp Học Kanji Chất Lừ
  • Chia Sẻ Kinh Nghiệm Học Kanji Hiệu Quả
  • Phương Pháp Học Kanji Hiệu Quả
  • Nên Làm Gì Khi Mất Gốc Lý 11? Phương Pháp Học Tốt Lý 11 Là Gì?
  • Bác Hồ kính yêu đã để lại cho nhân dân ta, đất nước ta không chỉ một nền độc lập vững bền, một cuộc sống tự do, hạnh phúc mà còn cả một tình thương bao la, một tư tưởng trong sáng, một tấm gương đạo đức cao cả rạng ngời bằng cả cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của mình…

    Tư tưởng của Người đến hôm nay cùng với chủ nghĩa Mác- Lênin đã trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và trở thành một bộ môn khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vô cùng to lớn, được đưa vào giảng dạy trong hệ thống giáo dục Quốc dân và toàn xã hội. Để học tốt môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, trước hết chúng ta cần có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của môn học này đề tạo cho mình một động cơ học tập tích cực, một niềm tin và niềm hứng thú say mê đối với môn học.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh là môn học rất cần thiết đối với mọi người chúng ta. Bởi trong đó là hình ảnh của một người cộng sản mẫu mực, có tư tưởng sáng suốt, tâm hồn cao thượng, ý chí kiên cường bất khuất, tình cảm sâu đậm với con người, tác phong khiêm tốn, cuộc sống giản dị, mà bất kì một người Việt Nam nào cũng có thể tìm thấy hình ảnh của mình trong Hồ Chủ tịch để soi vào đó mà học tập, làm theo.

    Môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh có mối quan hệ gắn bó mật thiết và có tác dụng bổ trợ các môn học khác trong chương trình đào tạo của nhà trường; đặc biệt đối với các môn học thuộc bộ môn khoa học Mác- Lênin, Chính trị, Đường lối cách mạng của Đảng…Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta.

    Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với những dấu mốc quan trọng của lịch sử dân tộc. Do đó có thể nói học tốt môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là các bạn có một nền tảng vững chắc cho tư duy lý luận đúng đắn, có một phương pháp luận khoa học đặc biệt để bạn học tập tốt các môn chuyên ngành cũng như sau này trong quá trình công tác của bản thân. Hơn nữa trong bối cảnh xã hội có nhiều biến cố như hiện nay, sự suy thoái kinh tế, suy thoái đạo đức do chạy theo lối sống hưởng thụ, Tây hoá, sự cám dỗ của đời sống vật chất tầm thường đã làm cho đời sống xã hội bị đảo lộn.

    Điều đó càng cho chúng ta thấy việc giáo dục đạo đức, tư tưởng nói riêng và sự nghiệp giáo dục nói chung là vấn đề hết sức quan trọng. Tư tưởng Hồ Chí Minh là môn học cung cấp nguồn tài liệu phong phú cho việc giáo dục đạo đức, tư tưởng lập trường cho HS trung cấp chuyên nghiệp.Những kiến thức về tư tưởng Hồ Chí Minh là công cụ hữu hiệu để giáo viên chứng minh cho HS thấy Đảng ta lấy Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động của mình là đúng đắn.

    Học tốt môn tư tưởng Hồ Chí Minh để chúng ta hiểu cơ hội để mở rộng nghề nghiệp của mình, mở rộng tầm nhìn đối với thời cuộc. Với nhận thức đó trong quá trình học tập tại trường, chúng ta phải có những hành động cụ thể như thế nào và cần phải chuẩn bị gì để học tốt môn tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ những nhận thức đó chúng ta có thể đưa ra một số giải pháp để học tốt môn học này. Trước hết, phải sử dụng và khai thác tối đa nội dung trong giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là những kiến thức cơ bản và khái quát nhất về hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh mỗi sinh viên phải đọc kỹ, hiểu, nắm rõ nội dung trong giao trình.

    Chia sẻ của: Cử nhân Phạm Thị Hiền – Bộ môn Mác- Lê Nin

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Những Cách Học Giỏi Toán 8 Hiệu Quả Nhất
  • Phương Pháp Học Giỏi Hóa Lớp 8 Hay Nhất
  • Phương Pháp Học Tốt Môn Toán Lớp 8
  • Phương Pháp Học Tập Tốt Môn Hóa Lớp 8
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Hình Học Lớp 8
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • U Tuyến Giáp Là Gì ? Nguyên Nhân Và Triệu Chứng Nhận Biết
  • Một Số Điều Cần Biết Về U Tuyến Giáp
  • U Tuyến Giáp Lành Tính Là Bệnh Gì? Cách Phòng Ngừa & Điều Trị
  • Uphold Là Gì? Đăng Ký Và Nhận Ngay 10 Usd Vào Tài Khoản
  • Cách Mua Bitcoin Thông Qua Uphold
  • PGS, NGND Lê Mậu Hãn

    Đại học Quốc gia Hà Nội

     

    Hồ Chí Minh – nhà tư tưởng dân tộc, lãnh tụ thiên tài vô cùng kính yêu của Đảng ta, của nhân dân và của cả dân tộc ta. Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta. Dưới ngọn cờ chói lọi Hồ Chí Minh, một kỷ nguyên mới trong lịch sử tiến hoá của dân tộc Việt Nam đã được mở ra: kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

    Tư tưởng và lý luận cách mạng của Người để lại cho dân tộc ta và nhân loại là một di sản vô cùng quý giá. Thế giới vần xoay và biến đổi, song tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn trường tồn, được kế thừa và vươn mãi lên tầm cao mới.

    Từ bình diện thế giới, nhiều chính khách, nhiều nhà nghiên cứu về tư tưởng, về triết học, về lịch sử… ở nước ngoài đã sớm nhìn nhận và khẳng định, Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng lỗi lạc, một nhà lý luận cách mạng độc đáo, đặc sắc.

    Đảng ta, nhân dân ta nguyện tiếp tục sự nghiệp vĩ đại của Người, đi theo con đường của Người đã vạch ra, con đường dẫn đến độc lập, tự do, sự phồn vinh của đất nước và hạnh phúc cho đồng bào. Việc học tập, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã triển khai từ lâu bằng nhiều hình thức phong phú trong toàn Đảng, toàn dân ta như một nhu cầu tất yếu khách quan của cuộc sống. Song, trước đây, việc học tập, nhất là giảng dạy, nghiên cứu và tuyên truyền về Hồ Chí Minh trên góc độ một hệ tư tưởng, một học thuyết cách mạng hầu như chưa được xác định rõ rệt. Nếu đâu đó có nêu ra ý kiến về tư tưởng Hồ Chí Minh thì cũng rất dè dặt, thận trọng – thận trọng đến mức rụt rè, tự ti. Hình như có một quan niệm cho rằng chủ nghĩa Mác – Lênin là đỉnh cao trí tuệ của thời đại, khó ai có thể vượt qua được nên đã tạo ra một sự kìm hãm khá nặng nề đối với năng lực nghiên cứu sáng tạo của chúng ta. Chỉ trong những năm gần đây, do hoàn cảnh thế giới có nhiều biến động lớn, hệ thống chính trị – xã hội của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ nhanh chóng, do nhu cầu giữ vững sự ổn định tình hình kinh tế – xã hội của nước ta và sự đổi mới tư duy do Đại hội Đảng lần thứ VI vạch ra, đặc biệt từ khi Đại hội lần thứ VII của Đảng khẳng định “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”, công tác giảng dạy, nghiên cứu và tuyên truyền về tư tưởng Hồ Chí Minh mới được khẳng định, được xúc tiến mạnh mẽ. Nhiều tác phẩm, bài viết có cá tính sáng tạo khoa học đã xuất hiện. Nhân dân ta đang đón chờ nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị khoa học lớn để triển khai vào cuộc sống cách mạng. Chắc chắn đó là thành quả của nhiều chương trình khoa học lâu dài.

    Trong tác phẩm Tìm hiểu một số vấn đề trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1982 có đoạn viết: “Điều có giá trị xuyên suốt toàn bộ lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có chủ nghĩa Mác-Lênin soi tỏ là ở chỗ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra và thực hiện thắng lợi tư tưởng cách mạng vĩ đại: Không có gì quý hơn độc lập tự do”

    . “Độc lập tự do – tư tưởng cách mạng cốt lõi, học thuyết chính trị của Hồ Chí Minh”

    .

    Hồ Chí Minh là trí tuệ, tinh hoa văn hoá của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới, giải phóng Tổ quốc, giải phóng nhân dân, xây dựng sự phồn vinh của đất nước, cuộc sống tự do, ấm no hạnh phúc của nhân dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh là ý chí Việt Nam… Tính nhân dân, tính nhân đạo thể hiện nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh”

    .

    “Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa sâu sắc tinh hoa của dân tộc và trí tuệ của thời đại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác-Lênin, là sự vận dụng sáng tạo và kết hợp nhuần nhuyễn giữa giai cấp và dân tộc, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là khoa học về chiến lược và sách lược đảm bảo dẫn đến thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng của Việt Nam trong hiện tại và tương lai”

    .

    “Nhìn lại sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh qua quá trình cách mạng Việt Nam, chúng ta thấy cả một hệ thống quan điểm toàn diện, nhất quán và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Đó là đi từ cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội, không qua giai đoạn phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là một cuộc cách mạng thuộc địa từ giải phóng dân tộc đến giải phóng xã hội, giải phóng con người tiến lên chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam”

    . Và trước khi qua đời, Người nói lên điều mong muốn cuối cùng để lại trong bản Di chúc lịch sử là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”

    . “Độc lập, tự do ở đây là độc lập của dân tộc, tự do của nhân dân, của con người. Độc lập đi liền với tự do và độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Rõ ràng lời nói này là sự kết tinh những khát vọng thiết tha và cao đẹp nhất của mọi con người và mọi dân tộc, bởi nó khẳng định một chân lý vĩnh cửu, bởi nó là lời hiệu triệu vang vọng suốt chiều dài lịch sử, phải được ghi trong những lời nói vĩ đại nhất của loài người”

    Tư tưởng Hồ Chí Minh là một cống hiến quý báu vào kho tàng lịch sử tư tưởng cách mạng của thời đại, có ý nghĩa thực tiễn năng động, cách mạng, là ngọn đèn soi sáng, cổ vũ cho các thế hệ hôm nay và mai sau của dân tộc Việt Nam trên hành trình: Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội./.

     

    Chú thích:

    . Viện Mác-Lênin: Một số vấn đề cơ bản trong Văn kiện Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Tư tưởng – Văn hoá, Hà Nội, 1991, tr.17.

    . Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.1, tr.9,10.

    . Võ Nguyên Giáp: Thế giới sẽ còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi, in trong Góp phần tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1992, tr.37.

    . Đặng Xuân Kỳ: Tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Lịch sử Đảng, 3-1992, tr.3-4.

    . Võ Nguyên Giáp (chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000,tr.94-95.

    . Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, t.4, tr.161.

    . Phạm Văn Đồng: Người vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin. In trong Góp phần tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh, Sđd, tr.30.

    . Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.83-84.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Tưởng, Đạo Đức Hồ Chí Minh
  • Những Nội Dung Chủ Yếu Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Năm 2022 Cách Chơi Chứng Khoán Mỹ Hiệu Quả Ra Sao? Đầu Tư Chứng Khoán Mỹ Tại Việt Nam Và Top Sàn Chứng Khoán Mỹ
  • Chương 8: Những Chỉ Số Chứng Khoán Của Thị Trường Chứng Khoán Mỹ, Tìm Hiểu Về Thị Trường Chứng Khoán Mỹ, Tác Giả Tiến Sĩ Tôn Thất Đán
  • Mọi Về Thị Trường Chứng Khoán Mỹ
  • Tìm Hiểu Thực Chất Và Ý Nghĩa Của Tư Tưởng Triết Học Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Tưởng Triết Học Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Phép Biện Chứng Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Phương Pháp Biện Chứng Và Các Phương Pháp Nhận Thức Đặc Thù Khoa Học Chung
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Và Chủ Nghĩa Duy Vật Lịch Sử
  • Vai Trò Của Tư Duy Biện Chứng Duy Vật Đối Với Sinh Viên Đại Học Nước Ta
  • (ĐCSVN)Trong các bài viết, bài nói của mình, Hồ Chí Minh hầu như không dùng ngôn ngữ triết học và không tự thừa nhận mình là nhà khoa học, nhưng trong tư tưởng của Người lại luôn nhất quán một thế giới quan, một nhân sinh quan, một hệ thống tư duy triết học.

    Là học trò của C.Mác, Ph. Ăng ghen, V.I.Lênin nên thế giới quan, tư duy triết học của Người là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Người đã bảo vệ và phát triển tư duy triết học trên nền tảng triết học Mác – Lênin. Khác với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -Lê nin, Hồ Chí Minh không để lại một tác phẩm triết học như: Hệ tư tưởng Đức, Luận cương Phoiơbắc, Biện chứng của tự nhiên, Bút ký triết học… Bởi vì, Hồ Chí Minh sống và hoạt động cách mạng trong thời đại đã có chủ nghĩa Mác – Lênin soi sáng, dẫn đường và nhiệm vụ của Người là cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc khỏi áp bức, bóc lột, bất công đem lại hoà bình, tự do, hạnh phúc cho đồng bào. Chính nhiệm vụ này đã cuốn hút Người với tất cả tinh thần và sức lực, làm cho Người sống gần gũi với nhân dân, đem tinh tuý, sâu sắc của triết học diễn đạt thành những điều giản dị, cụ thể, rõ ràng và thiết thực để nhân dân dễ hiểu, dễ làm. Rõ ràng, phải có một trình độ triết học sâu sắc, uyên bác, Hồ Chí Minh mới có thể chuyển hoá thành triết học của cuộc sống. Nhờ đó, người trang bị cho cán bộ, đảng viên thế giới quan duy vật biện chứng, giúp họ nhìn nhận, xem xét, đánh giá đúng tình hình, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách sát thực tế, có hiệu quả; đồng thời không rơi vào dao động, không mắc phải sai lầm ảo tưởng, chủ quan, duy ý chí cũng như giáo điều, xét lại; mặc dù khi viết, khi nói Người ít dùng các thuật ngữ triết học.

    Nghiên cứu di sản lý luận và cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy ở Người toát lên những tư tưởng triết học sâu sắc. Hồ Chí Minh đã dựa chắc vào vấn đề cơ bản triết học để giải quyết mối quan hệ giữa việc nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa phát triển sản xuất với củng cố hệ thống chính trị, tăng trưởng kinh tế với phát triển giáo dục văn hoá và nhiều mối quan hệ khác như mối quan hệ giữa xây dựng đất nước với đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc; kết hợp sức mạnh của dân tộc với thời đại, giữa kháng chiến với kiến quốc. Rõ ràng, khi giải thích hàng loạt các vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Hồ Chí Minh đã nói tới triết học, bàn tới triết học và tư tưởng triết học Hồ Chí Minh thể hiện rõ những giá trị nhân văn đặc sắc, tràn đầy tinh thần biện chứng duy vật. Trong đó có sự hoà quyện đến nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tinh hoa văn hoá, triết học phương Đông, phương Tây và lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê nin. Với tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Người, chúng ta nhận thấy ở đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phép “biến dịch” của triết học phương Đông và phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin.

    Thế giới quan Hồ Chí Minh là thế giới quan khoa học. Trong đó, thế giới quan triết học Mác – Lênin đóng vai trò quyết định bản chất khoa học, cách mạng. Thế giới quan của Người còn ảnh hưởng của tư tưởng triết học dân tộc, của tinh hoá văn hoá, triết học phương Đông, phương Tây. Về khuynh hướng tư duy, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đi sâu lý giải các vấn đề xã hội và nhân sinh. Bởi lẽ, xuất phát từ hoài bão lớn lao và mục đích chính trị cao cả là “cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc” nên Người đặc biệt chú trọng xây dựng lý luận về chính trị – xã hội, đạo đức cách mạng nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn hơn là hình thức học thuyết triết học, nhận thức và lôgíc học như các nhà triết học vẫn thường làm.

    Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là sản phẩm của quá trình hoạt động tư duy lý luận và cuộc đời hoạt động cách mạng của Người có vai trò to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Chính tư tưởng, quan điểm triết học của Người cùng với triết học Mác -Lênin luôn là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho cách mạng Việt Nam. Chúng ta không thể hiểu rõ bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh nếu như không hiểu cái gì là cốt lõi quy định cách nhìn, cách nghĩ và phương pháp cách mạng cũng như cái gì là trung tâm dẫn dắt đồng bào ta vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đứng vững trên lập trường duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đã đi vào thực tiễn xã hội Việt Nam, lấy cái cốt lõi là giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột, bất công, đem lại cuộc sống hoà bình, tự do, ấm no, hạnh phúc cho đồng bào làm mục đích hướng tới, đạt tới. Đây thực chất là những cống hiến to lớn của Hồ Chí Minh đối với việc bảo vệ và phát triển triết học Mác – Lênin trong điều kiện lịch sử mới, nhất là việc phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử.

    Những cống hiến của Hồ Chí Minh trong phát triển triết học Mác -Lênin là tư tưởng về giải phóng dân tộc, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực ra hai khái niệm này đều được Hồ Chí Minh dùng cùng một nội hàm như nhau. Đối với Hồ Chí Minh, thực tế không đối lập với thực tiễn, nó chỉ rộng hơn thực tiễn mà thôi. Khi bàn về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với tư cách là một nguyên tắc cơ bản của triết học Mác -Lênin, Hồ Chí Minh dùng khái niệm thực tiễn, liên hệ lý luận với thực tiễn thì Người thường dùng khái niệm thực tế thay cho thực tiễn. Ngày nay, trong đời sống hàng ngày, khái niệm thực tiễn và thực tế được nhân dân ta hiểu và sử dụng cùng nghĩa (xem từ điển Tiếng Việt 1991).

    Trong thế giới quan triết học của Hồ Chí Minh, vấn đề con người chiếm vị trí hết sức quan trọng. Phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề con người ở Hồ Chí Minh không phải là chung chung, trừu tượng, phi lịch sử như trong triết học nhân bản mà là con người hiện thực, con người lao động “đồng bào tôi”. Trọn đời mình, Người phấn đấu, hy sinh là nhằm mục đích đem lại độc lập, tự do, cơm no, áo ấm cho đồng bào. Chủ nghĩa nhân văn hiện thực cao cả của Hồ Chí Minh thể hiện ở lòng thương yêu con người, tôn trọng, tin tưởng ở nhân dân, coi sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân.

    Có thể khái quát tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là sự kết hợp sáng tạo đạt đến sự nhuần nhuyễn giữa tư duy triết học Mác -Lênin mà cốt lõi là tư duy biện chứng duy vật trong sự hoà quyện với tư duy duy triết học và văn hoá phương Đông, phương Tây, tư duy, trí tuệ, văn hoá dân tộc Việt Nam và phong cách Hồ Chí Minh. Nhờ đó, Người đã tìm ra bản chất, quy luật và hình thành nên hệ thống luận điểm về chủ nghĩa thực dân, về cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội …có những quyết định đúng đắn, sáng tạo, đảm bảo cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi. Từ quan niệm trên, có thể thấy tư tưởng triết học Hồ Chí Minh có một số đặc trưng cơ bản như sau:

    Trước hết, tư duy triết học Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính khoa học và tính cách mạng, giữa lập trường, quan điểm và phương pháp nhận thức, hành động. Sự kết hợp này vừa là đặc trưng tư duy triết học Hồ Chí Minh vừa là nguyên tắc của Hồ Chí Minh nhận thứ và hành động. Thể hiện sự nhất quán trong tư tưởng triết học của Người.

    Tư duy triết học Hồ Chí Minh là tư duy độc lập, sáng tạo, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, suy nghĩ và hành động, giữa lời nói và việc làm thể hiện sự hoàn chỉnh chu kỳ vận động: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn hoạt động cách mạng Việt Nam.

    Tư duy triết học Hồ Chí Minh được thể hiện bằng ngôn ngữ trong sáng, giản dị, phổ thông, dễ hiểu, dễ xâm nhập vào quần chúng. Có thể coi đây là đặc trưng đặc sắc, độc đáo của tư duy triết học Hồ Chí Minh.

    Việc nắm vững thực chất phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác- Lê nin và truyền thống triết học phương Đông, nắm vững ngôn ngữ của quần chúng nhân dân và quan hệ mật thiết với họ đã giúp Người diễn đạt tư tưởng triết học duy vật biện chứng vốn là tư duy khoa học, có hàm lượng trí tuệ cao, có sự trừu tượng hoá và khái quát cao, sâu sắc trở nên phổ thông, dễ hiểu mà vẫn giữ được bản chất khoa học, cách mạng của nó.

    Nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, xuyên suốt tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng quy luật khách quan: nắm vững quan điểm thực tiễn và thực hiện đúng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; giải quyết mọi việc phải toàn diện, nhấn mạnh trọng điểm và lấy hiệu quả làm mục đích; xem xét sự việc trong sự phát triển, thực hiện “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; giải quyết mọi việc đều vì con người, do con người, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân.

    Phương pháp luận Hồ Chí Minh là phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử. Về thực chất, đó là phép biện chứng Hồ Chí Minh, là phương châm xem xét và hành động khoa học được Hồ Chí Minh đúc kết từ sự tiếp thu, kế thừa, vận dụng sáng tạo và bổ sung, phát triển phép biện chứng duy vật mác-xít, kết hợp với kế thừa truyền thống tư duy dân tộc, tư duy triết học phương Đông và thực tiễn giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam.

    Khái quát lại, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm, quan niệm duy vật biện chứng về con đường cách mạng Việt Nam, thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nhằm xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng Mác – Lênin, bao quát nhiều lĩnh vực rộng lớn và phong phú mà nền tảng của nó là tư tưởng triết học. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh không chỉ là sự tiếp thu, vận dụng sáng tạo triết học Mác -Lênin mà còn có sự phát triển Triết học Mác -Lênin, nhất là một số vấn đề về chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhờ đó Hồ Chí Minh đã góp phần làm phong phú, giàu có thêm kho tàng lý luận Mác -Lênin nói chung, triết học Mác -lênin nói riêng. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học cách mạng, là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn nửa thế kỷ qua. Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạt nhân là thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta.

    PGS, TS Nguyễn Bá Dương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác
  • Tư Tưởng Biện Chứng Của Hegel Và Sự Kế Thừa Của Triết Học Marx
  • Tính Nguyên Tắc Xác Định Tỉ Giá Ngân Hàng Theo Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền
  • Công Thức Tính Bình Quân Gia Quyền Trong Kế Toán
  • Về Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền
  • Tư Tưởng, Đạo Đức Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • U Tuyến Giáp Là Gì ? Nguyên Nhân Và Triệu Chứng Nhận Biết
  • Một Số Điều Cần Biết Về U Tuyến Giáp
  • U Tuyến Giáp Lành Tính Là Bệnh Gì? Cách Phòng Ngừa & Điều Trị
  • Uphold Là Gì? Đăng Ký Và Nhận Ngay 10 Usd Vào Tài Khoản
  • Sau Chiến thắng Việt Bắc (Thu Đông 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra sáng kiến tổ chức, lãnh đạo phong trào thi đua ái quốc để giành thắng lợi to lớn hơn. Chấp thuận đề nghị của Người, ngày 27-3-1948, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc. Thực hiện chỉ thị này, nhân kỷ niệm 1.000 ngày, Ngày Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 23-9-1945, ngày 11-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”.

    (HCM.VN) – Cách đây 110 năm, ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời bến cảng Nhà Rồng bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước – con đường “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Thời gian đã lùi xa, nhưng giá trị lịch sử và thời đại của sự kiện này vẫn mang tính thời sự sâu sắc, có tầm quan trọng đặc biệt và ý nghĩa to lớn đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hiện nay.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người đã dâng hiến trọn vẹn cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho dân tộc Việt Nam, là hiện thân của khát vọng mãnh liệt giải phóng dân tộc, phấn đấu đến cùng cho nền độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của dân tộc. Ðây không chỉ là giải phóng dân tộc mà còn là phát triển dân tộc, đưa dân tộc ta ra khỏi tình cảnh nô lệ, nước mất nhà tan, bị đọa đầy áp bức dưới ách thống trị của đế quốc, thực dân, giành lại độc lập chủ quyền và xây dựng đất nước giàu mạnh, nhân dân trở thành người chủ, có cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc.

  • --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nội Dung Chủ Yếu Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Năm 2022 Cách Chơi Chứng Khoán Mỹ Hiệu Quả Ra Sao? Đầu Tư Chứng Khoán Mỹ Tại Việt Nam Và Top Sàn Chứng Khoán Mỹ
  • Chương 8: Những Chỉ Số Chứng Khoán Của Thị Trường Chứng Khoán Mỹ, Tìm Hiểu Về Thị Trường Chứng Khoán Mỹ, Tác Giả Tiến Sĩ Tôn Thất Đán
  • Mọi Về Thị Trường Chứng Khoán Mỹ
  • Tự Học Tiếng Trung Nhanh Chóng Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức

    --- Bài mới hơn ---

  • Hpv Vắc Xin Phòng Ngừa Ung Thư Cổ Tử Cung Và Những Điều Bạn Cần Biết
  • Sai Lầm Về Ung Thư Cổ Tử Cung
  • Trong Thời Gian Tiêm Ngừa Ung Thư Cổ Tử Cung Có Quan Hệ Được Không?
  • U Nang Tuyến Giáp Có Nguy Hiểm Không? Cách Điều Trị Hiệu Quả
  • Ui/ux Là Gì? Tất Cả Các Công Việc Ui/ux Phải Làm
  • 1. Vị trí, vai trò của đạo đức trong xã hội và trong đời sống của mọi người

    Hồ Chí Minh nhiều lần chỉ rõ: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa”, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, nếu không có đạo đức làm nền tảng, làm cái căn bản thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vai trò sức mạnh của đạo đức được Hồ Chí Minh nhìn nhận trên các bình diện:

    – Có đạo đức cách mạng mới hoàn thành được sự nghiệp cách mạng vẻ vang. Sự nghiệp cách mạng của chúng ta là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, làm cho người Việt Nam từ nghèo đói trở nên đủ ăn, từ đủ ăn trở nên khá, từ khá trở nên giàu và giàu thì lại càng giàu thêm. Sự nghiệp đó rất cao cả và nhân văn, đòi hỏi phải có những phẩm chất tương ứng.

    – Đạo đức là tiêu chí đánh giá sự văn minh, cao thượng của xã hội, con người. Người có đạo đức là người cao thượng; một dân tộc, mặc dầu kinh tế còn lạc hậu, nhưng có được đạo đức cần, kiệm, liêm, chính thì vẫn xứng đáng là một dân tộc văn minh.

    – Đạo đức giúp cho con người luôn giữ được nhân cách, bản lĩnh làm người trong mọi hoàn cảnh, không dễ bị thay đổi trước những xoay vần, biến thiên của thời cuộc: Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục.

    – Đạo đức là gốc, là nguồn, là nền tảng, bởi lẽ, có tâm, có đức mới giữ vững được chủ nghĩa Mác – Lênin, đưa chủ nghĩa Mác – Lênin vào cuộc sống. Trong mối quan hệ giữa đạo đức và trí tuệ, đức và tài, Hồ Chí Minh đã nêu một quan điểm lớn: Phải có đức để đi đến cái trí. Vì khi đã có cái trí, thì cái đức chính là cái đảm bảo cho người cách mạng giữ vững chủ nghĩa mà mình đã giác ngộ, đã chấp nhận, đã đi theo.

    Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người đã nêu 23 điểm thuộc “tư cách một người cách mệnh”, trong đó chủ yếu là các tiêu chuẩn về đạo đức, thể hiện chủ yếu trong ba mối quan hệ: với mình, với người và với việc. Người viết: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.

    Về vai trò của đạo đức, Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức cách mạng giúp cho con người vững vàng trong mọi thử thách. Người viết: “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước”; “khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa”.

    Đối với Đảng, tổ chức tiền phong chiến đấu của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh yêu cầu phải xây dựng Đảng ta thật trong sạch, Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Người thường nhắc lại ý của V.I. Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại.

    Vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đề cập đến một cách toàn diện. Người nêu yêu cầu đạo đức đối với các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội, trên mọi lĩnh vực hoạt động, trong mọi phạm vi, từ gia đình đến xã hội, trong cả ba mối quan hệ của con người: đối với mình, đối với người, đối với việc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt được mở rộng trong lĩnh vực đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Trong bản Di chúc bất hủ, Người viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”.

    2. Những phẩm chất cơ bản của đạo đức cách mạng

    2.1. Trung với nước, hiếu với dân

    Trung, hiếu là đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển trong điều kiện mới. Trung với nước là trung thành vô hạn với sự nghiệp dựng nước, giữ nước, phát triển đất nước, làm cho đất nước “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Nước là của dân, dân làm chủ đất nước, trung với nước là trung với dân, vì lợi ích của nhân dân, “bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; ‘‘bao nhiêu lợi ích đều vì dân”… Hiếu với dân nghĩa là cán bộ đảng, cán bộ nhà nước vừa là người lãnh đạo, vừa là “đày tớ trung thành của nhân dân”.

    Trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất hàng đầu của đạo đức cách mạng. Người dạy, mỗi cán bộ đảng viên phải “tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”, phải “tận trung với nước, tận hiếu với dân”. Trung với nước, hiếu với dân là phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc. Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, làm cho dân hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi của người làm chủ đất nước.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về trung với nước, hiếu với dân thể hiện quan điểm của Người về mối quan hệ và nghĩa vụ của mỗi cá nhân với cộng đồng, đất nước.

    2.2. Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình

    Yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ nghĩa nhân văn của nhân loại, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Hồ Chí Minh coi yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Yêu thương con người thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân trong quan hệ xã hội.

    Thương yêu con người phải tin vào con người. Với mình thì chặt chẽ, nghiêm khắc; với người thì khoan dung, độ lượng, rộng rãi, nâng con người lên, kể cả với những người lầm đường, lạc lối, mắc sai lầm, khuyết điểm. Yêu thương con người là giúp cho mỗi người ngày càng tiến bộ, tốt đẹp hơn. Vì vậy, phải thực hiện tự phê bình và phê bình, chân thành, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm để không ngừng tiến bộ. Yêu thương con người phải biết và dám dấn thân để đấu tranh giải phóng con người.

    2.3. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

    Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là nền tảng của đời sống mới, là phẩm chất trung tâm của đạo đức cách mạng trong tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh, là mối quan hệ “Với tự mình”. Theo Hồ Chí Minh, cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính của con người, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương. Chí công vô tư là đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải trọng lợi ích của cách mạng hơn tính mệnh của mình. Phải hy sinh lợi ích của mình cho Đảng; việc của cá nhân và lợi ích của cá nhân để lại sau. Theo Bác, chí công vô tư là đạo đức cao nhất.

    Muốn chí công vô tư thì phải chiến thắng được chủ nghĩa cá nhân. Bởi vậy, Hồ Chí Minh coi đây là chuẩn mực của người lãnh đạo, người “giữ cán cân công lý”, không được vì lòng riêng mà chà đạp lên pháp luật.

    Cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau và với chí công vô tư. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư. Ngược lại, đã chí công vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính.

    2.4. Tinh thần quốc tế trong sáng

    Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là sự mở rộng những quan niệm đạo đức nhân đạo, nhân văn của Người ra phạm vi toàn nhân loại, vì Người là “người Việt Nam nhất”, đồng thời là nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam mang tầm vóc nhân loại, anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế.

    Quan niệm đạo đức về tình đoàn kết quốc tế trong sáng của Hồ Chí Minh thể hiện trong các điểm sau: Đoàn kết với nhân dân lao động các nước vì mục tiêu chung đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột. Đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mục tiêu chung, “bốn phương vô sản đều là anh em”. Đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội. Đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước chân chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa sô vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc…

    3. Nguyên tắc xây dựng đạo đức

    Hồ Chí Minh nêu lên ba nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới trong xã hội và chính Người đã suốt đời không mệt mỏi tự rèn mình làm tấm gương để giáo dục, động viên cán bộ, đảng viên, nhân dân cùng thực hiện.

    3.1. Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức

    Đối với mỗi người, lời nói phải đi đôi với việc làm. Nói đi đôi với làm trước hết là sự nêu gương tốt. Sự làm gương của thế hệ đi trước với thế hệ đi sau, của lãnh đạo với nhân viên… là rất quan trọng. Người yêu cầu, cha mẹ làm gương cho các con, anh chị làm gương cho em, ông bà làm gương cho con cháu, lãnh đạo làm gương cho cán bộ, nhân viên… Đảng viên phải làm gương trước quần chúng. Người nói: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước” .

    3.2. Xây đi đôi với chống

    Cùng với việc xây dựng đạo đức mới, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, nhất thiết phải chống những biểu hiện phi đạo đức, sai trái, xấu xa, trái với những yêu cầu của đạo đức mới, chống “chủ nghĩa cá nhân”. Xây đi đôi với chống là muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải chống chủ nghĩa cá nhân.

    Xây dựng đạo đức mới trước hết phải được tiến hành bằng giáo dục, từ gia đình đến nhà trường, tập thể và toàn xã hội. Những phẩm chất chung nhất phải được cụ thể hoá. Hồ Chí Minh đã cụ thể hóa các phẩm chất đạo đức cơ bản đối với từng giai cấp, tầng lớp, lứa tuổi và nhóm xã hội. Trong giáo dục, vấn đề quan trọng là phải khơi dậy ý thức đạo đức lành mạnh của mọi người, để mọi người nhận thức được và tự giác thực hiện. Trong đấu tranh chống lại cái tiêu cực, lạc hậu trước hết phải chống chủ nghĩa cá nhân, phải phát hiện sớm, phải chú ý phòng ngừa, ngăn chặn.

    Để xây và chống cần phát huy vai trò của dư luận xã hội, tạo ra phong trào quần chúng rộng rãi, biểu dương cái tốt, phê phán cái xấu. Người đã phát động cuộc thi đua “ba xây, ba chống”, viết sách “Người tốt, việc tốt” để tuyên truyền, giáo dục về đạo đức, lối sống.

    3.3. Phải tu dưỡng đạo đức suối đời

    Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mới thành. “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố”. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Người dạy: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

    Tu dưỡng đạo đức, tự rèn luyện hằng ngày có vai trò rất quan trọng. Người khắng định, đã là người thì ai cũng có chỗ hay, chỗ dở, chỗ xấu, chỗ tốt, ai cũng có thiện, có ác ở trong mình. Vấn đề là dám nhìn thẳng vào con người mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc; thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái ác để khắc phục. Tu dưỡng đạo đức phải được thực hiện trong mọi hoạt động thực tiễn, trong đời tư cũng như trong sinh hoạt cộng đồng, trong mọi mối quan hệ của mình.

    Nguồn: Sách Những nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng, Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí Công Vô Tư
  • Tìm Hiểu Về Định Ngữ Trong Tiếng Trung
  • Các Loại Động Từ Trong Tiếng Trung
  • Thư Điện Tử Email Là Gì? Các Tính Năng Thường Dùng Của Email
  • Thư Điện Tử Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Thư Điện Tử
  • Tư Tưởng Nhân Văn – Một Trong Những Nội Dung Cơ Bản Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Thân Thế Và Sự Nghiệp Cách Mạng Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Thân Thế Và Sự Nghiệp Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Cuộc Thi Tìm Hiểu Về Cuộc Đời, Thân Thế Và Sự Nghiệp Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Những Tác Phẩm Hay Viết Về Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Sơ Đồ Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Hệ Thống Điện Năng Lượng Mặt Trời Áp Mái
  • Truyền thống ấy đi vào lịch sử như một biểu tượng rực rỡ của ý chí độc lập, tự do, tự chủ, tự cường của mỗi người dân Việt Nam. Trên nền tảng lòng yêu nước nồng nàn quyện chặt với tình cảm nhân ái của nhân dân, tư tưởng nhân văn đã có điều kiện thuận lợi để sớm định hình và phát triển. Tinh thần này được Hồ Chí Minh diễn đạt bằng một phương châm rất khái quát, ngắn gọn, mang đậm tính nhân văn sâu sắc: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đó không chỉ là độc lập, tự do cho cả dân tộc, cho mỗi cá nhân mà đó còn là khát vọng tự do cho cả loài người. Với ý nghĩa đó, độc lập, tự do trở thành bản chất, giá trị cao quý trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, trở thành ngọn cờ chiến đấu và mục tiêu suốt đời hy sinh cống hiến của Người. Đây chính là một trong những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh.

              Tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh rất phong phú, đa dạng, rất cô đọng, khái quát, lại rất cụ thể mà không hề trừu tượng, gần gũi với cuộc sống con người và ai cũng có thể áp dụng được để tự hoàn thiện tính người, hoàn thiện nhân cách làm người. Đó là toàn bộ những quan điểm, đạo đức và chính trị bắt nguồn từ con người với nhu cầu được giải phóng đất nước, được độc lập, con người được tự do, hạnh phúc. Suốt cuộc đời đấu tranh cách mạng vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến luân lý cách mạng, đạo đức làm người. Người nêu những tiêu chuẩn về đạo đức cách mạng, và chính Người là một kiểu mẫu về đạo đức cách mạng. Tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh còn thể hiện ở lòng nhân ái cao cả. Lòng nhân ái của Người là sự kết tinh truyền thống nhân ái tiến bộ của dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa nhân văn cộng sản. Lòng nhân ái của Người không phải là lòng thương người siêu giai cấp, trừu tượng mà là tình thương yêu giai cấp đối với giai cấp vô sản và nhân dân lao động, những lớp người bị áp bức bóc lột. Lòng nhân ái của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện bằng hành động cách mạng, đấu tranh xóa bỏ ách thống trị của đế quốc, thực dân, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Lý tưởng, mục tiêu phấn đấu của Người là hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho mọi người dân Việt Nam và nhân dân lao động thế giới, hướng tới giải phóng nhân loại cần lao và bị áp bức. Cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thắm đượm tư tưởng vì nhân dân, vì nhân loại.

              Từ giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã nổ súng xâm lược nước ta, làm đảo lộn cuộc sống, gây bao cảnh chết chóc đau thương cho người dân. Nhưng với truyền thống đoàn kết, đùm bọc nhau trong tình làng nghĩa xóm, với đạo đức nhân nghĩa của người Việt Nam, nhân dân ta từ Nam chí Bắc đều đồng lòng đứng dậy kháng chiến vì độc lập của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam trải qua mọi hoàn cảnh và biến cố của lịch sử, đã được kết tinh thành truyền thống tốt đẹp, một giá trị tinh thần cao cả. Giá trị tinh thần truyền thống đó của dân tộc Việt Nam đã được Đảng của giai cấp công nhân, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển trong thời đại mới để lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc giải phóng dân tộc.

              Điều mong muốn duy nhất, ham muốn tột bậc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tự do cho đồng bào, độc lập cho Tổ quốc, mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Để tiến hành thắng lợi sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã khai thác triệt để tư tưởng nhân văn của dân tộc, của phương Đông, phương Tây và của chủ nghĩa Mác-Lênin. Là học trò xuất sắc của Lênin, nắm vững chủ nghĩa Mác-Lênin và những vấn đề do thời đại đặt ra, Người hiểu rõ những bức xúc của cách mạng ở các nước thuộc địa, đã nhận thức một cách đầy đủ và sâu sắc rằng: chủ nghĩa thực dân là trở lực lớn nhất trên con đường giành tự do, độc lập của các dân tộc. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Độc lập, tự do là khát vọng hàng ngàn năm của con người và toàn thể dân tộc Việt Nam. Độc lập, tự do là điều quý nhất của một dân tộc. Để giành và giữ được điều quý nhất và thiêng liêng đó thì phải chiến đấu chống chủ nghĩa thực dân. Từ năm 1930 đến 1945, trên đất nước Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng là ngọn cờ hướng cả dân tộc Việt Nam hòa chung vào dòng thác cách mạng vô sản thế giới, chiến đấu vì một giá trị nhân văn cao cả, đích thực, làm cho các dân tộc có quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Hơn bao giờ hết, tư tưởng nhân văn của dân tộc được thử thách, bồi đắp trong khói lửa và sự hy sinh qua các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đã được kế tục, phát huy rất thành công trong Cách mạng Tháng Tám. Thắng lợi đó là sự minh chứng hùng hồn trên thực tế thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng nhân văn.

              Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc sáng ngày 02/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) – đó chính là thông điệp của dân tộc Việt Nam gửi tới tất cả các dân tộc trên thế giới. Nội dung thông điệp như chúng ta đã rõ, sau khi khẳng định tư tưởng nhân văn trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, tư tưởng nhân quyền, dân quyền, tự do, bình đẳng, bác ái của Cách mạng Pháp 1789, Hồ Chí Minh đã lên án hành động vô nhân đạo và phi nghĩa của thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái đến cướp nước ta. Người khẳng định với các nước trên thế giới: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phía đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”. Và để kết thúc bản Tuyên ngôn độc lập, Người trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

              Tuyên ngôn độc lập là kết tinh tư tưởng nhân văn của dân tộc Việt Nam trải qua cuộc đấu tranh hàng ngàn năm chống phong kiến, gần một trăm năm chống chủ nghĩa thực dân. Đó cũng là tư tưởng nhân văn đích thực của các dân tộc đang chiến đấu vì phẩm giá con người và vì một cuộc sống công bằng, tốt đẹp. Trong con người Hồ Chí Minh thể hiện đậm đà truyền thống yêu nước, kính trọng dân, lấy dân làm gốc, một phẩm chất cao quý đã từng thể hiện ở các anh hùng dân tộc trong suốt bốn nghìn năm lịch sử.

              Di sản tư tưởng nhân văn đạo đức Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta là hết sức phong phú, sâu sắc, có giá trị lý luận và thực tiễn. Giá trị cơ bản ấy chính là nền tảng phát triển xã hội, kiến tạo hệ thống quan hệ xã hội mang đậm bản chất con người và giá trị làm người chân chính trong mọi thời đại của dân tộc Việt Nam.

    Phan Tuyết Vân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỳ Tích, Lịch Sử Hình Thành, Đường Hồ Chí Minh Trên Biển
  • 5 Đường Mòn Hồ Chí Minh
  • Đường Mòn Hồ Chí Minh Qua Tài Liệu Của Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa
  • Đường Hồ Chí Minh Thông Xe Toàn Tuyến Năm 2022
  • Đường Mòn Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Lịch Sử Ra Đời Ngày Thành Lập Đoàn 26
  • Kinh Nghiệm Tham Quan Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh: Giá Vé, Quy Định
  • Tìm Hiểu Sự Thật Về Đường Mòn Hồ Chí Minh Trong Cuộc Chiến Ðông Dương Ii (1955
  • Chuyên Đề 1 Khái Niệm, Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Về Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh
  • Gia đình là một thiết chế xã hội, dựa trên cơ sở kết hợp những thành viên khác giới, thông qua hôn nhân, để thực hiện các chức năng sinh sản, tái sản xuất con người; chức năng nuôi dưỡng, giáo dục hình thành nhân cách; chức năng thỏa mãn nhu cầu tinh thần, tâm lý – tình cảm; chức năng kinh tế,…là “cái nôi thân yêu” che chở và nuôi dưỡng để hình thành nhân cách con người. Ở bất kỳ giai đoạn nào, gia đình đều giữ vai trò là tế bào của xã hội, là một trong những nhân tố quyết định sự hưng thịnh của quốc gia.

    Thế nào là một gia đình tốt? Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh gia đình tốt là một gia đình trên thuận, dưới hòa, không thiên vị “Về tinh thần, thì phải trên thuận, dưới hòa không thiên tư, thiên ái. Bỏ thói mẹ chồng hành hạ nàng dâu, dì ghẻ ghét bỏ con chồng. Về vật chất, từ ăn mặc đến việc làm phải ăn đều, tiêu song, có kế hoạch, có ngăn nắp” (2).

    Gia đình là nơi nuôi dưỡng, giáo dục để hình thành nhân cách con người, nhân cách con người tốt hay xấu điều do sự giáo dục trong gia đình. Tuy nhiên, trong giáo dục cần có sự kết hợp giữa gia đình – nhà trường – xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, trong giáo dục nếu thiếu sự giáo dục trong gia đình hoặc giáo dục trong gia đình không phù hợp với yêu cầu xã hội sẽ hạn chế việc giáo dục, vì vậy cần kết hợp gia đình với nhà trường và xã hội trong giáo dục. “Tôi cũng mong các gia đình liên lạc chặt chẽ với nhà trường giúp nhà trường giáo dục và khuyến khích con em chăm chỉ học tập, sinh hoạt lành mạnh và hăng hái giúp ích nhân dân” (3). Trong gia đình cha mẹ là người có ảnh hưởng lớn đối với trẻ, vì vậy Người dạy “Tôi mong cha mẹ học trò hết sức giúp đỡ nhà trường trong việc giáo dục con em chúng ta cho có kết quả tốt đẹp” (4).

    Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành Giáo dục tháng 6 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn cán bộ Đảng trong ngành Giáo dục “Phải mật thiết liên hệ với gia đình học trò. Bởi vì giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” (5).

    Giáo dục trong gia đình, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh mỗi người nên nhắc nhở, dạy bảo nhau “Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo” (6).

    Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 4 – 5 – 2001 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 72/2001/QĐ/TTg lấy ngày 28/6 hàng năm là Ngày Gia đình Việt Nam nhằm đề cao trách nhiệm của các cấp, các đoàn thể và tổ chức xã hội cùng toàn thể nhân dân thường xuyên quan tâm xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ và hạnh phúc.

    Trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ và hạnh phúc được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Ngày 21 – 2 – 2005, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 49/CT – TW về “Xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.

    Trong Cương lĩnh năm 2011, Đảng ta đã chỉ rõ “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách” (7).

    Ngày 29 – 5 – 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 629/QĐ – TTg về “Phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn 2030”. Trong Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc là một trong các mục tiêu quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2022, đồng thời cũng lá trách nhiệm của mọi gia đình trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, tuy nhiên trong thực tế hiện nay tình trạng ly hôn trong xã hội ngày càng gia tăng, gây bất ổn trong cuộc sống gia đình và kéo theo sự bất ổn trong xã hội. Tình trạng bạo lực gia đình và ngược đãi trẻ em ngày càng gia tăng, nhiều gia đình vô trách nhiệm trong chăm sóc con cái, tình trạng con cái ngược đãi cha mẹ ngày càng phổ biến.

    Trên địa bàn tỉnh Bến Tre, trong những năm gần đây tình trạng bạo lực gia đình có chiều hướng ngày càng gia tăng. Trong năm 2013, phát hiện 465 vụ bạo lực gia đình, trong đó bạo lực tinh thần 222 vụ, bạo lực thân thể 174 vụ, bạo lực kinh tế 58 vụ, bạo lực tình dục 11 vụ.

    Gần đây trên địa bàn tỉnh Bến Tre xảy ra tình trạng con ruột thuê người chém cha ở xã Hưng Nhượng – huyện Giồng Trôm (do mâu thuẫn trong gia đình – cha mẹ ly hôn), con ruột dùng xăng đốt cha ruột ở xã Bình Thành – huyện Giồng Trôm (do tranh giành đất đai).

    Bạo lực gia đình, ngược đãi cha mẹ, ly hôn,…dẫn đến cuộc sống gia đình bất ổn, xã hội bất ổn. Vì vậy, mỗi gia đình cần phải xây dựng gia đình thật hạnh phúc, có như vậy xã hội sẽ ổn định.

    Để hạn chế tình trạng bạo lực gia đình, ngược đãi trẻ em và người cha mẹ, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã thành lập Ban chỉ đạo công tác gia đình và ban hành Quyết định số 104/QĐ-UBND ngày 16/1/2014 về “Quy chế làm việc của Ban chỉ đạo công tác gia đình”.

    Tóm lại, gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội tốt, để gia đình tốt thì phải xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ và hạnh phúc. Xây dựng gia đình là trách nhiệm của mỗi thành viên trong gia đình, đồng thời cũng là trách nhiệm của toàn xã hội. Gia đình phát triển bền vững là nhân tố quan trọng góp phần ổn định xã hội, đồng thời cũng thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

    (1): Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2000, trang 531 – 532(2): Sđd, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2000, trang 337

    (3), (4), (5): Sđd, tập 8, trang 81, 251, 395

    (7): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, trang 77

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyện Kể Về Gia Đình Bác Hồ Vào Một Năm Mậu Tuất
  • Thi Tìm Hiểu 50 Năm Thực Hiện Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Về Chiến Dịch Hồ Chí Minh Tim Hieu Chien Dich Hcm Doc
  • Tìm Hiểu Về Chiến Dịch Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Về Cuộc Đời Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Bồi Dưỡng Thế Hệ Trẻ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục, Bồi Dưỡng Thế Hệ Trẻ Trong Di Chúc Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Phương Pháp Và Hình Thức Giáo Dục Môi Trường
  • Phương Pháp Giáo Dục Học Sinh Bảo Vệ Môi Trường Hiệu Quả
  • Bộ Gd&đt Kỳ Vọng Vào Phương Pháp “bàn Tay Nặn Bột”
  • Phương Pháp Giáo Dục Trẻ 1
  • Tư tưởng của Hồ Chí Minh nằm trong dòng chảy của tư duy nhân loại trên tinh thần kế thừa có chọn lọc, nên tư tưởng bồi dưỡng, đào tạo thế hệ trẻ mà ta gọi một cách hình ảnh là tư tưởng trồng ngườicủa Hồ Chí Minh cũng là sự kế thừa những minh triết trong quan điểm về con người, về giáo dục của dân tộc và nhân loại, đặc biệt là sự kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin.

    Khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Người nhận ra rằng cách mạng muốn thành công, trước hết phải tập hợp lực lượng cách mạng, muốn thức tỉnh dân tộc đi theo conđường cách mạng thì trước hết phải giác ngộ cách mạng cho thanh niên và từ thức tỉnh thanh niên để thức tỉnh dân tộc. Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp(1925), Người đã viết: “Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”. Người không chỉ kêu gọi, thức tỉnh thanh niên mà còn trực tiếp đến với họ, tổ chức, dẫn dắt họ vào con đường đấu tranh. Tháng 6-1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tập hợp những thanh niên Việt Nam yêu nước vào trong một tổ chức thống nhất,với trù tính “nó là quả trứng, mà từ đó nở ra con chim non cộng sản”(1) và thực tế đã diễn ra đúng như vậy.

    Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người luôn quan tâm đào tạo, bồi dưỡng lực lượng thanh niên để phục vụ sự nghiệp cách mạng. Ngay sau khiCách mạng Tháng Tám thành công,nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết những lời thiết tha trongThư gửi các học sinh nhân ngày khai trường(9-1945): “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”(2). Trong thư Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên đán1946, Người đã dành những lời đẹp nhất để ca ngợi tuổi trẻ và vai trò của lớp trẻ: “Một năm khởi đầu từmùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”(3). Trong Thư gửi các bạn thanh niênnăm 1947, Người khẳng định: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”(4).

    Tuy nhiên, trong thực tế, vai trò, sức mạnh của thanh niên không phải là cái có sẵn, bất biến và tất yếu. Muốn huy động sức trẻ, Đảng, Nhà nước phải thực hiện thành công chiến lược trồng người. Chiến lược đó được Hồ Chí Minh đúc kết trong Đại hội giáo viên giỏi toàn quốc năm 1958:”Vì sự nghiệp mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. “Trồng người” xét về khía cạnh nào đó cũng giống như trồng cây. Nếu trồng cây phải chăm lo, vun xới mầm cây nhỏ bé, yếu ớt để nó phát triển thành cái cây khỏe mạnh, có ích cho đời thì “trồng người” cũng phải bắt đầu bằng việc dạy dỗ, uốn nắn, giáo dục từ khi còn thơ ấu.

    Người viết: “Phải uốn cây từ lúc cây non, đừng để cho tâm hồn các cháu bị vẩn đục vì chủ nghĩa cá nhân”(5); “Hiền, dữ đâu phải là tính sẵn/ Phần nhiều do giáo dục mà nên; “Óc những người tuổi trẻ trong sạch như một tấm lụa trắng. Nhuộm xanh thì nó sẽ xanh. Nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ”(6), nên Hồ Chí Minh coi chiến lược “trồng người”, coi việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ là một trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, là quốc sách phát triển đất nước.

    Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là chân lý mà còn là con đường thực hiện chân lý. Tính hành động, tính thực tiễnlà một đặc điểm trong con người và tư tưởng Hồ Chí Minh nên chiến lược bồi dưỡng thế hệ trẻcũng được trù tính kỹ càng và cụ thể. Người viết: “Ta xây dựng con người cũng phải có ý định rõ ràng như nhà kiến trúc. Định xây dựng ngôi nhà như thế nào rồi mới dùng gạch, vữa, vôi, cát, tre gỗ… mà xây nên”(7). Theo Người, để thực hiện tốt sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ cần xây dựng nội dung và phương pháp giáo dục cho phù hợp:

    Về nội dung giáo dục: Người chủ trương xây dựng một nền giáo dục toàn diện, bao gồm cả đức, trí, thể, mỹ,nhưng phải đặt đạo đức, lý tưởng, tình cảm cách mạng, lối sống XHCN lên hàng đầu. Người căn dặn: “Các chú dạy các cháu rất nhiều điều, nhưng có một điều phải làm thật rõ: Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được”(8). Người tìm hiểu rất kỹ chương trình giáo dục đạo đức ở phổ thông và đưa ra nhận xét: “Tôi xem chương trình giáo dục cho đến hết lớp 10, phần đức dụcrất thiếu sót, chỉ có mười dòng”(9). Từ đó, Người chỉ đạo: “Nội dung giáo dục cần chú trọng hơn nữa về đức dục”(10); phải bồi dưỡng để thanh niên giỏi văn hóa, giỏi chuyên môn, thấu suốt về chính trị;thanh niên cần phải được rèn luyện, bồi dưỡng về thể chất bởi vì “mỗimột người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ”(11).

    Về phương pháp giáo dục: Hồ Chí Minh chỉ rõ, phương pháp, biện pháp bồi dưỡng thế hệ trẻtrước hếtphải xuất phát từ những đặc điểm của chính họ. Thế hệ trẻlà lớp người trẻ tuổi, đang khát khao lý tưởng, có nhiều ước mơ, hoài bão cao đẹp, trong sáng. Đó là lớp người ham hiểu biết, ham khám phá, nhạy bén với cái mới, giàu tính sáng tạo. Đó là lớp người đang ở thời kỳ sung sức nên ham hành động, muốn thử sức, dám đón nhận thử thách, khó khăn. Bên cạnh những đặc tính tích cực, thanh niên cũng có hạn chế là xốc nổi, dễ bị tác động và do thiếu kinh nghiệm nên dễ vấp ngã, dễ nản lòng. Từnhững đặc điểm đó, Hồ Chí Minh đề ra các phương hướng,biện phápgiáo dục thế hệ trẻ:

    Thứ nhất, giáo dục thanh niên phải gắn với các phong trào cách mạng, rèn luyện thanh niên trong thực tiễn đấu tranh cách mạng.Nguyên tắc này bắt nguồn từ mục tiêu giáo dục là đào tạo những chiến sĩ kế thừa sự nghiệp cách mạng chứ không phải “đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu, cụ Mác nói thế này, cụ Lênin nói thế kia, nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác”(12).

    Thứ hai, xây dựng, nhân rộng trong thanh niên các gương điển hình người tốt – việc tốt. Người chỉ rõ: “Cần lấy ngay những gương tốt đó của các cháu và những gương người tốt, việc tốt trong nhân dân để giáo dục các cháu. Không nên nói lý luận suông”(13). Ở đây, cần lưu ý một điều: Mẫu người mà Hồ Chí Minh muốn thanh niên hướng tới là mẫu “người tốt” chứ không phải mẫu người siêu phàm, siêu việt. Không phải ai cũng có thể trở thành thiên tài, đấng siêu phàm nhưng nếu cố gắng thì ai cũng có thể trở thành người tốt, người có ích. Quan điểm này vừa có tính thiết thực, vừa có tính nhân văn khi đặt niềm tin vào những con người bình thường nhất. Nhưng để trở thành người tốt, con người phải có thói quen làm những việc tốt. “Gieo thói quen – gặt tính cách, gieo tính cách – gặt số phận” nên nếu con người làm nhiều việc tốt thì sẽ thành người tốt, nếu nhiều người tốt sẽ thành xã hội tốt để cuối cùng “cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”. Suy cho cùng, “đó cũng là cách thực hành đường lối quần chúng trong công tác giáo dục”(14). Phương pháp này thật dễ hiểu, dễ làm mà hiệu quả.

    Thứ ba, “Phải khéo léo kết hợp cán bộ già với cán bộ trẻ”(15) để họ bù đắp cho nhau những ưu khuyết mang tính đặc thù của tuổi tác. Rất nâng đỡ thanh niên nên Hồ Chí Minh căn dặn: “Cán bộ trẻ tuy chưa có một số ưu điểm như cán bộ già, nhưng họ lại hăng hái, nhạy cảm với cái mới, chịu khó học tập, cho nên tiến bộ rất nhanh… Không nên coi thường cán bộ trẻ”(16).

    Thứ tư, “Bố mẹ, thầy giáo và người lớn phải làm gương mẫu cho các em trướcmọi việc”(17) vì một tấm gương tốt có giá trị hơn trăm bài văn diễn thuyết.

    Thứ năm, việc đào tạo thế hệ trẻ là việc chung của toàn xã hội nhưng Đảng và Nhà nước phải hết sức quan tâm, phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình – nhà trường – Đoàn Thanh niên – xã hội(18).

    Thứ sáu, bản thân thanh niên phải ra sức học tập, tu dưỡng mọi nơi, mọi lúc và suốt đời. Tự giáo dục là sự thể hiện trình độ làm chủ bản thân, khả năng kiềm chế và tự điều chỉnh của mỗi người trong cuộc sống. Người cũng từng dặn dò thanh niên: “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà! Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào”(19). Lời dặn dò của Người tuy giản dị mà ân cần, có sức lan tỏa và lay động lòng người.

    Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(20). Trước hết, Người đặt trọn vẹn niềm tin vào đoàn viên thanh niên Việt Nam: “Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ”. Người chỉ rõ, tuổi trẻ là mùa Xuân của đất nước, thanh niên là rường cột của nước nhà.

    Nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ trong chiến lược xây dựng con người, trước hết là phải quan tâm và bồi dưỡng thế hệ trẻ. Xây dựng họ thành những con người hội tụ đủ cả hai yếu tố đức và tài, “hồng” và “chuyên”.

    Người nhấn mạnh, thế hệ trẻ chính là chủ nhân tương lai của đất nước, kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người quan tâm và đòi hỏi Đoàn Thanh niên phải làm tròn nhiệm vụ là nơi đoàn kết, tập hợp thanh niên để giúp Đảng giáo dục họ thành những chủ nhân tương lai của đất nước. Người chỉ rõ:muốn củng cố và phát triển thì Đoàn Thanh niên phải liên hệ rộng rãi và chặt chẽ với các tầng lớp thanh niên, phải biết tổ chức các phong trào thi đua, tạo môi trường tốt nhất cho thanh niên cống hiến và hư­ởng thụ. Đoàn Thanh niên khi đề xuất một phong trào thi đua phải có định hướng đúng, có kế hoạch thực hiện cụ thể, có nội dung thi đua thiết thực, rõ ràng, có sự lãnh đạo, chỉ đạo theo dõi thư­ờng xuyên. Có làm như vậy phong trào của Đoàn mới thực sự phát triển, thực sự là cánh tay phải, đội hậu bị tin cậy của Đảng trong giáo dục và rèn luyện để hình thành nhân cách trong sáng cho thanh thiếu niên.

    PGS, TS. Nguyễn Đắc Vinh – Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

    (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.13.

    (2), (3), (11), Sđd, t.4, tr.33,167, 212.

    (4), (6) Sđd, t.5, tr.185, 102.

    (5), (7), (8), (12), (13), (14), (15), (16), (20)Sđd, t.12, tr. 555, 551, 555, 554, 556, 551, 211, 211, 498.

    (9), (10)Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, t.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.105, 444.

    (17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.74.

    (18), (19) Sđd, t.7, tr.456, 455.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Tháng 7: Tư Tưởng Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Về Giáo Dục Và Bồi Dưỡng Thế Hệ Trẻ
  • 3 Phương Pháp Giáo Dục Thể Chất Cho Trẻ Mầm Non Hiệu Quả
  • Các Phương Pháp Giáo Dục Thể Chất Cho Trẻ Mầm Non
  • Phương Pháp Giáo Dục Thể Chất Cho Trẻ Mầm Non
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục An Toàn Giao Thông Cho Trẻ Mẫu Giáo
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100