Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác

--- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Thực Chất Và Ý Nghĩa Của Tư Tưởng Triết Học Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Triết Học Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Phép Biện Chứng Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Phương Pháp Biện Chứng Và Các Phương Pháp Nhận Thức Đặc Thù Khoa Học Chung
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Và Chủ Nghĩa Duy Vật Lịch Sử
  • Điều kiện kinh tế – xã hội

    * Nền đại công nghiệp cơ khí ra đời và phát triển nhờ cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19:

    + Nước Anh đã trở thành cường quốc tư bản chủ nghĩa lớn nhất với lực lượng công nghiệp hùng mạnh. Cuộc cách mạng công nghiệp ở Pháp đang được hoàn thành.

    + Ở Đức và một số nước Tây Âu khác, cuộc cách mạng công nghiệp cũng làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa lớn lên nhanh chóng trong lòng xã hội phong kiến.

    Nhờ vậy, tính hơn hẳn của chế độ tư bản chủ nghĩa so với chế độ phong kiến được thể hiện một cách rõ rệt. “Giải cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”1.

    * Cùng với nền đại công nghiệp cơ khí là CNTB được xác lập và giữ địa vị thống trị; giai cấp công nhân công nghiệp ra đời. Đây là giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất mới có bản chất cách mạng triệt để nhất.

    * Mặt khác, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho những mâu thuẫn xã hội vốn có của nó bộc lộ ngày càng gay gắt. Nhiều cuộc đấu tranh của công nhân đã mang ý nghĩa là:

    + Cuộc khởi nghĩa của thợ dệt ở Lyông (Pháp) năm 1831 -1834

    + Ở Anh có phong trào Hiến chương vào cuối những năm 1930 là “phong trào cách mạng vô sản to lớn đầu tiên thật sự có tính chất quần chúng và có hình thức chính trị”2.

    + Cuộc khởi nghĩa tự phát của thợ dệt Xilêdi năm 1844 đến sự xuất hiện “Đồng minh những người chính nghĩa” – một tổ chức vô sản cách mạng.

    * Trong điều kiện lịch sử xã hội đó, giai cấp vô sản không còn đóng vai trò là giai cấp cách mạng, vì vậy giai cấp vô sản xuất hiện trên vũ đài lịch sử không chỉ là ” kẻ phá hoại” chủ nghĩa Tư bản mà còn là lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ.

    Thực tiễn xã hội, đặc biệt là thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản nảy sinh yêu cầu khách quan là phải được soi sáng bằng lý luận khoa học. Sự ra đời của chủ nghĩa Mác là sự giải đáp về mặt lý luận những vấn đề thời đại đặt ra trên lập trường của giai cấp vô sản cách mạng.

    Nguồn gốc lý luận và những tiền đề khoa học tự nhiên của triết học Mác

    Nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung, của triết học Mác nói riêng.

    Một là: triết học cổ điển Đức, đặc biệt với hai nhà triết học tiêu biểu là Hêghen và Phiơbắc, là nguồn gốc lý luận trực tiếp của triết học Mác.

    * C.Mác và Ph. Ăngghen đánh giá cao tư tưởng biện chứng của triết học Hênghen. C. Mác cho rằng tính chất thần bí mà biện chứng đã mắc phải ở triết học Hênghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức hình thái vận động chung của phép biện chứng ấy. Ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất; chỉ cần dựng nó lại sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó sau lớp vỏ thần bí.

    * Kế thừa những giá trị trong chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc; đồng thời đã cải tạo chủ nghĩa duy vật cũ, khắc phục tính siêu hình và những hạn chế lịch sử của nó. Từ đó, Mác và Ăngghen xây dựng học thuyết mới, trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất với nhau một cách hữu cơ gọi là chủ nghĩa duy vật biện chứng, một hình thức mới, một giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa duy vật triết học.

    Từ những giá trị của phép biện chứng của Hêghen và chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, Mác và Ăng ghen đã xây dựng lên học thuyết triết học mới, trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất với nhau một cách hữu cơ là chủ nghĩa duy vật biện chứng, một hình thức mới, một giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa duy vật triết học.

    Hai là: thừa kế và cải tạo kinh tế chính trị học Anh với những đại biểu xuất sắc là A.Xơmít và Đ. Ricácđô là một nhân tố không thể thiếu được góp phần làm hình thành quan niệm duy vật về lịch sử của triết học Mác.

    Ba là: cải tạo một cách phê phán chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp với những đại biểu tiêu biểu là Xanh Ximông và S. Phuriê. Nhờ đó, triết học Mác trở thành vũ khí lý luận cải tạo xã hội bằng cách mạng.

    Những thành tựu của khoa học tự nhiên

    Những phát minh lớn của khoa học tự nhiên có vai trò quan trọng không thể thiếu được cho sự ra đời của triết học Mác. Những phát minh lớn của khoa học tự nhiên làm bộc lộ rõ tính hạn chế, chật hẹp và những bất lực của phương pháp tư duy siêu hình trong việc nhận thức thế giới; đồng thời cung cấp cơ sở tri thức khoa học để phát triển tư duy biện chứng, hình thành phép biện chứng duy vật.

    Trong số những thành tựu khoa học tự nhiên thời đó, Ăngghen nêu bật ý nghĩa của ba phát minh lớn đối với sự hình thành triết học duy vật biện chứng: định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng, thuyết tế bào và thuyết tiến hoá của Đắcuyn. Với những phát minh lớn của khoa học tự nhiên đã làm cho quan niệm mới về tự nhiên đã được hoàn thành trên những nét cơ bản

    Như vậy, triết học Mác cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mác đã ra đời như một tất yếu lịch sử không những vì nó một sự phản ánh thực tiễn xã hội, nhất là thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân mà còn là sự phát triển hợp logíc của lịch sử tư tưởng nhân loại.

    Quá trình chuyển biến tư tưởng của C. Mác và Ph.Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản.

    Các Mác sinh ngày 5-5-1818. Thời thơ ấu và niên thiếu, ông sống ở tỉnh Ranh, một vùng khá phát triển cả về kinh tế và chính trị của nước Đức.

    Những ảnh hưởng tốt của gia đình, nhà trường và các quan hệ xã hội khác đã làm hình thành và phát triển ở Mác tinh thần nhân đạo chủ nghĩa và xu hướng yêu tự do. Phẩm chất đạo đức – tinh thần cao đẹp đó không ngừng được bồi dưỡng trở thành định hướng cho cuộc đời sinh viên và đưa Mác tới chủ nghĩa dân chủ cách mạng và quan điểm vô thần.

    * Sau khi nhận bằng tiến sĩ triết học vào tháng 4 – 1841, Mác chuẩn bị vào dạy triết học ở trường đại học Tổng hợp Bon và dự định xuất bản một tờ tạp chí với tên gọi tư liệu của chủ nghĩa vô thần. Nhưng hy vọng của ông đã không thực hiện được vì vua Phriđrích Vinhem IV thực hiện chính sách phản động và đàn áp những người dân chủ cách mạng.

    * Sự chuyển biến bước đầu diễn ra trong thời kỳ C.Mác làm việc ở báo sông Ranh (5-1842 đến 4-1843).Thực tiễn đấu tranh trên báo chí cho tự do dân chủ đã làm cho tư tưởng dân chủ -cách mạng ở C.Mác có nội dung chính xác hơn, đó là đấu tranh cho lợi ích của “quần chúng nghèo khổ bất hạnh về chính trị và xã hội”.

    * Về thế giới quan triết học, nhìn chung Mác vẫn đứng trên lập trường duy tâm trong việc xem xét bản chất nhà nước. Nhưng việc phê phán chính quyền nhà nước đường thời đã cho Mác thấy rằng, cái quan hệ khách quan quyết định hoạt động của nhà nước không phải là hiện thân của tinh thần tuyệt đối như Hêghen đã tìm cách chứng minh bằng triết học, mà là những lợi ích; còn chính quyền nhà nước lại là ” cơ quan đại diện đẳng cấp của những lợi ích tư nhân”. Như vậy, qua thực tiễn, nguyện vọng muốn cắt nghĩa hiện thực, xác lập lý tưởng tự do trong thực tế đã làm nảy nở khuynh hướng duy vật ở Mác.

    * Sau khi báo Sông Ranh bị cấm, Mác đã viết cuốn sách Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, ông đã phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen, tiếp nhận có chọn lọc quan điểm duy vật của triết học Phoiơbắc đã tăng cường mạnh mẽ xu hướng duy vật trong quan điểm của Mác.

    * Cuối tháng 10-1943, Mác sang Pari để viết Niên giám Pháp – Đức đã đánh dấu bước hoàn thành sự chuyển biến từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật. Trong bài Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, lời nói đầu, được in trong niên giám Pháp- Đức, C.Mác đã chỉ ra “cái khả năng tích cực” của giai cấp vô sản. Tư tưởng về vai trò lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản là điểm xuất phát của chủ nghĩa cộng sản khoa học.

    Như vậy, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng triết học duy vật biện chứng và triết học duy vật lịch sử cũng đồng thời là quá trình hình thành chủ nghĩa cộng sản khoa học,. Cũng trong thời gian ấy, thế giới quan cách mạng của Ăngghen đã hình thành một cách độc lập với Mác.

    Ph. Ăngghen sinh ngày 28-11-1820, trong một gia đình chủ xưởng sợi ở Bácmên thuộc tỉnh Ranh. Khi còn học sinh trung học, Ph. Ăngghen đã căm ghét sự chuyên quyền và độc đoán của bọn quan lại. Việc nghiên cứu triết học trong thời gian ở Béclin, khi làm nghĩa vụ quân sự, đã dẫn ông đi xa hơn trên con đường khoa học. Song, chỉ thời gian gần hai năm sống ở Manchextơ (Anh), từ mùa thu năm 1842, việc nghiên cứu đời sống kinh tế và sự phát triển chính trị của nước Anh, nhất là việc trực tiếp tham gia vào phong trào công nhân mới dẫn đến bước chuyển biến căn bản trong thế giới quan của ông sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản.

    Niên giám Pháp – Đức cũng đăng các tác phẩm Phác thảo góp phần phê phán kinh tế chính trị học và Tình cảnh nước Anh, Tômát Cáclây, Quá khứ và hiện tại của Ăngghen gửi đến từ Mansextơ. Các tác phẩm đó cho thấy ở Ăngghen, quá trình chuyển từ chủ nghĩa duy tâm và dân chủ – cách mạng sang chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản cũng đã hoàn thành. Ông đã đứng trên quan điểm duy vật và lập trường của chủ nghĩa xã hội để phê phán kinh tế chính trị học của A.Xmít và Đ.Ricácđô, vạch trần quan điểm chính trị phản động của Cáclây, một người phê phán chủ nghĩa tư bản trên lập trường của giai cấp quý tộc phong kiến.

    Sự nhất trí về tư tưởng đã dẫn đến tình bạn vĩ đại của Mác và Ăngghen, gắn liền tên tuổi của hai ông với sự ra đời và phát triển một thế giới quan mới mang tên Mác – thế giới quan cách mạng của giai cấp vô sản.

    Giai đoạn đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Giai đoạn từ năm 1844 đến năm 1848

    Là quá trình Mác – Ăngghen từng bước xây dựng nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được thể hiện ở các tác phẩm kinh điển sau:

    * Trong tác phẩm Bản thảo kinh tế – triết học năm 1844:

    + Mác phê phán kinh tế chính trị học cổ điển của Anh và triết học duy tâm Hêghen; đồng thời ông cũng vạch ra “mặt tích cực”của nó là phép biện chứng.

    + Những quan điểm mới của Mác được thực hiện trong việc phân tích sự tha hoá của lao động với phạm trù “lao động bị tha hoá”, Mác xem sự tha hoá của lao động như một tất yếu lịch sử gắn liền với sở hữu tư nhân, và chính sở hữu tư nhân được sinh ra do “lao động bị tha hoá”, nhưng sau đó lại trở thành nguyên nhân của sự tha hoá lao động và sự tha hoá của con người. Bởi vậy, việc khắc phục sự tha hoá ấy chính là xoá bỏ chế độ sở hữu tư nhân, giải phóng người lao động.

    Với sự phân tích trên, Mác luận chứng cho tính tất yếu của chủ nghĩa cộng sản trong sự phát triển xã hội. Theo Mác “chủ nghĩa cộng sản coi như chủ nghĩa tự nhiên hoàn bị = chủ nghĩa nhân đạo” 1. Ông bác bỏ mọi thứ chủ nghĩa cộng sản bình quân mà ông gọi là chủ nghĩa cộng sản thô thiển, phủ nhận cá tính của con người, là sự quay lại với ” sự giản dị không tự nhiên của con người nghèo khổ và không có nhu cầu”2.

    Từ góc độ triết học, Mác đã nhận thức chủ nghĩa cộng sản như một nấc thang lịch sử cao hơn chủ nghĩa tư bản với những tiền đề do chính chủ nghĩa tư bản tạo ra.

    * Tác phẩm Gia đình thần thánh do Mác và Ănghen viết chung được xuất bản tháng 2-1845. Cùng với việc phê phán quan điểm duy tâm về lịch sử của “phái Hêghen trẻ”, đứng đầu là anh em nhà Bauơ, hai ông đã đề xuất một số nguyên lý cơ bản của triết học Mácxít và của chủ nghĩa cộng sản khoa học.

    Tác phẩm Gia đình thần thánh đã chứa đựng ” quan điểm đã gần thành của Mác về vai trò cách mạng của giai cấp vô sản” và cho thấy ” Mác đã tiến gần như thế nào đến tư tưởng cơ bản của toàn bộ “hệ thống” của ông… tức là tư tưởng về những quan hệ sản xuất xã hội”.

    * Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, được Mác và Ăngghen viết chung vào cuối năm 1845 – đầu năm 1846, đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình hình thành triết học Mác. Thông qua việc phê phán các trào lưu triết học và chủ nghĩa xã hội đương thời ở Đức, Mác và Ăngghen đã trình bày quan niệm duy vật lịch sử một cách hệ thống và nhiều nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản khoa học như những hệ quả của quan niệm duy vật lịch sử.

    *Trong Hệ tư tưởng Đức, hai ông khẳng định: ” Tiền đề của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống” 2. Song, đó là những con người hiện thực mà sản xuất vật chất là hành vi lịch sử đầu tiên của họ.

    + Sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội. Do đó, để hiểu được con người, Mác đã đi sâu tìm hiểu sự sản xuất vật chất của con người trong xã hội. Nghiên cứu biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

    Với tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, một số quan điểm về chủ nghĩa xã hội khoa học được nêu lên nhưng chưa có được sự diễn đạt rõ ràng; Mác và Ăngghen nhận định Chủ nghĩa cộng sản là một lý tưởng cao đẹp của nhân loại, nhưng lý tưởng đó được thực hiện từng bước với những mục tiêu cụ thể nào, bằng con đường nào; điều đó tuỳ thuộc vào điểm xuất phát và chỉ có qua phong trào thực tiễn mới tìm ra được những hình thức và bước đi thích hợp.

    * Luận cương về Phoiơbắc của Mác được Ăngghen đánh giá là văn kiện đầu tiên chứa đựng mầm mống thiên tài của một thế giới quan mới.

    Tư tưởng cơ bản xuyên suốt của Luận cương là vai trò quyết định của thực tiễn đối với đời sống xã hội; từ đó nêu lên sứ mệnh góp phần “cải tạo thế giới” của triết học Mác (luận đề thứ 11). Với quan điểm thực tiễn đúng đắn, Mác đã vạch ra “khuyết điểm chủ yếu” của toàn bộ chủ nghĩa duy vật trước kia, kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc; đồng thời cũng phê phán và bác bỏ quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về tính năng động, sáng tạo của tư duy. Cũng từ quan điểm duy vật biện chứng về thực tiễn, Mác đi tới nhận thức về mặt xã hội của bản chất con người. “Trong tính hiện thực của nó, Mác viết – bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội “.

    * Tác phẩm Sự khốn cùng của triết học (1847) và Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (tháng 2 – 1848), chủ nghĩa Mác được trình bày như một chỉnh thể các quan điểm lý luận nền tảng với ba bộ phận hợp thành của nó. Trong Sự khốn cùng của triết học, Mác tiếp tục đề xuất các nguyên lý triết học, chủ nghĩa cộng sản khoa học và đặc biệt là, như chính Mác sau này đã nói, “chứa đựng những mầm mống của học thuyết được trình bày trong bộ Tư bản sau hai mươi năm trời lao động”1.

    Tuyên ngôn của Đảng cộng sản là văn kiện có tính chất cương lĩnh đầu tiên của chủ nghĩa Mác; trong đó cơ sở triết học của chủ nghĩa Mác được trình bày một cách thiên tài, thống nhất hữu cơ với các quan điểm kinh tế và các quan điểm chính trị – xã hội. “Tác phẩm này trình bày một cách hết sức sáng sủa và rõ ràng thế giới quan mới, chủ nghĩa duy vật triệt để – chủ nghĩa duy vật này bao quát cả lĩnh vực sinh hoạt xã hội – phép biện chứng với tư cách là học thuyết toàn diện nhất và sâu sắc nhất về sự phát triển, lý luận đấu tranh giai cấp và vai trò cách mạng -trong lịch sử toàn thế giới – của giai cấp vô sản, tức là giai cấp sáng tạo một xã hội mới, xã hội cộng sản”.

    Với Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, triết học Mác và chủ nghĩa Mác nói chung đã hình thành và sẽ được Mác và Ăngghen tiếp tục bổ sung, phát triển trong suốt cuộc đời của hai ông trên cơ sở tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn của phong trào công nhân và khai quát các thành tựu khoa học.

    Giai đoạn Mác và Ăngghen bổ sung và phát triển lý luận triết học

    Từ sau Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, học thuyết Mác tiếp tục được bổ sung và phát triển trong sự gắn bó mật thiết hơn nữa với thực tiễn cách mạng mà Mác và Ăngghen vừa là những đại biểu tư tưởng, vừa là lãnh tụ thiên tài của phong trào công nhân. Bằng hoạt động lý luận của mình, Mác và Ăngghen đã đưa phong trào công nhân từ tự phát thành phong trào tự giác và phát triển ngày càng mạnh mẽ; và chính trong quá trình đó, học thuyết của các ông cũng không ngừng được phát triển.

    * Các tác phẩm chủ yếu của Mác như Đấu tranh giai cấp ở Pháp, Ngày 18 tháng Sương Mù của Lui Boonapáctơ, Nội chiến ở Pháp, Phê phán Cương lĩnh Gôta…, cho thấy việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của phong trào công nhân có tầm quan trọng như thế nào trong sự phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng. Bộ Tư bản không chỉ là công trình đồ sộ của Mác về kinh tế học mà còn là sự bổ sung, phát triển của triết học Mác nói riêng, của học thuyết Mác nói chung. Lênin đã nhận xét: về phương diện triết học, nếu như Mác không để lại cho chúng ta một “lôgíc học với chữ Lôgíc viết hoa ” thì Mác đã để lại cho chúng ta cái lôgíc của bộ Tư bản.

    Trong khi đó, Ăngghen với những tác phẩm chủ yếu của mình như Chống Đuyrinh, Biện chứng của tự nhiên, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tự hữu và của nhà nước, Lútsvích Phoiơbắc vá sự cáo chung của nền triết học cổ điển Đức, v.v đã trình bày học thuyết Mác nói chung, triết học Mác nói riêng dưới dạng một hệ thống lý luận. Ngoài ra cũng cần chú ý rằng, những ý kiến bổ sung, giải thích của Ăngghen sau khi Mác qua đời đối với một số luận điểm của các ông trước đây cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển học thuyết Mác.

    Sự ra đời triết học Mác tạo nên sự biến đổi có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử phát triển triết học của nhân loại.

    * Mác và Ăngghen đã kế thừa một cách có phê phán những thành tựu của tư duy nhân loại, sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật triệt để, không điều hoà với chủ nghĩa duy tâm và phép siêu hình.

    * Triết học Mác đã khắc phục sự tách rời thế giới quan duy vật và phép biện chứng trong lịch sử phát triển của triết học, Mác đã làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên “hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài người, chủ nghĩa duy vậy lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học”. Đó là cuộc cách mạng thật sự trong triết học xã hội, yếu tố chủ yếu của bước ngoặt cách mạng mà Mác và Ăngghen đã thực hiện trong triết học.

    Với sự ra đời của triết học Mác, vai trò xã hội của triết học cũng như vị trí của triết học trong hệ thống tri thức khoa học cũng biến đổi. “Các nhà triết học đã chỉ Giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”2. Luận điểm đó của Mác nói lên sự khác nhau về chất giữa triết học của ông với các học thuyết triết học duy vật trước Mác. Mác khâm phục và đánh giá rất cao chủ nghĩa vô thần chiến đấu của các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVII -XVIII. Song, “khuyết điểm chủ yếu” của mọi học thuyết duy vật trước Mác là chưa có quan điểm đúng đắn về thực tiễn và chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm về lịch sử xã hội. Triết học Mác đã khắc phục được những hạn chế đó, đi tới chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cho chủ nghĩa duy vật trở thành triệt để.

    * Triết học Mác là thế giới quan khoa học của giai cấp công nhân, giai cấp tiến bộ và cách mạng nhất, một giai cấp có lợi ích phù hợp với lợi ích cơ bản của nhân dân lao động và sự phát triển xã hội. Sự kết hợp lý luận của chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân đã tạo nên bước chuyển biến về chất của phong trào từ trình độ tự phát lên tự giác.

    * Vai trò cách mạng to lớn của triết học Mác được nâng cao còn vì sự thống nhất tính khoa học với tính cách mạng trong bản thân lý luận của nó. Sự thống nhất hữu cơ chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng làm cho triết học mácxít mang tính cách mạng sâu sắc nhất. Sức mạnh “cải tạo thế giới” của triết học mácxít chính là ở sự gắn bó mật thiết với cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản cách mạng, với quần chúng nhân dân đông đảo, nhờ đó lý luận “trở thành lực lượng vật chất”.

    Mác và Ăngghen đã xây dựng lý luận triết học của mình trên cơ sở khái quát các thành tựu của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học ngày nay càng chứng tỏ sự cần thiết phải có tư duy biện chứng duy vật và, ngược lại, phải phát triển lý luận triết học của chủ nghĩa Mác dựa trên những thành tựu của khoa học hiện đại.

    V.I.Lênin (1870 – 1924) đã vận dụng sáng tạo học thuyết của Mác để giải quyết những vấn đề của cách mạng vô sản trong thời đại chủ nghĩa đế quốc và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ông đã có đóng góp to lớn vào sự phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng.

    * Trong những tác phẩm lớn ban đầu của mình, như Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ – xã hội ra sao? và Nội dung kinh tế của chủ nghĩa dân tuý và sự phê phán trong cuốn sách của ông Xtơruvê về nội dung đó, Lênin đã vạch trần bản chất phản cách mạng, giả danh “người bạn của dân” của bọn dân tuý ở Nga vào những năm 90 thế kỷ XIX, ông đã phê phán quan điểm duy tâm chủ quan về lịch sử của những nhà dân tuý. Lênin không những bảo vệ chủ nghĩa Mác khỏi sự xuyên tạc của những người dân tuý mà còn phát triển, làm phong phú thêm quan điểm duy vật lịch sử, nhất là lý luận về hình thái kinh tế -xã hội của Mác.

    * Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong lĩnh vực khoa học tự nhiên đã có những phát minh lớn ” mang tính vạch thời đại“, nhất là những phát minh về điện tử và cấu tạo nguyên tử đã làm đảo lộn căn bản quan niệm về thế giới của vật lý học cổ điển, dẫn tới ” cuộc khủng hoảng vật lý “. Lợi dụng tình hình đó, chủ nghĩa duy tâm trong đó có chủ nghĩa Makhơ (một thứ chủ nghĩa duy tâm chủ quan), tấn công chủ nghĩa duy vật nói chung, chủ nghĩa duy vật Mác xít nói riêng.

    Ở nước Nga, sau thất bại của cuộc cách mạng 1905-1907, những người theo chủ nghĩa Makhơ viện cớ ” bảo vệ chủ nghĩa Mác”, nhưng thực chất là xuyên tạc triết học Maxcít. Do vậy, trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán xuất bản năm 1900, Lênin không chỉ phê phán quan điểm duy tâm, siêu hình của những người theo chủ nghĩa Makhơ mà còn bổ sung, phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử dựa trên sự phân tích, khái quát những thành tựu khoa học mới nhất, trước hết là khoa học tự nhiên thời đó. Với định nghĩa của Lênin về vật chất với tính cách là một phạm trù triết học, nhiều vấn đề căn bản của nhận thức luận Mácxít đã được làm sâu sắc thêm, được nâng lên một trình độ mới. Phương pháp của Lênin trong việc phân tích “cuộc khủng hoảng vật lý” có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của khoa học tự nhiên hồi đó và cho đến cả ngày nay.

    * Tác phẩm Bút ký triết học – gồm những ghi chép và nhận xét của Lênin khi đọc các tác phẩm của nhiều nhà triết học, được thực hiện chủ yếu trong những năm từ 1914 đến năm 1915, cho thấy ông đặc biệt quan tâm nghiên cứu về phép biện chứng, nhất là triết học Hêghen. Lênin đã tiếp tục khai thác cái “hạt nhân hợp lý” của triết học Hêghen để làm phong phú thêm phép biện chứng duy vật, đặc biệt là lý luận về sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Tinh thần sáng tạo của tư duy biện chứng cũng đã giúp cho Lênin có những đóng góp quan trọng vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác về triết học xã hội như vấn đề nhà nước, cách mạng bạo lực, chuyên chính vô sản, lý luận về Đảng kiểu mới, v.v… Luận điểm của Lênin về khả năng thắng lợi của chủ nghĩa xã hội bắt đầu ở một số nước, thậm chí ở một nước riêng lẻ, được rút ra từ sự phân tích quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản, đã có ảnh hưởng rất lớn tới tiến trình cách mạng ở nước Nga cũng như trên toàn thế giới.

    Trong khi lãnh đạo công cuộc xây dựng những cơ sở ban đầu của chủ nghĩa xã hội, Lênin tiếp tục có những đóng góp mới quan trọng vào việc phát triển triết học Mác. Đồng thời, ông đã nêu lên những mẫu mực về sự thống nhất giữa tính Đảng với yêu cầu sáng tạo trong việc vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác.

    Để bảo vệ chủ nghĩa Mác, Lênin không chỉ phê phán không khoan nhượng đối với mọi kẻ thù của chủ nghĩa Mác, mà còn kịch liệt phê phán những người nhân danh lý luận của Mác trên lời nói nhưng thực tế là chủ nghĩa xét lại, hoặc ít ra đã xa rời học thuyết của Mác. Đồng thời, Lênin chú trọng tổng kết kinh nghiệm thực tiễn cách mạng và dựa vào những thành quả mới nhất của khoa học để bổ sung, phát triển di sản lý luận mà Mác và Ăngghen để lại. Với tinh thần biện chứng duy vật, xem chân lý là cụ thể, có khi Lênin đã phải thay đổi một cách căn bản đối với một quan niệm nào đó của mình về chủ nghĩa xã hội, không chấp nhận mọi thứ biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều. Chính vì thế mà một giai đoạn mới trong sự phát triển của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng đã gắn liền với tên tuổi của V.I.Lênin và được gọi là triết học Mác – Lênin nói riêng, chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung.

    Sự phát triển của triết học Mác – Lênin từ sau khi Lênin mất đến nay diễn ra trong những điều kiện mới.

    Trong các nước xây dựng chủ nghĩa xã hội, triết học Mác – Lênin được truyền bá một cách rộng rãi và thuận lợi, có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng và trên mọi mặt của đời sống xã hội. Với tư cách là một bộ phận hợp thành, đồng thời là cơ sở lý luận chung của chủ nghĩa Mác -Lênin – nền tảng và kim chỉ nam cho hành động của các Đảng cộng sản – triết học Mác – Lênin đóng vai trò quan trọng không thể thiếu được trong sự phát triển của thực tiễn xây dựng xã hội mới với những thành tựu to lớn không thể phủ nhận được. Triết học Mác – Lênin không chỉ trang bị thế giới quan và phương pháp luận khoa học mà còn góp phần tích cực vào việc trau dồi năng lực tư duy lý luận cho chủ thể xây dựng xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa.

    Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội lại làm nảy sinh hàng loạt vấn đề cần được giải đáp về mặt lý luận mà điều đó không hề có trong di sản lý luận của các nhà kinh điển. Điều đó đòi hỏi các Đảng cộng sản phải biết “dùng lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin” như chủ tịch Hồ Chí Minh nói, để tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn, nhờ đó hiểu được quy luật, định ra được đường lối, phương châm, bước đi cụ thể thích hợp của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

    Chẳng hạn, xóa bỏ chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu là một quan điểm cơ bản mang tính nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội khoa học; song, thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội đã cho thấy tính chất phức tạp trong việc nhận thức và giải quyết vấn đề này. Phải chăng trong chủ nghĩa xã hội chỉ có sở hữu cá nhân đối với tư liệu sinh hoạt mà không có sở hữu cá nhân đối với tư liệu sản xuất?.

    Hoặc vấn đề kế hoạch hoá trong việc quản lý nền sản xuất của xã hội xã hội chủ nghĩa: các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học đã từng nhấn mạnh vai trò của kế hoạch hoá, nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong việc tổ chức, quản lý nền sản xuất trên phạm vi toàn xã hội. Vì vậy phải thực hiện kế hoạch hoá như thế nào để không dẫn đến tình trạng tập trung quan liêu?

    Các nhà kinh điển đã thấy rõ nguy cơ quan liêu hoá bộ máy nhà nước dù đó là nhà nước kiểu mới. “Ăngghen luôn luôn nhấn mạnh rằng không những dưới chế độ quân chủ, mà cả dưới chế độ cộng hoà dân chủ, nhà nước vẫn là nhà nước, nghĩa là vẫn giữ nguyên đặc tính chủ yếu của nó là: biến những viên chức, “công bộc của xã hội”, những cơ quan của mình thành những ông chủ đứng trên đầu xã hội”1. Mác rất chú ý những biện pháp của Công xã Pari mà ông cho là có thể ngăn ngừa tình trạng đó một cách hữu hiệu.

    Từ kinh nghiệm lãnh đạo Nhà nước Xô viết, Lênin càng thấy rõ nguy cơ làm suy sụp chế độ Xô viết bởi tệ quan liêu và tính chất khó khăn phức tạp của việc phòng chống tệ nạn này. Vì vậy, phát triển dân chủ đến cùng, tìm ra những hình thức của sự phát triển ấy, đem thí nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn, theo Lênin, “là một trong những nhiệm vụ cấu thành của cuộc đấu tranh vì cách mạng xã hội”2 của quá trình đổi mới hệ thống chính trị của chủ nghĩa xã hội hiệnnay nói riêng.

    Thực tiễn đã chứng tỏ, chủ nghĩa chủ quan và duy ý chí không những đã dẫn đến nhiều sai lầm khuyết điểm nghiêm trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội mà còn là trở ngại cho việc phát triển lý luận. Những hạn chế, những khuyết tật của chủ nghĩa xã hội hiện thực, do điều kiện lịch sử cũng như do sai lầm chủ quan gây nên, cũng được phản ánh vào tư duy lý luận, chi phối quá trình phát triển của triết học. Thực tế đã chứng tỏ, cơ chế quản lý kinh tế và quản lý xã hội mang tính chất tập trung quan liêu là trở lực to lớn với sự phát triển năng lực sáng tạo của con người, của tư duy lý luận nói riêng.

    Chúng ta biết rằng, chủ nghĩa chủ quan trong tư duy chính trị và bệnh giáo điều trong công tác lý luận là trở lực trực tiếp và chủ yếu đối với sự phát triển tư duy lý luận. Đến lượt mình, sự lạc hậu lý luận đã trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội. Kỷ nguyên khoa học và kỹ thuật cũng làm nảy sinh những vấn đề mang tính nhân loại phổ biến. Ngày nay, hơn bao giờ hết, yêu cầu bổ sung và phát triển lý luận của triết học Mác – Lênin là rất cấp thiết.

    Đặc điểm của thời đại ngày nay là sự tương tác giữa hai quá trình cách mạng – cách mạng khoa học công nghệ và cách mạng xã hội, đã tạo nên sự biến đổi rất năng động của đời sống xã hội. Trong những điều kiện đó, quá trình tạo ra những tiền đề của chủ nghĩa xã hội diễn ra trong các xã hội tư bản chủ nghĩa phát triển được đẩy mạnh như một xu hướng khách quan. Sự ra đời các công ty cổ phần từ cuối thế kỷ trước đã được Mác xem là “hình thái quá độ từ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sang phưong thức sản xuất tập thể”, là sự thủ tiêu tư bản với tư cách là sở hữu tư nhân ở trong những giới hạn của bản thân phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa”3. Song, đó là hiện thực khách quan vượt khỏi giới hạn nhận thức chật hẹp của tư duy không biện chứng.

    Sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội làm cho yêu cầu phát triển triết học Mác – Lênin càng trở nên cấp bách. Thực tiễn cuộc đấu tranh bảo vệ những thành quả mà chủ nghĩa xã hội đã giành được, nhất là công cuộc đấu tranh bảo vệ để đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội vượt qua thách thức to lớn hiện nay và tiếp tục tiến lên, đòi hỏi các Đảng cộng sản phải nắm vững lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Trước hết, phải thấm nhuần thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng khoa học của nó. Cả thành công cũng như thất bại trong quá trình đổi mới, “cải tổ” chủ nghĩa xã hội chứng tỏ sự cần thiết phải kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại, đồng thời phải khắc phục bệnh giáo điều trong việc vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin.

    Chúng ta không thể đổi mới thành công nếu xa rời lập trường của chủ nghĩa Mác – Lênin, rơi vào chủ nghĩa xét lại. Chủ nghĩa chủ quan và bệnh giáo điều còn dẫn đến sự vận dụng lý luận theo lối chủ nghĩa chiết trung, mà đó lại là cách xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin của chủ nghĩa cơ hội. “Trong việc xuyên tạc chủ nghĩa Mác theo cách cơ hội chủ nghĩa thì việc dùng chủ nghĩa chiết trung để xuyên tạc phép biện chứng là dễ đánh lừa quần chúng hơn cả, nó làm cho quần chúng tựa hồ như được thoả mãn; nó làm ra vẻ xét đến mọi phương diện của quá trình, mọi xu hướng của sự phát triển, mọi ảnh hưởng có tính chất mâu thuẫn, v.v.; những kỳ thực, nó không đưa ra được một quan niệm nào hoàn chỉnh và cách mạng về quá trình phát triển của xã hội”.

    Đương nhiên, những vấn đề của chủ nghĩa xã hội do quá trình đổi mới đặt ra không thể giải thích được chỉ bằng lý luận triết học và bản thân tư duy triết học cũng cần phải được đổi mới để phát triển. Việc tìm giải pháp cho những vấn đề của chủ nghĩa xã hội cũng như việc bổ sung và phát triển lý luận triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin phải được thực hiện thông qua tổng kết kinh nghiệm thực tiễn. Muốn vậy, việc tổng kết thực tiễn lại phải được thực hiện theo phương pháp khoa học Mácxít. Có như vậy mới có thể làm sáng tỏ những điều ngộ nhận, những quan điểm xuyên tạc, phủ định các giá trị cơ bản của học thuyết Mác – Lênin.

    Như vậy, phát triển lý luận triết học mácxít và đổi mới chủ nghĩa xã hội trong thực tiễn là một quá trình thống nhất, bởi vì “thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”2.

    KẾT LUẬN

    Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng, Mác và Ăngghen đã làm biến đổi căn bản mối quan hệ giữa triết học với các khoa học khác. Triết học Mác- Lênin có ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận to lớn đối với các khoa học cụ thể.

    Hiểu biết các quy luật chung nhất của hiện thực khách quan sẽ giúp nghiên cứu có kết quả quy luật đặc thù, điều đó đúng ở cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Nếu không có quan điểm duy vật biện chứng về đời sống xã hội thì không thể tạo ra được kinh tế học chính trị như một khoa học, không thể hiểu được những mặt khác nhau của đời sống xã hội.

    Sự thống nhất giữa triết học Mác-Lênin với các khoa học cụ thể là một đảm bảo cho việc học tập mang tính tích cực, sáng tạo các môn khoa học chuyên ngành của sinh viên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Tưởng Biện Chứng Của Hegel Và Sự Kế Thừa Của Triết Học Marx
  • Tính Nguyên Tắc Xác Định Tỉ Giá Ngân Hàng Theo Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền
  • Công Thức Tính Bình Quân Gia Quyền Trong Kế Toán
  • Về Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền
  • Tính Giá Xuất Kho Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền
  • Phương Pháp Biện Chứng Mác – Xít – Sách Điện Tử Triết Học Mác – Lênin

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Tạo Của Hồ Chí Minh Trong Vận Dụng Phương Pháp Luận Mácxít
  • Trang Web Chuyên Cung Cấp: Tài Liệu Luận Văn Bài Giảng Đồ Án
  • Phản Tỉnh Với Triết Học Của Socrates
  • Bản Đồ Là Gì? Vai Trò, Ý Nghĩa Và Phân Loại, Tỉ Lệ Bản Đồ
  • Một Số Vấn Đề Về Quy Luật Thống Nhất Và Đấu Tranh Của Các Mặt Đối Lập
  • Phương pháp biện chứng mác – xít đã phát sinh và phát triển trong cuộc đấu tranh -chống phương pháp siêu hình , tức phương pháp phản khoa học ( Xem : Pluép siêu hình ) , và chống phép biện chứng duy tâm của Hê – ghen Lợi dụng cái nhận hợp lý của phép biện chứng Hê – ghen , tức là lý luận về sự phát triển , Mác và Ăng – ghen đã sáng lập ra một phương pháp biện chứng mới , căn bản đối lập với phép biện chứng duy tâm của Hê – ghen . Sự đối lập giữa phương pháp biện chứng mác – xít và phương pháp của Hê – ghen biểu hiện sự đối lập giữa thế giới quan vô sản và thế giới quan tư sản . Phép biện chứng của Hê – ghen là duy tâm và huyền bí , vì nó khẳng định rằng không phải thế giới hiện thực phát triển , mà chính « quan niệm tuyệt đối » phát triển . Tự nhiên bị coi như là một thực chất « thấp » so với tinh thần , và sự phát triển của thế giới vật chất thì bị phủ nhận . Vận dụng vào lịch sử xã hội , phép biện chứng Hà – ghen chỉ thừa nhận sự phát triển trong quá khứ , phủ nhận sự phát triển trong hiện tại và trong tương lai . Đến một giai đoạn nào đó , sự tiến hóa của xã hội sẽ ngừng lại ; mức cao nhất của mọi sự tiến hóa , điềm tột cùng của mọi sự tiến hóa , đối với triết học Hê – ghen , là Nhà nước phản động của bọn quý tộc Phồ hồi cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XIX . Trải với phép biện chứng He – ghen , phép biện chứng mác – xít là phép biện chứng duy vật chủ nghĩa : cơ sở của sự phát triển là thế giới khách quan hiện thực , là giới tự nhiên vật chất ; ý thức và tư tưởng chỉ là những phản ánh của tự nhiên . Thích ứng với bản thân hiện thực , phép biện chứng duy vật chủ nghĩa áp dụng rộng những nguyên tắc phát triển vào giới tự nhiên . Trong các tác phẩm của mình , các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã vạch rõ tính chất biện chứng của giới tự nhiên , bằng cách căn cứ vào những thành tựu lớn của khoa học .

    Trái với phép biện chứng Hê – ghen , phép biện chửng mác – xít , trên căn bản, là cách mạng và bao hàm hiện tại và tương lai của xã hội loài người . Nó bác bỏ lời khẳng định vô lý cho rằng sự phát triển của xã hội sẽ ngừng lại trong một giai đoạn nào đó.Vận dụng phép biện chứng cách mạng vào việc phân tịch phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa , Mác đã chứng minh trong bộ Tưvbản tác phẩm chủ yếu của mình , rằng sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và việc loài người chuyển lên chủ nghĩa cộng sản đều không thể tránh khỏi .

    Những đặc trưng cơ bỉn của phương pháp biện chứng mác – xít là : 1. Tự nhiên được xem như một chỉnh thể cố kết , trong đó các sự vật và hiện tượng phụ thuộc lẫn nhau , chế ước lẫn nhau ; tất cả đều liên hệ với nhau , tác động lẫn nhau . 2. Tự nhiên trong một trạng thái vận động không ngừng , biến hóa và đổi mới , trong đó luôn luôn có một vật nào đó phát sinh và phát triển , và vật nào đó đang chết và biến đi ; tất cả đều vận động , đều biến hóa . 3. Sự phát triển của tự nhiên là một quá trình trong đó , tiếp theo sau sự tích lũy dần dần những thay đổi nhỏ ngấm ngầm ; về số lượng , là sự chuyển hóa bằng những bước nhảy vọt . sang những thay đổi rõ rệt , căn bản về chất lượng ; những thay đổi Để số lượng chuyển hóa thành những thay đổi về chất lượng . Phát triển không phải là lặp lại đơn thuần quá khứ , mà là một sự vận động tiến dần ừ trình độ thấp lên trình độ cao , không phải là một sự vận động vòng tròn , mà là một sự vận động đi lên . 4. Những mâu thuẫn nội bộ là những mâu thuẫn cố hữa của các sự vật và hiện tượng , mọi vật đều có mặt phải và mặt trái , đều gồm có những thành phần đang tiêu diệt , và những thành phần đang phát triển ; sự đấu tranh giữa cái đang tiêu diệt và cái phát triển hợp thành một dụng thực tại của sự phát triển , của việc những thay đổi về số lượng chuyển hóa thành những thay đổi về chất lượng ; cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập đang đau tất cả tin tới .

    Những nguyên lý đó của phương pháp biện chứng hoàn toàn thích dụng vào sự phát triển của xã hội . Mỗi hình thái kinh tế xã hội ( ví dụ chế độ nô lệ , chủ nghĩa phong kiến , chủ nghĩa từ bản , chủ nghĩa xã hội ) đều là một chỉnh thể , trong đó các mặt và các hiện tượng Phương thức sản xuất của cải vật chất , chế độ chính trị , đời sống tinh thần ) đen liên hệ với nhau và tác động lẫn nhau . Những tư 1 tưởng xã hội , những cột cấu chính trị , mà căn nguyên là ở trong chế độ kinh tế , tức cơ sở của xã hội , đều tác động trở lại chế độ kinh tế , tức cơ sở của sự tác động lẫn nhau đó . Sự kế tục của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử xã hội chứng tỏ sự vận động liên tục đang thống trị trong đời sống xã hội . Trong xã hội cũng như trong tự nhiên chỉ có cái gì đang phát sinh và phát triển mới là cái vô địch . Việc một hình thái kinh tế xã hội này thay thế cho một hình thái khác , biểu hiện một bước nhảy vọt , một bước quá độ cách mạng từ một trạng thái chất lượng này của xã hội sang một trạng thải chất lượng khác , tiếp theo sau sự tích lũy những biến hóa về số lượng . Chính vì vậy mà sự tích lũy dần dần những lực lượng của giai cấp vô sản ( số người tăng lên , tổ chức giỏi hơn , sự tiến bộ về giác ngộ giai cấp của giai cấp vô sản , sự củng cố mối liên hệ của giai cấp đó với tất cả những người lao động và bị bóc lột ) đưa đến kết quả là cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi và giai cấp vô sản , từ một giai cấp bị áp bức và bị bóc lột dưới chủ nghĩa tư bản , trở thành giai cấp thống trị , giai cấp hướng sự phát triển của xã hội tiến lên chủ nghĩa cộng sản . Thắng lợi đó bao hàm những điều kiện khách quan do sự phát triển kinh tế dưới chủ nghĩa tư bản sinh ra . Mọi hình thái lịch sử mới đều tiêu biểu một bước tiến , một trình độ cao hơn so với hình thái xã hội trước kia chủ nghĩa tư bản là chế độ xã hội cao hơn chủ nghĩa phong kiến ; chủ nghĩa xã hội , so với chủ nghĩa tư bản , đánh dấu một trình độ vô cùng cao hơn về mặt phát triển xã hội . Động lực của quá trình phát triển đó là đấu tranh giai cấp , là cuộc đấu tranh cứ tiếp diễn trong tất cả mọi hình thái xã hội đối kháng , và thể hiện mâu thuẫn đang tồn tại trong bản thân phương thức sản xuất , mâu thuẫn giữa lực lượng sản Tuất ” và quan hệ sản xuất ” . Cho nên lịch sử của xã hội cũng như lịch sử của tự nhiên chứng thực rằng mọi cái đều phát triển một cách biện chứng trong thế giới . Một trong những nguyên lý cơ bản của phép biện chứng mác – xít , một phương pháp duy nhất khoa học đề nghiên cửu các hiện tượng của dự nhiên và của xã hội , nói rõ sự tất yếu phải kiểm nghiệm qua thực tiễn những chân lý đã hiểu được , phải tính đến những điều kiện mới của lịch sử , những biến đổi do hoạt động thực tiễn của con người tạo ra .

    Phép biện chứng mác – xít không tự giới hạn ở những điểm chủ yếu , cơ bản đó . Nó còn biểu hiện trong một số phạm trù quan trọng khác ( Xem : Bản chất và hiện tượng ; Hình thức và nội dùng : Lịch sử và lô – gich ; Tất nếu mà ngẫu nhiên ; Khả năng và hiện thực ; p …. ) .

    Phép biện chứng duy vật chủ nghĩa đồng thời lại là nhận thức luận ; chỉ có lý luận biện chứng về sự phát triền mới cho phép hiểu rõ nhận thức như là một quả trình , thấy rõ nhận thức của người ta phát triển một cách lịch sử và lô – gích như thế nào , vạch rõ bản chất hiện chứng của khái niệm v.v … Phép biện chứng cũng là lô gich – học thuyết về tình biện chứng của các quy luật và của các hình thái của tư duy.

    Lê – nin gọi phép biện chứng duy vật chủ nghĩa là “ linh hồn của chủ nghĩa Mác » . Trong khi , vận dụng phép biện chủng , để phân tích những điều kiện lịch sử mới của thời đại chủ nghĩa đế quốc và cách mạng vô sản , đề phát tích công cuộc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa , Lê – nin và Xta – lin đã bảo vệ phép biện chứng mác – xít chống lại những đàn công kích của bọn cơ hội chủ nghĩa và bọn cải lương chủ nghĩa , đã làm phong phú thêm phép biện chứng mác xít , đã nâng nó lên một trình độ mới , cao hơn . Những điều kiện lịch sử mới của thời đại chủ nghĩa đế quốc và cách mạng vô sản và cả những điều kiện của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội , đều đặt các vấn đề của phép biện chứng lên hàng đầu . Nếu không làm cho phương pháp biện chứng phong phú thêm , thì không thể nhìn một cách sáng suốt bước ngoặt đột nhiên mà : lịch sử đã tiến hành trong thời đại chúng ta , không thể định rõ những nhiệm vụ mà giai cấp vô sản và đảng cách mạng của nó phải gánh vác trong thời kỳ mới đỏ , không thể đề ra sách lược và chiến lược đấu tranh đúng đắn của mình . Toàn bộ hoạt động dũng cảm của Đảng cộng sản Liên – xô là một mẫu mục về cách vận dụng sáng tạo phép biện chứng duy vật chủ nghĩa , toàn bộ triết : học mác – xít vào sách lược và chiến lược của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh vì cách mạng xã hội chủ nghĩa , vì chủ nghĩa xã hội .

    Những tác phẩm của Lê nin và Xta – lin , của những học trò và bạn chiến đấu của hai ông , cùng những nghị quyết của Đảng cộng sản đã vạch rõ những đặc điểm mới , những hình thức mới , của các quy luật chung về sự phát triển biện chứng sau khi cách mạng vô sản ở Liền – xô đã thắng lợi . Nếu trong bộ Tư bản , Mác đã phân tích phép biện chứng của xã hội tư bản chủ nghĩa , thì ngày nay Lê nin và Xta – lin , trong những tác phẩm nói về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Liên – xô , đã nghiên cứu phép biện chứng của bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội , phép biện chứng của sự phát triển của bản thân chủ nghĩa xã hội . Muốn xây dựng chủ nghĩa cộng sản , Đảng cộng sản trong toàn bộ hoạt động của mình , phải dựa vào sg nhận thức các quy luật biện chứng khách quan của sự phát triển . Việc khái quát kinh nghiệm thực tiễn của Đảng thanh lý luận có một ý nghĩa vô cùng to lớn đối với việc phát triển phương pháp mác – xít .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Chất Và Ý Nghĩa Cuộc Cách Mạn…
  • Rèn Luyện Tư Duy Biện Chứng Duy Vật Góp Phần Nâng Cao Trình Độ Tư Duy Chiến Lược Cho Học Viên Trường Đtcb Lê Hồng Phong
  • Hocthue.net: Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Về Vấn Đề Tính Khoa Học Của Triết Học, Một Hình Thái Ý Thức Xã Hội
  • Phương Pháp Biện Chứng Và Các Phương Pháp Nhận Thức Đặc Thù Khoa Học Chung – Phần I
  • Vận Dụng Phương Pháp Luận Triết Học Mác

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Lập Bảng Câu Hỏi Phỏng Vấn Trong Nghiên Cứu Thị Trường (Phần 1)
  • Sự Khác Biệt Giữa Phỏng Vấn Có Cấu Trúc Và Không Cấu Trúc
  • Cách Trả Lời Thư Mời Phỏng Vấn Bằng Tiếng Anh Ấn Tượng Nhất
  • Kỹ Năng Trả Lời Phỏng Vấn Sơ Lược
  • Những Câu Hỏi Phỏng Vấn Cho Vị Trí Lãnh Đạo Và Gợi Ý Câu Trả Lời
  • Thực chất của sự vận dụng phương pháp luận triết học Mác – Lênin vào nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị

    Thứ nhất, thực tiễn nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị phải được soi đường dẫn dắt, chỉ đạo, định hướng bởi một lý luận khoa học cách mạng, nếu không thực tiễn ấy chỉ là thực tiễn mù quáng.

    Trong nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, những nguyên tắc, phương pháp luận triết học Mác – Lênin như: nguyên tắc khách quan, toàn diện, phát triển; nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn… có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Thực tiễn nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị đặt ra những vấn đề cần phải giải quyết, đòi hỏi một lý luận khoa học, tiến bộ dẫn dắt. Có như vậy, mới đảm bảo nội dung, phương pháp, cũng như mục tiêu cần hướng tới, nhằm tạo cảm hứng cho người dạy và khả năng tiếp thu tốt nhất của chủ thể nghiên cứu, học tập.

    Thực tế, các môn lý luận chính trị có tính trừu tượng và khái quát cao, đòi hỏi người dạy phải nắm vững, sâu sắc tri thức lý luận thông qua hệ thống khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật của nó. Đồng thời, phải có vốn sống thực tế phong phú. Đối với người học, để nắm vững tri thức đó, họ phải có trình độ tư duy trừu tượng và khái quát nhất định, cùng với trình độ học vấn, kiến thức tự nhiên, xã hội sâu rộng.

    Xuất phát từ đặc trưng của các môn học lý luận chính trị, việc đảm bảo các nguyên tắc phương pháp luận như: sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Để hoạt động nghiên cứu, giảng dạy tránh rơi vào tình trạng mò mẫm, giải thích câu chữ vụn vặt, nó cần phải được dẫn dắt, định hướng bởi một lý luận khoa học, có tính hệ thống. Trong giảng dạy lý luận chính trị, phải luôn quán triệt các nguyên tắc này, theo đó, vấn đề áp dụng trong bài giảng cần có sự thống nhất chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, đảm bảo tính khách quan và sáng tạo chủ quan, tính toàn diện, lịch sử – cụ thể, phát triển.

    Trên cơ sở xác định phương châm, nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị nhằm trang bị thế giới quan khoa học cho chủ thể, phải lấy chính lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, cũng như lý luận dạy học hiện đại làm nền tảng lý luận, từ đó, đặt ra yêu cầu đối với chủ thể nghiên cứu, giảng dạy, học tập phải tuân thủ những cách thức, phương pháp nhất định trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy và học tập lý luận chính trị.

    Đối với người dạy, ngoài việc trang bị tri thức lý luận chính trị thuần túy, phải gắn với thực tiễn, bám sát thực tiễn để giúp người học hiểu và nắm chắc tri thức. Quan trọng hơn, điều đó sẽ giúp người học biết cách vận dụng lý luận chính trị vào thực tiễn. Điều này chỉ có được khi người dạy nắm chắc lý luận dạy học và nguyên lý, nguyên tắc giáo dục khoa học, hợp lý.

    Đối với người học, cần thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong học tập, tiếp thu tri thức lý luận chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tiễn ở nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn” (1). Để làm được điều này, người dạy có vai trò hết sức quan trọng, họ phải thấm nhuần những lý luận dạy học khoa học, tích cực để áp dụng, định hướng cho hoạt động giảng dạy của mình. Chính điều này sẽ lan tỏa tới người học, tạo nên một sự thống nhất trong toàn bộ hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập các môn lý luận chính trị.

    Thực tiễn không ngừng vận động, biến đổi, đặt ra yêu cầu phải bổ sung, phát triển lý luận giảng dạy và cả những nội dung của lý luận chính trị cho phù hợp nhằm chỉ đạo thực tiễn một cách hiệu quả nhất.

    Thứ hai, những nguyên lý khoa học của triết học Mác – Lênin phải được trình bày gắn liền với thực tiễn đất nước, được chứng minh bằng thực tiễn sinh động của đất nước, nếu không sẽ trở thành sách vở, kinh viện, giáo điều.

    Kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, cơ sở, sức sống của lý luận là thực tiễn. Người dùng nhiều cách nói khác nhau, nhưng điều cốt lõi nhất mà Người muốn nhấn mạnh chính là nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Rõ ràng, nếu lý luận xa rời thực tiễn thì sớm muộn cũng dẫn tới bệnh giáo điều, sách vở; theo cách nói của Hồ Chí Minh đó là lý luận suông.

    Những điều đó càng đúng với việc giảng dạy lý luận chính trị trong Công an nhân dân hiện nay. Bởi lý luận chính trị hết sức trừu tượng, nếu không gắn lý luận với thực tiễn, sẽ trở nên sách vở, sáo rỗng. Điều đó đòi hỏi, một mặt, giảng dạy lý luận chính trị phải gắn với đời sống thực tiễn. Mặt khác, thông qua giảng dạy lý luận chính trị, những vấn đề thực tiễn được giải đáp và làm sáng tỏ. Lý luận chính trị phản ánh đời sống xã hội, vì vậy, khi đời sống xã hội biến đổi, nội dung của lý luận chính trị cũng cần được bổ sung cho phù hợp.

    Một khía cạnh quan trọng khác, xuất phát từ trong chính nội dung các môn học lý luận chính trị đòi hỏi phải luôn được minh họa, bổ sung, phát triển bằng những ví dụ thực tiễn điển hình nhất, mới nhất. Trong từng nội dung lý luận chính trị, thông qua những kiến thức, đối tượng, mục tiêu cụ thể mà chủ thể, giảng viên cần lựa chọn phương pháp nghiên cứu, giảng dạy phù hợp sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Để làm được điều đó, cần vận dụng linh hoạt các nguyên tắc phương pháp luận triết học Mác – Lênin.

    Thực chất của sự vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận triết học Mác – Lênin thể hiện trong từng nội dung nghiên cứu, giảng dạy của môn học. Chẳng hạn, vận dụng nguyên tắc thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị. Nguyên tắc này yêu cầu lý luận phải đi liền với thực tiễn, phản ánh đời sống thực tiễn, khi thực tiễn thay đổi thì lý luận cũng phải thay đổi theo. V.I.Lênin từng nói: Không thể lấy kinh nghiệm, lý luận của ngày hôm qua để áp dụng vào thực tiễn của ngày hôm nay. Điều đó đòi hỏi người dạy cần không ngừng thâm nhập vào thực tiễn, kịp thời khái quát những vấn đề của thực tiễn để có sự lý giải lý luận cho phù hợp. Bởi lý luận triết học Mác – Lênin không phải là cái gì chết cứng, mà nó là những vấn đề sống động của cuộc sống. Trong từng nội dung bài giảng, sự thống nhất này cần được thể hiện tối ưu nhất, lý luận triết học cần được minh họa bởi những vấn đề của thực tiễn, ngược lại, những vấn đề của thực tiễn cần luôn được soi tỏ bằng lý luận triết học Mác – Lênin.

    Đối với người học, thông qua những nội dung tiếp thu được từ môn học, cần áp dụng phù hợp vào thực tiễn công tác và cuộc sống. Những vấn đề của thực tiễn công tác cần được soi rõ bằng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, trong thực tiễn công tác, cũng có thể sẽ là những vấn đề đòi hỏi triết học phải có những giải đáp kịp thời, từ đó góp phần làm rõ hơn vai trò của triết học Mác – Lênin.

    Như vậy, thực chất của sự vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận triết học Mác – Lênin trong giảng dạy lý luận chính trị đó chính là việc đảm bảo tính khách quan, chủ động sáng tạo, tính toàn diện, lịch sử – cụ thể và phát triển, là sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong chính nội dung môn học, trong việc áp dụng những lý luận khoa học vào việc nghiên cứu, giảng dạy, triển khai những nội dung của môn học. Sự thống nhất này được biểu hiện trong tất cả các khía cạnh của môn học: đối tượng, nội dung, phương pháp, yêu cầu đào tạo…, ở cả chủ thể nghiên cứu, ở người dạy và người học.

    Biểu hiện của sự vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận triết học Mác – Lênin vào nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị

    Việc bảo đảm các nguyên tắc phương pháp luận này, trên thực tế luôn hòa quyện với nhau, thống nhất biện chứng với nhau và được thể hiện thông qua các khía cạnh chủ yếu: Chương trình, nội dung lý luận chính trị phù hợp với đối tượng và yêu cầu nghiên cứu, đào tạo; Phương pháp giảng dạy lý luận chính trị phù hợp với đối tượng học; Nội dung nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị phù hợp với thực tiễn Việt Nam, thực tiễn địa phương và thực tiễn ngành.

    Trong nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, linh hồn, xương sống cho sự thành công, cho việc đảm bảo chất lượng, hiệu quả, cho việc nâng cao tính sinh động, hấp dẫn, chính là việc đảm bảo các nguyên tắc phương pháp luận triết học Mác – Lênin. Hiệu quả của điều đó chính là việc chủ thể lĩnh hội được lý luận và vận dụng vào thực tiễn cuộc sống cũng như công tác.

    Cùng với đó, việc đảm bảo tính khách quan, chủ động, sáng tạo, tính toàn diện, lịch sử – cụ thể và phát triển, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị sẽ đảm bảo vững chắc cho việc ngăn ngừa bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều, chiết trung, cũng như nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị hiện nay.

    Triết học Mác – Lênin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy triết học nhân loại. Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học. Nhờ đó, triết học Mác – Lênin có khả năng nhận thức đúng đắn cả thế giới tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người. Sự thống nhất ấy còn tạo nên một hệ thống tri thức khoa học hoàn bị, được tạo bởi thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng.

    Nhiệm vụ đặt ra cho các nhà nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị là phải quán triệt tốt các nguyên tắc phương pháp luận triết học Mác – Lênin, đặc biệt là trong công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị trong Công an nhân dân lại càng cần thiết hơn. Chỉ khi quán triệt việc vận dụng phương pháp luận triết học Mác – Lênin mới thực sự góp phần làm nên thành công, giúp cho chủ thể có cái nhìn biện chứng, một phương pháp luận khoa học; đồng thời, tạo nên khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn công tác công an chính là nhờ có quá trình nghiên cứu, giảng dạy và học tập, bồi dưỡng kiến thức lý luận chính trị mà chủ thể thấm nhuần các nguyên tắc phương pháp luận triết học Mác – Lênin một cách đầy đủ, sâu sắc nhất.

    Từ nhận thức đến hành động cần có sự thống nhất biện chứng, đòi hỏi chủ thể luôn tích cực trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị. Đối với hoạt động giảng dạy lý luận chính trị trong Công an nhân dân, không quy định một hướng xuôi chiều, tức là người dạy chủ động 100%, mà chính xác hơn phải là tích cực hóa được tính chủ động của người học càng nhiều thì người dạy càng thành công trong việc truyền bá tri thức lý luận chính trị. Thực hiện đúng quy trình này là biểu hiện sự vận dụng hiệu quả phương pháp luận triết học Mác – Lênin vào nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị trong Công an nhân dân.

    Nguồn Tạp chí lý luận chính trị CAND

    (1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 611.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tạp Chí Xây Dựng Đảng
  • Tổng Hợp Các Câu Hỏi Phỏng Vấn Xin Việc Thường Gặp Và Cách Trả Lời
  • Phỏng Vấn Nhóm Là Gì? 7 Lời Khuyên Về Cách Ghi Điểm Khi Tham Gia
  • Phỏng Vấn Nhóm Hiệu Quả Cần Biết: Giả Tạo Đồng Nghĩa Thất Bại
  • Kỹ Thuật Phỏng Vấn Star Hoặc Starl Khám Phá Quá Khứ Và Dự Báo Tương Lai Đối Với Một Ứng Viên
  • Phép Biện Chứng Trong Triết Học Phương Đông

    --- Bài mới hơn ---

  • Khám Phá Phương Pháp Truy Vấn Socrates
  • Bài 2. Một Số Phương Pháp Biểu Hiện Các Đối Tượng Địa Lý Trên Bản Đồ
  • Phân Tích Sự Đối Lập Giữa Phương Pháp Siêu Hình Và Phương Pháp Biện Chứng
  • Phương Pháp Bảo Toàn Electron Hay, Chi Tiết
  • Kinh Nghiệm Sử Dụng Phương Pháp Bảo Toàn Electron Để Giải Bài Toán Hóa Học
  • PHÉP BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNGwww.themegallery.comPHẦN ITÌM HIỂU VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG PHẦN IIPHÉP BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC TQ – ẤN ĐỘPHẦN IIITÍCH CỰC – HẠN CHẾ VÀ LIÊN HỆ THỰC TẾ VNPHẦN 1: PHÉP BIỆN CHỨNG1. PHÉP BIỆN CHỨNG LÀ GÌ ?Phương pháp biện chứng là phương pháp tư duy triết học xem xét thế giới trong mối liên hệ phổ biến, trong sự vận động và phát triển vô cùng – Trong lịch sử triết học phương pháp biện chứng đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển cao thấp khác nhau trong đó phép biện chứng duy vật là thành quả cao nhất và khoa học nhất của tư duy biện chứng.Giai đoạn cổ đại ở phương đông thì có triết học cổ đại Trung quốc, Ấn độ và ở phương tây thì có Hy Lạpwww.themegallery.com Thời kỳ phục hưng thì có một số tư tưởng biện chứng nổi bật như: – Triết học Kudan – Triết học của BrunôThời kỳ cận đại có các tư tưởng biện chứng nổi bật như: – Triết học của Phrăngxi Bêcơn – Triết học của Barút Xpinôda – Triết học của Rơnê ĐêcáctơTriết học tồn tại 2 trường phái đối lập duy tâm và duy vật thì phương pháp biện chứng cũng có phương pháp biện chứng duy tâm và biện chứng duy vật.www.themegallery.comPhép biện chứng duy tâm cổ điển Đức: – Phép biện chứng của Imanuen Cantơ – Phép biện chứng của HêghenPhép biện chứng duy vật Macxit – Phép biện chứng duy vật Mác – Ăngghen – Lê nin phát triển phép biện chứng Mác – Ăngghen www.themegallery.com2. PHÂN BIỆT BIỆN CHỨNG VỚI SIÊU HÌNHBIỆN CHỨNGSIÊU HÌNHLà xem xét sự vật trong mối liên hệ phổ biến, trong sự vận động biến đổi không ngừng.Là phương pháp xem xét sự vật một cách cô lập tách rời – Vừa thấy sự tồn tại phát triển và tiêu vong- Chỉ thấy tồn tại mà không thấy phát triển và tiêu vong- Xem xét sự vật ở cả trạng thái tĩnh và động- Chỉ thấy trạng thái tĩnh mà không thấy động Vừa thấy cây vừa thấy rừng, vừa thấy bộ phận vừa thấy toàn thể- Chỉ thấy cây mà không thấy rừng, chỉ thấy bộ phận mà không thấy toàn thể- Vừa thấy sự riêng biệt vừa thấy mối liên hệ qua lại- Chỉ thấy sự riêng biệt không thấy mối quan hệ qua lạiwww.themegallery.comPHẦN2. PHÉP BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC TQ – ẤN ĐỘ1. Tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc. Các trường phái triết học chủ yếu tập trung vào các vấn đề chính trị – xã hội, các vấn đề về con người, nhân, lễ, nghĩa, đạo, tư tưởng biện chứng trong thời này khá ít và chỉ xuất hiện khi con người lý giải về vũ trụ quan.1.1. Thuyết Âm dương, ngũ hànhwww.themegallery.com1.1.1. Thuyết Âm dương.- Tư tưởng biện chứng sâu sắc nhất của triết học Trung Hoa cổ đại phải kể đến thuyết Âm – Dương gia. Đây là 1 học thuyết được phát triển trên cơ sở của Kinh Dịch. chúng tôi Nguyên lý triết học cơ bản nhất là nhìn nhận mọi tồn tại không trong tính đồng nhất tuyệt đối mà tất cả đều bao hàm sự thống nhất của các mặt đối lập đó là âm và dương. Âm dương không loại trừ, không tách biệt mà bao hàm lẫn nhau và có quan hệ tương tác lẫn nhau.www.themegallery.comNội Dung: – Âm dương là 2 mặt đối lập nhau nhưng lại thống nhất với nhau, cùng tồn tại phổ biến trong các sự vật, hiện tượng của giới tự nhiên tạo lên vũ trụ và vạn vật.+ Ví dụ: sáng – tối, nóng – lạnh, nhẹ – nặng, cứng – mềm, mạnh – yếu, sáng – tối, ngày – đêm, sống – chết, Nam – Nữ, Dương lịch – Âm lịch . chúng tôi Quy luật tiêu trưởng và thăng bằng của âm dương nhằm nói lên sự vận động không ngừng, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai mặt âm dương để duy trì tình trạng thăng bằng tương đối của sự vật. Nếu mặt này phát triển thái quá sẽ làm cho mặt khác suy kém và ngược lại. www.themegallery.com1.1.2. Thuyết ngũ hànhwww.themegallery.com* Ngũ hành là cơ sở của thế giới, tính chất của sự vật đều thể hiện tính năng của năm loại vật chất: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.Trong thuyết Ngũ hành có 2 quy luật mang tính biện chứng sâu sắc là Ngũ hành tương sinh và tương khắc.www.themegallery.comTương sinhTương khắcMộc sinh hoảMộc khắc thổHoả sinh thổThổ khắc thuỷThổ sinh KimThuỷ khắc hoảKim sinh ThuỷHoả khắc kimThuỷ Sinh MộcKim khắc Mộc1.2. Đạo gia – Lão TửNgười sáng lập ra Đạo gia là Lão Tử (khoảng thế kỷ VI tr. CN). Những tư tưởng triết học của Đạo gia được nghiên cứu chủ yếu qua Đạo đức kinh và Nam hoa kinh.Nội dung của ĐẠO GIA chủ yếu được biến dịch theo nguyên tắc “bình quân” và “phản phục” (cân bằng và quay trở lại cái ban đầu).www.themegallery.comLuật bình quân là luôn giữ cho sự vật được thăng bằng theo một trật tự điều hòa tự nhiên, không có cái gì thái quá, bất cập. Cái gì khuyết ắt được tròn đầy, cái gì cong sẽ được thẳng, cái gì cũ thì lại mới, cái gì ít sẽ được, nhiều sẽ mấtCó lẽ để diễn đạt luật bình quân trong Đạo, không có ví dụ nào, không có hình ảnh nào hơn Nước. Trong bất cứ trường hợp nào dù nghiêng ngả, chao đảo đến đâu đi chăng nữa thì nước vẫn mau chóng tìm được thế quân bình của mình, tạo ra mặt phẳng, san lấp mọi lồi lõm. www.themegallery.comA,Quy luật bình quânB,Quy luật phản phụcQuy luật phản phục là sự phát triển đến cực điểm thì chuyển quay trở lại phương hướng cũ: Phản phục trong vũ trụ: – Quy luật phản phục thể hiện rất rõ trong nhịp sinh học ngày đêm, hay bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Sao hôm rồi đến sao mai, mặt trời lặn rồi mặt trời mọc, trăng non rồi đến trăng già, và ngược lại, cứ thế liên miên bất tận. – Cây sinh nụ, nụ sinh hoa, hoa sinh quả, quả lại sinh cây. Nước bốc thành hơi, hơi đọng thành mây, mây lại biến thành mưa. www.themegallery.comPhản phục trên con người: – Người nam và người nữ là hai thực thể (bất dịch). Nam nữ giao hợp (giao dịch) sinh con. Con là kết quả của biến dịch. Và con cũng là người, tức quay về khởi điểm. Chính nhờ thế mà người tồn tại. – Sau cùng kiếp nhân sinh là một điển hình qua quy luật phản phục. Dù có giao dịch, biến dịch đến mức nào đi nữa, dù có chọc trời khuấy nước đến đâu thì cũng trở về với cái bất dịch là Âm-Dương, là nguyên tố. Rồi một lúc nào đó, Âm-Dương lại phối hợp, các nguyên tố lại kết hợp để hình thành một kiếp nhân sinh khác, theo chu trình mà nhà Phật gọi là luân hồiwww.themegallery.com2. Tư tưởng biện chứng trong triết học Ấn Độ2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội2.2 Tư tưởng biện chứng trong một số trường phái triết học Ấn Độ2.3 Giá trị và hạn chếwww.themegallery.com2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Điều kiện về tự nhiên:Thuộc Nam Châu ÁĐiều kiện khí hậu khắc nghiệtĐịa hình tách biệt + sự án ngữ của vòng cung dãy Hy – Mã – Lạp – Sơn  Nền văn minh khép kínwww.themegallery.com Điều kiện kinh tế – xã hội Kết cấu kinh tế – xã hội theo mô hình “Công xã nông thôn” với sự phân biệt hết sức khắc nghiệt và dai dẳng của 4 đẳng cấp:Tăng lữ : đẳng cấp cao quí nhất trong xã hội – bao gồm những người hành nghề tế lễ; Quí tộc : đẳng cấp thứ hai trong xã hội – bao gồm vua chúa, tướng lĩnh;Bình dân tự do : đẳng cấp thứ 3 trong xã hội – bao gồm những người có chút ít tài sản, ruộng đất;Tiện nô hay nô lệ : đẳng cấp thấp nhất và đông đảo nhất – bao gồm những người tận cùng không có quyền lợi gì trong xã hội. Điều kiện về tri thức:Toán họcThiên văn họcKhoa họcLịch pháp nông nghiệp Triết học – tôn giáo Ấn Độ cổ đạiwww.themegallery.comwww.themegallery.comwww.themegallery.comTrường phái triết học Ấn ĐộPHI CHÍNH THỐNGCHÍNH THỐNGTrường phái Samkhya Trường phái YôgaTrường phái NiajaTrường phái VêđantaTrường phái MimansaTrường phái VaisêsikaTrường phái Phật giáoTrường phái JainaTrường phái Lokayatawww.themegallery.comwww.themegallery.comTrường phái triết học Ấn ĐộPHI CHÍNH THỐNGCHÍNH THỐNGTrường phái Samkhya Trường phái YôgaTrường phái NiajaTrường phái VêđantaTrường phái MimansaTrường phái VaisêsikaTrường phái Phật giáoTrường phái JainaTrường phái Lokayata2.1 Trường phái triết học Ấn Độ2.1.1 Trường phái Samkhya Thừa nhận bản nguyên của thế giới là prakriti – vật chất đầu tiên ở dạng tinh tế, trầm ẩn, vô định hình và trong nó chứa đựng khả năng tự biến hoáVạn vật chỉ là thể thống nhất, tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa 3 yếu tố là sativa (nhẹ nhàng, thuần khiết), razas (tích cực, năng động) và tamas (nặng, ỳ). Prakriti không ngừng biến hoá, phát triển trong không gian theo luật nhân quả dẫn tới xuất hiện tính đa dạng của giới tự nhiên.www.themegallery.com2.2.2 Triết học LokayataVạn vật (kể cả con người) đều được tạo thành từ 4 yếu tố là đất, nước, lửa, gió (Tứ đại). Tính đa dạng của vạn vật là do sự kết hợp khác nhau của các yếu tố ấy mà thành. Còn linh hồn (ý thức) chỉ là một thuộc tính của cơ thể, do thể xác (vật chất) sinh raPhủ nhận thần thánh, thiên đường, địa ngục  quan niệm đạo đức khoái lạc Xa lạ với truyền thống tôn giáo  bị công kíchwww.themegallery.com2.2.3 Triết học Jaina Tư tưởng biện chứng của phái Jaina thể hiện ở học thuyết tương đối: Thực thể đầu tiên là bất biến, nhưng vạn vật – các dạng tồn tại cụ thể của nó thì biến chuyển không ngừng. Thế giới, vạn vật là sự thống nhất của cái bất biến và cái biến đổi.www.themegallery.comThế giới, vạn vật là sự thống nhất của cái bất biến và cái biến đổi. Tức là thế giới bao quanh con người vừa vận động lại vừa đứng im, đó là một mâu thuẫn mà con người cần phải chấp nhận.2.2.4 Phật giáo Vô ngãThế giới vạn vật ko có cái tôi cá nhân, không có gì là bản ngã (vô ngã)Mọi sự vật (kể cả con người) chỉ là giả tưởngLuân hồi sinh tử không dứt Vô thườngVòng luân hồi: sinh – trụ – dị – diệtThế giới biết đổi vô thủy vô chung, ko có bắt đầu + kết thúc Nhân – quả Chu trình sinh – trụ – dị – diệt; chúng luôn bị cuốn vào dòng biến hóa hư ảo vô cùng theo luật nhân quả. Nhân nhờ duyên mới sinh ra quả, quả nhờ duyên mà thành nhân mới, nhân mới lại nhờ duyên mà thành quả mới…; cứ như thế, vạn vật biến đổi, hợp – tan, tan – hợp mà không có nguyên nhân đầu tiên và kết quả cuối cùng nào cảwww.themegallery.comGiá trị và hạn chếGiá trị: Phác hoạ bức tranh thống nhất của thế giới trong mối liên hệ phổ biến, trong sự vận động và phát triểnwww.themegallery.com”tư duy biện chứng xuất hiện với tính chất thuần phác tự nhiên của nó”Hạn chế: Các nguyên lý, quy luật còn giản đơn, mộc mạc, chất phác, chưa được khái quát hoá thành một hệ thống chặt chẽ.Xu hướng chú giải và thực hành những vấn đề nhân sinh quan dưới góc độ tâm linh tôn giáo nhằm đạt tới sự “giải thoát”Sự thăng bằng của các yếu tố, sự mất thăng bằng của những xung lực nội tại – sự biến hoá sinh thành của vạn vật từ cái vô hình – siêu vật lý – đến cái hữu hình, đa dạng. Ta có thể thấy nguyên tắc về sự thăng bằng của sự biến động đã được đặc biệt quan tâm. Trong khi đó những nguyên lý và nguyên tắc về sự biến động phát triển về cơ bản chưa được đề cập đếnwww.themegallery.comGIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNGTRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG www.themegallery.com1. GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG Bộc lộ khuynh hướng biện chứng duy vật trong quan điểm về cơ cấu và sự vận động, biến hóa của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội. – Tiêu biểu cho nhận định này là 2 trường phái theo thuyết Âm – Dương và Phật giáo. Hai trường phái này thể hiện tính duy vật và biện chứng sâu sắc khi nhìn nhận sự vật luôn biến đổi. Giải thích sự tồn tại vũ trụ là khách quan và được hình hành bởi các yếu tố thống nhất. – Hình thành và tạo nên tính cánh của con người: rất coi trọng giá trị đạo đức, gia đình. Tạo nên một xã hội trật tự, có trên có dưới. Biện chứng sâu sắc trong mối quan hệ trong đó lấy con người là trung tâm từ đó đó tạo ra một nền văn hóa phong phú, đa dạng, phản ánh tâm hồn đời sống của người dân, tạo điểm tựa về mặt tinh thần cho họ2 – HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG – Giải thích sự vật, hiện tượng dựa trên mối quan hệ bên ngoài (hình thức), chưa đi sâu vào bản chất của sự vật hiện tượng. – Vì mang trong mình tư tưởng này nên người phương đông thường được đánh giá là thiếu động lực để phát triển kinh tế, xã hội, khoa học… www.themegallery.comTư tưởng biện chứng có tính trực quan, chất phác ngây thơ và vẫn tồn tại những quan điểm duy tâm thần bí về xã hội.Mang tính bình quân, dung hòa. Không thấy được sự vận động, phát triển qua những mâu thuẫn, đấu tranh và giải quyết mâu thuẫn trong tự nhiên và xã hội.Chưa xác định rõ vị trí, vai trò của con người trong thế giới quanXin cám ơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quá Trình Phát Triển Của Phép Biện Chứng Trong Lịch Triết Học
  • Phương Pháp Biện Chứng Là Gì? Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?
  • Lịch Sử Phát Triển Của Phép Biện Chứng Trong Triết Học
  • Hãy Nêu Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Nguyên Lý Biện Chứng Mác Xít?
  • Luận Văn Tiểu Luận Bàn Luận Về Vấn Đề Đổi Mới Toàn Diện Nội Dung Và Phương Pháp Dạy Học Ở Bậc Học Phổ Thông Trên Quan Điểm Biện Chứng
  • Phương Pháp, Phương Pháp Luận Và Vai Trò Của Phương Pháp Luận Triết Học Mác Lênin

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 10
  • Steam Là Gì? Hiểu Đúng Về Phương Pháp Giáo Dục Steam
  • Aac Là File Gì? Cách Mở, Chỉnh Sửa Và Chuyển Đổi File Aac
  • Nội Dung Và Ý Nghĩa Phương Pháp Phỏng Vấn Và Phương Pháp Ankét
  • Phương Pháp Phân Tích Abc Trong Quản Lý Tồn Kho
  • Thứ năm – 15/12/2016 07:51

    ThS. Trần Thiên Tú

    Phó Trưởng khoa LL M-LN, TT HCM

    `

    Ngoài chức năng thế giới quan, phương pháp luận là một trong hai chức năng cơ bản nhất của triết học, nó định hướng cho con người xác định, lựa chọn, sử dụng phương pháp trong nhận thức và hoạt động thực tiễn một cách hiệu quả. Tuy nhiên, hiện nay, do chưa nghiên cứu sâu, có nhiều người vẫn hiểu chưa đúng và chưa phân biệt giữa phương pháp luận với phương pháp luận triết học; ngoài ra, họ còn đồng nhất phương pháp với phương pháp luận, phương pháp luận với phương pháp hệ, phương pháp luận với phương pháp luận triết học. Việc nhầm lẫn này sẽ đánh giá không đúng vị trí, vai trò của triết học trong cuộc sống cũng như hạ thấp chức năng của triết học.

    Hiểu đúng về phương pháp luận nói chung và phương pháp luận triết học nói riêng sẽ có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là đối với hoạt động dạy và học lý luận. Trong giảng dạy lý luận, đặc biệt là triết học, giảng viên sẽ phải chú trọng nhiều hơn đến phần ý nghĩa phương pháp luận; trong quá trình học tập, học viên sẽ hiểu sâu phần này hơn; trong hoạt động thực tiễn, con người sẽ biết vận dụng sáng tạo, triệt để hơn lý luận vào thực tế. Tất cả những điều này sẽ giúp con người hiệu quả hơn trong hoạt động cải tạo tự nhiên và xã hội.

    Với tầm quan trọng như trên, con người phải được trang bị lý luận về phương pháp luận, đặc biệt là phương pháp luận triết học. Để hiểu đúng về phương pháp luận, chúng ta phải hiểu về khái niệm phương pháp, phương pháp luận, phương pháp hệ; các cấp độ của phương pháp và phương pháp luận; vai trò của phương pháp luận triết học.

    1. Phương pháp, phương pháp hệ, phương pháp luận

    a. Phương pháp (methos): Có các cách hiểu về phương pháp như sau:

    Theo phạm vi ảnh hưởng, có thể phân phương pháp thành các cấp độ sau:

    Phương pháp riêng (ngành): là các phương pháp chỉ sử dụng trong các ngành riêng biệt. Mỗi khoa học đều có các phương pháp đặc thù, chỉ sử dụng riêng trong ngành mình, không thể sử dụng cho ngành khác; ví dụ: ẩn dụ, thậm xưng, … trong văn học; log, tích phân, … trong toán học.

    Phương pháp chung: là các phương pháp có thể được áp dụng trong nhiều ngành khác nhau; ví dụ: quy nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp, điều tra xã hội học, xác suất thống kê, …

    Phương pháp chung nhất: là các phương pháp có thể sử dụng cho tất cả các ngành khoa học, đó là phương pháp của triết học.

    b. Phương pháp hệ (Methodica): là nhóm các phương pháp được sử dụng phối hợp trong một lĩnh vực khoa học hay một đề tài cụ thể; là hệ thống các thủ thuật hoặc biện pháp để thực hiện có tuần tự, có hiệu quả một công trình nghiên cứu khoa học. Sử dụng phối hợp các phương pháp là cách tốt nhất phát huy các điểm mạnh và khắc phục điểm yếu của từng phương pháp. Đồng thời chúng hỗ trợ, bổ sung, kiểm tra lẫn nhau trong quá trình nghiên cứu và để khẳng định tính xác thực của các luận điểm khoa học. Như vậy, thì phương pháp hệ thống nhất với nghĩa thứ 2 của “phương pháp” và được sử dụng trong nghiên cứu khoa học.

    c. Phương pháp luận (Methodology): hiện nay, có nhiều cách hiểu gần giống nhau về phương pháp luận. Có ba cách hiểu phổ biến nhất:

    Những tin mới hơn Những tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 8 Kỹ Năng Học Tập Hiệu Quả Cần Ghi Vào Bộ Nhớ
  • Phương Pháp Học Tập Thông Minh Và Hiệu Quả
  • Thuyết Trình Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả
  • Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả Học Phần Ngôn Ngữ Lập Trình
  • Đề Tài: Nghiên Cứu Thay Đổi Phương Pháp Học Tập Của Sinh Viên
  • Sự Khác Nhau Giữa Phương Pháp Siêu Hình Phương Pháp Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?
  • Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Giáo Án Gdcd Khối 10
  • Bài 1: Tgq Duy Vật Và Ppl Biện Chứng Anhanh Ppt
  • Bài soạn tuần 3

    Sự khác nhau giữa phương pháp siêu hình & phương pháp biện chứng

    Triết học có nhiều phương pháp; trong đó có 2 phương pháp cơ bản là:

    1. Phương pháp siêu hình

    2. Phương pháp biện chứng.

    Biện chứng và siêu hình là hai phạm trù trong triết học, nó là hai phương pháp tư duy trái ngược nhau

    1. Phương pháp siêu hình

    Là phương pháp:

    – Nhận thức đối tượng trong trạng thái cô lập, tách rời khỏi những sự vật, hiện tượng khác.

    2. Phương pháp biện chứng

    Là phương pháp

    Xem xét về sự vật hiện tượng trong trạng thái động. Mọi sự vật hiện tượng luôn có mối liên hệ tác động qua lại nhau và trong trạng thái chung là phát triển.

    VÍ DỤ

    Một viên phấn

    – Theo phương pháp luận biện chứng: thi dưới tác dung lực cơ học thi sau khi viết viên phấn sẽ bị mài mòn đi không còn hình dạng như trước nữa. Dưới tác dụng hoá học sẽ bị ăn mòn dần … nên theo thời gian viên phấn sẽ không còn như trước nữa.

    – Theo pp luận siêu hình: thì dù bao lâu đi nữa thi viên phấn đó vẫn luôn tồn tai như thế không thay đổi.

    Tại sao nói phát triển phải diễn theo đường xoáy ốc

    – Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức được tính đúng đắn và tất yếu của sự vật bởi phát triển là khuynh hướng chung, do đó cái mới bao giờ cũng chiến thắng. Song, quá trình phát triển không diễn ra theo đường thẳng mà con đường xoắn ốc: quanh co, phức tạp với nhiều chu kỳ và giai đoạn trung gian.

    – Sự vật ra đời sau luôn là cái mới, cái tiến bộ hơn cái trước thế nhưng không phải lúc nào cũng như vậy, có nhiều lúc, cái mới lại là cái thụt lùi so với cái cũ, thế nhưng sự thụt lùi đó là những bước thụt lùi trong quá trình phát triển chung của nó.

    – Nhận thức được quy luật này chúng ta sẽ biết cách tác động phù hợp sao cho sự vật phát triển nhanh hay chậm, tránh được những nhận thức sai lầm, chủ quan duy ý chí và bảo thủ trong công việc và trong các hiện tượng xã hội. Đồng thời cần phải chống thái độ phủ định sạch trơn hoàn toàn không có gì, coi thường giá trị truyền thống mà cần phải biết phát hiện ra cái mới, tạo điều kiện cho cái mới phát triển

    Tại sao có mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất

    Từ sự thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất: chất và lượng là 2 của một sự vật, chúng thống nhất với nhau. Sự thống nhất giữa chất và lượng tồn tại trong một độ nhất định khi sự vật còn . Còn là nó, chưa trở thành cái khác.

    Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật đấy,

    Vd : Dưới áp suật bình thường của không khí, sự tăng giảm nhiệt độ trong khoảng giới hạn , từ 0 – 1000 độ C, nước nguyên chất vẫn ở trạng thái lỏng,

    Trong mối liên hệ giữa lượng và chất, thì chất là mặt tương đối ổn định còn lượng là mặt biến đổi hơn

    Sự vật động và pt của sự vật, bao giờ bắt đầu thay đổi về lượng. Xong phẩy không phải bắt kỳ sự thay đổi về lượng cũng dẫn đến sự thay đổi về chất ngay tức khắc, mặc dù bắt kì sự thay dổi nào về lượng cũng ảnh hưởng đến trạng thái tồn tại, của sự vật .

    Chỉ khi nào lượng biến đổi đến một giới hạn nhất định độ thì mới dẫn đến sự thay đổi về vật chất. Thời điểm mà đó dẫn ra bước nhảy, gọi là điểm nuốt . Điểm nút là một phạm trù triết học, dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đủ làm thay đổi về chất của sự vật

    VD: nhiệt độ của nước , giảm xuống 0 độ, nước thể lỏng chuyển về thể rắn,

    Ý nghĩa phương pháp luận

    Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải chú ý tích lũy dẫn những thay đổi về lượng, đồng thời phải biết thực hiện kịp thời những bước nhảy khi có điều kiện chín muồi.

    Chống lại quan điểm tả khuynh: chủ quan, nóng vội, duy ý chí, khi lượng chưa biến đổi đến điểm nút đã thực hiện bước nhảy.

    Chống lại quan điểm hữu khuynh: bảo thủ, trì trệ, khi lượng đã biến đổi đến điểm nút nhưng không thực hiện bước nhảy.

    Phải có thái độ khách quan và quyết tâm thực hiện bước nhảy khi hội đủ các điều kiện chin muồi.

    Những câu ca dao về lượng và chất

    Lượng

    ”Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

    “Yêu nhau ba bốn núi cũng trèo

    Bốn sông cũng lội, năm đèo cũng qua”

    “Một thương tóc bỏ đuôi gà

    Hai thương ăn nói mặn mà có duyên”

    “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”

    “Trăm năm bia đá cũng mòn

    Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ”

    “Thương em anh chẳng dám qua

    Sợ chuông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”

    Chất

    “Trong tốt ngoài xấu”

    “Khẩu Phật , tâm xà”

    “Bề ngoài thơn thớt nói cười

    Mà trong nham hiểm giết người không dao”

    “Con lợn có béo thì cỗ lòng mới ngon”

    “Ở chi 2 dạ 3 bòng

    Dạ cam thì ngọt cạ bòng thì chua”

    “Nhân chi sơ tính bản thiện”

    “Phú quý sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc”

    “Thấy sang bắt quàng làm họ”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biểu Mẫu Số 08B Bảng Xác Định Giá Trị Khối Lượng Công Việc Hoàn Thành
  • Hướng Dẫn Cách Lập Bảng So Sánh Kế Hoạch Với Thực Hiện Dự Án Trong Excel
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Tai Nạn Chấn Thương
  • Bong Gân Và Trật Khớp: Phân Biệt Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
  • Bài Tập 5 Trang 30, 31 Sách Bài Tập (Sbt) Lịch Sử 12
  • Sự Đối Lập Giữa Phương Pháp Siêu Hình Và Phương Pháp Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Toán Bằng Định Luật Bảo Toàn Electron
  • Chuyên Đề: Sử Dụng Phương Pháp Bảo Toàn Electron Để Giải Bài Tập Kim Loại Tác Dụng Với Dung Dịch Axit
  • Phương Pháp Giải Hóa Học
  • Cấy Chỉ Chữa Thoát Vị Đĩa Đệm? Ai Nên Áp Dụng?
  • Phương Pháp Cấy Chỉ Chữa Thoát Vị Đĩa Đệm
  • Sự đối lập giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng

    a) Phương pháp siêu hình

    Phương pháp siêu hình là phương pháp:

    + Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.

    + Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại; nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng.

    Phương pháp siêu hình làm cho con người “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”.

    Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượng nào trước hết con người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thức nó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định. Song phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm.

    b) Phương pháp biện chứng

    Phương pháp biện chứng là phương pháp:

    + Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau.

    + Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển. Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng.

    Như vậy phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Nó thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “hoặc là… hoặc là…” còn có cả cái “vừa là… vừa là…” nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau.

    Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại. Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Tạo Bản Đồ 3D Trong Excel
  • Nội Dung Và Hình Thức: Quan Hệ Biện Chứng Và Ý Nghĩa
  • Thực Trạng Áp Dụng Phương Pháp Socrate (Truy Vấn) Và Mootcourt (Diễn Án) Trong Đào Tạo Luật Tại Một Số Trường Đại Học Và Giải Pháp Áp Dụng Tại Trường Đại Học Ngoại Thương
  • Socrate Và Vấn Đề Tích Cực Hóa Nhận Thức
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng
  • Thử Da Thật Bằng Phương Pháp Đốt Lửa Đúng Hay Sai?

    --- Bài mới hơn ---

  • 6 Mẹo Cách Phân Biệt Giữa Da Thật Và Da Giả.
  • Làm Thế Nào Để Phân Biệt Da Thật, Da Giả?
  • Cách Phân Biệt Giày Da Thật Và Da Giả
  • 6 Cách Phân Biệt Da Thật Và Da Giả
  • 5 Cách Phân Biệt Da Thật Da Giả
  • Thực tế hiện nay, có rất nhiều khách hàng vẫn tin rằng cách nhận biết da bò thật giả bằng cách đốt thử sản phẩm, hơ lửa qua da bò, nếu là da thật sẽ không bị nhăn, sun lại, nếu đốt ví da bò sẽ có mùi khét của hợp chất hữu cơ còn da giả sẽ bị vón cục lại. Vì rất rất nhiều người muốn chắc chắc sản phẩm mình mua là da thật 100%. Vậy nên nhiều cửa hàng bán hàng vì lợi nhuận đã tung tin đồn với khách hàng là bên em bao đốt, kiểm tra bằng lửa v..v..

    Điều này vô hình chung làm cho tâm trí người mua bị tiêm nhiễm tư tưởng ý thức rằng da thật đốt sẽ không cháy, nhưng liệu rằng đây có phải là sự thật?

    Điều này vô hình chung làm cho tâm trí người mua bị tiêm nhiễm tư tưởng ý thức rằng da thật đốt sẽ không cháy.

    1. Hiểu đúng về cách đốt da bò để kiểm tra thật – giả

    Như chúng ta đã biết, lửa là loại năng lượng mạnh mẽ. Bất cứ thứ gì cũng có thể bị lửa đốt cho dù là sắt thép, kim cương..v..v. Da thật cũng vậy. Điểm khác ở đây, da thật không bùng cháy thành ngọn lửa như da giả. Tuy nhiên, khi bị đốt, da thật sẽ bị co rút và ám màu tro. Vậy nên, dùng lửa để phân biệt da thật là PHƯƠNG PHÁP SAI VÀ KHÔNG NÊN DÙNG.

    Như vậy lửa có thể đốt cháy mọi thứ kể cả da thật và giả da, vấn đề ở đây là khi cháy sẽ ra cái gì đây là một thắc mắc lớn.

    Đối với giả da: giả da khi cháy sẽ nổi bọt, dễ tan chảy thành chất lỏng (vì có thành phần nhựa), tỏa ra mùi khét của nhựa như mùi đốt túi nylon.

    Đối với da thật: da thật cháy sẽ ra muộn than, có mùi khét của hợp chất hữu cơ giống mùi tóc lông bị cháy.

    Không phải chỉ có cách đốt mới nhận biết da bò thật, còn rất nhiều cách nhận biết khác có thể nhận biết bằng mắt thường như: Da thật khi nhìn bằng mắt sẽ thấy bề mặt hơi thô ráp, có các đường vân rất rõ và tự nhiên hoặc có những vết lồi lõm…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Danh Từ Đếm Được Và Không Đếm Được Trong Học Tiếng Anh
  • Mỡ Bôi Trơn Chịu Nhiệt Cực Áp Grease Ep No.3 Quân Diệu
  • Dầu Mỡ Bôi Trơn Máy Móc
  • Dầu Mỡ Bôi Trơn Cho Máy Móc Công Nghiệp
  • Cách Nhận Biết Phân Biệt Mỡ Trăn Thật Hay Giả Khi Mua
  • So Sánh Phương Pháp Tiếp Cận Hình Thái Kinh Tế – Xã Hội Của C. Mác Với Phương Pháp Tiếp Cận “Các Nền Văn Minh” Của Một Số Học Giả Phương Tây Hiện Nay? – Sách Điện Tử Triết Học Mác – Lênin

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Văn Học So Sánh
  • Các Trường Phái Văn Học So Sánh
  • So Sánh Tĩnh Là Gì? Giả Định Ceteris Paribus Trong Mô Hình
  • Áp Dụng Phương Pháp So Sánh Điểm Tương Đồng Trong Phân Tích Chính Sách Công
  • Bài Học: Phương Pháp Thuyết Minh
  • Do nhiều nguyên nhân nên các quan điểm triết học trước C. Mác đều giải thích một cách duy tâm quá trình vận động, phát triển của lịch sử xã hội. Bằng phương pháp tiếp cận hình thái kinh tế – xã hội, c. Mác đã thực hiện cuộc cách mạng trong toàn bộ các quan niệm về lịch sử xã hội.

    1. Mác đưa ra phạm trù hình thái kinh tế – xã hội bằng cách phân tích tất cả các quan hệ giữa người với người trong đời sống xã hội. Điểm xuất phát để C. Mác nghiên cứu lịch sử xã hội là từ nền tảng vật chất của xã hội, đó là phương thức sản xuất vật chất. Trong hệ thống các quan hệ xã hội đa dạng, phong phú và phức tạp, ông làm nổi bật lên các mối quan hệ giữa người với người trong sản xuất vật chất. Đó chính là quan hệ kinh tế – vật chất của xã hội và chỉ rõ đây là mối quan hệ cơ bản, đầu tiên, quyết định tất cả các mối quan hệ xã hội khác. Trên cơ sở các quan hệ sản xuất – cơ sở hạ tầng của xã hội, đã hình thành nên kiến trúc thượng tầng của xã hội. Đó là các mối quan hệ xã hội về tinh thần như: chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật… cùng với các thiết chế tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các tổ chức chính trị xã hội… Hình thái kinh tế – xã hội là một phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, dùng để chỉ xã hội ở từng nấc thang lịch sử nhất định với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiểu kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy. Phương pháp tiếp cận hình thái kinh tế – xã hội của c. Mác là khoa học trong quan niệm về lịch sử xã hội.

    Với tham vọng thay thế phương pháp tiếp cận hình thái kinh tế – xã hội của c. Mác, một số học giả phương Tây hiện nay đã đưa ra phương pháp tiếp cận theo các nền văn minh. Các học giả này cho rằng, lịch sử loài người tiến triển theo 3 nền văn minh từ thấp đến cao đó là văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp và văn minh trí tuệ.

    Phương pháp tiếp cận theo các nền văn minh có đóng góp nhất định về mặt khoa học ở chỗ xuất phát từ lực lượng sản xuất, từ sự phát triển của công cụ lao động để xem xét sự phát triển xã hội. Lực lượng sản xuất trong xã hội hiện đại là lực lượng sản xuất được tin học hóa, biểu hiện của nền văn minh trí tuệ. Điểm xuất phát trong xem xét lịch sử xã hội này là quan điểm duy vật, trùng với c. Mác, phù hợp với xã hội hiện đại. Song, quan điểm này khác với phương pháp tiếp cận hình thái kinh tế – xã hội của c. Mác. Cách tiếp cận này đã tuyệt đối hóa vai trò của yếu tố kinh tế – kỹ thuật (công cụ sản xuất) mà bỏ qua vai trò của quan hệ sản xuất, quan hệ giai cấp, chế độ chính trị… về thực chất, lý thuyết “các nền văn minh” đã giải thích một cách phiến diện quá trình vận động, phát triển của lịch sử – xã hội, không chỉ ra được nguồn gốc, động lực của sự phát triển xã hội; coi nhẹ các yếu tố chính trị – xã hội, lảng tránh vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, làm lu mờ ranh giới giữa các chế độ xã hội. Phương pháp tiếp cận theo các nền văn minh là phiến diện, siêu hình, tuyệt đối hóa một yếu tố mà bỏ qua tính hệ thông, tính chỉnh thể của cơ thể xã hội. Vì thế, nó không thể giải thích đúng quá trình vận động, phát triển của lịch sử – xã hội và không thể thay thế được phương pháp tiếp cận hình thái kinh tế – xã hội của c. Mác.

    Nghiên cứu sự khác nhau giữa phương pháp tiếp cận hình thái kinh tế – xã hội với phương pháp tiếp cận xã hội bằng sự thay thế các nền văn minh của một số học giả phương Tây hiện nay là cơ sở để nhận thức đúng đắn bản chất cách mạng, khoa học của phương pháp tiếp cận hình thái kinh tế – xã hội, cũng như học thuyết hình thái kinh tế – xã hội của C. Mác; đồng thời có được cơ sở khoa học vững chắc để đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái về vấn đề này.

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Thực Vật, Phương Pháp Giải Phẫu, Phương Pháp Hình Thái
  • Chuyên Đề: Định Giá Bất Động Sản – Thẩm Định Giá Việt Tín
  • Chuyên Đề Bồi Dưỡng Giáo Viên Chuyên Thpt: Liên Kết Hóa Học
  • Bài Tập Chương 3: Liên Kết Hoá Học
  • Bài Tập Lớn Vận Dụng Thuyết Cấu Tạo Hoá Học Để Giải Một Số Bài Tập Định…
  • Tư Tưởng Biện Chứng Của Hegel Và Sự Kế Thừa Của Triết Học Marx

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác
  • Tìm Hiểu Thực Chất Và Ý Nghĩa Của Tư Tưởng Triết Học Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Triết Học Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Phép Biện Chứng Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Phương Pháp Biện Chứng Và Các Phương Pháp Nhận Thức Đặc Thù Khoa Học Chung
  • Nghiên cứu lịch sử triết học trước Marx, chúng ta biết rằng triết học cổ điển Đức (từ cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX) là một trong những nền triết học phát triển cao, ảnh hưởng lớn tới triết học hiện đại, đặc biệt là triết học Marx. Và nói đến triết học cổ điển Đức, không thể không nói đến Hegel, nhà triết học lỗi lạc được xem đại diện tiêu biểu, xuất sắc nhất của triết học cổ điển Đức.

    Engels đã nhận xét Hegel như sau: “Ông không chỉ là một thiên tài sáng tạo mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa, nên trong mọi lĩnh vực ông xuất hiện như một người vạch thời đại” thì cho rằng: “Dù yêu hay ghét Hegel, thật khó mà không biết đến ông, bởi tầm quan trọng lịch sử khổng lồ của đại triết gia này. Hầu hết mọi hình thức của triết học hiện đại đều chịu ảnh hưởng của ông hoặc là phản ứng chống lại ông. Điều đó không chỉ đúng cho chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa hiện sinh, mà cả cho Lý luận-phê phán, thông diễn học và triết học phân tích. Hegel vẫn đang là đường phân thủy của triết học hiện đại… Triết gia hiện đại muốn biết gốc rễ của mình, sớm hay muộn cũng phải trở lại với Hegel”. Điều đó cho thấy tầm quan trọng, sự ảnh hưởng và sức hút lớn của triết học Hegel.

    Triết học Hegel là một hệ thống đồ sộ, bao gồm nhiều lĩnh vực nhưng thành tựu to lớn nhất của triết học Hegel chính là phép biện chứng. Phép biện chứng của Hegel được trình bày chủ yếu trong ba tập Bách khoa thư các khoa học triết học, trong đó Bách khoa thư các khoa học triết học I – Khoa học Logic trình bày học thuyết về tồn tại, Bách khoa thư các khoa học triết học II – Khoa học Logic trình bày học thuyết về bản chất và Bách khoa thư các khoa học triết học III – Khoa học Logic trình bày học thuyết về khái niệm. Tư tưởng biện chứng của Hegel đã có ảnh hưởng sâu sắc đến triết học Marx, trở thành một trong những tiền đề lý luận chủ yếu để hình thành nên triết học Marx.

    Bắt nguồn từ sức hút của một triết gia lớn như Hegel và sự ảnh hưởng sâu sắc của phép biện chứng trong triết học Hegel đối với triết học Marx, tác giả cho rằng cần thiết phải nghiên cứu: “Tư tưởng biện chứng trong học thuyết về tồn tại của Hegel và sự kế thừa của triết học Marx”.

    CHƯƠNG 1Bất kỳ quan điểm, học thuyết của nhà tư tưởng, triết gia nào cũng đều chịu ảnh hưởng nhất định của bối cảnh lịch sử trong thời đại của họ. Do đó, để hiểu rõ hơn tư tưởng của họ, cần tìm hiểu, nghiên cứu bối cảnh lịch sử hình thành nên tư tưởng đó. Đối với Hegel, triết học của ông được hình thành và chịu ảnh hưởng của bối cảnh lịch sử nước Đức trong giai đoạn cuối thế kỷ XVIII – giữa thế kỷ XIX. Bên cạnh đó, bối cảnh gia đình và tiểu sử cá nhân cũng là một trong những nét đặc thù gắn với mỗi nhà tư tưởng, triết gia. Do đó, chương này cũng đề cập sơ lược về gia đình và tiểu sử của Hegel. 1.1. Bối cảnh lịch sử nước Đức cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX

    BỐI CẢNH LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TRIẾT HỌC HEGEL

    Đây là đặc điểm thời đại hình thành và chi phối nền triết học cổ điển Đức nói chung và triết học Hegel nói riêng.

    Nước Đức thời kỳ này vẫn là một quốc gia phong kiến cát cứ điển hình với chế độ chuyên chế nhà nước Phổ. Đây là thời kỳ nhà nước Phổ có sự suy yếu, lạc hậu về kinh tế và chính trị.

    Nước Đức nửa đầu thế kỷ XIX chứng kiến cuộc đấu tranh dai dẳng giữa những người theo chủ nghĩa tự do muốn một có liên bang Đức thống nhất dưới một Hiến pháp dân chủ, và những người theo chủ nghĩa bảo thủ, muốn duy trì nước Đức như là một tập hợp chắp vá bởi các tiểu quốc quân chủ độc lập, với Phổ và Áo tranh giành ảnh hưởng. Triều đình vua Phổ Friedrich Wilhelm vẫn tăng cường quyền lực duy trì chế độ quân chủ, cản trở đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa.

    1.2. Bối cảnh gia đình và tiểu sử của Hegel.

    Georg Wilhelm Friedrich Hegel sinh ngày 27/8/1770 tại Stuttgart, thuộc lãnh địa Württemberg, miền tây nam nước Đức.

    Ông sinh ra trong một gia đình công chức và theo đạo Tin lành. Cha ông, Georg Ludwig, là công chức của quận công Württemberg – Carl Eugen. Mẹ ông, Maria Magdalena Louisa, là con gái của một luật sư Tòa tối cao ở Württemberg. Hegel có một em gái tên Christiane Luise (1773-1832) và một em trai tên Georg Ludwig (1776-1812).

    Mẹ của Hegel mất vào năm ông được 13 tuổi. Nhưng ngay từ nhỏ, ông đã sớm được mẹ mình dạy học tiếng Latin. Vào năm 03 tuổi, ông đi học tại trường Đức (“German School”) và 05 tuổi, học trường Latin (“Latin school”).

    Năm 1776, ông theo học trung học tại trường Stuttgart.

    Năm 1788, được cha khuyến khích trở thành giáo sĩ, Hegel theo học tại trường dòng Tin Lành thuộc Đại học Tübinger. Tại đây, ông kết bạn với nhà thơ Friedrich Hölderlin và Friedrich Wilhelm Joseph Schelling – một trong những triết gia nổi tiếng cùng thời với ông sau này. Cả ba đã có nhiều chia sẻ lẫn nhau và chịu ảnh hưởng tư tưởng của nhau.

    Từ 1793, sau khi tốt nghiệp trường Tübinger, Hegel quyết định không trở thành mục sư mà đi dạy tư tại Bern (Thụy Điển).

    Năm 1797, theo đề nghi của Hölderlin, ông dạy tư cho một gia đình thương gia rượu vang tại Frankurt. Tại đây, Hölderlin đã có những ảnh hưởng về tư tưởng đối với Hegel. Trong giai đoạn này, ông nhiều cứu và bài viết về tôn giáo.

    Năm 1799, cha ông qua đời. Được thừa kế di sản từ người cha, ông từ bỏ việc dạy tư.

    Năm 1801, với sự khuyến khích của người bạn cũ Schelling, bấy giờ đã là Giáo sư tại trường Đại học Jena, Hegel đến Jena và làm việc với tư cách một giảng viên, sau đó trở thành Giáo sư. Tại đây, ông đã hoàn thành quyển sách đầu tiên: “Sự khác biệt giữa hệ thống triết học của Scheeling và Fichte”. Hegel cũng tham gia giảng dạy chung với Schelling về triết học. Năm 1802, Hegel còn cùng với Scheeling sáng lập một tạp chí Triết học tên Kritische Journal der Philosophie (“Critical Journal of Philosophy”, tạm dịch: Tạp chí Triết học chính yếu). Tạp chí này tồn tại đến năm 1803 khi Schelling đến Würzburg.

    Năm 1806, Pháp chiếm đóng thành phố Jena. Tháng 03/1807, Hegel đến Bamberg và làm Biên tập cho tờ báo Bamberger Zeitung.

    Năm 1807, Hegel đã hoàn thành một trong những tác phẩm quan trọng nhất của ông – Hiện tượng học về tinh thần (“Phenomenology of Spirit”).

    Tháng 11/1808, Hegel làm Hiệu trưởng một trường dòng ở Nuremberg trong tám năm (đến 1816). Tại đây, ông đã đưa tác phẩm Hiện tượng học về tinh thần vào giảng dạy. Trong thời gian này, ông xuất bản tác phẩm chính yếu thứ hai của ông: Khoa học về Logic (Wissenschaft der Logik), bao gồm 3 tập, xuất bản vào các năm 1812, 1813, 1816.

    Năm 1811, ông kết hôn với Marie Helena Susanna von Tucher (1791-1855) năm 1811 và có hai người con trai, Karl Friedrich Wilhelm (1813-1901) và Immanuel Thomas Christian (1814-1891). (Ngoài ra, ông còn có một con trai riêng với Christiana Burkhardt trong thời gian ông sống ở Jena, tên là Georg Ludwig Friedrich Fischer (1807-1831). Khi 10 tuổi, năm 1817, cũng về sống chung với gia đình Hegel ở Heidelberg)

    Năm 1816, Hegel đến Đại học Heidelberg. Ngay sau đó, năm 1817, ông cho xuất bản Đại cương Bách khoa thư về khoa học triết học (The Encyclopedia of the Philosophical Sciences in Outline) dưới hình thức tóm lược triết học của ông để giảng dạy tại Heidelberg.

    Năm 1818, Hegel đến dạy tại Đại học Berlin và đến đây làm Chủ tịch Triết học (bỏ trống từ sau khi Fichte qua đời năm 1814). Năm 1821, ông cho xuất bản tác phẩm Triết học pháp quyền (1821). Ông gắn bó ở đây đến cuối đời và tập trung giảng dạy về mỹ học, lịch sử triết học, triết học tôn giáo, triết học lịch sử.

    Hegel bệnh mất vào ngày 14/11/1831. Ông được chôn cất ở nghĩa trang Dorotheenstadt, bên cạnh Fichte và Solger.

    Tổng kết chương 1:CHƯƠNG 22.1. Khái quát về biện chứng từ triết học cổ đại đến triết học cổ điển Đức

    TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG HỌC THUYẾT VỀ TỒN TẠI CỦA HEGEL VÀ SỰ KẾ THỪA CỦA TRIẾT HỌC MARX Qua chương này, chúng ta đã hiểu được bối cảnh xuất thân của Hegel và bối cảnh lịch sử nước Đức lúc bấy giờ. Với xuất thân từ một gia đình ngoan đạo, từng theo học trường dòng, tám năm làm hiệu trường trường dòng, Hegel ít nhiều chịu ảnh hưởng duy tâm từ sự thần bí của các quan niệm tôn giáo. Đồng thời, bối cảnh lịch sử – xã hội của đất nước cũng ảnh hưởng chung đến nền triết học cổ điển Đức, trong đó có Hegel, làm cho triết học thời kỳ này có nọi dung cách mạng dưới hình thức duy tâm, bảo thủ.

    Sau khi Hegel qua đời, các ghi chú giảng bài của ông và các ghi chú bổ sung của sinh viên được xuất bản: Mỹ học (1835 – 1838), Những bài giảng về lịch sử triết học (1833 – 1836), Những bài giảng về triết học tôn giáo (1832), Những bài giảng về triết học lịch sử (1837).

    Ngoài ảnh hưởng mạnh mẽ tư tưởng Hy Lạp (Parmenides), Hegel còn đọc các tác phẩm của triết gia Hà Lan Baruch Spinoza, văn hào Pháp Jean Jacques Reussau và các triết gia Đức Immanuel Kant, Johan Gottlieb Fichte, Schelling. Dù ông thường xuyên bất đồng với những triết gia này nhưng ảnh hưởng của họ trong các tác phẩm của ông là rất rõ ràng.

    “Biện chứng” có gốc từ tiếng Hy Lạp là “dialektica” (với nghĩa là nghệ thuật đàm thoại, tranh luận). Theo nghĩa này, biện chứng là nghệ thuật tranh luận nhằm tìm ra chân lý bằng cách phát hiện các mâu thuẫn trong lập luận của đối phương và nghệ thuật bảo vệ những lập luận của mình. Trong triết học Marx, “biện chứng” được dùng đối lập với “siêu hình”, đó là lý luận đồng thời là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc lẫn nhau và trong quá trình vận động, phát triển không ngừng.

    Phép biện chứng xuất hiện từ thời cổ đại và từ đó đến nay, lịch sử phát triển của nó đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, gắn với sự phát triển của khoa học và thực tiễn.

    Thời cổ đại, phép biện chứng mang nặng tính mộc mạc, chất phác. Cả triết học Phương Đông và Phương Tây cổ đại đều chứa đựng tư tưởng về biện chứng. Trong triết học Phương Đông cổ đại, quan niệm về nhân duyên, vô ngã, vô thường của Đạo Phật chứa đựng những tư tưởng biện chứng khá sâu sắc. Trong thuyết Âm – Dương, Âm và Dương tồn tại trong mối liên hệ quy định lẫn nhau tạo ra sự thống nhất giữa cái bất biến và cái biến đổi; giữa cái duy nhất và cái số nhiều, đa dạng, phong phú. Trong thuyết ngũ hành, năm yếu tố Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ tồn tại trong mối liên hệ tương sinh, tương khắc với nhau. Các yếu tố đó tác động, chuyển hóa lẫn nhau, rằng buộc, quy định lẫn nhau, tạo ra sự biến đổi trong vạn vật. Lão Tử (khoảng thế kỷ VI. TCN) cho rằng vạn vật bị chi phối bởi hai quy luật phổ biến là quân bình và phản phục. Luật quân bình luôn giữ cho sự vận động của vạn vật được cân bằng theo một trật tự điều hòa trong tự nhiên, không có gì thái hóa, không có gì bất cập. Luật phản phục là khi sự vật phát triển đến cực điểm thì chuyển quay trở lại theo phương hướng cũ. Trong Đạo đức kinh, còn có những tư tưởng biện chứng trực quan như bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng đều là thể thống nhất của hai mặt đối lập vừa xung khắc với nhau, vừa nương tựa vào nhau, vừa bao hàm lẫn nhau,v.v..

    2.2. Tư tưởng biện chứng của Hegel trong học thuyết về tồn tại

    Triết học Tây Âu thời kỳ Trung cổ (thế kỷ V – XV), với sự hình thành và phát triển của phương thức sản xuất phong kiến, triết học và khoa học thời kỳ này là một bước lùi so với thiờ kỳ cổ đại. Thời kỳ này, triết học gắn liền với tôn giáo (Cơ đốc giáo) và chủ nghĩa kinh viện, tư tưởng về biện chứng không được phát triển.

    Triết học Tây Âu thời Phục hưng (thế kỷ XV – XVI) và Cận đại (thế kỷ XVII – XVIII), gắn liền với sự hình thành và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, triết học có điều kiện phát triển. Tuy nhiên, triết học thời kỳ này (cận đại) gắn với phương thức tư duy siêu hình của khoa học tự nhiên, tư tưởng biện chứng không được phát triển.

    Bước sang cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, với bối cảnh lịch sử đặc thù của nước Đức, với sự phát triển của triết học cổ điển Đức, tư tưởng biện chứng từ thời cổ đại mới được “sống lại” và phát triển trong một hình thái mới. Phép biện chứng được xem là thành tựu lớn nhất của triết học cổ điển Đức.

    Kant được xem là người sáng lập phép biện chứng cổ điển Đức. Trong triết học Kant, tư tưởng biện chứng cơ bản là tư tưởng về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, theo đó, sự thống nhất và thâm nhập lẫn nhau giữa các mặt đối lập là động lực của sự vận động và phát triển. Động lực đó có trước vật chất và tách rời vật chất. Trong triết học Fichte, tư tưởng biện chứng cơ bản là tư tưởng về mâu thuẫn và nguồn gốc của sự phát triển. Mâu thuẫn và phát triển chỉ tồn tại trong ý thức, thể hiện trong sự vận động tiến bộ của tư duy trong quá trình nhận thức. Trong triết học Schelling, tư tưởng biện chứng cơ bản là tư tưởng về mối liên hệ phổ biến, sự thống nhất và sự phát triển, tư tưởng về sự thống nhất biện chứng của tự nhiên, sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong tự nhiên.

    Theo Hegel, biện chứng là sự tự thủ tiêu của chính những quy định hữu hạn và là sự chuyển hóa của chúng sang những cái đối lập của chúng. Hegel cho rằng: “Trong tính quy định riêng có của nó, phép biện chứng thực ra là bản tính riêng, đúng thật của những quy định của giác tính thoạt đầu là sự vượt ra khỏi tính quy định bị cô lập và là một sự đặt quan hệ của tính quy định này, qua đó nó được thiết định vào trong mối quan hệ nội tại, trong đó tính phiến diện và tính bị hạn chế của những quy định của giác tính tự phô bày đúng như nó trong sự thật, nghĩa là, như là sự phủ định của chúng nội tại và sự tất yếu mới đi vào trong nội dung của Khoa học, cũng như chỉ trong đó mới tìm thấy được việc nâng lên khỏi cái hữu hạn một cách đúng thật, chứ không phải hiện thực. Cũng thế, cái biện chứng cũng là linh hồn của mọi nhận thức khoa học đích thực”. . Trong phạm vi nghiên cứu của tiểu luận, tác giả tìm hiểu, trình bày về những tư tưởng biện chứng trong học thuyết về tồn tại của Hegel.

    Học thuyết tồn tại của Hegel được trình bày trong tác phẩm Bách khoa thư các khoa học triết học I – Khoa học Logic, được Hegel cho xuất bản lần đầu tiên vào năm 1817, lần thứu hai vào năm 1827 và lần thứ ba vào năm 1830. Học thuyết về tồn tại của Hegel bàn về tư tưởng trong sự trực tiếp của nó. Tồn tại là cái vỏ bên ngoài, trực tiếp, nông nhất mà con người có thể cảm giác và được cụ thể hóa trong các phạm trù chất, lượng và hạn độ.

    Theo Hegel, tồn tại là “cái bắt đầu”, là “cái trực tiếp đơn giản, vô quy định”, là “tư tưởng thuần túy”. Hegel cho rằng: ” khi bắt đầu tư duy, ta không có gì ngoài tư tưởng trong tính thuần túy không được quy định của nó, bởi để quy định, cần có một cái này và một cái khác, nhưng trong sự bắt đầu, ta chưa có cái khác nào cả. Cái không được quy định mà ta có ở đây là cái trực tiếp, không phải là một tính không được quy định được trung giới, cũng không phải là việc vượt bỏ mọi tính quy định mà là sự trực tiếp của tính không được quy định, là tính không được quy định trước mọi tính quy định, là cái không có quy định vì như là cái đầu tiên nhất. Những đó là cái ta gọi là “tồn tại”.

    Hegel cũng cho rằng tồn tại thuần túy là sự trừu tượng thuần túy, và do đó, là cái phủ định tuyệt đối, là “hư vô”. Tồn tại chỉ là cái hoàn toàn không có quy định và hư vô cũng là cùng một tính không có quy định như thế. Hư vô và tồn tại thống nhất với nhau, sự thống nhất đó là “sự trở thành”. Khi đó, tồn tại và hư vô thống nhất với nhau, tồn tại và hư vô cũng như là tan biến đi do sự mâu thuẫn của nó, sự trở thành sụp đổ ở bên trong chính mình vào một sự thống nhất mới, trong đó cả hai đều bị vượt bỏ; kết quả là xuất hiện “tồn tại hiện có” (“tồn tại được quy định”, chứ không phải là “tồn tại thuần túy” ban đầu nữa). Tồn tại hiện có là sự thống nhất hay nhất thể của tồn tại và hư vô, trong đó tính trực tiếp của các quy định này và cùng với nó, sự mâu thuẫn của chúng, đã tiêu biến trong mối quan hệ của chúng.

    Về chất, chất là tính quy định đồng nhất, trực tiếp với tồn tại: “Tồn tại hiện có là tồn tại với một tính quy định; tính quy định này như là tính quy định trực tiếp hay tính quy định tồn tại đơn thuần: đấy là Chất. Như là cái gì phản tư vào trong chính mình ở trong tính quy định này của nó, tồn tại hiện có là cái gì có đó hay là cái gì đó”, “nền triết học mới của Đức đã đạt tới đỉnh cao của nó trong hệ thống của Hê-ghen, trong đó lần đầu tiên và đây là công lao to lớn của ông – toàn bộ thế giới tự nhiên, lịch sử và tinh thần được trình bày, như là một Quá trình, nghĩa là luôn luôn vận động, biến đổi, biến hóa và phát triển, và ông đã cố vạch ra mối liên hệ nội tại của sự vận động và phát triển ấy” Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học (dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), 2006, Nxb. Lý luận chính trị, tr. 315.

    G.W.F.Hegel, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, Bách khoa thư các khoa học triết học I- Khoa học Lôgíc, Nxb. Tri thức, 2008, tr. 2

    Phản tư có thể hiểu đơn giản là “tự phủ định”. Hàn lâm hơn, có thể hiểu “phản tư là sự trở về bản thân nó của tư duy, sự phản ánh, sự khảo sát hành vi nhận thức. Phản tư mang nội dung khác nhau trong các hệ thống triết học khác nhau. Theo J. Locke, nhận thức gồm hai mặt: 1) Những cảm giác do sự vật bên ngoài tác động vào giác quan của chúng ta. 2) Sự quan sát cách hoạt động của tâm linh chúng ta. Tri giác “hoạt động nội bộ của tâm linh chúng ta” được Locke gọi là phản tư, tức là một thứ nhận thức độc lập, tồn tại bên cạnh và không phụ thuộc vào kinh nghiệm cảm tính, đó là sự nhượng bộ trước chủ nghĩa duy tâm. Với G. W. Leibniz, phản tư là sự quan tâm đến cái đang diễn ra bên trong chúng ta. Với D. Hume, các ý niệm là sự phản tư đối với các ấn tượng thu được ở bên ngoài. Với F. Hegel, phản tư là sự nhận thức gián tiếp, sự phản ánh lẫn nhau cái này trong cái kia, chẳng hạn như trong học thuyết về bản chất, mối quan hệ tương hỗ của cả cặp phạm trù sóng đôi (bản chất và hiện tượng) đã được ghi lại, chốt lại; mỗi phạm trù trong cặp đều được phản tư, phản ánh, lộ rõ trong phạm trù kia. (Theo http://daitudien.net/triet-hoc/triet-hoc-ve-phan-tu.html)

    Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học (dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), 2006, Nxb. Lý luận chính trị, tr. 316 – 317.

    G.W.F.Hegel, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, Bách khoa thư các khoa học triết học I- Khoa học Lôgíc, Nxb. Tri thức, 2008, tr. 203.

    Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học (dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), 2006, Nxb. Lý luận chính trị, tr. 219.

    Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học (dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), 2006, Nxb. Lý luận chính trị, tr. 129 – 130.

    C.Mác và Ph. Ăgghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 397, dẫn theo Hà Thiên Sơn, Lịch sử triết học, Nxb. Trẻ, 2004, tr. 265.

    [2] Giáo sư triết học tại Đại học Syracuse, một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về chủ nghĩa duy tâm của Đức, chủ biên The Cambridge Companion to Hegel (Theo http://en.wikipedia.org/wiki/Frederick_C._Beiser).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tính Nguyên Tắc Xác Định Tỉ Giá Ngân Hàng Theo Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền
  • Công Thức Tính Bình Quân Gia Quyền Trong Kế Toán
  • Về Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền
  • Tính Giá Xuất Kho Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền
  • Tham Luan_Sử Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Giảng Dạy Bài 36, Địa Lí 10