Top 10 # Xem Nhiều Nhất Phương Pháp Định Giá Cổ Phiếu Niêm Yết Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Các Phương Pháp Niêm Yết Tỷ Giá

CÁC PHƯƠNG PHÁP NIÊM YẾT TỶ GIÁ

1. Phương pháp yết tỷ giá trực tiếp (direct quotation)

Phương pháp yết tỷ giá trực tiếp là phương pháp biểu thị giá trị 1 đơn vị cố định của đồng ngoại tệ thông qua một số lượng biến đổi của đồng nội tệ.

1 ngoại tệ = x nội tệ.

Ví dụ: Tại Việt Nam, ngày 12/01/2011, các tỷ giá giao dịch của Ngân hàng thương mại được công bố như sau:

USD/VND = 19.495/19.500; JPY/VND = 249,20/254,39;

EUR/VND = 26.739,93/27.242,74

– Trong phương pháp này, đồng tiền yết giá là ngoại tệ, đồng tiền định giá là nội tệ

Hiện nay, đa số các nước biểu diễn theo phương pháp trực tiếp và đồng USD là đồng tiền yết giá. Đô la Mỹ chỉ đóng vai trò là đồng tiền định giá đối với 5 đồng tiền là GBP, EUR, AUD, NZD và SDR.

2. Phương pháp yết tỷ giá gián tiếp (indirect quotation)

Phương pháp yết tỷ giá gián tiếp là phương pháp biểu thị giá trị 1 đơn vị cố định của đồng nội tệ thông qua một số lượng biến đổi của đồng ngoại tệ.

1 nội tệ = x ngoại tệ

Ví dụ: Tỷ giá trên thị trường Anh vào ngày 11/01/2011 được công bố như sau:

GBP/PLN = 4.6305/80; GBP/AUD = 1.5858/67; GBP/CAD = 1.5454/63;

GBP/CHF = 1.5218/24; GBP/JPY = 130.12/130.19; GBP/USD = 1.5635/38

Phương pháp này rất ít được sử dụng ở các quốc gia trên thế giới. Tiêu biểu là Anh, Newzealand, Úc và các nước dùng đồng tiền chung euro là các nước có áp dụng phương pháp yết tỷ giá gián tiếp (Nước Anh và các nước thuộc địa của Anh sử dụng phương pháp này là do trước đây nước Anh dùng hệ nhị phân). Đồng SDR (tiền tệ của quỹ tiền tệ quốc tế) cũng được yết giá theo phương pháp này.

Ví dụ:

EUR/NZD = 1.7121/31; EUR/AUD = 1.3192/98; EUR/CAD = 1.2859/67;

EUR/JPY = 108.31/38; EUR/GBP = 0.8318/32; EUR/CHF = 1.2658/61;

EUR/USD = 1.30058/76

Như vậy, hai phương pháp yết tỷ giá trực tiếp và gián tiếp về bản chất thì không khác nhau nhưng về hình thức thì khác nhau.

Lưu ý: Tại Mỹ áp dụng cả hai phương pháp yết giá trực tiếp và gián tiếp:

– Phương pháp yết tỷ giá trực tiếp được áp dụng đối với các đồng tiền sau: EUR, AUD, GBP, NZD.

– Phương pháp yết tỷ giá gián tiếp được áp dụng đối với các đồng tiền còn lại.

Đối với các đồng tiền EUR, AUD, GBP, NZD, khi yết tỷ giá với nhau thì yết theo quy tắc: EUR/AUD; EUR/GBP; EUR/NZD; GBP/AUD; GBP/NZD.

3. Phương pháp yết tỷ giá kiểu Mỹ (American term)

Theo cách này, tỷ giá được niêm yết bằng số USD trên đơn vị ngoại tệ.

Ví dụ: Tỷ giá được niêm yết theo kiểu Mỹ trên tờ Wall Street:

1 GBP = 1,5743 USD; 1 CHF = 0,7018 USD; 1 EUR = 1,0578 USD

4. Phương pháp yết tỷ giá kiểu Châu Âu (European term)

Theo cách này, tỷ giá được niêm yết bằng số ngoại tệ trên 1 đơn vị USD.

Ví dụ: 1 USD = 0,6352 GBP; 1 USD = 0,9453 EUR, 1 USD = 1,4250 CHF

Phương pháp yết giá kiểu Mỹ và kiểu Châu Âu thường được áp dụng cho thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, tức là áp dụng cho đối tượng khách hàng là một ngân hàng khác. Đối với khách hàng không phải ngân hàng khác người ta thường áp dụng phương pháp yết giá trực tiếp và gián tiếp.

Các ngân hàng thương mại Việt Nam sử dụng phương pháp yết giá trực tiếp. Ngoài ra do đặc điểm Việt Nam còn giao dịch tiền mặt quá lơn nên bên cạnh yết giá ngoại tệ chuyển khoản, các ngân hàng thương mại còn yết giá ngoại tệ tiền mặt.

Lê Phúc Minh Chuyên

Định Giá Cổ Phiếu Theo Phương Pháp P/E

MỤC LỤC – Phân tích cơ bản

P/E thể hiện giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập ròng từ cổ phiếu đó; nói cách khác, nhà đầu tư phải trả giá bao nhiêu cho một đồng thu nhập. P/E được tính trên bình quân đồng cổ phiếu; hệ số này thường được công bố trên phương tiện thông tin đại chúng.

Đây là tỷ số tài chính dùng để đánh giá mối liên hệ giữa thị giá hiện tại của một cổ phiếu (giá cổ phiếu trong chợ chứng khoán) và tỷ số thu nhập/ cổ phần; hay cho biết nhà đầu tư sẵn sàng trả giá bao nhiêu cho một cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

Công thức tính: P/E= P/ EPS, trong đó:

P: Giá thị trường cổ phiếu

EPS: Earning per Share là thu nhập trên mỗi cổ phiếu

Trong đó, P (Price) là giá cổ phiếu, EPS (Earnings per Share) là lãi cơ bản trên cổ phiếu và P/E là hệ số giá/thu nhập của ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động.

Về mặt lý thuyết, P/E cho biết số tiền mà các nhà đầu tư sẵn sàng bỏ ra trả cho một đơn vị lợi nhuận đã được tạo ra trong một thời kỳ nhất định. Hệ số cao có nghĩa là nhà đầu tư kỳ vọng vào khả năng tạo lợi nhuận trong tương lai công ty sẽ cao hơn và ngược lại. Tuy nhiên, hệ số quá cao không hẳn là tốt nếu xảy ra tình trạng đầu cơ hoặc có quá nhiều nhà đầu tư tập trung vào một cổ phiếu (quá đắt). Bên cạnh đó, hệ số quá cao còn đồng nghĩa với việc cổ phiếu đó chứa đựng nhiều rủi ro. Nếu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không gặp thuận lợi và kết quả đạt được không như kỳ vọng thì khả năng sụt giảm giá của cổ phiếu càng mạnh; do đó khả năng thiệt hại đối với nhà đầu tư càng lớn.

Đây là một trong những chỉ số phân tích quan trọng quyết định việc lựa chọn mã Cổ phiếu. Hệ số thấp có các ý nghĩa sau:

Giá cổ phiếu đang ở mức thấp (và có khả năng tăng lên)

Lợi nhuận trên 1 cổ phần (EPS) đang cao

Công ty có thể đang có vấn đề về tài chính, có nguy cơ vỡ nợ, phá sản

Về lý thuyết, có thể áp dụng P/E bình quân toàn ngành mà doanh nghiệp tham gia hoặc lựa chọn một doanh nghiệp có cổ phiếu được giao dịch rộng rãi có cùng tỷ lệ lợi nhuận, độ rủi ro và mức tăng trưởng tương tự như cổ phiếu cần định giá.

Là lợi nhuận (thu nhập) trên mỗi cổ phiếu. Đây là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thông thường đang được lưu hành trên thị trường.

Các công ty chứng khoán và sàn giao dịch cổ phiếu tại Việt Nam hiện đang sử dụng công thức tính EPS = ( NI – DoPS)/AOS, trong đó:

NI – Net Income: Thu nhập ròng (sau thuế)

DoPS – Dividens on Preferred Stocks: Cổ tức cổ phiếu ưu đãi

AOS – Average Outstanding Shares: Lượng cổ phiếu bình quân đang lưu thông

Tầm quan trọng của EPS: Đây là biến số quan trọng duy nhất trong việc tính giá cổ phiếu và là bộ phận chủ yếu cấu thành tỷ lệ P/E. Một khía cạnh rất quan trọng của EPS thường hay bị bỏ qua là lượng vốn cần thiết để tạo ra thu nhập ròng (Net Income) trong công thức tính trên.

Hai SMEs có thể có cùng tỷ lệ EPS nhưng một trong hai lại có ít cổ phần hơn; tức là doanh nghiệp đó dùng vốn hiệu quả hơn. Nếu như các yếu tố khác cân bằng thì rõ ràng doanh nghiệp này đang hoạt động tốt hơn doanh nghiệp còn lại.

Chỉ bằng phép tính và sự so sánh tối thiểu ban đầu, doanh nghiệp đã có thể hấp dẫn nhà đầu tư khi đưa ra con số EPS; mặt khác nhà đầu tư cũng cần hiểu rõ cách tính của từng doanh nghiệp để đảm bảo “chất lượng” của tỷ lệ này. Các chuyên gia tài chính khuyến khích sử dụng nhiều thước đo phân tích tài chính và các chỉ số khác nhau để đưa ra kết luận cuối cùng khi quyết định đầu tư vào hạng mục nào đó!

Công thức tính: P/BV = Price per Share/ BVPS và BVPS= (Total Assets – Total Liabilities) / Number of shares outstanding, trong đó:

Price per Share: Giá thị trường mỗi cổ phiếu

BVPS: Giá trị sổ sách của một cổ phần

Total Assets: Tổng tài sản

Total Liabilities: Tổng nợ

Number of shares Outstandings: Số cổ phiếu đang lưu hành

Hệ số thấp có nghĩa là cổ phiếu này được định giá thấp và thích hợp để mua và nắm giữ nếu doanh nghiệp có triển vọng tốt trong tương lai. Tuy nhiên, nó cũng có thể là do doanh nghiệp đang gặp nhiều vấn đề trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vì vậy có thể là không hợp lý nếu đầu tư vào cổ phiếu của doanh nghiệp này.

Là tỷ số giá cổ phiếu trên dòng tiền nhàn rỗi (số tiền còn lại của doanh nghiệp sau khi thanh toán hết phần chi phí).

Công thức này được sử dụng kết hợp với P/E để định giá và tính toán cổ phiếu giá hiện tại là rẻ hay đắt, nhằm thay thế cho EPS truyền thống – bởi bối cảnh nhiều công ty lách luật bóp méo.

Công thức: P/C = Share Price/ Cash flow per Share, trong đó:

Share Price: Giá cổ phiếu

Cash flow per Share: Dòng tiền ứng với 1 cổ phiếu

Định Giá Cổ Phiếu

Định giá cổ phiếu – phương pháp chiết khấu dòng cổ tức

Mô hình chiết khấu dòng tiền

Phương pháp cơ bản nhất để định giá trị một cổ phiếu hay bất kỳ tài sản nào đó là chúng ta phải định giá tất cả những dòng tiền mà chúng ta nhận được từ cổ phiếu hay tài sản đó trong tương lai. Ở đây có hai việc chúng ta phải làm : thứ nhất là dự báo được những dòng tiền trong tương lai, thứ hai là đưa giá trị của những dòng tiền đó về hiện tại bằng cách chiết khấu chúng theo một tỷ lệ lãi suất xác định.

Ví dụ: Nhà đầu tư dự đoán sẽ hưởng được từ cổ phiếu ABC trong năm năm như sau:

• Năm 1: 1.000 đồng cổ tức

• Năm 2:  không chia cổ tức bằng tiền mặt, nhưng được thưởng thêm cổ phần (tỷ lệ 1:1)

• Năm 3: 1.500 đồng cổ tức/cổ phần (tức là 3.000 đồng cho hai cổ phần)

• Năm 4: 2.000 đồng cổ tức/cổ phần (tức là 4.000 đồng cho hai cổ phần)

• Năm 5: 45.000 đồng từ việc bán cổ phiếu, (tức là 90.000 đồng cho hai cổ phần)

Chúng ta chọn tỷ lệ lãi suất để chiết khấu là 15%/năm. Xin lưu ý, việc chọn tỷ lệ lãi suất chiết khấu, hay trong trường hợp này cũng chính là chi phí vốn chủ sở hữu rất quan trọng trong việc định giá, chúng tôi sẽ giới thiệu vấn đề này trong một  bài khác. Giả sử rằng toàn bộ dòng tiền này xảy ra vào thời điểm cuối năm, công thức tính giá trị hiện tại như sau:

Giá trị hiện tại = Giá trị tương lai/ (1+ lãi suất)^số năm.

Như vậy, 49.875 đồng sẽ là giá trị của đường đen tại thời điểm lúc này trên đồ thị. Nếu lúc này đường thị giá – màu xanh nằm trên điểm này: cổ phiếu ABC đã được thị trường định giá cao hơn so với giá trị nội tại (overpriced). Nếu đường thị giá – màu xanh nằm dưới điểm này: cổ phiếu ABC đã được thị trường định giá thấp hơn so với giá trị nội tại (underpriced). Sự khác biệt này, nếu xảy ra chính là lợi nhuận đầu tư, còn chưa xảy ra thì được gọi là biên độ an toàn. Nhà đầu tư giá trị sẽ mua khi biên độ an toàn này đạt đến độ lớn chấp nhận được. Tuy nhiên, nếu thận trọng quá, thị giá có thể đổi chiều và từ cổ phiếu ABC đang ở dạng underpriced có thể trở thành overpriced (xem đồ thị 1).

Tuy nhiên, việc xác định chính xác cổ tức và giá bán theo ví dụ trên là rất khó. Thay vào đó, các nhà nghiên cứu đã phát triển hai mô hình đơn giản hơn để tính giá trị nội tại của cổ phiếu. Bài này xin giới thiệu những ý cơ bản của mô hình chiết khấu cổ tức – một trong những mô hình khá phổ biến trong việc định giá cổ phiếu.

Mô hình chiết khấu dòng cổ tức (Dividend Discount Model)

Khi một nhà đầu tư mua cổ phiếu, họ kỳ vọng nhận được hai loại dòng tiền: dòng tiền cổ tức trong thời gian họ nắm giữ cổ phiếu và dòng tiền bằng với giá bán khi họ quyết định bán ra cổ phiếu. Thế nhưng giá bán của cổ phiếu cũng lại được dự đoán dựa vào những cổ tức mà cổ phiếu đó đem lại trong tương lai. Do đó, giá trị nội tại của cổ phiếu chính là giá trị hiện tại của toàn bộ cổ tức mà cổ phiếu đó mang lại trong thời gian vô thời hạn. Hay nói một cách khác, có thể giả sử chúng ta nắm giữ cổ phiếu và hưởng cổ tức vô thời hạn. Giá trị hiện tại của toàn bộ cổ tức này chính là giá trị nội tại của cổ phiếu.

Mô hình cổ tức tăng trưởng một giai đoạn – mô hình Gordon

Mô hình này áp dụng cho cổ phiếu đang trong giai đoạn ổn định với tốc độ tăng trưởng cổ tức không đổi và bền vững. Thay vì tính giá trị hiện tại của từng dòng cổ tức và cộng lại, Giáo sư Myrin Gordon đã phát triển công thức tính giá trị nội tại hết sức đơn giản như sau:

Giá trị nội tại của cổ tức = Cổ tức kỳ vọng năm tới / (Tỷ lệ lợi nhuận kỳ vọng – Tỷ lệ tăng trưởng của cổ tức)

Ví dụ cổ phiếu X có dòng cổ tức tăng trưởng 7% theo như đồ thị 2.

Khi dự đoán tỷ lệ tăng trưởng, chúng ta phải lưu ý rằng, không chỉ một mình cổ tức tăng trưởng với tốc độ đó, mà các chỉ số tài chính quan trọng khác, nhất là lợi nhuận cũng phải tăng trưởng với cùng tốc độ. Khi đó tỷ lệ tăng trưởng của cổ tức sẽ được lợi nhuận và các chỉ số khác hỗ trợ, và vì thế được duy trì bền vững. Ngoài ra chúng ta phải lưu ý rằng tỷ lệ tăng trưởng bền vững này chỉ có thể nhỏ hơn hay cao nhất là bằng tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế. Không có doanh nghiệp nào có thể tăng trưởng mãi với tốc độ cao hơn tỷ lệ tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Mô hình tăng trưởng cổ tức hai giai đoạn

Mô hình này áp dụng cho cổ phiếu có tốc độ tăng trưởng cao trong một số năm, sau đó trở về tốc độ tăng trưởng ổn định và  bền vững.

Giá trị nội tại của cổ phiếu = giá trị hiện tại của cổ tức trong thời gian tăng trưởng nóng (giai đoạn 1)  + giá trị hiện tại của cổ tức trong thời gian tăng trưởng ổn định (giai đoạn 2).

Vận dụng cách tính cơ bản của hai mô hình nói trên, chúng ta có thể áp dụng cho những cổ phiếu có cổ tức phát triển theo nhiều giai đoạn khác nhau, chẳng hạn như mô hình ba giai đoạn – cổ tức tăng trưởng mạnh, giảm dần, và trở lại tăng trưởng bền vững, hoặc mô hình hai giai đoạn – tăng trưởng ổn định sau đó lại tăng trưởng nóng…

Phương thức chiết khấu dòng cổ tức dễ sử dụng, thế nhưng phương pháp này cũng có một số khuyết điểm như : đánh giá không chính xác, thường là hạ thấp giá trị của những công ty đang tăng trưởng, không chia cổ tức hoặc chia cổ tức với tỷ lệ thấp so với lợi nhuận. Mô hình này cũng định giá thấp giá trị của các công ty có nhiều tài sản không hoạt động – nghĩa là tài sản không đóng góp vào việc tạo ra cổ tức.  

Giá trị tương lai (GTTL)

Giá trị hiên tại = GTTL/ (1+lãi suất)^số năm

Năm 1

1.000

869

Năm 2

0

0

Năm 3

3.000

1.973

Năm 4

4.000

2.287

Năm 5

90.000

44.746

Tổng giá trị hiện tại

49.875

TBKTSG

Cách Định Giá Cổ Phiếu Bằng Phương Pháp Chiết Khấu Dòng Tiền

Từ khi thị trường chứng khoán ra đời và phát triển đến nay, định giá cổ phiếu luôn là mục tiêu nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế học, nhà đầu tư,… Để định giá cổ phiếu được chính xác, các đối tượng trên thường gặp khá nhiều khó khăn do chưa tìm được phương pháp phù hợp.

Vậy làm thế nào để xác định được giá trị thực của cổ phiếu đơn giản mà hiệu quả? Trong bài viết ngày hôm nay, Quản Lý Bất Động Sản sẽ giới thiệu đến bạn cách định giá cổ phiếu bằng phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCF).

I. 3 cách định giá cổ phiếu bằng phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCF)

DDM dựa vào giá trị phần cổ tức mà công ty trả cho nhà đầu tư, bởi cổ tức đại diện cho dòng tiền thực tế mà cổ đông nhận được. Vậy nên, giá trị của một công ty đối với cổ đông sẽ dựa trên việc đánh giá giá trị hiện tại của các dòng tiền.

Ưu điểm của mô hình này là phản ánh chính xác, trực diện lợi ích mà các nhà đầu tư nhận được trong tương lai. Tuy nhiên, mô hình này lại không thể sử dụng trong trường hợp chính sách trả cổ tức không phản ánh khả năng sinh lời, hay doanh nghiệp không thể trả cổ tức trong tương lai.

Định giá cổ phiếu bằng phương pháp chiết khấu dòng tiền cổ tức được thực hiện dưới công thức sau:

Trong đó:

+ P (price): Giá trị cổ phiếu.

+ DPS (dividend per share): Cổ tức kỳ vọng trên mỗi cổ phiếu tại thời kỳ t.

+ ke (cost of equity): Chi phí vốn cổ phần, thường được xác định bằng công thức CAPM.

DDM dựa vào giá trị phần cổ tức mà công ty trả cho nhà đầu tư, bởi cố tức đại diện cho dòng tiền thực tế mà cổ đông nhận được

2. Chiết khấu dòng tiền vốn chủ sở hữu (FCFE)

FCFE đánh giá trực tiếp dòng tiền tự do mà các cổ đông của doanh nghiệp nhận được sau khi trừ đi thuế, chi tiêu vốn, chi phí hoạt động,…

Ưu điểm của mô hình này là có thể áp dụng cho những đơn vị không trả cổ tức thường xuyên. Nó còn rất hữu ích khi so sánh các doanh nghiệp có cấu trúc vốn giống nhau để định giá chính xác những đơn vị này.

Tuy nhiên, mô hình này lại không áp dụng khi dòng tiền FCFE âm.

Công thức tính tổng quát như sau:

= (Chi phí phi tiền mặt + Lợi nhuận sau thuế) – (Thay đổi vốn lưu động + Chi phí vốn) + Thay đổi nợ

FCFE đánh giá trực tiếp dòng tiền tự do mà các cổ đông của doanh nghiệp nhận được sau khi trừ đi thuế, chi tiêu vốn, chi phí hoạt động,…

3. Chiết khấu dòng tiền doanh nghiệp (FCFF)

FCFF đánh giá trực tiếp dòng tiền tự do mà các nhà đầu tư của doanh nghiệp có thể nhận được sau quá trình hoạt động của đơn vị trong tương lai.

Ưu điểm của mô hình này là không bị tác động bởi thay đổi cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Có thể kể đến như phát hành cổ tức, cổ phiếu hay sử dụng đòn bẩy tài chính cao.

Nhược điểm của FCFF tương tự như FCFE, đó là không thể sử dụng nếu dòng tiền FCFF dự phòng là âm.

Công thức tính tổng quát như sau:

FCFF = (Chi phí phi tiền mặt + Lợi nhuận sau thuế + Chi phí lãi vay) x ((1-t) – Thay đổi vốn lưu động – Thay đổi vốn)

FCFF đánh giá trực tiếp dòng tiền tự do mà các nhà đầu tư của doanh nghiệp có thể nhận được sau quá trình hoạt động của đơn vị trong tương lai

II. Đánh giá về cách định giá cổ phiếu bằng phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCF)

+ DCF dựa vào dòng tiền tự do, đây được coi là phương pháp đáng tin cậy giúp loại bỏ tác động của các chính sách kế toán chủ quan.

+ DCF cung cấp ước tính gần nhất về giá trị nội tại của cổ phiếu, được xem là phương pháp định giá phù hợp nếu nhà phân tích tự tin vào giả định của mình.

+ DCF cho phép sự linh hoạt trong việc thay đổi số liệu chi phí và doanh thu, dẫn đến sự thay đổi tốc độ của dòng tiền theo thời gian.

+ DCF phụ thuộc vào dự báo dòng tiền và ước tính tỷ lệ chiết khấu, nó có tác động đáng kể đến giá trị ước tính.

+ DCF sử dụng nhiều giả thuyết về lợi nhuận trong tương lai, vậy nên, trong nhiều trường hợp, mô hình này sẽ hoạt động không hiệu quả.