Phương Pháp Dạy Học Trực Quan

--- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Trực Quan Là Gì? Áp Dụng Như Nào?
  • Vận Dụng Algorit Sáng Chế Trong Dạy Học Di Truyền Học Sinh Học 12
  • Các Phương Pháp Dạy Học Tiếng Anh Cho Trẻ Em
  • Phương Pháp Dạy Học Tiếng Anh “truyền Cảm Hứng” Của Anh Ngữ Ms Hoa
  • Quá Trình Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tiếng Anh Ở Trường Thcs
  • Dạy học trực quan (hay còn gọi là trình bày trực quan) là PPDH sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật dạy học trước, trong và sau khi nắm tài liệu mới, khi ôn tập, khi củng cố, hệ thống hóa và kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo

    PPDH trực quan được thể hiện dưới hình thức là minh họa và trình bày:

    • Minh họa thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh họa như bản mẫu, bản đồ, bức tranh, tranh chân dung, hình vẽ trên bảng,…
    • Trình bày thường gắn liền với việc trình bày thí nghiệm, những thiết bị kĩ thuật, chiếu phim đèn chiếu, phim điện ảnh, băng video. Trình bày thí nghiệm là trình bày mô hình đại diện cho hiện thực khách quan được lựa chọn cẩn thận về mặt sư phạm. Nó là cơ sở, là điểm xuất phát cho quá trình nhận thức – học tập của hs, là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn. Thông qua sự trình bày của giáo viên mà học sinh không chỉ lĩnh hội dễ dàng tri thức mà còn giúp họ học tập được những thao tác mẫu của GV từ đó hình thành kĩ năng, kĩ xảo,…
    • GV treo những đồ dùng trực quan có tính chất minh họa hoặc giới thiệu về các vật dụng thí nghiệm, các thiết bị kĩ thuật, … và nêu yêu cầu định hướng cho sự quan sát của học sinh
    • GV trình bày các nội dung trong lược đồ, sơ đồ, bản đồ,… tiến hành làm thí nghiệm, trình chiếu các thiết bị kĩ thuật, phim đèn chiếu, phim điện ảnh,…
    • GV yêu cầu một số hs trình bày lại, giải thích nội dung sơ đồ, biểu đồ, trình bày những gì thu nhận được qua thí nghiệm hoặc qua những phương tiện kĩ thuật, phim đèn chiếu, phim điện ảnh
    • Từ những chi tiết, thông tin hs thu được từ phương tiện trực quan, gv nêu câu hỏi yêu cầu hs rút ra kết luận khái quát về vấn đề mà phương tiện trực quan cần chuyển tải.
    • Trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học nhằm tạo cho hs những biểu tượng và hình thành các khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát hiện vật đang học hay đồ dùng trực quan minh họa sự vật. Đồ dùng trực quan là chỗ dựa để hiểu sâu sắc bản chất kiến thức, là phương tiện có hiệu lực để hình thành các khái niệm, giúp học sinh nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội. Ví dụ, khi nghiên cứu bức tranh “hình vẽ trên vách hang”, hs không chỉ có biểu tượng về săn bắn là công việc thường xuyên và hàng đầu của thị tộc mà còn hiểu: nhờ chế tạo cung tên, con người đã chuyển hẳn từ hình thức săn bắt sang săn bắn, co hiệu quả kinh tế cao hơn. Điều đó giúp hs biết sự thay đổi trong đời sống vật chất của con người thời nguyên thủy luôn gắn chặt với tiến bộ trong kĩ thuật chế tác công cụ của họ.
    • Đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp hs nhớ kĩ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử. Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ là hình ảnh chúng ta thu nhận được bằng trực quan. Vì vậy, cùng với việc góp phần tạo biểu tượng và hình thành khái niệm lịch sử, đồ dùng trực quan còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của hs
    • Phương pháp này đòi hỏi nhiều thời gian, gv cần tính toán kĩ để phù hợp với thời lượng đã quy định.
    • Nếu sử dụng đồ dùng trực quan không khéo sẽ làm phân tán chú ý của hs, dẫn đến hs không lĩnh hội được những nội dung chính của bài học
    • Khi sử dụng đồ dùng trực quan, đặc biệt là khi quan sát tranh ảnh, các phim điện ảnh, phim video, nếu gv không định hướng cho hs quan sát sẽ dễ dẫn đến tình trạng hs sa đà vào những chi tiết nhỏ lẻ, không quan trọng
    • Khi sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học cần chú ý các nguyên tắc sau:
    • Phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu giáo dục của bài học để lựa chọn đồ dùng trực quan tương ứng thích hợp. Vì vậy, cần xây dựng một hệ thống đồ dùng trực quan phong phú, phù hợp với từng bài học
    • Có phương pháp thích hợp đối với việc sử dụng mỗi loại đồ dùng trực quan
    • Phải đảm bảo được sự quan sát đầy đủ đồ dùng trực quan của hs
    • Phát huy tính tích cực của hs khi sử dụng đồ dùng trực quan
    • Đảm bảo kết hợp lời nói với việc trình bày các đồ dùng trực quan, đồng thời rèn luyện khả năng thực hành của hs khi xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan (đắp sa bàn, vẽ bản đồ, tường thuật trên bản đồ, miêu tả hiện vật,…)
    • Tùy theo yêu cầu của bài học và loại hình đồ dùng trực quan mà có các cách sử dụng khác nhau. Loại đồ dùng trực quan treo tường được sử dụng nhiều nhất trong dạy học hiện nay là vật mẫu, bản đồ, sơ đồ, đồ thị, bảng niên biểu,… Trước khi sử dụng chúng cần chuẩn bị thật kĩ (nắm chắc nội dung, ý nghĩa của từng loại phục vụ cho nội dung nào của giờ học,…). Trong khi giảng cần xác định đúng thời điểm sử dụng đồ dùng trực quan
    • Loại đồ dùng trực quan cỡ nhỏ được sử dụng riêng cho từng hs trong giờ học, trong việc tự học ở nhà, gv phải hướng dẫn hs sử dụng tốt loại đồ dùng trực quan này: quan sát kĩ, tìm hiểu sâu sắc nội dung, hoàn thành các bài tập, tập vẽ bản đồ, chứ không phải “can” theo sách.
    • Trong dạy học một số môn như Lịch sử, Địa lí, Sinh học, Công nghệ, … ở trường phổ thông, việc kết hợp chặt chẽ giữa lời nói sinh động với sử dụng đồ dùng trực quan là một trong những điều quan trọng nhất để thực hiện nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.
    • Sử dụng các đồ dùng trực quan cần theo một quy trình hợp lý để có thể khai thác tối đa kiến thức từ các đồ dùng trực quan. Cần chuẩn bị câu hỏi hoặc hệ thống câu hỏi dẫn dắt hs quan sát và tự khai thác kiến thức

    Sử dụng các bộ mô hình: khối đa diện, khối đa diện đều, khối tròn xoay (Toán 12), cho học sinh được thao tác trực tiếp trên các mô hình này, đặc biệt là với hs trung bình, yếu kém, trí tưởng tượng không gian còn hạn chế thì ban đầu nên cho các em được tiếp cận các khái niệm này thông quan việc quan sát các mô hình.

    Sử dụng bộ dụng cụ tạo mặt tròn xoay hoặc thiết kế trên phần mềm Sketchpad, cho hs được thao tác trực tiếp nhiều lần để học sinh có thể hình dung được sự tạo thành mặt tròn xoay. Đặt câu hỏi cho hs liên hệ thực tiễn, tìm những đồ vật có hình dạng là những mặt tròn xoay và người ta có thể tạo nên những vật đó như thế nào.

    Hs nhấn chuột vào hộp “quay mặt phẳng” trên trang hình của phần mềm, hs sẽ quan sát một cách rất trực quan “vết” tạo thành chính là mặt nón tròn xoay.

    Từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài

      Modul số 18: Phương pháp dạy học tích cực; Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GV khối THPT; Vụ Giáo dục Trung học; 2013

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Phát Hiện Và Giải Quyết Vấn Đề
  • Cách Giải Rubik 3×3 Theo Zz Method
  • Yết Giá Trực Tiếp (Direct Quote) Là Gì? Những Đặc Điểm Cần Lưu Ý
  • Cách Xoa Bóp Bấm Huyệt Giảm Đau Nhức Mỏi Chân Hiệu Quả
  • Các Phương Pháp Xét Nghiệm Hp Dạ Dày
  • Ðổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Trường Mầm Non Ân Ðức

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Ở Nhật Bản Như Thế Nào
  • Phương Pháp Dạy Học Võ Karate Ở Nhật
  • Phương Pháp Dạy Học Của Khổng Tử Và Ý Nghĩa Của Nó Đối Với Việc Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Phương Pháp Giảng Dậy Và Học Tập Của Đại Học Harvard Khiến Chúng Ta Suy Nghẫm.
  • Đại Học Harvard: 2022 Cách Được Nhận Vào Học, Chuyến Thăm Quan Ảo Và Nhiều Hơn Nữa
  • Ðổi mới phương pháp dạy học ở Trường mầm non Ân Ðức

    Trường Mầm non Ân Ðức (huyện Hoài Ân) đã vận dụng sáng tạo những phương pháp dạy học mới, đặc biệt là chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm”. Kết thúc 5 năm thực hiện chuyên đề, Trường mầm non Ân Ðức là một trong 3 trường mầm non của tỉnh được Bộ GD&ÐT tặng bằng khen. Nhiều sáng kiến để dạy trẻ sáng tạo

    Ở Trường mầm non Ân Đức, nhiều đồ chơi được làm từ “cây nhà lá vườn”. Không chỉ ở sân trường mới có những hoạt động, trò chơi vận động đa dạng, ngay trong lớp học cũng rất phong phú với nhiều góc vui chơi. Sự năng động được kích hoạt liên tục, nên không có gì khó hiểu, khi thấy người lạ đến thăm, trẻ liền vui vẻ chủ động chào hỏi, làm quen.

    Một trong những cách giúp trường có nhiều hoạt động tươi mới, vui vẻ là chú trọng công tác viết sáng kiến, qua đó nắm bắt cách dạy học mới, vận dụng linh hoạt các phương pháp phù hợp với điều kiện của trường. Nhiều sáng kiến phù hợp với thực tiễn như: “Cách làm đồ chơi cho trẻ từ những chiếc mo cau” của cô Đào Thị Thanh; “Một số biện pháp tổ chức cho trẻ vui chơi ngoài trời” và “Một số biện pháp nhằm giúp trẻ phát triển vận động” của cô Phạm Thị Minh Nguyệt; “Một số biện pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo” của cô Nguyễn Thị Kim Thanh…

    Cô giáo tổ chức nhiều hoạt động trong lớp học. Ảnh: chúng tôi

    Bà Huỳnh Thị Sương, Hiệu trưởng nhà trường, cho hay: Các sáng kiến, đề tài nghiên cứu đều gần gũi, thực tế nên tỷ lệ ứng dụng rất cao. Qua đó, không chỉ giúp các cô luôn có tinh thần tìm tòi, nâng cao chuyên môn mà còn bổ sung nhiều đồ dùng, đồ chơi mới phong phú, sáng tạo trong lớp học, góp phần cho quá trình phát triển nhận thức của trẻ.

    Nhân nói về sáng tạo trong việc tự làm đồ chơi cho trẻ, cô Đào Thị Thanh chia sẻ: Ở Hoài Ân dễ tìm được mo cau, đồ chơi làm bằng mo cau cũng an toàn, gần gũi. Các cô ở trường thường làm đồ chơi bằng các vật dụng tái chế để vừa bảo vệ môi trường, tiết kiệm, giúp trẻ biết được rằng nếu khéo léo thì chúng ta có thể biến những vật dụng tưởng như bỏ đi thành những thứ xinh xắn. Để trẻ vui chơi, trải nghiệm nhiều, chúng tôi còn tổ chức rất nhiều góc trò chơi như bé làm bác sĩ, xây nhà, xây công viên…

    Kết nối với phụ huynh

    Bà Lương Thị Xuân Tâm, Phó Trưởng Phòng Giáo dục Mầm non – Tiểu học (Sở GD&ĐT), nhận xét: Dù Trường mầm non Ân Đức ở khu vực trung du nhưng việc kết nối với phụ huynh để xây dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm rất tốt. Do vậy, môi trường trong và ngoài lớp học xây dựng được nhiều hoạt động cho trẻ vui chơi, sáng tạo.

    Thay vì áp dụng phương pháp cô nói cháu nghe, hoặc cô hỏi trẻ trả lời, giờ cô cho các cháu tự trải nghiệm khám phá tìm ra câu trả lời.

    Từ năm 2022, nhà trường bắt đầu tiếp cận với chuyên đề Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm. Năm 2022, trường bắt đầu tổ chức hoạt động. Ở nông thôn, đời sống người dân còn nhiều khó khăn nhưng bằng nhiều hình thức vận động, phụ huynh vui vẻ tham gia cùng trường. Không chỉ đóng góp những vật dụng không dùng nữa như tre nứa, rơm, lá dừa… để làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ, phụ huynh còn trực tiếp tham gia cùng nhà trường trong việc xây dựng môi trường. Định kỳ từ 2 tuần đến 1 tháng, phụ huynh sẽ tham gia một hoạt động cùng trẻ, qua đó hiểu được hoạt động giáo dục của nhà trường để thông cảm, sẻ chia hơn.

    Bà Huỳnh Thị Sương cho biết thêm: Nhà trường chú trọng xây dựng môi trường bên trong và bên ngoài lớp học. Thay vì áp dụng phương pháp cô nói cháu nghe, hoặc cô hỏi trẻ trả lời, giờ cô cho các cháu tự trải nghiệm khám phá tìm ra câu trả lời. Thường thì trẻ con rất thích làm người lớn nên cô cho các em chơi trò giả làm người lớn qua các hoạt động như bán hàng, làm bác sĩ, bác nông dân… Ngoài ra, trường còn vận dụng một số điểm phù hợp của các phương pháp Montessori, KinderArts… để trẻ vui chơi, trải nghiệm. Cô mạnh dạn cho cháu chơi trên cát, đi trên sỏi… chứ không gò bó như trước. Quá trình trẻ hoạt động đều có cô giáo theo sát.

    THẢO KHUY

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu 6 Công Cụ Dậy Học Online Và Học Online *** Mùa Dịch Covid19
  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Học Trực Tuyến Hiệu Quả
  • Những Tiết Học Ngoài Trời Đầy Thú Vị
  • Dạy Học Theo Định Hướng Nghiên Cứu Bài Học Và Đổi Mới Sinh Hoạt Chuyên Môn Theo Hướng Nghiên Cứu Bài Học
  • Tìm Hiểu Một Số Phương Pháp Dạy Học Ngoại Ngữ Trong Lịch Sử
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Trường Mầm Non Tam Dương

    --- Bài mới hơn ---

  • Cùng Tìm Hiểu Xem Phương Pháp Giáo Dục Trẻ Em Của Người Nhật Có Gì Khác Với Chúng Ta
  • Sự Biến Đổi Của Phương Pháp Dạy Học Lịch Sử Ở Nhật Bản
  • Dạy Học Theo Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Phương Pháp Dạy Học Trong Trường Sư Phạm
  • Dạy Học Phát Triển Năng Lực Là Gì?
  • Đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ trọng tâm của các trường mầm non, theo quan điểm giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm”.Việc đổi mới phương pháp dạy học sẽ giúp giáo viên sáng tạo, tích cực hơn khi tổ chức các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non và giúp trẻ chủ động, hứng thú hơn khi tham gia các hoạt động vui chơi và học tập.

    Trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non, ngoài phương pháp giáo dục truyền thống còn có nhiều phương pháp dạy học khác như phương pháp dạy học tích cực.Có nghĩa là các phương pháp dạy học đều hướng vào đứa trẻ, phát huy tính tích cực của trẻ trong các hoạt động, kết quả cuối cùng là đứa trẻ cần đạt mục tiêu mong đợi cuối độ tuổi và đồng thời chuẩn bị tâm thế tốt nhất cho trẻ trước khi bước vào Tiểu học.

    Như các bạn đã biết trẻ em lứa tuổi mầm non thường “chóng nhớ, mau quên”. Vì vậy, để trẻ phát triển về mặt tư duy một cách tốt nhất thì trong giáo dục mầm non “Dạy trẻ cái gì?”, “Dạy trẻ như thế nào? để trẻ có thể ghi nhớ được tất cả những gì mà cô giáo truyền đạt là vấn đề vô cùng quan trọng. Để làm được điều đó người giáo viên cần phải đổi tổ chức các hoạt động giáo dục một cách sáng tạo, linh hoạt để trẻ có thể lĩnh hội được kiến thức một cách nhẹ nhàng “học mà chơi, chơi mà học”.

    Hiện nay nhà trường đang đẩy mạnh đổi mới phương pháp tổ chức các hoạt động cho trẻ mầm non. Là một ngôi trường chất lượng cao của huyện – Trường Mầm non Tam Dương luôn đi đầu trong các phong trào thi đua, thí điểm các nội dung đổi mới phương pháp dạy học cho trẻ mầm non.

    Ngay từ khi PGD&ĐT triển khai Chương trình Giáo dục mầm non theo hướng lấy trẻ làm trung tâm, nhà trường tổ chức bồi dưỡng, tập huấn nâng cao nhận thức của cán bộ, giáo viên trong thực hiện chương trình giáo dục, giúp giáo viên biết căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình; chủ động, sáng tạo trong xây dựng kế hoạch dạy học, xác định mục tiêu, thiết kế bài học theo các phương pháp học tập tích cực, lấy học sinh làm trung tâm, đồng thời, nắm vững phương pháp dạy học, quy trình và phương pháp đặc trưng của từng lĩnh vực, từ đó biết cách lựa chọn sử dụng linh hoạt hệ thống các phương pháp bảo đảm phù hợp với nội dung của tiết học.

    (Giờ học trải nghiệm của trẻ)

    Vui chơi là hoạt động của trẻ mẫu giáo vì vậy “học bằng chơi, chơi mà học” là điều rất quan trọng trong giáo dục trẻ, thông qua chơi trẻ tiếp thu những kiến thức một cách tự nhiên, không bị gò bó, áp lực. Trẻ rất hiếu động, tò mò, ham muốn học hỏi, tìm hiểu thế giới xung quanh. Trong khi chơi, trẻ thực sự học để lĩnh hội các khái niệm ban đầu.Vì vậy, việc tạo cơ hội cho trẻ được học tập, vui chơi trong môi trường thân thiện, đồ dùng đồ chơi phong phú, sắp xếp khoa học sẽ giúp trẻ phát triển toàn diện về các mặt thể chất, nhận thức thẩm mỹ, lao động… Và điều quan trọng hơn cả, thông qua việc cùng nhau trang trí lớp học hầu hết trẻ đều rất yêu thích đến trường vì nó đem lại cho trẻ nhiều điều bổ ích, như được bày tỏ những điều mình mong muốn, được trưng bày những sản phẩm mình làm ra và được làm chủ lớp học của mình. Giáo viên cần xây dựng cảnh quan, môi trường hoạt động trong và ngoài lớp hấp dẫn, kích thích trẻ tham gia tìm tòi khám phá, bộc lộ khả năng cá nhân. Đặc biệt là khu vui chơi ngoài trời với các vật liệu thiên nhiên.Như vậy việc tạo cảnh quan thân thiện đối với trẻ sẽ giúp trẻ đạt được các mục tiêu giáo dục.

    (Trang trí, sắp xếp môi trường lớp học)

    Ngoài ra, giáo viên cần cho trẻ tham gia vào các hoạt động:Chăm sóc vườn rau, trồng các loại rau; chăm sóc các cây cảnh, ươm hạt mầm… Để trẻ được lao động, thực hành cách tưới nước, nhổ cỏ, lau lá… Biết cách quan sát sự thay đổi của cây xanh, trải nghiệm thực hành, bày tỏ thái độ hứng thú đối với hoạt động. Và các hoạt động khác như: Ngoại khóa, đi thực tế …

    Bên cạnh đó, giáo viên cần được bồi dưỡng và nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp giảng dạy, trang bị kiến thức giúp giáo viên thực hiện tốt việc đổi mới hình thức dạy học, đồng thời cung cấp kiến thức cho trẻ một cách mở rộng, thực tế và vô cùng sinh động.

    (Ứng dụng công nghệ thông tin trong giờ học)

    Đổi mới phương pháp dạy học yêu cầu các nhà giáo không ngừng tìm tòi, sáng tạo và biết đánh giá, đúc rút kinh nghiệm qua việc thực hiện các hoạt động hàng ngày để nâng cao chất lượng giảng dạy. Ngoài việc bồi dưỡng, tập huấn, bổ sung cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, tổ hội thi giáo viên dạy giỏi, hội thảo chuyên đề. Hàng năm nhà trường đã tuyên dương các tấm gương giáo viên tiêu biểu không ngừng tự rèn luyện và áp dụng nhiều phương pháp giảng dạy đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 10 Phương Pháp Dạy Học Trực Tuyến Đạt Hiệu Quả Cao 2022
  • Những Phương Pháp Học Trực Tuyến Hiệu Quả Không Phải Ai Cũng Biết
  • Tổ Chức Dạy Học Ngoài Trời
  • 10 Cách Học Tập Ngoài Trời Có Ích Cho Con Bạn
  • Học Tập Ngoài Trời: Chìa Khóa Cho Những Đứa Trẻ Hạnh Phúc, Khỏe Mạnh Và Sáng Tạo
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Cho Trẻ Mầm Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Trường Thcs
  • Đề Tài Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Thể Dục Trong Trường Thcs
  • Đề Tài Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Thể Dục Lớp 5
  • Thiết Kế Giờ Dạy Học Theo Định Hướng Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Còn Gặp Nhiều Vướng Mắc?
  • Như các bạn đã biết t rẻ em lứa tuổi mầm non thường “chóng nhớ, mau quên” nên phải làm sao cho tr ẻ hứng thú học và nhớ được là điều cực kỳ quan trọng

    V ì vậy mà v iệc đổi mới hình thức và phương pháp dạy học luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu mà tất cả những người giáo viên trong trường mầm non Đồng Tĩnh chúng tôi luôn quan tâm và tìm những phương pháp mới giúp trẻ húng thú trong việc học và nhìn thấy rõ nét nhất của những thay đổi đó là trong các hội thi các cấp của cô và của trẻ .

    Vấn đề “học” của trẻ mầm non

    V ề đổi mới hình thức tổ chức, đổi mới phương pháp dạy học cho trẻ mầm non, không ít quan điểm cho rằng “trẻ nhỏ biết gì mà học “, ” hay mầm non mà cũng phải soạn giáo án à” “mấy đứa trẻ con dạy hát, dạy múa, kể chuyện là xong, hay ” mầm non chỉ chăm sóc tốt là được, mầm non đâu cần đổi mới phương pháp”…

    Học tập với trẻ mầm non không phải cứ là học “toán” học “văn”…. học của trẻ mầm non rất đơn giản, học của trẻ mầm non là học để tiếp cận với nền văn minh của xã hội, học của trẻ mầm non: là học tên gọi của mọi người và đồ vật xung quanh; là học cách sử dụng đúng thiết bị đồ dùng hàng ngày; là học cách dùng, cách sử dụng thiết bị vệ sinh cá nhân, đồ dùng vệ sinh chung, đồ dùng sinh hoạt, đồ dùng phục vụ ăn ngủ đúng, phù hợp với kinh nghiệm của người lớn – dù chỉ là học cách mở vòi nước, tắt vòi nước; là học cách sắp xếp đồ dùng cá nhân trên giá hoặc trong tủ một cách nhanh nhất, gọn gàng nhất; là tìm hiểu về đồ dùng hàng ngày có chất liệu dễ vỡ, hay dễ hỏng và biết cách giữ gìn an toàn cho bản thân khi sử dụng; là tập nói và sử dụng ngôn ngữ tự kể về mình, kể lại những việc mình đã làm, đã từng thấy hoặc tưởng tượng ra bằng ngôn ngữ của mình một cách mạch lạc nhất; là tìm hiểu cơ thể mình có những gì, cần những gì, vệ sinh các bộ phận trên cơ thể như thế nào để biết tự vệ sinh cơ thể, biết yêu quý, giữ gìn và tự bảo vệ bản thân ở mức đơn giản nhất; là tự trang trí làm đẹp cho bản thân, tự trưng bày, làm sạch, làm đẹp cho lớp của mình; học của trẻ mầm non là “tái tạo” thực tế cuộc sống gần gũi xung quanh trẻ thông qua việc chơi các trò chơi vv… phù hợp theo độ tuổi mầm non. Muốn trẻ mầm non được an toàn tuyệt đối thì không thể tách ” học” riêng và “chăm sóc” riêng biệt. Có thể thấy rõ, “học” của trẻ mầm non gắn liền với chăm sóc trẻ, và việc tập cho trẻ làm quen với “học” ở mỗi giai đoạn phát triển sinh lý lại là tiền đề cho sự phát triển của cơ thể trẻ ở giai đoạn tiếp theo.

    Trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non, ngoài phương pháp giáo dục truyền thống còn có nhiều phương pháp dạy học khác như phương pháp dạy học tích cực..

    Và có một điểm chung đó là tất cả các phương pháp dạy học cho trẻ mầm non đều hướng vào đứa trẻ, phát huy tính tích cực của trẻ trong các hoạt động, kết quả cuối cùng là đứa trẻ cần đạt mục tiêu mong đợi cuối độ tuổi và đồng thời chuẩn bị tâm thế tốt nhất cho trẻ trước khi bước vào Tiểu học.

    Và đ ể trẻ mầm non được phát triển về mặt tư duy một cách tốt nhất thì trong giáo dục mầm non “Dạy trẻ cái gì?” không quan trọng bằng “Dạy trẻ như thế nào ? Để có thể có những nhớ được tất cả những gì mà cô giáo truyền đạt.

    “Chương trình giáo dục mầm non mới” chính thức được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành theo thông tư 17/2009/TT BGD-ĐT, trong đó phương pháp tổ chức các hoạt động cho trẻ mầm non là một trong 6 nội dung chương trình GDMN đề cập.

    Các trường mầm non trong huyện Tam Dương hiện nay đang đẩy mạnh đổi mới phương pháp tổ chức các hoạt động cho trẻ mầm non.

    P hương pháp dạy học tích cực luôn luôn được các nhà quản lý sử dụng khi tổ chức các hội nghị tổng kết, nhận xét, đánh giá giáo viên. Song để hiểu, thực hiện đổi mới phương pháp giáo dục trong thực tế còn nhiều bất cập. Giải quyết bất cập đó không chỉ vai trò của giáo viên – lực lượng trực tiếp đứng lớp – mà còn là vai trò kiểm soát, định hướng quan trọng của cán bộ quản lý trong nhà trường.

    Đứng ở góc nhìn tổng thể có thể thấy việc nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong một nhà trường phụ thuộc vào nhiều yếu tố: trường lớp, trang thiết bị, trình độ giáo viên, trình độ quản lý của cán bộ, công tác xã hội hoá, nhận thức của người dân v.v… nhưng tính đến kết quả giáo dục toàn diện trên mỗi đứa trẻ mầm non thì yếu tố phương pháp dạy học cho trẻ mầm non là yếu tố quan trọng nhất.

    Để có được chất lượng giáo dục như mong đợi theo chương trình giáo dục mầm non Bộ GD-ĐT ban hành thì vai trò của người cán bộ quản lý được khẳng định là vô cùng quan trọng trong phong trào đổi mới về phương pháp dạy học, đó là làm gì để phá vỡ sự thụ động của người học, phá vỡ kiểu dạy truyền thống của giáo viên: cô giáo nói, trẻ lĩnh hội và làm theo. Cùng với thời gian thực hiện, chương trình GDMN gắn với sự phát triển về mặt sinh lý đang dần hoàn thiện của trẻ, người cán bộ quản lý trường mầm non cũng cần dùng các phương pháp quản lý khác nhau trong từng giai đoạn để chỉ đạo giáo viên đổi mới phương pháp giáo dục.

    Thực tế cũng cho thấy nguồn đào tạo giáo viên mầm non có những bất cập do đó chất lượng giáo viên trong huyện còn có những hạn chế riêng. Cách dạy truyền thống đã thành con “đường mòn” trong một số giáo viên ở giai đoạn quá độ. Do vậy, truyền được cảm hứng thay đổi cách nghĩ, cách làm cho giáo viên – đó là việc làm cần thiết của người quản lý nhà trường; cán bộ quản lý các trường đã và đang tổ chức thực hiện đổi mới cách nghĩ, cách làm, kiểm tra sát sao, dự giờ, thăm lớp, nhận xét giúp đỡ, bổ sung phát kiến, tạo động lực để người làm công tác GDMN luôn biết làm mới bản thân, làm mới môi trường giáo dục, tự rút ra được kinh nghiệm cụ thể trong mỗi tình huống và không thỏa mãn với mối bước tiến về chất lượng “dạy” và “học”.

    Nếu như tất cả giáo viên các trường mầm non trong huyện Tam Dương đều đổi mới được phương pháp giáo dục và cập nhật sự đổi mới, có nghĩa là giúp trẻ hứng thú tích cực, chủ động ở mức cao nhất, và như vậy, khi “bé thích, bé sẽ làm được nhiều hơn chúng ta tưởng”, khi đó người cán bộ quản lý cũng như giáo viên có phương pháp đúng sẽ có động lực để duy trì tinh thần làm việc hăng say hơn và GDMN Tam Dương sẽ ngày càng “trưởng thành” hơn với vai trò là “cấp học đầu tiên” của huyện nhà góp phần tạo dựng một nguồn nhân lực có tư duy linh hoạt cho tương lai.

    Trường mầm non Đồng Tĩnh

    Hình ảnh: Hội thi “Bé thông minh nhanh trí” năm học 2022-2017

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực 2022
  • Bộ Sách Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học (6 Cuốn
  • Bộ Sách “đổi Mới Phương Pháp Dạy Học”
  • Báo Cáo Tổng Kết Đánh Giá Các Phương Pháp Đổi Mới Dạy Học Và Công Tác Quản Lý Đổi Mới Dạy Học, Kiểm Tra Đánh Giá
  • Trường Thpt Quang Trung Đống Đa
  • Phương Pháp Trực Quan Trong Dạy Học Toán Ở Lớp 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Sử Dụng Phương Pháp Trực Quan Trong Dạy Toán Ở Tiểu Học
  • Cách Dạy Con Học Toán Lớp 1 Đơn Giản, Hiệu Quả Tại Nhà
  • Một Số Giải Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Bí Quyết Dạy Toán Cho Trẻ Chuẩn Bị Vào Lớp 1
  • Luận Văn: Phương Pháp Dạy Học Dự Án Trong Dạy Hóa Học Lớp 10
  • MỤC LỤC

    Trang

    A. PHẦN MỞ ĐẦU : ……………………………………………………………………………………………………… 2

    I. Lời nói đầu . ………………………………………………………………………………………………… 2

    II. Ý nghĩa và tác dụng của đề tài . ……………………………………………………………… 4

    III. Lý do chọn đề tài ………………………………………………………………………………………………… 6

    IV. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu. ………………………………………………………………… 8

    V . Phương pháp nghiên cứu . ……………………………………………………………………………… 9

    VI. Cấu trúc đề tài . ……………………………………………………………………………………………… 10

    B. PHẦN NỘI DUNG: ………………………………………………………………………….. 12

    Chương I : Những vấn đề chung ………………………………………………………………………………. 12

    I. Phương pháp trực quan là gì …………………………………………………………………………… 12

    II. Sự cần thiết phải dùng phương pháp trực quan trong dạy học………………… 12

    III. Các phương tiện trực quan thường dùng cho học sinh lớp 3 ……………… 15

    Chương II: Phương pháp trực quan trong việc trong dạy học toán ở lớp 3 tiểu học 17

    I. Hình thành kiến thức mới …………………………………………………………………………………… 17

    II. Thực hành giải toán ……………………………………………………………………………………………………. 22

    1. Tóm tắt đề toán …………………………………………………………………………………………………… 22

    1.1. Tóm tắt đề toán bằng sơ đồ đoạn thẳng ………………………………………… 22

    1.2. Tóm tắt bài toán bằng lưu đồ …………………………………………………………………… 23

    1.3. Tóm tắt đề toán bằng hình tượng ………………………………………………… 24

    1.4. Tóm tắt đề toán sơ đồ ven ……………………………………………………………… 24

    1.5. Tóm tắt đề toán bằng bảngkẻ ô ……………………………………………………… 25

    1.6. Tóm tắt đề toán có công thức bằng lời ……………………………………… 26

    2. Phân loại đểgiải các bài toán …………………………………………………………… 26

    2.1. Phân loại ……………………………………………………………………………………………… 26

    2.2. Trực quan với việc giải toán ……………………………………………………… 27

    2.3. Một số bài toán giải được bằng phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng.. 27

    2.4. Một số bài toán ở lớp 3 mang nội dung hình học ………………… 29

    2.5. Trực quan trong ôn tập hệ thống hoá kiến thức ………………… 32

    3. Trực quan là cơ sở hay chổ dựa vững chắc để học sinh phát triển khả năng khái quát cao 35

    III. Những yêu cầu cơ bản khi sử dụng phương pháp trực quan dạy học toán

    Lớp 3 của trường tiểu học Lý Tự Trọng – Buôn Ma Thuột – Đak Lak 37

    IV. Tính hiệu quả khi dạy học bằng phương pháp trực quan ………………. 38

    C. KẾT LUẬN …………………………………………………………………………………………………………… 40

    1. Kết luận đề tài ………………………………………………………………………………………………… 40

    2. Một số đề xuất kiến nghị ……………………………………………………………………… 42

    D. TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………………………………… 43

    A.PHẦN MỞ ĐẦU

    I/ LỜI NÓI ĐẦU:

    Như chúng ta đã biết, tiểu học là bậc học nền tảng đặt cơ sở ban đầu rất cơ bản và thiết yếu, chuẩn bị cho phát triển toàn diện nhân cách con người trong thời kỳ “Công nghiệp hoá- hiện đại hoá” đất nước Theo định hướng xã hôïi chủ nghĩa. Đồng thời nó cũng đặt nền móng vững chắc cho GD phổ thông và toàn bộ hệ thống giáo dục Quốc dân. Việc đổi mới SGK chính là để nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường sao cho phù hợp với tiến độ ngày càng phát triển của toàn xã hội chúng ta hiện nay mà toán học là một trong những môn học quan trọng nhất vì nó xâm nhập vào mọi lĩnh vực trong cuộc sống.

    Nhằm nâng cao chất lượng giảng dậy, đáp ứng nhu cầu đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học hiện nay trường Đại học Quy Nhơn và trực tiếp là khoa giáo dục tiểu học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho học viên được cập nhật kiến thức và phương pháp dạy học theo nhiều hình thức. Trong đó chú trọng đến công tác nghiên cứu khoa học cho cả giảng viên , học viên vừa làm vừa học, sinh viên chính quy.

    Với phương hướng đổi mới trong PPDH hiện nay là ” Lấy học sinh làm trung tâm ” thì sự phối hợp nhịp nhàng giữa các PPDH truyền thống với phương tiện dạy học như đồ dùng học tập,tranh ảnh, hình vẽ minh hoạ. . . là hết sức cần thiết.

    Đặc biệt môn toán là một môn học đòi hỏi tư duy và trừu tượng cao. Chính vì thế ” hình ảnh trực quan ” là chỗ dựa để giáo viên có thể phát triển tư duy cho học sinh. Để dạy học có nội dung mới, phong cách mới, có phương pháp khái quát trừu tượng cao.

    Được sự đồng ý của lãnh đạo nhà trường, khoa Giáo dục tiểu học. Tôi nhận thực hiện bài tập nghiên cứu với đề tài ” Phương pháp trực quan trong dạy học toán ở lớp 3 của trường tiểu học Lý Tự Trọng – Buôn Ma Thuột – Đak Lak “. Phương pháp trực quan thể hiện ở mọi khâu của quá trình dạy học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Lớp 1″ Thu Hien Doc
  • Biện Pháp Dạy Toán Có Lời Văn Lớp 1
  • Phương Pháp Giải Toán Có Lời Văn Lớp 1
  • Phương Pháp Dạy Toán Cho Bé Chuẩn Bị Vào Lớp 1
  • Đề Tài Giải Pháp Khoa Học Dạy Học Môn Toán Lớp 10 Ở Trường Thpt Nguyễn Trung Trực Thông Qua Phương Pháp Trò Chơi
  • Steame Garten: Dạy Trẻ Mầm Non Theo Phương Pháp Dạy Học Dự Án

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Học Theo Dự Án, Phương Pháp Dạy Trẻ Mầm Non Mới Tại Steame Garten
  • Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Theo Dự Án Để Dạy Môn Gdcd
  • Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Theo Dự Án Để Dạy Môn Gdcd Van Dung Phuong Phap Day Hoc Theo Du An Doc
  • Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Theo Dự Án Trong Phần “địa Lý Địa Phương” Địa Lý 12 Nâng Cao
  • Để Con Phát Huy Tốt Khả Năng Sáng Tạo Với Phương Pháp Reggio Emilia
  • STEAME GARTEN đơn vị đi tiên phong trong việc đưa phương pháp Dạy học Dự án cho trẻ Mầm non.

    Phương pháp Dạy học Dự án là gì?

    Trường mầm non STEAMe GARTEN là một trong những trường Mầm non đầu tiên áp dụng phương pháp Dạy học Dự án. Đây là một trong những phương pháp dạy học hiện đại đang được áp dụng tại nhiều nước phát triển trên thế giới.

    Trong quá trình hoạt động Dự án, các bé tại STEAMe không chỉ được nghiên cứu lý thuyết mà còn được thực hành và ứng dụng các kiến thức, kĩ năng của nhiều lĩnh vực để giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp hoặc một vấn đề nào đó trong thực tế cuộc sống mà trẻ gặp phải.

    Bên cạnh đó, phương pháp Dạy học dự án tôn trọng sự khác biệt nên việc thiết kế môi trường phong phú để trẻ có thể tự chọn đề tài, nội dung khám phá phù hợp với với sở thích và năng lực cá nhân sẽ thu hút được hứng thú của trẻ khi tham gia hoạt động.

    Tại STEAMe các Dự án học mang tính thực tiễn rất cao, gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống của trẻ. Có thể kể đến một vài dự án như: “Lớp học của bé”, “Hạt ngũ cốc”, “Đồ tái chế ” hay Dự án “Bắp ngô”.

    Ví dụ trong dự án “Bắp ngô” – diễn ra trong một tuần, các cô sẽ cùng trẻ trò chuyện, khám phá về những câu chuyện xung quanh bắp ngô: “Những điều con biết về bắp ngô?”, “Con muốn biết thêm gì về bắp ngô?”, “Bắp ngô gồm những gì”? “Ngô có thể làm thành những món ăn nào”? “Có bao nhiêu loại ngô, đó là những loại ngô nào”? “Cây ngô mọc lên từ đâu”? “Bắp ngô hình thành như thế nào”?

    Để tìm được câu trả lời cho những câu hỏi trên, trẻ phải tự tìm và thu thập kiến thức từ các nguồn khác nhau: xem tranh/ảnh/sách về ngô, hỏi người lớn, xem trên internet…và hệ thống các kiến thức thu được bằng hình ảnh, thu âm, video hay bảng biểu…tùy theo cách của từng trẻ.

    Bên cạnh đó trẻ sẽ được trải nghiệm thực tế để biết cây ngô mọc lên từ đâu, lá ngô như thế nào, hoa (cờ) ngô ra làm sao? Ăn ngô có tốt cho sức khỏe không”? Hay trẻ được trải nghiệm làm các món ăn từ ngô: ngô luộc, bánh ngô, bỏng ngô, sữa ngô…

    Ngoài ra, trẻ còn được dùng chính các phần của bắp ngô hoặc được thể hiện kiến thức của mình về ngô thông qua các hoạt động tạo hình: vẽ, nặn, cắt, bồi, đan tết…và các hoạt động nghệ thuật như đóng kịch, đọc thơ, thậm chí với các bạn lớp lớn còn có thể tự sáng tác các bài thơ về ngô. Kết thúc dự án, tất cả trẻ đều có cơ hội để thể hiện, giới thiệu về kết quả của mình khi tham gia dự án.

    3 bước trong cách dạy học dự án cho trẻ Mầm non

    Phương pháp dạy học dự án với trẻ Mầm non được triển khai theo 3 bước cơ bản: Mở dự án, kết nối thông tin về dự án và đóng dự án.

    Bước mở dự án là bước đóng vai tò quan trọng trong suốt quá trình thực hiện dự án. Giáo viên thực hiện mở dự án thành công sẽ tạo cho trẻ hứng thú, động lực để khám phá dự án một cách tích cực. Hoạt động Mở dự án giúp cho giáo viên khảo sát được kiến thức của trẻ về đề tài đã lựa chọn để chủ động định hướng hoạt động của trẻ.

    Còn về phía học sinh: Trẻ được tái hiện lại những kiến thức mình đã biết về đề tài và liệt kê ra những điều mình muốn biết thêm về đề tài, giáo viên có thể gợi ý để trẻ tìm ra vấn đề.

    Từ đó trẻ tự lập được kế hoạch cho mình trong quá trình khám phá dự án: Tìm câu trả lời cho những thắc mắc bằng cách nào? ở đâu? khi nào?

    Giai đoạn kết nối thông tin về dự án. Đây là quá trình trẻ thực hành tìm hiểu các kiến thức trả lời cho các thắc mắc của mình bằng các hoạt động với các kỹ năng: tìm kiếm, thu thập, lưu trữ và xử lý thông tin, tham gia các hoạt động trải nghiệm thực tế.

    Trong giai đoạn này giáo viên sẽ giúp trẻ lên kế hoạch tìm kiếm thông tin qua các phương tiện như máy ảnh, máy tính, chuyến đi, vẽ…. sau đó trẻ sẽ báo cáo lại kết quả tìm được thông tin đó.

    Đóng dự án là bước triển khai cuối cùng trong một dự án học. Ở bước đóng dự án này, trẻ được thể hiện lại những kiến thức, kỹ năng trẻ lĩnh hội đươc qua quá trình khám phá dự án. Để làm được điều đó đòi hỏi trẻ phải có kỹ năng ghi nhớ, tổng hợp, thuyết trình…

    Cuối cùng các bé có thể mời bố mẹ, khách, bạn bè tới tham dự buổi tổng kết để chứng kiến và xem mình thể hiện sự hiểu biết thông qua những vấn đề trong dự án vừa học.

    Điều quan trọng nhất trong mỗi dự án học của STEAMe GARTEN là làm sao để trẻ cảm thấy hứng thú với dự án đang được học.

    Điều này sẽ kích thích sự khám phá, tìm tòi xuất phát từ nhu cầu của bản thân trẻ và hứng thú hơn nữa khi trẻ được khám phá bằng chính những trải nghiệm trực tiếp của mình.

    Những trải nghiệm đó khiến cho bé nhớ lâu hơn và cảm thấy yêu thích việc học tập, kiến thức từ đó cũng được “ngấm” một cách tự nhiên.

    Nguồn https://www.giadinhmoi.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Phương Pháp Dạy Học Dựa Trên Giải Quyết Vấn Đề
  • Phương Pháp Dạy Học Dựa Trên Vấn Đề
  • Những Phương Pháp Dạy Học Truyền Thống Và Tích Cực Trong Dạy Học Toán Ở Tiểu Học
  • Cách Dạy Bé 4 Tuổi Học Toán Thoải Mái Và Hiệu Quả
  • Phương Pháp Dạy Học Cho Bé 4 Tuổi
  • Sử Dụng Phương Pháp Trực Quan Trong Dạy Toán Ở Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Dạy Con Học Toán Lớp 1 Đơn Giản, Hiệu Quả Tại Nhà
  • Một Số Giải Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Bí Quyết Dạy Toán Cho Trẻ Chuẩn Bị Vào Lớp 1
  • Luận Văn: Phương Pháp Dạy Học Dự Án Trong Dạy Hóa Học Lớp 10
  • Luận Văn: Phương Pháp Dạy Học Dự Án Trong Dạy Hóa Lớp 11, 9Đ
  • TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

    KHOA SƢ PHẠM

    BỘ MÔN TOÁN

    LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

    SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP TRỰC QUAN

    TRONG DẠY TOÁN Ở TIỂU HỌC

    Giáo viên hướng dẫn:

    Ths. Đặng Văn Thuận

    Sinh viên thực hiện:

    Lý Thị Thanh Thúy

    Ngành: Giáo dục Tiểu học

    Khóa: 34

    MSSV: 1080395

    Cần Thơ, 05/2012

    MỤC LỤC

    A- PHẦN MỞ ĐẦU

    I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ……………………………………………………………………………. 5

    II. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU …………………………………………………………………. 7

    III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ………………………………………………………………….. 7

    IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU …………………………………………………………………… 7

    V. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……………………………………………………………. 8

    B – NỘI DUNG

    CHƢƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN …………………………………………………………… 9

    I.1. Vị trí môn toán ở trƣờng Tiểu học …………………………………………………………. 9

    I.2. Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học ……………………………………………. 9

    I.2.1. Đặc điểm về nhận thức ………………………………………………………………………… 9

    I.2.2. Con đường hình thành kiến thức ở học sinh Tiểu học ………………………….. 12

    I.3. Những tính chất của toán học ………………………………………………………………. 12

    I.3.1Tính trừu tượng ………………………………………………………………………………….. 12

    I.3.2 Tính khái quát và sự khái quát hóa ……………………………………………………… 13

    I.3.3 Tính thực tiễn …………………………………………………………………………………….. 13

    I.4 Học sinh Tiểu học học toán nhƣ thế nào? ………………………………………………. 13

    CHƢƠNG II. VẤN ĐỀ SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP TRỰC QUAN

    TRONG DẠY TOÁN Ở TIỂU HỌC ………………………………………………….. 15

    II.1 Nhu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học ở Tiểu học ………………………………. 15

    II.2 Thực tế dạy học toán hiện nay …………………………………………………………….. 16

    2

    II.3 Phƣơng pháp trực quan ………………………………………………………………………. 17

    II.3.1 Quan niệm về phương pháp trực quan ……………………………………………….. 17

    II.3.2 Vai trò, tác dụng của phương pháp trực quan trong dạy học toán…………. 19

    II.3.3 Một số phương tiện trực quan sử dụng trong dạy học toán ở Tiểu học ….. 19

    II.3.4 Các vấn đề sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học toán

    ở Tiểu học…………………………………………………………………………20

    II.3.5 Thực trạng về sử dụng trực quan trong dạy toán ở các trường Tiểu học .. 26

    CHƢƠNG III. MỘT SỐ GIÁO ÁN ĐỀ NGHỊ …………………………………… 27

    CHƢƠNG IV. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ……………………………………… 51

    IV.1 Một số vấn đề về thực nghiệm sƣ phạm ………………………………………………. 51

    IV.1.1 Mục đích thực nghiệm ……………………………………………………………………… 51

    IV.1.2 Nội dung thực nghiệm………………………………………………………………………. 51

    IV.1.3 Đối tượng thực nghiệm …………………………………………………………………….. 51

    IV.1.4 Tổ chức thực nghiệm ……………………………………………………………………….. 51

    IV.1.5 Phân tích kết quả thực nghiệm ………………………………………………………….. 67

    IV.2 Kết luận thực nghiệm…………………………………………………………………………. 78

    C – KẾT LUẬN ………………………………………………………………………………… 79

    D – TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………………. 82

    3

    DANH MỤC VIẾT TẮT

    – HS: học sinh.

    – GV: Giáo viên.

    – SGK: Sách giáo khoa.

    – GD & ĐT: Giáo dục và Đào tạo.

    4

    Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí và khả năng tiếp thu kiến thức khoa học tự nhiên của trẻ

    theo từng độ tuổi, em nhận thấy rằng các tính chất trừu tượng, khái quát đặc trưng của

    môn toán đối với khả năng tiếp thu, nhận thức của học sinh Tiểu học gặp rất nhiều khó

    khăn để nắm được nó. Để giải quyết vấn đề trên, em đã lựa chọn giải pháp sử dụng

    phương pháp trực quan trong việc giảng dạy môn toán ở bậc Tiểu học. Em mong rằng

    việc sử dụng phương pháp này sẽ giúp học sinh dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và lĩnh

    hội kiến thức toán học trừu tượng. Mục tiêu đặt ra cần đạt được đối với cả thầy và trò là:

    đối với việc học toán thì: ” Học sinh đến trường trong đầu là dấu chấm hỏi, khi về nhà thì

    chỉ là dấu chấm”.

    III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

    – Nắm được đặc điểm tư duy toán học của học sinh Tiểu học.

    – Tiếp thu các ưu điểm, khuyết điểm tồn tại của phương pháp trực quan. Từ đó, bản

    thân có định hướng áp dụng phù hợp trong quá trình giảng dạy trên lớp.

    – Thực nghiệm sư phạm phương pháp trực quan trong giảng dạy toán để kiểm tra đánh

    giá hiệu quả tác động đối với việc tiếp thu kiến thức toán của học sinh. Từ đó đúc kết kinh

    nghiệm trong qua trình giảng dạy.

    – Tìm kiếm, phát hiện, đề xuất các phương tiện trực quan có hiệu quả tích cực trong

    việc học toán của học sinh Tiểu học.

    IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

    – Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.

    – Đề xuất một số yếu tố mới về đề tài có hiệu quả tích cực trong việc dạy và học toán ở

    bậc Tiểu học.

    6

    – Thiết kế một số bài giảng sử dụng phương pháp nghiên cứu.

    – Thử nghiệm các bài giảng đã thiết kế.

    V. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    – Phương pháp nghiên cứu lý luận.

    – Phương pháp quan sát.

    – Phương pháp điều tra giáo dục.

    – Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.

    – Phương pháp thực nghiệm sư phạm.

    7

    B – NỘI DUNG

    CHƢƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

    I.1 Vị trí môn toán ở trƣờng Tiểu học

    Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ

    sở ban đầu, rất quan trọng của nhân cách con người. Trong các môn học ở Tiểu học, cùng

    với môn tiếng việt, môn toán có vị trí quan trọng, vì:

    – Các kiến thức, kĩ năng của môn toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời

    sống; Chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác ở

    Tiểu học và học tập tiếp môn toán ở Trung học.

    – Môn toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng và hình dạng

    không gian của thế giới hiện thực. Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận thức một số

    mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống.

    – Môn toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ,

    phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề; Nó góp phần phát triển trí thông

    minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo; Nó đóng góp vào việc hình thành các

    phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt

    khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và có tác phong khoa học.

    I.2 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học

    I.2.1 Đặc điểm về nhận thức

    I.2.1.1 Tri giác

    Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính chất đại thể ít đi sâu vào chi tiết và mang

    tính không chủ định. Khả năng phân tích một cách có tổ chức và sâu sắc khi tri giác ở học

    sinh các lớp đầu bậc Tiểu học còn yếu, các em thường thâu tóm sự vật về toàn bộ, về đại

    thể để tri giác.

    Ở học sinh Tiểu học tri giác không chủ định vẫn chiếm ưu thế. So với trẻ mẫu giáo

    thì thị giác của học sinh Tiểu học nhạy bén hơn, độ nhạy đó tăng lên trong suốt thời kỳ

    học Tiểu học. Các em nhạy cảm với các tác động bên ngoài vì hoạt động của hệ thống tín

    8

    hiệu thứ nhất còn chiếm ưu thế và chưa phân biệt chính xác được các sự vật giống nhau,

    đó là khả năng phân tích khi tri giác còn yếu do trẻ có khuynh hướng đoán vội vàng.

    Ở bậc Tiểu học tri giác của học sinh thường gắn với những hành động và hoạt

    động thực tiễn của các em. Vì vậy, tất cả các hình thức trực quan bằng sự vật, bằng hình

    ảnh và bằng lời nói cần được sử dụng trong các giờ lên lớp ở bậc Tiểu học. Khi bắt đầu

    học, trẻ em không chỉ cần hiểu điều mình đọc, mà còn biết nhìn sự vật đúng và tinh, biết

    nhận thấy những đặc điểm của sự vật. Không những chỉ học suy nghĩ mà học cả quan sát

    nữa và thậm chí học quan sát trước khi học suy nghĩ.

    I.2.1.2 Chú ý

    Chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế so với chú ý có chủ định. Những kích

    thích có cường độ mạnh vẫn là một trong những mục tiêu thu hút sự chú ý của trẻ. Chú ý

    có chủ định đang phát triển mạnh, do trí thức được mở rộng, ngôn ngữ phong phú, tư duy

    phát triển. Sự tập trung chú ý và tính bền vững của chú ý của học sinh Tiểu học đang phát

    triển nhưng chưa bền vững, là do quá trình ức chế phát triển còn yếu, tính hưng phấn còn

    cao. Do vậy, chú ý của các em còn phân tán và dễ quên.

    I.2.1.3 Trí nhớ

    Trí nhớ của học sinh Tiểu học còn mang tính trực quan, hình tượng được phát triển

    hơn trí nhớ từ ngữ logic. Các em nhớ và gìn giữ chính xác những sự vật hiện tượng cụ thể

    nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, khái niệm, những lời giải thích dài dòng. Học

    sinh đầu cấp thường có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều

    lần, có khi chưa hiểu được những mối liên hệ, ý nghĩa của tài liệu và không thể sắp xếp

    lại để diễn đạt bằng lời lẽ của mình. Ở học sinh Tiểu học việc ghi nhớ các tài liệu trực

    quan có nhiều hiệu quả nhất. Tuy nhiên ở lứa tuổi này hiệu quả của việc ghi nhớ các tài

    liệu từ ngữ (cụ thể và trừu tượng) tăng rất nhanh. Trong việc ghi nhớ các tài liệu từ ngữ

    trừu tượng vẫn còn phải dựa trên những tài liệu trực quan hình tượng mới vững chắc.

    I.2.1.4 Tư duy

    Tư duy của trẻ mới đến trường mang tính trực quan cụ thể, mang tính hình thức

    bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những sự vật, hiện tượng cụ thể. Do vậy

    9

    việc sử dụng những sự vật ở bên ngoài và dùng lời nói để tính toán là rất cần thiết.

    Tư duy của học sinh Tiểu học chưa thoát khỏi tính trực quan cụ thể, chưa nhận

    thức được ý nghĩa của từ “nếu” trong các bài toán có lời văn. Nhiều em lung túng dẫn đến

    sai lầm trong tư duy. Nhờ ảnh hưởng của việc học tập dần dần chuyển nhận thức các mặt

    bề ngoài của các hiện tượng đến nhận thức được những thuộc tính và dấu hiệu bản chất

    của hiện tượng vào tư duy. Sự lĩnh hội tri thức không còn dựa trên nhận thức trực tiếp

    cảm tính mà phần lớn dựa vào cách nhận thức gián tiếp thông qua từ (có sự hỗ trợ của yếu

    tố trực quan).

    Quá trình vận dụng thao tác tư duy để hình thành khái niệm trải qua ba mức độ:

    Một là: Tri giác trực tiếp sự vật và hiện tượng cụ thể, học sinh tách ra các dấu hiệu trực

    quan, bề ngoài dễ thấy (màu sắc, hình dáng, độ lớn) các dấu hiệu dễ đập vào mắt hay dễ

    gây cảm xúc (hành vi, chức năng, công dụng) nhưng đó thường là những dấu hiệu không

    bản chất, các dấu hiệu thứ yếu; Hai là: Các em biết dựa trên các dấu hiệu không bản chất

    và bản chất, nhưng cái bản chất ở đây phải dễ bộc lộ, dễ tri giác và các dấu hiệu đó vẫn

    gắn liền với các hình ảnh trực quan các biểu tượng cụ thể; Ba là: Các em đã biết tách dấu

    hiệu bản chất ra khỏi các dấu hiệu không bản chất, nhưng vẫn dựa phải dựa vào sự vật cụ

    thể trực quan. Các dấu hiệu bản chất được nêu ra vẫn còn chưa đầy đủ.

    I.2.1.5 Tưởng tượng

    Tưởng tượng của các em nhỏ là tính trực quan, cụ thể: Đối với các em lớp 3, lớp 4

    tính trực quan cụ thể của tưởng tượng đã giảm đi, vì tưởng tượng của các em đã dựa vào

    ngôn ngữ. Về mặt cấu tạo hình tượng trong tưởng tượng, học sinh nhỏ chỉ lặp lại hoặc

    thay đổi chút ít về mặt kích thước và hình dáng những hình tượng tri giác trực tiếp trước

    đây. Chỉ có các em ở lớp 4, lớp 5 có khả năng nhào nặn, gọt sửa những hình tượng cũ để

    sáng tạo ra hình tượng mới.

    I.2.1.6 Ngôn ngữ

    Ngôn ngữ của học sinh Tiểu học đã phát triển rất rõ rệt cả về số lượng và chất

    lượng. Do nội dung học tập đã mở rộng, nên ngôn ngữ của các em đã vượt ra khỏi phạm

    vi những từ sinh hoạt, cụ thể và đã bao gồm nhiều khái niệm khoa học, trừu tượng.

    10

    I.2.2 Con đường hình thành kiến thức ở học sinh Tiểu học

    Từ thực tiễn dạy học các nhà giáo dục đã rút ra ba con đường hình thành kiến thức

    ở học sinh Tiểu học theo các cấp độ trực quan như sau:

    Cấp độ một: Từ quan sát và tri giác trực tiếp sự vật và hiện tượng của thế giới để

    hình thành biểu tượng và khái niệm khoa học. Đây là con đường hết sức quan trọng trong

    quá trình nhận thức, đặc biệt là học sinh nhỏ tuổi khi mà các em chưa có các biểu tượng

    ban đầu và năng lực tư duy trừu tượng còn thấp.

    Cấp độ hai: Học sinh tri giác qua hình ảnh các vật hay hiện tượng. Ở đây thực tiễn

    đã được trừu tượng hóa một bước. Để nhận thức được, học sinh cần sử dụng trí tưởng

    tượng của mình ở một mức độ nhất định nào đó. Việc sử dụng hình ảnh trong quá trình

    dạy học làm cho việc vận dụng phương pháp trực quan được thuận lợi bởi không phải lúc

    nào cũng có thể tạo ra được vật thật trên lớp được. Một khi các em đã có kinh nghiệm và

    có vốn hiểu biết về tự nhiên và xã hội thì không phải lúc nào vật thật cũng cần thiết trong

    dạy học. Chính lúc này các tài liệu trực quan lại giúp các em hiểu dễ dàng và hệ thống

    hơn, đồng thời kích thích trí tưởng tượng các em.

    Cấp độ ba: Học sinh nhận thức sự vật hiện tượng xung quanh qua ngôn ngữ và kí

    hiệu, đặc biệt là mô hình, trường hợp này dành cho các lớp lớn, bởi năng lực tư duy trừu

    tượng của học sinh đã phát triển ở mức độ cao và đây là con đường đóng vai trò hết sức

    quan trọng trong rèn luyện tư duy nhận thức cho học sinh, để thực hiện theo con đường

    này cần có các sách vở, tài liệu, biểu đồ.

    I.3 Những tính chất của toán học

    I.3.1 Tính trừu tượng

    Trong toán học, tính trừu tượng thoát ra khỏi mọi nội dung có tính chất liệu mà

    chỉ giữ lại các quan hệ số lượng, hình dạng và lôgic, tức là chỉ về cấu trúc toán học mà

    thôi. Sự trừu tượng hóa của toán học không dừng ở mức độ nhất định mà tiến dần từ mức

    này đến mức khác. Tính trừu tượng có được nhờ ba phương thức trừu tượng cơ bản:

    11

    – Trừu tượng hóa đồng nhất: Tính chất hay quan hệ chung của đối tượng nghiên

    cứu được tách xa, xem như là thuộc tính của chính lớp đối tượng đó (còn gọi là trừu

    tượng hóa khái quát).

    – Trừu tượng hóa lí tưởng: Từ đối tượng sự vật thật trở thành đối tượng thuần khiết

    tồn tại trong tư duy.

    – Trừu tượng hóa giả định: Mở rộng giới hạn thực tế của việc xây dựng các đối

    tượng toán học với điều kiện xác định, theo giả định cho trước.

    I.3.2 Tính khái quát và sự khái quát hóa

    Tính khái quát trong toán học làm rõ các qui luật; Các dấu hiệu bản chất của hàng

    loạt các hiện tượng trong thực tiễn khách quan. Tính khái quát có được nhờ sự khái quát

    hóa. Sự khái quát hóa có bốn mức độ:

    – Khái quát hóa từ nhiều sự vật, hiện tượng cụ thể.

    – Khái quát hóa từ cái đã biết.

    – Khái quát hóa từ cái khái quát.

    – Khái quát hóa từ cái chưa biết.

    I.3.3 Tính thực tiễn

    Các đối tượng toán học rất đa dạng, phong phú, có tính trừu tượng và khái quát hóa

    cao nhưng đều có nguồn gốc từ thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phục vụ cho thực tiễn.

    I.4 Học sinh Tiểu học học toán nhƣ thế nào?

    Lứa tuổi Tiểu học (6-7 tuổi đến 11-12 tuổi) là giai đoạn mới của phát triển tư duy,

    giai đoạn tư duy cụ thể. Trong một chừng mực nào đó, hành động trên các đồ vật, sự kiện

    bên ngoài còn là chỗ dựa hay điểm xuất phát cho tư duy. Học sinh có khả năng nhận thức

    và tư duy có bước tiến rất quan trọng – điều kiện ban đầu cần thiết để hình thành khái

    niệm “số”. Học sinh lớp 1 nhận thấy sự không thay đổi khi thay đổi cách sắp xếp các

    phần tử (dựa vào lớp các tập hợp tương đương), từ đó hình thành khái niệm bảo toàn “số

    lượng” của các tập hợp trong lớp các tập hợp đó.

    12

    Học sinh cuối cấp có những tiến bộ về nhận thức không gian như phối hợp cách

    nhìn một hình hợp từ các phía khác nhau, nhận thức được các quan hệ giữa các hình với

    nhau ngoài các quan hệ trong nội bộ một hình.

    Học sinh Tiểu học bước đầu có khả năng thực hiện việc phân tích tổng hợp, trừu

    tượng hóa – khái quát hóa và những hình thức đơn giản của sự suy luận, phán đoán. Ở học

    sinh Tiểu học, phân tích và tổng hợp phát triển không đồng đều, tổng hợp có khi không

    đúng hoặc không đầy đủ, dẫn đến khái quát sai trong hình thành khái niệm. Khi giải toán,

    học sinh thường bị ảnh hưởng bởi một số từ “thêm”, “bớt”, “nhiều gấp”…tách chúng ra

    khỏi điều kiện chung để lựa chọn phép tính ứng với từ đó, do vậy dễ mắc sai lầm.

    Các khái niệm toán được hình thành qua trừu tượng hóa và khái quát hóa nhưng

    không thể chỉ dựa vào tri giác với các khái niệm toán học còn là kết quả của thao tác tư

    duy. Có hai dạng từu tượng hóa: sự trừu tượng hóa từ các đồ vật, hiện tượng cảm tính và

    sự từu tượng hóa từ các hành động. Khi thực hiện trừu tượng hóa nhằm rút ra các dấu

    hiệu bản chất, chẳng hạn: thông qua trừu tượng hóa từ các đồ vật (tập hợp cụ thể) loại bỏ

    đặc tính màu sắc, kích thước hình thành lớp các tập hợp tương đương, sau đó chỉ quan

    tâm đến cái chung giữa lớp các tập hợp tương đương đó, đi đến khái niệm “số” (trừu

    tượng hóa trên hành động).

    Học sinh Tiểu học, nhất là các lớp đầu cấp thường phán đoán theo cảm nhận riêng

    nên suy luận thường mang tính tuyệt đối. Trong học toán, học sinh khó nhận thức về

    quan hệ kéo theo trong suy diễn. Chẳng hạn đáng lẽ hiểu: “12=3×4 nên 12:3=4”, thì lại

    coi đó là hai mệnh đề không có quan hệ với nhau. Các em khó chấp nhận các giả thiết, dữ

    kiện có tính chất hoàn toàn giả định bởi khi suy luận thường gắn với thực tế, phép suy

    diễn của “hiện thực”. Bởi vậy khi nghe một mệnh đề toán học các em chưa có khả năng

    phân tích rành mạch các thuật ngữ, các bộ phận của câu mà hiểu nó một cách tổng quát.

    13

    CHƢƠNG II. VẤN ĐỀ SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP TRỰC QUAN TRONG

    DẠY TOÁN Ở TIỂU HỌC

    II.1 Nhu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học ở Tiểu học

    Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay không chỉ là phong trào mà còn là một yêu

    cầu bắt buộc với mọi giáo viên. Bộ GD&ĐT cũng đã đưa ra định hướng chỉ đạo, phát

    động và triển khai mạnh mẽ tại hầu khắp địa phương trên cả nước. Tuy nhiên, thực tế cho

    thấy nhiều nhà trường, giáo viên vẫn loay hoay trong công tác đổi mới nhằm đem đến cho

    các em học sinh những giờ học thực sự bổ ích, lý thú với nội dung giảng dạy hấp dẫn giúp

    các em học sinh hứng thú trong học tập và việc lựa chọn phương tiện giảng dạy phù hợp

    trong những giờ lên lớp.

    Trong tháng cuối năm 2010, Vụ Giáo dục Tiểu học (Bộ GD&ĐT) đã tổ chức Hội

    thảo “Chuẩn kiến thức kỹ năng và phương pháp đổi mới giáo dục Tiểu học” trên toàn

    quốc và đã thu về nhiều ý kiến thiết thực từ các Sở GD&ĐT các tỉnh, thành phố; Trong

    đó, có những ý kiến chia sẻ về thực tế hoạt động đổi mới phương pháp dạy và học tại các

    trường hiện nay. Ý kiến cho rằng: “Nếu đổi mới là cứ phải sử dụng hết các phương tiện

    giảng dạy hiện đại trong giờ học thì giáo viên không thể hoàn thành bài giảng trên lớp của

    mình và không thể làm được như vậy. Đổi mới là cả một quá trình, giáo viên cần có thời

    gian để tìm hiểu và chọn lọc phương tiện giảng dạy phù hợp nhất với khả năng của mình

    để sử dụng chúng một cách chủ động và sáng tạo. Đồng thời, giáo án chuẩn bị cũng phải

    thay đổi để phù hợp với phương tiện và phong cách giảng dạy mới. Trong một giờ lên

    lớp, giáo viên không thể sử dụng hết cả máy chiếu, bảng thông minh, ti vi – đầu đĩa, ta chỉ

    nên lựa chọn một phương tiện phù hợp, tiện lợi và phổ biến nhất”.

    Khảo sát tại các trường Tiểu học trên địa bàn cho thấy hầu hết các nhà trường hiện

    nay đều có trang bị ti-vi, đầu đĩa hoặc máy chiếu, rất tiện lợi cho các thầy cô giáo sử dụng

    tài liệu bằng âm thanh, hình ảnh trong quá trình giảng dạy, giúp bài học trở nên hấp dẫn

    hơn. Hầu hết các nhà trường đều chọn ti-vi, đầu đĩa trang bị cho từng lớp học do chi phí

    thấp, dễ sử dụng lại gần gũi với các thầy cô giáo và các em học sinh. Tuy nhiên, theo chia

    sẻ của rất nhiều thầy cô giáo, các thầy cô vẫn chưa thể tận dụng tối đa tác dụng của những

    14

    phương tiện giảng dạy hiện đại đó. Thậm chí, nhiều thầy cô chưa từng “động tới” ti-vi,

    đầu đĩa trong quá trình giảng dạy. Ở nhiều lớp, những phương tiện trên nhiều khi chỉ

    dừng lại ở chức năng trang trí. Việc tìm kiếm các video minh họa cho nội dung bài giảng,

    những hình ảnh sống động, các mô hình trực quan phù hợp nội dung,… sẽ thu hút các em

    tham gia vào hoạt động học tập và dễ dàng tiếp thu, ghi nhớ bài hơn. Nhưng vì trở ngại là

    nguồn tài liệu không dồi dào và tốn nhiều thời gian, dẫn đến nhiều giáo viên không chuẩn

    bị tốt hoặc sáng tạo các đồ dùng dạy học sử dụng trong những giờ lên lớp . Bên cạnh đó,

    trường hợp có phương tiện nhưng nhiều khi tài liệu và phương pháp giảng dạy phù hợp là

    cả một vấn đề nan giải. Nếu không có một quy trình giảng dạy thích hợp, thì hiệu quả của

    các phương tiện sẽ không được phát huy đúng cách.

    Giáo viên cần xây dựng nội dung giảng dạy hấp dẫn. Bản thân mỗi thầy cô giáo

    khi có nguồn tài liệu phong phú, hấp dẫn để truyền đạt tới học sinh cũng sẽ yêu bài giảng

    của mình hơn. Đó là yếu tố thúc đẩy các thầy cô lựa chọn và vận dụng phương tiện giảng

    dạy thích hợp nhất giúp cho hoạt động đổi mới phương pháp dạy và học trên lớp có hiệu

    quả. Sử dụng tốt các phương tiện, đồ dùng dạy học (của học sinh hoặc phương tiện biểu

    diễn của giáo viên) có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện có hiệu quả tiến

    trình đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực. Trước kia, đồ dùng dạy

    học thường chỉ dành cho giáo viên dùng để minh họa bổ sung những kết luận được nêu ra,

    học sinh chỉ quan sát để củng cố niềm tin vào những điều giáo viên giảng. Trong dạy học

    tích cực hiện nay, vai trò của đồ dùng dạy học đã thay đổi, đồ dùng dạy học chủ yếu cho

    học sinh thực hành và “khám phá” kiến thức mới. Vì vậy, tăng cường sử dụng phương

    tiện dạy học là một yêu cầu cấp thiết đối với người giáo viên.

    II.2 Thực tế dạy học toán hiện nay

    Nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, chương trình sách giáo khoa

    mới đã đổi mới nội dung, kiến thức phù hợp với thực tế, giúp học sinh dễ dàng liên hệ

    tiếp thu, thực hành, luyện tập. Nhưng hiệu quả học tập Toán của các em chưa cao do vẫn

    còn phổ biến tình trạng dạy “chay”, học “chay”.

    15

    Tình hình thực tế cho thấy có không ít trường Tiểu học hiện còn nhiều tiết lên lớp

    trong các giờ thực hành, luyện tập chưa đáp ứng đúng yêu cầu, mục tiêu bài học. Đặc biệt,

    đối với các trường vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, tình trạng dạy “chay”,

    học “chay” trong giờ lên lớp, trong các tiết luyện tập, thực hành là khá phổ biến. Hệ quả

    là các tiết học diễn ra trong không khí rời rạc, buồn tẻ, học sinh gặp khó khăn trong việc

    nắm vững kiến thức toán học trừu tượng, khái quát và vận dụng những kiến thức lý

    thuyết đó vào thực tiễn.

    Các tiết truyền đạt kiến thức mới và các tiết luyện tập, thực hành chưa mang lại

    hiệu quả như mong muốn do nhiều nguyên nhân: Về phía giáo viên, phương pháp thuyết

    giảng truyền thống theo lối áp đặt đối với học sinh vẫn còn tồn tại, phương pháp này

    không chỉ được sử dụng trong các tiết lý thuyết mà còn được áp dụng trong các tiết luyện

    tập, thực hành đã ảnh hưởng đến việc phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong

    việc vận dụng các kiến thức lý thuyết để giải quyết một bài tập hoặc một vấn đề thực tế,

    tạo sức ỳ trong tâm lý tiếp nhận của học sinh. Bên cạnh đó, vấn đề đáng quan tâm là để

    tiếp nhận các khái niệm trừu tượng toán học thì các em cần sự hỗ trợ của các thiết bị thực

    hành, dụng cụ trực quan… Tuy nhiên, hiện nay ở nhiều trường, đặc biệt là các trường

    miền núi, vùng sâu, vùng xa, phòng thực hành, thiết bị thực hành, đồ dùng dạy học nhìn

    chung còn thiếu thốn, chưa đồng bộ. Thiếu phương tiện hỗ trợ học tập, thực hành dẫn đến

    tình trạng thầy dạy “chay”, trò học “chay”. Hiệu quả tiết học, tiết thực hành, luyện tập, vì

    thế mà bị ảnh hưởng. Tình trạng nhiều học sinh ghi nhớ kiến thức toán học một cách máy

    móc mà không thật sự hiểu nó. Các em không tự giải thích được câu hỏi đặt ra trong các

    bài toán hoặc những suy luận: Tại sao lại sử dụng phép toán này mà không sử dụng phép

    toán khác? Tại sao lại có giá trị này?…Những điều đó làm các em có cảm giác nặng nề,

    lúng túng mỗi khi giải các bài toán. Từ đó, học sinh cảm thấy không hứng thú trong việc

    học toán và xem nó như một môn học nặng nề.

    Để cải thiện tình trạng bất cập trên giúp học sinh Tiểu học học toán một cách tích

    cực, hiệu quả, người giáo viên ngoài việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực thì

    việc sử dụng phương pháp trực quan, được xem là một phương pháp dạy học truyền

    thống, trong dạy học môn toán là đều hết sức cần thiết.

    16

    II.3 Phƣơng pháp trực quan

    II.3.1 Quan niệm về phương pháp trực quan

    II.3.1.1 Trực quan trong hoạt động dạy học là gì?

    Trực quan trong hoạt động dạy học, được hiểu là khái niệm dùng để biểu thị tính

    chất của hoạt động nhận thức, trong đó thông tin thu được từ các sự vật hiện tượng của

    thế giới bên ngoài nhờ sự cảm nhận trực tiếp của các cơ quan cảm giác con người.

    II.3.1.2 Các hình thức trực quan

    – Trực quan bằng đồ vật: là học sinh tri giác trực tiếp với các sự vật hiện tượng

    thực tế như vật thật, thực nghiệm chứng minh, tham quan…

    – Trực quan bằng hình tượng: cho học sinh tri giác các tranh ảnh, mô hình, bản đồ,

    phim…Có hai loại hình tượng: hình tượng thật và hình tượng tượng trưng. Các hình tượng

    nó không phải là vật thật nên đôi khi cũng làm cho học sinh khó hình thành mối quan hệ

    chính xác giữa vật tượng hình và vật thật. Do vậy, giáo viên cần chú ý tới các qui luật

    cảm giác, tri giác trong khi sử dụng những hình tượng trực quan.

    – Trực quan bằng lời nói: dùng lời nói để mô tả lại các sự vật. Lời nói phải mang

    tính gợi cảm, giàu hình tượng và dễ hiểu làm cho học sinh nhớ lại những biểu tượng đã có

    ở trong đầu để xây dựng biểu tượng mới qua lời nói của giáo viên.

    II.3.1.3 Phương tiện trực quan

    Phương tiện trực quan là những công cụ mà thầy giáo và học sinh sử dụng trong

    quá trình dạy học nhằm tạo ra các biểu tượng, hình thành những khái niệm cho học sinh

    thông qua sự tri giác trực tiếp thí dụ như các vật tự nhiên cây, hoa quả, mô hình, biểu đồ,

    phim ảnh để dạy học…

    II.3.1.4 Phương tiện dạy học

    Phương tiện dạy học là những công cụ mà thầy giáo và học sinh sử dụng trong quá

    trình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học đó là: các vật thật, các vật tượng trưng

    (bản đồ, sơ đồ, biểu đồ), các vật tạo hình (tranh ảnh, mô hình, hình vẽ, phim). Thí nghiệm

    và các thiết bị thí nghiệm, các phương tiện mô tả đối tượng và hiện tượng bằng lời, bằng

    17

    kí hiệu (sách giáo khoa, sách hướng dẫn, tài liệu in, các công thức, phương trình); các

    phương tiện kỹ thuật dạy học ( phương tiện nghe, nhìn, computer, camera,….).

    II.3.1.5 Phương tiện giáo dục

    Phương tiện giáo dục là khái niệm dùng để chỉ tất cả các dụng cụ, phương tiện mà

    giáo viên và học sinh trực tiếp sử dụng trong quá trình giáo dục (dạy học, lao động, vui

    chơi, sinh hoạt tập thể….) và các điều kiện vật chất cần thiết cho các hoạt động giáo dục

    đó (nhà cửa, bàn ghế, sân bãi, trường…).

    II.3.1.6 Phương pháp trực quan trong dạy học toán

    Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học toán ở Tiểu học nghĩa là giáo viên

    tổ chức hướng dẫn cho học sinh trực tiếp hoạt động trên các phương tiện, đồ dùng dạy

    học, từ đó giúp học sinh hình thành kiến thức và kĩ năng cần thiết của môn toán.

    Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học toán ở Tiểu học là quá trình kết hợp

    giữa cụ thể và trừu tượng nghĩa là tổ chức hướng dẫn cho học sinh nắm bắt được các kiến

    thức trừu tượng, khái quát của môn toán dựa trên những cái cụ thể, gần gũi với học sinh,

    sâu đó vận dụng những quy tắc, khái niệm trừu tượng, để giải quyết các vấn đề cụ thể của

    học tập và đời sống.

    II.3.2 Vai trò, tác dụng của phương pháp trực quan trong dạy học toán

    Do đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học (có tính trực giác, cụ thể) và do tính

    chất đặc thù của các đối tượng toán học (tính trừu tượng và khái quát cao) mà phương

    pháp trực quan có vai trò quan trọng trong quá trình dạy học toán ở Tiểu học.

    Với những hình ảnh trực quan (do các đồ dùng biểu diễn mang lại) và lời giảng của

    giáo viên học sinh sẽ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và lĩnh hội kiến thức toán học trừu

    tượng. Bản chất của phương pháp dạy học này là giáo viên đã tác động vào tư duy học

    sinh Tiểu học theo đúng qui luật nhận thức “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng

    và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”. Từ đó, nó giúp học sinh tích lũy những biểu tượng

    ban đầu của các đối tượng toán học, tạo chỗ dựa cho quá trình suy nghĩ, tri giác tiếp theo

    đồng thời giúp học sinh phát triển năng lực tư duy trừu tượng và trí tưởng tượng.

    18

    II.3.3 Một số phương tiện trực quan sử dụng trong dạy học toán ở Tiểu học

    Việc sử dụng phương tiện và đồ dùng dạy học có ý nghĩa to lớn trong việc nâng

    cao hiệu quả giờ học nói chung và đặc biệt là giờ học môn toán. Chúng mang lại hiệu quả

    tích cực trong quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh Tiểu học. Các giờ lên lớp, giáo

    viên thường sử dụng các dạng đồ dung trực quan trong dạy học toán:

    – Những vật thực có trong tự nhiên xung quanh trẻ: sách, vở, bút chì, thước kẻ,

    viên phấn; Bông hoa, quả cam,…Những mẫu vật cắt bằng giấy (bìa). Những vật tuy

    không có trước mắt, nhưng đã quá quen thuộc với các em như: chó, mèo, nhà cửa,…

    – Các bộ que tính, khác nhau về màu sắc, kích thước, biểu thị các hàng, lớp đơn vị

    thập phân.

    – Những bàn tính vừa dùng để học cấu tạo của số, học các hàng và lớp. Bảng cài,

    bảng nỉ (và các dạng bảng nỉ), bảng từ tính,…

    – Các bảng tính (bảng cộng, bảng nhân…), các bảng đơn vị đo lường; Các sơ đồ

    và bảng mô tả, chỉ dẫn cách giải toán điển hình, chỉ dẫn cách viết số, các phương pháp

    tính, cách tính chu vi, diện tích hình,…Những bảng, biểu này được dùng khi giảng bài

    hoặc treo trong lớp khi ôn tập,…

    – Những sơ đồ, biểu đồ, hình vẽ trên bảng lớp ngay trong từng giờ dạy, giới thiệu,

    những nét bản chất nhất của đối tượng và quan hệ toán học cần nghiên cứu.

    Ví dụ loại toán “Tìm hai số biết tổng và hiệu” (lớp 4) có thể được diễn đạt bằng

    một trong các sơ đồ sau:

    ?

    +8

    Nam

    ?

    Nữ

    ?

    50 học sinh

    8

    Ngoài ra còn có:

    – Sách giáo khoa với những hình ảnh, tranh vẽ, ví dụ, minh họa, quy tắc in đậm,

    công thức có đóng khung,…

    19

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Trực Quan Trong Dạy Học Toán Ở Lớp 3
  • Một Số Giải Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Lớp 1″ Thu Hien Doc
  • Biện Pháp Dạy Toán Có Lời Văn Lớp 1
  • Phương Pháp Giải Toán Có Lời Văn Lớp 1
  • Phương Pháp Dạy Toán Cho Bé Chuẩn Bị Vào Lớp 1
  • Giáo Dục Mầm Non : Dạy Số Học Cho Trẻ Mầm Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Về Dãy Số Thời Gian
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nội Dung Dạy Các Yếu Tố Hình Học Ở Tiểu Học
  • Một Số Vấn Đề Về Nội Dung Và Phương Pháp Dạy Các Yếu Tố Hình Học Lớp 3
  • Kế Toán Chi Tiết Nvl, Ccdc, Sp, Hh Theo Phương Pháp Sổ Số Dư
  • Nâng Cao Chỉ Số Cảm Xúc Eq
  • Dạy trẻ đếm từ 1 đến 10; hầu hết bé có thể nhớ 10 số khá dễ dàng và học cách đọc thuộc chúng, như một bài hát hoặc vần điệu. Thực hành kỹ năng cơ bản này ở mọi khi cơ hội.Nhiều trẻ học tốt nhất khi chúng đang sử dụng giác quan của chúng. Hãy để trẻ em chạm vào các mục mà chúng đã được đếm. Điều này sẽ giúp bé phát triển ý nghĩa cho các con số.

    Để bắt đầu việc dạy số học cho trẻ mầm non, hãy viết các số, từ 1 đến 10, trên bảng hoặc trên một tờ giấy. Nói to từng số và chỉ khi bạn đếm theo thứ tự. Thực hành này kết nối kỹ năng đếm với một hình ảnh trực quan của mỗi số. Bạn cũng có thể sử dụng thẻ số. Cầm một số lên, nói to con số, và sau đó yêu cầu mỗi đứa trẻ tìm cùng một số trong bộ thẻ của mình. Cho mỗi đứa trẻ thực hành nói tên của con số.

    Bắt đầu với số 1, dành một chút thời gian để dạy từng số. Viết cả số và từ; minh họa ý nghĩa của nó bằng cách hiển thị một khối lập phương, một ngón tay hoặc một trong những đồ vật khác. Sau đó chuyển sang số 2. Cố gắng không di chuyển cho đến khi bạn chắc chắn rằng mỗi đứa trẻ hiểu. Tốt nhất nên làm chủ những con số này một lần.

    Kết hợp hình ảnh trong việc dạy số học cho trẻ mầm non rất hiêu quả, vì nhiều bé học tốt nhất khi chúng có thể hình dung một khái niệm. Đối với mỗi số, hãy viết chính số đó và một hình vẽ đại diện cho nó. Nếu bạn dạy số 2, ví dụ, vẽ hai mắt, hai quả táo hoặc hai bông hoa.

    • Xúc xắc, domino và thẻ có dấu chấm hoặc điểm cũng có thể hoạt động tốt.
    • Để có kết quả tốt nhất, hãy thử để trẻ tự vẽ hình ảnh.

    Sử dụng đậu, hình khối hoặc các đồ vật hữu hình khác có thể giúp trẻ nắm bắt các khái niệm này. Ví dụ, khi bạn dạy số 3, mỗi đứa trẻ sẽ đếm được ba thứ, chạm vào từng vật một.

    Chuỗi số là rất quan trọng. Bắt đầu dạy khái niệm này bằng cách vẽ một dãy số trên bảng hoặc trên giấy: một đường thẳng trong đó các số xuất hiện đều đặn từ trái sang phải. Giúp trẻ hiểu trình tự bằng cách cho chúng sắp xếp các thẻ số theo thứ tự phù hợp hoặc bằng cách đếm không chính xác và để chúng chỉ ra những sai lầm của bạn.

    Một khi trẻ em hiểu các con số và trình tự của chúng, bạn có thể bắt đầu đếm chúng từ bất kỳ số nào, không chỉ từ số 1. Minh họa khái niệm này bằng thẻ hoặc các tài liệu khác: nếu một đứa trẻ có một đống 5 thẻ và thêm 2, nó s ẽ hiệu quả hơn khi trẻ không phải bắt đầu đếm lại 5 thẻ đầu tiên. Thay vào đó, trẻ có thể tiếp tục đếm thêm hai: Sáu sáu, bảy. Sau đó, khái niệm này sẽ tạo thành nền tảng của sự bổ sung.

    Khi bạn đã giới thiệu các khái niệm cơ bản về đếm và chuỗi số, bạn có thể củng cố chúng bằng các trò chơi số. Có một số lượng gần như vô hạn các khả năng. Để bắt đầu, hãy thử:

    • Tạo cầu thang. Sử dụng các hình khối, tạo tháp và sắp xếp chúng theo kích thước. Đầu tiên là một khối lập phương, sau đó, bên cạnh, hai khối với nhau, sau đó, bên cạnh đó, ba khối. Điều này sẽ giúp củng cố trình tự và kết nối với kích thước và số lượng vật lý.
    • Chơi trò chơi hội đồng quản trị. Nhiều trò chơi trên bàn yêu cầu trẻ em nhận ra số chấm được hiển thị trên súc sắc và sau đó đếm các khoảng trống thích hợp để di chuyển về phía trước.

    Các bài hát và vần điệu cơ bản giúp trẻ nhớ các con số và trình tự của chúng

    Có một rất nhiều các số đếm trong sách cho trẻ mẫu giáo. Chọn một số với màu sắc tươi sáng và hình ảnh đẹp.

    Càng thường xuyên càng tốt. Bất cứ khi nào có số đếm tự nhiên xuất hiện, yêu cầu trẻ em làm điều đó cho bạn. Có bao nhiêu cái đĩa trên đặt bàn? Có bao nhiêu cuốn sách bé đã lấy từ kệ? Bé có bao nhiêu cây kẹo?

    Nguồn : WikiHow

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Tổng Hợp Và Cân Đối Kế Toán
  • Hướng Dẫn Cách Lập Bảng Cân Đối Số Phát Sinh
  • Bai Giang Dklg New 6 (Repaired)
  • Bắp Chân Nữ Bao Nhiêu Là Đẹp? Cách Tính Tỷ Lệ Chuẩn Đẹp Của Nữ
  • Cách Làm Tăng Ham Muốn Ở Nữ Giới Giúp Chuyện Ấy Thăng Hoa
  • Dạy Trẻ Mầm Non Theo Phương Pháp Montessori

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Mới Để Giao Dịch Kiếm Sống (The New Trading For A Living)
  • Tải Về Phương Pháp Mới Để Giao Dịch Kiếm Sống Sách Miễn Phí Pdf * Thư Viện Sách Hướng Dẫn
  • Sách Phương Pháp Mới Để Giao Dịch Kiếm Sống
  • Tải Ebook Phương Pháp Mới Để Giao Dịch Kiếm Sống (Tái Bản) Epub/prc/pdf/doc/txt
  • Download Ebook Phương Pháp Mới Để Giao Dịch Kiếm Sống (Tái Bản) Epub/prc/pdf/doc/txt
  • PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI LÀ GÌ ?

    Montessori là phương pháp dạy trẻ mầm non được sáng lập ra bởi Tiến sĩ người Ý Maria Montessori – một chuyên gia trong các lĩnh vực triết học, nhân văn học và giáo dục học.

    5 LĨNH VỰC CHỦ YẾU CỦA PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI

    1. Thực hành cuộc sống:

    2. Giác quan:

    Các bài tập dành cho trẻ đảm bảo trẻ vận dụng cả 5 giác quan để cho trẻ phát triển toàn diện.

    Trẻ được khuyến khích thể hiện, bày tỏ bản thân mình bằng lời, trẻ được hướng dẫn cách nhận biết mặt chữ và tô chữ…

    4. Toán học:

    Trẻ được làm quen với các biểu tượng số học thông qua nhận biết về lượng mang tính cụ thể, từ đó nhận biết các con số, các phép tính về số học (cộng, trừ, nhân, chia) đơn giản,…

    5. Văn hóa (Lịch sử, Địa lý, Khoa học, Nghệ thuật)

    Bàn ghế mầm non chất lượng cao cho trẻ Giường ngủ mầm non mẫu mã đẹp giá rẻ cho bé Bộ cầu trượt liên hoạn đa năng chất lượng cao cho trẻ mẫu giáo

    NGUYÊN TẮC CỦA PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI

    1. Tôn trọng, không áp đặt trẻ

    Montessori là phương pháp có nguyên tắc quan trọng về “Tôn trọng quyền tự do của trẻ khi chọn cách học”. Ở các lớp học Montessori, trẻ được tự do lựa chọn hoạt động yêu thích theo nhịp độ phát triển của từng trẻ, ưu tiên sự phát triển tính tập trung và cá nhân.

    2. Học tập luôn luôn đi đôi với thực hành

    Cách tốt nhất giúp cho trẻ vận dụng tốt được những điều học được là để trẻ tham gia vào các hoạt động thực tiễn trong nhà trường. Trẻ có xu hướng bắt chước những hoạt động mà bản thân quan sát được. Do đó, mục đích chính của phương pháp giáo dục Montessori là chỉ ra cách thực hiện các nhiệm vụ, để trẻ phát triển bằng cách tự thực hiện chúng.

    Ngoài ra, trẻ cũng được dạy một số thói quen tốt trong cuộc sống thường ngày như chờ đợi đến lượt mình hay đưa ra những lời nhận xét có tính chất xây dựng tích cực và biết lắng nghe người khác nói. Những kỹ năng này sẽ giúp các con trở nên tự tin, chủ động và sẵn sàng cho cuộc sống tương lai.

    3. Môi trường học thân thiện, không tồn tại phần thưởng hay trừng phạt

    Theo các phương pháp giáo dục truyền thống, tặng quà – khen thưởng cho trẻ thưởng để khuyến khích trẻ đạt tới thành tích nào đó và trừng phạt khi trẻ phạm lỗi bằng việc la mắng, so sánh với các bạn khác là hai hình thức được áp dụng rất nhiều từ trước đến nay.

    4. Không làm ảnh hưởng đến sự tập trung của trẻ

    Khi thấy trẻ đang say mê chơi một món đồ chơi nào đó, chúng ta không nên xen vào ngoại trừ có một lý do đặc biệt cần phải. Trẻ cần sự tập trung nhất định để tìm ra nhiều cách chơi của riêng mình, cũng như giải quyết được vấn đề gặp phải trong lúc chơi.

    Theo tiến sĩ Maria Montessori nhận định, thiên nhiên giúp cho trẻ nhận thức được thực tế tốt hơn rất nhiều. Có rất nhiều hoạt động học tập và các cuộc phiêu lưu kỳ thú dành cho trẻ diễn ra ngoài trời với không khí trong lành thay vì ở tại lớp học hoặc trong nhà.

    6. Giáo viên, ba mẹ chỉ là người hỗ trợ, đồng hành cùng trẻ

    Với phương pháp Montessori, trẻ sẽ là trung tâm của các hoạt động học tập. Nhà trường và gia đình phải chú trọng khai thác những tiềm năng có sẵn ở trẻ. Thầy cô giáo hay ba mẹ chỉ đóng vai trò hướng dẫn, khuyến khích trẻ chủ động với môi trường xung quanh và tự học theo năng lực và sở thích của riêng mình.

    9 NGUYÊN TẮC DẠY CON THEO PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI

    1. Tôn trọng mọi người

    Tôn trọng con mình chính là cách để cha mẹ dạy con mình hiểu thế nào là tôn trọng và lịch sự với mọi người xung quanh. Từ đó, trẻ sẽ hình thành những kỹ năng ứng xử và giao tiếp chuẩn mực trong suốt những năm tháng đầu đời.

    2. Tự do di chuyển

    Một trong những đặc điểm quan trọng của phương pháp giáo dục Montessori là việc trẻ được tự do di chuyển, tự do lựa chọn hoạt động mình yêu thích. Chính vì vậy, chúng ta nên mang đến cho trẻ không gian và cơ hội để trẻ có thể di chuyển một cách tự do để khám phá môi trường xung quanh. Đừng nhốt trẻ trong những “cái hộp vô hình” mà bạn tạo nên. Việc tự do di chuyển theo ý mình sẽ khiến trẻ khám phá môi trường sống và trải nghiệm những kỹ năng vận động mới.

    Đưa cho trẻ các lựa chọn chính là cách để chúng ta thể hiện sự tôn trọng của mình với trẻ. Điều này có lợi nhất khi chơi cùng trẻ từ 1-3 tuổi. Ví dụ, trẻ có thể chọn ăn tối lúc này hoặc ăn tối sau với người khác, có thể mặc áo này với một trong hai màu…

    Việc cho trẻ tự do lựa chọn sẽ giúp trẻ hiểu được bạn tôn trọng đặc điểm cá nhân của trẻ cũng như luôn tạo cơ hội để cho trẻ phát triển.

    4. Dạy trẻ tính tự lập

    5. Giao tiếp

    Hãy luôn nói với trẻ bằng một giọng nói rõ ràng, mạch lạc, chi tiết, dễ hiểu và cụ thể. Điều này sẽ giúp trẻ học được kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hàng ngày. Hãy dạy cho trẻ biết cách lắng nghe người khác, không cắt lời, chen ngang khi mọi người đang nói. Hãy tôn trọng trẻ khi nói chuyện với chúng. Hãy thường xuyên nói với trẻ về những điều xung quanh, đã và đang xảy ra trong cuộc sống để trẻ có thể phát triển vốn từ phong phú hơn.

    Thay vì mua những món đồ chơi đắt tiền, hiện đại, chúng ta có thể tự làm đồ chơi cho trẻ từ những hộp bìa cứng, bóng bay, các thanh vòng, tấm giấy mày… Hãy sử dụng những đồ chơi kích thích trẻ dùng tay như thả bóng vào thùng, xếp các hình tròn… tạo ra sự mới mẻ và tăng hứng thú cho trẻ. Hãy dùng những đồ chơi giúp trẻ có thể tập trung thực sự nhiều hơn 2 giây. và ưu tiên đưa cho trẻ những đồ vật mà trẻ có thể cầm nắm được.

    7. Hãy làm theo điều bạn thấy là đúng nhất cho trẻ

    Hãy tin vào chính bản thân mình rằng bạn đang làm điều đúng nhất cho trẻ, nếu bạn cảm thấy như vậy. Đừng vì những áp lực dư luận hay những lời nhận xét từ mọi người xung quanh mà áp đặt những điều tiêu cực vào phương pháp dạy trẻ của chính bạn.

    Thay vì phản ứng vội vàng, thái quá với những sai trái trẻ gây ra, hãy bình tĩnh với trẻ. Chúng ta có thể lắng nghe những chia sẻ về cảm xúc của trẻ trước, sau đó cùng trẻ tìm ra hướng giải quyết tích cực nhất. Điều này sẽ khiến cho sợi dây kết nối giữa thầy cô – cha mẹ và trẻ thêm bền chặt hơn.

    “Tình yêu thương vô điều kiện và đặt ra giới hạn cho các hành vi” – Đó chính là một trong những câu nói nổi tiếng của tiến sỹ, bác sĩ, nhà giáo dục người Ý Maria Montessori. Qua câu nói của Maria Montessori, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng bất cứ mối quan hệ nào được vun đắp bằng tình yêu thương sẽ giúp con trẻ trở thành những người hạnh phúc nhất.

    Học phí mầm non trường công lập 2022 Chương trình giáo dục mầm non mới nhất Tiêu chuẩn thiết kế trường mầm non

    Vì vậy, hãy đến với trẻ, lắng nghe trẻ bằng tình yêu thương và sẵn sàng hỗ trợ khi trẻ cần sự trợ giúp. “Trẻ chỉ cư xử tốt hơn khi chúng cảm thấy tốt hơn”. Chính sức mạnh của tình yêu thương sẽ giúp trẻ thoải mái tâm lý, suy nghĩ tích cực và hành động đúng đắn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mách Mẹ Bí Quyết Dạy Trẻ Theo Phương Pháp Montessori Tại Nhà
  • Tập Mewing Và Những Không Thể Bỏ Qua
  • Vị Trí Đặt Lưỡi Quyết Định Giá Trị Nhan Sắc Trong Tương Lai Của Bạn
  • Tập Mewing Và Những Biến Chứng Xảy Ra?
  • Phương Pháp Định Hình Khuôn Mặt Không Cần Đến Ph.ẫ.u Thuật Thẩm Mỹ Được Thực Hiện Như Thế Nào?
  • Sử Dụng Phương Pháp Trực Quan Khi Dạy Học Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Sử Dụng Phương Tiện Trực Quan Trong Dạy Học Toán Lớp 3 Theo Hướng Phát Huy Tính Tích Cực Nhận Thức Của Học Sinh
  • Sử Dụng Phương Pháp Trực Quan Trong Dạy Học Ngữ Văn Ở Các Trường Trung Học Phổ Thông Huyện Cần Giờ, Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Sử Dụng Đồ Dùng Trực Quan Trong Dạy Học Lịch Sử
  • Sử Dụng Phương Tiện Trực Quan Trong Dạy Học Một Số Khái Niệm Hóa Học Cơ Bản Ở Trường Trung Học Cơ Sở Nhằm Phát Triển Năng Lực Thực Nghiệm Cho Học Sinh.
  • Thiết Kế Module Dạy Học Trong Đào Tạo Theo Học Chế Tín Chỉ
  • Published on

    1. 2. Câu 1: Việc sử dụng phương pháp dạy học trực quan khi dạy thể loại văn miêu tả của môn Tập làm vănlớp 4. Anh (chị) nêu phương án cùng ví dụ cụ thể cho biết lí do chọn phương án ấy? – Phương pháp dạy học trực quan bao gồm phương pháp quan sát và phương pháp trình bày trực quan. Hai phương pháp này có mối liên hệ với nhau, cụ thể là khi trình bày trực quan, học sinh tiến hành quan sát chúng một cách có khoa học dưới vai trò chủ đạo của giáo viên. – Phương pháp này giúp nâng cao hiệu quả dạy học nhờ có những biểu tượng rõ ràng. Rất phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học. Phát triển tư duy trực quan, hình tượng trí nhớ. – Người giáo viên phải nắm chắc đặc điểm tâm lý của học sinh để từ đó tìm ra hướng đi đúng, tìm ra những phương pháp phù hợp khi lên lớp:  Chúng ta đã biết, tâm lý chung của học sinh Tiểu học là luôn muốn khám phá, tìm hiểu những điều mới mẻ. Từ đó hình thành và rèn luyện cho các em quan sát, cách tư duy về đối tượng miêu tả một cách bao quát, toàn diện và cụ thể tức là quan sát sự vật hiện tượng về nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau, từ đó các em có cách cảm, cách nghĩa sâu sắc khi miêu tả.  Ở tuổi Tiểu học từ hình thức đến tâm hồn, mọi cái mới chỉ là sự bắt đầu của một quá trình. Do đó những tri thức để các em tiếp thu được phải được sắp xếp theo một trình tự nhất định. Trí tưởng tượng càng phong phú bao nhiêu thì việc làm văn miêu tả sẽ càng thuận lợi bấy nhiêu. – Văn miêu tả là loại văn thuộc phong cách nghệ thuật đòi hỏi viết bài phải giàu cảm xúc, tạo nên cái “hồn” chất văn của bài làm. Muốn vậy giáo viên phải luôn luôn nuôi dưỡng ở các em tâm hồn trong sáng, cái nhìn hồn nhiên, một tấm lòng dễ xúc động và luôn hướng tới cái thiện.
    2. 4. từ hay, một câu văn hay các em ghi vào sổ tay theo từng chủ điểm và khi làm văn có thể sử dụng một cáchdễ dàng. – Giáo viên cần tiến hành theo mức độ yêu cầu tăng dần, bước đầu chỉ yêu cầu học sinh đặt câu đúng, song yêu cầu cao hơn là phải đặt câu có sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa, có dùng những từ láy, từ ngữ gợi tả hình ảnh, âm thanh hay những từ biểu lộ tình cảm.  Việc sử dụng phương pháp dạy học trực quan khi dạy thể loại văn miêu tả của môn Tập làm văn lớp 4 có rất nhiều hiệu quả. Ví dụ: Đề bài: Hãy tả chiếc cặp sách của em.  Thể loại: Văn mô tả lớp 4.  Phương án dạy học: Cho học sinh quan sát một cách từ gần đến xa, quan sát các dấu hiệu đặc trưng bản chất, các dấu hiệu chính xen kẽ các dấu hiệu phụ dưới sự định hướng của giáo viên. Sau đó căn cứ vào dàn bài chung của thể loại văn miêu tả, các em tái hiện lại những điều đã quan sát để tiến hành làm bài.  Dàn ý chung: 1. Mở bài: Giới thiệu đồ vật (Đồ vật em định tả là gì? Tại sao em có nó? Nó có vào thời gian nào? …) 2. Thân bài: a. Tả bao quát: Hình dáng, kích thước, màu sắc… b. Tả chi tiết: Tả các bộ phận của đồ vật… c. Tả công dụng của đồ vật. d. Hoạt động hoặc kỷ niệm của em với đồ vật đó. 3. Kết bài: Nêu cảm nghĩ của em với đồ vật.
    3. 5.  Lí do chọn: Đây là phương pháp dạy học trực quan phù hợp nhất với học sinh Tiểu học. Vì nó mang tính khoa học, giúp học sinh thể hiện khả năng sáng tạo của các em, giúp các em biết quan sát và làm bài một cách có logic, trình tự.  Người giáo viên không nên hướng dẫn cho học sinh một đề cương chi tiết thuộc nội dung bài làm, sau đó trực tiếp đưa cho học sinh cái cặp để cho học sinh tiến hành quan sát theo đề cương chi tiết đã được học; cuối cùng sau khi quan sát xong các em tiến hành bài tập làm văn. Vì theo phương án này, người giáo viên vô tình đã áp đặt một đề cương để theo đó học sinh tiến hành quan sát. Như vậy, việc quan sát của học sinh không còn mang tính khoa học nữa và mất đi khả năng sáng tạo nơi các em. Dự đoán bài làm của các em hầu như sẽ giống nhau, không còn thể hiện những dấu hiệu đặc trưng của mỗi em.  Người giáo viên cũng không được: không hướng dẫn đề cương chi tiết trước cho học sinh mà đưa thẳng cái cặp cho học sinh quan sát. Giáo viên để hoc sinh tự tiến hành quan sát rồi sau đó tự làm bài Tập làm văn với đề bài trên.Vì theo phương án này, các em sẽ không biết cách thức tiến hành quan sát như thế nào, vì không có sự chỉ đạo của giáo viên. Điều này cũng vi phạm cách thức tiến hành dạy học trực quan. Dự đoán các em sẽ không theo một trình tự logic nào và bài làm thậm chí còn lạc đề hoặc không nêu đủ nội dung yêu cầu.  Để làm 1 bài văn hay, đạt chất lượng, giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh biết cách nhìn nhận sự vật, sự việc xung quanh. Để nhìn được sự vật thông qua đôimắt của học sinh cần có sự hướng dẫn từ người thầy. Ví dụ: Muốn miêu tả 1 cái cây, giáo viên hướng dẫn quan sát cây từ xa, toàn bộ cái cây tiếp đến quan sát từng bộ phận của cậy và rút ra nhận xét ban đầu về cái cây.  Nội dung dạy học phải mới, phải thường xuyên thay đổi phương pháp dạy để học sinh không cảm thấy nhàm chán.
    4. 7. Toán 4 5 5 5 5 Đạo đức 1 1 1 1 1 Tự nhiên và Xã hội 1 1 2 Khoa học 2 2 Lịch sử và Địa lí 2 2 Âm nhạc 1 1 1 1 1 Mĩ thuật 1 1 1 1 1 Thủ công 1 1 1 1 1 Kĩ thuật 1 1 Thể dục 1 2 2 2 2 Giáo dục tập thể 2 2 2 2 2 Giáo dục ngoài giờ lên lớp 4 tiết/tháng Tự chọn ( không bắt buộc) * * * * * Tổng số tiết/tuần 22 23 23 25 25 c. Hướng dẫn thực hiện – Ở mỗi lớp, mỗi tuần có ít nhất hai tiết hoạt động tập thể dành cho Sinh hoạt lớp, Sao Nhi đồng, Đội thiếu niên và sinh hoạt trường. – Dấu (*) chỉ thời lượng của các nội dung tự chọn và môn học tự chọn (chủ yếu là môn Anh văn và Tin học) bắt đầu từ lớp 3. – Sẽ có hướng dẫn cụ thể quy định riêng cho các trường Tiểu học dạy bằng tiếng dân tộc và tiếng Việt hoặc bằng tiếng nước ngoài và tiếng Việt, và cho các trường, các lớp tiểu học có khó khăn đặc biệt khác, cho các trường Tiểu học dạy học cả ngày (hoặc 2 buổi/ngày). – Căn cứ vào kế hoạch dạy học nêu trên và chương trình cụ thể của các môn học, mỗi trường Tiểu học tự lập kế hoạch dạy học hàng tuần theo đặc điểm của nhà trường và của địa phương sao cho:  Đảm bảo dạy đủ số môn học và hoạt động bắt buộc và đủ thời gian tối thiểu nêu trong kế hoạch dạy học.  Các hoạt động dạy học ở các lớp 1, 2, 3 chủ yếu thực hiện ở nhà trường, hạn chế học và làm bài tập ở nhà.
    5. 12. – Con người và sức khoẻ: Sự trao đổi chất, nhu cầu các chất dinh dưỡng của cơ thể; sự sinh sản và lớn lên và phát triển của cơ thể con người; cách phòng chống các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm; cách sử dụng thuốc an toàn. – Vật chất và năng lượng: Tính chất và ứng dụng của một số chất, vật liệu và dạng năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất. – Thực vật và động vật: Sự trao đổi chất và sinh sản của cây xanh và một số loài đông vật. – Môi trường và tài nguyên thiên nhiên: Ảnh hưởng qua lại của con người và môi trường; một số biện pháp bảo vệ môi trường tự nhiên.  NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ: I. Ưu điểm: – Việc đổi mới chương trình sách giáo khoa là một việc làm có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. – Chương trình mới của cấp tiểu học đều hợp lý về mặt nội dung khoa học và cũng phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi cũng như kinh nghiệm sống của học sinh. – Việc tiếp nhận và đưa vào ứng dụng chương trình và sách giáo khoa tiểu học phù hợp với tính hiện đại cập nhật, sát thực tiễn, bước đầu đã tạo được hứng thú, tích cực và chủ động hơn trong học tập, học sinh có ý thức hợp tác với thầy cô và bạn bè để cùng học, cùng tìm hiểu, phát hiện kiến thức, biết thao tác sử đụng đồ dùng học tập, thực hành kĩ năng, mạnh dạn hơn trong việc trình bày ý kiến cá nhân hơn. – Chương trình sách giáo khoa các môn Toán, Tiếng Việt ở lớp 1 và lớp 3 nhìn chung phù hợp với khả năng học tập của học sinh: Cụ thể bài “Làm quen với chữ số La Mã” (Toán lớp 3). Sau khi học xong bài này, tiếp đến bài “Thực hành xem đồng hồ”, rồi đến xem lịch năm, tháng, ngày, tuần, thứ… – Về sách giáo khoa, thì sách giáo khoa là phương tiện chính thức để định hướng cho giáo viên tổ chức các hoạt động học tập, nhằm giúp học sinh tự phát hiện, tự chiếm lĩnh các kiến thức mới và biết vận dụng chúng vào cuộc sống, theo năng lực của từng cá nhân. – Sách giáo khoa có hình ảnh đẹp, hấp dẫn hơn, sách giáo khoa phù hợp với chương trình, cung cấp những kiến thức cơ bản, cập nhật có hệ thống. Kênh
    6. 14. DANH SÁCH THÀNH VIÊN 1. Hoàng Thanh Bình 2. Đỗ Thị Thanh Huyền 3. Trần Thị Hương 4. Nguyễn Cẩm Tú 5. Bùi Thị Tuyết Lan 6. Nguyễn Thị Thùy Dung 7. Lê Thị Kim Ngân 8. Trần Thị Thủy Tiên 9. Nguyễn Thị Hoài 10. Nguyễn Tố Vân 11. Trần Nguyễn Thị Minh Châu 12. Phan Thị Huyền Trang 13. Ngô Thị Thùy Linh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lựa Chọn, Sử Dụng Một Số Phương Pháp Dạy Học Toán Ở Tiểu Học
  • Sử Dụng Phương Pháp Dạy Học “đặt Và Giải Quyết Vấn Đề” Giúp Học Sinh Tích Cực Hơn Trong Tìm Hiểu Môn Sinh Học 8 Ở Lớp 8A3 Trường Trung Học Cơ Sở Suối Ngô Huyện Tân Châu Tỉnh Tây Ninh
  • Tham Luận: Vận Dụng Phương Pháp ” Dạy Học Phát Hiện Và Giải Quyết Vấn Đề ” Trong Dạy Học Môn Toán
  • Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Nêu Và Giải Quyết Vấn Đề Trong Dạy Học Môn Giáo Dục Học Tại Trường Đại Học Thể Dục Thể Thao Thành Phố Hồ Chí
  • Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Phát Hiện Và Giải Quyết Vấn Đề Trong Dạy Học Hình Học Lớp 4
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100