Sử Dụng Phương Pháp Trực Quan Trong Dạy Toán Ở Tiểu Học

--- Bài mới hơn ---

  • Cách Dạy Con Học Toán Lớp 1 Đơn Giản, Hiệu Quả Tại Nhà
  • Một Số Giải Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Bí Quyết Dạy Toán Cho Trẻ Chuẩn Bị Vào Lớp 1
  • Luận Văn: Phương Pháp Dạy Học Dự Án Trong Dạy Hóa Học Lớp 10
  • Luận Văn: Phương Pháp Dạy Học Dự Án Trong Dạy Hóa Lớp 11, 9Đ
  • TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

    KHOA SƢ PHẠM

    BỘ MÔN TOÁN

    LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

    SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP TRỰC QUAN

    TRONG DẠY TOÁN Ở TIỂU HỌC

    Giáo viên hướng dẫn:

    Ths. Đặng Văn Thuận

    Sinh viên thực hiện:

    Lý Thị Thanh Thúy

    Ngành: Giáo dục Tiểu học

    Khóa: 34

    MSSV: 1080395

    Cần Thơ, 05/2012

    MỤC LỤC

    A- PHẦN MỞ ĐẦU

    I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ……………………………………………………………………………. 5

    II. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU …………………………………………………………………. 7

    III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ………………………………………………………………….. 7

    IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU …………………………………………………………………… 7

    V. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……………………………………………………………. 8

    B – NỘI DUNG

    CHƢƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN …………………………………………………………… 9

    I.1. Vị trí môn toán ở trƣờng Tiểu học …………………………………………………………. 9

    I.2. Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học ……………………………………………. 9

    I.2.1. Đặc điểm về nhận thức ………………………………………………………………………… 9

    I.2.2. Con đường hình thành kiến thức ở học sinh Tiểu học ………………………….. 12

    I.3. Những tính chất của toán học ………………………………………………………………. 12

    I.3.1Tính trừu tượng ………………………………………………………………………………….. 12

    I.3.2 Tính khái quát và sự khái quát hóa ……………………………………………………… 13

    I.3.3 Tính thực tiễn …………………………………………………………………………………….. 13

    I.4 Học sinh Tiểu học học toán nhƣ thế nào? ………………………………………………. 13

    CHƢƠNG II. VẤN ĐỀ SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP TRỰC QUAN

    TRONG DẠY TOÁN Ở TIỂU HỌC ………………………………………………….. 15

    II.1 Nhu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học ở Tiểu học ………………………………. 15

    II.2 Thực tế dạy học toán hiện nay …………………………………………………………….. 16

    2

    II.3 Phƣơng pháp trực quan ………………………………………………………………………. 17

    II.3.1 Quan niệm về phương pháp trực quan ……………………………………………….. 17

    II.3.2 Vai trò, tác dụng của phương pháp trực quan trong dạy học toán…………. 19

    II.3.3 Một số phương tiện trực quan sử dụng trong dạy học toán ở Tiểu học ….. 19

    II.3.4 Các vấn đề sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học toán

    ở Tiểu học…………………………………………………………………………20

    II.3.5 Thực trạng về sử dụng trực quan trong dạy toán ở các trường Tiểu học .. 26

    CHƢƠNG III. MỘT SỐ GIÁO ÁN ĐỀ NGHỊ …………………………………… 27

    CHƢƠNG IV. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ……………………………………… 51

    IV.1 Một số vấn đề về thực nghiệm sƣ phạm ………………………………………………. 51

    IV.1.1 Mục đích thực nghiệm ……………………………………………………………………… 51

    IV.1.2 Nội dung thực nghiệm………………………………………………………………………. 51

    IV.1.3 Đối tượng thực nghiệm …………………………………………………………………….. 51

    IV.1.4 Tổ chức thực nghiệm ……………………………………………………………………….. 51

    IV.1.5 Phân tích kết quả thực nghiệm ………………………………………………………….. 67

    IV.2 Kết luận thực nghiệm…………………………………………………………………………. 78

    C – KẾT LUẬN ………………………………………………………………………………… 79

    D – TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………………. 82

    3

    DANH MỤC VIẾT TẮT

    – HS: học sinh.

    – GV: Giáo viên.

    – SGK: Sách giáo khoa.

    – GD & ĐT: Giáo dục và Đào tạo.

    4

    Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí và khả năng tiếp thu kiến thức khoa học tự nhiên của trẻ

    theo từng độ tuổi, em nhận thấy rằng các tính chất trừu tượng, khái quát đặc trưng của

    môn toán đối với khả năng tiếp thu, nhận thức của học sinh Tiểu học gặp rất nhiều khó

    khăn để nắm được nó. Để giải quyết vấn đề trên, em đã lựa chọn giải pháp sử dụng

    phương pháp trực quan trong việc giảng dạy môn toán ở bậc Tiểu học. Em mong rằng

    việc sử dụng phương pháp này sẽ giúp học sinh dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và lĩnh

    hội kiến thức toán học trừu tượng. Mục tiêu đặt ra cần đạt được đối với cả thầy và trò là:

    đối với việc học toán thì: ” Học sinh đến trường trong đầu là dấu chấm hỏi, khi về nhà thì

    chỉ là dấu chấm”.

    III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

    – Nắm được đặc điểm tư duy toán học của học sinh Tiểu học.

    – Tiếp thu các ưu điểm, khuyết điểm tồn tại của phương pháp trực quan. Từ đó, bản

    thân có định hướng áp dụng phù hợp trong quá trình giảng dạy trên lớp.

    – Thực nghiệm sư phạm phương pháp trực quan trong giảng dạy toán để kiểm tra đánh

    giá hiệu quả tác động đối với việc tiếp thu kiến thức toán của học sinh. Từ đó đúc kết kinh

    nghiệm trong qua trình giảng dạy.

    – Tìm kiếm, phát hiện, đề xuất các phương tiện trực quan có hiệu quả tích cực trong

    việc học toán của học sinh Tiểu học.

    IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

    – Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.

    – Đề xuất một số yếu tố mới về đề tài có hiệu quả tích cực trong việc dạy và học toán ở

    bậc Tiểu học.

    6

    – Thiết kế một số bài giảng sử dụng phương pháp nghiên cứu.

    – Thử nghiệm các bài giảng đã thiết kế.

    V. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    – Phương pháp nghiên cứu lý luận.

    – Phương pháp quan sát.

    – Phương pháp điều tra giáo dục.

    – Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.

    – Phương pháp thực nghiệm sư phạm.

    7

    B – NỘI DUNG

    CHƢƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

    I.1 Vị trí môn toán ở trƣờng Tiểu học

    Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ

    sở ban đầu, rất quan trọng của nhân cách con người. Trong các môn học ở Tiểu học, cùng

    với môn tiếng việt, môn toán có vị trí quan trọng, vì:

    – Các kiến thức, kĩ năng của môn toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời

    sống; Chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác ở

    Tiểu học và học tập tiếp môn toán ở Trung học.

    – Môn toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng và hình dạng

    không gian của thế giới hiện thực. Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận thức một số

    mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống.

    – Môn toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ,

    phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề; Nó góp phần phát triển trí thông

    minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo; Nó đóng góp vào việc hình thành các

    phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt

    khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và có tác phong khoa học.

    I.2 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học

    I.2.1 Đặc điểm về nhận thức

    I.2.1.1 Tri giác

    Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính chất đại thể ít đi sâu vào chi tiết và mang

    tính không chủ định. Khả năng phân tích một cách có tổ chức và sâu sắc khi tri giác ở học

    sinh các lớp đầu bậc Tiểu học còn yếu, các em thường thâu tóm sự vật về toàn bộ, về đại

    thể để tri giác.

    Ở học sinh Tiểu học tri giác không chủ định vẫn chiếm ưu thế. So với trẻ mẫu giáo

    thì thị giác của học sinh Tiểu học nhạy bén hơn, độ nhạy đó tăng lên trong suốt thời kỳ

    học Tiểu học. Các em nhạy cảm với các tác động bên ngoài vì hoạt động của hệ thống tín

    8

    hiệu thứ nhất còn chiếm ưu thế và chưa phân biệt chính xác được các sự vật giống nhau,

    đó là khả năng phân tích khi tri giác còn yếu do trẻ có khuynh hướng đoán vội vàng.

    Ở bậc Tiểu học tri giác của học sinh thường gắn với những hành động và hoạt

    động thực tiễn của các em. Vì vậy, tất cả các hình thức trực quan bằng sự vật, bằng hình

    ảnh và bằng lời nói cần được sử dụng trong các giờ lên lớp ở bậc Tiểu học. Khi bắt đầu

    học, trẻ em không chỉ cần hiểu điều mình đọc, mà còn biết nhìn sự vật đúng và tinh, biết

    nhận thấy những đặc điểm của sự vật. Không những chỉ học suy nghĩ mà học cả quan sát

    nữa và thậm chí học quan sát trước khi học suy nghĩ.

    I.2.1.2 Chú ý

    Chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế so với chú ý có chủ định. Những kích

    thích có cường độ mạnh vẫn là một trong những mục tiêu thu hút sự chú ý của trẻ. Chú ý

    có chủ định đang phát triển mạnh, do trí thức được mở rộng, ngôn ngữ phong phú, tư duy

    phát triển. Sự tập trung chú ý và tính bền vững của chú ý của học sinh Tiểu học đang phát

    triển nhưng chưa bền vững, là do quá trình ức chế phát triển còn yếu, tính hưng phấn còn

    cao. Do vậy, chú ý của các em còn phân tán và dễ quên.

    I.2.1.3 Trí nhớ

    Trí nhớ của học sinh Tiểu học còn mang tính trực quan, hình tượng được phát triển

    hơn trí nhớ từ ngữ logic. Các em nhớ và gìn giữ chính xác những sự vật hiện tượng cụ thể

    nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, khái niệm, những lời giải thích dài dòng. Học

    sinh đầu cấp thường có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều

    lần, có khi chưa hiểu được những mối liên hệ, ý nghĩa của tài liệu và không thể sắp xếp

    lại để diễn đạt bằng lời lẽ của mình. Ở học sinh Tiểu học việc ghi nhớ các tài liệu trực

    quan có nhiều hiệu quả nhất. Tuy nhiên ở lứa tuổi này hiệu quả của việc ghi nhớ các tài

    liệu từ ngữ (cụ thể và trừu tượng) tăng rất nhanh. Trong việc ghi nhớ các tài liệu từ ngữ

    trừu tượng vẫn còn phải dựa trên những tài liệu trực quan hình tượng mới vững chắc.

    I.2.1.4 Tư duy

    Tư duy của trẻ mới đến trường mang tính trực quan cụ thể, mang tính hình thức

    bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những sự vật, hiện tượng cụ thể. Do vậy

    9

    việc sử dụng những sự vật ở bên ngoài và dùng lời nói để tính toán là rất cần thiết.

    Tư duy của học sinh Tiểu học chưa thoát khỏi tính trực quan cụ thể, chưa nhận

    thức được ý nghĩa của từ “nếu” trong các bài toán có lời văn. Nhiều em lung túng dẫn đến

    sai lầm trong tư duy. Nhờ ảnh hưởng của việc học tập dần dần chuyển nhận thức các mặt

    bề ngoài của các hiện tượng đến nhận thức được những thuộc tính và dấu hiệu bản chất

    của hiện tượng vào tư duy. Sự lĩnh hội tri thức không còn dựa trên nhận thức trực tiếp

    cảm tính mà phần lớn dựa vào cách nhận thức gián tiếp thông qua từ (có sự hỗ trợ của yếu

    tố trực quan).

    Quá trình vận dụng thao tác tư duy để hình thành khái niệm trải qua ba mức độ:

    Một là: Tri giác trực tiếp sự vật và hiện tượng cụ thể, học sinh tách ra các dấu hiệu trực

    quan, bề ngoài dễ thấy (màu sắc, hình dáng, độ lớn) các dấu hiệu dễ đập vào mắt hay dễ

    gây cảm xúc (hành vi, chức năng, công dụng) nhưng đó thường là những dấu hiệu không

    bản chất, các dấu hiệu thứ yếu; Hai là: Các em biết dựa trên các dấu hiệu không bản chất

    và bản chất, nhưng cái bản chất ở đây phải dễ bộc lộ, dễ tri giác và các dấu hiệu đó vẫn

    gắn liền với các hình ảnh trực quan các biểu tượng cụ thể; Ba là: Các em đã biết tách dấu

    hiệu bản chất ra khỏi các dấu hiệu không bản chất, nhưng vẫn dựa phải dựa vào sự vật cụ

    thể trực quan. Các dấu hiệu bản chất được nêu ra vẫn còn chưa đầy đủ.

    I.2.1.5 Tưởng tượng

    Tưởng tượng của các em nhỏ là tính trực quan, cụ thể: Đối với các em lớp 3, lớp 4

    tính trực quan cụ thể của tưởng tượng đã giảm đi, vì tưởng tượng của các em đã dựa vào

    ngôn ngữ. Về mặt cấu tạo hình tượng trong tưởng tượng, học sinh nhỏ chỉ lặp lại hoặc

    thay đổi chút ít về mặt kích thước và hình dáng những hình tượng tri giác trực tiếp trước

    đây. Chỉ có các em ở lớp 4, lớp 5 có khả năng nhào nặn, gọt sửa những hình tượng cũ để

    sáng tạo ra hình tượng mới.

    I.2.1.6 Ngôn ngữ

    Ngôn ngữ của học sinh Tiểu học đã phát triển rất rõ rệt cả về số lượng và chất

    lượng. Do nội dung học tập đã mở rộng, nên ngôn ngữ của các em đã vượt ra khỏi phạm

    vi những từ sinh hoạt, cụ thể và đã bao gồm nhiều khái niệm khoa học, trừu tượng.

    10

    I.2.2 Con đường hình thành kiến thức ở học sinh Tiểu học

    Từ thực tiễn dạy học các nhà giáo dục đã rút ra ba con đường hình thành kiến thức

    ở học sinh Tiểu học theo các cấp độ trực quan như sau:

    Cấp độ một: Từ quan sát và tri giác trực tiếp sự vật và hiện tượng của thế giới để

    hình thành biểu tượng và khái niệm khoa học. Đây là con đường hết sức quan trọng trong

    quá trình nhận thức, đặc biệt là học sinh nhỏ tuổi khi mà các em chưa có các biểu tượng

    ban đầu và năng lực tư duy trừu tượng còn thấp.

    Cấp độ hai: Học sinh tri giác qua hình ảnh các vật hay hiện tượng. Ở đây thực tiễn

    đã được trừu tượng hóa một bước. Để nhận thức được, học sinh cần sử dụng trí tưởng

    tượng của mình ở một mức độ nhất định nào đó. Việc sử dụng hình ảnh trong quá trình

    dạy học làm cho việc vận dụng phương pháp trực quan được thuận lợi bởi không phải lúc

    nào cũng có thể tạo ra được vật thật trên lớp được. Một khi các em đã có kinh nghiệm và

    có vốn hiểu biết về tự nhiên và xã hội thì không phải lúc nào vật thật cũng cần thiết trong

    dạy học. Chính lúc này các tài liệu trực quan lại giúp các em hiểu dễ dàng và hệ thống

    hơn, đồng thời kích thích trí tưởng tượng các em.

    Cấp độ ba: Học sinh nhận thức sự vật hiện tượng xung quanh qua ngôn ngữ và kí

    hiệu, đặc biệt là mô hình, trường hợp này dành cho các lớp lớn, bởi năng lực tư duy trừu

    tượng của học sinh đã phát triển ở mức độ cao và đây là con đường đóng vai trò hết sức

    quan trọng trong rèn luyện tư duy nhận thức cho học sinh, để thực hiện theo con đường

    này cần có các sách vở, tài liệu, biểu đồ.

    I.3 Những tính chất của toán học

    I.3.1 Tính trừu tượng

    Trong toán học, tính trừu tượng thoát ra khỏi mọi nội dung có tính chất liệu mà

    chỉ giữ lại các quan hệ số lượng, hình dạng và lôgic, tức là chỉ về cấu trúc toán học mà

    thôi. Sự trừu tượng hóa của toán học không dừng ở mức độ nhất định mà tiến dần từ mức

    này đến mức khác. Tính trừu tượng có được nhờ ba phương thức trừu tượng cơ bản:

    11

    – Trừu tượng hóa đồng nhất: Tính chất hay quan hệ chung của đối tượng nghiên

    cứu được tách xa, xem như là thuộc tính của chính lớp đối tượng đó (còn gọi là trừu

    tượng hóa khái quát).

    – Trừu tượng hóa lí tưởng: Từ đối tượng sự vật thật trở thành đối tượng thuần khiết

    tồn tại trong tư duy.

    – Trừu tượng hóa giả định: Mở rộng giới hạn thực tế của việc xây dựng các đối

    tượng toán học với điều kiện xác định, theo giả định cho trước.

    I.3.2 Tính khái quát và sự khái quát hóa

    Tính khái quát trong toán học làm rõ các qui luật; Các dấu hiệu bản chất của hàng

    loạt các hiện tượng trong thực tiễn khách quan. Tính khái quát có được nhờ sự khái quát

    hóa. Sự khái quát hóa có bốn mức độ:

    – Khái quát hóa từ nhiều sự vật, hiện tượng cụ thể.

    – Khái quát hóa từ cái đã biết.

    – Khái quát hóa từ cái khái quát.

    – Khái quát hóa từ cái chưa biết.

    I.3.3 Tính thực tiễn

    Các đối tượng toán học rất đa dạng, phong phú, có tính trừu tượng và khái quát hóa

    cao nhưng đều có nguồn gốc từ thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phục vụ cho thực tiễn.

    I.4 Học sinh Tiểu học học toán nhƣ thế nào?

    Lứa tuổi Tiểu học (6-7 tuổi đến 11-12 tuổi) là giai đoạn mới của phát triển tư duy,

    giai đoạn tư duy cụ thể. Trong một chừng mực nào đó, hành động trên các đồ vật, sự kiện

    bên ngoài còn là chỗ dựa hay điểm xuất phát cho tư duy. Học sinh có khả năng nhận thức

    và tư duy có bước tiến rất quan trọng – điều kiện ban đầu cần thiết để hình thành khái

    niệm “số”. Học sinh lớp 1 nhận thấy sự không thay đổi khi thay đổi cách sắp xếp các

    phần tử (dựa vào lớp các tập hợp tương đương), từ đó hình thành khái niệm bảo toàn “số

    lượng” của các tập hợp trong lớp các tập hợp đó.

    12

    Học sinh cuối cấp có những tiến bộ về nhận thức không gian như phối hợp cách

    nhìn một hình hợp từ các phía khác nhau, nhận thức được các quan hệ giữa các hình với

    nhau ngoài các quan hệ trong nội bộ một hình.

    Học sinh Tiểu học bước đầu có khả năng thực hiện việc phân tích tổng hợp, trừu

    tượng hóa – khái quát hóa và những hình thức đơn giản của sự suy luận, phán đoán. Ở học

    sinh Tiểu học, phân tích và tổng hợp phát triển không đồng đều, tổng hợp có khi không

    đúng hoặc không đầy đủ, dẫn đến khái quát sai trong hình thành khái niệm. Khi giải toán,

    học sinh thường bị ảnh hưởng bởi một số từ “thêm”, “bớt”, “nhiều gấp”…tách chúng ra

    khỏi điều kiện chung để lựa chọn phép tính ứng với từ đó, do vậy dễ mắc sai lầm.

    Các khái niệm toán được hình thành qua trừu tượng hóa và khái quát hóa nhưng

    không thể chỉ dựa vào tri giác với các khái niệm toán học còn là kết quả của thao tác tư

    duy. Có hai dạng từu tượng hóa: sự trừu tượng hóa từ các đồ vật, hiện tượng cảm tính và

    sự từu tượng hóa từ các hành động. Khi thực hiện trừu tượng hóa nhằm rút ra các dấu

    hiệu bản chất, chẳng hạn: thông qua trừu tượng hóa từ các đồ vật (tập hợp cụ thể) loại bỏ

    đặc tính màu sắc, kích thước hình thành lớp các tập hợp tương đương, sau đó chỉ quan

    tâm đến cái chung giữa lớp các tập hợp tương đương đó, đi đến khái niệm “số” (trừu

    tượng hóa trên hành động).

    Học sinh Tiểu học, nhất là các lớp đầu cấp thường phán đoán theo cảm nhận riêng

    nên suy luận thường mang tính tuyệt đối. Trong học toán, học sinh khó nhận thức về

    quan hệ kéo theo trong suy diễn. Chẳng hạn đáng lẽ hiểu: “12=3×4 nên 12:3=4”, thì lại

    coi đó là hai mệnh đề không có quan hệ với nhau. Các em khó chấp nhận các giả thiết, dữ

    kiện có tính chất hoàn toàn giả định bởi khi suy luận thường gắn với thực tế, phép suy

    diễn của “hiện thực”. Bởi vậy khi nghe một mệnh đề toán học các em chưa có khả năng

    phân tích rành mạch các thuật ngữ, các bộ phận của câu mà hiểu nó một cách tổng quát.

    13

    CHƢƠNG II. VẤN ĐỀ SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP TRỰC QUAN TRONG

    DẠY TOÁN Ở TIỂU HỌC

    II.1 Nhu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học ở Tiểu học

    Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay không chỉ là phong trào mà còn là một yêu

    cầu bắt buộc với mọi giáo viên. Bộ GD&ĐT cũng đã đưa ra định hướng chỉ đạo, phát

    động và triển khai mạnh mẽ tại hầu khắp địa phương trên cả nước. Tuy nhiên, thực tế cho

    thấy nhiều nhà trường, giáo viên vẫn loay hoay trong công tác đổi mới nhằm đem đến cho

    các em học sinh những giờ học thực sự bổ ích, lý thú với nội dung giảng dạy hấp dẫn giúp

    các em học sinh hứng thú trong học tập và việc lựa chọn phương tiện giảng dạy phù hợp

    trong những giờ lên lớp.

    Trong tháng cuối năm 2010, Vụ Giáo dục Tiểu học (Bộ GD&ĐT) đã tổ chức Hội

    thảo “Chuẩn kiến thức kỹ năng và phương pháp đổi mới giáo dục Tiểu học” trên toàn

    quốc và đã thu về nhiều ý kiến thiết thực từ các Sở GD&ĐT các tỉnh, thành phố; Trong

    đó, có những ý kiến chia sẻ về thực tế hoạt động đổi mới phương pháp dạy và học tại các

    trường hiện nay. Ý kiến cho rằng: “Nếu đổi mới là cứ phải sử dụng hết các phương tiện

    giảng dạy hiện đại trong giờ học thì giáo viên không thể hoàn thành bài giảng trên lớp của

    mình và không thể làm được như vậy. Đổi mới là cả một quá trình, giáo viên cần có thời

    gian để tìm hiểu và chọn lọc phương tiện giảng dạy phù hợp nhất với khả năng của mình

    để sử dụng chúng một cách chủ động và sáng tạo. Đồng thời, giáo án chuẩn bị cũng phải

    thay đổi để phù hợp với phương tiện và phong cách giảng dạy mới. Trong một giờ lên

    lớp, giáo viên không thể sử dụng hết cả máy chiếu, bảng thông minh, ti vi – đầu đĩa, ta chỉ

    nên lựa chọn một phương tiện phù hợp, tiện lợi và phổ biến nhất”.

    Khảo sát tại các trường Tiểu học trên địa bàn cho thấy hầu hết các nhà trường hiện

    nay đều có trang bị ti-vi, đầu đĩa hoặc máy chiếu, rất tiện lợi cho các thầy cô giáo sử dụng

    tài liệu bằng âm thanh, hình ảnh trong quá trình giảng dạy, giúp bài học trở nên hấp dẫn

    hơn. Hầu hết các nhà trường đều chọn ti-vi, đầu đĩa trang bị cho từng lớp học do chi phí

    thấp, dễ sử dụng lại gần gũi với các thầy cô giáo và các em học sinh. Tuy nhiên, theo chia

    sẻ của rất nhiều thầy cô giáo, các thầy cô vẫn chưa thể tận dụng tối đa tác dụng của những

    14

    phương tiện giảng dạy hiện đại đó. Thậm chí, nhiều thầy cô chưa từng “động tới” ti-vi,

    đầu đĩa trong quá trình giảng dạy. Ở nhiều lớp, những phương tiện trên nhiều khi chỉ

    dừng lại ở chức năng trang trí. Việc tìm kiếm các video minh họa cho nội dung bài giảng,

    những hình ảnh sống động, các mô hình trực quan phù hợp nội dung,… sẽ thu hút các em

    tham gia vào hoạt động học tập và dễ dàng tiếp thu, ghi nhớ bài hơn. Nhưng vì trở ngại là

    nguồn tài liệu không dồi dào và tốn nhiều thời gian, dẫn đến nhiều giáo viên không chuẩn

    bị tốt hoặc sáng tạo các đồ dùng dạy học sử dụng trong những giờ lên lớp . Bên cạnh đó,

    trường hợp có phương tiện nhưng nhiều khi tài liệu và phương pháp giảng dạy phù hợp là

    cả một vấn đề nan giải. Nếu không có một quy trình giảng dạy thích hợp, thì hiệu quả của

    các phương tiện sẽ không được phát huy đúng cách.

    Giáo viên cần xây dựng nội dung giảng dạy hấp dẫn. Bản thân mỗi thầy cô giáo

    khi có nguồn tài liệu phong phú, hấp dẫn để truyền đạt tới học sinh cũng sẽ yêu bài giảng

    của mình hơn. Đó là yếu tố thúc đẩy các thầy cô lựa chọn và vận dụng phương tiện giảng

    dạy thích hợp nhất giúp cho hoạt động đổi mới phương pháp dạy và học trên lớp có hiệu

    quả. Sử dụng tốt các phương tiện, đồ dùng dạy học (của học sinh hoặc phương tiện biểu

    diễn của giáo viên) có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện có hiệu quả tiến

    trình đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực. Trước kia, đồ dùng dạy

    học thường chỉ dành cho giáo viên dùng để minh họa bổ sung những kết luận được nêu ra,

    học sinh chỉ quan sát để củng cố niềm tin vào những điều giáo viên giảng. Trong dạy học

    tích cực hiện nay, vai trò của đồ dùng dạy học đã thay đổi, đồ dùng dạy học chủ yếu cho

    học sinh thực hành và “khám phá” kiến thức mới. Vì vậy, tăng cường sử dụng phương

    tiện dạy học là một yêu cầu cấp thiết đối với người giáo viên.

    II.2 Thực tế dạy học toán hiện nay

    Nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, chương trình sách giáo khoa

    mới đã đổi mới nội dung, kiến thức phù hợp với thực tế, giúp học sinh dễ dàng liên hệ

    tiếp thu, thực hành, luyện tập. Nhưng hiệu quả học tập Toán của các em chưa cao do vẫn

    còn phổ biến tình trạng dạy “chay”, học “chay”.

    15

    Tình hình thực tế cho thấy có không ít trường Tiểu học hiện còn nhiều tiết lên lớp

    trong các giờ thực hành, luyện tập chưa đáp ứng đúng yêu cầu, mục tiêu bài học. Đặc biệt,

    đối với các trường vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, tình trạng dạy “chay”,

    học “chay” trong giờ lên lớp, trong các tiết luyện tập, thực hành là khá phổ biến. Hệ quả

    là các tiết học diễn ra trong không khí rời rạc, buồn tẻ, học sinh gặp khó khăn trong việc

    nắm vững kiến thức toán học trừu tượng, khái quát và vận dụng những kiến thức lý

    thuyết đó vào thực tiễn.

    Các tiết truyền đạt kiến thức mới và các tiết luyện tập, thực hành chưa mang lại

    hiệu quả như mong muốn do nhiều nguyên nhân: Về phía giáo viên, phương pháp thuyết

    giảng truyền thống theo lối áp đặt đối với học sinh vẫn còn tồn tại, phương pháp này

    không chỉ được sử dụng trong các tiết lý thuyết mà còn được áp dụng trong các tiết luyện

    tập, thực hành đã ảnh hưởng đến việc phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong

    việc vận dụng các kiến thức lý thuyết để giải quyết một bài tập hoặc một vấn đề thực tế,

    tạo sức ỳ trong tâm lý tiếp nhận của học sinh. Bên cạnh đó, vấn đề đáng quan tâm là để

    tiếp nhận các khái niệm trừu tượng toán học thì các em cần sự hỗ trợ của các thiết bị thực

    hành, dụng cụ trực quan… Tuy nhiên, hiện nay ở nhiều trường, đặc biệt là các trường

    miền núi, vùng sâu, vùng xa, phòng thực hành, thiết bị thực hành, đồ dùng dạy học nhìn

    chung còn thiếu thốn, chưa đồng bộ. Thiếu phương tiện hỗ trợ học tập, thực hành dẫn đến

    tình trạng thầy dạy “chay”, trò học “chay”. Hiệu quả tiết học, tiết thực hành, luyện tập, vì

    thế mà bị ảnh hưởng. Tình trạng nhiều học sinh ghi nhớ kiến thức toán học một cách máy

    móc mà không thật sự hiểu nó. Các em không tự giải thích được câu hỏi đặt ra trong các

    bài toán hoặc những suy luận: Tại sao lại sử dụng phép toán này mà không sử dụng phép

    toán khác? Tại sao lại có giá trị này?…Những điều đó làm các em có cảm giác nặng nề,

    lúng túng mỗi khi giải các bài toán. Từ đó, học sinh cảm thấy không hứng thú trong việc

    học toán và xem nó như một môn học nặng nề.

    Để cải thiện tình trạng bất cập trên giúp học sinh Tiểu học học toán một cách tích

    cực, hiệu quả, người giáo viên ngoài việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực thì

    việc sử dụng phương pháp trực quan, được xem là một phương pháp dạy học truyền

    thống, trong dạy học môn toán là đều hết sức cần thiết.

    16

    II.3 Phƣơng pháp trực quan

    II.3.1 Quan niệm về phương pháp trực quan

    II.3.1.1 Trực quan trong hoạt động dạy học là gì?

    Trực quan trong hoạt động dạy học, được hiểu là khái niệm dùng để biểu thị tính

    chất của hoạt động nhận thức, trong đó thông tin thu được từ các sự vật hiện tượng của

    thế giới bên ngoài nhờ sự cảm nhận trực tiếp của các cơ quan cảm giác con người.

    II.3.1.2 Các hình thức trực quan

    – Trực quan bằng đồ vật: là học sinh tri giác trực tiếp với các sự vật hiện tượng

    thực tế như vật thật, thực nghiệm chứng minh, tham quan…

    – Trực quan bằng hình tượng: cho học sinh tri giác các tranh ảnh, mô hình, bản đồ,

    phim…Có hai loại hình tượng: hình tượng thật và hình tượng tượng trưng. Các hình tượng

    nó không phải là vật thật nên đôi khi cũng làm cho học sinh khó hình thành mối quan hệ

    chính xác giữa vật tượng hình và vật thật. Do vậy, giáo viên cần chú ý tới các qui luật

    cảm giác, tri giác trong khi sử dụng những hình tượng trực quan.

    – Trực quan bằng lời nói: dùng lời nói để mô tả lại các sự vật. Lời nói phải mang

    tính gợi cảm, giàu hình tượng và dễ hiểu làm cho học sinh nhớ lại những biểu tượng đã có

    ở trong đầu để xây dựng biểu tượng mới qua lời nói của giáo viên.

    II.3.1.3 Phương tiện trực quan

    Phương tiện trực quan là những công cụ mà thầy giáo và học sinh sử dụng trong

    quá trình dạy học nhằm tạo ra các biểu tượng, hình thành những khái niệm cho học sinh

    thông qua sự tri giác trực tiếp thí dụ như các vật tự nhiên cây, hoa quả, mô hình, biểu đồ,

    phim ảnh để dạy học…

    II.3.1.4 Phương tiện dạy học

    Phương tiện dạy học là những công cụ mà thầy giáo và học sinh sử dụng trong quá

    trình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học đó là: các vật thật, các vật tượng trưng

    (bản đồ, sơ đồ, biểu đồ), các vật tạo hình (tranh ảnh, mô hình, hình vẽ, phim). Thí nghiệm

    và các thiết bị thí nghiệm, các phương tiện mô tả đối tượng và hiện tượng bằng lời, bằng

    17

    kí hiệu (sách giáo khoa, sách hướng dẫn, tài liệu in, các công thức, phương trình); các

    phương tiện kỹ thuật dạy học ( phương tiện nghe, nhìn, computer, camera,….).

    II.3.1.5 Phương tiện giáo dục

    Phương tiện giáo dục là khái niệm dùng để chỉ tất cả các dụng cụ, phương tiện mà

    giáo viên và học sinh trực tiếp sử dụng trong quá trình giáo dục (dạy học, lao động, vui

    chơi, sinh hoạt tập thể….) và các điều kiện vật chất cần thiết cho các hoạt động giáo dục

    đó (nhà cửa, bàn ghế, sân bãi, trường…).

    II.3.1.6 Phương pháp trực quan trong dạy học toán

    Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học toán ở Tiểu học nghĩa là giáo viên

    tổ chức hướng dẫn cho học sinh trực tiếp hoạt động trên các phương tiện, đồ dùng dạy

    học, từ đó giúp học sinh hình thành kiến thức và kĩ năng cần thiết của môn toán.

    Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học toán ở Tiểu học là quá trình kết hợp

    giữa cụ thể và trừu tượng nghĩa là tổ chức hướng dẫn cho học sinh nắm bắt được các kiến

    thức trừu tượng, khái quát của môn toán dựa trên những cái cụ thể, gần gũi với học sinh,

    sâu đó vận dụng những quy tắc, khái niệm trừu tượng, để giải quyết các vấn đề cụ thể của

    học tập và đời sống.

    II.3.2 Vai trò, tác dụng của phương pháp trực quan trong dạy học toán

    Do đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học (có tính trực giác, cụ thể) và do tính

    chất đặc thù của các đối tượng toán học (tính trừu tượng và khái quát cao) mà phương

    pháp trực quan có vai trò quan trọng trong quá trình dạy học toán ở Tiểu học.

    Với những hình ảnh trực quan (do các đồ dùng biểu diễn mang lại) và lời giảng của

    giáo viên học sinh sẽ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và lĩnh hội kiến thức toán học trừu

    tượng. Bản chất của phương pháp dạy học này là giáo viên đã tác động vào tư duy học

    sinh Tiểu học theo đúng qui luật nhận thức “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng

    và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”. Từ đó, nó giúp học sinh tích lũy những biểu tượng

    ban đầu của các đối tượng toán học, tạo chỗ dựa cho quá trình suy nghĩ, tri giác tiếp theo

    đồng thời giúp học sinh phát triển năng lực tư duy trừu tượng và trí tưởng tượng.

    18

    II.3.3 Một số phương tiện trực quan sử dụng trong dạy học toán ở Tiểu học

    Việc sử dụng phương tiện và đồ dùng dạy học có ý nghĩa to lớn trong việc nâng

    cao hiệu quả giờ học nói chung và đặc biệt là giờ học môn toán. Chúng mang lại hiệu quả

    tích cực trong quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh Tiểu học. Các giờ lên lớp, giáo

    viên thường sử dụng các dạng đồ dung trực quan trong dạy học toán:

    – Những vật thực có trong tự nhiên xung quanh trẻ: sách, vở, bút chì, thước kẻ,

    viên phấn; Bông hoa, quả cam,…Những mẫu vật cắt bằng giấy (bìa). Những vật tuy

    không có trước mắt, nhưng đã quá quen thuộc với các em như: chó, mèo, nhà cửa,…

    – Các bộ que tính, khác nhau về màu sắc, kích thước, biểu thị các hàng, lớp đơn vị

    thập phân.

    – Những bàn tính vừa dùng để học cấu tạo của số, học các hàng và lớp. Bảng cài,

    bảng nỉ (và các dạng bảng nỉ), bảng từ tính,…

    – Các bảng tính (bảng cộng, bảng nhân…), các bảng đơn vị đo lường; Các sơ đồ

    và bảng mô tả, chỉ dẫn cách giải toán điển hình, chỉ dẫn cách viết số, các phương pháp

    tính, cách tính chu vi, diện tích hình,…Những bảng, biểu này được dùng khi giảng bài

    hoặc treo trong lớp khi ôn tập,…

    – Những sơ đồ, biểu đồ, hình vẽ trên bảng lớp ngay trong từng giờ dạy, giới thiệu,

    những nét bản chất nhất của đối tượng và quan hệ toán học cần nghiên cứu.

    Ví dụ loại toán “Tìm hai số biết tổng và hiệu” (lớp 4) có thể được diễn đạt bằng

    một trong các sơ đồ sau:

    ?

    +8

    Nam

    ?

    Nữ

    ?

    50 học sinh

    8

    Ngoài ra còn có:

    – Sách giáo khoa với những hình ảnh, tranh vẽ, ví dụ, minh họa, quy tắc in đậm,

    công thức có đóng khung,…

    19

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Trực Quan Trong Dạy Học Toán Ở Lớp 3
  • Một Số Giải Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Lớp 1″ Thu Hien Doc
  • Biện Pháp Dạy Toán Có Lời Văn Lớp 1
  • Phương Pháp Giải Toán Có Lời Văn Lớp 1
  • Phương Pháp Dạy Toán Cho Bé Chuẩn Bị Vào Lớp 1
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Ở Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Kể Chuyện Học Sinh Tiểu Học
  • Quy Trình Dạy Phân Môn Kể Chuyện Lớp 5 Theo Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Kể Chuyện
  • Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Khám Phá Trong Dạy Học Phép Biến Hình Lớp 11 Trung Học Phổ Thông ( Ban Nâng Cao)
  • Sự Kết Hợp Đa Dạng Các Phương Pháp Trong Giảng Dạy
  • Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực: Kĩ Thuật Kwl
  • vc

    CHÀO MỪNG QUÝ THẦY, CÔ ĐẾN THĂM LỚP

    CHUYÊN ĐỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TIỂU HỌC

    BÁO CÁO VIÊN

    HÀ VĂN GIAO

    vc

    I. MỤC TIÊU MÔN TOÁN TIỂU HỌC:

    1.Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số, số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản.

    2. Hình thành các kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống.

    3. Góp phần bước đầu phát triển tư duy, khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện và các giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tập Toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo.

    vc

    II. Kiến thức kỹ năng môn Toán tiểu học.

    Lớp 1:

    + Các số đến 100 (đọc, viết, so sánh các số trong phạm vi 100). Cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100.

    + Đọc, viết cộng trừ các số theo đơn vị đo xăngtimet, đọc giờ đúng, có hiểu biết về tuần lễ, ngày trong tuần.

    + Biết giải bài toán có 1 phép tính cộng hoặc trừ.

    + Nhận dạng hình vuông, hình tròn, hình tam giác.

    vc

    2. Lớp 2:

    + Đọc, viết, so sánh các số trong phạm vi 1000. Cộng trừ có nhớ trong phạm vi 100. khái niệm ban đầu về nhân chia, bảng nhân chia 2, 3,3,4, 5. Tìm giá trị biểu thức có đến phép tính (cộng, trừ, nhân, chia).

    + Giới thiệu về lít, kg, tiền. Mở rộng đơn vị đo độ dài đến mm, dm, km.

    + Đường gấp khúc, tứ giác, hình chữ nhật.

    + Giải bài toán có 1 phép tính.

    vc

    3. Một số phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Toán ở tiểu học.

    Dạy học theo nhóm trong môn toán:

    a.1 Những đặc điểm của dạy học theo nhóm.

    + Thế nào là dạy học theo nhóm.

    + Việc tổ chức học tập theo nhóm góp phần hình thành và phát triển năng lực theo nhóm gồm.

    Kỹ năng

    Thái độ.

    + Ích lợi của việc tổ chức dạy học theo nhóm.

    vc

    a.2 Kỹ năng Qui trình và cách thức dạy học theo nhóm.

    + Qui trình dạy học theo nhóm:

    Tổ chức thành lập các nhóm.

    Đề ra nhiệm vụ.

    Các nhóm thực hiện nhiệm vụ.

    Các đại diện nhóm trình bày kết quả.

    Hoạt động chung cả lớp (nếu cần thiết). Giáo viên chốt các kiến thức mới xuất hiện, đánh giá hoạt động học tập của các nhóm.

    + Kỹ thuật chia nhóm: có nhiều kỹ thuật:

    -ngẫu nhiên

    -cùng sở thích… Bốc thăm..cùng trình độ..

    vc

    d. Hình thức tổ chức trò chơi trong học tập môn Toán.

    d.1 Thế nào là trò chơi học tập?

    d.2 Tác dụng của trò chơi học tập.

    d.3 Những phản ứng tâm lý của Hs khi tham gia trò chơi học tập.

    d.4 Cách tổ chức trò chơi học tập môn Toán.

    4.5 Những yêu cầu để trò chơi học tập đạt hiệu quả cao.

    -Trò chơi phải có mục đích học tập: Trò chơi học tập phải nhằm mục đích học tập gì? củng cố, bổ sung kiến thức gì? (về số, tính toán, giải toán, vẽ, đọc, ứng dụng.) rèn luyện những tố chất nào?

    vc

    -Trò chơi phải được chuẩn bị tốt: Chuẩn bị tốt có nghĩa là phải nắm vững yêu cầu, mục đích giáo dục của trò chơi để hướng mọi hoạt động phục vụ cho mục đích yêu cầu ấy. Phải chuẩn bị tốt các phương tiên (sân bãi, dụng cụ, vật liệu, mẫu vật, đồ chơi.) phục vụ cho trò chơi, phải có kế hoạch được thể hiện ở bài soạn.

    – Trò chơi phải thu hút được nhiều Hs tham gia: Mọi Hs tham gia trò chơi học tập cần:

    . Nhiệt tình, tích cực, hào hứng..

    . Nghiêm chỉnh chấp hành luật chơi.

    . Cố gắng vươn lên để “thắng”

    . Luôn giữ vững tinh thần đoàn kết,thân ái dù “thắng” hay “thua”

    * Nếu thấy Hs thờ ơ không tham gia chơi cần xem lại cách tổ chức hoặc trò chơi không hấp dẫn.

    vc

    d.6 Những lưu ý khi tổ chức trò chơi học tập môn Toán.

    -Mỗi trò chơi phải gắn với một bài, chương cụ thể hoặc có những tri thức tổng hợp như giải toán, phối hợp nhiều nội dung tri thức hình học, số, phép toán.

    Dựa vào hình thức, cách chơi và luật chơi của trò chơi có thể thay thế các trò chơi một cách linh hoạt (thay số, thay hình, thay sự tương ứng..), từ sự thay thế linh hoạt tạo cho Gv nhiều cơ hội tổ chức phù hợp với đối tựng Hs của mình.

    Các trò chơi thường tổ chức theo nhóm ở ngay trong lớp học với thời gian từ 5 đến 10 phút. Việc chuẩn bị các trò chơi đơn giản, dễ làm dễ kiếm (que tính, bìa giấy cũ được dán bồi, mẫu dây thép, sợi dây, bông hoa giấy..)

    vc

    BÀI HỌC KẾT THÚC.

    CHÚC CÁC THẦY CÔ VUI KHỎE

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gợi Ý Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Phổ Biến
  • Phương Pháp Dạy Học Theo Nhóm
  • Một Số Phương Pháp Dạy Học Nhằm Phát Huy Tính Tích Cực, Chủ Động, Sáng Tạo Của Học Sinh Thcs Trong Việc Học Phân Môn Vẽ Tranh
  • Một Số Biện Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học
  • Luận Văn: Phương Pháp Dạy Học Trong Dạy Học Hóa Học Lớp 10
  • Phương Pháp Trực Quan Trong Dạy Học Toán Ở Lớp 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Sử Dụng Phương Pháp Trực Quan Trong Dạy Toán Ở Tiểu Học
  • Cách Dạy Con Học Toán Lớp 1 Đơn Giản, Hiệu Quả Tại Nhà
  • Một Số Giải Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Bí Quyết Dạy Toán Cho Trẻ Chuẩn Bị Vào Lớp 1
  • Luận Văn: Phương Pháp Dạy Học Dự Án Trong Dạy Hóa Học Lớp 10
  • MỤC LỤC

    Trang

    A. PHẦN MỞ ĐẦU : ……………………………………………………………………………………………………… 2

    I. Lời nói đầu . ………………………………………………………………………………………………… 2

    II. Ý nghĩa và tác dụng của đề tài . ……………………………………………………………… 4

    III. Lý do chọn đề tài ………………………………………………………………………………………………… 6

    IV. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu. ………………………………………………………………… 8

    V . Phương pháp nghiên cứu . ……………………………………………………………………………… 9

    VI. Cấu trúc đề tài . ……………………………………………………………………………………………… 10

    B. PHẦN NỘI DUNG: ………………………………………………………………………….. 12

    Chương I : Những vấn đề chung ………………………………………………………………………………. 12

    I. Phương pháp trực quan là gì …………………………………………………………………………… 12

    II. Sự cần thiết phải dùng phương pháp trực quan trong dạy học………………… 12

    III. Các phương tiện trực quan thường dùng cho học sinh lớp 3 ……………… 15

    Chương II: Phương pháp trực quan trong việc trong dạy học toán ở lớp 3 tiểu học 17

    I. Hình thành kiến thức mới …………………………………………………………………………………… 17

    II. Thực hành giải toán ……………………………………………………………………………………………………. 22

    1. Tóm tắt đề toán …………………………………………………………………………………………………… 22

    1.1. Tóm tắt đề toán bằng sơ đồ đoạn thẳng ………………………………………… 22

    1.2. Tóm tắt bài toán bằng lưu đồ …………………………………………………………………… 23

    1.3. Tóm tắt đề toán bằng hình tượng ………………………………………………… 24

    1.4. Tóm tắt đề toán sơ đồ ven ……………………………………………………………… 24

    1.5. Tóm tắt đề toán bằng bảngkẻ ô ……………………………………………………… 25

    1.6. Tóm tắt đề toán có công thức bằng lời ……………………………………… 26

    2. Phân loại đểgiải các bài toán …………………………………………………………… 26

    2.1. Phân loại ……………………………………………………………………………………………… 26

    2.2. Trực quan với việc giải toán ……………………………………………………… 27

    2.3. Một số bài toán giải được bằng phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng.. 27

    2.4. Một số bài toán ở lớp 3 mang nội dung hình học ………………… 29

    2.5. Trực quan trong ôn tập hệ thống hoá kiến thức ………………… 32

    3. Trực quan là cơ sở hay chổ dựa vững chắc để học sinh phát triển khả năng khái quát cao 35

    III. Những yêu cầu cơ bản khi sử dụng phương pháp trực quan dạy học toán

    Lớp 3 của trường tiểu học Lý Tự Trọng – Buôn Ma Thuột – Đak Lak 37

    IV. Tính hiệu quả khi dạy học bằng phương pháp trực quan ………………. 38

    C. KẾT LUẬN …………………………………………………………………………………………………………… 40

    1. Kết luận đề tài ………………………………………………………………………………………………… 40

    2. Một số đề xuất kiến nghị ……………………………………………………………………… 42

    D. TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………………………………… 43

    A.PHẦN MỞ ĐẦU

    I/ LỜI NÓI ĐẦU:

    Như chúng ta đã biết, tiểu học là bậc học nền tảng đặt cơ sở ban đầu rất cơ bản và thiết yếu, chuẩn bị cho phát triển toàn diện nhân cách con người trong thời kỳ “Công nghiệp hoá- hiện đại hoá” đất nước Theo định hướng xã hôïi chủ nghĩa. Đồng thời nó cũng đặt nền móng vững chắc cho GD phổ thông và toàn bộ hệ thống giáo dục Quốc dân. Việc đổi mới SGK chính là để nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường sao cho phù hợp với tiến độ ngày càng phát triển của toàn xã hội chúng ta hiện nay mà toán học là một trong những môn học quan trọng nhất vì nó xâm nhập vào mọi lĩnh vực trong cuộc sống.

    Nhằm nâng cao chất lượng giảng dậy, đáp ứng nhu cầu đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học hiện nay trường Đại học Quy Nhơn và trực tiếp là khoa giáo dục tiểu học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho học viên được cập nhật kiến thức và phương pháp dạy học theo nhiều hình thức. Trong đó chú trọng đến công tác nghiên cứu khoa học cho cả giảng viên , học viên vừa làm vừa học, sinh viên chính quy.

    Với phương hướng đổi mới trong PPDH hiện nay là ” Lấy học sinh làm trung tâm ” thì sự phối hợp nhịp nhàng giữa các PPDH truyền thống với phương tiện dạy học như đồ dùng học tập,tranh ảnh, hình vẽ minh hoạ. . . là hết sức cần thiết.

    Đặc biệt môn toán là một môn học đòi hỏi tư duy và trừu tượng cao. Chính vì thế ” hình ảnh trực quan ” là chỗ dựa để giáo viên có thể phát triển tư duy cho học sinh. Để dạy học có nội dung mới, phong cách mới, có phương pháp khái quát trừu tượng cao.

    Được sự đồng ý của lãnh đạo nhà trường, khoa Giáo dục tiểu học. Tôi nhận thực hiện bài tập nghiên cứu với đề tài ” Phương pháp trực quan trong dạy học toán ở lớp 3 của trường tiểu học Lý Tự Trọng – Buôn Ma Thuột – Đak Lak “. Phương pháp trực quan thể hiện ở mọi khâu của quá trình dạy học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Lớp 1″ Thu Hien Doc
  • Biện Pháp Dạy Toán Có Lời Văn Lớp 1
  • Phương Pháp Giải Toán Có Lời Văn Lớp 1
  • Phương Pháp Dạy Toán Cho Bé Chuẩn Bị Vào Lớp 1
  • Đề Tài Giải Pháp Khoa Học Dạy Học Môn Toán Lớp 10 Ở Trường Thpt Nguyễn Trung Trực Thông Qua Phương Pháp Trò Chơi
  • Sử Dụng Phương Pháp Trực Quan Khi Dạy Học Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Sử Dụng Phương Tiện Trực Quan Trong Dạy Học Toán Lớp 3 Theo Hướng Phát Huy Tính Tích Cực Nhận Thức Của Học Sinh
  • Sử Dụng Phương Pháp Trực Quan Trong Dạy Học Ngữ Văn Ở Các Trường Trung Học Phổ Thông Huyện Cần Giờ, Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Sử Dụng Đồ Dùng Trực Quan Trong Dạy Học Lịch Sử
  • Sử Dụng Phương Tiện Trực Quan Trong Dạy Học Một Số Khái Niệm Hóa Học Cơ Bản Ở Trường Trung Học Cơ Sở Nhằm Phát Triển Năng Lực Thực Nghiệm Cho Học Sinh.
  • Thiết Kế Module Dạy Học Trong Đào Tạo Theo Học Chế Tín Chỉ
  • Published on

    1. 2. Câu 1: Việc sử dụng phương pháp dạy học trực quan khi dạy thể loại văn miêu tả của môn Tập làm vănlớp 4. Anh (chị) nêu phương án cùng ví dụ cụ thể cho biết lí do chọn phương án ấy? – Phương pháp dạy học trực quan bao gồm phương pháp quan sát và phương pháp trình bày trực quan. Hai phương pháp này có mối liên hệ với nhau, cụ thể là khi trình bày trực quan, học sinh tiến hành quan sát chúng một cách có khoa học dưới vai trò chủ đạo của giáo viên. – Phương pháp này giúp nâng cao hiệu quả dạy học nhờ có những biểu tượng rõ ràng. Rất phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học. Phát triển tư duy trực quan, hình tượng trí nhớ. – Người giáo viên phải nắm chắc đặc điểm tâm lý của học sinh để từ đó tìm ra hướng đi đúng, tìm ra những phương pháp phù hợp khi lên lớp:  Chúng ta đã biết, tâm lý chung của học sinh Tiểu học là luôn muốn khám phá, tìm hiểu những điều mới mẻ. Từ đó hình thành và rèn luyện cho các em quan sát, cách tư duy về đối tượng miêu tả một cách bao quát, toàn diện và cụ thể tức là quan sát sự vật hiện tượng về nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau, từ đó các em có cách cảm, cách nghĩa sâu sắc khi miêu tả.  Ở tuổi Tiểu học từ hình thức đến tâm hồn, mọi cái mới chỉ là sự bắt đầu của một quá trình. Do đó những tri thức để các em tiếp thu được phải được sắp xếp theo một trình tự nhất định. Trí tưởng tượng càng phong phú bao nhiêu thì việc làm văn miêu tả sẽ càng thuận lợi bấy nhiêu. – Văn miêu tả là loại văn thuộc phong cách nghệ thuật đòi hỏi viết bài phải giàu cảm xúc, tạo nên cái “hồn” chất văn của bài làm. Muốn vậy giáo viên phải luôn luôn nuôi dưỡng ở các em tâm hồn trong sáng, cái nhìn hồn nhiên, một tấm lòng dễ xúc động và luôn hướng tới cái thiện.
    2. 4. từ hay, một câu văn hay các em ghi vào sổ tay theo từng chủ điểm và khi làm văn có thể sử dụng một cáchdễ dàng. – Giáo viên cần tiến hành theo mức độ yêu cầu tăng dần, bước đầu chỉ yêu cầu học sinh đặt câu đúng, song yêu cầu cao hơn là phải đặt câu có sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa, có dùng những từ láy, từ ngữ gợi tả hình ảnh, âm thanh hay những từ biểu lộ tình cảm.  Việc sử dụng phương pháp dạy học trực quan khi dạy thể loại văn miêu tả của môn Tập làm văn lớp 4 có rất nhiều hiệu quả. Ví dụ: Đề bài: Hãy tả chiếc cặp sách của em.  Thể loại: Văn mô tả lớp 4.  Phương án dạy học: Cho học sinh quan sát một cách từ gần đến xa, quan sát các dấu hiệu đặc trưng bản chất, các dấu hiệu chính xen kẽ các dấu hiệu phụ dưới sự định hướng của giáo viên. Sau đó căn cứ vào dàn bài chung của thể loại văn miêu tả, các em tái hiện lại những điều đã quan sát để tiến hành làm bài.  Dàn ý chung: 1. Mở bài: Giới thiệu đồ vật (Đồ vật em định tả là gì? Tại sao em có nó? Nó có vào thời gian nào? …) 2. Thân bài: a. Tả bao quát: Hình dáng, kích thước, màu sắc… b. Tả chi tiết: Tả các bộ phận của đồ vật… c. Tả công dụng của đồ vật. d. Hoạt động hoặc kỷ niệm của em với đồ vật đó. 3. Kết bài: Nêu cảm nghĩ của em với đồ vật.
    3. 5.  Lí do chọn: Đây là phương pháp dạy học trực quan phù hợp nhất với học sinh Tiểu học. Vì nó mang tính khoa học, giúp học sinh thể hiện khả năng sáng tạo của các em, giúp các em biết quan sát và làm bài một cách có logic, trình tự.  Người giáo viên không nên hướng dẫn cho học sinh một đề cương chi tiết thuộc nội dung bài làm, sau đó trực tiếp đưa cho học sinh cái cặp để cho học sinh tiến hành quan sát theo đề cương chi tiết đã được học; cuối cùng sau khi quan sát xong các em tiến hành bài tập làm văn. Vì theo phương án này, người giáo viên vô tình đã áp đặt một đề cương để theo đó học sinh tiến hành quan sát. Như vậy, việc quan sát của học sinh không còn mang tính khoa học nữa và mất đi khả năng sáng tạo nơi các em. Dự đoán bài làm của các em hầu như sẽ giống nhau, không còn thể hiện những dấu hiệu đặc trưng của mỗi em.  Người giáo viên cũng không được: không hướng dẫn đề cương chi tiết trước cho học sinh mà đưa thẳng cái cặp cho học sinh quan sát. Giáo viên để hoc sinh tự tiến hành quan sát rồi sau đó tự làm bài Tập làm văn với đề bài trên.Vì theo phương án này, các em sẽ không biết cách thức tiến hành quan sát như thế nào, vì không có sự chỉ đạo của giáo viên. Điều này cũng vi phạm cách thức tiến hành dạy học trực quan. Dự đoán các em sẽ không theo một trình tự logic nào và bài làm thậm chí còn lạc đề hoặc không nêu đủ nội dung yêu cầu.  Để làm 1 bài văn hay, đạt chất lượng, giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh biết cách nhìn nhận sự vật, sự việc xung quanh. Để nhìn được sự vật thông qua đôimắt của học sinh cần có sự hướng dẫn từ người thầy. Ví dụ: Muốn miêu tả 1 cái cây, giáo viên hướng dẫn quan sát cây từ xa, toàn bộ cái cây tiếp đến quan sát từng bộ phận của cậy và rút ra nhận xét ban đầu về cái cây.  Nội dung dạy học phải mới, phải thường xuyên thay đổi phương pháp dạy để học sinh không cảm thấy nhàm chán.
    4. 7. Toán 4 5 5 5 5 Đạo đức 1 1 1 1 1 Tự nhiên và Xã hội 1 1 2 Khoa học 2 2 Lịch sử và Địa lí 2 2 Âm nhạc 1 1 1 1 1 Mĩ thuật 1 1 1 1 1 Thủ công 1 1 1 1 1 Kĩ thuật 1 1 Thể dục 1 2 2 2 2 Giáo dục tập thể 2 2 2 2 2 Giáo dục ngoài giờ lên lớp 4 tiết/tháng Tự chọn ( không bắt buộc) * * * * * Tổng số tiết/tuần 22 23 23 25 25 c. Hướng dẫn thực hiện – Ở mỗi lớp, mỗi tuần có ít nhất hai tiết hoạt động tập thể dành cho Sinh hoạt lớp, Sao Nhi đồng, Đội thiếu niên và sinh hoạt trường. – Dấu (*) chỉ thời lượng của các nội dung tự chọn và môn học tự chọn (chủ yếu là môn Anh văn và Tin học) bắt đầu từ lớp 3. – Sẽ có hướng dẫn cụ thể quy định riêng cho các trường Tiểu học dạy bằng tiếng dân tộc và tiếng Việt hoặc bằng tiếng nước ngoài và tiếng Việt, và cho các trường, các lớp tiểu học có khó khăn đặc biệt khác, cho các trường Tiểu học dạy học cả ngày (hoặc 2 buổi/ngày). – Căn cứ vào kế hoạch dạy học nêu trên và chương trình cụ thể của các môn học, mỗi trường Tiểu học tự lập kế hoạch dạy học hàng tuần theo đặc điểm của nhà trường và của địa phương sao cho:  Đảm bảo dạy đủ số môn học và hoạt động bắt buộc và đủ thời gian tối thiểu nêu trong kế hoạch dạy học.  Các hoạt động dạy học ở các lớp 1, 2, 3 chủ yếu thực hiện ở nhà trường, hạn chế học và làm bài tập ở nhà.
    5. 12. – Con người và sức khoẻ: Sự trao đổi chất, nhu cầu các chất dinh dưỡng của cơ thể; sự sinh sản và lớn lên và phát triển của cơ thể con người; cách phòng chống các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm; cách sử dụng thuốc an toàn. – Vật chất và năng lượng: Tính chất và ứng dụng của một số chất, vật liệu và dạng năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất. – Thực vật và động vật: Sự trao đổi chất và sinh sản của cây xanh và một số loài đông vật. – Môi trường và tài nguyên thiên nhiên: Ảnh hưởng qua lại của con người và môi trường; một số biện pháp bảo vệ môi trường tự nhiên.  NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ: I. Ưu điểm: – Việc đổi mới chương trình sách giáo khoa là một việc làm có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. – Chương trình mới của cấp tiểu học đều hợp lý về mặt nội dung khoa học và cũng phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi cũng như kinh nghiệm sống của học sinh. – Việc tiếp nhận và đưa vào ứng dụng chương trình và sách giáo khoa tiểu học phù hợp với tính hiện đại cập nhật, sát thực tiễn, bước đầu đã tạo được hứng thú, tích cực và chủ động hơn trong học tập, học sinh có ý thức hợp tác với thầy cô và bạn bè để cùng học, cùng tìm hiểu, phát hiện kiến thức, biết thao tác sử đụng đồ dùng học tập, thực hành kĩ năng, mạnh dạn hơn trong việc trình bày ý kiến cá nhân hơn. – Chương trình sách giáo khoa các môn Toán, Tiếng Việt ở lớp 1 và lớp 3 nhìn chung phù hợp với khả năng học tập của học sinh: Cụ thể bài “Làm quen với chữ số La Mã” (Toán lớp 3). Sau khi học xong bài này, tiếp đến bài “Thực hành xem đồng hồ”, rồi đến xem lịch năm, tháng, ngày, tuần, thứ… – Về sách giáo khoa, thì sách giáo khoa là phương tiện chính thức để định hướng cho giáo viên tổ chức các hoạt động học tập, nhằm giúp học sinh tự phát hiện, tự chiếm lĩnh các kiến thức mới và biết vận dụng chúng vào cuộc sống, theo năng lực của từng cá nhân. – Sách giáo khoa có hình ảnh đẹp, hấp dẫn hơn, sách giáo khoa phù hợp với chương trình, cung cấp những kiến thức cơ bản, cập nhật có hệ thống. Kênh
    6. 14. DANH SÁCH THÀNH VIÊN 1. Hoàng Thanh Bình 2. Đỗ Thị Thanh Huyền 3. Trần Thị Hương 4. Nguyễn Cẩm Tú 5. Bùi Thị Tuyết Lan 6. Nguyễn Thị Thùy Dung 7. Lê Thị Kim Ngân 8. Trần Thị Thủy Tiên 9. Nguyễn Thị Hoài 10. Nguyễn Tố Vân 11. Trần Nguyễn Thị Minh Châu 12. Phan Thị Huyền Trang 13. Ngô Thị Thùy Linh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lựa Chọn, Sử Dụng Một Số Phương Pháp Dạy Học Toán Ở Tiểu Học
  • Sử Dụng Phương Pháp Dạy Học “đặt Và Giải Quyết Vấn Đề” Giúp Học Sinh Tích Cực Hơn Trong Tìm Hiểu Môn Sinh Học 8 Ở Lớp 8A3 Trường Trung Học Cơ Sở Suối Ngô Huyện Tân Châu Tỉnh Tây Ninh
  • Tham Luận: Vận Dụng Phương Pháp ” Dạy Học Phát Hiện Và Giải Quyết Vấn Đề ” Trong Dạy Học Môn Toán
  • Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Nêu Và Giải Quyết Vấn Đề Trong Dạy Học Môn Giáo Dục Học Tại Trường Đại Học Thể Dục Thể Thao Thành Phố Hồ Chí
  • Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Phát Hiện Và Giải Quyết Vấn Đề Trong Dạy Học Hình Học Lớp 4
  • Các Phương Pháp Dạy Học Toán Ở Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Cương Ôn Tập Và Hướng Dẫn Thi Học Phần “lí Luận Dạy Học Đại Học”
  • Hoạt Động 9: Lựa Chọn, Sử Dụng Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Phát Triển Phẩm Chất, Năng Lực Học Sinh
  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Tập Huấn Gvcc Toán Thcs Modul 2
  • Hướng Dẫn Trình Bày Báo Cáo Thay Đổi Vốn Chủ Sở Hữu
  • Vốn Chủ Sở Hữu Là Gì? Cách Xác Định Vốn Chủ Sở Hữu
  • VỊ TRÍ, MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA MÔN TOÁN

    Ở TIỂU HỌC

    I/. Vị trí của môn toán ở tiểu học :

    Góp phần hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của con người.

    II/. Mục tiêu và nhiệm vụ của môn toán ở tiểu học : 1/. Mục tiêu :

    – Nhằm giúp học sinh có những kiến thức ban đầu về số học và các số tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản và một số yếu tố hình học đơn giản.

    – Hình thành và rèn luyện kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống.

    – Bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán.

    – Góp phần hình thành và rèn luyện các phẩm chất, các đức tính rất cần thiết của người lao động trong xã hội hiện đại.

    2/. Nhiệm vụ :

    – Hình thành hệ thống các kiến thức cơ bản, đơn giản, có nhiều ứng dụng trong đời sống.

    – Hiểu biết ban đầu và rất thiết thực về các đại lượng cơ bản.

    – Nắm chắc các kỹ năngthực hành tính nhẩm, tính viết.

    – Biết nhận dạng, phân biệt một số hình hình học và tính toán một số yếu tố đơn giản.

    – Hiểu biết về các biểu thức toán học và các giá trị của nó.

    – Nắm được quy trình về giải các bài toán có lời văn.

    – Luôn phát triển đúng mức một số khả năng trí tuệ và thao tác tư duy quan trọng.

    – Hình thành được tác phong học tập và cách làm việc có hiệu quả.

    1/. Phần số học.

    2/. Phần đại lượng và đo đại lượng.

    3/. Phần yếu tố hình học.

    4/. Phần yếu tố thống kê.

    5/. Phần giải bài toán.

    II/. Đặc điểm của cấu trúc nội dung môn toán ở tiểu học :

    1/. Môn toán ở tiểu học là một môn thống nhất, không chia thành phân môn.

    2/. Nó quán triệt các tư tưởng của toán học hiện đại và phù hợp với từng giai đoạn phát triển của học sinh tiểu học.

    3/. Các kiến thức kỹ năng của môn toánở tiểu học được hình thành chủ yếu bằng thực hành, luyện tập và thường xuyên được ôn tập, củng cố, phát triển, vận dụng trong học tập và trong đời sống.

    GIỚI THIỆU CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN Ở TIỂU HỌC I/. Phương pháp dạy học toán :

    1/. Là cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh nhằm đạt được các mục tiêu dạy học toán.

    2/. Là sự vận dụng một các hợp lý các PPDH.

    3/. Phải lựa chọn thích hợp các PPDH.

    II/. Phương pháp dạy học toán ở tiểu học :

    1/. Là sự vận dụng các PPDH toán cho phù hợp với mục tiêu, nội dung, các điều kiện dạy học ở tiểu học.

    2/. Giáo viên phải vận dụng linh hoạt các phương pháp Trực quan, Thực hành – Luyện tập, Gợi mở – Vấn đáp, Giảng giải – Minh họa . . .

    3/. Các phương pháp dạy học toán nêu trên rất cần đối với học sinh tiểu học.

    MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THƯỜNG SỬ DỤNG TRONG DẠY HỌC TOÁN Ở TIỂU HỌC

    I/. Phương pháp trực quan :

    1/. Phương pháp trực quan trong dạy học toán ở tiểu học :

    1.1/. Giáo viên tổ chức,hướng dẫn học sinh hoạt động trực tiếp trên các hiện tượng, sự vật cụ thể.

    1.2/. Là quá trình kết hợp giữa cái cụ thể và cái trừu tượng.

    1.3/. Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học toán ở tiểu học là việc làm rất cần thiết.

    2/. Một số yêu cầu cơ bản khi sử dụng phương pháp Trực quan trong dạy học toán ở tiểu học :

    2.1/. Có các phương tiện trực quan phù hợp với từng giai đoạn học tập toán của học sinh tiểu học.

    2.2/. Sử dụng đúng lúc, đúng mức độ các đồ dùng dạy học toán.

    2.3/. Chuyển dần, chuyển kịp thời các phương tiện trực quan từ dạng cụ thể sang dạng trừu tượng hơn.

    2.4/. Không lạm dụng phương pháp trực quan.

    II/. Phương pháp Thực hành – Luyện tập :

    1/. Phương pháp Thực hành – Luyện tập trong dạy học toán ở tiểu học.

    1.2/. Được sử dụng thường xuyên trong dạy học toán ở tiểu học.

    2/. Một số yêu cầu cơ bản khi sử dụng phương pháp Thực hành – Luyện tập trong dạy học toán ở tiểu học :

    2.1/. Phải chuẩn bị chu đáo nội dung Thực hành – Luyện tập.

    2.2/. Tăng cường hoạt động Thực hành – Luyện tập và cần tạo điều kiện để học sinh được Thực hành – Luyện tập nhiều.

    III/. Phương pháp Gợi mở – Vấn đáp :

    1/. Phương pháp Gợi mở – Vấn đáp trong dạy học toán ở tiểu học :

    1.1/. Là phương pháp dạy học không trực tiếp có sử dụng hệ thống các câu hỏi.

    1.2/. Nó rất cần thiết và rất thích hợp với các dạng bài học toán ở tiểu học.

    2/. Một số yêu cầu cơ bản khi sử dụng phương pháp Gợi mở – Vấn đáp trong dạy học toán ở tiểu học :

    2.1/. Xây dựng hệ thống các câu hỏi gợi mở.

    2.2/. Mỗi câu trả lời của học sinh đều cần được đánh giá hoặc nhận xét, bổ sung ngắn gọn.

    2.3/. Phải sử dụng đúng lúc, đúng mức phương pháp và khuyến khích học sinh tự đặt ra câu hỏi.

    IV/. Phương pháp Giảng giải – Minh họa :

    1/. Phương pháp Giảng giải – Minh họa trong dạy học toán ở tiểu học :

    1.1/. Dùng lời nói để giải thích tài liệu toán có kết hợp với các phương tiện trực quan.

    1.2/. Dùng phương pháp này để dạy học kiến thức mới và hướng dẫn học sinh ôn tập…

    Chú ý : Giáo viên nên hạn chế phương pháp Giảng giải – Minh họa vì phương pháp này đặt học sinh ở tình trạng thụ động, ít phát huy được tính tích cực trong học tập toán của học sinh. Khi cần Giảng giải – Minh họa thì giáo viên nên nói gọn, rõ ràng và càng ở lớp dưới thì càng phải Giảng giải ít, minh họa nhiều, kết hợp Giảng giải – Minh họa với Gợi mở – Vấn đáp.

    2/. Một số yêu cầu cơ bản khi sử dụng phương pháp Giảng giải – Minh họa trong dạy học toán ở tiểu học :

    2.1/. Cần dự đoán và lựa chọn những nội dung bắt buộc phải Giảng giải – Minh họa. Giảng giải phải thật đơn giảng, ngắn gọn, chuẩn bị sẵn các tài liệu để minh họa.

    2.2/. Giảng giải – Minh họa cho cá nhân, cho một nhóm học sinh hay cho cả lớp.

    MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CHỦ YẾU ĐỂ LỰA CHỌN VÀ VẬN DỤNG HỢP LÝ CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN Ở TIỂU HỌC

    I/. Sự cần thiết phải xác định các nguyên tắc lựa chọn và vận dụng hợp lý các phương pháp dạy học toán ở tiể học :

    1/. Phương pháp nào cũng rất cần thiết và có đóng góp nhất định vào quá trình dạy học toán ở tiểu học.

    2/. Việc lựa chọn, phối hợp, vận dụng hợp lý các PPDH ở từng tiết dạy học toán cụ thể đều có những đặc điểm riêng, không thể áp dụng một cách máy móc, đồng loạt.

    II/. Một số nguyên tắc chủ yếu để lưa chọn và vận dụng hợp lý các phương pháp dạy học toán ở tiểu học :

    1/. Kết hợp dạy học toán với giáo dục.

    2/. Đảm bảo tính khoa học và tính vừa sức.

    3/. Đảm bảo tính trực quan và tính tích cực, tự giác.

    4/. Đảm bảo tính hệ thống và tính vững chắc.

    5/. Đảm bảo cân đối giữa học và hành, kết hợp dạy học với ứng dụng trong đời sống.

    ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN NHẰM TÍCH CỰC HÓA CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

    I/. Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học toán ở tiểu học :

    1/. Tình hình đổi mới kinh tế và xã hội của đất nước đang diễn ra.

    2/. Mục tiêu đào tạo của nhà trường có điều chỉnh.

    3/. Đặc điểm của các lối dạy học cũ có sự mất cân đối rõ rệt giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh.

    II/. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học toán ở tiểu học :

    1/. Giáo viên phải là người tổ chức và hướng dẫn hoạt động của học sinh, mọi học sinh đều hoạt động học tập để phát triển năng lực của cá nhân.

    3/. Đổi mới PPDH toán là một quá trình lâu dài, nó gắn bó chặt chẽ với đổi mới mục tiêu, nội dung, cơ sở vật chất, các trang thiết bị, đào tạo giáo viên và chỉ đạo đánh giá . . . của môn học.

    III/. Một số hình thức tổ chức hướng dẫn hoạt động học tập toán theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học :

    1/. Học cá nhân (học ở trên lớp ).

    2/. Học theo nhóm.

    3/. Học theo lớp.

    4/. Trò chơi học tập.

    5/. Hoạt động thực hành ở ngoài lớp học.

    6/. Hoạt động ngoại khóa về toán.

    Dương Quang Bình @ 21:20 05/01/2013

    Số lượt xem: 3156

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Các Câu Trả Lời Nhiệm Vụ Vấn Đáp Trong Võ Lâm Truyền Kỳ Mobile
  • Hướng Dẫn Chuyển Qua Lại 4 Chế Độ Tvi/ Ahd/ Cvi/ Cvbs Trên Camera Hikvision
  • Cài Đặt Và Sử Dụng Đầu Ghi Questek Qtx Seri 6100 Ahd
  • Cài Đặt Và Sử Dụng Đầu Ghi Ahd Vantech
  • 5 Mẹo Tuyệt Vời Giúp Giảm Đến 81% Cpm Cho Facebook Video Ad!
  • Phương Pháp Dạy Học Trực Quan

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Trực Quan Là Gì? Áp Dụng Như Nào?
  • Vận Dụng Algorit Sáng Chế Trong Dạy Học Di Truyền Học Sinh Học 12
  • Các Phương Pháp Dạy Học Tiếng Anh Cho Trẻ Em
  • Phương Pháp Dạy Học Tiếng Anh “truyền Cảm Hứng” Của Anh Ngữ Ms Hoa
  • Quá Trình Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tiếng Anh Ở Trường Thcs
  • Dạy học trực quan (hay còn gọi là trình bày trực quan) là PPDH sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật dạy học trước, trong và sau khi nắm tài liệu mới, khi ôn tập, khi củng cố, hệ thống hóa và kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo

    PPDH trực quan được thể hiện dưới hình thức là minh họa và trình bày:

    • Minh họa thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh họa như bản mẫu, bản đồ, bức tranh, tranh chân dung, hình vẽ trên bảng,…
    • Trình bày thường gắn liền với việc trình bày thí nghiệm, những thiết bị kĩ thuật, chiếu phim đèn chiếu, phim điện ảnh, băng video. Trình bày thí nghiệm là trình bày mô hình đại diện cho hiện thực khách quan được lựa chọn cẩn thận về mặt sư phạm. Nó là cơ sở, là điểm xuất phát cho quá trình nhận thức – học tập của hs, là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn. Thông qua sự trình bày của giáo viên mà học sinh không chỉ lĩnh hội dễ dàng tri thức mà còn giúp họ học tập được những thao tác mẫu của GV từ đó hình thành kĩ năng, kĩ xảo,…
    • GV treo những đồ dùng trực quan có tính chất minh họa hoặc giới thiệu về các vật dụng thí nghiệm, các thiết bị kĩ thuật, … và nêu yêu cầu định hướng cho sự quan sát của học sinh
    • GV trình bày các nội dung trong lược đồ, sơ đồ, bản đồ,… tiến hành làm thí nghiệm, trình chiếu các thiết bị kĩ thuật, phim đèn chiếu, phim điện ảnh,…
    • GV yêu cầu một số hs trình bày lại, giải thích nội dung sơ đồ, biểu đồ, trình bày những gì thu nhận được qua thí nghiệm hoặc qua những phương tiện kĩ thuật, phim đèn chiếu, phim điện ảnh
    • Từ những chi tiết, thông tin hs thu được từ phương tiện trực quan, gv nêu câu hỏi yêu cầu hs rút ra kết luận khái quát về vấn đề mà phương tiện trực quan cần chuyển tải.
    • Trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học nhằm tạo cho hs những biểu tượng và hình thành các khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát hiện vật đang học hay đồ dùng trực quan minh họa sự vật. Đồ dùng trực quan là chỗ dựa để hiểu sâu sắc bản chất kiến thức, là phương tiện có hiệu lực để hình thành các khái niệm, giúp học sinh nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội. Ví dụ, khi nghiên cứu bức tranh “hình vẽ trên vách hang”, hs không chỉ có biểu tượng về săn bắn là công việc thường xuyên và hàng đầu của thị tộc mà còn hiểu: nhờ chế tạo cung tên, con người đã chuyển hẳn từ hình thức săn bắt sang săn bắn, co hiệu quả kinh tế cao hơn. Điều đó giúp hs biết sự thay đổi trong đời sống vật chất của con người thời nguyên thủy luôn gắn chặt với tiến bộ trong kĩ thuật chế tác công cụ của họ.
    • Đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp hs nhớ kĩ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử. Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ là hình ảnh chúng ta thu nhận được bằng trực quan. Vì vậy, cùng với việc góp phần tạo biểu tượng và hình thành khái niệm lịch sử, đồ dùng trực quan còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của hs
    • Phương pháp này đòi hỏi nhiều thời gian, gv cần tính toán kĩ để phù hợp với thời lượng đã quy định.
    • Nếu sử dụng đồ dùng trực quan không khéo sẽ làm phân tán chú ý của hs, dẫn đến hs không lĩnh hội được những nội dung chính của bài học
    • Khi sử dụng đồ dùng trực quan, đặc biệt là khi quan sát tranh ảnh, các phim điện ảnh, phim video, nếu gv không định hướng cho hs quan sát sẽ dễ dẫn đến tình trạng hs sa đà vào những chi tiết nhỏ lẻ, không quan trọng
    • Khi sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học cần chú ý các nguyên tắc sau:
    • Phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu giáo dục của bài học để lựa chọn đồ dùng trực quan tương ứng thích hợp. Vì vậy, cần xây dựng một hệ thống đồ dùng trực quan phong phú, phù hợp với từng bài học
    • Có phương pháp thích hợp đối với việc sử dụng mỗi loại đồ dùng trực quan
    • Phải đảm bảo được sự quan sát đầy đủ đồ dùng trực quan của hs
    • Phát huy tính tích cực của hs khi sử dụng đồ dùng trực quan
    • Đảm bảo kết hợp lời nói với việc trình bày các đồ dùng trực quan, đồng thời rèn luyện khả năng thực hành của hs khi xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan (đắp sa bàn, vẽ bản đồ, tường thuật trên bản đồ, miêu tả hiện vật,…)
    • Tùy theo yêu cầu của bài học và loại hình đồ dùng trực quan mà có các cách sử dụng khác nhau. Loại đồ dùng trực quan treo tường được sử dụng nhiều nhất trong dạy học hiện nay là vật mẫu, bản đồ, sơ đồ, đồ thị, bảng niên biểu,… Trước khi sử dụng chúng cần chuẩn bị thật kĩ (nắm chắc nội dung, ý nghĩa của từng loại phục vụ cho nội dung nào của giờ học,…). Trong khi giảng cần xác định đúng thời điểm sử dụng đồ dùng trực quan
    • Loại đồ dùng trực quan cỡ nhỏ được sử dụng riêng cho từng hs trong giờ học, trong việc tự học ở nhà, gv phải hướng dẫn hs sử dụng tốt loại đồ dùng trực quan này: quan sát kĩ, tìm hiểu sâu sắc nội dung, hoàn thành các bài tập, tập vẽ bản đồ, chứ không phải “can” theo sách.
    • Trong dạy học một số môn như Lịch sử, Địa lí, Sinh học, Công nghệ, … ở trường phổ thông, việc kết hợp chặt chẽ giữa lời nói sinh động với sử dụng đồ dùng trực quan là một trong những điều quan trọng nhất để thực hiện nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.
    • Sử dụng các đồ dùng trực quan cần theo một quy trình hợp lý để có thể khai thác tối đa kiến thức từ các đồ dùng trực quan. Cần chuẩn bị câu hỏi hoặc hệ thống câu hỏi dẫn dắt hs quan sát và tự khai thác kiến thức

    Sử dụng các bộ mô hình: khối đa diện, khối đa diện đều, khối tròn xoay (Toán 12), cho học sinh được thao tác trực tiếp trên các mô hình này, đặc biệt là với hs trung bình, yếu kém, trí tưởng tượng không gian còn hạn chế thì ban đầu nên cho các em được tiếp cận các khái niệm này thông quan việc quan sát các mô hình.

    Sử dụng bộ dụng cụ tạo mặt tròn xoay hoặc thiết kế trên phần mềm Sketchpad, cho hs được thao tác trực tiếp nhiều lần để học sinh có thể hình dung được sự tạo thành mặt tròn xoay. Đặt câu hỏi cho hs liên hệ thực tiễn, tìm những đồ vật có hình dạng là những mặt tròn xoay và người ta có thể tạo nên những vật đó như thế nào.

    Hs nhấn chuột vào hộp “quay mặt phẳng” trên trang hình của phần mềm, hs sẽ quan sát một cách rất trực quan “vết” tạo thành chính là mặt nón tròn xoay.

    Từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài

      Modul số 18: Phương pháp dạy học tích cực; Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GV khối THPT; Vụ Giáo dục Trung học; 2013

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Phát Hiện Và Giải Quyết Vấn Đề
  • Cách Giải Rubik 3×3 Theo Zz Method
  • Yết Giá Trực Tiếp (Direct Quote) Là Gì? Những Đặc Điểm Cần Lưu Ý
  • Cách Xoa Bóp Bấm Huyệt Giảm Đau Nhức Mỏi Chân Hiệu Quả
  • Các Phương Pháp Xét Nghiệm Hp Dạ Dày
  • Phương Pháp Dạy Học Phân Môn Tập Viết Ở Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Gợi Ý Những Phương Pháp Dạy Con Đánh Vần Tại Nhà Hiệu Quả
  • Dạy Bé Cách Đánh Vần Tiếng Việt Đúng Cách
  • 2 Cách Dạy Con Xem Đồng Hồ Và Nói Tên Giờ
  • Cách Dạy Con Tự Bảo Vệ Mình Trước Xâm Hại Tình Dục Bố Mẹ Cần Biết
  • Dạy Con Gái Tránh Bị Xâm Hại, Cha Mẹ Nhất Định Phải Biết Để Bảo Vệ Bé Yêu
  • PHƯƠNG PHÁP DẠY TẬP VIẾT

    Có rất nhiều phương pháp để dạy học các phân môn và Tập Viết. Luyện chữ đẹp cũng vậy. Qua nhiều năm đúc rút kinh nghiệm và truyền đạt. Chúng tôi, đội ngũ những nhà giáo, nhà nghiên cứu chuyên sâu về chữ viết. Đã tổng kết một số phương pháp sau giúp việc Luyện chữ đạt kết quả cao:

    1. Phương pháp kể chuyện nêu gương gây hứng thú cho học sinh

    Khi dạy tập viết cho học sinh, điều quan trọng là phải gây được hứng thú. Làm cho học sinh yêu thích rèn viết chữ đẹp. Từ đó các em say mê và quyết tâm rèn chữ cho đẹp.

    Giáo viên có thể nêu những gương sáng về rèn chữ viết, kể những câu chuyện về rèn chữ như: Thần Siêu luyện chữ, Chữ người tử tù, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu…

    Cần nêu ngay những gương người thật việc thật. Ví dụ: Em A chữ viết đẹp nhất trường, các em hãy quan sát chữ viết của bạn và học tập. Giáo viên có thể phô tô các bài viết của học sinh đạt giải cấp huyện, cấp tỉnh, cấp quốc gia để làm mẫu cho các em. Đồng thời động viên các em nếu cố gắng, kiên trì rèn luyện. Thì chữ viết của các em cũng đạt được như vậy thậm chí có thể đẹp hơn.

    Khi đã gây được hứng thú cho học sinh, lúc đó các em rất thích rèn viết chữ đẹp. Cô giáo lúc này sẽ cung cấp các bài tập để rèn kĩ năng viết.

    2. Phương pháp đàm thoại gợi mở

    Sử dụng trong giai đoạn đầu của tiết học. Để hướng dẫn học sinh phân tích nhận xét cấu tạo của chữ cái. Độ cao, rộng của con chữ, nét giống nhau và khác biệt giữa con chữ mới với con chữ đã học từ trước.

    Giáo viên đặt câu hỏi và định hướng cho học sinh trả lời. Không nên đi sâu quá vào việc phân tích mà mất nhiều thời gian. Vì phương pháp này chỉ giúp các em hình thành biểu tượng của chữ chứ chưa hình thành kĩ năng viết.

    3. Phương pháp trực quan

    Sử dụng khi hình thành biểu tượng về chữ cho các em. Phương tiện trực quan là mẫu chữ: Chữ mẫu in sẵn, chữ phóng to trên bảng. chữ trong vở tập viết, hộp chữ mẫu, hoặc một bài viết đẹp. Chữ của giáo viên khi sửa chấm bài… Chữ mẫu phải đúng quy định, rõ ràng và đẹp.

    Khi dạy chữ viết, việc đưa giáo cụ trực quan là chữ viết mẫu được in sẵn từng chữ cái, bảng chữ cái. Đây là việc làm để cung cấp cho học biểu tượng về chữ viết, chưa cung cấp được kĩ năng viết. Nếu trực quan cho học sinh quan sát chữ của cô giáo viết mẫu còn có giá trị hơn.

    Giáo viên vừa viết, vừa phân tích từng nét của chữ cái hoặc từng kĩ thuật nối liền nét các con chữ trong một chữ. Việc viết mẫu của giáo viên còn có tác dụng tạo niềm tin cho học sinh. Mặt khác học sinh cũng dễ tiếp thu hơn. Tạo điều kiện cho việc rèn kĩ năng viết liền mạch, viết nhanh. Khi chấm bài, chữa bài, lời phê, chữ viết của giáo viên được học sinh quan sát như một loại chữ mẫu.

    Vì vậy giáo viên cũng phải chú ý rèn chữ viết cho mình được đúng mẫu, rõ ràng, đều, đẹp. Ngoài ra khi dạy viết chữ giáo viên cũng chú ý đọc mẫu các chữ đó. Đọc đúng cũng góp phần quan trọng để đảm bảo viết đúng.

    Sử dụng để hình thành kĩ năng viết chữ cho học sinh. Đây là một phương pháp cực kì quan trọng. Chữ viết, tập viết chữ có tính chất thực hành. Phải thường xuyên nhắc nhở học sinh ở mọi lúc mọi nơi.

    Không chỉ ở môn tập viết mà còn ở tất cả các môn khác, môn nào cũng cần chữ viết để ghi nội dung bài. Các bài tập cho học sinh luyện tập cần chú ý. Các chữ có nét giống nhau thì cùng xếp vào một nhóm để rèn. Rèn chữ với số lượng ít nhưng lặp lại nhiều lần với yêu cầu cao dần. Cho học sinh viết đi viết lại nhiều lần một bài để giáo viên dễ dàng nhận ra lỗi sai của học sinh đồng thời cũng dễ nhận xét sự tiến bộ của học sinh.

    Hướng dẫn học sinh luyện tập phải tiến hành từ thấp đến cao, tăng dần độ khó để học sinh dễ tiếp thu: viết đúng rồi viết nhanh ,viết đẹp. Việc luyện chữ phải được tiến hành một cách đồng bộ ở lớp cũng như ở nhà. Học môn tập viết cũng như các môn khác, môn học khác.

    Khi học sinh luyện tập viết chữ, giáo viên cần chú ý uốn nắn để các em cầm bút đúng và ngồi đúng tư thế. Nơi ngồi viết cần phải đảm bảo đủ ánh sáng. Ghế ngồi viết phải phù hợp với chiều cao của học sinh.

    Các hình thức luyện tập

    Tập viết chữ trên bảng lớp: Khi kiểm tra bài cũ, hoặc sau bước giải thích cách viết chữ. Bước luyện tập viết chữ ở lớp. Tập viết chữ vào bảng con của học sinh: Trước khi tập viết giáo viên cần chú ý nhắc nhở học sinh lau bảng từ trên xuống. Cách sử dụng và bảo quản phấn, cách lau tay sau khi viết.

    Khi viết xong giơ bảng lên để kiểm tra theo lệnh của giáo viên. Cần chú ý giữ trật tự trong lớp khi dùng hình thức này và nên tận dụng hai mặt bảng.

    Luyện tập trong vở tập viết: Giáo viên cần hướng dẫn tỉ mỉ nội dung và yêu cầu về kĩ năng của từng bài viết. Trước khi học sinh viết giáo viên cần nhắc nhở một lần nữa về tư thế ngồi viết cách cầm bút và để vở.

    Luyện tập viết chữ khi học các môn học khác: Giáo viên phải có những yêu cầu về chữ viết của học sinh khi học những môn học khác. Coi chữ viết là một trong những tiêu chuẩn kiểm tra và đánh giá tất cả các môn học.

    Căn cứ vào đặc điểm của từng chữ cái. Căn cứ vào các nét đồng dạng giữa các chữ cái trong bảng chữ cái. Căn cứ vào kích thước quy trình viết các chữ cái. Chúng ta có thể chia nhóm chữ như sau:

    Chữ thường có thể chia làm 3 nhóm

    Nhóm 1: i, u, ư, t, p, y, n, m, v, r, s

    Nhóm 2: l, b, h, k

    Nhóm 3: o, ô, ơ, a, ă, â, d, đ, q, g, c, e, ê, x

    Cần chú ý khi dạy các chữ thường là phân tích kĩ chữ đầu tiên của nhóm. Dựa vào nét chữ đồng dạng với đầu nhóm. Giáo viên cho học sinh tự rèn các chữ còn lại chú ý nhắc học sinh rèn kĩ các nét cơ bản.

    Chữ hoa

    Dựa và các nét chữ đồng dạng ta chia chữ cái viết hoa thành các nhóm như sau:

    + Nhóm 1: A Ă Â N M

    + Nhóm 2: P B R D D

    + Nhóm 3: C G S L E Ê T

    + Nhóm 4: I K V H

    + Nhóm 5: O Ô Ơ Q

    + Nhóm 6: U Ư Y X

    Tương tự khi dạy chữ viết hoa, chúng ta cũng cần chú ý cho học sinh phân tích kĩ chữ đầu tiên của nhóm. Tập viết thật kĩ chữ đầu tiên của nhóm cho thật đẹp. Từ đó học sinh có thể phân tích và tự rèn các chữ còn lại.

    a. Tổ chức các cuộc thi viết chữ đẹp

    b. Tiêu chí đánh giá bài viết chữ đẹp

    Luyện chữ đẹp cùng bút mài thầy Ánh

    Bút luyện chữ đẹp với nhãn liệu Bút mài thầy Ánh là sản phẩm hàng đầu nhất hiện nay. Được cung cấp tại địa chỉ: Số 3/A5, Ngõ 215, Trần Quốc Hoàn, Cầu Giấy, Hà Nội

    Chúng tôi luôn tư vấn những sản phẩm tốt nhất. Trong quá trình luyện và thi viết chữ đẹp các cấp của học sinh, giáo viên và đông đảo người yêu chữ đẹp việt. Với đúng giá, đúng sản phẩm. Cam kết chất lượng. liên hệ : 0983 184 169 hoặc 0983 174 169 và 0888 184 169

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Dạy Con Viết Chữ Đẹp Hiệu Quả Kinh Nghiệmthành Công Của Cha Mẹ
  • Để Con Viết Chữ Đẹp
  • Phương Pháp Dạy Con Viết Chữ Đẹp Hiệu Quả Nhẹ Nhàng
  • Cách Dạy Bé Sơ Sinh 2
  • Thanh Thảo Hugo Trang Bị Những Gì Cho Con?
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học 6 Bằng Phương Pháp Dạy Dạy Học Trực Quan

    --- Bài mới hơn ---

  • Để Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Báo Cáo Đổi Mới Ppdh Môn Hóa Học
  • Báo Cáo Tham Luận “đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Nhằm Phát Triển Năng Lực Học Sinh”
  • Bộ Sách: Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học (6 Cuốn)
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Trường Trung Học Cơ Sở
  • ––&—–

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TIN HỌC 6 BẰNG PHƯƠNG PHÁP DẠY DẠY HỌC TRỰC QUAN

    Lĩnh vực: Tin học

    Cấp học : Trung học cơ sở Năm học : 2022 – 2022

    A. ĐẶT VẤN ĐỀ …………………………………………………….

    I. Lý do chọn đề tài …………………………………………………..

    II. Phạm vi nghiên cứu ……………………………………………….

    III. Thời gian nghiên cứu ……………………………………………..

    IV. Đối tượng nghiên cứu …………………………………………….

    V. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………

    B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ………………………………………….

    I. Cơ sở lý luận………………………………………………………..

    II. Cơ sở thực tiễn……………………………………………………..

    III. Thực trạng vấn đề…………………………………………………

    IV. Mô tả giải pháp của đề tài…………………………………………

    1. Các biện pháp tiến hành:………………………………………..

    1.1. Biện pháp 1: Trực quan hoá thông tin dạy học.

    1.2: Biện pháp 2: Tạo những tác nhân kích thích trực quan thông qua biểu trưng ngôn ngữ, biểu trưng đồ họa, biểu trưng tranh ảnh.

    1.2.1 Dạy học trực quan bằng biểu trưng ngôn ngữ.

    1.2.2 Dạy học trực quan bằng biểu trưng đồ họa.

    1.2.3 Dạy học trực quan bằng biểu trưng hình ảnh

    1.2.4. Kết hợp các loại hình trực quan.

    1.3. Biện pháp 3: Xây dựng các kĩ năng, thực hành.

    1.3.1. Kĩ năng nhận biết tính năng các loại biểu tượng.

    1.3.2. Rèn luyện kĩ năng thao tác trên máy

    1.4. Biện pháp 4: Sử dụng phần mềm hỗ trợ quản lý phòng máy (Netop School hoặc Italic và mạng LAN).

    2. Kết quả

    2.1. Khả năng áp dụng

    2.2. Lợi ích kinh tế- xã hội

    C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ: ……………………………..

    I. Kết luận: ………………………………………………………….

    1.Những điều kiện, kinh nghiệm áp dụng, sử dụng giải pháp.

    2. Những triển vọng trong việc vận dụng và phát triển giải pháp.

    3 Những bài học kinh nghiệm

    II. Khuyến nghị: …………………………………………………….

    D. PHỤ LỤC: ……………………………………………………….

    ĐỀ TÀI: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TIN HỌC 6 BẰNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRỰC QUAN

    Thực hiện Nghị quyết 40/2000/NQ-QH của Quốc hội và chỉ thị số 14/2001 CTTTg của thủ tướng chính phủ về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Đến nay việc đổi mới giáo dục phổ thông đã trở thành nền nếp sâu rộng từ đổi mới nội dung chương trình sách giáo khoa, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, phương pháp dạy học, đặc biệt là chú trọng đến đối tượng dạy học. Phần lớn giáo viên đứng lớp đã thích nghi với chương trình, phương pháp mới nhất là sử dụng, khai thác triệt để tác dụng thiết bị thực hành, của trang thiết bị, phương tiện dạy học nh­ bảng phụ, tranh ảnh, thiết bị thí nghiệm – thực hành, máy chiếu qua đầu, máy chiếu đa chức năng, …..

    Xuất phát từ cuộc vận động ứng dụng đẩy mạnh công nghệ thông tin vào dạy học của Bộ giáo dục, Sở giáo dục, Phòng giáo dục và Ban giám hiệu nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Đặc biệt là bộ môn Tin học, môn Tin học là một môn khoa học công cụ, tri thức và kỹ năng Tin học được áp dụng rộng rãi, hỗ trợ đắc lực cho rất nhiều ngành khoa học khác nhau trong hầu hết lĩnh vực của đời sống và là một phần không thể thiếu của trình độ văn hóa phổ thông của con người trong thời đại mới. Bởi vậy dạy tin học cho học sinh không chỉ truyền thụ nội dung đơn giản, mà phải hướng cho học sinh những nhận thức, những hiểu biết ngang tầm thời đại…

    Do hạn chế về nhiều mặt cơ sở vật chất, trang thiết bị, trình độ giáo viên… mà đôi khi phương pháp dạy học đã không tận dụng hết những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, để truyền tải nhiều thông tin cho người học một cách trực quan nên chất lượng dạy và học có mặt hạn chế.

    Sự thành công của một tiết dạy ngoài phương pháp giảng dạy của giáo viên và cách học của học sinh, còn cần sự có mặt của đồ dùng, phương tiện, thiết bị và phần mềm dạy học. Chính vì vậy mà bản thân tôi luôn cố gắng tìm tòi, nghiên cứu, trao đổi với đồng nghiệp và nghiên cứu các ứng dụng của thiết bị và phần mềm dạy học phù hợp với đặc trưng của bộ môn. Trong quá trình tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi và ứng dụng đó bản thân tôi đã tìm ra một số biện pháp hữu ích góp phần trong việc nâng cao chất lượng bộ môn Tin học lớp 6.

    Để nâng cao chất lượng môn tin học nói chung và tin học 6 nói riêng tôi đã đăng kí nghiên cứu và thực hiện sáng kiến kinh nghiệm “Nâng cao chất lượng dạy học môn tin học 6 bằng phương pháp dạy học trực quan”, đề ra một số biện pháp về việc sử dụng phương pháp dạy học trực quan với đồ dùng dạy học đó là máy chiếu (Projecter hoặc Tivi màn hình lớn), các phần mềm dạy học (Netop school, Violet..), tranh ảnh, biểu tượng… mà bản thân tôi đã nghiên cứu và áp dụng thành công tại đơn vị trường THCS mà tôi đang công tác.

    Qua các năm giảng dạy bộ môn Tin học lớp 6, tôi nhận thấy rằng nếu truyền thụ tri thức chỉ thông qua lời nói thì học sinh cảm thấy mệt mỏi, không có hứng thú trong học tập, việc tiếp thu bài giảng của học sinh không cao. Khi sử dụng phương tiện trực quan trong bài giảng giúp học sinh dễ dàng tiếp thu và tham gia bài giảng một cách tích cực và chủ động. Phương tiện dạy học vừa điều khiển nhận thức một cách sinh động, vừa là nguồn tri thức phong phú để lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng. Phương pháp dạy học trực quan là một trong những phương pháp dạy học tích cực giúp học sinh dễ dàng chiếm lĩnh kiến thức thông qua quan sát. Tuy vậy, trong quá trình dạy học một số học sinh vẫn chưa chú ý đến sự hướng dẫn của giáo viên nên việc chiếm lĩnh kiến thức vẫn còn thụ động. Vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên phải biết kết hợp các phương pháp dạy học một cách thích hợp, linh hoạt khai thác và vận dụng tốt các phương tiện sẽ kích thích được hứng thú tư duy của học sinh.

    Việc khai thác tốt các hình ảnh và mô hình đưa ra thông qua phương pháp dạy học trực quan trong quá trình dạy học không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức mới nhanh hơn, hiệu quả hơn mà còn rèn luyện kỹ năng quan sát, phân tích, dự đoán, so sánh, khái quát, kỹ năng vận dụng để học sinh nâng cao kỹ năng kiến thức và có hứng thú hơn đối với môn học.

    Một thực tế khác là ý thức học tập của một số học sinh chưa cao, chưa thực sự hứng thú trong học tập, lười hoạt động, không tích cực tự giác, ý thức tự học, tự rèn luyện yếu hoặc chỉ biết đến máy tính như một công cụ giải trí.

    Qua điều tra khảo sát về cả lí thuyết và thực hành tôi tiến hành đã thu được kết quả như sau:

    Qua kết quả khảo sát thì đa số các em nắm kiến thức lí thuyết còn yếu, các em hay quên và chưa vận dụng vào thực hành được nếu không có sự hướng dẫn của giáo viên.

    Tỉ lệ yếu kém còn cao: chiếm 37%

    Từ thực tế trên và bản thân tôi là một giáo viên dạy bộ môn Tin học luôn suy nghĩ phải đưa ra những giải pháp như thế nào để các em nắm lí thuyết chắc hơn nhớ lâu hơn và vận dụng vào thực hành tốt hơn. Sau một thời gian suy nghĩ tiến hành thực nghiệm tôi đã thu được những kết quả rất tốt sau đây tôi xin đề ra một số giải pháp sử dụng các dụng cụ trực quan trong dạy học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Tin học lớp 6.

    3. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới

    Việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này vào thực tiễn giảng dạy góp phần nâng cao chất lượng học tập bộ môn Tin học của học sinh, giúp các em vừa ôn luyện được kiến thức cũ, phát hiện nội dung kiến thức mới. Từ đó các em lĩnh hội tri thức một cách nhẹ nhàng, hứng thú, say mê học tập, rèn cho học sinh óc tư duy sáng tạo nhằm nâng cao chất lượng bộ môn.

    Đề tài tập trung giới thiệu và giải quyết những vấn đề về “Các phương pháp dạy học trực quan ở môn tin học 6”

    Năm học: 2022 – 2022

    – Môn Tin học lớp 6.

    – Học sinh khối 6

    V. Phương pháp nghiên cứu

    – Tổng hợp điều tra về mức độ học sinh thích học, mức độ học sinh hiểu bài trong các giờ học có sử dụng dụng cụ trực quan

    – Kiểm tra việc học tập của học sinh (bài cũ, bài mới).

    – Sử dụng bảng biểu đối chiếu.

    – Kiểm tra chất lượng sau giờ học.

    – Tận dụng tối đa các buổi học thực hành để các em được làm quen và luyện tập thật tốt các bài học lý thuyết.

    Hiện nay việc sử dụng các dụng cụ trực quan giúp cho giáo viên xây dựng tư liệu tương đối phong phú. Việc khai thác tư liệu có thể từ nhiều nguồn như: Khai thác thông tin tranh ảnh từ mạng Internet, từ sách báo tài liệu, tạp chí, băng hình, phim, các phần mềm,…

    – Trao đổi, chia sẻ, rút kinh nghiệm

    Do nhiều yếu tố nên phạm vi nghiên cứu và thực hiện là với môn Tin học tại 3 lớp 6A, 6B và 6C của trường THCS nơi tôi đang công tác trong năm học 2022 – 2022.

    NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TIN HỌC 6 BẰNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRỰC QUAN I. CƠ SỞ LÍ LUẬN

    Việc đổi mới chương trình sách giáo khoa đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương pháp dạy học. Chỉ có đổi mới căn bản phương pháp dạy học và chúng ta có thể tạo được sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người năng động, sáng tạo có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới hướng tới nền kinh tế tri thức.

    Trong vài thập kỷ gần đây, đã có sự bùng nổ về thông tin hay gọi là thời đại thông tin. Cùng với việc sáng tạo ra hệ thống công cụ mới, con người cũng đã tập trung trí tuệ từng bước xây dựng ngành khoa học tương ứng để đáp ứng những yêu cầu khai thác tài nguyên thông tin. Trong bối cảnh đó, ngành Tin học được hình thành và phát triển thành một ngành khoa học độc lập với các nội dung, mục tiêu, phương pháp nghiên cứu riêng và ngày càng có nhiều ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực hoạt động của xã hội loài người.

    Tin học được đưa vào nhà trường, vào giáo dục của nước ta nhằm giúp học sinh chúng ta theo kịp với trình độ phát triển của khu vực và thế giới. Đưa Tin học vào nhà trường nói chung và THCS nói riêng là một việc làm cần thiết để các em làm quen và tiếp cận với công nghệ khoa học tiên tiến.

    Hoạt động nhận thức của con người là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Đối với học sinh lớp 6 khi học bộ môn Tin học này không thể làm trái với nguyên lý nhận thức đó. Việc dạy tin học trong nhà trường hiện nay đối với nước ta không phải là dễ, vì Tin học nó gắn liền với một công cụ riêng của môn học là máy tính. “Tin học là ngành khoa học nghiên cứu các quá trình có tính chất thuật toán nhằm mô tả biến đổi thông tin. Là khoa học dựa trên máy tính điện tử nghiên cứu cấu trúc, các tính chất chung của thông tin, các quy luật và phương pháp thu thập, lưu trữ, tìm kiếm thông tin, xử lý thông tin một cách tự động chính xác qua công cụ là máy tính điện tử”. Vậy làm thế nào để cho học sinh dễ hiểu một cách nhanh chóng chính xác và có kỹ năng thực hành là một nhiệm vụ rất quan trọng của người giáo viên dạy Tin học hiện nay.

    Để giảng dạy tốt bộ môn Tin học có chất lượng, đạt kết cao thì người thầy giáo ngoài tin thông về bộ môn Tin học, cần nắm chắc phương pháp dạy học trực quan. Phương pháp dạy học trực quan là phương pháp dạy học mà từ các hình ảnh, hoạt động trực quan đến tư duy trừu tượng hay còn gọi trực quan hoá thông tin thông qua các công cụ trực quan.

    II/ CƠ SỞ THỰC TIỄN

    Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức hướng dẫn các hoạt động độc lập để học sinh tự chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu chương trình. Trên lớp, học sinh hoạt động là chính nhưng khi soạn giáo án, giáo viên phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện trên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng tranh luận sôi nổi của học sinh. Để làm được điều này thì đòi hỏi người giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên.

    Khó khăn lớn nhất hiện nay ở các trường học khi áp dụng phương pháp dạy học trực quan vào giảng dạy vẫn là trang thiết bị nghe nhìn, phương tiện dạy học… còn nhiều thiếu thốn và bất cập. Trường THCS nơi tôi đang công tác tuy đã có được sự quan tâm hỗ trợ tích cực của các cấp lãnh đạo và phụ huynh học sinh nhưng đến nay vẫn chưa có phòng học bộ môn, phòng máy vi tính đã có số lượng tương đối đầy đủ nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu do sĩ số đông (30-35 HS/lớp). Để áp dụng phương pháp này vào dạy Tin học thì đòi hỏi phải có đèn chiếu (máy chiếu qua đầu – Over head) hay đèn chiếu (Projecter), máy vi tính đó là chưa kể đến việc nếu áp dụng đồng loạt thì mỗi lớp cũng đều phải được trang bị.

    Tin học là một môn học đã được đưa vào giảng dạy tại trường THCS nơi tôi đang công tác nhưng so với các nơi khác cũng có thể nói là đang còn chậm, đặc biệt là các em lớp 6 cũng đã tiếp xúc với bộ môn này từ tiểu học mặc dù các em rất thích máy tính nhưng là để chơi các trò chơi trên máy chứ chưa ý thức được tầm quan trọng của bộ môn nên chất lượng học tập còn hạn chế. Đây là bộ môn đặc trưng muốn đạt chất lượng cao đòi hỏi các em phải tiếp xúc với máy tính nhiều nhưng thời lượng mỗi tuần chỉ có 2 tiết trên lớp thì các em chưa thể thực hành hết các kiến thức đã học mà nếu có thực hành hết thì sẽ chóng quên. Một thực tế khác là ý thức học tập của một số học sinh không cao, không hứng thú trong học tập, lười hoạt động, không tích cực tự giác, ý thức tự học, tự rèn luyện yếu.

    III. THỰC TRẠNG KHI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

    * Một số thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài:

    1. Thuận lợi: * Nhà trường:

    – Tuy môn Tin học mới chỉ là môn học tự chọn nhưng nhà trường đã tạo điều kiện để học sinh có thể học từ khối lớp 6, tạo điều kiện sắm sửa máy móc, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học môn Tin học.

    * Giáo viên:

    Giáo viên được đào tạo vượt chuẩn chuyên ngành về tin học để đáp ứng yêu cầu cho dạy và học môn tin học trong bậc THCS.

    * Học sinh:

    Vì là môn học trực quan, sinh động, môn học khám phá những lĩnh vực mới nên học sinh rất hứng thú học, nhất là những tiết thực hành.

    Đời sống kinh tế gia đình của một số em học sinh ở nhà đã có máy vi tính nên cũng có những thuận lợi nhất định đối với môn học.

    2. Khó khăn: * Nhà trường:

    Nhà trường đã có một phòng máy vi tính để cho học sinh học nhưng vẫn còn hạn chế về số lượng cũng như chất lượng, mỗi ca thực hành có tới 3 em ngồi cùng một máy nên các em không có nhiều thời gian để thực hành làm bài tập một cách đầy đủ. Hơn nữa nhiều máy cấu hình máy đã cũ, chất lượng không còn tốt nên hay hỏng hóc, ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng học tập của học sinh.

    * Giáo viên:

    Môn Tin học mới chỉ là môn tự chọn trong chương trình bậc THCS nên chương trình và sự phân phối chương trình bước đầu chưa có sự thống nhất và đang hoàn chỉnh. Hơn nữa khi thực hành, các máy móc chất lượng kém thường gặp sự cố, trục trặc dẫn đến học sinh thiếu máy, không thực hành được.

    * Học sinh:

    Đa số các em học sinh chỉ được tiếp xúc với máy vi tính ở trường là chủ yếu, do đó sự tìm tòi và khám phá máy vi tính với các em còn hạn chế, nên việc học tập của học sinh vẫn còn mang tính chậm chạp.

    IV. MÔ TẢ GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI 1. Các biện pháp tiến hành:

    1.1. Biện pháp 1: Trực quan hoá thông tin dạy học.

    Trực quan hoá thông tin dạy học là một quá trình thông qua đó người học tri giác các tài liệu học tập dưới dạng các biểu trưng hình ảnh, âm thanh, mô hình, vật thật… với sự hỗ trợ của dụng cụ trực quan.

    Dụng cụ trực quan được sử dụng trong môi trường học tập như trong dạy học, giáo dục qua mạng dựa trên cơ sở máy tính… dụng cụ trực quan có thể được sử dụng hiệu quả để giảng dạy các sự kiện, các chỉ dẫn, các quá trình và các khái niệm trừu tượng mà chúng thường khó nhớ, khó hiểu. Các mục tiêu dạy học có thể thực hiện tốt nếu biết phát huy thông qua công cụ trực quan.

    Có thể nói dụng cụ trực quan có nhiều thuận lợi hơn hẳn so với dạy học bằng ngôn ngữ: Chứa nhiều thông tin và tổ chức thuận lợi các thông tin trong cùng một vị trí, làm đơn giản các khái niệm, làm sáng tỏ các chi tiết của một khái niệm dựa trên ngôn ngữ trừu tượng. Đặc biệt là tranh ảnh trực quan làm tăng khả năng tiếp nhận và ghi nhớ trong học tập đây là một trong những mục tiêu hàng đầu của giáo dục.

    Từ những ưu điểm trên, tôi nhận thấy nếu áp dụng vào dạy học nhờ dụng cụ trực quan là đèn chiếu, tranh ảnh, biểu tượng…. vào dạy Tin học có hiệu quả rất cao.

    Trước khi sử dụng dụng cụ trực quan cho một bài học thì trước hết giáo viên cần xác định bài nào cần dụng cụ trực quan và những dụng cụ trực quan đó là gì phục vụ cho những đơn vị kiến thức nào trong bài học.

    Tiếp đến là công tác chuẩn bị với dụng cụ trực quan.

    Ví dụ dạy bài: “Máy tính và phần mềm máy tính” cần chuẩn bị những đồ dùng trực quan khi giới thiệu cấu trúc chung của máy tính điển tử như: bộ xử lí trung tâm (CPU), thanh RAM, các ổ đĩa các thiết bị lưu giữ thông tin như USB, đĩa mềm, đĩa CD, DVD… hay hình ảnh của một số loại máy vi tính trong thực tế bằng cách chụp bởi tranh ảnh hoặc các dụng cụ trực quan thiết thực như thế HS mới nhớ lâu và thấy trong thực tế có thể gọi tên dụng cụ trực quan chính xác.

    Đèn chiếu tương đối dễ sử dụng và việc chuẩn bị cho việc dạy học với đèn chiếu tương đối dễ dàng, ít tốn thời gian. Tuy nhiên để sử dụng đèn chiếu thì phải có sự chuẩn bị kiến thức và các nội dung kiến thức cần trình chiếu. Nội dung đưa lên máy chiếu phải rõ ràng chính xác và phải có máy vi tính.

    Sau bài dạy tôi tiến hành kiểm tra nhận thức của học sinh bằng hình thức kiểm tra 15 phút. Kết quả thu được:

    * Hiệu quả của biện pháp 1: Sau khi áp dụng một số ví dụ vào đề tài, số học sinh biết phân biệt các thiết bị của máy tính tăng lên rõ rệt.

    Tỉ lệ khá giỏi đã được nâng lên so với chất lượng khảo sát đầu năm học: Tăng 26%

    Tỉ lệ yếu giảm: 12 %

    Tỉ lệ kém còn: 0%

    Tuy nhiên một số học sinh vẫn chưa xác định đúng các vị trí thiết bị, …. Như vậy bước đầu việc vận dụng kiến thức, kĩ năng của các em vào làm bài tập thực hành đã có hiệu quả rõ rệt.

    1.2. Biện pháp 2: Tạo những tác nhân kích thích trực quan thông qua biểu trưng ngôn ngữ, biểu trưng đồ họa, biểu trưng tranh ảnh.

    Muốn sử dụng phương pháp dạy học này thành công thì việc đầu tiên người thầy phải làm là thiết kế các thông điệp trực quan đòi hỏi nhiều sức lực và trí lực nhưng lại là công việc đem lại nhiều lợi ích. Việc thiết kế các tài liệu dạy học trực quan mới có thể tạo nên sự thay đổi, và khi người học chú ý sẽ cho nhiều điều bổ ích. Người thiết kế phải quan tâm tới khía cạnh giảng dạy, tính trực giác và đặc biệt quan tâm tới những kĩ năng học tập của học sinh trong nghiên cứu và thực hành. Người giáo viên phải biết phân tích chọn lựa các loại hình trực quan sao cho phù hợp với nội dung bài học.

    1.2.1 Dạy học trực quan bằng biểu trưng ngôn ngữ.

    Biểu trưng ngôn ngữ được tạo ra từ chữ viết dưới dạng một từ đơn lẻ hoặc câu hoàn chỉnh dùng đặt tên đối tượng, định nghĩa, mô tả đối tượng.

    Thường khi dạy các bài học lý thuyết tôi thường sử dụng loại biểu trưng trực quan bằng ngôn ngữ.

    Ví dụ: Dạy bài “Máy tính và phần mềm máy tính” giáo viên chiếu sơ đồ cấu trúc chung của máy tính điện tử lên màn hình rồi yêu cầu học sinh quan sát và cho biết máy tính điện tự gồm những phần nào. Sau đó giáo viên chỉ vào từng đối tượng trên sơ đồ và giới thiệu lần lượt các khái niệm của các thành phần trong cấu trúc máy tính.

    Ví dụ dạy bài “Định dạng văn bản”, thì đưa lên màn hình các bước thực hiện định dạng Font như sau:

    Bước 1. Chọn khối văn bản cần định dạng

    Bước 3. Hộp thọai Font xuất hiện chọn Font

    + Font: chọn phông chữ

    + Font Style: kiểu chữ

    + Size : cở chữ

    + Font color: màu chữ

    + Underline Style: đường gạch chân

    + Underline Color: màu đường gạch chân

    + Effects: các hiệu ứng

    + Preview: khung hiển thị

    ? Nêu các bước để định dạng văn bản phông chữ, kiểu chữ, cỡ chữ bằng menu lệnh (HS chỉ cần quan sát màn hình và nêu được các bước cần định dạng phông chữ…)

    ? Thao tác quan trọng nhất trong định dạng văn bản là gì (HS chọn phần văn bản cần định dạng)

    Chẳng hạn khi dạy bài “Làm quen với soạn thảo văn bản” giáo viên cần cho học sinh làm quen với việc sao chép, di chuyển, cắt (xoá)… nhanh qua các biểu tượng.

    Giáo viên đưa các biểu tượng

    Tương tự bài “Chỉnh sửa văn bản” giáo viên đưa các biểu tượng

    ? Hãy nêu tên các biểu tượng trên và tính năng của các biểu tượng

    Dạy bài “Định dạng văn bản” ngoài việc định dạng văn bản bằng menu lệnh giáo viên cần cho học sinh định dạng văn bản thông qua các biểu tượng sau.

    HS nhìn vào biểu tượng và nêu chức năng của các biểu trượng từ đó các em nắm chắc hơn kiến thức lí thuyết để vận dụng vào làm thực hành tốt hơn.

    * Dạy bài “Trình bày trang văn bản và in” ngoài việc dùng lệnh in, xem văn bản bằng menu lệnh thì có thể in, xem văn bản thông qua các biểu tượng sau.

    1.2.3 Dạy học trực quan bằng biểu trưng hình ảnh

    Giáo viên cần giải thích cho học sinh: Có rất nhiều kiểu dáng và hình thức khác nhau nhưng cấu tạo thì tương tự nhau, chuột có 3 nút bấm chính. Điều này lam cho các em dễ dàng nhận biết được chuột máy tính mà các em không bị ngỡ ngàng khi gặp phải loại chuột có kiểu dáng khác nhau.

    Thiết bị nhớ USB cũng có nhiều kiểu dán khác nhau

    Đặc biết là khi giới thiệu về một số thiết bị như Ram, Chíp, đĩa cứng, main của máy tính, nếu không có hình ảnh trực quan thì học sinh sẽ không hiểu được và chỉ hiểu mơ hồ, làm cho các em không có hứng thú học, giáo viên có thể đưa một số hình ảnh để học sinh nhận biết.

    Ram máy tính

    Chíp máy tính

    Đĩa cứng

    Main máy tính

    1.2.4. Kết hợp các loại hình trực quan.

    Giữa các loại hình trực quan, người thiết kế có thể kết hợp đa dạng các loại biểu trưng trực quan ngôn ngữ, hình ảnh, đồ họa với nhau. Đối với hầu hết học sinh ba loại này bao gồm nhiều mức độ khác nhau rất có ích trong học tập.

    Ví dụ: Khi dạy bài “Máy tính và phần mềm máy tính” ta có thể sử dụng kết hợp giữa biểu trưng hình ảnh và biểu trưng ngôn ngữ.

    1.3: Biện pháp 3: Xây dựng các kĩ năng, thực hành.

    Giáo viên yêu cầu:

    – Quan sát hình ảnh và cho biết ở hình trên đâu là thiết bị xuất, nhập,. .

    * Dạy bài “Làm quen với soạn thảo văn bản”, “Tổ chức thông tin trong máy tính”, “Định dạng văn bản”… ta có thể sử dụng kết hợp cả ba hình thức trực quan

    * Dạy bài “Định dạng văn bản” giáo viên chiếu hình ảnh sau và kết hợp cho học sinh thực hiện định dạng phông chữ, cỡ chữ, kiểu chữ… trên máy tính thì học sinh dể tiếp thu bài và ghi nhớ lâu hơn.

    * Hiệu quả của biện pháp 2: Sau khi áp dụng biện pháp tạo những tác nhân kích thích trực quan thông qua biểu trưng ngôn ngữ, biểu trưng đồ họa, biểu trưng tranh ảnh học sinh nhận biết các biểu tượng được nhanh hơn, phân biệt và ghi nhớ các biểu tượng, các nút lệnh điều khiển được lâu hơn. Từ đó học sinh có thể sử dụng các kiến thức đã học để thực hành cũng như vận dụng vào thực tiễn tốt hơn.

    Các bước sao chép khối

    1.3.1. Kĩ năng nhận biết tính năng các loại biểu tượng.

    Sau một tiết học tôi thường củng cố lại cho học sinh những cái vừa học bằng các dạng bài tập trắc nghiệm giúp học sinh nắm lại bài, học sinh có thể phân biệt được lệnh, các biểu tượng và nắm ý nghĩa của các biểu tượng.

    Ví dụ: Dạy bài “Làm quen với soạn thảo văn bản”, Nối các ý của cột A, B, C, D sao cho hợp lý.

    A

    B

    C

    D

    Ctrl + O

    Ctrl + N

    Ctrl + S

    Alt + F4

    File Open

    File Save

    File Exit

    File New

    Tạo tập tin văn bản mới

    Đóng tập tin văn bản

    Mở văn bản đã có

    Lưu văn bản

    Các bước chuyển khối

    * Bài “Chỉnh sửa văn bản”: Dùng các từ, cụm từ điền vào chổ trống cho phù hợp.

    (1) Edit Copy

    (2) Edit Cut

    (3) Edit Paste

    (4) Delete

    (5) Ctrl + V

    (6) Ctrl + C

    (7) Ctrl + X

    Bước1. Chọn khối

    Các bước xoá khối

    Bước3. Đưa con trỏ đến vị trí mới.

    Bước1. Chọn khối

    Bước3. Đưa con trỏ đến vị trí mới.

    * Bài học kinh nghiệm:

    Bước1. Chọn khối

    2. Kết quả:

    1.3.2. Rèn luyện kĩ năng thao tác trên máy

    Để việc học Tin học của học sinh đạt kết quả tốt, chất lượng cao, học sinh nắm chắc bài, biết thao tác trên máy tính cần cho học sinh học tại phòng máy, học sinh vừa nghe giáo viên giảng bài vừa ghi bài và thực hiện trên máy tính theo từng bước một. Với cách tổ chức học như thế này kết quả cho thấy học sinh nắm chắc bài học, đa số các em đều thực hiện được các thao tác thực hành.

    2.1. Khả năng áp dụng

    * Hiệu quả của biện pháp 3: Sau khi áp dụng biện pháp xây dựng các kĩ năng, thực hành học sinh dễ dàng phân biệt được các biểu tượng các nút lệnh mà vốn học sinh rất khó nhớ và dễ nhầm lẫn. Tránh được hiện tượng học sinh khi thực hành phải mò mẫm các công cụ, các biểu tượng khi sử dụng phần mềm để làm bài tập thực hành cũng như vận dụng vào thực tiễn.

    Các phần mềm hỗ trợ quản lý phòng máy giúp cho giáo viên và học sinh dễ dàng giao tiếp và trao đổi thông tin với nhau bằng cách quan sát nhiều màn hình làm việc của học sinh cùng lúc hay truyền tải hình ảnh từ máy giáo viên đến từng máy học sinh. Đây là biện pháp hay đã được sử dụng ở một số nước trên thế giới. Tuy nhiên, hiện tại việc áp dụng các phần mềm này chưa thật sự đem lại hiệu quả cao do điều kiện bản quyền hay một số yêu cầu khác.

    Để đạt hiệu quả trong mỗi tiết học trên lớp, giáo viên sử dụng triệt để mạng thông tin trên kênh hình (tranh vẽ, ảnh chụp, đồ dùng trực quan, phần mềm dạy học ….).

    Sau mỗi lần thử nghiệm nên có một thời gian nhìn nhận đánh giá kết quả và rút kinh nghiệm cho lần sau.

    Qua phần kiểm tra đánh giá khả năng nhận thức của học sinh kết quả tương đối khả quan. Lần kiểm tra sau kết quả cao hơn lần kiểm tra trước.

    2.2. Lợi ích kinh tế- xã hội

    Chứng tỏ học sinh đã có nhiều tiến bộ, tuy nhiên tỉ lệ học sinh mắc những sai sót còn khá cao.

    Phương pháp dạy học trực quan cùng với những phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực khác giúp nâng cao chất lượng dạy và học, đưa chất lượng giáo dục đi lên. Đặc biệt trong bộ môn tin học, dạy học trực quan là rất cần thiết và đóng góp không nhỏ vào kết quả giảng dạy.

    Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có một số khó khăn:

    -Người giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới tổ chức, hướng dẫn được tốt các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên.

    -Trang thiết bị nghe nhìn, phương tiện dạy học… còn nhiều hạn chế.

    Trước khi đề tài thực hiện Sau khi thực hiện đề tài

    -Các tài liệu, tư liệu minh họa, trình bày, tranh ảnh cần tìm hiểu sưu tầm và cập nhật thường xuyên để theo kịp thời đại.

    Biểu đồ so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện đề tài C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ I KẾT LUẬN

    Qua một thời gian thực hiện ứng dụng phương pháp dạy học trực quan vào dạy học tin học lớp 6 tôi nhận thấy:

    – Việc ứng dụng giúp giáo viên truyền thụ kiến thức cho học sinh một cách tích cực và trực quan, tiết kiệm thời gian trong tiết dạy lí thuyết từ đó HS có thời gian thực hành nhiều hơn và trong quá trình thực hành học sinh nhớ kiến thức lâu hơn

    – Đối với học sinh tôi nhận thấy học sinh học tập tích cực hơn, hào hứng hơn, chú ý hơn, tham gia xây dựng bài sôi nổi hơn. Đặc biệt các em ghi nhớ kiến thức lâu hơn, chất lượng đi lên rõ rệt.

    2. Những triển vọng trong việc vận dụng và phát triển giải pháp.

    Sau khi áp dụng các biện pháp trên vào các tiết dạy thể hiện chất lượng các mức như sau:

    Kết quả cụ thể:

    Qua thời gian nghiên cứu đề tài trong năm học bằng nhiều phương pháp khác nhau, qua dự giờ đồng nghiệp và dạy thể nghiệm. Tôi đã tìm ra một số kinh nghiệm áp dụng vào trong giảng dạy và thu được những kết quả nhất định. Trong giờ học các em chú ý hơn, tích cực hơn, đã kích thích được khả năng tư duy sáng tạo, tự tin của các em, các em nắm bài một cách chủ động không máy móc. Kết quả số học sinh giỏi, khá tăng lên, số học sinh trung bình, yếu, kém giảm đi rõ rệt.

    II. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM

    1.Những điều kiện, kinh nghiệm áp dụng, sử dụng giải pháp.

    Dạy học là một nghệ thuật. Sử dụng tốt phương pháp dạy học trực quan là con đường tốt nhất để đạt được mục đích yêu cầu tiết dạy trong đó phương tiện dùng công cụ trực quan đặc biệt có hiệu quả tốt giúp người học hiểu và nắm chắc thông tin cần thiết. Việc sử dụng dụng cụ trực quan vào quá trình dạy học là cần thiết đối với mỗi giáo viên vì nó mang lại hiệu suất, hiệu quả của giáo dục cao.

    Muốn học sinh học tốt các môn học nói chung và môn Tin học nói riêng thì điều đầu tiên người giáo viên phải tạo được ở học sinh niềm say mê, hứng thú học tập bộ môn. Giờ học phải thu hút sự chú ý ham học hỏi của học sinh, tạo cho các em lòng tin vào khả năng của mình, nhiệt tình ham mê học tập.

    Qua một thời gian nghiên cứu đề tài bằng nhiều phương pháp khác nhau, qua dự giờ của các đồng nghiệp, qua dạy thể nghiệm, đối chứng, tôi đã tìm ra được một số kinh nghiệm áp dụng vào trong giảng dạy và thu được những kết quả nhất định, trong giờ học các em đã chú ý hơn, tích cực hơn, đã kích thích phát huy được khả năng tư duy, tính tích cực của các em, các em nắm bài một cách chủ động không máy móc.

    Việc sử dụng phương pháp trực quan vừa giúp giáo viên dễ dàng tổ chức, hướng dẫn học sinh học tập, vừa giúp học sinh dễ dàng hiểu bài và khắc sâu kiến thức. Trong quá trình dạy học môn tin học hiện nay, kênh hình được coi là một công cụ, một phương tiện cho việc dạy và học môn tin học, phương pháp mà người giáo viên tin học sử dụng trong quá trình dạy học cũng phải dựa trên cơ sở kênh hình, có như vậy mới phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh. Do vậy, kết quả học tập cuối năm số học sinh khá giỏi tăng lên, số học sinh yếu giảm rõ rệt.

    Tóm lại, việc áp dụng đề tài này đã góp phần một cách tích cực nâng cao chất lượng học tập bộ môn Tin học của học sinh.

    Để áp dụng thành công đề tài này vào thực tiễn môn Tin học lớp 6, giáo viên phải thật sự hiểu rõ tầm quan trọng của phương pháp trực quan trong dạy học.

    III. Khuyến nghị

    Kinh nghiệm thực tiễn dạy học và kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy để nâng cao chất lượng dạy học cần có các điều kiện sau:

    – Tạo không khí học tập tích cực, giáo viên phải tạo ra mỗi giờ học là một niềm vui niềm say mê trong học tập của học sinh. Giáo viên luôn tạo ra những thách thức vừa sức, tổ chức những họat động tự lực của học sinh trong từng tiết học.

    Tôi xin chân thành cảm ơn!

    – Kết hợp nhiều phương pháp dạy học với phương pháp dạy học trực quan có nhằm gây hứng thú với học sinh và giúp học sinh chủ động nắm bắt kiến thức.

    – Qua mỗi lần thử nghiệm nên có một thời gian nhìn nhận đánh giá kết quả và rút kinh nghiệm cho lần sau, biết cách khai thác trí lực của học sinh theo hướng tích cực, chủ động thì việc tiếp thu kiến thức, rèn luyện lỹ năng của học sinh sẽ trở nên thuận lợi và có kết quả hơn.

    – Các thiết bị dạy học rất có ý nghĩa giáo viên phải luôn phát huy hết tác dụng của các thiết bị dạy học, đặc biệt là dụng cụ trực quan có như vậy mới gây được hứng thú học tập của các em. Bên cạnh mỗi tiết dạy giáo viên luôn nỗ lực chuẩn bị các đồ dùng trực quan đầy đủ phù hợp với nội dung bài dạy từ đó vậy giáo viên mới tạo được sự hứng thú bộ môn cho các em.

    Qua quá trình thực hiện giảng dạy bản thân tôi có một số khuyến nghị sau: Đề nghị nhà trường trang bị thêm các trang thiết bị học tập (bàn, ghế, máy vi tính, …) ở phòng thực hành để học sinh có đủ điều kiện học tập tập tốt hơn.

    – Sách giáo khoa và sách giáo viên lớp: 6 – NXB Giáo dục

    – Các bài giảng điện tử ở các trang web: http://diendan.bachkim.vn; http://baigiang.edu.vn;

    – Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng môn Tin học THCS – NXB Giáo dục

    – Tài liệu tập huấn Đổi mới phương pháp dạy học môn Tin – NXB Giáo dục

    – Sách bồi dưỡng Sinh viên cao đẳng sư phạm và giáo viên THCS về đổi mới chương trình và SGK Môn Tin học – NXB Hà Nội

    – Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và SGK – NXB ĐH Sư phạm

    – Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS Môn Tin học – NXB giáo dục.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Tiểu Học
  • Chuyên Đề Dạy Học Theo Định Hướng Giáo Dục Stem Bằng Cách Thiết Kế Một Số Chủ Đề Dạy Học Tiêu Biểu Trên Chương Trình Môn Hóa Thpt
  • Cách Soạn Giáo Án Stem Hóa Học Hiệu Quả|Makeblock Việt Nam|Note
  • Hiểu Đúng Về Dạy Học Theo Phương Pháp Stem
  • Dạy Học Stem Môn Hóa Phải Có Giáo Án Stem Hóa Học
  • Phương Pháp Dạy Học Toán Và Tiếng Việt Ở Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Môn Tiếng Việt Ở Thcs
  • Bài Giảng Các Nguyên Tắc Và Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Sử Dụng Phương Pháp Đặt Và Giải Quyết Vấn Đề Trong Dạy Học Toán Ở Trường Thcs
  • Rèn Luyện Năng Lực Phát Hiện Và Giải Quyết Vấn Đề Cho Học Sinh Tiểu Học Thông Qua Dạy Toán
  • Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Phát Hiện Và Giải Quyết Vấn Đề Trong Dạy Học Hình Học Lớp 4
  • Ban Đào tạo – Đại học Huế
    Số truy cập: 76335

    ĐỀ CƯƠNG MÔN THI TUYỂN SINH CAO HỌC

    MÔN: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN VÀ TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC

    Cho chuyên ngành Giáo dục học (Giáo dục tiểu học)

    1. YÊU CẦU

    – Nắm vững các nguyên tắc và phương pháp dạy học môn Toán và tiếng Việt ở tiểu học.

    – Có kiến thức và kĩ năng vận dụng phương pháp dạy học các mạch kiến thức trong chương trình môn Toán ở tiểu học.

    – Có kĩ năng rèn luyện và phát triển tư duy của học sinh thông qua dạy học giải toán.

    – Có kiến thức và kĩ năng vận dụng phương pháp dạy học các phân môn Tiếng Việt.

    2. NỘI DUNG Phần 1 : PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN A. NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN Ở TIỂU HỌC I. Một số nguyên tắc chủ yếu để lựa chọn và vận dụng hợp lí các phương pháp dạy học Toán ở tiểu học

    1. Kết hợp dạy học toán với giáo dục

    2. Đảm bảo tính khoa học và tính vừa sức

    3. Đảm bảo tính trực quan và tính tích cực, tự giác

    4. Đảm bảo tính hệ thống và tính vững chắc

    5. Đảm bảo sự cân đối giữa học và hành

    II. Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học Toán ở tiểu học

    1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đổi mới phương pháp dạy học

    2. Những định hướng chính trong đổi mới phương pháp dạy học Toán ở tiểu học

    3. Phương pháp dạy học tích cực: Bản chất và đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực

    III. Vận dụng các phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh tiểu học qua môn Toán 1. Các phương pháp truyền thống trong dạy học Toán ở tiểu học

    1.1. Đặc điểm của các phương pháp dạy học truyền thống

    1.2. Các phương pháp truyền thống thường được vận dụng trong dạy học toán ở Tiểu học và khả năng khai thác theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh

    2. Một số xu hướng dạy học mới theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh thường được vận dụng trong dạy học toán

    2.1. Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

    2.2. Dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo

    2.3. Dạy học theo quan điểm của lý thuyết tình huống

    2.4. Dạy học hợp tác

    3. Một số các hình thức tổ chức dạy học thường được vận dụng trong dạy học toán theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh B. DẠY HỌC CÁC MẠCH KIẾN THỨC TOÁN Ở TIỂU HỌC I. Dạy học Số học ở tiểu học

    1. Phân tích các mục tiêu dạy học Số học ở tiểu học. Cho ví dụ về việc thực hiện các mục tiêu đó trong một bài học cụ thể.

    2. Phân tích các đặc điểm cấu trúc nội dung Số học ở tiểu học.

    3. Trình bày các yêu cầu cơ bản về kiến thức và kỹ năng khi dạy học Số tự nhiên, số thập phân và phân số. Cho ví dụ để minh họa.

    4. Dạy học các khái niệm số: Số tự nhiên, phân số, số thập phân (các các định nghĩa, cách trình bày của SGK, yêu cầu cần đạt được). Cho các ví dụ để minh họa.

    5. Trình bày các hoạt động chủ yếu khi dạy học một phép tính Số học. Cho ví dụ minh họa khi dạy học phép cộng, trừ, nhân, chia trên các số tự nhiên, số thập phân, phân số.

    II. Dạy học Các yếu tố hình học ở tiểu học

    1. Phân tích các mục tiêu của dạy học Các yếu tố hình học ở tiểu học. Cho ví dụ về việc thực hiện các mục tiêu đó trong một bài học cụ thể.

    2. Phân tích các đặc điểm cấu trúc nội dung Các yếu tố hình học ở mỗi lớp.

    3. Trình bày các lưu ý về mặt phương pháp khi dạy học Các yếu tố hình học ở tiểu học. Cho các ví dụ để minh họa.

    4. Dạy học các khái niệm và quy tắc hình học ở tiểu học: Các hoạt động chủ yếu của nội dung bài học, những lưu ý cần thiết khi dạy học, ví dụ minh họa.

    III. Dạy học Đại lượng và đo đại lượng ở tiểu học

    1. Phân tích các mục tiêu của dạy học Đại lượng và đo đại lượng ở tiểu học. Cho ví dụ về việc thực hiện các mục tiêu đó trong một bài học cụ thể.

    2. Phân tích các đặc điểm cấu trúc nội dung Đại lượng và đo đại lượng ở tiểu học.

    3. Quy trình dạy học các biểu tượng và phép đo đại lượng.

    IV. Dạy học Giải toán có lời văn ở tiểu học

    1. Phân tích các mục tiêu của dạy học Giải toán có lời văn ở tiểu học. Cho ví dụ về việc thực hiện các mục tiêu đó trong một bài học cụ thể.

    2. Phân tích các đặc điểm cấu trúc nội dụng Giải toán có lời văn ở tiểu học.

    3. Quy trình dạy học Giải toán có lời văn ở tiểu học

    4. Thực hành giải toán ở tiểu học: Giải bài toán theo nhiều cách, hướng dẫn học sinh phân tích bài toán, dự kiến những khó khăn và sai lầm mà học sinh có thể mắc phải khi giải toán.

    Phần 2: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT C. NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC I. Nguyên tắc đặc trưng của dạy học Tiếng Việt ở tiểu học

    1. Nguyên tắc phát triển lời nói (nguyên tắc giao tiếp, nguyên tắc thực hành)

    2. Nguyên tắc phát triển tư duy

    3. Nguyên tắc chú ý đến đặc điểm tâm lí và trình độ tiếng mẹ đẻ của HS

    II. Các phương pháp thường sử dụng trong DH Tiếng Việt ở tiểu học

    1. Phương pháp phân tích ngôn ngữ

    2. Phương pháp luyện theo mẫu

    3. Phương pháp giao tiếp

    D. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC PHÂN MÔN TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC I. Phương pháp dạy học Học vần

    1. Nhiệm vụ cơ bản của dạy học Học vần

    2. Các phương pháp đặc trưng trong dạy học Học vần: phương pháp trực quan, phương pháp luyện theo mẫu, phương pháp trò chơi học tập.

    II. Phương pháp dạy học Tập Viết

    1. Các kĩ năng cơ bản cần rèn luyện cho HS trong phân môn Tập Viết.

    2. Vận dụng một số nguyên tắc cơ bản (nguyên tắc phát triển tư duy, nguyên tắc thực hành) vào dạy học Tập viết.

    III. Phương pháp dạy học Chính tả

    1. Ảnh hưởng của đặc điểm chữ viết và ngữ âm TV đến việc DH Chính tả ở tiểu học.

    2. Vận dụng: Xây dựng bài tập Chính tả (bài tập bắt buộc, bài tập lựa chọn).

    IV. Phương pháp dạy học Tập đọc

    1. Cơ sở khoa học của dạy học Tập đọc: (a) Chính âm và vấn đề luyện chính âm; (b) Trọng âm, ngữ điệu và ảnh hưởng đến luyện đọc thành tiếng; (c) Các bình diện ngữ nghĩa và ứng dụng luyện đọc hiểu.

    2. Vận dụng: (a) Sử dụng các phương pháp giải nghĩa từ trong DH Tập đọc; (b) Thiết kế kế hoạch dạy học rèn kĩ năng đọc hiểu và đọc diễn cảm.

    V. Phương pháp dạy học Luyện từ và câu

    1. Sự chi phối của nguyên tắc giao tiếp, nguyên tắc tích hợp đến nội dung và phương pháp DH Luyện từ và câu.

    2. Vận dụng: (a) Sử dụng các phương pháp đặc trưng (luyện theo mẫu, phân tích ngôn ngữ) hướng dẫn HS thực hiện bài tập; (b) Phân tích mục tiêu, cơ sở ngôn ngữ học và thiết kế bài tập.

    VI. Phương pháp dạy học Tập làm văn

    1. Hoạt động giao tiếp, ngữ pháp văn bản và ứng dụng vào DH Tập làm văn

    2. Vận dụng: (a) Kĩ năng quan sát, kĩ năng xây dựng hệ thống câu hỏi tìm ý trong DH Tập làm văn; (b) Hướng dẫn HS thực hành một số kiểu bài tập Tập làm văn: BT luyện nói hội thoại, BT luyện viết văn bản nghệ thuật (mở bài gián tiếp, kết bài mở rộng).

    VII. Phương pháp dạy học Kể chuyện

    1. Đặc trưng tính giao tiếp thể hiện qua một số kiểu bài DH Kể chuyện: phân vai, kể chuyện theo lời nhân vật, kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia.

    2. Vận dụng các phương pháp đặc trưng trong DH Kể chuyện: trực quan bằng hình vẽ, luyện theo mẫu, thực hành giao tiếp.

    3. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 3.1. Phần PPDH Toán

    1. Dự án phát triển giáo viên tiểu học (2006). Đổi mới phương pháp dạy học Toán ở tiểu học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

    2.Vũ Quốc Chung (Chủ biên) (2007). Phương pháp dạy học toán ở Tiểu học, NXBGD và NXBSP, Hà Nội.

    3. Đỗ Đình Hoan (Chủ biên), Toán 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002.

    4. Đỗ Đình Hoan (Chủ biên), Toán 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003.

    5. Đỗ Đình Hoan (Chủ biên), Toán 3, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004.

    6. Đỗ Đình Hoan (Chủ biên), Toán 4, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005.

    7. Đỗ Đình Hoan (Chủ biên), Toán 5, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006.

    8. Đỗ Đình Hoan (Chủ biên) (2002-2006), Hỏi – Đáp về dạy học Toán 1 (Toán 2, Toán 3, Toán 4, Toán 5), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

    9. Trần Bá Hoành (2006). Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.

    10. Nguyễn Phụ Hy (Chủ biên) (2000), Dạy học các tập hợp số ở tiểu học. Nxb Giáo dục. Hà Nội.

    11. Kiều Đức Thành (Chủ biên) (2001), Một số vấn đề về nội dung và phương pháp dạy học môn Toán ở tiểu học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

    12. Thái Duy Tuyên (2006). Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, NXB GD, Hà Nội.

    3.2. Phần PPDH Tiếng Việt

    1. Lê Phương Nga – Đặng Kim Nga (2007), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, NXB Đại học Sư phạm – NXB Giáo dục, Hà Nội.

    2. Đặng Thị Lanh (cb) (2009), Tiếng Việt 1, NXB Giáo dục, Hà Nội.

    3. Nguyễn Minh Thuyết (cb) (2009), Tiếng Việt 2,3,4,5, NXB Giáo dục, Hà Nội.

    4. Nguyễn Minh Thuyết (cb) (2002-2006), Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt 2,3,4,5, NXB Giáo dục, Hà Nội.

    5. Lê Hữu Tỉnh – Trần Mạnh Hưởng (2010), Giải đáp 188 câu hỏi về giảng dạy Tiếng Việt ở tiểu học, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

    6. Nguyễn Trí (2009), Một số vấn đề dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở tiểu học, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

    4. ĐỀ THI ỨNG VỚI ĐỀ CƯƠNG

    Câu 4: thuộc kiến thức phần D: 3.0 điểm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Cương Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Ở Tiểu Học
  • Đổi Mới Nội Dung, Hình Thức, Phương Pháp Xây Dựng Phong Trào Toàn Dân Bảo Vệ An Ninh Tổ Quốc
  • Cách Hô Hấp Nhân Tạo Và Xoa Bóp Tim Ngoài Lồng Ngực ⋆ Hồng Ngọc Hospital
  • Phương Pháp Cốc Đại Phong: Tự Massage Xoa Bóp Tăng Cường Sức Khoẻ
  • Tự Xoa Bóp Tăng Cường Sức Khỏe, Trị Bách Bệnh
  • Đề Cương Môn Học Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Ở Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Tuân Thủ Nguyên Tắc Trực Quan Trong Dạy Học Tiếng Việt
  • Đề Tài Phương Pháp Sử Dụng Đồ Dùng Trực Quan Trong Dạy Học Lịch Sử
  • Ứng Dụng Phương Pháp Mô Phỏng Hiện Đại Trong Dạy Và Học
  • Tesol ( Khóa Học Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Anh Uy Tín )
  • Hồ Chí Minh City University Of Pedagogy
  • Nguyễn Duy Xuân

    Nguyễn Duy Xuân

    Họ tên giảng viên: Nguyễn Duy Xuân

    Thời gian, địa điểm làm việc: Thứ 2. Tại: Văn phòng Khoa Xã hội – Nhân văn, Trường CĐSP Đắc Lắc, số 349 Lê Duẩn, Buôn Ma Thuột, Đắc Lắc.

    Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Duy Xuân, Bộ môn Ngữ Văn, Khoa Xã hội – Nhân văn, Trường CĐSP Đắc Lắc, số 349 Lê Duẩn, Buôn Ma Thuột, Đắc Lắc.

    Điện thoại: NR: 05003 812249; DĐ:  0907730415

    Email: [email protected]

    Website: http://nguyenduyxuan.net/     

    Webblog:http://nguyenduyxuan.blogspot.com/

    2. Thông tin về môn học:

    a. Tên môn học: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

    b. Mã số môn học: 120183

    c. Số tín chỉ: 4

    d. Giờ tín chỉ đối với các hoạt động:

    – Nghe giảng lý thuyết: 40 giờ tín chỉ

    – Bài tập: 05 giờ tín chỉ (có thể tích hợp trong giờ dạy lí thuyết)

    – Tự học, tự nghiên cứu: 120 giờ tín chỉ

    – Thực hành, thực tập: Theo kế hoạch phân bố của năm học

    đ. Trình độ sinh viên: Năm thứ II hệ CĐ Tiểu học

    e. Điều kiện tiên quyết: Đã học các học phần Tiếng Việt 1, 2.

    g. Nhiệm vụ của sinh viên:

    -  Dự lớp

    -  Thực hiện các hoạt động thực hành: soạn, thiết kế giáo án, xem dạy, tập dạy.

    h. Yêu cầu về trang thiết bị:

    – Phòng học giảng lý thuyết (thực hành).

    – Phòng chuyên dụng, máy chiếu projector, máy tính, bảng, phấn, …

    3. Mục tiêu môn học:

    a. Kiến thức: Sinh viên phải có hiểu biết cơ bản về:

    – Những vấn đề chung về PPDHTV (đối tượng, nhiệm vụ, cơ sở khoa học, mục tiêu, nội dung chương trình, nguyên tắc, phương pháp dạy học Tiếng Việt ở trường tiểu học).

    – Nắm được những kiến thức cơ bản và có hệ thống về vị trí, nhiệm vụ, đặc điểm chương trình và sách giáo khoa, cơ sở khoa học, các phương pháp dạy học (biện pháp và hình thức tổ chức dạy học, quy trình dạy học) của từng phân môn Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu, Kể chuyện, Tập làm văn.

    – Hiểu biết về kế hoạch dạy học, các yêu cầu chuẩn bị một bài dạy và các thao tác tiến hành trong từng tiết dạy.

    b. Kĩ năng: Sinh viên có các kĩ năng:

    – Kĩ năng tìm hiểu trình độ và kĩ năng Tiếng Việt của học sinh.

    – Kĩ năng tự phân tích, nghiên cứu tìm hiểu mục tiêu, nội dung, cấu trúc chương trình, sách giáo khoa, sách giáo viên, các tài liệu tham khảo.

    – Kĩ năng thiết kế bài dạy Tiếng Việt, tổ chức các hoạt động dạy học Tiếng Việt.

    – Kĩ năng phân tích đánh giá thực tế dạy học Tiếng Việt ở tiểu học.

    – Kĩ năng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.

    c. Thái độ: Học phần nhằm bồi dưỡng cho sinh viên:

    – Lòng yêu quý tiếng mẹ đẻ.

    – Có ý thức rèn luyện năng lực tiếng mẹ đẻ cho học sinh.

    – Có thái độ tôn trọng học sinh, yêu mến, đồng cảm với học sinh tiểu học.

    – Có ý thức tìm tòi, say mê học tập, tự nghiên cứu để có hiểu biết sâu sắc và kĩ năng thực hành dạy học tốt.

    – Yêu nghề dạy học.

    4. Nội dung cơ bản của môn học:

    – Cung cấp cho sinh viên những nhận thức cơ bản về phương pháp giảng dạy môn Tiếng Việt ở Tiểu học.

    – Giới thiệu cho sinh viên phương pháp dạy các phân môn và một số kiểu bài cụ thể của môn tiếng Việt ở Tiểu học.

    – Rèn luyện cho sinh viên kỹ năng thực hành phương pháp dạy học tiếng Việt thông qua một số giờ thực hành trên lớp.

    5. Học liệu:

    5.1. Học liệu bắt buộc:

    1. Lê Phương Nga – Đặng Kim Nga, Phương pháp dạy học TV ở Tiểu học, NXBGD, NXBĐHSP, 2007.

    2. Nguyễn Duy Xuân, PPDHTV ở Tiểu học, NXBĐHSP, 2012

    3. Sách giáo khoa Tiếng Việt 1, 2, 3, 4, 5. Nhà xuất bản GD, 2005, 2006.

    4. Sách bài tập Tiếng Việt 1, 2, 3, 4. Nhà xuất bản GD, 2005.

    5. Vở Tập viết 1, 2, 3, 4. Nhà xuất bản GD, 2005.

    6. Mẫu chữ viết trong trường tiểu học. Nhà xuất bản GD, 2005.

    1. Bộ Giáo dục & Đào tạo, Tài liệu tập huấn giảng viên cốt cán cấp tỉnh, Thành phố triển khai CT, SGK lớp 1,2,3,4,5 môn Tiếng Việt.

    2. Nguyễn Văn Bản (chủ biên, 2008), Bài giảng Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 1,  www.ebook.edu.vn.

    3. Đinh Thị Oanh, Vũ Thị Kim Dung, Phạm Thị Thanh (2006), Tiếng Việt và Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học (Dự án phát triển giáo viên tiểu học), NXBGD.

    4. Nguyễn Trí (2000), Dạy và học Tiếng Việt ở tiểu học theo chương trình mới,  NXBGD.

    5. Bộ đồ dùng dạy học Tiếng Việt 1.

    6. Các băng hình dạy học chương trình Tiếng Việt mới. Ban chỉ đạo đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Vụ Giáo dục Tiểu học, 2005

    7. Băng hình dạy học tiếng Việt. Dự án phát triển Giáo viên Tiểu học, 2005

    8. Các bộ sách công cụ: Từ điển tiếng Việt, Từ điển Hán – Việt, Từ điển chính tả tiếng Việt, Từ điển từ láy tiếng Việt, …

    9. Mạng Internet

    6. Đề cương chi tiết môn học:

     

    Mở đầu: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MÔN HỌC

    I. Mục tiêu

    II. Học liệu

    III. Hướng dẫn tự nghiên cứu

    Chương  I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

    I. Bộ môn phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học

    1. Phương pháp dạy học Tiếng Việt là gì?

    2. Đối tượng của phương pháp dạy học Tiếng Việt

    3. Nhiệm vụ của Phương pháp dạy học Tiếng Việt

    II. Cơ sở khoa học của phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học

    1. Cơ sở triết học Mác – Lênin

    2. Cơ sở ngôn ngữ học và văn học

    3. Cơ sở giáo dục học

    4. Cơ sở tâm lí học và tâm lí ngôn ngữ học

    III. Chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu học

    1. Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở tiểu học

    2. Những căn cứ để xây dựng chương trình tiếng Việt ở tiểu học

    3. Những nguyên tắc xây dựng chương trình Tiếng Việt

    4. Nguyên tắc biên soạn và tiêu chuẩn của sách giáo khoa Tiếng Việt

    5. Cấu trúc nội dung chương trình

    7. Nội dung sách giáo khoa Tiếng Việt các lớp

    IV. Các nguyên tắc và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học

    1. Nguyên tắc dạy học Tiếng Việt ở tiểu học

    2. Phương pháp dạy học Tiếng Việt

    V. Phụ lục

    Chương II: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẦN

    I. Mục tiêu, nhiệm vụ dạy Học vần

    1. Mục tiêu của môn Học vần  

    2. Nhiệm vụ dạy Học vần:

    II. Cơ sở khoa học của việc dạy Học vần

    1. Cơ sở tâm lý học

    2. Cơ sở ngôn ngữ học

    III. Chương trình và sách giáo khoa Học vần lớp 1

    1. Chương trình Học vần

    2. Sách giáo khoa Học vần

    IV. Tổ chức dạy các kiểu bài Học vần (Tiếng Việt 1 phần 1)

    1. Các phương pháp chung dạy Học vần:

    2. Biện pháp và hình thức tổ chức dạy học vần

    3. Quy trình dạy các dạng bài Học vần

    V. Thực hành

    Chương III: PHƯƠNG PHÁP DẠY TẬP VIẾT

    I. Vị trí,  nhiệm vụ dạy Tập viết

    1. Vị trí

    2. Nhiệm vụ

    II. Cơ sở khoa học của việc dạy Tập viết

    1. Cơ sở tâm sinh lý của việc dạy Tập viết

    2. Cơ sở ngôn ngữ học

    III. Chương trình và vở Tập viết

    1. Chương trình và vở Tập viết lớp 1

    2. Chương trình và vở Tập viết lớp 2

    3. Chương trình và vở Tập viết lớp 3

    IV. Tổ chức dạy học Tập viết

    1. Các phương pháp chung dạy học Tập viết

    2. Các biện pháp dạy học chủ yếu

    3. Quy trình dạy – học Tập viết

    V. Thực hành

    CHƯƠNG IV: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHÍNH TẢ

    I. Vị trí, tính chất, nhiệm vụ của môn Chính tả ở tiểu học

    1. Vị trí

    2. Tính chất

    3. Nhiệm vụ

    II. Chương trình và sách giáo khoa Chính tả

    1. Chương trình Chính tả

    2. Sách giáo khoa Chính tả

    III. Cơ sở khoa học của dạy học Chính tả ở tiểu học

    1. Dạy học chính tả bằng con đường “có quy tắc” và “không có quy tắc”

    2. Cơ sở ngôn ngữ học

    3. Dạy chính tả theo phương ngữ

    IV. Phương pháp dạy Chính tả

    1. Các phương pháp chung

    2. Phương pháp dạy học cụ thể

    3. Quy trình dạy – học

    V. Thực hành

    CHƯƠNG V: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TẬP ĐỌC

    I. Vị trí, tính chất, nhiệm vụ của môn Tập đọc

    1. Vị trí

    2. Tính chất của môn học

    3. Nhiệm vụ của môn Tập đọc

    II. Chương trình và sách giáo khoa Tập đọc

    1. Chương trình và sách giáo khoa Tập đọc lớp 1

    2. Chương trình và  sách giáo khoa Tập đọc  lớp 2

    3. Chương trình và sách giáo khoa Tập đọc lớp 3

    4. Chương trình và sách giáo khoa Tập đọc lớp 4

    5. Chương trình và sách giáo khoa Tập đọc lớp 5

    III. Cơ sở khoa học của việc dạy học Tập đọc

    1. Cơ sở tâm sinh lí

    2. Cơ sở ngôn ngữ và văn học

    IV. Phương pháp dạy học Tập đọc

    1. Các phương pháp chung

    2. Các biện pháp dạy học chủ yếu

    3. Phương pháp dạy học cụ thể

    V. Thực hành

    Chương VI: PHƯƠNG PHÁP DẠY LUYỆN TỪ VÀ CÂU

    I. Vị trí, nhiệm vụ của dạy học Luyện từ và câu

    1. Vị trí

    2. Nhiệm vụ

    II. Chương trình và sách giáo khoa Luyện từ và câu

    1. Chương trình và sách giáo khoa Luyện từ và câu lớp 2

    2. Chương trình và sách giáo khoa Luyện từ và câu lớp 3

    3. Chương trình và SGK Luyện từ và câu lớp 4

    4. Chương trình và SGK Luyện từ và câu lớp 5

    III. Các nguyên tắc dạy học luyện từ và câu

    1. Nguyên tắc thực hành giao tiếp

    2. Nguyên tắc tích hợp

    3. Nguyên tắc trực quan

    4. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống của từ, câu

    5. Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa ý nghĩa và hình thức ngữ pháp

    IV. Tổ chức dạy học Luyện từ và câu

    1. Các phương pháp dạy học Luyện từ và câu

    2. Các biện pháp và hình thức dạy học

    3. Quy trình dạy – học

    V. Thực hành

    CHƯƠNG VII: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC KỂ CHUYỆN

    I. Vị trí, tính chất, nhiệm vụ của môn Kể chuyện ở tiểu học

    1. Vị trí của môn Kể chuyện

    2. Tính chất của môn Kể chuyện

    3. Nhiệm vụ của môn Kể chuyện

    II. Chương trình và sách giáo khoa Kể chuyện

    1. Chương trình Kể chuyện

    2. Sách giáo khoa Kể chuyện

    III. Cơ sở khoa học của việc dạy Kể chuyện:

    1. Cơ sở tâm lý học

    2. Cơ sở ngôn ngữ học và văn học

    IV. Phương pháp dạy học Kể chuyện

    1. Các phương pháp chung dạy học Kể chuyện

    2. Chuẩn bị kể chuyện

    3. Tiến hành kể chuyện

    4. Phương pháp dạy học cụ thể

    5. Quy trình dạy – học kể chuyện

    V. Thực hành

    CHƯƠNG VIII: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC  TẬP LÀM VĂN

    I. Vị trí, tính chất, nhiệm vụ môn Tập làm văn ở tiểu học

    1. Vị trí của môn Tập làm văn

    2. Tính chất của môn Tập làm văn

    3. Nhiệm vụ của dạy học Tập làm văn

    II. Chương trình và sách giáo khoa Tập làm văn

    1. Nội dung chương trình, chuẩn kiến thức và kĩ năng Tập làm văn các lớp

    2. Sách giáo khoa Tập làm văn các lớp

    III. Cơ sở khoa học của việc dạy học Tập làm văn

    1. Cơ sở tâm lý học

    2. Cơ sở ngôn ngữ học và văn học

    IV. Phương pháp dạy Tập làm văn

    1. Dạy Tập làm văn lớp 2 và 3

    2. Dạy Tập làm văn lớp 4 và 5

    V. Thực hành

    7. Chính sách đối với môn học và các yêu cầu khác của giảng viên:

    7.1. Sinh viên phải tham gia đầy đủ số giờ học trên lớp theo qui định (không nghỉ quá 20% tổng số giờ học).

    7.3. Sinh viên vi phạm qui định (nghỉ học, đi muộn không có lí do chính đáng; không chuẩn bị bài tập, thuyết trình, bài soạn, nộp bài không đúng hạn; vi phạm quy chế thi; trích dẫn tài liệu và làm bài gian dối…) tuỳ theo mức độ sẽ bị trừ điểm thành phần tương ứng.

    7.4. Sinh viên thiếu một trong các điểm thành phần sẽ không có điểm cho toàn môn học.

    7.5. Sinh viên nhất thiết phải đọc đủ phần Học liệu bắt buộc.

    7.7. Yêu cầu Trung tâm Thư viện trường CĐSP ĐL cung cấp đủ Học liệu bắt buộc cho sinh viên. Nếu văn bản gốc chỉ có một cuốn thì cho phôtôcopi và nhân bản.

    7.8. Sinh viên phải có hộp thư điện tử, làm quen với việc thu thập và xử lí thông tin, trao đổi bài vở qua mạng.

    8. Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn học:

    8.1. Kiểm tra đánh giá thường xuyên:

    – Tinh thần, thái độ học tập (đi học, chuẩn bị bài, nghe giảng…):10% (1 điểm) – Điểm danh – Kiểm tra chuẩn bị bài – Quan sát trên lớp

    8.2. Kiểm tra đánh giá định kì:

    – Kiểm tra giữa môn: Bài viết 50 phút tại lớp: 10% (1điểm). SV có thể làm bài tập lớn để cải thiện điểm thành phần. 

    – Thi hết môn: Có thể áp dụng 1 trong 2 hình thức: thi viết, tiểu luận cuối kì: 70% (7 điểm)

    Kết quả toàn môn: 100% (10 điểm) 

                                          Buôn Ma Thuột, tháng 7-2013

                                          Nguyễn Duy Xuân (Tái bản lần thứ 4 có chỉnh sửa)

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xét Nghiệm Máu Và Các Xét Nghiệm Thường Gặp Trong Khám Tổng Quát
  • Xét Nghiệm Máu Tổng Quát Gồm Những Xét Nghiệm Nào
  • Lần Đầu Tiên Ứng Dựng Kỹ Thuật Xét Nghiệm Máu Tiên Tiến Tại Việt Nam
  • Xét Nghiệm Hiv Là Gì? Các Phương Pháp Xét Nghiệm Hiv
  • Các Dịch Vụ, Các Kỹ Thuật Xét Nghiệm Sàng Lọc Máu Tại Viện