Dạy Học Tình Huống Và Tình Huống Dạy Học

--- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Đại Học
  • Phương Pháp Dạy Đọc Hiểu Văn Bản
  • Thuyết Kiến Tạo Và Dạy Học Dựa Trên Lý Thuyết Kiến Tạo
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học: Đổi Mới Như Thế Nào?
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Lịch Sử
  • Người thầy giáo trước lớp cũng như người chỉ huy trong chiến đấu, luôn phải quan sát đối phương và diễn biến chiến trường để ra các mệnh lệnh chiến đấu chứ không thể dựa vào bản kế hoạch tác chiến đã vạch sẵn trước khi xảy ra chiến sự.

    1. Một khái niệm cơ bản

    Là tư tưởng dạy học quan niệm rằng khi dạy học người thầy đứng trước những hoàn cảnh, điều kiện dạy học rất cụ thể. Thầy giáo phải luôn hiểu được nhu cầu, nguyện vọng, hứng thú, năng lực… của người học, đồng thời phải nắm được hoàn cảnh, điều kiện, môi trường… khi quá trình dạy học đang diễn ra. Trên cơ sở đó quyết định dạy cái gì, dạy như thế nào, sử dụng phương tiện và hình thức gì?… để tạo ra những hoạt động phong phú, hấp dẫn, nhằm khơi dậy hứng thú, lòng ham học tập, tìm tòi, kích thích tư duy sáng tạo của học sinh.

    Vũ trụ là vô cùng và tư duy sáng tạo của con người cũng là vô cùng. Nếu làm được điều đó thì lợi ích mang lại cho con người sẽ không thể nào lường hết được.

    Vì sự chú ý, hứng thú… của học sinh thay đổi từng giây, từng phút trong quá trình học tập, nên người thầy giỏi phải luôn nhạy cảm trước tình huống sư phạm mới có sự điều chỉnh kịp thời các hoạt động của mình.

    Người thầy giáo trước lớp cũng như người chỉ huy trong chiến đấu, luôn phải quan sát đối phương và diễn biến chiến trường để ra các mệnh lệnh chiến đấu chứ không thể dựa vào bản kế hoạch tác chiến đã vạch sẵn trước khi xảy ra chiến sự. Trong thực tế người thầy giáo giỏi đã làm như thế để có được những giờ học thành công. Họ đã thực hiện theo tinh thần dạy học tình huống. Đó là một trong những bí quyết quan trọng của nghệ thuật sư phạm mà các sinh viên và thầy giáo trẻ nên lưu ý học tập.

    Vậy bản chất của dạy học tình huống là dạy học gắn liền với thực tiễn, dạy học trong những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể và luôn biến động.

    THDH là khái niệm mô tả hoàn cảnh, điều kiện dạy học cụ thể như: thầy, trò, sách giáo khao (SGK) có gì đặc biệt? Mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, môi trường dạy học… như thế nào?

    THDH luôn luôn thay đổi, vì vậy để dạy học tốt đòi hỏi người thầy phải quan sát thực tế, nhạy cảm và tập trung sự chú ý của mình vào công việc. Người thầy thường tập trung vào việc xác định THDH ở 3 giai đoạn: trước giờ học, trong giờ học và sau giờ học.

    2. Cấu trúc của THDH

    THDH được tạo thành từ hai yếu tố cơ bản: con người và các thành tố của quá trình dạy học

    là thầy và trò. Muốn làm việc có hiệu quả người thầy phải nắm được nhu cầu, nguyện vọng, hoàn cảnh, điều kiện học tập của học sinh. Đối tượng lao động của người thầy là học sinh, khác với công nhân, nông dân, đối tượng lao động là những vật vô tri vô giác. Trong giờ lên lớp thầy giáo phải quan tâm theo dõi sự chú ý và hứng thú của học sinh. Sự chú ý như cửa sổ của tâm hồn con người. Khi cửa sổ này khép lại thì mọi hoạt động của thầy không còn ảnh hưởng tới tâm hồn họ nữa.

    Hứng thú học tập của học sinh là động lực kích thích tính tích cực sáng tạo, làm nâng cao chất lượng học tập.

    Trong dạy học động lực được tạo ra từ sự kích thích hứng thú là thế mạnh của người thầy, vì nó nằm trong tầm tay của họ qua sự lựa chọn nội dung, phương pháp, phương tiện và tình huống dạy học thích hợp.

    Bản thân người thầy cũng phải hiểu mình, luôn luôn tự rèn luyện, tu dưỡng để đáp ứng yêu cầu dạy học ngày càng cao của xã hội. Có thể tóm tắt những điều đã nói trong sơ đồ sau:

    Là thành phần cơ bản của THDH. QTDH có hai mặt: mặt nội dung và mặt quá trình có quan hệ chặt chẽ với nhau.

    Mặt nội dung gồm: Mục đích, mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức và kiểm tra, đánh giá. Những phạm trù này quyện chặt vào nhau trong QTDH, nhiều khi không thể bóc tách được, chúng rất trừ không phụ thuộc vào sự gia công sư phạm của người thầy. Bài học có sinh động, đem lại hứng thú, có để lại dấu ấn trong tâm hồn học sinh, đó là kết quả của việc nắm bắt tình hình thực tế, của sự uyên bác, của năng lực và nghệ thuật sư phạm, của tinh thần trách nhiệm và lương tâm người thầy.

    Mặt quá trình gồm: Tạo tình huống có vấn đề, kích thích động viên, tạo động lực, tổ chức hoạt động, kiểm tra đánh giá. Quá trình này kéo dài từ đầu đến cuối giờ học. Tất cả những điều kiện trên có thể tóm tắt trong bảng sau:

    Các yếu tố cơ bản của quá trình dạy học

    Mặt nội dung Mặt quá trình Nội dung Phương tiện Hoạt động của thầy Hoạt động của trò

    Tạo tình huống có vấn đề

    Giải quyết vấn đề. Tổ chức hoạt động

    Kiểm tra, đánh giá

    3. Quá trình vây dựng THDH

    Từ thực tiễn dạy học có thể thấy người thầy xây dựng THDH qua 3 giai đoạn: trước giờ học, trong giờ học, sau giờ học.

    Hiện nay, việc xây dựng THDH trước giờ học có thể xem là quan trọng nhất. Thậm chí, một số thầy giáo xem đây là giai đoạn duy nhất, mà không có các giai đoạn kia. Nếu nhận thức như thế, thì khi đứng lớp, người thầy chỉ tập trung vào những vấn đề đã được soạn trong giáo án, không chú ý đến thực tiễn dạy học sinh động đang diễn ra. Điều đó đã hạn chế tính hiệu quả của QTDH.

    Đây là lúc xảy ra sự tương tác trực tiếp giữa thầy và trò, là giai đoạn quan trọng nhất, quý báu nhất của QTDH, vì chất lượng dạy học – giáo dục thường được quyết định vào lúc này. Nhưng điều đó lại diễn ra hàng ngày nên người ta xem là việc làm bình thường, mà không phải ai cũng thấy được tầm quan trọng của nó.

    Tất cả những điều đó dựa trên sự quan sát, phân tích THDH cụ thể đang diễn ra trên lớp để có sự ứng xử thích hợp.

    Người thầy vừa như một người chỉ huy trong chiến đấu, vừa như một nghệ sĩ trên sân khấu. Tài năng và nghệ thuật sư phạm của người thầy chủ yếu diễn ra lúc này. Vì vậy đỏi hỏi người thầy phải tập trung và phát huy cao độ sự nỗ lực sáng tạo để đạt được hiệu quả cao trong hoạt động của mình.

    Trước khi kết thúc giờ học, các thầy thường dành vài ba phút để ra bài tập về nhà cho học viên. Nhưng trong dạy học hiện đại, vấn đề tự học của học viên phải được xem là chủ yếu. Vì vậy việc xác định THDH sau giờ lên lớp cũng phải được đặt ra một cách nghiêm túc hơn để có thể đưa ra một hệ thống bài tập hợp lí, phù hợp với thời gian và điều kiện học tập thực tế của các em. Đồng thời phải có sự hướng dẫn cần thiết về nội dung, phương pháp và kế hoạch… đối với những vấn đề khoa học phức tạp.

    Tác giả: chúng tôi Thái Duy Tuyên, ThS Bùi Hồng Thái

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Luyện Tập Và Thực Hành
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Hợp Là Gì? Áp Dụng Thế Nào?
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Hợp Liên Môn: Đặc Điểm Ý Nghĩa Ưu Khuyết
  • Pp Dạy Học Theo Góc
  • Sử Dụng Phương Pháp Dạy Học Theo Góc Trong Môn Hóa Học Nhằm Phát Huy Tính Tự Học Của Học Sinh
  • Dạy Học Nghiên Cứu Tình Huống

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Dạy Học Các Môn Tdtt
  • Chuong 4_Phuong Phap Giang Day Tdtt
  • Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Vào Giáo Dục Các Cấp
  • Phương Pháp Dạy Học Là Gì? Phân Biệt Với Thủ Pháp Dạy Học
  • Sử Dụng Phương Pháp Dạy Học Theo Góc Trong Môn Hóa Học Nhằm Phát Huy Tính Tự Học Của Học Sinh
  • Trong dạy học nghiên cứu tình huống (DHNCTH), tình huống được định nghĩa như sau: “Tình huống là một câu chuyện thuật lại một cách chi tiết, khách quan và tỉ mỉ các sự kiện hay vấn đề để người học trải nghiệm sự phức tạp, sự mơ hồ, và sự không chắc chắn mà những người tham gia gặp phải khi lần đầu đối mặt với tình huống đó.” (Vicki L. Golich)..

    2. Các bước dạy học nghiên cứu tình huống

    Năng lực của HS chỉ phát triển khi họ tham gia vào các hoạt động học tập và cũng chính trong hoạt động đó, năng lực hiện có của họ được bộc lộ. Trên cơ sở đó, GV sẽ có những định hướng đúng đắn giúp phát triển năng lực ở HS. Do đó, sự tham gia của HS vào các hoạt động học tập là yếu tố quyết định sự thành công việc dạy học. Bằng những câu chuyện thực hoặc hư cấu rất gần với bối cảnh thực, trong đó các khó khăn, mâu thuẫn và tình cảm rất gần gũi với người học, dạy học theo tình huống có thể tạo ra sự tham gia tích cực của HS vào các hoạt động có trong câu chuyện. Qua các hoạt động trong những tình huống gắn với các kiến thức vật lí, HS được phát triển hầu hết các năng lực chuyên biệt môn Vật lí.

    DHNCTH có tác dụng tốt đối với việc ghi nhớ các kiến thức vật lí, điều đó đồng nghĩa với việc phát triển thành phần năng lực K1 ở HS. Khi dạy theo PPNCTH, GV thường không đưa ra một lượng kiến thức đầy đủ như trong bài giảng, nhưng học viên có thể nhớ được những điều được học tốt hơn bởi vì một câu chuyện hay sẽ được ghi nhớ cùng với thông điệp giáo dục gắn với nó.

    Bằng việc nghiên cứu các tình huống thực, DHNCTH giúp HS thấy được biểu hiện và vai trò của các kiến thức lí thuyết đã và đang được học. Nhờ đó, thái độ tích cực của HS đối với môn học tăng lên đáng kể. Thông qua việc xử lí tình huống, người học sẽ có điều kiện để vận dụng linh hoạt các kiến thức lí thuyết. Qua đó, các thành phần năng lực K3 và K4 của họ được phát triển.

    Các tình huống tốt có tính chất liên kết lí thuyết rất cao. Để giải quyết tốt một tình huống, người học có thể phải vận dụng và điều chỉnh nhiều loại lí thuyết khác nhau. Đây chính là thời điểm các lí thuyết rời rạc của một môn học được nối lại thành bức tranh tổng thể. Đó là điều kiện quan trọng để HS phát triển thành phần năng lực K2.

    Trong dạy học vật lí, vấn đề của các tình huống luôn đòi hỏi HS giải quyết theo các phương pháp đặc thù của vật lí. Vì vậy, trong quá trình học theo NCTH, những thành phần năng lực về phương pháp của HS được phát triển.

    Để việc dạy học nghiên cứu tình huống giúp phát triển năng lực như đã phân tích trên, người dạy phải đầu tư thời gian và trí tuệ để xây dựng tình huống và tổ chức dạy học theo các bước của DHNCTH trong hình 1.2. [15].

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Nghiên Cứu Tình Huống, Giải Quyết Vấn Đề
  • Phương Pháp Dạy Học Làm Văn Thpt
  • Phương Pháp Dạy Học Mới Đang Vướng Phải Cản Trở Gì?
  • Chuyên Gia Tư Vấn Cách Khắc Phục Da Lão Hóa Sớm
  • Tham Vấn Là Gì? Tìm Hiểu Tiến Trình, Phương Pháp Tham Vấn Tâm Lý
  • Phương Pháp Dạy Học Nghiên Cứu Tình Huống, Giải Quyết Vấn Đề

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Học Nghiên Cứu Tình Huống
  • Các Phương Pháp Dạy Học Các Môn Tdtt
  • Chuong 4_Phuong Phap Giang Day Tdtt
  • Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Vào Giáo Dục Các Cấp
  • Phương Pháp Dạy Học Là Gì? Phân Biệt Với Thủ Pháp Dạy Học
  • PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    Trong thực tế làm việc , học viên thường phải tiếp xúc với các “tình huống”, “vấn đề” (những khó khăn cần giải quyết…); nhưng khi học tập, Học viên chỉ được dạy các theo các môn học riêng rẽ, ít có dịp luyện tập giống như trong thực tế, các năng lực đòi hỏi lồng ghép nhiều kiến thức, kỹ năng, thái độ thuộc các lĩnh vực khác nhau. Nhiều vấn đề thực tiễn không giống như khi học, hoặc chưa có giải pháp khuôn mẫu, nên học viên sau tốt nghiệp thường lúng túng, nhất là trong ra quyết định xử lý tình huống.

    I. DẠY HỌC QUA NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG

    a) Tình huống là những sự kiện, vụ việc, hoàn cảnh có mâu thuẫn, có vấn đề cần được giải quyết.

    b) Tình huống “có vấn đề”: là trở ngại về trí tuệ của con người, xuất hiện khi ta chưa biết cách giải thích hiện tượng, sự việc hay một quá trình nào đó của thực tế.

    c) Tình huống dạy học: mô tả những sự kiện, hoàn cảnh có thực hoặc hư cấu nhằm đạt những mục tiêu, mục đích dạy học.

    d) Dạy học qua (bằng) nghiên cứu tình huống: dạy học dựa trên tình huống có thật hoặc giống như thật, đòi hỏi người học phải tìm hiểu, suy nghĩ, đề ra được quyết định thích hợp nhất.

    Nghiên cứu tình huống còn gọi là nghiên cứu trường hợp điển hình (case study) là một trong những phương pháp dạy học chủ động, được sử dụng ngày càng phổ biến, nhằm khắc phục tình trạng thực tế là trong quá trình học tập, người học không được tự ra các quyết định; nên khi ra thực tiễn sẽ lúng túng, thiếu suy nghĩ, cân nhắc, không đề ra được quyết định hợp lý khi thực hiện nhiệm vụ theo chức trách đảm nhiệm.

    2. Yêu cầu khi biên soạn tình huống, phân loại tình huống

    a. Yêu cầu khi biên soạn tình huống

    Tình huống được biên soạn cần đảm bảo các yêu cầu sau:

    + Tình huống phải mang tính thời sự, sát với thực tế; phải chứa đựng thông tin đầy đủ, buộc người học phải sử dụng thông tin trong tình huống để giải quyết vấn đề. Trong tình huống phải cung cấp đầy đủ các dữ liệu cần thiết như thời gian, địa điểm, những nguyên nhân phát sinh sự kiện, vấn đề.

    + Tình huống đưa ra phải thể hiện những thách thức thực sự đối với người học, phải tạo ra khả năng để người học đưa ra nhiều giải pháp, để thu hút sự chú ý, kích thích tư duy, tình huống phải “có vấn đề” và không có câu trả lời duy nhất đúng cho vấn đề đó. Các nhân vật, sự kiện trong tình huống có tính hiện thực.

    + Tình huống đưa ra phải có tính phức tạp vừa đủ, buộc người học phải suy nghĩ, vận dụng khả năng trí tuệ để giải quyết. Một tình huống có thể rất dài, phức tạp hoặc rất ngắn gọn và đơn giản. Độ dài và độ phức tạp của tình huống không phụ thuộc vào mục tiêu giảng dạy mà giảng viên đề ra. Nói chung, độ dài của tình huống không quyết định mức độ phức tạp của tình huống. Tuy nhiên, giảng viên có thể tạo ra các nhân vật, sự kiện, bổ sung thông tin để phục vụ cho mục tiêu giảng dạy của mình.

    Có nhiều loại tình huống và mục đích sử dụng khác nhau. Có thể xếp các loại tình huống theo mức độ phức tạp dần như sau:

    Các tình huống chứng minh;

    Tình huống đề cập tới một vụ việc.

    Tình huống nêu ra vấn đề phải giải quyết.

    Tình huống có tính chất tổng hợp.

    Tình huống có tính chất tham gia trình diễn.

    Tình huống chứng minh: là một câu chuyện được đặt ra, không dựa vào một hoàn cảnh hoàn toàn có thực, mà chỉ có mục đích nói lên một sự thực mà tác giả muốn diễn tả. Những tình huống này không có gì để bàn cãi, vì người học hoặc chấp nhận sự thật hoặc không.

    Tình huống nêu ra vấn đề phải giải quyết: khác với tình huống về một vụ việc ở chỗ, vấn đề không được nói rõ ra. Việc đầu tiên của người học là phải tìm ra vấn đề. Với loại tình huống nêu vấn đề, thông thường người học được chỉ định thực hành những điều do tình huống đưa ra.

    Tình huống trình diễn: là loại tình huống tổng hợp, trình bày thông qua các vai diễn. Người học và giảng viên đều tham dự vào việc đóng các vai của tổ chức đã thể hiện, trở thành những người trong cuộc.

    Để thực hiện phương pháp dạy học bằng nghiên cứu tình huống, cần có các điều kiện sau:

    a) Người học đã được chuẩn bị trước về kiến thức, đã được học hay tự học về nội dung cơ bản của tình huống nghiên cứu và cách ra quyết định khi nghiên cứu tình huống.

    b) Người viết, hướng dẫn sử dụng nghiên cứu tình huống phải nắm vững kiến thức cơ bản chung về nội dung của nghiên cứu tình thuống, tốt nhất là đã gặp và giải quyết tốt tình huống được nêu để đảm bảo tình huống đó có đầy đủ các dữ kiện và giống như trong thực tế đã có (tình huống phải sát với thực tế).

    c) Dữ kiện phải đủ thông tin (không thừa, không thiếu, không “bẫy” người học). Tình huống phải được viết, in, phát cho từng người (hoặc chiếu toàn bộ lên màn hình) để người học có thể tự học, có điều kiện suy nghĩ, nghiên cứu, cân nhắc khi ra quyết định; không thể yêu cầu người học chỉ nghe đọc thoáng qua mà ra ngay quyết định.

    4. Cách tiến hành dạy học bằng nghiên cứu tình huống

    b) Xác định mục tiêu học tập.

    d) Nêu câu hỏi (để học viên ra quyết định). Có thể thực hiện theo hai cách:

    Câu hỏi mở: Yêu cầu người học tự đề ra biện pháp để giải quyết vấn đề trong nghiên cứu tình huốn, giúp cho người học được chủ động, thoải mái hơn.

    Câu hỏi đóng: Đề ra sẵn một số biện pháp để người học chọn ra biện pháp đúng, thích hợp nhất sau khi đã nghiên cứu, suy nghĩ trên các dữ kiện của tình huống đã cho.

    Câu hỏi đóng thường được trình bày theo hai dạng:

    – Đề ra hay 5 biện pháp, chọn lấy 1.

    f) Tổng kết (theo mục tiêu học tập).

    5. Quy trình biên soạn và dạy học theo phương pháp nghiên cứu tình huống

    – Xác định rõ mục tiêu học tập.

    – Để khoảng 50% thời gian giới thiệu lý thuyết hoặc những nguyên tắc cơ bản của nội dung bài học (có thể hướng dẫn cho học viên tự học, giảng viên khái quát lại).

    – Khoảng 10% thời gian, giảng viên tổng kết buổi trao đổi, củng cố nâng cao phần đã học.

    6. Trường hợp vận dụng phương pháp dạy học bằng nghiên cứu tình huống.

    – Dạy kỹ năng ra quyết định.

    – Dạy kỹ năng giải quyết vấn đề.

    7. Lợi ích của việc dạy học bằng nghiên cứu tình huống

    – Người học có điều kiện vận dụng kiến thức đã học để giải quyết tình huống, sự việc cụ thể xảy ra trên thực tế.

    – Giúp người học làm quen với cách giải quyết tình huống cụ thể ngay trong quá trình học tập ở trường.

    Nguồn: nhà xuất bản quân đội nhân dân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Làm Văn Thpt
  • Phương Pháp Dạy Học Mới Đang Vướng Phải Cản Trở Gì?
  • Chuyên Gia Tư Vấn Cách Khắc Phục Da Lão Hóa Sớm
  • Tham Vấn Là Gì? Tìm Hiểu Tiến Trình, Phương Pháp Tham Vấn Tâm Lý
  • Ưu Nhược Điểm Các Phương Pháp Nghiên Cứu Thị Trường
  • Phương Pháp Phỏng Vấn Theo Tình Huống

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Phỏng Vấn Hành Vi
  • Phương Pháp Phỏng Vấn Hành Vi Thành Công
  • Các Kiểu Phỏng Vấn Cơ Bản Và Cách Thực Hiện Một Buổi Phỏng Vấn
  • Cách Lập Bảng Câu Hỏi Phỏng Vấn Trong Nghiên Cứu Thị Trường (Phần 2)
  • 5 Phương Pháp Phỏng Vấn Hiệu Quả Nhất Được Áp Dụng Tại Các Tập Đoàn Toàn Cầu
  • Trường hợp1 Anh/Chị nhận được một lô kem (thuốc,…v…v..) mà thời hạn sử dụng đã hết do sự phức tạp trong thủ tục hải quan. Anh/Chị có thể:

    a/ Bán lô hàng cho các đại lý theo giá gốc và che giấu yếu tố thời hạn (có khả năng tiên nghiệm như vậy).

    b/ Bán lô hàng cho các đại lý với chế độ giảm giá và thông báo cho họ về việc lô hàng đã hết hạn sử dụng.

    c/ Trả lại lô hàng cho nhà cung cấp, chấp nhận thua lỗ – khoản thua lỗ chưa đến mức gây ra sự sụp đổ cho công ty bạn. Hãy lựa chọn phương án giải quyết và giải thích lập luận của mình.

    Hãy lựa chọn phương án giải quyết và giải thích cho lập luận của mình (chỉ dành cho những người nắm vững về marketing và nguyên tắc hoạt động tư vấn).

    Có thể chia các tình huống này làm ba nhóm:

    a/ Các kỹ năng cụ thể được kiểm tra;

    b/ Các giá trị và quan điểm được kiểm tra.

    c/ Các mô hình hành vi và đặc điểm cá nhân được kiểm tra

    Sự khác biệt cơ bản của phương pháp báo cáo hoạt động kinh doanh (Profit & Loss) và phương pháp tính toán dòng tiền mặt (Cash Flow) theo quan điểm kinh doanh thể hiện ở đâu? Mỗi một phương pháp tính toán mang lại cho nhà quản lý kinh doanh thông tin phân tích nào?

    Khách hàng trình cho Anh/Chị một kế hoạch thời hạn giao hàng. Theo đó, hôm nay là ngày họ phải giao hàng cho Anh/Chị nhưng hàng vẫn không đến tay Anh/Chị đúng lịch. Hành động của Anh/Chị?

    Sự khác biệt cơ bản của phương pháp báo cáo hoạt động kinh doanh (Profit & Loss) và phương pháp tính toán dòng tiền mặt (Cash Flow) theo quan điểm kinh doanh thể hiện ở đâu? Mỗi một phương pháp tính toán mang lại cho nhà quản lý kinh doanh thông tin phân tích nào?

    Khách hàng trình cho Anh/Chị một kế hoạch thời hạn giao hàng. Theo đó, hôm nay là ngày họ phải giao hàng cho Anh/Chị nhưng hàng vẫn không đến tay Anh/Chị đúng lịch. Hành động của Anh/Chị?

    Một nhân viên dưới quyền của Anh/Chị đã không ít lần chứng tỏ khả năng vượt trội của mình so với vị trí công việc hiện tại, Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan mà vẫn ngồi ở vị trí này, dù mức lương là khá cao, chưa kể mức hoa hồng. Hãy tìm cách thức để tạo ra sự động viên khuyến khích nhân viên này. 1. Hãy xác định các phẩm chất cá nhân cần thiết đối với nhân viên bộ phận bán hàng (bất cứ vị trí nào cần thiết cho tình huống này) và lựa chọn công cụ xác định chúng.

    2. Hãy mô tả một nhóm làm việc lý tưởng. Bây giờ hãy nêu ra/mô tả vị trí của Anh/Chị trong nhóm đó.

    Các điểm ưa thích của cá nhân trong nhóm làm việc, kiến thức về cơ sở quản trị

    3. Hãy hình dung một tình huống, theo đó, trong một tập thể mà Anh/Chị quản lý, có một nhân vật nào đó rõ ràng muốn cạnh tranh với Anh/Chị trong việc gây ảnh hưởng với các thành viên. Hành động của Anh/Chị? Khả năng xây dựng mối quan hệ trong tình huống xung đột, khả năng tạo ra ảnh hưởng đối với mọi người, khả năng tạo ra sự thu hút.

    4. Nhân viên thường lẩn tránh trách nhiệm, hỏi đi hỏi lại về cách làm thế nào để hoàn thành công việc hiện tại, nhưng cuối cùng thì thực hiện tốt. Nhân viên này làm việc trong công ty đã được nửa năm. Tình huống này có thể được gọi tên là gì? Hành động của Anh/Chị.

    Phogn cách quản lý, khả năng phân tích tình huống phức tạp, khả năng diễn giải tư duy, có xu hướng buộc tội nhân viên dưới quyền hoặc giải quyết tình huống phát sinh. Kiến thức về luật khuyến khích độngv iên và phê bình nhân viên.

    5. Trong một công ty lớn cxuất hiện tình huống sau: trong suốt một thời gian dài, bộ phận bán hàng khu vực chỉ làm việc trong văn phòng cách biệt khỏi các bộ phận khác. Bộ phận bán hàng này lớn, tương đối mạnh và chuyên nghiệp với một vị lãnh đạo kinh nghiệm. Trong một thời điểm nào đó, Ban giám đốc công ty đưa ra quyết định sáp nhập tất cả các bộ phận vào một văn phòng chung. Mâu thuẫn xảy ra. Hãy xác định các quan điểm đúng/sai của các bên và đề xuất cách giải quyết mâu thuẫn.

    Khả năng giải quyết xung đột, khả năng phân tích đa yếu tố, khả năng tạo ảnh hưởng đối với tình huống, phong cách quản lý, sắp xếp trình tự các ưu tiên.

    6. Điều gì tốt hơn: một người thừa hành lý tưởng với tiềm năng trung bình hay một “ngôi sao” với tham vọng lớn nhưng ít ổn định? Hãy giải thích câu trả lời của mình. Anh/Chị thích chọn ai?

    Khả năng phân tích, sự phù hợp hoặc không phù hợp của chính sách công ty nơi nhân viên được tiếp nhận vào làm việc

    7. Hãy sắp xếp trình tự ưu tiên của ý nghĩa các thông số dữ liệu trong tình huống khi Anh/Chị tiếp nhận một nhân viên bộ phận bán hàng:

    Các đặc điểm cá nhân (khả năng làm việc dưới áp lực cao, thân thiện, sáng tạo…); Hãy giải thích câu trả lời của mình.

    Sắp xếp các trình tự ưu tiên, sự phù hợp-không phù hợp các giá trị công ty nơi nhân viên được tiếp nhận vào làm việc.

    8. Hãy thử hình dung rằng, có một người nào đó trước đây đã từng ở vào vị trí như Anh/Chị và bây giờ trở thành nhân viên dưới quyền của Anh/Chị. Tình huống này có thể được gọi tên là gì? Hành động của Anh/Chị?

    Khả năng phân tích, diễn giải, xu hướng buộc tội nhân viên, kỹ năng quản trị thực hành.

    9. Do thiếu kinh nghiệm và sơ suất, một nhân viên dưới quyền của Anh/Chị đã để mất một hợp đồng làm ăn lớn. Một nhân viên khác thì lại ký được hợp đồng tương tự nhưng lại chèo kéo đối tác trích phần trăm hoa hồng cho mình. Trong trường hợp thứ nhất, công ty đã để mất một mối lợi lớn, trường hợp thứ hai – nhận được mức lợi nhuận tương đối hấp dẫn. Hãy mô tả phản ứng của Anh/Chị và hành động trong từng tình huống.

    10. Một nhân viên trước đây có kết quả làm việc xuất sắc nhưng bây giờ làm việc không được hiệu quả lắm cho dù cũng đã cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Tình huống này nên được gọi tên là gì và hành động của Anh/Chị là gì?

    Phong cách và kỹ năng quản trọ, khả năng diễn giải ý nghĩ, xu hướng buộc tội nhân viên.

    11. Một nhânv iên dưới quyền của Anh/Chị đã không ít lần chứng tỏ khả năng vượt trội của mình so với vị trí công việc hiện tại, Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan mà vẫn ngồi ở vị trí này, dù mức lương là khá cao, chưa kể mức hoa hồng. Hãy tìm cách thức để tạo ra sự động viên khuyến khích nhân viên này.

    Kỹ năng động viên khuyến khích nhân viên dưới quyền, diễn giải ý nghĩ.

    12. Hãy mô tả tình huống, trong đó nhân viên được bố trí làm việc theo nhóm và sự tương tác giữa mọi người có thể tạo ra những điều không có lợi

    Khả năng nhìn nhận các giải pháp phi chuẩn (câu trả lời đúng – nếu người nhân viên ở trong thành phố hoặc trong văn phòng).

    13. Hãy mô tả chân dung một nhân viên dưới quyền lý tưởng của Anh/Chị.

    Sự phù hợp giữa hình dung của ứng viên với thực tế của công ty

    14. Trong nhóm có một nhân viên thường xuyên yêu cầu mọi người giúp đỡ mình. Điều tốt và xấu trong tình huống này là gì.

    Phân tích, diễn giải, quan điểm buộc tội

    15. Với tư cách là một nhà lãnh đạo, Anh/Chị cần phải có khả năng quản lý con người. Khả năng này của Anh /Chị có tốt không? (Có lẽ chúng ta thường nhận được câu trả lời tệ nhất là “tạm được” hoặc “không đến nỗi lắm”). Hãy thử nêu đặc điểm của tôi như một đồng nghiệp tiềm năng hay một nhân viên dưới quyền (một cách thật cụ thể và chi tiết: nền văn hóa công sở nào phù hợp với tôi, các đặc trưng tính cách của tôi là gì, làm thế nào để khuyến khích tôi làm việc…”

    TÌNH HUỐNG tương tự đã được dẫn ra để đánh giá nhân iên bán hàng và, đương nhiên là không cần phải đưa bài tập này cho ứng viên vào vị trí quản lý bộ phận bán hàng.

    Chúng ta kiểm tra khả năng kiểm soát stress, khả năng đánh giá trung thực, cởi mở, kha 3năng quản lý con người dựa trên nền tảng giao tiếp ngắn ngủi.

    Vận tải, phân phối và phục vụ khách hàng

    1. Hãy nêu ra cơ sở nền tảng của các lợi thế công việc thông qua các nhà phân phối và nêu ví dụ về các sản phẩm (thị trường, điều kiện), nơi hệ thống công việc tương tự được coi là khả thi.

    2. Hãy nêu ra cơ sở nền tảng của các lợi thế của việc giao hành trực tiếp từ kho bãi và dẫn ra các ví dụ về sản phẩm (thị trường, điều kiện), nơi nơi hệ thống công việc tương tự được coi là khả thi.

    3. Hãy nêu ra cơ sở nền tảng của các lợi thế của công việc thông qua hệ thống phân phối – nhà nhập khẩu trực tiếp thực hiện việc giao hàng từ công ty mẹ và dẫn ra các ví dụ về hàng hóa (thị trường, điều kiện), nơi nơi hệ thống công việc tương tự được coi là khả thi. Các điều kiện pháp lý bắt buộc trong tình huống tương tự?

    4. Hãy hình dung rằng, từ 30 khách hàng của mình, Anh/Chị cần chọn tối đa 10 nhà phân phối. hãy xác định từ 5-10 tiêu chí. Hãy giải thích chúng.

    5. Một trong những khách hàng của Anh/Chị đề nghị phương án mua hàng thanh toán sau. Hành động của Anh/Chị? Hãy giải thích các tiêu chí mà dựa vào đó, Anh/Chị đưa ra quyết định.

    6. Nhiệm vụ của Anh/Chị là tạo dựng một hệ thống giảm giá linh hoạt tối đa cho các nhà phân phối. Hãy đề xuất các phương án giảm giá có thể và giải thích hiệu quả của từng phương án.

    7. Hãy hình dung rằng, Anh/Chị cần chuẩn bị một bản dự báo bán hàng cho năm tới. Anh/Chị sẽ hỏi về các dữ liệu nào, Anh/Chị sẽ tính đến chúng bằng cách nào? 8. Anh/Chị cần chuẩn bị một hỗn hợp sản phẩm. Anh/Chị sẽ hỏi về các dữ liệu nào, Anh/Chị sẽ tính đến chúng bằng cách nào? Khả năng lập kế hoạch hỗn hợp sản phẩm.

    10. Các đồng gnhiệp của Anh/Chị trong bộ phận kinh doanh muốn lượng hàng hóa cần thiết dự trữ phải có trong kho. Nhiệm vụ của Anh/Chị – giải thích vì sao tình huống này nói chung không có lợi xét từ quan điểm kinh doanh.

    11. Nhiệm vụ của Anh/Chị – giải thích vì sao lại cần xác định giới hạn về đơn hàng tối thiểu?

    Nắm bắt tính ổn định của tiến trình kinh doanh xét từ quan điểm chi phí cho phân phối và vận chuyển.

    12. Anh/Chị có một nhóm sản phẩm mà 1 kg có giá 10.000 USD và một nhóm mà 1 kg có giá 50 USD. Hãy giải thích các giới hạn về đơn hàng tối thiểu và vận chuyển cho từng nhóm sản phẩm.

    13. Khách hàng trình cho Anh/Chị một kế hoạch thời hạn giao hàng. Theo đó, hôm nay là ngày họ phải giao hàng cho Anh/Chị nhưng hàng vẫn không đến tay Anh/Chị đúng lịch. Hành động của Anh/Chị?

    Khả năng chịu trách nhiệm, đàm phán, kỹ năng quản lý xung đột.

    14. Khách hàng yêu cầu Anh/Chị đưa ra hành động nào đó nhưng Anh/Chị lại không có thẩm quyền (ví dụ, sửa lại hóa đơn), và tỏ ra hung hăng. Hành động của Anh/Chị?

    Khả năng quản lý xung đột, khả năng đàm phán, tính trung thành trong việc tuân thủ quy định.

    15. Trong các tài liệu mà khách hàng gửi cho Anh/Chị có một sai sót. Anh/Chị cần thông báo điều này cho khách hàng và biết rằng, khách hàng là một người hay tự ái và dễ nối nóng. Hành động của Anh/Chị.

    Khả năng làm việc với nguồn thông tin tiêu cực.

    16. Trong thời điểm hiện tại, Anh/Chị cho phép giảm giá đối với ba nhà phân phối trong dnah sách của mình. Trong quá trình kinh doanh, con số các nhà phân phối được hưởng chế độ giảm giá có thể sẽ tăng lên nhiều. Anh/Chị sẽ tự chép tay các nhà phân phối này vào danh sách (việc chép tay này có vẻ nhanh hơn) hay sẽ tạo ra công thức hay mắt xích (việc này có vẻ lâu hơn). Giả thích cách thực hiệnc ủa mình. Sklomost với tự động hóa công việc, khả năng dự báo các chi phí tạm thời cho tương lai.

    Trước mặt bạn là nhiệm vụ sản xuất rất quan trọng. Bạn cho rằng, để giải quyết nó, giải pháp tốt nhất là phương án X. Giám đốc của bạn yêu cầu bạn phải thực hiện phương án Y. Nhưng bạn cho rằng đối với công việc thì phương án X sẽ tốt hơn. Bạn sẽ làm gì trong tình huống này?

    Trước mặt bạn là nhiệm vụ sản xuất rất quan trọng. Bạn cho rằng, để giải quyết nó, giải pháp tốt nhất là phương án X. Giám đốc của bạn yêu cầu bạn phải thực hiện phương án Y. Nhưng bạn cho rằng đối với công việc thì phương án X sẽ tốt hơn. Bạn sẽ làm gì trong tình huống này?

    Bạn biết cách tạo ảnh hưởng đến người khác. Trước mặt bạn là khách hàng, người mà bạn có thể thuyết phục một cách dễ dàng để anh ta mua món đồ không cần thiết mặc dù món đồ này hoàn toàn vô hại. Bạn sẽ làm gì trong trường hợp này? Và tại sao bạn lại làm như vậy?

    Hãy tưởng tượng là có một người đã từng làm việc tại vị trí giống như bạn hiện nay nhưng giờ đây lại là cấp dưới của bạn. Có thể giải thích việc này như thế nào và bạn sẽ hành động ra sao?

    20. Anh/Chị coi điều gì là nhược điểm của mình? Vì sao?

    Sự diễn giải tương tự câu hỏi 19. Chúng ta có thể kiểm tra bổ sung khả năng nhận biết những điểm yếu của bản thân.

    Chúng ta cùng xem ví dụ về phỏng vấn tình huống của ứng viên vào vị trí kế toán trưởng và cách diễn giải ngắn gọn về câu trả lời của ứng viên.

    Anh/Chị muốn chọn nghề gì sau khi tốt nghiệp phổ thông?

    Tôi muốn trở thành chuyên gia kinh tế đối ngoại

    Tôi thường thích môn khoa học chính xác và phân tích, có lẽ kinh tế là chuyên ngành gần với toán học hơn cả, và hiện tại, nghề này mang lại nhiều cơ hội nghề nghiệp hơn cả.

    Lĩnh vực quan tâm – khoa học chính xác, ứng viên rõ ràng nhận thấy các mối quan hệ nhân-quả, có thể tìm thấy sự thỏa hiệp lô gic (kinh tế gần với toán học hơn cả), sự định hướng về nghề nghiệp và mong muốn dự đoán tương lai cũng được thể hiện rõ.

    Đạt được điều này như thế nào?

    Theo dõi chi tiết mối quan hệ nhân-quả. Mô hình thành công – kiến thức tốt/quá trình học tập/công việc+ nhận thức mục tiêu bản thân và mong muốn rõ ràng. Sự nhận thức rõ ràng về uy tín bằng cấp chuyên môn.

    Vì sao Anh/Chị thay đổi chuyên môn của mình? (Chúng ta thấy từ lý lịch cá nhân rằng ứng viên là kế toán trưởng).

    Nghề này có vẻ như đang thịnh hành và tương đối ổn định trên thị trường lao động, ngoài ra, trong thời điểm hiện tại, điều này là một trong những nghề được trả lương cao nhất. Bởi vậy mà tôi đã quyết định thay đổi nghề nghiệp chuyên môn của mình.

    Lại xuất hiện sự định hướng đối với nghề nghiệp, sự thịnh hành của nghề nghiệp và tính ổn định của nghề trên thị trường lao động cũng như động cơ vật chất. Xuất hiện sự độc lập trong việc ra quyết định và trách nhiệm cho các quyết định của bản thân.

    Vì điều gì mà Anh/Chị đạt được thành công trong nghề nghiệp mới của mình?

    Sự hài hòa giữa kinh nghiệm của một chuyên gia kinh tế và kế toán trưởng đã giúp tôi rất nhiều. Hơn nữa, tôi không sợ đưa ra quyết định và có khả năng không chỉ làm việc mà còn học hỏi người khác.

    Một lần nữa mô hình thành công được khẳng định – mô hình thành công ở tầm “chuyên gia”, tầm quan trọng của việc ra quyết định cũng có ý nghĩa đối với ứng viên, thêm vào đó, ở đây xuất hiện sự lảng tránh, nghĩa là có thể giả định mối quan hệ tiêu cực của ứng viên với tình huống, trong đó mọi người không muốn/sợ đưa ra quyết định. Ứng viên tăng thêm ý nghĩa “có khả năng làm việc”, xuất hiện đòi hỏi cao đối với bản thân và người khác.

    Vì sao Anh/Chị lại chọn công việc này?

    Tôi nghe nhiều kiểm toán viên khen ngợi về công ty này và người ta cũng đưa ra nhiều điều kiện hấp dẫn cho tôi.

    Xuất hiện mức độ cao trong việc định hướng đến uy tín nghề nghiệp cũng như động cơ vật chất.

    Anh/Chị có phải là một kế toán trưởng giỏi?

    Việc tự đánh giá được coi là bình thường trong điều kiện chúng ta biết được uy tín nghề nghiệp tốt của ứng viên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Phỏng Vấn Tuyển Dụng Của Doanh Nghiệp
  • Ưu Nhược Điểm Các Phương Pháp Phỏng Vấn Tuyển Dụng Nhân Sự
  • Gợi Ý Cách Phỏng Vấn Cho Nhà Tuyển Dụng Không Chuyên
  • 20 Câu Hỏi Phỏng Vấn Giám Đốc Kinh Doanh Không Thể Bỏ Qua
  • Phong Cách Phỏng Vấn Của Công Ty Nhật
  • Nghiên Cứu Tình Huống Trong Giảng Dạy Đại Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghiên Cứu: Hiệu Quả Chi Phí Của Các Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Trực Tràng
  • Các Nhà Nghiên Cứu Phát Triển Phương Pháp Xét Nghiệm Mới Ở Ung Thư Bàng Quang
  • Bỏ Điều Trị Ung Thư Thông Thường Để Theo Các Phương Pháp Thay Thế Làm Tăng Nguy Cơ Chết Của Bệnh Nhân
  • Nghiên Cứu Kết Quả Điều Trị Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Gan Bằng Phương Pháp Tắc Mạch Hóa Chất Sử Dụng Hạt Vi Cầu Dc Beads
  • Quá Trình Một Buổi Bảo Vệ Luận Văn Cao Học Quản Trị Kinh Doanh Tại Ueh
  • Phương pháp giảng dạy truyền thống với vai trò người thầy làm trung tâm phát thông tin, và học viên bị động tiếp nhận thông tin đã trở nên lạc hậu trước yêu cầu đào tạo về quản lý của xã hội,

    khi các giá trị được kỳ vọng từ các nhà quản lý tương lai là năng lực tư duy sáng tạo và khả năng tự tiếp thu cái mới, hay cao hơn nữa là khả năng tự hoàn thiện.

    Tại khoa quản lý công nghiệp Trường ĐH Bách khoa chúng tôi phương pháp nghiên cứu tình huống (case study) – một phương pháp giảng dạy đang được sử dụng rất phổ biến trong các trường kinh doanh trên toàn thế giới – đã được sử dụng làm phương pháp giảng dạy trong rất nhiều môn học (quản trị tiếp thị, tiếp thị công nghiệp, quản trị chiến lược kinh doanh, kinh tế học kinh doanh, quản trị học) và bậc học (đại học, đại học bằng hai, cao học, các chương trình huấn luyện ngắn hạn dành cho các doanh nghiệp). Khảo sát ở giảng viên cũng như ở phía học viên cho thấy phương pháp này có những ưu điểm nổi bật so với phương pháp truyền thống.

    Các ưu điểm nổi bật

    Thứ nhất, nâng cao tính thực tiễn của môn học. Sau khi đã được cung cấp các kiến thức lý thuyết, một bài tập tình huống sẽ giúp học viên có cái nhìn sâu hơn và thực tiễn hơn về vấn đề lý thuyết đã được học. Thông qua việc xử lý tình huống, học viên sẽ có điều kiện để vận dụng linh hoạt các kiến thức lý thuyết.

    Chính trong quá trình tư duy, tranh luận, bảo vệ và sửa đổi các đề xuất – giải pháp của mình, học viên (hay nhóm học viên) đã tham gia vào quá trình nhận thức. Sự tham gia tích cực đó đã góp phần tạo ra sự hứng thú và say mê học tập, sáng tạo của học viên. Đây chính là lúc quá trình dạy và học tập trung vào học phương pháp học, phương pháp tiếp cận, phân tích và tìm giải pháp chứ không chỉ giới hạn ở việc học các nội dung cụ thể.

    Lúc này học viên tiếp thu được kinh nghiệm làm việc theo nhóm, chia sẻ kiến thức, thông tin để cùng đạt đến mục tiêu chung. Các kỹ năng như trình bày, bảo vệ và phản biện ý kiến cũng được hình thành trong bối cảnh này. Học viên cũng học được cách tôn trọng và lắng nghe ý kiến của người khác để làm cho vốn kiến thức của mình phong phú hơn. Đây chính là những kỹ năng rất cần thiết đối với các nhà quản lý hiện đại.

    Thứ tư, giảng viên – trong vai trò của người dẫn dắt – cũng sẽ tiếp thu được rất nhiều kinh nghiệm và những cách nhìn / giải pháp mới từ phía học viên để làm phong phú bài giảng và điều chỉnh nội dung tình huống nghiên cứu. Đây cũng là một kênh quan trọng để giảng viên thu thập kinh nghiệm từ các học viên, đặc biệt là những học viên đã có quá trình công tác.

    Thứ năm, các tình huống tốt có tính chất liên kết lý thuyết rất cao. Để giải quyết tốt một tình huống, người học có thể phải vận dụng và điều chỉnh nhiều tập lý thuyết khác nhau. Đây chính là lúc các lý thuyết rời rạc của một môn học được nối lại thành bức tranh tổng thể. Ở mức độ ứng dụng cao hơn, người học không chỉ vận dụng kiến thức của một môn học mà trong nhiều trường hợp phải vận dụng kiến thức của nhiều môn học khác nhau.

    Điều này rất quan trọng, vì trên thực tế sinh viên được trang bị rất nhiều kiến thức từ nhiều môn học khác nhau nhưng lại chưa được cung cấp sự liên kết – “các dây chằng” các kiến thức độc lập lại với nhau. Khi ra thực tiễn, hiếm khi nào nhà quản lý gặp một vấn đề chỉ là tiếp thị hay sản xuất, tài chính mà thông thường họ phải vận dụng tất cả kiến thức liên ngành để giải quyết.

    Cuối cùng, trên phương diện nghiên cứu khoa học đặc biệt trong xã hội học, nghiên cứu tình huống là một phương pháp quan trọng khi (1) vấn đề cần nghiên cứu là mới chưa có các lý thuyết và nghiên cứu trước đó – lúc này nghiên cứu tình huống sẽ cho cái nhìn rất sâu về vấn đề nghiên cứu để xây dựng các lý thuyết nền, cơ sở đầu tiên cho các nghiên cứu lượng hóa tiếp theo và (2) khi vấn đề nghiên cứu là một quá trình kéo dài chẳng hạn quá trình xây dựng, lựa chọn và thực thi các loại chiến lược cạnh tranh của một doanh nghiệp hay một ngành. Tuy nhiên cũng cần hết sức thận trọng khi sử dụng các kết quả từ nghiên cứu tình huống để khái quát hóa cho các trường hợp tương tự.

    Những thách thức

    Tính tích cực của phương pháp mới là không thể phủ nhận. Tuy nhiên trong quá trình ứng dụng có một số thách thức cần được nhìn nhận. Các thách thức này bao gồm cả các yếu tố chủ quan (giảng viên và học viên) và các yếu tố khách quan (môi trường, điều kiện vật chất).

    Giảng viên. Phương pháp nghiên cứu tình huống không những gia tăng khối lượng làm việc của giảng viên mà còn đòi hỏi giảng viên phải luôn chấp nhận đổi mới, cập nhật các thông tin, kiến thức và kỹ năng mới. Để có những bài tập tình huống thực tế, sát với điều kiện môi trường kinh doanh của VN, giảng viên phải đầu tư thời gian và trí tuệ để tiếp cận các doanh nghiệp, thu thập, xử lý thông tin và xây dựng tình huống.

    Quá trình này rất tốn thời gian, công sức và là một quá trình liên tục (vì tuổi thọ của một tình huống khá ngắn, do điều kiện môi trường kinh doanh thay đổi rất nhanh). Một số giảng viên sử dụng các tình huống có sẵn ở các tài liệu nước ngoài. Các tình huống này đều được chuẩn bị hết sức chuyên nghiệp nhưng đôi khi lại rất xa lạ với môi trường kinh doanh ở VN, khi các tiền đề về thị trường, doanh nghiệp và khách hàng còn rất khác biệt.

    Rất nhiều học viên cho rằng phương pháp này còn phản tác dụng khi giảng viên chỉ đơn thuần dịch lại các tình huống trong sách nước ngoài, vì với các tình huống như vậy cả thầy lẫn trò đều khó tiếp thu. Nhiều trường hợp, giảng dạy bằng tình huống là cách để thầy “nghỉ ngơi” vì trò phải làm việc, và thầy cũng chẳng biết giải tình huống thế nào, nên người học thực chất cũng chẳng thu được lợi ích gì.

    Học viên. Thách thức lớn nhất thuộc về tính năng động, yêu thích kiến thức và khả năng tư duy độc lập của học viên. Phương pháp nghiên cứu tình huống chỉ thật sự phát huy những giá trị hữu ích khi có sự tham gia chủ động và yêu thích của học viên.

    Tuy nhiên do đã quá quen thuộc với cách tiếp thu kiến thức thụ động (thầy giảng trò ghi chép) nên khi chuyển qua phương pháp mới – đòi hỏi sự năng động, khả năng tư duy và tính sáng tạo – thì một bộ phận học viên không thích ứng được. Bên cạnh một số học viên rất năng động, yêu thích kiến thức (sẽ tiếp thu được rất nhiều trong quá trình học), tồn tại một bộ phận học viên chỉ đến lớp vì nghĩa vụ.

    Phối hợp hiệu quả với các phương pháp khác. Phương pháp này đòi hỏi giảng viên hiểu rõ các tính chất của học viên và các yếu tố tác động để có sự phối hợp nhuần nhuyễn và cân đối với các phương pháp truyền thống. Khi sử dụng quá liều lượng nó có thể làm phản tác dụng vì học viên có thể chỉ chú trọng giải quyết các tình huống cụ thể và cho rằng thực tiễn luôn diễn ra như tình huống.

    Đây chính là hạn chế lớn của phương pháp – tính khái quát hóa. Một số các giáo sư nước ngoài chỉ đơn thuần dạy bằng tình huống, mỗi buổi lên lớp các nhóm sinh viên đều được yêu cầu trình bày những tình huống cho trước.

    Tuy nhiên điều kiện ở nước ngoài có khác, khi sách, tài liệu tham khảo rất đầy đủ và sinh viên cũng rất quen với việc tự nghiên cứu trước khi đến lớp. Nếu máy móc áp dụng vào điều kiện VN có thể sẽ gây phản tác dụng.

    Môi trường, điều kiện vật chất. Đây là các thách thức khách quan, bao gồm các yếu tố về điều kiện trang bị vật chất, qui mô lớp học, sự hợp tác của doanh nghiệp / xã hội trong quá trình cung cấp thông tin cho giảng viên.

    Thứ hai, hiện nay có tình trạng sinh viên phải học quá nhiều môn học trong một học kỳ nên không có đủ thời gian cần thiết cho việc tự nghiên cứu. Sách giáo khoa và tài liệu tham khảo cũng hết sức thiếu thốn.

    Thứ ba, để có nguồn thông tin phục vụ việc xây dựng các tình huống, giảng viên phải tiếp cận các doanh nghiệp dựa trên các mối quan hệ cá nhân. Tuy nhiên không phải giảng viên nào cũng có các mối quan hệ với doanh nghiệp và cũng không phải doanh nghiệp nào cũng sẵng sàng cung cấp thông tin.

    Thứ tư, đầu tư của giảng viên cho phương pháp này rất lớn nhưng hiện nay không có sự đãi ngộ hay công nhận nào từ phía các nhà quản lý giáo dục nên rất nhiều giáo viên vẫn quay về phương pháp diễn giải truyền thống.

    Thứ năm, đây là một phương pháp khoa học nhưng đang được ứng dụng theo hình thức kinh nghiệm của từng giảng viên, chứ các nhà quản lý giáo dục chưa thực hiện việc tổng kết và đưa nội dung này vào trong các chương trình huấn luyện nâng cao về phương pháp giảng dạy cho giảng viên.

    Một vài kinh nghiệm

    Để có được những bài tập tình huống hay và luôn cập nhật, giảng viên có thể sử dụng một số các kỹ thuật sau:

    Báo chí: Chúng tôi thường thu thập các bài báo, bài phân tích hay từ các báo, tạp chí có uy tín như TS, TS Chủ Nhật, Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, Người Lao Động, Sài Gòn Tiếp Thị… Đây là một nguồn cung cấp tình huống khá phong phú nhưng cần được điều chỉnh để phù hợp với nội dung giảng dạy. Một bài báo hay đi kèm với những câu hỏi hay của giảng viên sẽ thành một tình huống rất lý thú mang tính thời sự cao cho học viên.

    Từ học viên: Các báo cáo thực tập, luận văn tốt nghiệp của sinh viên cũng là những nguồn cung cấp tình huống rất phong phú. Vấn đề là cần biên tập và hiệu chỉnh để chúng trở thành các bài tập tình huống có giá trị. Mặt khác, đối với các học viên là những người đã có kinh nghiệm công tác, giảng viên có thể yêu cầu họ tự viết các tình huống thực về công việc của chính họ. Để có những tình huống tốt, giảng viên cần tham gia ngay từ ban đầu trong quá trình hướng dẫn viết, đặt các yêu cầu và câu hỏi gợi ý. Có thể dùng các phương pháp như cộng điểm hay miễn thi đối với những tình huống có chất lượng cao.

    Từ kinh nghiệm thực tiễn: Các tình huống cũng đến từ quá trình nghiên cứu khoa học, làm tư vấn, cộng tác với các doanh nghiệp hay thậm chí từ các quan sát và tổng kết của cá nhân giảng viên.

    Triển khai tình huống: Có nhiều cách giảng dạy bằng tình huống. Đầu tiên có thể dùng các bài đọc (bài báo) làm các ví dụ minh họa và mở rộng vấn đề cho từng đề mục lý thuyết. Thứ hai, dùng một vài tình huống lớn để giảng dạy xuyên suốt cả một môn học, mỗi buổi học đều dùng tình huống này nhưng triển khai ở các bước khác nhau – đây là cách giảng viên cung cấp tính liên kết các nội dung cho người học. Thứ ba, tình huống lớn giao cho nhóm sinh viên giải quyết trong một học kỳ. Thứ tư, tình huống lớn có tính chất liên môn học – cái này hiện nay một trường ở Mỹ đã làm. Chúng ta có thể làm dưới hình thức một môn học tổng hợp chỉ dạy bằng tình huống hoặc thay hẳn cách làm hiện nay đối với thực tập tốt nghiệp.

    Xây dựng ngân hàng tình huống: Hiện nay các nỗ lực viết tình huống đều ở phía cá nhân từng giảng viên, nếu có sự chuẩn hóa, tổng kết và xây dựng một cơ sở dữ liệu chung giữa các giảng viên cùng một chuyên ngành và liên ngành giữa các khoa và trường khác nhau trên toàn quốc thì chất lượng và hiệu quả sẽ được cải thiện rất đáng kể. Đây là công việc mang tính vĩ mô và nằm trong nỗ lực đẩy mạnh giao lưu sinh hoạt chuyên môn giữa các giảng viên, nhà nghiên cứu trong cùng chuyên ngành của cả nước – tiền đề cơ bản để xây dựng một cộng đồng giảng dạy và nghiên cứu chất lượng cao.

    Ths. VŨ THẾ DŨNG

    (Khoa quản lý công nghiệp, ĐH Bách Khoa TPHCM)

    Nguồn: http://vietbao.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Phương Pháp Cơ Bản Trong Nghiên Cứu Thị Trường
  • Hướng Dẫn Nghiên Cứu Thị Trường
  • 6 Phương Pháp Nghiên Cứu Thị Trường Cho Người Mới Kinh Doanh
  • Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu Sơ Cấp Trong Nghiên Cứu Khoa Học
  • Khoa Học Sáng Tạo Và Phương Pháp Luận Sáng Tạo :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Độc Đáo Giảng Dạy Bằng Nghiên Cứu Tình Huống Ở Fulbright

    --- Bài mới hơn ---

  • Ulis Repository: Sử Dụng Phương Pháp Dạy Học Theo Dự Án (Project
  • Một Số Biện Pháp Phát Huy Tính Tích Cực, Tự Giác Trong Học Tập Của Học Sinh Lớp 1 Trường Tiểu Học Quảng Kim : Phòng Gd&đt Quảng Trạch
  • Một Số Biện Pháp Rèn Học Sinh Yếu Kém
  • Giải Pháp Giúp Học Sinh Yếu Kém Học Tốt Môn Toán
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Phụ Đạo Học Sinh Yếu Kém
  • Phương pháp giảng dạy bằng nghiên cứu tình huống áp dụng trong các chương trình đào tạo về chính sách công là một bản sắc nổi bật của Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright. Kế thừa phương pháp này của Harvard Kennedy School để giảng dạy kinh tế ứng dụng ở Việt Nam từ cuối thập niên 1990, nhưng các giảng viên của Fulbright đã tìm cách sáng tạo theo hướng tự viết tình huống của mình. Nhờ đó, những lý thuyết, tri thức toàn cầu bắt rễ vào xã hội Việt Nam qua các bài giảng trở nên sinh động, thực tế và gần gũi hơn.

     Phương pháp giảng dạy bằng nghiên cứu tình huống là việc dùng các tình huống thực tiễn làm chất liệu bổ trợ cho các bài giảng chính thức của giảng viên, từ đó giúp các học viên vừa hiểu sâu hơn kiến thức nền tảng, vừa có khả năng ứng dụng những kiến thức này vào thực tiễn. Hơn 25 năm trước, khi giảng dạy ở Chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright (FETP – tiền thân của Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright ngày nay), giảng viên của các đại học hàng đầu Mỹ, trong đó có Đại học Harvard đã mang đến Việt Nam phương pháp giảng dạy này. Họ trực tiếp giảng dạy cho học viên Việt Nam về kinh tế thị trường với các tình huống có bản quyền của Trường Kinh doanh Harvard và sau đó là của Trường Quản lý Nhà nước Kennedy.

    Tạo cảm hứng cho lý thuyết

    Giảng viên Nguyễn Xuân Thành cho hay, các nghiên cứu tình huống của Harvard biên soạn được tuyển chọn cho giảng dạy ở FETP không chỉ là các tình huống của nước Mỹ mà còn là các tình huống kinh tế phong phú khác trên toàn cầu, đặc biệt ở các nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á. Quan trọng hơn, đó là các tình huống không phải chọn ngẫu nhiên mà phải gần gũi với thực tế xảy ra trong nền kinh tế và xã hội Việt Nam, giúp cho các học viên dễ tham khảo, đối chiếu, qua đó hiểu rõ được ý nghĩa, bài học của các lý thuyết và khung phân tích chính sách.Ví dụ như tình huống tư nhân hóa hệ thống nước và nước thải ở Cancun, Mexico là bài học tình huống điển hình về sự thất bại của thị trường dẫn đến sự can thiệp của Nhà nước. Và sau đó, khi sự can thiệp của Nhà nước thất bại thì quay lại sự tham gia của thị trường.

    “Lợi thế hợp tác của Fulbright với Harvard đã giúp trường tiếp cận được kho tài liệu đồ sộ của Harvard”, theo giảng viên Nguyễn Xuân Thành.

    Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh cho hay, điều quan trọng nhất của phương pháp giảng dạy bằng nghiên cứu tình huống là tạo ra cảm hứng cho người học bởi các bài giảng lý thuyết thường khó, trừu tượng và khô khan. Các nghiên cứu tình huống được biên soạn từ những sự việc có thật, con người thật, dữ kiện thật, sẽ giúp sinh viên “vỡ” lý thuyết và hiểu rõ về khả năng ứng dụng lý thuyết trong thực tiễn. Nhưng điều đó không có nghĩa là các tình huống sẽ lấn át kiến thức học thuật cũng như khung lý thuyết trọng điểm mà giảng viên muốn truyền thụ cho học viên. Điều này lý giải về tính tương hỗ, bổ trợ của các nghiên cứu tình huống, giúp cho các bài giảng trở nên chất lượng hơn.

    “Các nghiên cứu tình huống bổ trợ cho bài giảng có thể được viết theo cách mà nếu không có khung lý thuyết thì sẽ tỏ ra rời rạc, phân mảnh. Nhưng với khung lý thuyết phù hợp, các mảnh ghép này sẽ được kết nối với nhau. Do đó nếu chỉ dạy tình huống thì sinh viên sẽ khó định hình tư duy vấn đề. Vì vậy các nghiên cứu tình huống đưa vào trong bài giảng tạo điều kiện cho người học áp dụng lý thuyết vào các vấn đề cụ thể, giải quyết các bài toán cụ thể”, Tiến sĩ Tự Anh giải thích thêm.

    Bắt rễ tình huống bản địa

    Một bước ngoặt phát triển trong giảng dạy bằng phương pháp nghiên cứu tình huống của trường Fulbright đó là sau nhiều năm mua bản quyền các bộ tình huống của Harvard, các giảng viên Fulbright quyết định trực tiếp biên soạn các tình huống của Việt Nam.

    “Khi mượn các tình huống của Harvard để áp dụng cho giảng dạy lý thuyết, chúng tôi coi trọng tính liên hệ, gần gũi với thực tiễn Việt Nam. Nhưng sau đó, chúng tôi nhận ra để sinh viên thực sự nhúng mình vào môi trường chính sách của Việt Nam và có cảm nhận rõ rệt về sự tác động của chính sách, thì không gì lý tưởng hơn là được học trực tiếp về những tình huống xảy ra trong môi trường, xã hội của mình. Bởi bất kỳ tình huống nào cũng phải đặt vào môi trường chính sách nhất định, nếu không tình huống sẽ bị giảm ý nghĩa” – Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh cho biết.

    Giảng viên Nguyễn Xuân Thành cho hay sự kết hợp này tạo ra sự hòa nhập tri thức, thực tiễn của toàn cầu với bản địa (Việt Nam) trong các lớp học giảng dạy nghiên cứu tình huống ở Fulbright. Điều này làm nên sự khác biệt, độc đáo của trường Chính sách công và Quản lý Fulbright trong phương pháp giảng dạy nghiên cứu tình huống. Nó trở thành một điểm tham chiếu để NASPAA, tổ chức kiểm định quốc tế cho các chương trình đào tạo sau đại học về chính sách công, hành chính công và quản lý công, công nhận chất lượng giảng dạy chương trình Thạc sĩ Chính sách công của Fulbright đạt chuẩn quốc tế.

    Theo học FETP từ khóa 7, 13 năm sau lại quay trở lại học Thạc sĩ Chính sách công (lớp LM 2022), chị Nguyễn Huỳnh Thu Trúc cho hay các bài giảng về nghiên cứu  tình huống của trường Fulbright đã vươn lên một cấp độ khác biệt về chất lượng. Điều này được thực chứng khi chị có mặt trong khóa học trao đổi ngắn hạn của trường Fulbright với Trường Quản lý Nhà nước Kennedy Harvard hồi tháng 8/2019. Các bài giảng từ nghiên cứu tình huống ở Harvard không khác biệt so với các bài học ở Fulbright khi các giáo sư Harvard khéo léo đưa các vấn đề kinh tế của Việt Nam đặt trong bối cảnh tham chiếu của toàn cầu. Các bài giảng tình huống bắt rễ bản địa xã hội Việt Nam là một giá trị độc đáo mà trường Fulbright mang đến cho người học.

    “Thời kỳ đầu tại FETP, các học viên chưa có nhiều tình huống Việt Nam để học như giai đoạn sau này mà chủ yếu là học các nghiên cứu tình huống của thế giới. Thực ra, học qua tình huống điều quan trọng nhất đó là rút ra được bài học, gọi tên được bản chất vấn đề. Nhờ đó mới có thể hiểu được khung phân tích, lý thuyết giúp giải quyết vấn đề đó như thế nào. Nhưng khi được học tổng hòa các tình huống, tiếp cận, so sánh vấn đề thực tiễn ở ngay Việt Nam với bài học của thế giới, khu vực, chúng tôi cảm thấy bài học càng thêm gần gũi, thiết thực”, học viên Thu Trúc chia sẻ.

    Sáng kiến chính sách từ lớp học tình huống

    Có rất nhiều tình huống trở thành ví dụ kinh điển cho các bài học lý thuyết về chính sách ở trường Fulbright, song bộ tình huống này luôn được để mở và cập nhật liên tục. Các tình huống, vấn đề thực tiễn nóng hổi của thế giới, khu vực và Việt Nam sẽ luôn được các giảng viên Fulbright theo dõi, cập nhật ngay trong giáo án. Điều này đồng nghĩa giáo án sẽ luôn thay đổi. Cùng một môn học, năm nay giảng viên có thể dạy tình huống này nhưng năm sau họ có thể chọn một tình huống khác phụ thuộc vào những vấn đề kinh tế, chính sách mới nổi lên thú vị, phù hợp với bài giảng.

    Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh phụ trách giảng dạy môn “Phát triển Vùng và Địa phương”, một môn học tự chọn luôn có tỉ lệ học viên đăng ký cao kỉ lục ở Fulbright, luôn chủ động đưa vào giáo án các bài giảng tình huống mới nhất. Cùng một khung lý thuyết nhưng bài giảng phân tích tình huống cho môn học này luôn khác biệt qua các năm.

    “Thông thường tôi đặt tỉ lệ bài giảng môn học này 50% là lý thuyết, 50% là phân tích tình huống thực tiễn. Nhưng ở khóa học năm nay, trong 18 bài giảng, tôi chỉ dạy 6 bài lý thuyết, còn lại toàn bộ là học từ tình huống. Tức tỉ lệ tình huống thực tiễn trong môn học chiếm đến 70%”,Tiến sĩ Tự Anh cho biết.

    Từ “nhập khẩu” nghiên cứu tình huống để giảng dạy, cho đến sáng tạo bằng việc tự biên soạn các bộ tình huống của Việt Nam, các giảng viên Fulbright còn tiến thêm một bước xa hơn đó là đem học viên của mình nhúng mình vào thực địa để trải nghiệm bài giảng đúng tinh thần “học thật, làm thật”. Sau khi được trang bị khung lý thuyết, trải nghiệm thực tế qua các bài giảng phân tích tình huống có thật, các học viên sẽ tham gia thực hành ở một địa phương. Đây là điều độc đáo nhất của phương pháp giảng dạy tình huống ở trường Fulbright.

    Cuối tháng 6 vừa qua, Tiến sĩ Tự Anh dẫn cả lớp đến Bình Thuận để thực hành môn học “Phát triển Vùng và Địa phương”. 53 học viên của lớp chuyên ngành Lãnh đạo và Quản lý và Phân tích Chính sách của khóa học 2022 được chia thành 11 nhóm. Các học viên được tiếp cận các tài liệu, thông tin mà trường đề nghị trước với UBND, các sở, ngành của tỉnh cung cấp, giúp học viên nắm bắt bức tranh toàn cảnh kinh tế xã hội của Bình Thuận. Dựa trên cơ sở này, mỗi nhóm được giao tìm hiểu sâu và phân tích một nội dung trọng điểm trong khung phân tích. Từ kiến thức, lý thuyết được trang bị cũng như vỡ vạc thực tế nhờ các bài giảng phân tích tình huống, các nhóm chuẩn bị nội dung làm việc với địa phương.

    Các bản báo cáo chính thức sẽ được nhóm giảng viên hiệu chỉnh, biên tập trở thành một nghiên cứu tổng thể về các vấn đề chính sách phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Nghiên cứu tổng thể này sẽ được trường gửi ngược lại cho tỉnh như một lời cảm ơn về sự hỗ trợ và hợp tác. Nhưng quan trọng hơn cả, đó là một sản phẩm đầu ra của môn học đúng tinh thần “học thật, làm thật”, mỗi học viên sẽ thấy những điều họ học ở trường Fulbright có thể ứng dụng cụ thể trong thực tế.

    “Chúng tôi mong muốn học viên không chỉ dừng ở việc học lý thuyết trên lớp mà phải có khả năng áp dụng lý thuyết, không chỉ trong các tình huống trên lớp mà còn trong các vấn đề chính sách cụ thể và nóng hổi ở địa phương bằng cách cho học viên tiếp xúc trực tiếp với những con người thật, việc thật, bài toán thật. Điều này mang lại cảm hứng, tạo động cơ cho học viên để họ thấy mình có thể làm một việc có ý nghĩa, biết được sản phẩm môn học của mình có thể đóng góp cho địa phương ít nhất về ý kiến chính sách, giúp địa phương nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển. Từ những báo cáo cuối cùng của môn học, tôi tin các nghiên cứu, phân tích chính sách của các học viên đủ tầm chất lượng để địa phương tham khảo, vận dụng trong chiến lược phát triển của mình”, Tiến sĩ Tự Anh cho biết.

    Nhưng đó không phải là điểm cuối cùng của một môn học. Với giảng viên, việc đưa học viên về địa phương giúp họ tiếp cận những bài toán mới của thực tiễn. Những bài toán này tạo cảm hứng cho các giảng viên năm sau tiếp tục điều chỉnh chương trình giảng dạy hoặc thực hiện những nghiên cứu mới về những vấn đề của địa phương. Những mảnh ghép nghiên cứu địa phương được kết nối lại, tạo thành tổng thể những nghiên cứu chiến lược về chính sách của Việt Nam.

    Xuân Linh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Seminar: “Vận Dụng Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Giáo Dục Mầm Non”
  • Tổng Hợp Các Giải Pháp, Phương Pháp Học Trực Tuyến Hiệu Quả
  • Dạy Học Theo Định Hướng Nghiên Cứu Bài Học Và Đổi Mới Sinh Hoạt Chuyên Môn Theo Hướng Nghiên Cứu Bài Học : Trường Thcs Quảng Hợp
  • Lịch Sử Phương Pháp Giảng Dạy Ngoại Ngữ
  • Giải Pháp “Phương Pháp Dạy Và Học Ngoại Ngữ Hiệu Quả”
  • Phong Cách Lãnh Đạo Theo Tình Huống Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đánh Thức Con Người Phi Thường Trong Bạn
  • List Sách Hay, Coach Thu Ngô Khuyên Đọc; Quà Tặng E
  • Công Cụ Thiết Lập Thứ Tự Ưu Tiên Trong Khởi Nghiệp 2×2
  • Cách Sử Dụng Thì Quá Khứ Đơn
  • 3 Cách Đặt Câu Hỏi Trong Tiếng Anh Đơn Giản Bạn Cần Biết
  • Lý thuyết của phong cách lãnh đạo theo tình huống (Situational leadership) nhấn mạnh rằng không có phong cách lãnh đạo nào là tốt nhất. Trong các mô hình quản lý hiện đại, nhà lãnh đạo hiệu quả phải là những người có khả năng thích ứng với từng hoàn cảnh và dự đoán các tín hiệu để ứng biến hoàn thành công việc. Đó cũng là yếu tố khiến lãnh đạo theo tình huống là mô hình lựa chọn hàng đầu cho các tổ chức trên toàn thế giới. Vậy phong cách lãnh đạo theo tình huống là gì ? Nó khác biệt như thế nào so với các phong cách khác ? Trong bài viết này sẽ cung cấp cho bạn những hiểu biết sâu rộng về xu hướng lãnh đạo đầy tiềm năng hiện nay.

    Định nghĩa về phong cách lãnh đạo theo tình huống

    Trước hết, lãnh đạo theo tình huống hiểu ngắn gọn là sự linh hoạt. Một trong những chìa khóa để lãnh đạo tình huống là khả năng thích ứng. Nhà lãnh đạo theo tình huống là người biết thích nghi với môi trường làm việc hiện tại mà không dựa trên một kỹ năng cụ thể nào. Thay vào đó, họ sẽ tìm cách chuyển từ phong cách lãnh đạo này sang phong cách lãnh đạo khác để đáp ứng nhu cầu thay đổi của một tổ chức và nhân viên của mình. Những nhà lãnh đạo này phải có cái nhìn sâu sắc để hiểu khi nào cần thay đổi và chiến lược lãnh đạo nào phù hợp với từng mô hình mới.

    Trên thế giới hiện nay có hai mô hình chính về lãnh đạo tình huống nổi tiếng, một là của mô tả của Daniel Goleman và mô hình khác của Ken Blanchard và Paul Hershey.

    Lý thuyết của Goleman về lãnh đạo theo tình huống

    Daniel Goleman, tác giả của cuốn sách “Emotional Intelligence” (Trí tuệ cảm xúc) đã phân loại phong cách theo lãnh đạo tình huống thành 6 loại :

    Lãnh đạo huấn luyện:

    Lãnh đạo dẫn đầu:

    Là những người đặt kỳ vọng rất cao với các thành viên trong nhóm. Phong cách này hoạt động tốt nhất với những start-up trẻ, luôn muốn dẫn đầu và đặt ra nhiều thử thách để tập thể tìm cách vượt qua.

    Lãnh đạo dân chủ:

    Sự hợp tác được đặt lên hàng đầu. Khi được sử dụng trong điều kiện tối ưu, nó có thể xây dựng tính linh hoạt và trách nhiệm của mỗi thành viên trong nhóm. Tuy nhiên phong cách này lại tốn thời gian và không phải là phong cách tốt nhất nếu đặt trong tình huống cấp bách.

    Lãnh đạo kết nối:

    Là cách đặt nhân viên lên hàng đầu. Phong cách này được sử dụng khi tinh thần trong nhóm xuống thấp. Người lãnh đạo sẽ dùng những lời khen ngợi và hứa hẹn lợi ích để xây dựng niềm tin của đội ngũ.

    Lãnh đạo định hướng:

    Là những người rất giỏi trong việc phân tích các vấn đề và xác định các thách thức. Phong cách này phù hợp trong tổ chức hoạt động mà không có định hướng. Cấp trên sẽ yêu cầu nhân viên trợ giúp tìm ra cách giải quyết vấn đề.

    Lãnh đạo chỉ huy: là những người dùng mệnh lệnh để yêu cầu cấp dưới của họ phải thực hiện theo. Họ có một tầm nhìn rất rõ ràng về thành quả công việc và cách tiếp cận nó. Đôi khi, người lãnh đạo chỉ huy có cung cách làm việc cưỡng chế và độc đoán.

    Lãnh đạo theo tình huống theo Blanchard và Hersey

    Khác với nghiên cứu đầu tiên của Daniel Goleman, mô hình tiếp theo dựa trên hai khái niệm: bản thân lãnh đạo và trình độ phát triển của nhân viên. Blanchard và Hersey đã phát triển một ma trận bao gồm 4 phong cách:

    Telling Leader (S1)

    Lãnh đạo sẽ chỉ bảo nhân viên của mình chính xác những việc cần làm và cách thức để tiến hành công việc đó

    Selling Leader (S2)

    Không những biết cách giao việc và định hướng mà người lãnh đạo còn truyền đạt thông tin bằng trao đổi 2 chiều, cách thức giao việc như là đang ‘bán hàng’. Họ bán những ý tưởng của họ cho những người khác để có được sự hợp tác.

    Participating Leader (S3)

    Người đứng đầu sẽ tập trung vào các mối quan hệ, chia sẻ công việc nhưng lại ít chú tâm vào định hướng và chỉ đạo. Mặc dù họ có thể tham gia vào quá trình ra quyết định, nhưng sự lựa chọn cuối cùng là dành cho nhân viên.

    Delegating Leader (S4)

    Nhà lãnh đạo có xu hướng giao hầu hết công việc và cả trách nhiệm cho nhóm hay cho từng cá nhân. Dù cấp trên vẫn theo dõi tiến độ công việc nhưng ít tham gia chi tiết. Thỉnh thoảng họ có thể được yêu cầu giúp đỡ trong việc ra quyết định.

    Dựa vào những khái niệm trên, Blanchard và Hersey cũng đề xuất rằng mỗi phương pháp tiếp cận nên được kết hợp với các mức độ phát triển khác nhau của các thành viên khác nhau. Ví dụ, mức trưởng thành thấp nhất sẽ hoạt động tốt nhất với (S1), trong khi mức trưởng thành cao nhất sẽ phản ứng nhanh nhất với phương pháp (S4).

    Ưu, nhược điểm của phong cách lãnh đạo theo tình huống

    – Dễ ứng dụng: Khi một nhà lãnh đạo có phong cách phù hợp, anh/cô ta sẽ biết triển khai phương pháp tiếp cận với tổ chức.

    – Đơn giản: Tất cả những gì người lãnh đạo cần làm là đánh giá tình hình và áp dụng phong cách lãnh đạo đúng đắn.

    – Hấp dẫn trực quan: Với kiểu người lãnh đạo phù hợp, phong cách này giúp tổ chức hoạt động khá thoải mái.

    – Các nhà lãnh đạo có quyền thay đổi phong cách quản lý bất kể khi nào họ thấy phù hợp

    • Phong cách lãnh đạo này bắt nguồn từ Bắc Mỹ nên khó ứng dụng với phong cách giao tiếp của các nền văn hóa khác.
    • Bỏ qua sự khác biệt giữa các nhà quản lý nam và nữ.
    • Các nhà lãnh đạo theo tình huống để ứng biến phù hợp sẽ bỏ qua các chiến lược và chính sách dài hạn của tổ chức.

    Làm gì để theo đuổi phong cách lãnh đạo theo tình huống ?

    Các chuyên gia cho rằng có bốn yếu tố cơ bản chính mà người đứng phải nhận thức để theo đuổi phong cách lãnh đạo theo tình huống. Những yếu tố này bao gồm:

    Xem xét mối quan hệ giữa các nhà lãnh đạo và các thành viên của nhóm:

    Ví dụ, một nhóm thiếu hiệu quả và tinh thần làm việc xuống dốc. Người đứng đầu có thể cải thiện năng suất bằng phong cách dân chủ hơn, cho phép các thành viên nhóm làm việc độc lập và đưa ra ý kiến trao đổi thẳng thắn với mình.

    Xem xét tầm quan trọng của từng nhiệm vụ:

    Nhiệm vụ có thể từ đơn giản đến phức tạp, nhưng người lãnh đạo cần có một ý tưởng chính xác để phân chia công việc cũng như giám sát cấp dưới đã được thực hiện thành công và thành công hay chưa.

    Xem xét mức độ thẩm quyền của người lãnh đạo:

    Một số lãnh đạo sẽ tận dụng quyền lực của mình, chẳng hạn như khả năng sa thải, thuê nhân viên, khen thưởng hoặc khiển trách cấp dưới. Ngược lại, các nhà lãnh đạo khác thể hiện quyền lực thông qua xây dựng mối quan hệ của họ với nhân viên, tạo niềm tin tưởng, tôn trọng bằng cách hỗ trợ và giúp họ cảm thấy được đóng góp trong quá trình ra quyết định.

    Xem xét năng lực của từng thành viên:

    Đây được xem là thước đo mức độ hoàn tất công việc của một cá nhân, cũng như sự sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ của một cá nhân. Cần lưu ý rằng, giao việc cho một thành viên sẵn lòng nhận việc nhưng lại thiếu khả năng là thì quả là điều tồi tệ.

    Dẫn chứng về phong cách lãnh đạo theo tình huống

    Trên thực tế, bất kỳ môi trường nào tập trung đẩy mạnh về doanh số và lợi nhuận đều là cơ hội để áp dụng các nguyên tắc lãnh đạo tình huống.

    Ví dụ, các đội thể thao điển hình về khả năng lãnh đạo tình huống bởi vì các đội hình liên tục thay đổi, các huấn luyện viên luôn phải sáng suốt đưa ra lối đi phù hợp cho đội. Ngoài ra, bài viết đề cập đến hai nhà lãnh đạo nổi tiếng đó là Dwight Eisenhower và Pat Summitt.

    Dwight D. Eisenhower

    Dwight D. Eisenhower là tổng thống Hoa Kỳ sau Thế chiến II. Ông được biết đến với khả năng ngoại giao tốt và năng lực khiến các nhà lãnh đạo đồng minh sẵn lòng hợp tác để đánh bại cỗ máy chiến tranh của Đức Quốc xã. Quân đội đã dạy ông cách ra lệnh và chỉ đạo các cuộc tập trận quân sự.

    Đặt trong hoàn cảnh lúc ấy, Eisenhower cần trở thành một chính khách không chỉ để quản lý các tính cách mạnh bạo của các nhà lãnh đạo đồng minh, mà còn phải tranh cử tổng thống và sau đó ông đã thành công đắc cử trong hai nhiệm kỳ.

    Patricia Sue Summitt

    Patricia Sue Summitt là huấn luyện viên trưởng của Tennessee Lady Volunteers trong hơn 38 năm. Cứ sau vài năm, cô lại phải đối mặt với việc xây dựng một đội bóng rổ hoàn toàn mới. Mặc dù vậy, cô đã kết thúc sự nghiệp của mình với thành tích chung 1.098-208 với tư cách là một huấn luyện viên bóng rổ ứng biến với thể trạng đội bóng của mình. Cô được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng cho đội bóng rổ nữ của Hoa Kỳ trong Thế vận hội năm 1984, nơi đội giành huy chương vàng.

    Tóm lại, sự linh hoạt của người lãnh đạo là yếu tố hàng đầu quyết định đến thành công của tổ chức. Nó cũng phải được quan sát với năng lực và sự phát triển của các thành viên trong nhóm. Sẽ không có đáp án chính xác cho câu hỏi ” Phong cách lãnh đạo nào là tốt nhất ?” Bở i vì mọi thứ phụ thuộc vào tình huống cụ thể, đó là lý do tại sao cấp trên và cấp dưới phải hợp tác để phát triển mô hình lãnh đạo theo tình huống.

    Tham khảo từ: chúng tôi & Verywellmind

    Bài viết được biên soạn bởi: Phạm Tiến Dũng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Muốn Làm Việc Hiệu Quả Như Tổng Thống Mỹ?
  • Ma Trận Eisenhower: Phương Pháp Để Trở Nên Năng Suất Hơn
  • Kỹ Thuật Phân Tích Trên Elisa
  • Giới Thiệu Về Kỹ Thuật Elisa
  • Xét Nghiệm Hiv Elisa Sau 6 Tuần Là Gì Và Kết Quả Chính Xác Không?
  • Phương Pháp Dạy Học Là Gì? Phân Biệt Với Thủ Pháp Dạy Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Sử Dụng Phương Pháp Dạy Học Theo Góc Trong Môn Hóa Học Nhằm Phát Huy Tính Tự Học Của Học Sinh
  • Pp Dạy Học Theo Góc
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Hợp Liên Môn: Đặc Điểm Ý Nghĩa Ưu Khuyết
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Hợp Là Gì? Áp Dụng Thế Nào?
  • Phương Pháp Dạy Học Luyện Tập Và Thực Hành
  • Phương pháp dạy học là một khái niệm được sử dụng nhiều trong hoạt động dạy và học hiện nay. Vậy phương pháp dạy học là gì? Có những phương pháp và kỹ thuật dạy học nào được đánh giá mang lại hiệu quả cao, hãy tìm câu trả lời trong bài viết sau.

    1. Phương pháp dạy học là gì?

    Tính đến thời điểm hiện tại, hoàn toàn chưa có một định nghĩa thống nhất về phương pháp dạy học là gì. Một số quan niệm định nghĩa rằng “Phương pháp dạy học chính là cách thức làm việc giữa người dạy và người học, thông qua đó giúp người học có thể nắm vững đầy đủ các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo nhằm hình thành nên năng lực và thế giới quan”.

    Tuy nhiên, quan niệm khác lại định nghĩa rằng “Phương pháp dạy học thực ra là các hình thức kết hợp về hoạt động của người dạy và người học với mục tiêu hướng vào một việc để cùng đạt được một mục đích nào đó”.

    Trong 2 quan niệm này, quan niệm thứ nhất nhận được sự đồng thuận của rất nhiều người. Tuy nhiên, vì không hiểu về hai từ “cách thức” nên dẫn đến việc có nhiều phương pháp khác nhau. Để hiểu đúng phương pháp dạy học là gì, nhất định phải phân biệt nó với khái niệm thủ pháp dạy học, phương pháp luận, môn học phương pháp và hình thức dạy học.

      Khái niệm về thủ pháp dạy học được hiểu là các thao tác bộ phận trong một phương pháp dạy học cụ thể nào đó. Ví dụ: Nếu muốn thực hiện phương pháp phân tích ngôn ngữ thì những thao tác cần thiết sẽ phải sử dụng là phân tích, so sánh hoặc là tổng hợp, đối chiếu…
      Phương pháp luận: Có thể được hiểu ở hai phương diện.

      • Thứ nhất: Phương pháp luận là các học thuyết về phương pháp khoa học nói chung. Dựa theo cách hiểu này thì phương pháp luận chính là triết học của Mác và Lê Nin.
      • Thứ hai: Phương pháp luận chính là việc tổng hợp lại các cách thức, phương pháp để tìm tòi ý nghĩa như là các tư tưởng về hoạt động chỉ đạo, các tiền đề lý luận về phương pháp nghiên cứu thuộc một ngành khoa học.
    • Khái niệm môn học phương pháp được hiểu là bộ môn chuyên đảm nhiệm việc nghiên cứu về quá trình dạy và học của một môn học nào đó. Nó gồm các hoạt động nghiên cứu về đối tượng, mục tiêu và nhiệm vụ của môn học, nguyên tắc xây dựng chương trình học, cách thức thiết kế và tổ chức quá trình dạy học của từng đơn vị kiến thức nhỏ trong môn học,…
    • Khái niệm hình thức dạy – học được định nghĩa là các cách thức để hiện thức hóa và hành động hóa phương pháp dạy học, thủ pháp dạy học.

    2. So sánh phương pháp dạy học và thủ pháp dạy học

    2.1 Thủ pháp dạy học là gì?

    Phương pháp dạy học là gì? Thủ pháp dạy học là gì? Đây là 2 câu hỏi mà người ta thường đặt song song với nhau. Nếu phương pháp dạy học là cách thức làm việc giữa người dạy và người học, thì thủ pháp dạy học lại là các cách thức được sử dụng nhằm giải quyết một vấn đề nào đó trong một phương pháp cụ thể. Hay nói một cách khác, thủ pháp dạy học chỉ việc thao tác các bộ phận trong một phương pháp dạy học.

    2.2 Phân biệt phương pháp dạy học và thủ pháp dạy học

    Ranh giới của phương pháp dạy học và thủ pháp dạy học rất gần nhau. Tuy nhiên, có thể thấy rõ một điều là khái niệm của phương pháp dạy học rộng hơn, bao quát hơn, còn thủ pháp dạy học lại hẹp hơn. Nếu phương pháp dạy học chú ý đến cả một quá trình thì thủ pháp dạy học lại chỉ chú ý đến một thời điểm nào đó trong suốt thời gian diễn ra quá trình đấy.

    3. 3 bình diện của phương pháp dạy học

    3.1 Quan điểm về phương pháp dạy học

    Quan điểm dạy học chính là các định hướng có tính chiến lược, cương lĩnh và nó chính là mô hình lý thuyết của phương pháp dạy học. Một số quan điểm về phương pháp dạy học phổ biến hiện nay như dạy học lấy người học làm trung tâm, dạy học nhằm phát huy tính sáng tạo, tự giác của học sinh,…

    3.2 Phương pháp dạy học cụ thể

    Phương pháp dạy học chính là hình thức, cách thức hoạt động giữa người dạy và người học nhằm đạt được các mục tiêu dạy học xác định. Đồng thời, phải đảm bảo phù hợp với nội dung và các điều kiện dạy học cụ thể.

    3.3 Kỹ thuật dạy học

    Kỹ thuật dạy học chính là các biện pháp, cách thức hoạt động của giáo viên với mục đích thực hiện và điều khiển toàn bộ quá trình dạy học hiệu quả.

    Các kỹ thuật dạy học phổ biến bao gồm chia nhóm, giao nhiệm vụ, các mảnh ghép, khăn trải bàn, kỹ thuật hỏi chuyên gia,…

    4. Một số đặc điểm của phương pháp dạy học

    • Phương pháp dạy học giúp thực hiện các mục tiêu của việc dạy học.
    • Là sự thống nhất của phương pháp dạy và phương pháp học.
    • Bao gồm hai mặt, mặt bên trong và mặt bên ngoài.
    • Có được sự thống nhất về logic trong nội dung dạy và logic về tâm lý nhận thức.
    • Có tính khách quan và cả tính chủ quan.
    • Chịu sự chi phối trực tiếp từ nội dung và mục đích của hoạt động dạy học.
    • Có được sự thống nhất của các cách thức hành động và phương tiện dạy học.
    • Hiệu quả được quyết định bởi trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của người dạy.
    • Ngày càng có sự hoàn thiện và không ngừng phát triển để có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của hoạt động dạy học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Vào Giáo Dục Các Cấp
  • Chuong 4_Phuong Phap Giang Day Tdtt
  • Các Phương Pháp Dạy Học Các Môn Tdtt
  • Dạy Học Nghiên Cứu Tình Huống
  • Phương Pháp Dạy Học Nghiên Cứu Tình Huống, Giải Quyết Vấn Đề
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Eisenhower Là Gì?
  • Quản Lý Thời Gian Với Ma Trận Eisenhower
  • Tính Giá Xuất Kho Theo Phương Pháp Nhập Trước, Xuất Trước (Fifo)
  • Fifo Và Lifo Là Gì? Những Về Fifo Và Lifo
  • Fibonacci Là Gì? Phân Tích Kỹ Thuật Với Fibonacci
  • Phương pháp dạy học tích cực đã được áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Phương pháp này đã mang đến nhiều hiệu quả tích cực và hỗ trợ trong việc giảng dạy và học tập, thúc đẩy tính sáng tạo, chủ động, tích cực của học viên. Tuy nhiên, bạn có chắc là hiểu rõ về phương pháp dạy học tích cực là gì không?

     

    1 – Phương pháp dạy học tích cực là gì?

    Phương pháp này tập trung vào việc sử dụng tư duy sáng tạo, chủ động, tích cực của học sinh làm nền tảng và giáo viên chỉ là người hướng dẫn và gợi mở vấn đề.

    Để có thể áp dụng phương pháp dạy học tích cực vào dạy học đòi hỏi giáo viên phải là người có chuyên môn, kiến thức sâu cùng sự bản lĩnh, nhiệt thành và hoạt động hết mình trong công việc.

     

     ĐỌC THÊM 4 phương pháp dạy học trực tuyến tối ưu nhất

    2 – Cách tiền hành phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy

    2.1 – Dạy học thông qua các hoạt động của học sinh

    Điều này nghĩa là trong các buổi học thì học sinh là những đối tượng chính để giáo viên khai phá kiến thức. Bởi vậy, giáo viên cần phải có những cách thức gợi ý vấn đề ở một mức độ nhất định có thể tác động được đến tư duy của học sinh và thúc đẩy, khuyến khích học sinh cùng nhau bàn luận, tìm tòi để giải quyết vấn đề đó.

    2.2 Tập trung vào phương pháp tự học

    Nếu các giáo viên chủ động áp dụng phương pháp dạy học tích cực đồng nghĩa với việc giáo viên phải loại bỏ hoàn toàn suy nghĩ về phương thức dạy truyền thống như chỉ tay, đọc – chép …Với phương pháp dạy học tích cực, giáo viên sẽ tập trung vào các cách thức rèn luyện để học viên tự học, tự suy nghĩ tìm tòi ra phương pháp học tập tốt nhất và phù hợp với bản thân nhất. Tuy nhiên, những kiến thức mới sẽ được giáo viên kiểm định trước và đảm bảo về độ chuẩn xác.

    2.3 – Khuyến khích phương pháp học nhóm, tập thể.

    Áp dụng phương pháp dạy học tích cực, giáo viên cần biết cách phân chia các nhóm, các đội để các em có thể phối hợp, trao đổi với nhau và tìm ra phương thức học tập tốt nhất.

    2.4 Tổng hợp lại các kiến thức đã học

    Cuối mỗi buổi học, các giáo viên sẽ cùng học sinh tổng hợp lại những kiến thức trong suốt buổi học, đồng thời giải đáp các vấn đề mà học sinh còn thắc mắc, khó hiểu, cùng trao đổi và chốt lại toàn bộ kiến thức trong một buổi học.

    3 – Một số những phương pháp dạy học tích cực 

    Phương pháp dạy nhóm

    Đây là phương pháp dạy học tích cực được đánh giá cao hiện nay. Với phương pháp này, các giáo viên có thể giúp các em phát huy tích cực khả năng sáng tạo, làm việc nhóm, giao tiếp của bản thân.

    Cách thức thực hiện:

    • Xác định nhiệm vụ chung và phân chia các nhóm

    • Báo cáo kết quả làm việc cho giáo viên

    • Giáo viên đánh giá kết quả làm việc nhóm

    Kỹ thuật phân chia nhóm: các giáo viên có thể chia nhóm dựa vào thứ tự điểm danh, dựa theo hình ghép, dựa theo sở thích chung của học sinh hoặc dựa vào tháng sinh của các em để tạo nhóm với nhau.

    Phương pháp nghiên cứu các trường hợp điển hình

    Đây cũng là một trong những phương pháp dạy học tích cực được áp dụng phổ biến hiện nay. Với phương pháp này, các giáo viên sẽ dùng những câu chuyện có thật hoặc hư cấu để chứng minh cho một vấn đề nào đó giúp các em học sinh dễ tưởng tượng, hình dung và hiểu vấn đề. Phương pháp này có thể được thực hiện bằng cách sử dụng văn bản, các đoạn ghi âm, clip, video …

    Các thức thực hiện:

    • Học sinh sẽ cùng nghe hoặc xem về một trường hợp điển hình nào đó

    • Suy ngẫm về câu chuyện đó

    • Tiến hành trao đổi dưới sự hướng dẫn của giáo viên

    Phương pháp giải quyết vấn đề

    Đây là phương pháp dạy học tích cực mới nhằm kích thích khả năng chủ động giải quyết vấn đề của học sinh. Để áp dụng phương pháp này, các giáo viên sẽ đưa ra các vấn đề nhận thức có sự mâu thuẫn giữa những vấn đề đã biết và chưa biết để hướng học sinh tìm cách giải quyết dựa vào đó.

    Cách thức thực hiện

    • Xác định vấn đề cần giải quyết

    • Liệt kê các biện pháp có thể giải quyết vấn đề

    • Phân tích và đánh giá hiệu quả của từng biện pháp

    • Chọn biết pháp tối ưu nhất và thực hiện biện pháp đó

    • Rút kinh nghiệm khi giải quyết vấn đề khác

    Phương pháp nhập vai

    Cách thức thực hiện

    • Các nhóm lần lượt diễn thử

    • Giáo viên đưa ra kết luận, định hướng cho học sinh đâu là cách ứng xử tốt nhất và giải thích lý do, ý nghĩa.

    Phương pháp trò chơi

    Đây là phương pháp dạy học tích cực mà giáo viên sẽ tổ chức cho các em học sinh tìm hiểu về vấn đề nào đó thông qua việc tiến hành các trò chơi phù hợp.

    Cách thức thực hiện

    • Giáo viên phổ biến về trò chơi gồm tên, nội dung và quy tắc trò chơi 

    • Các học viên tiến hành chơi thử

    Phương pháp dự án

    Đây là phương pháp dạy học tích cực yêu cầu học sinh phải thực hiện một nhiệm vụ học tập gắn liền với thực tiễn và có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. 

    Cách thức thực hiện

    Bước 1: Lập kế hoạch 

    • Lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ học tập

    Bước 2: Thực hiện dự án

    • Tìm kiếm dữ liệu, thông tín

    Bước 3: Tổng hợp kết quả

    • Tổng hợp các kết quả tìm được

    • Lên kế hoạch và trình bày về kết quả tìm được

    • Phản ánh lại kết quả trong quá trình học tập

    Phương pháp nghiên cứu, thực nghiệm

    Hiện nay có một số phương pháp dạy học tích cực dựa trên các thí nghiệm, nghiên cứu và thường được áp dụng cho những môn học tự nhiên.

    Với phương pháp này, các học viên sẽ được trực tiếp tham gia nghiên cứu, tiến hành các thí nghiệm để tự tìm ra câu trả lời cho vấn đề

    Phương pháp dạy học theo góc

    Là một trong những phương pháp dạy học tích cực mới mà ở đây các học sinh cần thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau, ở các vị trí cụ thể trong phạm vi lớp học và đáp ứng được nhiều các phong cách học tập khác nhau.

     ĐỌC THÊM Từ A đến Z dịch vụ cung cấp nên tảng học online trực tuyến tốt nhất từ UPM

    Ngoài ra, nếu bạn đang có nhu cầu tìm đến một phần mềm nhằm hỗ trợ đào tạo, giảng dạy, quản lý trực tuyến thì có thể liên hệ ngay với UPM. UPM là phần mềm với lõi thiết kế được sản xuất từ châu Âu, cùng đầy đủ các tính năng, công cụ để tích hợp, liên kết với các nền tảng khác hay các trang web khi thiết kế bài giảng online, giảng dạy trực tuyến. Thêm vào đó, phần mềm của UPM còn được đánh giá là một trong những phần mềm có khả năng bảo mật tốt nhất hiện nay cùng đội ngũ nhân viên thân thiện, giàu kinh nghiệm.

    Để được tư vấn chi tiết hơn về phần mềm E-learning của UPM, bạn vui lòng liên hệ với đội ngũ của chúng tôi qua:

    Facebook: facebook.com/UPM.elearning

    Hotline: (+84) 888 22 9382

    Email: [email protected]

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Nên Xem Qua
  • 4 Đặc Trưng Của Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Cách Dạy Con Nghe Lời Không Cần Đòn Roi Rất Hiệu Quả
  • Phương Pháp Chuyên Gia – Kipkis
  • Phương Pháp Chuyên Gia – Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu Tiết Kiệm Chi Phí?
  • Phương Pháp Dạy Học Bằng Trò Chơi

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Lịch Sử Bằng Sơ Đồ Tư Duy
  • Bậc Mầm Non Tích Cực Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học, Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Những Biện Pháp Cực Hay Giúp Học Sinh Viết Đúng Chính Tả
  • Phương Pháp Orton Gillingham Dành Cho Trẻ Khó Đọc
  • Tham Khảo 8 Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Cho Trẻ Mầm Non
  • DẠY HỌC BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI

    a) Yêu cầu : Trò chơi phải gây được hứng thú đối với học sinh

    * Cấu trúc của Trò chơi học tập :

    + Tên trò chơi

    + Mục đích: Nêu rõ mục đích của trò chơi nhằm ôn luyện, củng cố kiến thức kỹ năng nào. Mục đích của trò chơi sẽ quy định hành động chơi được thiết kế trong trò chơi.

    + Đồ dùng, đồ chơi: Mô tả đồ dùng, đồ chơi được sử dụng trong Trò chơi học tập.

    + Nêu lên luật chơi : Chỉ rõ quy tắc của hành động chơi quy định đối với người chơi, quy định thắng thua của trò chơi.

    + Số người tham gia chơi: Cần chỉ rõ số người tham gia trò chơi.

    + Nêu lên cách chơi.

    b) Cách tổ chức trò chơi:

    Thời gian tiến hành : thường từ 5 – 7 phút

    Đầu tiên là giới thiệu trò chơi:

    + Nêu tên trò chơi

    + Hướng dẫn cách chơi bằng cách vừa mô tả vừa thực hành, nêu rõ luật chơi.

    Chơi thử và qua đó nhấn mạnh luật chơi.

    Chơi thật.

    Nhận xét kết quả chơi, thái độ của người tham dự, giáo viên có thể nêu thêm những tri thức được học tập qua trò chơi, những sai lầm cần tránh.

    Thưởng – phạt: phân minh, đúng luật chơi, sao cho người chơi chấp nhận thoải mái và tự giác làm trò chơi thêm hấp dẫn, kích thích học tập của học sinh. Phạt những học sinh phạm luật chơi bằng những hình thức đơn giản, vui như chào các bạn thắng cuộc, hát một bài, nhảy lò cò…

    Trò chơi 1: Xây nhà

    LUYỆN TẬP

    Mục đích luyện tập và củng cố kỹ năng làm tính cộng nhẩm không nhớ trong phạm vi 10.000.

    Chuẩn bị : 2 hình vẽ ngôi nhà trên bìa và các mảnh giấy hình tam giác, chữ nhật như hình vẽ, có 5 mảnh ghi các tổng tương ứng với các tổng ghi trên ngôi nhà và 2 mảnh ghi sai.

    Cách chơi: Chọn 2 đội chơi, mỗi đội có 5 em.

    Khi nghe hô “1, 2, 3 bắt đầu” các em phải nhẩm nhanh kết quả các phép tính trên ngôi nhà, rồi tìm mảnh giấy có kết quả tương ứng gắn vào đúng vị trí. Khi dán xong sẽ được hình ngôi nhà có mái đỏ, tường vàng, cửa xanh.

    Cách tính điểm như sau:

    + Gắn dúng 1 hình được 10 điểm, hình nào gắn sai không được điểm, gắn đúng cả 5 hình được 50 điểm.

    + Đội nào gắn nhiều hình đúng, nhanh, xong trước là đội thắng cuộc.

    + Cả hai đội cùng gắn được số hình đúng bằng nhau thì đội nào nhanh hơn, xong trước là đội thắng cuộc.

    + Nếu đội gần xong trước mà gắn được ít hình đúng hơn đội xong sau, thì đội xong sau là đội chiến thắng.

    Lưu ý: Ở trò chơi kiểu này nên đưa ra một vài kết quả không đúnng để học sinh lựa chọn, nếu nhìn bằng mắt mà không tính kỹ sẽ rất dễ nhầm.

    Tôi đưa vào như vậy cốt để củng cố khắc sâu cách cộng nhẩm.

    Trò chơi 2 : Truyền điện

    Mục đích:

    + Luyện tập và củng cố kỹ năng làm các phép tính cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100 000.

    + Luyện tập phản xạ nhanh ở các em.

    Chuẩn bị: Không cần chuẩn bị bất kỳ đồ dùng nào.

    Cách chơi : Các em ngồi tại chỗ. Giáo viên gọi bắt đầu từ một em xung phong. Ví dụ em A xướng to một số trong phạm vi 100.000, chẳng hạn “35.000” và chỉ nhanh vào em B bất kỳ để “truyền điện”. Lúc này em B phải nói tiếp, ví dụ “trừ 14.000” rồi lại chỉ nhanh vào em C bất kỳ. Thế là em C phải nói tiếp “bằng 21.000”. nếu C nói đúng thì được quyền xướng to một số như A rồi chỉ vào một bạn D nào đó để “truyền điện” tiếp. Cứ làm như thế nếu bạn nào nói sai (chẳng hạn, A nói “35.000” truyền cho B, mà B nói trừ “18.000”, tức là sai dạng tính hoặc là C đọc kết quả tính sai) thì phải nhảy lò cò một vòng từ chỗ của mình lên bảng. Kết thúc khen và thưởng một tràng vỗ tay cho những bạn nói đúng và nhanh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Trò Chơi Trong Đổi Mới Pp Dạy Học Ở Tiểu Học
  • Tiến Trình Dạy Học Theo Phương Pháp “bàn Tay Nặn Bột”
  • Hiểu Đúng Về Dạy Học Stem
  • Stem Là Gì? Giáo Dục Stem Là Gì? 3 Mức Độ Triển Khai Vào Chương Trình Giáo Dục
  • Quá Trình Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tiếng Anh Ở Trường Thcs
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100