Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Là Gì Và Có Đặc Trưng Như Thế Nào?

--- Bài mới hơn ---

  • Dạy Học Bằng Thuyết Trình Và Thuyết Trình Có Minh Họa Như Thế Nào Để Tăng Hiệu Quả
  • Combo Phương Pháp Dạy Con Không Đòn Roi (2 Cuốn)
  • Phương Pháp Dạy Trẻ Không Đòn Roi
  • Kinh Nghiệm Dùng Phương Pháp Dạy Con Không Đòn Roi Cho Phụ Huynh
  • 5 Quyển Sách Hướng Dẫn Mẹ Dạy Con Không Đòn Roi Hiệu Quả Nhất
  • Phương pháp dạy học tích cực là gì?

    Nền tảng của phương pháp này là sự sự chủ động tìm tòi, sáng tạo, tư duy của học sinh, giáo viên hoặc gia sư chỉ là một người gợi mở ra vấn đề và dẫn dắt học sinh.

    Nói theo một cách khác, với phương pháp dạy học này giáo viên sẽ không truyền đạt hết tất cả kiến thức mà mình có cho sinh viên mà sẽ chỉ truyền đạt kiến thức thông qua những dẫn dắt sơ khai để kích thích học sinh tìm hiểu và khám phá những kiến thức đó.

    Muốn dạy học theo phương pháp này thì giáo viên phải là những người thực sự có bản lĩnh, giỏi chuyên môn và có cả sự nhiệt tình, hoạt động hết công suất trong công tác giảng dạy.

    Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực

    Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực hay còn gọi là nguyên tắc của phương pháp này chính là:

    Dạy học chủ yếu thông qua các hoạt động của học sinh

    Điều này có nghĩa là trong những tiết học, học sinh chính là những đối tượng chủ yếu tiến hành khai phá kiến thức. Do đó, giáo viên cần phải làm như thế nào để gợi mở vấn đề cho học sinh ở một mức độ nhất định tác động đến tư duy và khuyến khích học sinh trong lớp tìm hiểu và bàn luận về vấn đề đó.

    Chú trọng đến những phương pháp tự học

    Nếu bạn muốn chủ động áp dụng phương pháp dạy học tích cực thì bạn sẽ cần phải loại bỏ được suy nghĩ cầm tay chỉ việc học đọc cho học sinh chép… như những phương pháp giảng dạy thông thường khác.

    Với phương pháp dạy học tích cực, giáo viên sẽ hướng dẫn cho học sinh những phương pháp tự học và rèn luyện để tìm ra một phương pháp học tốt nhất để học sinh có thể tự mình nắm bắt những kiến thức mới. Và đương nhiên những kiến thức mới được tiếp thu sẽ được giáo viên kiểm định lại để chắc chắn rằng những kiến thức đó đã là kiến thức chuẩn hay chưa?

    Ưu tiên những phương pháp học nhóm và học tập thể

    Với phương pháp dạy học tích cực, giáo viên sẽ phải biết cách chia lớp thành những nhóm nhỏ và giúp đỡ các học sinh phối hợp với nhau để tìm ra phương pháp học tốt nhất.

    Chốt lại tất cả những kiến thức đã học

    Chính vì thế, điều quan trọng nhất ở đây vẫn chính là giáo viên phải biết cách vận dụng phương pháp dạy học tích cực để giúp cho học sinh có thể nhanh chóng thích nghi với phương pháp học tích cực, chủ động này.

    Phương pháp dạy học tích cực tại Việt Nam

    Đây chính là một phương pháp dạy học lấy sự chủ động của người học làm trọng tâm. Hiện nay, đã và đang có rất nhiều nước với nền giáo dục tân tiến đã áp dụng phương pháp dạy học tích cực. Phương pháp này cũng đã mang đến một thành công rất lớn cho nền giáo dục.

    Phương pháp này đang ngày càng trở nên phổ biến hơn tại Việt Nam, nó đang được thay thế cho những cách thức giảng dạy và tiếp nhận kiến thức một cách thụ động như trước đây. Có rất nhiều giáo viên Việt Nam đã áp dụng phương pháp dạy học tích cực vào trong giảng dạy. Nhờ vào phương pháp này đã gặt hái được rất nhiều thành công trong việc dạy học vì thế đã giúp cho học sinh ngày càng tiến bộ hơn.

    Một số phương pháp dạy học tích cực phổ biến

    Vấn đáp hay còn được gọi là đàm thoại. Đây chính là phương pháp mà giáo viên sẽ là người đặt ra câu hỏi và sinh viên sẽ trả lời trực tiếp hoặc có thể cùng nhau tranh luận để hiểu được vấn đề của nội dung bài học.

    Phương pháp đặt vấn đề và giải quyết vấn đề

    Trong một xã hội đang phát triển rất nhanh theo xu hướng thị trường và mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt thì phát hiện sớm và đưa ra những phương pháp giải quyết vấn đề hợp lý chính là một kỹ năng đảm bảo cho sự thành công trong cuộc sống, đặc biệt là trong kinh doanh.

    Chính vì thế cần phải tập dượt trước cho học sinh biết các phát hiện và đưa ra phương pháp giải quyết những vấn đề gặp phải trong quá trình học tập hoặc cuộc sống hàng ngày. Đây không còn đơn giản là một phương pháp dạy học đơn thuần mà đã trở thành một mục tiêu cao cả của giáo dục và đào tạo.

    Phương pháp hoạt động nhóm

    Giáo viên sẽ chia lớp học ra làm những nhóm nhỏ, mỗi nhóm sẽ khoảng 4 đến 6 người. Tùy theo mục đích, yêu cầu của bài học và các nhóm sẽ được phân chia một cách ngẫu nhiên hoặc có chủ đích, các nhóm sẽ được duy trì ổn định hoặc sẽ thay đổi trong từng tiết học, được giao khác nhiệm vụ hoặc cùng một nhiệm vụ.

    Đóng vai chính là một phương pháp tổ chức cho học sinh trong lớp thực hành những cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định mà giáo viên đưa ra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Nêu Vấn Đề
  • Học Tập Trải Nghiệm Được Áp Dụng Như Thế Nào Trong Lớp Học?
  • Phương Pháp Tổ Chức Hoạt Động Trải Nghiệm Sáng Tạo Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • Dạy Học Thông Qua Trải Nghiệm Là Một Phương Pháp Kích Thích Được Các Tiềm Năng Trí Tuệ Của Trẻ
  • Bàn Về Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Tiểu Học
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Là Gì? Dạy Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Dạy Toán Lớp 1 Cho Bé Hiệu Quả
  • Cách Dạy Toán Lớp 1
  • Phương Pháp Dạy Học Theo Dự Án
  • Tại Sao Phương Pháp Dạy Học Dự Án Lại Quan Trọng
  • Dạy Học Theo Dự Án
  • Phương pháp dạy học tích cực là gì? Dạy như thế nào? Nó có phổ biến hay không? Tại Việt Nam thì phương pháp này đang phát triển như nào?

    Hiện nay trên thế giới có nhiều phương dạy học, tất cả đều với mục đích muốn giảng dạy tốt cho học sinh, sinh viên và người đi học một chương trình tốt. Ở bài viết này chúng ta sẽ cùng nhau đi tìm hiểu về phương pháp dạy học tích cực.

    A. Phương pháp dạy học tích cực là gì?

    Hay nói cách khác, phương pháp dạy và học tích cực không cho phép giảng viên truyền đạt hết kiến thức mình có đến với học sinh mà thông qua những dẫn dắt sơ khai sẽ kích thích học sinh tiếp tục tìm tòi và khám phá kiến thức đó. Cách dạy này đòi hỏi những giảng viên phải có bản lĩnh, chuyên môn tốt và cả sự nhiệt thành, hoạt động hết công suất trong quá trình giảng dạy.

    B. Cách tiến hành phương pháp dạy học tích cực

    Những nguyên tắc, hay còn được gọi là đặc trưng cơ bản của phương pháp học tích cực chính là:

    1. Dạy học thông qua hoạt động của học sinh là chủ yếu

    Tức là trong tiết học, học sinh chính là đối tượng chính để khai phá kiến thức. Chính vì thế, giáo viên phải làm sao đó, với những cách thức gợi mở vấn đề ở một mức độ nhất định sẽ tác động đến tư duy của học sinh, khuyến khích học sinh tìm tòi và cùng bàn luận về vấn đề đó.

    2. Chú trọng đến phương pháp tự học

    Nếu bạn chủ động áp dụng phương pháp dạy và học tích cực, bạn phải loại bỏ hoàn toàn suy nghĩ cầm tay chỉ việc, đọc – chép… như những cách thức giảng dạy thông thường khác.

    Với phương pháp dạy học tích cực, giáo viên sẽ chú trọng cho học sinh cách thức rèn luyện và tự học, tự tìm ra phương pháp học tốt nhất để có thể tự nắm bắt kiến thức mới. Tất nhiên, kiến thức mới sẽ được giáo viên kiểm định và đảm bảo chắc chắn đấy là kiến thức chuẩn.

    3. Ưu tiên phương pháp học nhóm, tập thể

    Với phương pháp học tích cực, giảng viên phải biết cách chia đội, nhóm và giúp các học sinh phối hợp cùng với nhau để tìm ra phương pháp học tốt nhất.

    4. Chốt lại kiến thức học

    Cuối mỗi buổi học, giảng viên, gia sư sẽ cùng học sinh tổng hợp lại những kiến thức tìm hiểu được, đồng thời giải đáp những vấn đề học còn thắc mắc, cùng trao đổi và chốt lại kiến thức cho cả buổi học.

    Chính vì thế, điều quan trọng vấn là giảng viên phải biết cách vận dụng phương pháp dạy học tích cực để có thể giúp học sinh nhanh chóng thích nghi với phương pháp học tích cực, chủ động này.

    C. Phương pháp dạy học tích cực tại Việt Nam

    Là một phương pháp học lấy sự chủ động của người học làm trọng tâm, phương pháp dạy học tích cực đã và đang được nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới áp dụng và mang lại những thành công nhất định cho nền giáo dục nước nhà. Tại Việt Nam, phương pháp dạy học tích cực cũng đang dần được phổ biến, thay thế cho cách thức giảng dạy và tiếp nhận kiến thức một cách thụ động như trước đây.

    Hiện nay Trung tâm Gia sư Hà Nội hiện đang ứng dụng phương pháp dạy tích cực trong việc dạy thêm, dạy kèm cho học sinh. Nhờ ứng dụng phương pháp học tiên tiến này mà Trung tâm đã gặt hái được nhiều thành công trong việc dạy học, học sinh theo học ở Trung tâm, học sinh được dạy kèm tại nhà tiến bộ từng bước trong suốt quá trình học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Chữa Bệnh Trĩ Bằng Phương Pháp Diện Chẩn Có Hiệu Quả Không?
  • Phương Pháp Diện Chẩn Là Gì? Chữa Bệnh Bằng Phương Pháp Diện Chẩn Như Thế Nào?
  • Phương Pháp Dạy Con Không Đòn Roi
  • Dạy Con Không Đòn Roi
  • Tư Duy Của Giáo Viên Dạy Tiếng Anh Khi Soạn Bài

    --- Bài mới hơn ---

  • Việc Triển Khai Hoạt Động Pro Bono Thông Qua Chương Trình Giáo Dục Pháp Luật Thực Hành (Cle) Tại Trường Đại Học Đào Tạo Luật
  • Giảng Dạy Pháp Luật Cộng Đồng Thcs Minh Hải, Văn Lâm, Hưng Yên
  • Phương Pháp Giảng Dạy Trực Quan
  • 3 Cách Giảng Dạy Để Học Sinh Hiểu Bài Nhanh Chóng
  • Phương Pháp Giảng Dạy Trực Tuyến
  • Bài viết của ThS. Nguyễn Thanh Thuý với đồng nghiệp dạy tiếng Anh tập trung vào một mắt xích quan trọng của giáo viên: Soạn bài. BigSchool xin chia sẻ với các bạn và nghĩ rằng, với thầy cô dạy môn khác vẫn có những thu nhận tích cực.

    [Tư duy của giáo viên] Mình có bài viết này muốn chia sẻ với các bạn là giáo viên tiếng Anh. Hy vọng các bạn thấy có ích.

    SOẠN BÀI (LESSON PLANNING)

    Vì hôm trước có bạn tâm sự rằng còn thấy mông lung với vấn đề này, mình thử viết ra đây một số gạch đầu dòng cơ bản để đồng nghiệp trẻ của mình có thể nương vào mà xác định rõ hơn những mảng kiến thức bạn đang cần bổ sung/muốn biết để có thể thực hành chuyên môn hiệu quả hơn. Mình sẽ cố gắng hạn chế việc trình bày quá sâu và quá dài dòng về lý thuyết, tuy nhiên đây vẫn là nội dung dành cho người làm chuyên môn nên khó tránh khỏi một số thuật ngữ gây khó khăn cho người đọc phổ thông.

    Về cơ bản, những khối kiến thức này khi áp dụng vào thực tế đều có sự trộn lẫn trong đó hiểu biết về mặt này sẽ dẫn lối cho lựa chọn hành động ở mục khác, ví dụ: hiểu được nhu cầu học tập của trẻ em cũng như hạn chế về lứa tuổi sẽ giúp giáo viên định hướng rõ cách lựa chọn nội dung bài học cũng như hình thức tổ chức lớp học sao cho việc học đối với các em nhỏ luôn tạo hứng khởi. Vì vậy, càng luyện tập lesson planning thành thạo bao nhiêu sẽ càng cảm thấy lý thuyết soi sáng con đường mình đi bấy nhiêu.

    PLANNING

    Quy trình chuẩn bị một bài giảng luôn luôn phải có hai phần cơ bản, trong đó yêu cầu giáo viên phải suy nghĩ:

    – Phân tích đặc điểm người học của mình

    – Phân tích nội dung cần dạy để xác định được trọng tâm (từ đó phân phối tỷ lệ thời gian hiệu quả), sau đó lựa chọn thứ tự hoạt động cũng như thiết kế hoặc tìm thêm tài liệu bổ trợ sao cho áp dụng mô hình PPP hiệu quả nhất, hướng tới việc khối kiến thức mình muốn dạy “đi” được vào lòng học sinh

    – Dạy kỹ năng (4 kỹ năng)

    – Dạy ngôn ngữ (ngữ pháp, từ vựng)

    – Dạy giao tiếp (social English)

    – Ôn tập kiến thức cũ

    – Chuẩn bị cho việc thi cử

    2. SẮP XẾP THỨ TỰ HOẠT ĐỘNG

    Việc sắp xếp thứ tự hoạt động thực ra có hai hướng chính: hướng dạy PPP truyền thống và hướng dạy học thông qua hoạt động (task-based teaching)

    – PPP TRUYỀN THỐNG: một đơn vị học (không phải là cả buổi học) luôn tuân theo PPP như một phương án “an toàn” nhất, trong đó giáo viên dạy (Presentation) – sau đó cho học sinh thực hành với những bài tập hoặc hoạt động bị giới hạn đúng/sai (Practice) – tiếp tục cho học sinh thực hành ở những đề tài mở rộng hơn và gần với đời sống thực hơn, trong đó học sinh có toàn quyền quyết định nội dung nói/viết cũng như ngôn ngữ họ sử dụng (Production).

    Điểm quan trọng ở đây là việc phân biệt Practice với Production. Practice là những hoạt động bị giới hạn và sẽ được giáo viên chữa trực tiếp/gián tiếp sau khi hoàn thành. Mục tiêu của nó là để giúp người học NHỚ được MẪU ngôn ngữ/kỹ năng được giáo viên hướng dẫn ở Presentation, và áp dụng chúng vào những trường hợp tương tự như cái đã học. Nói cách khác, nó hướng tới ACCURACY (độ chính xác). Nếu phần này học sinh làm không “đủ”, hậu quả sẽ là học sinh có thể nói/viết nhưng thường xuyên mắc lỗi sai; ngược lại, nếu làm QUÁ NHIỀU, học sinh sẽ cảm thấy chán nản và lâu dần sẽ ảnh hưởng tới độ tự tin khi sử dụng tiếng (vì sợ sai). Thế nên về cơ bản, cần phải cân nhắc rất kỹ lượng bài tập/hoạt động phù hợp cho từng vấn đề ngôn ngữ chúng ta dạy, trong đó những thứ phức tạp có thể dành nhiều thời gian hơn – hoặc dùng spacing (học cách quãng) để xoay vòng kiến thức, làm sao cho vẫn “đủ” mà không “ngợp”.

    Games trong phần tài liệu hỗ trợ giáo viên đa phần được thiết kế cho Practice nhưng cũng có một số (tầm 1/3) là dành cho cái Production này. Khi lựa chọn tài liệu bổ trợ, giáo viên phải hết sức tỉnh táo để nhận diện: khi thực hiện “game” này, học sinh sẽ phải LÀM GÌ, từ đó xác định được nó là Practice hay là Production.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Bộ Sách Tiếng Anh Phonics
  • 4 Phương Pháp Dạy Trẻ Đọc Dựa Trên Ngữ Âm
  • Góc Nhìn Của Người Giảng Viên Về Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Tại Cuộc Hội Thảo Khoa Học Tại Trường Chính Trị Tỉnh Long An
  • 5 Phương Pháp Giảng Dạy Trực Tuyến Phổ Biến Bạn Cần Tìm Hiểu Trước Khi Đứng Lớp
  • Học Trực Tuyến Và Học Kết Hợp: Đâu Là Phương Pháp Tối Ưu?
  • Để Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tích Cực

    --- Bài mới hơn ---

  • Báo Cáo Đổi Mới Ppdh Môn Hóa Học
  • Báo Cáo Tham Luận “đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Nhằm Phát Triển Năng Lực Học Sinh”
  • Bộ Sách: Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học (6 Cuốn)
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Trường Trung Học Cơ Sở
  • Đổi Mới Phuong Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Giáo Dục Mầm Non “trẻ Chơi Mà, Học Mà Chơi”
  • Phần đông giáo viên đều cho rằng: Chỉ có đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) mới nâng được chất lượng đào tạo. Nhưng đổi mới như thế nào và bắt đầu từ đâu? Đánh giá một giáo án, một giờ dạy theo đổi mới PPDH dựa vào tiêu chí nào là chính?… Còn rất nhiều điều để bàn thảo.

    Câu chuyện về đổi mới PPDH thật sự nan giải, không thể là câu chuyện của ngày một ngày hai là có thể giải quyết để có kết quả tốt đẹp được. Trong quá trình thực hiện, theo chúng tôi, một nội dung cơ bản cần được chú ý chính là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học, đó là người học (học sinh).

    Học tập là quá trình tiếp thu cái mới hoặc bổ sung trau dồi kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm, giá trị, nhận thức hoặc sở thích của con người để từ đó hình thành và phát triển nhân cách của mình. Khác với cách học thụ động, học tập chủ động là quá trình người học tìm tòi, khám phá, phát hiện, kiến tạo, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin. Trong quá trình đó người học tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất nhân cách của mình một cách đúng đắn, cao đẹp. Ngoài ra, học tập chủ động sẽ giúp người học có nhiều khả năng, nhiều phương án lựa chọn và giải quyết những nội dung kiến thức phù hợp, không viển vông xa rời thực tế, không thuộc lòng chữ nghĩa theo kiểu lý thuyết suông. Mục đích học tập của người học rất rõ ràng: Học để có được các năng lực và các kỹ năng trong cuộc sống, làm việc, ứng xử, giao tiếp và hòa nhập; học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai.

    Vì thế cần sử dụng PPDH tích cực. Bởi PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy. Tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực hơn nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động. Ví dụ như phương pháp vấn đáp tuy không mới nhưng nếu như trước đây chỉ có học sinh trả lời thì hiện nay các em có thể tranh luận, bàn thảo, trao đổi với nhau và với cả giáo viên. Nhờ tranh luận, trao đổi học sinh sẽ lĩnh hội được nội dung bài học sâu sắc. Khi kết thúc đàm thoại, học sinh có được niềm vui, sự hứng khởi của việc khám phá, trình độ tư duy của họ được phát triển thêm một bước.

    3. Để hoạt động học tập không bị khô cứng, máy móc có thể thay đổi không gian và thời gian của lớp học tùy theo nội dung cụ thể của bài học. Giờ học có thể được tổ chức trong viện bảo tàng, trong thư viện, nhà lưu niệm danh nhân, đài tưởng niệm anh hùng, danh lam thắng cảnh hoặc gặp gỡ những nhân chứng sống của những sự kiện trọng đại, gặp gỡ người tốt việc tốt…, nói chung là những nơi gắn với thực tế cuộc sống nhất. Giờ học như vậy sẽ rất thân thiện với học sinh, tạo sự thoải mái không bị gò bó; nhờ vậy các em hứng thú hơn trong tiếp nhận khám phá tri thức. Bên cạnh đó, việc tự học và học ở nhà của học sinh trên tinh thần tự giác cũng phải được mở rộng và linh hoạt hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học 6 Bằng Phương Pháp Dạy Dạy Học Trực Quan
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Tiểu Học
  • Chuyên Đề Dạy Học Theo Định Hướng Giáo Dục Stem Bằng Cách Thiết Kế Một Số Chủ Đề Dạy Học Tiêu Biểu Trên Chương Trình Môn Hóa Thpt
  • Cách Soạn Giáo Án Stem Hóa Học Hiệu Quả|Makeblock Việt Nam|Note
  • Hiểu Đúng Về Dạy Học Theo Phương Pháp Stem
  • Đề Tài Giới Thiệu Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Sinh Học Trong Trường Thpt

    --- Bài mới hơn ---

  • Thiết Kế Bài Dạy Học Vật Lí Theo Hướng Tích Cực Hóa Hoạt Động Nhận Thức Của Học Sinh (Phần 4).
  • Giáo Viên Trường Thpt Hòn Gai Tiếp Cận Với Phương Pháp Giáo Dục Theo Định Hướng Stem
  • Thực Phẩm Nào Nên Ăn Và Không Được Ăn Khi Ăn Theo Phương Pháp Keto?
  • Ăn Kiêng Keto Và Ketox Có Thật Sự “thần Thánh” Như “lời Đồn”?
  • Ăn Chay Vơi Phương Pháp Ohsawa
  • Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay,nhằm tạo ra những con người năng động, sáng tạo tiếp thu được những tri thức khoa học kỹ thuật hiện đại của nhân loại, biết tìm ra các giải pháp hợp lí cho những vấn đề trong cuộc sống của bản thân và xã hội.

    Trong tình hình hiện nay, nền kinh tế đang phát triển cùng với sự phát triển của xã hội thì khoa học công nghệ cũng phát triển mạnh mẽ. Xã hội đòi hỏi người có học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức dưới dạng có sẵn đã lĩnh hội ở nhà trường phổ thông mà còn phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức mới một cách độc lập, khả năng đánh giá các sự kiện, các tư tưởng các hiện tượng mới một cách thông minh, sáng suốt trong cuộc sống, trong lao động và trong quan hệ với mọi người. Chính vì vậy, đứng trước nhu cầu tất yếu của xã hội, ngành giáo dục phải đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh là yêu cầu cấp bách của thời đại, là xu thế tất yếu khách quan.

    A/ PHẦN MỞ ĐẦU : I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI : Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay,nhằm tạo ra những con người năng động, sáng tạo tiếp thu được những tri thức khoa học kỹ thuật hiện đại của nhân loại, biết tìm ra các giải pháp hợp lí cho những vấn đề trong cuộc sống của bản thân và xã hội. Trong tình hình hiện nay, nền kinh tế đang phát triển cùng với sự phát triển của xã hội thì khoa học công nghệ cũng phát triển mạnh mẽ. Xã hội đòi hỏi người có học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức dưới dạng có sẵn đã lĩnh hội ở nhà trường phổ thông mà còn phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức mới một cách độc lập, khả năng đánh giá các sự kiện, các tư tưởng các hiện tượng mới một cách thông minh, sáng suốt trong cuộc sống, trong lao động và trong quan hệ với mọi người. Chính vì vậy, đứng trước nhu cầu tất yếu của xã hội, ngành giáo dục phải đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh là yêu cầu cấp bách của thời đại, là xu thế tất yếu khách quan. Trong luật giáo dục của nước ta đã được thông qua tháng 12 năm 1996 mục II điều 4 đã nêu rõ : "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tính tự giác chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập, ý chí vươn lên". Nghị quyết TW2 Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII đã nhấn mạnh : "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiên đại vào quá trình dạy - học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh nhất là sinh viên đại học. Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp toàn dân nhất là thanh niên". Trước thực tế đó, Nghị quyết số 40/ 2000/ QH10, ngày 9 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội khoá X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định : "Mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông lần này là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tòan diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và thế giới". Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta cũng đề ra nhiệm vụ là : "Khẩn trương biên soạn và đưa vào sử dụng ổn định trong cả nước bộ trương trình và sách giáo khoa phổ thông phù hợp với yêu cầu phát triển mới.Bởi vậy, vấn đề đặt ra của ngành giáo dục trong giai đoạn hiện nay là phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng đề cao vai trò chủ thể hoạt động của học sinh trong học tập là yêu cầu cấp thiết của sự nghiệp giáo dục hiện nay và hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của thế giới. Mỗi một bài giảng cũng như một đứa con tinh thần trong suy nghĩ của người dạy, là người thầy truyền đạt kiến thức cho học sinh ai cũng muốn chăm chút cho đứa con tinh thần ấy đẹp về cả nội dung, hình thức và đẹp cả ở cách thể hiện. Ngay bản thân tôi, mặc dầu là người chưa có nhiều kinh nghiệm trong nghề nghiệp, nhưng mỗi một bài dạy đều để laị trong tôi nỗi ưu tư khó tả, đặc biệt là những bài dạy mà sau khi tôi giảng xong ánh mắt các em ngơ ngác và khuôn mặt tỏ vẻ không hài lòng vì không hiểu bài. Những lúc ấy, tôi thật buồn và cảm thấy bản thân mình đã chưa hoàn thành nhiệm vụ của một nhà giáo, chưa biết cách khơi gợi niềm đam mê yêu thích môn học ở học sinh, không khơi dậy được tư duy tích cực và sáng tạo ở học sinh. Chính vì điều đó đã khiến tôi phải suy nghĩ đi tìm con đường cho mỗi bài giảng , từ đó tôi quyết tâm nghiên cứu phương pháp dạy học vừa mới lạ vừa phát huy tính tích cực ở học sinh. Đồng thời tôi thấu hiểu rõ quan điểm của Đảng - Nhà nước về đổi mới giáo dục hiện nay,tôi nhận thấy bản thân cũng phải tự vận động, tự đổi mới tư duy trong dạy học và đổi mới phương pháp dạy học là rất cần thiết. Vậy việc đổi mới phương pháp giảng dạy và đưa công nghệ thông tin trong giảng dạy ở các cấp bậc học, ở toàn thể các môn học, cốt lõi của việc đổi mới là " Lấy học sinh làm trung tâm và phát huy tính tích cực sáng tạo, tự học, tự nghiên cưú ở học sinh ". Nhưng trong thực tế vẫn còn một lượng không nhỏ học sinh vẫn học theo lối tư duy máy móc, thụ động tiếp thu kiến thức, học thuộc mà không hiểu, không biết cách vận dụng kiến thức vào thực tiễn, mặt khác về phía giáo viên vẫn còn không ít thầy cô vẫn dạy theo phương pháp đọc chép hoặc chiếu chép, hoặc chỉ giảng giải cho học sinh mà chúng ta đã vô tình không biết rằng học sinh nghe nhưng không hiểu.Vì thế, tôi muốn viết đề tài này để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm cùng qúi thầy cô về việc đổi mới phương pháp dạy học và giúp những người đứng lớp tìm ra phương pháp dạy học tích cực phù hợp cho mỗi bài dạy, tôi rất mong được nhận sự đóng góp ý kiến cuả qúi thầy cô ! Tôi xin chân thành cảm ơn ! II/ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU : Về phương diện lí thuyết tập trung nghiên cứu một số phương pháp dạy học tích cực chủ yếu như dạy học giải quyết vấn đề và một phương pháp tôi mạnh dạn đặt tên là dạy học dùng phương pháp sơ đồ hoá dựa trên cơ sở của các phương pháp như : dùng hình ảnh trực quan sinh động kết hợp với hỏi đáp, tự làm việc với sách giáo khoa tìm tòi nội dung kiến thức và sơ đồ hoá nội dung kiến thức bằng ngôn ngữ cụ thể của bài học, đồng thời nêu được đặc điểm, vai trò và những ứng dụng của các phương pháp này trong giảng dạy . Về phương diện thực nghiệm vận dụng trong giảng dạy môn sinh học bằng những phương pháp dạy tích cực trong trường học, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm để phát huy những mặt tích cực của phương pháp và khắc phục mặt hạn chế của phương pháp. III/ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU VÀ GIỚI HẠN ĐỀ TÀI : Tìm ra những phương pháp dạy học tích cực phù hợp cho từng bài nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn sinh học. Vận dụng những phương pháp tích cực vào từng bài dạy cụ thể để phát huy tư duy độc lập giúp học sinh tự tìm ra kiến thức và phát triển khả năng sáng tạo của học sinh, đồng thời kích thích ở học sinh niềm đam mê yêu thích môn học. Rút ra những bài học kinh nghiệm để cùng toàn thể quí thầy cô trao đổi và hoàn thiện phương pháp dạy học ngày càng tiến bộ. Trong đề tài này, tôi chỉ đề cập tới nghiên cứu một số phương pháp dạy học tích cực đối với bộ môn sinh học ( chủ yếu chương trình chuẩn ) mà trên thực tế tôi đã ứng dụng giảng dạy ở trường. Tuy nhiên, do thời gian có hạn và đề tài cũng còn nhiều vấn đề quan tâm của tất cả quí thầy cô, tôi chỉ đề cập tới một số nội dung trong bài tiêu biểu cụ thể ở mỗi chương. Rất mong người dạy mỗi chúng ta gọt thêm cho nhọn, cho sắc để mỗi bài dạy của chúng ta chính là đứa con tinh thần rất đẹp. Mặt khác một phương pháp tôi nêu tên là dạy học dùng phương pháp sơ đồ hoá thì trong đề tài này tôi chỉ nêu ở phần thực nghiệm vì là phương pháp dựa trên cơ sở của một số phương pháp đã có. Chỉ khác ở cách thể hiện của giáo viên khi hướng dẫn giúp học sinh tự tìm ra kiến thức. IV/ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU : 1/ Phương pháp nghiên cứu lí thuyết : Phương pháp lí thuyết thường dùng phổ biến cho nhiều nghiên cứu khoa học . 2/ Phương pháp điều tra : Điều tra cũng thường được sử dụng trong nhiều loại đề tài nghiên cứu của lí luận dạy học. Thực chất của phương pháp này là người thu thập số liệu đặt ra những câu hỏi cho đối tượng được điều tra trả lời nói hay viết. Nội dung người trả lời cần chân thật mà người điều tra thu được sau khi xử lí là kết quả điều tra. Đối tượng điều tra là học sinh. Để thu được sự trả lời trung thực, đúng đắn, của học sinh thì phải có kĩ thuật đặt câu hỏi. Phương pháp này thường dùng để tìm hiểu chất lượng dạy học một vấn đề nào đó trong chương trình, hoặc thăm dò ý kiến của học sinh về phương pháp dạy học mới có đem lại kết quả mong muốn hay không. Câu hỏi nêu ra có thể dưới dạng trắc nghiệm (test) hay theo dạng câu hỏi truyền thống, tuy nhiên mỗi dạng đều có những ưu nhược điểm. Ngày nay, thường sử dụng phối hợp cả hai dạng câu hỏi. 3/Phương pháp quan sát sư phạm : Quan sát sư phạm là một quá trình tri giác một hiện tượng, một quá trình sư phạm trong hay ngoài lớp học theo một kế hoạch cụ thể nhằm rút ra những kết luận cần thiết. Nhờ có quan sát sư phạm mà người nghiên cứu thu thập được nhiều sự kiện trong quá trình giảng dạy và giáo dục. Từ những sự kiện riêng lẻ, đơn nhất nhưng được lặp lại nhiều lần, người nghiên cứu có thể phát hiện ra cái chung, cái bản chất, nhờ đó mà tích luỹ được nhiều kinh nghiệm giảng dạy sinh học, tránh những sai lầm, nâng cao hiệu quả giảng dạy. Quan sát ... miễn sao sử dụng từ ngữ đúng là được chứ không có áp đặt có sẵn nội dung từng dòng từng chữ phải giống thầy. * / Nhược điểm của phương pháp này là đòi hỏi học sinh phải đầu tư thời gian khá nhiều đồng thời không phải bất kỳ học sinh nào cũng làm được điều này vì muốn tự học thì khả năng tư duy của học sinh phải khá tốt, khả năng khai quát cao, nói chung là yêu cầu ở học sinh rất nhiều khả năng đặc biệt là sự tự giác trong học tập thì không phải học sinh nào cũng có. Đôi khi học sinh làm là do bắt buộc hoặc một số học sinh làm số còn lại mượn chép thì nó trở thành sự ì tư duy. Vì vậy yếu tố tự học và sự kiên trì là điều rất cần thiết để thực hiện phương pháp này tốt hơn. Ngoài ra về phía GV cũng phải đầu tư rất nhiều không chỉ thời gian mà còn khả năng khái quát của GV đòi hỏi chuyên môn sâu rộng và sự kiên trì bởi vậy cũng là trở ngại để thực hiện phương pháp này. Nói chung phương pháp nào cũng có ưu và nhược điểm của nó, nhưng viết đề tài này trên tinh thần học hỏi những kinh nghiệm giảng dạy tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến của quý đồng nghiệp. C / PHẦN KẾT LUẬN I / KẾT LUẬN Qua đề tài trên chúng ta thấy đổi mới phương pháp dạy học là rất cần thiết là mục tiêu hàng đầu nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Trên cơ sở những bài thực nghiệm dạy học giải quyết vấn đề và thực nghiệm dùng phương pháp sơ đồ hoá đều phản ánh được mặt tích cực của những phương pháp này. Giúp học sinh học hiểu sâu hơn, tự giác và tư duy độc lập sáng tạo hơn, đồng thời giúp các em luôn có hứng thú với môn học. Vấn đề khó khăn ở những phương pháp này là thời gian của cả GV và học sinh phải đầu tư rất nhiều trong khi đó các em học rất nhiều môn và các quý thầy cô thì không phải ai cũng thích dạy những phương pháp này. Ngoài ra, giáo viên phải đầu tư liên tục ở mỗi bài mới hình thành thói quen học tập độc lập nhưng không phải bất kỳ bài nào cũng dạy được bằng các phương pháp trên mà tuỳ bài, tuỳ năng lực cụ thể của học sinh, tuỳ điều kiện về thời gian của mỗi giáo viên, trở ngại nữa là sử dụng phương pháp này rất dễ bị cháy giáo án. Nói chung nếu có nhiều thời gian và điều kiện cho phép thì bản thân tôi sẽ đầu tư nghiên cứu không những phương pháp dạy học tích cực môn sinh học mà còn nghiên cứu tâm lý học sinh khi học môn học này để cân đối phương pháp dạy học phù hợp với tâm lý từng đối tượng người học. II / ĐỀ XUẤT Thông qua dạy học bằng phương pháp tích cực bản thân tôi nghĩ nên rèn luyện cho các em tư duy độc lập ngay từ bé khi còn ở nhà trẻ nhưng ở mức độ thấp hơn, còn ở học sinh tiểu học chúng ta cũng nên sử dụng phương pháp dạy theo hướng giải quyết vấn đề giúp các em có tư duy độc lập từ nhỏ. Đặc biệt chúng ta nên đẩy mạnh những phương pháp dạy học tích cực ở học sinh cấp II và cấp III, và sinh viên. Nhưng trên thực tế phạm vi trường THPT tôi rất mong được đề xuất những vấn đề sau : - Mỗi cá nhân trong trường học cần tích cực đổi mới phương pháp dạy học, bằng cách đầu tư sâu chuyên môn, nghiên cứu thật kỹ phương pháp dạy học của mỗi bài phù hợp trình độ nhận thức của học sinh. Mỗi thầy cô nên dạy một khối để có thời gian đầu tư phương pháp tốt hơn và rút kinh nghiệm cũng dễ dàng hơn. Nhưng trên thực tế thì mỗi GV cùng một năm dạy 3 khối vừa cực mà lại ít thời gian đi sâu kiến thức và tìm ra phương pháp tích cực phù hợp. Trên thực tế nhiều thầy cô dạy quá nhiều khối mà đây là ép phải như vậy. Trong tình hình hiện nay có nên hay không bởi vì SGK mới liền một lúc dạy cả khối 10 và 12 hoặc 11 và 12 thì đều là những kiến thức mới vấn đề mới mà có rất nhiều bài đề cập tới. Đồng thời SGK viết rất nhiều mà không rõ ý như sinh 12 cơ bản năm nay gây áp lực không nhỏ cho người trực tiếp dạy học cũng như là học sinh thì đương nhiên việc thay đổi một phương pháp dạy học mới ở mỗi GV là tất yếu để phù hợp với nhu cầu học cuả học sinh. - Mặt khác do kiểu thi trắc nghiệm thì mỗi GV nên dạy theo hình thức ngắn gọn dễ hiểu phù hợp với trắc nghiệm mà không nên áp đặt ngôn ngữ của mình bắt học sinh học dài hàng trang gây áp lực rất lớn đối với học sinh. Vì vậy, tôi thiết nghĩ cần sử dụng sơ đồ hoá kiến thức nhiều hơn giúp học sinh tóm gọn kiến thức và học dễ dàng hơn và cách này cần phổ biến hơn nữa vì trên thực tế có nhiều thầy cô đã sử dụng nhưng chưa dám mạnh dạn sử dụng đôi khi sợ học sinh học sơ đồ phát biểu thành nội dung không được. Nhưng chúng ta cần kiên trì rèn luyện cho học sinh dù với hình thức ghi như thế nào thì cốt lõi vẫn là các em phải biến kiến thức thành của mình dùng ngôn từ của mình miễn sao đảm bảo tính chính xác khoa học là đủ. - Ngoài ra khi dạy học giải quyết vấn đề giúp cho học sinh cũng như GV rất nhiều, khó khăn của phương pháp này là thời gian và điều kiện để GV thực hiện là rất khó có thể sử dụng phổ biến, mặt khác còn do không phải nội dung nào cũng dạy theo phương pháp này được. Vì vậy, tôi mạnh dạn đề nghị cần lập ra một tổ chức nghiên cứu phương pháp dạy học tích cực tình nguyện bao gồm thầy chuyên viên sở và những thầy cô dạy giỏi có nhiều kinh nghiệm ở các trường có những phương pháp dạy hiệu quả soạn giảng tải mạng để tập hợp thành những cuốn giáo án chung là giáo án tham khảo cho nội bộ các GV của tỉnh áp dụng, mỗi năm mỗi chỉnh sửa cho phù hợp và thầy cô nào có giáo án hay mạnh dạn tải về sở cho thầy chuyên viên của sở chỉnh lí và phổ biến rộng rãi. Đồng thời có những khuyến khích cụ thể đối với những cá nhân thầy cô có bài soạn hay. Nếu ứng dụng được điều này tôi thiết nghĩ bộ môn sinh học sẽ giảm bớt rất nhiều áp lực cho người học cũng như người dạy. III / KIẾN NGHỊ ỨNG DỤNG - Phương pháp DHGQVĐ đã trở lên quen thuộc đối với một số thầy cô nhưng vẫn còn một bộ phận không nhỏ thầy cô vẫn dạy theo phương pháp đọc chép, và còn giảng giải nhiền hơn việc nêu ra câu hỏi khiến học sinh phải tư duy. Vì vậy chúng ta nên thay đổi phương pháp dạy học bằng cách ứng dụng DHGQVĐ thường xuyên hơn trong giảng dạy các môn học nói chung đặc biệt là môn sinh học nói riêng. Điều mà tôi rất boăn khoăn là khi xã hội từng bước phát triển và thế giới ngày một thay đổi rất khác vậy mà sức học của học sinh ngày càng đi xuống. Tôi nhận thấy học sinh không còn coi trọng việc học, mà đến trường mục đích chủ yếu là bạn bè vui là chính. Chắc chắn rằng rất nhiều quý thầy cô đau khổ, buồn rầu vì thế hệ trẻ ngày nay nhưng tôi nhận thấy rằng cái mặt mạnh của học sinh ngày nay là rất năng động, tự tin. Vậy tại sao chúng ta không kết hợp những mặt mạnh của học sinh đánh vào tâm lý của các em, giáo dục các em lý tưởng để giúp các em đi đúng hướng. Như vậy ngoài dạy chuyên môn thì GV cần dạy cả cách làm người cho học sinh mà phải cực kỳ khéo léo tế nhị lấy từ những tấm gương thực tế để chỉ dạy. Tại sao tôi lại đề nghị vấn đề này, thực tế là do cuộc sống hiện đại chúng ta quên đi nghĩa vụ rất quan trọng của người thầy là chỉ dạy kiến thức mà không dạy cách làm người cho học sinh thì sự thành công trong giảng dạy của chúng ta cũng chỉ là thành công ảo mà thôi. - Phương pháp tôi nêu là dạy học dùng phương pháp sơ đồ hoá có nên sử dụng hay không thì do cách dạy của mỗi thầy cô. Nhưng tôi thiết nghĩ nếu cách thức nào giúp học sinh tích cực tư duy thì chúng ta ứng dụng càng nhiều càng tốt. Chính vì chúng ta không để học sinh tự nghiên cứu bài trước chỉ dặn các em đọc trước thì chẳng em nào chịu đọc mà GV chúng ta khéo léo giao việc cho các em thực hiện ở nhà để các em tự nghiên cứu tài liệu thì mới giúp chúng ta hoàn thành bài trên lớp đồng thời chính bản thân các em cũng học tốt hơn. Nhiều thầy cô cho rằng cách này vượt quá tầm tri thức của học sinh chỉ những sinh viên mới tự học như vậy, đây là quan điểm theo tôi thấy nó chưa thoả đáng vì hầu hết những học sinh chưa học theo kiểu như vậy học lên cao càng dở, đặc biệt là ở sinh viên. Những sinh viên tự nghiên cứu tài liệu tự tìm tòi kiến thức chính là những sinh viên giỏi, còn những sinh viên không biết tự học thì học rất khó khăn. Vậy thì tại sao chúng ta không bắt tay vào khai thác tính tự học tự nghiên cứu ở học sinh ngay từ bây giờ ở các trường phổ thông ? Ứng dụng phương pháp này cũng là cơ sở giúp các em phát triển tư duy cao đồng thời chuẩn bị một tâm lý tốt khi là những sinh viên. Do thời gian có hạn trong đề tài này tôi chỉ nêu một vài cách thức cũng như quan điểm về phương pháp dạy học cũng mong quý đồng nghiệp tham khảo đóng góp ý kiến để sự nghiệp giáo dục của nước ta nói chung và tỉnh nhà nói riêng luôn phát triển tích cực và đạt hiệu quả cao. D / TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 / Kỹ thuật dạy học sinh học - Tác giả Trần Bá Hoành. 2 / Lý luận dạy học sinh học - Đồng tác giả : Đinh Quang Báo _ nguyễn Đức Thành. 3 / Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm - Tác giả Nguyễn Kỳ. 4 / Dạy học giải quyết vấn đề - một đổi mới trong công tác GD - ĐT : Đồng tác giả Vũ Văn Tảo - Trần Văn Hà. 5 / Tổ chức dạy học nêu vấn đề ở nhà trường (tài liệu dịch) : Tác giả Macmutop.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Giáo Dục Mầm Non “trẻ Chơi Mà Học, Học Mà Chơi”
  • Phương Pháp Kỉ Luật Tích Cực Trong Dạy Học Và Giáo Dục Học Sinh Tiểu Học
  • 20+ Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực Hiệu Quả Nhất
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Cấp Tiểu Tiểu Học
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Hoá Thcs
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Hoá Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Cấp Tiểu Tiểu Học
  • 20+ Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực Hiệu Quả Nhất
  • Phương Pháp Kỉ Luật Tích Cực Trong Dạy Học Và Giáo Dục Học Sinh Tiểu Học
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Giáo Dục Mầm Non “trẻ Chơi Mà Học, Học Mà Chơi”
  • Đề Tài Giới Thiệu Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Sinh Học Trong Trường Thpt
  • Trang

    Phần thứ nhất : Những vấn đề chung

    II. Đối tượng nghiên cứu

    3

    III. Mục đích nghiên cứu

    3

    IV. Điểm mới của vấn đề

    3

    Phần thứ hai: Cơ sở lí luận của đề tài

    II. Phương pháp dạy học hoá học

    5

    Phần thứ ba: dụng các phương pháp dạy học tích cực vào một số tình huống giảng dạy môn hoá học THCS

    16

    Phần thứ tư: Một số giáo án sử dụng các phương pháp dạy học tích cực

    26

    Phần thứ nhất

    Những vấn đề chung

    I – Lí do chọn đề tài:

    Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, nền giáo dục quốc dân cần phải có những đổi mới phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế – xã hội. nghị quyết trung ương Đảng lần thứ IV đã chỉ rõ “… giáo dục và đào tạo là động lực thúc đẩy và là điều kiện cơ bản đảm bảo việc thực hiện mục tiêu kinh tế – xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước…”

    Để thực hiện quan điểm trên, Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VII về việc tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: ” Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học. kết hợp tốt học với hành học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và NCKH, gắn nhà trường và xã hội, áp dụng phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực sáng tạo, năng lực giải quết vấn đề, do đó đặt ra nhiệm vụ cho ngành giáo dục phải đổi mới phương pháp dạy học để đào tạo con người có đủ khả năng sống và làm việc theo yêu cầu của cuộc cách mạng lớn của thời đại: Cách mạng truyền thông, công nghệ thông tin, cách mạng công nghệ. một trong những sự đổi mới giáo dục là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hoá người học, trong việc tổ chức quá trình lĩnh hội tri thức thì lấy học sinh làm trung tâm. theo hướng này giáo viên đóng vai trò tổ chức và điều khiển học sinh chiếm lĩng tri thức, tự lực hoạt động tìm tòi để dành kiến thức mới.

    Trong sự đổi mới này không phải chúng ta loại bỏ phương pháp truyền thống mà cần tìm ra những yếu tố tích cực, sáng tạo trong từng phương pháp để thừa kế và phát triển những phương pháp đó cần sử dụng sáng tạo các phương pháp dạy học phù hợp, thuyết trìng nêu vấn đề, đàm thoại ơrixtic, trong dạy học hoá học THCS việc tăng cường sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp với thí nghiệm hoá học cũng là phương hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá người học. Để sử dụng sáng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mách Bạn 10 Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Phổ Biến Nhất
  • Giáo Án Bài Tấm Cám Soạn Theo Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Những Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Ngữ Văn
  • Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Phổ Biến Hiện Nay
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Thực Hiện Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Cho Trẻ Tại Trường Mầm Non Sao Mai
  • Mách Bạn 10 Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Phổ Biến Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Hoá Thcs
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Cấp Tiểu Tiểu Học
  • 20+ Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực Hiệu Quả Nhất
  • Phương Pháp Kỉ Luật Tích Cực Trong Dạy Học Và Giáo Dục Học Sinh Tiểu Học
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Giáo Dục Mầm Non “trẻ Chơi Mà Học, Học Mà Chơi”
  • 1. Phương pháp dạy học tích cực

    Phương pháp dạy học tích cực là cách mà giáo viên và học sinh sử dụng các biện pháp, cách thức hành động của mình trong các tình huống, hoạt động nhỏ lẻ để tham gia vào việc thực hiện và điều khiển quá trình dạy và học.

    Để thực hiện tốt cách dạy học này, giáo viên phải là người có chuyên môn tốt, có bản lĩnh và kiên trì xây dựng phương pháp học tập chủ động cho học sinh sao cho vừa sức, thực hiện từ thấp đến cao. Muốn đổi mới phương pháp dạy học cần có sự hợp tác tốt giữa thầy và trò, phối hợp tốt giữa hoạt động dạy và hoạt động học mới có thể đem lại kết quả như mong muốn, đạt thành công trong việc dạy và học ở nhà trường.

    Nếu quá trình dạy và học chỉ diễn ra một chiều đơn thuần theo kiểu truyền đạt kiến thức tới học sinh thụ động, không có phương pháp cụ thể, không bài bản sẽ dẫn đến hệ quả tất yếu là học sinh sẽ khó nhớ, khó nắm bắt được kiến thức mà thầy cô nói trên lớp. Do đó, kiến thức của giáo viên giảng dạy không thể truyền tải tốt tới học sinh.

    Chính vì vậy, phương pháp dạy học tích cực ra đời sẽ giúp giáo viên và học sinh có thể truyền đạt, tiếp thu kiến thức được tốt nhất. Đây cũng là cách học được áp dụng thành công trên nhiều quốc gia trên thế giới.

    Phương pháp dạy học tích cực là gì?

    2. Tìm hiểu 10 phương pháp dạy học tích cực

    Học tập đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển bản thân của mỗi người. Vì vậy, những nhà làm nghiên cứu giáo dục đã tìm ra nhiều phương pháp dạy học tích cực nhằm giúp thầy trò, đặc biệt là học sinh có thể lĩnh hội kiến thức, kỹ năng và phát triển năng lực, sở trường của bản thân thật tốt.

    Dụng cụ cần chuẩn bị để thực hiện phương pháp dạy học tích cực này chính là giấy bút cho học sinh.

    Quá trình thực hiện phương pháp Jigsaw như sau:

    • Chia học sinh thành các nhóm có nhóm trưởng

    • Giáo viên giao nhiệm vụ riêng cho mỗi nhóm

    • Sau đó, từng nhóm sẽ tách ra và tạo thành nhóm mới theo sơ đồ.

    Những điều cần lưu ý:

    10 phương pháp dạy học tích cực

    2.2. Phương pháp kỹ thuật khăn phủ bàn hay Khăn trải bàn

    Kỹ thuật khăn phủ bàn là kỹ thuật dạy học tích cực kết hợp giữa hoạt động nhóm và hoạt động của cá nhân nhằm mục đích giúp học sinh tích cực tham gia học tập, tăng khả năng độc lập, trách nhiệm cho học sinh đồng thời giúp phát triển tính tương tác của học sinh.

    Dụng cụ cần chuẩn bị bao gồm: Giấy khổ lớn cho từng nhóm và bút viết

    Quá trình thực hiện:

    • Giáo viên chia học sinh thành các nhóm, chỉ định trưởng nhóm, thư ký và giao dụng cụ cho các nhóm

    • Bạn nhóm trưởng và thư ký của mỗi nhóm sẽ tổng hợp các ý kiến, chọn ra ý kiến quan trọng viết vào giữa tờ giấy.

    Lưu ý: Mỗi học sinh trong nhóm sẽ làm việc riêng ở một góc.

    2.3. Phương pháp kỹ thuật Động não hay Công não (Brainstorming)

    Kỹ thuật dạy học này do Alex Osborn (Mỹ) phát triển dựa trên một kỹ thuật truyền thống của Ấn Độ. Mục đích của kỹ thuật này giúp học sinh phát huy những tư tưởng mới mẻ, độc đáo ở một đề tài khi được đề cập tới. Điều này tạo ra nhiều ý tưởng khác nhau từ các học sinh.

    Quá trình thực hiện:

    Lưu ý: Các bạn tôn trọng ý kiến của các thành viên không phê bình hay nhận xét.

    Kỹ thuật dạy học tia chớp có thể giúp huy động những học sinh tham gia vào một câu hỏi nào đó để cải thiện tình hình giao tiếp và không khí học tập trong lớp. Theo đó, mỗi học sinh sẽ trả lời nhanh và ngắn gọn lần lượt ý kiến của mình. Đây là phương pháp dạy học tích cực dễ áp dụng.

    Quy định của kỹ thuật này mỗi nhóm sẽ gồm có 6 thành viên. Trong đó, mỗi thành viên sẽ đưa ra 3 ý kiến viết lên giấy trong thời gian là 5 phút về phương hướng giải quyết một vấn đề sau đó chuyển cho người bên cạnh. Do đó, kỹ thuật này gọi là kỹ thuật 365. Ưu điểm của kỹ thuật này sẽ giúp các học sinh tham gia trong nhóm đều phải làm việc tích cực.

    Lưu ý: Giáo viên cần phân chia số lượng nhóm đồng đều và có quy định, thời gian cụ thể để có sự công bằng giữa các nhóm.

    Do Tony Buzan đề xuất dựa theo cơ sở sinh lý thần kinh về quá trình tư duy, kỹ thuật này là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng giúp học sinh tổ chức thông tin, ý tưởng và giải thích, liên kết kiến thức của mình. Phương pháp dạy học tích cực này thích hợp cho việc ôn tập nội dung, liên hệ lý thuyết với thực tế tốt hơn lại phù hợp với tâm lý học sinh, dễ hiểu, đơn giản.

    Phương pháp kỹ thuật sơ đồ tư duy

    Kỹ thuật này do giáo sư Frank Lyman của đại học Maryland giới thiệu vào năm 1981. Kỹ thuật chia sẻ nhóm đôi sẽ hoạt động làm việc theo nhóm đôi để phát triển năng lực tư duy của các thành viên tham gia giải quyết vấn đề nào đó có tác dụng nâng cao khả năng lắng nghe, tóm tắt ý của người khác giúp phát triển được những câu trả lời tốt.

    Lưu ý: Giáo viên cần làm mẫu hoặc giải thích trước để học sinh biết cách làm, có thể chia sẻ ý tưởng nhận được chứ không chỉ chia sẻ ý kiến cá nhân.

    Phương pháp dạy học Kipling áp dụng trong trường hợp cần thêm ý tưởng mới, muốn xem xét vấn đề ở nhiều khía cạnh khác nhau sau đó lựa chọn ý tưởng tốt nhất để phát triển. Kỹ thuật này có ưu điểm không mất nhiều thời gian, có thể áp dụng cho nhiều tình huống khác nhau và mang tính logic cao.

    Lưu ý: Những câu hỏi đưa ra ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề, bằng cách bám sát các câu hỏi what, when, where, why, who, how.

    Tìm lớp gia sư dạy kèm cho sinh viên ở đâu uy tín? Nếu bạn đang có nhu cầu làm giáo viên giảng dạy hãy đến với Vieclam123 để đăng tin hoàn toàn miễn phí.

    Phương pháp dạy học tích cực KWL có thể giúp học sinh biết thêm những kiến thức mới, tạo hứng thú học tập tốt hơn cũng như giúp hình thành khả năng tự định hướng học tập cho các em tốt hơn.

    Tìm lớp gia sư dạy kèm cho sinh viên ở đâu uy tín? Nếu bạn đang có nhu cầu làm giáo viên giảng dạy hãy đến với Vieclam123 để đăng tin hoàn toàn miễn phí.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Bài Tấm Cám Soạn Theo Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Những Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Ngữ Văn
  • Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Phổ Biến Hiện Nay
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Thực Hiện Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Cho Trẻ Tại Trường Mầm Non Sao Mai
  • Một Số Phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực Có Thể Sử Dụng Trong Dạy Học Ngữ Văn Thcs
  • Thế Nào Là Phương Pháp Dạy Học Tích Cực

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Dạy Toán Cho Trẻ Lớp 1 Nổi Tiếng Trên Thế Giới
  • Luận Văn Luận Văn Vận Dụng Quan Điểm Hoạt Động Khi Dạy Học Giải Toán Về Phương Pháp Tọa Độ Trong Mặt Phẳng Ở Lớp 10 Trường Thpt
  • Phương Pháp Dạy Toán Lớp 2 Giúp Bé Phát Triển Tư Duy Sáng Tạo
  • Báo Cáo Chuyên Đề Môn Toán
  • Top 4 Cách Dạy Toán Lớp 2 Hiệu Quả Nhất Bố Mẹ Nên Biết
  • THẾ NÀO LÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TÍCH CỰC?

    Như chúng ta đã biết, mỗi một phương pháp giảng dạy dù cổ điển hay hiện đại đều nhấn mạnh lên một khía cạnh nào đó của cơ chế dạy-học hoặc nhấn mạnh lên mặt nào đó thuộc về vai trò của người thầy.

    Chúng tôi cho rằng, cho dù các phương pháp thể hiện hiệu quả như thế nào thì nó vẫn tồn tại một vài khía cạnh mà người học và người dạy chưa khai thác hết. Chính vì thế mà không có một phương pháp giảng dạy nào được cho là lý tưởng. Mỗi một phương pháp đều có ưu điểm của nó do vậy người thầy nên xây dựng cho mình một phương pháp riêng phù hợp với mục tiêu, bản chất của vấn đề cần trao đổi, phù hợp với thành phần nhóm lớp học, các nguồn lực, công cụ dạy-học sẵn có và cuối cùng là phù hợp với sở thích của mình.

    Theo chúng tôi, phương pháp giảng dạy được gọi là tích cực nếu hội tụ được các yếu tố sau: – Thể hiện rõ vai trò của nguồn thông tin và các nguồn lực sẵn có. Có nghĩa là nếu như chúng ta muốn xây dựng một công trình chúng ta phải lượng xem những gì chúng ta đã có. Không thể xây một tòa tháp nếu ta chỉ đủ xây một ngôi nhà nhỏ. Mục tiêu của giáo dục phải được thể hiện rõ ràng trong phương pháp giảng dạy: dạy cho đối tượng nào? Sau khi học tập thì người học được gì? Mục tiêu cần đạt được đang bắt đầu từ đâu? Tại sao phải đạt các mục tiêu đó?… Như vậy, có thể một phương pháp là tích cực đối với đối tượng người học này, nhưng chức chắc đã phù hợp và tích cực với đối tượng khác. Vì vậy nắm được nguồn thông tin và nguồn lực sẵn có là một tiêu chuẩn để xác định phương pháp dạy học áp dụng đúng đối tượng, phù hợp với mục tiêu dạy học. – Thể hiện rõ được động cơ học tập của người học khi bắt đầu môn học. Việc thể hiện được động cơ học tập trong phương pháp dạy học đồng nghĩa với việc kích thích được nhu cầu học tập của người học. Khi học tập có nhu cầu thì sẽ áp dụng tốt phương pháp học tích cực với người học, kết hợp phương pháp dạy tích cực của người hướng dẫn sẽ tạo thành tổ hợp phương pháp dạy học tích cực. Việc xác định rõ động cơ trong học tập để quá trình dạy học không xa rời người học mà trở thành định hướng cho quá trình học đi đúng với mục tiêu học tập.

    – Thể hiện rõ được bản chất và mức độ kiến thức cần huy động sẽ giúp việc học không quá sức với người học. Nếu việc học vượt quá mức tiếp thu của người học sẽ dễ gây tâm lý chán nản, ngược lại, việc học dễ sẽ dẫn tới tâm lý chủ quan, không kích thích sự cố gắng của người học. Vì vậy, nếu xác định được bản chất và mức độ kiến thức cần huy động, phương pháp áp dụng sẽ phù hợp với người học. – Thể hiện rõ được vai trò của người học, người dạy, vai trò của các mối tương tác trong quá trình học. Trong phương pháp dạy học tích cực, người thầy đóng vai trò hướng dẫn, người đặt ra các tình huống, đưa ra các gợi ý,… người học chủ động sử dụng các kiến thức sẵn có để mở rộng ra kiên thức mới, giải quyết các tình huống đặt ra trong quá trình tìm tòi, suy luận, tìm ra các giải pháp để đạt được mục tiêu mà bài học hướng tới.

    – Thể hiện được kết quả mong đợi của người học. Tất cả các hoạt động, sự tương tác giữa người dạy với người học, giữa người học với nội dung kiến thức cuối cùng đều phải hướng tới kết quả mong đợi của người học hay mục tiêu chính yếu của phần kiến thức đang cần đạt được.

    TLTK: Lê Văn Hảo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Điều Trị Tắc Vòi Trứng Bằng Đông Y An Toàn, Hiệu Quả Cao Bạn Nên Biết
  • Mắc Bệnh Tắc Vòi Trứng Có Thai Được Không? Cách Điều Trị Tắc Vòi Trứng Hiệu Quả
  • Chữa Tắc Vòi Trứng Bằng Đông Y Có Hiệu Quả Không?
  • Lăn Cầu Gai Đôi Diện Chẩn Chữa Tắc Vòi Trứng Hiệu Quả 2021
  • Chữa Viêm Xoang Bằng Diện Chẩn Hiệu Quả Nhanh Chóng, Cực An Toàn
  • Các Phương Pháp, Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Sử Dụng Trong Nhà Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Xu Hướng Dạy Học Tích Hợp Đang Thịnh Hành Hiện Nay Là Gì?
  • Hiệu Quả Phương Pháp Dạy Học Tích Hợp
  • Phương Pháp Dạy Học Thực Hành
  • Lựa Chọn Phương Pháp Tổ Chức Dạy Học Thực Hành Nghề
  • Nội Dung Trong Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học
  • Phương pháp dạy học (PPDH) là lĩnh vực rất phức tạp và đa dạng. Có nhiều quan niệm, quan điểm khác nhau về PPDH. Trong tài liệu này, PPDH được hiểu là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa GV và HS, trong những điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học.

    PPDH có ba bình diện:

    – Bình diện vĩ mô là quan điểm về PPDH. Ví dụ: Dạy học hướng vào người học, dạy học phát huy tính tích cực của HS,…

    Quan điểm dạy học là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học, những cơ sở lí thuyết của lí luận dạy học, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những định hướng về vai trò của GV và HS trong quá trình dạy học. Quan điểm dạy học là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lí thuyết của PPDH.

    Ở bình diện này khái niệm PPDH được hiểu với nghĩa hẹp, là những hình thức, cách thức hành động của GV và HS nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và điều kiện dạy học cụ thể.

    PPDH cụ thể quy định những mô hình hành động của GV và HS.

    Trong mô hình này thường không có sự phân biệt giữa PPDH và hình thức dạy học (HTDH). Các hình thức tổ chức hay hình thức xã hội (như dạy học theo nhóm) cũng được gọi là các PPDH.

    – Bình diện vi mô là Kĩ thuật dạy học . Ví dụ: kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật giao nhiệm vụ, kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật các mảnh ghép, kĩ thuật hỏi chuyên gia, kĩ thuật hoàn tất một nhiệm vụ,…

    Kĩ thuật dạy học (KTDH) là những biện pháp, cách thức hành động của GV trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.

    Tóm lại, QĐDH là khái niệm rộng, định hướng cho việc lựa chọn các PPDH cụ thể. Các PPDH là khái niệm hẹp hơn, đưa ra mô hình hành động. KTDH là khái niệm nhỏ nhất, thực hiện các tình huống hành động.

    – Việc phân biệt giữa PPDH và KTDH chỉ mang tính tương đối, nhiều khi không rõ ràng. Ví dụ, động não ( Brainstorming) có trường hợp được coi là phương pháp, có trường hợp lại được coi là một KTDH.

    – Có những PPDH chung cho nhiều môn học, nhưng có những PPDH đặc thù của từng môn học hoặc nhóm môn học.

    – Có thể có nhiều tên gọi khác nhau cho một PPDH hoặc KTDH. Ví dụ: Brainstorming có người gọi là động não, có người gọi là công não hoặc tấn công não,…

    4.3 Một số phương pháp dạy học tích cực4.3.1 Phương pháp d* Bản chấtạy học nhóm

    Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên khác nhau như: Dạy học hợp tác, Dạy học theo nhóm nhỏ, trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc. Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp.

    * Quy trình thực hiện

    Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tính trách nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của HS.

    Tiến trình dạy học nhóm có thể được chia thành 3 giai đoạn cơ bản:

      Làm việc toàn lớp : Nhập đề và giao nhiệm vụ

    – Xác định nhiệm vụ các nhóm

    – Thành lập nhóm

    – Chuẩn bị chỗ làm việc

    – Lập kế hoạch làm việc

    – Thoả thuận quy tắc làm việc

    – Tiến hành giải quyết các nhiệm vụ

    – Chuẩn bị báo cáo kết quả.

      Làm việc toàn lớp: Trình bày kết quả, đánh giá

    – Các nhóm trình bày kết quả

    * Một số lưu ý

    – Đánh giá kết quả.

    . Có rất nhiều cách để thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau, không nên áp dụng một tiêu chí duy nhất trong cả năm học. Số lượng HS/1 nhóm nên từ 4- 6 HS.

    . Các câu hỏi kiểm tra dùng cho việc chuẩn bị dạy học nhóm:

    – Chủ đề có hợp với dạy học nhóm không?

    – Các nhóm làm việc với nhiệm vụ giống hay khác nhau?

    – HS đã có đủ kiến thức điều kiện cho công việc nhóm chưa?

    – Cần trình bày nhiệm vụ làm việc nhóm như thế nào?

    – Cần chia nhóm theo tiêu chí nào?

    4.3.2 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình* Bản chất

    – Cần tổ chức phòng làm việc, kê bàn ghế như thế nào?

    * Quy trình thực hiện

    Nghiên cứu trường hợp điển hình là phương pháp sử dụng một câu chuyện có thật hoặc chuyện được viết dựa trên những trường hợp thường xảy ra trong cuộc sống thực tiễn để minh chứng cho một vấn đề hay một số vấn đề. Đôi khi nghiên cứu trường hợp điển hình có thể được thực hiện trên video hay một băng catset mà không phải trên văn bản viết.

    Các bước nghiên cứu trường hợp điển hình có thể là:

    – HS đọc (hoặc xem, hoặc nghe) về trường hợp điển hình

    – Vì trường hợp điển hình được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống thực, nên nó phải tương đối phức tạp, với các tuyến nhân vật và những tình huống khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản.

    4.3.3 Phương pháp giải quyết vấn đề

    – Tùy từng trường hợp, có thể tổ chức cho cả lớp cùng nghiên cứu một trường hợp điển hình hoặc phân công mỗi nhóm nghiên cứu một trường hợp khác nhau.

    * Bản chất

    * Quy trình thực hiện

    Dạy học (DH) phát hiện và giải quyết vấn đề (GQVĐ) là PPDH đặt ra trước HS các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển HS vào tình huống có vấn đề , kích thích họ tự lực, chủ động và có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn đề.

    – Xác định, nhận dạng vấn đề/tình huống;

    – Liệt kê các cách giải quyết có thể có ;

    – Phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết ( tích cực, hạn chế, cảm xúc, giá trị) ;

    – So sánh kết quả các cách giải quyết ;

    – Lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất;

    – Thực hiện theo cách giải quyết đã lựa chọn;

    * Một số lưu ý

    – Rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề, tình huống khác.

    # Các vấn đề/ tình huống đưa ra để HS xử lí, giải quyết cần thoả mãn các yêu cầu sau:

    – Phù hợp với trình độ nhận thức của HS

    – Vấn đề/ tình huống phải gần gũi với cuộc sống thực của HS

    – Vấn đề/ tình huống có thể diễn tả bằng kênh chữ hoặc kênh hình, hoặc kết hợp cả hai kênh chữ và kênh hình hay qua tiểu phẩm đóng vai của HS

    – Vấn đề/ tình huống cần có độ dài vừa phải

    – Vấn đề/ tình huống phải chứa đựng những mâu thuẫn cần giải quyết, gợi ra cho HS nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách giải quyết vấn đề.

    # Tổ chức cho HS giải quyết, xử lí vấn đề/ tình huống cần chú ý:

    – Các nhóm HS có thể giải quyết cùng một vấn đề/ tình huống hoặc các vấn đề/ tình huống khác nhau, tuỳ theo mục đích của hoạt động.

    – HS cần xác định rõ vấn đề trước khi đi vào giải quyết vấn đề.

    – Cần sử dụng phương pháp động não để HS liệt kê các cách giải quyết có thể có.

    4.3.4 Phương pháp đóng vai*Bản chất

    – Cách giải quyết tối ưu đối với mỗi HS có thể giống hoặc khác nhau.

    * Quy trình thực hiện

    Có thể tiến hành đóng vai theo các bước sau :

    – Các nhóm lên đóng vai.

    – GV kết luận, định hướng cho HS về cách ứng xử tích cực trong tình huống đã cho.

    * Một số lưu ý

    – Tình huống không nên quá dài và phức tạp, vượt quá thời gian cho phép

    – Tình huống phải có nhiều cách giải quyết

    – Tình huống cần để mở để HS tự tìm cách giải quyết, cách ứng xử phù hợp; không cho trước ” kịch bản”, lời thoại.

    – Mỗi tình huống có thể phân công một hoặc nhiều nhóm cùng đóng vai

    – Các vai diễn nên để HS xung phong hoặc tự phân công nhau đảm nhận

    – Nên khích lệ cả những HS nhút nhát cùng tham gia.

    4.3.5 Phương pháp trò chơi * Bản chất

    – Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của tiểu phẩm đóng vai.

    *Quy trình thực hiện

    Phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho HS tìm hiểu một vấn đề hay thể nghiệm những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua một trò chơi nào đó.

    – GV phổ biến tên trò chơi, nội dung và luật chơi cho HS

    – Chơi thử ( nếu cần thiết)

    – HS tiến hành chơi

    – Đánh giá sau trò chơi

    – HS phải nắm được quy tắc chơi và phải tôn trọng luật chơi.

    – Phải quy định rõ thời gian, địa điểm chơi.

    – Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, tạo điều kiện cho HS tham gia tổ chức, điều khiển tất cả các khâu: từ chuẩn bị, tiến hành trò chơi và đánh giá sau khi chơi.

    – Trò chơi phải được luân phiên, thay đổi một cách hợp lí để không gây nhàm chán cho HS.

    D¹y häc theo dù ¸n còn gọi là phương pháp dự án, trong đó HS thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành.

    * Quy trình thực hiện

    Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao, từ việc lập kế hoạch đến việc thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện dự án. Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm. Kết quả dự án là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được.

    B­íc 1: Lập kế hoạch

    + Lập kế hoạch các nhiệm vụ học tập

    – Bước 2: Thực hiện dự án

    + Thu thập thông tin

    + Thực hiện điều tra

    + Tham vấn giáo viên hướng dẫn

    – Bước 3: Tổng hợp kết quả

    + Tổng hợp các kết quả

    + Xây dựng sản phẩm

    + Trình bày kết quả

    * Một số lưu ý

    + Phản ánh lại quá trình học tập

    . Các dự án học tập cần góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội; có sự kết hợp giữa nghiên cứu lí thuyết và vận dụng lí thuyết vào hoạt động thực tiễn, thực hành.

    . Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của HS.

    . HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân.

    . Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp.

    . Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm.

    4.4 Một số kĩ thuật dạy học tích cực4.4.1 Kĩ thuật chia nhóm

    . Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết; sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu.

    * Chia nhóm theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa trong năm,…:

    – GV yêu cầu HS điểm danh từ 1 đến 4/5/6…(tùy theo số nhóm GV muốn có là 4,5 hay 6 nhóm,…); hoặc điểm danh theo các màu (xanh, đỏ, tím, vàng,…); hoặc điểm danh theo các loài hoa (hồng, lan, huệ, cúc,…); hay điểm danh theo các mùa (xuân, hạ, thu, đông,…)

    – Yêu cầu các HS có cùng một số điểm danh hoặc cùng một mầu/cùng một loài hoa/cùng một mùa sẽ vào cùng một nhóm.

    * Chia nhóm theo hình ghép

    – GV cắt một số bức hình ra thành 3/4/5… mảnh khác nhau, tùy theo số HS muốn có là 3/4/5… HS trong mỗi nhóm. Lưu ý là số bức hình cần tương ứng với số nhóm mà GV muốn có.

    – HS bốc ngẫu nhiên mỗi em một mảnh cắt.

    – HS phải tìm các bạn có các mảnh cắt phù hợp để ghép lại thành một tấm hình hoàn chỉnh.

    – Những HS có mảnh cắt của cùng một bức hình sẽ tạo thành một nhóm.

    * Chia nhóm theo sở thích

    GV có thể chia HS thành các nhóm có cùng sở thích để các em có thể cùng thực hiện một công việc yêu thích hoặc biểu đạt kết quả công việc của nhóm dưới các hình thức phù hợp với sở trường của các em. Ví dụ: Nhóm Họa sĩ, Nhóm Nhà thơ, Nhóm Hùng biện,…

    * Chia nhóm theo tháng sinh: Các HS có cùng tháng sinh sẽ làm thành một nhóm.

    4.4.2 Kĩ thuật giao nhiệm vụ

    Ngoài ra còn có nhiều cách chia nhóm khác như: nhóm cùng trình độ, nhóm hỗn hợp, nhóm theo giới tính,….

    – Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng:

    + Nhiệm vụ giao cho cá nhân/nhóm nào?

    + Nhiệm vụ là gì?

    + Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?

    + Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?

    + Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì?

    + Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?

    + Cách thức trình bày/ đánh giá sản phẩm như thế nào?

    4.4.3 Kĩ thuật đặt câu hỏi

    – Nhiệm vụ phải phù hợp với: mục tiêu hoạt động, trình độ HS, thời gian, không gian hoạt động và cơ sở vật chất, trang thiết bị

    Trong dạy học theo PP cùng tham gia, GV thường phải sử dụng câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt HS tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới, để đánh giá kết quả học tập của HS; HS cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm GV và các HS khác về những ND bài học chưa sáng tỏ.

    Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HS – GV và HS – HS. Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của HS càng nhiều; HS sẽ học tập tích cực hơn.

    Mục đích sử dụng câu hỏi trong dạy học là để:

    – Kích thích, dẫn dắt HS suy nghĩ, khám phá tri thức mới, tạo đ/k cho HS tham gia vào quá trình dạy học

    – Kiểm tra, đánh giá KT, KN của HS và sự quan tâm, hứng thú của các em đối với ND học tập

    – Thu thập, mở rộng thông tin, kiến thức

    Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau:

    – Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu

    – Đúng lúc, đúng chỗ

    – Phù hợp với trình độ HS

    – Kích thích suy nghĩ của HS

    – Phù hợp với thời gian thực tế

    – Sắp xếp thep trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.

    – Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xính

    4.4.4 Kĩ thuật khăn trải bàn

    – Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc

    – HS được chia thành các nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Mỗi nhóm sẽ có một tờ giấy A0 đặt trên bàn, như là một chiếc khăn trải bàn.

    – Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh, tiếp tục chia phần xung quanh thành 4 hoặc 6 phần tuỳ theo số thành viên của nhóm ( 4 hoặc 6 người.)

    Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm.

    – GV nêu câu hỏi/ vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm.

    – Mỗi thành viên ( hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạ những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh.

    4.4.6 Kĩ thuật công đoạn

    – Cuối cùng, tất cả các ph­ương án giải quyết được tập hợp lại và tìm ph­ương án tối ­ưu.

    – Các nhóm đọc và góp ý kiến bổ sung cho nhóm bạn. Sau đó lại tiếp tục luân chuyển kết quả cho nhóm tiếp theo và nhận tiếp kết quả từ một nhóm khác để góp ý.

    4.4.8 Kĩ thuật động não

    – Sau đó, mỗi thành viên của các nhóm này sẽ tập hợp lại thành các nhóm mới, như vậy trong mỗi nhóm mới sẽ có đủ các “chuyên gia” về vấn đề A, B, C, D,…và mỗi ” chuyên gia” về từng vấn đề sẽ có trách nhiệm trao đổi lại với cả nhóm về vấn đề mà em đã có cơ hội tìm hiểu sâu ở nhóm cũ.

    – Sử dụng để tìm các phương án giải quyết vấn đề

    – Dùng để thu thập các khả năng lựa chọn và suy nghĩ khác nhau

    Động não có thể tiến hành theo các bước sau :

    – Giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề ( có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm.

    – Khích lệ HS phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt.

    – Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp.

    – Phân loại các ý kiến.

    – Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng

    – Tổng hợp ý kiến của HS và rút ra kết luận.

    Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho HS tổng kết lại kiến thức đã học và đặt những câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và cô đọng với các bạn cùng lớp. Các câu hỏi cũng như các câu trả lời HS đưa ra sẽ giúp củng cố quá trình học tập của các em và cho GV thấy được các em đã hiểu vấn đề như thế nào.

    Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:

    – Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học), GV yêu cầu HS suy nghĩ, trả lời các câu hỏi sau: Điều quan trọng nhất các em học đuợc hôm nay là gì? Theo các em, vấn đề gì là quan trọng nhất mà chưa được giải đáp?…

    – HS suy nghĩ và viết ra giấy. Các câu hỏi của HS có thể dưới nhiều hình thức khác nhau.

    4.4.10 Kĩ thuật “Chúng em biết 3”

    – Mỗi HS trình bày trước lớp trong thời gian 1 phút về những điều các em đã học được và những câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn đề các em muốn được tiếp tục tìm hiểu thêm.

    – Mỗi nhóm sẽ cử một đại diện lên trình bày về cả 3 điểm nói trên.

    4.4.11 Kĩ thuật ” Hỏi và trả lời”

    Đây là KTDH giúp cho HS có thể củng cố, khắc sâu các kiến thức đã học thông qua việc hỏi và trả lời các câu hỏi.

    Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:

    trả lời câu hỏi đó.

    – HS vừa trả lời xong câu hỏi đầu tiên lại được đặt tiếp một câu hỏi nữa và yêu cầu một HS khác trả lời.

    4.4.12 Kĩ thuật “Hỏi Chuyên gia”

    – HS này sẽ tiếp tục quá trình trả lời và đặt câu hỏi cho các bạn cùng lớp,… Cứ như vậy cho đến khi GV quyết định dừng hoạt động này lại.

    – Nhóm “chuyên gia” lên ngồi phía trên lớp học

    4.4.13 Kĩ thuật “Lược đồ Tư duy”

    – Một em trưởng nhóm “chuyên gia” (hoặc GV) sẽ điều khiển buổi “tư vấn”, mời các bạn HS trong lớp đặt câu hỏi rồi mời “chuyên gia” giải đáp, trả lời.

    – Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó.

    4.4.14 Kĩ thuật “Hoàn tất một nhiệm vụ”

    – Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo.

    – GV đưa ra một câu chuyện/một vấn đề/một bức tranh/một thông điệp/… mới chỉ được giải quyết một phần và yêu cầu HS/nhóm HS hoàn tất nốt phần còn lại.

    – HS/nhóm HS thực hiện nhiệm vụ được giao.

    – HS/ nhóm HS trình bày sản phẩm.

    4.4.15 Kĩ thuật “Viết tích cực”

    Lưu ý: GV cần hướng dẫn HS cẩn thận và cụ thể để các em hiểu được nhiệm vụ của mình. Đây là một hoạt động tốt giúp các em đọc lại những tài liệu đã học hoặc đọc các tài liệu theo yêu cầu của giáo viên.

    – GV yêu cầu một vài HS chia sẻ nội dung mà các em đã viết trước lớp.

    Kĩ thuật này cũng có thể sử dụng sau tiết học để tóm tắt nội dung đã học, để phản hồi cho GV về việc nắm kiến thức của HS và những chỗ các em còn hiểu sai.

    4.4.16 Kĩ thuật “đọc hợp tác” (còn gọi là đọc tích cực)

    Kĩ thuật này nhằm giúp HS tăng cường khả năng tự học và giúp GV tiết kiệm thời gian đối với những bài học/phần đọc có nhiều nội dung nhưng không quá khó đối với HS.

    Cách tiến hành như sau:

    – GV nêu câu hỏi/yêu cầu định hướng HS đọc bài/phần đọc.

    – HS làm việc cá nhân:

    + Đoán trước khi đọc: Để làm việc này, HS cần đọc lướt qua bài đọc/phần đọc để tìm ra những gợi ý từ hình ảnh, tựa đề, từ/cụm từ quan trọng.

    + Đọc và đoán nội dung : HS đọc bài/phần đọc và biết liên tưởng tới những gì mình đã biết và đoán nội dung khi đọc những từ hay khái niệm mà các em phải tìm ra.

    + Tìm ý chính: HS tìm ra ý chính của bài/phần đọc qua việc tập trung vào các ý quan trọng theo cách hiểu của mình.

    + Tóm tắt ý chính.

    – HS chia sẻ kết quả đọc của mình theo nhóm 2, hoặc 4 và giải thích cho nhau thắc mắc (nếu có), thống nhất với nhau ý chính của bài/phần đọc đọc.

    – HS nêu câu hỏi để GV giải đáp (nếu có).

    Lưu ý: Một số câu hỏi GV thường dùng để giúp HS tóm tắt ý chính:

    – Em có chú ý gì khi đọc ………… ?

    – Em nghĩ gì về………………. ?

    – Em so sánh A và B như thế nào?

    – A và B giống và khác nhau như thế nào?

    4.4.17 Kĩ thuật “Nói cách khác”

    – …

    – GV chia HS thành các nhóm, yêu cầu các nhóm hãy liệt kê ra giấy khổ lớn 10 điều không hay mà thỉnh thoảng người ta vẫn nói về một ai đó/việc gì đó.

    – Tiếp theo, yêu cầu các nhóm hãy tìm 10 cách hay hơn để diễn đạt cùng những ý nghĩa đó và tiếp tục ghi ra giấy khổ lớn.

    Phim video có thể là một trong các phương tiện để truyền đạt nội dung bài học. Phim nên tương đối ngắn gọn (5-20 phút). GV cần xem qua trước để đảm bảo là phim phù hợp để chiếu cho các em xem.

    – HS xem phim

    4.4.19.Tóm tắt nội dung tài liệu theo nhóm

    – Sau khi xem phim video, yêu cầu HS làm việc một mình hoặc theo cặp và trả lời các câu hỏi hoặc viết tóm tắt những ý cơ bản về nội dung phim đã xem.

    Nguồn: Sưu tầm

    – Đại diện nhóm trình bày các ý chính cho cả lớp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Giải Quyết Vấn Đề Là Gì? Áp Dụng Như Nào?
  • Đáp Án 20 Câu Hỏi Trắc Nghiệm Tập Huấn Gdpt 2021 Môn Toán
  • Ưu Điểm Và Nhược Điểm Của Phương Pháp Bọc Răng Sứ Zirconia?
  • Một Số Phương Pháp Và Kỹ Năng Tư Vấn, Hỗ Trợ Sinh Viên
  • Khi Nào Bạn Nên Sử Dụng Phương Pháp Ngoại Khoa Trong Điều Trị Bệnh Trĩ
  • Dạy Và Học Tích Cực Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề Áp Dụng “phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột” Cấp Thcs
  • Tập Huấn Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Cấp Tiểu Học
  • Skkn Một Số Kinh Nghiệm Nhằm Áp Dụng Hiệu Quả Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Học Môn Khoa Học Lớp 4. Minh Họa Qua Bài: Nước Có Những Tính Chất Gì
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Vận Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Các Bài Của Chương Các Hợp Chất Vô Cơ Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Cho Học Sinh Lớp 9A Trường Thcs Biên Giới
  • Bàn Tay Nặn Bột Trong Tnxh 2
  • PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT 1. PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT LÀ GÌ?

    Thuật ngữ được dịch từ “La main à la pâte”

    Được đề xuất bởi nhóm giáo sư Viện hàn lâm Pháp (GS George Charpak, GS Pierre Léna…)

    PP dạy học “BTNB” là phương pháp giảng dạy khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi – nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên.

    “BTNB” là phương pháp hình thành kiến thức khoa học cho học sinh, dưới sự hướng dẫn của GV và bằng chính các hành động của HS, để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra.

    Mục tiêu của “BTNB” là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu và say mê khoa học của HS.

    Ngoài việc chú trọng đến KTKH, BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn kĩ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói, viết của trẻ.

    1/ Giáo dục tiểu học đang rơi vào nạn mù khoa học: GS Pierre Léna trường ĐH Paris VII, Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Pháp đánh giá “Ở cuối thế kỉ thứ XX, thế kỉ mang nặng dấu ấn khoa học, thì việc giảng dạy khoa học ở các trường tiểu học lại thụt lùi một cách kì lạ, đến mức hầu như mất hẳn. Hiện tượng này có ở các nước phát triển, mà người ta gọi là sự “mù khoa học”.

    Đặc điểm cơ bản của PP BTNB:

    + Chú trọng quan niệm ban đầu của HS trước khi tiếp cận kiến thức mới;

    + Sự tiếp thu kiến thức của HS thông qua việc GV giúp HS tự đi lại chính con đường mà các nhà khoa học đã tìm ra chân lý;

    + Sử dụng vở thí nghiệm như là một phương tiện để rèn luyện ngôn ngữ viết cho HS, tập làm quen với việc ghi chép một cách khoa học thông tin.

    2. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT

    1. HS quan sát một sự vật hay một hiện tượng của thế giới thực tại gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên những cái đó.

    3. Những hoạt động do giáo viên đề xuất cho HS được tổ chức theo tiến trình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập. Các hoạt động này làm cho các chương trình học tập được nâng cao lên và dành cho học sinh một phần tự chủ khá lớn.

    3. 5 BƯỚC KHI SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT

    Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề

    Bước 2: Bộc lộ biểu tượng ban đầu của học sinh

    Bước 3: Đề xuất câu hỏi (hoặc giả thuyết) và giải pháp (phương án) tìm tòi, nghiên cứu.

    Bước 4: Tiến hành thực hiện giải pháp tìm tòi – nghiên cứu

    Bước 5: Kết luận kiến thức

    3.1. Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề.

    – Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống do giáo viên chủ động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học.

    – Tình huống xuất phát phải ngắn gọn, gần gũi, dễ hiểu đối với học sinh. Tình huống xuất phát nhằm lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề. Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn đề càng dễ. Tuy nhiên, có những trường hợp không nhất thiết phải có tình huống xuất phát mới đề xuất câu hỏi nêu vấn đề.

    – Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học. Câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của học sinh nhằm chuẩn bị tâm thế cho học sinh trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức.

    – GV phải dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng đối với câu hỏi nêu vấn đề.

    – Câu hỏi nêu vấn đề càng đảm bảo các yêu cầu nêu ra ở trên thì ý đồ dạy học của giáo viên càng dễ thực hiện thành công.

    3.2. Làm bộc lộ biểu tượng ban đầu.

    Quan trọng nhất. Là đặc trưng của phương pháp BTNB

    3.3. Đề xuất câu hỏi và giải pháp tìm tòi nghiên cứu.

    a. Cách đề xuất câu hỏi

    b. Đề xuất giải pháp tìm tòi – nghiên cứu

    Từ các câu hỏi được đề xuất, giáo viên: “Theo các em làm thế nào để chúng ta tìm câu trả lời cho các câu hỏi nói trên?”; “Bây giờ các em hãy suy nghĩ để tìm phương án giải quyết các câu hỏi mà lớp mình đặt ra!”

    Tùy theo kiến thức, vấn đề đặt ra trong câu hỏi mà học sinh có thể đề xuất phương án tìm tòi – nghiên cứu. GV cần ghi bảng các ý kiến đề xuất của HS, GV giúp các em hoàn thiện diễn đạt

    4. Tiến hành thực hiện phương án tìm tòi – nghiên cứu

    Từ các đề xuất HS, GV nhận xét và lựa chọn thí nghiệm để HS tiến hành. Một số trường hợp không thể tiến hành thí nghiệm có thể cho trẻ làm mô hình, hoặc cho HS quan sát tranh. Đối với phương pháp quan sát, GV cho HS quan sát vật thật trước, sau đó cho quan sát tranh vẽ

    Khi tiến hành thí nghiệm, GV nêu rõ yêu cầu và mục đích thí nghiệm hoặc yêu cầu HS cho biết mục đích thí nghiệm chuẩn bị tiến hành để làm gì? Trả lời câu hỏi gì? Lúc này GV mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm.

    Tiến hành thí nghiệm. Mỗi thí nghiệm thực hiện xong nên dừng lại để HS rút ra kết luận

    GV lưu ý HS ghi chép vật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực hiện thí nghiệm, kết quả, kết luận sau thí nghiệm

    5. Kết luận.

    Sau khi thực hiện thí nghiệm tìm tòi-nghiên cứu, các câu trả lời dần dần được giải quyết, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống, chưa chuẩn xác. GV có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống để HS ghi vở

    Ví dụ: GV giới thiệu cấu tạo bên trong hạt đậu với hình vẽ khoa học có sẵn hoặc hình tự vẽ. Để khắc sâu KT cho HS, GV quay lại các biểu tượng ban đầu trước khi học kiến thức của học sinh còn lưu trên bảng cùng các câu hỏi nghi vấn ở bước 3 đã đề xuất. Thông qua đó, GV khéo léo nhấn mạnh cho HS với hoạt động thí nghiệm mà HS đề xuất.

    I/ NHỮNG KHÓ KHĂN THƯỜNG GẶP KHI SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT”:

    – Một số bài TN&XH – Khoa học nặng về lí thuyết.

    – Lượng kiến thức cần cung cấp trong 1 tiết học nhiều. (VD: Bài Ánh sáng/ KH 4).

    – Bàn ghế: chưa thuận lợi cho việc tổ chức học nhóm.

    – Phòng thí nghiệm: chưa có (ở tiểu học)

    – Thiết bị dạy học: chưa đầy đủ, chưa đảm bảo tính khoa học, chính xác.

    – Điều kiện cho HS tham quan, điều tra còn hạn chế.

    II/ Một số giải pháp khắc phục những khó khăn khi sử dụng phương pháp này như sau:

    – Dạy học theo phương pháp này cần có nhiều thời gian hơn cho một tiết học. Vì vậy, cần xây dựng một chương trình và sắp xếp vào buổi học thứ 2 trong ngày.

    – Cần phải rèn cho học sinh cách tự tư duy, chủ động không trông chờ, ỷ lại vào GV mọi lúc mọi nơi đặc biệt là đối với các lớp đầu cấp

    – Mọi PPDH dù có hay, có tiến bộ và tích cực như thế nào đi nữa thì vai trò, trách nhiệm của đội ngũ GV là cực kỳ quan trọng. Một PP hay nhưng GV không chịu tác động tích cực thì PP đó trở thành vô dụng; mong muốn PP “Bàn tay nặn bột” sớm được áp dụng rộng rãi, trở thành một phương pháp dạy học quen thuộc trong các tiết Khoa học trong nhà trường.

    * Kết luận qua tổ chức chuyên đề tại trường:

    – Sau khi HS thí nghiệm xong nên cho HS trình bày lại trước lớp (nhóm khác nhận xét phù hợp với nhóm mình chưa, đúng chưa?…)

    – Không nhất thiết phải sử dụng SGK vì HS sẽ biết trước kết quả; nếu cần thiết thì sử dụng phần kết luận ở cuối bài.

    – Đồ dùng thí nghiệm do HS chuẩn bị, những đồ dùng khó tìm thì GV chuẩn bị.

    – Chọn phương án để kiểm tra dự đoán kết quả.(thí nghiệm, quan sát, trải nghiệm, điều tra…)

    – So sánh kết quả sau khi thí nghiệm với kết quả dự đoán ban đầu nên dừng lại ít phút để HS so sánh. (nên ghi tên nhóm vào bảng phụ để dễ so sánh, kết quả)

    – GV có nên định hướng cách làm thí nghiệm cho HS không (GV theo dõi từng nhóm để gợi ý cách làm và nhóm nhỏ khi HS lúng túng).

    – Dành thời gian các môn Toán, TV để đầu tư cho tiết dạy có sử dụng PP BTNB.

    – Thí nghiệm nào khó không thuận lợi GV không cho HS thực hiện.

    – Thí nghiệm không an toàn thì dặn HS không được làm ở nhà.

    – Vật liệu nào làm thí nghiệm dẫn đến gây cháy thì GV hướng dẫn gợi ý HS chọn vật liệu khác.

    * Mỗi tổ có kế hoạch thao giảng 1 tiết/năm học, riêng GV dạy phân môn TNXH, KH tích cực sử dụng PP BTNB ở 1 số bài.

    Chuyên môn

    Trần Đình Huy @ 16:17 11/09/2014

    Số lượt xem: 120

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Kinh Nghiệm Khi Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Môn Khoa Học Lớp 4, 5
  • Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Có Gì Hay?
  • Cách Nuôi Nick Facebook 2021 Bằng Phần Mềm Auto Fb Theo Phương Pháp Của Atp Software
  • Acc Minecraft Miễn Phí 2021 ❤️ Cách Tạo Acc Minecraft Free
  • Điều Chỉnh Hành Vi Cho Trẻ Tự Kỷ Bằng Phương Pháp Aba
  • Tin tức online tv