Báo Cáo Dạy Học Mỹ Thuật Theo Phương Pháp Đan Mạch Mới Nhất

--- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Dạy Học Truyền Thống Và Dạy Học Phát Triển Năng Lực
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Cho Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Phương Pháp Dạy Học Mới: Mô Hình “lớp Học Đảo Ngược”
  • Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Ở Trường Phổ Thông
  • Phát Huy Tính Tích Cực Học Tập Của Người Học Thông Qua Kĩ Thuật “dạy Học Mảnh Ghép”
  • Dạy học Mỹ thuật theo phương pháp Đan Mạch giúp các em học sinh hình thành và phát huy được những năng lực:

    – Năng lực kỹ năng và kỹ thuật : T hông qua các hoạt động tập thể, các em s ẽ vẽ tranh cùng nhau, vẽ chân dung biểu đạt, vẽ theo nhạc, tạo hình từ vật tìm được, nặn hoặc uốn tạo dáng, xây dựng cốt truyện (xây dựng bối cảnh câu chuyện).

    – Năng lực phân tích và trình bày: Thông qua các hoạt động , các em sẽ được trình bày về tác phẩm của mình, tham gia giải thích, phân tích, nhận xét về nghệ thuật, kỹ thuật thể hiện trong tác phẩm.

    – Quy trình thứ 7: Tạo hình các con rối và tạo ra một buổi trình diễn ấn tượng , đây là q uy trình “Tạo hình con rối và nghệ thuật biểu diễn” .

    Nếu muốn mang phương pháp này vào giảng dạy hiệu quả các mầm non của đất nước, chúng ta cần lưu ý một số điều sau:

    – Nên t ạo không khí học tập thật sôi nổi, vui tươi , phát triển Mỹ thuật trở thành bộ môn gây hứng thú cho học sinh.

    – Nên để các em học sinh tự mình tìm hiểu, tiếp cận vấn đề nhằm phát huy triệt để tính sáng tạo của các em, tránh sự gò bó, bắt ép vào khuôn mẫu. Tuy thế có thể gợi ý cho các em nếu các em chưa hiểu vấn đề hoặc định hướng sai.

    – Tùy theo điều kiện, môi trường của khu vực, từng trường học, từng khối học,… mà các giáo viên sẽ có kế hoạch sắp xếp chương trình dạy phù hợp .

    – Thay vì chỉ cho các em tiếp cận vấn đề trên lý thuyết thì các giáo viên nên cho các em tiếp xúc trực tiếp bằng hình thức thực hành. Kết hợp hợp lý giữa lý thuyết với thực hành để tạo nên chất lượng giảng dạy hiệu quả.

    – Vì dạy học Mỹ thuật theo phương pháp Đan Mạch đề cao tính tư duy sáng tạo của học sinh, nên nhà trường cần tạo mọi điều kiện thuận lợi như: cơ sở vật chất, môi trường học tập, trang thiết bị, dụng cụ học tập,… để các em có một môi trường học tập ổn định, năng động và sáng tạo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Áp Dụng Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Chương “liên Kết Hóa Học” Hóa Học Lớp 10 Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • 5. Phương Pháp Dạy Học Hợp Tác Trong Nhóm Nhỏ
  • Phương Pháp Dạy Học Hợp Tác: Tăng Tính Chủ Động Tích Cực Của Người Học
  • Tập Huấn Phương Pháp Dạy Học Theo Hợp Đồng
  • Phương Pháp Dạy Học Hiệu Quả
  • Báo Cáo Dạy Học Mỹ Thuật Theo Phương Pháp Đan Mạch Mới Nhất – Vietnam Embassy In Copenhagen, Denmark

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Cần Biết Về Mô Hình Trường Học Mới Vnen Tại Nước Ta
  • Hướng Dẫn Sinh Viên Vận Dụng Mô Hình Vnen Trong Dạy Toán Ở Tiểu Học
  • Phát Triển Năng Lực Kể Chuyện Cho Giáo Viên Tiểu Học
  • Phương Pháp Dạy Học Kiến Tạo Kết Hợp Ứng Dụng Công Nghệ Đạt Hiệu Quả Trong Dạy Học Tích Hợp
  • Dạy Học Theo Hướng Kiến Tạo
  • 1. Báo cáo d

    ạy học Mỹ thuật theo phương pháp Đan Mạch là gì?

    2. 

    Mục tiêu dạy học Mỹ thuật theo phương pháp Đan Mạch là gì?

    Dạy học Mỹ thuật theo phương pháp Đan Mạch giúp các em học sinh hình thành và phát huy được những năng lực:

    – Năng lực kỹ năng và kỹ thuật: Thông qua các hoạt động tập thể, các em sẽ vẽ tranh cùng nhau, vẽ chân dung biểu đạt, vẽ theo nhạc, tạo hình từ vật tìm được, nặn hoặc uốn tạo dáng, xây dựng cốt truyện (xây dựng bối cảnh câu chuyện).

    – Năng lực biểu đạt: Các em học sinh sẽ vận dụng ngôn ngữ mỹ thuật để biểu đạt lại sự trải nghiệm và thái độ của bản thân.

    – Năng lực phân tích và trình bày: Thông qua các hoạt động, các em sẽ được trình bày về tác phẩm của mình, tham gia giải thích, phân tích, nhận xét về nghệ thuật, kỹ thuật thể hiện trong tác phẩm.

    3. 

    Các quy trình dạy học Mỹ thuật theo phương pháp Đan Mạch

    – Quy trình thứ 1: Vẽ ký họa dáng (người/vật) là quy trình vẽ cùng nhau và sáng tạo các câu chuyện.

    – Quy trình thứ 2: Vẽ theo mẫu (chân dung/vật) là quy trình vẽ biểu cảm.

    – Quy trình thứ 3: Vẽ trang trí (làm bìa sách, bưu thiếp, thiệp mời,…) là quy trình trang trí và vẽ tranh qua âm nhạc.

    – Quy trình thứ 7: Tạo hình các con rối và tạo ra một buổi trình diễn ấn tượng, đây là quy trình “Tạo hình con rối và nghệ thuật biểu diễn”.

    4. 

    Một số lưu ý để đạt hiệu quả khi dạy học Mỹ thuật theo phương pháp Đan Mạch

    Nếu muốn mang phương pháp này vào giảng dạy hiệu quả các mầm non của đất nước, chúng ta cần lưu ý một số điều sau:

    – Nên tạo không khí học tập thật sôi nổi, vui tươi, phát triển Mỹ thuật trở thành bộ môn gây hứng thú cho học sinh.

    – Nên để các em học sinh tự mình tìm hiểu, tiếp cận vấn đề nhằm phát huy triệt để tính sáng tạo của các em, tránh sự gò bó, bắt ép vào khuôn mẫu. Tuy thế có thể gợi ý cho các em nếu các em chưa hiểu vấn đề hoặc định hướng sai.

    – Tùy theo điều kiện, môi trường của khu vực, từng trường học, từng khối học,… mà các giáo viên sẽ có kế hoạch sắp xếp chương trình dạy phù hợp.

    – Thay vì chỉ cho các em tiếp cận vấn đề trên lý thuyết thì các giáo viên nên cho các em tiếp xúc trực tiếp bằng hình thức thực hành. Kết hợp hợp lý giữa lý thuyết với thực hành để tạo nên chất lượng giảng dạy hiệu quả. 

    – Vì dạy học Mỹ thuật theo phương pháp Đan Mạch đề cao tính tư duy sáng tạo của học sinh, nên nhà trường cần tạo mọi điều kiện thuận lợi như: cơ sở vật chất, môi trường học tập, trang thiết bị, dụng cụ học tập,… để các em có một môi trường học tập ổn định, năng động và sáng tạo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Áp Dụng Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Chương “Liên Kết Hóa Học” Hóa Học Lớp 10 Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • Sự Khác Biệt Giữa Các Phương Pháp Dạy Học Truyền Thống Và Hiện Đại
  • Sử Dụng Phương Pháp Graph Trong Dạy Học Kiến Thức Lịch Sử Học Phần Cơ Sở Tự Nhiên – Xã Hội Ở Trường Cao Đẳng Sư Phạm Lạng Sơn
  • Một Số Biện Pháp Rèn Kỹ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 5
  • Hướng Dẫn 8 Cách Học Toán Lớp 4 Hiệu Quả
  • Một Số Phương Pháp Dạy Mĩ Thuật Bậc Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Sử Dụng Phương Pháp Minh Hoạ Trực Quan Giúp Học Sinh Thực Hành Tốt Bài Vẽ Mĩ Thuật
  • Các Phương Pháp Thu Thập Phân Tích Công Việc
  • Nghiên Cứu Thị Trường Một Cách Thấu Đáo (P1)
  • Các Bước Và Quy Trình Nghiệm Thu Công Trình
  • Quy Trình Giám Sát, Nghiệm Thu Khi Xây Nhà
  • Phương pháp này rất tối ưu mà lâu nay trong nhà trường chỉ chú trọng trong các môn tự nhiên xã hội, sức khỏe, đạo đức…

     

    Phương pháp này thường sử dụng nhận xét phát thảo chọn họa tiết ước lượng, sáng tối đậm nhạt.

    b. Phương pháp quan sát:

    Nhằm tập cho các em thói quen quan sát làm giàu vốn biểu tượng kinh nghiệm sống của các em đó là tiền đề của tranh đề tài, tranh tự do được phong phú đa dạng và sinh động từ những yêu cầu thường xuyên giúp các em có thói quen quan sát hình thành trong trí nhớ vốn kiến thức giúp học sinh nhìn thấy cái hiện thực trong thiên nhiên, trong xã hội sau đó thể hiện chung trong bài vẽ của mình mang vẻ độc đáo riêng biệt.

    Phương pháp này có thể tổ chức cho lớp tham quan, dã ngoại, ngắm cảnh (nếu có điều kiện thì đưa hoạt động này vào những tiết ngoại khóa)

    c. Phương pháp trực quan:

    Trong tiết dạy phương pháp trực quan là phương pháp thường xuyên, là nghệ thuật thị giác giúp các em cảm thụ cái đẹp bằng mắt. Do đó người dạy mỹ thuật không thể thiếu đồ dùng trực quan. Có thể là tranh ảnh mẫu thực hoặc đồ vật thật.

    Chính vì vậy mà phương pháp quan sát và phương pháp trực quan là hành trình song song luôn hỗ trợ cho nhau giúp các em bồi dưỡng thêm vốn thẩm mỹ. 

    d. Phương pháp đàm thoại gợi mở:

    Giáo viên sử dụng phương pháp này một cách khéo léo thì sẽ tạo cho các em sự đam mê hứng thú và sáng tạo. Hướng các em phối hợp hành động bên ngoài và hành động bên trong chặt chẽ với nhau. Giúp các em thể hiện được bài vẽ và khả năng sáng tạo trong mọi tình huống

    e. Phương pháp luyện tập thực hành:

    Bất cứ bài vẽ nào thì phương pháp này đều được áp dụng sau khi đã nắm được các kiến thức một cách cụ thể về lý thuyết thì sẽ vận dụng và thể hiện bằng kỹ năng của mình qua bước thực hành. Nếu nắm lý thuyết mà không thực hành thì không biết kết quả đạt được của mình tới đâu. Ta biết rằng môn mỹ thuật ở tiểu học nói riêng và ở phổ thông nói chung không phải nhằm tạo cho các em trở thành họa sĩ mà giúp các em nắm được kỹ năng kỹ xảo thể hiện qua bức vẽ giáo viên luôn giúp đỡ các em trong bài thực hành.

    Nhằm để các em thể hiện hết khả năng tình cảm của mình vào bức vẽ sinh động sáng tạo hơn.

    Phương pháp này đều được áp dụng trong mỗi tiết học(trừ xem tranh)từ vẽ theo mẫu đến vẽ tranh hoặc vẽ trang trí  thì phương pháp thực hành được áp dụng chủ yếu. Đó là thông tin hai chiều mà ta có thể nói là thông tin ngược vì nó giúp cho người học thể hiện tài năng và sự tiếp thu của mình trong quá trình học. Người dạy cũng từ đó mà rút kinh nghiệm về bài dạy có hiệu quả hơn qua quá trình đánh giá chấm bài của các em.

    Tác giả: admin

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sử Dụng Phương Pháp Quan Sát Giảng Dạy Môn Khoa Học Lớp 5”.
  • Phương Pháp Tránh Thai Tự Nhiên Symptothermal
  • Các Quy Tắc Của Phương Pháp Xã Hội Học
  • Hệ Thống Phần Mềm Giám Sát Nhân Viên Bán Hàng Dms.one
  • Quản Lý Kênh Phân Phối Hiệu Quả
  • Skkn Sứ Dụng Phương Pháp Trực Quan Khi Giảng Dạy Môn Mĩ Thuật Trong Trường Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Sử Dụng Đồ Dùng Trực Quan Trong Môn Học Mĩ Thuật Theo Phương Pháp Mới Ở Tiểu Học Đạt Hiệu Quả
  • Các Phương Pháp Và Kỹ Thuật Đánh Giá
  • Chương 5: Phương Pháp Tâm Lý Học
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Tâm Lý
  • Di Truyen Y Học Ebook Byt
  • SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    ĐỀ TÀI:

    “SỨ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN KHI GIẢNG DẠY

    MÔN MĨ THUẬT TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC”

    A – PHẦN MỞ ĐẦU

    I. Lịch sử nghiên cứu đề tài.

    Trước khi nghiên cứu và viết đề tài: ” Kinh nghiệm sử dụng phương pháp trực

    quan khi dạy học môn Mĩ thuật trong trường Tiểu học”, tôi đã có 12 năm giảng dạy

    thực tế ở trường tiểu học Hồng Châu và hằng năm tôi cũng viết sáng kiến kinh nghiệm

    với nhiều đề tài khác nhau cho môn dạy của mình. Song, đây là đề tài lần đầu tiên tôi

    nghiên cứu ở phạm vi rộng, xuyên suốt chương trình môn Mĩ thuật bậc tiểu học với năm

    phân môn: Vẽ theo mẫu; Vẽ đề tài; Vẽ trang trí; Tập nặn tạo dáng và Thường thức Mĩ

    thuật. Đồng nghiệp của tôi ở Thành phố Hưng Yên nói riêng và ở trong tỉnh nói chung

    cũng đã nghiên cứu về phương pháp trực quan khi giảng dạy môn Mĩ thuật nhưng mới

    chỉ áp dụng cho từng phân môn nhỏ của bộ môn Mĩ thuật, như đề tài: ” Để sử dụng hiệu

    quả phương pháp trực quan khi dạy phân môn vẽ theo mẫu lớp 5″ của cô giáo Nguyễn

    Thị Thanh Huyền giáo viên trường Tiểu học Bảo Khê năm học 2010-2011; hay đề tài: ”

    Để sử dụng phương pháp trực quan trong giảng dạy phân môn thường thức Mĩ thuật tiểu

    học đạt kết quả tốt nhất.” của thày giáo Hứa Việt Hùng – giáo viên trường Tiểu học Minh

    Khai năm học 2009-2010… Tôi đã áp dụng những đề tài trên vào giảng dạy và thấy có

    hiệu quả rõ rệt, từ đó tôi đã vận dụng kinh nghiệm của mình để tiếp tục nghiên cứu

    phương pháp trực quan ở các phân môn còn lại.

    Đứng trước tình hình mới của đất nước ta đang từng ngày, từng giờ đổi mới và phát

    triển mạnh mẽ đặc biệt là trong cuộc sống công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Đòi hỏi xã hội

    phải có những thế hệ người lao động mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, có trình độ nhận

    thức cao. Để đáp ứng nhu cầu cấp bách đó của xã hội thì việc giáo dục con người phát

    triển toàn diện trên 5 mặt: ” Đức – trí – lao – thể – mĩ” là mục tiêu hàng đầu. Trong đó Mĩ

    thuật đóng một vai trò không nhỏ trong sự nghiệp lớn lao ấy – Sự nghiệp giáo dục.

    Con người sống giữa thiên nhiên “đầy ắp” ngôn ngữ tạo hình, đường nét, hình khối,

    màu sắc của cỏ cây, hoa lá, mây trời, muôn thú tất cả đều lung linh, đẹp đẽ. Chúng không

    chỉ cho ta vật chất để sống mà từ cái đẹp đó đã đem lại cho con người những xúc cảm,

    tình cảm yêu đời, yêu người.

    Cuộc sống ngày càng phát triển thì nhu cầu thưởng thức cái đẹp sẽ không ngừng

    được nâng cao, cái đẹp đã thực sự trở thành một động lực phát triển của xã hội, góp phần

    tăng trưởng nền kinh tế quốc dân. Cảm thụ cái đẹp để sống đẹp là mục tiêu của giáo dục,

    lấy những cái đẹp để giáo dục con người, như vậy: “Cái đẹp là cái đức”.

    Với nhiều lợi thế, môn Mĩ thuật sẽ tạo điều kiện cho học sinh học có hiệu quả hơn

    các môn học khác, thể hiện ở khả năng quan sát, nhận xét, cách suy nghĩ, tìm tòi, sáng

    tạo, tư duy hình tượng và phương pháp làm việc khoa học sẽ góp phần hình thành phẩm

    chất của con người lao động trong thời kì CNH, HĐH đất nước.

    II. Lý do chọn đề tài.

    Hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học vẫn là một vấn đề được nhiều nhà

    nghiên cứu giáo dục quan tâm bàn bạc thống nhất. Cụ thể biện pháp nhằm cải tiến

    phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá quá trình dạy học, tăng cường khả năng tư

    duy của học sinh ở quá trình lĩnh hội tri thức, phát huy tính độc lập, tính tích cực của học

    sinh được làm việc dưới nhiều hình thức và có được hứng thú trong giờ học. Một trong

    những phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực của học sinh, tính độc lập sáng

    tạo, độc lập tư duy là biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan. Việc giảng dạy môn Mĩ thuật

    ở trường tiểu học cũng như những môn học khác, đồ dùng trực quan đóng một vai trò

    quan trọng trong giờ giảng. Bởi vì đồ dùng trực quan khi sử dụng có hiệu quả trong tiết

    giảng sẽ giúp học sinh tìm hiểu, so sánh, nhận xét, phán đoán và ghi nhận sự vật dể dàng

    hiểu sự vật qua con mắt quan sát bằng nét vẽ, hình vẽ, màu sắc một cách nhanh chóng,

    nhớ sự vật lâu hơn.

    Vì thế mà tôi muốn đề cập đến phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong giảng dạy

    môn Mĩ thuật ở tiểu học, sao cho bài giảng đạt kết quả cao nhất từ đồ dùng trực quan và

    mạnh dạn xây dựng đề tài sáng kiến kinh nghiệm:

    ” Kinh nghiệm sử dụng phương pháp trực quan khi dạy học môn Mĩ thuật

    trong trường Tiểu học”.

    III. Mục đích nghiên cứu.

    Tôi suy nghĩ, nghiên cứu để viết đề tài: ” Kinh nghiệm sử dụng phương pháp

    trực quan khi giảng dạy môn Mĩ thuật trong trường Tiểu học” với mục tiêu tìm ra một

    số giải pháp tốt nhất góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Mĩ thuật của

    trường Tiểu học Hồng Châu – Thành phố Hưng Yên nói riêng và của ngành giáo dục nói

    chung; đó là mục đích để tôi nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm này.

    IV. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.

    1. Đối tượng nghiên cứu.

    – Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học môn mĩ thuật ở trường

    Tiểu học.

    2. Phạm vi nghiên cứu.

    – Học sinh từ khối lớp 1 đến khối lớp 5 Trường tiểu học Hồng Châu – Thành phố

    Hưng Yên và một số trường khác ở địa phương.

    + Trong trường :

    – Phân loại học lực của tất cả các học sinh.

    – Tìm hiểu thái độ học tập của học sinh.

    + Trường khác :

    – Tìm hiểu việc giảng dạy Mĩ thuật ở trường Tiểu học.

    – Kết quả hoạt động qua một số năm.

    V. Phương pháp nghiên cứu.

    a) Phương pháp nghiên cứu tài liệu :

    Nghiên cứu qua các văn bản, chương trình, giáo trình, tài liệu sách báo về phương

    pháp dạy học môn Mĩ thuật.

    b) Phương pháp nghiên cứu thực tiễn :

    – Điều tra phỏng vấn tình hình học sinh.

    – Dự chuyên đề trao đổi, dự giờ, rút kinh nghiệm về phương pháp giảng dạy môn

    Mĩ thuật.

    – Thực hành giảng dạy theo phương pháp mới.

    – Tìm giải pháp rút kinh nghiệm.

    – Cho HS hoạt động ngoài trời, thăm quan, toạ đàm.

    – Phương pháp thực nghiệm: dạy thí điểm ở một số lớp bằng phương pháp đang

    nghiên cứu.

    B- NỘI DUNG

    CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN.

    Dạy học môn Mĩ thuật trong nhà trường Phổ thông nói chung và ở Tiểu học nói

    riêng không nhằm mục đích đào tạo học sinh thành những hoạ sĩ hay những nhà nghiên

    cứu nghệ thuật chuyên nghiệp, mà là để giáo dục cho các em một thị hiếu thẩm mĩ cần

    thiết cho việc hình thành và phát triển một nhân cách toàn diện, hài hoà: đó là khả năng

    biết cảm nhận cái đẹp và tạo ra cái đẹp – trước hết là cho chính các em, sau là cho gia

    đình và xã hội. Bên cạnh đó môn Mĩ thuật còn hỗ trợ các em ở các môn học khác, giúp

    các em phát triển toàn hiện, lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng

    cơ bản góp phần hình thành con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Trong xã hội phát triển nhu cầu thẩm mĩ ngày càng cao, do vậy việc đào tạo con

    người biết nhận thức, cảm thụ cái đẹp ngày càng quan trọng. Những năm qua giáo dục

    thẩm mĩ đã trở thành môn học trong chương trình giáo dục phổ thông, là một môn học

    độc lập, môn Mĩ thuật có mục tiêu chương trình sách giáo khoa, sách hướng dẫn, thiết bị

    riêng cho dạy và học, giáo viên được đào tạo, kết quả học tập của học sinh được theo dõi

    và kiểm tra, đánh giá một cách nghiêm túc. Việc giảng dạy môn Mĩ thuật đảm bảo cho

    các em có thể giải quyết được các bài tập hàng ngày và hiểu về vẻ đẹp, về nền Mĩ thuật

    truyền thống, ngoài ra nó còn tạo điều kiện cho học sinh học có hiệu quả cao hơn các

    môn học khác như khả năng quan sát hay trình bày một bài văn, một bài toán sao cho

    khoa học, thẩm mĩ…. Tất cả những điều đó là từ phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học

    mỗi khi lên lớp của giáo viên dạy Mĩ thuật. Hơn nữa, lứa tuổi học sinh tiểu học lại là lứa

    tuổi tư duy còn đang ở độ thấp (tư duy cụ thể), cho nên khi sử dụng đồ dùng trực quan thì

    đồ dùng phải sinh động, phải cụ thể để học sinh có được khả năng tự giác tư duy trừu

    tượng qua tay sờ, mắt thấy, tai nghe và có được hứng thú học tập, hiểu vấn đề nhanh, nhớ

    đồ dùng trực quan lâu trong khi vận dụng làm bài thực hành.

    Chính vì thế khi nói đến phương pháp sử dụng trực quan trong môn Mĩ thuật là ta

    phải nghĩ ngay đến một vấn đề có ý nghĩa quan trọng, vấn đề đưa lên hàng đầu trong các

    phương pháp giảng dạy Mĩ thuật ở tiểu học. Song, bên cạnh đó các phương pháp khác

    như: phương pháp quan sát, phương pháp thực hành, phương pháp trò chơi… phải luôn

    được kết hợp hài hoà, khoa học với phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học để mỗi giờ

    dạy học môn Mĩ thuật đạt chất lượng cao nhất.

    Đối với học sinh, vẽ là một trò chơi có sức hấp dẫn kì lạ ở mọi lứa tuổi. Các em có

    thể vẽ bất cứ lúc nào và vẽ bất cứ thứ gì. Những hình vẽ đầy sáng tạo của các em làm

    chúng ta từ ngạc nhiên đến cảm động, từ vui mừng đến hy vọng. Tuy nhiên, không phải

    em nào cũng thích vẽ, cũng mơ ước trở thành hoạ sĩ. Cho nên ngoài những phẩm chất Mĩ

    thuật vốn là mẫu số chung của mọi tác phẩm, để cảm thụ vẻ đẹp của tranh các em cần đặt

    chúng vào trong hoạt động tâm lý trẻ – quá trình phát triển của lứa tuổi, cá tính, giới tính.

    Thiếu nhi là lứa tuổi ham thích hoạt động, nhất là hoạt động tạo hình cùng với sự

    lớn lên của cơ thể, đặc điểm tâm lý trẻ bắt đầu hoàn thiện. Một số học sinh có nhu cầu

    thưởng thức các tác phẩm hội hoạ, điêu khắc, các công trình kiến trúc… Trong quá trình

    tìm hiểu, quan sát thiên nhiên, các em dần có ý thức về xa – gần, về không gian ba chiều.

    Đây chính là giai đoạn miêu tả tạo hình của một đối tượng. Nhờ thâm nhập vào đời sống

    xã hội, đời sống tinh thần của thiếu nhi, tôi nhận thấy ở lứa tuổi này, các hình ảnh trong

    tranh các em rất gần với bản chất thực của cuộc sống. Thời kì này đối với các em là một

    bước ngoặt trong sự phát triển nhân cách. Vì vậy trong đội ngũ các em học Mĩ thuật đã có

    sự phân hoá rõ rệt, các em vẽ hiện thực có so sánh, gần gũi với bản chất sự vật và bản

    chất cuộc sống. Các bài học thực hành không còn sơ lược nữa mà đi vào chi tiết, hình

    dáng, tỉ lệ, không gian ba chiều. Để có kết luận chặt chẽ, chính xác quá trình chuyển biến

    đó, để năng khiếu sơ khai phát triển thành năng khiếu hoàn thiện thì phải tổ chức dạy và

    học làm sao cho phù hợp với quy luật tâm lý của học sinh để duy trì và kích thích sự phát

    triển ở học sinh góp phần cho việc dạy và học môn Mĩ thuật ở trường Tiểu học hiệu quả

    hơn.

    Bên cạnh hiểu biết về tạo hình truyền thống, học sinh còn được mở rộng tầm nhìn

    ra Thế giới, các em được làm quen với các tác phẩm kiệt tác của các danh hoạ thế giới

    qua các thời kì lịch sử, các em được học vẽ từ những nét cơ bản nhất đến khi biết tạo ra

    sản phẩm của cái đẹp. Từ đó, các em càng nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của môn Mĩ

    thuật đối với cuộc sống và phục vụ các môn học khác. Các em sẽ thấy quý trọng các giá

    trị truyền thống của dân tộc. Để làm được điều này đòi hỏi giáo viên phải có phương

    pháp sử dụng đồ dùng trực quan và phối hợp với học sinh một cách nhịp nhàng trong

    khi lên lớp, nhằm giúp học sinh từng bước nâng cao nhận thức làm cho tâm hồn các em

    trở nên phong phú, phát triển toàn diện nhân cách. Từ đó, bản thân tôi đã chọn nghiên

    cứu đề tài này.

    CHƯƠNG II – CƠ SỞ THỰC TIỄN

    Từ thực tế giảng dạy môn Mĩ thuật tôi thấy các em rất yêu thích Mĩ thuật, vì qua

    đó các được tiếp xúc, làm quen với một số tác phẩm hội hoạ nổi tiếng và của thiếu nhi

    không những ở trong nước mà cả của quốc tế. Các em được vẽ tranh, vẽ những gì mình

    mơ ước, mình yêu thích, tập trung trang trí góc học tập của mình,… Song bên cạnh việc

    giảng dạy cho học sinh tiếp thu tốt những kiến thức cơ bản đó thì tôi thấy còn gặp nhiều

    hạn chế như: nhận thức của phụ huynh học sinh chưa coi trọng môn học, còn cho rằng đó

    là môn phụ, cho nên đồ dùng học sinh còn thiếu thốn, ít đầu tư. Mặt khác một số giáo

    viên chưa có phương pháp dạy thích hợp để giúp học sinh thấy hết cái hay, cái đẹp của

    môn học, cơ sở vật chất của nhà trường còn thiếu thốn, tuy đã có phòng chức năng nhưng

    chỉ tạm thời. Vì phòng học chưa có đủ đồ dùng cần thiết để phục vụ môn học, bàn ghế

    – 99% học sinh thích học môn mĩ thuật, 1% không thích học do không có năng khiếu.

    – Học sinh vùng cận nông thôn hầu hết ít được tiếp xúc với Nghệ thuật nói chung và

    Mĩ thuật nói riêng nên còn hạn chế. Đặc biệt kiến thức để các em tìm hiểu cái đẹp, cái

    hay trong môn mĩ thuật lại chủ yếu dựa vào nguồn tư liệu duy nhất đó là SGK và vở tập

    vẽ.

    – Quan điểm của một số phụ huynh học sinh trong trường chưa có cái nhìn tích cực về

    môn Mĩ thuật nên dẫn đến việc một số học sinh chưa có đầy đủ đồ dùng .

    CHƯƠNG III – THỰC TRẠNG

    Trong những năm học vừa qua, tôi được phân công giảng dạy môn Mĩ thuật tại

    trường Tiểu học Hồng Châu, tôi thấy hầu hết các em đều thích học vẽ, các em học tập với

    tinh thần hăng say, cảm nhận được cái hay, cái đẹp được thể hiện từ nội dung và hình

    thức mỗi khi các em vẽ một bức tranh hay một bài tập thực hành. Bên cạnh đó còn một số

    học sinh nhút nhát, rụt rè chưa mạnh dạn nói lên những suy nghĩ của mình, một số em

    còn chán nản không thích học vẽ. Tất cả những vấn đề trên đã ảnh hưởng lớn đến việc

    học Mĩ thuật của học sinh nên tôi đã tiến hành điều tra ở một số lớp để tìm ra nguyên

    nhân những HS thích học vẽ và không thích học vẽ, từ đó tìm ra biện pháp khắc phục.

    Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học còn nhỏ, sự tập trung chưa cao, nhận

    thức của các em mới là làm quen với những kiến thức ban đầu, kĩ năng vận dụng kiến

    thức vào thực hành còn yếu chưa chú ý đến vai trò của các bước thực hành khi vẽ tranh.

    Giờ học vẽ còn trầm, học sinh vẽ bài uể oải, chán nản, tiết học đạt hiệu quả không cao,

    nhiều học sinh không hoàn thành bài tại lớp. Đó là một số nguyên nhân dẫn đến tiết dạy

    chưa thành công. Muốn khắc phục được điều đó, giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ

    chương trình để có kế hoạch hướng dẫn cho học sinh. Không hướng dẫn chung chung với

    tất cả học sinh, cần có phương pháp riêng đối với từng đối tượng học sinh. Tổ chức tiết

    dạy sinh động, học sinh hứng thú làm bài đạt hiệu quả.

    Vì thế mà tôi muốn đề cập đến phương pháp sử dụng trực quan trong giảng dạy

    môn Mĩ thuật ở tiểu học sao cho bài giảng đạt kết quả cao nhất.

    Số học sinh thích

    Lớp

    Sĩ số

    học

    Số học sinh không

    thích học môn Mĩ

    thuật

    TS

    %

    TS

    %

    1B

    29

    20

    68,9

    9

    31

    2A

    36

    26

    72,2

    10

    27,7

    3B

    21

    17

    80,9

    4

    19

    4A

    29

    22

    75,8

    7

    24,1

    5B

    18

    14

    77,7

    4

    22,2

    Ghi chú

    CHƯƠNG IV – GIẢI PHÁP

    Theo mục đích, yêu cầu mỗi bài giảng thì phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan

    luôn được vận dụng trong việc giảng dạy Mĩ thuật ở tiểu học vì nó phù hợp với đặc điểm

    của môn học và phù hợp với đặc điểm tri giác của học sinh.

    Phương pháp trực quan đối với môn Mĩ thuật có những yêu cầu cụ thể như: Yêu

    cầu về chuẩn bị đồ dùng trực quan và sử dụng đồ dùng trực quan. Vậy khi nói đến việc

    chuẩn bị đồ dùng trực quan ta phải nghĩ đến nhiệm vụ của môn Mĩ thuật, ngoài việc cung

    cấp những tri thức bộ môn và rèn kỹ năng nó còn nhiệm vụ giáo dục thẩm mĩ cho học

    sinh. Do đó đồ dùng giảng dạy đưa ra cho học sinh học tập ngoài yêu cầu là đối tượng

    cho học sinh quan sát, phù hợp với nội dung bài giảng, còn có yêu cầu là phải đẹp để thu

    hút sự chú ý của học sinh, tạo nên không khí nghệ thuật trong giờ học. Làm cho các em

    học sinh yêu thích vật mẫu, bởi vẻ đẹp về hình dáng, màu sắc của mẫu, làm phấn chấn

    tinh thần học tập của các em. Điều đó góp phần không nhỏ vào việc giáo dục thẩm mĩ

    cho học sinh. Vì thế đồ dùng học tập môn Mĩ thuật không thể tuỳ tiện phải cần có sự

    chuẩn bị chu đáo trước theo yêu cầu của bài giảng. Mẫu vẽ to rõ ràng để học sinh nhìn rõ

    màu sắc, đường nét phải tươi vui, sáng sủa. Khi đồ dùng trực quan đã được chuẩn bị đầy

    đủ, thì tuỳ thuộc vào đặc điểm của mỗi hình thức mĩ thuật mà có những yêu cầu về trình

    bày trực quan, để làm sao phát huy được khả năng tư duy khai thác kiến thức triệt để ở

    mỗi học sinh.

    Từ những tình hình chung đó và kết hợp với tình hình thực tế tôi nhận thấy việc sử

    dụng đồ dùng trực quan mỗi giáo viên vẫn còn sự hạn chế khác nhau. Mà cụ thể được thể

    hiện ở chất lượng bài tập của các em chưa cao. Khả năng tư duy hiểu bài, nhớ bài thông

    qua đồ dùng trực quan là rất thấp. Thậm chí có em quan sát đồ dùng trực quan nhưng

    không hiểu hết tác dụng của đồ dùng đó, vì thế hiệu quả của bài vẽ không cao. Để khắc

    phục tình trạng này tôi đưa ra một số vấn đề từ thực tế cần giải quyết, nhằm mục đích

    giúp giáo viên sử dụng đồ dùng trực quan có hiệu quả để cho các em học sinh biết tự khai

    thác nội dung bài giảng từ trực quan.

    Nói tóm lại, khi sử dụng đồ dùng trực quan mà đồ dùng trực quan không đủ với

    yêu cầu bài giảng hay không đúng với mục đích bài giảng hoặc đồ dùng sử dụng không

    phù hợp với trình tự giảng, thời gian sử dụng ngắn quá, nhiều đồ dùng quá trong một tiết

    dạy đều không đem lại không khí nghệ thuật trong giờ học mà còn có tác dụng tiêu cực

    đến khả năng quan sát, phân tích đồ dùng của học sinh.

    Việc sử dụng đồ dùng trực quan trong giờ giảng Mĩ thuật là việc làm ban đầu, việc

    làm không thể thiếu đối với người giáo viên chuyên mĩ thuật khi đứng trên bục giảng. Nó

    là đặc thù của bộ môn vì thế giáo viên cần phải hết sức quan tâm chú trọng đến sự chuẩn

    bị đồ dùng trước giờ lên lớp sao cho thật chu đáo, thật đầy đủ và sát với yêu cầu, mục

    đích bài soạn. Ngoài ra, đồ dùng được chuẩn bị phải có tính thẩm mĩ, phải có cái hồn của

    sự vật. Và giáo viên chíng là người thổi hồn vào những sự vật ấy rồi chuyển tải đến học

    sinh. Có như vậy thì đồ dùng trực quan khi được đưa ra mới phát huy tác dụng và có sức

    thuyết phục đối với học sinh.

    Giáo viên phải tạo cho lớp học một không khí nghệ thuật bằng kiến thức có ở đồ

    dùng trực quan để học sinh thực hành tốt.

    * Phương pháp so sánh :

    + Tổng số học sinh : 256 học sinh trước chưa thực hiện giải pháp kết quả đạt : A + =

    20%; A = 80%.

    + Thay đổi giải pháp kết quả đạt : A+ = 40%; A = 60%

    + Chỉ tiêu giao : A+ = 35%; A = 65%

    Vậy vượt chỉ tiêu : A+ = 10%;

    A = 15%

    Tôi tự thấy thay đổi giải pháp dạy môn Mĩ thuật ở trường Tiểu học Hồng Châu theo

    cách của tôi đã nghiên cứu là phù hợp.

    *Các bước tiến hành:

    Bước 1: Giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung bài giảng, phải có giáo án chi tiết

    trước khi lên lớp, phải tìm phương pháp truyền đạt nhanh nhất, ngắn nhất từ trực quan.

    Bởi đồ dùng trực quan nó phù hợp với đặc điểm môn học, phù hợp với đặc điểm tri giác

    của học sinh (tri giác bằng trực quan cụ thể)

    Bước 2: Chuẩn bị đồ dùng trực quan phù hợp với các tiến trình giảng trong mục

    đích yêu cầu bài soạn. Đồ dùng gồm mẫu vẽ như đồ vật, dụng cụ sinh hoạt, hoa quả, hình

    khối…Tranh, ảnh như các phiên bản tranh của họa sĩ, minh hoạ các bước thực hiện bài vẽ,

    …. Tất cả phải đáp ứng yêu cầu thẩm mĩ, đúng trọng tâm.

    Bước 3: Sử dụng trực quan để có hiệu quả thì khi sử dụng đồ dùng trực quan trong

    một tiết học vẽ giáo viên cần lấy mẫu , tranh ảnh làm trung tâm, lấy mẫu, tranh ảnh thay

    tiếng giảng giải, thuyết trình của cô. Cô chỉ gợi mở để học sinh tự tư duy, khám phá, khai

    thác kiến thức từ mẫu. Có như vậy phương pháp trực quan mới được khai thác triệt để,

    kết quả bài học mới đạt chất lượng cao. Giờ học có không khí nghệ thuật sôi nổi hơn.

    Qua đó ta thấy phương pháp trực quan sử dụng ở phần quan sát, nhận xét sẽ phát

    huy được tác dụng tốt, học sinh hiểu bài một cách dễ dàng, nhanh, độc lập và hiểu sâu.

    Giáo viên thì làm việc ít, không phải vất vả mà vẫn gây được hứng thú học tập ở các em.

    * Kết quả thực hiện các giải pháp :

    Số học sinh thích

    Lớp

    Sĩ số

    học

    Số học sinh không

    thích học môn Mĩ

    thuật

    TS

    %

    TS

    %

    1B

    29

    29

    100

    0

    0

    2A

    36

    36

    100

    0

    0

    3B

    21

    21

    100

    0

    0

    4A

    29

    29

    100

    0

    0

    5B

    18

    18

    100

    0

    0

    Ghi chú

    Kết quả cuối năm 100% các em học sinh thích học Mĩ thuật, các em học tập với

    tinh thần hăng say và cũng thông qua việc giảng dạy rút kinh nghiệm của bản thân tôi

    nhận thấy đề tài này có những ưu điểm sau :

    – Về phía giáo viên: Giáo viên là người tổ chức, định hướng các hoạt động họp tập

    của HS; Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, đặc biệt là phát huy tốt phương

    phương sử dụng trực quan một cách sáng tạo, hiệu quả. Từ đó, sau mỗi tiết giảng chất

    lượng học tập ngày một tốt hơn.

    – Về phía học sinh: Học sinh được chủ động quan sát, tư duy và sáng tạo. Các em

    biết tự khám phá những điều mới lạ trong bài học, theo cách nghĩ và cách hiểu của mình

    một cách độc lập tích cực, biết cảm nhận được những cái hay, cái đẹp từ những bài học

    cụ thể mà các em được học, được làm quen. Từ đó các em đã tạo ra những sản phẩm

    mang tính nghệ thuật đặc trưng của môn học và lứa tuổi.

    *Chứng minh những giải pháp trên :

    Để chứng minh những giải pháp trên tôi đưa ra một số tiết dạy mẫu như sau :

    Lớp 1

    Thứ năm, ngày 4 tháng 10 năm 2012

    Mĩ thuật

    Vẽ hoặc nặn quả dạng tròn

    A. Mục tiêu:

    – HS nhận biết các đặc điểm, hình dáng, màu sắc quả dạng tròn.

    – Vẽ hoặc nặn được quả dạng tròn.

    – Chăm sóc, bảo vệ cây xanh.

    * Hs khá giỏi: Vẽ hoặc nặn được một số quả dạng tròn có đặc điểm riêng.

    B. Chuẩn bị:

    Giáo viên

    – Tranh, ảnh về một số quả dạng

    tròn

    – Một số quả mẫu.

    Học sinh

    – Quả mẫu.

    – Vở tập vẽ.

    – Đồ dùng học vẽ.

    HS quan sát, tr¶ lêi:

    – Táo, cam, bưởi…

    GV yêu cầu quan sát tranh để nhận

    – Có dạng hình tròn.

    biết thêm một số quả có dạng tròn.

    – HS kể.

    HS quan sát.

    Hoạt động 2: Cách vẽ

    GV giảng kết hợp minh hoạ bảng:

    – Quan sát kĩ mẫu trước khi vẽ.

    – Vẽ hình dáng ngoài.

    – Vẽ chi tiết

    – Vẽ màu theo ý thích hoặc theo

    mẫu.

    HS quan sát, lắng nghe.

    Bước 1

    Bước 2+ 3

    Hoạt động 3: Thực hành

    GV hướng dẫn HS tự bầy mẫu HS bày mẫu vẽ bài.

    bằng quả của mình.

    GV quan sát, gợi ý cách bố cục.

    Hoạt động 4: Nhận xét đánh giá

    GV trưng bày và gọi HS nhận xét:

    – Quả gì?

    – Màu sắc?

    – Tìm bài mình thích.

    HS nhận xét bài bạn.

    * Dặn dò:

    – Quan sát cây cối.

    – Nhắc HS luôn có ý thức chăm sóc, bảo vệ cây ăn quả, cây xanh.

    – Chuẩn bị bài giờ sau.

    A. Mục tiêu:

    – Nhận biết hình dáng chung và các bộ phận và vẻ đẹp của một số loại cá.

    – Biết cách vẽ và vẽ được con cá, vẽ màu theo ý thích.

    – Yêu thích con vật;Có ý thức bảo vệ và chăm sóc con vật.

    * HS khá, giỏi: Vẽ được một vài con cá và tô màu theo ý thích.

    B. Chuẩn bị:

    Giáo viªn

    Học sinh

    – Tranh ảnh về các loại cá.

    VTV

    – Hình hướng dẫn cách vẽ.

    Dụng cụ học vẽ.

    – Bài vẽ của HS năm trước

    C. Các hoạt động dạy học chủ

    yÕu:

    Hoạt động 1: Quan sát – nhận xét.

    GV giới thiệu cá, hỏi:

    – Con cá có hình dạng gì?

    HS quan sát, tr¶ lêi;

    – Có những bộ phận nào?

    – Gần tròn, quả trứng, thoi.

    – Màu sắc của cá?

    – Đầu, mình, đuôi..

    – Kể tên một số loại cá mà em

    biết ?

    – Nhiều màu.

    – HS kể.

    – Cá có tác dụng gì?

    – Để ăn, làm cảnh..

    Hoạt động 2: Cách vẽ.

    GV giảng minh hoạ cách vẽ.

    – Vẽ mình cá.

    – Vẽ đuôi.

    – Vẽ chi tiết

    – Vẽ màu theo ý thích

    HS quan sát:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiểm Soát Và Giám Sát Dự Án Toàn Diện (Phần 1)
  • Sử Dụng Phương Pháp Quan Sát Trong Dạy Tự Nhiên & Xã Hội Lớp 2
  • Phương Pháp Quan Sát Dạy Môn Khoa Học Lớp 5
  • Phương Pháp Quan Sát Trong Nghiên Cứu Thị Trường Thực Hiện Như Thế Nào?
  • Phương Cách Tự Nhiên Giúp Tăng Cơ Hội Thụ Thai
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Vấn Đề Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Mĩ Thuật Ở Lớp 9 Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Âm Nhạc Trong Trường Thcs
  • Chuyên Đề Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Âm Nhạc Thcs Chuyen De Am Nhac Thcs Doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Đạo Đức Lớp 2
  • Luận Văn Đề Tài Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Đạo Đức Ở Lớp 2
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Đại Số Ở Trường Thcs
  • MộT Số VấN Đề ĐổI MớI PHƯƠNG PHáP DạY HọC MÔN Mĩ THUậT ở lớp 9 trường thcs I . Lý do chọn đề tài. N hư chúng ta biết, đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng tích cực hoá được đặt ra do yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nhân lựccho đất nước trong giai đoạn những năm đầu thế kỉ 21. Cốt lõi của đổi mới phương pháp dạy học môn mĩ thuặt cũng như những môn học khác ở nhà trường phổ thông hiện nay là tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh và hoạt đông dạy học của giáo viên - Mĩ thuật là một loại hình nghệ thuật, nếu dạy học là khó thì dạy nghệ thuật lại càng khó, Mĩ thuật lại càng mang tính nghệ thuật cao. Song khó không có nghĩa là không dạy được vì học Mĩ thuật đem lại niềm vui cho mọi người thấy cái đẹp ở trong mình và xung quanh mình trở nên gần gủi và đáng yêu, đồng thời Mĩ thuật giúp mọi ngườitự tạo ra cái đẹp theo ý mình và thưởng ngoạn nó ngay trong sinh hoạt hằng ngày của mình, làm cho cuộc sống thêm hài hoà và hạnh phúc - Dạy học Mĩ thuật ở phổ thông là tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc làm quen với những giá trị thẩm mĩ, biết vận dụng kiến thức đã học phục vụ vào cuộc sống sinh hoạt hằng ngày - Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Mĩ thuật là một vấn đề đã được đề cập và bàn luận từ nhiều năm qua, các nhà biên soạn nghiên cứu đã không ngừng nghiên cứu biên soạn tiêp thu những thành tựu mớivà hiện đại để đưa nền giáo dục nước nhà ngày càng phát triển và hiện đại. ở đây bản thân tôi không có tham vọng đưa ra những vấn đề lớn lao hay điều chỉnh phương pháp dạy học ở môn Mĩ thuật mà bản thân đã thực hiện trong năm học này Việc dạy - học Mĩ thuật ở trường THCS hiện nay so với trước đã có những chuyển biến đáng kể. GV đã chú ý đến tính khoa học chính xác, tính thực tiển của kiến thức nhất là bảo đảm tính hệ thống và chương trình sách giáo khoa quy định, GV đã phấn đấu để có nhiều tiết dạy tốt tăng cường phương pháp dạy học đặc trưng của bộ môn Mĩ thuật và sử dụng phương tiện dạy-học hiện đại như đèn chiếu, máy chiếu đa năng, sử dụng chương trình bài giảng điện tử power point, violet.... để phát huy tính tich cực tư duy của học sinh II . Thực trạng và giải pháp 1 . thực trạng * Thuận lợi - Về giáo viên + Trong những năm gần đây ngành giáo dục đã có nhiều cuộc vận động trong giáo dục, tổ chức nhiều cuộc thi GV dạy giỏi cấp trương, cấp cụm, cấp huyện GVđã được tham gia các lớp tập huấn, các đợt bồi dưỡng chuyên đề... + Là giáo viên trẻ, được đào tạo đúng chuyên ngành Mĩ thuật, lại rất yêu ngành, tâm huyết với nghề nên đã tìm tòi áp dụng nhiều phương pháp dạy học mới vào trong giảng dạy giúp cho bài dạy trở nên sinh động, lôi cuốn được học sinh hơn + Về phía nhà trường đã cố gắng tạo mọi điều kiện cơ sở vật chấtcho việc dạy học như máy chiếu, mạng internet,phần mềm Violet, đầu video, ... GV đã có bộ sách giáo khoa, sách tham khảo đồ dùng dạy học trực quan... - Về học sinh + Đa số HS đều có niềm yêu thích môn Mĩ thuật có ý thức trong các giờ học + Học sinh có đầy đủ sách giáo khoa, vở, dụng cụ học tập địa lý. + Với trình độ khoa học kĩ thuật phát triển như hiện nay thì ngoài các kiến thức học được ở trên lớp các em có thể biết được nhiều thông tin Mĩ thuật qua sách báo, tivi, qua mạng internet. + Học sinh Cảnh Dương với tác phong nhanh nhẹn, có truyền thống hiếu học các em có thể tiếp cận nhanh với các phương pháp dạy học mới, các phương tiện dạy học hiện đại của giáo viên, dễ dàng chiếm lĩnh tri thức mới. + Bên cạnh đó, những kiến thức Mĩ thuật thì rất gần gũi với đời sống hàng ngày của các em nên các em đã tiếp thu một cách nhanh và dễ dàng liên hệ với thực tế. *Khó khăn : -Về giáo viên: +Số lượng học sinh trong một lớp còn quá đông nên gây khó khăn cho giáo viên trong khi tiến hành dạy theo phương pháp mới nhất là hoạt động nhóm vì giáo viên khó tổ chức và khó quản lí. +Với lứa tuổi THCS, học sinh đang còn nhỏ nên các kiến thức về xã hội chưa nhiều vì thế đòi hỏi người giáo viên phải truyền thụ đầy đủ và chi tiết gây mất nhiều thời gian trong một tiết dạy. + Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học chưa thực sự đầy đủ phòng học chức năng chưa có, còn thiếu một số tranh ảnh,... gây khó khăn cho người dạy. -Về học sinh: + Bên cạnh các học sinh có ý thức thì thái độ học tập của một số học sinh chưa tốt, còn lơ là, ham chơi ảnh hưởng không nhỏ đến việc truyền thụ kiến thức và rèn luyện kỹ năng cho học sinh ở trên lớp. + Một số em còn lười vẽ phác thảo dẫn đến vẽ dường nét, màu sắc còn yếu, chưa thực sự hiểu được cái hay cái đẹp của tác phẩm Mĩ thuật, vẫn còn HS ít vẽ kí hoạ về người và phong cảnh + Nhiều học sinh còn mang nặng tâm lí xem Mĩ thuật là một môn học phụ. - Về cơ sở vật chất : +Hiện tại chưa có phòng học chuyên ngành (phòng chức năng) + Thiết bị dạy học chưa đầy đủ, bộ ĐDDH Mĩ thuật 9 không có, các khối lớp khác không đáp ứng đủ đồ dùng cho nội dung bài dạy Qua số liệu cho thấy khi khảo sát tình hình học sinh khối 9 học Mĩ thuật đầu năm học như sau Tổng số K9 131 HS Trung bình HS Khá HS Giỏi SL % SL % SL % 67 51 43 33 21 16 - Từ thực tế trên điều mà tôi quan tâm nhất là tìm ra phương pháp dạy- học và học Mĩ thuật như thế nào để dạy tốt môn Mĩ thuật . Muốn vậy, tôi phải có phương pháp tối ưu giúp cho HS nắm được bài học của mình, tạo cho các em sự thích thú say mê trong tiết học Mĩ thuật. Nhằm để học sinh có khả năng vẽ được tranh, GVphải biết khai thác, kích thích sự tìm tòi, khả năng tư duy sáng tạo của học sinh - Với những băn khoăn, trăn trở đó, trước tình hình đổi mới phương pháp dạy học hiện nay tôi xin đưa ra một vài kinh nghiệm nho nhỏ của mình về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Mĩ thuật nhằm giúp cho học sinh yêu thích và học tốt hơn môn Mĩ thuật để đưa chất lượng bộ môn Mĩ thuật được nâng cao thông qua các giải pháp như sau: 2. Giải pháp Để thực hiện mục tiêu trên, tôi đã sử dụng một số phương pháp dạy học trong môn Mĩ thuật cụ thể như sau: 2.1. Phương pháp quan sát: Phương pháp quan sát là thông qua việc nhìn nhận, tìm hiểu đối tượng để phân tích so sánh về: cấu trúc, tỷ lệ , màu sắc hình ảnh...của mẫu. Giúp học sinh nhận biết và cảm thụ vẽ đẹp của đối tượng làm cơ sở tư liệu thực hiện bài tập Mĩ thuật. Ví dụ minh hoạ trong chương trình Mĩ thuật ở THCS. Bài 7 và bài 8: Vẽ theo mẫu:Vẻ tượng chân dung (Lớp 9) Học sinh cảm nhận được vẽ đẹp của mẫu qua đặc điểm hình dạng cấu trúc và tương quan chung. Do vậy giáo viện cần sử dụng phương pháp quan sát để học sinh nhận ra: - Khối cơ bản của mỗi vật mẫu - Khung hình chung của nhóm mẫu - Khung hình riêng của vật mẫu - So sánh tìm tỷ lệ các bộ phận của mẫu - Phân biệt độ đậm nhạt của mẫu.... và tiến hành bài vẽ theo các bước: Sắp xếp bố cục trên trang giấy Vẽ phác khung hình chung trước Vẽ khung hình riêng sau Tìm tỷ lệ các bộ phận tương ứng Phát hình dáng mẫu bằng nét kỹ hà Thể hiện đối tượng theo cảm nhận Hoàn chỉnh hình Thể hiện đậm nhạt của mẫu (bằng chì) - Như vậy bằng phương pháp quan sát học sinh đã nắm vững về cấu trúc tỷ lệ đặc điểm của mẫu trước khi tiến hành bài vẽ. Phương pháp này cần được sử dụng trong suốt thời gian của tiết học và đặc biệt quan trọng vơí hoạt động 1: Quan sát và nhận xét - Qua việc vận dụng phương pháp quan sát đã tạo được hiệu quả : đã định hướng được mục đích và ý tưởng rỏ ràng, giúp cho HS nhận thức phong phú, sâu sắc và đầy đủ hơn, phát triển kĩ năng quan sát, đối chiếu, so sánh và liên hệ với thực tế, HS cảm nhận được sự đa dạng của cuộc sống... 2.2 . Phương pháp trực quan - Phương pháp trực quan là sử dụng đồ dùng dạy học đã chuẩn bị để minh học cho nội dung bài dạy, giúp người học hiểu sâu hơn. Nhờ phương pháp trực quan mà những thuật ngữ ,khái niệm về Mĩ thuật trừu tượng được làm sáng tỏ, tao điều kiện cho người học lỉnh hội kiến thức nhanh và hứng thú hơn trong học tập Ví dụ minh hoạ trong chương trình Mĩ thuật ở THCS. Bài 15: Vẽ trang trí : Tạo dáng và trang trí túi xách (Lớp 8) - Giáo viên sử dụng đồ dùng trực quan để học sinh nhận thấy sự đa dạng, phong phú và độc đáo của túi xách có nhiều kiểu dáng và được trang tri theo nhiều cách khác nhau ( có loại có quai xách, có loại có dây đeo,...) Cách thức trang trí túi xách rất phong phú ( bằng hình mảng, bằnh hoạ tiết,...) với nhiều cách phối hợp màu sắc khác nhau ( rực rỡ, êm dịu, mạnh mẽ, nhẹ nhàng,...) Từ những gợi ý của đồ dùng trực quan giúp học sinh hình dung được yêu cầu bài học, hứng thú hơn trong quá trình học tập, từ đó nảy sinh nhiều ý tưởng và sáng tạo trong bài thực hành -Khi vận dụng phương pháp nàyđã thu hút sự chú ý của HS, truền đạt cho nhiều người cùng một lúc, học sinh được nghe nhìn tăng khả năng nhận thức, cung cấp kiến thức từ nhiều nguồn thông tin, sử dụng được nhiều phương tiện dạy học khác nhau, dễ tổ chức, bao quát, hình dung được nội dung học tập. 2.3. Phương pháp vấn đáp Giáo viên sử dụng hệ thốg câu hỏi để thực hiện câu hỏi, để gợi mở cho học sinh về nội dung nhằm khai thác một chi tiết, một vấn đề nào đó của bài học. Tạo điều kiện cho học sinh bộc lộ những hiểu biết về đối tượng. Suy nghĩ, tìm tòi và giải quyết được bài tập, nâng cao chất lượng bài vẽ bằng khả năng của mình Ví dụ minh hoạ trong chương trình Mĩ thuật ở THCS. Bài 10: Vẽ tranh :Đề tài lễ hội : (Lớp 9) - GV cần xây dưng hệ thống câu hỏi gợi mở sau : Các hoạt động diễn ra vào thời điểm nào, ở đâu ? Hình ảnh cụ thể là gì ? Hình ảnh nào chính, hình ảnh nào phụ ? Quang cảnh xung quanh như thế nào ? - Trên cơ sở hệ thống câu hỏi của GV, HS trả lời, từ đó định hướng nội dung bài vẽ...Như vậy từ đề tài lễ hội HS vẽ được nhiều nội dung về đề tài này. 2.4. Phương pháp luyện tập - thực hành - Củng cố kiến thức cho HS, đồng thời trong quá trình luyện tập, HS còn tìm ra nhiều điều mới lạ giúp cho nhận thức trở nên sâu sắc, phong phú và vững vàng hơn - Phương pháp luyện tập thực hành ở môn Mĩ thuật là luyện tập HS quan sát nhận xét, đánh giá sự vật, hiện tượng xung quanh. Luyện tập cũng cố kĩ năng vẽ, nâng cao khả năng tìm tòi sáng tạo, khéo léo ; bồi dưỡng thị hiếu thẩm mĩ...Thông qua luyện tập - thực hành, những mặt tốt và chưa tốt của HS đều bộc lộ rõ ràng. Vì vậy việc dạy và học sẽ sát đối tượng và hiệu quả hơn Ví dụ minh hoạ trong chương trình Mĩ thuật ở THCS. Bài 14 : Vẽ tranh : Đề tài lực lượng vũ trang (lớp 9 ) - Giáo viên sử dụng phương pháp luyện tập - thực hành giúp HS thể hiện được kĩ năng vẽ tranh và vận dụng những quan sát (thực tế) sắp xếp thành nội dung bức tranh theo yêu cầu sau : - Hình ảnh chọn lọc, sinh động, thể hiện đúng nội dung - Sắp xếp các hình ảnh để tạo thành bố cục đẹp (có mảng chính, mảng phụ, sắp xếp chặt chẽ hợp lí) - Không gian trong tranh phù hợp với nội dung - Thể hiện được tình cảm của các nhân vật trong tranh - Tỉ lệ các hình ảnh trong tranh cân đối - Màu sắc trong sáng thể hiện được trang phục theo binh chủng... 2.5 . Phương pháp làm việc theo nhóm Phương pháp làm việc theo nhóm là tạo điều kiện cho mọi HS đều được tham gia vào quá trình học tập một cách tự giác bằng khả năng của mình. Phương pháp học tập này xây dưng cho học sinh tinh thần tập thể , ý thức cộng đồng với công việc chung. Đồng thời hình thành ở HS tinh thần tập thể, ý thức cộng đồng với công việc chung. Đông thời hình thanh ở HS phương pháp làm việc khoa học ( tự lập kế hoạch và làm viẹc theo kế hoạch) Đối với môn Mĩ thuật, phương pháp làm việc theo nhóm thường được thực hiện khi tìm hiểu các tác phẩm nghệ thuật, bày mẫu và kựa chọn mẫu vẽ; trong các trò chơi gép hình, vẽ màu... để học sinh có điều kiện bộc lộ ý kiến tăng khả năng hợp tác và năng lực làm việc cá nhân. Ví dụ minh hoạ trong chương trình Mĩ thuật ở THCS. Bài 12 :thường thức Mĩ thuật: Sơ lược về Mĩ thuật các dân tộc ít người ở Việt Nam (Lớp 9 ) Học sinh hiểu được Sơ lược về Mĩ thuật các dân tộc ít người ở Việt Nam, biết một số loại hình và đặc điểmcủa Mĩ thuật các dân tộc ít người ở Việt Nam ( tranh thờ và thổ cẩm, nhà rông và tượng nhà mô tây nguyên, tháp và điêu khắc chăm ) Giáo viên tổ chức cho HStìm hiểu nội dung trên với phương pháp làm việc theo nhóm, cụ thể : phân mỗi nhóm tìm hiểu đặc điểm của tưng loại hình nghệ thuật của các vùng, dân tộc ( Tây Bắc,Tây Nguyên, Chăm) về Cách thức tạo hình . Chất liệu sử dụng . Nội dung phản ánh .... 2.6. Đổi mới cách sử dụng đồ dùng dạy học a. Đổi mới tranh vẽ Đưa tranh ảnh đúng lúc Tranh ảnh có nhiều hình cần che những phần không cần thiết Cần theo thứ tự trước sau Sau khi treo tranh cần cho học hinh nhìn một lúc mới đặt câu hỏi b . Đổi mới mẫu vẽ Mẫu vẽ rất quan trọng trong công việc giảng dạy mỹ thật vì nó giúp học sinh quan sát tái hiện hình tượng lên tranh vẽ Khi sử dụng cần đảm bảo: Mẫu vẽ phải đẹp , dễ vẽ Giáo viên cần nghiên cứu , tránh lúng túng và đưa ra đúng lúc Mẫu vẽ cả lớp phải nhìn thấy, nhìn rõ Khi quan sát giáo viên hướng dẫn học sinh phải trật tự chú ý 2.7. Đối với việc sử dụng giáo án điện tử PowerPoint Đây là phương tiện dạy học hiện đại có thể sử dụng nó để mở rộng kiến thức, đào sâu hiểu biết của học sinh chưa thấy Ví dụ: Khi dạy bài "sơ lược Mĩ thuật thời nguyễn" (lớp 9) Nên sử dụng chương trình phần mền để học sinh thấy được một số thành tựu Mĩ thuật thời nguyễn phát triẻn như thế nào và giá trị nghệ thuật của kho tàng văn hoá nghệ thuật dân tộc Kết quả thực hiện Kĩ năng học Mĩ thuật của học sinh THCS còn ở mức độ rất sơ đẳng. Tuy nhiên, với học sinh lớp 9, nó có vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy Mĩ thuật cho các em. Với nội dung đã nêu, tôi thường vận dụng vào các tiết dạy lý thuyết và các tiết thực hành, với các bước rèn luyện kỹ năng quan sát, luyện tập - thực hành như trên tôi cảm thấy rằng học sinh đã dần dần nắm được cách cách vẽ tranh, vẽ trang trí và vẽ theo mẫu, học sinh tự mình có thể làm được các bước trên dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của giáo viên. Các em cảm thấy hứng thú hơn với môn học nhất là những tiết thực hành. Giờ học Mĩ thuật trở nên nhẹ nhàng hơn, thoải mái hơn, học sinh cảm thấy tự tin, vận dụng nhanh, đạt kết quả tốt, lớp học sôi nổi và đặc biệt giáo viên nhận thấy rõ vấn đề đổi mới phương pháp được nâng cao lên hẳn. Sau khi tiến hành khảo sát tôi thấy chất lượng của bộ môn mình được nâng lên rõ rệt cụ thể như sau: Tổng số K9 131 HS Trung bình HS Khá HS Giỏi SL % SL % SL % 19 14 70 54 42 32 Nhìn vào 2 bảng khảo sát đánh giá trên tôi thấy rằng kết quả chất lượng khi vận dụng phương pháp mới vào quá trình dạy học so với khi chưa vận dụng phương pháp mới được nâng lên rõ rệt cụ thể như sau: Khichưa vận dụng phương pháp mới Khi vận dụng phương pháp mới Học sinh khá giỏi : 49% Học sinh khá giỏi : 86% Học sinh vẽ được bài: 52% Học sinh vẽ được bài : 90% III . KếT LUậN Và KIếN NGHị 1 . KếT LUậN Giáo dục cho học sinh phổ thông chung bằng nghệ thuật tạo hình được thực hiện chủ yếu trong giờ học môn Mĩ thuật. Để chất lượng dạy học ngày càng cao thì giáo viên phải thấy được sự phát triển của xã hội,từ đó đổi mới phương pháp dạy học, đảm bảo cung cấp kiến thức cho học sinh, GV phải đầu tư tìm tài liệu, đọc nhiều sách báo có liên qan đến bài giảng, tập trung soạn kỉ giáo án và thâm nhập giáo án. Nắm vững phương pháp dạy, vận dụng các phương pháp linh hoạt các phương pháp dạy trong tiết học phù hợp với từng đối tượng học sinh . Giáo viên đã thuận lợi hơn trong việc sử dụng các phương pháp mới vào trong dạy học, phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh, giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn học sinh tìm tòi chiếm lĩnh tri thức mới. Từ đó học sinh cảm thấy yêu thích bộ môn Mĩ thuật hơn do đó chất lượng của bộ môn Mĩ thuật được nâng cao rõ rệt . Ngày nay nhà nước ta đã có nhiều cố gắng đưa hội hoạ vào trong trường học, công tác giáo dục, cải cách giáo dục ở một số bộ môn đã có chiều hướng đổi mới tích cực. Vì vậy cần tạo mọi điều kiện và hướng cho các em học sinh trau dồi sự sáng tạo ở các môn nghệ thuật, cái đẹp bao giờ cũng có ở các em, giúp cho các em có được cái nhìn trong sáng đối với cái đẹp trong cuộc sống, sau này dù lớn lên ở bất kỳ hoàn cảnh nào, nghề nghiệp nào cũng luôn cần đến cái đẹp 2 . bài học kinh nghiệm Sau khi thực hiện xong đề tài này tôi xin có một vài kinh nghiêm nhỏ như sau: -Để một tiết dạy Mĩ thuật đươc thành công giáo viên phải nắm và bám chuẩn kiến thức bộ môn -Đầu tư, tìm tòi các phương pháp dạy học mới phù hợp với bộ môn,với đối tượng học sinh của mình -Phải rèn luyện cho học sinh cách quan sát về đường nét, màu sắc, bố cục, hình khối... ngay từ những tiết đầu tiên cho học sinh nắm chắc từng phần sau đó mới dạy ở các tiêt sau -Phải đầu tư nhiều vào bài giảng ngay từ khâu soạn giáo án,chuẩn bị đồ dùng,các bước lên lớp ,giảm đến mức tối đa việc cung cấp thông tin đơn thuần của giáo viên và sự tiếp thu thụ động của học sinh. -Luôn luôn cho học sinh liên hệ với thực tế cuộc sống của các em để các em dễ nhớ và dễ vận dụng -Cần có mối liên hệ tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh để kiểm tra mức độ nắm bắt kỹ năng của các em 3 . kiến nghị và đề xuất Giữa cơ quan giáo dục và cơ quan văn hoá cần có sự phối hợp chặt chẽ, nhằm giải quyết những nhu cầu của công việc giáo dục thẩm mĩ cho học sinh (Tổ chức các cuộc thi vẽ tranh giành cho các em học sinh, hưởng ứng các cuộc thi vẽ cáctổ chức phát động trong năm, mở câu lạc bộ năng khiếu, tổ chức cho các em đi tham quan các di tích lịch sư hoặc bảo tàng Mĩ thuật. ) Tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất (có phòng học chức năng) đồ dùng phương tiện kỹ thuật dạy học, cũng như đồ dùng dạy học còn thiếu nhiều mà giáo viên không thể tự làm được... Hội đồng KH Trường THCS Cảnh Dương Cảnh Dương Ngày 17 tháng 03 năm 2009 Người viết : HUỳNH THế THảO

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Ppdayj Môn Học Vần Lớp 1 Doi Moi Ppdh Mon Hoc Van Lop 1 Ppt
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Tiếng Việt Lớp 1
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Lịch Sử Thpt Doimoippdhlichsuthptnls Doc
  • Kế Hoạch Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học, Kiểm Tra Đánh Giá Trường Thcs_2013
  • Kế Hoạch Đổi Mới Ppdh Cá Nhân Ke Hoach Dmppdh2 Doc
  • Phương Pháp Dạy Học Và Kĩ Thuật Dạy Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Phạm Vi Áp Dụng Phương Pháp Vốn Chủ Sở Hữu
  • Kế Toán Khoản Đầu Tư Vào Công Ty Liên Doanh Liên Kết Theo Phương Pháp Vốn Chủ Sở Hữu ⋆ Kế Toán Ytho
  • Phương Pháp Vốn Cổ Phần (Equity Method) Là Gì? Ví Dụ Về Phương Pháp Vốn Cổ Phần
  • Phương Pháp Volume Spread Analysis (Vsa) Là Gì?
  • Phương Pháp Vsa (Volume Spread Analysis) Là Gì Và Các Mẫu Hình Cơ Bản
  • BỒI DƯỠNG

    PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC

    VŨ THỊ THÚY

    PHƯƠNG PHÁP

    THỰC NGHIỆM

    VŨ THỊ THÚY

    PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM LÀ GÌ?

    Dựa trên việc thiết kế phương án thí nghiệm khả thi, tiến hành quan sát, thí nghiệm (thao tác vật chất) để thu được thông tin (dữ liệu thực nghiệm) và rút ra kết luận về một tính chất/ mối liên hệ/ định luật thực nghiệm gọi là PPTN

    VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA PPTN

    Đề xuất được tri thức mới, khái niệm mới, định luật mới (định luật thực nghiệm), tri thức đó có thể lí giải một cách lí thuyết dựa trên nghiên cứu lí thuyết

    Cung cấp những bằng chứng thực nghiệm cần thiết cho việc đối chiếu, hợp thức hóa, khẳng định giá trị hoặc chỉnh lí, bổ sung hay bác bỏ những tri thức đã được đề xuất do nghiên cứu lí thuyết.

    Cung cấp những bằng chứng thực nghiệm mới dẫn tới sự cần thiết phải xây dựng các giả thuyết, thuyết KH mới.

    CẤU TRÚC CỦA PPTN

    Làm xuất hiện vấn đề

    Xây dựng dự đoán

    Suy luận, rút ra hệ quả

    Đề xuất, thực hiện TN kiểm tra

    Lựa chọn điều kiện thí nghiệm: thiết bị TN, PP tiến hành TN, PP quan sát, đo đạc cụ thể; Tiến hành TN: Lắp ráp TN, tiến hành thao tác TN theo kế hoạch đã vạch ra, quan sát, đo đạc, ghi chép dữ liệu; Xử lí kết quả TN: Chuyển từ số đo biểu kiến sang số đo thực, xác định độ chính xác của phép đo, lập bảng, vẽ đồ thị

    Hợp thức hóa kết quả nghiên cứu

    Ứng dụng

    GIAI ĐOẠN 1: LÀM XUẤT HIỆN VẤN ĐỀ

    KĨ THUẬT TỔ CHỨC

    Mô tả một hoàn cảnh thực tiễn tạo nên một vấn đề gay cấn

    GV làm một TN biểu diễn, HS quan sát diễn biến hoặc kết quả bất ngờ của hiện tượng vật lí, tự phát hiện và nhận thức vấn đề

    Cho HS làm 1 TN đơn giản mà trước đây có thể HS đã gặp nhưng không ngờ đến, không nghĩ như vậy.

    GIAI ĐOẠN 1: LÀM XUẤT HIỆN VẤN ĐỀ

    TỔ CHỨC VÀ RÈN LUYỆN CHO HS PHÁT HIỆN, PHÁT BIỂU VẤN ĐỀ

    Đặt câu hỏi, định hướng chú ý của HS vào những điều mâu thuẫn, bất ngờ trong tình huống tổ chức để HS phát hiện ra vấn đề.

    Khích lệ HS nói lên cảm nhận, phát hiện của mình về vấn đề đặt ra

    Uốn nắn, chỉ dẫn và luyện cho HS phát biểu thành lời vấn đề của bài học, sử dụng hợp lí ngôn từ vật lí

    Căn cứ trình độ HS, nội dung bài học lựa chọn đưa ra múc độ thích hợp, yêu cầu HS tự lực phát biểu vấn đề của bài học.

    GIAI ĐOẠN 2: XÂY DỰNG DỰ ĐOÁN

    ĐỐI VỚI HS THCS YÊU CẦU DỰ ĐOÁN ĐỊNH TÍNH LÀ CHỦ YẾU

    Dự đoán diễn biến của hiện tượng vật lí

    VD: Nước đã sôi, tiếp tục đun thì nhiệt độ của nước có tăng mãi không và tăng đến đâu?

    Dự đoán nguyên nhân của hiện tượng vật lí

    VD: Vì sao quả bóng bàn bẹp khi nhúng vào nước nóng lại phồng trở lại?

    Dự đoán mối quan hệ phụ thuộc giữa 2 yếu tố của hiện tượng vật lí

    VD: Sự bay hơi nhanh hay chậm phụ thuộc và nhiệt độ như thế nào?

    Dự đoán mối quan hệ nhân quả trong hiện tượng vật lí

    VD: sự biến dạng càng nhiều thì lực đàn hồi sẽ thay đổi như thế nào?

    Dự đoán về bản chất của hiện tượng vật lí

    VD: Tại sao mọi vật đều rơi xuống đất khi thả tay không giữ vật nữa?

    GIAI ĐOẠN 2: XÂY DỰNG DỰ ĐOÁN

    KỸ THUẬT TỔ CHỨC

    Đưa ra một vài tình huống cụ thể gần gũi với HS, tạo điều kiện cho HS nhận thấy mơi quan hệ, tính chất, bản chất của vấn đề.

    Đưa ra câu hỏi thích hợp kích thích và khích lệ HS mạnh dạn đưa ra các dự đoán: – Nêu bật mâu thuẫn của vấn đề

    – Vạch rõ nội dung của điều cần dự đoán

    – Tính vừa sức

    Lường trước những khó khăn HS có thể gặp để hỗ trợ cho HS dự đoán

    Chuẩn bị để đưa ra các mức độ yêu cầu thích hợp, để HS thực hiện nhiệm vụ dự đoán

    Kiên trì lắng nghe Hs nói

    GIAI ĐOẠN 3: SUY LUẬN, RÚT RA HỆ QUẢ

    Dự đoán về một hiện tượng trong thưc tiễn, một mối quan hệ giữa các đại lượng vật lí có thể quan sát, đo, đếm, nhận biết bằng giác quan…

    KỸ THUẬT TỔ CHỨC

    Cần hướng dẫn HS từng bước:

    – Nêu được tiên đề của suy luận, giả thuyết (dự đoán)

    – Xây dựng lập luận hợp quy tắc

    – Rút ra kết luận

    GIAI ĐOẠN 5: HỢP THỨC HÓA KẾT QUẢ NC

    Tổ chức cho HS, nhóm HS báo cáo kết quả nghiên cứu (kết quả TN, nhận xét, đánh giá, tính đúng đắn của dự đoán được kiểm tra) trước lớp

    Tổ chức cho HS, nhóm HS trao đổi, tranh luận, đánh giá kết quả nghiên cứu của bạn; đánh giá kết quả Tn có đúng với dự đoán không; cần bổ sung, điều chỉnh, khẳng định kết luận thế nào

    Tổ chức cho HS chuẩn hóa các kết luận, rút ra kiến thức

    GIAI ĐOẠN 5: HỢP THỨC HÓA KẾT QUẢ NC

    KỸ THUẬT TỔ CHỨC

    Yêu cầu mỗi nhóm phân công công việc cho từng thành viên, cử đại diện báo cáo kết quả trước lớp; luân phiên; lưu ý giúp đỡ HS nhút nhát, học lực yếu

    GV là người hướng dẫn, làm trọng tài

    Cần phù hợp, vừa sức với đối tượng HS

    GIAI ĐOẠN 6: ỨNG DỤNG KIẾN THƯC MỚI

    Giải thích cách vận hành

    Dự đoán hiện tượng xảy ra trong thực tế

    Nghiên cứu chế tạo thiết bị đáp ứng yêu cầu của đời sống, sản xuất

    KỸ THUẬT TỔ CHỨC

    Tận dụng tối đa các BT đã được chuẩn bị trong SGK và sách BT vật lí

    Tìm tòi để đưa ra các ứng dụng cụ thể, gần gũi trong đời sống kĩ thuât

    Khuyến khích HS làm các BT TN

    Sáng chế ra các thiết bị vận dụng kiến thức đã học

    Phát hiện, thu thập các tài liệu, tranh ảnh, các thiết bị, dụng cụ có ứng dụng kiến thức trong thực tế

    16

    (SGK lớp 9- trang 85-86)

    Đặt vấn đề: Nghiên cứu bài 24 đã biết, có dòng điện thì xung quanh nó có từ trường, vậy nếu có từ trường xung quanh nó có sinh ra dòng điện không?

    Hay một thực tế, xe đạp bình thường có một bình điện (điamô), ấn núm của nó tì vào bánh xe khi xe lăn bánh thì đèn xe phát sáng, vì sao?

    Đề xuất, thực hiện TN

    Xác định dụng cụ thí nghiệm:

    Một cuộn dây dẫn, hai đầu cuộn dây nối với đèn LED

    Một thanh nam châm thẳng

    Một nam châm điện

    Tiến hành thí nghiệm:

    TN1: Di chuyển thanh nam châm đối với cuộn dây hoặc ngược lại, đèn LED lóe sáng, tức là lúc này có dòng điện trong ống dây.

    TN2: Thay thanh nam châm bằng nam châm điện, trong thời gian đóng và ngắt mạch của nam châm điện, đèn LED lóe sáng, tức là lúc này có dòng điện trong ống dây.

    Kết luận: Hiện tượng cảm ứng điện từ

    Dòng điện xuất hiện như trên gọi là dòng điện cảm ứng. Hiện tượng xuất hiện dòng điện cảm ứng gọi là hiện tượng cảm ứng điện từ.

    Ứng dụng: Giải thích VD đã nêu ở đầu tiết học

    * Khái niệm vật lí là gì?

    Là sự hiểu biết về những dấu hiệu, những thuộc tính vật lí chủ yếu, chung và mang tính bản chất chung cho 1 nhóm các sự vật hay hiện tượng vật lí và mối quan hệ giữa sự vật hay hiện tượng trong nhóm đó.

    – Nội hàm của khái niệm: là những thuộc tính, dấu hiệu chung, bản chất.

    – Ngoại diên: là nhóm sự vật, hiện tượng có chung nội hàm.

    VD: Chuyển động đều (trang 11, SGK lớp 8)

    – Nội hàm: Chuyển động, vận tốc có độ lớn không đổi theo thời gian.

    – Ngoại diên: viên bi, ô tô, người đi xe đạp…có chung nội hàm: chuyển động đều.

    33

    Đặc điểm khái niệm vật lí

    – Mang tính bản chất chung nên có tính khái quát cao, trừu tượng hóa cao.

    VD: Hành tinh, hệ mặt trời…

    – Mang tính biến đổi hay mềm dẻo: do trình độ nhận thức của con người ngày càng cao, biến đổi theo hướng chính xác hóa dần.

    VD: 1, Ánh sáng: Trước đây Niu tơn cho ánh sáng là hạt, sau đó Huy-ghen, Y-âng, Fretxnen cho ánh sáng là sóng. Vật lí hiện đại cho ánh sáng vừa có tính chất sóng, vừa có tính chất hạt.

    2, Nguyên tử: thời cổ đại cho rằng nó là hạt nhỏ bé nhất cấu tạo nên vật; cuối thế kỉ XIX, đầu TK XX trong nguyên tử cấu trúc gồm proton và electron; ngày nay biết thành phần nguyên tử gồm notron, mezon và các hạt cơ bản khác, còn biết proton có thể chuyển hóa thành notron và ngược lại.

    34

    Đặc điểm khái niệm vật lí

    Khái niệm vật lí định tính: là khái niệm mô tả quá trình tự nhiên nhưng không phục tùng quá trình đo nào (không có biểu thức định lượng)

    + Khái niệm về sự vật , hiện tượng cụ thể: dụng cụ đo

    + Khái niệm về sự vật, hiện tượng trừu tượng: từ trường, nguyên tử…

    Khái niệm định lượng: gồm cả mặt định tính và định lượng và phụ thuộc quá trình đo, có biểu thức định lượng còn gọi là các đại lượng vật lí: vận tốc, lực…

    35

    Phân loại khái niệm vật lí

    Khái niệm Vật lí được hình thành trong quá trình tìm hiểu sự vật, hiện tượng mới xuất hiện trong quá trình quan hoặc làm thí nghiệm mà ta không hiểu được, không mô tả được, không lí giải được bằng khái niệm cũ. Nói cách khác, khái niệm vật lí mới xuất hiện do nhu cầu giải quyết một mâu thuẫn giữa sự hiểu biết đã có và sự chưa hiểu biết.

    Dựa vào đặc điểm của hoạt động nghiên cứu Vật lí, con đừng hình thành khái niệm vật lí gồm:

    – Quan sát trực tiếp và khái quát hóa thực nghiệm

    VD: Trong quá trình khảo sát các sự vật hiện tượng ánh sáng truyền qua hai môi trường trong suốt khác nhau, khái quát kết quả nhiều thí nghiệm hình thành khái niệm hiện tượng khúc xạ ánh sáng

    36

    – Quan sát trực tiếp và khái quát lí thuyết khái niệm Vật lí

    – Khi khảo sát hiện tượng bằng các mô hình

    VD: Khái niệm đường sức từ bằng mô hình đường mạt sắt; ảnh thật, ảnh ảo của vật qua thấu kính bằng mô hình hình vẽ

    Những con đường hình thành khái niệm Vật lí

    DẠY HỌC

    ĐẠI LƯỢNG VẬT LÍ

    38

    ĐẠI LƯỢNG VẬT LÍ

    Đại lượng vô hướng

    Đại lượng vật lí dẫn xuất

    Đại lượng vật lí cơ bản

    Đại lượng véc tơ

    Đặc điểm đại lượng vật lí

    N1

    Đơn vị đo các đại lượng vật lí

    Sử dụng hệ đo lường Quốc tế (SI)

    N2

    41

    Hệ đo lường Quốc tế (SI)

    42

    Đổi đơn vị đo các đại lượng vật lí

    Thường sử dụng hệ đo lường Quốc tế (SI) (m, kg, s…)

    Nếu kết quả đo bằng hệ đơn vị khác (km, g, h…) để đến kết quả cuối cùng mới đổi.

    Cùng một đại lượng vật lí trong hai hệ đo khác nhau có ý nghĩa như nhau (VD: 36 km/h = 10 m/s…).

    Viết đơn vị đo trong suốt quá trình tính toán

    43

    Cách viết và ý nghĩa các đơn vị Vật lí

    Một đại lượng vô hướng gồm hai phần: trị số tuyệt đối cho biết đại lượng cần đo chứa bao nhiêu lần đại lượng được chọn làm đơn vị và tên (thứ nguyên) của đơn vị.

    Ban đầu được xác định bằng các mẫu trong tự nhiên, về sau một số được xác định bởi các vật mẫu (tiêu chuẩn) được cất giữ tại Viện cân đo quốc tế

    Đơn vị đo Vật lí cũng có sự tiến hóa theo hướng chính xác hóa dần

    Theo quy luật chung của quá trình dạy học và đặc điểm môn học là đưa HS từ chỗ chưa biết đến biết, hiểu và vận dụng có thể đưa ra các bước tổng quát định hướng cho HS như sau:

    Bước 1: Phát hiện đặc điểm định tính của đại lượng Vật lí

    Bước 2: Chỉ ra đặc điểm định lượng của đại lượng Vật lí

    Bước 3: Định nghĩa đại lượng Vật lí

    Bước 4: Xác định đơn vị đo

    Bước 5: Vận dụng

    44

    Con đường hình thành các đại lượng Vật lí

    Bước 1: Phát hiện đặc điểm định tính của đại lượng Vật lí

    Cần làm xuất hiện vấn đề Vật lí mới đặc trưng cho bản chất vật lí nào đó của một nhóm sự vật hiện tượng.

    Có nhiều phương pháp như quan sát, nhắc lại ví dụ từ thực tế gần gũi hoặc giải một bài tập nhưng có một câu chưa giải được nếu chưa có khái niệm mới…

    45

    Con đường hình thành các đại lượng Vật lí

    Bước 2: Chỉ ra đặc điểm định lượng của đại lượng Vật lí

    Chỉ ra đặc điểm của đại lượng mới với các đại lượng cũ và cách xác định giá trị của đại lượng mới thể hiện bằng công thức toán học.

    Xuất phát từ đặc điểm định tính: VD lực đẩy Ác-si-mét

    Xuất phát từ các đại lượng và các định luật đã biết để khảo sát hiện tượng: VD Suất điện động cảm ứng

    Xuất hiện đồng thời với các định luật Vật lí: VD lực đàn hồi

    46

    Con đường hình thành các đại lượng Vật lí

    Bước 1: Phát hiện đặc điểm định tính của đại lượng Vật lí (làm xuất hiện vấn đề)

    GV: cho s = 10m; t1 = 5s, t2 = 10s; hỏi bạn nào chạy nhanh hơn?

    HS: Bạn 1 chạy nhanh hơn, so sánh thời gian

    GV: Cũng thời gian t= 1h, ô tô đi được 40 km, xe đạp đi được 15 km, hỏi vật nào đi nhanh hơn?

    HS: Ô tô chuyển động nhanh hơn, so sánh quãng đường.

    GV: Bạn A chạy 200m trong thời gian 25s, B chạy 100m trong 20s. Hỏi bạn nào chạy nhanh hơn?

    Ví dụ: Dạy học khái niệm vận tốc

    (Bài 2, SGK Vật lí 8)

    50

    Bước 2: Chỉ ra đặc điểm định lượng của đại lượng Vật lí

    Vậy không thể so sánh thời gian hay quãng đường. Cần có khái niệm mới, đó là vận tốc đặc trưng cho sự chuyển động nhanh chậm. Nếu vật đi được quãng đường s trong thời gian t thì trong một đơn vị thời gian vật đi được quãng đường bao nhiêu?

    Chính là v = s/t

    Ví dụ: Dạy học khái niệm vận tốc

    (Bài 2, SGK Vật lí 8)

    51

    Bước 3: Định nghĩa đại lượng Vật lí

    Vận tốc là đại lượng đặc trưng cho mức độ nhanh hay chậm của chuyển động và được xác định bằng độ dài quãng đường đi được trong một đơn vị thời gian

    v = s/t

    Trong đó: s là độ dài quãng đường vật đi (m)

    t là thời gian vật đi hết quãng đường đó (s)

    Ví dụ: Dạy học khái niệm vận tốc

    (Bài 2, SGK Vật lí 8)

    52

    Bước 4: Xác định đơn vị đo

    Trong hệ SI, khi s = 1 m; t = 1 s thì v = 1 m/s

    Đơn vị khác: km/h, km/s…

    Bước 5: Vận dụng

    Trở lại VD đặt vấn đề, tính vận tốc các vật và nêu nhận xét

    Ví dụ: Dạy học khái niệm vận tốc

    (Bài 2, SGK Vật lí 8)

    DẠY HỌC

    ĐỊNH LUẬT VẬT LÍ

    Nội dung

    2. Đặc điểm

    3. Phân loại đinh luật Vật lí

    4. Con đường hình thành định luật Vật lí

    1. Khái niệm

    5. Phương pháp dạy học các định luật Vật lí

    Khái niệm

    Định luật Vật lí là sự phản ánh mối quan hệ và liên hệ có tính phổ biến, khách quan, ổn định chi phối sự vận động của một loạt các sự vật hiện tượng Vật lí

    Đặc điểm của định luật Vật lí

    Có tính khách quan: Tồn tại không phụ thuộc vào ý muốn của con người

    Tính phổ biến: Chị phối sự vận động của một loạt các sự vật hiện tượng và đề cập đến phạm vi ứng dụng của định luật.

    Các định luật Vật lí luôn gắn liền với thực nghiệm, bắt nguồn từ thực nghiệm và quay trở về với thực nghiệm.

    Định luật động lực học

    Phân loại định luật Vật lí

    1

    2

    3

    Định luật thống kê

    Định luật bảo toàn

    Định luật động lực học

    Cho biết một đối tượng riêng lẻ trong những điều kiện đã cho sẽ hoạt động như thế nào.

    Cơ sở của động lực học chất điểm là 3 định luật Niu-tơn

    Trong động lực học tương tác giữa các vật được xem là đã cho (VD: tương tác hấp dẫn, tương tác tĩnh điện)

    Cho biết một số lớn các đối tượng riêng lẻ trong một tập hợp thể hiện như thế nào trong những điều kiện xác định.

    VD: Định luật chất khí, chỉ đúng trong trường hợp một số rất lớn phân tử khí trong bình chứa.

    Định luật bảo toàn

    Cho biết một đại lượng vật lí nào đó không đổi

    Mỗi định luật bảo toàn biểu diễn một sự bảo toàn một thuộc tính cơ bản nào đó của vật chất và được đặc trưng bằng đại lượng vật lí tương ứng.

    Vai trò: thể hiện tính thực tiễn, là cơ sở của những tính toán quan trọng trong vật lí thực nghiệm và trong kĩ thuật

    Định luật vật lí

    Quan sát trực tiếp và khái quát hóa thực nghiệm

    Quan sát trực tiếp và khái quát hóa lí thuyết

    Mệnh đề lí thuyết tổng quát

    Các con đường hình thành định luật Vật lí

    Quan sát trực tiếp và khái quát hóa thực nghiệm

    Phương pháp dạy học các định luật Vật lí

    Bước 2: Xác định nội dung của định luật

    Nếu bằng con đường suy diễn lí thuyết

    Ta dựa trên nguyên lí nào đó sau đó dùng lí luận suy diễn để thu được định luật.

    Suy luận lô-gic + Suy luận toán học = hình thành định luật từ lí thuyết.

    Nếu có điều kiện làm thí nghiệm để kiểm tra định luật suy ra được từ con đường lí thuyết.

    Phương pháp dạy học các định luật Vật lí

    Bước 3: Phát biểu định luật

    Phát biểu định luật bằng lời: rõ ràng chính xác và đảm bảo tính lô-gic, khoa học

    Phát biểu bằng biểu thức định lượng

    Phân tích rõ các thuật ngữ chứa đựng nội dung

    Bước 4: Vận dụng định luật

    Sử dụng giải bài tập, giải thích hiện tượng.

    Phương pháp dạy học các định luật Vật lí

    Ví dụ

    Bài 9: Lực đàn hồi (trang 30, SGK lớp 6)

    Bước 1:Đặt vấn đề

    Nghiên cứu sự biến dạng của lò xo có đặc điểm gì?

    Bước 2: Xác định nội dung của định luật

    Dụng cụ thí nghiệm: lò xo, 3 quả nặng loại 50g

    giá treo, thước chia độ.Bố trí thí nghiệm như hình

    Tiến hành thí nghiệm:

    Treo lò xo 1 lên giá, đo chiều dài tự nhiên của lò xo (lo)

    Móc lần lượt 1, 2, 3 quả nặng vào đầu dưới lò xo, đo chiều dài, tính trọng lượng các quả nặng

    Ví dụ

    Bài 9: Lực đàn hồi (trang 30, SGK lớp 6)

    Xử lí số liệu

    Rút ra kết luận: Lò xo là vật đàn hồi, biến dạng của lò xo là biến dạng đàn hồi. Lực mà lò xo biến dạng tác dụng vào quả nặng trong TN trên gọi là lực đàn hồi.

    Bước 3: Phát biểu

    Khi lò xo bị nén hay kéo dãn, nó sẽ tác dụng lực đàn hồi lên các vật tiếp xúc (hoặc gắn) với hai đầu của nó.

    Độ dãn lò xo càng lớn thì lực đàn hồi càng lớn.

    Bước 4: Vận dụng

    Giải thích lại kết quả TN, lực kế, giảm xóc, giải bài tập

    Ví dụ

    DẠY HỌC

    THUYẾT VẬT LÍ

    Khái niệm

    Thuyết Vật lí là hệ thống những tư tưởng cơ bản quy tắc, quy luật dùng làm cơ sở cho một ngành khoa học, để giải thích các sự kiện, hiện tượng nhằm hiểu rõ bản chất sâu xa của các sự kiện, hiện tượng đó và tạo cho con người có khả năng tác động mạnh hơn, có hiệu quả hơn vào tự nhiên.

    Đặc điểm của thuyết Vật lí

    Mang tính thực tiễn: Các giả thuyết khoa học của thuyết đều xuất phát trên cơ sở thực nghiệm nhằm giải thích các sự kiện thực nghiệm. Một thuyết chỉ có giá trị khi từ thuyết đó rút ra được những hệ quả phù hợp thực tiễn và thực tiễn lại làm thước đo tính đúng đắn của thuyết.

    Mang tính trừu tượng

    Để tạo nên một thuyết khoa học phải có một quá trình trừu tượng hóa, lí tưởng hóa các sự kiện thực nghiệm.

    Có những luận điểm của thuyết không hi vọng kiểm tra bằng thực nghiệm mà trong thuyết có một số nội dung mang tính tiên đề không chứng minh. Vì tính khái quát sâu như vậy nên nó mới đi sâu vào bản chất của sự vật hiện tượng.

    Tính hệ thống

    Thuyết không phải là một phán đoán riêng lẻ mà là một hệ thống lí luận đi từ trực quan đến tư duy trừu tượng và trở về thực tiễn. Mỗi thuyết là sự kế tục của những thuyết đã có trước và là cơ sở cuả những thuyết sau đó (theo đường xoáy trôn ốc)

    DẠY HỌC

    BÀI TẬP VẬT LÍ

    Nội dung

    2. Phân loại bài tập vật lí

    3. Phương pháp giải bài tập vật lí

    4. Lựa chọn và sử dụng bài tập trong dạy học VL

    1. Mục đích sử dụng bài tập vật lí trong dạy học

    Khái niệm

    Bài tập Vật lí là những vấn đề không lớn được giải quyết nhờ các biến đổi lô-gic, suy luận toán học, thí nghiệm Vật lí dựa trên cơ sở các định luật Vật lí, các phương pháp cơ sở của Vật lí.

    Mục đích sử dụng bài tập vật lí trong dạy học

    Giải bài toán Vật lí là rèn luyện sự tư duy định hướng HS một cách tích cực. Có thể sử dụng vào các mục đích như:

    Phương tiện nghiên cứu tài liệu mới

    Phương tiện cho HS khả năng vận dụng kiến thức, liên hệ lí thuyết với thực tế, học tập và đời sống

    Rèn luyện tư duy, bồi dưỡng PP NCKH

    Phương tiện ôn tập, củng cố kiến thức một cách sinh động, có hiệu quả

    Rèn luyện đức tính: tự lập, cẩn thận, kiên trì, tinh thần vượt khó

    Phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng của học sinh

    Phân loại bài tập Vật lí

    Theo phương pháp giải

    Bài tập định tính: Phương tiện là chuỗi các suy luận lô-gic để chỉ ra nguyên nhân của hiện tượng hoặc dự đoán hiện tượng xảy ra.

    Ưu điểm: tăng hứng thú, phát triển óc quan sát, phương tiện tốt để phát triển tư duy HS

    Phân loại:

    Bài tập định tính đơn giản, chỉ vận dụng 1 định luật

    Bài tập định tính phức tạp, vận dụng nhiều khái niệm, định luật

    Tại sao khi rót nước nóng già vào cốc thủy tinh dày cốc dễ nứt vỡ hơn khi rót nước và cốc thủ tinh mỏng? Đề nghị biện pháp phòng tránh khi buộc phải rót nước nóng vào cốc thủy tinh dày.

    Phân loại bài tập Vật lí

    Theo phương pháp giải

    Bài tập định lượng: vừa suy luận kết hợp với các phép tính toán, kết quả thu được là đáp số định lượng

    Phân loại:

    Bài tập định lượng tập dượt: HS vận dụng 1 khái niệm, 1 định luật để giải

    Bài tập định lượng tổng hợp: Vận dụng nhiều định luật,khái niệm (trong sách BT, sách nâng cao)

    Phân loại bài tập Vật lí

    Theo phương pháp giải

    Bài tập thí nghiệm: đòi hỏi phải làm TN để kiểm chứng lời giải lí thuyết hoặc tìm những số liệu cần thiết của BT. Thường đơn giản có thể làm ở nhà.

    Có nhiều tác dụng GD kĩ thuật tổng hợp

    Bài tập đồ thị: số liệu được dùng giải bài tập phải tìm trong đồ thị hoặc ngược lại

    Xác định khối lượng riêng của một chất lỏng chưa biết. Cho bình đựng chất lỏng cần xác định, bình đựng nước klr 1 g/cm3 , lọ nhỏ có nút kín, sợi dây, lực kế

    Phân loại bài tập Vật lí

    Theo nội dung Vật lí

    Bài tập cơ học

    Bài tập điện học

    Bài tập nhiệt học

    Bài tập quang học

    Theo mục đích dạy học

    Bài tập tập dượt

    Bài tập tổng hợp

    Bài tập củng cố

    Theo nhiệm vụ dạy học

    BT giáo khoa

    BT có nội dung kĩ thuật

    BT có nội dung thực tế

    BT có nội dung lịch sử

    Phương pháp giải bài tập Vật lí

    Tìm hiểu đầu bài

    Phân tích hiện tượng

    Xây dựng lập luận

    Biện luận

    Lựa chọn và sử dụng bài tập Vật lí

    Lựa chọn:

    Các bài tập từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp

    Mỗi bài tập là một mắt xích trong hệ thống bài tập nhằm củng cố, hoàn thiện, mở rộng kiến thức

    Hệ thống bài tập cần có nhiều loại

    Sử dụng: Phải dự kiến chi tiết kế hoạch sử dụng

    Đặt vấn đề, hình thành kiến thức mới, củng cố, hệ thống hóa, kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng của HS

    Quan tâm đến số lượng bài tập cần giải ở lớp, ở nhà, làm thêm…

    LÀM VIỆC NHÓM

    Thiết kế 1 tiết dạy trên lớp trong chương trình Vật lí THCS có sử dụng PPDH và KTDH tích cực đặc trưng của dạy học Vật lí

    Nhóm 1: Dạy học khái niệm

    Nhóm 2: Dạy học định luật

    Nhóm 3: Dạy học thuyết Vật lí

    Nhóm 4: Dạy học bài thực hành

    Nhóm 5: Dạy học bài tập Vật lí

    Nhóm 6: Dạy học bài ôn tập chương

    Thảo luân nhóm

    Tài liệu tham khảo

    Nguyễn Thượng Chung, Bài tập thí nghiệm Vật lí phổ thông cơ sở, NXBGD

    Trần Bá Hoành (chủ biên), Áp dụng dạy và học tích cực trong môn Vật lí

    Lê Nguyên Long, Giải toán Vật lí như thế nào?

    Nguyễn Đức Thâm (chủ biên), PPGD Vật lý ở trường phổ thông, NXB ĐHSP 2003.

    SGK Vật lí 6, 7, 8, 9 NXBGD 2022.

    Nguyễn Hữu Tòng , Lí luận dạy học Vật lí ở trường phổ thông, NXB ĐHSP.

    Halliday, Resnick, Walker- Cơ sở Vật lí.

    Sách tra cứu kiến thức Vật lí- Kariakin.

    Mạng Internet: http://thuvienvatly.com; http://vatlisupham.vn

    http://physicvn.org; http://phy.mtu.edu

    BỒI DƯỠNG

    PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC

    VŨ THỊ THÚY

    94

    TRÂN TRỌNG CẢM ƠN!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tính Điện Trở Qua Phương Pháp Vẽ Lại Mạch Điện Cực Hay
  • Cách Uốn Ống Đồng Không Bị Bẹp
  • Giờ Utc Là Gì? Sự Khác Biệt Rõ Ràng Giữa Giờ Gmt Và Giờ Utc Là Gì?
  • Giờ Utc Là Gì? Giờ Utc Và Giờ Việt Nam Cách Nhau Mấy Tiếng?
  • Cách Uống Nước Giảm Cân: Lịch Uống Và Nguyên Tắc Giảm Béo Nhờ Nước
  • Phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học
  • Vốn Chủ Sở Hữu (Equity) Là Gì? Cách Xem Equity Trên Báo Cáo Tài Chính
  • Vốn Chủ Sở Hữu Là Gì? Gợi Ý Cách Tính Vốn Chủ Sở Hữu
  • Hoàn Thiện Phương Pháp Kế Toán
  • Vốn Chủ Sở Hữu Là Gì, Cách Tính Như Thế Nào?
  • Để các em học sinh có được kết quả học tập tốt, có được những kiến thức cơ bản, cốt lõi, có được tư duy sáng tạo, có đạo đức và nhân cách tốt đòi hỏi người giáo viên phải có khả năng và phương pháp dạy học hiệu quả. chúng tôi xin giới thiệu đến các thầy, cô giáo bài viết phương pháp và kỹ thuật dạy học. chúng tôi cũng rất mong nhận được sự phản hồi và đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo, các nhà nhiên cứu về vấn đề phương pháp và kỹ thật dạy học nhằm mục đích có được nhưng phương pháp ưu việt, giúp cho giáo viên tham khảo để có được những phương pháp giảng dạy hiệu quả, phù hợp nhất.

    CHUYÊN ĐỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

    Các phương pháp đã và đang thường sử dụng. ( các phương pháp dạy học được GV linh hoạt trong các môn học giúp học sinh học tập một cách thoải mái, tự tin và hiệu quả, phát huy được năng lực học tập của các em, giúp các em được học và học được.)

    1/ Phương pháp vấn đáp, đàm thoại sử dụng nhiều trong các môn tập đọc, kể chuyện, Lịch sử, Địa lí…

    2/ phương pháp thực hành( làm mẫu- huấn luyện): Phương pháp này là phương pháp được sử dụng nhiều trong các môn học thể dục, Thủ công, Kĩ thuật.

    4/ Phương pháp quan sát: Đây là phương pháp đặc trưng trong các môn TN-XH; Khoa, Sử; Địa. Các em quan sát các sự vật, hiện tượng thực tế, tranh ảnh, băng hình…

    5/ Phương pháp trực quan: ( dùng kênh hình, mô hình, vật thât) là phương pháp đặc trưng trong các môn Lịch sử. Toán ….

    6/ Phương pháp động não: Dùng nhiều trong các môn học.

    7/ Phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm: Là phương pháp tích cực hóa các hoạt động của người học, giáo viên tổ chức các hoạt động thông qua hoạt động học. Mọi học sinh cùng được tham gia hoạt động, các em bộc lộ được mính và có cơ hội phát triển.

    8/ Phương pháp dạy học qua trải nghiệm: Đây là phương pháp dạy học có tính thực tế cao, giúp cho các em thông qua việc làm cụ thể để tìm tòi khám phá kiến thức. Gv đưa ra tình huống; hoặc trò chơi; hoặc hỏi về những kinh nghiệm sống…., sau đó Gv cùng HS phân tích, chia sẻ, so sánh, xử lí hoặc hồi tưởng… Gv đặt câu hỏi dẫn dắt đên nội dung bài học. Phương pháp dạy học này GV nêu câu hỏi dẫn dắt, học sinh rút ra kết luận.

    9/ Phương pháp dạy học theo hợp đồng: Đây là phương pháp dạy học mà HS làm việc theo một gói các nhiệm vụ trong thời gian nhất định.

    10/ Trò chơi.

    CÁC KĨ THUẬT DẠY HỌC 1/Kĩ thuật các mảnh ghép:

    Là kĩ thuật tổ chức hoạt động hợp tác:

    Ví dụ: Khi dạy bài câu đơn – câu ghép.

    Thế nào là câu đơn, cho ví dụ và phân tích thành phần câu?

    Thế nào là câu phức, cho ví dụ và phân tích thành phần câu?

    Thế nào là câu ghép, cho ví dụ và phân tích thành phần câu?

    Câu đơn và câu ghép khác nhau như thế nào? Cho ví dụ minh họa.

    2/ Kĩ thuật khăn trải bàn:

    Từng HS ghi ý kiến của mình sau đó trao đổi , tổng hợp và thống nhất chung một ý kiến và ghi vào ô giữa.

    Nhóm 1,2 : Làm thí nghiệm chứng minh không khí có 2 thành phần chính là khí ô xi duy trì sự cháy và khí ni-tơ không duy trì duy trì sự cháy.

    Nhóm 3, 4: Làm thí nghiệm chứng minh không khí có hơi nước.

    Nhóm 5;6 : Làm thí nghiệm chứng minh không khí có chứa bụi, vi khuẩn…

    Qua các thí nghiệm của các nhóm chứng tỏ không khí chứa ôxi, ni tơ, hơi nước, bụi, vi khuẩn…

    4/ Kĩ thuật xoay ổ bi:

    – Xếp 2 vòng tròn (trong và ngoài): Số lẻ đứng vòng trong, số chẵn đứng vòng ngoài.

    – Vòng trong đứng yên vị trí, vòng ngoài xoay lần lượt từng số (đối diện từng cặp trong ngoài).

    – 1 nhóm lên trình bày, các nhóm đều treo bảng dò theo, nếu tùy ý thì đánh dâu (P)

    – Sẽ lấy được ý chung nhất (là những ý các nhóm trùng nhau)

    6/ Mạng ý nghĩa:

    – Dùng dạy Tập đọc.

    – Dùng dạy Tập làm văn.

    Nhìn vào ma trận, ta có thể thấy rõ điểm mạnh, điểm yếu của các nhóm PPDH với việc thực hiện mục tiêu, đặc biệt là sự hạn chế của PP thuyết trình đối với việc thực hiện các mục tiêu quan trọng của phát triển nhân cách.

    Một kết quả nghiên cứu khác cũng cho thấy sự hạn chế của các PP dùng lời nói và đồng thời khuyến khích tổ chức các hoạt động tự lập của học sinh phối hợp các PP nhằm huy động đồng thời nhiều giác quan của học sinh tham gia vào quá trình tri giác các đối tượng lĩnh hội.

    2. Lựa chọn các PPDH tương thích với nội dung học tập

    Giữa nội dung và PPDH có mối quan hệ tác động lẫn nhau, trong nhiều trường hợp quy định lẫn nhau. Ở bình diện kĩ thuật dạy học, PPDH cần tương thích với nội dung dạy học. Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết với những hoạt động nhất định.

    3. Lựa chọn PPDH cần chú ý đến hứng thú, thói quen của học sinh, kinh nghiệm sư phạm của giáo viên

    a. Cần chuẩn đoán nhu cầu, hứng thú của học sinh khi lựa chọn các PPDH.

    Đối với việc trình bày thông tin cần ưu tiên lựa chọn các PP sử dụng phương tiện nghe nhìn, sử dụng truyền thông đa phương tiện càng tốt.

    Đối với các hoạt động chế biến thông tin cần tổ chức các hoạt động tự phát hiện, phối hợp với làm việc theo nhóm, phát huy càng tối đa tính tích cực, sáng tạo của học sinh càng tốt.

    b. Chú ý thay đổi PPDH và hình thức tổ chức dạy học tránh nhàm chán, gây hứng thú cho học sinh. Cần thay đổi PPDH sau 15, 20 phút.

    c. Ưu tiên lựa chọn các PPDH mà học sinh, giáo viên đã thành thạo.

    Với các PPDH có ưu điểm tương đương, cần ưu tiên lựa chọn PPDH mà GV và HS đã thành thạo, bởi thực hiện dễ dàng hơn.

    Không vì tiêu chí này mà quay trở lại vớ PP truyền thụ một chiều. Hiện nay, rất cần thiết phải cho GV và HS trở nên quen thuộc với các kĩ thuật dạy học mới có hiệu quả cao trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục. Để nâng cao tay nghề cần:

    Nghiên cứu các vấn đề đổi mới PPDH qua sách, vở, giáo trình, tạp chí chuyên môn, các lớp tập huấn…

    Rút kinh nghiệm các giờ dạy của bản than kết hợp với tiến hành dự giờ, trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp…

    4. Lựa chọn PPDH phù hợp với điều kiện dạy học

    a. Ở đây đề cập đến PPDH diễn ra trong mối quan hệ với các điều kiện vật chất, đặc biệt là thiết bị dạy học (TBDH). Đương nhiên là cần phải lựa chọn PPDH phù hợp với điều kiện của nhà trường, của phòng thí nghiệm, của tình trạng đang có.

    b. Trong khuôn khổ điều kiện cho phép, cần chọn thứ tự ưu tiên khả năng tốt nhất.

    c. Các TBDH hiện đại không luôn đồng nghĩa với các TBDH đắt tiền. Tính hiện đại của TBDH thể hiện ở việc sử dụng các thiết bị sao cho đạt yêu cầu cao nhất trong việc thực hiện các mục tiêu dạy học, thể hiện rõ tư tưởng sư phạm hiện đại.

    LỰA CHỌN CÁCH DẠY THÍCH HỢP

    Thiết kế phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá

    chúng tôi Đặng Thành Hưng

    Tạp chí giáo dục số 102 (chuyên đề), quý IV/2004, trang 10.

    Thiết kế phương pháp dạy học (PPDH) là chức năng và công việc chuyên môn của giáo viên (GV). Nhưng GV phải dựa vào lí luận phương pháp và những quy tắc kĩ thuật nhất định để thiết kế mới đạt hiệu quả cao, mặc dù đương nhiên phải vận dụng kinh nghiệm nghề nghiệp cá nhân nữa. Vấn đề thiết kế hay lựa chọn PPDH cho đến nay chưa được làm rõ, nên GV gặp nhiều khó khăn trong việc đổi mới PPDH dạy học của mình. Chúng tôi không tán thành quan niệm cho rằng để đổi mới PPDH, GV phải biết lựa chọn PPDH phù hợp, theo những yêu cầu nào đó. Điều này không chính xác, hơn nữa còn gây lạc hướng và hiểu sai nhiệm vụ.

    Nếu đã có sẵn những PPDH mới để lựa chọn, thì GV không cần phải đổi mới, mà chỉ việc áp dụng mẫu có sẵn mà mình thích hoặc thấy phù hợp, còn đổi mới PPDH là việc của ai đó. Mặt khác, những PPDH mới này tư dưng ở đâu mà ra, nếu không phải do chính giáo viên tạo ra ? Chúng tôi xin bàn về thiết kế PPDH, do GV thực hiện, sau đó dựa vào chính thiết kế mới của mình mà tạo ra PPDH và tiến hành trong thực tiễn giảng dạy, giáo dục của mình, chứ không phải PPDH của người khác.

    II.1. Thiết kế bài học và phân tích thiết kế đó

    Kĩ thuật thiết kế bài học là việc phức tạp. Qua thiết kế này, GV đã xác định và thiết kế mục tiêu, nội dung học tập, các hoạt động của người học, các nguồn lực và phương tiện, môi trường học tập. Đây là chỗ dựa chủ yếu để thiết kế PPDH nhưng chưa đủ để thiết kế thành công.

    II.2. Lựa chọn kiểu PPDH và thiết kế phương án kết hợp các kiểu đã chọn

    Dựa vào thiết kế bài học và nhận thức lí luận của mình về các kiểu PPDH (tức là phương pháp luận cụ thể), GV lựa chọn các kiểu PPDH và thiết kế trình tự, cách thức kết hợp chúng với nhau trong phạm vi bài học đó và có thể trong cả chuỗi bài học kế tiếp nhau. Điều này có nghĩa là: kiểu PPDH phải được tổ chức thống nhất với từng loại họat động của người học, theo các phương án thiết kế chính thức và dự phòng.

    Ví dụ: đối với loại hoạt động phát hiện-tìm tòi của người học, có thể chọn kiểu PPDH kiến tạo-tìm tòi kết hợp với kiểu khuyến khích-tham gia trong 1 hoạt động. Nếu dự cảm thấy có thể chưa thành công thì GV nên dự phòng phương án khác, chẳng hạn kiểu PPDH làm mẫu-tái tạo kết hợp với kiểu kiến tạo-tìm tòi,… Trong những loại hoạt động khác cũng thực hiện những bước tương tự.

    Kết luận

    Tóm lại, để đổi mới PPDH theo quan điểm thiết kế cần nhấn mạnh những phương hướng sau đây:

    GV là chủ thể trực tiếp đổi mới PPDH, không ai làm thay được, và điều đó diễn ra tại bài học, môn học, lớp học, trường học, trong quá trình dạy học.

    Đổi mới PPDH trải qua quá trình lựa chọn đúng và sáng tạo kiểu PPDH đã được mô tả lí luận trong khoa học giáo dục, xác định đúng và tối ưu những mô hình tâm lí (KN) của kiểu PPDH đã chọn – tức là đúng khả năng sư phạm của mình và đặc điểm của lớp học, người học.

    Cải thiện KN đã có nhưng chưa hiệu quả, học và bổ sung cho mình những KN còn thiếu nhưng cần phải có để thực hiện kiểu PPDH mà mình chưa quen sử dụng hoặc chưa có đủ nhận thức lí luận.

    Thay đổi thói quen không phù hợp trong suy nghĩ và hành động dạy học, nhờ thường xuyên chú ý áp dụng nhận thức lí luận về đổi mới dạy học và những phương pháp luận dạy học hiện đại.

    Phát triển những mô hình KN mới của PPDH theo những kiểu PPDH mà mình đã trải nghiệm thành công nhiều lần. Đó chính là sáng tạo PPDH mới ở hình thái KN và kĩ thuật, đồng thời là sự phát triển giá trị, kinh nghiệm nghề nghiệp, nâng cao tay nghề. GV thực hiện việc này qua suy nghĩ tìm tòi và trao đổi với đồng nghiệp hàng ngày, học hỏi lẫn nhau.

    Phát triển những phương tiện, học liệu và công cụ phù hợp nhất với mình và phong cách của lớp, với nội dung và tính chất môn học và tổ chức chúng có hiệu quả nhằm thực hiện những kiểu và mô hình PPDH mà mình đã chọn, đã phát triển và đã có kinh nghiệm sử dụng thành công.

    Trước khi tiến hành dạy học và thực hiện PPDH, cần phải thiết kế nó cùng với thiết kế bài học, trong đó cố gắng đưa những đóng góp và sáng tạo của riêng mình cũng như sáng kiến của đồng nghiệp vào thiết kế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Sử Dụng Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Hiện Đại Trong Bài 11 Lịch Sử 10
  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Trong Môn Địa Lý
  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Bai Giang Pp Doi Moi Theo Day Hoc Tich Cuc Ppt
  • Các Phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học
  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực
  • Các Phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Bai Giang Pp Doi Moi Theo Day Hoc Tich Cuc Ppt
  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Trong Môn Địa Lý
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Sử Dụng Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Hiện Đại Trong Bài 11 Lịch Sử 10
  • Phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học
  • Một Số Phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học
  • Việc sử dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học khác nhau không chỉ làm tăng chất lượng đào tạo mà còn làm tăng hiệu quả đào tạo trong việc đạt các mục tiêu đào tạo đề ra.

    Theo Tim Wenling (Planing for effective training – A guide to curriculum development, FAO-UN,1993), đã qui các phương pháp và kỹ thuật dạy học vào tám phương pháp dạy học phổ biến nhất đó là:

    1/ Phương pháp diễn giảng (thuyết trình):

    Diễn giải là phương pháp dạy học thông dụng nhất, nhưng không phải lúc nào cũng là hiệu quả nhất. Giảng viên dùng lời nói cùng với các phương tiện kỹ thuật thông tin, nghe nhìn như: Bảng – phấn, văn bản in, overhead transparencies, video/film, máy tính, để diễn giảng cho người học nghe, phát hiện và hiểu các khái niệm, hiện tượng, qui luật, nguyên lý của các quá trình.

    – Ưu điểm của phương pháp diễn giảng:

    + Chủ động trong tiến trình đào tạo: tập trung vào chủ điểm, kiểm soát được nội dung và thứ tự thông tin truyền đạt trong thời gian định trước;

    + Truyền đạt được khối lượng lớn kiến thức trong một thời gian gới hạn;

    + Phù hợp với số đông người học, thiếu trường lớp, thiếu phương tiện.

    ng pháp này. Tạo điều kiện để các nhóm tự đánh giá lẫn nhau hoặc cả lớp cùng đánhgiá. 3.6.Các cách thành lập nhóm Có nhiều cách để thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau, không nên áp dụng một tiêu chí duy nhất trong cả năm học. Bảng sau đây trình bày 10 cách theo tiêu chí khác nhau. + Ưu điểm - Nhược điểm Tiêu chí Cách thực hiện - Ưu, nhược điểm 1. Các nhóm gồm những người tự nguyện, chung mối quan tâm + Đối với HS đây là cách dễ chịu nhất để thành lập nhóm, đảm bảo công việc thành công nhanh nhất. - Dễ tạo sự tách biệt giữa các nhóm trong lớp, vì vậy cách tạo nhóm như thế này không nên là khả năng duy nhất. 2. Các nhóm ngẫu nhiên Bằng cách đếm số, phát thẻ, gắp tăm, sắp xếp theo màu sắc... + Các nhóm luôn luôn mới sẻ đảm bảo là tất cả các HS đều có thể học tập chung nhóm với tất cả HS khác. - Nguy cơ có trục trặc sẽ tăng cao, HS phải sớm làm quen với việc đó để thấy rằng cách lập nhóm như vậy là bình thường 3. Nhóm ghép hình Xé nhỏ một bức tranh trong các tờ tài liệu xử lí, HS được phát các mẫu xé nhỏ, những HS ghép thành bức tranh hoặc tờ tài liệu đó sẽ tạo thành nhóm. + Cách tạo lập nhóm kiểu vui chơi, không gây ra sự đối địch - Cần một chi phí để chuẩn bị và cần nhiều thời gian hơn để tạo lập nhóm. 4. Các nhóm với đặc điểm chung Ví dụ: Tất cả những học sinh cùng sinh ra trong mùa đông, mùa xuân, mùa hè, mùa thu sẽ tạo thành nhóm. + Tạo lập nhóm một cách độc đáo, tạo nhiều niềm vui cho HS có thể biết nhau rõ hơn. - Cách làm này mất đi tính độc đáo nếu được sử dụng thường xuyên. 5. Các nhóm cố định trong một thời gian dài Các nhóm duy trì trong một số tuần hoặc một số tháng, các nhóm này thậm chí có thể được đặt tên riêng. + Cách làm này đã được chứng tỏ tốt trong những nhóm học tập có nhiều vấn đề. - Sau khi quen nhau một thời gian dài thì việc áp dụng các nhóm mới sẽ khó khăn. 6. Nhóm HS khá để hỗ trợ HS yếu Những HS khá giỏi trong lớp cùng luyện tập với các HS yếu hơn và đảm nhận nhiệm vụ của người hướng dẫn. + Tất cả đều được lợi. Những HS giỏi đảm nhận trách nhiệm, những HS yếu được giúp đỡ. - Ngoài việc mất nhiều thời gian thì chỉ có một nhược điểm, trừ phi những HS giỏi hướng dẫn sai. 7. Phân chia theo năng lực học tập khác nhau Những HS yếu hơn sẽ xử lý các bài tập cơ bản, những HS đặc biệt giỏi sẽ nhận thêm những bài tập bổ sung. + HS có thể tự xác định mục đích của mình. Ví dụ ai bị điểm kém trong môn toán thì có thể tập trung vào một ít bài tập. - Cách làm này dẫn đến kết quả là nhóm học tập cảm thấy bị chia thành những HS thông minh và những HS kém. 8. Phân chia theo các dạng học tập Được áp dụng thường xuyên khi học tập theo tình huống, những HS thích học tập với hình ảnh, âm thanh hoặc biểu tượng sẽ nhận được những bài tập tương ứng. + HS sẽ biết các em thuộc dạng học tập như thế nào? - HS chỉ học những gì mình thích và bỏ qua những nội dung khác. 9. Nhóm với các bài tập khác nhau Ví dụ, trong khuôn khổ một dự án, một số HS sẽ khảo sát một xí nghiệp, một số khác khảo sát một cơ sở chăm sóc xã hội... + Tạo điều kiện học tập theo kinh nghiệm đối với những gì đặc biệt quan tâm. - Thường chỉ có thể áp dụng trong khuôn khổ một dự án lớn. 10. Phân chia HS nam và nữ - Nếu bị lạm dụng sẽ dẫn đến mất bình đẳng nam nữ. 4. DẠY HỌC TRỰC QUAN 4.1.Bản chất Dạy học trực quan (hay còn gọi là trình bày trực quan) là phương pháp sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học trước, trong và sau khi nắm tài liệu mới, khi ôn tập, củng cố, hệ thống hóa, và kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo. PPDH trực quan thể hiện dưới hai hình thức minh họa và trình bày: - Minh họa thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh họa như bản mẫu, bản đồ, bức tranh, tranh chân dung, hình vẽ trên bảng... - Trình bày thường gắn liền với việc trình bày thí nghiệm, những thiết bị kỹ thuật, chiếu đèn chiếu, phim điện ảnh, băng video. Trình bày thí nghiệm là trình bày mô hình đại diện cho hiện thực khách quan được lựa chon cẩn thận về mặt sư phạm. Nó là cơ sở, là điểm xuất phát cho quá trình nhận thức - học tập của HS, là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn. Thông qua sự trình bày của GV mà HS không chỉ lĩnh hội dễ dàng tri thức mà còn giúp họ học tập được những theo tác mẫu của GV, từ đó hình thành kĩ năng, kĩ xảo... 4.2.Quy trình thực hiện - GV treo những đồ dùng trực quan có tính chất minh họa hoặc giới thiệu về các vật dụng thí nghiệm, các thiết bị kỹ thuật...Nêu yêu cầu định hướng cho sự quan sát của HS. - GV trình bày các nội dung trong lược đồ, so đồ, bản đồ...tiến hành làm thì nghiệm, trình chiều các thiết bị kỹ thuật, phim đèn chiếu, phim điện ảnh.... - Gv yêu cầu một hoặc một số HS trình bày lại, giải thích nội dung sơ đồ, biểu đồ, trình bày những gì thu nhận được qua thí nghiệm hoặc qua những phương tiện kỹ thuật, phim đèn chiếu, phim điện ảnh. - Từ những chi tiết, thông tin HS thu được từ phương tiện trực quan, GV nêu câu hỏi yêu cầu HS rút ra kết luận khái quát về vấn đề mà phương tiện trực quan chuyển tải. 4.3. Ưu điểm Nguyên tắc trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học nhằm tạo cho HS những biểu tượng và hình thành các khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát hiện vật đang học hay đồ dùng trực quan minh họa sự vật. Đồ dùng trực quan là chỗ dựa để hiểu sâu sắc bản chất kiến thức, là phương tiện có hiệu lực để hình thành các khái niệm, giúp HS nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội. Ví dụ, khi nghiên cứu bức tranh "Hình vẽ trên vách hang", HS không chỉ có biểu tượng về săn bắn là công việc thường xuyên và hàng đầu của thị tộc, mà còn hiểu: nhờ chế tạo cung tên, con người đã chuyển hẳn hình thức săn bắt sang săn bắn, có hiệu quả kinh tế cao hơn. Điều đó giúp HS biết sự thay đổi trong đời sống vật chất của con người thời nguyên thủy luôn gắn chặt với tiến bộ kỹ thuật chế tác công cụ của họ. Đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp HS nhớ kĩ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịnh sử. Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ là hình ảnh chúng ta thu nhận được bằng trực quan. Vì vậy, cùng với việc góp phần tạo biểu tượng và hình thành khái niệm lịch sử, đồ dùng trực quan còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của HS. 4.4.Nhược điểm Phương pháp này đòi hỏi nhiều thời gian, GV cần tính toán kĩ để phù hợp với thời lượng đã quy định. Nếu sử dụng đồ dùng trực quan, không khéo làm phân tán chú ý của HS, HS không lĩnh hội được những nội dung chính của bài học. Khi sử dụng đồ dùng trực quan, đặc biệt khi quan sát tranh ảnh, các phim điện ảnh, phim video nếu GV không định hướng cho HS quan sát sẽ dẫn đến tình trạng HS sa đà vào những chi tiết nhỏ lẻ không quan trọng. 4.5. Một số lưu ý Khi sử dụng đồ dùng trực quan dạy học cần chú ý các nguyên tắc sau: - Phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu giáo dục của bài học để lựa chọn đồ dùng trực quan tương ứng thích hợp. Vì vậy, cần xây dựng một hệ thống đồ dùng trực quan phong phú, phù hợp với từng loại bài học - Có PP thích hợp đối với việc sử dụng mỗi loại đồ dùng trực quan. - Phải đảm bảo sự quan sát đầy đủ đồ dùng trực quan của HS. - Phát huy tính tích cực của HS khi sử dụng đồ dùng trực quan - Đảm bảo kết hợp lời nói việc trình bày các đồ dùng trực quan, đồng thời rèn luyện khả năng thực hành của HS khi xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan (đắp sa bàn, vẽ bản đồ, tường thuật trên bản đồ, đồ thị, bảng niên biểu...Trước khi sử dụng chúng cần chuẩn bị thật kĩ. (nắm chắc nội dung, ý nghĩa của từng loại phục vụ cho nội dung nào của giờ học...). Trong khi giảng cần xác định đúng thời điểm để đưa đồ dùng trực quan. - Loại đồ dùng trực quan cỡ nhỏ được sử dụng riêng cho từng học sinh trong giờ học, trong việc tự học ở nhà, GV phải hướng dẫn HS sử dụng tốt loại đồ dùng trực quan này: quan sát kĩ, tìm hiểu sâu sắc nội dung, hoàn thành các bài tập, tập vẽ bản đồ, chứ không phải "can" theo sách. Trong dạy học một số môn như Lịch sử, Địa lí, Sinh học, Âm nhạc, Công nghệ, Mĩ thuật...ở trường phổ thông, việc kết hợp chặt chẽ giữa lời nói sinh động với sử dụng đồ dùng trực quan là một trong những điều quan trọng nhất để thực hiện nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển. Sử dụng các đồ dùng trực quan cần theo một quy trình hợp lí để có thể khai thác tối đa kiến thức từ các đồ dùng trực quan. Cần chuẩn bị câu hỏi/hệ thống câu hỏi dẫn dắt HS quan sát và tự khai thác kiến thức. 5. DẠY HỌC VÀ LUYỆN TẬP THỰC HÀNH 5.1. Bản chất Luyện tập và thực hành nhằm củng cố, bổ sung, làm vững chắc thêm các kiến thức lí thuyết. Trong luyện tập, người ta nhấn mạnh tới việc lặp lại với mục đích học thuộc những "đoạn thông tin": đoạn văn, thơ, bài hát, kí hiệu, quy tắc, định lí, công thức, ... đã học và làm cho việc sử dụng kĩ năng được thực hiện một cách tự động, thành thục. trong thực hành, người ta không chỉ nhấn mạnh vào việc học thuộc mà cong nhằm áp dụng hay sử dụng một cách thông minh các trí thức để thực hiện các nhiệm vụ khác nhau. Vì thế, trong dạy học, bên cạnh việc cho HS luyện tập một số chi tiết cụ thể, GV cũng cần lưu ý cho HS thực hành phát triển kĩ năng. 5.2.Quy trình thực hiện Bước 1: Xác định tài liệu cho luyện tập và thực hành Bước này bao gồm việc tập trung chú ý của HS về kỹ năng cụ thể hoặc những sự kiện cần luyện tập hoặc thực hành. Bước 2:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực
  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Sử Dụng Phù Hợp, Hiệu Quả Trong Nhà Trường Thcs (Tài Liệu Tham Khảo)
  • Phương Pháp Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh
  • Chuyen De Ve Lai Mach Dien Và Tính Giá Trị Điện Trở
  • Tập Huấn Văn:phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Dạy Học Ngữ Văn: Phác Thảo Chương Trình Ngữ Văn Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực (Pgs.ts. Bùi Mạnh Hùng)
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ngữ Văn Bằng Bản Đồ Tư Duy
  • Sự Cần Thiết Phải Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy
  • Bài 1: Tiên Phong Trong Đổi Mới Dạy Học
  • Cách Mạng Công Nghiệp Lần Thứ 4 Và Phương Hướng Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Các Nhà Trường Quân Đội Hiện Nay
  • CHUYÊN ĐỀ 2:

    “MỘT SỐ VẤN ĐỀ

    VỀ ĐỔI MỚI

    PHƯƠNG PHÁP

    DẠY HỌC”

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐỔI

    MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

    BÀI 1: TỔNG QUAN

    VỀ ĐỔI MỚI

    PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

    BÀI 2: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

    TÍCH CỰC

    BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

    Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức của HS

    – Vấn đáp tái hiện

    – Vấn đáp giải thích minh hoạ

    – Vấn đáp tìm tòi

    Xét chất lượng câu hỏi về mặt yêu cầu năng lực nhận thức

    – Loại câu hỏi có yêu cầu thấp, đòi hỏi khả năng tái hiện kiến thức, nhớ lại và trình bày lại điều đã học

    – Loại câu hỏi có yêu cầu cao đòi hỏi sự thông hiểu, kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh., thể hiện được các khái niệm, định lí.

    b.Quy trình thực hiện

    Trước giờ học:

    – Bước 1: Xác định mục tiêu bài học và đối tượng dạy học. Xác định các đơn vị kiến thức kĩ năng cơ bản trong bài học và tìm cách diễn đạt các nội dung này dưới dạng câu hỏi gợi ý, dẫn dắt HS.

    – Bước 2: Dự kiến nội dung các câu hỏi, hình thức hỏi, thời điểm đặt câu hỏi , trình tự của các câu hỏi. Dự kiến nội dung các câu trả lời của HS, các câu nhận xét hoặc trả lời của GV đối với HS.

    – Bước 3: Dự kiến những câu hỏi phụ để tuỳ tình hình từng đối tượng cụ thể mà tiếp tục gợi ý, dẫn dắt HS.

    Trong giờ học

    Bước 4: GV sử dụng hệ thống câu hỏi dự kiến (phù hợp với trình độ nhận thức của từng loại đối tượng HS) trong tiến trình bài dạy và chú ý thu thập thông tin phản hồi từ phía HS.

    Sau giờ học

    GV chú ý rút kinh nghiệm về tính rõ ràng, chính xác và trật tự logic của hệ thống câu hỏi đã được sử dụng trong giờ dạy.

    2/ DẠY HỌC PHÁT HIỆN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    Bản chất:

    Dạy học giải quyết vấn đề dựa trên cơ sở lý thuyết nhận thức. Giải quyết vấn đề có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển tư duy và nhận thức của con người. „Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề” (Rubinstein).

    DHGQVĐ là một QĐ DH nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của học sinh. Học sinh được đặt trong một tình huống có vấn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức.

    b. Quy trình thực hiện:

    Vấn đề

    I) Nhận biết vấn đề

    Phân tích tỡnh hu?ng

    Nh?n bi?t, trình bày v?n d? c?n gi?i quy?t

    II) Tìm cỏc phuong ỏn giải quyết

    So s¸nh víi c¸c nhiÖm vô ®· gi¶i quyÕt

    T×m c¸c c¸ch gi¶i quyÕt míi

    Hệ thèng ho¸, s¾p xÕp c¸c ph­¬ng ¸n gi¶i quyÕt

    III) Quyết định phương án (gi¶i quyÕt VĐ)

    Ph©n tÝch các phương án

    §¸nh gi¸ các phương án

    QuyÕt ®Þnh

    Gi?i quyết

    VẬN DỤNG DH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    b. ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA PPDH

    hợp tác trong nhóm nhỏ

    c. Một số lưu ý

    Chỉ những hoạt động đòi hỏi sự phối hợp của các cá nhân để nhiệm vụ hoàn thành nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn hoạt động cá nhân mới nên sử dụng phương pháp này.

    Tạo điều kiện để các nhóm tự đánh giá lẫn nhau hoặc cả lớp cùng đánh giá.

    Không nên lạm dụng hoạt động nhóm và cần đề phòng xu hướng hình thức (tránh lối suy nghĩ: đổi mới PPDH là phải sử dụng hoạt động nhóm).

    Tuỳ theo từng nhiệm vụ học tập mà sử dụng hình thức HS làm việc cá nhân hoặc hoạt động nhóm cho phù hợp.

    4. DẠY HỌC TRỰC QUAN

    a. Quy trình thực hiện

    – GV treo những đồ dùng trực quan hoặc giới thiệu về các vật dụng thí nghiệm, các thiết bị kỹ thuật…Nêu yêu cầu định hướng cho sự quan sát của HS.

    – GV trình bày các nội dung trong lược đồ, sơ đồ, bản đồ… tiến hành làm thí nghiệm, trình chiếu các thiết bị kỹ thuật, phim đèn chiếu, phim điện ảnh…

    – Yêu cầu HS trình bày lại, giải thích nội dung sơ đồ, biểu đồ, trình bày những gì thu nhận được qua thí nghiệm hoặc qua những phương tiện kỹ thuật, phim đèn chiếu, phim điện ảnh.

    – Từ những chi tiết, thông tin HS thu được từ phương tiện trực quan, GV nêu câu hỏi yêu cầu HS rút ra kết luận khái quát về vấn đề mà phương tiện trực quan cần chuyển tải.

    b.ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA PP TRỰC QUAN

    c. Một số lưu ý khi sử dụng PP trực quan

    – Phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu GD của bài học để lựa chọn đồ dùng trực quan tương ứng thích hợp.

    – Có PP thích hợp đối với việc sử dụng mỗi loại đồ dùng trực quan.

    – HS phải quan sát đầy đủ đồ dùng trực quan. Phát huy tính tích cực của HS khi sử dụng đồ dùng trực quan.

    – Đảm bảo kết hợp lời nói sinh động với việc trình bày các đồ dùng trực quan.

    – Tuỳ theo yêu cầu của bài học và loại hình đồ dùng trực quan mà có các cách sử dụng khác nhau.

    – Cần xác định đúng thời điểm để đưa đồ dùng trực quan.

    – Sử dụng các đồ dùng trực quan cần theo một quy trình hợp lí. Cần chuẩn bị câu hỏi/ hệ thống câu hỏi dẫn dắt HS quan sát và tự khai thác kiến thức.

    5. DẠY HỌC LUYỆN TẬP VÀ THỰC HÀNH

    a. Bản chất : Trong tài liệu

    b. QUY TRÌNH THỰC HIỆN:

    Xác định tài liệu cho luyện tập và thực hành

    Giới thiệu mô hình luyện tập hoặc thực hành

    Thực hành hoặc luyện tập sơ bộ

    Thực hành đa dạng

    Bài tập cá nhân

    c.ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA PP LUYỆN TẬP VÀ THỰC HÀNH

    d.Một số lưu ý khi sử dụng PP luyện tập, thực hành

    Các bài tập luyện tập được nhắc đi nhắc lại ngày càng khắt khe hơn, nhanh hơn và áp lực lên HS cũng mạnh hơn. Tuy nhiên áp lực không nên quá cao mà chỉ vừa đủ để khuyến khích HS làm bài chịu khó hơn.

    Thời gian cho luyện tập, thực hành cũng không nên kéo dài quá dễ gây nên sự nhạt nhẽo và nhàm chán.

    Cần thiết kế các bài tập có sự phân hoá để khuyến khích mọi đối tượng HS.

    Có thể tổ chức các hoạt động luyện tập, thực hành thông qua nhiều hoạt động khác nhau, kể cả việc tổ chức thành các trò chơi học tập.

    6. DẠY HỌC BẰNG TRÒ CHƠI

    Bản chất : (Trong tài liệu)

    Quy trình chọn trò chơi

    QUY TRÌNH PP TRÒ CHƠI

    Ví dụ về bản đồ tư duy

    b/Bản đồ tư duy giúp gì cho bạn?

    1.Sáng tạo hơn

    2.Tiết kiệm thời gian

    3.Ghi nhớ tốt hơn

    4.Nhìn thấy bức tranh tổng thể

    5.Tổ chức và phân loại suy nghĩ của bạn

    CÁC BƯỚC VẼ BĐTD ĐƠN GIẢN

    BƯỚC 3: Trong từ ng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ

    Một điều quan trọng cần nhớ là Sơ Đồ Tư Duy không phải dùng tóm tắt một chương sách. Sơ Đồ Tư Duy không chỉ bao hàm những ý chính mà còn chứa đựng tất cả những chi tiết hỗ trợ quan trọng khác. Thêm các chi tiết hỗ trợ phụ, bạn sẽ thấy.

    BƯỚC 4: Ở bước cuối cùng này, hãy để trí tư ởng tượng của bạn bay bổng. Bạn có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như giúp lư u chúng vào trí nhớ của bạn tốt hơn.

    KẾT LUẬN

    TÙY TỪNG BÀI SỬ DỤNG BĐTD HỢP LÍ

    HÌNH ẢNH TỪ NGỮ TRUNG TÂM PHẢI PHÙ HỢP.

    CẤU TRÚC BĐTD HỢP LÍ

    MÀU SẮC PHÙ HỢP

    NHÌN TỔNG TỔNG THU HÚT ĐƯỢC NGƯỜI XEM.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6 Trong Nhà Trường Thcs
  • Skkn Kinh Nghiệm Dạy Học Ngữ Văn Thcs Theo Phương Pháp Đổi Mới_2
  • Sử Dụng Bản Đô Tư Duy Trong Đổi Mới Ppdh Môn Ngữ Văn Thcs
  • Luận Văn Tiểu Luận Vận Dụng Mối Quan Hệ Vật Chất
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ngữ Văn Ở Trường Thpt Ngô Sĩ Liên
  • Một Số Biện Pháp Sử Dụng Đồ Dùng Trực Quan Trong Môn Học Mĩ Thuật Theo Phương Pháp Mới Ở Tiểu Học Đạt Hiệu Quả

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Và Kỹ Thuật Đánh Giá
  • Chương 5: Phương Pháp Tâm Lý Học
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Tâm Lý
  • Di Truyen Y Học Ebook Byt
  • Hướng Dẫn Giám Sát Nghiệm Thu Công Trình
  • à sáng tạo. 2. Đối với học sinh III. THỰC TRẠNG 1. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH Mĩ thuật là một môn học thường xuyên phải sử dụng đồ dùng trực quan, song trên thực tế cơ sở vật chất thiết bị dạy học vẫn còn thiếu, lạc hậu và kém hiệu quả rất nhiều. Bên cạnh đó, do Giáo viên dạy môn năng khiếu có chuyên môn năng khiếu, có hoạt động chuyên môn nghiệp vụ độc lập nên việc học tập, rèn luyện thường xuyên là thiếu, do đó để phát huy yếu tố tích cực sẽ gặp nhiều hạn chế. Một số bộ phận học sinh và phụ huynh học sinh đôi khi vẫn còn coi nhẹ môn học này, quan điểm của một số phụ huynh học sinh trong trường chưa có cái nhìn tích cực về môn Mĩ thuật nên dẫn đến việc một số học sinh chưa có đầy đủ đồ dùng . Chính vì thế khi nói đến phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong môn Mĩ thuật là ta phải nghĩ ngay đến một vấn đề có ý nghĩa quan trọng, vấn đề đưa lên hàng đầu trong dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới ở tiểu học. Như chúng ta đã biết, một tiết dạy Mĩ thuật có đồ dùng trực quan được khai thác triệt để sẽ bồi dưỡng và phát triển cho các em lòng ham thích, say mê học tập và đáp ứng yêu cầu, mục đích của bài. Khi các em biết khai thác đồ dùng trực quan độc lập các em sẽ nắm được các yếu tố tạo nên vẻ đẹp trong môn Mĩ thuật, ngoài ra còn phát huy óc tưởng tượng, tư duy sáng tạo tốt hơn. Cho nên việc đổi mới phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan là một nhu cầu tất yếu của quá trình dạy học và cũng là để hoàn thành tốt nhiệm vụ của người giáo viên trên bục giảng. Hiện nay ở các trường tiểu học, nhìn chung đã có đủ giáo viên dạy chuyên môn Mĩ thuật. Do vậy trong mỗi bài giảng việc nghiên cứu áp dụng sử dụng đồ dùng trực quan luôn là vấn đề mà các giáo viên chuyên Mĩ thuật quan tâm để cho chất lượng của môn mĩ thuật ngày một được nâng cao. Dạy Mĩ thuật nói chung góp phần mở rộng môi trường Mĩ thuật cho xã hội để mọi người đều hướng tới cái đẹp và thưởng thức cái đẹp từ đó giúp cuộc sống của con người phong phú hơn, đẹp hơn. 2. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT Việc sử dụng đồ dùng trực quan trong giờ giảng Mĩ thuật theo phương pháp cũ rất quan trọng., thì trong giảng dạy Mĩ thuật theo phương pháp mới lại càng quan trọng hơn bởi lẽ trong dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới tiếp tục hình thành và phát triển lớn hơn về các năng lực khác của học sinh đó là: Năng lực trải nghiệm; năng lực sáng tạo; năng lực biểu đạt; năng lực phân tích và diễn giải; năng lự giao tiếp và đánh giá. Sự chuẩn bị đồ dùng trực quan là yếu tố làm ban đầu, việc làm không thể thiếu đối với người giáo viên chuyên mĩ thuật khi đứng trên bục giảng. Nó là đặc thù của bộ môn vì thế giáo viên cần phải hết sức quan tâm chú trọng đến sự chuẩn bị đồ dùng trước giờ lên lớp sao cho thật chu đáo, thật đầy đủ và sát với yêu cầu, mục đích bài soạn. Ngoài ra, đồ dùng được chuẩn bị phải có tính khoa học, tính thẩm mĩ cao. Từ những vật tĩnh, những vật vô tri, vô giác giáo viên phải thổi vào đó cái hồn của sự vật và phải là người truyền cái hồn của sự vật đến từng học sinh. Có như vậy thì đồ dùng trực quan khi được đưa ra mới phát huy tác dụng và có sức thuyết phục đối với học sinh. Giáo viên phải tạo cho lớp học một không khí nghệ thuật bằng kiến thức có ở đồ dùng trực quan để học sinh thực hành tốt. 3. BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3.1 Phương pháp thiết kế đồ dùng cho mỗi bài giảng: 3.2 Phương pháp chuẩn bị cần thiết cho mỗi bài giảng: a) Sự chuẩn bị của giáo viên: Bước 1: Giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung bài giảng, phải có giáo án chi tiết trước khi lên lớp, phải tìm phương pháp truyền đạt nhanh nhất, ngắn nhất từ trực quan. Bởi đồ dùng trực quan nó phù hợp với đặc điểm môn học, phù hợp với đặc điểm tri giác của học sinh (tri giác bằng trực quan cụ thể) Bước 2: Chuẩn bị đồ dùng trực quan phù hợp với các tiến trình giảng dạy trong mục đích yêu cầu bài soạn. Đồ dùng gồm mẫu vẽ như đồ vật, dụng cụ sinh hoạt, hoa quả, hình khối...Tranh, ảnh như các phiên bản tranh của họa sĩ, minh hoạ các bước thực hiện bài vẽ cách sáng tạo làm một sản phẩm, các sản phẩm của Học sinh đã làm ở các lớp trước. Tất cả phải đáp ứng yêu cầu thẩm mĩ, đúng trọng tâm. Bước 3: Sử dụng trực quan để có hiệu quả thì khi sử dụng đồ dùng trực quan trong một tiết học vẽ giáo viên cần lấy mẫu , tranh ảnh, sản phẩm mẫu làm trung tâm. Lấy mẫu, tranh ảnh thay tiếng giảng giải, thuyết trình của cô. Cô chỉ gợi mở để học sinh tự tư duy, khám phá, khai thác kiến thức từ mẫu. Có như vậy phương pháp trực quan mới được khai thác triệt để, kết quả bài học mới đạt chất lượng cao. Giờ học có không khí nghệ thuật sôi nổi hơn. Qua đó ta thấy phương pháp trực quan sử dụng ở phần mở bài thu hú, lôi cuốn học sinh vào bài học. Quan sát, nhận xét sẽ phát huy được tác dụng tốt, học sinh hiểu bài một cách dễ dàng, nhanh, độc lập và hiểu sâu Giáo viên thì làm việc ít, không phải vất vả mà vẫn gây được hứng thú học tập ở các em. . Giáo viên cần nghiên cứu nội dung chương trình, xác định nội dung từng bài. Từ đó tìm tư liệu đồ dùng cần thiết phù hợp với bài dạy. Ví dụ: - Đồ vật thực. - Ảnh chụp các tranh, ảnh, sản phẩm của Học sinh đã làm - Bài vẽ, sản phẩm của học sinh năm trước. Việc chuẩn bị đồ dùng dạy học là rất quan trọng không chỉ dạy học Mĩ thuật theo phương pháp cũ mà dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới cũng vậy. Đòi hỏi người giáo viên cần phải biết chắt lọc, lựa chọn để đồ dùng trực quan cô đọng, đầy đủ nhưng xúc tích nhằm giúp HS có một cái nhìn tổng thể về bài học. 3.3 Phương pháp tổ chức một giờ học. - Để giúp học sinh làm tốt một bài vẽ, sản phẩm trước tiên giáo viên phải trang bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng cơ bản của bài học như hình mảng, màu sắc, bố cục, đường nét ... - Đối với giáo viên phải chuẩn bị tốt về giáo án, đồ dùng trực quan. - Khi sử dụng trực quan phải có ngôn ngữ giảng giải, thuyết trình phù hợp với đồ dùng trực quan. - Đồ dùng sử dụng không nên dễ dãi, không có chọn lọc hoặc nhiều quá làm cho đảo lộn nhận thức của học sinh. - Ví dụ: Chủ đề: EM VÀ NHỮNG NGƯỜI THÂN YÊU ở lớp 2 Giáo viên cần sử dụng đồ dùng trực quan Tranh vẽ, ảnh chụp . Các bài vẽ của Học sinh năm trước để minh họa hướng dẫn Học sinh . CHỦ ĐỀ: EM VÀ NHỮNG NGƯỜI THÂN YÊU Thời lượng : 2 tiết I ) Mục tiêu: 1.Kiến thức: - Học sinh biết cách quan sát, hình dung các bộ phận trên khuôn mặt để vẽ tranh chân dung theo cảm nhận. - Học sinh vẽ được chân dung của bản thân hoặc người mình yêu thích 2.Kĩ năng: - Học sinh phát huy được khả năng diễn đạt cảm xúc của bản thân đối với người khác. 3.Thái độ: - Học sinh yêu quý bạn bè kính trọng những người thân xung quanh. II ) Chuẩn bị: 1) Đồ dùng dạy học: a) Giáo viên: - Tranh chân dung, chân dung biểu cảm - Bài vẽ HS khóa trước. - Giấy vẽ A3. b) Học sinh: - Giấy vẽ A4, A3, chì, màu, đất nặn, giấy màu. 2)Vận dụng nội dung: - Học sinh với tác phẩm. III ) Hoạt động dạy học: 1)Ổn định tổ chức 2) Kiểm tra đồ dùng HS. 3)Bài mới: ( Tiết 1) TBHT lên điều hành giới thiệu về lớp GV giới thiệu bài: GV tổ chức HS chơi trò chơi ghép tranh( Đồ dùng trực quan các miếng tranh ghép) GV tổ chức 2 đội chơi ( Đội xanh - đội đỏ). Cách chơi: Hs 3- 4 em lần lượt lên ghép các miếng ghép sao cho hoàn chỉnh bức tranh. Đội nào ghép nhanh , đúng đội đó thắng cuộc. Gv : yêu cầu Hs quan sát hai bức tranh và cho biết cả hai bức tranh trên vẽ tranh gì? GV; Cả hai bức tranh trên đều vẽ tranh chân dung. Bức tranh 1 vẽ chân dung cô gái, bức tranh 2 vẽ chân dung bạn trai. Ở bức tranh 1 là tranh vẽ chân dung theo hình thức vẽ quan sát , ở bức tranh 2 là tranh vẽ chân dung biểu cảm. a) Hoạt động 1: Tìm hiểu về tranh chân dung Hoạt động của Giáo viên Hoạt động của Học sinh *) Gv cho HS quan sát 2 bức tranh chân dung biểu cảm GV: Em hãy quan sát hai bức tranh và cho cô biết Bức tranh 1 vẽ chân dung ai? Bức tranh2 vẽ chân dung ai? GV: Hãy kể các màu sắc có trong bức tranh? GV: Cả hai bức tranh chân dung này đều là tranh vẽ chân dung biểu cảm. GV: Em hãy cho cô biết Tranh chân dung là tranh vẽ gì? GV: Vẽ chân dung biểu cảm là vẽ như thế nào? GV: Nhận xét và bổ sung. GV: Hướng dẫn HS cách vẽ chân dung biểu cảm ở bảng: - Quan sát kĩ gương mặt của bạn đối diện để vẽ. - Vẽ khuôn mặt trước ( tròn , trái xoan, vuông chữ điền) - vẽ cổ,phần vai, cánh tay,thân người - Vẽ chi tiết mắt , mũi , miệng. GV: cho HS quan sát một số bức tranh vẽ chân dung biểu cảm HS khóa trước: - HS quan sát HS: Trả lời HS: Tranh chân dung là tranh vẽ người có thể vẽ nữa người hoặc toàn thân. Nhưng thể hiện các đặc điểm trên khuôn mặt là chủ yếu. HS: Vẽ tranh chân dung biểu cảm là tranh vẽ người có thể vẽ nữa người hoặc toàn thân thể hiện các đặc điểm trên khuôn mặt nhưng khi vẽ không nhìn giấy.Khi vẽ chủ yếu sử dụng kết hợp mắt và tay. - HS quan sát - HS quan sát và cảm nhận - GV: Gợi ý HS sang quy trình tiếp theo. Hoạt động 2: Quan sát và vẽ không nhìn giấy Hoạt động của Giáo viên Hoạt động của Học sinh GV hướng dẫn HS vẽ theo quan sát và không nhìn giấy: - Chú ý quan sát ghi nhớ các nét đặc trưng. - Phát triển khả năng kết hợp mắt và tay. - Làm việc theo cặp tập trung và yên lặng. - Mắt nhìn tới đâu thì tay cầm bút vẽ trên giấy theo các bộ phận mắt quan sát. HS vẽ cố gắng không nhìn giấy và đưa nét vẽ liền mạch khi vẽ. Hs vẽ từ 2- 3 tờ và ghi tên theo thứ tự Vd: Trang 1, Trang 2, Trang 3. - GV quan sát bao quát lớp gợi ý thêm Hs vẽ bài. - GV tổ chức treo bài HS ở bảng. - GV gợi ý HS nhận xét bài vẽ của bạn: + Bài vẽ giống mẫu hay không? + Em thích trạng thái tình cảm nào trong bức tranh? + Bức tranh nào vẽ chi tiết nhất? + Bài vẽ của bạn có nhìn giấy khi vẽ không? Làm thế nào em nhận ra điều đó? + Chúng ta vừa được hình thành kĩ Năng nào? + GV giáo dục HS qua bài học giúp các em biết cách quan sát và cảm nhận vẻ đẹp chân dung bạn bè, người thân, biết yêu quý bạn bè , kính trọng người lớn tuổi. - Hs chú ý lắng nghe. - HS thực hành theo cặp đôi. + HS TB học tập lên điều hành lớp dựa vào các câu hỏi GV gợi ý. - HS đặt câu hỏi và trả lời bạn. - HS lắng nghe Tiết 2 Hoạt động 3 : Thể hiện tranh biểu đạt bằng màu sắc Hoạt động của Giáo Viên Hoạt động của Học sinh - Giáo viên sẽ khuyến khích học sinh: * Lựa chọn bức vẽ phù hợp với biểu cảm mà các em muốn thể hiện; * Vẽ màu sắc cho bức tranh để tăng biểu cảm; * Xem tranh và tìm nguồn cảm hứng từ các tác phẩm của họa Sỹ. GV: Các em hãy lựa chọn chất liệu, màu sắc phù hợp để vẽ nhằm tăng tính biểu cảm. - GV quan sát cả lớp gợi ý thêm HS vẽ màu - GV: Hướng dẫn học sinh dùng khung tự tạo: + xác định bố cục bức tranh trong Vẽ chân dung, và cả những bức tranh khác được sáng tạo trong suốt quá trình học mĩ thuật. - HS thực hành Hoạt động của Giáo viên Hoạt động của Học sinh - GV tổ chức HS trưng bày sản phẩm. -GV gợi ý HS lên trình bày nội dung bức tranh. GV gợi HS suy nghĩ và chia sẻ: + Tranh vẽ ai? + Thể hiện tâm trạn bạn vui hay buồn? + Bài vẽ nào ngộ nghĩnh đáng yêu nhất? + Bài vẽ nào vẽ màu đẹp nhất? + Em thích bài vẽ của bạn nào? Tại sao? - GV nhận xét bổ sung, khen ngợi về các bài vẽ của HS. *) Dặn dò: Chuẩn bị đồ dùng đầy đủ cho tiết học sau. - HS TB học tập lên điều hành lớp trưng bày sản phẩm. HS trình bày trước lớp HS chọn bài vẽ đẹp, nêu cảm tưởng của bản thân. - HS lắng nghe. 6. Hiệu quả đề tài: - Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, tìm ra biện pháp khắc phục và áp dụng thực hiện trong phạm vi trường mình. C. Kết luận Phương pháp dạy học là phạm trù rộng trong việc nghiên cứu giáo dục. Mỗi giáo viên có những ưu thế riêng của mình trong cách dạy và thực hiện phương pháp. Với bản thân trải qua những năm giảng dạy, tôi đã rút ra kinh nghiệm và áp dụng trong giảng dạy của mình và của đồng nghiệp. Song tôi luôn suy nghĩ đảm bảo chất lượng cho học sinh ngoài kinh nghiệm của mình, tôi không ngừng học hỏi các đồng nghiệp để nâng cao tay nghề đáp ứng với sự nghiệp giáo dục trong xã hội hiện nay. IV. KẾT QUẢ Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, tìm ra biện pháp khắc phục và áp dụng thực hiện trong phạm vi trường mình. Việc học tập của các em đã có chuyển biến rõ rệt . Cuối HKI học sinh đạt được những kết quả khả quan, từng bước nâng cao chất lượng dạy và học qua từng giai đoạn. Kết quả cụ thể như sau: Kết quả khi chưa áp dụng : STT Khối Lớp Số HS Sản phẩm đẹp SL % 1 1 96 53 55 2 2 87 57 65 3 3 95 60 63 4 4 83 61 73 5 5 89 70 78 STT Khối Lớp Số HS Sản phẩm đẹp SL % 1 1 96 68 70 2 2 87 70 80 3 3 95 75 78 4 4 83 70 84 5 5 89 73 82 MỘT SỐ BÀI VẼ, SẢN PHẨM CỦA HỌC SINH Đúc kết nội dung, kinh nghiệm : Các hình thức, phương pháp dạy học phong phú, linh hoạt tránh sự nhàm chán cho học sinh Khẳng định sử dụng đồ dùng trực quan vào giảng dạy đạt hiệu quả cao. C. BÀI HỌC KINH NGHIỆM Để đạt được hiệu quả tốt sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Mĩ thuật, bản thân tôi rút ra những kinh nghiệm sau: Giáo viên luôn trao dồi kiến thức, học hỏi kinh nghiệm ở các bạn đồng nghiệp. Giáo viên phải nghiên cứu tài liệu, nắm vững phương pháp mới, tự học, tự rèn luyện để nâng cao kiến thức giảng dạy. Chuẩn bị tốt khâu soạn giảng, hình thành tốt các phương pháp dạy học tích cực thích hợp với từng bài, từng phần, từng nội dung. Xác định dúng mục đích - yêu cầu. Chuẩn bị tốt ĐDDH phục vụ tiết dạy. Sử dụng ĐDDH hợp lý với đặc trưng của từng bài như sắp xếp vật mẫu ( vật thực ), mẫu vẽ, hính gợi ý các bước vẽ hình, vẽ màu, vẽ đậm nhạt. Khi sử dụng ĐDDH cần lưu ý tới tính khoa học, thẩm mĩ và độ chính xác của kiến thức. Giáo viên vận dụng khéo léo các phương pháp dạy học tích cực như: phương pháp làm việc nhóm, phương pháp trực quan, phương pháp luyện tập. Giáo viên cần hình thành thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh và nâng cao khả năng miêu tả đồ vật bằng đường nét, hình khối, đậm nhạt, màu sắc của học sinh trong phân môn vẽ theo mẫu. Giáo viên luôn yêu thương học sinh, gần gũi với học sinh, luôn động viên, tuyên dương và khuyến khích các em học tập. Giáo viên luôn tiếp thu, đóng góp ý kiến của chuyên môn ngành và BGH nhà trường. Giáo viên kết hợp chặt chẽ với nhà trường và phụ huynh học sinh để giúp các em trong học tập. Biện pháp triển khai áp dụng đề tài vào thực tiễn: Thực hiện xuyên suốt từ đầu đến cuối năm học; Tổ chức nhiều hình thức, cho học sinh tiếp cận một số phương pháp mới với nhằm thu hút và gây sự hứng thú trong các em học sinh; Tham mưu chặt chẽ và kịp thời với Ban giám hiệu; phối hợp tốt với các bộ phận chuyên môn trong nhà trường; D. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Môn Mĩ thuật là một môn học nghệ thuật chiếm một vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với học sinh tiểu học. Vì lứa tuổi học sinh trong giai đoạn này là giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh, là giai đoạn hình thành phát triển năng lực thẩm mĩ cho học sinh. Vì vậy người Giáo viên cần nắm vững được những yếu tố trên để có những biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan một cách có hiệu quả nhằm mang lại kết quả cao trong công tác giảng dạy. 2. Kiến nghị, đề xuất Hoàn thành đề tài này , tôi có các đề xuất sau: a. Đối với Giáo viên: - Cần sưu tầm đồ dùng dạy học phong phú và lựa chọn đồ dùng dạy học phù hợp với nội dung bài dạy. - Cần phải thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng về năng lực chuyên môn để nâng cao trình độ. - Cần học hỏi đúc rút kinh nghiệm từ bạn bè đồng nghiệp để làm vốn kinh nghiệm cho bản thân. b. Đối với nhà trường: - Cần có thêm những tài liệu hướng dẫn, tham khảo trong bộ môn Mỹ Thuật dạy học theo phương pháp mới của Đan Mạch.. - Cần tạo điều kiện, hỗ trợ đầy đủ đồ dùng dạy học và cơ sở trang thiết bị dạy học cho Giáo viên Mĩ thuật. C. Đối với cha mẹ học sinh: - Cần quan tâm hơn nữa tới việc học bộ môn Mỹ Thuật cho các em. c. Đối với cấp trên - Cần tổ chức thêm các đợt tập huấn, chuyên đề về Mĩ thuật để Giáo viên bổ sung kiến thức, cập nhật những vấn đề mới cho Giáo viên. Trong khuôn khổ của một kinh nghiệm, do điều kiện thời gian, năng lực hiểu biết và số năm công tác còn chưa nhiều nên chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong ban lãnh đạo, đồng nghiệp đóng góp ý kiến, sửa đổi bổ sung để có thể sớm áp dụng đề tài này vào thực tiễn giảng dạy ở Tiểu học. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình phương pháp giảng dạy..........................Trường CĐSP Nhạc họa TW 2. Phương pháp giảng dạy ở Tiểu học.................................................NXBGD-2010 3. Mĩ thuật và phương pháp dạy học Mĩ thuật ở tiểu học.NXBGD- 2006 4. Tài liệu dạy học Mĩ thuật dành cho giáo viên tiểu học ( dự án hỗ trợ GDMT tiểu học ( SAEPS))..NXBGD- 2022 .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Sứ Dụng Phương Pháp Trực Quan Khi Giảng Dạy Môn Mĩ Thuật Trong Trường Tiểu Học
  • Kiểm Soát Và Giám Sát Dự Án Toàn Diện (Phần 1)
  • Sử Dụng Phương Pháp Quan Sát Trong Dạy Tự Nhiên & Xã Hội Lớp 2
  • Phương Pháp Quan Sát Dạy Môn Khoa Học Lớp 5
  • Phương Pháp Quan Sát Trong Nghiên Cứu Thị Trường Thực Hiện Như Thế Nào?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100