Top 2 # Xem Nhiều Nhất Phương Pháp Cấy Chỉ Cho Trẻ Tự Kỷ Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Điều Trị Tự Kỷ Bằng Phương Pháp Cấy Chỉ

Cấy chỉ là một phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc, đặc biệt và độc đáo của châm cứu Việt Nam, bao gồm chôn chỉ, vùi chỉ, xuyên chỉ, thắt buộc chỉ.

Đây là một phương pháp châm cứu mới, hiện đại áp dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật trên cơ sở kế thừa những lý luận và kinh nghiệm của châm cứu.

Từ nhiều năm qua, phương pháp cấy chỉ đã được thực hiện tại một số bệnh viện Y học cổ truyền, đặc biệt là tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương. Hơn 30 năm qua, Bệnh viện Châm cứu Trung ương đã thực hiện cấy chỉ cho nhiều thể loại bệnh khác nhau thu được kết quả đáng khích lệ, phương pháp cấy chỉ đã dần khẳng định giá trị đích thực. Đó chính là phương pháp điều trị đặc biệt của châm cứu, phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc. Mới đây, tại Viện Y dược học dân tộc TP. HCM đã được nhận chuyển giao kỹ thuật cấy chỉ từ Bệnh viện Châm cứu Trung ương.

Ông Huỳnh Nguyễn Lộc, Phó Viện trưởng điều hành Viện Y Dược học dân tộc chúng tôi cho biết, Viện là đơn vị đầu tiên ở khu vực phía Nam được chính thức chuyển giao kỹ thuật. Việc này góp phần tiếp cận và thực hiện chuyển giao đối với các kỹ thuật từ bệnh viện tuyến trên nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh phục vụ bệnh nhân, đồng thời trang bị kiến thức và kỹ năng thực hành về kỹ thuật cấy chỉ trong điều trị một số bệnh lý mãn tính cho các cán bộ, viên chức tại viện.

Trong thời gian qua, rất nhiều bệnh mãn tính đã được điều trị khỏi bằng phương pháp cấy chỉ. Các dạng bệnh điều trị bằng kỹ thuật cấy chỉ gồm: chứng liệt, viêm mũi dị ứng, hen phế quản, bại não trẻ em và chứng tự kỷ. TS. Phạm Hồng Vân, Bệnh viện Châm cứu Trung ương, cho biết: “Với chứng tự kỷ, châm cứu rất hiệu quả trong việc tăng độ tập trung chú ý của trẻ, tăng độ hiểu lời của trẻ. Cấy chỉ có tác dụng trong 15 – 20 ngày, trong điều trị chứng tự kỷ còn phối hợp với nhiều phương pháp khác như ngôn ngữ trị liệu, phục hồi chức năng”.

Phương pháp này hiện nay được ứng dụng phổ biến để điều trị các chứng liệt do tai biến gây ra. Rất nhiều bệnh nhân đang điều trị vật lý trị liệu các chứng liệt do tai biến được đội ngũ y bác sĩ tại viện bắt đầu dùng phương pháp cấy chỉ điều trị. Có mặt trong ngày điều trị đầu tiên từ rất sớm, người nhà bệnh nhân Phan Gia Huy (74 tuổi, ngụ tại quận 5) tỏ ra vui mừng, phương pháp điều trị này sẽ bổ trợ rất nhiều cho ông. Vì khi bị liệt do di chứng của tai biến, ông Huy hay cáu gắt, nóng tính, tay chân bị liệt nên di chuyển khó khăn. Dù không nói được nhưng khi nghe bác sĩ và người nhà giải thích hiệu quả của phương pháp này. Ông Huy đã gật đầu nhanh đồng ý điều trị. Ông Ngọc (ngụ tại Thủ Đức) – một bệnh nhân đang điều trị tại viện gần 3 tháng nay xúc động nói: “Không phải ai cũng may mắn được dùng phương pháp này, vì lúc trước nghe đâu phải ra tới Hà Nội điều trị. Nghe bác sĩ bảo mình được chữa bằng cấy chỉ miễn phí thì thấy tinh thần phấn chấn hẳn. Người nhà tôi nghe cũng mừng lắm. Nghĩ đến cái chân mình nhanh phục hồi thôi là tôi vui rồi ”.

Được biết, trong thời gian từ ngày 8/6/2015 đến 14/6/2015, bệnh nhân thuộc các bệnh đã kể trên có thể đăng ký theo số điện thoại: 08.38445103 – 0964392632 để được điều trị miễn phí tại viện ( địa chỉ: 273-275 Nguyễn Văn Trỗi, phường 10, quận Phú Nhuận, TP.HCM).

Bằng phương pháp đưa chỉ catgut vào huyệt châm cứu của hệ kinh lạc để duy trì sự kích thích lâu dài, qua đó tạo tác dụng điều trị như châm cứu. Chỉ catgut cấy vào huyệt vị có tác dụng làm tăng protein, hydratcarbon và tăng chuyển hóa dinh dưỡng của cơ, nhờ có kích thích liên tục ở huyệt vị mà cải thiện tuần hoàn máu cho vùng cấy chỉ hoặc vùng bị liệt của bệnh nhân, tăng trương lực các sợi cơ. Cấy chỉ hiện nay không chỉ có giá trị ở Việt Nam mà còn nổi bật trên trường quốc tế, đặc biệt các nước châu Âu, xứng đáng mang tên “cấy chỉ Việt”.

(Theo Người Tiêu Dùng)

Một Số Phương Pháp Trị Liệu Cho Trẻ Tự Kỷ

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HÀNH VI (Applied Behavior Analysis or ABA)

Vào những nămcuối thập niên 60 và 70, Tiến Sỹ Ole Ivar Lovaas (1927-2010), một chuyên gia tâm lý thuộc trường phái Skinner, là người đầu tiên khởi xướng phương pháp phân tích và trị liệu hành vi (ABA/DTT) cho chứng tự kỷ tại Đại Học UCLA (University of California, Los Angeles).

1) Dạy kỹ năng (teaching skills): Chú trọng đến những kỹ năng cần đạt được của trẻ tự kỷ bằng cách phân chia hay soạn thảo những kỹ năng đó thành nhiều đoạn nhỏ hay bài học ngắn để giảng dạy. Ví dụ, để dạy trẻ tự kỷ về nói và ngôn ngữ, các chuyên viên ABA thường tiến hành những bước sau:

Dạy trẻ ngồi yên, mắt nhìn thẳng.

Dạy trẻ biết phân biệt âm giọng, sử dụng từ ngữ để liên tưởng đến vật thể.

Dạy trẻ biết dùng hình ảnh đúng với vật thể.

Dạy trẻ biết bắt chước những động tác của người lớn.

Dạy trẻ biết nối kết từ ngữ thành những câu đơn giản như “con muốn ăn cơm”.

2) Loại bỏ những hành vi không thích hợp (eliminating interfering behaviors): Mục đích của ABA là loại bỏ những hành vi có tác động tiêu cực, ngăn trở sự học tập, gây khó khăn trong giao tiếp xã hội của trẻ tự kỷ ở nhà trường và ở những môi trường sinh hoạt khác, chẳng hạn trẻ tự kỷ chỉ thích, chơi một mình, không chăm chú, không hợp tác, chống đối, lên cơn, trốn chạy, hay những hành động tự kích (self-stimulated) như thích nhìn đèn điện, xoay vần vật thể, nhún mình v.v…

Trong những buổi học đầu tiên, các chuyên viên ABA ứng dụng phương pháp phân đoạn, lặp đi, lặp lại, đơn giản và rõ ràng(Discrete Trial Training or DTT) bằng cách soạn thảo những câu hỏi cho công việc đòi hỏi trẻ phải thực hiện hay trả lời. Ví dụ, người giảng dạy ra lệnh cho trẻ vừa bằng lời, vừa bằng dấu hiệu (Discriminative Stimulus or SD) như vỗ tay, sờ trán, sờ tai. Nếu trẻ chưa trả lời vì phân vân hay rối trí, người giảng dạy cầm tay trẻ, giúp trẻ thực hiện những động tác nầy. Dần dần, khi trẻ quen với hiệu lịnh và thực hiện được những đòi hỏi đơn giản trên, sự nhắc nhở sẽ giảm đi và sự đòi hỏi khác sẽ được thêm vào như vừa vỗ tay, vừa dậm chân, sờ mũi, trán, tay. Sau mỗi hành động trẻ thực hiện được, chuyên viên hướng dẫn sẽ ngợi khen bằng lời nói hay tưởng thưởng trẻ bằng bánh kẹo hay những gì trẻ thích, cho giải lao trong chốc lát rồi đưa trẻ trở về lại với những động tác đã được huấn luyện. Theo thời gian, sự đòi hỏi hay công việc trẻ phải thực hiện sẽ gia tăng nhiều hơn và thời gian giải lao có thể kéo dài để tránh tình trạng căng thẳng cho trẻ.

Vào năm 1987, Lovaas và đồng sự có viết báo cáo về kết quả nghiên cứu của phương pháp phân tích, ứng dụng trị liệu hành vi, gọi là ABA của 38 trẻ tự kỷ bao gồm các trẻ nhỏ hơn 40 tháng tuổi (3 tuổi 4 tháng) nếu trẻ chưa nói được. Nhỏ hơn 46 tháng (3 tuổi 10 tháng) nếu trẻ nói được, nhưng thường lặp đi, lặp lại như vẹt.

Các em được chia làm 2 nhóm:

Trước khi sự trị liệu bắt đầu, 38 trẻ tự kỷ trong 2 nhóm được đo lường hay trắc nghiệm về khả năng trí tuệ và thích ứng với đời sống (pre-test). 2 năm sau, chương trình trị liệu chấm dứt, 38 trẻ trong 2 nhóm được đo lường hay trắc nghiệm lại (post-test).

Kết quả đạt được : 47% hay 9 trong số 19 trẻ tự kỷ thuộc nhóm được nhiều thời gian trị liệu, có khả năng trí tuệ tiến bộ đến mức bình thường, có thể theo học ở các lớp dành cho trẻ không bị khuyết tật và không cần đến sự can thiệp của chương trình giáo dục đặc biệt ở nhà trường. Ngược lại, chỉ có 1 trong 19 đứa trẻ thuộc nhóm được ít thời gian trị liệu, 10 tiếng một tuần, đạt được khả năng trí tuệ trung bình. Như vậy số lượng 10 tiếng trị liệu trong 1 tuần thật sự không đủ để giúp trẻ tự kỷ tiến bộ đến mức trung bình. Theo Lovaas và đồng sự, trẻ tự kỷ phải cần số lượng 40 tiếng trị liệu trong 1 tuần mới có thể đạt được khả năng trí tuệ của một đứa trẻ bình thường. Nói cách khác, số lượng 40 tiếng 1 tuần, theo nghiên cứu của Lovaas, là điều kiện để trẻ tự kỷ đạt được những mục tiêu sau:

Lồng vào những mục đích trên là sự rèn luyện những kỹ năng, kiến thức căn bản để chuẩn bị vào trường như trao dồi từ vựng, phân biệt hình thể, mầu sắc, số đếm, mẫu tự, cũng như khả năng xử dụng ngôn từ có chủ đích.

Ở giai đoạn đầu của ABA, các chuyên viên ABA thường huấn luyện phụ huynh những căn bản cần thiết để họ giúp đỡ thêm cho trẻ ở gia đình và khuyến khích phụ huynh trở thành những thành viên thuộc nhóm trị liệu. Vào những giai đoạn sau, chương trình trị liệu nhắm vào sự diễn đạt ngôn ngữ có tính trừu tượng, dạy trẻ biết học bằng sự quan sát, bắt chước và biết bày tỏ xúc cảm một cách thích hợp.

Trọng tâm của ABA chính là sự ứng dụng phương pháp giảng dạy được soạn thảo riêng và phân đoạn đơn giản, rõ ràng, có tính lặp đi, lặp lại, gọi là ABA/DTT.

PHƯƠNG PHÁP DISCRETE TRIAL TRAINING ( DTT)

Phương pháp nầy có thể ứng dụng ở nhà , ở trung tâm ở trường , hoặc ở một địa điểm yên tịnh nào đó, tùy vào điều kiện, giờ giấc sinh hoạt của gia đình và nhu cầu của trẻ tự kỷ.

1) Giảng viên phải thu hút sự chú ý của trẻ.

3) Giảng viên phải nhắc nhở nếu trẻ chưa thực hiện đúng với hiệu lịnh. Sự nhắc nhở của giảng viên có thể :

b) bằng sự phụ giúp cử động thân mình, chân tay của trẻ

d) bằng sự di chuyển vật thể gần với vị trí của trẻ.

Sự nhắc nhở sẽ giảm dần và không còn được ứng dụng khi trẻ dần quen và thực hiện những yêu cầu đúng theo hiệu lịnh của chuyên viên.

4) Giảng viên phải tạo cơ hội cho trẻ trả lời hay thực hiện đúng theo hiệu lịnh để gây cho trẻ sự hứng thú và sự tự tin để tiếp tục học tập.

5) Giảng viên chủ động về sự khen thưởng mỗi khi trẻ trả lời hay thực hiện đúng theo hiệu lịnh. Sự khen thưởng thường xuyên sẽ tạo nên sự phấn khởi, thúc đẩy trẻ hợp tác tích cực hơn trong quá trình học tập. Những câu trả lời sai thường được lờ đi, nhưng sẽ được lặp lại nhiều hơn trong những lần giảng dạy kế tiếp cho đến khi trẻ hiểu và trả lời một cách chính xác.

6) Giảng viên thâu thập dữ kiện về số lần trả lời hay thực hiện đúng, sai của trẻ để tổng kết, đo lường mức độ tiến bộ của trẻ về kỹ năng nào đó.

Cũng như nhiều phương pháp trị liệu tự kỷ khác, ABA/DTT có lắm kẻ khen, người chê. Điều nầy chứng tỏ rằng ABA/DTT chưa phải là phương pháp duy nhất, hữu hiệu nhất dành cho trẻ tự kỷ. Có khi sự ứng dụng hay áp đặt quá nhiều giờ ABA/DTT sẽ khiến trẻ xuống sức, mệt mỏi, chán chường, trở nên cáu kỉnh, chống đối bất thường với mọi người chung quanh. Một đứa trẻ bị ép buộc, thúc đẩy học tập ngoài khả năng của mình có thể trở nên hung hăng và tìm cách trốn chạy khỏi lớp học là chuyện rất thường tình. Bị động trong những tình huống đó, phụ huynh chỉ còn cách thay đổi giờ giấc, giảm thiểu giờ học hay tìm một phương pháp trị liệu khác thích hợp hơn cho con em mình.

Thái độ chống đối, bất hợp tác (noncompliance or uncooperative behavior) như lên cơn, nằm vạ thường xảy ra ở giai đoạn đầu, khi trẻ còn xa lạ với ABA/DTT. Trẻ tự kỷ có thể hiểu rằng sự chống đối, bất hợp tác là cách giúp chúng thoát khỏi sự đòi hỏi phải thực hiện một công việc nào đó của giảng viên. Dần dần, không sớm thì muộn, trẻ biết sẽ được khen thưởng nếu hợp tác, thực hiện công việc theo lời hay động tác của giảng viên. Tuy nhiên, nếu sự chống đối, bất hợp tác xảy ra vào những giai đoạn sau thì điều nầy chứng tỏ rằng chương trình giảng dạy cần phải được xem xét lại để có những bổ xung hay cải biến thích hợp hơn. Đó chính là vai trò của những chuyên viên tư vấn hay những chuyên viên có nhiều kinh nghiệm về giáo dục trẻ tự kỷ phải suy nghĩ và tham gia cùng với phụ huynh để soạn thảo những kế hoạch nhằm giải quyết vấn đề nầy.

PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU VỀ NÓI/NGÔN NGỮ

Sự truyền đạt ngôn ngữ là hành vi người ta dùng âm giọng hay tiếng nói để thu hút sự chú ý của người khác. Không phải bất cứ sự truyền đạt ngôn ngữ nào cũng có chủ đích. Một đứa trẻ tự kỷ đứng chơi một mình và nói vào khoảng không một cách lặp đi, lặp lại như “kẹo, kẹo, kẹo, kẹo” là không có chủ đích. Ngược lại, nếu trẻ đó lại gần, nhìn chúng ta và nói, “kẹo, ăn kẹo” thì đó chính là sự truyền đạt ngôn ngữ có chủ đích và lôi cuốn được sự chú ý của chúng ta.

Biết chờ đến lượt mình trong đối thoại,

biết nhìn người đối thoại,

biết không thay đổi hay chuyển đề tài đột ngột,

biết khoảng cách đứng, ngồi đối diện giữa trẻ và người khác một cách thích hợp,

biết nhận hiểu những ý nghĩ và phản ứng của người khác khi nói hay xúc phạm điều gì đó,

biết theo đúng nề nếp căn bản của xã hội.

Phương Pháp Truyền Đạt Ngôn Ngữ Không Dùng Lời (Augmentative and Alternative or ACC)

Tiến Sỹ Matt Tincani, chuyên gia ABA và là giáo sư giảng dạy trong chương trình giáo dục đặc biệt ở Đại Học Temple, Philadelphia, Pennsylvania, gợi ý rằng chừng 50% trẻ tự kỷ không thể dùng lời có chủ đích trong vấn đề truyền đạt ngôn ngữ. Tuy nhiên, bằng sự giảng dạy, ứng dụng phương pháp truyền đạt ngôn ngữ không dùng lời (AAC), trẻ tự kỷ có thể xử dụng ngôn ngữ một cách có ý nghĩa hơn.

Những phương pháp truyền đạt ngôn ngữ không dùng lời :

Mục đích chính của AAC là giúp đỡ trẻ tự kỷ học nói qua hình ảnh, dấu hiệu và trợ cụ, nhất là giúp đỡ trẻ tự kỷ có khó khăn về vận động môi, miệng lưỡi (oral-motor apraxia).

HỆ THỐNG TRAO ĐỔI NGÔN NGỮ BẰNG HÌNH ẢNH (Picture Exchange Communication System or PECS)

Những năm gần đây, hệ thống trao đổi sự truyền đạt ngôn ngữ bằng hình ảnh thay lời nói đã không ngừng cải biến để giúp trẻ tự kỷ phát triển khả năng truyền đạt về ngôn ngữ.

Hệ thống PECS được chủ xướng và phát động bởi Tiến Sỹ Andy Boudy và Lori A. Frost.Những chuyên gia về ngôn ngữ nầy cho rằng trẻ tự kỷ thường có lối suy nghĩ qua hình ảnh và vì vậy, trẻ tự kỷ có khả năng học bằng mắt hơn bằng tai nghe.

Hệ thống truyền đạt ngôn ngữ (PECS) ứng dụng những phương pháp ABA/DTT của Lovaas để dạy trẻ biết trao đổi hình ảnh cho những điều chúng muốn bày tỏ, nhưng không thể dùng lời. Ví dụ, trẻ đưa hình có ly nước cho người lớn với ý thay lời rằng trẻ đang khát nước.

Vài chuyên gia tự kỷ cho rằng PECS chỉ có hiệu quả đối với trẻ tự kỷ chưa biết xử dụng ngôn từ có chủ đích hay khả năng ngôn ngữ đang ở mức độ phát triển chậm, hoặc trẻ chưa thể nói được. Nhiều phụ huynh không muốn con mình học tập theo phương pháp nầy. Họ sợ trẻ sẽ trở nên lười nói, chỉ muốn xử dụng hình ảnh hay nhấn nút để truyền đạt ý muốn. Điều nầy chưa hẳn đúng, bởi vì PESC chỉ là một trong những phương pháp khởi đầu mà thôi.

Hệ thống ứng dụng kỹ thuật dạng thấp là những trợ cụ không thuộc điện tử, như bảng đối thoại bảng thời khóa biểu sách đàm thoại, sách có nhiều hình ảnh về thú vật, thức ăn, trái cây, địa danh, và những vật dụng rẻ tiền có thể tự làm được.

Hệ thống ứng dụng kỹ thuật dạng cao là những trợ cụ điện tử. Bằng những trợ cụ nầy, trẻ tự kỷ có thể bấm nút hay chạm tay vào màn hình để vừa nghe, vừa thấy hình ảnh. Ví dụ, khi trẻ bấm hình có ly sữa, trợ cụ điện tử sẽ có lời phát ra: “Làm ơn, tôi muốn uống sữa. Cảm ơn.”

Ngày nay, IPAD là một trợ cụ cao cấp, rất thông dụng, được nhiều trường học và trung tâm trị liệu tự kỷ xử dụng trong chương trình giảng dạy về nói/ngôn ngữ (AAC program).

Phương Pháp Ứng Dụng Hành Vi Bằng Lời (Verbal Behavior)

Phương pháp nầy là một nhánh tẻ của ABA/DTT do Tiến Sỹ Lovaas đề xướng năm xưa. Ở Hoa Kỳ, vào những năm gần đây, phương pháp nầy trở nên rất thịnh hành. Dựa vào triết thuyết của B.F. Skinner, phương pháp ứng dụng hành vi bằng lời có những trọng điểm như sau:

PHƯƠNG PHÁP CAN THIỆP BẰNG SỰ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ XÃ HỘI (Relationship Developmental Intervention or RDI)

Ở Hoa Kỳ, phương pháp nầy tương đối mới và đang thu hút được nhiều sự chú ý của phụ huynh. Tiến Sỹ Steven Gutstein, một chuyên gia tâm lý và về tự kỷ, đã thành lập và cổ động phương pháp trị liệu nầy ở mạng chúng tôi Tiến Sỹ Gutstein cho rằng kỹ năng giao tiếp xã hội của trẻ tự kỷ thay đổi qua từng giai đoạn, và vì vậy, phụ huynh hay giáo viên phải biết làm gì để giúp đỡ trẻ phát triển về mặt giao tiếp xã hội trong từng giai đoạn đó. Ưu điểm của phương pháp nầy chính là sự thẩm định có thang bậc (scales) cho trẻ tự kỷ để soạn thảo những mục tiêu về mặt giao tiếp xã hội, nhất là đo lường được sự tiến bộ của trẻ trong những phiên bản về chương trình giáo dục cá nhân (IEP) ở nhà trường. Hiện chưa có những nghiên cứu về tính hiệu quả của phương pháp nầy, chỉ biết rằng lý thuyết của Gutstein có thể ứng dụng bên ngoài lớp học bởi các phụ huynh và các chuyên gia đa ngành.

PHƯƠNG PHÁP NGỒI SÀN (FLOORTIME)

Ở Hoa Kỳ, Stanley Greenspan (1941-2010) và Serena Weider, hai chuyên gia về tâm thần học, là những người có công soạn thảo và ứng dụng phương pháp nầy. Mục đích của phương pháp ngồi sàn là tạo nên sự hứng khởi, động lực cho trẻ tự kỷ trong vấn đề trao đổi ngôn ngữ. Thay vì trẻ ngồi xuống ghế học tập theo người lớn qua ABA, phương pháp ngồi sàn đòi hỏi người lớn phải gia nhập cuộc chơi với trẻ trên sàn, gọi là vòng tròn đối thoại (cirles of communication).

Trong sự ứng dụng phương pháp ngồi sàn hay ngồi dưới đất nầy, nếu trẻ hỏi và thực hiện điều gì đó thì người lớn sẽ trả lời và làm theo trẻ trong không khí thỏa mái, cùng nhau chơi đùa rất tự nhiên.

Hiện chưa có những nghiên cứu nào cho thấy phương pháp ngồi sàn có thành quả tốt hơn những phương pháp khác. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia tự kỷ cho rằng ABA/DTT thúc đẩy trẻ tự kỷ tiến bộ nhanh hơn, hữu hiệu hơn phương pháp ngồi sàn.

TEACH đã và đang được ứng dụng trong các dịch vụ dành cho tự kỷ ở North Carolina và ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là ở Nhật Bản. TEACCH có tính cá nhân, đặt nặng nhu cầu cá biệt của từng trẻ tự kỷ, cho phép giảng viên và phụ huynh cùng nhau soạn thảo những mục tiêu trẻ cần phải đạt được. Mô hình nổi bật của TEACCH là các lớp học riêng biệt, cô lập, nằm trong một khuôn khổ có tổ chức và nề nếp (self-contained classroom).

Các chuyên gia TEACCH cho rằng trẻ tự kỷ thâu thập thông tin hiệu quả bằng mắt chứ không bằng tai nghe. Vì vậy, chuyên gia TEACCH thường dùng hình ảnh để hướng dẫn trẻ tự kỷ sinh hoạt đúng theo thời khóa biểu để tạo nên thói quen về mặt sinh hoạt, học tập, cũng như biểu hiện những hành vi thích hợp và tích cực. Ví dụ, họ dạy trẻ biết để quần áo, các hộp đựng thức ăn trưa ở đâu khi bước vào lớp học bằng cách dựa theo hình ảnh chỉ dẫn, dạy trẻ biết lấy bài tập ở đâu và để đâu khi chúng làm xong, và kế tiếp sẽ làm gì dựa vào thời khóa biểu có hình ảnh đi kèm.

– Trẻ thực hiện công việc chính xác hơn Trẻ có thời gian chấn chỉnh, tập trung hơn

– Trẻ phụ thuộc vào giảng viên nhiều hơn Trẻ có tính độc lập hơn

– Trẻ giải quyết vấn đề từ ngoài vào trong Trẻ giải quyết vấn đề từ trong ra ngoài

PHƯƠNG PHÁP THAY ĐỔI NHỮNG HÀNH VI “ĐẶC BIỆT” (Pivotal Response Training or PRT)

PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP (ECLECTICISM)

Nhiều chuyên gia tự kỷ giải thích đơn giản rằng chương trình giảng dạy/trị liệu tổng hợp (Electicism) chỉ là sự trộn lẫn một chút phương pháp TEACCH của Eric Schopler, một chút ABA của Lovaas, một chút phương pháp ngồi sàn của Greenspan, và một chút phương pháp trị liệu cảm giác của Jean Ayres …

PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU VẬN ĐỘNG (Physical and Occupational Therapies)

Sự trị liệu vận động về vật lý (physical therapy) thường được thực hiện qua chương trình thể dục thích nghi (adaptive physical education) ở nhà trường, ở các trung tâm trị liệu dưới sự hướng dẫn của giáo viên chuyên về thể dục đặc biệt hoặc các chuyên viên có bằng cấp chuyên môn để giúp trẻ vận động những cơ bắp lớn (physical therapy) như dạy trẻ chạy, nhảy, kết hợp vận động chân tay, đi đứng cân bằng. Còn sự trị liệu vận động nhỏ hay tinh vi (occupational therapy) ở nhà trường, ở nhà hay ở trung tâm điều trị chủ yếu là dạy trẻ biết cầm kéo cắt, cầm bút vẽ, viết, có những kỹ năng tự chăm sóc mình (self-help) như biết ăn, biết mặc, biết đánh răng, đi vệ sinh, biết cách học và biết cách chơi cùng chúng bạn. Ngoài ra, các chuyên viên vận động tinh vi (occupational therapists) có thể ứng dụng phương pháp trị liệu về cảm giác (sensory integration therapy) để dạy trẻ biết nhận hiểu và điều chỉnh những tác động thuộc về cảm giác.

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU HÒA CẢM GIÁC (Sensory Integration or SI)

Ở Hoa Kỳ, chuyên gia về vận động tinh và tâm lý cho trẻ chậm phát triển, Tiến Sỹ Jean Ayres (1920-1989), biệt danh A. Jean Ayes thuộc Đại Học UCLA, là chuyên gia đầu tiên đúc kết cụm từ rối loạn về sự kết hợp cảm xúc (sensory integration dysfunction) vào những năm 60. Bà viết nhiều đề tài về phương diện nầy và khá nổi tiếng qua cuốn sách Sensory Integration and the Child.

Tiến Sỹ Ayes cho rằng trẻ bị chậm phát triển, kể cả tự kỷ, thường bị rối loạn về sự nhận hiểu cảm giác từ ngửi, nghe, thấy, sờ chạm, cũng như phản ứng hay di chuyển theo tác động của cảm giác.

Thiếu phản ứng : Chậm hay không phản ứng đối với những tiếng động lớn, tiếng nói, ánh sáng rực rỡ, hay không lộ rõ sự đau đớn khi ngã té hoặc tự gây thương tích cho chính mình.

Phản ứng mạnh : Bịt tai và la hét khi nghe những tiếng động bình thường hay bị sờ chạm.

Hành vi tự kích thích để tìm cảm giác : Chơi với những ngón tay xòe ra trước mặt, nhìn đèn điện, vật thể nào đó không chớp mắt, lắc đầu, lắc mình, quay vòng vòng v.v …

PHƯƠNG PHÁP DẠY KỸ NĂNG GIAO TIẾP XÃ HỘI (Social Skill Training)

Phương pháp dạy kỹ năng giao tiếp qua những câu chuyện ngắn về xã hội (social stories), có hình ảnh và đối thoại, thường được các chuyên viên tâm lý, chuyên viên về hành vi, ngôn ngữ, giáo viên, phụ giáo, phụ huynh áp dụng trong giờ chơi ở trường, trong lớp học, ở nhà qua những trò chơi, sinh hoạt để giúp trẻ tự kỷ trao dồi kỹ năng giao tiếp xã hội và kết bạn.

Phương pháp kể chuyện social stories do Carol Gray giám đốc trung tâm chuyên nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp xã hội ở Grand Rapids, Michigan, Hoa Kỳ, khởi xướng vào năm 1991.

– Liệu phương pháp giảng dạy/trị liệu do phụ huynh lựa chọn có đầy đủ dữ kiện để chứng minh một cách khoa học về tính hiệu quả hay chỉ đơn thuần là những ý kiến chủ quan, tự tăng bốc để trục lợi của các chuyên gia đề xướng chương trình hay phương pháp giảng dạy đó?

– Liệu chương trình hay phương pháp do phụ huynh lựa chọn có thích hợp và nằm trong kế hoạch giáo dục/trị liệu dài lâu cho con em khuyết tật hay không?

Nhìn chung,, các phương pháp chỉ nên xem là một kỹ thuật nằm trong một Hệ thống can thiệp nhiều mặt ở các môi trường : Gia đình – Nhà trường và Xã hội dưới sự phối hợp của 3 vai trò là ; Phụ huynh – Giáo viên đặc biệt và Chuyên viên . Không chỉ giao việc can thiệp cho một vai trò riêng lẻ nào.

Comments

Phương Pháp Dạy Trẻ Tự Kỷ

Trẻ bị tự kỷ thường rất sợ khi phải giao tiếp với thế giới bên ngoài. Điều này gây khó khăn cho trẻ khi phải ra ngoài môi trường xã hội và tiếp xúc với mọi người. Chính vì vậy mà cha mẹ cần hết sức quan tâm và có những phương pháp giáo dục kỹ năng sống mầm non phù hợp dành cho các bé bị tự kỷ.

1. Các dấu hiệu nhận biết

a. Có vấn đề về ngôn ngữ

Thông thường mỗi đứa trẻ sẽ có những thời điểm biết nói khác nhau. Nhưng nếu bé học nói quá chậm, bạn cũng nên chú ý vì đó có thể chính là dấu hiệu của chứng chậm nói thường xuất hiện ở trẻ tự kỷ.

b. Giao tiếp xã hội kém

Từ 6 tháng tuổi, các bé bình thường sẽ thể hiện mối quan hệ với những người xung quanh bằng cách cười, ôm hay ánh nhìn nhận biết. Tuy nhiên đối với trẻ tự kỷ, chúng thường không thích cười hay giao tiếp với những người xung quanh bằng ánh mắt. Những đứa trẻ này cũng thường xuyên thích chơi với đồ vật hơn là chơi với mọi người xung quanh.

c. Phản ứng khi buộc phải thay đổi

Trẻ tự kỷ thường chú ý đến trật tự mà không có mục đích gì. Ví dụ như chúng thường muốn sắp xếp đồ chơi theo trật tự nhất định về kích thước, màu sắc… thay vì chơi với đồ chơi như những đứa trẻ bình thường khác.

Khi thói quen của chúng ta bị thay đổi, chúng ta ban đầu cũng sẽ không thấy thoải mái. Tuy nhiên với trẻ tự kỷ chúng có thể sẽ thấy suy sụp, đôi khi là giận dữ khi phải thay đổi.

2. Các phương pháp dạy trẻ tự kỷ

a. Phương pháp RDI (Can thiệp phát triển quan hệ xã hội)

Đây là phương pháp dạy trẻ tự kỷ mới được nghiên cứu và phát triển khá là hiệu quả. Cha mẹ sẽ giao tiếp với con nhiều hơn bằng cử chỉ, nét mặt, ánh mắt chứ không quá tập trung vào giao tiếp bằng ngôn ngữ. Khi đó, nhờ quá trình dạy trẻ kỹ năng sống mầm non giúp trẻ trang bị được nhận thức tốt, trẻ sẽ dần dần tự động phát triển khả năng ngôn ngữ. Phương pháp này gồm ba yếu tố: Dựa trên sự phát triển cảm xúc. Sự khác biệt cá nhân và dựa trên mối quan hệ. Ưu điểm: Nhằm phát triển cảm xúc thay vì phát triển trí tuệ, khuyến khích trẻ chủ động tương tác. Khuyết điểm: Không dạy cách học, cách phát triển trí tuệ như những trẻ khác, hơi khó tương tác ban đầu với trẻ.

b. Phương pháp ABA (Ứng dụng phân tích hành vi)

Đây là phương pháp dạy trẻ tự kỷ được quan tâm nhiều nhất trong trị liệu trẻ tự kỷ và được đánh giá là một trong những phương pháp dạy trẻ tự kỷ hữu hiệu nhất hiện nay. Là một biện pháp tiếp cận khoa học nhằm hiểu rõ hành vi của trẻ. Các nguyên tắc trị liệu này được ứng dụng cho những hành vi quan trọng mang tính xã hội.

Phương pháp này được sáng tạo ra dựa trên các lý thuyết khoa học về hành vi. Mỗi đứa trẻ khi bắt đầu phương pháp này sẽ được kiểm tra đánh giá ban đầu để xem xét coi kỹ năng sống mầm non nào trẻ chưa có, kỹ năng sống mầm non nào trẻ đã có rồi. Sau đó chúng ta sẽ lựa chọn các bài tập, các tài liệu phù hợp với đánh giá ban đầu về trẻ. Nội dung rèn luyện chung cũng như của từng buổi sẽ liệt kê từng kỹ năng trong mọi lĩnh vực ( giao tiếp, xã hội, kiến thức, tự chăm sóc, vận động, chơi..) các kỹ năng này thường được chia nhỏ thành các kỹ năng thành phần và được sắp xếp theo trình tự phát triển, từ đơn giản đến phức tạp.

Ưu điểm của phương pháp ABA là dạy cho trẻ tự kỷ những kỹ năng mới, những hành vi mới có thể áp dụng ở mọi tình huống và mọi nơi. Cách dạy rõ ràng, dễ dạy, hữu hiệu trong chuyển hóa hành vi tiêu cực. Nhưng bên cạnh đó nó cũng có những khuyết điểm như là cần nhiều thời gian để dạy bé hơn.

c. Phương pháp TEACCH (định hướng điều trị và giáo dục trẻ tự kỷ và trẻ khuyết tật về giao tiếp )

Các kỹ năng học của trẻ được đánh giá bằng PEP: những biểu hiện tâm lý giáo dục. Nội dung của phương pháp này là bắt chước, nhận thức, vận động thô, vận động tinh, phối hợp mắt và tay, kỹ năng hiểu biết, kỹ năng ngôn ngữ…

Ưu điểm: Giúp trẻ tự kỷ hiểu được các yêu cầu và cách thức đáp ứng, tập trung vào những kỹ năng sống mầm non đã có của trẻ chứ không chỉ nhìn vào những khuyết điểm. Nhược điểm: Rất gò bó, tập trung vào những đồ dùng giảng dạy, cần nhiều nhân lực để thực hiện.

d. Phương pháp PECS ( hệ thống giao tiếp trao đổi hình)

Phương pháp này được nhà tâm lý Andrew Bondy và nhà âm ngữ trị liệu- Lori Frost đề ra trong chương trình tự kỷ Delaware. Phương pháp này dựa trên biện pháp ABA để đổi hình ảnh theo những gì mà trẻ muốn. Khoảng 50% trẻ tự kỷ không nói nhưng bạn vẫn dạy quy tắc là con phải tỏ ý cho trẻ không biết nói, đó là cấu hình theo phương pháp PECS. Có ý kiến cho rằng cách dạy này ảnh hưởng đến việc học nói của trẻ nhưng thực tế thấy nó không cản trở việc học nói sau này cho trẻ nói chậm, cha mẹ không nên lo ngại là nếu dùng hình thì trẻ sẽ không biết nói về sau mà ngược lại có ghi nhận là PECS giúp cải thiện khả năng nói của trẻ.

Ưu điểm: rõ ràng, có chủ ý, trẻ tự động tham gia, phát triển giao tiếp chức năng nhanh, có thể phát triển giao tiếp chức năng nhanh. Khuyết điểm: Chỉ tập trung vào khả năng giao tiếp, bỏ qua các lĩnh vực xã hội, vận động.

Yoga Cho Trẻ Tự Kỷ

Yoga từ lâu được biết đến như liệu pháp chữa trị đặc biệt thích hợp cho những ai có cảm giác lo âu, căng thẳng cũng như là phương pháp can thiệp đổi với trẻ tự kỷ trong quá trình giúp các em thoát khỏi bóng ma tâm lý này.

Ngày càng có nhiều chuyên gia làm việc với các trẻ bị bệnh rối loạn cảm giác – thường thấy ở trẻ tự kỷ – hoặc với trẻ gặp khó khăn trong việc học tập và rối loạn tăng động giảm chú ý được đào tạo về yoga trẻ em với kết quả rất tốt. Có một sự yêu thích tự nhiên giữa trẻ em và yoga, vì yoga chú tâm vào cả con người trẻ, bao gồm sự kết nối bộ não – cơ thể. Yoga cũng giúp tăng cường và tổ chức lại hệ thần kinh, vốn rất cần thiết cho trẻ có nhu cầu đặc biệt.

Mantra (âm thanh yoga): việc sử dụng sự rung động và cách đọc âm sẽ giúp bình tĩnh và thu hút chú ý. Khuyến khích sự phát triển ngôn ngữ và khả năng nói. Giúp thiết lập việc giao tiếp bằng mắt.

Pranayama (nhận thức hơi thở) : việc thở sâu có hiệu quả làm dịu. Trẻ có khả năng học cách thở để lấy lại bình tĩnh. Luyện tập thở khuyến khích sự phát triển hơi thở hỗ trợ cho lời nói và ổn định tư thế. Trẻ em bị bệnh tăng động hoặc có mức độ hoạt động không ổn định phản ứng rất tốt với các bài thực hành hơi thở để bình tĩnh và ổn định lại mức độ hoạt động. Các trường phái yoga sử dụng cùng lúc vận động và hơi thở – như trong Vinyasa hoặc một số bài tập của Kundalini yoga – thì rất phù hợp.

Asana (tư thế và bài thực hành) : giúp phát triển mọi khía cạnh của kĩ năng vận động, bao gồm cả sự nhận thức tổng quát về cơ thể và vị trí trong không gian.

Savasana (thả lỏng sâu): chỉ cần một vài khoảnh khắc ngắn ngủi trong tĩnh lặng có thể gây ra hiệu ứng nhiều lợi ích cho những trẻ vốn hay di chuyển, không thể ngừng nghỉ. Hãy sử dụng kĩ thuật hình dung. Hãy thử lăn một một quả bóng lên xuống chầm chậm trên cơ thể với áp lực trung bình.

Thiền định (thời gian im lặng/tỉnh táo): phát triển khoảng chú ý, khả năng ngồi yên và tập trung. Giúp tháo gỡ sự lo âu và làm trống tâm trí khỏi những suy nghĩ vụn vặt để có thể tiếp nhận những kiến thức mới. Việc sử dụng các bài hát và những câu khẳng định yoga là phương pháp tốt để bắt đầu, ví dụ như “Tôi hạnh phúc, Tôi khỏe mạnh.”

Một số mẹo yoga để làm việc với trẻ tự kỷ:

Tạo khoảng thời gian đặc biệt trong ngày cho yoga. Dành thời gian vào buổi sáng hoặc buổi tối và sau buổi học nên có bài thả lỏng sâu.

Bắt đầu buổi học bằng cách nhắm mắt, hít thở sâu để tập trung vào bản thân. Rủ trẻ cùng thực hiện với bạn, nhưng đừng ép. Nếu bạn có “âm thanh” yoga mà bạn có thể sử dụng, hãy tụng vài lần trước khi bắt đầu. Âm thanh đó sẽ làm dịu bé, và bé có thể quyết định tập cùng bạn khi đã quen thuộc.

Trẻ em với bệnh tự kỷ cần những điều có tính cấu trúc và không gây bất ngờ (có thể đoán được). Hãy dùng các hình ảnh trực quan để giúp trẻ tập trung vào tư thế hoặc bài tập bạn đang thực hành. Vẽ một chuỗi tư thế yoga bằng hình ảnh trên bảng trắng (mà bạn có thể bôi đi khi tư thế/bài tập đó kết thúc), hoặc tạo một chuỗi các hình yoga và cho bé xem theo thứ tự. Các bức ảnh trong sách Bay như con bướm của tôi là hình ảnh trực quan tuyệt vời cho từng tư thế/bài tập.

Khi dạy điều gì mới mẻ – ví dụ một bài tập thở mới – hãy tập riêng hoạt động đó trước khi bổ sung nó vào chuỗi bài tập với các bài khác.

Mỗi trẻ đều khác nhau, và mỗi trẻ bệnh tự kỷ cũng khác nhau, nên bạn cần chắc chắn theo nhịp của trẻ và tạo các hoạt động yoga đáp ứng nhu cầu của bé. Nếu bé hay rung lắc, hãy tập bài Lạc đà gập ghềnh (sách Bay như con bướm). Nếu trẻ hay chạy lung tung khắp phòng, hãy làm sao hoạt động chạy là một phần của bài tập yoga cho trẻ. Và rồi dần dần giảm việc chạy thành việc đi nhón gót, và đi trở lại thảm tập.

Trẻ em, đặc biệt các em nhỏ và những em có nhu cầu học đặc biệt, luôn muốn sự lặp đi lặp lại. Hãy tập cùng một bài tập yoga mỗi lần như vậy, nhưng đôi khi thêm vài biến thể để tạo hứng thú.

Để ý trẻ làm điều gì đó đúng hoặc tốt, và luôn khuyến khích với nụ cười hay lời khen.

Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp đến các học viên phương pháp học yoga tại nhà vô cùng thú vị và đang làm tâm điểm thu hút sự chú ý của nhiều người, trong số đó chính là dạy yoga cho trẻ em tại nhà. Liệu học yoga tại nhà có tốt và đảm bảo chất lượng cho các bé hay không? Đây có lẽ là thắc mắc của rất nhiều người khi theo đuổi yoga, tìm hiểu về yoga hoặc mới bắt đầu đến với bộ môn này. Chúng tôi tin chắc rằng, dưới sự hướng dẫn đầy kỹ lưỡng cùng một giáo trình dạy học được biên soạn khoa học, đội ngũ giáo viên dạy yoga tại nhà của trung tâm chắc chắn sẽ mang đến những trải nghiệm học và luyện tập mới mẻ, thú vị, bổ ích và chất lượng nhất đến học viên là con em của mình cũng như là chính các bạn.

Tải ứng dụng ngay tại link này: http://www.daykemtainha.vn/ung-dung-gia-su-day-kem

Phụ huynh học viên có thể tìm kiếm giáo viên dạy yoga theo độ tuổi, giới tính, khu vực qua đường link sau: http://www.daykemtainha.vn/gia-su?mon-hoc=yoga

TƯ VẤN HỌC : 090 333 1985 – 09 87 87 0217

Website: http://hocyoga.vn/