Phương Pháp Chiết Xuất Saponin

--- Bài mới hơn ---

  • Chiết Xuất Lô Hội Thiên Nhiên
  • Cài Đặt Thuật Toán Tính Crc Mạng Máy Tính Và Truyền Số Liệu
  • Phương Pháp Giải Toán Đa Thức Trên Máy Tính Cầm Tay Casio
  • Bộ Sách Làm Giàu Từ Chứng Khoán + Thực Hành Phương Pháp Canslim
  • Phương Pháp Đầu Tư Chứng Khoán Canslim
  • Song hành cùng sự phát triển không ngừng của nền công nghiệp sắc đẹp thì cũng có rất nhiều phương pháp ra đời để làm đẹp. Vậy nên cũng ta cũng cần nhắc đến một trong những phương pháp hữu hiệu bậc nhất mang tên saponin. Saponin được ứng dụng rộng rãi như là một phương pháp chiết xuất hữu hiệu nhất.

    Các phương pháp chiết xuất saponin

    Chiết xuất saponin bằng dung môi

    – Đối với nhóm saponin kiềm thuộc nhóm spirosolan và solanidan:

    Nồi cách thủy đun nóng kèm với đó là bột dược liệu thêm methanol. Dịch lọc đem bốc hơi đến khô trên nồi cách thủy. Hòa tan cặn trong nồi đun nóng 80 độ cùng với acid acetic 5%, sau đó kiềm hóa bằng amoniac.

    Tủy của nó được ly tâm sau đó hòa tan vào ethanol 96% để chấm sắc ký.

    – Đối với saponin trung tính và acid:

    Loại chất béo trong bột dược liệu bằng cách chiết với ether dầu hỏa. Sau đó chiết saponin bằng dung môi methanol – nước tỉ lệ 4:1. Dưới áp suất giảm ta có thể loại methanol. Sau đó hòa cặn trong nước để có dung dịch 10% rồi lắc với n – butanol.

    Sau đó bốc hơi butanol dưới áp suất giảm rồi tiếp tục hòa cặn với methanol để có dung dịch chấm sắc ký.

    Phương pháp chiết xuất Saponin bằng sắc ký cột Diaion HP-20

    Bằng cách dung dịch mẫu trong nước được nạp lên cột có chứa Diaion HP – 20. Tiếp tục quá trình bằng (H 2­­­ O – MeOH) với nồng độ MeOH tăng dần lên.

    Phương pháp chiết xuất Saponin bằng sóng siêu âm

    Phương pháp này là tác động của sóng siêu âm tần số mạnh giúp tăng sự thẩm thấu trong dung môi và đồng thời tăng sự hòa tan dược chất.

    Chúng ta thường sử dụng sâm Ngọc Linh để bồi bổ sức khỏe, và cũng chính nhờ phương pháp chiết xuất saponin bằng sóng siêu âm tạo ra, đóng vai trò quan trọng trong quy trình chiết xuất.

    Những nguyên liệu được chiết xuất từ phương pháp saponin

    Chiết xuất saponin từ cây đinh lăng

    Cùng tìm hiểu quá trìnhchiết xuất cây đinh lăngđược thực hiện theo phương pháp saponin qua quá trình sau đây:

    – Chuẩn bị: Chuẩn bị nguyên liệu là lá cây đinh lăng được thu hái, phơi khô, xay hoặc nghiền. Nguyên liệu được chuẩn bị cho quá trình trích ly phải được bảo quản cẩn thận.

    – Tiến hành trích ly saponin triterpenoid tổng với sự hỗ trợ của sóng siêu âm: Với sóng siêu âm cố định là 225 W/g trong thời gian 15 phút, nguyên liệu được pha trộn với nước với tỉ lệ chuẩn và được xử lý.

    Kết thúc quá trình trích ly, thu được hỗn hợp được ly tâm ở nhiệt độ phòng và tốc độ là 5800 vòng/phút trong vòng 15 phút. Sau đó thu lấy phần dịch trong để chuẩn bị cho quá trình phân tích quang phổ.

    Quy trình chiết xuất saponin đinh lăng trên phụ thuộc chủ yếu vào 3 yếu tố là: tỉ lệ nguyên liệu/nước, công suất siêu âm và thời gian siêu âm.

    Phương pháp chiết xuất saponin từ sâm ngọc linh

    Quy trìnhchiết xuất sâm Ngọc Linhtrong chiết xuất Saponin như sau :

    – Chuẩn bị: Thu hái dược liệu sâm Ngọc Linh trên núi Ngọc Linh sau đó thái nhỏ và đưa đi phơi khô. Dung môi được sử dụng trong quá trình này là ethanol 85%.

    – Lựa chọn phương pháp chiết xuất: Đó là sóng siêu âm với tần số 20Hz.

    – Các bước tiến hành chiết xuất: Dược liệu sau khi được thái nhỏ, phơi khô, được ngâm chiết với dung môi được chuẩn bị trong vòng 5 lần, mỗi lần 400ml. Và tiến hành chiết xuất với sóng siêu âm là 40­ độ C trong vòng 5 giờ.

    Dịch chiết được khai thác hết bằng cách tiếp tục thêm tiếp dung môi vào ngập dược liệu trong 5 lần tiếp theo. Tiếp tục chiết xuất bằng dịch nước sau quá trình sử dụng dịch cồn.

    Gộp các dịch chiết ethanol và dịch chiết nước thu được lọc qua giấy lọc, gom lại và cất từng loại dung môi dưới áp suất giảm.

    Như vậy là quá trình chiết xuất bằng sóng siêu âm là phương pháp khá hiện đại hiện nay với quy trình khá đơn giản.

    Chiết xuất saponin từ nhân sâm

    Quy trình chiết xuất saponin từ nhân sâm tương tự như cách thức chiết xuất ra sâm Ngọc Linh. Trong nhân sâm chứa các thành phần hóa học quan trọng như: Saponin, polyacetylene, tinh dầu…Có công dụng bổ sung, tăng cường sức khỏe tốt nên được sử dụng nhiều vào quá trình chiết xuất, gia công tạo sản phẩm được sử dụng thông dụng hàng ngày.

    Một số chiết xuất được tạo nên như: Chiết xuất sâm Ngọc Linh, sâm K5, sâm Cao Ly…

    Chiết xuất saponin từ đậu nành

    Có thể nói, chiết xuất saponin từ đậu nành đóng vai trò quan trọng hiện nay.

    Bởi những chiết xuất từ nó giúp ức chế sự phát triển của những tế bào ung thư biểu mô đại tràng. Đồng thời có tác dụng giảm cholesterol, giảm lipid máu.

    DANH SÁCH MẠNG XÃ HỘI

    https://chietxuat3c.tumblr.com/post/621856252067282944/c%C3%A1c-ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-chi%E1%BA%BFt-xu%E1%BA%A5t-saponin-b%E1%BA%A1n-c%E1%BA%A7n-bi%E1%BA%BFt

    https://www.linkedin.com/posts/chietxuat-3c-386ab119b_c%C3%A1c-ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-chi%E1%BA%BFt-xu%E1%BA%A5t-saponin-b%E1%BA%A1n-c%E1%BA%A7n-activity-6681731387516628993-V3IF

    https://www.plurk.com/p/nvyx7i

    https://www.pinterest.com/pin/608478599646357881

    Các phương pháp chiết xuất saponin#phuongphapchietxuat#chietxuatsaponin#chietxuatmypham#Chietxuatduocpham https://t.co/YP34VYErQh

    — chietxuat3c (@chietxuat1) June 25, 2022

    https://mix.com/chietxuat3c/ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-chi%E1%BA%BFt-xu%E1%BA%A5t-saponin

    https://adfty.biz/news/cac-phuong-phap-chiEt-xu%E1%BA%A4t-saponin-b%E1%BA%A0n-c%E1%BA%A6n-biEt/

    https://oneway.com/chietxuat/2wegsf_br60h07c6

    https://www.stage32.com/post/2509760314212361222″

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Chiết Xuất Saponin (Extraction Of Saponins From Plants)
  • Cách Giâm Cành Để Nhân Giống Cây Hoa Hồng Tại Nhà
  • So Sánh Phương Pháp Giâm Cành Chiết Cành Và Ghép Cành
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 8973:2011 (En 12821 : 2009) Về Thực Phẩm
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Chiết Tách Cành Lan
  • Phương Pháp Chiết Pha Rắn

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghiên Cứu Chiết Tách Polyphenol Từ Cây Điều Để Làm Chất Kháng Oxi Hóa
  • Ứng Dụng Của Phenol / Chloroform Trong Tách Chiết Dna, Rna
  • Kỹ Thuật Vi Chiết Pha Rắn Spe Solid Phase Extraction Hãng Supelco
  • Đại Cương Chiết Pha Rắn Và Ứng Dụng Của Chiết Pha Rắn
  • Các Phương Pháp Tách Chiết Axit Nucleic
  • Phương pháp chiết pha rắn

    Chiết pha rắn là một dạng sắc ký lỏng được cải tiến thành hấp thụ pha rắn với các cơ chế khác nhau. Kỹ thuật này dựa trên nguyên tắc sự phân bố của chất tan giữa hai pha không tan vào nhau đã sử dụng phương pháp chiết pha rắn để xử lý mẫu nhằm xác định đồng thời các chất amphetamin, methamphetamin, 3,4-methylenedioxyamphetamin, 3,4-m ethylene-dioxymethamphetamin, N-methyl-1-(3,4-methyl-enedioxyphenyl)-2-butanamin, 3,4-methylenedioxyethylamphetamin, p-methoxymethamphetamin, ephedrin, N-methylephedrin, cathinon, methcathinon và ketamintrong nước tiểu. Cột Oasis MCX (1 mL, 30 mg; Waters, USA) được hoạt hóa bằng 1 mL MeOH, 1ml nước đề-ion. 4 mL mẫu nước tiểu (được axit hóa bằng 200 µL HCl 5 M, thêm 0,25 ng/mL dung dịch chất nội chuẩn MA-d 5) được rung siêu âm 5 phút ở tốc độ 8000 rpm sau đó được cho chảy qua cột MCX. Cột chiết được rửa với 1ml HCl 0,1M; 1 mL MeOH; 1 mL dung dịch amoniac 5%.Chất phân tích được rửa giải bằng 1 mL 5% amoniac trong MeOH. Hiệu suất thu hồi của các chất đều nằm trong khoảng 70,3 ÷ 107,9 %.

    Các tác giả Đặng Đức Khanh, Trần Việt Hùng, Trần Thị Thúy đã sử dụng cột chiết trao đổi ion (benzensulphonyl silica, 1mL) để xử lí mẫu nước tiểu. Quy trình như sau: Cột chiết được hoạt hóa bằng metanol (2 mL), nước cất (1 mL) và axit photphoric 10 mM (0,5 mL) dưới áp suất giảm. Lắc 1 mL nước tiểu với 0,5 mL axit photphoric 10 mM trong 1 ống nghiệm sau đó đưa vào cột chiết đã hoạt hóa. Sau khi đuổi hết không khí (khoảng 30 giây), rửa lần lượt bằng 1 mL axit photphoric 10 mM, 0,5 mL axit axetic 0,1 M và 1 mL metanol. Loại bỏ không khí trong cột, sau đó tiến hành rửa giải bằng 2 mL dung dịch amoniac 3%/metanol (v/v), làm khô dưới áp suất giảm dòng nitơ, thu cặn chiết và tiến hành phân tích.

    Như vậy, có thể nhận thấy có nhiều phương pháp xác định các chất ma túy nhưng các phương pháp này đều đòi hỏi trang thiết bị hiện đại, yêu cầu kỹ thuật cao. Tuy nhiên, phương pháp điện di mao quản cho thấy rất có tiềm năng bởi vì phương pháp điện di mao quản sử dụng detector đo độ dẫn không tiếp xúc (CE-C 4 D) là phương pháp phân tích mới với những ưu điểm như: thiết bị tương đối đơn giản, chi phí thấp, hoạt động đơn giản, có thể tự động hóa và triển khai phân tích ngay tại hiện trường với một lượng nhỏ mẫu và hóa chất phục vụ kịp thời quá trình điều tra. Do đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu quy trình phân tích một số chất ma túy tổng hợp ATS trên thiết bị điện di mao quản sử dụng detector độ dẫn không tiếp xúc, kết nối kiểu tụ điện.

    CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

    2.1. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

    2.1.1. Mục tiêu nghiên cứu

    Mục tiêu của luận văn là: Nghiên cứu quy trình xử lý mẫu nước tiểu để phân tích một số chất ma túy tổng hợp nhóm ATS (gồm: MA, MDA, MDMA, MDEA) bằng phương pháp điện di mao quản, sử dụng detector đo độ dẫn không tiếp xúc theo kiểu kết nối tụ điện (CE-C 4 D).

    2.1.2. Nội dung nghiên cứu

    Để đạt được mục tiêu đề ra, các nội dung nghiên cứu cần thực hiện bao gồm:

    – Tổng quan tài liệu về các phương pháp khác nhau để xác định đồng một số hợp chất ma túy tổng hợp nhóm ATS và các phương pháp xử lý mẫu nước tiểu.

    – Xây dựng đường chuẩn của các chất phân tích.

    • Đánh giá phương pháp phân tích (xác định LOD, LOQ, độ đúng, độ chụm).
    • Nghiên cứu, tối ưu quy trình chiết lỏng và chiết pha rắn để xử lý làm sạch, làm giàu mẫu nước tiểu.
    • Áp dụng phân tích một số mẫu nước tiểu do Viện Khoa học hình sự và Đội giám định hóa học – Phòng kỹ thuật hình sự – CATP Hà Nội cung cấp.
    • Thực hiện phân tích đối chứng một số mẫu bằng phương pháp GC/MS do Viện Khoa học hình sự thực hiện.

    2.2. Phương pháp nghiên cứu

    2.2.1. Phương pháp phân tích

    Phương pháp phân tích là phương pháp điện di mao quản sử dụng detector độ dẫn không tiếp xúc kết nối kiểu tụ điện (CE – C 4D). Thiết bị này được thiết kế và chế tạo bởi Công ty 3Sanalysis ( http://www.3sanalysis.vn/) trên cơ sở hợp tác với nhóm nghiên cứu của GS. Peter Hauser (Thụy Sỹ), là thiết bị có nguồn thế cao lên đến 20kv, có thể thực hiện bán tự động (hình 2.1). Hệ thiết bị này hiện đang được triển khai nghiên cứu hoàn thiện và phát triển ứng dụng tại Bộ môn Hóa Phân tích, Khoa Hóa học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội và khảo sát các điều kiện thiết bị, hóa chất, chúng tôi thực hiện quy trình chiết xuất như sau:

    – Xử lý mẫu nước tiểu bằng phương pháp chiết pha rắn: sử dụng cột C18 dung tích 3ml.

    1. Hoạt hóa cột ( 3ml MeOH, 3ml H 2 O, 3ml đệm phốt phát pH 6)

    2. Nạp mẫu ( 5 ml nước tiểu, 0,5ml đệm phốt phát pH 6)

    3. Rửa tạp chất ( 1ml H 2O, 2ml H 3PO 4 10mM, 2ml MeOH/H 2 O 1/9 v/v)

    4. Rửa giải ( 2ml MeOH ngâm 5 phút), thu dịch chiết

    5. Cô cạn dịch chiết bằng dòng khí nito, sau đó hòa tan vào MeOH và pha loãng với tỉ lệ thích hợp rồi tiến hành phân tích trên thiết bị CE.

    Xử lý mẫu nước tiểu bằng phương pháp chiết lỏng:(chiết lặp 2 lần)

    1. Lấy mỗi mẫu 5 ml nước tiểu vào ống nghiệm có nắp xoáy

    2. Kiềm hóa mẫu về pH 9 bằng dung dịch NH3 (kiểm tra bằng giấy quỳ) 3. Chiết mẫu bằng 3 ml etyl axetat, lắc trong vòng 10 phút.

    4. Ly tâm cho tách lớp (tốc độ 8000 vòng/phút trong 20 phút)

    5. Hút lớp etyl axetat (lớp trên) đến khi hết dịch trong thì cho 200µl MeOH vào lắc nhẹ giúp làm giảm huyền phù trong mẫu rồi tiếp tục hút thu tiếp dịch chiết.

    6. Cô cạn dịch chiết bằng dòng khí nito, sau đó hòa tan vào MeOH và pha loãng với tỉ lệ thích hợp rồi tiến hành phân tích trên thiết bị CE.

    2.3. Hóa chất và thiết bị

    2.3.1. Hóa chất

    Tất cả các hóa chất sử dụng đều thuộc loại tinh khiết phân tích và được pha chế bằng nước deion.

    2.3.1.1. Chất chuẩn

    • MA (Lipomed, hàm lượng dạng bazơ =80,2%)
    • MDA (Lipomed, hàm lượng dạng bazơ = 82,8%)
    • MDMA (Lipomed, hàm lượng dạng bazơ = 83,71%)
    • MDEA (Lipomed, hàm lượng dạng bazơ = 84,66%)

    2.3.1.2. Hóa chất, dung môi

    • Axit acetic (CH3COOH), (PA, Merck, Đức)
    • Axit clohydric (HCl), (PA, Merck, Đức)
    • Axit photphoric (H3PO4) (PA, Deajung, Hàn Quốc, 85%)
    • Natri hydroxyd (NaOH), (PA, Merck, Đức)
    • Methanol (CH3OH), (PA, Merck, Đức)
    • Diclometan (CH2Cl2), (PA, Deajung, Hàn Quốc, 99%)

    2.3.1.3. Chuẩn bị các dung dịch hóa chất

    * Pha các dung dịch chuẩn gốc

    Cân chính xác từng chất phân tích trên cân phân tích (độ chính xác 0,1mg): 0,0125 g MA, 0,0121 g MDA, 0,0119 g MDMA, 0,0118 g MDEA chuyển vào bình định mức 10,0 mL, thêm 4 mL Methanol và đem rung siêu âm 30 phút sau đó định mức đến vạch bằng nước deion ta được các dung dịch chuẩn gốc 1000ppm.

    Các dung dịch chuẩn nồng độ nhỏ hơn được pha loãng bằng nước deion theo tỉ lệ thích hợp từ dung dịch chuẩn gốc 1000 ppm trước khi phân tích.

    * Pha dung dịch đệm điện di

    Dung dịch pha động điện di kết hợp giữa Arginine và axit acetic được pha như sau: Cân chính xác 0,0435g Arginine chuyển vào cốc có mỏ 50,0 mL rung siêu âm trong 5 phút cho tan hết sau đó thêm từ từ axit axetic vào đến khi pH của dung dịch là 4.5 (sử dụng máy đo pH). Dung dịch đệm được pha mới hàng ngày.

    2.3.2. Thiết bị, dụng cụ

    *Thiết bị

    – Thiết bị điện di mao quản CE-C 4 D như đã trình bày ở mục 2.2.1.

    – Thiết bị lọc nước deion (Mỹ).

    – Máy rung siêu âm, có gia nhiệt của hãng BRANSONIC 521.

    – Máy đo pH của hãng HANNA với điện cực thủy tinh và các dung dịch pH chuẩn để hiệu chỉnh điểm chuẩn của máy đo pH.

    – Cân phân tích của hãng S¢ientech (Mỹ), độ chính xác 0,1mg.

    – Tủ lạnh Sanaky VH-2899W dùng bảo quản mẫu

     Dụng cụ:

    – Dụng cụ thủy tinh: bình định mức, pipet, cốc, ống nghiệm.

    – Pipet paster các loại: 10; 20; 100; 200; 5000 µL.

    – Các lọ Falcon 15ml để đựng dung dịch chuẩn.

    – Một số dụng cụ thông thường khác trong phòng thí nghiệm.

    2.4. Các phương pháp đánh giá độ tin cậy của phương pháp phân tích

    2.4.1. Giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ) của thiết bị

    Giới hạn phát hiện (LOD) là nồng độ thấp nhất của chất phân tích mà hệ thống phân tích còn cho tín hiệu phân tích khác có nghĩa so với tín hiệu mẫu trắng hay tín hiệu nền .

    – Độ lặp lại của phương pháp được xác định qua độ lệch chuẩn (SD) và độ lệch chuẩn tương đối (RSD%) theo các công thức sau:

    RSD (%) còn được gọi là hệ số biến thiên (CV%). Người ta thường sử dụng độ lệch chuẩn tương đối (RSD) hơn là độ lệch chuẩn (SD) do có thể đánh giá được độ lệch chuẩn chiếm bao nhiêu phần trăm giá trị trung bình và có cái nhìn rõ hơn về độ chụm của các số liệu trong tập số liệu lặp lại.

    Trong đó:

    – S i là diện tích của pic điện di thứ i

    – S tb là diện tích trung bình của n lần phân tích

    – n là số lần phân tích lặp lại

    2.4.3. Độ đúng (độ thu hồi) của thiết bị, của phương pháp

    Độ đúng chỉ mức độ gần nhau giữa giá trị trung bình của dãy lớn các kết quả thí nghiệm và các giá trị quy chiếu được chấp nhận. Do đó, thước đo độ đúng thường đánh giá qua sai số tương đối hay bằng phương pháp xác định độ thu hồi và bước đầu đã đạt được một số kết quả về điều kiện tối ưu phân tích 4 chất ma túy MA, MDA, MDMA và MDEA. Tuy nhiên, do nền mẫu nước tiểu phức tạp và hàm lượng các chất phân tích trong nước tiểu thường rất nhỏ nên việc xử lý mẫu là rất cần thiết. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào quy trình xử lý mẫu nước tiểu trên cơ sở kỹ thuật chiết lỏng – lỏng và chiết pha rắn nhằm nâng cao hiệu quả phân tích bốn chất ma túy nhóm ATS nêu trên bằng phương pháp CE-C 4D. Các nội dung nghiên cứu cụ thể bao gồm: xây dựng và đánh giá lại đường chuẩn, giá trị LOD, LOQ tại thời điểm nghiên cứu; khảo sát điều kiện tối ưu xử lý mẫu nước tiểu trên cơ sở kỹ thuật lỏng -lỏng và chiết pha rắn (SPE) nhằm nâng cao hiệu quả phân tích; áp dụng phân tích một số mẫu thực tế và tiến hành đối chứng với phương pháp truyền thống (GC-MS) do Viện Khoa học Hình sự thực hiện.

    3.1. Xây dựng đường chuẩn của các chất phân tích

    3.1.1. Xây dựng đường chuẩn

    Các dung dịch sử dụng để lập đường chuẩn có nồng độ trong khoảng 5÷120 với MA và 10÷140ppm với MDA, MDAM, MDEA và được pha loãng từ các dung dịch chuẩn gốc ban đầu. Mỗi dung dịch được bơm 3 lần và thực hiện quá trình điện di trên thiết bị điện di mao quản sử dụng detector độ dẫn không tiếp xúc với các điều kiện tối ưu như sau:

    • Mao quản silica đường kính trong ID = 50 µm, tổng chiều dài: 60cm (chiều dài hiệu dụng 53cm).
    • Phương pháp bơm mẫu: Thủy động lực học kiểu xiphông ở độ cao 10 cm.
    • Thời gian bơm mẫu: 45 s
    • Dung dịch đệm điện di: Arg/Ace (10 mM) pH = 4,5.
    • Thế tách: 10 kV
    • Giá trị diện tích pic trung bình là kết quả được sử dụng để lập đường chuẩn.

    Các kết quả đo được trình bày trong bảng 3.1.

    Bảng 3.1. Sự phụ thuộc của diện tích pic vào nồng độ

    MA, MDA, MDMA, MDEA

    Hình 3.1. Đường chuẩn của MA Hình 3.2. Đường chuẩn của MDA

    Hình 3.3. Đường chuẩn của MDMA Hình 3.4. Đường chuẩn của MDEA

    Tra bảng chuẩn t với bậc tự do f = 5, độ tin cậy 95% có t = 2,57, kết hợp với các giá trị a, b, S a, S b, S y của các chất từ phần mềm origin 6.1 ta có phương trình hồi quy của các chất phân tích:

    Bảng 3.2. Phương trình hồi quy của các chất phân tích

    Chất phân tích

    Phương trình hồi quy

    Hệ số tương quan R 2

    Từ các kết quả trên cho thấy hệ số tương quan R 2 của các chất phân tích đều lớn hơn 0,99 đồng thời giá trị P value<0,05 chứng tỏ x và y có quan hệ tuyến tính.

    3.1.2. Đánh giá phương trình hồi quy của đường chuẩn

    Trong phương trình hồi quy y = a + bx, trường hợp lý tưởng xảy ra khi không có chất phân tích thì không có tín hiệu. Tuy nhiên, trong thực tế các số liệu phân tích thường mắc sai số ngẫu nhiên luôn làm cho a ≠ 0.Nếu giá trị a khác 0 có ý nghĩa thống kê thì phương pháp phân tích mắc sai số hệ thống.Vì vậy, trước khi sử dụng đường chuẩn cho chất phân tích công cụ thì cần kiểm tra sự khác nhau giữa giá trị a và 0 có ý nghĩa thống kê không.

    * Kiểm tra a với giá trị 0:

    Nếu xem a ≈ 0 thì phương trình y = a + bx được viết thành y = b’x. Thay các giá trị x i, y i vào phương trình y = b’x ta sẽ được các giá trị b i và tính

    ;

    Phương sai của hai phương trình được tính như sau:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Chiết Xuất Curcumin Từ Nghệ
  • Phương Pháp Ngâm Trong Kỹ Thuật Bào Chế
  • Hướng Dẫn Cách Chiết Nước Hoa Sang Lọ Nhỏ Đơn Giản Tại Nhà
  • Bật Mí Cách Để Các Lọ Nước Hoa Chiết Ra Đời
  • Cách Chiết Nước Hoa Ra Chai Nhỏ Đơn Giản
  • Phương Pháp Chiết Khấu Dòng Tiền

    --- Bài mới hơn ---

  • Chiết Khấu Là Gì? Cách Tính Giá Chiết Khấu Và Ví Dụ Cụ Thể
  • Các Phương Pháp Chiết Xuất Tinh Dầu Tự Nhiên Nguyên Chất
  • Công Dụng, Cách Dùng Ma Hoàng
  • Nghiên Cứu Chiết Tách, Chuyển Hóa Hóa Học Và Thăm Dò Hoạt Tính Sinh Học Của Các Triterpenoid Từ Cây Rau Má Centella Asiatica (L.) Urban, Họ Hoa Tán
  • Ngâm Nhỏ Giọt Chiết Xuất Hoạt Chất
  • Phương pháp định giá cổ phiếu chiết khấu dòng tiền được dựa trên một nguyên lý cơ bản: tiền có giá trị theo thời gian, giá trị một đồng tiền của ngày hôm nay luôn có giá trị hơn một đồng tiền của ngày mai, một đồng đầu tư vào trong doanh nghiệp (DN) này có mức sinh lời khác với một đồng đầu tư trong DN khác. Do đó, giá trị của DN được xác định bằng các luồng thu nhập dự kiến mà DN đó thu được trong tương lai được quy về giá trị hiện tại bằng cách chiết khấu chúng bằng một mức lãi suất chiết khấu phù hợp với mức độ rủi ro của DN đó. Do vậy, trong phương pháp DCF có 3 thông số cơ bản nhất cần được xác định:

    Thời hạn tồn tại dự tính của DN. Mức lãi suất chiết khấu luồng thu nhập đó; Luồng thu nhập công ty sẽ thu về trong tương lai;

    Từ đó, chúng ta có công thức tổng quát:

    (Discounted Cash Flow) là giá trị hiện tại chiết khấu của dòng tiền trong tương lai (Future Value), hoặc FV điều chỉnh cho sự chậm trễ trong việc nhận được dòng tiền. Ở đây DCF tượng trưng cho giá trị của doanh nghiệp;

    là các dòng tiền trong một khoảng thời gian trong tương lai;

    là tỷ suất chiết khấu, phản ánh mức tỷ suất sinh lời kỳ vọng của nhà đầu tư với mức rủi ro của doanh nghiệp đó;

    là thời gian tồn tại ước tính của doanh nghiệp (thường bằng dương vô cùng – vì doanh nghiệp được giả định tồn tại mãi mãi)

    Từ công thức tổng quát chung trên, phương pháp này có thể áp dụng linh động cho nhiều trường hợp (Chủ yếu là thay đổi dòng tiền chiết khấu), phổ biến là:

    trong đó:

    2. Chiết khấu dòng tiền vốn chủ sở hữu (FCFE):

    – P ( Price): giá trị của cổ phiếu

    – DPS ( pidend per share): cổ tức kì vọng trên mỗi cổ phiếu tại thời kỳ t

    – ke ( cost of equity): chi phí vốn cổ phần, thường được xác định bằng công thức CAPM

    Ưu điểm của phương pháp DDM là rất trực diện, phản ánh chính xác lợi ích mà nhà đầu tư nhận được trong tương lai khi đầu tư vào một tài sản tài chính. Tuy nhiên, mô hình này có nhược điểm là không thể sử dụng được trong trường hợp doanh nghiệp không trả cổ tức, hoặc chính sách trả cổ tức không phản ánh khả năng sinh lời từ của doanh nghiệp trong tương lai (ví dụ: doanh nghiệp trong giai đoạn đầu phát triển trả cổ tức thấp do cần lợi nhuận giữ lại để bổ sung vốn nhằm mở rộng kinh doanh).

    Do đó, khi doanh nghiệp không trả cổ tức, người ta có thể chiết khấu một loại dòng tiền khác, đó là dòng tiền tự do ( free cash flow – FCF).

    FCFE = Lợi nhuận sau thuế + Chi phí phi tiền mặt – Chi phí vốn –Thay đổi vốn lưu động3. Chiết khấu dòng tiền doanh nghiệp (FCFF): + Thay đổi nợ

    Công thức tổng quát:

    Trong đó chi phí phi tiền mặt như khấu hao… Chi phí vốn bao gồm các khoản mua sắm tài sản, còn thay đổi nợ là chênh lệch giữa nợ vay thêm và nợ đã trả.

    4. Chiết khấu lợi nhuận thặng dư (RI):

    Ưu điểm của phương pháp FCFE là khắc phục được nhược điểm của DDM, tức là có thể áp dụng cho doanh nghiệp không thường xuyên trả cổ tức, hoặc có trả cổ tức nhưng không liên hệ một cách rõ ràng tới lợi nhuận của công ty. Nhược điểm của mô hình này là không áp dụng được khi dòng tiền FCFE là âm (ví dụ: khi doanh nghiệp có chi phí lãi vay quá cao). Lúc này, chúng ta sử dụng phương pháp FCFF – dòng tiền tự do cho DN (Free cash flow to Firm)

    Mô hình này đánh giá trực tiếp dòng tiền tự do mà các nhà đầu tư (bao gồm cả cổ đông và chủ nợ) của doanh nghiệp có thể nhận được sau quá trình hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai.

    Công thức:

    hai thay đổi so với công thức tính FCFE ở trên, đó là chúng ta sẽ cộng lại chi phí lãi vay (sau thuế) và bỏ đi phần thay đổi nợ vay. Lý do là vì dòng tiền FCFF là cho cả cổ đông và chủ nợ, do đó cần bỏ đi tất cả những ảnh hưởng của vay nợ.

    Chiến thắng Thị trường tổng hợp

    Ưu điểm của FCFF là không bị ảnh hưởng bởi thay đổi trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp như phát hành cổ phiếu, cổ tức, hay sử dụng đòn bẩy tài chính cao. Tuy nhiên, cũng giống như FCFE, nhược điểm của mô hình này là không sử dụng được khi dòng tiền FCFF dự phóng là âm.

    Một phương pháp cuối cùng có thể khắc phục nhưng không hoàn toàn điểm yếu này, đó là chiết khấu lợi nhuận thặng dư ( Residual Income – RI).

    Lợi nhuận trên sổ sách kế toán chỉ mới bao gồm chi phí nợ (ví dụ: chi phí lãi vay), nhưng chưa phản ánh chi phí vốn chủ sở hữu. Do đó, dưới góc nhìn của cổ đông, lợi nhuận sổ sách đã bị đội lên. Thu nhập thặng dư ( residual income) là khoản chênh lệch giữa lợi nhuận trên sổ sách của doanh nghiệp và mức lợi tức yêu cầu của nhà đầu tư.

    Giá trị doanh nghiệp được xác định giá bằng giá trị vốn chủ sở hữu (giá trị sổ sách – book value) năm hiện tại cộng với tổng các thu nhập thặng dư.

    Trên thực tế, việc ước tính các biến trong những mô hình trên khá khó khăn, đặc biệt là chi phí sử dụng vốn. Hơn nữa, việc dự đoán dòng tiền trong tương lai của một doanh nghiệp cũng đi kèm với những sai số có thể ảnh hưởng lớn đến giá trị cổ phiếu. Ngoài ra, khi ước tính giá trị doanh nghiệp, tăng trưởng (growth) là một yếu tố rất quan trọng mà các công thức ở trên chưa xét đến. Các mô hình định giá cổ phiếu có tính đến tăng trưởng điển hình là mô hình tăng trưởng Gordon, hay mô hình tăng trưởng hai giai đoạn…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trồng Hồng Xiêm, Kỹ Thuật Chiết Cành Hồng Xiêm
  • Kỹ Thuật Chiết Cành Hồng Xiêm
  • Hướng Dẫn Cách Chiết Cành Hồng Xiêm
  • Nhân Giống Hoa Hồng Leo Bằng Cách Chiết Cành
  • Hướng Dẫn Cách Chiết Cành Hoa Hồng Đúng Kỹ Thuật
  • Phương Pháp Ngâm Chiết Tinh Dầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Trình Chiết Xuất Bán Liên Tục
  • Ứng Dụng Của Phenol/chloroform Trong Tách Chiết Dna/rna
  • Quy Trình Tách Chiết Dna Vi Khuẩn Hiện Nay
  • Kỹ Thuật Nhân Giống Cây Ăn Quả Bằng Phương Pháp Chiết Cành
  • Chiết Cành Cây Ăn Trái Sao Cho Nhanh Ra Rễ
  • Tinh dầu đã được sản xuất khắp nơi trên thế giới từ hàng trăm năm qua khắp bằng nhiều phương pháp khác nhau. Từ xa xưa ông cha ta đã biết sửa dụng cách ngâm để tạo ra một tinh dầu thảo mộc với chất lượng tốt nhât, các loại hoa như hoa lài, hoa hồng, hoa cam được trải ra trên những chiếc khay phù một lớp dầu loãng. Quy trình mà dầu trở nên bão hòa với hương thơm được gọi là “phương pháp tách hương liệu”, và chỉ sau nhiều tháng tiếp tục bổ sung thì quy trình này mới được tác động bằng cách sử dụng một dung môi để tách các hợp chất có hương thơm. Quy trình này rất công phu, tỉ mỉ và đòi hỏi thời gian dài.

    Ngâm là một phương pháp chiết gián đoạn trong đó lượng dung môi được tiếp xúc đồng thời với toàn bộ lượng nguyên liệu trong dụng cụ thích hợp.

    Phương pháp này dựa vào tính chất của một số dung môi không bay hơi như dầu thực vật, mỡ đông vật, vaseline, parafin… có khả năng hòa tan tinh dầu trong nguyên liệu. Nếu ngâm bằng dung môi là chất béo động vật thì phải nâng nhiệt của quá trình để dung môi ở thể lỏng. Quá trình ngâm giống như quá trình trích ly nhưng chỉ khác là quá trình ngâm dùng dung môi không bay hơi. Dung môi dùng để ngâm phải thật tinh khiết, không có mùi lạ, do đó dung môi cần phải được tinh chế trước khi sản xuất.

    Phương pháp tiến hành

    Nguyên liệu được cho vào các túi vải rồi nhúng vào dung môi, tùy thuộc vào các loại nguyên liệu mà thời gian ngâm có thể dài hoặc ngắn, thường thì khoảng 48 giờ. Nhiệt độ ngâm nằm trong khoảng 60 ÷ 70C. Sau thời gian qui định, các túi được vớt ra và thay thế các túi chứa nguyên liệu mới vào, thường thì phải thay 25 lần mới có thể bảo hòa được tinh dầu trong dung môi. Bả nguyên liệu sau khi vớt ra còn chứa nhiều dung môi cần phải thu hồi bằng phương pháp ép hoặc li tâm. Nếu dung dung môi là chất béo động vật ta được sáp thơm và dung môi là dầu thực vật ta được dầu thơm. Dầu thơm và sáp thơm có thể dùng trực tiếp trong công nghiệp mỹ phẩm như dùng làm son, dầu chải tóc….Nếu không dùng trực tiếp dầu thơm và sáp thơm có thể lấy tinh dầu bằng cách tách bằng rượu êtilic rồi sau đó cất tách rượu.

    Sơ đồ công nghệ

    Ưu điểm:

    – Thu được tinh dầu ít tạp chất hơn.

    – Sản phẩm trung gian có thể sử dụng trực tiếp trong công nghiệp

    Nhược điểm:

    – Chất béo dùng làm dung môi rất khó tinh chế và bảo quản, cách tiến hành thì thủ công, khó cơ giới hóa.

    BBT Hatthocvang Vietnam

    Tags:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Chiết Nước Hoa Bằng Kim Tiêm Để Không Lãng Phí
  • Cách Làm Nước Hoa Hồng Đơn Giản Tại Nhà
  • 2 Cách Chiết Nước Hoa Tại Nhà Đơn Giản Nhất ( Kèm Video )
  • Ngâm Nhỏ Giọt Chiết Xuất Hoạt Chất
  • Nghiên Cứu Chiết Tách, Chuyển Hóa Hóa Học Và Thăm Dò Hoạt Tính Sinh Học Của Các Triterpenoid Từ Cây Rau Má Centella Asiatica (L.) Urban, Họ Hoa Tán
  • Các Phương Pháp Chiết Cây Cảnh

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Phương Pháp Giâm Cành Chiết Cành Và Ghép Cành 2022
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Chiết Cành Khế
  • Kỹ Thuật Nhân Và Trồng Cây Mít Nghệ
  • Cách Chiết Cành Mai Vàng Hiệu Quả Nhất Cho Các Nhà Vườn
  • Muốn Cho Cây Mít Sai Quả
  • 1. Chuẩn bị dụng cụ

    Nhân giống bằng chiết cành là phương pháp lấy cành cây uốn cong xuống đất hoặc dùng đất bùn bao lại lấy cành. Chỗ đắp đất hoặc bao bùn đều phải cạo vỏ gây ra vết thương để tạo mô sẹo và kích thích cây ra rễ. Sau khi ra rễ mới tiến hành cắt thành một cây độc lập. Phương pháp này thường dùng cho cây hoa giâm cành khó ra rễ. Do trong quá trình ra rễ, cành chiết nhận được dinh dưỡng từ cây mẹ nên tỷ lệ sống cao.

    Chiết cây cảnh thường có mấy phương pháp sau:

    (1) Chiết nén một cành:

    Chọn một cành sát đất uốn cong vùi vào đất, để ngọn cành lộ ra ngoài đất, chỗ vùi cắt một vết thương, không lâu chỗ vết thương sẽ mọc rễ cây mới.

    (2) Chiết nén nhiều cành:

    Những cây hoa mọc thành cụm có thể dùng phương pháp chiết nén mô đất. Đầu mùa xuân, cắt thành vết thương các cành định chiết rồi lấp đất cao lên, phủ kín các vết thương, sau 20-30 ngày các cành sẽ mọc rễ và thành cây.

    (3) Chiết nén cành liên tục:

    Những cây hoa có cành dài như hoa kim ngân, có thể dùng cách này. Làm thế này ta sẽ có nhiều cây mới cùng một lúc.

    (4) Chiết cành cao:

    Phương pháp này ta thường gọi là chiết cành. Những cây có cành cứng thô khó nén xuống đất thì ta dùng phương pháp chiết cành. Trước hết chọn vị trí dễ ra rễ, cắt thành vòng vỏ, bọc bùn và rêu bằng túi polyethylene, buộc kín 2 đầu, thường xuyên tưới nước, để giữ ẩm, sau khi ra rễ cắt tách cây ra trồng. Cây ngọc lan, cây trà, đỗ quyên ta thường dùng cách này. Thời gian chiết cành thường vào mùa xuân, khi trời ấm áp, hoa rụng, nhựa cây bắt đầu chảy, những cây hoa thường xanh thì chiết vào các tháng có mưa phùn.

    (5) Chiết rễ

    Lấy rễ của một cây cảnh còn nhỏ gốc ghép rồi nối một cành nào vào nó là phương pháp chiết rễ thông thường hoặc có cách chiết rễ khác đó là nếu một cây thiếu một rễ lớn và rễ chính tỏa ra rất nhiều rễ nhỏ ở mọi hướng, ta có thể áp dụng cách chiết nhiều rễ ở gốc nhờ vậy ta có thể tự tạo rễ để kết cấu một cây trở nên hoàn mỹ.

    (6) Chiết cành non

    Nếu ta tìm được một thân cây cụt cổ dáng đẹp nhưng chưa hoàn chỉnh, ta có thể ghép những cành non đó tuyển chọn vào những cành có chồi non của thân cây cụt để có những cành đẹp vừa ý cho các cây cảnh bonsai. Để ghép như vậy, ta cắt bỏ phần dưới của cành non gốc ghép, gọt sạch, chẻ nó một đường thẳng chính giữa khoảng 1cm. Kế đến gọt hai nhát hai bên cành để ghép, tạo thành hình mũi lao ở phía dưới, cắm nó vào khe ta đã chẻ của cành non gốc ghép. Nếu gốc ghép to lớn, có nhiều cành tỏa rộng, ta có thể ghép nhiều cành non một lúc. Sau cùng ta cột chúng lại bằng nilon và dùng bao nilon che trên ngọn của những chồi non để giữ không cho lá bị khô.

    (7) Chiết gân ( ghép áp )

    Kết hợp cành non với một gốc ghép trong khi cả hai đang phát triển bình thường bằng rễ của riêng chúng. Nhờ vậy cành chiết sẽ dễ sống hơn trong quá trình chiết vì cả cành và gốc ghép đều được sự hỗ trợ của rễ riêng. Phương pháp này thường được áp dụng cho những loại cây ít khả năng sống còn. Đôi khi ta để ý thấy mẫy cây cảnh của ta thiếu một cành ở một vị trí nào đó mà đấy lại là nhược điểm trong một tác phẩm được coi là hoàn hảo.

    Chiều dài của vùng ngang nhau tùy theo chiều ngang của chồi, thường thì chính xác gấp 4 lần đường kính của chồi. Sau đó, áp chính xác hai phần gọt vào nhau, rồi cột chặt chằng lại bằng nilon. Thường thường viết thương của chúng sẽ lành khoảng một tháng sau. Khi thấy chồi sống được, ta cắt chồi ở chỗ giao nhau, cũng gốc ghép thì cắt ở phía trên. Phương pháp ghép gần này có thể áp dụng chúng trong thời gian tăng trưởng các loại cây.

    (8) Chiết giâm

    Phương pháp chiết giâm được áp dụng khi nhựa bắt đầu chảy nhưng cây cảnh lại không ra chồi non. Để chiết cành gốc ghép cần được cắt bỏ khoảng 3cm trên mặt đất phần thân trơn láng hơn thường được chọn ta rạch một đường khoảng 3cm giữa phần gỗ và vỏ. Hai hoặc ba chồi cần được bảo dưỡng ở phía trên của mầm, đầu thấp ta gọt nhọn như mũi lao, cũng giống như cách ghép cạnh.

    Sau đó, ta áp mặt cắt dài vào phần cứng của gốc ghép nhưng nếu ta đặt chính xác phần của cành mầm và gốc ghép, việc chiết coi như thành công. Vỏ của gốc ghép cần được giữ liền lạc ở bên ngoài và cột chặt bằng một lớp nylon rồi ta nén đất cho chặt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chia Sẻ Cách Chiết Cành Cây Bưởi Ngay Tại Nhà
  • Hướng Dẫn Các Phương Pháp Chiết Cây Cảnh
  • Sự Khác Nhau Giữa Berberin Nguồn Tổng Hợp Và Nguồn Tự Nhiên
  • Các Phương Pháp Chiết Xuất Tinh Dầu Thiên Nhiên Trên Thế Giới
  • Định Nghĩa Và Các Tiêu Chuẩn Kiểm Nghiệm Cao Thuốc Theo Tiêu Chuẩn Dđvn Iv
  • Các Phương Pháp Chung Chiết Alcaloid

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Và Nguyên Lý Của Việc Tách Chiếc Adn
  • Nguyên Lý Hoạt Động Của Bộ Kit Tách Chiết Adn Trong Phòng Thí Nghiệm
  • Nghiên Cứu Chiết Tách Và Thành Phần Chất Màu Anthocyanin Trong Rau Dền Đỏ
  • Chiết Suất Và Tinh Chế Carotenoi
  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Chiết Xuất Artemisinin
  • Trong nguyên liệu thực vật ngoài alcaloid còn có vô số các chất khác như protein, nhựa, tanin, terpenoid, glycosid, sáp …. Chiết xuất các alcaloid là tách chúng ra khỏi dược liệu dưới dạng tinh khiết, không lẫn các tạp chất hoá học khác nhau có chứa trong dược liệu.

    Dựa vào các tính chất chung của alcaloid người ta đưa ra 2 phương pháp chung để chiết tách các alcaloid ra khỏi nguyên liệu thực vật.

    3.1. Phương pháp chiết alcaloid dưới dạng base bằng dung môi hữu cơ không phân cực (Hình 17.1)

    Hiệu suất chiết các hoạt chất từ dược liệu cao do dịch chiết rút ra sạch, dễ tinh chế loại các tạp đi kèm theo. Các dung môi hữu cơ không phân cực thường là các dung môi có khả năng chiết chọn lọc đối với alcaloid ở dạng base.

    Dung môi hữu cơ thường là các dung môi đắt tiền. Khi sử dụng các dung môi này để chiết đòi hỏi các thiết bị phức tạp đầu tư cho thiết bị lớn.

    Phương pháp tiến hành gồm các giai đoạn sau:

    Giai đoạn 1: Chuẩn bị nguyên liệu

    Để tăng khả năng chiết ta phải chia nhỏ dược liệu trước khi chiết nhằm làm tăng bề mặt tiếp xúc giữa hai pha rắn và lỏng đẩy nhanh quá trình khuếch tán. Tuy nhiên nếu ta chia nhỏ dược liệu quá dung môi sẽ khó chuyển động qua khối dược liệu và ta rất khó thu được dịch chiết, do đó tuỳ thuộc vào từng loại dược liệu ta có thể xay nhỏ khác nhau để vừa đảm bảo đẩy nhanh quá trình khuếch tán vừa dễ dàng trong rút dịch chiết.

    Kiềm hoá và làm trương nở nguyên liệu bằng dung dịch kiềm (thường dùng Ca(OH)2, NH4OH, Na2CO3… ) để chuyển alcaloid trong nguyên liệu sang dạng base.

    Sử dụng các dung môi chiết là các dung môi hữu cơ không phân cực (các dung môi không hoà lẫn với nước).

    Tinh chế thu các alcaloid bằng cách chuyển dạng muối với acid và chuyển dạng base bằng kiềm và phân chia chúng giữa hai pha dung môi hữu cơ không phân cực và nước để loại các tạp chất không phải là alcaloid.

    Hiện nay hầu hết các alcaloid được sản xuất trong nước cũng như trên thế giới sử dụng phương pháp này. Mặt khác phương pháp này khi sử dụng chiết các dược liệu có nhiều chất nhầy có độ trương nở cao, tránh được sự trương nở quá mức của dược liệu và sự hoà tan chất nhầy vào dung môi gây khó khăn cho rút dịch chiết và tinh chế.

    3.2. Phương pháp chiết alcaloid dưới dạng muối bằng dung môi nước, nước acid hoặc cồn (ethanol, methanol)

    – Dung môi rẻ tiền, dễ kiếm.

    ư Thiết bị chiết xuất đơn giản, đầu tư ít.

    Dịch chiết rút ra lẫn nhiều tạp chất, khó tinh chế do đó mất mát nhiều trong khâu tinh chế làm cho hiệu suất chiết thấp.

    Đối với các dược liệu chứa nhiều chất nhầy, việc sử dụng nước làm dung môi chiết gặp khó khăn trong khâu rút dịch chiết.

    Phương pháp tiến hành gồm các giai đoạn sau:

    Nguyên liệu thực vật được xay thô, sau đó được làm ẩm cho trương nở bằng nước.

    Sử dụng dung môi là nước chiết alcaloid dưới dạng muối tự nhiên hoặc muối với acid vô cơ, hoặc dung môi là cồn ethylic hoặc methylic để chiết alcaloid cả dưới dạng muối và base.

    Trong trường hợp chiết bằng nước, alcaloid base được giải phóng từ dịch chiết bằng cách thêm kiềm sau đó được chiết bằng một dung môi hữu cơ không hòa tan trong nước. Tiếp tục tinh chế bằng cách bốc hơi dung môi và kết tinh lại trong dung môi hữu

    cơ hoặc chuyển sang dạng muối kết tinh lại.

    Trong trường hợp chiết bằng cồn, dịch chiết cồn được cô đặc, thêm acid và loại các tạp chất bằng cách chiết bằng dung môi hữu cơ không phân cực, thêm kiềm chuyển alcaloid sang dạng base rồi chiết alcaloid bằng một dung môi hữu cơ. Bốc hơi dung môi hữu cơ rồi kết tinh alcaloid hoặc chuyển sang dạng muối kết tinh lại.

    Đối với các alcaloid khó tách có thể sử dụng phương pháp sắc ký hấp phụ hoặc phương pháp trao đổi ion.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chiết Xuất, Tinh Chế Và Phân Lập Alcaloid
  • Xác Định Chất Cấm Sibutramine Trong Thực Phẩm Chức Năng Giảm Béo Bằng Phương Pháp Hplc
  • Phân Tích Chất Cấm Sibutramine Trong Thực Phẩm Chức Năng Hỗ Trợ Giảm Cân
  • Đề Tài Phân Tích Và Tách Chiết Alkaloid Trong Thực Vật
  • Bộ Chiết Dung Môi/ Béo Theo Phương Pháp Soxhlet 02 Vị Trí Det
  • Phương Pháp Chiết Cành Nhân Giống Cây

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Nhân Giống Sứ Bằng Phương Pháp Chiết Cành
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Nhân Giống Bằng Phương Pháp Ghép Và Chiết Cành
  • Hướng Dẫn Cách Chiết Cành Nhân Giống Linh Sam Tạo Bonsai
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Chiết Cành Cơ Bản
  • Kỹ Thuật Chiết Cành,,cây Ăn Quả,kiến Thức Trồng Trọt
  • Ưu điểm của chiết cành: Sớm cho quả, giữ được các đặc tính tốt của cây mẹ, nhanh có giống để trồng. Thông thường sau khi chiết khoảng 3 – 4 tháng hoặc 8 tháng tuỳ giống vì vậy có thể đẩy nhanh tốc độ trồng mới. Ngoài ra cây trồng bằng chiết cành còn có ưu điểm: cây thấp, tán cây gọn, phân cành đều trong không gian, sớm cho thu hoạch và thuận lợi trong chăm sóc.

    Nhược điểm: Hệ số nhân giống chưa thật cao. Nếu chiết nhiều cành một lúc trên cây mẹ sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây mẹ. Để khắc phục nhược điểm này người ta dùng phương pháp chiết cành nhỏ.

    Những biện pháp kỹ thuật để nâng cao tỷ lệ ra rễ của cành chiết và chất lượng cành chiết.

    Chọn giống, chọn cây, chọn cành chiết tốt

    Khâu chọn giống rất quan trọng. Ví dụ cùng là bưởi nhưng có giống chua, giống ngọt, giống chín sớm, chín muộn khác nhau, lại có giống bưởi trắng ruột, bưởi điều…Vì vậy nên chọn giống nào có phẩm chất ngon, thị trường ưa chuộng và có năng suất cao. Cũng như trong một vườn bưởi, không phải cây nào cũng có năng suất cao và ăn ngon như nhau, mà chỉ có một số cây nhất định, thậm chí cả vườn chỉ được một cây ngon, hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Còn việc chọn cành trên cây thì nên chú ý độ lớn và vị trí cành. Độ lớn cành nên chọn loại cành có đường kính 1,0 – 2,0cm. Cành đã hoá gỗ ở vị trí giữa tầng tán phơi ra ngoài ánh sáng. Không chiết cành la, cành vượt.

    Chọn đúng thời vụ thích hợp cho từng giống để chiết

    Ở vùng đồng bằng Bắc bộ và bắc Trung bộ phần lớn các giống cây ăn quả nên chiết vào 2 vụ chính: vụ xuân (tháng 3 – 4) và vụ thu (tháng 8 – 9). Tuy nhiên cũng có thể tuỳ theo giống mà xê dịch thời vụ cho phù hợp. Ví dụ mận, đào nên chiết sớm vào tháng 2 – 3 khi cây bắt đầu ra hoa và vụ thu có thể chiết kéo dài đến hết tháng 10.

    Ở các tỉnh khu 4 cũ nên chiết vào vụ thu (tháng 8 – 9), không nên chiết vào vụ xuân vì tháng 5 – 6 ở đây có gió Lào, nắng, nóng và hạn. Các tỉnh ở miền Nam, Tây Nguyên nên chiết vào đầu mùa mưa.

    Kỹ thuật chiết

    Khoanh vỏ bầu chiết: Chiều dài khoang vỏ tốt nhất bằng 1,5 – 2 lần đường kính cành chiết, sau khi khoanh vỏ cạo sạch lớp tế bào tương tầng dính trên lõi gỗ. Với giống khó ra rễ cần phơi nắng khoảng 1 tuần sau đó mới bó bầu.

    Chất độn bầu: Dùng tỷ lệ 1/2 phân chuồng hoai + 1/2 đất màu, hoặc 2/3 phân chuồng hoai + 1/3 đất màu. Độ ẩm đất bầu chiết phải đảm bảo 70% độ ẩm bão hoà.

    Bó bầu bằng giấy pôlyêtylen màu trắng, đảm bảo cho bầu đất không bị xoay bằng cách buộc thêm một giây lạt ở giữa bầu.

    Sử dụng chất kích thích sinh trưởng

    Chất này có tác dụng làm tăng khả năng ra rễ đối với những giống khó ra rễ hoặc chiết vào mùa không thích hợp với cây.

    Các chất kích thích sinh trưởng thường dùng cho chiết cành như Indol butyric (IBA), α.naphtyl axêtic axit (NAA), Indol axêtic axit (IAA), Gibberellin (GA3). Cần chọn loại chất kích thích sinh trưởng và nồng độ phù hợp cho từng loại giống và mùa chiết khác nhau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Chiết Cành Đơn Giản
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Chiết Cành Cây Sanh
  • Kỹ Thuật Chiết Cành Cây Ăn Trái
  • Tổng Quan Về Phương Pháp Đầu Tư Canslim
  • Làm Giàu Từ Chứng Khoán Canslim Từ A Đến Z (Link Tải Sách Free)
  • Phương Pháp Quechers Chiết Mẫu Thực Phẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Dư Lượng Thuốc Bảo Vệ Thực Vật Bằng Phương Pháp Quechers
  • Áp Dụng Kỹ Thuật Quechers Phân Tích Dư Lượng Thuốc Bảo Vệ Thực Vật Trong Rau, Quả
  • Phương Pháp Trực Quan Là Gì?
  • Quản Trị Chất Lượng Là Gì? Phương Pháp Quản Trị Chất Lượng Trong Doanh Nghiệp
  • Hướng Dẫn Hồi Quy Mô Hình Tobit Trên Stata
  • Quechers phân tích các dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, để chiết và làm sạch mẫu thực phẩm

    Nhu cầu phân tích xác định dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong thực phẩm như rau củ, trái cây, thịt cá ngày càng trở nên bức thiết do việc lạm dụng các chất này trong sản xuất để tăng năng suất. Lượng mẫu cũng như số chỉ tiêu phân tích ngày càng nhiều, do đó cần phải có quy trình phân tích nhanh chóng mà vẫn đảm bảo độ chính xác dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Phương pháp truyền thống xử lý mẫu thực phẩm là chiết lỏng – lỏng sử dụng nhiều dung môi hữu cơ gây nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường. Do đó một phương pháp mới được phát triển gọi tắt là QuEChERS (Quick – Nhanh chóng, Easy – Đơn giản, Cheap – Rẻ, Effective – Hiệu quả, Ruged – Ổn định, Safe – An toàn) để chiết và làm sạch mẫu thực phẩm.

    Xác định dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong thực phẩm như rau củ, trái cây, thịt cá.

    Phân tích sàng lọc gần 150 thuốc BVTV với ngưỡng phát hiện đáp ứng được mức dư lượng tối đa cho phép theo quy định của các nước EU, Nhật,…

    Với quy trình xử lý mẫu rất nhanh, đơn giản và kết hợp với các thiết bị phân tích như GC-MS hay LC-MS người ta có thể nhanh chóng định lượng hàng trăm chất trong 1 lần phân tích.

    Trong phương pháp mới này, vật liệu hấp phụ anion yếu có nhóm amine bậc một và hai (Primary Secondary Amine – PSA) được sử dụng để loại bỏ đường, acid béo, acid hữu cơ, và các lipid, là một trong các chất hấp phụ chính có mặt trong hầu hết các ứng dụng của QuEChERS.

    Tuy nhiên giá thành của vật liệu PSA rất cao (PSA của hãng Supelco – 788 SGD/100 g tương đương 13.000.000 VNĐ chưa tính thuế) và do thường được tổng hợp trên vật liệu nền silica nên không thể sử dụng ở các môi trường pH quá cao hoặc quá thấp.

    Nhằm mục đích từng bước nội địa hóa các sản phẩm có giá trị kinh tế cao chúng tôi quyết định nghiên cứu tổng hợp vật liêu polystyrene có diện tích bề mặt lớn, chịu được các môi trường acid, baz và chứa nhóm methylene chloride dễ dàng chuyển hóa thành các nhóm chức khác, phục vụ các mục tiêu khác nhau. Một trong hai ứng dụng của vật liệu này là tổng hợp vật liệu PSA bằng quy trình mới để sử dụng cho phương pháp QuEChERS.

    Phương pháp Quechers là phương pháp phân tích các dư lượng thuốc bảo vệ thực vật nhanh có trong rau củ quả, thịt cá,…

    Qui trình chuẩn bị mẫu gồm 4 bước:

    • Đồng nhất mẫu
    • Thêm dung môi và hóa chất Quechers
    • Lắc và ly tâm
    • Thu mẫu cho vào vial

    Thời gian: khoảng 45 phút/mẫu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Tiếng Anh Theo Phương Pháp Phonics Là Gì Và Tác Dụng Của Phương Pháp Phonics Thế Nào?
  • Phương Pháp Học Phonics Cho Trẻ Em Từ 3
  • Phonics Là Gì Và Tất Cả Những Điều Ba Mẹ Cần Biết Về Phonics
  • Phẫu Thuật Nạo Va Bằng Phương Pháp Plasma Ở Bệnh Viện An Việt
  • Plasma Là Gì? Tính Chất Và Những Yếu Tố Ảnh Hưởng Trong Tự Nhiên
  • Các Phương Pháp Chiết Xuất Và Công Nghệ Chiết Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Bai Giang Chiet Lpe Lai Thi Thu Trang Truong Dai Hoc Y Thai Binh
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Chiết Cành Hoa Hồng
  • Nhân Giống Hoa Hồng Bằng Phương Pháp Chiết Cành
  • Kỹ Thuật Trồng Cây Hồng Xiêm Chiết Cành Nhanh Ra Quả
  • Chi Tiết Kỹ Thuật Tách Chiết Axit
  • Các loại thuốc tự nhiên, như y học cổ truyền Trung Quốc (TCM) và Ayurveda, được hình thành và phát triển trong cuộc sống hàng ngày của người cổ đại và trong quá trình chiến đấu chống lại bệnh tật trong hàng ngàn năm và chúng đã tạo ra tác động tích cực đến tiến trình của văn minh nhân loại. Ngày nay, thuốc tự nhiên không chỉ cung cấp nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho phần lớn dân số ở các nước đang phát triển mà còn thu hút ngày càng nhiều sự chú ý ở các nước phát triển do chi phí chăm sóc sức khỏe tăng cao và thắt lưng buộc bụng tài chính phổ quát. Tại Hoa Kỳ, khoảng 49% dân số đã thử dùng các loại thuốc tự nhiên để phòng ngừa và điều trị bệnh.

    Lượng hoạt chất trong thuốc tự nhiên luôn khá thấp. Quá trình tách chiết và cô lập tốn nhiều thời gian trong phòng thí nghiệm và là thời điểm áp dụng các sản phẩm tự nhiên trong phát triển thuốc. Có một nhu cầu cấp thiết để phát triển các phương pháp hiệu quả và chọn lọc để chiết xuất và phân lập các sản phẩm tự nhiên hoạt tính sinh học.

    Chiết xuất là bước đầu tiên để tách các sản phẩm tự nhiên mong muốn khỏi các nguyên liệu thô. Phương pháp chiết bao gồm chiết bằng dung môi, phương pháp chưng cất, ép và thăng hoa theo nguyên tắc chiết. Chiết dung môi là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất. Việc chiết xuất các sản phẩm tự nhiên tiến triển qua các giai đoạn sau: (1) dung môi thâm nhập vào cấu trúc rắn; (2) chất tan hòa tan trong dung môi; (3) chất tan được khuếch tán ra khỏi chất rắn; (4) các chất hòa tan được thu thập. Bất kỳ yếu tố nào tăng cường độ khuếch tán và độ hòa tan trong các bước trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chiết xuất. Các tính chất của dung môi chiết, kích thước hạt của nguyên liệu thô, khẩu phần dung môi đến chất rắn, nhiệt độ chiết và thời gian chiết sẽ ảnh hưởng đến hiệu suất chiết.

    Việc lựa chọn dung môi là rất quan trọng để chiết dung môi. Tính chọn lọc, độ hòa tan, chi phí và an toàn nên được xem xét trong việc lựa chọn dung môi. Dựa trên định luật tương tự và khả năng liên kết (như hòa tan như thế), các dung môi có giá trị phân cực gần với cực của chất tan có khả năng hoạt động tốt hơn và ngược lại. Rượu (EtOH và MeOH) là các dung môi phổ biến trong chiết xuất dung môi để điều tra hóa thực vật.

    Nói chung, kích thước hạt càng mịn thì kết quả chiết xuất càng tốt. Hiệu suất chiết sẽ được tăng cường bởi kích thước hạt nhỏ do sự thâm nhập của dung môi và khuếch tán các chất hòa tan. Tuy nhiên, kích thước hạt quá mịn sẽ tiêu tốn quá trình hấp thụ chất tan trong chất rắn và khó khăn trong quá trình lọc tiếp theo.

    Nhiệt độ cao làm tăng độ hòa tan và khuếch tán. Nhiệt độ quá cao, tuy nhiên, có thể làm mất dung môi, dẫn đến chiết xuất các tạp chất không mong muốn và phân hủy các thành phần thermolabile.

    Hiệu suất trích xuất tăng cùng với sự gia tăng thời gian trích xuất trong một khoảng thời gian nhất định. Thời gian tăng sẽ không ảnh hưởng đến quá trình chiết sau khi đạt đến trạng thái cân bằng của chất tan trong và ngoài vật liệu rắn.

    Tỷ lệ dung môi-chất rắn càng lớn thì năng suất chiết càng cao; tuy nhiên, tỷ lệ dung môi so với chất rắn quá cao sẽ gây ra dung môi chiết quá mức và cần một thời gian dài để cô đặc.

    Các phương pháp chiết xuất thông thường, bao gồm chiết xuất, lọc và hồi lưu, thường sử dụng dung môi hữu cơ và đòi hỏi một khối lượng lớn dung môi và thời gian chiết dài. Một số phương pháp chiết hiện đại hoặc xanh hơn như chiết chất lỏng siêu quan trọng (SFC), chiết chất lỏng có áp suất (PLE) và chiết bằng lò vi sóng (MAE), cũng đã được áp dụng trong chiết xuất sản phẩm tự nhiên, và chúng cung cấp một số lợi thế như tiêu thụ dung môi hữu cơ thấp hơn , thời gian trích xuất ngắn hơn và độ chọn lọc cao hơn. Tuy nhiên.

    Ngâm

    Đây là một phương pháp trích xuất rất đơn giản với nhược điểm là thời gian chiết dài và hiệu suất chiết thấp. Nó có thể được sử dụng để chiết xuất các thành phần thermolabile.

    Ćujić et al. đạt được năng suất cao của tổng phenol và tổng anthocyanin từ quả chokeberry ở điều kiện tối ưu hóa với 50% ethanol, tỷ lệ dung môi rắn là 1:20 và kích thước hạt 0,75 mm, cho thấy rằng ngâm là phương pháp đơn giản và hiệu quả để chiết xuất các hợp chất phenolic từ quả Anh đào dại. Một nghiên cứu về chiết xuất catechin từ Arbutus unedo L. sử dụng các loại trái cây, kỹ thuật chiết xuất bằng lò vi sóng và siêu âm cho thấy chiết xuất bằng lò vi sóng (MAE) là hiệu quả nhất, nhưng nhiệt độ thấp hơn được áp dụng trong vĩ mô với năng suất khai thác gần như giống hệt nhau, có thể được chuyển thành lợi ích kinh tế. Jovanović và cộng sự. đã đánh giá hiệu quả chiết xuất polyphenol từ Serpylli herba bằng nhiều kỹ thuật chiết xuất khác nhau (ngâm, chiết xuất có hỗ trợ nhiệt và chiết xuất có hỗ trợ siêu âm). Dựa trên hàm lượng tổng polyphenol, chiết xuất có hỗ trợ siêu âm tạo ra tổng năng suất flavonoid cao nhất và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê nào được tìm thấy giữa maculation và chiết xuất hỗ trợ nhiệt. Lá Cajanus cajan được sử dụng trong y học dân gian Trung Quốc để điều trị viêm gan, thủy đậu và tiểu đường. Flavonoid là các hợp chất hoạt tính sinh học. Jin và cộng sự. so sánh tốc độ chiết của directionoside (2), luteolin (3) và tổng flavonoid từ lá C. cajan bằng phương pháp hỗ trợ vi sóng, chiết xuất hồi lưu, chiết xuất có hỗ trợ siêu âm và chiết xuất ngâm. Hiệu suất chiết xuất của directionoside, luteolin và tổng flavonoid được tìm thấy là thấp nhất trong chiết xuất từ ​​phương pháp maculation.

    Ngấm kiệt

    Ngấm kiệt hiệu quả hơn so với maculation vì nó là một quá trình liên tục trong đó dung môi bão hòa liên tục được thay thế bằng dung môi tươi.

    Zhang và cộng sự. so sánh các phương pháp chiết tách và hồi lưu để trích xuất Undaria pinnatifida. Họ phát hiện ra rằng nội dung của thành phần chính, fucoxanthin, từ phương pháp chiết tách cao hơn so với phương pháp hồi lưu trong khi không có sự khác biệt đáng kể về năng suất chiết giữa hai phương pháp. Goupi patch là một chế phẩm y học Trung Quốc hợp chất bao gồm 29 loại thuốc Trung Quốc. Fu et al. đã sử dụng toàn bộ hàm lượng ancaloit được xác định bằng phương pháp chuẩn độ axit axit làm chỉ số và tối ưu hóa phương pháp thẩm thấu ethanol khi ngâm thuốc với rượu 55% trong 24 giờ và sau đó thấm qua 12 lần lượng cồn 55%. Khi sử dụng chỉ số chiết xuất của sinomenine (5) và ephedrine hydrochloride (6), Gao đã phát triển một phương pháp thẩm thấu tối ưu hóa khác: ngâm thuốc với 70% ethanol trong 24 giờ và sau đó thấm qua 20 lần lượng ethanol 70%. Tốc độ truyền của sinomenine và ephedrine hydrochloride lần lượt là 78,23 và 76,92%.

    Sắc thuốc

    Dịch chiết từ thuốc sắc chứa một lượng lớn tạp chất tan trong nước. Thuốc sắc có thể được sử dụng để chiết xuất các thành phần thermolabile hoặc dễ bay hơi. Các ginsenosides trong nhân sâm gặp phải phản ứng thủy phân, mất nước, khử carboxyl và các phản ứng bổ sung trong quá trình giải mã. Zhang và cộng sự. đã điều tra sự biến đổi hóa học của một chế phẩm TCM nổi tiếng, Danggui Buxue Tang, một loại thuốc thảo dược có chứa Astragali Radix và Angelicae Sinensis Radix. Họ phát hiện ra rằng hai flavonoid glycoside, calycosin-7-O-β-d-glucoside và ononin, trong Astragali Radix, có thể bị thủy phân để tạo thành calycosin và formononetin, tương ứng, trong quá trình giải mã. Hiệu quả thủy phân bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi pH, nhiệt độ và lượng thảo mộc. Hai hợp chất của TCM, Sanhuang Xiexin Tang (SXT) và Fuzi Xiexin Tang, đã được sử dụng ở Trung Quốc để điều trị các bệnh như tiểu đường trong hàng ngàn năm. SXT bao gồm Rhei Radix et Rhizoma, Scutellariae Radix và Coptidis Rhizoma trong khi FXT được sản xuất bằng cách thêm một TCM khác, Aconiti Lateralis Radix Prepata, trong SXT. Zhang và cộng sự. đã áp dụng một phương pháp UPLC-ESI / MS để giám sát 17 thành phần hoạt động trong các phân tích và trích dẫn SXT và FXT. Quá trình giải mã có thể tăng cường sự hòa tan của một số hợp chất hoạt tính sinh học so với quá trình maculation. Nội dung của 11 thành phần . Nhiệt độ cao trong quá trình giải mã đã làm mất hoạt tính của-glucuronidase và ngăn cản sự biến đổi glycoside thành aglycone của chúng, dẫn đến việc phát hiện ra hàm lượng cao hơn của baicalin và wogonoside trong thuốc sắc cũng như hàm lượng cao hơn của baicin và wogonoside. trong các câu lệnh. Sự tương tác giữa các hóa chất từ ​​các loại thảo mộc khác nhau cũng đã được quan sát. Các alcaloid diester-diterpenoid không được phát hiện trong thuốc sắc và thuốc ngâm của FXT, nhưng diester-diterpenoid alkaloid hypaconitine đã được tìm thấy trong thuốc sắc của một loại thảo dược duy nhất Aconiti Lateralis Radix Prepata. Thành phần của ba loại thảo dược khác trong FXT có thể thúc đẩy sự chuyển đổi từ các alcaloid diester-diterpenoid trong Aconiti Lateralis Radix Prepata sang các alcaloid monoester-diterpenoid ít độc hơn, có thể giải thích cơ chế giảm độc tính và tăng cường hiệu quả của TCM bằng cách hình thành .

    Chiết nóng hồi lưu

    Chiết xuất hồi lưu hiệu quả hơn so với quá trình thẩm thấu hoặc pha trộn và đòi hỏi ít thời gian chiết và dung môi hơn. Nó không thể được sử dụng để chiết xuất các sản phẩm tự nhiên thermolabile.

    Chiết xuất hồi lưu với 70% ethanol cung cấp năng suất cao nhất của thuốc trừ sâu sinh học tự nhiên, didehydrostemofoline (0,515% w / w của chiết xuất), từ rễ cây Collonaia trong số các chiết xuất được điều chế bằng các phương pháp chiết xuất khác nhau (siêu âm, chiết hồi lưu, Soxhlet, ngâm và ngấm kiệt)]. Zhang đã so sánh hiệu quả chiết xuất của các hoạt chất (baicalin và puerarin từ một hợp chất TCM kết hợp bảy loại thảo mộc với hai phương pháp khác nhau, sắc thuốc mã và hồi lưu. Phương pháp hồi lưu được tìm thấy tốt hơn phương pháp sắc thuốc. và sản lượng cao nhất của baicalin và puerarin thu được từ phương pháp hồi lưu với 60% ethanol làm dung môi chiết.

    Chiết xuất Soxhlet

    Phương pháp chiết xuất Soxhlet tích hợp các ưu điểm của chiết xuất và thẩm thấu hồi lưu, sử dụng nguyên lý hồi lưu và hút nước để liên tục chiết xuất thảo mộc bằng dung môi tươi. Chiết xuất Soxhlet là một phương pháp chiết xuất liên tục tự động với hiệu suất chiết cao, đòi hỏi ít thời gian và tiêu thụ dung môi hơn so với phương pháp maculation hoặc percolation. Nhiệt độ cao và thời gian chiết dài trong quá trình chiết Soxhlet sẽ làm tăng khả năng suy thoái nhiệt.

    Wei et al. thu được axit ursolic từ TCM Cynomorium (Cynomorii Herba) với năng suất 38,21 mg / g bằng cách chiết Soxhlet. Sự xuống cấp của catechin trong trà cũng được quan sát thấy trong chiết xuất Soxhlet do nhiệt độ chiết cao được áp dụng. Nồng độ của cả polyphenol và tổng số alcaloid từ phương pháp chiết Soxhlet ở 70 ° C đều giảm so với nồng độ của phương pháp ngâm áp dụng dưới 40 ° C.

    Chiết chất lỏng có áp suất (PLE)

    Chiết chất lỏng có áp suất (PLE) cũng được mô tả là chiết dung môi tăng tốc, chiết dung môi tăng cường, chiết chất lỏng điều áp, chiết chất lỏng tăng tốc và chiết bằng dung môi áp suất cao của các nhóm nghiên cứu khác nhau. PLE áp dụng áp suất cao trong khai thác. Áp suất cao giữ cho dung môi ở trạng thái lỏng trên điểm sôi của chúng dẫn đến độ hòa tan cao và tốc độ khuếch tán cao của các chất hòa tan lipid trong dung môi và độ thẩm thấu cao của dung môi trong ma trận. PLE giảm đáng kể mức tiêu thụ thời gian chiết và dung môi và có độ lặp lại tốt hơn so với các phương pháp khác.

    Các nhà nghiên cứu tại Đại học Macau và các viện nghiên cứu khác đã áp dụng thành công trong việc chiết xuất nhiều loại sản phẩm tự nhiên bao gồm saponin, flavonoid và tinh dầu từ TCM. Một số nhà nghiên cứu tin rằng PLE không thể được sử dụng để chiết xuất các hợp chất thermolabile do nhiệt độ chiết cao, trong khi những người khác tin rằng nó có thể được sử dụng để chiết xuất các hợp chất thermolabile vì thời gian chiết xuất được sử dụng trong PLE ngắn hơn. Phản ứng Maillard xảy ra khi PLE được sử dụng ở 200 ° C để chiết xuất chất chống oxy hóa từ bưởi nho. Anthocyanin là thermolabile. Gizir et al. áp dụng thành công PLE để thu được chiết xuất giàu anthocyanin từ cà rốt đen vì tốc độ phân hủy của anthocyanin phụ thuộc vào thời gian và điều kiện chiết xuất PLE trong thời gian ngắn ở nhiệt độ cao có thể khắc phục nhược điểm của nhiệt độ cao được sử dụng trong quá trình chiết xuất.

    Chiết chất lỏng siêu tới hạn (SFE)

    Chiết chất lỏng siêu tới hạn (SFE) sử dụng chất lỏng siêu tới hạn (SF) làm dung môi chiết. SF có độ hòa tan tương tự như chất lỏng và độ khuếch tán tương tự như khí, và có thể hòa tan nhiều loại sản phẩm tự nhiên. Tính chất hòa tan của chúng thay đổi đáng kể gần các điểm tới hạn do thay đổi áp suất và nhiệt độ nhỏ. Carbon dioxide siêu tới hạn (S-CO2) đã được sử dụng rộng rãi trong SFE vì những ưu điểm hấp dẫn của nó như nhiệt độ tới hạn thấp (31 ° C), tính chọn lọc, tính trơ, chi phí thấp, không độc hại và khả năng chiết xuất các hợp chất bền nhiệt. Độ phân cực thấp của S-CO2 làm cho nó trở nên lý tưởng cho việc chiết xuất các sản phẩm tự nhiên không phân cực như lipid và dầu dễ bay hơi. Một công cụ sửa đổi có thể được thêm vào S-CO2 để tăng cường đáng kể tính chất hòa tan của nó.

    Conde-Hernández chiết xuất tinh dầu hương thảo (Rosmarinus officinalis) bằng cách chiết xuất S-CO2, chưng cất thủy điện và chưng cất hơi nước. Ông phát hiện ra rằng cả hai sản lượng tinh dầu và hoạt tính chống oxy hóa của chiết xuất SFC đều cao hơn so với hai phương pháp khác. S-CO2 được biến đổi với 2% ethanol ở 300 bar và 40 ° C đã cho phép chiết xuất vinblastine cao hơn (một loại thuốc chống ung thư) từ Catharanthus roseus, hiệu quả hơn khi chiết xuất vinblastine 92% so với chiết xuất truyền thống phương pháp.

    Chiết có hỗ trợ siêu âm (UAE)

    Chiết xuất có hỗ trợ siêu âm (UAE), còn được gọi là chiết xuất siêu âm hoặc siêu âm, sử dụng năng lượng sóng siêu âm trong quá trình chiết xuất. Siêu âm trong dung môi tạo ra tăng tốc độ hòa tan và khuếch tán chất tan cũng như truyền nhiệt, giúp cải thiện hiệu suất chiết. Ưu điểm khác của UAE bao gồm tiêu thụ năng lượng và năng lượng thấp, và giảm nhiệt độ và thời gian chiết. UAE được áp dụng để khai thác các hợp chất thermolabile và không ổn định. UAE thường được sử dụng trong việc khai thác nhiều loại sản phẩm tự nhiên.

    Jovanović và cộng sự. đạt được năng suất polyphenol cao hơn từ Thymus serpyllum L. bởi UAE ở điều kiện tối ưu hóa (50% ethanol dưới dạng dung môi; 1:30 từ rắn đến dung môi; kích thước hạt 0,3 mm và thời gian 15 phút) so với phương pháp chiết xuất bằng phương pháp nhiệt và hỗ trợ nhiệt [13]. Wu và cộng sự. thấy rằng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê để chiết xuất ginsenoside, bao gồm ginsenosides Rg1 và Rb1, chikusetsusaponins V, IV và IVa, và pseudins RT1, từ TCM Panacis Japonici Rhizoma giữa UAE và trào ngược sử dụng metanol 70% dung dịch nước để chiết trong 30 phút. Quách et al. tìm thấy cả phương pháp hồi lưu và UAE có ưu điểm là tiết kiệm thời gian, vận hành thuận tiện và năng suất chiết cao và UAE tương đối tốt hơn phương pháp hồi lưu cho TCM Dichroae Radix sử dụng năng suất chiết xuất và hàm lượng của febrifugine làm chỉ số].

    Chiết có hỗ trợ lò vi sóng (MAE)

    Sóng vi ba tạo ra nhiệt bằng cách tương tác với các hợp chất phân cực như nước và một số thành phần hữu cơ trong ma trận thực vật theo cơ chế dẫn ion và cơ chế quay lưỡng cực. Sự truyền nhiệt và khối lượng theo cùng một hướng trong MAE, tạo ra hiệu ứng hiệp đồng để tăng tốc độ chiết và cải thiện năng suất chiết. Việc áp dụng MAE cung cấp nhiều lợi thế, chẳng hạn như tăng năng suất chiết xuất, giảm sự suy giảm nhiệt và gia nhiệt chọn lọc của vật liệu thực vật. MAE cũng được coi là một công nghệ xanh vì nó làm giảm việc sử dụng dung môi hữu cơ. Có hai loại phương pháp MAE: chiết không dung môi (thường cho các hợp chất dễ bay hơi) và chiết bằng dung môi (thường cho các hợp chất không bay hơi). Chen đã tối ưu hóa các điều kiện để MAE trích xuất resveratrol từ TCM Polygoni Cuspidati Rhizoma et Radix (rhizome và radix của Polygonum cuspidatum) bằng thí nghiệm trực giao. Hiệu suất chiết xuất 1,76% của resveratrol thu được từ các điều kiện tối ưu hóa như sau: thời gian chiết 7 phút, 80% ethanol, tỷ lệ chất lỏng với chất rắn 25: 1 (ml: g), công suất vi sóng 1,5 kw. Benmoussa và cộng sự. sử dụng phương pháp MAE không dung môi tăng cường để chiết xuất tinh dầu từ Nhà máy foeniculum Vulgare. hạt ở áp suất khí quyển mà không cần thêm bất kỳ dung môi hoặc nước. Năng suất và hồ sơ thơm trong chiết xuất MAE không dung môi tăng cường tương tự như chiết xuất bằng phương pháp chưng cất thủy điện và chỉ tốn một phần sáu thời gian chưng cất thủy điện. Xiong et al. đã phát triển một MAE để chiết xuất năm loại ancaloit hoạt tính sinh học chính là liensinine, neferine, isoliensinine, dauricine và nuciferin, từ phôi TCM Nelumbinis Plumula hạt nucifera) sử dụng thí nghiệm tiếp cận đơn biến và thiết kế hỗn hợp trung tâm. Các điều kiện MAE được tối ưu hóa như sau: 65% metanol làm dung môi chiết, công suất vi sóng 200 W và thời gian chiết là 260 s.

    Chiết xung điện (PEF)

    Chiết điện trường xung làm tăng đáng kể năng suất chiết và giảm thời gian chiết vì nó có thể tăng chuyển khối trong quá trình chiết bằng cách phá hủy cấu trúc màng. Hiệu quả của điều trị PEF phụ thuộc vào một số thông số bao gồm cường độ trường, đầu vào năng lượng cụ thể, số xung và nhiệt độ xử lý. Chiết xuất PEF là một phương pháp không nhiệt và giảm thiểu sự xuống cấp của các hợp chất thermolabile.

    Hou et al. thu được năng suất cao nhất của ginsenosides (12,69 mg / g) bằng PEF khi sử dụng các điều kiện cường độ điện trường 20 kV / cm, tần số 6000 Hz, dung dịch nước ethanol 70% và vận tốc 150 l / h. Năng suất của ginsenosides của phương pháp chiết xuất PEF cao hơn so với MAE, chiết xuất hồi lưu nhiệt, UAE và PLE. Toàn bộ quá trình trích xuất PEF mất ít hơn 1 giây và ít hơn nhiều so với các phương pháp được thử nghiệm khác. Trong một nghiên cứu về chất chống oxy hóa được chiết xuất từ ​​vỏ cây vân sam Na Uy, Bouras đã phát hiện ra rằng hàm lượng phenolic cao hơn nhiều (tám lần) và hoạt động chống oxy hóa (30 lần) đã đạt được sau khi điều trị PEF so với các mẫu không được xử lý.

    Chiết hỗ trợ enzyme (EAE)

    Cấu trúc của màng tế bào và thành tế bào, các mixen được hình thành bởi các đại phân tử như polysacarit và protein, và sự đông tụ và biến tính protein ở nhiệt độ cao trong quá trình chiết xuất là rào cản chính đối với việc chiết xuất các sản phẩm tự nhiên. Hiệu suất chiết xuất sẽ được tăng cường bởi EAE do tác động thủy phân của các enzyme trên các thành phần của thành tế bào và màng tế bào và các đại phân tử bên trong tế bào tạo điều kiện cho việc giải phóng sản phẩm tự nhiên. Cellulose, α-amylase và pectinase thường được sử dụng trong EAE.

    Polysacarit là một trong những thành phần có hoạt tính sinh học trong TCM Astragali Radix. Chen và cộng sự. đã nghiên cứu EAE của polysacarit từ cơ chế của Astragalus mucanaceus bằng cách sử dụng các enzyme khác nhau và thấy rằng glucose oxyase mang lại hiệu quả tốt hơn trong việc chiết xuất polysacarit so với bảy loại enzyme khác được thử nghiệm (amyloglucosidase, hemiaellulase, amylase, amylase Sản lượng polysacarit trong điều kiện EAE được tối ưu hóa bằng cách sử dụng glucose oxyase tăng hơn 250% so với phương pháp xử lý không enzyme. Năng suất chiết của axit chlorogen từ lá Eucommia ulmoides được cải thiện rất nhiều khi sử dụng cellulase và chất lỏng ion. Strati el al. nhận thấy rằng năng suất chiết xuất carotene và lycopene từ chất thải cà chua đã tăng lên khi sử dụng enzyme pectinase và cellulase. So với phương pháp chiết dung môi không xử lý bằng enzyme, năng suất cao hơn gấp sáu và mười lần của hai hợp chất mục tiêu đã thu được trong các mẫu được xử lý bằng cellulase và pectinase, tương ứng.

    Chưng cất hydro và chưng cất hơi nước

    Chưng cất hydro (HD) và chưng cất hơi nước (SD) là phương pháp thường được sử dụng để chiết xuất dầu dễ bay hơi. Một số hợp chất tự nhiên gặp phải sự phân hủy trong HD và SD.

    Thành phần hóa học và hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu nguyên sinh và tinh dầu thứ cấp từ Mentha citrata bị ảnh hưởng đáng kể bởi các phương pháp chưng cất. Cả sản lượng tinh dầu nguyên chất và tinh dầu thứ cấp theo HD đều cao hơn so với SD. Yahya và Yunus thấy rằng thời gian chiết xuất đã ảnh hưởng đến chất lượng của dầu hoắc hương cần thiết được chiết xuất. Khi thời gian trích ly tăng, nội dung của một số thành phần giảm hoặc tăng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Dụng Và Cách Chiết Xuất Tinh Dầu Gừng Tại Nhà
  • Hướng Dẫn Chiết Xuất Tinh Dầu Gừng Nguyên Chất Đơn Giả
  • Phương Pháp Chiết Xuất Tinh Dầu Đơn Giản
  • Hướng Dẫn Trồng, Chiết, Giâm Và Ghép Cành, Rễ Bonsai
  • Nhân Giống Hoa Hồng: Hướng Dẫn Cách Chiết, Ghép Và Giâm
  • Phương Pháp Chiết Khấu Dòng Tiền Fcff

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Chiết Cành Cây Sứ Đạt Tỉ Lệ Thành Công Cao
  • Kỹ Thuật Chiết Ghép Cây
  • Cách Chiết Ghép Mai Vàng
  • Gelatin Là Gì? Bột Gelatin Có Phải Là Bột Rau Câu?
  • Bột Gelatin Là Gì? Lá Gelatin Là Gì? Công Dụng Và Cách Sử Dụng
  • Case Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam (VCB) năm 2022

    Có một vài phương pháp và mô hình có thể được sử dụng để định giá doanh nghiệp như mô hình chiết khấu cổ tức (Dividend Discount Model, DDM), phương pháp định giá dựa trên hệ số thị giá trên thu nhập (P/E) hay hệ số thị giá trên giá trị sổ sách (P/B), mô hình chiết khấu dòng tiền tự do vốn chủ sở hữu (Free Cash Flow to Equity, FCFE) hoặc dòng tiền tự do của doanh nghiệp (Free Cash Flow to Firm, FCFF).

    Đối với VCB, do chính sách trả cổ tức chưa ổn định. Nên tôi sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền tự do của doanh nghiệp để định giá Vietcombank.

    Xác định chi phí sử dụng vốn bình quân WACC của VCB

    Để xác định được WACC, tôi xác định qua chi phí sử dụng các nguồn vốn (gồm nợ vay và vốn chủ sở hữu) và cơ cấu vốn của VCB

    Xác định cơ cấu vốn và chi phí vay

    Tôi ước lượng chi phí vốn chủ sở hữu của VCB dựa vào mô hình định giá tài sản vốn CAPM

    Sau khi tính được cơ cấu vốn và chi phí sử dụng vốn các loại, tôi tính chi phí sử dụng vốn bình quân trọng số sau thuế như sau

    Để xác định được FCFF, tôi dựa vào các báo cáo tài chính lịch sử của VCB, từ đó dự phóng được dòng tiền tự do mà VCB sẽ tạo ra trong tương lai.

    Xác định lợi nhuận hoạt động kinh doanh, tỷ lệ tái đầu tư…..

    Tôi định giá Vietcombank theo giá trị tài sản phục vụ hoạt động kinh doanh chính, nên trong EBIT tôi loại trừ các khoản thu nhập ròng từ đầu tư. Tại suất sinh lợi trên vốn, tôi loại bỏ vốn dành cho đầu tư tiền mặt và đầu tư tài chính

    Mức tăng trưởng của VCB cao qua các năm nhờ VCB là ngân hàng số một tại Việt Nam, lợi thế cạnh tranh cao. Tôi giả định số năm tăng trưởng nhanh của VCB tiếp tục trong 2 năm tiếp theo sau đó tốc độ tăng trưởng giảm dần trong 3 năm sau đó và bắt đầu bước vào giai đoạn ổn định

    Giai đoạn tăng trưởng

    invest24h – chứng khoán invest24h

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Tắc Chung Để Chiết Xuất Hợp Chất Flavonoid: Chiết Kiệt Flavonoid
  • Châu Âu Rúng Động Về Vụ Bê Bối “trứng Bẩn”
  • Trứng Gà Nhiễm Thuốc Trừ Sâu Được Bán Ở 15 Nước Châu Âu Và Hong Kong
  • Chiết Tách Dầu Từ Hạt Thanh Long Bằng Phương Pháp Enzyme
  • Phễu Chiết Thủy Tinh Dùng Để Làm Gì Và Cách Sử Dụng Phễu Chiết
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100