Hai Kĩ Thuật Dạy Học: Khăn Trải Bàn Và Các Mảnh Ghép

--- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Của Kế Toán
  • 4 Phương Pháp Kế Toán Cơ Bản Hiện Nay
  • Các Phương Pháp Kế Toán Cơ Bản
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Và Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học
  • Phương Pháp Luận Là Gì? Ý Nghĩa Nghiên Cứu Phương Pháp Luận
  • 1. Kĩ thuật “Các mảnh ghép”

    Thế nào là kĩ thuật “Các mảnh ghép”?

    Là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm:

    – Kích thích sự tham gia tích cực của HS:

    – Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 2).

    Cách tiến hành kĩ thuật “Các mảnh ghép” VÒNG 1: Nhóm chuyên gia

    • Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ [Ví dụ : nhóm 1 : nhiệm vụ A; nhóm 2: nhiệm vụ B, nhóm 3: nhiệm vụ C, … (có thể có nhóm cùng nhiệm vụ)]

    Kỹ thuật “Các mảnh ghép”

    VÒNG 2: Nhóm các mảnh ghép

    • Hình thành nhóm 3 đến 6 người mới (1 – 2 người từ nhóm 1, 1 – 2 người từ nhóm 2, 1 – 2 người từ nhóm 3…)
    • Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau
    • Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu được tất cả nội dung ở vòng 1 thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết
    • Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả

    – Sau khi các nhóm ở vòng 1 hoàn tất công việc giáo viên hình thành nhóm mới (mảnh ghép) theo số đã đánh, có thể có nhiều số trong 1 nhóm mới. Bước này phải tiến hành một cách cẩn thận tránh làm cho học sinh ghép nhầm nhóm.

    – Trong điều kiện phòng học hiện nay việc ghép nhóm vòng 2 sẽ gây mất trật tự.

    Ví dụ: Bài học tiếng Việt

    – Vòng 1

    Chủ đề A: Thế nào là câu đơn? Nêu ví dụ minh họa và phân tích .(màu đỏ)

    Chủ đề B: Thế nào là câu ghép? Nêu ví dụ minh họa và phân tích . (màu xanh)

    Chủ đề C: Thế nào là câu phức? Nêu ví dụ minh họa và phân tích . (màu vàng)

    Lớp có 45 học sinh, có 12 bàn học.

    Phát phiếu học tập cho học sinh. Trên phiếu học tập theo màu có đánh số từ 1 đến 15. Thông báo cho học sinh thời gian làm việc cá nhân và theo nhóm

    – Vòng 2

    Giáo viên thông báo chia thành 12 nhóm mới : mỗi nhóm 1 bàn (mỗi nhóm có từ 3 đến 6 học sinh): nhóm 1 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 1,2; nhóm 2 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 3,4; nhóm 3 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 5; nhóm 4 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 6; … nhóm 12 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 14,15. Giáo viên thông báo thời gian làm việc nhóm mới

    Các chuyên gia sẽ trình bày ý kiến của của nhóm mình ở vòng 1.

    Giao nhiệm vụ mới: Câu đơn, câu phức và câu ghép khác nhau ở điểm nào? Phân tích ví dụ minh hoạ.

    2. Kĩ thuật “Khăn trải bàn”

    Thế nào là kĩ thuật “Khăn trải bàn”?

    Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm:

    – Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực

    – Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS

    – Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS

    Cách tiến hành kĩ thuật “Khăn trải bàn” Kĩ thuật “Khăn trải bàn”

    – Hoạt động theo nhóm (4 người / nhóm) (có thể nhiều người hơn)

    – Mỗi người ngồi vào vị trí như hình vẽ minh họa

    – Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn (giấy A0)

    – Sau khi các nhóm hoàn tất công việc giáo viên có thể gắn các mẫu giấy “khăn trải bàn” lên bảng để cả lớp cùng nhận xét. Có thể dùng giấy nhỏ hơn, dùng máy chiếu phóng lớn

    (Sưu tầm trên bíghhool)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Tính Thuế Giá Trị Gia Tăng Theo Phương Pháp Khấu Trừ
  • Cách Tính Thuế Gtgt Phải Nộp Theo Pp Khấu Trừ Và Trực Tiếp
  • 10 Phương Pháp Thể Hiện Nội Dung Bản Đồ, Bạn Biết Được Bao Nhiêu ?
  • Tài Chính Doanh Nghiệp (Ross Westerfield Jaffe)
  • Giảng Dạy Theo Phương Pháp Ghép Hình (1)
  • Kinh Nghiệm Áp Dụng Kĩ Thuật Khăn Trải Bàn Và Kĩ Thuật Các Mảnh Ghép Vào Dạy Học Hóa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực Ở Tiểu Học
  • Cách Chọn Khăn Trải Bàn Phù Hợp Với Nội Thất Nhà Ở Căn Hộ
  • Các Phương Pháp Kế Toán Hàng Tồn Kho Theo Thông Tư 200
  • Phương Pháp Kế Toán Một Số Giao Dịch Chủ Yếu Trong Kế Toán Vốn Bằng Tiền
  • Phương Pháp Hạch Toán Tiền Mặt Cơ Bản
  •  Đảm bảo những thông tin từ các mảnh ghép lại với nhau có thể hiểu được bức tranh toàn cảnh của một vấn đề và là cơ sở để giải quyết một nhiệm vụ phức hợp ở vòng 2.

     Các chuyên gia ở vòng 1 có thể có trình độ khác nhau, nên cần xác định yếu tố hỗ trợ kịp thời để tất cả mọi chuyên gia có thể hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1, chuẩn bị cho vòng 2.

     Số lượng mảnh ghép không nên quá lớn để đảm bảo các thành viên có thể truyền đạt lại kiến thức cho nhau.

     Đặc điểm của nhiệm vụ mới ở vòng 2 là một nhiệm vụ phức hợp và chỉ có thể giải quyết được trên cơ sở nắm vững những kiến thức đã có ở vòng 1. Do đó cần xác định rõ những yếu tố cần thiết về kiến thức, kĩ năng, thông tin, cũng như các yếu tố hỗ trợ cần thiết để giải quyết nhiệm vụ phức hợp này.

    i cụ thể: thí nghiệm chứng minh, thí nghiệm biểu diễn, thí nghiệm thực hành,...chính nhờ những thao tác kỹ năng thực hiện đó đã giúp cho học sinh nắm chắc kiến thức lý thuyết một cách chủ động, sáng tạo và hứng thú. Đó chính là bản sắc riêng của từng thầy cô giáo, tựu chung lại là giúp cho học sinh nắm kiến thức nhanh nhất, sâu sắc nhất, chủ động nhất. Bộ môn hóa học là bộ môn được coi là bộ môn khó đối với học sinh, nhưng nếu tạo cho học sinh hứng thú khi học bài trên lớp ...thì việc học môn hóa học lại trở nên nhẹ nhàng bằng cách cho học sinh nắm chắc các kiến thức cơ bản, sát với thực tế đời sống, sản xuất, đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của nhu cầu lao động sản xuất và tiếp tục học lên cao của học sinh. Vì vậy người giáo viên đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong chất lượng giảng dạy nói chung, trong giảng dạy bộ môn hóa học nói riêng. Từ khi thay sách cho đến nay các nhà nghiên cứu cùng với tất cả các thầy có giáo đang trực tiếp tham gia giảng dạy tích cực nghiên cứu tìm ra các phương pháp, các kĩ thuật dạy học mới nhằm giúp học sinh lĩnh hội được một cách tốt nhất các kiến thức trong chương trình, với mục tiêu sau khi học thì học sinh phải có kĩ năng hành dụng, chính vì vậy mà các phương pháp và kĩ thuật dạy học đóng một vai trò rất quan trọng, nó giúp khai thác kiến thức một cách triệt để, giúp người học lĩnh hội nhanh nhất và nhớ lâu nhất những những kiến thức đã học. Bên cạnh đó thì các kĩ thuật dạy học cũng giúp nâng cao hứng thú học tập cho người học. Trong suốt mấy năm qua các phương pháp dạy học và các kĩ thuật dạy học đã được triển khai rộng rãi, tuy nhiên việc áp dụng thành thạo, thành công các kĩ thuật dạy học là một việc còn nhiều hạn chế do điều kiện vùng miền, do sự chênh lệch về nhận thức của học sinh....chính vì vậy mà một số kĩ thuật dạy học sau khi triển khai thì không được các thầy cô áp dụng trong dạy học. Từ những lí do trên tôi mạnh dạn trao đổi với bạn bè đồng nghiệp sáng kiến kinh nghiệm : " Kinh nghiệm áp dụng kĩ thuật khăn trải bàn và kĩ thuật các mảnh ghép vào dạy học hóa học". II/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 1/ Mục đích nghiên cứu : Phát hiện và tìm ra những bài học có thể áp dụng các kĩ thuật dạy học để khai thác kiến thức của bài. Tìm cách áp dụng các kĩ thuật khăn trải bàn và kĩ thuật các mảnh ghép vào bài học một cách hiệu quả nhất, phù hợp với điều kiện vùng miền và mức độ nhận thức của học sinh. 2/ Nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài qui định 3 nhiệm vụ lớn đối với người nghiên cứu: Xác định về mặt cơ sở lí luận của vấn đề. Ứng dụng cụ thể trong thực trạng nghiên cứu. Đề ra giải pháp cụ thể cho vấn đề nghiên cứu. III/ ĐỐI TƯỢNG , PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu : học sinh trường PTDTBT THCS Nậm Tha khối 8 và khối 9. Phạm vi nghiên cứu: chương trình hóa học khối 8 và khối 9 theo chuẩn kiến thức kĩ năng của bộ giáo dục. Thời gian nghiên cứu : Từ tháng 09 năm 2011 đến kết thúc học kì I năm học 2011 - 2012 . B- NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN Căn cứ vào mục tiêu giảng dạy bộ môn hóa học ở trường THCS theo chương trình chuẩn kiến thức, kĩ năng. 1. Về kiến thức. * Học sinh có một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản, ban đầu về hóa học bao gồm: 1.1 Hệ thống khái niệm hóa học cơ bản. 1.2 Các kiến thức cơ bản về một số hợp chất vô cơ, hữu cơ quan trọng. * Học sinh có được một số kiến thức cơ bản, kỹ thuật tổng hợp về nguyên liệu, sản phẩm, quá trình hóa học, thiết bị sản xuất hóa học và bảo vệ môi trường. 2. Về kỹ năng. * Học sinh có được một số kỹ năng phổ thông, cơ bản, thói quen làm việc khoa học đó là: 2.1 Kỹ năng cơ bản, tối thiểu làm việc với hóa chất, với dụng cụ thí nghiệm. 2.2 Biết cách làm việc khoa học, biết tổ chức hoạt động để chiếm lĩnh khoa học, kỹ thuật. 2.3 Có kỹ năng giải các bài tập định tính, định lượng. 2.4 Biết vận dụng kiến thức. 3. Về thái độ, tình cảm. 3.1 Giáo dục học sinh lòng say mê bộ môn hóa học. 3.2 Học sinh có niềm tin về sự tồn tại và sự biến đổi vật chất, đả phá sự mê tín dị đoan, thấy được sức mạnh của tri thức con người, đó chính là sức mạnh tiềm tàng của con người. 3.3 Học sinh có ý thức tuyên truyền, vận dụng những tiến bộ khoa học trong đời sống hàng ngày. 3.4 Học sinh có những phẩm chất, thái độ cần thiết trong cuộc sống. Trên cơ sở mục tiêu cụ thể của bộ môn hóa học cấp THCS đã xác định ở trên, kết hợp tình hình thực tế giảng dạy bộ môn hóa học cấp THCS trong giai đoạn cải cách chương trình và thay sách giaó khoa, cùng với thực tế giảng dạy ở cơ sở trường học, các điều kiện thiết yếu phục vụ công tác giảng dạy (Cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy học,...) và trình độ dân trí của địa phương trường đóng, đòi hỏi người giáo viên giảng dạy phải linh hoạt, sáng tạo, chủ động, kết hợp hài hòa giữa các nhóm phương pháp giảng dạy để hoàn thành bài giảng một cách hiệu quả nhất. CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Thực trạng : Qua thực tế giảng dạy nhiều năm tại Văn Bàn nhiều năm tôi nhận thấy chất lượng giáo dục ngày càng được nâng lên, các phương pháp dạy học, các kĩ thuật day học được áp dụng khá rỗng rãi. Tuy nhiên có một số kĩ thuật dạy học chưa được các thầy cô giáo thường xuyên sử dụng do gặp khó khăn về vùng miền, về mức độ nhận thức của học sinh, đặc biệt là kĩ thuật khăn trải bàn và kĩ thuật các mảnh ghép trong dạy học hóa học. Trong các giờ học hóa học ở bậc THCS các thầy cô giáo đã tích cực hướng dẫn, tổ chức cho học sinh tự nghiên cứu tìm tòi các kiến thức mới qua các phương pháp hoạt động nhóm, làm thí nghiệm....Tuy nhiên việc kết hợp các phương pháp dạy học với các kĩ thuật dạy học thường chưa nhuần nhuyễn và hiệu quả chưa đạt ở mức cao nhất, dẫn tới thời gian để củng cố lí thuyết cho học sinh qua việc làm bài tập còn ít do mất nhiều thời gian cho phần lí thuyết. CHƯƠNG III. BIỆN PHÁP, GIẢI PHÁP Trước hết giáo viên phải hiểu sâu một số vấn đề : Kĩ thuật khăn trải bàn được tiến hành như thế nào? Kĩ thuật các mảnh ghép được tiến hành như thế nào? Những bài học nào có thế áp dụng các kĩ thuật trên để có hiệu quả? 1. Kĩ thuật dạy học "khăn trải bàn" Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm: Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực. Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS. Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS. 1 Viết ý kiến cá nhân 4 Viết ý kiến cá nhân 2 Viết ý kiến cá nhân 3 Viết ý kiến cá nhân a. Cách tiến hành kĩ thuật "khăn trải bàn" * Hoạt động theo nhóm (4 người /nhóm). * Viết vào ô đánh số của bạn những điều bạn thích về câu hỏi (chủ đề) và những điều bạn không thích. Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút. * Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn. * Cả nhóm quyết định lựa chọn một câu hỏi/chủ đề nghiên cứu. b. Các nhiệm vụ trong nhóm * Người quản gia: * Bạn sẽ tìm hiểu xem nhóm cần những tài liệu gì và bạn có thể tìm những tài liệu đó ở đâu. * Bạn cần thu thập các tài liệu một cách nhanh chóng để nhóm có thể làm việc * Trong quá trình nhóm làm việc, nếu cần tham khảo hoặc sử dụng thêm tài liệu nào, bạn là người duy nhất được phép đi lấy nó. * Khi nhiệm vụ của nhóm đã hoàn thành, bạn sẽ nộp bài tập nhóm cho giáo viên và trả các tài liệu đã lấy vào đúng chỗ ban đầu. * Người cổ vũ: * Khi một thành viên trong nhóm gặp khó khăn, bạn sẽ khuyến khích họ, ví dụ như "Hãy cố gắng lên, tôi biết bạn có thể làm được". * Người giữ trật tự: * Nếu các thành viên trong nhóm tranh luận gay gắt, bạn có thể yêu cầu họ nói một cách nhẹ nhàng hơn. * Nếu nhóm của bạn bị các nhóm khác làm ảnh hưởng, bạn có thể là đại diện yêu cầu nhóm đó bình tĩnh và trật tự hơn. * Người giám sát về thời gian: * Bạn sẽ phụ trách việc theo dõi đồng hồ để biết thời gian làm việc của nhóm. * Ngay từ khi bắt đầu làm việc, bạn sẽ thông báo với các thành viên thời gian cho phép. * Khi nhóm dành quá nhiều thời gian cho một bài tập, bạn cần thông báo với các thành viên trong nhóm, ví dụ như "Chúng ta phải chuyển sang câu hỏi khác thôi, nếu không toàn bộ bài tập sẽ không thể hoàn thành được". * Khi thời gian cho phép gần hết, bạn cần thông báo với nhóm để hoàn thành bài tập. * Thư ký: * Bạn sẽ chuẩn bị bút và giấy trong quá trình làm việc. * Ghi lại những câu trả lời đã được thống nhất trong nhóm một cách cẩn thận và rõ ràng. * Người phụ trách chung: * Bạn cần theo dõi để các thành viên đều ở tập trung làm việc trong nhóm. * Bạn cũng cần đảm bảo rằng khi một người trong nhóm trình bày thì các thành viên còn lại chú ý lắng nghe. * Bạn tạo điều kiện cho tất cả thành viên trong nhóm đều được trình bày và tham gia. * Khi nhóm mất đi sự tập trung, bạn cần động viên họ tiếp tục c. Một số bài học có thể áp dụng kĩ thuật khăn trải bàn: c1: Hóa học 8: - Bài 22: Tính theo phương trình hóa học - Bài 42 ; nồng độ dung dịch. - Bài 24: Tính chất của oxi - Bài 31: Tính chất, ứng dụng của hidro. - Bài 36: Nước............. c2: Hóa học 9: - Bài 1: Tính chất hóa học của oxit - Bài 3 : Tính chất hóa học của axit. - Bài 7: Tính chất hóa học của bazơ. - Bài 9 : Tính chất hóa học của muối. - Bài 16: Tính chất hóa học của kim loại...... 2. Kĩ thuật dạy học " Các mảnh ghép" Kỹ thuật các mảnh ghép là kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác, kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp, kích thích sự tham gia tích cực cũng như nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác. Cách tiến hành: Vòng 1: Nhóm chuyên gia Lớp học sẽ được chia thành các nhóm (khoảng từ 3- 6 người). Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ với những nội dung học tập khác nhau. Ví dụ: + Nhóm 1: Nhiệm vụ A + Nhóm 2: Nhiệm vụ B + Nhóm 3: Nhiệm vụ C Vòng 2: Nhóm mảnh ghép Hình thành nhóm mới khoảng từ 3-6 người (bao gồm 1-2 người từ nhóm 1; 1-2 từ nhóm 2; 1-2 người từ nhóm 3), gọi là nhóm mảnh ghép. Các câu hỏi và câu trả lời của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau. Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu, được tất cả nội dung ở vòng 1 thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết (lưu ý nhiệm vụ mới này phải gắn liền với kiến thức thu được ở vòng 1) Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ trình bày và chia sẻ kết quả. Một số lưu ý khi tổ chức dạy học theo kỹ thuật các mảnh ghép: Ø Đảm bảo những thông tin từ các mảnh ghép lại với nhau có thể hiểu được bức tranh toàn cảnh của một vấn đề và là cơ sở để giải quyết một nhiệm vụ phức hợp ở vòng 2. Ø Các chuyên gia ở vòng 1 có thể có trình độ khác nhau, nên cần xác định yếu tố hỗ trợ kịp thời để tất cả mọi chuyên gia có thể hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1, chuẩn bị cho vòng 2. Ø Số lượng mảnh ghép không nên quá lớn để đảm bảo các thành viên có thể truyền đạt lại kiến thức cho nhau. Ø Đặc điểm của nhiệm vụ mới ở vòng 2 là một nhiệm vụ phức hợp và chỉ có thể giải quyết được trên cơ sở nắm vững những kiến thức đã có ở vòng 1. Do đó cần xác định rõ những yếu tố cần thiết về kiến thức, kĩ năng, thông tin,cũng như các yếu tố hỗ trợ cần thiết để giải quyết nhiệm vụ phức hợp này. Nhằm nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu của sinh viên, tạo ra đội ngũ giáo viên trong tương lai độc lập, sáng tạo. Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải năng động hơn và biết kết hợp nhiều phương pháp: * Một số bài học có thể áp dụng kĩ thuật các mảnh ghép. - Các bài về tính chất của các chất cụ thể - Bài 9: Tính chất hóa học cảu muối. - Bài 17: Dãy hoạt động hóa học của kim loại. GIÁO ÁN MINH HOẠ Tiết 23 .BÀI 17: DÃY HOẠT ĐỘNG HOÁ HỌC CỦA KIM LOẠI Ngày soạn : 06/11/2011 Ngày giảng :10/11/2011 I/. Mục tiêu 1/. Kiến thức - HS viết được dãy hoạt động hoá học của kim loại. - Hiểu được ý nghĩa của dãy hoạt động hoá học của kim loại. 2/. Kỹ năng - Vận dụng được ý nghĩa dãy hoạt động hoa học của kim loại để dự đoán kết quả phản ứng của kim loại cụ thể với dd axit, với nước và với dd muối. 3/. Thái độ - Cẩn thận, tiết kiệm. II/. Đồ dùng dạy học 1/. GV: + Dụng cụ : ống nghiệm, kẹp gỗ, cốc thuỷ tinh. + Hoá chất: dd CuSO4, FeSO4, AgNO3, HCl, H2O Đinh sắt, dây đồng, lá đồng, Na. 2/. HS : Ôn tập tính chất hoá học của kim loại III/. Phương pháp, kĩ thuật dạy học - Phương pháp làm thí nghiệm. - Phương pháp vấn đáp. - Kĩ thuật các mảnh ghép. IV/. Tổ chức dạy học 1/. ổn định tổ chức 2/. Kiểm tra ( 2 điểm) : ? Trình bày các tính chất vật lí của kim loại? Viết PTHH minh hoạ? 3/. Bài mới: - Giới thiệu bài ( 1 phút): SGK - tr.52 Hoạt động 1(28 phút) TÌM HIỂU DÃY HOẠT ĐỘNG HOÁ HỌC CỦA KIM LOẠI - Mục tiêu: HS hiểu được nguyên tắc của dãy hoạt động hóa học của kim loại. Trình bày được dãy hoạt động hóa học của kim loại. GV HS Ghi bảng - GV chia lớp làm 4 nhóm, giao cho mỗi nhóm tiến hành một thí nghiệm: + Nhóm 1: thực hiện phản ứng giữa Fe và CuSO4. + Nhóm 2: thực hiện phản ứng giữa Cu và AgNO3 +Nhóm 3: thực hiện phản ứng giữa Fe và Cu với H2. + Nhóm 4: thực hiện phản ứng giữa Na và Fe với nước. - Yêu cầu các nhóm xây dựng một dãy hoạt động hoá học của kim loại với những kim loại vừa làm thí nghiệm. - GV nhận xét, chốt lại kiến thức. ? Dãy hoạt động hoá học của kim loại được xây dựng theo nguyên tắc nào? ? Căn cứ vào dãy hãy so sánh mức động hoạt động của Al và Zn, Pb và Cu, Ag và Au? - Yêu cầu HS làm bài tập 1 - tr.54. - Các nhóm nhận dụng cụ, hoá chất, tiến hành thí nghiệm. - Trong mỗi nhóm cử người ghi lại hiện tượng, trao đổi trong nhóm giải thích và viết PTHH minh hoạ. - Thành viên các nhóm tách nhau và ghép với các thành viên của các nhóm khác tạo thành nhóm mới. - Các thành viên trong nhóm mới trao đổi với nhau về kết quả thu được qua việc làm thí nghiệm. - Thống nhất, xây dựng được một dãy hoạt động hoá học của kim loại . Bài tập 1: chọn dãy c I/. Dãy hoạt động hoá học của kim loại được xây dụng như thế nào? - Dãy hoạt động hoá học được xây dụng theo chiều giảm dần mức độ hoạt động hoá học của kim loại. K, Na, Mg, Al, Zn, Fe, Pb, (H), Cu, Ag, Au. Hoạt động 2 (10 phút) TÌM HIỂU Ý NGHĨA CỦA DÃY HOẠT ĐỘNG HOÁ HỌC CỦA KIM LOẠI. - Mục tiêu: HS hiểu được các ý nghĩa của dãy họat động hóa học của kim loại. GV HS Ghi bảng - Yêu cầu HS nghiên cứu SGK - tr. 54. ? Nêu ý nghĩa của dãy hoạt động hoá học của kim loại? - HS nêu được 4 ý nghĩa theo nội dung mục II - tr.54. II/. Dãy hoạt động hoá học của kim loại có ý nghĩa như thế nào? - Mức hoạt động hóa học của kim loại giảm dần từ tráu qua phải. - Kim loại đứng trước Mg phản ứng với nước ở điều kiện thường tạo thành kiềm và giải phóng hiddro. - Kim loại đứng trước H phản ứng với một số dung dịch axit giải phóng H2. - Từ Mg trở đi, kim loại đứng trước đẩy kim loại đứng sau ra khỏi dung dịch muối. 4/. Tổng kết, kiểm tra, đánh giá ( 3 phút) HS hoàn thành bài tập 2,4 - tr54 HD: bt2 : Chọn ý b : Zn + CuSO4 ® ZnSO4 + Cu¯ bt4 : a/ Màu xanh mất dần, xuất hiện chất rắn màu đỏ b/ Màu xanh xuất hiện, có kết tủa trắng tạo ra. c/ Không có hiện tượng gì. d/ như phần a. 5/. HD về nhà ( 1 phút) HD bài tập 5: Chỉ có Zn phản ứng với axit, Cu không phản ứng. Zn + H2SO4 ® ZnSO4 + H2­ 65g 22,4l xg 22,4l Số gam kẽm trong hỗn hợp là : x = 6,5 g Khối lượng đồng còn lại là : 10,5 - 6,5 = 4 g CHƯƠNG IV: HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN Qua thực hiện một thời gian tôi nhận thấy có những hiệu quả cụ thể như sau : Phần lớn kiến thức trong bài học được khai thác một cách triệt để, học sinh tích cực, chủ động trong các hoạt động học tập. Các giờ học hóa học trở nên gần gũi hơn với các em, đa số học sinh không còn e ngại trong học tập, đặc biệt là các em học sinh còn yếu cũng tích cực hơn. Chất lượng học tập được nâng lên rõ rệt thể hiện qua các bài khảo sát, tỉ lệ bài đạt từ trung bình trở lên tăng từ 10% đến 15% so với bài khảo sát cho cùng một bài học của năm trước. Kết quả khảo sát cụ thể như sau : KHỐI LỚP Tổng số bài khảo sát Số lượng bài đạt trung bình trở lên % 8 42 35 83% 9 61 52 85% C/ KẾT LUẬN Để thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy học và áp dụng các kĩ thuật dạy học hóa học ở bậc trung học cơ sở nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn, đòi hỏi người giáo viên trước hết phải nắm vững các kién thức cơ bản, phổ thông, các kiến thức về đổi mới về chương trình, về phương pháp, về các kĩ thuật dạy học đồng thời cần có kỹ năng sử dụng dụng cụ đồ dùng dạy học một cách hiệu quả nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo, tích cực tìm lĩnh hội các kiến thức của học sinh nhằm phát huy khả năng tư duy khả năng độc lập sáng tạo trong mọi hành động. Bên cạnh đó giáo viên cần khai thác triệt để nội dung sách giáo khoa, các tài liệu tham khảo, tài liệu bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, các phương tiện giảng dạy hiện có, thường xuyên tiến hành đổi mới phương pháp dạy học bộ môn hóa học thông qua việc khai thác triệt để bộ dụng cụ thiết bị dạy học để học sinh thông qua thực hiện các thí nghiệm trong từng bài học để tạo hứng thú học tập. Để dạy và học bộ môn hóa học đạt hiệu quả trước hết cần có đầy đủ trang thiết bị cho dạy và học như : Phòng học bộ môn đạt tiêu chuẩn, cán bộ chuyên trách phòng thiết bị được đào tạo bài bản ( không kiêm nhiệm), các trang thiết bị hiện đại ( máy chiếu đa năng, máy vi tính ),... Các dụng cụ hóa chất đầy đủ, chất lượng tốt. Giáo viên có tâm huyết với nghề, với bộ môn, không ngại khó ngại khổ, khắc phục khó khăn để thực hiện đầy đủ các thí nghiệm theo yêu cầu tối thiểu, giáo viên phải chuẩn bị chu đáo, các thao tác thành thạo thông qua việc làm thử, dạy thử, các thao tác của giáo viên thực hiện đảm bảo chuẩn xác, sư phạm, mẫu mực đảm bảo an toàn và hiệu quả. Giáo viên cần xây dựng các n

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Khấu Trừ Thuế Gtgt Là Gì
  • Mức Thuế Suất Gtgt Theo Phương Pháp Trực Tiếp
  • So Sánh Phương Pháp Tính Thuế Khấu Trừ Và Trực Tiếp
  • Tính Giá Nhập Kho Nguyên Liệu, Vật Liệu Và Công Cụ Dụng Cụ
  • Cách Xác Định Nguyên Giá Tài Sản Cố Định
  • Xây Dựng Và Sử Dụng Kĩ Thuật “khăn Trải Bàn” Trong Dạy Học Lịch Sử Lớp 11

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Kế Toán Hàng Tồn Kho
  • Nghiên Cứu Phương Pháp Kế Toán Dồn Tích Và Kế Toán Tiền Mặt Trong Doanh Nghiệp
  • Phương Pháp Kế Toán Tiền Mặt Tk111 Theo Thông Tư 133
  • Kế Toán Tiền Mặt/ Gửi Ngân Hàng Thường Phải Gặp Rủi Ro Nào
  • Về Sổ Kế Toán Chi Tiết Hàng Tồn Kho
  • TRƯỜNG THPT SỐ 2 TP LÀO CAI

    ĐỀ TÀI

    XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG KĨ THUẬT “KHĂN TRẢI BÀN”

    TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ

    (LỚP 11)

    Họ và tên giáo viên: Vũ Ngọc Trai

    Tổ: Văn – Sử – GDCD

    PHẦN I . MỞ ĐẦU

    1. Bối cảnh, lý do chọn đề tài

    Trong dạy học lịch sử ở trường THPT, ngồi việc giúp cho học sinh

    nắm được kiến thức cơ bản, giáo dục tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức,

    giáo viên còn phải giúp cho học sinh phát triển năng lực nhận thức và tự

    nhận thức.

    Theo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử hiện nay, thì việc

    học sinh chủ động nhận thức là điều kiện cần thiết để phát triển tư duy của

    các em trong học tập lịch sử và nâng cao chất lượng học tập môn lịch sử.

    Tuy nhiên, theo nhận định của một số giáo viên (sau đợt bồi dưỡng hè 2010)

    thì việc áp dụng những kĩ thuật dậy học mới còn mới mẻ đối với việc dạy và

    học lịch sử ở tỉnh ta. Chúng ta chưa có quan niệm đầy đủ về sự cần thiết của

    việc áp dụng những kĩ thuật trong dậy học lịch sử, (thậm chí có người cho

    rằng áp dụng những kĩ thuật dậy học mới không phù hợp, không hiệu quả

    trong điều kiện cơ sở vật chất và trình độ của học sinh hiện nay).

    Vậy áp dụng hay không áp dụng những kĩ thuật mới trong dạy học lịch

    sử? Chúng ta sẽ không trả lời có hoặc không mà là phải thông hiểu nó sử

    dụng nó như thế nào cho phù hợp với từng phần, từng bài học; phù hợp với

    điều kiện cơ sở vật chất và trình độ của học sing từng trường, từng vùng.

    Đây chính là lý do mà tôi quan tâm đến việc “Xây dựng và sử dụng kĩ thuật

    ” khăn trải bàn” trong dạy học lịch sử ở trường THPT số 2 TP Lào Cai”.

    2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    Do thực tế và điều kiện thời gian, nên phạm vi nghiên cứu chỉ dừng

    lại ở Xây dựng và sử dụng kĩ thuật dậy học “khăn trải bàn” trong dạy học

    lịch sử ở trường THPT số 2 TP Lào cai, trên đối tượng học sinh khối 11.

    3. Mục đích nghiên cứu

    Qua nghiên cứu vấn đề này, bản thân mong muốn tìm cách áp dụng kĩ

    thuật dậy học “khăn trải bàn” vào thực tiễn dạy học; nghiên cứu hiệu quả,

    khả năng ứng dụng kĩ thuật vào dạy học lịch sử, nhằm nâng cao chất lượng

    bộ môn trong nhà trường.

    Nghiên cứu vấn đề này giúp nâng cao nghiệp vụ công tác của bản thân

    tôi, đồng thời để trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp.

    Trình bày lại quá trình và kết quả nghiên cứu, tôi rất mong được quý

    đồng nghiệp trao đổi, góp ý nhằm tìm ra cách thức xây dựng và sử dụng kĩ

    thuật dậy học “khăn trải bàn” trong dạy học lịch sử một cách có hiệu quả

    nhất.

    4. Nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu

    Nghiên cứu đề tài này, tôi đã thực hiện các nhiệm vụ, các bước nghiên

    cứu như sau: Trước hết, tôi nghiên cứu kĩ thuật dậy học “khăn trải bàn”, và

    tìm hiểu, tham khảo ở một số tỉnh khác, làm cơ sở cho việc vạch ra cách

    thức xây dựng và sử dụng kĩ thuật. Bước tiếp theo, tôi thực hành nghiên cứu,

    soạn một số giáo án và thực nghiệm sử dụng kĩ thuật dậy học “khăn trải

    bàn” vào dạy học lịch sử ở một số bài. Qua thực nghiệm, nhìn lại quá trình

    nghiên cứu đề tài, tôi rút ra một số kinh nghiệm làm cơ sở để tiếp tục nghiên

    cứu, ứng dụng vào dạy học sau này.

    5. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu

    Đáp ứng được một phần nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay

    trong các nhà trường phổ thông.

    Phù hợp với nguyện vọng của học sinh và sự phát triển của xã hội yêu

    cầu khả năng tự nhận thức lĩnh hội, năng động, sáng tạo làm chủ bản thân.

    ************************

    PHẦN 2. NỘI DUNG

    1. Cơ sở lý luận

    – Mục tiêu giáo dục:

    Là đào tạo con người Việt Nam phát triển tồn diện, có đạo đức, tri thức,

    sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc

    và chủ nghĩa xã hội; Hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và

    năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc (Qui

    định tại điều 2- Luật Giáo dục).

    Điều này đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đầy đủ nhiệm vụ vẻ vang của

    mình để ra sức cải tiến và nâng cao chất lượng về mọi mặt công tác trước

    tiên là công tác giảng dạy bộ môn lịch sử nhất là việc xây dựng và sử dụng

    kĩ thuật dậy học “khăn trải bàn”.

    – Mục tiêu bộ môn:

    Hình thành kĩ năng tư duy lịch sử và tư duy logic, nâng cao năng lực

    xem xét, đánh giá sự kiện, hiện tượng trong mối quan hệ không gian, thời

    gian và nhân vật lịch sử

    Rèn luyện kĩ năng học tập bộ môn một cách độc lập, thông minh, cởi

    mở như làm việc sách giáo khoa, với nhóm bạn, với thầy cô giáo, sưu tầm và

    sử dụng các loại tư liệu lịch sử…

    Phát triển khả năng phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp. Biết đặt vấn

    đề và giải quyết vấn đề trong quá trình học tập.

    – Mục tiêu kĩ thuật

    Kĩ thuật “khăn trải bàn” Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang

    tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm nhằm: Kích thích, thúc

    đẩy sự tham gia tích cực. Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân

    HS. Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS.

    2. Thực trạng việc xây dựng và sử dụng kĩ thuật “khăn trải bàn” trong

    dạy học lịch sử

    3. Xây dựng và sử dụng kĩ thuật dậy học “khăn trải bàn” trong dạy học

    lịch sử (lớp 11).

    3.1. Giáo viên phải nắm vững kĩ thuật, hướng dẫn học sinh thông hiểu

    kĩ thuật.

    – Kĩ thuật dậy học “khăn trải bàn là gì” ?

    Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa

    hoạt động cá nhân và nhóm nhằm: Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực.

    Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS. Phát triển mô hình có

    sự tương tác giữa HS với HS.

    – Cách tiến hành kĩ thuật “khăn trải bàn”

    + Hoạt động theo nhóm (4 người /nhóm) Mỗi người ngồi vào vị trí như

    hình vẽ minh họa. Tập trung vào câu hỏi (chủ đề…).

    – Chọn một phần: sơ kết bài hoặc những kiến thức, những sự kiện cần phát

    huy trí tuệ của nhiều học sinh ví dụ:

    + Bài 1. Nhật Bản: ĐVĐ. Em hãy tìm hiểu, khi chuyển sang giai đoạn

    ĐQCN vào cuối thế kỉ XIX, ở Nhật Bản có những điểm nào giống với đế

    quốc Anh, Pháp (ở thời điểm này).

    + Bài 3. Trung Quốc: ĐVĐ. Em hãy tìm ra những điểm khác nhau cơ bản

    của những phong trào đấu tranh ở Trung Quốc cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ

    XX.(khởi nghĩa Thái bình Thiên quốc, phong trào Duy tân, khởi nghĩa

    Nghĩa Hồ đồn, Cách mạng Tân Hợi).

    + Bài 6. chiếùn tranh thế giới thứ nhất (1914 -1918): ĐVĐ. Chiếùn tranh

    thế giới thứ nhất được coi là cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa, em hãy giải

    thích ngắn gọn vì sao?

    + Bài 7. Những thành tựu văn hố thời cận đại: ĐVĐ. Về văn học, từ đầu

    thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX thế giới đã sản sinh ra nhiều nhà văn nổi tiếng

    với những tác phẩm bất hủ. Em hãy nêu ra những nhà văn và những tác

    phẩm lớn ở Việt Nam cùng thời đại.

    + Bài 9. Cách mạng tháng Mười Nga…: ĐVĐ. Từ năm 1917 đến 1920,

    nhân dân Nga dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvich đã hồn thành những

    nhiệm vụ cơ bản nào?

    + Bài 10. Liên Xô xây dựng CNXH ( 1921 -1941 ): ĐVĐ. Những thành

    tựu nổi bật mà Liên Xô đạt được trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, đối

    ngoại.

    + Bài 11. Bài tình hình các nước TBCN giữa hai cuộc chiến tranh thế giới

    (1918 -1939): ĐVĐ. Em hãy giải thích ngắn gọn, tại sao xuất hiện hai nhóm

    nước lựa chọn hai con đường khác nhau để thốt khỏi cuộc khủng hoảng kinh

    tế (1929-1933).

    + Bài 13. Nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918-1939): ĐVĐ.

    Em hãy tìm ra những điểm tích cực và hạn chế trong chính sách mới của

    tổng thống Mĩ Rudơven.

    + Bài 15. Phong trào cách mạng ở trung Quốc và Ấn Độ (1918-1939):

    ĐVĐ. Em hãy nêu ra đặc điểm con đường đấu tranh ở Trung Quốc và Ấn

    Độ. Giải thích ngắn gọn vì sao mỗi nước có con đường đấu tranh khác

    nhau.

    + Bài 17. Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945): ĐVĐ. Em hãy nêu lên

    nguyên nhân, vì sao trong giai đoạn từ tháng 9/1939 đến tháng 6/1941, phe

    phát xít thắng lớn và ít tổn thất? ( tiết 1). ĐVĐ. Nêu những sự kiện đánh dấu

    sự xoay chuyển cục diện chiến tranh thế giới. Nêu suy nghĩ của em về việc

    Mĩ ném 2 quả bom nguyên tử xuống Nhật Bản ngày 6&9/8/1945 (tiết 2).

    + Bài 19. Nhân dân Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

    (từ 1858 đến trước1873): ĐVĐ. Nêu những hoạt động quân sự chính của

    thực dân Pháp từ tháng 9/1858 đến tháng 6/1862. ĐVĐ. Giải thích ngắn gọn,

    vì sao lúc đấu triều đình Nguyễn có tổ chức cuộc kháng chiến chống thực

    dân Pháp xâm lược, song đến tháng 6/1862 lại kí với Pháp Hiệp ước Nhâm

    Tuất nhượng bộ thực dân Pháp.

    + Bài 20. Chiến sự lan rộng ra cả nước. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta

    từ năm 1873 đến 1884. Nhà Nguyễn đầu hàng: ĐVĐ. Vì sao nói việc triều

    đình Nguyến kí với Pháp Hiệp ước Giáp Tuất (1874) đã bỏ qua cơ hội đánh

    bại quân Pháp ở Bắc kì khi chúng tiến hành cuộc xâm lược lần một. ĐVĐ.

    Hành động của Pháp sau thất bại ở Cầu Giấy lần một và lần hai, khác nhau

    như thế nào?. Thủ đoạn xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp từ 1858 đến

    1884. ĐVĐ. Cuộc kháng chiến do nhà Nguyễn tổ chức thất bại, nhà Nguyễn

    kí kết các hiệp ước đầu hàng thực dân Pháp, nước ta rơi vào tay Pháp. Hay

    giải thích nguyên nhân vì sao?.

    + Bài 21. Phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam trong những năm

    cuối thế kỉ XIX: ĐVĐ. Vì sao nói cuộc khởi nghĩa Hương Khê là cuộc khởi

    nghĩa tiêu biểu nhất trong phong trào Cần vương chống Pháp?. Em hãy nêu

    lên tính chất của phong trào khởi nghĩa Cần Vương và rút ra những điểm

    hạn chế của phong trào.

    + Bài 22. Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của

    thực dân Pháp: ĐVĐ. Em hãy xác định tầng lớp xã hội có khả năng nhất,

    lãnh đạo phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam trong những năm đầu

    thế kỉ XX.

    + Bài 23. ĐVĐ. Phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỉ

    XX đên 1914: Em hãy tìm ra điểm khác nhau trong chủ trương, phương

    pháp hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. ĐVĐ.

    Điểm khác nhau căn bản nhất giữa Phong trào yêu nước và cách mạng đầu

    thế kỉ XX với Phong trào yêu nước Cần Vương cuối thế kỉ XIX.

    + Bài 24. ĐVĐ. Việt Nam trong những năm chiến tranh thế giới thứ nhất

    (1914-1918): Điểm mới trong phong trào đấu tranh trong những năm trong

    chiến tranh (1914-1918) so với phong trào đấu tranh trong những năm trước

    chiến tranh (1897-1914).

    * Lưu ý: đối với từng lớp (trình độ khác nhau) thì đưa ra vấn đề

    khác nhau, không phải đưa ra tất cả các yêu cầu đó với một lớp. Trong

    chương trình còn nhiều sự kiện, nội dung có thể sử dụng kĩ thuật ” khăn

    trải bàn”.

    3.3. Thực nghiệm sử dụng kĩ thuật dậy học “khăn trải bàn” trong dạy

    học lịch sử lớp 11.

    Để đánh giá khả năng, hiệu quả, ý nghĩa của việc sử dụng kĩ thuật

    dụng tích cực trong việc phát triển năng lực nhận thức cho học sinh. Mang

    lại hiệu quả rõ ràng nâng cao chất lượng trong dạy lịch sử.

    Tuy nhiên, còn có những cá nhân học sinh chưa thực sự tích cực thực hiện

    theo yêu cầu của kĩ thuật mới, nên chưa có sự chuyển biến trong hoạt động

    nhận thức và kết quả học tập.

    PHẦN 3. KẾT LUẬN

    1. Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm

    Sử dụng kĩ thuật “khăn trải bàn” trong dạy học lịch sử là một trong

    những biện pháp tích cực đối với việc phát triển năng lực nhận thức cho học

    sinh, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng bộ môn. Với ý

    nghĩa tích cực như vậy, bài tập nhận thức rất cần được đưa vào thực tế dạy

    học lịch sử ở trường phổ thông.

    đúng mức, việc xây dựng và sử dụng kĩ thuật trong dạy học lịch sử sẽ mang

    lại kết quả tốt đẹp.

    4. Những kiến nghị, đề xuất

    Để tạo thuận lợi cho giáo viên, thiết nghĩ rất cần có những công trình

    nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống về vấn đề xây dựng và sử dụng kĩ thuật

    “khăn trải bàn” làm cơ sở để giáo viên tham khảo.

    Cần có nhiều diễn đàn để giáo viên trao đổi, bàn bạc, tìm giải pháp có

    hiệu quả cho vấn đề này.

    *******************************

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Phương pháp dạy học lịch sử (Phan Ngọc Liên – Trần Văn Trị-chủ

    biên), 1999 NXB Giáo dục, 296 trang.

    2. Lịch sử 11,2006, NXB Giáo dục, Phan Ngọc Liên (Tổng chủ biên).

    3. Một số vấn đề cơ bản về phương pháp viết sáng kiến kinh nghiệm

    (Nhiều tác giả)

    ******************************

    PHỤ LỤC

    MỤC LỤC

    PHẦN I . MỞ ĐẦU

    1. Bối cảnh, lý do chọn đề tài

    2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    3. Mục đích nghiên cứu

    4. Nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu

    5. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu

    PHẦN 2. NỘI DUNG

    1. Cơ sở lí luận

    2. Thực trạng việc xây dựng và sử dụng kĩ thuật “khăn trải bàn” trong dạy

    học lịch sử

    3. Xây dựng và sử dụng kĩ thuật dậy học “khăn trải bàn” trong dạy học lịch

    sử (lớp 11).

    3.1. Giáo viên phải nắm vững kĩ thuật, hướng dẫn học sinh thông hiểu về

    kĩ thuật.

    3.2. Chọn bài, phần, sự kiện phù hợp để xây dựng và sử dụng kĩ thuật.

    3.3. Thực nghiệm sử dụng kĩ thuật dậy học “khăn trải bàn” trong dạy

    học lịch sử lớp 11.

    3.4. Nhận xét về hiệu quả của việc sử dụng kĩ thuật : “khăn trải bàn”

    PHẦN 3. KẾT LUẬN

    1. Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm

    2. Nhận định về sáng kiến kinh nghiệm

    3. Khả năng ứng dụng và triển khai

    4. Những kiến nghị, đề xuất

    ******************

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Đơn Giản Hạn Chế Nhược Điểm Kĩ Thuật Dạy Học Khăn Phủ Bàn
  • Cách Tính Thuế Giá Trị Gia Tăng Đầu Vào Đầu Ra
  • Hướng Dẫn Cách Lập Tờ Khai Thuế 01/gtgt Theo Quý, Tháng
  • Cách Tính Thuế Giá Trị Gia Tăng Theo Phương Pháp Khấu Trừ
  • Kế Toán Thuế Giá Trị Gia Tăng Theo Phương Pháp Khấu Trừ
  • Skkn Vận Dụng Kĩ Thuật Dạy Học Khăn Trải Bàn Vào Giảng Dạy Một Số Bài Lịch Sử Ở Lớp 11

    --- Bài mới hơn ---

  • Vận Dụng Kỹ Thuật Kwl Trong Giảng Dạy Các Học Phần Tâm Lý Giáo Dục Đáp Ứng Chương Trình Giáo Dục Tiểu Học Mới
  • Biểu Đồ Hình Giúp Trẻ Vận Dụng Kiến Thức Nền
  • Dạy Học Truyền Thống Và Dạy Học Tích Cực
  • Bố Mẹ Yên Tâm Hơn Với Phương Pháp Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm
  • Dạy Học Lấy Trẻ Làm Trung Tâm
  • CNTB

    Chủ nghĩa tư bản

    CNTD

    Chủ nghĩa thực dân

    CNXH

    Chủ nghĩa xã hội

    GV

    Giáo viên

    HS

    Học sinh

    LLSX

    Lực lượng sản xuất

    QHSX

    Quan hệ sản xuất

    SGK

    Sách giáo khoa

    SKKN

    Sáng kiến kinh nghiệm

    THPT

    Trung học phổ thông

    MỤC LỤC

    1. PHẦN MỞ ĐẦU

    1.1. Lý do chọn đề tài:

    Nhà bác học Albert Einstein từng khẳng định rằng: “Hãy dạy làm sao để học sinh cảm thấy những điều được học như một phần thưởng quý giá chứ không như một nhiệm vụ ngán ngẩm”. Là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy, tôi luôn tự hỏi: dạy như thế nào để tạo hứng thú và hấp dẫn học sinh trong mỗi tiết học?. Hiện nay giáo dục đang đổi mới một cách toàn diện, trong đó có phương pháp dạy học. Để phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh, đòi hỏi giáo viên không ngừng cải tiến phương pháp dạy học. Giáo viên cần phải xác định đúng đắn dạy học lịch sử để làm gì? (mục đích), dạy học cái gì? (nội dung), dạy như thế nào? (phương pháp).

    Trong dạy học Lịch sử ở trường THPT, ngoài việc giúp cho học sinh nắm được kiến thức cơ bản, giáo dục tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, giáo viên còn phải giúp cho học sinh phát triển năng lực nhận thức và tự nhận thức.

    Theo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử hiện nay, thì việc học sinh chủ động nhận thức là điều kiện cần thiết để phát triển tư duy của các em trong học tập Lịch sử và nâng cao chất lượng học tập môn Lịch sử. Tuy nhiên, theo nhận định của một số giáo viên thì việc áp dụng những kĩ thuật dạy học hiện đại còn mới mẻ đối với việc dạy và học Lịch sử ở tỉnh ta. Chúng ta chưa có quan niệm đầy đủ về sự cần thiết của việc áp dụng những kĩ thuật dạy học hiện đại trong dạy học Lịch sử, (thậm chí có người cho rằng áp dụng những kĩ thuật dạy học mới không phù hợp, không hiệu quả trong điều kiện cơ sở vật chất và trình độ của học sinh hiện nay).

    Vậy áp dụng hay không áp dụng những kĩ thuật mới trong dạy học Lịch sử? Chúng ta sẽ không trả lời có hoặc không mà là phải thông hiểu nó sử dụng nó như thế nào cho phù hợp với từng phần, từng bài học; phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất và trình độ của học sing từng trường, từng khu vực. Đây chính là lý do thôi thúc tôi quyết định lựa chọn đề tài “Vận dụng kĩ thuật dạy học khăn trải bàn vào giảng dạy một số bài Lịch sử ở lớp 11”.

    1.2. Mục đích của nghiên cứu

    Mục đích nghiên cứu qua nghiên cứu vấn đề này, bản thân mong muốn tìm cách áp dụng những kĩ thuật dạy học hiện đại nói chung vào thực tiễn dạy học; nghiên cứu hiệu quả, khả năng ứng dụng kĩ thuật dạy học “ Khăn trải bàn” nói riêng vào dạy học Lịch sử, nhằm nâng cao chất lượng bộ môn trong nhà trường. Nghiên cứu vấn đề này giúp nâng cao nghiệp vụ công tác của bản thân tôi, đồng thời để trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp. Trình bày lại quá trình và kết quả nghiên cứu, tôi rất mong được quý đồng nghiệp trao đổi, góp ý nhằm tìm ra cách thức xây dựng và sử dụng kĩ thuật dạy học hiện đại trước hết là kĩ thuật “ Khăn trải bàn” trong dạy học một số bài Lịch sử lớp 11một cách có hiệu quả nhất.

    1.3. Đối tượng nghiên cứu

    Đề tài được áp dụng trong phạm vi của học sinh trường THPT đồng thời giáo viên bộ môn khác cũng có thể tham khảo và vận dụng một số giải pháp của đề tài này về giảng dạy tốt hơn cho bộ môn mình.

    1.4. Phương pháp nghiên cứu

    Để thực hiện tốt đề tài nghiên cứu bản thân tôi phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

    – Nghiên cứu các tài liệu “phương pháp dạy học lịch sử”

    – Chuẩn kiến thức, sách giáo khoa lịch sử

    – Tiếp thu những góp ý của đồng nghiệp, rút kinh nghiệm từng tiết dạy

    – Nghiên cứu tài liệu gây hứng thứ về dạy học lịch sử

    – Kiểm tra, đánh giá kết quả học sinh và làm bài để từ đó có những điều chỉnh và bổ sung hợp lí

    1.5. Điểm mới của sáng kiến

    – Sáng kiến “ Vận dụng kĩ thuật dạy học Khăn trải bàn” vào giảng dạy một số bài Lịch sử ở lớp 11là sự tích lũy kinh nghiệm thực tiễn dạy học và nghiên cứu lí luận dạy học hiện đại của bản thân trong quá trình giảng dạy bộ môn Lịch sử lớp 11, được đúc rút và trình bày một cách hệ thống và khoa học. Giải pháp mà sáng kiến trình bày được xây dựng trên cơ sở những kiểm chứng cụ thể, thực tế tại trường THPT Bỉm Sơn, từ đó khái quát thành lí luận.

    – Sáng kiến được áp dụng lần đầu tại lớp 11b2, 11b1 trường THPT Bỉm Sơn năm học 2022-2016. Với giải pháp cụ thể, dễ áp dụng với bất cứ loại hình lớp học nào sẽ là một công cụ đắc lực giúp giáo viên giảng dạy môn Lịch sử lớp 11 hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

    2. PHẦN NỘI DUNG

    2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến

    Xuất phát từ việc so sánh kiểu dạy học truyền thống và phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh chúng ta đã thấy rõ những điều khác biệt cơ bản. Xin trích dẫn một vài ví dụ so sánh

    Như vậy, qua hai so sánh kiểu dạy học trên thì phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh sẽ đem lại hiệu quả cao hơn . Tuy nhiên lại đòi hỏi giáo viên và học sinh phải được “tích cực hóa” trong quá trình giảng dạy – học sinh phải chủ động và sáng tạo . Cần phải tiếp thu những điểm cơ bản có tính nguyên tắc của cách dạy truyền thống, song phải luôn luôn đổi mới , làm một cuộc cách mạng trong người dạy và người học để khắc phục sự thụ động và bảo thủ như: giáo viên chuẩn bị giảng những điều học sinh dễ nhớ, học sinh chỉ chú trọng ghi lời giảng của giáo viên và kiến thức trong sách để trình bày lại khi kiểm tra.

    2.2. Thực trạng của việc vận dụng kĩ thuật dạy học “khăn trải bàn” vào giảng dạy một số bài Lịch Sử lớp 11

    2.2.1. Thuận lợi:

    – Việc xây dựng và sử dụng kĩ thuật dạy học hiện đại vào giảng dạy ở trường THPT là khá mới đối với giáo dục nước ta, nhưng là tất yếu đáp ứng được một phần nhu cầu đối mới phương pháp dạy – học trong nhà trường THPT, phù hợp với nguyện vọng của người học và yêu cầu của xã hội.

    – Học sinh hào hứng tiếp cận cách thức học tập mới.

    2.2.2. Khó khăn

    Kĩ thuật dạy học Khăn trải bàn là một trong những kĩ thuật dạy học hiện đại còn khá mới mẻ đối với giáo dục nước ta, đa số giáo viên còn dè dặt trong việc nghiên cứu và sử dụng những kĩ thuật này vì nhiều lí do khác nhau về khách quan hoặc chủ quan:

    – Điều kiện cơ sở vật chất phần lớn trong các nhà trường chưa phù hợp để triển khai kĩ thuật.

    – Học sinh phần lớn chưa được làm quen hoặc có thì rất ít với kĩ thuật mới. Ý thức học tập của các em chưa thực sự tự giác, có tránh nhiệm với bản thân và với nhóm, còn ỷ lại, dựa dẫm.

    – Đặc trưng bộ môn lịch sử nhiều kiến thức, sự kiện, nhân vật giáo viên cần tường thuật, thuyết trình, miêu tả cho sinh động tốn khá nhiều thời gian trong giờ dạy.

    – Nhiều giáo viên chưa thực sự thông hiểu và nghiệp vụ triển khai kĩ thuật còn lúng túng (các bước triển khai, câu hỏi, thời gian) hoặc do dự sợ không hoàn thành giờ dạy, cháy giáo án. Có giáo viên còn chậm đổi mới phương pháp, chưa tâm huyết với nghề nghiệp.

    – Cách nhận xét, đánh giá giờ dạy của các đồng nghiệp còn hay nặng về hình thức, cầu tòan

    2.3. Giải pháp vận dụng kĩ thuật dạy học “khăn trải bàn” vào giảng dạy một số bài lịch sử lớp 11

    2.3.1. Giáo viên hướng dẫn học sinh thông hiểu kĩ thuật “ Khăn trải bàn”

    – Kĩ thuật “Khăn trải bàn là gì” ? Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm nhằm: Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực. Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS. Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS.

    – Cách tiến hành kĩ thuật “Khăn trải bàn”

    + Hoạt động theo nhóm (4 người /nhóm) Mỗi người ngồi vào vị trí như hình vẽ minh họa. Tập trung vào câu hỏi (chủ đề).

    – Một số lưu ý khi tổ chức dạy học theo kỹ thuật “Khăn trải bàn”

    + Trong trường hợp số học sinh trong nhóm quá đông , không đủ chỗ trên “khăn trải bàn”, có thể phát cho HS những mảnh giấy nhỏ để HS ghi ý kiến cá nhân, sau đó dính vào phần xung quanh “ Khăn trải bàn”

    2.3.2. Vận dụng kĩ thuật dạy học “ Khăn trải bàn” vào giảng dạy một số bài Lịch sử ở lớp 11.

    * Chọn bài phù hợp để sử dụng kĩ thuật.

    Chọn các bài ôn tập :

    Bài 8. Ôn tập lịch sử thế giới cận đại.

    Bài 18: Ôn tập lịch sử thế giới hiện đại (1917-1945).

    Bài 24: Sơ kết lịch sử Việt Nam.

    Lấy ví dụ: sử dụng kĩ thuật “Khăn trải bàn” ở Bài 8. Ôn tập lịch sử thế giới cận đại.

    – Giáo viên giao việc cho học sinh về nhà chuẩn bị trước theo yêu cầu của giáo viên: lập bảng hệ thống những cuộc CMTS đã học ( nêu rõ: nguyên nhân bùng nổ, động lực, lãnh đạo, hình thức, diễn biến chính, kết quả, ý nghĩa và hạn chế)

    Mục 1. Những kiến thức cơ bản G/V:

    – Chia nhóm 4 H/S ( 2 bàn quay vào nhau), ổn định nhóm, cử nhóm trưởng

    – Yêu cầu học sinh sử dụng SGK, bài tập đã chuẩn bị ở nhà

    G/V: mời đại diện các nhóm lên bảng trình bày sau đó sửa chữa, bổ sung, chốt ý. CMTS Pháp 1789, phát triển qua 3 giai đoạn:

    + Quân chủ lập hiến

    + Cộng hòa

    + Chuyên chính Gia cô banh

    – (Thời gian cho mục 1 là 15 phút: H/S hoạt động 10 phút, G/V hoạt động 5 phút).

    Mục 2. Nhận thức đúng những vấn đề chủ yếu, G/V:

    – Chia lớp thành 10 nhóm

    – Giao việc cho H/S, 2 nhóm một vấn đề ( gồm 4 vấn đề)

    – Nêu vấn đề:

    + Nhóm 1,2: tìm ra những điểm giống và khác nhau giữa các cuộc CMTS, từ đó rút ra bản chất của CMTS.

    +Nhóm 3,4: đặc điểm cơ bản sự phát triển của CNTB khi chuyển sang ĐQCN, xác định bản chất của CNĐQ.

    + Nhóm 5,6: xác định mâu thuẫn cơ bản trong xã hội TBCN và cuộc đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn đó diễn ra như thế nào? Nhân tố chính để thúc đẩy quá trình đó.

    + Nhóm 7,8: xác định nguyên nhân chủ yếu bùng nổ chiến tranh thế giới thứ nhất. Nêu các mốc thời gian chính và tính chất của chiến tranh.

    + Nhóm 9,10: xác định nguyên nhân bùng nổ phong trào đấu tranh chống CNTD, đế quốc, phong kiến tay sai ở các nước Á, Phi, Mĩ Latinh. Nêu các cuộc đấu tranh tiêu biểu, nhận xét khái quát về hình thức đấu tranh.

    – Cử đại diện lên trình bầy, các nhóm khác có thể bổ sung ngắn gọn.

    1) Hình thức, diễn biến, kết quả đạt được khác nhau, song giống nhau về mục tiêu và ý nghĩa (giải quyết mâu thuẫn giưa QHSX phong kiến lỗi thời vời LLSX mới –TBCN; Tạo điều kiện cho CNTB phát triển)

    2) Sự phát triển không đều; đạt được những thành tựu kinh tế, KH-KT, văn học; hình thành các công ti độc quyền; xâm lược thuộc địaBản chất bóc lột không thay đổi.

    3) Mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản. Phong trào đấu tranh của công nhân từ tự phát đến tự giác. Chủ nghĩa Mác là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của phong trào công nhân từng bước đi đến thằng lợi

    4) Mâu thuẫn giữa các nước tư bản thực dân, đế quốc về thị trường thộc địa là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chiến tranh. Các mốc 7/1914; 1916; 4/1917; 11/1918Tính chất: là chiến tranh đế quốc, xâm lược phi nghĩa.

    5) Sự xâm lược và đô hộ của các nước đế quốc thực dân gây nên những chuyển biến lớn trong xã hội đưa đến bùng nổ phong trào đấu tranh. Tiêu biểu: Bom Bay (Ấn Độ), Cách mạng Tân Hợi (TQ), Hai xu hướng cách mạng (philippin)Hình thức đấu tranh phong phú: bạo động, cải cách

    Mục 3: G/V hướng dẫn H/S hoạt động ở nhà.

    * Chọn phần của bài học hoặc sự kiện, đơn vị kiến thức

    Chọn phần sơ kết bài học hoặc những kiến thức trọng tâm, những sự kiện cần phát huy trí tuệ của nhiều học sinh như:

    + Bài 1. Nhật Bản: ĐVĐ. Em hãy tìm hiểu, khi chuyển sang giai đoạn ĐQCN vào cuối thế kỉ XIX, ở Nhật Bản có những đặc điểm nào giống với đế quốc Anh, Pháp (ở thời điểm này).

    + Bài 3. Trung Quốc: ĐVĐ. Em hãy tìm ra những điểm khác nhau cơ bản của những phong trào đấu tranh ở Trung Quốc cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX.(khởi nghĩa Thái bình Thiên quốc, phong trào Duy tân, khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn, Cách mạng Tân Hợi).

    + Bài 6. chiếùn tranh thế giới thứ nhất (1914 -1918): ĐVĐ. Chiến tranh thế giới thứ nhất được coi là cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa, em hãy giải thích ngắn gọn vì sao?

    + Bài 7. Những thành tựu văn hố thời cận đại: ĐVĐ. Về văn học, từ đầu thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX thế giới đã sản sinh ra nhiều nhà văn nổi tiếng với những tác phẩm bất hủ. Em hãy nêu ra những nhà văn và những tác phẩm lớn ở Việt Nam cùng thời đại.

    + Bài 9. Cách mạng tháng Mười Nga: ĐVĐ. Từ năm 1917 đến 1920, nhân dân Nga dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvich đã hoàn thành những nhiệm vụ cơ bản nào?

    + Bài 10. Liên Xô xây dựng CNXH ( 1921 -1941 ): ĐVĐ. Những thành tựu nổi bật mà Liên Xô đạt được trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, đối ngoại.

    + Bài 11. Bài tình hình các nước TBCN giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 -1939): ĐVĐ. Em hãy giải thích ngắn gọn, tại sao xuất hiện hai nhóm nước lựa chọn hai con đường khác nhau để thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933).

    + Bài 13. Nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918-1939): ĐVĐ. Em hãy tìm ra những điểm tích cực và hạn chế trong Chính sách mới của tổng thống Mĩ Rudơven.

    + Bài 15. Phong trào cách mạng ở trung Quốc và Ấn Độ (1918-1939): ĐVĐ. Em hãy nêu ra đặc điểm con đường đấu tranh ở Trung Quốc và Ấn Độ. Giải thích ngắn gọn vì sao mỗi nước có con đường đấu tranh khác nhau.

    + Bài 17. Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945): ĐVĐ. Em hãy nêu lên nguyên nhân, vì sao trong giai đoạn từ tháng 9/1939 đến tháng 6/1941, phe phát xít thắng lớn và ít tổn thất? ( tiết 1). ĐVĐ. Nêu những sự kiện đánh dấu sự xoay chuyển cục diện chiến tranh thế giới. Nêu suy nghĩ của em về việc Mĩ ném 2 quả bom nguyên tử xuống Nhật Bản ngày 6&9/8/1945 (tiết 2).

    + Bài 19. Nhân dân Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (từ 1858 đến trước1873): ĐVĐ. Nêu những hoạt động quân sự chính của thực dân Pháp từ tháng 9/1858 đến tháng 6/1862. ĐVĐ. Giải thích ngắn gọn, vì sao lúc đầu triều đình Nguyễn có tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, song đến tháng 6/1862 lại kí với Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất nhượng bộ thực dân Pháp.

    + Bài 20. Chiến sự lan rộng ra cả nước. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta từ năm 1873 đến 1884. Nhà Nguyễn đầu hàng: ĐVĐ. Vì sao nói việc triều đình Nguyến kí với Pháp Hiệp ước Giáp Tuất (1874) đã bỏ qua cơ hội đánh bại quân Pháp ở Bắc kì khi chúng tiến hành cuộc xâm lược lần một. ĐVĐ. Hành động của Pháp sau thất bại ở Cầu Giấy lần một và lần hai, khác nhau như thế nào?. Thủ đoạn xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp từ 1858 đến 1884. ĐVĐ. Cuộc kháng chiến do nhà Nguyễn tổ chức thất bại, nhà Nguyễn kí kết các hiệp ước đầu hàng thực dân Pháp, nước ta rơi vào tay Pháp. Hãy giải thích nguyên nhân vì sao?.

    + Bài 21. Phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam trong những năm cuối thế kỉ XIX: ĐVĐ. Vì sao nói cuộc khởi nghĩa Hương Khê là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất trong phong trào Cần vương chống Pháp?. Em hãy nêu lên tính chất của phong trào khởi nghĩa Cần Vương và rút ra những điểm hạn chế của phong trào.

    + Bài 22. Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp: ĐVĐ. Em hãy xác định tầng lớp xã hội có khả năng nhất, lãnh đạo phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ XX.

    + Bài 23. ĐVĐ. Phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1914: Em hãy tìm ra điểm khác nhau trong chủ trương, phương pháp hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. ĐVĐ. Điểm khác nhau căn bản nhất giữa Phong trào yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ XX với Phong trào yêu nước Cần Vương cuối thế kỉ XIX.

    + Bài 24. ĐVĐ. Việt Nam trong những năm chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918): Điểm mới trong phong trào đấu tranh trong những năm trong chiến tranh (1914-1918) so với phong trào đấu tranh trong những năm trước chiến tranh (1897-1914)

    – Chia nhóm 4 H/S ( 2 bàn quay vào nhau), ổn định nhóm, cử nhóm trưởng

    – Yêu cầu học sinh sử dụng SGK, huy động kiến thức đã học, đã biết

    – Nêu câu hỏi: Vì sao trong bối cảnh chung của châu Á cuối thế kỉ XIX,Nhật Bản lại thoát khỏ số phận một nước thuộc địa và trở thành nước đế quốc duy nhất.

    – Thời gian cho hoạt động là 10 phút: H/S hoạt động 7 phút, G/V hoạt động 3 phút).

    G/V: mời đại diện các nhóm lên bảng trình bày, nhận xét so sánh giữa kết quả giữa các nhóm, sau đó sửa chữa, bổ sung, chốt ý.

    + Giữa thế kỉ XIX, các nước thực dân phương tây đẩy mạnh xâm lược thuộc địa; các nước châu Á dưới chế độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng và trở thành đối tượng xâm lươc.

    + Sau cuộc cải cách, CNTB phát triển mạnh mẽ chuyển sang giai đoạn ĐQCNNhật đẩy mạnh xâm lược thuộc địa.

    Nhật Bản thoát khỏi số phận thuộc địa và trở thành nước đế quốc duy nhất ở châu Á.

    – Chia nhóm 4 H/S làm thành 1 nhóm ( 2 bàn quay vào nhau), ổn định nhóm, cử nhóm trưởng.

    – Yêu cầu học sinh sử dụng SGK, huy động kiến thức đã học, đã biết.

    – Thời gian cho hoạt động là 10 phút: H/S hoạt động 7 phút, G/V hoạt động 3 phút).

    G/V: mời đại diện các nhóm lên bảng trình bày, nhận xét so sánh giữa kết quả giữa các nhóm, sau đó sửa chữa, bổ sung, chốt ý.

    + Tinh thần ý chí kháng chiến anh dũng, quả cảm. Nhân dân chủ động đứng lên phối hợp cùng quân triều đình.

    + Kết quả: làm thất bại bước đầu kế hoạch của Pháp. Do quân dân Đà Nẵng đoàn kết, chiến đấu anh dũng, chiến thuật sáng tạo

    + Ý thức trách nhiệm của nhà Nguyễn: đánh Pháp ngay từ đầu nhưng chưa làm tròn trách nhiệm lãnh đạo lãnh đạo đất nước như những triều đại trước đó ( Lý, Trần) vì chưa kêu gọi, đoàn kết toàn dân đánh giặc.

    Ví dụ 3 chọn đơn vị kiến thức: Sau khi dạy xong sự kiện Mĩ ném 2 quả bom nguyên tử xuống 2 thành phố đông dân nhất của Nhật ngày 6&9 tháng 8 năm 1945 ở

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Học Theo Hướng Kiến Tạo
  • Phương Pháp Dạy Học Kiến Tạo Kết Hợp Ứng Dụng Công Nghệ Đạt Hiệu Quả Trong Dạy Học Tích Hợp
  • Phát Triển Năng Lực Kể Chuyện Cho Giáo Viên Tiểu Học
  • Hướng Dẫn Sinh Viên Vận Dụng Mô Hình Vnen Trong Dạy Toán Ở Tiểu Học
  • Một Số Vấn Đề Cần Biết Về Mô Hình Trường Học Mới Vnen Tại Nước Ta
  • Cách Đơn Giản Hạn Chế Nhược Điểm Kĩ Thuật Dạy Học Khăn Phủ Bàn

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Và Sử Dụng Kĩ Thuật “khăn Trải Bàn” Trong Dạy Học Lịch Sử Lớp 11
  • Các Phương Pháp Kế Toán Hàng Tồn Kho
  • Nghiên Cứu Phương Pháp Kế Toán Dồn Tích Và Kế Toán Tiền Mặt Trong Doanh Nghiệp
  • Phương Pháp Kế Toán Tiền Mặt Tk111 Theo Thông Tư 133
  • Kế Toán Tiền Mặt/ Gửi Ngân Hàng Thường Phải Gặp Rủi Ro Nào
  • Tuy nhiên, theo thầy Nguyễn Xuân Thiện – Giáo viên Trường THPT 3 Cẩm Thủy (Thanh Hóa) – nếu sử dụng giấy A0 hoặc A1 để làm khăn phủ bàn như hiện nay, rất ít giáo viên áp dụng kĩ thuật này vào các tiết dạy vì mất thời gian để chuẩn bị giấy cho mỗi lần sử dụng, thời gian phát giấy, thời gian treo giấy.

    Hơn nữa, với cách kê bàn ghế ở hầu hết các phòng học hiện nay rất khó để các nhóm học sinh phủ giấy lên bàn cùng viết đáp án hay ý kiến riêng của mình, dẫn tới đùn đẩy nhau viết trước, viết sau gây mất trật tự, mất thời gian, mất đi tính tự giác, chủ động sáng tạo.

    Đặc biệt là những em chậm tiến sẽ trông chờ vào các bạn viết trước để chép lại, làm phản tác dụng của kĩ thuật day học này.

    Thầy Nguyễn Xuân Thiện cho rằng, giải pháp đơn giản là dùng bảng phoóc và bút dạ sẽ hạn chế được những nhược điểm trên.

    Cách thức sử dụng bảng phoóc để hạn chế những nhươc điểm trong kĩ thuât dạy học khăn phủ bàn được thầy Thành chia sẻ như sau:

    Giáo viên chia lớp ra làm các nhóm, mỗi nhóm 4 em ngồi ở hai bàn trên, dưới gần nhau. Mỗi nhóm tự trang bị một bảng phoóc hình vuông có cạnh (70×70)cm, giẻ lau để sử dụng cho cả năm học, mỗi em một bút dạ để viết bảng. Học sinh chỉ cần chuẩn bị một lần để dùng cho mọi tiết học.

    Để tăng độ cứng, ở viền bảng học sinh nên dùng nẹp nhôm nhỏ. Giáo viên cũng bố trí các móc treo để thao tác treo bảng nhanh hơn.

    Đồng thời, việc kẻ bảng chia ô, đánh số thứ tự nhóm vào góc cũng cần được làm sẵn trước đó.

    Cách kê bảng và tư thế ngồi như trên có thể giúp cho học sinh của mỗi nhóm cùng viết một lúc, trong khi đó nếu phủ giấy lên mặt bàn hẹp, mỗi học sinh lần lượt xoay giấy về phía mình để viết rất mất thời gian và thiếu tính chủ động.

    Sau khi ý kiến của các thành viên viết xong, phải nhanh chóng thống nhất để đưa ra ý kiến chung của cả nhóm. Sau đó, nhóm trưởng viết ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa theo hướng chính của bảng.

    Để thuận tiện cho việc này, nên để bảng lúc đầu sao cho hướng chính của bảng về phía nhóm trưởng.

    Sau loạt thứ nhất, giáo viên gỡ ra để treo loạt thứ hai lên để nhận xét, đánh giá, sau đó, chọn ra một vài bảng của các nhóm làm tốt nhất để tổng kết lại.

    Sau mỗi lần sử dụng, ban cán sự lớp lên lấy bảng về cho các nhóm, các nhóm nhận bảng rồi dùng giẻ lau sạch để chuẩn bị cho các lần sau.

    Như vậy, nếu có ý thức giữ gìn tốt thì chỉ một bảng nhỏ như vậy thôi các nhóm có thể dùng được rất nhiều lần trong cả năm học, còn giáo viên có thể sử dụng kĩ thuật này nhiều lần trong một tiết dạy mà không mất nhiều thời gian và công sức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Tính Thuế Giá Trị Gia Tăng Đầu Vào Đầu Ra
  • Hướng Dẫn Cách Lập Tờ Khai Thuế 01/gtgt Theo Quý, Tháng
  • Cách Tính Thuế Giá Trị Gia Tăng Theo Phương Pháp Khấu Trừ
  • Kế Toán Thuế Giá Trị Gia Tăng Theo Phương Pháp Khấu Trừ
  • Phân Biệt Thuế Giá Trị Gia Tăng Trực Tiếp Và Phương Pháp Khấu Trừ
  • Phương Pháp Dạy Học Và Kĩ Thuật Dạy Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Phạm Vi Áp Dụng Phương Pháp Vốn Chủ Sở Hữu
  • Kế Toán Khoản Đầu Tư Vào Công Ty Liên Doanh Liên Kết Theo Phương Pháp Vốn Chủ Sở Hữu ⋆ Kế Toán Ytho
  • Phương Pháp Vốn Cổ Phần (Equity Method) Là Gì? Ví Dụ Về Phương Pháp Vốn Cổ Phần
  • Phương Pháp Volume Spread Analysis (Vsa) Là Gì?
  • Phương Pháp Vsa (Volume Spread Analysis) Là Gì Và Các Mẫu Hình Cơ Bản
  • BỒI DƯỠNG

    PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC

    VŨ THỊ THÚY

    PHƯƠNG PHÁP

    THỰC NGHIỆM

    VŨ THỊ THÚY

    PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM LÀ GÌ?

    Dựa trên việc thiết kế phương án thí nghiệm khả thi, tiến hành quan sát, thí nghiệm (thao tác vật chất) để thu được thông tin (dữ liệu thực nghiệm) và rút ra kết luận về một tính chất/ mối liên hệ/ định luật thực nghiệm gọi là PPTN

    VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA PPTN

    Đề xuất được tri thức mới, khái niệm mới, định luật mới (định luật thực nghiệm), tri thức đó có thể lí giải một cách lí thuyết dựa trên nghiên cứu lí thuyết

    Cung cấp những bằng chứng thực nghiệm cần thiết cho việc đối chiếu, hợp thức hóa, khẳng định giá trị hoặc chỉnh lí, bổ sung hay bác bỏ những tri thức đã được đề xuất do nghiên cứu lí thuyết.

    Cung cấp những bằng chứng thực nghiệm mới dẫn tới sự cần thiết phải xây dựng các giả thuyết, thuyết KH mới.

    CẤU TRÚC CỦA PPTN

    Làm xuất hiện vấn đề

    Xây dựng dự đoán

    Suy luận, rút ra hệ quả

    Đề xuất, thực hiện TN kiểm tra

    Lựa chọn điều kiện thí nghiệm: thiết bị TN, PP tiến hành TN, PP quan sát, đo đạc cụ thể; Tiến hành TN: Lắp ráp TN, tiến hành thao tác TN theo kế hoạch đã vạch ra, quan sát, đo đạc, ghi chép dữ liệu; Xử lí kết quả TN: Chuyển từ số đo biểu kiến sang số đo thực, xác định độ chính xác của phép đo, lập bảng, vẽ đồ thị

    Hợp thức hóa kết quả nghiên cứu

    Ứng dụng

    GIAI ĐOẠN 1: LÀM XUẤT HIỆN VẤN ĐỀ

    KĨ THUẬT TỔ CHỨC

    Mô tả một hoàn cảnh thực tiễn tạo nên một vấn đề gay cấn

    GV làm một TN biểu diễn, HS quan sát diễn biến hoặc kết quả bất ngờ của hiện tượng vật lí, tự phát hiện và nhận thức vấn đề

    Cho HS làm 1 TN đơn giản mà trước đây có thể HS đã gặp nhưng không ngờ đến, không nghĩ như vậy.

    GIAI ĐOẠN 1: LÀM XUẤT HIỆN VẤN ĐỀ

    TỔ CHỨC VÀ RÈN LUYỆN CHO HS PHÁT HIỆN, PHÁT BIỂU VẤN ĐỀ

    Đặt câu hỏi, định hướng chú ý của HS vào những điều mâu thuẫn, bất ngờ trong tình huống tổ chức để HS phát hiện ra vấn đề.

    Khích lệ HS nói lên cảm nhận, phát hiện của mình về vấn đề đặt ra

    Uốn nắn, chỉ dẫn và luyện cho HS phát biểu thành lời vấn đề của bài học, sử dụng hợp lí ngôn từ vật lí

    Căn cứ trình độ HS, nội dung bài học lựa chọn đưa ra múc độ thích hợp, yêu cầu HS tự lực phát biểu vấn đề của bài học.

    GIAI ĐOẠN 2: XÂY DỰNG DỰ ĐOÁN

    ĐỐI VỚI HS THCS YÊU CẦU DỰ ĐOÁN ĐỊNH TÍNH LÀ CHỦ YẾU

    Dự đoán diễn biến của hiện tượng vật lí

    VD: Nước đã sôi, tiếp tục đun thì nhiệt độ của nước có tăng mãi không và tăng đến đâu?

    Dự đoán nguyên nhân của hiện tượng vật lí

    VD: Vì sao quả bóng bàn bẹp khi nhúng vào nước nóng lại phồng trở lại?

    Dự đoán mối quan hệ phụ thuộc giữa 2 yếu tố của hiện tượng vật lí

    VD: Sự bay hơi nhanh hay chậm phụ thuộc và nhiệt độ như thế nào?

    Dự đoán mối quan hệ nhân quả trong hiện tượng vật lí

    VD: sự biến dạng càng nhiều thì lực đàn hồi sẽ thay đổi như thế nào?

    Dự đoán về bản chất của hiện tượng vật lí

    VD: Tại sao mọi vật đều rơi xuống đất khi thả tay không giữ vật nữa?

    GIAI ĐOẠN 2: XÂY DỰNG DỰ ĐOÁN

    KỸ THUẬT TỔ CHỨC

    Đưa ra một vài tình huống cụ thể gần gũi với HS, tạo điều kiện cho HS nhận thấy mơi quan hệ, tính chất, bản chất của vấn đề.

    Đưa ra câu hỏi thích hợp kích thích và khích lệ HS mạnh dạn đưa ra các dự đoán: – Nêu bật mâu thuẫn của vấn đề

    – Vạch rõ nội dung của điều cần dự đoán

    – Tính vừa sức

    Lường trước những khó khăn HS có thể gặp để hỗ trợ cho HS dự đoán

    Chuẩn bị để đưa ra các mức độ yêu cầu thích hợp, để HS thực hiện nhiệm vụ dự đoán

    Kiên trì lắng nghe Hs nói

    GIAI ĐOẠN 3: SUY LUẬN, RÚT RA HỆ QUẢ

    Dự đoán về một hiện tượng trong thưc tiễn, một mối quan hệ giữa các đại lượng vật lí có thể quan sát, đo, đếm, nhận biết bằng giác quan…

    KỸ THUẬT TỔ CHỨC

    Cần hướng dẫn HS từng bước:

    – Nêu được tiên đề của suy luận, giả thuyết (dự đoán)

    – Xây dựng lập luận hợp quy tắc

    – Rút ra kết luận

    GIAI ĐOẠN 5: HỢP THỨC HÓA KẾT QUẢ NC

    Tổ chức cho HS, nhóm HS báo cáo kết quả nghiên cứu (kết quả TN, nhận xét, đánh giá, tính đúng đắn của dự đoán được kiểm tra) trước lớp

    Tổ chức cho HS, nhóm HS trao đổi, tranh luận, đánh giá kết quả nghiên cứu của bạn; đánh giá kết quả Tn có đúng với dự đoán không; cần bổ sung, điều chỉnh, khẳng định kết luận thế nào

    Tổ chức cho HS chuẩn hóa các kết luận, rút ra kiến thức

    GIAI ĐOẠN 5: HỢP THỨC HÓA KẾT QUẢ NC

    KỸ THUẬT TỔ CHỨC

    Yêu cầu mỗi nhóm phân công công việc cho từng thành viên, cử đại diện báo cáo kết quả trước lớp; luân phiên; lưu ý giúp đỡ HS nhút nhát, học lực yếu

    GV là người hướng dẫn, làm trọng tài

    Cần phù hợp, vừa sức với đối tượng HS

    GIAI ĐOẠN 6: ỨNG DỤNG KIẾN THƯC MỚI

    Giải thích cách vận hành

    Dự đoán hiện tượng xảy ra trong thực tế

    Nghiên cứu chế tạo thiết bị đáp ứng yêu cầu của đời sống, sản xuất

    KỸ THUẬT TỔ CHỨC

    Tận dụng tối đa các BT đã được chuẩn bị trong SGK và sách BT vật lí

    Tìm tòi để đưa ra các ứng dụng cụ thể, gần gũi trong đời sống kĩ thuât

    Khuyến khích HS làm các BT TN

    Sáng chế ra các thiết bị vận dụng kiến thức đã học

    Phát hiện, thu thập các tài liệu, tranh ảnh, các thiết bị, dụng cụ có ứng dụng kiến thức trong thực tế

    16

    (SGK lớp 9- trang 85-86)

    Đặt vấn đề: Nghiên cứu bài 24 đã biết, có dòng điện thì xung quanh nó có từ trường, vậy nếu có từ trường xung quanh nó có sinh ra dòng điện không?

    Hay một thực tế, xe đạp bình thường có một bình điện (điamô), ấn núm của nó tì vào bánh xe khi xe lăn bánh thì đèn xe phát sáng, vì sao?

    Đề xuất, thực hiện TN

    Xác định dụng cụ thí nghiệm:

    Một cuộn dây dẫn, hai đầu cuộn dây nối với đèn LED

    Một thanh nam châm thẳng

    Một nam châm điện

    Tiến hành thí nghiệm:

    TN1: Di chuyển thanh nam châm đối với cuộn dây hoặc ngược lại, đèn LED lóe sáng, tức là lúc này có dòng điện trong ống dây.

    TN2: Thay thanh nam châm bằng nam châm điện, trong thời gian đóng và ngắt mạch của nam châm điện, đèn LED lóe sáng, tức là lúc này có dòng điện trong ống dây.

    Kết luận: Hiện tượng cảm ứng điện từ

    Dòng điện xuất hiện như trên gọi là dòng điện cảm ứng. Hiện tượng xuất hiện dòng điện cảm ứng gọi là hiện tượng cảm ứng điện từ.

    Ứng dụng: Giải thích VD đã nêu ở đầu tiết học

    * Khái niệm vật lí là gì?

    Là sự hiểu biết về những dấu hiệu, những thuộc tính vật lí chủ yếu, chung và mang tính bản chất chung cho 1 nhóm các sự vật hay hiện tượng vật lí và mối quan hệ giữa sự vật hay hiện tượng trong nhóm đó.

    – Nội hàm của khái niệm: là những thuộc tính, dấu hiệu chung, bản chất.

    – Ngoại diên: là nhóm sự vật, hiện tượng có chung nội hàm.

    VD: Chuyển động đều (trang 11, SGK lớp 8)

    – Nội hàm: Chuyển động, vận tốc có độ lớn không đổi theo thời gian.

    – Ngoại diên: viên bi, ô tô, người đi xe đạp…có chung nội hàm: chuyển động đều.

    33

    Đặc điểm khái niệm vật lí

    – Mang tính bản chất chung nên có tính khái quát cao, trừu tượng hóa cao.

    VD: Hành tinh, hệ mặt trời…

    – Mang tính biến đổi hay mềm dẻo: do trình độ nhận thức của con người ngày càng cao, biến đổi theo hướng chính xác hóa dần.

    VD: 1, Ánh sáng: Trước đây Niu tơn cho ánh sáng là hạt, sau đó Huy-ghen, Y-âng, Fretxnen cho ánh sáng là sóng. Vật lí hiện đại cho ánh sáng vừa có tính chất sóng, vừa có tính chất hạt.

    2, Nguyên tử: thời cổ đại cho rằng nó là hạt nhỏ bé nhất cấu tạo nên vật; cuối thế kỉ XIX, đầu TK XX trong nguyên tử cấu trúc gồm proton và electron; ngày nay biết thành phần nguyên tử gồm notron, mezon và các hạt cơ bản khác, còn biết proton có thể chuyển hóa thành notron và ngược lại.

    34

    Đặc điểm khái niệm vật lí

    Khái niệm vật lí định tính: là khái niệm mô tả quá trình tự nhiên nhưng không phục tùng quá trình đo nào (không có biểu thức định lượng)

    + Khái niệm về sự vật , hiện tượng cụ thể: dụng cụ đo

    + Khái niệm về sự vật, hiện tượng trừu tượng: từ trường, nguyên tử…

    Khái niệm định lượng: gồm cả mặt định tính và định lượng và phụ thuộc quá trình đo, có biểu thức định lượng còn gọi là các đại lượng vật lí: vận tốc, lực…

    35

    Phân loại khái niệm vật lí

    Khái niệm Vật lí được hình thành trong quá trình tìm hiểu sự vật, hiện tượng mới xuất hiện trong quá trình quan hoặc làm thí nghiệm mà ta không hiểu được, không mô tả được, không lí giải được bằng khái niệm cũ. Nói cách khác, khái niệm vật lí mới xuất hiện do nhu cầu giải quyết một mâu thuẫn giữa sự hiểu biết đã có và sự chưa hiểu biết.

    Dựa vào đặc điểm của hoạt động nghiên cứu Vật lí, con đừng hình thành khái niệm vật lí gồm:

    – Quan sát trực tiếp và khái quát hóa thực nghiệm

    VD: Trong quá trình khảo sát các sự vật hiện tượng ánh sáng truyền qua hai môi trường trong suốt khác nhau, khái quát kết quả nhiều thí nghiệm hình thành khái niệm hiện tượng khúc xạ ánh sáng

    36

    – Quan sát trực tiếp và khái quát lí thuyết khái niệm Vật lí

    – Khi khảo sát hiện tượng bằng các mô hình

    VD: Khái niệm đường sức từ bằng mô hình đường mạt sắt; ảnh thật, ảnh ảo của vật qua thấu kính bằng mô hình hình vẽ

    Những con đường hình thành khái niệm Vật lí

    DẠY HỌC

    ĐẠI LƯỢNG VẬT LÍ

    38

    ĐẠI LƯỢNG VẬT LÍ

    Đại lượng vô hướng

    Đại lượng vật lí dẫn xuất

    Đại lượng vật lí cơ bản

    Đại lượng véc tơ

    Đặc điểm đại lượng vật lí

    N1

    Đơn vị đo các đại lượng vật lí

    Sử dụng hệ đo lường Quốc tế (SI)

    N2

    41

    Hệ đo lường Quốc tế (SI)

    42

    Đổi đơn vị đo các đại lượng vật lí

    Thường sử dụng hệ đo lường Quốc tế (SI) (m, kg, s…)

    Nếu kết quả đo bằng hệ đơn vị khác (km, g, h…) để đến kết quả cuối cùng mới đổi.

    Cùng một đại lượng vật lí trong hai hệ đo khác nhau có ý nghĩa như nhau (VD: 36 km/h = 10 m/s…).

    Viết đơn vị đo trong suốt quá trình tính toán

    43

    Cách viết và ý nghĩa các đơn vị Vật lí

    Một đại lượng vô hướng gồm hai phần: trị số tuyệt đối cho biết đại lượng cần đo chứa bao nhiêu lần đại lượng được chọn làm đơn vị và tên (thứ nguyên) của đơn vị.

    Ban đầu được xác định bằng các mẫu trong tự nhiên, về sau một số được xác định bởi các vật mẫu (tiêu chuẩn) được cất giữ tại Viện cân đo quốc tế

    Đơn vị đo Vật lí cũng có sự tiến hóa theo hướng chính xác hóa dần

    Theo quy luật chung của quá trình dạy học và đặc điểm môn học là đưa HS từ chỗ chưa biết đến biết, hiểu và vận dụng có thể đưa ra các bước tổng quát định hướng cho HS như sau:

    Bước 1: Phát hiện đặc điểm định tính của đại lượng Vật lí

    Bước 2: Chỉ ra đặc điểm định lượng của đại lượng Vật lí

    Bước 3: Định nghĩa đại lượng Vật lí

    Bước 4: Xác định đơn vị đo

    Bước 5: Vận dụng

    44

    Con đường hình thành các đại lượng Vật lí

    Bước 1: Phát hiện đặc điểm định tính của đại lượng Vật lí

    Cần làm xuất hiện vấn đề Vật lí mới đặc trưng cho bản chất vật lí nào đó của một nhóm sự vật hiện tượng.

    Có nhiều phương pháp như quan sát, nhắc lại ví dụ từ thực tế gần gũi hoặc giải một bài tập nhưng có một câu chưa giải được nếu chưa có khái niệm mới…

    45

    Con đường hình thành các đại lượng Vật lí

    Bước 2: Chỉ ra đặc điểm định lượng của đại lượng Vật lí

    Chỉ ra đặc điểm của đại lượng mới với các đại lượng cũ và cách xác định giá trị của đại lượng mới thể hiện bằng công thức toán học.

    Xuất phát từ đặc điểm định tính: VD lực đẩy Ác-si-mét

    Xuất phát từ các đại lượng và các định luật đã biết để khảo sát hiện tượng: VD Suất điện động cảm ứng

    Xuất hiện đồng thời với các định luật Vật lí: VD lực đàn hồi

    46

    Con đường hình thành các đại lượng Vật lí

    Bước 1: Phát hiện đặc điểm định tính của đại lượng Vật lí (làm xuất hiện vấn đề)

    GV: cho s = 10m; t1 = 5s, t2 = 10s; hỏi bạn nào chạy nhanh hơn?

    HS: Bạn 1 chạy nhanh hơn, so sánh thời gian

    GV: Cũng thời gian t= 1h, ô tô đi được 40 km, xe đạp đi được 15 km, hỏi vật nào đi nhanh hơn?

    HS: Ô tô chuyển động nhanh hơn, so sánh quãng đường.

    GV: Bạn A chạy 200m trong thời gian 25s, B chạy 100m trong 20s. Hỏi bạn nào chạy nhanh hơn?

    Ví dụ: Dạy học khái niệm vận tốc

    (Bài 2, SGK Vật lí 8)

    50

    Bước 2: Chỉ ra đặc điểm định lượng của đại lượng Vật lí

    Vậy không thể so sánh thời gian hay quãng đường. Cần có khái niệm mới, đó là vận tốc đặc trưng cho sự chuyển động nhanh chậm. Nếu vật đi được quãng đường s trong thời gian t thì trong một đơn vị thời gian vật đi được quãng đường bao nhiêu?

    Chính là v = s/t

    Ví dụ: Dạy học khái niệm vận tốc

    (Bài 2, SGK Vật lí 8)

    51

    Bước 3: Định nghĩa đại lượng Vật lí

    Vận tốc là đại lượng đặc trưng cho mức độ nhanh hay chậm của chuyển động và được xác định bằng độ dài quãng đường đi được trong một đơn vị thời gian

    v = s/t

    Trong đó: s là độ dài quãng đường vật đi (m)

    t là thời gian vật đi hết quãng đường đó (s)

    Ví dụ: Dạy học khái niệm vận tốc

    (Bài 2, SGK Vật lí 8)

    52

    Bước 4: Xác định đơn vị đo

    Trong hệ SI, khi s = 1 m; t = 1 s thì v = 1 m/s

    Đơn vị khác: km/h, km/s…

    Bước 5: Vận dụng

    Trở lại VD đặt vấn đề, tính vận tốc các vật và nêu nhận xét

    Ví dụ: Dạy học khái niệm vận tốc

    (Bài 2, SGK Vật lí 8)

    DẠY HỌC

    ĐỊNH LUẬT VẬT LÍ

    Nội dung

    2. Đặc điểm

    3. Phân loại đinh luật Vật lí

    4. Con đường hình thành định luật Vật lí

    1. Khái niệm

    5. Phương pháp dạy học các định luật Vật lí

    Khái niệm

    Định luật Vật lí là sự phản ánh mối quan hệ và liên hệ có tính phổ biến, khách quan, ổn định chi phối sự vận động của một loạt các sự vật hiện tượng Vật lí

    Đặc điểm của định luật Vật lí

    Có tính khách quan: Tồn tại không phụ thuộc vào ý muốn của con người

    Tính phổ biến: Chị phối sự vận động của một loạt các sự vật hiện tượng và đề cập đến phạm vi ứng dụng của định luật.

    Các định luật Vật lí luôn gắn liền với thực nghiệm, bắt nguồn từ thực nghiệm và quay trở về với thực nghiệm.

    Định luật động lực học

    Phân loại định luật Vật lí

    1

    2

    3

    Định luật thống kê

    Định luật bảo toàn

    Định luật động lực học

    Cho biết một đối tượng riêng lẻ trong những điều kiện đã cho sẽ hoạt động như thế nào.

    Cơ sở của động lực học chất điểm là 3 định luật Niu-tơn

    Trong động lực học tương tác giữa các vật được xem là đã cho (VD: tương tác hấp dẫn, tương tác tĩnh điện)

    Cho biết một số lớn các đối tượng riêng lẻ trong một tập hợp thể hiện như thế nào trong những điều kiện xác định.

    VD: Định luật chất khí, chỉ đúng trong trường hợp một số rất lớn phân tử khí trong bình chứa.

    Định luật bảo toàn

    Cho biết một đại lượng vật lí nào đó không đổi

    Mỗi định luật bảo toàn biểu diễn một sự bảo toàn một thuộc tính cơ bản nào đó của vật chất và được đặc trưng bằng đại lượng vật lí tương ứng.

    Vai trò: thể hiện tính thực tiễn, là cơ sở của những tính toán quan trọng trong vật lí thực nghiệm và trong kĩ thuật

    Định luật vật lí

    Quan sát trực tiếp và khái quát hóa thực nghiệm

    Quan sát trực tiếp và khái quát hóa lí thuyết

    Mệnh đề lí thuyết tổng quát

    Các con đường hình thành định luật Vật lí

    Quan sát trực tiếp và khái quát hóa thực nghiệm

    Phương pháp dạy học các định luật Vật lí

    Bước 2: Xác định nội dung của định luật

    Nếu bằng con đường suy diễn lí thuyết

    Ta dựa trên nguyên lí nào đó sau đó dùng lí luận suy diễn để thu được định luật.

    Suy luận lô-gic + Suy luận toán học = hình thành định luật từ lí thuyết.

    Nếu có điều kiện làm thí nghiệm để kiểm tra định luật suy ra được từ con đường lí thuyết.

    Phương pháp dạy học các định luật Vật lí

    Bước 3: Phát biểu định luật

    Phát biểu định luật bằng lời: rõ ràng chính xác và đảm bảo tính lô-gic, khoa học

    Phát biểu bằng biểu thức định lượng

    Phân tích rõ các thuật ngữ chứa đựng nội dung

    Bước 4: Vận dụng định luật

    Sử dụng giải bài tập, giải thích hiện tượng.

    Phương pháp dạy học các định luật Vật lí

    Ví dụ

    Bài 9: Lực đàn hồi (trang 30, SGK lớp 6)

    Bước 1:Đặt vấn đề

    Nghiên cứu sự biến dạng của lò xo có đặc điểm gì?

    Bước 2: Xác định nội dung của định luật

    Dụng cụ thí nghiệm: lò xo, 3 quả nặng loại 50g

    giá treo, thước chia độ.Bố trí thí nghiệm như hình

    Tiến hành thí nghiệm:

    Treo lò xo 1 lên giá, đo chiều dài tự nhiên của lò xo (lo)

    Móc lần lượt 1, 2, 3 quả nặng vào đầu dưới lò xo, đo chiều dài, tính trọng lượng các quả nặng

    Ví dụ

    Bài 9: Lực đàn hồi (trang 30, SGK lớp 6)

    Xử lí số liệu

    Rút ra kết luận: Lò xo là vật đàn hồi, biến dạng của lò xo là biến dạng đàn hồi. Lực mà lò xo biến dạng tác dụng vào quả nặng trong TN trên gọi là lực đàn hồi.

    Bước 3: Phát biểu

    Khi lò xo bị nén hay kéo dãn, nó sẽ tác dụng lực đàn hồi lên các vật tiếp xúc (hoặc gắn) với hai đầu của nó.

    Độ dãn lò xo càng lớn thì lực đàn hồi càng lớn.

    Bước 4: Vận dụng

    Giải thích lại kết quả TN, lực kế, giảm xóc, giải bài tập

    Ví dụ

    DẠY HỌC

    THUYẾT VẬT LÍ

    Khái niệm

    Thuyết Vật lí là hệ thống những tư tưởng cơ bản quy tắc, quy luật dùng làm cơ sở cho một ngành khoa học, để giải thích các sự kiện, hiện tượng nhằm hiểu rõ bản chất sâu xa của các sự kiện, hiện tượng đó và tạo cho con người có khả năng tác động mạnh hơn, có hiệu quả hơn vào tự nhiên.

    Đặc điểm của thuyết Vật lí

    Mang tính thực tiễn: Các giả thuyết khoa học của thuyết đều xuất phát trên cơ sở thực nghiệm nhằm giải thích các sự kiện thực nghiệm. Một thuyết chỉ có giá trị khi từ thuyết đó rút ra được những hệ quả phù hợp thực tiễn và thực tiễn lại làm thước đo tính đúng đắn của thuyết.

    Mang tính trừu tượng

    Để tạo nên một thuyết khoa học phải có một quá trình trừu tượng hóa, lí tưởng hóa các sự kiện thực nghiệm.

    Có những luận điểm của thuyết không hi vọng kiểm tra bằng thực nghiệm mà trong thuyết có một số nội dung mang tính tiên đề không chứng minh. Vì tính khái quát sâu như vậy nên nó mới đi sâu vào bản chất của sự vật hiện tượng.

    Tính hệ thống

    Thuyết không phải là một phán đoán riêng lẻ mà là một hệ thống lí luận đi từ trực quan đến tư duy trừu tượng và trở về thực tiễn. Mỗi thuyết là sự kế tục của những thuyết đã có trước và là cơ sở cuả những thuyết sau đó (theo đường xoáy trôn ốc)

    DẠY HỌC

    BÀI TẬP VẬT LÍ

    Nội dung

    2. Phân loại bài tập vật lí

    3. Phương pháp giải bài tập vật lí

    4. Lựa chọn và sử dụng bài tập trong dạy học VL

    1. Mục đích sử dụng bài tập vật lí trong dạy học

    Khái niệm

    Bài tập Vật lí là những vấn đề không lớn được giải quyết nhờ các biến đổi lô-gic, suy luận toán học, thí nghiệm Vật lí dựa trên cơ sở các định luật Vật lí, các phương pháp cơ sở của Vật lí.

    Mục đích sử dụng bài tập vật lí trong dạy học

    Giải bài toán Vật lí là rèn luyện sự tư duy định hướng HS một cách tích cực. Có thể sử dụng vào các mục đích như:

    Phương tiện nghiên cứu tài liệu mới

    Phương tiện cho HS khả năng vận dụng kiến thức, liên hệ lí thuyết với thực tế, học tập và đời sống

    Rèn luyện tư duy, bồi dưỡng PP NCKH

    Phương tiện ôn tập, củng cố kiến thức một cách sinh động, có hiệu quả

    Rèn luyện đức tính: tự lập, cẩn thận, kiên trì, tinh thần vượt khó

    Phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng của học sinh

    Phân loại bài tập Vật lí

    Theo phương pháp giải

    Bài tập định tính: Phương tiện là chuỗi các suy luận lô-gic để chỉ ra nguyên nhân của hiện tượng hoặc dự đoán hiện tượng xảy ra.

    Ưu điểm: tăng hứng thú, phát triển óc quan sát, phương tiện tốt để phát triển tư duy HS

    Phân loại:

    Bài tập định tính đơn giản, chỉ vận dụng 1 định luật

    Bài tập định tính phức tạp, vận dụng nhiều khái niệm, định luật

    Tại sao khi rót nước nóng già vào cốc thủy tinh dày cốc dễ nứt vỡ hơn khi rót nước và cốc thủ tinh mỏng? Đề nghị biện pháp phòng tránh khi buộc phải rót nước nóng vào cốc thủy tinh dày.

    Phân loại bài tập Vật lí

    Theo phương pháp giải

    Bài tập định lượng: vừa suy luận kết hợp với các phép tính toán, kết quả thu được là đáp số định lượng

    Phân loại:

    Bài tập định lượng tập dượt: HS vận dụng 1 khái niệm, 1 định luật để giải

    Bài tập định lượng tổng hợp: Vận dụng nhiều định luật,khái niệm (trong sách BT, sách nâng cao)

    Phân loại bài tập Vật lí

    Theo phương pháp giải

    Bài tập thí nghiệm: đòi hỏi phải làm TN để kiểm chứng lời giải lí thuyết hoặc tìm những số liệu cần thiết của BT. Thường đơn giản có thể làm ở nhà.

    Có nhiều tác dụng GD kĩ thuật tổng hợp

    Bài tập đồ thị: số liệu được dùng giải bài tập phải tìm trong đồ thị hoặc ngược lại

    Xác định khối lượng riêng của một chất lỏng chưa biết. Cho bình đựng chất lỏng cần xác định, bình đựng nước klr 1 g/cm3 , lọ nhỏ có nút kín, sợi dây, lực kế

    Phân loại bài tập Vật lí

    Theo nội dung Vật lí

    Bài tập cơ học

    Bài tập điện học

    Bài tập nhiệt học

    Bài tập quang học

    Theo mục đích dạy học

    Bài tập tập dượt

    Bài tập tổng hợp

    Bài tập củng cố

    Theo nhiệm vụ dạy học

    BT giáo khoa

    BT có nội dung kĩ thuật

    BT có nội dung thực tế

    BT có nội dung lịch sử

    Phương pháp giải bài tập Vật lí

    Tìm hiểu đầu bài

    Phân tích hiện tượng

    Xây dựng lập luận

    Biện luận

    Lựa chọn và sử dụng bài tập Vật lí

    Lựa chọn:

    Các bài tập từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp

    Mỗi bài tập là một mắt xích trong hệ thống bài tập nhằm củng cố, hoàn thiện, mở rộng kiến thức

    Hệ thống bài tập cần có nhiều loại

    Sử dụng: Phải dự kiến chi tiết kế hoạch sử dụng

    Đặt vấn đề, hình thành kiến thức mới, củng cố, hệ thống hóa, kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng của HS

    Quan tâm đến số lượng bài tập cần giải ở lớp, ở nhà, làm thêm…

    LÀM VIỆC NHÓM

    Thiết kế 1 tiết dạy trên lớp trong chương trình Vật lí THCS có sử dụng PPDH và KTDH tích cực đặc trưng của dạy học Vật lí

    Nhóm 1: Dạy học khái niệm

    Nhóm 2: Dạy học định luật

    Nhóm 3: Dạy học thuyết Vật lí

    Nhóm 4: Dạy học bài thực hành

    Nhóm 5: Dạy học bài tập Vật lí

    Nhóm 6: Dạy học bài ôn tập chương

    Thảo luân nhóm

    Tài liệu tham khảo

    Nguyễn Thượng Chung, Bài tập thí nghiệm Vật lí phổ thông cơ sở, NXBGD

    Trần Bá Hoành (chủ biên), Áp dụng dạy và học tích cực trong môn Vật lí

    Lê Nguyên Long, Giải toán Vật lí như thế nào?

    Nguyễn Đức Thâm (chủ biên), PPGD Vật lý ở trường phổ thông, NXB ĐHSP 2003.

    SGK Vật lí 6, 7, 8, 9 NXBGD 2022.

    Nguyễn Hữu Tòng , Lí luận dạy học Vật lí ở trường phổ thông, NXB ĐHSP.

    Halliday, Resnick, Walker- Cơ sở Vật lí.

    Sách tra cứu kiến thức Vật lí- Kariakin.

    Mạng Internet: http://thuvienvatly.com; http://vatlisupham.vn

    http://physicvn.org; http://phy.mtu.edu

    BỒI DƯỠNG

    PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC

    VŨ THỊ THÚY

    94

    TRÂN TRỌNG CẢM ƠN!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tính Điện Trở Qua Phương Pháp Vẽ Lại Mạch Điện Cực Hay
  • Cách Uốn Ống Đồng Không Bị Bẹp
  • Giờ Utc Là Gì? Sự Khác Biệt Rõ Ràng Giữa Giờ Gmt Và Giờ Utc Là Gì?
  • Giờ Utc Là Gì? Giờ Utc Và Giờ Việt Nam Cách Nhau Mấy Tiếng?
  • Cách Uống Nước Giảm Cân: Lịch Uống Và Nguyên Tắc Giảm Béo Nhờ Nước
  • Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực: Kĩ Thuật Kwl

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực/dạy Học Theo Sơ Đồ Kwl Và Bản Đồ Tư Duy
  • Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Là Gì? Nguyên Tắc Và Bản Chất Của Phương Pháp
  • Chương Trình Môn Lịch Sử Mới: Phương Pháp Dạy Học Theo Hướng Tiếp Cận Năng Lực
  • Các Hoạt Động Dạy Học Lấy Học Sinh Làm Trung Tâm (Phần 2)
  • Phương Pháp Dạy Học Luyện Từ Và Câu Hiệu Quả
  • (Trích từ Ogle, D.M. (1986). K-W-L: A teaching model that develops active reading of expository text. Reading Teacher, 39, 564-570).

    • K : kiến thức / hiểu biết HS đã có;
    • W : những điều HS muốn biết;
    • L : những điều HS tự giải đáp / trả lời ;
    • K : kiến thức / hiểu biết HS đã có;
    • W : những điều HS muốn biết;
    • L : những điều HS tự giải đáp / trả lời ;

    Mục đích sử dụng biểu đồ KWL

    Biểu đồ KWL phục vụ cho các mục đích sau:

    • Tìm hiểu kiến thức có sẵn của học sinh về bài đọc
    • Đặt ra mục tiêu cho hoạt động đọc
    • Giúp học sinh tự giám sát quá trình đọc hiểu của các em
    • Cho phép học sinh đánh giá quá trình đọc hiểu của các em.
    • Tạo cơ hội cho học sinh diễn tả ý tưởng của các em vượt ra ngoài khuôn khổ bài đọc.

    Sử dụng biểu đồ KWL như thế nào?

    – Chọn bài đọc. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả với các bài đọc mang ý nghĩa gợi mở, tìm hiểu, giải thích

    – Tạo bảng KWL. Giáo viên vẽ một bảng lên bảng, ngoài ra, mỗi học sinh cũng có một mẫu bảng của các em.

    Một số lưu ý tại cột K

    Chuẩn bị những câu hỏi để giúp học sinh động não. Đôi khi để khởi động, học sinh cần nhiều hơn là chỉ đơn giản nói với các em : “Hãy nói những gì các em đã biết về…”

    Khuyến khích học sinh giải thích. Điều này rất quan trọng vì đôi khi những điều các em nêu ra có thể là mơ hồ hoặc không bình thường.

    Yêu cầu học sinh đọc và tự điền câu trả lời mà các em tìm được vào cột L. Trong quá trình đọc, học sinh cũng đồng thời tìm ra câu trả lời của các em và ghi nhận vào cột W.

    Học sinh có thể điền vào cột L trong khi đọc hoặc sau khi đã đọc xong.

    Một số lưu ý tại cột L

    Ngoài việc bổ sung câu trả lời, khuyến khích học sinh ghi vào cột L những điều các em cảm thấy thích. Để phân biệt, có thể đề nghị các em đánh dấu những ý tưởng của các em. Ví dụ các em có thể đánh dấu tích vào những ý tưởng trả lời cho câu hỏi ở cột W, với các ý tưởng các em thích, có thể đánh dấu sao.

    Đề nghị học sinh tìm kiếm từ các tài liệu khác để trả lời cho những câu hỏi ở cột W mà bài đọc không cung cấp câu trả lời. (Không phải tất cả các câu hỏi ở cột W đều được bài đọc trả lời hoàn chỉnh)

    Khuyến khích học sinh nghiên cứu thêm về những câu hỏi mà các em đã nêu ở cột W nhưng chưa tìm được câu trả lời từ bài đọc.

    VÍ DỤ:

    – Ghi những điều học sinh muốn biết thành câu hỏi.

    GV gợi ý:

    – Các em muốn biết gì về … trong bài học này?

    – Em có muốn biết thêm gì về một điều em ghi ở cột K không?

    Ghi những thông tin trong bài em muốn tìm hiểu thêm, cách em sẽ tiếp tục tìm hiểu.

    GV gợi ý: Em muốn biết thêm điều gì trong bài? Em sẽ làm cách nào để tìm hiểu thêm?

    Ví dụ về hướng dẫn HS đọc bài Chú Đất Nung (Tiếng Việt 4 tập Một). GV dùng kỹ thuật này để giao nhiệm vụ cho HS chuẩn bị bài trước khi học.

    – Những đồ chơi nặn bằng đất: con chó, con cá, cái nồi, búp bê.

    – Trẻ em ở quê ngày xưa chơi đồ chơi nặn bằng đất có sơn màu xanh, đỏ, vàng.

    – Đồ chơi làm bằng đất nặn khi gặp nước có bị hỏng không?

    – Làm thế nào để đồ chơi bằng đất chơi được lâu và không gây bẩn?

    – Bây giờ người ta còn làm đồ chơi bằng đất nung không? Ở đâu làm những thứ đó?

    – Đồ chơi làm bằng đất nặn mà gặp nước thì bị nhão ra và hỏng.

    – Để đồ chơi bằng đất chơi được lâu, bền thì phải nung nó bằng lửa.

    – Tham quan làng nghề gồm để biết đồ dùng, đồ chơi bằng đất nặn được nung như thế nào.

    – Tìm hiểu trên mạng để biết được có những đồ chơi nào làm bằng đất nung? Bây giờ có những người nào dùng thứ đồ chơi đó?

    – Xin bố mẹ mua cho một vài đồ chơi bằng đất nung.

    ST. Nguyễn Thị Thanh Hoa. TH Đậu Liêu TXHL

    Nguyễn Thị Thanh Hoa @ 08:37 18/01/2018

    Số lượt xem: 23417

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Kết Hợp Đa Dạng Các Phương Pháp Trong Giảng Dạy
  • Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Khám Phá Trong Dạy Học Phép Biến Hình Lớp 11 Trung Học Phổ Thông ( Ban Nâng Cao)
  • Quy Trình Dạy Phân Môn Kể Chuyện Lớp 5 Theo Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Kể Chuyện
  • Phương Pháp Dạy Học Kể Chuyện Học Sinh Tiểu Học
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Ở Tiểu Học
  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học
  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Bai Giang Pp Doi Moi Theo Day Hoc Tich Cuc Ppt
  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Trong Môn Địa Lý
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Sử Dụng Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Hiện Đại Trong Bài 11 Lịch Sử 10
  • Phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học
  • Bước 2 : Tổ chức hoạt động học tập theo góc

    Giới thiệu bài học và các góc học tập

    HS được lựa chọn góc theo sở thích

    HS được học luân phiên tại các góc theo thời gian quy định (VD 10 – 15′ tại mỗi góc) để đảm bảo học sâu

    – Tổ chức trao đổi/chia sẻ (thực hiện linh hoạt)

    14

    1. Tính phù hợp

    Nhiệm vụ và cách tổ chức hoạt động học tập thực sự là phương tiện để đạt mục tiêu, tạo ra giá trị mới chứ không chỉ là hình thức.

    Nhiệm vụ giàu ý nghĩa, thiết thực, mang tính kích thích, thúc đẩy đối với HS.

    Tiêu chí học theo góc

    15

    2. Sự tham gia

    Nhiệm vụ và cách tổ chức dạy học mang lại hoạt động trí tuệ ở mức độ cao. HS tham gia vào hoạt động một cách chủ động, tích cực.

    Biết áp dụng kiến thức vào thực tế.

    Tiêu chí học theo góc

    16

    3. Tương tác và sự đa dạng

    Tương tác giữa GV và HS, HS với HS được thúc đẩy đúng mức.

    Tạo cơ hội cho HS áp dụng những kinh nghiệm đã có.

    Tiêu chí học theo góc

    17

    M?t s? luu ý

    Chọn nội dung bài học phù hợp với đặc trưng của Học theo góc

    Có thể tổ chức 2 góc, 3 hoặc 4 góc tùy theo điều kiện và nội dung của bài học

    Chuẩn bị đầy đủ các thiết bị, tư liệu phù hợp với nhiệm vụ học tập của mỗi góc

    HS được chọn góc xuất phát và thực hiện nhiệm vụ luân phiên qua các góc đảm bảo học sâu và học thoải mái.

    18

    Học theo góc (tiếp theo)

    Môi trường học tập với cấu trúc được xác định cụ thể.

    Kích thích HS tích cực học thông qua hoạt động.

    Đa dạng về nội dung và hình thức hoạt động.

    Mục đích là để học sinh được thực hành, khám phá và trải nghiệm qua mỗi hoạt động.

    19

    Ví dụ: 4 góc cùng thực hiện một nội dung và mục tiêu học tập nhưng theo các phong cách khác nhau và sử dụng các phương tiện/đồ dùng học tập khác nhau.

    20

    2.3. Kĩ thuật “Các mảnh ghép”

    Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm:

    – Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp

    – Kích thích sự tham gia tích cực của HS:

    Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ nhận thức hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 1 mà còn phải truyền đạt kết quả và hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 2).

    21

    2.2. Kĩ thuật “Các mảnh ghép”

    Vòng 1

    Vòng 2

    1

    1

    1

    1

    1

    1

    2

    2

    2

    2

    2

    2

    3

    3

    3

    3

    3

    3

    22

    Ví dụ

    Chủ đề: Câu tiếng Việt

    * Vòng 1:

    Nhiệm vụ 1: Thế nào là câu đơn? Nêu và phân tích VD minh họa

    Nhiệm vụ 2: Thế nào là câu ghép? Nêu và phân tích VD minh họa

    Nhiệm vụ 3: Thế nào là câu phức? Nêu và phân tích VD minh họa

    * Vòng 2:

    Câu đơn, câu phức và câu ghép khác nhau ở điểm nào? Phân tích VD minh hoạ

    23

    VÒNG 1

    Hoạt động theo nhóm 3 hoặc 4 người, …

    Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ (Ví dụ : nhóm 1 : nhiệm vụ A; nhóm 2: nhiệm vụ B, nhóm 3: nhiệm vụ C, …)

    Đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao

    Mỗi thành viên đều trình bày được kết quả câu trả lời của nhóm

    VÒNG 2

    Hình thành nhóm 3 hoặc 4 người mới (1 người từ nhóm 1, 1 người từ nhóm 2 và 1 người từ nhóm 3 …)

    Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau

    Sau khi chia sẻ thông tin vòng 1, nhiệm vụ mới sẽ được giao cho nhóm vừa thành lập để giải quyết

    Các nhóm mới trình bày, chia sẻ kết quả nhiệm vụ ở vòng 2

    Cách tiến hành kĩ thuật “Các mảnh ghép”

    24

    Thiết kế nhiệm vụ “Các Mảnh ghép”

    Lựa chọn nội dung/chủ đề phù hợp

    Xác định một nhiệm vụ phức hợp để giải quyết ở vòng 2 dựa trên kết quả các nhiệm vụ khác nhau đã được thực hiện ở vòng 1

    Xác định những yếu tố cần thiết để giải quyết nhiệm vụ phức hợp (kiến thức, kĩ năng, thông tin, chiến lược)

    Xác định các nhiệm vụ mang tính chuẩn bị (thực hiện ở vòng 1). Xác định các yếu tố hỗ trợ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2

    25

    Thành viên & nhiệm vụ các thành viên trong nhóm

    26

    2.4. Kĩ thuật “khăn phủ bàn”

    Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm nhằm:

    – Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực

    – Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS

    – Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS

    27

    2.3. Kĩ thuật “khăn phủ bàn”

    1

    2

    4

    3

    28

    – Sáng tạo hơn

    Tiết kiệm thời gian

    Ghi nhớ tốt hơn

    Nhìn thấy bức tranh tổng thể

    Tổ chức và phân loại

    – …

    38

    Cách tiến hành

    Thiết kế trích đoạn kế hoạch DH áp dụng một số kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác và trình bày kết quả

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Sử Dụng Phù Hợp, Hiệu Quả Trong Nhà Trường Thcs (Tài Liệu Tham Khảo)
  • Phương Pháp Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh
  • Chuyen De Ve Lai Mach Dien Và Tính Giá Trị Điện Trở
  • Tập Huấn Văn:phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực
  • Một Số Vấn Đề Về Nội Dung Và Phương Pháp Giảng Dạy Các Dạng Hình Tứ Giác
  • Tư Vấn May Khăn Trải Bàn Phù Hợp

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Luận Là Gì? Ý Nghĩa Và Phân Loại Phương Pháp Luận
  • Phương Pháp Luận Và Vai Trò Của Phương Pháp Triết Học Trong Nghiên Cứu Khoa Học :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Định Hình Khuôn Mặt Mewing: “hô Biến” Cho Khuôn Mặt Sắc Nét Không Cần Dao Kéo?
  • Phương Pháp Montessori Là Gì Và Những Điều Bố Mẹ Cần Biết
  • Ebook Phương Pháp Mới Để Giao Dịch Kiếm Sống (Pdf)
  • Please enable javascript to view this site.

    Khăn trải bàn không chỉ giúp làm đẹp cho không gian phòng ăn mà còn kích thích bạn ăn ngon miệng hơn. Những mẫu khăn trải bàn khác nhau sẽ mang lại cho không gian phòng ăn của nhà bạn một phong cách khác. Điều đó góp phần làm tạo không khí ấm cúng trong gia đình cũng như giúp bạn ăn ngon miệng hơn.

    Chính vì vậy, việc lựa chọn đúng khăn trải bàn phù hợp với kiến trúc nhà, với màu sắc của tường, lựa chọn khăn trải bàn theo mùa cũng rất quan trọng.

    1.Khăn trải bàn một màu

    Chiếc khăn trải bàn tinh tế với một tông màu trang nhã được làm từ chất liệu cotton pha polyester với những đường viền vỏ sò thật tinh tế. Chiếc khăn trải bàn này rất phù hợp với những bộ bàn ăn có dáng uốn cong tao nhã. Với chiếc khăn trải bàn này, không gian phòng ăn trở nên ấm và thanh lịch hơn.

    2. Khăn trải bàn màu trắng

    Màu trắng mang lại cho không gian một vẻ sạch sẽ, tinh khiết. Một chiếc khăn trải bạn màu trắng khiến bạn cảm giác đồ ăn rất sạch và vệ sinh. Màu trắng mang lại vẻ hiện đại cho không gian phòng ăn và bạn sẽ dễ dàng nhìn thấy mọi vết bẩn trên chiếc khăn trắng để có thể giặt tẩy đúng lúc.

    3. Khăn trải bàn hoa dây

    Khăn trải bàn hoa dây mang vẻ tươi mới và tràn đầy sức sống cho không gian căn phòng. Khăn trải bàn này thích hợp sử dụng cho thời tiết của mùa xuân. Những bữa ăn gia đình sẽ thêm đầm ấm và tươi vui với những sắc màu tươi tắn từ hoa văn trên chiếc khăn này.

    4. Khăn trải bàn với mẫu hoa văn chìm

    Những mẫu khăn trải bàn với mẫu hoa văn chìm trong nền vải mang lại sự sang trọng cho phòng ăn của bạn. Bạn nên chọn những chiếc khăn trải bản hơi đậm màu với hoa chìm màu nhạt trang nhã bên dưới. Với sự lựa chọn này. chắc chắn không ai có thể phủ nhận được thẩm mỹ hết sức tinh tế của bạn.

    5. Khăn trải bàn hoa rực rỡ

    Khi bạn là một người cá tính và thích màu sắc rực rỡ, chắc chắn mẫu khăn trải bàn này sẽ là lựa chọn của bạn. Nếu ngôi nhà được thiết kế cùng những mảng màu rực rỡ, có thể một chiếc khăn trải bàn với mẫu hoa văn này sẽ làm nóng bầu không khí ăn trầm lặng trong tiết trời se lạnh của mùa thu đông.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cái Nhìn Toàn Diện Và Chính Xác Về Phương Pháp Keto Diet
  • Trắc Nghiệm Bài 2 Địa Lí 10
  • Phương Pháp Đo Quang Và Ý Nghĩa Các Xét Nghiệm Sinh Hóa Máu Cơ Bản
  • Thế Nào Là Viêm Mũi Xoang Mạn Tính?
  • Nên Chữa Viêm Họng Mạn Tính Quá Phát Bằng Phương Pháp Nào?
  • Các Phương Pháp Dạy Học, Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Sử Dụng Trong Nhà Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Chuyên Gia Trong Dạy Học
  • Làm Kế Toán: Phương Pháp Chuyên Gia (Delphi) Xây Dựng Chỉ Số
  • Bài Giảng Quản Trị Chất Lượng
  • Phương Pháp Tiêu Chuẩn 5S Trong Quản Lý Chất Lượng Nhân Sự
  • Các Nhóm Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Nghiên Cứu Khoa Học
  • – Bình diện vĩ mô là quan điểm về PPDH. Ví dụ: Dạy học hướng vào người học, dạy học phát huy tính tích cực của HS,…

    Quan điểm dạy học là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học, những cơ sở lí thuyết của lí luận dạy học, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những định hướng về vai trò của GV và HS trong quá trình dạy học. Quan điểm dạy học là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lí thuyết của PPDH.

    – Bình diện vi mô là Kĩ thuật dạy học . Ví dụ: kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật giao nhiệm vụ, kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật các mảnh ghép, kĩ thuật hỏi chuyên gia, kĩ thuật hoàn tất một nhiệm vụ,…

    Kĩ thuật dạy học (KTDH) là những biện pháp, cách thức hành động của GV trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.

    Tóm lại, QĐDH là khái niệm rộng, định hướng cho việc lựa chọn các PPDH cụ thể. Các PPDH là khái niệm hẹp hơn, đưa ra mô hình hành động. KTDH là khái niệm nhỏ nhất, thực hiện các tình huống hành động.

    – Việc phân biệt giữa PPDH và KTDH chỉ mang tính tương đối, nhiều khi không rõ ràng. Ví dụ, động não (Brainstorming) có trường hợp được coi là phương pháp, có trường hợp lại được coi là một KTDH.

    – Có những PPDH chung cho nhiều môn học, nhưng có những PPDH đặc thù của từng môn học hoặc nhóm môn học.

    – Có thể có nhiều tên gọi khác nhau cho một PPDH hoặc KTDH. Ví dụ: Brainstorming có người gọi là động não, có người gọi là công não hoặc tấn công não,…

    2. Một số phương pháp dạy học tích cực 2.1. Phương pháp dạy học nhóm

    Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên khác nhau như: Dạy học hợp tác, Dạy học theo nhóm nhỏ, trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc. Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp.

    Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tính trách nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của HS.

    Tiến trình dạy học nhóm có thể được chia thành 3 giai đoạn cơ bản:

    a. Làm việc toàn lớp : Nhập đề và giao nhiệm vụ

    – Xác định nhiệm vụ các nhóm

    – Thoả thuận quy tắc làm việc

    – Tiến hành giải quyết các nhiệm vụ

    – Chuẩn bị báo cáo kết quả.

    c. Làm việc toàn lớp: Trình bày kết quả, đánh giá

    – Các nhóm trình bày kết quả

    Có rất nhiều cách để thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau, không nên áp dụng một tiêu chí duy nhất trong cả năm học. Số lượng HS/1 nhóm nên từ 4- 6 HS.

    Các câu hỏi kiểm tra dùng cho việc chuẩn bị dạy học nhóm:

    – Chủ đề có hợp với dạy học nhóm không?

    – Các nhóm làm việc với nhiệm vụ giống hay khác nhau?

    – HS đã có đủ kiến thức điều kiện cho công việc nhóm chưa?

    – Cần trình bày nhiệm vụ làm việc nhóm như thế nào?

    – Cần chia nhóm theo tiêu chí nào?

    – Cần tổ chức phòng làm việc, kê bàn ghế như thế nào?

    * Các kỹ thuật chia nhóm:

    a/ Chia nhóm theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa trong năm,…:

    – GV yêu cầu HS điểm danh từ 1 đến 4/5/6…(tùy theo số nhóm GV muốn có là 4,5 hay 6 nhóm,…); hoặc điểm danh theo các màu (xanh, đỏ, tím, vàng,…); hoặc điểm danh theo các loài hoa (hồng, lan, huệ, cúc,…); hay điểm danh theo các mùa (xuân, hạ, thu, đông,…)

    – Yêu cầu các HS có cùng một số điểm danh hoặc cùng một mầu/cùng một loài hoa/cùng một mùa sẽ vào cùng một nhóm.

    b/ Chia nhóm theo hình ghép

    – GV cắt một số bức hình ra thành 3/4/5… mảnh khác nhau, tùy theo số HS muốn có là 3/4/5… HS trong mỗi nhóm. Lưu ý là số bức hình cần tương ứng với số nhóm mà GV muốn có.

    – HS bốc ngẫu nhiên mỗi em một mảnh cắt.

    – HS phải tìm các bạn có các mảnh cắt phù hợp để ghép lại thành một tấm hình hoàn chỉnh.

    – Những HS có mảnh cắt của cùng một bức hình sẽ tạo thành một nhóm.

    c/ Chia nhóm theo sở thích

    GV có thể chia HS thành các nhóm có cùng sở thích để các em có thể cùng thực hiện một công việc yêu thích hoặc biểu đạt kết quả công việc của nhóm dưới các hình thức phù hợp với sở trường của các em. Ví dụ: Nhóm Họa sĩ, Nhóm Nhà thơ, Nhóm Hùng biện,…

    d/ Chia nhóm theo tháng sinh: Các HS có cùng tháng sinh sẽ làm thành một nhóm.

    Ngoài ra còn có nhiều cách chia nhóm khác như: nhóm cùng trình độ, nhóm hỗn hợp, nhóm theo giới tính,….

    2.2. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình

    Nghiên cứu trường hợp điển hình là phương pháp sử dụng một câu chuyện có thật hoặc chuyện được viết dựa trên những trường hợp thường xảy ra trong cuộc sống thực tiễn để minh chứng cho một vấn đề hay một số vấn đề. Đôi khi nghiên cứu trường hợp điển hình có thể được thực hiện trên video hay một băng catset mà không phải trên văn bản viết.

    Các bước nghiên cứu trường hợp điển hình có thể là:

    – HS đọc (hoặc xem, hoặc nghe) về trường hợp điển hình

    – Vì trường hợp điển hình được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống thực, nên nó phải tương đối phức tạp, với các tuyến nhân vật và những tình huống khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản.

    – Tùy từng trường hợp, có thể tổ chức cho cả lớp cùng nghiên cứu một trường hợp điển hình hoặc phân công mỗi nhóm nghiên cứu một trường hợp khác nhau.

    2.3. Phương pháp giải quyết vấn đề

    Dạy học (DH) phát hiện và giải quyết vấn đề (GQVĐ) là PPDH đặt ra trước HS các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển HS vào tình huống có vấn đề , kích thích họ tự lực, chủ động và có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn đề.

    – Xác định, nhận dạng vấn đề/tình huống;

    – Liệt kê các cách giải quyết có thể có ;

    – Phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết ( tích cực, hạn chế, cảm xúc, giá trị) ;

    – So sánh kết quả các cách giải quyết ;

    – Lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất;

    – Thực hiện theo cách giải quyết đã lựa chọn;

    – Rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề, tình huống khác.

    Các vấn đề/ tình huống đưa ra để HS xử lí, giải quyết cần thoả mãn các yêu cầu sau:

    – Phù hợp với trình độ nhận thức của HS

    – Vấn đề/ tình huống phải gần gũi với cuộc sống thực của HS

    – Vấn đề/ tình huống có thể diễn tả bằng kênh chữ hoặc kênh hình, hoặc kết hợp cả hai kênh chữ và kênh hình hay qua tiểu phẩm đóng vai của HS

    – Vấn đề/ tình huống cần có độ dài vừa phải

    – Vấn đề/ tình huống phải chứa đựng những mâu thuẫn cần giải quyết, gợi ra cho HS nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách giải quyết vấn đề.

    Tổ chức cho HS giải quyết, xử lí vấn đề/ tình huống cần chú ý:

    – Các nhóm HS có thể giải quyết cùng một vấn đề/ tình huống hoặc các vấn đề/ tình huống khác nhau, tuỳ theo mục đích của hoạt động.

    – HS cần xác định rõ vấn đề trước khi đi vào giải quyết vấn đề.

    – Cần sử dụng phương pháp động não để HS liệt kê các cách giải quyết có thể có.

    – Cách giải quyết tối ưu đối với mỗi HS có thể giống hoặc khác nhau.

    Có thể tiến hành đóng vai theo các bước sau :

    – Các nhóm lên đóng vai.

    – GV kết luận, định hướng cho HS về cách ứng xử tích cực trong tình huống đã cho.

    – Tình huống không nên quá dài và phức tạp, vượt quá thời gian cho phép

    – Tình huống phải có nhiều cách giải quyết

    – Tình huống cần để mở để HS tự tìm cách giải quyết, cách ứng xử phù hợp; không cho trước ” kịch bản”, lời thoại.

    – Mỗi tình huống có thể phân công một hoặc nhiều nhóm cùng đóng vai

    – Các vai diễn nên để HS xung phong hoặc tự phân công nhau đảm nhận

    – Nên khích lệ cả những HS nhút nhát cùng tham gia.

    – Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của tiểu phẩm đóng vai.

    2.5. Phương pháp trò chơi

    Phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho HS tìm hiểu một vấn đề hay thể nghiệm những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua một trò chơi nào đó.

    – GV phổ biến tên trò chơi, nội dung và luật chơi cho HS

    – Chơi thử ( nếu cần thiết)

    – HS phải nắm được quy tắc chơi và phải tôn trọng luật chơi.

    – Phải quy định rõ thời gian, địa điểm chơi.

    – Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, tạo điều kiện cho HS tham gia tổ chức, điều khiển tất cả các khâu: từ chuẩn bị, tiến hành trò chơi và đánh giá sau khi chơi.

    – Trò chơi phải được luân phiên, thay đổi một cách hợp lí để không gây nhàm chán cho HS.

    2.6. Dạy học theo dự án ( Phương pháp dự án)

    Dạy học theo dự án còn gọi là phương pháp dự án, trong đó HS thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành.

    Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao, từ việc lập kế hoạch đến việc thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện dự án. Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm. Kết quả dự án là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được.

    + Lập kế hoạch các nhiệm vụ học tập

    – Bước 2: Thực hiện dự án

    + Tham vấn giáo viên hướng dẫn

    – Bước 3: Tổng hợp kết quả

    + Phản ánh lại quá trình học tập

    Các dự án học tập cần góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội; có sự kết hợp giữa nghiên cứu lí thuyết và vận dụng lí thuyết vào hoạt động thực tiễn, thực hành.

    Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của HS.

    HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân.

    Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp.

    Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm.

    Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết; sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu.

    Vai trò của GV -HS : Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác, BTNB luôn coi học sinh là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của giáo viên:

    Thầy cô sẽ giúp học sinh chứng minh những giả thiết của các em và cùng các em tìm ra câu trả lời đúng.

    Mục tiêu của BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu và say mê khoa học của học sinh. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh.

    Giảng dạy khoa học dựa trên tìm tòi khám phá.

    Tiến trình của 1 giờ dạy theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”

    Bước 1: Đưa ra tình huống có vấn đề và xác định vấn đề cần giải quyết.

    Bước 2: Tổ chức các hoạt động để giải quyết vấn đề.

    Bước 3: Củng cố, định hướng mở rộng

    Tiến trình của một thực nghiệm: Gồm có 5 bước:

    B1:Đưa ra tình huống có vấn đề.

    B2:HS làm việc cá nhân hc theo nhóm ( đưa ra câu hỏi, dự đoán kết quả, giải thích)

    B3:Tiến hành thực nghiệm.

    B4: So sánh kết quả với dự đoán.

    B5: Kết luận, mở rộng.

    Vai trò của người giáo viên:

    – Đề ra những tình huống, những thử thách.

    – Định hướng các hoạt động.

    – Thu hẹp những cái có thể.

    – Chỉ ra thông tin.

    * Giáo viên là người trung gian:

    -Là nhà trung gian giữa “thế giới” khoa học (Các kthức & T.Hành) và HS

    -Đảm bảo sự đóan trước và giải quyết các xung đột nhận thức.

    -Hành động bên cạnh với mỗi học sinh cũng như với mỗi nhóm học sinh và cả lớp.

    Vai trò của học sinh trong giờ học với PPBTNB:

    -HS quan sát một hiện tượng của thế giới thực tại và gần gũi với chúng về đề tài mà từ đó chúng sẽ hình thành các nghi vấn.

    -HS tìm tòi, suy nghĩ và đề ra những bước đi cụ thể của thực nghiệm, hoặc chỉnh lí lại những ca thất bại nhờ tra cứu tư liệu.

    -HS trao đổi và lập luận trong QT hoạt động, chúng chia sẻ với nhau những ý tưởng của mình, cọ sát những quan điểm của nhau và hình thành những kết luận tạm thời hoặc cuối cùng bằng ghi chép, biết phát biểu.

    Như vậy là học sinh đã biết nghe lời người khác, hiểu người khác, tôn trọng người khác và biết bảo vệ ý kiến của mình.

    Dạy học theo góc có những điểm tương đồng với dạy học theo nhóm, theo cặp và một số phương pháp, kỹ thuật, thủ thuật dạy học khác. Ưu điểm của học theo góc trong dạy học nói chung và Mỹ thuật nói riêng là người dạy có thể giao nhiều nhiệm vụ với các mức độ và năng lực khác nhau theo từng nội dung học tập, mỗi cá nhân tự hoàn thành nhiệm vụ với sự tương tác của người dạy và thành viên trong nhóm. Mỗi góc phải chuẩn bị đầy đủ các phương tiện đáp ứng nội dung học tập và nhiệm vụ các góc cùng hướng tới mục tiêu bài học. Dạy học theo góc có thể áp dụng ở hầu hết các dạng bài học và các bài tập tích hợp kiến thức nhiều môn học.

    Ví dụ: Vẽ theo mẫu – Vẽ tĩnh vật – vẽ mầu

    Góc 1: Tìm hiểu các bước vẽ – Khám phá

    Góc 2: Quan sát, nhận xét các bước vẽ – Trải nghiệm

    Góc 3: Quan sát, nhận xét mẫu – Phân tích

    Góc 4: Thực hành – Áp dụng

    Việc phân chia các góc theo các phong cách và nội dung học tập không nhất thiết phải đủ tất cả 4 góc như trên, mà có thể linh hoạt tổ chức 2 hoặc 3 góc tùy theo điều kiện và nội dung học tập, nhằm đảm bảo học sâu, thoải mái.

    * Chia nhóm theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa trong năm,…:

    – GV yêu cầu HS điểm danh từ 1 đến 4/5/6…(tùy theo số nhóm GV muốn có là 4,5 hay 6 nhóm,…); hoặc điểm danh theo các màu (xanh, đỏ, tím, vàng,…); hoặc điểm danh theo các loài hoa (hồng, lan, huệ, cúc,…); hay điểm danh theo các mùa (xuân, hạ, thu, đông,…)

    – Yêu cầu các HS có cùng một số điểm danh hoặc cùng một mầu/cùng một loài hoa/cùng một mùa sẽ vào cùng một nhóm.

    * Chia nhóm theo hình ghép

    – GV cắt một số bức hình ra thành 3/4/5… mảnh khác nhau, tùy theo số HS muốn có là 3/4/5… HS trong mỗi nhóm. Lưu ý là số bức hình cần tương ứng với số nhóm mà GV muốn có.

    – HS bốc ngẫu nhiên mỗi em một mảnh cắt.

    – HS phải tìm các bạn có các mảnh cắt phù hợp để ghép lại thành một tấm hình hoàn chỉnh.

    – Những HS có mảnh cắt của cùng một bức hình sẽ tạo thành một nhóm.

    * Chia nhóm theo sở thích

    GV có thể chia HS thành các nhóm có cùng sở thích để các em có thể cùng thực hiện một công việc yêu thích hoặc biểu đạt kết quả công việc của nhóm dưới các hình thức phù hợp với sở trường của các em. Ví dụ: Nhóm Họa sĩ, Nhóm Nhà thơ, Nhóm Hùng biện,…

    * Chia nhóm theo tháng sinh: Các HS có cùng tháng sinh sẽ làm thành một nhóm.

    Ngoài ra còn có nhiều cách chia nhóm khác như: nhóm cùng trình độ, nhóm hỗn hợp, nhóm theo giới tính,….

    3.2. Kĩ thuật giao nhiệm vụ

    – Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng:

    + Nhiệm vụ giao cho cá nhân/nhóm nào?

    + Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?

    + Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?

    + Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì?

    + Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?

    + Cách thức trình bày/ đánh giá sản phẩm như thế nào?

    – Nhiệm vụ phải phù hợp với: mục tiêu hoạt động, trình độ HS, thời gian, không gian hoạt động và cơ sở vật chất, trang thiết bị

    3.3. Kĩ thuật đặt câu hỏi

    Trong dạy học theo PP cùng tham gia, GV thường phải sử dụng câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt HS tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới, để đánh giá kết quả học tập của HS; HS cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm GV và các HS khác về những ND bài học chưa sáng tỏ.

    Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HS – GV và HS – HS. Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của HS càng nhiều; HS sẽ học tập tích cực hơn.

    Mục đích sử dụng câu hỏi trong dạy học là để:

    – Kích thích, dẫn dắt HS suy nghĩ, khám phá tri thức mới, tạo đ/k cho HS tham gia vào quá trình dạy học

    – Kiểm tra, đánh giá KT, KN của HS và sự quan tâm, hứng thú của các em đối với ND học tập

    – Thu thập, mở rộng thông tin, kiến thức

    Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau:

    – Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu

    – Phù hợp với trình độ HS

    – Kích thích suy nghĩ của HS

    – Phù hợp với thời gian thực tế

    – Sắp xếp thep trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.

    – Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xính

    – Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc

    3.4 Kĩ thuật khăn trải bàn

    – HS được chia thành các nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Mỗi nhóm sẽ có một tờ giấy A0 đặt trên bàn, như là một chiếc khăn trải bàn.

    – Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh, tiếp tục chia phần xung quanh thành 4 hoặc 6 phần tuỳ theo số thành viên của nhóm ( 4 hoặc 6 người.)

    Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm.

    – GV nêu câu hỏi/ vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm.

    – Mỗi thành viên ( hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạ những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh.

    – Cuối cùng, tất cả các ph­ương án giải quyết được tập hợp lại và tìm ph­ương án tối ­ưu.

    – Các nhóm đọc và góp ý kiến bổ sung cho nhóm bạn. Sau đó lại tiếp tục luân chuyển kết quả cho nhóm tiếp theo và nhận tiếp kết quả từ một nhóm khác để góp ý.

    3.7 Kĩ thuật các mảnh ghép

    – Sau đó, mỗi thành viên của các nhóm này sẽ tập hợp lại thành các nhóm mới, như vậy trong mỗi nhóm mới sẽ có đủ các “chuyên gia” về vấn đề A, B, C, D,…và mỗi ” chuyên gia” về từng vấn đề sẽ có trách nhiệm trao đổi lại với cả nhóm về vấn đề mà em đã có cơ hội tìm hiểu sâu ở nhóm cũ.

    – Sử dụng để tìm các phương án giải quyết vấn đề

    – Dùng để thu thập các khả năng lựa chọn và suy nghĩ khác nhau

    Động não có thể tiến hành theo các bước sau :

    – Giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề ( có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm.

    – Khích lệ HS phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt.

    – Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp.

    – Phân loại các ý kiến.

    – Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng

    – Tổng hợp ý kiến của HS và rút ra kết luận.

    3.9 Kĩ thuật ” Trình bày một phút”

    Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho HS tổng kết lại kiến thức đã học và đặt những câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và cô đọng với các bạn cùng lớp. Các câu hỏi cũng như các câu trả lời HS đưa ra sẽ giúp củng cố quá trình học tập của các em và cho GV thấy được các em đã hiểu vấn đề như thế nào.

    Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:

    – Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học), GV yêu cầu HS suy nghĩ, trả lời các câu hỏi sau: Điều quan trọng nhất các em học đuợc hôm nay là gì? Theo các em, vấn đề gì là quan trọng nhất mà chưa được giải đáp?…

    – HS suy nghĩ và viết ra giấy. Các câu hỏi của HS có thể dưới nhiều hình thức khác nhau.

    – Mỗi HS trình bày trước lớp trong thời gian 1 phút về những điều các em đã học được và những câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn đề các em muốn được tiếp tục tìm hiểu thêm.

    3.10 Kĩ thuật “Chúng em biết 3”

    – Mỗi nhóm sẽ cử một đại diện lên trình bày về cả 3 điểm nói trên.

    3.11 Kĩ thuật ” Hỏi và trả lời”

    Đây là KTDH giúp cho HS có thể củng cố, khắc sâu các kiến thức đã học thông qua việc hỏi và trả lời các câu hỏi.

    Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:

    – HS vừa trả lời xong câu hỏi đầu tiên lại được đặt tiếp một câu hỏi nữa và yêu cầu một HS khác trả lời.

    – HS này sẽ tiếp tục quá trình trả lời và đặt câu hỏi cho các bạn cùng lớp,… Cứ như vậy cho đến khi GV quyết định dừng hoạt động này lại.

    – Nhóm “chuyên gia” lên ngồi phía trên lớp học

    – Một em trưởng nhóm “chuyên gia” (hoặc GV) sẽ điều khiển buổi “tư vấn”, mời các bạn HS trong lớp đặt câu hỏi rồi mời “chuyên gia” giải đáp, trả lời.

    – Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó.

    – Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo.

    3.14 Kĩ thuật “Hoàn tất một nhiệm vụ”

    – GV đưa ra một câu chuyện/một vấn đề/một bức tranh/một thông điệp/… mới chỉ được giải quyết một phần và yêu cầu HS/nhóm HS hoàn tất nốt phần còn lại.

    – HS/nhóm HS thực hiện nhiệm vụ được giao.

    – HS/ nhóm HS trình bày sản phẩm.

    Lưu ý: GV cần hướng dẫn HS cẩn thận và cụ thể để các em hiểu được nhiệm vụ của mình. Đây là một hoạt động tốt giúp các em đọc lại những tài liệu đã học hoặc đọc các tài liệu theo yêu cầu của giáo viên.

    – GV yêu cầu một vài HS chia sẻ nội dung mà các em đã viết trước lớp.

    Kĩ thuật này cũng có thể sử dụng sau tiết học để tóm tắt nội dung đã học, để phản hồi cho GV về việc nắm kiến thức của HS và những chỗ các em còn hiểu sai.

    3.16 Kĩ thuật “đọc hợp tác” (còn gọi là đọc tích cực)

    Kĩ thuật này nhằm giúp HS tăng cường khả năng tự học và giúp GV tiết kiệm thời gian đối với những bài học/phần đọc có nhiều nội dung nhưng không quá khó đối với HS.

    – GV nêu câu hỏi/yêu cầu định hướng HS đọc bài/phần đọc.

    + Đoán trước khi đọc: Để làm việc này, HS cần đọc lướt qua bài đọc/phần đọc để tìm ra những gợi ý từ hình ảnh, tựa đề, từ/cụm từ quan trọng.

    + Đọc và đoán nội dung : HS đọc bài/phần đọc và biết liên tưởng tới những gì mình đã biết và đoán nội dung khi đọc những từ hay khái niệm mà các em phải tìm ra.

    + Tìm ý chính: HS tìm ra ý chính của bài/phần đọc qua việc tập trung vào các ý quan trọng theo cách hiểu của mình.

    + Tóm tắt ý chính.

    – HS chia sẻ kết quả đọc của mình theo nhóm 2, hoặc 4 và giải thích cho nhau thắc mắc (nếu có), thống nhất với nhau ý chính của bài/phần đọc đọc.

    – HS nêu câu hỏi để GV giải đáp (nếu có).

    Lưu ý: Một số câu hỏi GV thường dùng để giúp HS tóm tắt ý chính:

    – Em có chú ý gì khi đọc ………… ?

    – Em nghĩ gì về………………. ?

    – Em so sánh A và B như thế nào?

    – A và B giống và khác nhau như thế nào?

    3.17 Kĩ thuật “Nói cách khác”

    – GV chia HS thành các nhóm, yêu cầu các nhóm hãy liệt kê ra giấy khổ lớn 10 điều không hay mà thỉnh thoảng người ta vẫn nói về một ai đó/việc gì đó.

    – Tiếp theo, yêu cầu các nhóm hãy tìm 10 cách hay hơn để diễn đạt cùng những ý nghĩa đó và tiếp tục ghi ra giấy khổ lớn.

    3.18. Phân tích phim Video

    Phim video có thể là một trong các phương tiện để truyền đạt nội dung bài học. Phim nên tương đối ngắn gọn (5-20 phút). GV cần xem qua trước để đảm bảo là phim phù hợp để chiếu cho các em xem.

    – Sau khi xem phim video, yêu cầu HS làm việc một mình hoặc theo cặp và trả lời các câu hỏi hoặc viết tóm tắt những ý cơ bản về nội dung phim đã xem.

    – Đại diện nhóm trình bày các ý chính cho cả lớp.

    – Sau đó, các thành viên trong nhóm lần lượt trả lời các câu hỏi của các bạn khác trong lớp về bài đọc

    3.20 Kỹ thuật XYZ (Còn gọi là kỹ thuật 635)

    Kỹ thuật XYZ là một kỹ thuật làm việc nhóm nhằm phát huy tính tích cực của mỗi thành viên trong nhóm, trong đó mỗi nhóm có X thành viên, mỗi thành viên cần đưa ra Y ý kiến trong khoảng thời gian Z. Mô hình thông thường mỗi nhóm có 6 thành viên, mỗi thành viên cần đưa ra 3 ý kiến trong khoảng thời gian 5 phút, do vậy, kỹ thuật này còn gọi là kỹ thuật 635.

    Giấy bút cho các thành viên.

    Các thành viên trình bày ý kiến của mình, hoặc gởi ý kiến về cho thư ký tổng hợp, sau đó tiến hành đánh giá và lựa chọn.

    Số lượng thành viên trong nhóm nên tuân thủ đúng quy tắc để tạo tính tương đồng về thời gian, giáo viên quy định thời gian và theo dõi thời gian cụ thể.

    Có yêu cầu cụ thể nên buộc các thành viên đều phải làm việc.

    Cần dành nhiều thời gian cho hoạt động nhóm, nhất là quá trình tổng hợp ý kiến và đánh giá ý kiến.

    Giấy bút cho các thành viên.

    Bảng câu hỏi cho những người quan sát:

    · Người nói có nhìn vào những người đang nói với mình không?

    · Họ có nói một cách dễ hiểu không?

    · Họ có để những người khác nói hay không?

    · Họ có đưa ra được những luận điểm đáng thuyết phục hay không?

    · Họ có đề cập đến luận điểm của người nói trước mình không?

    · Họ có lệch hướng khỏi đề tài hay không?

    · Họ có tôn trọng những quan điểm khác hay không?

    · Vừa giải quyết được vấn đề, vừa phát triển kỹ năng quan sát và giao tiếp của người học.

    · Cần có không gian tương đối rộng.

    3.22 Kỹ thuật Kipling (5W1H) (What, where, when, who, why, how).

    Giấy bút cho người tham gia.

    Các câu hỏi được đưa ra theo thứ tự ngẫu nhiên hoặc theo một trật tự định ngầm trước, với các từ khóa: Cái gì, Ở đâu, Khi nào, Thế nào, Tại sao, Ai.

    Vấn đề xảy ra ở đâu?

    Vấn đề xảy ra khi nào?

    Tại sao vấn đề lại xảy ra?

    Làm thế nào để giải quyết vấn đề?

    Ai sẽ tham gia giải quyết vấn đề?

    Khi nào thì vấn đề giải quyết xong?

    Các câu hỏi cần bám sát vào hệ thống từ khóa 5W1H (What, where, when, who, why, how).

    Nhanh chóng, không mất thời gian, mang tính logic cao.

    Có thể áp dụng cho nhiều tình huống khác nhau.

    Có thể áp dụng cho cá nhân.

    Ít có sự phối hợp của các thành viên.

    Dễ dẫn đến tình trạng “9 người 10 ý”.

    Dễ tạo cảm giác “Bị điều tra”.

    Từ biểu đồ KWL, Ogle bổ sung thêm cột H ở sau cùng, với nội dung khuyến khích học sinh định hướng nghiên cứu. Sau khi học sinh đã hoàn tất nội dung ở cột L, các em có thể muốn tìm hiểu thêm về một thông tin. Các em sẽ nêu biện pháp để tìm thông tin mở rộng. Những biện pháp này sẽ được ghi nhận ở cột H.

    Bảng KWL (KWLH) dành cho học sinh.

    Bảng KWL (KWLH) dành cho giáo viên.

    Chọn bài đọc – Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả với các bài đọc mang ý nghĩa gợi mở, tìm hiểu, giải thích.

    Tạo bảng KWL – Giáo viên vẽ một bảng lên bảng, ngoài ra, mỗi học sinh cũng có một mẫu bảng của các em. Có thể sử dụng mẫu sau.

    Yêu cầu học sinh đọc và tự điền câu trả lời mà các em tìm được vào cột L. Trong quá trình đọc, học sinh cũng đồng thời tìm ra câu trả lời của các em và ghi nhận vào cột W. Học sinh có thể điền vào cột L trong khi đọc hoặc sau khi đã đọc xong.

    Chuẩn bị những câu hỏi để giúp học sinh động não. Đôi khi để khởi động, học sinh cần nhiều hơn là chỉ đơn giản nói với các em : “Hãy nói những gì các em đã biết về…”

    Khuyến khích học sinh giải thích. Điều này rất quan trọng vì đôi khi những điều các em nêu ra có thể là mơ hồ hoặc không bình thường.

    Ngoài việc bổ sung câu trả lời, khuyến khích học sinh ghi vào cột L những điều các em cảm thấy thích. Để phân biệt, có thể đề nghị các em đánh dấu những ý tưởng của các em.

    Khuyến khích học sinh nghiên cứu thêm về những câu hỏi mà các em đã nêu ở cột W nhưng chưa tìm được câu trả lời từ bài đọc.

    Giúp học sinh dần dần hình thành khả năng tự định hướng học tập, nắm được cách học không chỉ cho môn đọc hiểu mà cho các môn học khác.

    Giúp giáo viên và học sinh tự đánh giá kết quả học tập, định hướng cho các hoạt động học tập kế tiếp.

    Sơ đồ cần phải được lưu trữ cẩn thận sau khi hoàn thành hai bước K và W, vì bước L có thể sẽ phải mất một thời gian dài mới có thể tiếp tục thực hiện.

    Là một kỹ thuật huy động sự tham gia của các thành viên đối với một câu hỏi nào đó, hoặc nhằm thu thông tin phản hồi nhằm cải thiện tình trạng giao tiếp và không khí học tập trong lớp, thông qua việc các thành viên lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng (nhanh như tia chớp) ý kiến của mình về một câu hỏi hoặc tình trạng vấn đề.

    Là một kỹ thuật lấy thông tin phản hồi nhằm huy động sự tham gia tích cực của học sinh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Đáp Thắc Mắc Về Phương Pháp Tránh Thai Cấy Que Dưới Da
  • Cấy Que Tránh Thai Có An Toàn Không?
  • Ưa Nhược Điểm Của Phương Pháp Cấy Que Tránh Thai Và Đặt Vòng
  • Ưu Và Nhược Điểm Của Phương Pháp Cấy Que Tránh Thai Bạn Nên Biết
  • Ưu Và Nhược Điểm Của Phương Pháp Cấy Que Tránh Thai
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100