Giáo Án Tự Chọn 11 Cơ Bản Tiết 14: Bài Tập Phương Pháp Quy Nạp Toán Học

--- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Năng Tư Duy Sáng Tạo Là Gì ? Cách Rèn Luyện Kỹ Năng Tư Duy
  • Giáo Án Môn Đại Số 11
  • Phương Pháp Nhận Thức Khoa Học
  • Các Phương Pháp Giải Bài Tập Về Este Trong Hóa Học Lơp 12
  • Cách Chuyển Đổi Tín Hiệu Analog Sang Digital Bằng Adc
  • I/ Mục tiêu bài dạy :

    1) Kiến thức :Rèn luyện về phương pháp quy nạp toán học.

    2) Kỹ năng :Biết vận dụng phương pháp quy nạp vào việc chứng minh các bài toán.

    3) Tư duy : sử dụng thành thạo phương pháp quy nạp.

    4) Thái độ : Cẩn thận trong tính toán và trình bày . Tích cực tham gia vào bài học

    II/ Phương tiện dạy học :

    – Giáo án , SGK ,STK .

    III/ Phương pháp dạy học :

    – Thuyết trình và Đàm thoại gợi mở.

    – Học sinh làm bài tập,giáo viên hướng dẫn sửa bài tập.

    Tiết 14 : BÀI TẬP PHƯƠNG PHÁP QUY NẠP TOÁN HỌC I/ Mục tiêu bài dạy : 1) Kiến thức :Rèn luyện về phương pháp quy nạp toán học. 2) Kỹ năng :Biết vận dụng phương pháp quy nạp vào việc chứng minh các bài toán. 3) Tư duy : sử dụng thành thạo phương pháp quy nạp. 4) Thái độ : Cẩn thận trong tính toán và trình bày . Tích cực tham gia vào bài học II/ Phương tiện dạy học : Giáo án , SGK ,STK . Dụng cụ. III/ Phương pháp dạy học : - Thuyết trình và Đàm thoại gợi mở. - Học sinh làm bài tập,giáo viên hướng dẫn sửa bài tập. IV/ Tiến trình bài học và các hoạt động : Hoạt động 1 : Kiểm tra bài cũ. HĐGV HĐHS NỘI DUNG -Nêu các bước chứng minh bằng phương pháp quy nạp? -Nhận xét,kết luận về câu trả lời. -Phát biểu các bước CM quy nạp. -Nhận xét,đánh giá. -Ghi nhận kiến thức. -Các bước CM bằng phương pháp quy nạp toán học. Hoạt động 2 : Bài tập số 1. HĐGV HĐHS NỘI DUNG Chứng minh rằng chia hết cho 6. -Hướng dẫn chứng minh. -Nhận xét bài làm. -Làm vào giấy nháp và lên bảng làm. -Nhận xét bài làm của bạn -Ghi nhận kết quả,ghi vào vỡ. Khi n=1 ta có chia hết cho 6. Giả sử khi n=k thì Ta chứng minh đúng với n=k+1 Từ đó suy ra điều phải chứng minh. Vậy Hoạt động 3 : Bài tập 2 HĐGV HĐHS NỘI DUNG Chứng minh rằng * ta có: -Hướng dẫn học sinh làm bài tập. -Nhận xét,đánh giá và kết luận bài làm của học sinh. -Làm vào vỡ nháp,lên bảng làm. -Dùng tổ hợp. -Nhận xét về bài làm -Ghi nhận kiến thức. Khi n = 1, Giả sử MĐ đúng khi n = k : Ta phải chứng minh đúng với n=k+1 Chia hết cho 9 vì chia hết cho 9. Vậy Hoạt động 4 : Bài tập số 3. HĐGV HĐHS NỘI DUNG Chứng minh rằng ta có: -Hướng dẫn học sinh chứng minh bằng phương pháp quy nạp. -Nhận xét và bổ sung hoàn chỉnh bài làm của học sinh. -Làm vào giấy nháp và lên bảng làm. -Dùng chỉnh hợp. -Nhận xét bài làm của bạn -Ghi nhận kết quả,ghi vào vỡ. Khi n=1 ta có Giả sử đúng khi n = k tức là ta có Ta phải chứng minh đúng với n=k+1. Vậy Củng cố : -Chép bài tập về nhà. -Nhấn mạnh phương pháp quy nạp toán học. Dặn dò : Làm các bài tập về phương pháp quy nạp toán học.

    Tài liệu đính kèm:

      tuchon11cbtiet14.doc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Qui Nạp Toán Học
  • Lập Luận Quy Nạp (Inductive) Là Gì Và Khác Biệt So Với Lập Luận Diễn Dịch (Deductive)
  • Khái Niệm Về Ma Trận ( Dành Cho Bậc Đh)
  • Một Số Biện Pháp Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ Nhà Trẻ 24
  • Skkn Một Số Biện Pháp Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ 3
  • Một Số Yêu Cầu Cơ Bản Về Phương Pháp Học Tập, Nghiên Cứu

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Học Tập Và Nghiên Cứu Khoa Học Cho Sinh Viên Vấn Đề Nghiên Cứu Khoa Học
  • Cách Học Giỏi Văn Lớp 8
  • Phương Pháp Học Tốt Môn Văn Lớp 8
  • Chuyên Đề Phương Pháp Dạy Học Môn Chính Trị Trong Trường Tccn Thaoluanppctri Doc
  • Bí Kíp Tự Học Ở Nhà
  • Quá trình học tập, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin cần thực hiện được một số yêu cầu cơ bản sau đây:

    Thứ nhất, những luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin được thể hiện trong những bối cảnh cụ thể khác nhau, nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể khác nhau nên hình thức thể hiện tư tưởng cũng khác nhau. Vì vậy, học tập, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chú nghĩa Mác – Lênin cần phải hiểu đúng tinh thần, thực chất của nó; chống xu hướng kinh viện, giáo điều.

    Thứ hai, sự hình thành, phát triển những luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin là một quá trình. Trong quá trình ấy, những luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin có quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung, hỗ trợ nhau. Vì vậy, học tập, nghiên cứu mỗi luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin phải đặt chúng trong mối liên hệ với các luận điểm khác, ở các bộ phận cấu thành khác để thấy được sự thống nhất trong tính da dạng và nhất quán của mỗi tư tưởng nói riêng, của toàn bộ chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung.

    Thứ ba, học tập, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin để hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì vậy, phải gắn những luận điểm của chũ nghĩa Mác – Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn thời đại để thấy sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện trong từng giai đoạn lịch sử.

    Thứ tư, học tập, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin để đáp ứng những yêu cầu của con người Việt Nam trong giai đoạn mới. Vì vậy, quá trình học tập, nghiên cứu đồng thời cũng phải là quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu dưỡng và rèn luyện để từng bước hoàn thiện mình trong đời sống cá nhân cũng như trong đời sống cộng đồng xã hội.

    Thứ năm, chủ nghĩa Mác – Lênin không phải là hệ thống lý luận khép kín nhất thành bất biến, mà trái lại đó là hệ thống lý luận không ngừng phát triển trên cơ sở phát triển của thực tiễn thời đại. Vì vậy, quá trình học tập, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin đồng thời cùng phải là quá trình tổng kết, đúc kết kinh nghiệm để góp phần phát triển tính khoa học và tính nhân văn vốn có của nó; mặt khác, việc học tập, nghiên cứu các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng cần phải đặt nó trong lịch sử phát triển tư tưởng nhân loại bởi nó là sự kế thừa và phát triển tinh hoa của lịch sử đó.

    Một số yêu cầu trên thống nhất hữu cơ với nhau, giúp cho quá trình học tậ, nghiên cứu không chỉ kế thừa được tinh hoa của chủ nghĩa Mác – Lênin mà quan trọng hơn, nó giúp người học tập, nghiên cứu vận dụng được tinh hoa ấy trong các hoạt động nhận thức và thực tiễn.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Kích Thích Hứng Thú Học Tập Môn Tiếng Anh Cho Học Sinh Trung Học Cơ Sở
  • Phương Pháp Học Tốt Môn Địa Lí Bạn Nên Biết
  • Học Tập Lý Luận Chính Trị Không Chỉ Là Nhiệm Vụ, Mà Còn Là Nghĩa Vụ Của Cán Bộ Trẻ
  • Làm Thế Nào Để Học Tập Lí Luận Chính Trị
  • Làm Thế Nào Để Đạt Kết Quả Cao Nhất Trong Học Tập?
  • Phương Pháp Tự Học Kế Toán Cơ Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • 12 Nguyên Tắc Kế Toán Cơ Bản Quan Trọng Trong Hạch Toán Kế Toán
  • Nợ Có Trong Kế Toán Là Gì? Phương Pháp Ghi Sổ Kép Trong Kế Toán
  • Phương Pháp Ghi Sổ Cái ” Kế Toán Lê Ánh
  • Cách Ghi Sổ Kế Toán Theo Phương Pháp Chứng Từ Ghi Sổ
  • Kế Toán Bán Hàng (Tiêu Thụ Thành Phẩm) Theo Phương Thức Tiêu Thụ Trực Tiếp
  • Có rất nhiều bạn mong muốn tìm hiểu về nghiệp vụ kế toán, muốn củng cố kiến thức, kỹ năng về kế toán để phục vụ công việc nhưng lại không có nhiều thời gian để đến trung tâm học trực tiếp., thường chọn phương pháp tự học kế toán tại nhà .

    Tuy nhiên việc tự học kế toán không dễ dàng, bạn cần phải có lộ trình rõ ràng, và cần phải có sự kiên nhẫn, và thời gian. Từ kinh nghiệm đào tạo kế toán trong nhiều năm, trung tâm kế toán Lê Ánh sẽ hướng dẫn bạn những cách tự học kế toán cơ bản hiệu quả nhất .

    Nhiều bạn khi bắt đầu học kế toán rất hay đốt cháy giai đoạn muốn học luôn nghiệp vụ thực hành, tìm hiểu chứng từ kế toán học theo hình thức học tắt mà chưa tìm hiểu kỹ về kiến thức nguyên lý kế toán nên thường hay bị vấp, không hiểu chỉ học và làm kế toán theo kiểu quen tay mà chưa hiểu rõ bản chất. Đây cũng là lý do vì sao những người có 2 năm kinh nghiệm làm kế toán kho, thủ quỹ nhưng không biết cách định khoản nghiệp vụ, làm báo cáo cáo tài chính hay quyết toán thuế….

    Vậy nếu bạn mới bắt đầu học kế toán nên học những gì, kế toán có thật sự khó như bạn nghĩ hay chỉ đơn giản là biết cách định khoản viết hóa đơn chứng từ là có thể làm được việc.

    Tiếp theo, bạn sẽ tự học học kế tóan trên sách vở, qua những khóa học online hay nhờ người hướng dẫn. Phần lớn những ai từng học kế toán đều bỏ cuộc do không thể tự học được một mình vì thiếu người hướng dẫn và giáo trình, phương pháp học hiêu quả.

    Bạn Phương Anh chia sẻ trên diễn đàn chúng tôi

    ” Em thấy tự học kế toán khó quá anh/ chị ạ, ngồi học thuộc cách định khoản sổ sách kế toán, hệ thông tài khoản theo TT200 em đã mệt rồi lại còn chia ra từng mảng số sách, kế toán theo quý theo tháng.Nhập liệu chứng từ… em thật sự nản, không biết mình có làm được nghề này chưa nữa, có ai muốn bỏ giữa chừng như em không?” Khóa học kế toán cho người mới bắt đầu

    Đây là thực tế chung mà của rất nhiều người học kế toán đang gặp phải nếu bạn không có phương pháp học hiệu quả thì quá trình học rất khó đạt được hiệu quả.

    Tuy nhiên, để học kế toán hiệu quả bạn cần xác định được nhu cầu học kế toán thực tế của mình như thế nào, trước khi quyết định học kế toán như thế nào hiệu quả nhất.

    Kế toán là một nghành có nhiều lĩnh vực và đặc thù khác nhau vì vậy bạn nên xác định rõ mục tiêu cần học gì: kế toán tổng hợp, kế toán bán hàng, xây dựng hay kế toán thuế…vì khi đi làm bạn không thể kiểm soát hết được toàn bộ nghiệp vụ và quy trình làm kế toán. Nếu mới băt đầu tìm hiểu nghiệp vụ kế toán thì tốt nhất nên tìm hiểu tổng quan trước khi quyết định học theo mục tiêu định hướng công việc của mình là học kế toán của bạn để quản lý công việc hay mong muốn đổi nghề làm kế toán thực hành.

    Lớp học kế toán thực hành tại trung tâm Lê Ánh

    Khi xác đinh được nhu cầu học tập của mình rồi bạn sẽ xác định được phương pháp tự học hiệu quả, những phần kiến thức nào có thể tự học, những phần nào cần được hướng dẫn từ chuyên gia lâu năm, như vậy bạn sẽ tiết kiệm được thời gian và sức lực của mình.Nhiều người học kế toán để xin việc vì không thích công việc ổn định hoặc học kế toán để quản lý công việc kinh doanh của minh, để đạt đươc hiểu quả tốt nhất bạn nên tìm phương pháp tự học kế toán hiệu quả nhất.

    Điều quan trọng khi học kế toán là bạn có thể xác định được cho mình phương pháp học phù hơp nhất nhưng không phải cách học nào cũng hợp lý và ai cũng đủ kiên trì để theo đuổi tới cùng nếu thiếu người hướng dẫn.

    Để việc học tập hiệu quả hãy xác định rõ phương pháp học tkế toán cụ thể:

    Nếu bạn không thể tập trung hay thiếu tính kiễn nhẫn…thì rất khó để tự học kế toán hiệu quả. Thay vì tự học kế toán bạn có thể nhờ những người có kinh nghiệm làm kế toán hướng dẫn. Đây cũng là lý do trung tâm kế toán Lê Ánh mở các lớp học kế toán tổng hợp thực hành, học việc với kế toán trưởng trên 10 năm kinh nghiệm.

    Hình ảnh khóa học kế toán tổng hợp thực hành tại Nguyễn Trãi, Q Thanh xuân, TP Hà Nội

    Hình ảnh phản hồi học viên khóa học kế toán tổng hợp thực hành dành cho người mới bắt đầu

    Tham gia học tập tại trung tâm bạn sẽ được giảng viên là kế toán trưởng trực tiếp hướng dẫn, cầm tay chỉ việc các nghiệp vụ đến khi thành thạo.

    Các khóa học kế toán thực hành tai trung tâm Lê Ánh luôn nhận được phả hồi tích cực từ học viên về nguồn giảng viên chất lượng ( 100% đều là kế toán trưởng trên 10 năm kinh nghiệm làm việc thực tế). Nếu bạn mới bắt đầu tìm hiểu về kế toán có thể đăng ký khóa học kế toán tổng hợp cho người mới bắt đầu. Khi đăng ký khóa học kế toán thực hành bạn sẽ được tặng thêm khóa học nguyên lý kế toán cơ bản, nhằm tạo nền và củng cố lại kiến thức nghiệp vụ cho bạn trước khi học nghiệp vụ kế toán thực hành với kế toán trưởng.

    ​Bạn Trần Minh Tâm, học viên lớp K57 kế toán tổng hợp tại trung tâm Lê Ánh chi nhánh Hà Nội sau khi học xong bạn Tâm cho biết:

    “Trước khi học ở trung tâm mình đã tự học kế toán ở nhà nhưng không hiệu quả vì không có ai hướng dẫn, mà cũng không biết nên bắt đầu học từ đâu vì càng học càng thấy kiến thực rất rộng. Khi học kế toán ở trung tâm mình được học với giảng viên mình biết rõ hơn về kế toán rất nhiều. Bây giờ nhìn sổ sách mình đã biết cách phân loại, định khoản nghiệp vụ, làm được báo cáo tài chính, quyết toán thuế…mình thấy chương trình học hiệu quả”

    Ngoài ra, lớp học có chính sách hỗ trợ học viên:

    Phản hồi học viên tại lớp học kế toán tổng hợp thực hành

    Bạn ở Hà Nội và tp Hồ Chí Minh có thể đăng ký học thử những khóa kế toán cở bản cho người mới bắt đầu theo địa chỉ:

    Bên cạnh các khóa học kế toán, Lê Ánh còn khai giảng các khóa học xuất nhập khẩu thực tế ở tất cả cơ sở của trung tâm tại Hà Nội và TPHCM, nếu bạn muốn biết thêm thông tin chi tiết về các khóa học này, vui lòng truy cập trang web: chúng tôi

    Chuyên cung cấp các Khóa học kế toán tổng hợp thực hành và làm dịch vụ kế toán thuế trọn gói tốt nhất thị trường

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Định Khoản Kế Toán Vận Tải
  • Hạch Toán Kế Toán Là Gì? Các Kiến Thức Căn Bản Nhất Về Hạch Toán
  • Phương Pháp Phản Ánh Vào Tài Khoản Kế Toán
  • Chứng Từ Kế Toán Là Gì Và Phương Pháp Chứng Từ Kế Toán
  • Cách Hạch Toán Thuế Xuất, Nhập Khẩu
  • Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Về Nội Dung Và Phương Pháp Giảng Dạy Các Dạng Hình Tứ Giác
  • Tập Huấn Văn:phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực
  • Chuyen De Ve Lai Mach Dien Và Tính Giá Trị Điện Trở
  • Phương Pháp Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh
  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Sử Dụng Phù Hợp, Hiệu Quả Trong Nhà Trường Thcs (Tài Liệu Tham Khảo)
  • Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    A. Đặt vấn đê

    I. Lí do chọn đê tài

    Đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề đã đặt ra từ rất lâu và được

    sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà giáo dục, nhất là của các thầy giáo, cô giáo.

    Nhưng việc vận dụng đổi mới phương pháp dạy học trong dạy học không phải là

    việc dễ dàng thực hiện và đạt được hiệu quả ngay từ đầu. Trước đây, chúng ta

    dạy học vẫn theo phương pháp truyền thống với quan niệm : học là quá trình

    tiếp thụ và lĩnh hội qua đó hình thành kiến thức, kỹ năng, tư tưởng tình cảm.

    Giáo viên(GV) luôn là người truyền thụ toàn bộ những kiến thức, những hiểu

    biết của mình về một vấn đề nào đó; còn học sinh(HS) là người ghi nhớ, tiếp thu

    mọi lời giảng của GV. Chính vì vậy mà phương pháp đó dẫn đến chỗ HS là

    người thụ động và qúa trình nhận thức mang tính chất áp đặt, một chiều. HS học

    để đối phó với thi cử và sau khi thi xong những điều đã học thường bị bỏ quên

    hoặc ít dùng đến. Hiện nay, phương pháp dạy học truyền thống không còn thích

    hợp với mục tiêu giáo dục – đào tạo, hơn thế việc đổi mới chương trình sách

    giáo khoa càng cần phải đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương pháp dạy học.

    Bởi chỉ có đổi mới cơ bản phương pháp dạy học chúng ta mới có thể tạo được

    sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người năng

    động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên

    thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức.

    Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong

    Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII(1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa

    VIII(1996), được thể chế hóa trong luật giáo dục (2005). Điều 28.2 trong Luật

    giáo dục đã ghi : ” Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,

    tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp

    học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến

    thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập

    cho học sinh ” . Có thể nói cốt lõi của việc đổi mới dạy học là hướng tới hoạt

    động học tập chủ động; chống lại thói quen học tập thụ động.

    Tuy nhiên, đối với mỗi môn học trong nhà trường tùy theo đặc trưng bộ

    môn mà vận dụng việc đổi mới phương pháp sao cho thích hợp, linh hoạt để đạt

    mục tiêu cần đạt . Đối với môn Ngữ văn, việc vận dụng phương pháp dạy học

    mới vẫn còn hạn chế . GV chỉ say mê khám phá văn bản và khổ công tìm tòi

    cách thức lên lớp sao cho hấp dẫn mà không chú ý HS bài đó như thế nào ? Mục

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    1

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    đích của giờ dạy học văn theo quan điểm, phương pháp mới không phải người

    GV là người truyền thụ lời giảng của mình một cách chủ quan mà mục đích cao

    nhất là làm sao để chủ thể HS dưới sự hướng dẫn của GV chủ động khám phá,

    tiếp nhận tác phẩm và đồng thời bộc lộ được tình cảm bản thân.

    Trong quá trình giảng dạy văn học, có nhiều phương pháp dạy học tích

    cực được áp dụng và mỗi phương pháp đều được thử thách qua thời gian. Chẳng

    hạn phương pháp thuyết trình; phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết

    vấn đề ; phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ; dạy học theo dự án …

    Kết quả của mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng. Một

    trong những phương pháp dạy học tích cực đưa lại kết quả cao trong học tập,

    phát huy được tính chủ thể của HS là phương pháp vấn đáp.

    Trong phạm vi bài tập nghiên cứu khoa học này, tôi đi sâu tìm hiểu phương

    pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn ở khối trung học phổ thông. Tôi đã

    quyết định chọn đề tài này để trước hết là bản thân có điều kiện khái quát nâng

    cao chuyên môn sau thời gian nghiên cứu áp dụng và qua đây mong được chia

    sẻ với đồng nghiệp cùng quan tâm để góp phần nâng cao chất lượng chuyên

    môn và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trong phạm vi nhà trường

    THPT.

    II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

    – Dựa trên một số lí luận cơ bản về triết học, về tâm lí học, về việc đổi

    mới phương pháp dạy học văn … để đề ra một số biện pháp trong phương pháp

    dạy học vấn đáp .

    – Nhằm mục đích nâng cao chất lượng của giờ học, phát huy tính tích cực,

    tự giác chủ động, sáng tạo của HS; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ

    năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, rèn cho HS bản lĩnh tự tin, khả năng

    diễn đạt một vấn đề, gây hứng thú học tập cho HS.

    IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.

    Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tôi đề xuất một số nhiệm vụ của đề

    tài:

    + Xác định cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của dạy học vấn đáp (đàm

    thoại) .

    + Đề xuất một số biện pháp dạy học vấn đáp trong môn Ngữ Văn.

    + Thực hiện một số công việc trong phương pháp vấn đáp.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    2

    B. Nội dung

    CHƯƠNG I : NHỮNG CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHƯƠNG PHÁP

    VẤN ĐÁP TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN.

    1. Cơ sở tâm lí học.

    Nhận thức thế giới xung quanh, tìm hiểu những sự vật, hiện tượng xảy ra

    xung quanh mình là một nhu cầu không thể thiếu của con người. Đây là một

    trong ba mặt cơ bản của đời sống, của tâm lí con người (Nhận thức – Tình cảm

    – Hành động). Nhờ có nhận thức mà chúng ta không chỉ phản ánh hiện thực

    xung quanh mình mà cả hiện thực của bản thân nữa, không chỉ phản ánh cái bên

    ngoài, cái hiện tại mà cả cái bên trong, cái sẽ tới và các quy luật phát triển của

    hiện thực.

    Mục tiêu của nhà trường phổ thông nói chung và mục tiêu của trường

    THPT nói riêng là hình thành nhân cách của HS, phát triển toàn diện và trưởng

    thành về mặt xã hội của HS. Trong nhà trường phổ thông, HS được giáo dục

    bằng nhiều phương pháp, nhiều ngành học… trong đó bộ môn Ngữ văn được coi

    là một môn học chủ công trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách.

    Nhân cách là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lí cá nhân quy định

    giá trị xã hội và hành vi của họ. HS là một nhân cách trong chừng mực nào đó

    mà các phẩm chất xã hội ở đó được phát triển để nó trở thành chủ thể có ý thức

    đối với mọi hoạt động công ích của mình. Như vậy có nghĩa là một trong những

    con đường để hình thành và phát triển nhân cách là con đường hoạt động của

    chính HS. Con đường tác động có mục đích tự giác của xã hội bằng giáo dục

    đến HS sẽ trở nên vô hiệu hoá nếu như HS không tiếp nhận, không hưởng ứng

    những tác động đó, không trực tiếp tham gia vào các hoạt động nhằm phát triển

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    3

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    tâm lí, hình thành nhân cách. Chính vì vậy qua giờ học vấn vận dụng phương

    pháp vấn đáp, HS có dịp bù đắp những tri thức mà mình chưa được biết, chưa

    hiểu hoặc hiểu chưa rõ, để tự mình tiếp nhận và hoàn thiện mình về tư tưởng,

    đạo đức và hành vi trong học tập và trong cuộc sống.

    2. Cơ sở nhận thức.

    Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người nhưng sự

    phản ánh này không phải giản đơn, thụ động mà là quá trình biện chứng dựa trên

    hoạt động tích cực của chủ thể trong quan hệ đối với khách thể. Nhưng không

    phải con người nào cũng đều là chủ thể của nhận thức. Con người trở thành chủ

    thể khi nó tham gia vào hoạt động xã hội nhằm biến đổi và nhận thức khách thể.

    Trong nhà trường HS chính là chủ thể của hoạt động nhận thức; còn khách thể

    chính là những tri thức kinh nghiệm của nền văn minh nhân loại. Theo cơ sở

    triết học: con người tự làm ra mình bằng chính hoạt động của mình nhưng cái

    quan trọng là làm ra cái đó như thế nào và bằng cách nào?

    Đối với môn Ngữ văn HS đến trường để học tập thực chất là để tiếp nhận,

    chiếm lĩnh những giá trị của tác phẩm văn chương. Vì mục đích ấy, HS tự đọc

    lấy tác phẩm, tự chiếm lĩnh lấy tác phẩm, nắm bắt được cái hồn của tác phẩm.

    GV chỉ là người hướng dẫn, chỉ bảo cho HS những hướng tiếp cận tác phẩm sao

    cho có hiệu quả nhất, HS từ đó mà tự chiếm lĩnh tác phẩm. Đồng thời cùng với

    sự chiếm lĩnh tác phẩm ấy, HS dưới những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt của GV mà

    trình bày những suy nghĩ, cách hiểu của mình về vấn đề đặt ra trong tác phẩm.

    Chính vì những vấn đề đó mà rất cần có một giờ học vấn đáp để qua giờ

    học ấy HS có thể khẳng định họ thật sự là những chủ thể sáng tạo trong quá

    trình nhận thức bằng chính hoạt động của mình.

    3. Cơ sở văn học.

    Nếu hình tượng hội hoạ được xây dựng bằng đường nét, màu sắc; âm

    nhạc được xây dựng bằng nhịp điệu, giai điệu, âm thanh…thì hình tượng văn học

    được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ. Do lấy ngôn từ làm chất liệu cho nên

    hình tượng văn học chỉ tác động vào trí tuệ, tâm hồn, tình cảm gợi nên sự liên

    tưởng và tưởng tượng trong tâm trí người đọc. Nhờ liên tưởng và tưởng tượng

    trên những nét tương đồng giữa thế giới âm thanh và hình ảnh, giữa thế giới hữu

    hình và thế giới vô hình trở thành hiện hình qua phương tiện ngôn ngữ.

    Thực chất của vấn đề phát huy chủ thể HS trong giờ Ngữ văn là khêu gợi,

    kích thích và nuôi dưỡng, phát triển ở HS nhu cầu đồng cảm và khát vọng nhận

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    4

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    thức cái mới qua hình tượng, tính cách nhân vật. Và cũng qua đó việc học tác

    phẩm văn học thực sự trở thành một hoạt động cá thể hoá sâu sắc đi từ nhận

    thức khách quan hình tượng đến chỗ tự nhận thức; do đó có khát vọng sống và

    hành động theo nhân vật lí tưởng. Chính vì vậy trong giờ học văn rất cần có sự

    trao đổi giữa GV và HS, giữa HS và GV để qua giờ học ấy thu được kết quả cao

    hơn và cũng qua giờ học ấy HS có dịp bộc lộ mình, tự khẳng định mình, đồng

    thời GV cũng có cơ hội để nắm được trình độ tiếp nhận của HS.

    CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI

    Qua quá trình dạy học, kinh nghiệm của bản thân, quá trình dự giờ của đồng

    nghiệp , tôi nhân thấy :

    – Một số GV chủ yếu vẫn dạy theo phương pháp dạy học truyền thống:

    GV sử dụng các phương pháp diễn giảng truyền thụ toàn bộ những kiến thức

    một chiều ; còn HS là người ghi nhớ, tiếp thu mọi lời giảng của GV. Giờ học trở

    nên khô khan, trầm, thậm chí căng thẳng, HS tham gia học bài một cách chiếu

    lệ. Rõ ràng điều đó dẫn đến chất lượng, hiệu quả giờ học không cao.

    – Còn một số GV có vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong

    giờ học song chưa hiệu quả, còn hình thức. Chẳng hạn vận dụng phương pháp

    vấn đáp : GV đặt ra những câu hỏi yêu cầu HS trả lời song chưa tạo ra được

    không khí tranh luận sôi nổi giữa HS với nhau hay giữa HS với GV.

    – Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên là một số GV nhận

    thức chưa rõ bản chất của việc dạy học văn. Dạy học văn trong nhà trường

    không đơn thuần là giảng văn, phân tích văn học mà là dạy đọc văn bản, đó là

    quá trình đối thoại giữa HS, GV và tác giả đằng sau văn bản . Đó là hình thức

    giao tiếp, đối thoại vượt thời gian, không gian, không phải là truyền thụ một

    chiều. Bên cạnh đó một số GV vẫn còn nhiều ngộ nhận về lí thuyết và lúng túng

    trong biện pháp thực thi việc cải cách, đổi mới phương pháp dạy học vấn đáp .

    Chẳng hạn các phương pháp đổi mới là gì ? Khi đổi mới phương pháp dạy học

    thì vai trò của người thầy có bị hạ thấp không ? Câu hỏi như thế nào là đổi mới?

    Bao nhiêu câu hỏi là vừa ?…..

    – Ngoài ra, GV chuẩn bị bài dạy chưa thật kĩ, đặc biệt là chưa xây dựng

    được hế thống câu hỏi phù hợp với bài dạy, chưa chú ý tới việc chuẩn bị bài học

    của HS, chưa phân loại đối tượng HS trong từng lớp … GV chưa ý thức rõ về

    dạng câu hỏi, mức độ yêu cầu của câu hỏi dẫn đến khâu tổ chức dạy học tìm

    hiểu bài học thiếu tính khoa học, tình trạng GV hỏi một đằng HS trả lời một nẻo

    hoặc trả lời không đúng trọng tâm yêu cầu.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    5

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    Chính vì vậy, vần đề vận dụng đổi mới phương pháp dạy và học văn càng

    được quan tâm hơn bao giờ hết đặc biệt là phương pháp vấn đáp. Tuy nhiên,

    việc đổi mới phương pháp dạy học văn không có nghĩa là gạt bỏ các phương

    pháp truyền thống mà phải vận dụng một cách hiệu quả các phương pháp dạy

    học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp các phương pháp hiện đại.

    CHƯƠNG III: NỘI DUNG DẠY HỌC VẤN ĐÁP (ĐÀM THOẠI).

    I. QUAN NIỆM VỀ DẠY HỌC VẤN ĐÁP (ĐÀM THOẠI).

    1. Thế nào là phương pháp vấn đáp?

    Phương pháp vấn đáp là phương pháp trong đó GV đặt ra các câu hỏi để

    HS trả lời , hoặc tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó HS lĩnh hội được nội

    dung bài học. Phương pháp vấn đáp, đàm thoại khác với thuyết trình ở chỗ nội

    dung cần truyền thụ không được thể hiện qua lời giảng của người dạy mà được

    thực hiện bởi hệ thống câu trả lời của người học, dưới sự gợi mở bởi các câu hỏi

    của người dạy đề xuất. Các câu hỏi này được tổ chức thành một hệ thống phù

    hợp với nội dung bài học, đối tượng HS.

    2. Mục đích và yêu cầu của phương pháp vấn đáp

    Mục đích của phương pháp vấn đáp là nâng cao chất lượng giờ học bằng

    cách tăng cường hình thức hỏi đáp, đàm thoại giữa GV và HS, rèn cho HS lĩnh

    tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề trước tập thể. Muốn thực hiện điều đó, đòi

    hỏi GV phải xây dựng được hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu bài học, hấp

    dẫn, sát đối tượng, xác định được vai trò chức năng của từng câu hỏi, mục đích

    hỏi , các yếu tố kết nối hệ thống câu hỏi. Câu hỏi phải khơi gợi được hứng thú

    tham gia hoạt động của HS và phải được chuẩn bị một cách chu đáo và thực sự

    khoa học, không thể tùy hứng, vụn vặt, thiếu hệ thống, đặc biệt là không có tác

    dụng dẫn dắt HS thâm nhập và cắt nghĩa văn bản. Câu hỏi không cần nhiều

    nhưng phải là những câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống

    buộc HS phải suy nghĩ và có hứng thú bộc lộ cảm nghĩ của mình. Ngoài ra

    người GV cần dự án các phương án trả lời của HS để có thể thay đổi hình thức,

    cách thức mức độ hỏi, có thể dẫn dắt qua các câu hỏi phụ tránh đơn điệu nhàm

    chán, nặng nề bế tắc; tạo hứng thú học tập cho HS và tăng hấp dẫn của giờ học .

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    6

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    3. Các nhân vật tham gia trong giờ học vấn đáp.

    a. Giáo viên trong giờ học vấn đáp.

    Thực tế cho thấy, trong một thời gian dài trước khi cải cách giáo dục người

    ta đã từng quan niệm học văn là một quá trình thầy đọc, giảng, cảm thụ còn trò

    chỉ là những cỗ máy ghi chép. Theo cách dạy học truyền thống, người giáo viên

    trong giờ học là người quyết định một cách toàn diện chất lượng dạy học và

    được coi là chủ thể của hoạt động dạy. Thế nhưng, trước yêu cầu ngày càng cao

    của xã hội và sự bùng nổ về tri thức, thông tin đã đặt người học trước một nhiệm

    vụ mới khó khăn hơn. Bản chất của sự học ngày nay đã thay đổi. Học bao giờ

    cũng phải đi đôi với hành “học và hành phải kết hợp chặt chẽ…phải gắn liền

    với thực tế những đòi hỏi của dân tộc, xã hội” giáo viên không còn đóng vai trò

    đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, GV trở thành người thiết kế, tổ chức,

    hướng dẫn các hoạt động độc lập, hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm

    lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo

    yêu cầu của chương trình. Điều này đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư công

    sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mời có thể thực hiện bài

    lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong

    các hoạt động tìm tòi tranh luận của HS. GV phải có trình độ chuyên môn sâu,

    rộng, có trình độ sư phạm mới có thể tổ chức hướng dẫn các hoạt động của HS.

    Với giờ đọc – hiểu văn bản Ngữ văn, GV là người điều khiển, hướng dẫn để

    HS tự khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. Người GV phải chuẩn bị kĩ nội

    dung bài học như xác định rõ mục tiêu bài học, tiến trình tổ chức dạy học . Đặc

    biệt là quá trình tổ chức hướng dẫn dạy – học bài mới. GV phải xây đựng được

    một hệ thống câu hỏi vấn đáp phù hợp với nội dung bài học. Câu hỏi phải khơi

    gợi được hứng thú tham gia hoạt động của HS và phải được chuẩn bị một cách

    chu đáo và thực sự khoa học, không thể tùy hứng, vụn vặt, thiếu hệ thống, đặc

    biệt là không có tác dụng dẫn dắt HS thâm nhập và cắt nghĩa văn bản. Câu hỏi

    không cần nhiều nhưng phải là những câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt,

    có tình huống buộc HS phải suy nghĩ và có hứng thú bộc lộ cảm nghĩ của mình.

    Có thể nói xây dựng được hệ thống câu hỏi vấn đáp có chất lượng có tác dụng

    gợi dẫn HS thâm nhập khám phá tác phẩm là một nghệ thuật đòi hỏi sự công

    phu và tài năng thực sự của GV.

    Theo kinh nghiệm của tôi, đối với mỗi câu hỏi, người GV phải xác định được

    mức độ, mục đích, nội dung và hình thức câu hỏi, cũng như tính hệ thống, dẫn

    dắt của môĩ câu hỏi. Cũng phải lưu ý một điều là tùy vào tình huống thực tế, vào

    đối tượng HS mà người GV có thể thay câu hỏi hoặc bổ sung các câu hỏi cho

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    7

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    8

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VẤN ĐÁP

    – Trong giờ học văn, GV phải là người điều khiển, hướng dẫn để HS tự

    khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. HS là một chủ thể trực tiếp tiếp nhận,

    chiếm lĩnh tác phẩm. HS có điều kiện phát huy những khả năng mới vốn tiềm ẩn

    mà lâu nay bản thân các em chưa khám phá, bộc lộ hoặc còn rụt rè, lúng túng…

    Từ đó, tạo cho các em sự mạnh dạn, tự tin khi diễn đạt một vấn đề trước tập thể.

    – GV cần phải nắm vững bản chất của phương pháp vấn đáp, đặc biệt là

    phải phân biệt được các loại, mức độ vấn đáp để từ đó xây dựng hệ thống câu

    hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống, khơi gợi được hứng thú

    tham gia hoạt động của HS, phù hợp với nội dung bài học .

    Qua tài liệu tham khảo và kinh nghiệm của bản thân, tôi nhận thấy có ba

    phương pháp (mức độ) vấn đáp: Vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích chứng

    minh và vấn đáp tìm tòi, phát hiện, sáng tạo

    II.1. Vấn đáp tái hiện : Đây là phương pháp GV đặt ra câu hỏi yêu cầu

    HS chỉ cần nhớ lại và tái hiện nội dung bài học. Đây là dạng vấn đáp ở mức độ

    bình thường, không đòi hỏi HS phải tư duy mà chỉ cần huy động trí nhớ hoặc

    dựa vào văn bản văn học.

    Ví dụ 1: GV cho HS tìm hiểu phần tiểu dẫn của đoạn trích Việt Bắc, có

    thể đặt câu hỏi: Nêu hoàn cảnh ra đời của bài ? HS dựa vào tiểu dẫn trả lời:

    Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tháng 7- 1954, Hiệp định Giơ-nevơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải

    phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới . Tháng 10- 1954, những người

    kháng chiến từ căn cứ miền núi về miền xuôi, nhân sự kiện có tính lịch sử ấy Tố

    Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.

    Ví dụ 2: Khi hướng dẫn HS tìm hiểu những phát hiện của người nghệ sĩ

    nhiếp ảnh trongvăn bản Chiếc thuyền ngoài xa(Nguyễn Minh Châu) , GV đặt

    câu hỏi vấn đáp tái hiện : Tuy nhiên, ngay khi tâm hồn bay bổng trong những

    cảm xúc thẫm mỹ, đang tận hưởng cái khoảng khắc trong ngần của tâm hồn thì

    người nghệ sĩ nhiếp ảnh đã kinh ngạc phát hiện ra điều gì tiếp theo ngay sau

    bức tranh ? Tâm trạng người nghệ sĩ khi đó như thế nào? .

    HS tái hiện : Bước ra từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ là một người

    đàn bà xấu xí, mệt mỏi ; một gã đàn ông to lớn, dữ dằn ; một cảnh tượng tàn

    nhẫn: gã chồng đánh đập vợ một cách thô bạo … đứa con thương mẹ đã đánh lại

    cha để rồi nhận lấy hai cái bạt tai của bố ngã dúi xuống cát…Chứng kiến cảnh

    tượng đó người nghệ sĩ Phùng kinh ngạc đến thẫn thờ. Người nghệ sĩ như chết

    lặng, không tin vào những gì đang diễn ra trước mắt.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    9

    N ăm học: 2012- 2013

    10

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    11

    N ăm học: 2012- 2013

    12

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    13

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    C. KẾT LUẬN

    Áp dụng phương pháp vấn đáp (đàm thoại) trong dạy học môn Văn ở

    trường phổ thông là một việc làm cần thiết để nhằm nâng cao chất lượng HS.

    Phương pháp dạy học nào thì cũng có mặt tích cực và hạn chế của nó. Nhưng

    nói chung theo phương pháp dạy học mới hiện nay lấy HS làm trung tâm thì

    việc dạy học theo phương pháp vấn đáp mang lại thành công nhiều hơn.

    Việc áp dụng phương pháp vấn đáp vào trong dạy học bộ môn Ngữ Văn

    có tác dụng rất lớn trong việc phát triển trí tuệ, tâm hồn của HS, rèn luyện kỹ

    năng, phát huy sáng tạo của HS, phát huy hướng tìm tòi, phát hiện trong quá

    trình học của HS. Nhưng với phương pháp này đôi khi cũng có hạn chế đối với

    các lớp HS yếu, dễ gây mất thời gian.

    Mỗi phương pháp đều có thế mạnh riêng. Người GV là người tổ chức

    hoạt động dạy và học, vì vậy phải biết tận dụng sức mạnh của mỗi phương pháp

    để từ đó đạt hiệu quả cao trong học tập và giảng dạy. Có người đã từng nói: Từ

    trong nước chảy ra sẽ là nước, từ trong máu chảy ra sẽ là máu. Người GV phải

    biết xuất phát từ cái tâm, sự nhiệt huyết của mình để làm tròn sứ mệnh thiêng

    liêng kết nối trái tim với trái tim. Trái tim sẽ mách bảo cách dạy sao cho mỗi

    ngày, mỗi tiết thật sự bổ ích và hấp dẫn.

    D. Ý KIẾN ĐỀ NGHỊ VẬN DỤNG KINH NGHIỆM.

    Thực hiện quá trình đổi mới phương pháp dạy học là công việc phức

    tạp, đòi hỏi nhiều công sức tâm huyết của mỗi GV chúng ta. Trong quá trình

    thực hiện, đổi mới đòi hỏi phải có sự kết hợp đồng bộ giữa nhiều cấp độ. Chính

    vì vậy, tôi xin nêu một vài kiến nghị đề nghị tới các cấp như sau:

    – Sở giáo dục nên tiếp tục tổ chức các đợt học tập chuyên đề và tập trung

    nhiều hơn đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và tạo điều kiện để các cụm

    tổ chức trao đổi kinh nghiệm về phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng

    và các bộ môn khác trong nhà trường nói chung.

    – Ban chuyên môn nhà trường tiếp tục tăng cường kiểm tra dự giờ thường

    xuyên để động viên, thúc đẩy GV đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất

    lượng giáo dục.

    – Tổ nhóm chuyên môn và mỗi người thầy chúng ta cần quan tâm đúng

    mức tới công việc vận dụng việc đổi mới phương pháp dạy học, không chủ quan

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    14

    Lê Thị Hoa

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    15

    --- Bài cũ hơn ---

  • Uu Diem Va Nhuoc Diem 5 Pp
  • Hấp Dẫn Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Văn
  • Đề Tài Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Bí Quyết Học Thi Vấn Đáp, Trắc Nghiệm, Thi Viết
  • Bí Quyết Thi Vấn Đáp Thành Công
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Ở Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Kể Chuyện Học Sinh Tiểu Học
  • Quy Trình Dạy Phân Môn Kể Chuyện Lớp 5 Theo Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Kể Chuyện
  • Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Khám Phá Trong Dạy Học Phép Biến Hình Lớp 11 Trung Học Phổ Thông ( Ban Nâng Cao)
  • Sự Kết Hợp Đa Dạng Các Phương Pháp Trong Giảng Dạy
  • Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực: Kĩ Thuật Kwl
  • vc

    CHÀO MỪNG QUÝ THẦY, CÔ ĐẾN THĂM LỚP

    CHUYÊN ĐỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TIỂU HỌC

    BÁO CÁO VIÊN

    HÀ VĂN GIAO

    vc

    I. MỤC TIÊU MÔN TOÁN TIỂU HỌC:

    1.Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số, số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản.

    2. Hình thành các kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống.

    3. Góp phần bước đầu phát triển tư duy, khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện và các giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tập Toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo.

    vc

    II. Kiến thức kỹ năng môn Toán tiểu học.

    Lớp 1:

    + Các số đến 100 (đọc, viết, so sánh các số trong phạm vi 100). Cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100.

    + Đọc, viết cộng trừ các số theo đơn vị đo xăngtimet, đọc giờ đúng, có hiểu biết về tuần lễ, ngày trong tuần.

    + Biết giải bài toán có 1 phép tính cộng hoặc trừ.

    + Nhận dạng hình vuông, hình tròn, hình tam giác.

    vc

    2. Lớp 2:

    + Đọc, viết, so sánh các số trong phạm vi 1000. Cộng trừ có nhớ trong phạm vi 100. khái niệm ban đầu về nhân chia, bảng nhân chia 2, 3,3,4, 5. Tìm giá trị biểu thức có đến phép tính (cộng, trừ, nhân, chia).

    + Giới thiệu về lít, kg, tiền. Mở rộng đơn vị đo độ dài đến mm, dm, km.

    + Đường gấp khúc, tứ giác, hình chữ nhật.

    + Giải bài toán có 1 phép tính.

    vc

    3. Một số phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Toán ở tiểu học.

    Dạy học theo nhóm trong môn toán:

    a.1 Những đặc điểm của dạy học theo nhóm.

    + Thế nào là dạy học theo nhóm.

    + Việc tổ chức học tập theo nhóm góp phần hình thành và phát triển năng lực theo nhóm gồm.

    Kỹ năng

    Thái độ.

    + Ích lợi của việc tổ chức dạy học theo nhóm.

    vc

    a.2 Kỹ năng Qui trình và cách thức dạy học theo nhóm.

    + Qui trình dạy học theo nhóm:

    Tổ chức thành lập các nhóm.

    Đề ra nhiệm vụ.

    Các nhóm thực hiện nhiệm vụ.

    Các đại diện nhóm trình bày kết quả.

    Hoạt động chung cả lớp (nếu cần thiết). Giáo viên chốt các kiến thức mới xuất hiện, đánh giá hoạt động học tập của các nhóm.

    + Kỹ thuật chia nhóm: có nhiều kỹ thuật:

    -ngẫu nhiên

    -cùng sở thích… Bốc thăm..cùng trình độ..

    vc

    d. Hình thức tổ chức trò chơi trong học tập môn Toán.

    d.1 Thế nào là trò chơi học tập?

    d.2 Tác dụng của trò chơi học tập.

    d.3 Những phản ứng tâm lý của Hs khi tham gia trò chơi học tập.

    d.4 Cách tổ chức trò chơi học tập môn Toán.

    4.5 Những yêu cầu để trò chơi học tập đạt hiệu quả cao.

    -Trò chơi phải có mục đích học tập: Trò chơi học tập phải nhằm mục đích học tập gì? củng cố, bổ sung kiến thức gì? (về số, tính toán, giải toán, vẽ, đọc, ứng dụng.) rèn luyện những tố chất nào?

    vc

    -Trò chơi phải được chuẩn bị tốt: Chuẩn bị tốt có nghĩa là phải nắm vững yêu cầu, mục đích giáo dục của trò chơi để hướng mọi hoạt động phục vụ cho mục đích yêu cầu ấy. Phải chuẩn bị tốt các phương tiên (sân bãi, dụng cụ, vật liệu, mẫu vật, đồ chơi.) phục vụ cho trò chơi, phải có kế hoạch được thể hiện ở bài soạn.

    – Trò chơi phải thu hút được nhiều Hs tham gia: Mọi Hs tham gia trò chơi học tập cần:

    . Nhiệt tình, tích cực, hào hứng..

    . Nghiêm chỉnh chấp hành luật chơi.

    . Cố gắng vươn lên để “thắng”

    . Luôn giữ vững tinh thần đoàn kết,thân ái dù “thắng” hay “thua”

    * Nếu thấy Hs thờ ơ không tham gia chơi cần xem lại cách tổ chức hoặc trò chơi không hấp dẫn.

    vc

    d.6 Những lưu ý khi tổ chức trò chơi học tập môn Toán.

    -Mỗi trò chơi phải gắn với một bài, chương cụ thể hoặc có những tri thức tổng hợp như giải toán, phối hợp nhiều nội dung tri thức hình học, số, phép toán.

    Dựa vào hình thức, cách chơi và luật chơi của trò chơi có thể thay thế các trò chơi một cách linh hoạt (thay số, thay hình, thay sự tương ứng..), từ sự thay thế linh hoạt tạo cho Gv nhiều cơ hội tổ chức phù hợp với đối tựng Hs của mình.

    Các trò chơi thường tổ chức theo nhóm ở ngay trong lớp học với thời gian từ 5 đến 10 phút. Việc chuẩn bị các trò chơi đơn giản, dễ làm dễ kiếm (que tính, bìa giấy cũ được dán bồi, mẫu dây thép, sợi dây, bông hoa giấy..)

    vc

    BÀI HỌC KẾT THÚC.

    CHÚC CÁC THẦY CÔ VUI KHỎE

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gợi Ý Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Phổ Biến
  • Phương Pháp Dạy Học Theo Nhóm
  • Một Số Phương Pháp Dạy Học Nhằm Phát Huy Tính Tích Cực, Chủ Động, Sáng Tạo Của Học Sinh Thcs Trong Việc Học Phân Môn Vẽ Tranh
  • Một Số Biện Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học
  • Luận Văn: Phương Pháp Dạy Học Trong Dạy Học Hóa Học Lớp 10
  • Các Phương Pháp Kế Toán Cơ Bản Mới Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • 3 Phương Pháp Hiệu Quả Để Hạch Toán Nguyên Vật Liệu Ngành Kế Toán
  • Cách Hạch Toán Nguyên Vật Liệu Theo Thông Tư 200
  • Phương Pháp Kế Toán Tổng Hợp Nguyên Vật Liệu Trong Dn (Phần 2)
  • Phương Pháp Kế Toán Ngoại Tệ Trong Đơn Vị Hành Chính Sự Nghiệp
  • Hoàn Thiện Quy Định Về Kế Toán Các Giao Dịch Bằng Ngoại Tệ
  • Hầu hết các doanh nghiệp hiện nay đều có các phương pháp kế toán cơ bản cho doanh nghiệp mình. Công ty kế toán Hà Nội xin chia sẻ cho các bạn 6 phương pháp kế toán cơ bản. Các phương pháp này thích hợp với đặc điểm của đối tượng nghiên cứu là tài sản, nguồn hình thành tài sản và sự tuần hoàn của tài sản trong các giai đoạn sản xuất kinh doanh.

    1. Phương pháp kế toán dồn tích

    • Phương pháp kế toán dồn tích dựa trên cơ sở Dự thu – Dự chi.
    • Ví dụ điển hình của phương pháp kế toán dồn tích là phương pháp bán chịu. Doanh thu được ghi nhận vào sổ kế toán khi phát hành hóa đơn, giao hàng thay vì vào thời điểm thu được tiền. Tương tự, một khoản chi phí phát sinh và được ghi nhận khi hàng đã được đặt mua hoặc đã chấm công cho công nhân thay vì thời điểm thanh toán tiền. Do đó, điểm yếu chính của phương pháp kế toán dồn tích đó là công ty phải trả thu nhập trước khi thực nhận được tiền từ doanh thu bán hàng và dịch vụ

    2. Phương pháp kế toán dựa trên dòng tiền

    Phương pháp kế toán dựa trên dòng tiền Cash basis, từ nguyên gốc theo tiếng Anh, nhiều khi được hiểu và dịch sai thành “Cơ sở tiền mặt”. Thực chất, cash basis là phương pháp kế toán dựa trên cơ sở Thực thu – Thực chi tiền. Phương pháp kế toán dựa trên dòng tiền là phương pháp đơn giản nhất. Theo phương pháp này thu nhập và chi phí được ghi nhận khi thực nhận tiền và thực chi tiền.

    3. Phương pháp chứng từ kế toán

    • Chứng từ kế toán là phương pháp thông tin và kiểm tra sự hình thành các nghiệp vụ kinh tế
    • Để phản ánh và có thể kiểm chứng được các nghiệp vụ kinh tế, kế toán có một phương pháp là: mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải lập các chứng từ là giấy tờ hoặc vật chứa đựng thông tin, làm bằng chứng xác nhận sự phát sinh và hoàn thành của các nghiệp vụ kinh tế.
    • Phương pháp này nhằm sao chụp nguyên tình trạng và sự vận động của các đối tượng kế toán, được sử dụng để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh và thực sự hoàn thành theo thời gian, địa điểm phát sinh vào các bản chứng từ kế toán
    • Đây là căn cứ pháp lý cho việc bảo vệ tài sản và xác minh tính hợp pháp trong việc giải quyết các mối quan hệ kinh tế pháp lý thuộc đối tượng hạch toán kế toán, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh

    4. Phương pháp tính giá

    • Đây là phương pháp thông tin và kiểm tra về chi phí trực tiếp và gián tiếp cho từng loại hoạt động, từng loại tài sản như: tài sản cố định, hàng hoá, vật tư, sản phẩm và lao vụ…

    5. Phương pháp đối ứng tài khoản

    Đối ứng tài khoản là phương pháp thông tin và kiểm tra quá trình vận động của mỗi loại tài sản, nguồn vốn và quá trình kinh doanh theo mối quan hệ biện chứng được phản ánh vào trong mỗi nghiệp vụ kinh tế phát sinh

    6. Phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán

    • Đây là phương pháp khái quát tình hình tài sản, nguồn vốn và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị hạch toán qua từng thời kỳ nhất định bằng cách lập các báo cáo có tính tổng hợp và cân đối như: bảng cân đối kế toán; báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; báo cáo lưu chuyển tiền tệ…
    • Muốn có những thông tin tổng hợp về tình trạng tài chính của đơn vị thì phải lập bảng cân đối tài sản tức là sử dụng phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán. Nhưng chỉ có thể tổng hợp và cân đối các loại tài sản của doanh nghiệp trên cơ sở theo dõi chặt chẽ sự hình thành và vận động biến đổi của các loại tài sản qua các giai đoạn sản xuất kinh doanh.

    Công ty đào tạo kế toán Hà Nội – Chuyên đào tạo kế toán trên chứng từ thực tế Làm dịch vụ kế toán trọn gói cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ từ 500.000đ – 1.000.000đ / tháng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Hạch Toán Chiết Khấu Thương Mại
  • Phương Pháp Hạch Toán Kế Toán Một Số Nghiệp Vụ Kinh Tế Chủ Yếu
  • Kế Toán Bất Động Sản Đầu Tư (Phần 2)
  • Chi Tiết Cách Hoạch Toán Tổng Hợp Nguyên Vật Liệu Công Cụ Dụng Cụ
  • Phương Pháp Kế Toán Nguyên Vật Liệu Và Công Cụ Dụng Cụ
  • Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Ở Trường Phổ Thông

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Huy Tính Tích Cực Học Tập Của Người Học Thông Qua Kĩ Thuật “dạy Học Mảnh Ghép”
  • Đổi Mới Nhận Thức Về Người Học Và Phương Pháp Học Ngoại Ngữ (P2)
  • “nghiên Cứu Bài Học “
  • “nghiên Cứu Bài Học” Mô Hình Dạy Và Học Tích Cực
  • Học Tập Ngoài Trời: Chìa Khóa Cho Những Đứa Trẻ Hạnh Phúc, Khỏe Mạnh Và Sáng Tạo
  • Những vấn đề cơ bản trong lí luận dạy học tổng quát1 đã được đề cập trong học phần

    Giáo dục học đại cương dành cho sinh viên năm thứ hai Đại học Sư phạm. Vấn đề là vận

    dụng chúng vào dạy học môn toán như thế nào. Để trả lời câu hỏi này, trước hết phải làm rõ

    đặc thù của dạy học môn toán và sự tương thích với lí luận dạy học nói chung. Điều này sẽ

    được đề cập trong một giáo trình đầy đủ về phương pháp dạy học môn toán mà tác giả đang

    cố gắng hoàn thiện trong vài năm tới. Trong phạm vi tài liệu này, sau khi sơ lược vài khái

    niệm cơ bản, ta sẽ tập trung vào một số vấn đề về phương pháp dạy học toán theo định

    hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh. Sau đó, ta sẽ quan tâm đặc biệt hơn về dạy học

    đặt và giải quyết vấn đề.

    ht tp :// w w w .v nm at h. co m 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HCM KHOA TỐN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MƠN TỐN Ở TRƯỜNG PHỔ THƠNG (Các tình huống dạy học điển hình) TP.HCM - 2005 ht tp :// w w w .v nm at h. co m 2 LỜI NÓI ĐẦU Cuốn sách này không phải là một tài liệu đầy đủ về lí luận dạy học môn toán (hay Phương pháp dạy học môn toán, như ta vẫn thường gọi). Nó không đề cập hết các nội dung về Phương pháp dạy học môn toán với tư cách là một ngành khoa học hay với tư cách là một bộ môn trong các trường sư phạm. Một giáo trình đầy đủ như vậy đang được tác giả cố gắng hoàn thiện trong một vài năm tới. Tài liệu này chỉ trình bày hai nội dung chủ yếu nhất của chương trình phương pháp dạy học môn toán - phần đại cương, mà tác giả đã giảng dạy cho sinh viên năm thứ ba Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh từ nhiều năm nay. Đó là một số vấn đề học sinh, và đặc biệt là các tình huống điển hình mà ta thường gặp trong thực tế dạy học toán ở trường phổ thông. Việc xuất bản tài liệu này nhắm tới các mục đích chủ yếu sau đây: − Cập nhật một số nội dung kiến thức mới, phù hợp với xu thế phát triển của khoa học giáo dục nói chung và định hướng đổi mới phương pháp ở trường phổ thông nói riêng; hình trong dạy học môn toán ở trường THPT với nhiều ví dụ minh hoạ rút ra từ thực tế dạy học; − Tạo thuận lợi cho việc đổi mới cách dạy và cách học ở trường Đại học Sư phạm, hạn chế tối đa việc ghi chép của sinh viên. Từ đó nó cho phép dành nhiều thời gian hơn cho hoạt động thực hành như soạn bài và tập giảng, xem và trao đổi về giờ giảng của giáo viên phổ thông qua băng đĩa, dự giờ của giáo viên ở trường Trung học phổ thông ngay từ đầu năm thứ ba và chính trong quá trình học tập bộ môn Phương pháp dạy học. Nó cũng tạo nhóm, Tác giả hy vọng việc đào tạo đan xen giữa lí thuyết và thực hành như vậy sẽ cho phép sinh viên nắm vững hơn kiến thức và rèn luyện tốt hơn kĩ năng sư phạm. Hy vọng rằng đây cũng là một tài liệu tham khảo có ích cho giáo viên phổ thông trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Tác giả rất biết ơn và mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc để hoàn thiện dần các nội dung được đề cập trong tài liệu. Tác giả Lê Văn Tiến ht tp :// w w w .v nm at h. co m 3 Phần 1 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TOÁN Những vấn đề cơ bản trong lí luận dạy học tổng quát1 đã được đề cập trong học phần Giáo dục học đại cương dành cho sinh viên năm thứ hai Đại học Sư phạm. Vấn đề là vận dụng chúng vào dạy học môn toán như thế nào. Để trả lời câu hỏi này, trước hết phải làm rõ đặc thù của dạy học môn toán và sự tương thích với lí luận dạy học nói chung. Điều này sẽ được đề cập trong một giáo trình đầy đủ về phương pháp dạy học môn toán mà tác giả đang cố gắng hoàn thiện trong vài năm tới. Trong phạm vi tài liệu này, sau khi sơ lược vài khái niệm cơ bản, ta sẽ tập trung vào một số vấn đề về phương pháp dạy học toán theo định hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh. Sau đó, ta sẽ quan tâm đặc biệt hơn về dạy học đặt và giải quyết vấn đề. 1. Khái niệm phương pháp dạy học Thuật ngữ phương pháp, theo tiếng Hy Lạp "Méthodos", có nghĩa là con đường, cách thức thực hiện một kiểu nhiệm vụ nào đó, nhằm đạt tới kết quả ứng với mục đích đã vạch ra. Dạy học là khái niệm chỉ hoạt động chung của người dạy và người học nhằm mục đích làm cho người học lĩnh hội được các kiến thức và kĩ năng, phát triển năng lực trí tuệ và phẩm chất đạo đức, thẩm mĩ, Hoạt động dạy học bao hàm trong nó hoạt động dạy và hoạt động học. Tuy nhiên, hai hoạt động này không diễn ra một cách song song tách rời mà xen lẫn vào nhau, tương tác lẫn nhau. Như vậy, có thể xem dạy học như là một kiểu nhiệm vụ mà giáo viên và học sinh cùng có trách nhiệm hợp tác thực hiện. Phương pháp dạy học là cách thức thực hiện kiểu nhiệm vụ "Dạy học" của cặp người dạy - người học nhằm đạt được các mục đích dạy học xác định. 2. Phân loại tổng thể các phương pháp dạy học Hiện nay có nhiều hệ thống phân loại khác nhau về các phương pháp dạy học, nhưng chưa có một hệ thống phân loại nào thực sự hoàn chỉnh và tối ưu (vả lại xây dựng một hệ thống phân loại như vậy dường như là không thể và không có nhiều ý nghĩa về mặt thực tiễn). Tuy nhiên, dù có những khiếm khuyết của nó, nhưng mỗi hệ thống phân loại lại cho ta thấy rõ hơn một khía cạnh nào đó về các phương pháp dạy học. Nếu dựa vào tiêu chí phân loại là vai trò của giáo viên, vai trò của học sinh và đặc trưng của tri thức cần truyền thụ, ta có một cách phân chia tổng thể các phương pháp dạy học theo ba nhóm: Phương pháp giáo điều, phương pháp truyền thống và phương pháp tích cực. 2.1. Phương pháp giáo điều - Giáo viên: là người có quyền lực tuyệt đối, thông báo, áp đặt kiến thức2 một cách trực 1 Quy trình dạy học, phương pháp dạy học, nguyên tắc dạy học, hình thức tổ chức dạy học, 2 Thực ra, có một sự khác biệt cơ bản giữa Tri thức và Kiến thức (tham khảo lí thuyết chuyển hóa sư phạm (transposition didactique) của Y. Chevallard, 1991). Tuy nhiên, giáo trình này không có sự phân biệt rạch ròi hai khái niệm. ht tp :// w w w .v nm at h. co m 4 tiếp cho học sinh (theo kiểu giảng đạo). Giáo viên chi phối toàn bộ các mối quan hệ giáo dục. - Học sinh: có vai trò lu mờ, thụ động nghe, học thuộc và ghi nhớ những điều mà giáo viên thông báo mà không cần hiểu "nghĩa" của kiến thức tiếp thu được. - Kiến thức : được cho trực tiếp bởi giáo viên dưới dạng có sẵn đã "phi hoàn cảnh hoá", "phi thời gian hoá" và "phi cá nhân hoá". Nó chỉ mang "nghĩa hình thức". - Giáo viên có quyền lực tuyệt đối trong việc đánh giá học sinh. 2.2. Phương pháp truyền thống a) Đặc trưng tổng quát * Giáo viên : vẫn giữ vị trí trung tâm của hệ thống dạy học, có trách nhiệm truyền đạt kiến thức cho học sinh, cho một vài ví dụ minh họa hay một vài bài toán mẫu, sau đó yêu cầu học sinh áp dụng kiến thức vào việc giải quyết các tình huống tương tự với tình huống mà giáo viên đã trình bày và giải quyết. chính xác, sáng sủa, rõ ràng, logic và dễ hiểu, mà ít quan tâm đến cái mà học sinh cần, cái mà học sinh nghĩ và hoạt động của chính người học. Để cho học sinh có thể hiểu, ghi nhớ và áp dụng tốt kiến thức đã trình bày, giáo viên thường chú ý đảm bảo một số nguyên tắc và phương pháp sư phạm tổng quát, chẳng hạn : đảm bảo tính hệ thống, tính trực quan, tính vừa sức, Từ đó, tăng cường sử dụng các thiết bị dạy học3; coi trọng việc luyện tập và ôn tập ; chú ý đặc biệt đến kĩ thuật đặt câu hỏi, * Học sinh: học theo kiểu bắt chước và thường thụ động tiếp thu. Họ cố gắng ghi nhớ và áp dụng đúng "mẫu" mà giáo viên đã trình bày. Hoạt động đích thực của học sinh (nếu có) chỉ diễn ra khi trả lời một số câu hỏi, làm bài tập áp dụng hay thực hiện một chứng minh định lí, theo yêu cầu của giáo viên. * Kiến thức: vẫn được cho trực tiếp bởi giáo viên và thường là dưới dạng có sẵn đã "phi hoàn cảnh hoá", "phi thời gian hoá", "phi cá nhân hoá" và mang "nghĩa hình thức". * Giáo viên có vai trò gần như tuyệt đối trong việc đánh giá học sinh. b) Các phương pháp dạy học truyền thống Hiện nay, ngay trong bản thân các phương pháp dạy học truyền thống, cũng có nhiều hệ thống phân loại khác nhau, nhưng chúng vẫn chưa hoàn chỉnh và chưa có được sự thống thống phân loại đó. - Nhóm các phương pháp dùng lời : Thuyết trình; Đàm thoại; Làm việc với sách ; - Nhóm các phương pháp trực quan: Biểu diễn vật thật, vật tượng hình hay tượng trưng; Xem băng ghi hình, phim đèn chiếu, - Nhóm các phương pháp thực hành: Luyện tập ; Thực nghiệm, quan sát và dự đoán. Trong thực tế dạy học, các phương pháp thuộc ba nhóm trên thường được sử dụng xen kẽ nhau, lồng vào nhau. 3 Sơ đồ, biểu đồ, vật thật, phim ảnh, phần mềm MS Powerpoint, ht tp :// w w w .v nm at h. co m 5 Ở đây, ta không đi sâu nghiên cứu các phương pháp dạy học truyền thống, vì chúng đã được đề cập khá chi tiết trong bộ môn Giáo dục học. 2.3. Sư phạm tích cực và phương pháp dạy học tích cực Ngay từ đầu thế kỉ 20 các nhà tâm lí hay sư phạm như Dewey, Parkhust, Dalton ở Mỹ, Freinner ở Pháp, Claparède ở Thuyï Sĩ, Montessori ở Ý, Decroly ở Bỉ đã quan niệm rằng : Cần phải đặt học sinh vào vị trí trung tâm của hoạt động dạy học, phải xuất phát từ lợi ích của học sinh và những điều mà họ quan tâm. Đó chính là thời điểm mà người ta bắt đầu nói về "sư phạm tích cực". Tuy nhiên, gần như suốt thế kỉ 20, sư phạm này chỉ sống một cách lay lắt bên cạnh sư phạm truyền thống. Có nhiều xu hướng sư phạm tích cực khác nhau như : Sư phạm tương tác, Sư phạm khám phá, Sư phạm dự án, Những xu hướng này có những nét tương đồng nhưng cũng có nhiều khác biệt cơ bản. Trong phạm vi tài liệu này, ta không đi sâu nghiên cứu chúng. Ở đây, thuật ngữ "Phương pháp dạy học tích cực" (hay gọi tắt là Phương pháp tích cực) được hiểu là các phương pháp dạy học thể hiện tư tưởng của các xu hướng sư phạm tích cực4, mà sau đây ta sẽ nêu lên một số đặc trưng cơ bản của nó. Đặc trưng của phương pháp tích cực : - Giáo viên tự nguyện rời bỏ vị trí trung tâm. Họ chỉ còn là người đạo ... p dạy học một định lí theo đó, * tiến trình dạy học được lựa chọn là: Bài toán→ Định lí, * cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh được mô tả như sau : - Trong bước 1 của tiến trình, học sinh độc lập tìm lời giải bài toán. - Ở bước 2 của tiến trình : Giáo viên đưa ra một hệ thống câu hỏi gợi mở để giúp học sinh rút ra những kết quả quan trọng từ lời giải các bài toán đã cho (kiến thức cần giảng dạy), từ đó, giáo viên thể chế hoá kiến thức này thông qua việc trình bày định lí. - Bước 3 : Học sinh độc lập giải các bài toán vận dụng và củng cố định lí. ht tp :// w w w .v nm at h. co m 122 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. A. RIEUNIER (2001), Préparer un cours, Edition ESF, Paris. 2. C. ROGERS (2001), Phương pháp dạy và học hiệu quả, Bản dịch tiếng Việt của Cao Đình Quát, NXB Trẻ. 3. I. Ia. LECNE (1981). Cơ sở lí luận của các phương pháp dạy học, Bản dịch tiếng Việt, NXB Sư Phạm. 4. I. Ia. LECNE (1997), Dạy học nêu vấn đề, Phạm Tất Đắc dịch, NXB Giáo dục. 5. D.GRENIER (1985), Quelques aspects de la symétrie orthogonale pour des élèves de classes de 4ème et 3ème, Petit X n0 7, IREM de Grenoble. học trong Đại số 10 vào việc giải các bài toán mang nội dung thực tiễn, Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục số 95. 7. G. POLYA (1965), Comment poser et résoudre un problème, Paris, Dunod. 8. G. POLYA (1975), Sáng tạo toán học, tập 1, 2, 3, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên, Bản dịch tiếng Việt của Phan Tất Đắc, Nguyễn Giản, Hồ Thuần, NXB Giáo dục. 9. G. POLYA (1975), Giải một bài toán như thế nào?, Bản dịch tiếng Việt của Hồ Thuần, Bùi Tường, NXB Giáo dục. 10. G. ARSAC, M. MANTE (1995), Nhập môn về lập luận diễn dịch ở trường trung học cơ sở, Bản dịch tiếng Việt của Đoàn Hữu Hải, Lê Đình Phi và Nguyễn Thành Tâm, NXB Giáo dục. 11. J. BAIR, G.HAESBROECK, (2000), Formation mathématique par la résolution de problèmes, Edition de Boeck Université, Bruxelles. 12. HOÀNG CHÚNG (1995), Phương pháp dạy học toán học ở trường phổ thông trung học cơ sở, NXB Giáo dục. 13. HOÀNG XUÂN SÍNH, NGUYỄN MẠNH TRINH (1998), Tập hợp và logic, NXB Giáo dục. 14. LÊ NGUYÊN LONG (1998), Thử đi tìm những phương pháp dạy học hiệu quả, NXB Giáo dục. 15. LÊ TỬ THÀNH (1995), Tìm hiểu lôgic học, NXB Trẻ. 16. LÊ VĂN TIẾN, LÊ THỊ HOÀI CHÂU, NGUYỄN VĂN VĨNH (1999), Học tập trong hoạt động và bằng hoạt động, Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên phổ thông trung học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. 17. LÊ VĂN TIẾN (2000), Các quan điểm khác nhau về giảng dạy Giải tích ở trường phổ thông, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số chuyên đề quý 1/2000 và số 3/2000. ht tp :// w w w .v nm at h. co m 123 18. LÊ VĂN TIẾN (2001), Etude didactique de liens entre fonctions et équations dans l'enseignement des mathématiques au lycée en France et au Viet-Nam, Thèse de Doctorat, Université Joseph Fourier Grenoble, France. 19. LÊ VĂN TIẾN (2002), Quan điểm thực nghiệm trong dạy học toán ở trường phổ thông. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tập 30 số 2. 20. LÊ VĂN TIẾN (2002), Chương trình và sách giáo khoa Toán đang thí điểm hiện nay ở trường THCS, nhìn từ quan điểm thực nghiệm trong Toán học, Kỉ yếu hội nghị Toán học toàn quốc lần thứ 6, tổ chức tại Huế. 21. LÊ VĂN TIẾN (2003), Cách nhìn mới về tiến trình dạy học khái niệm toán học, Tạp chí Giáo dục, số 64. 22. LÊ VĂN TIẾN, TRẦN THỊ TUYẾT DUNG (2004), Một phần thực trạng về học tập suy luận, chứng minh của học sinh THCS, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. 23. LÊ VĂN TIẾN (2004), Có nên vận dụng " Quan điểm thực nghiệm " vào dạy học Toán ?, Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục, số 107. 24. LÊ VĂN TIẾN, ĐOÀN HỮU HẢI (2004), Chứng minh ở trường phổ thông : Nghiên cứu lịch sử, khoa học luận, didactic và điều tra thực trạng dạy học về chứng minh ở trường phổ thông Việt Nam hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. 25. LÊ VĂN TIẾN (đồng tác giả, 2004), Đại số và Giải tích 11, Sách giáo khoa thí điểm, Ban khoa học tự nhiên, Ban khoa học xã hội, NXB Giáo dục. 26. LÊ VĂN TIẾN (đồng tác giả, 2004), Bài tập Đại số và Giải tích 11, Sách giáo khoa thí điểm, Ban khoa học tự nhiên, NXB Giáo dục. 27. LÊ VĂN TIẾN (đồng tác giả, 2004), Đại số và Giải tích 11, Sách giáo viên, Ban khoa học tự nhiên, Ban khoa học xã hội, NXB Giáo dục. 28. L. F. KHARLAMÔP (1976), Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào, Bản dịch tiếng Việt của Đỗ Thị Trang và Nguyễn Ngọc Quang, NXB Giáo dục. 29. N. BALACHEFF (1982), Preuve et démonstration en mathématiques au collège, RDM. Vol 3, n03. 30. N. BALACHEFF (1988), Une étude des processus de puve en mathématiques chez des élèves de collège, Thèse d'Etat. Université Joseph Fourier, Grenoble, France. 31. NGUYỄN BÁ KIM, VƯƠNG DƯƠNG MINH, NGUYỄN SĨ ĐỨC (1998), Tính giải quyết vấn đề trong toàn bộ quá trình dạy học, Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục, số 66. 32. NGUYỄN BÁ KIM (1991), Chính xác hoá một số khái niệm về dạy học giải quyết vấn đề, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 10. 33. NGUYỄN BÁ KIM (2004), Phương pháp dạy học môn toán, NXB ĐHSP. ht tp :// w w w .v nm at h. co m 124 34. NGUYỄN CẢNH TOÀN (1997), Phương pháp luận duy vật biện chứng với việc học, dạy, nghiên cứu toán học, tập 1, 2, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 35. NGUYỄN HẢI THẬP (2000), Phương pháp dạy học nêu vấn đề ở bậc đại học, Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, số 3. 36. NGUYỄN KÌ (1995), Phương pháp Giáo dục tích cực, lấy người học làm trung tâm, NXB Giáo dục. 37. NGUYỄN KÌ (1996), Mô hình dạy học lấy người học làm trung tâm, Trường Cán bộ Quản lí Giáo dục và Đào tạo Hà Nội. 38. NGUYỄN KẾ HÀO (1994), Dạy học lấy học sinh làm trung tâm, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 6. 39. NGUYỄN KHẮC VIỆN (2001), Từ điển tâm lí, NXB Văn hóa Thông tin. 40. NGUYỄN HỮU CHÂU (1995), Dạy giải quyết vấn đề trong môn toán, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 9. 41. NGUYỄN LAN PHƯƠNG (2000), Cải tiến phương pháp dạy học toán với yêu cầu tích cực hoá hoạt động học tập theo hướng giúp học sinh phát hiện và giải quyết vấn đề. Luận án Tiến sĩ Giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục. 42. NGUYỄN VĂN BÀNG (1997), Lại bàn về bài toán mở, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 1. 43. NGUYỄN VĂN LỘC (1996), Rèn luyện kỉ năng lập luận có căn cứ cho học sinh tring học cơ sở thông qua dạy hình học, NXB Giáo dục. 44. PHẠM GIA ĐỨC (1995), Đổi mới phương pháp dạy học toán ở trường THCS, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 7. 45. PHẠM GIA ĐỨC, NGUYỄN MẠNH CẢNG, BÙI HUY NGỌC, VŨ DƯƠNG THUYÏ (1998), Phương pháp dạy học môn toán, tập I, NXB Giáo dục. 46. PHẠM VĂN ĐỒNG (1995), Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực - Một phương pháp vô cùng quý báu, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 12. 47. PHẠM VĂN HOÀN, NGUYỄN GIA CỐC, TRẦN THÚC TRÌNH (1981), Giáo dục học môn toán, NXB Giáo dục. 48. PHẠM MINH HẠC (chủ biên, 1996), Tuyển tập tâm lý học J.Piaget, NXB Giáo dục. 49. PHẠM VIẾT VƯỢNG (1995), Bàn về "phương pháp Giáo dục tích cực", Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 10. 50. TÔN THÂN (1995), Bài tập ''mở'', một dạng bài tập góp phần bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 4. 51. TRẦN BÁ HOÀNH (2004), Dạy và học bằng các hoạt động khám phá có hướng dẫn, Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục, số 102. 52. TRẦN BÁ HOÀNH, NHUYỄN ĐÌNH KHUÊ, ĐÀO NHƯ TRANG (2004), Áp dụng dạy và học tích cực trong môn toán, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội. ht tp :// w w w .v nm at h. co m 125 53. TRẦN LUẬN (1999), Một hướng nghiên cứu triển khai dạy học nêu vấn đề vào thực tiễn, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 4. 54. TRẦN NAM LƯƠNG, LÊ ĐÌNH PHI (1997), Tâm lí học và Giáo dục học - J.Piaget, NXB Giáo dục. 55. TRẦN THỊ NGỌC DIỆP (2005), Dạy học định lí theo định hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, Khoá văn tốt nghiệp, Khoa Toán - Tin học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. 56. TRẦN THÚC TRÌNH (1992), Nhìn lại lịch sử cải cách nội dung và phương pháp dạy học toán ở trường phổ thông trên thế giới trong thế kỉ XX, Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục, số 34. 57. TRẦN THÚC TRÌNH (2003), Rèn luyện tư duy trong dạy học toán, Đề cương môn học dành cho học viên Cao học, Viện Khoa học Giáo dục. 58. TRẦN THÚC TRÌNH (2004), Phương pháp khám phá trong nghiên cứu khoa học và trong dạy học, Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục, số 111. 59. Y. CHEVALLARD (1985), La transposition didactique - du savoir savant au savoir enseigné, Edition La Pensée Sauvage, Grenoble, France. 60. Y. CHEVALLARD (1991 - 1992), Le caractère expérimental de l'activité mathématique, Petit X n030. 61. V. OKON (1976), Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề, Bản dịch tiếng Việt của Phạm Hoàng Gia, NXB Giáo dục. 62. Histoire d'algorithmes, Edition Belin, 1994. 63. Từ điển : Petit Robert. Edition DicoRobert, Canada, 1993. 64. Từ điển : Le Petit Larousse, Edition Larousse - Bordas, 1999. 65. Từ điển toán học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, 1993, Bản dịch tiếng Việt của Hoàng Hữu Như và Lê Đình Thịnh. Sách giáo khoa : 66. Đại số 10, NXB Giáo dục 1990, Trần Văn Hạo chủ biên. 67. Hình học 11, NXB Giáo dục 1991, Trần Văn Hạo chủ biên. 68. Đại số và Giải tích 11, NXB Giáo dục 1996, Trần Văn Hạo chủ biên. 69. Đại số 10, Hình học 10, Hình học 11, Hình học 12, NXB Giáo dục 2001. 70. Hình học 8, NXB Giáo dục 1999. 71. Hình học 7, NXB Giáo dục 1987. 72. Hình học 7, NXB Giáo dục 1995. 73. Toán 7, NXB Giáo dục 2002. 74. Chương trình THCS môn toán, NXB Giáo dục 2002. 75. Sách giáo viên Toán 7, NXB Giáo dục 2003. ht tp :// w w w .v nm at h. co m 126

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Mới: Mô Hình “lớp Học Đảo Ngược”
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Cho Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Sự Khác Biệt Giữa Dạy Học Truyền Thống Và Dạy Học Phát Triển Năng Lực
  • Báo Cáo Dạy Học Mỹ Thuật Theo Phương Pháp Đan Mạch
  • Áp Dụng Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Chương “liên Kết Hóa Học” Hóa Học Lớp 10 Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Theo Dự Án Để Dạy Môn Gdcd

    --- Bài mới hơn ---

  • Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Theo Dự Án Để Dạy Môn Gdcd Van Dung Phuong Phap Day Hoc Theo Du An Doc
  • Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Theo Dự Án Trong Phần “địa Lý Địa Phương” Địa Lý 12 Nâng Cao
  • Để Con Phát Huy Tốt Khả Năng Sáng Tạo Với Phương Pháp Reggio Emilia
  • 5 Phương Pháp Dạy Học Vẽ Cho Trẻ Em Hiệu Quả
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Vần Lớp 1
  • VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN

    ĐỂ DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

    Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

    Đào Thị Ngọc Minh

    Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội

    1. Mở đầu

    Đổi mới phương pháp dạy học được coi là tâm điểm của giáo dục Việt nam hiện nay. Dạy học theo dự án là một phương pháp tích cực trong dạy học môn Giáo dục công dân. Phương pháp này không chỉ phát huy tính tích cực học tập mà còn hình thành cho học sinh kĩ năng sống và giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Vận dụng phương pháp dạy học này giúp giáo viên dạy môn Giáo dục công dân khẳng

    định được vị trí quan trọng của môn học, thay đổi được cách nhìn nhận chưa đúng của xã hội về môn học này.

    Trong những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy học đã và đang được coi là tâm điểm của ngành giáo dục. Đổi mới phương pháp dạy học được thực hiện ở tất cả các cấp học, ngành học, môn học trong đó có môn Giáo dục công dân – một môn học quan trọng trong nhà trường phổ thông. Tuy nhiên, từ trước đến nay, việc giảng dạy môn học này chưa đạt được hiệu quả thực sự bởi nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân cơ bản là sử dụng các phương pháp dạy học chưa phù hợp. Bởi lẽ, môn học này giáo dục cho người học những phẩm chất và kĩ năng sống, do đó việc dạy học đòi hỏi phải có tính thực tiễn cao, trong khi đó phương pháp dạy học được sử dụng lại nặng về truyền thụ lí thuyết, mang nặng tính hàn lâm kinh viện mà thiếu thực tiễn. Nhận thức được vấn đề đó, nhiều giáo viên dạy Giáo dục công dân đã tích cực đổi mới phương pháp dạy học theo mục tiêu của dạy học hiện đại là hướng học sinh vào trung tâm. Quá trình đổi mới bước đầu đã mang lại một số kết quả nhất định nhưng vẫn chưa đáp ứng được mục tiêu đặt ra. Phần lớn giáo viên thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng truyền thống, chưa mạnh dạn đưa các phương pháp mới, hiện đại vào dạy học. Hiện nay, trong khi các phương pháp dạy học hiện đại đang được các nước phát triển sử dụng phổ biến thì ở nước ta những phương pháp đó còn hết sức xa lạ và mới mẻ, thậm chí nhiều giáo viên còn không biết đến khái niệm, bản chất của những phương pháp đó như thế nào. Trong những phương pháp dạy học hiện đại thì phương pháp dạy học theo dự án là một phương pháp dạy học hiện đại, mang tính tích cực cao và rất phù hợp với môn Giáo dục công dân. Vì vậy, làm rõ hơn tính tích cực và khả năng vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học môn Giáo dục công dân sẽ giải đáp được phần nào những trăn trở của giáo viên về phương pháp dạy học này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Học Theo Dự Án, Phương Pháp Dạy Trẻ Mầm Non Mới Tại Steame Garten
  • Steame Garten: Dạy Trẻ Mầm Non Theo Phương Pháp Dạy Học Dự Án
  • Chuyên Đề Phương Pháp Dạy Học Dựa Trên Giải Quyết Vấn Đề
  • Phương Pháp Dạy Học Dựa Trên Vấn Đề
  • Những Phương Pháp Dạy Học Truyền Thống Và Tích Cực Trong Dạy Học Toán Ở Tiểu Học
  • Phương Pháp Dạy Học Sinh Yếu Môn Toán Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Sinh Yếu Kém Môn Vật Lí Thpt
  • Sơ Lược Về Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Và Cách Tiếp Cận
  • . Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Pgs. Ts. Nguyễn Bảo Vệ Và Ths. Nguyễn Huy Tài, Trường Đại Học Cần Thơ (Đhct
  • Chương 2 Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
    • Trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải luôn tìm được phương pháp giảng dạy mới phù hợp, trực quan, trọng tâm, phương pháp trực quan sinh động, giảng dạy vấn đáp, chơi các trò chơi toán học…Phối hợp cùng nhau tạo hứng thú cho các em tiếp thu bài tốt hơn.
    • Giáo viên nên chú ý vào các học viên yếu kém, khuyến khích các em tích cực phát biểu ý kiến. Giáo viên có thể đặt những câu hỏi dễ, cho những bài tập vừa sức các em. Mục tiêu quan trọng cơ bản nhất trong các tiết học đó là giáo viên hay thường xuyên gọi các em có học lực yếu lên làm bài tập, thực hành nhiều hơn. Có thể chia nhỏ các bài tập hoặc ra những bài thi trắc nghiệm vừa với sức học của các em giúp các em quen dần với kiến thức.
    • Các giáo viên nên động viên đúng lúc khi các em có tiến bộ hay đã đạt được một số kết quả như mong muốn. Phân tích, chỉ cho các em lỗi sai nếu có, nghiêm khác phê bình nếu các em có thái độ lơ là, bỏ bê việc học, không làm các bài tập được giao. Nhưng hãy để ý đến tâm lý của các em.
    • Điều quan trọng nhất ở đây đó chính là giáo viên cần tạo không khí thoải mái, thân thiện, tránh gây sự áp lực đẻ giúp các em có tinh thần, hứng thú để thay đổi kết quả học tập.
    • Thường xuyên theo dõi kiểm tra sau mỗi tiết học để nắm được sự tiến bộ cũng như kịp thời phát hiện ra các lỗ hổng kiến thức của các em và điều chỉnh cho phù hợp.
    • Kết hợp nhiều phương pháp dạy khác nhau để dẫn dắt các em đến được lượng kiến thức các em cần phải có.
    • Nên tạo điều kiện để các em trao đổi kiến thức và hỗ trợ nhau trong việc học bằng cách kiểm tra bài lẫn nhau.
    • Các giáo viên ở trường khi nhận thấy có những học sinh yếu kém thì hãy dạy kèm cho các em để giúp các em nắm được lượng kiến thức đã mất cũng như nắm vững kiến thức hơn.
    • Sau các buổi học giáo viên nên cho các em các bài kiểm tra trên giấy để nắm được sự tiến bộ cũng như kết quả của việc dạy học.
    • Giáo viên nên thường xuyên liên hệ với phụ huynh của các em có học lực yếu để thông báo tình hình học tập của các em kết hợp cùng với phụ huynh động viên và nhắc nhở các em học chăm chỉ hơn để có kết quả tốt.

    Giải Pháp Cho Các Giáo Viên Dạy Môn Toán Cho Các Học Sinh Yếu.

    • Để có kết quả giảng dạy tốt trong quá trình dạy học thì người giáo viên cần phải nhiệt tình và có phương pháp giảng dạy tốt.
    • Các giáo viên cần phải tìm tòi, chắt lọc ra những kiến thức để hình thành nên những phương pháp dạy mới.
    • Phải nghiên cứu toàn bộ chương trình toán, để thấy rõ được các kiến thức logic và ý nghĩa của nó trong chương trình.
    • Xác định rõ các lỗi sai của học sinh trong quá trình học, tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục. Nhất là đối với các học sinh yếu.
    • Luôn tôn trọng tính độc lập tư duy sáng tạo của học sinh.

    Lý do các em học yếu môn Toán.

    • Một số các em học sinh không chú ý nghe giảng trên lớp, không làm bài tập về nhà, không chuẩn bị bài, không học cách ghi nhớ bài, công thức
    • Do sự chú ý, quan sát, trí tưởng tượng đều phát triển chậm khi phần tích nội dung bài giảng, kiến thức. Khó phần biết được các dấu hiệu, bản chất của các bài tập.
    • Tư duy kém linh hoạt, khó khăn khi chuyển giao lượng công thức áp dụng vào bài tập. Chuyển giao lý thuyết sang thực hành
    • Không hệ thống được số lượng kiến thức, công thức đã học.
    • Không vận dụng được kiến thức bài trước cho bài sau.
    • Các em học yếu môn Toán tính chậm, kém linh hoạt trong các bài tập được giao. Chủ yếu dựa vào các lời gợi ý, góp ý của giáo viên mới tính được, hoặc học thuộc một cách máy móc.

    Từ những việc trên, các em học sinh lĩnh hội kiến thức không đồng đều và vững chắc nên các em có thái độ thờ ơ với việc học, không chịu cố gắng, tạo nên thói quen thiếu tự tin, thụ động gây nên chán nản trong học tập.

    Để giải quyết những vấn đề mà các em học yếu môn toán, Trung tâm gia sư Trí Việt tại tphcm có những giáo viên dạy kèm môn toán có nhiều năm kinh nghiệm, có những phương pháp dạy hiệu quả giúp các em cải thiện kết quả học tập, cũng như giúp các em tự tin hợn trong vấn đề thể hiện quan điểm bản thân trong quá trình học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Góc Nhìn Giáo Dục: Cách Dạy Học Ngày Xưa
  • Phương Pháp Dạy Học Mới Webquest
  • Chuyên Đề Ứng Dụng Phương Pháp Dạy Học Vnen Vao Phân Môn Tập Đọc
  • Qui Trình Và Phương Pháp Dạy Học Vần
  • Chuyên Đề Dạy Học Theo Hướng Tiếp Cận Giáo Dục Stem
  • Những Phương Pháp Cơ Bản Giúp Học Tốt Môn Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngoại Khóa Kĩ Năng Sống Khối 11 Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả Môn Ngữ Văn
  • Tìm Hiểu Tầm Quan Trọng Và Phương Pháp Tự Học Đem Lại Hiệu Quả
  • Bật Mí Phương Pháp Học Tập Tiếng Anh Hiệu Quả Nhất
  • Bật Mí Phương Pháp Học Tập Tiếng Anh Hiệu Quả
  • Một Số Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả
  • Ngữ Văn là môn học chính trong trường phổ thông và có mặt hầu hết trong các kỳ thi quan trọng như Tốt Nghiệp, Đại học, thi học sinh giỏi,… Không ít học sinh ngày nay phàn nàn về môn học này và cho rằng để học giỏi ngữ văn cần phải có năng khiếu. Điều đó không sai nhưng cũng không hoàn toàn đúng. Nếu bạn nắm được những kỹ năng và phương pháp học văn đúng đắn thì sẽ nhận ra rằng năng khiếu không hề quyết định tất cả.

    Rất nhiều bạn cho rằng, môn văn có khả năng “gây mê” đồng thời rất khó khăn để có thể nhớ và vận dụng vào bài thi. Nếu quả thực bạn đang suy nghĩ như vậy, vô hình chung bạn đã tự làm khó mình. Hãy đơn giản hóa cách suy nghĩ của bạn và áp dụng những phương pháp, kỹ năng học tập hiệu quả, chắc chắn bạn sẽ đạt được thành quả như mong đợi. Để cho việc học môn Ngữ Văn đối với tất cả mọi học sinh không còn là “ác mộng”, trong bài viết này, chúng tôi sẽ chia sẻ kinh nghiệm học môn văn với các phương pháp cơ bản nhất để biến môn văn trở thành một tiết học thú vị.

    Tập trung nghe giảng để nắm vững kiến thức

    Để cho một bài thi văn đạt được kết quả cao không nhất thiết phải viết được những câu văn bay bổng, trau chút mà việc nắm rõ kiến thức để viết đúng, viết đủ mới thật sự cần thiết. Thầy cô không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là người mang đến cho bạn nguồn cảm hứng. Chăm chú nghe những lời giảng của thầy cô không chỉ giúp bạn nắm được những điểm trọng tâm của bài học mà còn học hỏi được nhiều điều từ thực tiễn cuộc sống.

    Rèn luyện tinh thần tự giác học tập

    Nếu học theo sự bắt buộc của giáo viên hoặc phụ huynh thì quả thật không biết đến khi nào bạn mới có thể tiến bộ. Vì vậy, ngay từ bây giờ bạn phải tập luyện tính tự giác, cho dù môn văn hay bất kỳ môn học nào, bạn cũng cần đặt tinh thần tự nguyện lên trên hết. Bạn cũng có thể tham khảo bí quyết học giỏi văn từ những người đi trước, có thể là thầy cô, anh chị, bạn bè,… để cho những định hướng của bạn trở nên dễ dàng hơn.

    Hãy biến môn văn trở thành một tiết học thú vị

    Có nhiều cách để làm cho môn văn trở thành một tiết học vui nhộn và thú vị như: lập nhóm thuyết trình và phản biện, phân vai đóng hoạt cảnh, làm thơ, vè đối đáp,… Với những cách đó, môn văn sẽ không đơn thuần là một tiết học văn hóa mà còn là một buổi sinh hoạt vui tươi giúp xóa tan sự căng thẳng mang đến cho bạn tinh thần thoải mái hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả Bộ Môn Hóa Học.
  • Phương Pháp Và Kỹ Năng Học Tốt Môn Hóa Học
  • Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả Đối Với Môn Toán
  • Những Nguyên Tắc Học Tập Hiệu Quả Cho Học Sinh Thcs
  • Bí Quyết Tập Trung Tổng Ôn Trong Giai Đoạn Nước Rút.
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100