【#1】Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Vấn Đề Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Mĩ Thuật Ở Lớp 9 Trường Thcs

MộT Số VấN Đề ĐổI MớI PHƯƠNG PHáP DạY HọC MÔN Mĩ THUậT ở lớp 9 trường thcs I . Lý do chọn đề tài. N hư chúng ta biết, đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng tích cực hoá được đặt ra do yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nhân lựccho đất nước trong giai đoạn những năm đầu thế kỉ 21. Cốt lõi của đổi mới phương pháp dạy học môn mĩ thuặt cũng như những môn học khác ở nhà trường phổ thông hiện nay là tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh và hoạt đông dạy học của giáo viên - Mĩ thuật là một loại hình nghệ thuật, nếu dạy học là khó thì dạy nghệ thuật lại càng khó, Mĩ thuật lại càng mang tính nghệ thuật cao. Song khó không có nghĩa là không dạy được vì học Mĩ thuật đem lại niềm vui cho mọi người thấy cái đẹp ở trong mình và xung quanh mình trở nên gần gủi và đáng yêu, đồng thời Mĩ thuật giúp mọi ngườitự tạo ra cái đẹp theo ý mình và thưởng ngoạn nó ngay trong sinh hoạt hằng ngày của mình, làm cho cuộc sống thêm hài hoà và hạnh phúc - Dạy học Mĩ thuật ở phổ thông là tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc làm quen với những giá trị thẩm mĩ, biết vận dụng kiến thức đã học phục vụ vào cuộc sống sinh hoạt hằng ngày - Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Mĩ thuật là một vấn đề đã được đề cập và bàn luận từ nhiều năm qua, các nhà biên soạn nghiên cứu đã không ngừng nghiên cứu biên soạn tiêp thu những thành tựu mớivà hiện đại để đưa nền giáo dục nước nhà ngày càng phát triển và hiện đại. ở đây bản thân tôi không có tham vọng đưa ra những vấn đề lớn lao hay điều chỉnh phương pháp dạy học ở môn Mĩ thuật mà bản thân đã thực hiện trong năm học này Việc dạy - học Mĩ thuật ở trường THCS hiện nay so với trước đã có những chuyển biến đáng kể. GV đã chú ý đến tính khoa học chính xác, tính thực tiển của kiến thức nhất là bảo đảm tính hệ thống và chương trình sách giáo khoa quy định, GV đã phấn đấu để có nhiều tiết dạy tốt tăng cường phương pháp dạy học đặc trưng của bộ môn Mĩ thuật và sử dụng phương tiện dạy-học hiện đại như đèn chiếu, máy chiếu đa năng, sử dụng chương trình bài giảng điện tử power point, violet.... để phát huy tính tich cực tư duy của học sinh II . Thực trạng và giải pháp 1 . thực trạng * Thuận lợi - Về giáo viên + Trong những năm gần đây ngành giáo dục đã có nhiều cuộc vận động trong giáo dục, tổ chức nhiều cuộc thi GV dạy giỏi cấp trương, cấp cụm, cấp huyện GVđã được tham gia các lớp tập huấn, các đợt bồi dưỡng chuyên đề... + Là giáo viên trẻ, được đào tạo đúng chuyên ngành Mĩ thuật, lại rất yêu ngành, tâm huyết với nghề nên đã tìm tòi áp dụng nhiều phương pháp dạy học mới vào trong giảng dạy giúp cho bài dạy trở nên sinh động, lôi cuốn được học sinh hơn + Về phía nhà trường đã cố gắng tạo mọi điều kiện cơ sở vật chấtcho việc dạy học như máy chiếu, mạng internet,phần mềm Violet, đầu video, ... GV đã có bộ sách giáo khoa, sách tham khảo đồ dùng dạy học trực quan... - Về học sinh + Đa số HS đều có niềm yêu thích môn Mĩ thuật có ý thức trong các giờ học + Học sinh có đầy đủ sách giáo khoa, vở, dụng cụ học tập địa lý. + Với trình độ khoa học kĩ thuật phát triển như hiện nay thì ngoài các kiến thức học được ở trên lớp các em có thể biết được nhiều thông tin Mĩ thuật qua sách báo, tivi, qua mạng internet. + Học sinh Cảnh Dương với tác phong nhanh nhẹn, có truyền thống hiếu học các em có thể tiếp cận nhanh với các phương pháp dạy học mới, các phương tiện dạy học hiện đại của giáo viên, dễ dàng chiếm lĩnh tri thức mới. + Bên cạnh đó, những kiến thức Mĩ thuật thì rất gần gũi với đời sống hàng ngày của các em nên các em đã tiếp thu một cách nhanh và dễ dàng liên hệ với thực tế. *Khó khăn : -Về giáo viên: +Số lượng học sinh trong một lớp còn quá đông nên gây khó khăn cho giáo viên trong khi tiến hành dạy theo phương pháp mới nhất là hoạt động nhóm vì giáo viên khó tổ chức và khó quản lí. +Với lứa tuổi THCS, học sinh đang còn nhỏ nên các kiến thức về xã hội chưa nhiều vì thế đòi hỏi người giáo viên phải truyền thụ đầy đủ và chi tiết gây mất nhiều thời gian trong một tiết dạy. + Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học chưa thực sự đầy đủ phòng học chức năng chưa có, còn thiếu một số tranh ảnh,... gây khó khăn cho người dạy. -Về học sinh: + Bên cạnh các học sinh có ý thức thì thái độ học tập của một số học sinh chưa tốt, còn lơ là, ham chơi ảnh hưởng không nhỏ đến việc truyền thụ kiến thức và rèn luyện kỹ năng cho học sinh ở trên lớp. + Một số em còn lười vẽ phác thảo dẫn đến vẽ dường nét, màu sắc còn yếu, chưa thực sự hiểu được cái hay cái đẹp của tác phẩm Mĩ thuật, vẫn còn HS ít vẽ kí hoạ về người và phong cảnh + Nhiều học sinh còn mang nặng tâm lí xem Mĩ thuật là một môn học phụ. - Về cơ sở vật chất : +Hiện tại chưa có phòng học chuyên ngành (phòng chức năng) + Thiết bị dạy học chưa đầy đủ, bộ ĐDDH Mĩ thuật 9 không có, các khối lớp khác không đáp ứng đủ đồ dùng cho nội dung bài dạy Qua số liệu cho thấy khi khảo sát tình hình học sinh khối 9 học Mĩ thuật đầu năm học như sau Tổng số K9 131 HS Trung bình HS Khá HS Giỏi SL % SL % SL % 67 51 43 33 21 16 - Từ thực tế trên điều mà tôi quan tâm nhất là tìm ra phương pháp dạy- học và học Mĩ thuật như thế nào để dạy tốt môn Mĩ thuật . Muốn vậy, tôi phải có phương pháp tối ưu giúp cho HS nắm được bài học của mình, tạo cho các em sự thích thú say mê trong tiết học Mĩ thuật. Nhằm để học sinh có khả năng vẽ được tranh, GVphải biết khai thác, kích thích sự tìm tòi, khả năng tư duy sáng tạo của học sinh - Với những băn khoăn, trăn trở đó, trước tình hình đổi mới phương pháp dạy học hiện nay tôi xin đưa ra một vài kinh nghiệm nho nhỏ của mình về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Mĩ thuật nhằm giúp cho học sinh yêu thích và học tốt hơn môn Mĩ thuật để đưa chất lượng bộ môn Mĩ thuật được nâng cao thông qua các giải pháp như sau: 2. Giải pháp Để thực hiện mục tiêu trên, tôi đã sử dụng một số phương pháp dạy học trong môn Mĩ thuật cụ thể như sau: 2.1. Phương pháp quan sát: Phương pháp quan sát là thông qua việc nhìn nhận, tìm hiểu đối tượng để phân tích so sánh về: cấu trúc, tỷ lệ , màu sắc hình ảnh...của mẫu. Giúp học sinh nhận biết và cảm thụ vẽ đẹp của đối tượng làm cơ sở tư liệu thực hiện bài tập Mĩ thuật. Ví dụ minh hoạ trong chương trình Mĩ thuật ở THCS. Bài 7 và bài 8: Vẽ theo mẫu:Vẻ tượng chân dung (Lớp 9) Học sinh cảm nhận được vẽ đẹp của mẫu qua đặc điểm hình dạng cấu trúc và tương quan chung. Do vậy giáo viện cần sử dụng phương pháp quan sát để học sinh nhận ra: - Khối cơ bản của mỗi vật mẫu - Khung hình chung của nhóm mẫu - Khung hình riêng của vật mẫu - So sánh tìm tỷ lệ các bộ phận của mẫu - Phân biệt độ đậm nhạt của mẫu.... và tiến hành bài vẽ theo các bước: Sắp xếp bố cục trên trang giấy Vẽ phác khung hình chung trước Vẽ khung hình riêng sau Tìm tỷ lệ các bộ phận tương ứng Phát hình dáng mẫu bằng nét kỹ hà Thể hiện đối tượng theo cảm nhận Hoàn chỉnh hình Thể hiện đậm nhạt của mẫu (bằng chì) - Như vậy bằng phương pháp quan sát học sinh đã nắm vững về cấu trúc tỷ lệ đặc điểm của mẫu trước khi tiến hành bài vẽ. Phương pháp này cần được sử dụng trong suốt thời gian của tiết học và đặc biệt quan trọng vơí hoạt động 1: Quan sát và nhận xét - Qua việc vận dụng phương pháp quan sát đã tạo được hiệu quả : đã định hướng được mục đích và ý tưởng rỏ ràng, giúp cho HS nhận thức phong phú, sâu sắc và đầy đủ hơn, phát triển kĩ năng quan sát, đối chiếu, so sánh và liên hệ với thực tế, HS cảm nhận được sự đa dạng của cuộc sống... 2.2 . Phương pháp trực quan - Phương pháp trực quan là sử dụng đồ dùng dạy học đã chuẩn bị để minh học cho nội dung bài dạy, giúp người học hiểu sâu hơn. Nhờ phương pháp trực quan mà những thuật ngữ ,khái niệm về Mĩ thuật trừu tượng được làm sáng tỏ, tao điều kiện cho người học lỉnh hội kiến thức nhanh và hứng thú hơn trong học tập Ví dụ minh hoạ trong chương trình Mĩ thuật ở THCS. Bài 15: Vẽ trang trí : Tạo dáng và trang trí túi xách (Lớp 8) - Giáo viên sử dụng đồ dùng trực quan để học sinh nhận thấy sự đa dạng, phong phú và độc đáo của túi xách có nhiều kiểu dáng và được trang tri theo nhiều cách khác nhau ( có loại có quai xách, có loại có dây đeo,...) Cách thức trang trí túi xách rất phong phú ( bằng hình mảng, bằnh hoạ tiết,...) với nhiều cách phối hợp màu sắc khác nhau ( rực rỡ, êm dịu, mạnh mẽ, nhẹ nhàng,...) Từ những gợi ý của đồ dùng trực quan giúp học sinh hình dung được yêu cầu bài học, hứng thú hơn trong quá trình học tập, từ đó nảy sinh nhiều ý tưởng và sáng tạo trong bài thực hành -Khi vận dụng phương pháp nàyđã thu hút sự chú ý của HS, truền đạt cho nhiều người cùng một lúc, học sinh được nghe nhìn tăng khả năng nhận thức, cung cấp kiến thức từ nhiều nguồn thông tin, sử dụng được nhiều phương tiện dạy học khác nhau, dễ tổ chức, bao quát, hình dung được nội dung học tập. 2.3. Phương pháp vấn đáp Giáo viên sử dụng hệ thốg câu hỏi để thực hiện câu hỏi, để gợi mở cho học sinh về nội dung nhằm khai thác một chi tiết, một vấn đề nào đó của bài học. Tạo điều kiện cho học sinh bộc lộ những hiểu biết về đối tượng. Suy nghĩ, tìm tòi và giải quyết được bài tập, nâng cao chất lượng bài vẽ bằng khả năng của mình Ví dụ minh hoạ trong chương trình Mĩ thuật ở THCS. Bài 10: Vẽ tranh :Đề tài lễ hội : (Lớp 9) - GV cần xây dưng hệ thống câu hỏi gợi mở sau : Các hoạt động diễn ra vào thời điểm nào, ở đâu ? Hình ảnh cụ thể là gì ? Hình ảnh nào chính, hình ảnh nào phụ ? Quang cảnh xung quanh như thế nào ? - Trên cơ sở hệ thống câu hỏi của GV, HS trả lời, từ đó định hướng nội dung bài vẽ...Như vậy từ đề tài lễ hội HS vẽ được nhiều nội dung về đề tài này. 2.4. Phương pháp luyện tập - thực hành - Củng cố kiến thức cho HS, đồng thời trong quá trình luyện tập, HS còn tìm ra nhiều điều mới lạ giúp cho nhận thức trở nên sâu sắc, phong phú và vững vàng hơn - Phương pháp luyện tập thực hành ở môn Mĩ thuật là luyện tập HS quan sát nhận xét, đánh giá sự vật, hiện tượng xung quanh. Luyện tập cũng cố kĩ năng vẽ, nâng cao khả năng tìm tòi sáng tạo, khéo léo ; bồi dưỡng thị hiếu thẩm mĩ...Thông qua luyện tập - thực hành, những mặt tốt và chưa tốt của HS đều bộc lộ rõ ràng. Vì vậy việc dạy và học sẽ sát đối tượng và hiệu quả hơn Ví dụ minh hoạ trong chương trình Mĩ thuật ở THCS. Bài 14 : Vẽ tranh : Đề tài lực lượng vũ trang (lớp 9 ) - Giáo viên sử dụng phương pháp luyện tập - thực hành giúp HS thể hiện được kĩ năng vẽ tranh và vận dụng những quan sát (thực tế) sắp xếp thành nội dung bức tranh theo yêu cầu sau : - Hình ảnh chọn lọc, sinh động, thể hiện đúng nội dung - Sắp xếp các hình ảnh để tạo thành bố cục đẹp (có mảng chính, mảng phụ, sắp xếp chặt chẽ hợp lí) - Không gian trong tranh phù hợp với nội dung - Thể hiện được tình cảm của các nhân vật trong tranh - Tỉ lệ các hình ảnh trong tranh cân đối - Màu sắc trong sáng thể hiện được trang phục theo binh chủng... 2.5 . Phương pháp làm việc theo nhóm Phương pháp làm việc theo nhóm là tạo điều kiện cho mọi HS đều được tham gia vào quá trình học tập một cách tự giác bằng khả năng của mình. Phương pháp học tập này xây dưng cho học sinh tinh thần tập thể , ý thức cộng đồng với công việc chung. Đồng thời hình thành ở HS tinh thần tập thể, ý thức cộng đồng với công việc chung. Đông thời hình thanh ở HS phương pháp làm việc khoa học ( tự lập kế hoạch và làm viẹc theo kế hoạch) Đối với môn Mĩ thuật, phương pháp làm việc theo nhóm thường được thực hiện khi tìm hiểu các tác phẩm nghệ thuật, bày mẫu và kựa chọn mẫu vẽ; trong các trò chơi gép hình, vẽ màu... để học sinh có điều kiện bộc lộ ý kiến tăng khả năng hợp tác và năng lực làm việc cá nhân. Ví dụ minh hoạ trong chương trình Mĩ thuật ở THCS. Bài 12 :thường thức Mĩ thuật: Sơ lược về Mĩ thuật các dân tộc ít người ở Việt Nam (Lớp 9 ) Học sinh hiểu được Sơ lược về Mĩ thuật các dân tộc ít người ở Việt Nam, biết một số loại hình và đặc điểmcủa Mĩ thuật các dân tộc ít người ở Việt Nam ( tranh thờ và thổ cẩm, nhà rông và tượng nhà mô tây nguyên, tháp và điêu khắc chăm ) Giáo viên tổ chức cho HStìm hiểu nội dung trên với phương pháp làm việc theo nhóm, cụ thể : phân mỗi nhóm tìm hiểu đặc điểm của tưng loại hình nghệ thuật của các vùng, dân tộc ( Tây Bắc,Tây Nguyên, Chăm) về Cách thức tạo hình . Chất liệu sử dụng . Nội dung phản ánh .... 2.6. Đổi mới cách sử dụng đồ dùng dạy học a. Đổi mới tranh vẽ Đưa tranh ảnh đúng lúc Tranh ảnh có nhiều hình cần che những phần không cần thiết Cần theo thứ tự trước sau Sau khi treo tranh cần cho học hinh nhìn một lúc mới đặt câu hỏi b . Đổi mới mẫu vẽ Mẫu vẽ rất quan trọng trong công việc giảng dạy mỹ thật vì nó giúp học sinh quan sát tái hiện hình tượng lên tranh vẽ Khi sử dụng cần đảm bảo: Mẫu vẽ phải đẹp , dễ vẽ Giáo viên cần nghiên cứu , tránh lúng túng và đưa ra đúng lúc Mẫu vẽ cả lớp phải nhìn thấy, nhìn rõ Khi quan sát giáo viên hướng dẫn học sinh phải trật tự chú ý 2.7. Đối với việc sử dụng giáo án điện tử PowerPoint Đây là phương tiện dạy học hiện đại có thể sử dụng nó để mở rộng kiến thức, đào sâu hiểu biết của học sinh chưa thấy Ví dụ: Khi dạy bài "sơ lược Mĩ thuật thời nguyễn" (lớp 9) Nên sử dụng chương trình phần mền để học sinh thấy được một số thành tựu Mĩ thuật thời nguyễn phát triẻn như thế nào và giá trị nghệ thuật của kho tàng văn hoá nghệ thuật dân tộc Kết quả thực hiện Kĩ năng học Mĩ thuật của học sinh THCS còn ở mức độ rất sơ đẳng. Tuy nhiên, với học sinh lớp 9, nó có vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy Mĩ thuật cho các em. Với nội dung đã nêu, tôi thường vận dụng vào các tiết dạy lý thuyết và các tiết thực hành, với các bước rèn luyện kỹ năng quan sát, luyện tập - thực hành như trên tôi cảm thấy rằng học sinh đã dần dần nắm được cách cách vẽ tranh, vẽ trang trí và vẽ theo mẫu, học sinh tự mình có thể làm được các bước trên dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của giáo viên. Các em cảm thấy hứng thú hơn với môn học nhất là những tiết thực hành. Giờ học Mĩ thuật trở nên nhẹ nhàng hơn, thoải mái hơn, học sinh cảm thấy tự tin, vận dụng nhanh, đạt kết quả tốt, lớp học sôi nổi và đặc biệt giáo viên nhận thấy rõ vấn đề đổi mới phương pháp được nâng cao lên hẳn. Sau khi tiến hành khảo sát tôi thấy chất lượng của bộ môn mình được nâng lên rõ rệt cụ thể như sau: Tổng số K9 131 HS Trung bình HS Khá HS Giỏi SL % SL % SL % 19 14 70 54 42 32 Nhìn vào 2 bảng khảo sát đánh giá trên tôi thấy rằng kết quả chất lượng khi vận dụng phương pháp mới vào quá trình dạy học so với khi chưa vận dụng phương pháp mới được nâng lên rõ rệt cụ thể như sau: Khichưa vận dụng phương pháp mới Khi vận dụng phương pháp mới Học sinh khá giỏi : 49% Học sinh khá giỏi : 86% Học sinh vẽ được bài: 52% Học sinh vẽ được bài : 90% III . KếT LUậN Và KIếN NGHị 1 . KếT LUậN Giáo dục cho học sinh phổ thông chung bằng nghệ thuật tạo hình được thực hiện chủ yếu trong giờ học môn Mĩ thuật. Để chất lượng dạy học ngày càng cao thì giáo viên phải thấy được sự phát triển của xã hội,từ đó đổi mới phương pháp dạy học, đảm bảo cung cấp kiến thức cho học sinh, GV phải đầu tư tìm tài liệu, đọc nhiều sách báo có liên qan đến bài giảng, tập trung soạn kỉ giáo án và thâm nhập giáo án. Nắm vững phương pháp dạy, vận dụng các phương pháp linh hoạt các phương pháp dạy trong tiết học phù hợp với từng đối tượng học sinh . Giáo viên đã thuận lợi hơn trong việc sử dụng các phương pháp mới vào trong dạy học, phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh, giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn học sinh tìm tòi chiếm lĩnh tri thức mới. Từ đó học sinh cảm thấy yêu thích bộ môn Mĩ thuật hơn do đó chất lượng của bộ môn Mĩ thuật được nâng cao rõ rệt . Ngày nay nhà nước ta đã có nhiều cố gắng đưa hội hoạ vào trong trường học, công tác giáo dục, cải cách giáo dục ở một số bộ môn đã có chiều hướng đổi mới tích cực. Vì vậy cần tạo mọi điều kiện và hướng cho các em học sinh trau dồi sự sáng tạo ở các môn nghệ thuật, cái đẹp bao giờ cũng có ở các em, giúp cho các em có được cái nhìn trong sáng đối với cái đẹp trong cuộc sống, sau này dù lớn lên ở bất kỳ hoàn cảnh nào, nghề nghiệp nào cũng luôn cần đến cái đẹp 2 . bài học kinh nghiệm Sau khi thực hiện xong đề tài này tôi xin có một vài kinh nghiêm nhỏ như sau: -Để một tiết dạy Mĩ thuật đươc thành công giáo viên phải nắm và bám chuẩn kiến thức bộ môn -Đầu tư, tìm tòi các phương pháp dạy học mới phù hợp với bộ môn,với đối tượng học sinh của mình -Phải rèn luyện cho học sinh cách quan sát về đường nét, màu sắc, bố cục, hình khối... ngay từ những tiết đầu tiên cho học sinh nắm chắc từng phần sau đó mới dạy ở các tiêt sau -Phải đầu tư nhiều vào bài giảng ngay từ khâu soạn giáo án,chuẩn bị đồ dùng,các bước lên lớp ,giảm đến mức tối đa việc cung cấp thông tin đơn thuần của giáo viên và sự tiếp thu thụ động của học sinh. -Luôn luôn cho học sinh liên hệ với thực tế cuộc sống của các em để các em dễ nhớ và dễ vận dụng -Cần có mối liên hệ tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh để kiểm tra mức độ nắm bắt kỹ năng của các em 3 . kiến nghị và đề xuất Giữa cơ quan giáo dục và cơ quan văn hoá cần có sự phối hợp chặt chẽ, nhằm giải quyết những nhu cầu của công việc giáo dục thẩm mĩ cho học sinh (Tổ chức các cuộc thi vẽ tranh giành cho các em học sinh, hưởng ứng các cuộc thi vẽ cáctổ chức phát động trong năm, mở câu lạc bộ năng khiếu, tổ chức cho các em đi tham quan các di tích lịch sư hoặc bảo tàng Mĩ thuật. ) Tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất (có phòng học chức năng) đồ dùng phương tiện kỹ thuật dạy học, cũng như đồ dùng dạy học còn thiếu nhiều mà giáo viên không thể tự làm được... Hội đồng KH Trường THCS Cảnh Dương Cảnh Dương Ngày 17 tháng 03 năm 2009 Người viết : HUỳNH THế THảO

【#2】Sáng Kiến Kinh Nghiệm Sử Dụng Phương Pháp Graph Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Ở Trường Trung Học Phổ Thông

PHẦN MỘT : MỞ ĐẦU

1. Mục đích nghiên cứu

Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII cho rằng: ”

Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp bậc học, kết hợp tốt học với

hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn

nhà trường với xã hội. Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi

dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề…”.

Như vậy, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là một mục tiêu quan trọng

của sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay, trong đó đổi mới phương pháp dạy

học được coi là một trong những nhiệm vụ chiến lược. Đổi mới phương pháp

dạy học là hướng vào những phương pháp khoa học mang tính khái quát cao, có

tiềm năng phát huy cao độ tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh.

Graph là một lý thuyết có nguồn gốc toán học. Lý thuyết Graph là một

trong những phương pháp khoa học có tính khái quát cao. Đây là một hướng

nghiên cứu quan trọng trong lí luận dạy học nói chung và trong giảng dạy môn

Lịch sử nói riêng. Và đây cũng là một gợi ý để thúc đẩy tôi nghiên cứu, tìm hiểu

và ứng dụng lý thuyết graph vào giảng dạy môn Lịch sử ở bậc THPT. Nhìn vào

graph học sinh dễ dàng hình dung được toàn bộ những đơn vị kiến thức được

học và mối quan hệ chặt chẽ giữa các đơn vị kiến thức. Từ đó học sinh có thể

hiểu được bản chất, mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Việc ghi nhớ, tái

hiện và hiểu biết, vận dụng kiến thức đã học đối với học sinh là không quá khó.

Thực tế, việc giảng dạy môn Lịch sử ở trường phổ thông chưa có nhiều thay

đổi. Phương pháp chính được sử dụng vẫn là thuyết trình, diễn giảng, vấn đáp…

điều này làm học sinh rất khó nhớ, khó hiểu. Học sinh có tâm lý học thuộc, học

đối phó và hầu như rất ít học sinh yêu thích bộ môn.

Vì vậy, với những ưu điểm của mình, phương pháp graph góp phần phát

huy tính tích cực và năng lực học tập của học sinh. Từ đó góp phần nâng cao

hiệu quả chất lượng dạy học môn lịch sử ở trường phổ thông.

Xuất phát từ thực trạng dạy và học bộ môn Lịch sử, từ yêu cầu đổi mới

phương pháp dạy học hiện này và đặc biệt là từ những ưu điểm, lợi thế của việc

sử dụng phương pháp graph, tác giả chọn đề tài: ” SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP

GRAPH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN

LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG”.

2. Điểm mới của đề tài

Lý thuyết graph – còn được gọi là lý thuyết sơ đồ, được ra đời từ hơn 250

năm trước. Khi mới ra đời lý thuyết này chủ yếu nghiên cứu giải quyết những

bài toán có tính chất giải trí và tiêu khiển. Lúc này, lý thuyết graph chỉ là một bộ

phận nhỏ của toán học. Nó chưa thu hút được sự chú ý của các nhà khoa học

nên thành tựu về graph chưa nhiều. Đến những năm 30 của thế kỷ XX, khi toán

học và lý thuyết đồ thị phát triển mạnh thì lý thuyết graph thực sự được xem là

một ngành toán học riêng biệt.

Năm 1965 – 1966 nhằm giúp học sinh có được một phương pháp tư duy

và tự học mang tính khái quát nhất, đạt hiệu quả cao nhất, nhà sư phạm người

Nga L.N.Lanđa đã tiến hành thực nghiệm chuyển hóa phương pháp algurit

(graph) của toán học thành phương pháp dạy học chung cho nhiều bộ môn khoa

học trong nhà trường. Có thể nói, L.N.Lanđa là một trong những người mở ra

một hướng đi mới trong việc dạy học

Sau L.N.Lanđa, A.M.Xukhov được nhìn nhận như một trong những

người đầu tiên vận dụng lý thuyết graph, đặc biệt là những nguyên lý về xây

dựng một graph định hướng cho việc dạy học. Phương pháp graph đã được ứng

dụng ngày càng rộng rãi ở nhiều nước, ở cả ngành khoa học tự nhiên và khoa

học xã hội.

Ở Việt Nam, giáo sư Nguyễn Quang Ngọc là nhà sư phạm đầu tiên

nghiên cứu việc vận dụng lý thuyết graph vào dạy học nói chung và dạy Hóa

học nói riêng. Theo ông, sở dĩ có thể chuyển graph của lý thuyết Toán thành

graph trong dạy học vì graph có ưu thế đặc biệt trong việc mô hình hóa cấu trúc

của các hoạt động từ đơn giản đến phức tạp, lại vừa có tính trực quan, cụ thể.

Năm 1984, trên cơ sở tiếp thu những thành tựu nghiên cứu khoa học của

GS Nguyễn Quang Ngọc, nhà giáo Phạm Tư đã có bài viết: “Dùng graph nội

dung của bài lớp để dạy học chương “Nito – Phốtpho” ở lớp 11trường THPT”.

Đây là công trình đầu tiên tìm hiểu một cách sâu sắc việc sử dụng graph để dạy

học. Trong đó tác giả đã trình bày khá đầy đủ những cơ sở lý luận của việc

chuyển hóa từ phương pháp nghiên cứu khoa học thông qua xử lý sư phạm để

trở thành phương pháp dạy học.

Sau đó, vào năm 2003, TS Phạm Tư đã có công bố liên tiếp hai bài báo: ”

Dạy học bằng phương pháp graph góp phần nâng cao chất lượng giờ giảng” và

” Dạy học bằng phương pháp graph góp phần nâng cao chất lượng học tập, tự

học”. Qua hai bài viết, tác giả nhằm khẳng định hiệu quả của graph trong việc

nâng cao chất lượng dạy học và đổi mới phương pháp dạy học.

Gần đây những công trình nghiên cứu về lý thuyết graph và ứng dụng của

graph đã được nhiều tác giả quan tâm. Năm 2000, Phạm Thị My với: “Ứng

dụng lý thuyết graph xây dựng và sử dụng sơ đồ để tổ chức hoạt động nhận

thức của học sinh trong dạy học sinh học ở THPT”. Năm 2002, Phạm Minh

Tâm đã nghiên cứu: ” Sử dụng graph vào dạy học Địa lý 12 THPT” . Trong đó

tác giả đã xác lập một hệ thống các graph dạy học địa lý 12 và bước đầu dề xuất

một số cách thức cơ bản để áp dụng hệ thống này vào thực tiễn dạy học nhằm

nâng cao chất lượng giờ dạy học. Năm 2003, Vũ Thị Thu Hoài với: ” Sử dụng

phương pháp graph kết hợp với một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ ôn

tập tổng kết Hóa học lớp 10 THPT”. Qua luận văn này, tác giả chú ý đến việc

thiết kế các graph nội dung và graph phương pháp các bài ôn tập – tổng kết và

đề ra một số biện pháp thực hiện nâng cao chất lượng bài ôn tập tổng kết. Năm

2004, Nguyễn Thị Ban nghiên cứu: ” Sử dụng Graph trong dạy học Tiếng Việt

cho học sinh THCS”….

Qua đó ta thấy rằng, ban đầu lý thuyết Graph chủ yếu được ứng dụng

trong giảng dạy môn Hóa học thì nay việc áp dụng lý thuyết này đã mở rộng ra

nhiều môn khoa học khác nhau được dạy trong nhà trường. Tuy nhiên đến nay

việc sử dụng graph để dạy học vẫn chưa được ứng dụng ở diện rộng và chưa

thực sự trở thành phương pháp dạy học phổ biến, đặc biệt là trong môn Lịch sử.

Trong cuốn sách : “Đổi mới nội dụng, phương pháp dạy học lịch sử ở trường

phổ thông” do GS Phan Ngọc Liên chủ biên, đã có bài viết về : “Sử dụng

phương pháp graph hướng dẫn học sinh ôn tập trong dạy học Lịch sử ở trường

THPT” của tác giả Hoàng Thanh Tú. Tác giả sử dụng phương pháp graph nhăm

hệ thống kiến thức giúp học sinh ôn tập, đồng thời giúp học sinh thấy rõ mối

quan hệ nhân – quả giữa các sự kiện lịch sử.

Vì vậy, điểm mới của đề tài là tập trung thiết kế và sử dụng phương pháp

graph nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng dạy học môn Lịch sử ở trường THPT.

Đề tài tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu sau:

– Khái quát về lý thuyết graph, phân loại các dạng của graph theo chức

năng và mục đích sử dụng trong các kiểu bài học lịch sử.

– Tác dụng và hiệu quả của phương pháp graph trong giảng dạy Lịch sử

THPT

– Xây dựng và sử dụng phương pháp graph trong giảng dạy Lịch sử

THPT

3. Đóng góp của đề tài

Về lý luận: Đề tài góp phần khẳng định tầm quan trọng của của các

phương pháp dạy học tích cực nói chung và phương pháp grahp nói riêng.

Phương pháp graph là một phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng

dạy học bộ môn Lịch sử. Từ đó, nó góp phần phát triển các năng lực cho học

sinh trong quá trình học tập.

Về thực tiễn: Đề tài phác họa đôi nét về thực trạng dạy học lịch sử ở

trường THPT hiện nay nói chung và việc sử dụng các phương pháp dạy học tích

cực trong giảng dạy bộ môn Lịch sử. Đề tài còn xác định được tác dụng và hiệu

quả của phương pháp graph. Từ đó, đề tài xây dựng một số loại graph sử dụng

để góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy môn Lịch sử ở trường THPT.

hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của người công dân,

đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Mục tiêu đào tạo

này đã chi phối đến mục tiêu của từng cấp học và môn học. Đối với giáo dục

phổ thông, mục tiêu là phải trang bị kiến thức và khả năng nhận thức cao hơn so

với cấp trung học cơ sở, “hoàn thiện học vấn phổ thông”, “phát huy năng lực cá

nhân để lựa chọn hướng phát triển”. Và mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường

phổ thông đã được xây dựng trên cơ sở mục tiêu đào tạo, mục tiêu cấp học,

quan điểm, đường lối của Đảng về sử học và giáo dục. Đồng thời, căn cứ vào

nội dung, đặc trưng của hiện thực Lịch sử và nhận thức Lịch sử, yêu cầu của bối

cảnh đất nước hiện nay. Trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử

xác định mục tiêu của bộ môn là “nhằm giúp cho học sinh có những kiến thức

cơ bản, cần thiết về Lịch sử dân tộc và Lịch sử thế giới, góp phần hình thành ở

học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, truyền

thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng các kĩ năng tư duy, hành động, thái độ ứng

xử đúng đắn trong đời sống xã hội”.

Như vậy, mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông phải thực hiện

được những nhiệm vụ cơ bản về: chuẩn kiến thức, kĩ năng, và hướng thái độ.

Trong đó, muc tiêu nhận thức học sinh phải đạt được trên cả ba cấp độ: nhận

biết (nắm được sự kiện, thời gian, không gian, nhân vật…), thông hiểu (nắm

được bản chất, ý nghĩa, tìm ra mối liên hệ bên trong của các sự vật hiện

tượng…) và vận dụng (vận dụng kiến thức cũ tiếp thu kiến thức mới và giải

quyết vấn đề trong thực tiễn cuộc sống). Trên cơ sở các nhiệm vụ được hình

thành và phát triển, giáo viên giúp học sinh phát triển các năng lực chủ yếu:

năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp, năng lực tự

khẳng định…Đây cũng là những năng lực phù hợp với yêu cầu của sự phát triển

kinh tế – xã hội của khu vực và toàn cầu khi bước vào thế kỉ XXI mà UNESCO

đã nêu ra: ” học để biết, học đê làm, học để chung sống, học để khẳng định

mình”. Để đạt được ba mục tiêu đó, cần phải đổi mới phương pháp dạy học theo

hướng phát triển năng lực

1.2.2. Đặc điểm nhận thức lịch sử

Theo các nhà giáo dục, quá trình dạy học là một quá trình nhận thức của

học sinh. Quá trình nhận thức của học sinh có những điểm giống với nhận thức

của nhà khoa học là cùng diễn ra theo quy luật chung ” từ trực quan sinh động

đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” (V.I. Lênin) và cũng

dựa trên sự huy động của các thao tác tư duy ở mức độ cao nhất, đồng thời cũng

làm cho vốn hiểu biết của chủ thể được phong phú, hoàn thiện thêm.

Tuy nhiên, quá trình nhận thức của học sinh lại có những nét đặc thù so

với quá trình nhận thức chung của loài người, của các nhà khoa học là nó được

tiến hành trong quá trình dạy học với những điều kiện sư phạm nhất định. Và

quá trình nhận thức của học sinh diễn ra theo con đường đã được khám phá.

Hoc sinh không phải tìm ra cái mới cho nhân loại mà nhận thức cái mới cho bản

thân mình, được rút ra từ kho tàng hiểu biết chung của loài người. Những kiến

thức học sinh cần nắm vững trong quá trình học tập chỉ là những kiến thức phổ

thông cơ bản phù hợp với thực tiễn của đất nước, được rút ra từ các khoa học và

được gia công về mặt sư phạm.

Đối với bộ môn Lịch sử, xuất phát từ lí luận chung, từ mục tiêu, chức

năng, nhiệm vụ của bộ môn, các nhà giáo dục Lịch sử đã khẳng định bản chất

của quá trình dạy học Lịch sử: Quá trình dạy học Lịch sử cũng là một quá trình

nhận thức đặc thù. Bởi vì, đây là sự nhận thức của cá thể học sinh, sự nhận thức

trong lĩnh vực giáo dục và học sinh là người được giáo dục, chuẩn bị để sau này

đảm nhiệm công việc xã hội. Cho nên quá trình nhận thức của học sinh trong

học tập có ba đặc điểm là tính gián tiếp, được hướng dẫn và tính giáo dục.

Như vậy, việc học tập Lịch sử của học sinh là một quá trình nhận thức

đặc thù, kiến thức Lịch sử mà các em được lĩnh hội mang tính quá khứ rõ rệt,

mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra một lần duy nhất, gắn với một khoảng

thời gian, không gian và nhân vật cụ thể. Các em không thể “trực tiếp quan sát”

được các sự kiện, hiện tượng, mà các em chỉ có thể nhận thức được một cách

“gián tiếp” thông qua các tài liệu được lưu giữ lại, hoặc nhận thức thông qua bài

giảng, hướng dẫn của giáo viên. Và giáo viên cũng không thể tiến hành thí

nghiệm để dựng lại quá khứ lịch sử đúng như nó tồn tại để cho học sinh quan

sát. Ví dụ như khi dạy về cuộc kháng chiến chống Thanh của nghĩa quân Tây

Sơn (1789), giáo viên không thể dựng lên “đội quân thần tốc”, không thể làm

cho hình ảnh ấy “sống lại” để diễn lại tinh thần quyết liệt, ý chí quyết tâm “đại

phá” 30 vạn quân xâm lược của nghĩa quân cho học sinh quan sát…

Cùng với tính quá khứ, tri thức lịch sử mà các em được lĩnh hội ở trường

trung học phổ thông còn mang tính không lặp lại về cả không gian và thời gian.

Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra trong một thời gian và không gian

nhất định, trong những thời gian và không gian khác nhau. Không có một sự

kiện, hiện tượng lịch sử nào hoàn toàn giống nhau, dù có điểm giống nhau, lặp

phải vận dụng tri thức đã học để tạo ra trong tư duy những mối liên hệ với

những điều mới chưa biết rồi biết sử dụng hiểu biết về quá khứ để hiểu hiện tại,

hành động trong thực tiễn phù hợp với trình độ, yêu cầu và nhiệm vụ của mình.

Đây là giai đoạn vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

Tóm lại, học tập lịch sử là quá trình nhận thức theo quy luật với những

đặc trưng riêng biệt của bộ môn. Trên cơ sở sự kiện, biểu tượng giáo viên giúp

học sinh hình thành khái niệm, nêu quy luật và rút ra bài học kinh nghiệm. Có

nghĩa là phải giúp các em nắm được bản chất của sự kiện, hiện tượng từ đó biết

vận dụng kiến thức vào thực hành bộ môn và thực tiễn cuộc sống. Vậy nên,

trong dạy học lịch sử đòi hỏi giáo viên cần có những phương pháp giúp học sinh

khôi phục lại bức tranh quá khứ đúng như nó tồn tại. Hơn nữa, phải phát huy

được tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh trong học tập lịch sử, góp

phần nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục trong

bối cảnh đất nước – quốc tế hiện nay.

1.2.3. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Vấn đề đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới phương pháp dạy học nói

riêng là một yêu cầu cấp thiết trong cải cách giáo dục đặc biệt là hình thành và

phát triển năng lực người học – một xu thế đổi mới giáo dục hiện nay trên thế

giới.

Trong bối cảnh công cuộc cải cách giáo dục và đổi mới phương pháp dạy

học đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới từ những năm 90 của thế kỉ XX, các tài

liệu, văn kiện của Đảng, Chính phủ đều định hướng việc đổi mới phương pháp

dạy học phải “lấy người học làm trung tâm”, ” áp dụng những phương pháp

giáo dục hiện đại phù hợp với thực tiễn Việt Nam để bồi dưỡng cho học sinh

năng lực tư duy, giải quyết vấn đề”. Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010

cũng chỉ rõ: việc đổi mới phương pháp giáo dục phải “chuyển từ truyền đạt tri

thức thụ động thầy giảng trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy

trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học có phương pháp tự học, có

tư duy phân tích và tổng hợp” ( ,tr3) đặc biệt vấn đề đổi mới phương pháp dạy

học nói chung được pháp chế hóa trong chương II, điều 28 của Luật Giáo dục

(sửa đổi bổ sung năm 2010) của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, có ghi:

“Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,

sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi

dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện năng lực

Nội dung PPDH truyền thống

so sánh

Mô hình PPDH mới

Học là quá trình tiếp thu và lĩnh Học là quá trình kiến tạo; học sinh

hội, qua đó hình thành kiến thức, kĩ tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện

năng, thái độ và tình cảm.

tập, khai thác và xử lý thông tin,..tự

hình thành hiểu biết, năng lực và

phẩm chất.

Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền thụ và Tổ chức hoạt động nhận thức cho

chứng minh chân lý của giáo viên.

HS. Dạy học sinh cách tìm ra chân

lý.

Mục tiêu Chú trọng cung cấp tri thức, kỹ Chú trọng hình thành các năng lực

năng, kỹ xảo. Học để đối phó với (sáng tạo, hợp tác…) dạy phương

thi cử. Sau khi thi xong thì những pháp và kỹ thuật khoa học, dạy cách

điều đã học thường bị bỏ quên hoặc học. Học để đáp ứng những yêu cầu

ít dùng đến.

của cuộc sống hiện tại và tương lai.

Những điều đã học cần thiết,bổ ích

cho bản thân học sinh và cho phát

triển xã hội.

Nội dung Học từ sách giáo khoa và giáo viên. Từ nhiều nguồn khác nhau: sách

kiến thức

giáo khoa, giáo viên, các tài liệu

khoa học phù hợp, thí nghiệm, bảo

tàng, thực tế…gắn với vốn hiểu

biết, kinh nghiệm và nhu cầu của

học sinh, bối cảnh, môi trường địa

phương và vấn đề học sinh quan

tâm.

Phương

Các phương pháp diễn giảng, Các phương pháp tìm tòi, điều tra,

pháp

truyền thụ kiến thức một chiều.

giải quyết vấn đề, dạy hoc tương

tác.

Hình

Cố định: Giới hạn trong công thức Cơ động linh hoạt: Học ở lớp, ở

thức tổ 2+2+4 (Học sinh học từ giáo viên; phòng thí nghiệm, ở hiện trường,

chức

thiết bị dạy học là phấn – bảng và 4 trong thực tế; học cá nhân, học đôi

bức tường của lớp học, giáo viên bạn, học theo nhóm; cả lớp đối diện

đối diện với cả lớp)

với giáo viên.

Tóm lại, mục đích của việc dạy và học tích cực – đổi mới phương pháp

dạy học Lịch sử không phải là xóa bỏ mọi phương pháp truyền thống đã được

thừa nhận và sử dụng hiệu quả trước đó, thay thế hoàn toàn bằng các phương

pháp dạy học hiện đại, mà thay đổi cách sử dụng chúng theo hướng tích cực,

chủ động để nhằm phát triển ở người học năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết

vấn đề. Do đó, cần đề cao vai trò của người học: học bằng hoạt động, thông qua

hoạt động cảu chính người học, để chiếm lĩnh kiến thức, hình thành năng lực và

những phẩm chất của người lao động. Giáo viên giữ vai trò là người tổ chức,

hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt cho học sinh có thể thực hiện các hoạt

động học tập một cách hiệu quả.

1.2.4. Vai trò, ý nghĩa của việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho

học sinh trong dạy học lịch sử.

2. Cở sở thực tiễn

Trong những năm gần đây, việc dạy học nói chung và dạy học Lịch sử nói

riêng ở trường phổ thông đã có nhiều tiến bộ về nhận thức, nội dung, phương

pháp…góp phần thực hiện được mục tiêu đào tạo mà Đảng, Nhà nước và Bộ

Giáo dục và Đào tạo đưa ra. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn những yếu kém,

những sai sót.

Đánh giá thực trạng giáo dục Việt Nam, tài liệu chiến lược phát triển giáo

dục 2001-2010 (2002,tr 14) đã khẳng định: “Chương trình, giáo trình, phương

pháp giáo dục chậm đổi mới. Chương trình giáo dục còn nặng tính hàn lâm,

kinh viện, nặng về thi cử, chưa chú trọng đến tính sáng tạo, năng lực thực hành

và hướng nghiệp; chưa gắn bó chặt chẽ với thực tiễn phát triển kinh tế- xã hội

cũng như nhu cầu của người học; chưa gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa

học-công nghệ và triển khai ứng dụng”

Từ đánh giá trên chúng ta thấy, dạy học nói chung còn chú trọng những tri

thức khoa học chuyên môn, ít gắn với những ứng dụng thực tiễn, tâm lý học tập

đối phó với thi cử còn nặng nề. Phương pháp dạy học chiếm ưu thế là phương

pháp thông báo -tiếp nhận, giáo viên là trung tâm của quá trình dạy học, là

người truyền thụ tri thức mang tính áp đặt, hoạt động học tập của học sinh mang

tính thụ động. Việc dạy học ít gắn với cuộc sống và thực tiễn, vì thế đã hạn chế

sự phát triển toàn diện, tính tích cực sáng tao và năng động của học sinh. Các

vấn đề nêu trên là những vấn đề lớn cần khắc phục của giáo dục trong bối cảnh

tăng cường hội nhập quốc tế. Cần xây dựng một văn hóa học tập mới, khắc

phực nền văn hóa học tập nặng tính hàn lâm kinh viện, xa rời thực tiễn.

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẤẤN ĐỀỀ

Qua điều tra từ phía giáo viên và học sinh tại trường THPT Yên Phong số 2

nói riêng và một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, đề tài thu được

một số kết quả sau:

Phía giáo viên: Đa số các giáo viên ít sử dụng phương pháp graph trong quá

trình giảng dạy. Các giáo viên mới chỉ sử dụng những loại graph vốn có trong

sách giáo khoa. Các giáo viên chưa đầu tư thiết kế và sử dụng các loại graph

trong bài học lịch sử, vì vậy mà hiệu quả giảng dạy chưa cao.

Phía học sinh: Các em ít được tiếp cận với các loại graph trong học bộ môn

Lịch sử. Phần lớn các em chưa thể tự mình sử dụng các loại graph để có thể tiếp

thu kiến thức cũng như củng cố và ôn tập bài học. Trong các bài học có sử dụng

graph thì các em dễ tiếp thu, ghi nhận và khái quát được các kiến thức.

Tóm lại, đối với việc dạy học bô môn Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay

cũng tồn tại cả mặt tích cực và tiêu cực.

Về mặt tích cực, hầu hết chúng ta đều nhận thấy có rất nhiều giáo viên lịch

sử ở trường phổ thông là những người nghề, say sưa với công tác giảng dạy,lo

lắng đầu tư cho chuyên môn, tìm nhiều biện pháp để có giờ dạy tốt. Nhiều giáo

viên cũng cố gắng vượt qua khó khăn về cơ sở vật chất, sáng tạo các hình thức

dạy học, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, sử dụng công nghệ

thông tin nâng cao hiêu quả bài học…tạo hứng thú học tập, phát huy tính độc

lập nhận thức của học sinh.

Tuy vậy, nhìn chung phương pháp dạy học lịch sử vẫn chậm biến đổi và bức

tranh chung ấy là đi theo “lối mòn” của phương pháp dạy học lịch sử, tập trung

ở những điểm sau:

Thứ nhất, nhiều giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới

phương pháp dạy học lích sử và hướng đổi mới là phát huy tính tích cực, độc

lập nhận thức của học sinh trong học tập. Để thực hiện điều này, một số giáo

viên đã vận dụng kết hợp các phương pháp dạy học phù hợp với từng nội dung,

đối tượng học sinh.

Thứ hai, một số giáo viên nhận thức được điểm mấu chôt của đổi mới

phương pháp dạy học là phải thay đổi quan niệm cũ trước đây: chuyển từ vai trò

thầy làm trung tâm, sang trò là trung tâm của quá trình dạy học. Giáo viên là

người hướng dẫn, điều khiển quá trình nhận thức của học sinh… Muốn vậy, cần

CHƯƠNG III: XẤY DỰNG VÀ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP GRAPH TRONG

GIẢNG DẠY LỊCH SỬ THPT.

3.1. Các loại bài học lịch sử

Bài học là một hình thức quan trọng trong quá trình giáo dục, nó phong

phú, linh hoạt về nội dung khoa học và những yêu cầu cụ thể của thực tiễn giáo

dục. Dựa vào vị trí, cấu trúc, yêu cầu của bài học lịch sử và địa lí, có thể phân ra

các loại bài sau:

Các bài học lịch sử

Bài cung cấếp kiếến thức mới

Kiếến thức

Kĩ năng

Tư duy

Bài ốn tập, tổng kếết

Khái quát

Củng cốế

Bài kiểm tra, đánh giá chấết lượng học tập của h ọc sinh

Tổng hợp

Đánh giá sự tếếp thu kiếến thức

3.2. Các loại Graph lịch sử

Căn cứ vào chức năng của Graph trong các kiểu bài học lịch sử và mục

đích sử dụng, ta có các loại Graph sau:

Các loại Graph

Graph

minh họa kiếến thức

Graph thiếết lập quan hệ nhấn – quả

Graph hệ thốếng kiếến thức

3.2.1. Graph minh họa kiến thức

Ví dụ: Sơ đồ : Các tầng lớp trong xã hội Văn Lang (Nhà nước Văn Lang)

Vua Hùng

Lạc tướng

Lạc hấầu

Lạc dấn

Nố t

3.2.2. Graph thiết lập quan hệ nhân – quả

Ví dụ: Bài 8: Hoạt động sản xuất của người dân ở Tây Nguyên

Mở rộng diện tch

cấy cống nghiệp

Khai thác rừng bừa

bãi

Đốết rừng làm

nương rấẫy

3.2.3. Graph hệ thống kiến thức

Mối trường sốếng của con người

Ảnh hưởng xấếu

Ví dụ: Bài Trường học thời Hậu Lê

Trường học thời Hậu Lế

Những biện pháp

khuyếến khích học tập

Tổ chức giáo dục thời Hậu Lế

Khăếc tến tuổi

người đốẫ đạt

cao vào bia đá

dựng ở Văn

Miếếu

3.3. Cách lập Graph

Từ những nội dung minh họa ở trên, có thể thấy rằng, phương pháp dạy

học Graph có thể sử dụng cho toàn bộ nội dung bài học nhưng cũng có thể sử

dụng cho một phần bài học.

Mỗi bài học trong sách giáo khoa Lịch sử là sự phản ánh logic các đơn vị

kiến thức học sinh cần nắm vững. Dựa vào đó, GV dịnh ra số lượng các yếu tố

và mối quan hệ của chúng trong bài. Nội dung các bài trong phân môn Lịch sử

bao gồm những bài sau:

Các bài cung cấp kiến thức mới phần lịch sử:

– Tình hình kinh tế – chính trị, văn hóa – xã hội.

– Hoạt động của một số nhân vật lịch sử.

– Các cuộc khởi nghĩa (nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa)

– Các thành tựu về văn hóa – giáo dục.

Từ đây, tôi mạnh dạn đưa ra sơ đồ thiết lập Graph trong dạy học phân

môn này như sau:

3.3.1: Quy trình lập Graph

Quy trình lập Graph cho nội dung bài học cung cấếp kiếến

thức mới

1. Tìm hiểu nội

dung bài học

và xác định

kiếến thức cơ

bản

3. Săếp xếếp trật

tự tến gọi và

thiếết lập quan

hệ giữa các

thành phấần

4. Điếầu chỉnh

và hoàn thiện

Graph